Virus Corona khủng khiếp.

Hoang Le Thanh
Virus Corona khủng khiếp.

Đến ngày 02/5/2020, trên thế giới có hơn 238.000 đã chết, trong đó riêng tại Mỹ 65.000 người đã tử vong.

Theo số liệu được kiểm đếm bởi Đại học Johns Hopkins. Virus Corona đã giết chết hơn 238.000 người trên toàn thế giới, bao gồm hơn 65.000 người ở Mỹ và hơn 20.000 người ở Ý, Anh và Pháp.

Các chuyên gia y tế cảnh báo một làn sóng nhiễm bệnh thứ hai có thể xảy ra trừ phi xét nghiệm được mở rộng đáng kể.

Tổng thống Mỹ – Donald Trump – ngày thứ Sáu 1/5 nói ông hi vọng tổng số người chết ở Mỹ sẽ dưới 100.000 người, một con số mà ông thừa nhận là “khủng khiếp.”

Tham khảo: VOA

Người dân Tây Ban Nha tràn ra đường vào ngày thứ Bảy để tập thể dục ngoài trời giữa thời tiết mùa xuân đẹp đẽ sau khi nhà chức trách nới lỏng phong tỏa, trong khi đó Nga báo cáo đợt tăng vọt lớn nhất số ca nhiễm virus corona mới…

NHỮNG TRƯỜNG HỢP VIRUS CÚM TÀU ĐẦU TIÊN

NHỮNG TRƯỜNG HỢP VIRUS CÚM TÀU ĐẦU TIÊN

1/- Thái Lan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 61 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 13/1.

2/- Nhật Bản: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nam du khách 30 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 16/1.

3/- Hàn Quốc: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 35 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 20/1.

4/- Hoa Kỳ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông 30 tuổi trở về tiểu bang Washington từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 21/1.

5/- Đài Loan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ doanh nhân 55 tuổi trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 21/1.

6/- Ma Cao: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Vũ Hán đến Ma Cao đánh bạc. Công bố bệnh ngày 21/1.

7/- Hồng Kông: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc đến Hồng Kông bằng tàu cao tốc qua ngõ Thâm Quyến. Công bố bệnh ngày 22/1.

8/- Singapore: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du khách Vũ Hán 66 tuổi. Công bố bệnh ngày 23/1.

9/- Việt Nam: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du khách Vũ Hán (thăm con trai & người con này cũng bị lây). Công bố bệnh ngày 23/1.

10/- Pháp: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Pháp gốc Hoa về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 24/1.

11/- Nepal: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du học sinh trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 24/1.

12/- Australia: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc khoảng 50 tuổi, đến Australia theo chuyến bay Quảng Châu – Vũ Hán – Melbourne. Công bố bệnh ngày 25/1.

13/- Canada: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông khoảng 50 tuổi, trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 25/1.

14/- Malaysia: Phát hiện 4 ca đầu tiên (cùng 1 gia đình) là du khách đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 25/1.

15/- Campuchia: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 27/1.

16/- Đức: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Đức có họp chung với 1 người đến từ Thượng Hải. Trước khi cô này sang Đức họp có tiếp xúc gia đình đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 27/1.

17/- Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất: Phát hiện ca đầu tiên là 1 gia đình du khách 4 người đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 29/1.

18/- Phần Lan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách Trung Quốc 32 tuổi. Công bố bệnh ngày 30/1.

19/- Ấn Độ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du học sinh trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 30/1.

20/- Philippines: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 38 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 30/1.

21/- Italia: Phát hiện ca đầu tiên là đôi vợ chồng du khách đến từ Vũ Hán. Vợ 65 tuổi, đã từng giảng dạy Văn tại Đại học Sư phạm Trung ương Trung Quốc đặt ở Vũ Hán. Chồng 66 tuổi, kỹ sư hóa sinh cao cấp trước khi nghỉ hưu. Công bố bệnh ngày 31/1.

22/- Thụy Điển: Phát hiện ca đầu tiên là 1 phụ nữ trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 31/1.

23/- Bỉ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 trong 9 người Bỉ sơ tán khỏi Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 4/2.

24/- SriLanca: Phát hiện ca đầu tiên là 1 phụ nữ 43 tuổi đến từ tỉnh Hồ Bắc. Công bố bệnh ngày 27/1.

25/- Nga: Phát hiện 2 ca đầu tiên là 2 người mang quốc tịch Trung Quốc. Công bố bệnh ngày 31/1.

Và cứ thế virus từ Vũ Hán đã lan truyền đi khắp nơi, nhanh nhất theo đường hàng không.

Nhưng có điều rất lạ là thời điểm mới có dịch ở Trung Quốc, người Vũ Hán không được đến Bắc Kinh, nhưng được đến khắp nơi trên thế giới.

Có tới 1,6 tỷ người lao động trên toàn cầu có thể mất việc do đại dịch virus Vũ Hán, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).

(Nguồn: Tôi Yêu Sài Gòn)

No photo description available.

QUYỀN LỰC BẺ CONG CÔNG LÝ, MỘT ĐẶC SẢN CỦA “PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…

QUYỀN LỰC BẺ CONG CÔNG LÝ, MỘT ĐẶC SẢN CỦA “PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”…

Để đưa một vụ án đến với công lý thì cần có 2 yếu tố quan trọng, đó là điều tra khách quan và xét xử công bằng. Thế nhưng dưới nền “pháp quyền XHCN” thì 2 vấn đề này không được đảm bảo. Sự bất cẩn của 1 trong 2 cơ quan trên đều đưa tới hiện tượng oan sai chứ chưa nói nến hành động cố tình bóp méo sự thật như việc làm quen thuộc của cơ quan điều tra và cơ quan xét xử trong bộ máy chính quyền CS. Vụ án Hồ Duy Hải nay đã kéo dài ròng rã 12 năm mà chưa ngã ngũ là rơi vào hoàn cảnh như vậy, quyền lực chính trị đã thọc tay vào quá trình tố tụng.

Những vụ án oan sai của ngành tư pháp Việt Nam rất nhiều, vụ Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long cũng đã phơi bày tất cả. Và hôm nay là vụ án Hồ Duy Hải. Khi xem lại quá trì tố tụng, chúng ta mới thấy rõ bàn tay nhớp nhúa của thứ quyền lực chính trị nó đáng tởm như thế nào?! Từ nhân chứng đến vật chứng đều hoặc bị che giấu hoặc được ngụy tạo. Từ cơ quan điều tra đến cơ quan công tố rồi lại cơ quan xét xử, tất cả phối hợp dựng kịch bản một cách đồng lòng đến đáng sợ. May thay còn có mạng xã hội, còn có những luật sư có tâm mới giành lại sự sống cho Hải đến giờ, chứ không thì anh ta đã xanh cỏ từ lâu bởi thứ pháp quyền thổ tả thời XHCN.

Khi vụ án xảy ra, ban đầu có đến 2 nhân chứng là ông Đinh Vũ Thường và Phùng Phụng Hiếu. Trong đó Phùng Phụng Hiếu là nhân chứng đầu tiên phát hiện Nguyễn Văn Nghị xuất hiện ở bưu điện trước khi xảy ra án mạng. Nghị được xác định là người yêu của một trong hai nạn nhân. Trong đêm xảy ra vụ án, Phùng Phụng Hiếu có thấy Nghị có ghé vào Bưu điện Cầu Voi. Còn Vũ Đình Thường thì khai lúc 19 giờ 39 phút 22 giây có thấy một thanh niên ngồi phía trong bưu điện và nhìn thấy chiếc xe Dream nhưng không thấy biển số xe chứ không biết hung thủ là ai. Nói chung cả 2 nhân chứng chẳng ai thấy Hồ Duy Hải xuất hiện ở Bưu Điện trước lúc xảy ra án mạng cả. Qua lời khai của Phùng Phụng hiếu, cơ quan điều tra đã từng tạm giữ và lấy lời khai của Nghị, nhưng sau đó toàn bộ thông tin về Nghị đã bị rút khỏi hồ sơ vụ án.

Khi những lời khai của Nghị bị rút khỏi hồ sơ vụ án, thì cơ quan điều tra cũng gạt lời khai của Phùng Phụng Hiếu ra khỏi hồ sơ luôn. Chưa hết, khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, tòa án Nhân Dân tỉnh Long An cũng không mời Đinh Vũ Thường lên để thẩm vấn. Điều này đã được chính Đinh Vũ Thường xác định với luật sư bào chữa Hồ Duy Hải và có viết biên bản xác nhận. Như vậy là qua đây chúng ta thấy có hành động chạy án của cơ quan điều tra lẫn cơ quan xét xử. Họ chạy án cho ai thì chắc mọi người cũng cũng không khó hình dung.

Đấy là về nhân chứng, còn với vật chứng thì cơ quan điều tra đã cố tình ngụy tạo lộ liễu không kém. Cụ thể trong kết luận của hồ sơ điều tra nó nói rằng, Hồ Duy Hải đã dùng dao cắt cổ, dùng thớt đập vào đầu nạn nhân. Thế nhưng câu hỏa đặt ra là tang vật gốc đâu thì lại không có. Bởi vì cơ quan điều tra đã vội vã hủy vật chứng ngay sau khi khám nghiệm hiện trường, và thay vào đó họ đã mua dao và thớt ở chợ để dùng để làm chứng cứ giả buộc tội Hồ Duy Hải. Còn trơ tráo hơn nữa, công an điều tra còn tự tự vẽ con dao con dao gây án rồi ép Hồ Hải xác nhận.

Chưa hết, kết luận giám định chỉ ra những dấu vân tay trên cửa kính và trên vòi nước ở lavabo đều không trùng với 10 ngón tay của Hồ Duy Hải. Mà như ta biết, khi làm Chứng Minh Nhân Dân, chính quyền đã lưu 10 dấu vân tay của mọi công dân. Với kho lưu trữ vân tay đó, chính quyền hoàn toàn có thể truy ra dấu vân tay của bất kỳ ai ai nếu họ cần, thế nhưng với 10 dấu vân tay tại hiện trường vụ án mạng này cơ quan điều tra lại ém. Họ ém để làm gì thì có trời mà biết được. Và đáng ngờ hơn nữa là hồ sơ kết quả giám định dấu vân tay đã bị rút khỏi tập hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện KSND tỉnh Long An cho rằng “dấu vân tay không giám định được” như là lời nói đỡ cho sự tắc trách của cơ quan điều tra.

Vậy câu hỏi đặt ra là, ai có thể điều khiển được cơ quan điều tra ngụy tạo bằng chứng? Ai đã thọc tay vào kho lưu trữ của cơ quan điều tra rút lấy hồ sơ về dấu vân tay đem giấu? Và ai đã điều khiển được Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Long An từ chối yêu cầu truy ra dấu vân tay thật của người gây án?

Điều mà ai cũng thấy đó là tất cả những gì liên quan đến Nguyễn Văn Nghị đều bị rút hồ sơ. Vậy câu hỏi đặt ra là, Nguyễn Văn Nghị là ai? Theo Wikipedia thì mô tả Nguyễn Văn Nghị, sinh năm 1979, cư trú tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nghiện ma túy là người theo đuổi Nguyễn Thị Ánh Hồng (một trong hai nạn nhân bị sát hai). Đêm xảy ra án mạng, Nghị có mặt tại bưu điện. Tuy nhiên, từ 20 giờ 10 phút đêm đó, Nghị uống cà phê với bạn tại một quán cà phê khu vực Cầu Voi và được chủ quán cà phê xác nhận thời gian. Tuy nhiên, bao năm qua trên mạng còn xuất hiện những tin tức không chính thống cho rằng. Nguyễn Văn Nghị là cháu của bà Trương Mỹ Hoa – cựu phó chủ tịch nước. Mà ai cũng biết Trương Mỹ Hoa là chị vợ của Lê Thanh Hải – cựu bí thư Sài Gòn. Được biết, gia tộc Lê-Trương là một gia tộc rất mạnh ở khu vực miền nam không thua gì gia tộc Nguyễn Tấn Dũng.

Thực hư gia thế của Nguyễn Văn Nghị thế nào thì chưa rõ vì chẳng có cơ quan ngôn luận chính thống nào xác nhận, và gia tộc Lê-Trương cũng im lặng. Thế nhưng có một điều ai cũng thấy là đang có một cánh tay quyền lực cực mạnh can thiệp vào vụ án để chạy tội cho đối tượng Nguyễn Văn Nghị. Nếu Nguyễn Văn Nghị là thường dân, liệu anh ta có được quyền lực che chở đến thế không? Chắc chắn là không.

Hôm nay là ngày xử đầu tiên của phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải. Bằng chứng vô tội của Hồ Duy Hải thì xem như đã đủ. Thế nhưng số phận của Hồ Duy Hải như thế nào thì không thể biết trước được, vì sao? Vì bản chất của tòa án Cộng Sản là không bao giờ vì công lý mà nó chỉ vì quyền lực, thế nên dù chứng cứ vô can đã rõ mười mươi thì cũng không ai dám chắc rằng Hồ Duy hải thoát tội. Chỉ mong rằng bàn tay đen của thứ quyền lực bẩn đang điều khiển hệ thống tư pháp ép chết Hồ Duy Hải trong suốt 12 năm qua nó không thể vươn tới hà Nội. Chỉ mong thế, chứ nếu nó thọc tới thì xem như Hồ Duy Hải hết cứu.

ĐỖ NGÀ

Image may contain: 2 people, people standing

Tổng thống Trump : Virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc

Tổng thống Trump : Virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc

RFI 01/05/2020

Ảnh: Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại phòng Bầu Dục, Nhà Trắng, Washington, ngày 30/04/2020. Ảnh: Carlos Barria/Reuters

Trả lời một phóng viên ngày 30/04/2020, tổng thống Mỹ khẳng định có bằng chứng cho thấy siêu vi corona chủng mới xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc tại Vũ Hán.

Chủ nhân Nhà Trắng đồng thời cho biết ý định áp dụng lại các biện pháp thuế quan để trừng phạt Bắc Kinh.

Thông tín viên đài RFI Eric de Salve từ San Francisco tường trình :

Khi một nhà báo hỏi ông có những bằng chứng cho phép tin tưởng một cách chắc chắn rằng virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm tại Vũ Hán hay không, Donald Trump không do dự trả lời : “Vâng, tôi có” và nói luôn là ông không thể đi sâu hơn vào chi tiết.

Tham khảo: RFI

Tổng thống Trump : Virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc

http://www.rfi.fr/…/20200501-tổng-thống-trump-virus-corona-…

Image may contain: 1 person, eyeglasses, suit and closeup

30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

Nguyễn thị Cỏ May (Danlambao) – “30 tháng 4” thật sự là chỉ một ngày như bao nhiêu ngày khác trên tờ lịch. Nhưng từ sau 30 tháng 4 năm 1975, nó trở thành một ngày trọng đại vì nó ghi lại một biến cố lớn, đau thương, bám chặt ký ức của người Việt Nam. Nó đánh thức lòng trắc ẩn và lương tâm thế giới văn minh do những hệ quả kéo dài của nó.

Đối với người Việt Nam, đó là “Ngày Quốc hận”, “Ngày Mất nước”... Nhưng với người cộng sản Hà Nội, cũng là ngày đó, nó trở thành ngày “Giải phóng Miền Nam”, ngày “Đất nước thống nhất”… Ngày lễ hội vui mừng!

Kẻ mất buồn, người được vui! Thông thường thôi. Nói theo Võ văn Kiệt thì ngày 30 tháng 4 “Có một triệu người vui, có một triệu người buồn”. Phải chăng Ông Kiệt đã nghĩ tới những người không phải bên thắng cuộc? Nhưng thật lòng thì ông buồn hay vui? Cái nào nhiều, cái nào ít? Nhưng giờ đây chắc chắn cả nước buồn! Cả người cộng sản phản tỉnh và đông đảo thanh niên. Trừ những người cộng sản làm giàu nhờ cầm quyền. Những người này nói cách mạng, làm chính quyền cách mạng nhưng không ai có thành tích cách mạng. Du đãng mà mặt không dính thẹo thì không thể nói là du đãng hay anh chị được. Chỉ là những tên điếm đàng mà thôi. Đó là những Nguyễn Phú Trọng, những Tô Lâm, những Lê Thanh Hải… Nguyễn Tấn Dũng ít ra còn có thành tích lúc 16 tuổi làm y tá, xức thuốc đỏ cho du kích VC trong mật khu Rạch giá, Cà Mau.

Giữa hai lớp người buồn vui đó, có một ít người không thấy buồn, trái lại thấy vui vì tự “chia vui” với “Bên thắng cuộc”. Tất cả họ đều thuộc lớp khá giả trong xã hội Miền Nam nhưng lại chạy theo cộng sản, làm tay sai cộng sản chống lại chính quyền miền Nam.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng tay lớn”. Bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu. Trong bài phát biểu trên đài, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:

“Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này…”

Những ngày sau đó, Trịnh Công Sơn cũng không có chỗ đứng. Nghe bạn khuyên nên về Huế sống yên lành hơn vì quê hương và bạn bè cũ. Nhưng ở Huế, ông thấy có nhiều khó khăn. Bạn lại khuyên ông nên trở vào Sài Gòn tốt hơn. Và ông ở Sài Gòn luôn từ đó. May mà ông không bị đi cải tạo tập trung như nhiều văn nghệ sĩ khác.

Sau gần nửa thế kỷ “thắng cuộc”, đất nước về một mối xã hội chủ nghĩa, những điều họ tranh đấu đòi hỏi ngày trước như dân chủ, tự do, xã hội công bằng, người không bóc lột người, no cơm ấm áo, không có bóng dáng ngoại bang… thì nay, những điều đó chẳng những chưa có, trái lại còn trầm trọng hơn đang trở thành thực tế xã hội Việt Nam nhưng không thấy những người đó đứng lên, biểu tình, tuyệt thực, đói hỏi như trước kia. Đó là những người của “Thành phần Thứ ba” hay của “Lực lượng Thứ ba”.

Thành phần thứ ba

Tổ chức “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba” ra đời trong hoàn cảnh nào, không rõ ràng lắm. Theo ký giả Pomonti của nhựt báo Le Monde, “Thành phần thứ ba” xuất hiện năm 1960 sau khi Nhóm Caravelle đưa ra bản Tuyên ngôn với 18 nhân sĩ ký tên đòi hỏi ông Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ đường lối cai trị, chấm dứt tình trạng độc tài gia đình trị. Sau đó thì xuất hiện phong trào quần chúng nổi lên chống chế độ Ngô Đình Diệm độc tài, kỳ thị tôn giáo.

Nhưng theo ký giả Decornoy, cũng của Le Monde, thì vào cuối năm 1969, có một phong trào quần chúng xuất hiện ở Sài Gòn chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình, đi theo chủ trương “Hòa giải dân tộc” của tướng Dương Văn Minh.

“Thành phần thứ ba” gồm một số Dân biểu như Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Lý Quí Chung, Dương văn Ba, Ngô Công Đức; Sinh viên có Huỳnh Tấn Mẩm, Nguyễn Hũu Thái…; trí thức có Bà Ngô Bá Thành…; tu sĩ có Ni sư Huỳnh Liên, Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ…

Năm 1971, Sài Gòn tổ chức bầu cử Quốc hội. Nguyễn Hũu Thái được Mặt trận Giải phóng Miền Nam bí mật móc nối đề nghị ra tranh cử với lập trường “hòa bình đứng giữa” chuẩn bị cho Thành phần thứ ba khi có Chính phủ 3 thành phần theo Hiệp định Paris tuy lúc đó Hội nghị Paris chưa kết thúc.

Nhưng “Thành phần thứ ba” trở thành một danh xưng chính thức từ khi Hà Nội đưa ra tại hòa đàm Paris đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp gồm 3 thành phần. Xin nhắc lại thành phần thứ ba của Hà Nội đề cập không có phong trào sinh viên, dân biểu, trí thức, tu sĩ, như trên đây.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước sau vẫn cương quyết phủ nhận thành phần thứ ba. Năm 1972, Hà Nội chính thức lên tiếng bênh vực phong trào này.

Chẳng những phủ nhận “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba”, chính phủ Sài Gòn cũng từ chối đề nghị một Chính phủ Liên hiệp 3 Thành phần như phía Việt cộng đòi hỏi. Tuy nhiên, khi “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ký kết tháng giêng 1973 ở Paris thì có điều 12 qui định thành lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần ngang nhau”.

Hà Nội coi trọng thành phần thứ ba như là một yếu tố giúp họ thắng lợi bằng chính trị: “Việc thành lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ở miền Nam là chìa khóa dẫn đến hòa bình, và lực lượng thứ ba là một thành phần không thể thiếu được của giải pháp này…” (Phạm văn Đồng trả lời nhà báo pháp Jean Lacouture, Etudes vietnamiennes, Paris).

Để làm áp lực ở hòa đàm Paris, Hà Nội cho thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị “8 điểm” có đề cập thành lập một Chính phủ Liên hiệp Lâm thời gồm 3 thành phần: “những người của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời, những người yêu chuộng hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ trong chính quyền Sài Gòn, và những nhân vật của các lực lượng chính trị và tôn giáo, trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ phản ánh các khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam về hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ, và hòa giải, hòa hợp dân tộc.”

Tiếp theo, vào cuối 1973, rầm rộ xuất hiện ở Sài Gòn nhiều phong trào đều do Hà Nội thổi lên như:

– Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống (Bà Ngô Bá Thành sáng lập).

– Phong trào Thi hành Hiệp Định Paris.

– Mặt trận Nhân dân Cứu đói (Tổ chức lớn nhất ở Miền Nam với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài. Linh mục Phan Khắc Từ là một trong 3 phó chủ tịch.)

– Mặt trận các Tôn giáo vì Hòa bình, Hòa hợp, và Hòa giải (Dương Văn Minh sáng lập).

– Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc (Một tổ chức Phật giáo do Vũ Văn Mẫu lãnh đạo).

– Tổ chức Nhân dân đòi Thi hành Hiệp định Paris (Ngô Bá Thành sáng lập).

– Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất Bản (Dân biểu Nguyễn Văn Binh, anh vợ Ngô Công Đức đứng đầu).

– Ủy ban đòi trả tự do cho tù Chính trị của Lực lượng thứ ba.

– Ủy ban bảo vệ quyền lợi người lao động (Linh mục Phan Khắc Từ lãnh đạo).

– Nhóm các Nhà Lập Pháp Tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Hòa bình.

Nhưng hiện tượng quần chúng này chỉ là những đòi hỏi giai đoạn của người cộng sản để chờ đợi đạt trọn vẹn mục tiêu cuối cùng. Đó là ngày 30 tháng 4/1975.

Sau 30-4-75 có hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ?

Cuộc chiến Nam-Bắc Việt Nam kết thúc ngày 30-04-1975 thì qua tháng 4/1976 hai miền Việt Nam được thống nhất thành một nước có tên gọi là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Không đợi thi hành Hiệp định Paris.

Nhân đây xin nhắc lại cái chết của một cựu Nam Bộ kháng chiến Khu 7 liên hệ tới quyết định thống nhất 2 Miền sớm hơn thời hạn. Trong Hội nghị Hiệp thương chính trị bàn về thống nhất, tướng Huỳnh Văn Nghệ, tức Tám Nghệ, cựu Bộ trưởng Lâm nghiệp, phản đối việc quyết định thống nhất sớm. Giận dữ, ông rút khẩu súng cá nhân dằn lên bàn, gằn giọng – “Ai quyết định thống nhất ngay, hãy bước qua xác chết của tôi”. Qua đầu năm 1977, Huỳnh Văn Nghệ một hôm bị đau bụng, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đảng vội cho chở ông vào Chợ Rẩy để chữa trị. Bác sĩ ở Hà Nội phải vào để săn sóc ông theo tiêu chuẩn cán bộ đảng viên. Vài hôm sau, ông thấy tình trạng sức khỏe của mình không có gì nặng nên muốn về nhưng bác sĩ không cho. Đưa ông đi chụp hình, liền sau đó, đưa ông qua phòng mổ và mổ. Bình thường gặp bác sĩ thứ thiệt của Hà Nội mổ thì cũng khó sống. Nay ông lại được bác sĩ Hà Nội đặc biệt quan tâm mổ theo ý kiến của Ban Bảo vệ sức khoẻ Trung ương đảng thì dĩ nhiên ông không thể không ra về bằng ngỏ sau của nhà thương. Chuyện này, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa biết nên bà có lên tiếng trong nôi bộ và bà tỏ thái độ bằng cách trả thẻ đảng. Phạm văn Đồng can thiệp không được, đành chấp nhận và yêu cầu bà giữ tiếng trong 10 năm. Đúng 10 năm, bà công bố việc trả thẻ đảng của bà trên nhật báo Le Monde của Pháp. Về cái chết của Huỳnh văn Nghệ, bà chỉ nói riêng trong vòng thân mật mà thôi.

Thống nhất xong, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, và trở thành thành viên thứ 149 của LHQ vào ngày 20 tháng 9/1977.

Nhưng ít người biết rằng trước khi thống nhất đã từng có hai nước Việt Nam nộp đơn cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Một là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô Hà Nội, với cờ đỏ sao vàng. Và nước Việt Nam kia là Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, thủ đô Sài Gòn, có cờ nửa đỏ trên, nửa xanh dưới, ngôi sao vàng giữa.

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh này xuất hiện vào cuối năm 1960, khi một số trí thức miền Nam tuyên bố thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” trong vùng rừng núi Lộc Ninh, để đối lập với chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Sài Gòn. Sau thời gian dài hoạt động khủng bố nhờ đó tư cách Mặt trận được thừa nhận. Và cũng từ đó Mặt trận này thành lập một chính phủ có tên là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”.

Trong thời gian đó, Hà Nội cứ nói lấy được cuộc chiến ở miền Nam là cuộc chiến giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa với lực lượng võ trang của Mặt trận. Tức do nhân dân Miền nam nổi lên đòi độc lập và thống nhất chớ không do miền Bắc can thiệp. Khi chính phủ Sài Gòn đưa bằng chứng cán binh của Hà Nội xâm nhập vào Nam thì Nguyễn Thị Bình trả lời “Họ là người Việt Nam thì dĩ nhiên họ có quyền đi trong vùng lãnh thổ của họ”.

Ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn sụp đổ, thì cờ của Mặt trận Giải phóng được kéo lên nóc dinh Độc lập ở Sài Gòn. Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thừa kế Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, xác nhận lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 tới mũi Cà mau, với cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Giữa tháng 7/1975, hai nước Việt Nam cùng đề nghị nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đại diện cho Hà Nội là ông Nguyễn Văn Lưu, ông Đinh Bá Thi đại diện cho Sài Gòn.

Ngày 11/8/1975, Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đồng ý cho hai nước Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng bị Hoa Kỳ phủ quyết nên việc gia nhập LHQ của 2 nước của cùng Hà Nội không thành.

Giải thích lý do Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết, Gs Ngô Vĩnh Long cho rằng vì họ không muốn có 2 nước Việt Nam “độc lập” cùng Hội viên LHQ mà để 2 Việt Nam thống nhất theo Hà Nội, tức trở thành cộng sản. Hoa Kỳ sẽ có cớ không bang giao, mà còn dùng Việt Nam như một nơi thực hiện một cuộc chiến tranh ủy nhiệm chống Liên Xô (Joaquin Nguyễn Hòa, BBC. 20/4/19)

Còn theo Gs Đoàn Viết Hoạt, hiện sống tại Mỹ, thì quyết định của Mỹ không cho hai miền Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc có thể liên quan đến những thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972 khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao sau tuyên bố Thượng Hải. Lúc đó, Mỹ toan tính liên minh với Trung Quốc để chống Liên Xô, giao vùng Đông Nam Á cho Trung Quốc, và Bắc Kinh không muốn có một miền Nam Việt Nam độc lập, không theo cộng sản. Theo giải thích này, Gs Hoạt tin rằng Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam không phải của cộng sản Hà Nội nặn ra!?

Vẫn theo Gs Ngô Vĩnh Long thì cho đến 30/4/1975, quan điểm về sự thống nhất Việt Nam của Hà Nội cũng như Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, khi chiến tranh kết thúc, sẽ là một quá trình nhiều bước kéo dài từ 12 đến 14 năm. Vì việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai nước Việt Nam thất bại đã thúc giục những thành phần cứng rắn tại Hà Nội kết thúc dự án thống nhất đất nước kéo dài đó.

Nhưng sau khi việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai miền Việt Nam bị thất bại, Đảng Lao động Việt Nam, tức đảng Cộng sản Hà Nội hiện nay, họp Hội nghị trung ương lần thứ 24, quyết định gấp rút thống nhất Việt Nam “Đứng trước yêu cầu của tình hình cách mạng mới, tháng 9/1975 tại Hội nghị lần thứ 24, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước” (Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới “Hoàn thành thống nhất tổ quốc và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”).

Thế là Mặt trận và cả Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam cùng dẹp tiệm vì đã “hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử” (Nguyễn thị Bình tuyên bố).

Tuy tài liệu không thấy nhắc tới đã có 2 nước Việt Nam chính thức xin gia nhập LHQ nhưng Gs Đoàn Viết Hoạt nhớ lại, lúc còn ở Sài Gòn, ông có nghe một bản tin của đài BBC về sự kiện hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc rồi bị thất bại vào tháng 8/1975. Tức chuyện đã có 2 Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ là thật.

Chứng kiến sự quản lý nhà nước tại Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 ông Hoạt kể lại ông thấy tất cả những quyết định của nhà cầm quyền đều mang danh nghĩa Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kèm theo tiêu đề: “Độc lập, tự do, Trung lập”.

Với bản tin thế giới nghe qua đài BBC, cộng với sự kiện mình không bị bắt, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho rằng những người cộng sản lúc đó đang thật sự tính tới dự án cho miền Nam một qui chế riêng, chứ không gấp rút thống nhất Việt Nam dưới màu áo cộng sản duy nhất (theo trích dẫn trên).

Đâu là sự thật?

Sáng ngày 1 tháng 5/1975, tại Sài Gòn có cuộc diễn binh lớn do chính quyền mới tổ chức để ăn mừng “Đại thắng Mùa xuân”. Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ngồi trên khán đài danh dự coi diễn binh. Chờ hoài không thấy “đoàn quân giải phóng” đi qua, bèn nghiêng qua hỏi một sĩ quan Quân đội nhân dân. Vị sĩ quan này trả lời rất vui vẻ – “Ủa anh không biết sao? Quân đội ta đã thống nhất tối hôm qua rồi kia mà!” (Trương Nhu Tảng kể lại lúc tỵ nạn ở Paris).

Qua ngày 2 tháng 5/1975, chính quyền mới ra lệnh giải tán tất cả các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo… được thành lập dưới chế độ VNCH. Còn các tổ chức mới thành lập để chống “Mỹ Ngụy cứu nước” đều bị hoặc tự giải tán, hoặc sáp nhập vào các tổ chức chính thức của Hà Nội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ Giải phóng, cả Chính phủ cách mạng Lâm thời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, các cơ sở vật chất ở hải ngoại… đều không còn vết tích!

Điều đáng ngạc nhiên là việc giải tán không có một lời phản đối hay than phiền nào của những người trong các tổ chức đó hết cả, mặc dầu họ đã từng can trường đương đầu với chế độ VNCH, không hề sợ sệt dùi cui, hơi cay, tù đày. Hay nay họ cũng hiểu nhiệm vụ “cách mạng” chạy theo cộng sản của họ đã hoàn tất!

Thái độ của trí thức

Ai cũng biết triết gia Jean-Paul Sartre là người không có chính kiến chắc chắn. Đúng hơn ông là người có tinh thần tiến bộ mà hơi “ba phải”, nặng cá nhân chủ nghĩa, khuynh hướng vô chính phủ, chống chủ nghĩa quân phiệt, và hơn hết là chống tư sản nên ông dễ ngã theo cộng sản. Từ những năm 1950, Sartre ủng hộ Liên Xô mạnh mẽ. Cho đến nỗi ông đã không ngần ngại lớn tiếng chửi thẳng ai không theo cộng sản là thứ con chó! Đến khi Liên Xô đưa xe tăng qua đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Hungary ông mới từ bỏ cộng sản. Cộng sản Pháp lên án ông đã đầu hàng giai cấp. Trong lúc đó, Raymond Aron, bạn của Sartre, lại tôn thờ tinh thần dân chủ tự do. Vì vậy hai người ghét nhau trong thời chiến tranh lạnh. Họ không hề nói chuyện với nhau, không gặp nhau suốt từ những năm 47.

Thế mà tháng 6/1979, trước thảm họa cộng sản ở Việt Nam và Miên, cả 2 cùng tới Điện Elysée yêu cầu Tổng thống Giscard d’Estaing hãy mở rộng cửa đón nhận người Miên và Việt Nam, hàng chục ngàn, hằng trăm ngàn đang chạy trốn cộng sản.

Sartre trả lời báo chí “Riêng cá nhân tôi, tôi ủng hộ những ngưởi tuy không phải là bạn của tôi trong thời gian Việt Nam tranh đấu cho tự do (Việt Minh). Nhưng điều đó không có gì quan trọng, bởi vì điều quan trọng ở đây, chính họ là những con người. Những người đang bị nguy hiểm”.

Lời tuyên bố trên đây cho thấy Sartre không ngụ ý vì đã phủ nhận ý thức hệ cộng sản mà thật sự chỉ là lương tâm con người trí thức thúc đẩy ông hành động.

Qua cách ứng sử này, Aron và Sartre bắt tay nhau. Hai người nắm tay nhau cùng bước ra khỏi Elysée.

Các đảng phái khác, cả Xã hội, RPR, đều hưởng ứng cùng vận động giúp đỡ người tỵ nạn cộng sản. Hồng Y Etchegaray kêu gọi mỗi gia đình giáo dân hãy đón nhận 1 gia đình người tỵ nạn.

Hơn tháng sau, tháng 7/79, Pháp đón nhận và định cư 128531 người tỵ nạn cộng sản Đông Dương.

30.04.2020

 Nguyễn thị Cỏ May

 danlambaovn.blogspot.com

 Covid-19 đặt nhân loại ở ngã ba đường

 Covid-19 đặt nhân loại ở ngã ba đường

Ngay trước khi qua đời Nikita Moiseev (1917-2000, Nga) đã kịp để lại cho hậu thế một trước tác kinh điển: Tồn tại hay không tồn tại…Loài người?( NXB Tri thức 2019) , trong đó ông chỉ ra rằng loài người đang đứng trước một tai họa vô cùng nguy hiểm. Đó là, Hệ sinh thái của Trái đất-ngôi nhà chung của chúng ta, có thể bị hủy hoại hoàn toàn trong một tương lai rất gần nếu nhân loại không hợp lực để cứu vãn tình trạng đang ngày càng bi thảm này. Theo ông, từ nửa cuối TK19 nền khoa học&công nghệ đã hoàn hảo và hùng mạnh đến mức đủ sức để khai thác triệt để Tự nhiên như một “kho trời” vô tận, nơi tích lũy tất cả những gì cần thiết cho sự thỏa mãn những nhu cầu vô độ của con người, đồng thời cũng làm tăng tốc cuộc đại khủng hoảng Môi trường sinh thái- Sinh quyển của Trái đất đang chín muồi. Moiseev cho rằng : “Loài người như một loài sinh vật mang tính hữu tử, và theo nghĩa ấy thì kết cục của lịch sử loài người một ngày nào đó sẽ đến. Và không phải trong một tương lai hoàn toàn không xác định, mà có thể ngay vào giữa TK21”.

Rồi mới gần đây thôi thế giới lại xôn xao bàn luận về các tác phẩm trứ danh của Nhà nghiên cứu lịch sử trẻ tuổi người Israel, sinh năm 1976, Yuval Noah Harari : Sapiens-lược sử về loài người, Homo Deus-lược sử tương lai, và 21 bài học cho TK21 (NXB Thế giới, 2018-2019). Theo ông cuộc CMKH&KT từ TK17 và những thành tựu huy hoàng của nó cho đến cuối TK20 tuy đã làm cho con người vượt qua được nỗi sợ muôn thuở các nguy cơ nạn đói, bệnh tật và chiến tranh, nhưng lại tự chuốc vạ cho mình bởi những khát vọng trường sinh bất tử, hạnh phúc viên mãn và sức mạnh thần thánh. Nhưng chính khát vọng ấy sẽ mau chóng đưa loài người đến diệt vong bằng cách biến loài HomoSapiens thành một loài “nửa người nửa ngượm” với bộ não gắn “chip” trí khôn nhân tạo và các bộ phận cơ thể sống được chế tạo từ các tế bào gốc và vật liệu nano dẻo. Thế là chấm hết mọi ý nghĩa thiêng liêng mà Tạo hóa dành cho Con người. Lời cảnh báo nghe có vẻ rất “kỹ trị” (technocrat) ấy xem ra không phải là viển vông.

Với các cách tiếp cận và lý giải khác nhau, nhưng họ đều có chung một thông điệp: TK20 là Thế kỷ cảnh báo, còn TK21, là Thế kỷ lựa chọn giữa ngã ba đường: Sống thế nào hay là chết thế nào?. Moissev đã không còn cơ hội để nhìn thấy TK lựa chọn sẽ xẩy vào lúc nào nữa. Còn Harari thì khi viết về dịch bệnh trong cuốn sách đầu tiên của mình chắc cũng không thể ngờ rằng đại dịch Covid -19 đang hoành hành trên khắp hành tinh này đã sớm đặt nhân loại giữa ngã ba đường, đứng trước một bước ngoặt lịch sử, đúng vào lúc cuộc khủng hoảng toàn diện toàn cầu đã hé lộ. Loài người thông minh không còn thời gian lưỡng lự hàng thế kỷ nữa, mà phải lựa chọn ngay từ bây giờ, từ những thập kỷ đầu tiên của Thiên niên ký thứ ba này, để sống sót và viết tiếp lịch sử của mình.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của tờ L’Opinion (Pháp) ngày 1 tháng 4 vừa qua Harari cho rằng: “ Chúng ta đã bước vào một cơn lốc lịch sử do cuộc khủng hoảng sức khỏe này gây ra. Những quy luật bình thường của lịch sử đã hoàn toàn thay đổi. Và chỉ trong vài tuần, những gì không thể trong quá khứ giờ đã trở nên bình thường. Sự thay đổi này có nghĩa là, một mặt chúng ta nên cực kỳ thận trọng, mặt khác chúng ta cũng nên cho phép mình có những ước mơ”. Thật là một phán xét chí lý! Phải cực kỳ thận trọng để đánh giá toàn diện tác động khó lường của cuộc khủng hoảng trầm trọng này, đồng thời cũng phải tổng kiểm duyệt nhằm phát hiện những bất cập cần phải hủy bỏ (có thể nói là rất, rất nhiều!) trong các văn bản pháp luật ở tầm quốc tế và quốc gia; nhưng mặt khác lại phải có đủ hoài bão sáng tạo để tận dụng những cơ hội hiếm có mà nó mang lại.

Như chúng ta đã thấy, chỉ trong vài tuần Covid-19 đã rung chuyển thế giới, làm lung lay nhiều quan niệm truyền thống về cuộc sống của con người và các định chế xã hội (từ cấp độ toàn cầu đến quốc gia).

Từ chỗ là một thành phần cơ hữu của Tự nhiên, mấy thế kỷ vừa qua loài Homo Sapiens đã tự tách mình ra khỏi và đứng trên Tự nhiên, cố gắng đóng vai trò của Chúa thiết kế nên sự sống. Ngay từ năm 1818 Mary Shelley (Anh,1797-1851) đã cảnh báo sự trừng phạt nặng nề sẽ đến đối với cái cố gắng bất kính Tạo hóa ấy thông qua con quái vật Frankenstein- một thực thể động vật nhân tạo do một nhà khoa học chế tác, rồi vô tình làm sổng nó khỏi tầm kiểm soát và gây ra những tai hoạ khủng khiếp. Con virus Sars-Cov-2 là hiện thân thực thể của con Frankenstein do nhà văn tưởng tượng. Chỉ có điều bà Mary Shelley đã cho Frankenstein được sổng chuồng một cách vô tình, còn con Sars-Cov-2 thì hình như không phải vậy: tuy chưa có bằng chứng chắc chắn, nhưng nhiều ý kiến cho rằng trước sau sự thật sẽ chỉ mặt vạch tên tác giả của con virus nguy hiểm này và bọn tội phạm diệt chủng nào đã cố tình thả nó ra?

Dù sao ta cũng phải cám ơn sự xuất hiện của con virus chủng Corona tinh quái đã gây ra đại dich Covid-19 vào đúng lúc này, vào lúc mà lời cảnh báo của Moiseev về ngày tận thế của Sinh quyển rất có thể đang cận kề, trở thành hiện thực. Và đúng như Gael Giraud (Pháp, Diendan.org 4-2020 ) đã sớm nhận ra: “ Đại dịch này là cơ hội để chúng ta thay đổi cuộc sống và các định chế nhằm tới hạnh phúc trong sự tiết độ và và sự tôn trọng tính hữu hạn [của trí lực con người]”.

Có nhiều phán xét và dự báo đã được đưa ra, ít nhiều đều có cơ sở, nhưng cũng có những kết luận vội vàng và có cả những ngộ nhận.

Về phương diện dịch bệnh. Chưa ai biết chắc bao giờ Covid-19 sẽ qua đi, nhưng với quyết tâm điều chỉnh chính sách phòng chống dịch bệnh đang đi đúng hướng của các chính phủ và nỗ lực sáng tạo phi thường của cộng đồng khoa học thế giới, ta có cơ sở để hy vọng nó sẽ sớm được dập tắt. Tuy nhiên nếu con virus này là nhân tạo ngoài vòng kiềm chế, không theo quy luật virus tự nhiên thì vấn đề phức tạp hơn nhiều. Nó tiếp tục tạo ra các đỉnh mới? Hay một đại dịch khác đang chờ sẵn trong lai rất gần, và cứ thế tiếp tục… cho đến cho đến thời hạn chót mà Moiseev đã cảnh báo. Riêng tôi vẫn hy vọng rằng đại dịch này mới là một cú tát của Tạo hóa chỉ vừa đủ làm cho chàng Homo Sapiens đang say lảo đảo tỉnh ngộ.

Về phương diện kinh tế. Nhìn vào các gói trợ cấp khổng lồ mà tuần qua các chính phủ đồng loạt khẩn cấp tung ra để cứu vãn nền kinh tế và sự an sinh xã hội của nước mình, ta có thể thấy được mức độ tàn phá của Covid-19 gây ra. Nếu trong vài ngày tới New York “vỡ trận” thì một cuộc Đại suy thoái mới này có thể còn trầm trọng hơn cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới xẩy ra từ năm 1929 đến đầu những năm 40 thế kỷ trước, cũng xuất phát từ thành phố này khi thị trường chứng khoán phố Wall sụp đổ. Thế nhưng khẳng định rằng : Chủ nghĩa tự do kinh tế, vốn là bùa thiêng cứu các nước công nghiệp vào thập kỷ 70-80 thế kỷ trước, đã hoàn toàn thất bại; và rằng: Kỷ nguyên cực thịnh của Toàn cầu hóa đã qua [John Gray, New Statement 4-2020 v.v… ], thì có lẽ là hơi vội. Sau đại dịch này Chủ nghĩa tự do kinh tế sẽ tự điều chỉnh để thích nghi theo hướng: Từ bỏ mục tiêu Tăng trưởng không ngừng bằng mọi giá bất chấp sự hủy hoại môi trường sinh thái – nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch này; điều chỉnh mối tương liên giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu để nó “lỏng lẻo’ hơn, linh hoạt hơn. Toàn cầu hóa cũng vậy, nó vẫn không thể đảo ngược được. Chỉ có điều, sau đây nó sẽ không chỉ là sân chơi chủ yếu của nhóm nước “một tỷ vàng” và các Công ty xuyên quốc gia, luật chơi sẽ được viết lại để sự hợp tác bình đẳng hơn như đang xẩy ra trong đại dịch này, để cùng sống sót sau bất kỳ tai họa nào trong tương lai.

Về phương diện chính trị. Thông thường thì khi phải xử lý tình trạng khẩn cấp, một thể chế chuyên chính có nhiều lợi thế hơn. Nhưng trong đại dịch này con Covid-19 đã buộc mọi quốc gia, không phân biệt thể chế, phải tiến hành các biện pháp cưỡng bức như nhau. Có người lo rằng xu hướng này sẽ dẫn đến thất bại của nền dân chủ. Không hẳn vậy, đây lại chính là một cơ hội cho các thể chế dân chủ (đặc biệt ở những nước “một tỷ vàng” ) điều chỉnh thể chế. Còn nhớ ngày11 tháng 11 năm 1947 cố Thủ tướng Winston Churchill đã có một tuyên bố nổi tiếng trước Quốc hội Anh : “Dân chủ không phải là hình thức xã hội tối ưu, nhưng hiện nó đang là hợp lý nhất, và vẫn chưa có thể chế nào hay hơn nó.” Điều này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Mới đây Garett Jone đã xuất bản cuốn sách thú vị “Ít đi 10% Dân chủ” (10% less Democracy, Stanford Univversity Press, 2-2020) với ngụ ý rằng ở các nước G-7 nên bớt đi 10% Dân chủ sẽ tốt hơn.

Theo ông thì Singapore Dân chủ đã mất đi 50% rồi, [vậy thì con số ấy của Trung Quốc phải là 90%!?] . Covid-19 là cơ hội để nền Dân chủ thúc đẩy cải cách theo kiểu đó, chứ nó không thể thất bại. Sau đại dịch người dân có thể chấp nhận sự kiểm soát của chính quyền bằng căn cước điện tử nhằm phục vụ an sinh, như để phòng chống dịch bệnh…, chứ không dễ dàng từ bỏ khát vọng được tự do biểu đạt ý kiến riêng trên mạng xã hội. Sau đại dịch bất ngờ này nhân dân toàn thế giới càng nhận thức rõ thế nào là một chính quyền thật sự vì Dân, tôn trọng sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Người dân chỉ cần một chính phủ hành động quyết liệt và hiệu quả, chứ không cần những khẩu hiệu chính trị suông.

Về các giá trị truyền thống. Covid-19 đã làm chúng ta hốt hoảng đến nỗi nhiều người nghĩ rằng sau đây mọi giá trị sẽ đảo lộn. Điều này chỉ là biểu hiện của tình trạng mà Thanh Viêt ( Nhà văn mỹ gốc Việt, Giải Pulitzer 2016 ) đã nhìn thấu: “Kẻ thù thực sự của chúng ta không phải là con virus, mà là phản ứng của chúng ta với virus – một phản ứng đã bị suy thoái và biến dạng bởi sự bất bình đẳng về cấu trúc của xã hội”. Cái phải thay đổi không phải là các giá trị truyền thống cốt lõi như lòng vị tha và tình yêu thương đồng loại, đúng là: “Lòng tốt với người khác là điều quý giá đến mức phải được chia sẻ”. Hàng ngũ Y- Bác sĩ và các nhân viên y tế toàn thế giới lần này đúng là các vị Bồ tát cứu nhân độ thế. Các nhà khoa học khắp nơi chưa bao giờ có dịp hợp tác vô tư đúng với tinh thần học thuật vì mục đích nhân đạo, như đang cùng nhau chung sức chống tác hại của con virus nhỏ bé mà tàn bạo này. Và có lẽ cũng từ khi sinh ra đến giờ loài Homo Sapiens mới có dịp định thần để suy nghĩ và trải nghiệm lại giá trị của gia đình như một tế bào của xã hội.

Về lối thoát. Đã 20 năm kể từ khi lời kêu gọi thống thiết của Nikita Moiseev về việc ngăn chặn thảm họa Môi trường sinh thái – Sinh quyển của Trái đất, vẫn bị các Tổ chức quốc tế có liên quan, các chính phủ và cộng đồng xã hội ngó lơ. Đề xuất của ông về việc giới tinh hoa toàn cầu phải mau chóng hợp sức tạo ra Trí quyển – Tập hợp Trí tuệ của nhân loại để cấp cứu Sinh quyển trước khi nghĩ đến những điều to tát hơn, hình như cũng sắp rơi vào quên lãng.

May thay, Covid-19 xuất hiện như một sự sắp xếp của Tạo hóa, nhắc nhở loài người về một ngày “tận thế” không xa…Đi về phía ấy hay rẽ sang ngã khác phụ thuộc vào mỗi chúng ta.

4/2020

Chu Hảo

From: TU-PHUNG

Thuốc trị Cô Vi

Thuốc trị Cô Vi

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Cho đến ngày 30 Tháng Tư, 2020, trên trang mạng chính thức của CDC (Trung Tâm Phòng Ngừa Bệnh Tật của Hoa Kỳ), Đại Học Johns Hopkins, Sở Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam California (Orange County Health Care Agency) cho biết:

-CDC, số trường hợp nhiễm COVID-19 được xác nhận là 1,005,147, số tử vong được xác nhận là 57,505. Như vậy, tỉ lệ tử vong (dựa theo báo cáo này) là 5.7% (hơi giảm so với tuần trước 5.9%).

+Trên toàn thế giới được xác nhận là 3,218,430 số tử vong được xác nhận là 228,625. Như vậy, tỉ lệ tử vong (dựa theo báo cáo này) là 7.1%.

+Ở Mỹ được xác nhận là 1,042,874 số tử vong được xác nhận là 61,123 (5.9%).

+Số lượng người đã được thử nghiệm ở Mỹ là 6,026,170 (so với tuần trước 4,493,106 trường hợp (có vẻ việc thử nghiệm chưa tăng nhanh như dự định).

Theo các thống kê trên, thì Hoa Kỳ vẫn còn “lần quần” lên lên, xuống xuống ở trên đỉnh.

-Sở Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam California (Orange County Health Care Agency), số trường hợp nhiễm COVID-19 được xác nhận là 2,252 (so với tuần trước 1,827,) số tử vong được xác nhận là 44 (so với tuần trước 36). Như vậy, tỉ lệ tử vong (dựa theo báo cáo này) là 1.95% (gần bằng so với tuần trước 1.97%).

Ngày 27 Tháng Tư là ngày quận Cam có số người bị nhập viện và cần chăm sóc đặc biệt (trong ICUs-Intensive Care Units) vì COVID-19 cao nhất từ đầu dịch COVID-19 đến giờ, sau đó (cao thứ nhì) là ngày 28 Tháng Tư (chưa có số liệu của ngày 29 Tháng Tư lúc bài này được viết).

Dựa theo các con số được xác nhận nêu trên, thì: Số trường hợp nhiễm được xác nhận, vẫn đang đứng trên đỉnh (toàn Hoa Kỳ); hoặc tiếp tục đi lên đỉnh (quận Cam, California); tỉ lệ tử vong (ở chỗ nào kể trên đây, cũng) vẫn đang đứng lại (chưa thấy lên hay xuống).

Và với việc (cần cân nhắc cho việc) “thả lỏng,” để nền kinh tế có thể hâm nóng lại, nguy cơ lây nhiễm (không biết) có thể sẽ tăng cao hay không, vẫn là điều cần được quan sát cẩn thận

Bắt đầu có thuốc trị Cô Vi 

Hiện nay, vẫn đang có nhiều nghiên cứu đang được ráo riết thực hiện nhằm tìm ra các phương thức điều trị SARS-COV-2, virus gây ra đại dịch COVID-19 trên toàn thế giới, mà nơi đang bị nặng nhất là Hoa Kỳ.

Vào ngày 29 Tháng Tư, Viện Nghiên Cứu về Sức Khỏe Hoa Kỳ (NIH-National Institutes of Health), đã đưa ra một thông cáo báo chí về việc một trong số các loại thuốc đang được nghiên cứu, Remdesivir, ban đầu cho thấy có hiệu quả một phần trong việc điều trị  COVID-19.

Vào ngày trước đó, 28 Tháng Tư, Bác Sĩ Anthony Fauci, một bác sĩ y khoa cũng như là một chuyên gia về miễn nhiễm (immunologist), giám đốc của Viện Quốc Hoa Kỳ về Các Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng (National Institute of Allergy and Infectious Diseases -NIAID, một trong số 27 viện và trung tâm của NIH), cũng là một thành viên quan trọng của Nhóm Đặc Nhiệm về virus Corona của Tòa Bạch Ốc (White House Coronavirus Task Force), cũng công bố tin này trong một buổi họp báo của Nhóm Đặc Nhiệm, với sự hiện diện của Tổng Thống Donald Trump.

Theo thông cáo báo chí này của NIH, các bệnh nhân bị nhập viện với tình trạng nặng và có liên quan đến phổi, khi được dùng remdesivir, đã phục hồi nhanh hơn so với các bệnh nhân tương tự được nhận placebo (một chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu). Đây là kết quả phân tích các dữ liệu ban đầu của một nghiên cứu ngẫu nhiên, có so sánh với placebo (randomized, controlled trial), liên quan đến 1,063 bệnh nhân, đã bắt đầu từ 21 Tháng Hai, 2020, được Viện Quốc Hoa Kỳ về Các Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng bảo trợ. Đây là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Mỹ để lượng giá một thực nghiệm cho việc điều trị COVID-19.

Một hội đồng độc lập nhằm kiểm soát sự an toàn và cũng như (giá trị của các) dữ liệu của thực nghiệm này, đã họp vào ngày 27 Tháng Tư để xem xét các kết quả ban đầu này. Sau khi xem xét, hội đồng này đã ghi nhận rằng remdesivir đã tốt hơn placebo (chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu) trong việc giảm thời gian bệnh, cũng như tỉ lệ tử vong, giống như các phương pháp định lượng (metric) thường được dùng trong các thử nghiệm về điều trị cúm. Việc phục hồi trong nghiên cứu này, được định nghĩa là khỏe mạnh đủ để được xuất viện hoặc trở lại các hoạt động bình thường.

Các kết quả ban đầu cho thấy rằng, các bệnh nhân nhận remdesivir đã phục hồi 31% nhanh hơn các bệnh nhân nhận placebo (chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu), với các tính toán thống kê, cho thấy kết quả này có giá trị thống kê (p<0.001).

Một cách cụ thể, thời gian trung bình để phục hồi ở bệnh nhân được nhận remdersivir là 11 ngày, so với 15 ngày ở các bệnh nhân (chỉ được) nhận placebo (chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu).

Các kết quả ban đầu này cũng cho thấy lợi ích trong việc giảm tỉ lệ tử vong là 8% ở nhóm được thử với remdesivir so với tỉ lệ tử vong là 11.6% ở nhóm (chỉ được) nhận placebo.

Các thông tin chi tiết hơn về thực nghiệm này sẽ được công bố trong các thông báo kế tiếp.

Như là một phần của nỗ lực của Cơ Quan Quản Trị Dược Phẩm (FDA – U.S. Food and Drug Administration) nhằm thúc đẩy việc phát triển cũng như mang đến các điều trị có tiềm năng cho COVID-19, NIH đã và đang ráo riết làm việc và thảo luận với Gilead Sciences, hãng dược phẩm nghiên cứu và bào chế remdesivir, để làm cho thuốc này có thể sẵn sàng trong việc điều trị các bệnh nhân thích hợp, trong thời gian càng sớm càng tốt.

Viện Quốc Hoa Kỳ về Các Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng cũng sẽ tiếp tục đưa ra kế hoạch cho việc tiếp tục nghiên cứu thuốc này. Nghiên cứu này, đầu tiên đã được thực hiện ở University of Nebraska Medical Center/Nebraska Medicine, hồi Tháng Hai, 2020. Tổng cộng có 68 trung tâm khác sau đó đã tham gia vào nghiên cứu, 47 ở Mỹ, và 21 ở các nước Âu và Á Châu.

Mỗi người cần làm gì trong thời điểm này? 

Ở trong nhà, không đi ra chỗ đông người (nếu không thật cần thiết). (Hình minh họa: AP Photo/Hau Dinh, File)

Đây là một tiến bộ quan trọng trong việc đối phó với đại dịch COVID-19, bao gồm nhiều việc, trong đó, một số trong các điều chính nhất là: thử nghiệm rộng rãi; lần dấu vết, khoanh vùng các nhóm bị nhiễm và có nguy cơ lây lan; phát triển thuốc trị; phát triển vaccine; sẵn sàng đối phó kịp thời và hiệu quả nếu dịch bùng phát trở lại.

Kết quả của nghiên cứu về remdesivir, dù đáng mừng, nhưng chỉ là ban đầu, và khi được FDA chuẩn thuận, cũng chỉ để dùng trên bệnh nhân nặng, có liên quan tới phổi, và đã được nhập viện.

Như các số liệu nên trên, đặc biệt là ở quận Cam, dù số nhiễm và nhập viện không cao như nhiều nơi khác, nhưng con số bị nhiễm, tỉ lệ tử vong, số phải nhập viện và cần chăm sóc đặc biệt vẫn đang tăng lên, chưa thấy ngừng hoặc đi xuống.

Như thường lệ, vẫn có nhiều tin tức tỏ ra nghi ngờ, bàn ra tán vào về giá trị của nghiên cứu.  Một trong những điều đó là mới gần đây, một nghiên cứu cũng về thuốc này, do các nhà nghiên cứu Trung Hoa thực hiện, được đăng trên tạp chí Lancet (một tạp chí nổi tiếng về y khoa), cho rằng thuốc này không có hiệu quả mong đợi, mà còn gây ra nhiều tác dụng phụ nguy hiểm.

Mỗi người mỗi ý. Có người bàn tán vì công tâm, có người vì ý đồ chính trị, có tin vì được một số nước ngoài giật dây (một cách gián tiếp hay trực tiếp) không muốn điều tốt cho Hoa Kỳ. Ta có thể theo dõi, nhưng, hình như, rất dễ bị “rối.”

Một cách thực tế, để bảo vệ cho mình và mọi người, ta vẫn nên tiếp tục thực hiện tốt việc:

-Ở trong nhà, không đi ra chỗ đông người (nếu không thật cần thiết).

-Giữ khoảng cách 2 mét với người khác.

-Không sờ tay vào mắt, mũi miệng.

-Rửa tay thường xuyên và đúng cách.

-Đeo khẩu trang và che miệng bằng khăn hay khuỷu tay khi ho, để tránh lây bệnh cho người khác (nếu rủi mình đã bị nhiễm mà không biết).

Giữ sức đề kháng cho tốt, để nếu có bị nhiễm bệnh thì sẽ không bị nặng và có khả năng khỏi bệnh cao nhất. Bằng cách ăn, ngủ, uống nước, thể dục đầy đủ và thích hợp.

Theo dõi các thông báo từ chính quyền để cập nhật, hiểu, và thực hiện đúng các quy định mới.

Và quan trọng nhất: Vẫn cười thật tươi, an nhiên tự tại, để thưởng thức cuộc đời, và bình tĩnh, để nhớ làm tất cả các điều trên. [qd]

Thân mến

(714) 531-7930
drnguyentranhoang@gmail.com

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

8 SÀI GÒN

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

Nếu phân ly là định mệnh dân tộc??!!…

Tôi không nghĩ đã có dân tộc nào trên thế giới mở đầu trang sử của mình bằng một cuộc phân ly. Nhưng rủi thay, dân tộc ta đã có một trang sử khởi đầu như vậy. Đọc sử, chúng ta hãnh diện tự tôn về dòng giống con rồng cháu tiên. Điều đó, làm chúng ta quên bẵng đi ý nghĩa câu chuyện mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển để bắt đầu một phân ly tiên khởi như định mệnh dân tộc.

Ngẫm xem, dân tộc này đã trải qua bao nhiêu cuộc phân ly kể từ ngày ấy? Ngày nay, lúc này, xứ sở thống nhất về lãnh thổ, nhưng cuộc phân ly từ lòng người vẫn cứ còn nguyên đó với nhiều sắc màu, vượt trội nhất với đỏ và vàng.

Cũng lạ, như một định mệnh trớ trêu, trong lá cờ đỏ lại có ánh vàng, trong lá cờ vàng lại có sắc đỏ, trong mình có ta, trong ta có mình, ta với mình đều là người Việt, mình với ta đều là đồng bào, ta với mình đều vỗ ngực yêu nước, nhưng mình với ta không đứng chung trong một sắc cờ! Và nếu cần phải chiến đấu với ngoại xâm, liệu ta với mình có đứng chung trong một chiến hào?

Tôi mơ hồ về câu trả lời, nhưng tôi sẽ chắc chắn hơn với câu trả lời “Có”, chỉ khi mà “ta” với “mình” đã có sự hòa hợp, hòa giải với nhau!

Vâng, sự hòa giải đấy là nan đề xứ sở, là giấc mơ 45 năm chưa trọn!

Đối diện với mỗi vấn đề, tôi vẫn thường hướng sự suy nghĩ của mình bắt đầu từ quá khứ để biết các bài học của lịch sử… Nhưng với vấn đề hòa giải, tôi muốn chúng ta bắt đầu câu chuyện từ nước Đức.

Không phải về một nước Đức phát xít của Hitler đã từng làm nhân loại kinh sợ, mà về một nước Đức thống nhất đã từng làm nhân loại phải ngã mũ kính phục từ sau sự kiện bức tường Berlin bị phá bỏ năm 1989. Chính là nước Đức mà khiến chúng ta, đã không thể đặt vô số câu hỏi tại sao khi đối chiếu với những vấn đề của đất nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta? Nhưng chúng ta phải nhận thấy rằng, nhờ đó, nước Đức đã không mất đi nguồn nhân lực chất xám cực lớn và quý báu từ một nửa quốc gia còn lại, xã hội không bị xáo trộn và cũng không phải đau đáu về việc phải hòa giải với các cựu thù hàng mấy thế hệ, mà nay tất cả đang là những đồng nghiệp với nhau, cùng kề vai sát cánh phụng sự trong chính quyền nước Đức, vì quyền lợi dân tộc Đức.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta! Và chúng ta cũng nhận thấy rằng, nhờ đó, hàng triệu người dân nước Đức đã không phải phiêu lưu đánh đố số phận của mình trên những chiếc ghe nhỏ giữa đại dương, với vô vàn bất trắc: bão tố, sóng biển, cá mập, hải tặc, tù đày và kể cả điều xấu nhất là cái chết trước khi đến được bến bờ mong muốn. Hơn cả thế, người dân Đức không phải đối diện với sự mất mát và nước Đức cũng không phải đối diện với sự ly tán hiện hữu dai dẳng trong lòng người dân nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? Bà Angela Merkel ! Bạn có nghĩ rằng, nếu người phụ nữ tài trí kiệt xuất này sống ở đất nước chúng ta, Bà có thể đã có một tương lai rất khác, khi mà đất nước chúng ta sau ngày thống nhất vẫn còn nguyên đó sự dè dặt trước những người có lý lịch không tương thích với chính quyền và trong quá khứ đã từng có chính kiến rất khác biệt với chính quyền.

Không chỉ câu chuyện từ nước Đức, mà những câu chuyện về sự hòa giải, hòa hợp từ Nam Phi, Miến Điện, thậm chí từ quốc gia Cao Miên láng giềng cũng đều là bài học hữu dụng.

Tại sao và tại sao? Trả lời được những thắc mắc đó, chúng ta có thể trả lời cho con cháu đời sau biết lý do tại sao ông cha của chúng hiện nay phải kêu gọi hòa giải mối bất hòa có từ những thập kỷ năm mươi và một lần nữa vào thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, giữa những người Việt có chung giòng máu Lạc Hồng, sinh từ cùng một bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ?

Giữa thập kỷ năm mươi, năm 1954, không phải là một quốc gia bại trận như nước Đức. Trái lại, xứ sở chúng ta vừa mới bước ra khỏi cuộc chiến với tư cách là một quốc gia chiến thắng. Nhưng phần thưởng cho người chiến thắng không vinh quang như chúng ta thường nghĩ, thường thấy, mà cũng lại là sự phân ly như nước Đức bại trận!?

Giữa thập kỷ bảy mươi, năm 1975, sau cuộc chiến khốc liệt dai dẵng kéo dài hằng hai thập kỷ, trả giá bằng sinh mệnh của nhiều triệu đồng bào, cuối cùng xứ sở của chúng ta cũng có được thống nhất dưới bánh xích xe tăng nghiến trên đường phố Sài Gòn. Nhưng kể từ ngày ấy cho đến nay đã là 45 năm, xứ sở thống nhất, nhưng lòng người dân nước ta chưa bao giờ thống nhất! Vẫn vẹn nguyên sự phân ly như những ngày nội chiến tương tàn!

Sự phân ly lòng người đau đớn lắm, nó làm thân thể người mẹ Việt xanh xao yếu ớt, như vết thương mãi rỉ máu, chẳng bao giờ biết liền sẹo…

Ngẫm lại, quả là chúng ta đã từng có một Diên Hồng chói lọi trong lịch sử đoàn kết dân tộc vào thời Trần, nhưng suốt bốn ngàn năm lịch sử cho đến nay, hình như chúng ta cũng chỉ có mỗi trang sử lẻ loi ấy?! Thỉnh thoảng, tinh thần Diên Hồng ấy lại chớp lóe trong những thời khắc vận nước lâm vào cơn nguy khốn cùng cực, khi cơn nguy khốn đã qua, thì tinh thần Diên Hồng cũng chóng tan như làn sương sớm mai!

Chúng ta phải tự hỏi: Đã có thể chìa bàn tay hòa giải với các cựu thù ngoại nhân như Pháp, Nhật, Mỹ! Nhưng chìa bàn tay hòa giải với chính đồng bào mình sao lại khó quá?

Hòa giải, giấc mơ 45 năm chưa trọn. Có thể, sau 100 năm kể từ thời điểm 1975, khi những con người đã từng là đạo diễn, diễn viên và khán giả của câu chuyện phân ly lòng người khuất bóng, thì có thể con cháu của họ sẽ ngồi lại với nhau để viết nên trang sử mới của dân tộc, trang sử không còn bóng dáng của sự phân ly trong lòng người Việt! Trang sử không còn sự phân ly như định mệnh dân tộc của tiền nhân để lại.

Như cô Tấm mong có ông Bụt, tôi mong dân tộc tôi có một phép mầu…

Tháng 04/2020
MANH DANG

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Huy Chiêu to K75 LƯƠNG VĂN CAN
Image may contain: 5 people, people standing
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: 2 people, people sitting, table, indoor and food
Image may contain: 2 people, people sitting, people eating, table, indoor and food
Image may contain: text
Truong Huy San is with Thach Nguyen and 3 others.

 

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Hai bức ảnh chụp cách nhau 13 năm, đều nói về ngày đoàn tụ của hai người tù, hai người cùng một mẹ Việt Nam, nhưng từng bị đặt ở hai bên chiến tuyến.

Bức ảnh thứ nhất, chụp ở ga Hòa Hưng năm 1988. Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh, được xác định, là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. Ông từ trại cải tạo theo đường xe lửa trở về, được vợ và anh trai (chứ không phải là con trai – theo một người thân của gia đình cho biết), ra sân ga đón [không rõ ai là tác giả bức ảnh tuyệt vời này].

Bức ảnh thứ hai được nhà báo Lâm Hồng Long chụp ngày 4-5-1975, người đàn ông trong ảnh là Lê Văn Thức, tử tù Côn Đảo, khóc trên vai mẹ, bà Trần Thị Bính, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông Thức được cài vào Quân lực VNCH, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức, được chính quyền Sài Gòn đưa đi học khóa “tình báo tác chiến” tại Malaysia. Về nước, với lon thiếu úy. Tháng 4-1968, Lê Văn Thức bị Tòa án binh vùng 4 chiến thuật tuyên tử hình vì tội “hoạt động nội tuyến cho Cộng sản”.

Đoàn tụ chắc chắn đều là mong ước của mọi gia đình. Nhưng họ khóc. Thật khó để nói, đó là những “giọt nước mắt vui” hay là những giọt nước mắt tức tưởi. Ngày 30-4-1975, gia đình thiếu úy Lê Văn Thức nằm trong số “triệu người vui”; gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh nằm trong số “triệu người buồn”. Thật trớ trêu, cả hai sau đó đều không có ai được hưởng ân huệ của hòa bình cả. Đại tá Nguyễn Công Vĩnh bị đưa đi cải tạo suốt 13 năm. Chỉ cần nhìn những chiếc răng rụng của người vợ một thời xinh đẹp của ông, đủ thấy họ đã cơ cực thế nào kể từ khi “miền Nam giải phóng”.

Nhưng, nếu như giọt nước mắt ở ga Hòa Hưng năm 1988 của gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh đã khép lại một bi kịch kéo dài hơn một thập niên. Thì, giọt nước mắt của mẹ con thiếu úy Lê Văn Thức lại mở ra những ngày buồn trước mắt. Bức ảnh mang lại cho nhà báo Lâm Hồng Long nhiều vinh quang nhưng không thể hóa giải tính khắc nghiệt của chiến tranh hằn lên nhân vật.

“Với lý lịch ‘thiếu úy ngụy’, kể từ ngày hòa bình trở về, Lê Văn Thức không được bố trí công tác mới. Mãi sau này, khi một cán bộ công tác ở UBND huyện Châu Thành, Bến Tre tình cờ đọc được những bài báo viết về nhân vật trong bức ảnh ‘Mẹ con ngày gặp lại’(1991), đã tìm đến nhà anh Thức phỏng vấn và viết bài ‘Viên thiếu úy mang bản án tử hình’ (đăng trên báo Đồng Khởi thứ Bảy). Nhiều người ở địa phương mới biết đến các hoạt động trong quá khứ của anh. Và các cơ quan chức năng mới nhiệt tình vào cuộc để rồi công nhận những đóng góp, hy sinh có thực của Lê Văn Thức”[Theo Hoàng Bình Minh, báo CAND].

Mấy hôm nay, chương trình thời sự của VTV vẫn như 45 năm qua, sắp tới 30-4 là xe tăng, pháo lớn lại nổ đinh tai nhức óc. Hơn 15 năm trước, Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mất vợ và 3 người con trong chiến tranh, đã phải đi một vòng các tỉnh miền Tây, gặp gỡ rất nhiều lãnh đạo, nhà báo địa phương, ông gần như khẩn thiết kêu gọi họ đừng kỷ niệm 30-4 theo cách làm cũ nữa; đừng tiếp tục nã xe tăng đại bác vào quá khứ.

Cuối năm ấy, 2004, ông trả lời tuần báo Quốc Tế, số Xuân: “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu”.

Hàng chục nghìn bản số báo Xuân đã in của tuần báo Quốc Tế, phải đình lại, bóc bài… Mãi tới 31-3-2005, quan điểm này của ông Võ Văn Kiệt về cuộc chiến trước 30-4-1975 mới được đưa ra công chúng.

Cũng năm ấy, trước 30-4-2005, Thành ủy TP HCM gửi cho ông Võ Văn Kiệt “Dự thảo diễn văn” Bí thư Thành ủy đọc tại Lễ kỷ niệm “30 năm ngày giải phóng miền Nam”. Ông vô cùng thất vọng vì bài diễn văn vẫn lặp lại những ngôn từ sáo mòn, công thức; vẫn xe tăng, vẫn đại bác… tiếp tục nã vào người anh em.

Đã 15 năm qua, tuy liều lượng có bớt đi nhưng cách tiếp cận của bộ máy tuyên truyền vẫn không thay đổi.

Khi nghĩ về ngày kết thúc chiến tranh, cả Trịnh Công Sơn và Văn Cao đều khá lạc quan. Trịnh Công Sơn tưởng rằng, những “giọt nước mắt vui” có thể “lay lòng gỗ đá”. Văn Cao cũng hy vọng, nước mắt “sưởi ấm đôi vai anh”. Và ông tưởng: “Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người…” Sự khác nhau giữa Văn Cao và Trịnh Công Sơn, có lẽ ở chỗ, với một tâm hồn đầy trắc ẩn như Văn Cao, cho dù thốt ra như vậy, nhưng các dự cảm buồn vẫn ám ảnh từng phách, nhịp trong “Mùa Xuân Đầu Tiên” của ông.

Bao giờ, quê hương tôi mới hết những giọt nước mắt tức tưởi; bao giờ mới thực sự có “những giọt nước mắt vui”; bao giờ lòng người Bên Thắng Cuộc mới thôi gỗ đá.

“Con nhìn ra, nào giải phóng gì đâu”

“Con nhìn ra, nào giải phóng gì đâu”

Thảo Ngọc

30-4-2020

Lại nói về ngày 30 tháng Tư, mà nhiều người vẫn gọi là Tháng Tư Đen, được mệnh danh là ngày Giải phóng miền Nam.

Bản chất của ngày 30/4 chỉ là ngày chấm dứt cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn”, “nồi da xảo thịt” mà thôi. Nghĩa là anh em trong một nhà bắn giết lẫn nhau. Vì trước đó Mỹ đã rút hết quân ra khỏi Việt Nam, hòa bình được ký kết theo Hiệp định Paris năm 1973. Vậy thì có gì đáng tự hào để khoe khoang rùm beng hết năm này đến năm khác về cuộc anh em tàn sát lẫn nhau ấy?

Nhìn về hoàn cảnh lịch sử của cuộc chiến tại Việt Nam từ sau Hiệp định Paris năm 1973. Mỹ đã hoàn toàn cắt đứt mọi nguồn viện trợ cho VNCH, họ đã phải đơn thương độc mã chiến đấu với cả phe XHCN viện trợ và hậu thuẫn cho miền Bắc, thì không thua mới lạ.

Còn miền Bắc thì sao? Từ các loại vũ khí tối tân nhất của Liên Xô và Trung Quốc liên tục rót vào như máy bay, xe tăng, súng to súng nhỏ và đạn dược các loại, cho đến quân trang quân dụng và nhu yếu phẩm, đều được phe XHCN viện trợ và trang bị tận răng.

Bên cạnh đó có hàng ngàn cố vấn quân sự của Liên Xô về điều khiển tên lửa và lái máy bay sang Việt Nam hỗ trợ, cùng với hàng chục ngàn binh lính Trung Quốc đến bảo vệ những khu vực trọng yếu và làm đường sá, để cho miền Bắc dồn hết quân lực vào đánh nhau với miền Nam.

Có thể nói Việt Nam lúc đó đã trở thành bãi chiến trường để thử vũ khí cho các cường quốc, trong đó lấy sinh mạng người Việt làm vật hy sinh. Quá đau đớn.

Nhìn vào lịch sử của các cuộc nội chiến, như cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ 1861–1865, sau khi các bang miền Bắc chiến thắng, hai bên bắt tay giải hòa, và “bên thắng cuộc” sau đó không hề tổ chức mừng chiến thắng rầm rộ như Việt Nam mấy chục năm nay.

Cộng sản Trung Quốc sau khi chiến thắng Quôc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch năm 1949, buộc quân Tưởng phải chạy ra trú ngụ tại Đài Loan. Nhưng sau đó hàng năm phía Trung Quốc cũng không tổ chức mừng chiến thắng.

Trước đây Nhà Nguyễn cũng không kỷ niệm ngày chiến thắng quân Tây Sơn, mặc dù họ cũng thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối.

Hàng năm “Bên thắng cuộc” càng tổ chức mừng chiến thắng để khoe khoang thành tích chém giết đồng bào mình bao nhiêu thì càng khoét sâu nỗi đau của hàng triệu người bấy nhiêu. Điều đó càng đi ngược lai chủ trương hòa hợp và hòa giải dân tộc mà đảng và nhà nước vẫn tuyên truyền và rêu rao lâu nay.

Trong khi hàng chục vạn sinh mạng binh lính đôi bên còn phơi xác đâu đó trên các bãi chiến trường xưa mà chưa được hồi hương với gia đình và thân nhân. Trong khi hàng triệu người dân bị tàn phế và mang trong mình những vết thương do hậu quả chiến tranh không thể lấy gì bù đắp được. Vậy thì chiến thắng và vinh quang nỗi gì?

Trong khi nhân dân miền Nam đang sống hạnh phúc, tự do thanh bình, từ thành thị đến nông thôn đang hưởng không khí hòa bình và xây dựng đất nước, thì bỗng dưng chiến tranh ập đến với tên gọi là “giải phóng”. Nhà cửa bị đốt cháy, làng mạc bị trở thành bãi chiến trường, cầu cống đường sá bị phá sập, cảnh đầu rơi máu chảy lại diễn ra. Thì đó là giải phóng cái gì?

Có một bài thơ gửi mẹ, được cho là của một người lính miền Bắc tử trận tại chiến trường miền Nam, được phía đối phương nhặt được, có những câu như sau:

Và tác giả bài thơ kết thúc với nỗi niềm day dứt khôn nguôi:

“Đêm hôm ấy mắt con tràn lệ
Ác mộng về con trằn trọc thâu canh”.

VÁN BÀI LẬT NGỬA

Liên Trà

 VÁN BÀI LẬT NGỬA

(Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH …)

Sau hai vòng đàm phán không chính thức với mục đích nếu không đạt được Hiệp ước Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ thì ít ra cũng được phép mua vũ khí từ Mỹ, Đại diện CSVN đành về nước tay không với gói quà 18 triệu đô viện trợ cho Cảnh sát Biển.
Hôm trước khi ra sân bay về nước, Đại diện CSVN có ngõ lời mời người đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia. Nhà hàng này nổi tiếng với món Vịt Bắc Kinh và có rất nhiều Tổng thống Mỹ ghé qua ăn và chụp hình lưu niệm. Vừa bước vô cửa người đại điện Mỹ nói chào một cách dí dỏm:
– Ông cũng khéo chọn lựa chứ? Mỹ gặp Việt trong nhà hàng Trung Quốc?
Đại diện CSVN cười và giải thích:
– Nhà hàng này có chủ là người Đài Loan. Cứ xem như kẻ thù của kẻ thù là bạn.
Đại diện Mỹ buột miệng ra một câu tiếng Việt:
– Thế ra là nhà hàng của “Thế lực THÙ (của) ĐỊCH” à?
Đại diện CSVN phá lên cười:
– Gớm. Ông cũng rành tiếng Việt đấy chứ?

– Tôi học tiếng Việt ở Mỹ, học tiếng lóng tiếng láy ở Sài Gòn khi còn làm tùy viên văn hóa bên đó trước năm 1975. Sau này vẫn theo dõi thời sự và trao đổi trên Facebook. Chúng ta có thể thảo luận bằng tiếng Việt để khỏi mất thì giờ. Ông muốn gặp tôi lần cuối chắc là có câu hỏi gì cho tôi?
Đại diện CSVN vào thẳng vấn đề:
– Hai vòng đàm phán qua ông đã kết luận chúng tôi không thể có Liên minh Quân sự với Mỹ vì Trung Quốc sẽ cản trở. Chúng tôi không có đủ ngân sách để mua vũ khí tự túc. Xem ra giải pháp quân sự lúc này với Trung Quốc không khả thi. Thế thì giải pháp pháp lý, ông nghĩ có khả thi hay không? Ý tôi muốn nói rằng đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để kiện như Philipines đang làm thì có khả thi không?
– Cơ hội rất ít, thưa ông. Và các ông nên cân nhắc cẩn thận về các bằng chứng trình trước tòa. Vì nếu tòa phán quyết các ông THUA thì con đường tương lại còn gian nan hơn nữa. Phán quyết mới nhất của tòa cấp quốc tế xem ra là bản án tử hình cho các ông tại Biển Đông. Khi ấy các ông bị đẩy ra bên lề mọi tranh chấp sau này của các nước trong vùng đối với Biển Đông.
– Nhưng nếu chúng tôi liên kết kiện với Phi hay các nước khác?
– Tôi cũng nhận thấy các ông đang có hướng này. Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghé thăm Phi hôm qua. Nhưng khả năng Phi liên kết với ông trong vụ kiện rất thấp vì khi Phi kiện các ông không ủng hộ. Bây giờ các ông tham gia với BẰNG CHỨNG BẤT LỢI hơn thì dĩ nhiên Phi khó chấp nhận.
– Chúng tôi có đầy đủ các bằng chứng THUẬN LỢI từ thời Thực dân Pháp đến Việt Nam Cộng Hòa rằng Việt Nam có đã xác định chủ quyền trên hai quần đảo này liên tục cả trăm năm cơ mà. Sao ông lại nói BẤT LỢI?
– Các ông đang trưng dẫn bằng chứng của những chế độ đã qua mà không hề có bằng chứng xác nhận chủ quyền cấp quốc tế từ chế độ của các ông. Xem ra khó thuyết phục tòa án. Các ông có thể trưng dẫn hình ảnh thời thơ ấu trong một căn nhà, những câu chuyện tuổi thơ ở đó, trong khi người ta trình ra GIẤY BÁN NHÀ của bố các ông, thì dĩ nhiên tòa án không thể cho các ông vào nhà được.
– Ý ông muốn nói đến Công Hàm Phạm văn Đồng năm 1958?
– Đúng. Các ông biết Công Hàm này đã lâu nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các ông cố NÉ TRÁNH nó. Trong khi ngược lại gần đây Trung Quốc lại trưng công hàm này ra trước quốc tế. Xem ra họ có nắm đàng cán về vụ này!
Đại diện CSVN cười sặc sụa:
– Công hàm đó KHÔNG CÓ HIỆU LỰC ông ơi. Phạm văn Đồng dù có nói thẳng là “giao Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Quốc” thì cũng không có hiệu lực. Đó chỉ là ĐÒN NGOẠI GIAO … KHÔN NGOAN của chúng tôi để nhận viện trợ từ Trung Quốc mà đánh Mỹ. Năm 1958 chúng tôi không có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Chờ cho người đại diện CSVN cười xong, uống một ngụm nước, thì đại diện Mỹ mới từ tốn lên tiếng:
– Đối với luật pháp Tây Phương chúng tôi thì chúng tôi phân biệt rất rõ sự tách biệt giữa “khế ươc buôn bán” và “chủ quyền”.
– Ý ông nói là các ông có thể bán những gì các không có cơ à. Thật là HOANG ĐƯỜNG và TRẺ CON.
– Chuyện có thật ông à. Khế ước buôn bán là giao kết giữa hai hay nhiều bên về chuyển nhượng một cái gì đó nó có thể trong hiện tại hay trong tương lai để đổi lấy giá trị tiền bạc hay vật chất có thể giao hôm nay hay giao vào một thời điểm trong tương lai. Như vậy vào năm 1958 các ông hứa bán một cái gì đó các ông không có ngay lúc đó, và lời hứa sẽ giao hàng ngay khi các ông có. Vấn đề là phía Trung Quốc tin như vậy và ủng hộ các ông biến điều đó thành hiện thực. Đổi lại họ cung cấp viện trợ cho các ông gần cả tỉ đô la về vật chất và con người để tiến hành chiến tranh chống chúng tôi.
Năm 1958 các ông không có CHỦ QUYỀN nhưng các ông đã làm KHẾ ƯƠC, thì khi các ông có chủ quyền các ông phải thực hiện khế ước buôn bán đó.
– Thế các ông có trường hợp buôn bán kiểu đó trong thực tế không?
– Có chứ ông. Trong sở hữu chứng khoán, thị trường thế giới có cái gọi là “future options”. Ông không dám mua chứng khoán đó vì ông sợ thua lổ, ông có thể trả tiền với LỜI HỨA sẽ mua và công ty đó phải giao “chủ quyền” chứng khoán đó cho ông trước thời điểm nào đó, dù nó lên hay xuống thấp hơn giá trị ông trả. Rồi ông cần tiền ông vẫn có thể bán LỜI HỨA đó cho người khác và cứ thế cho đến khi thời điểm hứa đó đến thì người cuối cùng phải … THỰC HIỆN. Cái đó là buôn bán thứ ông không có chủ quyền …
Đại diện CSVN nghiêm mặt lại biện hộ:
– Nhưng ông không đọc thấy trong ngôn từ Thủ Tướng Phạm văn Đồng rất KHÔN NGOAN không hề đề cập để chuyện “giao chủ quyền” như cái ví dụ mà ông nêu. Ông ta chỉ nói …
“có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”
Đại diện Mỹ cười rồi nói:
– Các ông đã có lịch sử CÔNG NHẬN công hàm này. Đó là vào năm 1974 khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc chủ quyền VNCH. Các ông đã “tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong mọi quan hệ trên mặt biển” nên các ông hoàn toàn để mặc cho Trung Quốc hành động chiếm chủ quyền … TƯƠNG LAI của các ông. Thế thì sao các ông có thể biện minh trước tòa rằng một văn bản không hiệu lực lại được tôn trọng?
– Chúng tôi cũng như các ông thôi. Hạm đội 7 các ông nằm đó đâu có động tĩnh gì!
– Hoa Kỳ bị ràng buộc bỡi Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc và Hiệp định Paris, phải rút quân và trả lại quyền tự quyết cho VNCH.
Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp:
– Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có … “khôn lâu”.
– Ý ông là?
– Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác “khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.
Đại diện CSVN mỉa mai:
– Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?
– Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …
– Huề tiền!
– Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …
Đại diện CSVN phá liên cười:
– Ông khôi hài quá, thế mà lại “dạy ngoại luộc trứng”
Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp:
– CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958 nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó …. (xin lỗi tôi hay có tật nói láy)
Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ … Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.
Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời:
– Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?
Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò:
– Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?
Rồi ông nói tiếp:
– Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.
– Không còn cách nào hết sao?
– Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.
– Cách gì ông nhắc lại đi.
– Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.
– Làm cách nào?
– Ngay ngày mai …
Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa.
Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó
Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ

Có như thế thì trước diễn đàn thế giới. VNCH chỉ VẮNG MẶT … 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra … Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.
Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán:
– Chỉ đơn giản thế thôi sao?
Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.
Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh:
– All road lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã)
Hãy trả cho Ceasar những gì của Ceasar.
Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH … cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.

Nguồn
FB Doanh Châu