Hai cội nguồn của chế độ toàn trị Trung Quốc: Cơ hội nào cho dân chủ?

Chế độ « cộng sản » Trung Quốc đang ngày càng trở thành mối đe dọa hàng đầu đối với nhiều xã hội. Từ dịch Covid-19 xuất phát từ Vũ Hán, dự án « Con đường tơ lụa mới », đến bành trướng quân sự trên biển… Nhưng với nhiều chuyên gia, đe dọa lớn nhất đến từ chế độ toàn trị Trung Quốc. Theo quan điểm này, chế độ toàn trị Trung Quốc là gốc rễ của vô số các hiểm họa đe dọa phần còn lại của thế giới, và đối với chính xã hội Trung Quốc.

Nhận diện cho đúng chế độ toàn trị hiện nay tại Trung Quốc là cơ sở cho phép các nền dân chủ có được đối sách đúng. Tuy nhiên, nhận diện đúng không phải là điều dễ. Do tính chất khép kín của chế độ này, do những đặc thù của nền văn hóa lâu đời của Trung Quốc. Khó nhận diện cũng có phần do thế đối đầu Mỹ – Trung hiện nay có xu hướng thổi bùng lên những mâu thuẫn mang tính quốc gia, vô hình chung đẩy lùi vấn đề mô hình xã hội – toàn trị, dân chủ hay độc tài – vào tuyến hai. Vấn đề chế độ chính trị có xu hướng được đơn giản hóa, để đáp ứng nhu cầu tuyên truyền trước mắt. Chỉ trích của nhiều chính trị gia các nước dân chủ tập trung vào tính chất « cộng sản » của chế độ chính trị hiện hành, mà coi nhẹ những gốc rễ của chế độ toàn trị trong chính truyền thống Trung Hoa nghìn năm.

Tuy nhiên, giới chuyên gia về Trung Quốc, về chính trị quốc tế, vẫn tiếp tục có các nghiên cứu. Học giả Mỹ Francis Fukuyama tháng 5/2020 vừa qua công bố bài phân tích : « What Kind of Regime Does China Have? » – tạm dịch : «Trung Quốc có chế độ kiểu gì? » (1), tìm cách giải mã các cội nguồn của chế độ toàn trị Trung Quốc, một số đặc điểm căn bản của mô hình chính trị Trung Quốc thời cộng sản, từ thời Mao, Đặng… cho đến Tập Cận Bình (2). Tác giả cũng đề xuất một triển vọng được coi là khả thi hơn cả cho sự trỗi dậy của dân chủ tại Trung Quốc. Sau đây, RFI tiếng Việt xin giới thiệu một số nét chính của bài phân tích.

***

CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ LÀ GÌ ?

Thuật ngữ « toàn trị » do hai nhà chính trị học Mỹ, Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski, chế tác ra vào những năm 1950, để chỉ các xã hội theo « mô hình Liên Xô » và « phát xít ». Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski phân biệt các chế độ « toàn trị » với các chế độ gọi là « độc đoán ». « Toàn trị » là các chế độ do một đảng duy nhất lãnh đạo, với một ý thức hệ bao trùm, sử dụng quyền lực công an trị để buộc mọi người dân trong xã hội phải trung thành tuyệt đối với ý thức hệ chính thống, với việc « kiểm soát chặt chẽ mọi khía cạnh riêng tư nhất của các thành viên trong xã hội ». Các chế độ này hy vọng « cắt đứt toàn bộ các liên hệ xã hội trước đó, để buộc tất cả mọi người phụ thuộc trực tiếp vào chính quyền ». Đảng thực thi vai trò « tẩy não » dân chúng một cách triệt để, « đến mức họ không còn nhận ra những xiềng xích cột họ vào Đảng ». Một hình tượng tiêu biểu cho thành công của chế độ toàn trị Xô Viết là nhân vật người thiếu niên Pavel Morozov, được lãnh tụ Staline nhiệt liệt biểu dương, do đã có công tố cáo cha mẹ mình với công an mật.

ĐÂU LÀ CỘI RỄ CỦA CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ TẠI TRUNG QUỐC HIỆN NAY ?

Học giả Mỹ Francis Fukuyama nhấn mạnh : xã hội Trung Quốc là « một trong những xã hội có lịch sử liên tục dài nhất thế giới, và có rất nhiều sự tiếp nối xuyên qua các triều đại, cho đến chế độ hiện nay ». Trung Quốc là « nền văn minh đầu tiên trên thế giới tạo lập ra một bộ máy Nhà nước mang tính hiện đại », tức một bộ máy Nhà nước được coi như vận hành độc lập với các quan hệ cá nhân, dù là với hoàng đế, với gia tộc hoàng đế hay với các thân hữu của hoàng đế. Một bộ máy Nhà nước vận hành theo các quy tắc riêng, tập quyền cao độ. Bộ máy này ra đời vào dưới triều đại nhà Tần, triều đại đầu tiên thống nhất các vương quốc tại khu vực trung tâm lãnh thổ Trung Quốc hiện nay (vào năm 221, trước Công nguyên). Thời Tần Thủy Hoàng chỉ tồn tại chưa đầy 20 năm, nhưng để lại các hệ quả vô cùng lớn trong xã hội Trung Hoa suốt hơn 2.000 năm sau. Triều đại nhà Hán, kéo dài hơn 4 thế kỷ sau đó, đã kế thừa phương thức tổ chức Nhà nước tập quyền của Tần Thủy Hoàng, và bổ sung vào đó vai trò hàng đầu của Khổng giáo, của tầng lớp quan lại theo Nho giáo, được phó thác sứ mạng lãnh đạo một trong các đế chế lớn nhất thế giới thời đó. Một đặc điểm tiêu biểu khác của chế độ chính trị thời Tần, rồi đến thời Hán, là : trong các đế chế hùng mạnh này tại Trung Hoa chưa bao giờ có các định chế chính trị mang tính đối trọng, như Nhà nước pháp quyền, hay trách nhiệm giải trình mang tính dân chủ (democratic accountability), mà chủ yếu dựa vào tầng lớp lãnh đạo điều hành đất nước, thông qua con đường « giáo dục ».

Bộ máy Nhà nước tập quyền và không có đối trọng, do một tầng lớp quan lại được tuyển chọn thông qua học vấn vận hành, đó là các đặc điểm tiêu biểu của nền chính trị Trung Hoa suốt 2.000 năm. Thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực là thách thức mà chính quyền Trung Hoa liên tục gặp phải. Hoàng đế phải sử dụng tầng lớp quan lại để điều hành bộ máy Nhà nước, nhưng ai kiểm soát bộ máy này, khi bộ máy bị hư hỏng? Tầng lớp hoạn quan đã được sử dụng làm nhiệm vụ này. Đến đời nhà Minh, lại phải lập ra cả một bộ phận riêng để kiểm soát các hoạn quan, do sự lộng hành của nhóm này. Vấn đề tương tự cũng đặt ra hiện nay, khi đảng Cộng Sản kiểm soát chính quyền, Ban Tổ Chức của Đảng kiểm soát Đảng. Và dưới thời Tập Cận Bình, đến lượt Ủy Ban Kỷ Luật Trung Ương được giao nhiệm vụ kiểm soát Ban Tổ Chức…

Tuy nhiên, nếu như có những điểm kế tục giữa phương thức cai trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay với các triều đại trước đây, thì cần phải nhấn mạnh là đảng Cộng Sản Trung Quốc đã kế tục truyền thống toàn trị thời Liên Xô của Staline, nhiều hơn bất cứ giai đoạn nào khác trong lịch sử Trung Hoa trước đó. Phương thức toàn trị Xô Viết, với hệ thống tuyên huấn, dân vận, trại cải tạo, trại tập trung, mạng lưới những tay chân của chế độ có mặt khắp nơi theo dõi dân chúng…, rút cục đã phá sản. Tuy nhiên, « tham vọng toàn trị không chết, tham vọng kiểm soát hoàn toàn người dân, từ tinh thần đến thể xác, đã được truyền từ đảng Cộng Sản Liên Xô sang đảng Cộng Sản Trung Quốc ».

Mao Trạch Đông đã tái tạo mô hình toàn trị Liên Xô bằng các phương tiện tương tự, với đỉnh điểm là cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Tuy nhiên, nỗ lực này rốt cục đã thất bại, buộc giới tinh hoa trong Đảng, chuyển hướng sang con đường hiện đại hoá theo kiểu tư bản. Theo Francis Fukuyama, lãnh đạo kế nhiệm Đặng Tiểu Bình đã bắt đầu giải thể Nhà nước toàn trị, để thay bằng « Nhà nước độc tài ».

CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC DƯỚI CÁC THỜI MAO, ĐẶNG VÀ TẬP, CÓ GÌ KHÁC, GÌ GIỐNG ?

Theo Francis Fukuyama, giai đoạn 1978 đến 2012, tức là từ khi Đặng Tiểu Bình khởi động « hiện đại hoá », cho đến khi Tập Cận Bình lên cầm quyền, là một giai đoạn mà người dân Trung Quốc được hưởng nhiều quyền tự do cá nhân, kinh doanh, đi lại tự do, bày tỏ quan điểm tự do… khác hẳn trước. Đảng giảm nhẹ sự can thiệp vào kinh tế và bộ máy Nhà nước… Nhiệm kỳ lãnh đạo cao cấp được giới hạn. Với việc Tập Cận Bình lên cầm quyền, bộ máy chính trị Trung Quốc có xu thế làm sống lại mô hình toàn trị thời Mao. Chủ nghĩa Mác-Lê theo tư tưởng Tập Cận Bình đã được đưa vào Hiến Pháp, được giảng dạy trong trường học. Bộ máy công an có thêm nhiều quyền lực chưa từng có. Đảng xâm nhập trở lại mọi mặt của đời sống. Nhiều bài hát của Hồng vệ binh thời Cách Mạng Văn Hoá được phổ biến trở lại. Đàn áp ở quy mô lớn, với hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ bị đưa vào các trại cải tạo….

Tuy nhiên, Francis Fukuyama cũng nhấn mạnh là, cho dù tham vọng kiểm soát trở lại theo kiểu toàn trị, « Tư tưởng Tập Cận Bình » cũng chỉ là một bản sao mờ nhạt của tư tưởng Mao, với cuốn Sách Đỏ nổi tiếng. Tập Cận Bình đã không đủ sức đưa ra một ý thức hệ mang tính nhất quán như Mao, đủ sức dấy lên niềm tin cuồng tín của hàng triệu người Trung Quốc. Nhưng ngược lại, chính quyền Tập Cận Bình lại có được các phương tiện công nghệ tinh vi, hùng hậu của kỷ nguyên công nghệ số, cho phép dễ dàng kiểm soát dân chúng, khác hẳn thời Mao hay Staline. Cũng khác với thời Mao, chủ yếu dựa vào đàn áp, đe dọa, giờ đây chính quyền thời Tập dựa nhiều hơn vào việc chiêu dụ được một tầng lớp trung lưu, dễ bảo nhờ các món lợi vật chất…

So sánh để nhìn ra các điểm giống giữa Mao, Đặng và Tập, học giả Mỹ Francis Fukuyama vừa lưu ý đến tính nối tiếp của nhiều truyền thống toàn trị trong xã hội Trung Hoa với chế độ toàn trị cộng sản hiện nay, nhưng cũng vừa nhấn mạnh đến tính mâu thuẫn giữa các truyền thống Trung Hoa. Chế độ cai trị tàn bạọ thời Tần, đặt cơ sở cho các chế độ toàn trị sau này, chỉ tồn tại được ít năm. Các triều đại Trung Hoa sau này trị nước một cách tinh vi hơn.

Francis Fukuyama chia ra hai mạch cai trị trong truyền thống Trung Quốc, gọi là « toàn trị » và « độc đoán » (như định nghĩa của Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski). Về toàn trị, Mao Trạch Đông và Tần Thủy Hoàng là trên cùng một mạch. Về chế độ « độc đoán » , theo tác giả, chính quyền Đặng Tiểu Bình hay Giang Trạch Dân gần với các triều đại Trung Quốc sau này hơn nhiều. Nhìn chung, theo Francis Fukuyama, di sản Mác-Lê thời Xô Viết (theo kiểu Staline), được đảng Cộng Sản Trung Quốc vận dụng, nằm trong thế xung đột sâu sắc với nhiều truyền thống bắt rễ tại Trung Quốc, trong đó có Khổng giáo, vốn nhấn mạnh nhiều đến các quan hệ con người.

NỀN CHÍNH TRỊ ĐCS LÃNH ĐẠO TẤT YẾU DẪN ĐẾN MỌI QUYỀN LỰC THÂU TÓM TRONG TAY MỘT LÃNH ĐẠO DUY NHẤT TẬP CẬN BÌNH ?

Theo Francis Fukuyama, thì việc Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo Trung Quốc, với xu thế ngả sang toàn trị « không phải là điều không thể tránh khỏi ». Vào thời điểm Tập Cận Bình chưa trở thành lãnh đạo, trong giới tinh hoa Trung Quốc đã có nhiều người hy vọng là chế độ Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tập sẽ vừa chống được nạn tham nhũng, vừa xác lập các cơ sở cho một xã hội Trung Quốc tự do hơn, trước khi họ hiểu ra.

Dù sao, chế độ Tập Cận Bình chưa phải đã áp đặt được lý tưởng toàn trị lên toàn bộ xã hội. Xã hội Trung Quốc hiện nay khác xa Bắc Triều Tiên. Lịch sử Trung Quốc cho thấy hai nỗ lực xây dựng xã hội toàn trị một cách tàn bạo dưới thời Tần Thủy Hoàng và Mao Trạch Đông không kéo dài. Việc dân chúng tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng hiện nay xuất phát từ « tự nguyện » do lợi ích được thỏa mãn, hơn là « do bị đe dọa ». Khả năng các công nghệ số kiểm soát dân chúng đến đâu cũng còn là vấn đề để ngỏ. « Tư tưởng Tập Cận Bình » hay « chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Hoa » cũng không hấp dẫn đến mức có nhiều người sẵn sàng chết cho lý tưởng, như thời Mao.

TRUNG QUỐC CÓ CƠ HỘI DÂN CHỦ HOÁ HAY KHÔNG, NẾU CÓ CON ĐƯỜNG NÀO KHẢ THI HƠN CẢ ?

Theo Francis Fukuyama, trước hết các nền dân chủ phương Tây phải nhận thức được là tại Trung Quốc, « có một chế độ toàn trị mới đang hình thành », giống như Liên Xô giữa thế kỷ XX, chứ không phải là « một chế độ tư bản theo phong cách độc đoán », như giai đoạn trước đó. Bởi tại Trung Quốc hiện nay, Nhà nước gần kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, kể cả với các doanh nghiệp được gọi là « tư nhân », như Tencent hay Alibaba. Về mặt kinh tế, Hoa Kỳ và các nền dân chủ tự do cần phải dần dần rút các cơ sơ kinh tế khỏi Trung Quốc. Đại dịch Covid-19 cho thấy sự nguy hiểm của việc phụ thuộc vào Trung Quốc.

Riêng đối với Trung Quốc, trong tình hình hiện nay, khi bộ máy đàn áp của chế độ hiện hành là rất lớn, « rất ít có khả năng thay đổi sẽ diễn ra từ bên dưới, với một phong trào quần chúng rộng khắp ». Nếu như xảy ra, thay đổi chỉ có thể đến từ « bộ phận thượng tầng của ban lãnh đạo Đảng ». Cụ thể là những người bị ảnh hưởng do việc Tập lên nắm quyền. Cả một hệ thống vận hành từ hơn 30 năm, bị Tập Cận Bình thay thế, để về phần mình, trở thành lãnh đạo trọn đời.

Chế độ đa đảng, theo Francisco Fukuyama, sẽ không đến sớm với Trung Quốc, như tại Hàn Quốc và Đài Loan trong những 1980, « con đường thay đổi tối ưu tại Trung Quốc hiện nay là thông qua hệ thống pháp lý, giống như nhiều nước châu Âu trong thế kỷ XIX và XX ». Chuyển từ một Nhà nước pháp trị (rule by law) sang Nhà nước pháp quyền (rule of law), một Nhà nước chịu sự kiểm soát của luật pháp. Cần thiết lập các quy định rõ ràng áp dụng cho người dân thường, cho đến các quan chức cấp thấp hơn, rồi với cả chính bản thân Đảng. Việc thực thi quyền lực cần phải được khống chế, kiểm soát thực sự về mặt Hiến Pháp. Tư pháp phải có quyền tự trị rộng rãi. Người dân phải được có thêm quyền tự do, ít nhất là cũng giống như so với thời trước Tập Cận Bình.

Về phía Hoa Kỳ, học giả Francisco Fukuyama lưu ý là, cần nhớ rằng đối thủ của Mỹ hiện nay không phải là Trung Quốc, mà là đảng Cộng Sản Trung Quốc đang trên đường toàn trị hóa, hoàn toàn khác so với giai đoạn trước năm 2012. Và trước khi toan tính giúp Trung Quốc thay đổi, người Mỹ phải thay đổi chính nước Mỹ để xác lập trở lại vị trí của Hoa Kỳ, như « ngọn hải đăng của các giá trị dân chủ, tự do ».

GHI CHÚ

1 – Bài « What Kind of Regime Does China Have? » đăng tải trên tạp chí The American Interest, 18/05/2020.

2 – Trái ngược với quan điểm của Francis Fukuyama về chế độ toàn trị Trung Quốc, về sự đối lập giữa « giai đoạn Đặng Tiểu Bình » (từ 1978 đến 2012) với « giai đoạn Tập Cận Bình », nhiều chuyên gia cho rằng, trên thực tế thời kỳ Đặng Tiểu Bình, trong quan điểm của đảng Cộng Sản Trung Quốc tương tự với giai đoạn Kinh tế Mới, mà Lênin chủ trương, để tranh thủ kinh tế tư bản, và đây chỉ là một sự nhân nhượng mang tính sách lược, trước khi chế độ cộng sản chuyển sang giai đoạn toàn trị hoàn toàn. Trong tác phẩm mới đây, « Rouge vif » (2019), một chuyên gia về Trung Quốc người Pháp, Alice Ekman, đã chỉ ra « những ảo tưởng về một quá trình dân chủ hoá, nhờ tự do hoá kinh tế », theo chủ trương của Đặng Tiểu Bình.

 

Hai cội nguồn của chế độ toàn trị Trung Quốc: Cơ hội nào cho dân chủ?

Chế độ « cộng sản » Trung Quốc đang ngày càng trở thành mối đe dọa hàng đầu đối với nhiều xã hội. Từ dịch Covid-19 xuất phát từ Vũ Hán, dự án « Con đường tơ lụa mới », đến bành trướng quân sự trên bi…

Lòng tốt không cần đánh giá

Lòng tốt không cần đánh giá

Giám Đốc Walter đã chọn rất nhiều sinh viên từ các trường nghệ thuật để tham gia thử vai diễn, nhưng ông vẫn chưa tìm được người ông hài lòng.

Một ngày nọ, vì mục đích này, Walter đã đi đến ngoại ô phía tây của thành phố, ở đây ông bắt gặp một cậu bé đánh giày trong hàng chục người ở quảng trường nhà ga. Cậu bé hỏi: “Thưa ông, ông có cần đánh giày không?”

Walter nhìn xuống đôi giày ông vừa đánh bóng và lắc đầu từ chối. Ngay khi Walter quay đi, ông đột nhiên thấy cậu bé đuổi theo với khuôn mặt đỏ bừng, và ánh sáng hy vọng hiện lên trong mắt cậu bé: “Thưa ông, cháu đã không ăn gì cả ngày nay. Ông có thể cho cháu mượn tiền được không? Cháu sẽ cố gắng hết sức để đánh giày vào ngày mai và hứa sẽ trả lại tiền cho ông vào một tuần sau nữa!”

Walter nhìn cậu bé rách rưới và co rúm trước mặt, ông cảm thấy vô cùng đáng thương, ông lấy ra một vài đồng xu để vào tay cậu bé. Cậu bé nói cảm ơn ông rồi bước đi một cách nhanh chóng.

Walter lắc đầu, bởi trên đường phố những kẻ nói dối như vậy vô cùng phổ biến. Nửa tháng sau, Walter đã quên mọi thứ về việc cho vay tiền với cậu bé. Thật bất ngờ khi ông đi qua ga xe lửa phía tây ngoại ô thành phố một lần nữa, ông nhìn thấy dáng người gầy gò quen thuộc, cậu bé vẫy tay với ông và nói: “Thưa ông, xin vui lòng đợi ạ”

Cậu bé mướt mải mồ hôi, móc từ trong túi ra vài đồng xu và trao trả lại cho ông. Walter nhận ra rằng đây là cậu bé đánh giày đã mượn ông tiền lần trước.

Cậu bé thở hổn hển nói: “Thưa ông, cháu đã chờ đợi ông từ lâu và cuối cùng cháu có thể trả lại tiền cho ông rồi”. Walter nhìn những đồng xu dính mồ hôi ướt đẫm trên tay cậu bé, trái tim ông bỗng nhói lên.

Walter nhìn cậu bé trước mặt một lần nữa và đột nhiên ông thấy rằng cậu bé này phù hợp với nhân vật chính trong phim của ông. Walter nhét một vài đồng xu vào túi của cậu bé: “Tôi cho cháu như một món quà nhỏ chân thành, không cần phải trả lại tôi.”

Walter mỉm cười bí ẩn và nói: “Ngày mai cháu đến văn phòng đạo diễn của công ty phim ở trung tâm thành phố, tôi sẽ cho cháu một bất ngờ lớn.”

Sáng sớm hôm sau, người gác cửa nói với Walter rằng bên ngoài có một nhóm lớn trẻ em. Khi ông ra ngoài ông vô cùng ngạc nhiên, ông thấy cậu bé chạy lên đầy phấn khích và nói một cách ngây thơ, “Thưa ông, những đứa trẻ này giống như cháu không có cha mẹ, và họ cũng rất mong muốn có những điều ngạc nhiên!” Walter thực sự không ngờ tới một đứa trẻ nghèo và lang thang sẽ có một trái tim nhân hậu như vậy!

Qua nhiều lần quan sát và sàng lọc, Walter nhận thấy rằng trong số những đứa trẻ này, thực sự có một vài đứa thông minh hơn cậu bé, và phù hợp hơn với vai nhân vật chính trong kịch bản, nhưng cuối cùng ông vẫn chọn cậu bé và ký hợp đồng với cậu bé. Chỉ có một vài từ được viết trong cột lý do tuyển cậu bé: Sự tử tế không cần phải được đánh giá!

Bởi vì ông cảm thấy rằng cậu bé thật tốt bụng, khi cậu bé phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, cậu bé vẫn vui vẻ chia sẻ hy vọng của mình với người khác, đây thực sự là tấm lòng nhân hậu, thuần khiết và vô tư.

Cậu bé được gọi là Vennischi de Oliveira. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Walter, Vennischi đã đóng thành công nhân vật chính của cậu bé trong vở kịch, và hãng phim của Walter đã giành được nhiều giải thưởng lớn bao gồm: Giải thưởng Gấu vàng của Liên hoan phim quốc tế Berlin.

Vài năm sau, Vinnischi cậu bé năm xưa, người đã trở thành chủ tịch của một công ty văn hóa điện ảnh và truyền hình, đã viết một cuốn tự truyện “Sự nghiệp diễn xuất của tôi.” Trên trang tiêu đề của cuốn sách là dòng chữ ký của Walter: Sự tử tế không cần phải được đánh giá.

Sau đây là đánh giá của ông về Vinnischi: “Đó là tấm lòng nhân hậu, anh ấy sẵn sàng trao cơ hội của mình cho những đứa trẻ khác, những cơ hội khiến người được nhận không bao giờ quên anh ấy.”

Thành công của một người không nhất thiết phải có năng khiếu hay hiểu biết nhiều, mà bởi anh ta có đủ thiện lương, tấm lòng nhân hậu và sự cố gắng.

(Sưu tầm)

From: Bác Sĩ van hanh phung  

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell

 Blogger Thuận Nhân

 Trại súc vật của George Orwell là một tác phẩm nổi tiếng từng được tờ Time bình chọn là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất, nằm thứ 31 trong danh sách các tác phẩm hiện đại hay nhất của thế kỷ 20, và nằm trong tuyển tập các tác phẩm lớn của thế giới phương Tây. Nó là một bức biếm họa sâu cay về những gì mà George Orwell cảm nhận được về Liên bang Xô Viết…

Tác phẩm Trại súc vật (Ảnh qua Pinterest)

Trại súc vật bắt đầu bằng việc một bầy súc vật không chịu nổi sự “bóc lột” của con người mà vùng lên làm cách mạng tạo phản, cuối cùng đã đuổi được con người và thành lập một “Trại súc vật” do mình làm chủ.

Nhưng không lâu sau đó, con heo lãnh tụ, kẻ dẫn đầu bầy động vật tiến hành “cách mạng”, lại được hưởng đặc quyền, một mình hưởng thụ sữa bò và táo. Khi các loài động vật khác, những kẻ từng ôm giữ ý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” mà tham gia cách mạng, nghi ngờ con heo lãnh tụ, con heo phụ trách tuyên truyền đã giải thích rằng:

Chúng tôi ăn những thứ này mục đích duy nhất là phải giữ gìn sức khỏe cho chúng tôi. Toàn bộ việc quản lý và tổ chức công việc trong khu vườn đều dựa vào chúng tôi. Chúng tôi vì hạnh phúc của mọi người mà ngày đêm tận tâm tận lực. Do đó, điều này là vì các bạn, chúng tôi mới uống sữa bò và mới ăn táo. Các bạn có biết không, lỡ khi loài heo chúng ta mất chức, vậy chuyện gì sẽ xảy ra? Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Đúng vậy Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại! Quả thực, các đồng chí! Jones vốn là ông chủ của khu vườn, cũng là kẻ thống trị của ‘xã hội cũ’.

Một vài loài động vật cá biệt mơ hồ nhớ rằng khi Jones còn ở đây, tình hình cuộc sống của các loài động vật hầu như không kém hơn so với hiện tại. Nhưng theo sự tuyên truyền ngày qua ngày, nỗi sợ hãi Jones sẽ cuốn bụi mà quay trở lại đã ăn sâu vào đầu những loài động vật như một phản xạ có điều kiện. Vậy là lũ động vật không còn lời nào để nói về đặc quyền của heo. Rất nhanh, đặc quyền của heo càng ngày càng nhiều…

Lũ động vật nghe tuyên truyền. (Ảnh qua Pinterest)

Mặt khác, làm thế nào để đề phòng việc Jones lại cuốn bụi quay trở lại, đặc biệt là sự câu kết giữa kẻ đồ tể và Jones, phá hoại trang trại mà lũ động vật vận hành, đã trở thành một nội dung quan trọng trong cuộc sống thường nhật của các loài động vật. Đối mặt với “đại sự hàng đầu” như vậy, những bất mãn và ý kiến bất đồng khác đã trở thành chuyện vặt vãnh không quan trọng. Hơn nữa, luôn luôn “đề cao cảnh giác”, “chuẩn bị chiến đấu” đã trở thành một nội dung quan trọng bậc nhất vượt qua mọi điều trong cuộc sống xã hội. Bên cạnh đó, dưới sự điều động của con heo lãnh tụ, lũ động vật làm việc ngày càng chăm chỉ hơn, hứa hẹn cho một “cuộc sống tương lai dễ chịu”.

Cá biệt trong lũ động vật, có một con ngựa cần cù chăm chỉ, làm việc cho đến khi gục ngã. Thế là con heo lãnh tụ cử một chiếc xe kéo tới, nói là để đưa ngựa tới bệnh viện an dưỡng. Tuy nhiên, con lừa biết đọc lại phát hiện ra rằng đó là chiếc xe của một tay giết thịt. Vậy là con heo tuyên truyền phải vào cuộc, nói rằng chiếc xe đó đã được mua lại từ tay kẻ đồ tể, và rằng con ngựa sẽ được an dưỡng thích đáng.

Con ngựa làm việc đến gục ngã. (Ảnh qua Pinterest)

Một thời gian sau, con heo tuyên truyền công bố rằng con ngựa đã ra đi hạnh phúc trong bệnh viện, và lũ heo tổ chức một ngày lễ để tôn vinh con ngựa, cùng trại súc vật vinh quang, và khuyến khích các con vật khác noi gương con ngựa…
Nhưng sự thật là con ngựa đã bị bán cho kẻ đồ tể, để lũ heo có tiền mua rượu whisky.

Nhiều năm sau đó, trại súc vật ngày càng hoạt động tốt hơn, và thu được nguồn lợi nhiều hơn. Nhưng những gì được hứa hẹn như đèn điện, hệ thống sưởi, nước uống đều bị quên lãng. Con heo lãnh tụ đã khiến lũ động vật tin rằng sống một cuộc sống giản dị là điều hạnh phúc nhất. Những con heo bắt đầu bắt chước lối sống của người, đi bằng hai chân, mang theo roi da, mặc quần áo. Lý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau” được thay thế bằng lý niệm “tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau, nhưng một số thì bình đẳng hơn những con khác”.

“Tất cả các loài động vật đều bình đẳng như nhau, nhưng một số thì bình đẳng hơn những con khác” (Ảnh qua cageyfilms.com)

Khi con heo lãnh tụ mở một bữa tiệc và mời những người nông dân ở địa phương tới, lũ động vật trong trại nhìn từ heo sang người, và chợt nhận ra rằng, chúng không còn phân biệt được heo và người nữa…
Mặc dù Trại súc vật vẫn còn thể hiện rõ những luyến tiếc về quan niệm bình đẳng xã hội không tưởng của tác giả, nhưng quả thật George Orwell đã thành công trong việc khắc họa bản chất triết học đấu tranh của kẻ thống trị chuyên chế một cách giàu hình tượng và sâu sắc.

“Thế lực thù địch” vô hình… (Ảnh qua illustrators.ru)

Thông qua hình tượng kẻ địch vô hình được tạo ra và lưu giữ mọi thời khắc trong đầu óc lũ động vật, thông qua việc cường điệu sự nguy hiểm của kẻ địch mọi lúc, cường điệu tính tất yếu của việc “đoàn kết nhất trí”, kẻ thống trị đã khiến lũ động vật phải “tạm thời nhẫn nhịn” tất cả sự bạo ngược. Lũ động vật ngây thơ tin rằng hành vi bạo lực này xuất phát từ một nguyện vọng bình đẳng tốt đẹp, và cuối cùng sẽ mang lại hạnh phúc cho mọi người.
Nhưng tất nhiên, người ta có nam có nữ, có giàu có nghèo, có sướng có khổ, có ngọt bùi có đắng cay, có chăm chỉ có lười biếng, có giỏi có kém, có cảm nhận khác nhau, có tính cách khác nhau, có hoàn cảnh khác nhau, vậy thì cuộc sống mới thật là phong phú và có hương vị. Cái gọi là nguyện vọng bình đẳng không tưởng bên trong nguồn tài nguyên có hạn là trái đất này, và thứ học thuyết đấu tranh luẩn quẩn kia, đều chỉ là ngụy biện lừa dối mà thôi…

Blogger Thuận Nhân

 
M.TRITHUCVN.ORG

Đọc lại “Trại súc vật” của George Orwell – Trí Thức VN

Trại súc vật của George Orwell là một tác phẩm nổi tiếng từng được tờ Time bình chọn là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất…

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

• Nguyễn Hiến Lê

• Xí nghiệp quốc doanh nào cũng lỗ nặng. Người ta không hề tính sản xuất một hóa phẩm phí tổn mất bao nhiêu, bán ra được bao nhiêu, lời hay lỗ. Cứ việc sản xuất, lỗ cũng không sao, bán không được thì bắt dân tiêu thụ hoặc đổ đi.
Một kĩ sư ở Nga về đã trên mười năm, năm 1967 vào tham quan các xí nghiệp lớn miền Nam bảo tôi rằng cảm tưởng đầu tiên và mạnh nhất của ông ta là các xí nghiệp này chú trọng đến cái “profit” (lời) quá. Ông ta không hiểu nổi đó là một điều tự nhiên. Một cơ quan xuất bản, một tờ báo của chính quyền có lỗ cũng không sao, vì công việc đó có mục đích giáo dục quần chúng, không có tính cách thương mãi. Nhưng sản xuất một món hàng để xuất khẩu mà không tính lời, lỗ thì kinh tế làm sao đứng vững được.

Ngay như một tổ hợp vận tải trong nước mà lỗ hoài thì cũng phải dẹp tiệm, vì hết vốn, không có tiền mua xe mới để thay thế xe cũ.

Từ bia, nước ngọt, đến tôm cá, đồ hộp như khóm, màn trúc, quần áo may sẵn, đồ sơn mài… bất kì món gì, mới đầu phẩm còn kha khá, sau cứ mỗi ngày một tệ, bị ngoại quốc gởi trả về. Bia, nước ngọt có hồi bị trả về nhiều quá, bán cho công nhân viên không hết, tung ra bán cho dân, nhà nào cũng có một tuần lễ được mua một hai lần; kì cục nhất là đường thì thiếu cho dân dùng mà nước ngọt thì dân tha hồ uống.

Tôi hỏi một người bà con ở Hà Nội, họ bảo ở Bắc cũng vậy: công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư một vài bộ phận, lốp đã bể. Xe đạp là thứ cần thiết nhất, phổ thông nhất trong nước, mà như vậy thì những máy móc khác mới ra sao?

“Vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn, một trong những cá nhân nổi bật với nhiều lần vào tù ra tội thời bấy giờ. (Ảnh bổ sung – Ảnh qua tienphong.vn)
Nguyên nhân rất nhiều: quản lí dở, thiếu kĩ thuật gia giỏi – những kĩ sư giỏi không được dùng hoặc phải ở dưới quyền một kẻ dốt, có tuổi đảng cao hơn; chương trình, kế hoạch không bao giờ thực hiện được đúng vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, thiếu đủ thứ; vì các cơ quan không phối trí với nhau, chèn ép nhau là khác; vì chính sách làm chủ tập thể, máy móc không ai săn sóc, vật liệu không ai tiếc, tha hồ phí phạm, nhiều khi ăn cắp nữa; không có tinh thần trách nhiệm, ai cũng làm việc tà tà; lương ít quá, không đủ sống, mà siêng năng cũng chẳng được lợi gì, sáu năm mới lên một bực, lương tháng thêm mười đồng, mua được hai tô phở hay một kí đường.

Ngoài Bắc có câu: Làm thì đói, nói thì no, bò thì sướng, bướng thì chết.
Trong Nam lại thêm câu rằng: Làm cho lắm tắm không quần thay, làm lai rai ngày thay ba bộ.

Ðảng cộng sản là đảng của vô sản, của thợ thuyền, mà công nhân trong các xưởng tinh thần như vậy đó.

Lại còn cái này nữa: sở nào có việc nhờ sở khác giúp, muốn mau được việc, phải hối lộ sở đó; ngay sở công an cũng bị làm tiền. Việc thanh toán tiền nong giữa các sở với nhau rất bê bối! Sở thiếu nợ ỳ ra không chịu trả, sở chủ nợ không thu được, thiếu tiền, phải tạm ngưng hoạt động. Kiện ai?

Quyền của ngân hàng rất lớn. Cơ quan nào thu được bao nhiêu tiền cũng phải nộp ngân hàng, cần rút ra bao nhiêu cũng phải xin ngân hàng; mà ngân hàng có thể từ chối không phát hoặc lấy cớ là không đủ ngân khoản nên chưa phát. Vì vậy cơ quan nào cũng làm thân với ngân hàng, mua quà cáp tặng nhân viên ngân hàng, đãi đằng họ… Xứ nào, thời nào mà chẳng vậy: kẻ giữ tiền mới thực sự làm chủ.

Các công ti công tư hợp doanh cũng lỗ vì công với tư rất khó hợp tác với nhau: công làm chủ thì tư tà tà, mà công thì quản lí rất dở, kĩ thuật rất kém, nghi kị tư, bao nhiêu quyền lợi, ôm lấy trọn.

Công ti hợp doanh chỉ đứng được ít năm rồi cũng phải đóng cửa vì chính phủ cho số lời ít quá, thu thuế nặng quá, nhất là vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu. Như Công ti Giấy Bảo Lộc (trong đó tôi có ít cổ phần nhờ xin rút được tiền ngân hàng để giúp trong việc sản xuất) hoạt động được hai năm thì miền Bảo Lộc bị hạn chế điện, mỗi ngày máy chỉ chạy được 4 giờ buổi tối; rồi thiếu tre để làm bột giấy; chính phủ tự ý tăng giá tre bán cho công ti mà không cho tăng giá giấy bán cho chính phủ, rốt cuộc công ti lỗ nặng, phải tặng hết tài sản cho chính phủ (tôi cũng đã tặng cổ phần của tôi, trị giá hai triệu đồng cũ).

Các tổ hợp làm tiểu công nghệ của tư nhân như tổ hợp làm màn trúc, tranh sơn mài, đan áo, thêu, may áo… lây lất sống được là may, đa số phải ngưng hoạt động vì xuất khẩu không được, bán trong nước cũng không được.

Một ông bạn tôi mới cho hay chính quyền đã phải nhận rằng mức sản xuất của mình lúc này kém quá, có ngành chỉ được 5% ngành nào phát triển nhất cũng chỉ được 30% khả năng thôi. Thế thì biết đời kiếp nào mới xây dựng xong xã hội chủ nghĩa?

Ðã không sản xuất mà còn phá tài nguyên trong nước: phá rừng thông trên núi, rừng phi lao ở bờ biển, phá cả vườn cao su để lấy củi (bán ở Sài Gòn), dùng mìn và đồ rà điện để bắt cá lớn cá nhỏ trong sông rạch (cá linh còn nhỏ bằng đầu đũa mà đã bắt để bán ở Long Xuyên), bắn thú và chim, không có luật gì ngăn cấm cả. Làm chủ tập thể, nên không ai cấm ai được. Do đó nước mình trước kia tự hào là tiền rừng bạc bể mà nay đứng vào hàng mười nước nghèo nhất thế giới, có người nói hàng áp chót trên thế giới nữa. Lợi tức trung bình mỗi năm tính theo đầu người thì được 50 Mĩ kim, hai phần trăm của Nhật.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)

Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

M.TRITHUCVN.NET

Công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư…

SỐNG YÊU THƯƠNG THEO KHUÔN MẪU CHÚA BA NGÔI

SỐNG YÊU THƯƠNG THEO KHUÔN MẪU CHÚA BA NGÔI

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm quan trọng nhất trong các mầu nhiệm của Đạo Công Giáo.  Bởi vì mầu nhiệm này là mẹ sinh ra các mầu nhiệm khác, nói cách khác, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm nguồn của mọi mầu nhiệm.

Khi nói đến mầu nhiệm, người ta cảm thấy không thể lý giải được theo sự hiểu biết tự nhiên, vì thế, nó đã trở nên rào cản và cớ vấp ngã cho những ai mong thỏa mãn sự hiếu tri và đang cố gắng đi tìm cho được lời giả đáp “Ba Ngôi Một Chúa”; hay “Một Chúa Ba Ngôi.”  Nhưng với những người có niềm tin, qua ánh sáng mặc khải soi chiếu, và luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của nó, thì mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không xa lạ, nhưng lại rất gần gũi, mặc dù cao siêu và vượt quá sức tưởng của con người.  Qua mầu nhiệm này, chúng ta khám phá được sự hiệp nhất, yêu thương nơi Thiên Chúa, và mỗi lần Giáo Hội cử hành mầu nhiệm này, Giáo Hội luôn mời gọi con cái mình yêu thương nhau theo khuôn mẫu của Ba Ngôi Thiên Chúa để được cứu độ.

  1. Bản chất Thiên Chúa là “Tình Yêu”

 Khi nhắc đến Thiên Chúa, hẳn mỗi chúng ta đều có một định nghĩa riêng về Người, tuy nhiên, thánh Gioan đã cho chúng ta biết một mặc khải rất quan trọng khi nói về Thiên Chúa, đó là: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8).

Khi nói đến tình yêu, chúng ta ai cũng hiểu rằng tình yêu thì không “đơn phương độc mã”, không ích kỷ cũng chẳng bon chen; không quy chiếu về mình mà luôn hướng tha.

Muốn có được tình yêu, ắt phải đón nhận.  Khi có cả hai chiều cho và nhận, thì tình yêu mới thực sự triển nở và ý nghĩa.  Như vậy, tình yêu phải có điểm xuất phát, điểm hội tụ và mức độ lan tỏa.

Khi diễn tả ý tưởng trên, thánh Âutinh đã ví: “Nguồn mạch chính là Chúa Cha, Người chính là điểm xuất phát tình yêu; Chúa Con chính là điểm hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu; và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu và làm cho tình yêu được tỏa sáng.”

Trong lối diễn tả của thánh Âutinh cho thấy tình yêu được khởi đi từ Thiên Chúa Cha, đến với Chúa Con và qua Chúa Thánh Thần.  Thiên Chúa Cha vì yêu nên đã trao ban tất cả, ngay cả Người Con duy nhất của mình cho nhân loại.  Chúa Con đã hoàn toàn vâng phục Chúa Cha trọn vẹn đến nỗi bằng lòng chết trên thập giá để thực hiện ý định yêu thương của Chúa Cha cho nhân loại.  Chúa Thánh Thần là mối dây liên lạc, thông hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con nhờ tình yêu.  Như vậy, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu hướng ra để làm cho lan tỏa.

Thiên Chúa không để dành tình yêu cho chính mình, cho riêng Cha, Con và Thánh Thần, nhưng chính là cho chúng ta, những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Người, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8); “… nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6).  Như vậy, Thiên Chúa là tình yêu.

  1. Thiên Chúa “yêu” đến cùng

 Tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua hành vi tự hiến của Thiên Chúa Cha: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3,16a).  Từ “đến nỗi” ở đây cho thấy Thiên Chúa yêu đến tột cùng, yêu “đến nỗi” không còn gì để diễn tả, để trao ban hơn được nữa, vì thế chỉ còn cách duy nhất là trao ban chính Con của mình đến để diễn tả tình yêu cho nhân loại bằng chính cái chết mà thôi.

Tại sao Thiên Chúa lại trao ban Con Một?  Thưa! “…để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16b).  Như vậy, Tình yêu chân chính là mong sao người mình yêu được hạnh phúc hơn cả bản thân mình.  Thật vậy, Thiên Chúa yêu thế gian cách tuyệt đối và mong sao cho chúng ta được hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đối là được vào ở trong tình yêu của Thiên Chúa.  Bởi vì: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” Ga 3,17).

  1. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mời gọi ta sống yêu thương

Qua mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi người chúng ta được mời gọi sống yêu thương, hiệp nhất như Thiên Chúa là tình yêu.  Không yêu thương nhau, chúng ta vẫn mãi là người xa lạ với mầu nhiệm này, bởi vì mầu nhiệm này là mầu nhiệm tình yêu, muốn hiểu được thì phải yêu.  Nói như thánh Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8), nên “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8).

Vì thế, trong đời sống gia đình, mỗi người hãy yêu thương nhau.  Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, và như Hội Thánh phục tùng Đức Kitô thế nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình trong mọi sự như vậy.  Sự xuất hiện của người con trong đời sống hôn nhân chính là kết quả của tình yêu giữa vợ và chồng, vì thế, như một điều kiện cần để được hạnh phúc, con cái hãy yêu mến cha mẹ mình, và tỏ lòng thảo hiếu với cha mẹ để đáng được hưởng sự chúc lành của Thiên Chúa.

Tình yêu ấy lại không chỉ dừng lại với chính người thân của mình, mà còn phải hướng ra xa, rộng lớn hơn tới hết mọi người, kể cả yêu kẻ thù của mình nữa.

Như vậy, để tình yêu có giá trị, cần phải có sự hy sinh, quên mình và phục vụ lẫn nhau.  Yêu nhau mà không chấp nhận hy sinh, gian khổ vì nhau và với nhau, thì chưa phải là tình yêu thật sự.

Khi yêu như thế, tình yêu của vợ chồng và con cái cũng như với tha nhân đang phỏng chiếu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống thực tại của mình.

Muốn giữ được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi mình, người Kitô hữu phải luôn ý thức mình thuộc về Thiên Chúa, khi thuộc về Người, thì ta cũng sẽ trở nên những người có: “… lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại.  Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau” Cl 3,12-13).

Mong sao, mỗi khi chúng ta đặt tay lên trán, trên ngực và ngang vai, để tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì cũng là lúc chúng ta nhớ đến bản chất của mầu nhiệm này là tình yêu; đồng thời, chúng ta cũng xin Chúa ban cho chúng ta được sống trong tình yêu đó của Thiên Chúa để “… đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13,13), hầu chúng ta cùng mạnh dạn tuyên xưng: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen”.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

Dân chủ Pháp trị ở Mỹ

Dân chủ Pháp trị ở Mỹ

Bởi  AdminTD

06/06/2020

Lê Minh Nguyên

Nga là một đất nước, được cấu tạo bởi các yếu tố như dân tộc, lãnh thổ, chính quyền.

Liên Xô là một quốc gia ý thức hệ, nó trừu tượng, được cấu tạo bởi chủ nghĩa cộng sản, tức một quốc gia hiện hữu bằng niềm tin vào một hệ tư tưởng. Khi người ta không còn tin vào hệ tư tưởng này nữa thì nó sụp đổ.

Mỹ là một quốc gia được xây dựng bằng Hiến Pháp. Không có Hiến Pháp sẽ không có nước Mỹ, mà có thể có đến vài chục nước khác nhau cho một vùng Bắc Mỹ đa chủng tộc.

Hiến Pháp là nơi gom góp các giá trị cao đẹp của con người để thể chế hoá thành Dân Chủ Pháp Trị (Democracy and The Rule OF Law). Thể chế này gồm có hai yếu tố cốt lõi là Dân Chủ và Pháp Trị. Nếu một trong hai yếu tố này, hoặc cả hai yếu tố cùng bị sứt mẻ thì chất liệu xã hội (social fabrics) của quốc gia “hợp chủng quốc” sẽ bị rạn nứt, dễ trở thành bán độc tài hay độc tài hoặc vỡ nhỏ ra.

Yếu tố Dân Chủ mà nét chính yếu là niềm tin vào sự bầu cử tự do, trong sáng và công bằng. Nếu niềm tin này bị sứt mẻ, như có sự gian lận, có sự can thiệp của ngoại bang, hay có sự tìm cách hạn chế cơ hội bỏ phiếu của công dân (voters supression)… thì niềm tin vào trụ cột này sẽ bị lung lay, luật chơi bị vi phạm, và thay vào bằng sức mạnh cùng thủ đoạn bẩn dơ, theo đó là sự xuất hiện của những chính khách độc tài.

Yếu tố Pháp Trị mà nét chính yếu là niềm tin vào một xã hội có công lý (social justice), vào nữ thần công lý bịt mắt cầm cân, nam-nữ, mạnh-yếu, nghèo-giàu, sang-hèn đều bình đẳng trước pháp luật. Nếu niềm tin này bị thiếu vắng hay bị xiêu vẹo như sự kỳ thị chủng tộc có hệ thống (systemic racism), sự phân bổ tài sản quốc gia (taxation) không đồng đều, tạo nên khoảng cách chênh lệch giàu-nghèo quá lớn… thì chất liệu xã hội (social fabrics) bị mục rữa, nguy cơ chia rẽ đất nước và các bất ổn dễ xảy ra.

Trong cuốn sách nổi tiếng Trại Súc Vật (Animal Farm) của ông George Orwell mà trong đó các loài thú khác nhau nổi dậy chống người chủ độc tài, với hy vọng xảy dựng một xã hội bình đẳng, tự do và hạnh phúc. Những tưởng là thành công, nhưng mục đích đẹp đẽ này đã bị phản bội, trại bị rơi trở lại vào độc tài bởi heo Napoleon.

Để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, các con thú cùng nhau làm ra một hệ thống giá trị gồm 7 điều răn của Thú Cầm Chủ Nghĩa:

  1. Bất cứ thứ gì đi bằng hai chân là kẻ thù.
    2. Bất cứ thứ gì đi bằng bốn chân, hoặc có cánh, là bạn.
    3. Không thú nào được mặc quần áo.
    4. Không thú nào được ngủ trên giường.
    5. Không thú nào được uống rượu.
    6. Không thú nào được giết thú nào.
    7. Tất cả các con thú đều bình đẳng.

Nhưng sau đó, heo Napoleon muốn làm độc tài nên thay đổi điều răn số 7 thành “Tất cả các con thú đều bình đẳng, nhưng có một số thú bình đẳng hơn những con thú khác”. Còn cái khẩu hiệu “Bốn chân tốt, hai chân xấu” cũng được đổi thành “Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn” để heo Napoleon liên minh với người.

Ông Orwell ở Anh là người chỉ trích sự độc tài của ông Stalin và quyển sách này ông muốn châm biếm Stalin.

Ảnh minh họa. Nguồn: Politics In Pink

Nước Mỹ, tất cả các viên chức làm việc cho chính quyền, dù là dân sự hay quân sự đều phải thề trung thành và bảo vệ Hiến Pháp, chứ không phải trung thành và bảo vệ lãnh đạo. Với cấp trên, nhất là trong quân đội mà cấp trên cao nhất là tổng tư lệnh tức tổng thống, họ thề tuân thượng lệnh (hợp pháp). Nếu lệnh bất hợp pháp mà họ vẫn thi hành thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân và có thể bị toà án buộc tội phải ngồi tù.

Dân Chủ Pháp Trị ở Mỹ đòi hỏi người làm việc trong chinh quyền trung thành với một hệ thống giá trị chứ không phải với một cá nhân nào dù người đó ở địa vị cao đến đâu, và không để hệ thống giá trị này bị tương nhượng. Tất cả đều phải đứng dưới Hiến Pháp và Luật Pháp.

Ở Việt Nam, giai cấp đảng viên đứng trên hiến pháp và luật pháp, chỉ khi nào bị khai trừ thì luật pháp mới đụng tới được. Luật pháp họ làm ra là để áp dụng cho dân chứ không phải cho họ. Luật pháp của họ là công cụ để cai trị và họ đặt cho nó một cái tên mỹ miều là Nhà Nước Pháp Quyền (Rule BY Law).

Với 244 năm từ ngày lập quốc, nước Mỹ đã trải qua rất nhiều thử thách cho thể chế Dân Chủ Pháp Trị. Trong thời gian qua đã có khá nhiều dư luận phê bình chế độ tổng thống của Mỹ, thậm chí còn tiên đoán rằng nó sẽ sụp đổ. Nhưng lửa không nóng không thử được vàng. Chỉ có những thử thách lớn mới làm cho Dân Chủ Pháp Trị Mỹ được vững chắc hơn và hoàn hảo hơn. Bởi vì Dân Chủ Pháp Trị nó tạo ra một nền văn hoá chính trị thấm sâu vào máu huyết của toàn dân. Nó trở thành một lề lối sống.

Sóng gió rồi cũng sẽ qua, một chương lịch sử sẽ đóng lại, nhưng quyển sách Dân Chủ Pháp Trị có nguồn cảm hứng từ Hiến Pháp sẽ tiếp tục được viết mãi theo dòng thời gian cùng các thế hệ nối tiếp mở ra về phía trước, vẫn là những trang giấy trắng đợi chờ những nét tinh hoa và những chở chuyên đầy sáng tạo.

Nước Mỹ vẫn là thành phố trên đỉnh đồi, Dân Chủ Pháp Trị vẫn là thể chế tốt nhất cho con người để mưu cầu hạnh phúc.

Chuyện kỳ thị

Chuyện kỳ thị

Từ Thức

Chuyện xẩy ra khi tôi còn trẻ, nghĩa là chuyện cổ tích

Chạy xe trên xa lộ Paris-Caen. Một chiếc xe từ đằng sau, vượt ẩu, khi mình đã chạy vận tốc tối đa. Rồi ngoằn ngoèo trước mặt. như rắn say rượu.

Bực mình, tôi cằn nhằn:

-Cái thằng đen này, chơi trò gì vậy ?

Hai đứa con gái ngồi đằng sau. Cô lớn, 12, 13 tuổi gì đó, phản kháng:

Mais ça n’a rien à voir avec sa couleur de peau ! ( Chuyện đó không liên hệ gì tới mầu da của anh ta !)

Con nít sống ở ngoại quốc, khi cần nói cái gì nhanh, hơi phức tạp, đều dùng tiếng địa phương. Câu đối đáp tiếp theo bằng tiếng Pháp, cho lẹ

Bác tài hơi ngượng, chợt nhớ ở Âu Châu, con nít được dạy từ nhỏ kỳ thị chủng tộc là một điều cấm kỵ, thói xấu. Người ta nhìn nhận dễ dàng những tính xấu, trừ thói kỳ thị.

Thay vì nhận lỗi, nhưng một ông bố An Nam không thể xin lỗi, bèn chống chế:

-Đùa một chút, không được à?

-Có những chuyện không đùa được !

Ông bố thấm đòn, cô ái nữ thứ hai bồi thêm:

Et c (ce n’est) même pas drôle. (và câu đùa cũng chẳng có gì vui )

Nhờ con cái dạy bảo, từ đó ông bố bớt kỳ thị, bớt ngạo nghễ, và bớt nguỵ biện đôi chút.

BẤT ĐỒNG VĂN HOÁ

Nhớ chuyện cũ, tôi nói với vài người bạn đồng hương: người ta có quyền phản đối chuyện cảnh sát đè cổ George Floyd tới chết, bởi vì ‘’lives matter’’, cũng như các bạn có quyền phản đối, đả kích những kẻ lợi dụng cơ hội để đập phá, ăn cướp.

Cả hai đều là những chuyện xấu.

Một bên làm mất thanh danh của cảnh sát, một bên làm mất thanh danh của những người biểu tình ôn hoà. Và đe doạ tính mạng, tài sản của người khác.

Ăn cướp là ăn cướp, không thể nhân danh cái gì để bào chữa cho hành động đốt phá, trộm cướp.

Nhưng coi chừng. Lên án bạo hành, bất lương là một chuyện, gọi người khác là mọi, là bọn đen, nhọ, khỉ, kèm theo đủ mọi tính từ tục tĩu, khinh miệt là chuyện khác.

Thứ nhất: không ai chịu trách nhiệm về chuyện mình sinh ra đen hay đỏ

Thứ hai: chúng ta hơn ai để khinh miệt? Người da đen ít nhất cũng đứng hàng đầu về nhạc, thể thao, và… chuyện tranh đấu cho quyền bình đẳng

Thứ ba: đó là kỳ thị chủng tộc, bị luật pháp nơi bạn đang sống nghiêm trị.

Thứ tư: thái độ, ngôn ngữ đó sẽ gây xung đột trong chính gia đình bạn.

Bởi vì trẻ em hay những người trẻ tuổi sinh ra, lớn lên ở nước ngoài, được dạy dỗ để gột rửa óc kỳ thị chủng tộc, đối với thế giới, và con cháu chúng ta, là cái xấu nhất trong những cái xấu.

Ở trường học, họ sống chung, bình đẳng, thân thiện với bạn bè đủ mọi mầu da. Họ sẽ ngỡ ngàng thấy cha mẹ có những ngôn ngữ như vậy, đối với chúng ta không có gì nghiêm trọng

Thái độ kỳ thị của bạn sẽ làm cho không khí gia đình căng thẳng hơn, cái hố giữa các thế hệ VN sâu hơn.

Đừng ngạc nhiên khi thấy con cháu không muốn trao đổi gì với chúng ta nữa. Không phải chỉ vì ngôn ngữ bất đồng. Tệ hơn: văn hoá bất đồng.

Cuối cùng, nạn nhân đầu tiên chính là bạn.

BÌNH AN?

Với những người làm báo Đảng trong nước, hồ hởi vì Mỹ có biểu tình bạo động, hỗn loạn, khác với xứ ‘’bình an’’ là VN, Tàu, Bắc Hàn, tôi nhắc lại câu của Churchill: chế độ dân chủ là chế độ tồi nhất, nếu không kể những chế độ khác. (Democracy is the worst form of government, exept for all the others )

Biểu tình hỗn loạn là một trong những yếu điểm của các nước dân chủ. Rất khó có giải pháp, bởi vì tại các nước dân chủ, người ta không thể dàn quân, bắn bỏ người biểu tình như tại những xứ độc tài. Nhưng biểu tình là một hình thức diễn tả tự do tư tưởng. Dân có quyền cho mọi người biết mình nghĩ gì.

Tôi sống ở Pháp, nơi không có ngày nào không có biểu tình, đôi khi vì những lý do vớ vẩn. Bực mình thiệt, nhưng giữa một nước biểu tình suốt ngày, và một xứ “bình an” “cấm tụ tập đông người” là một cái tội, mở miệng là đi tù, việc lựa chọn không khó khăn.

Tôi ghê sợ, vắt giò lên cổ, chạy thoát khỏi xứ bình an, dù là quê hương yêu dấu.

Paris, tháng 6/2020

T.T.

Nguồn: tuthuc-paris-blog.com

18 nhà lập pháp phương Tây thành lập Liên minh nghị viện chống Trung Quốc

18 nhà lập pháp phương Tây thành lập Liên minh nghị viện chống Trung Quốc

Một nhóm các nhà lập pháp phương Tây bao gồm Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Marco Rubio và Robert Menendez, Nghị viện Châu Âu, ông Re Reardard Bütikofer và Iain Duncan Smith, một thành viên của Nghị viện và cựu lãnh đạo của Đảng Bảo thủ Anh… hôm nay 5/6 tuyên bố thành lập một liên minh Nghị viện nhằm đối đầu với sức mạnh chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc trong bối cảnh quốc tế phản đối quyết định áp đặt luật an ninh quốc gia ở Hong Kong, cũng như chỉ trích về sự thiếu minh bạch của họ đối với đại dịch #covid19 và các vấn đề về sự bách hại người Duy Ngô Nhĩ

Nhà hoạt động Joey Siu, đại diện cho Hong Kong làm cố vấn cho Liên minh này

https://www.scmp.com/…/18-western-lawmakers-form-group-take…

Dấu chấm hỏi dành cho người CSVN

Dấu chấm hỏi dành cho người CSVN

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Lương Hữu Phước – người đàn ông ngoại ngũ tuần đã nhảy lầu tự tử vào chiều 29 tháng Năm năm 2020 vì cho rằng bị oan ức, sau khi tòa án tỉnh Bình Phước do bà Lê Hồng Hạnh làm chủ tọa phiên phúc thẩm – vào sáng 29 tháng Năm năm 2020 – tuyên án 3 năm tù giam về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Mức án được giữ đúng như trong phiên sơ thẩm.

Cho đến khi tin ông Phước nhảy lầu được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội, dư luận mới ngỡ ngàng và bàng hoàng về số phận một người đàn ông, vốn chịu nhiều đau khổ trước đó, với một cuộc đời bất hạnh bị dòng đời xô dạt theo cái chết của người con gái…

Trôi từ Long An, ông Phước cùng 2 người chị dạt về Đồng Xoài, mua được mấy mẫu đất trong suối Bàu Năng, cuối cùng mảnh rẫy của ba chị em cũng bị thu hồi không một đồng đền bù!

Có lẽ Lương Hữu Phước đã chọn cho mình một cách ứng xử ẩn nhẫn nhất, cốt chỉ mong được sống một cuộc đời bình lặng, sau những dập vùi!

Lương Hữu Phước – một người đàn ông bình thường – không ai biết tới ngoài vài người bạn cũng bình thường nốt – lại trở thành đại diện cho nỗi oan ức của người Việt Nam – bằng cái chết bi thảm trong một vụ án thật… đơn giản (!)

Dấy lên trong suy nghĩ của người đời, lại là chi tiết “được tại ngoại” suốt 3 năm qua, để giấc sáng của phiên phúc thẩm nghe tuyên án, rồi giờ chiều cùng ngày, Lương Hữu Phước chọn ngay trụ sở tòa Bình Phước để nhảy lầu, không phải một nơi nào khác…

Có lẽ suốt 3 năm tại ngoại, sự việc người bạn chết cũng dần phai nhạt trong tâm trí Lương Hữu Phước – bởi vốn dĩ ngay cả luật sư cũng xác định, lỗi không phải của ông?

Có lẽ cũng vì thế, người ta có thể hiểu được tâm trạng của Lương Hữu Phước – một tâm trạng của người đinh ninh mình vô tội?

Có lẽ cũng vì thế, Lương Hữu Phước sốc nặng với lời tuyên án lạnh lùng từ bà thẩm phán Lê Hồng Hạnh?

Có lẽ cũng vì thế, trước khi nhảy lầu tự vẫn, ông Phước đã viết trên facebook cá nhân: “Nếu cái chết của tôi làm thức tỉnh nền tư pháp tỉnh Bình Phước thì cũng đáng lắm chớ!”?

Ba năm tù giam không phải là thời gian quá dài cho một cuộc đời, tại sao hành động nông nổi vậy?

Ba năm tù giam để đánh đổi cả một sinh mạng là điều dại dột?

Biết bao nhiêu người oan khiên gấp trăm lần, người ta vẫn không chọn cái chết, tại sao Lương Hữu Phước chọn?

Hồ Duy Hải – một thanh niên vô tội bị kết án tử hình vẫn thiết tha sống kia mà?

Tại sao Lương Hữu Phước không sống để đi đòi công lý?

Cái chết của Lương Hữu Phước “đáng” cho những ai và cho điều gì?

Người ta không kịp hỏi hay ông Phước chưa kịp nói trong tâm trạng tuyệt vọng tột độ vào lúc đó?

Bất giác, những câu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỗng vang lên:

Người nằm co như loài thú khi mùa đông về

Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình

Từng tiếng người, nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm

Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù

Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần…

Dáng người đàn ông nằm chết cong queo như dấu chấm hỏi…

Quá nhiều dấu chấm hỏi từ cái chết của Lương Hữu Phước nhưng có lẽ người dân Việt Nam không cần câu trả lời từ “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”?

Và một dấu chấm hỏi cuối cùng, hỏi thay giùm Lương Hữu Phước:

Cái chết mang hình dấu chấm hỏi của người đàn ông bình thường, tội nghiệp đó, có bao giờ người Cộng Sản Việt Nam hồi đáp bằng lương tri và lương tâm làm người?

02.06.2020

 Nguyễn Ngọc Già

 danlambaovn.blogspot.com

LỚN TUỔI… và CUỘC SỐNG Ở HOA KỲ !!

LỚN TUỔI… và CUỘC SỐNG Ở HOA KỲ !!

Sau hơn ba thập niên sinh sống và làm việc ở Mỹ, thỉnh thoảng anh em, bạn bè gặp nhau chúng tôi cũng bàn đến chuyện tương lai về hưu sẽ sống ra sao hay sống ở đâu.

Như ở mọi nơi trên thế giới, sau thời gian làm việc đóng góp cho xã hội, người dân Mỹ đến tuổi già cũng phải nghỉ hưu. Nhìn lại quá khứ rồi hướng về tương lai thì thấy nếu một người ra đời làm việc năm 25 tuổi, là khi mới tốt nghiệp đại học, đến 65 tuổi thì đã có 40 năm làm việc, khi đó là tuổi được hưởng trọn số lương hưu là tiền của chính mình và chủ đã đóng vào quỹ an sinh xã hội trong thời gian lao động.

Thực ra một người lao động Mỹ khi vừa bước vào tuổi 50 đã nhận được thư mời tham gia hội AARP (American Association of Retired Persons) – Hiệp hội người Mỹ Hưu trí – dù thời gian phải tiếp tục làm việc vẫn còn ít nhất 15 năm trước khi chính thức nghỉ hưu.

Thành lập từ năm 1958, AARP hiện có gần 40 triệu hội viên trên toàn quốc. Hội viên đóng lệ phí 16 đô là một năm và sẽ thường xuyên nhận được tạp chí với nhiều thông tin liên quan đến chính sách và sức khoẻ của lớp người ở tuổi 50 hay cao hơn. Hội cũng vận động hành lang cho quyền lợi của người đã nghỉ hưu hay sắp sửa. Là hội viên, khi thuê xe, đặt phòng khách sạn, mua các loại bảo hiểm còn được giảm giá ít nhiều.

Rất ít người Mỹ về hưu ở tuổi 50 và ngay cả tuổi 55 hay 60 cũng còn ít. Trừ người thật giầu hay những ai là công chức thành phố, tiểu bang, liên bang, là thành phần cảnh sát, cứu hỏa hay giáo chức với quỹ hưu bổng riêng và có thể nghỉ hưu sau 25, 30 năm trong những nghề đó.

Theo Sở Thống kê Dân số, tuổi hưu trung bình của người Mỹ là 62 và thời gian sống hưu là 18 năm.

Về tiền hưu trí, quỹ an sinh xã hội chỉ cho lãnh sớm nhất khi 62 tuổi. Một người về hưu ở tuổi đó thì còn phải tự lo bảo hiểm y tế trong ba năm nữa cho đến 65 tuổi là lúc được nghi danh vào chương trình bảo hiểm y tế của chính phủ dành cho người cao tuổi, tức Medicare. Vì vậy, dù 62 tuổi nhưng nhiều người vẫn còn đi làm để có bảo hiểm sức khoẻ từ nơi làm việc, nếu không phải tự bỏ tiền ra mua thì một tháng có thể phải chi cả nghìn đô cho một người, mà nếu chỉ có lương hưu duy nhất là tiền an sinh xã hội thì sẽ không đủ chi tiêu.

Ngân sách quỹ an sinh xã hội và y tế của liên bang là do chính tiền của người lao động đóng vào và do chính phủ quản lý. Hiện nay thuế Medicare ở mức 2.9% số lương, cá nhân đóng một nửa, chủ đóng một nửa. Cũng như thuế cho quỹ an sinh xã hội là 12.4% và người đi làm đóng một nửa, tức 6.2%, chủ chịu một nửa.

Thuế an sinh xã hội có giới hạn, chỉ đóng đến mức lương 113,700 đô cho năm 2013, tăng lên mức 117 nghìn cho năm 2014 và tiếp tục tăng đến 165,600 vào năm 2022. Số lương cao hơn những mức nêu trên không phải chịu thuế này. Còn thuế y tế Medicare không có giới hạn mức lương.

Như thế chính phủ lúc nào cũng thu hai khoản tiền thuế, tổng cộng là 7.65% từ lương công nhân. Những ai làm chủ cơ sở thương mại hay làm việc riêng cho chính mình thì phải đóng gấp đôi, vừa là thợ vừa là chủ, tức 15.3% tổng số thu nhập Không thể trốn vào đâu được. Các chủ nhân không làm kế toán rõ ràng cho các khoản thuế này sẽ bị phạt nặng. Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, ông bổ nhiệm một phụ nữ vào nội các, trước khi được Thượng viện phê chuẩn thì báo chí phanh phui sự việc bà này đã có mướn người giúp việc trong nhà nhưng không khai và không đóng thuế an sinh xã hội cho người làm, như thế là phạm luật khiến bà phải rút lui khỏi chức vụ được đề cử.

Ngân sách hiện tại của quỹ an sinh xã hội đang cạn dần vì thành phần trẻ vào đời làm việc ít đi, trong khi đó số người già càng nhiều và càng sống lâu, trung bình đến 81 tuổi cho phụ nữ và 76 cho nam giới. Trước đây cứ 4 người đi làm đóng thuế để trả cho một người nghỉ hưu, nay con số này xuống còn 2.5 và theo một ước tính của cơ quan nghiên cứu Quốc hội, đến năm 2033 quỹ chỉ còn đủ để trả 77% tiền hưu của người được hưởng.

Số tuổi để hưởng trọn vẹn phúc lợi tài chánh khi về hưu ngày càng tăng lên. Trước đây là 65 tuổi cho những ai sinh năm 1938 trở về trước. Luật mới qui định người sinh từ năm 1943 đến 1954 thì tuổi hưu là 66, từ 1955 đến 1959 mỗi năm tăng lên hai tháng tuổi hưu. Sinh sau năm 1960 thì đến 67 tuổi mới được hưởng lương hưu trọn vẹn. Nếu nghỉ hưu non vào năm 62 tuổi, tiền an sinh xã hội chỉ được khoảng 70% so với lương về hưu đúng tuổi. Cùng với việc tăng tuổi hưu, thuế an sinh xã hội và thuế y tế Medicare cũng tăng lên.Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), số người Mỹ ở tuổi từ 65 đến 69 vẫn còn làm việc là 20%, so với Anh 10%, Đan Mạch 9%, Na Uy và Thụy Sĩ 7% trong khi Đức, Hà Lan 3% còn Pháp, Ý chỉ có 1%.

Hiện nay phúc lợi an sinh xã hội trung bình cho một người Mỹ nghỉ hưu là 1230 đô la một tháng. Dù không còn nợ nhà, nhưng số tiền này cũng khó đủ cho một người sống riêng biệt vì các khoản chi tiêu bao gồm thực phẩm, điện nước, xăng dầu, bảo trì xe, thuế nhà đất. Vì thế chính phủ còn có phụ cấp SSI – Supplemental Security Income, người Việt thường gọi là tiền già hay tiền bệnh – phụ cấp tiền thuê nhà, giảm giá điện ga cho người nghèo.

Trong thực tế ngày nay, với tiền an sinh xã hội không thôi, nhiều người cao niên chỉ đủ sống. Vì thế trong lúc còn làm việc chính phủ khuyến khích tiết kiệm thêm bằng cách bỏ tiền vào các quỹ 401(k) hay IRA. Với quỹ 401(k) có khi chủ nhân cũng đóng góp thêm vào cho công nhân và có giới hạn vài trăm đô một tháng. Số tiền tiết kiệm sinh lời và sẽ không bị đánh thuế, nhưng không được rút ra cho đến năm 60 tuổi hay cao hơn để chi tiêu lúc về hưu.

Hiện nay, một cặp vợ chồng bắt đầu về hưu năm 2013 vào tuổi 65 hay cao hơn thì mỗi tháng một người lãnh khoảng 2500 đô tiền an sinh xã hội. Nếu nợ nhà đã trả hết, với 5 nghìn đô là dư tiêu trong một tháng cho hai người. Ốm đau, thuốc men có chính phủ lo.

Với số tiền đó thì có thể bàn đến việc nghỉ hưu ở một nước ngoài. Nhưng trở ngại duy nhất là Medicare vì dịch vụ y tế này chỉ cung cấp cho cư dân sống tại Mỹ. Sống ở nước khác, phải tự mua bảo hiểm y tế riêng ở nơi đó. Vì thế nhiều người Mỹ nếu quyết định nghỉ hưu ở nước ngoài họ thường chọn nơi có mức sống rẻ, hệ thống y tế tốt hay những nơi gần Hoa Kỳ, như nam Mỹ và các đảo quốc trong vùng biển Caribbean, phòng có gì khẩn cấp cũng chỉ vài giờ bay là đã về lại Mỹ để được chăm sóc y tế.Một khảo sát mới đây của nternationalLiving.com xếp hạng mười nơi tốt cho người Mỹ và Canada nghỉ hưu là Ecuador, Panama, Malaysia, Mexico, Costa Rica, Uruguay, Colombia, Spain, Thailand và Malta.

Nhiều người Mỹ gốc Việt làm việc đã gần 40 năm, nay nghỉ hưu cũng có khả năng tài chính để ra nước ngoài sống, nhưng về Việt Nam có thể khó vì xa xôi và nhất là điều kiện y tế chưa tốt cho tuổi già. Với một số người Việt cao tuổi ở Mỹ chuyện về Việt Nam sống còn là điều không thể vì đang nhận phúc lợi xã hội và y tế qua chương trình phụ cấp của chính phủ dành cho người già. Khi nhận phụ cấp thì chỉ có thể ra nước ngoài chơi ít tuần, còn nếu ở lâu các khoản trợ cấp sẽ bị cắt.

Bạn bè chúng tôi trong lứa tuổi sấp xỉ 60 cũng đã bắt đầu nghĩ đến chuyện hưu và cũng có đề nghị nếu vào nhà tập thể cho người cao tuổi thì cũng tìm nơi sống chung để chiều chiều lai rai nhậu, đàn hát bên nhau cho vui những lúc cuối đời.

BÙI VĨNH PHÚ

From: Tu-Phung

SỐNG HIỆP THÔNG CHIA SẺ

SỐNG HIỆP THÔNG CHIA SẺ

Có người nông dân dạy con trai mới lớn: muốn cho mướp ra nhiều trái phải bấm ngọn.

Cậu bé hỏi: tại sao?

Người cha trả lời: vì nó tức nên nó đâm trái.

Có thể cậu bé không bằng lòng với câu trả lời của cha, nhưng sau này khi vào đại học nông nghiệp, cậu sẽ biết rõ lý do.

Một em bé đứng trước thi hài ông nội, hỏi mẹ: Mẹ ơi sao ông nội chết vậy hả mẹ?

Mẹ đáp: vì ông nội già rồi.

Bé lại hỏi: thế bà nội già rồi sao không chết?  Chú Tư trẻ vậy sao lại chết.

Người mẹ vui mừng vì thấy con thông minh lý sự nhưng lúng túng không tìm ra câu trả lời thoả đáng.  Khi lớn lên bé sẽ hiểu lý do.

Trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng mà trí khôn con người vẫn không bao giờ hiểu thấu.  Để diễn tả các điều khó hiểu của cuộc sống, cha ông ngày xưa mới đố nhau: Đố ai biết lúa mấy cây, biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng.  Đố ai quét sạch lá rừng, để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.

Có lẽ trong tất cả mọi điều khó hiểu của cuộc sống con người thì tình yêu là khó hiểu nhất.  Chỉ nguyên định nghĩa tình yêu thôi cũng đủ để hao tổn bao công sức và giấy mực qua các thời đại mà vẫn không có được một định nghĩa diễn tả trọn vẹn ý nghĩa.  Và vì không có được một định nghĩa nên người ta mới coi tình yêu như là mầu nhiệm.

Thế nhưng, mầu nhiệm tình yêu có đáng là gì so với các mầu nhiệm của Thiên Chúa.  Trong các mầu nhiệm của Thiên Chúa thì mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là cao cả nhất, khó hiểu nhất.  Như sách giáo lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định: “Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu.  Bởi vì đây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa mà cũng là mầu nhiệm của Thiên Chúa ‘cho chúng ta’.”

Trước mầu nhiệm Ba Ngôi, một mầu nhiệm cao sâu, trí khôn nhỏ bé của con người không thể hiễu nổi.  Tại sao Một Chúa mà Ba Ngôi? 1 là 3 và 3 là 1? Vậy phải hiểu và đón nhận mầu nhiệm quá cao siêu này như thế nào?

Ba Ngôi là một mầu nhiệm thuộc đời sống nội tại của Thiên Chúa, vượt quá mọi khả năng hiểu biết và suy luận của trí khôn hữu hạn con người.  Qua bao thời đại, trí khôn con người dựa vào mạc khải để tìm hiểu huyền nhiệm sâu thẳm này.

Thánh kinh có bàn nhiều về mầu nhiệm Ba Ngôi.

– Mạc khải Cựu ước chủ yếu là mầu nhiệm Thiên Chúa duy nhất nhưng cũng có mầm móng về mầu nhiệm Ba Ngôi.  Niềm tin độc thần là tín điều lớn nhất của Cựu ước (Đnl 6, 4-5).  Điều này cần thiết cho bối cảnh đa thần giáo ở Trung đông thời bấy giờ.

– Mạc khải Tân ước dạy rõ ràng hơn về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Sứ thần Gabriel đến báo tin cho Đức Maria: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ che chở bà, vì thế Hài Nhi bà sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.”  Những lời đó cho biết: Đấng Tối Cao là Chúa Cha cùng với Chúa Thánh Thần sẽ lo cho Hài Nhi sắp sinh ra là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa.  Hình ảnh đặc trưng nhất là khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, chim bồ câu ngự xuống đậu trên Ngài (Ga1, 32-34).  Tiếng Chúa Cha tuyên phán: Con là con Ta yêu dấu (Mt 1, 11).  Tiếng nói, chim câu, Chúa Giêsu, ba hình ảnh này tạo nên chân dung sống động về Ba Ngôi.  Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu hứa với các tông đồ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bào Chữa khác, đó là Thần Khí sự thật…”  Chúa Giêsu xin Chúa Cha ban Đấng Bào Chữa là Thần Khí sự thật, nghĩa là Chúa Thánh Thần cho các môn đệ. Trong phúc âm Matthêu có câu nói nổi tiếng về Ba Ngôi “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28, 19).  Thánh Phaolô luôn cầu chúc: Ân sủng của Đức Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em.

Chỉ có một Thiên Chúa nhưng Thiên Chúa có Ba Ngôi và là Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần.  Mỗi ngôi vị đều là Thiên Chúa, dù vậy vẫn chỉ có một Thiên Chúa mà thôi.  Mỗi ngôi vị đều bằng nhau về thần tính và ưu phẩm, nhưng không có ba Thiên Chúa ngang nhau mà chỉ có một Thiên Chúa.  Mỗi ngôi vị đều có trọn vẹn sự sống thần linh trong mình dù chỉ có một sự sống thần linh duy nhất.  Nói theo từ ngữ của Công đồng Vatican II: Sáng kiến cứu độ là của Chúa Cha.  Chúa Cha chia sẻ và bàn bạc sáng kiến ấy với Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Việc thực hiện sáng kiến ấy giống như một bản trường ca gồm hai phần chính.  Đức Kitô thực hiện phần đầu.  Ngài nhập thể, mạc khải về Chúa Cha dâng lên Cha hy lễ thập giá để cứu độ.  Phần hai dựa vào công trình ấy mà nâng con người lên, đưa con người về cùng Cha, đó là phần vụ của Chúa Thánh Thần.  Thánh Ignatio Loyola trong một lần cầu nguyện, bỗng nhiên nhận ra Ba Ngôi dưới hình dạng ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất.

Thiên Chúa duy nhất nhưng không phải là Thiên Chúa đơn độc mà là cộng đồng Ba Ngôi thương yêu nhau hướng về nhau.  Ba Ngôi là một gia đình.  Giáo hội là một gia đình của Thiên Chúa.  Thiên Chúa là Cha, Đức Giêsu là Trưởng Tử, mọi người là anh chị em của nhau.  Đạo lý Đông phương vốn trọng chữ trung, chữ hiếu và chữ nhân, rất gần gũi với tinh thần Kitô giáo.  Trung với Chúa, hiếu thảo với tổ tiên ông bà cha mẹ, nhân ái với mọi người.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và duy nhất là một mầu nhiệm vĩ đại thâm sâu mà trí tuệ con người không thể nào hiểu hết, chỉ có thể đón nhận bằng đức tin.  Thực tại Ba ngôi không là một điều nghịch lý nhưng là nghịch thường và siêu lý.  Mầu nhiệm Ba Ngôi là ánh sáng chói loà rực rỡ, ánh sáng ban sự sống cho những ai khiêm nhường đón nhận, và sẽ là bóng tối dày đặc đầy mâu thuẫn đối với những kẻ kiêu căng muốn dùng lý trí làm thước đo siêu việt.

Nhìn lên cung thánh, ta thấy Thánh Giá, Nhà Tạm, Bàn Thờ.  Đó là trung tâm niềm tin của người Kitô hữu. Trên Thánh Giá, Đức Kitô đã tự hiến làm hy lễ dâng lên Chúa Cha.  Ngài tự nguyện chịu đau khổ, chịu chết trong tinh thần vâng phục và yêu mến đối với Cha, để thiết lập giao ước mới với Giáo hội trong máu của Ngài.  Ngài đã phục sinh về với Cha nhưng vẫn luôn ở lại với Giáo hội qua Bí Tích Thánh Thể mà Nhà Tạm là nơi Ngài hiện diện thường trực.  Bàn thờ tượng trưng cho Chúa Kitô.  Khi linh mục cử hành thánh lễ là tưởng niệm hy lễ thập giá và cử hành mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô.

Ba Ngôi sống bằng một lương thực thần linh, cùng một sự sống đó là tình yêu thần linh.  Chúng ta được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi khi đi vào cử hành mầu nhiệm vượt qua trong thánh lễ.  Với chúng ta sự sống ấy là sự sống của Đức Kitô, Mình và Máu Đức Kitô trao ban qua thánh thể “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6, 34).  Khi chia sẻ chén hiệp thông cuả Ba Ngôi, chúng ta được mời gọi hiệp thông với nhau để trở nên một như Ba Ngôi là một (Ga 17, 21).

Chúng ta đến Nhà thờ để tìm Chúa và gặp Chúa.  Nói theo kiểu nói của Đức Hồng y Henry de Lubac: Con người tìm Chúa là một người bơi lội giữa đại dương.  Mỗi lần tiến tới là đẩy lui một đợt sóng.  Bơi lội giữa đại dương làm cho con người khiếp đảm lo sợ không tới bến.  Nhưng Thiên Chúa vừa là bến bờ vừa là đại dương.  Ai bơi lội trong đại dương là bơi lội trong Thiên Chúa.  Hướng tới Chúa đã là ở trong Chúa, tìm Chúa gặp Chúa là hướng về Chúa.  Không có sự tìm kiếm nào mà không phải phấn đấu, không gặp mâu thuẫn đau khổ.  Nhưng chúng ta tin vào Thiên Chúa đang ở với chúng ta trong Đức Kitô và lôi kéo chúng ta với sức mạnh Chúa Thánh Thần.

Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong tình yêu.  Mỗi ngày người tín hữu chúng ta làm dấu Thánh giá nhiều lần trên thân xác “Nhân danh Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh thần.”  Ước gì mỗi người cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi, hiệp thông chia sẻ trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Lm Jos Nguyễn Hữu An