GIỮ HẠT HAY GIỮ MÙA? – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác!”.

“Hạt giống không bao giờ thấy được bông lúa!” – Albert Schweitzer.

Kính thưa Anh Chị em,

Người nông dân không gieo hạt vì yêu hạt; ông gieo hạt vì yêu mùa. Hạt lúa chỉ đứng trước một chọn lựa: giữ lấy hay trao hiến mình.

Tin Mừng hôm nay đặt cho mỗi người chúng ta một câu hỏi: ‘giữ hạt hay giữ mùa?’.

Khi nghe dụ ngôn hạt lúa, chúng ta khó tìm được ai hiểu lời Chúa Giêsu sâu xa hơn Ignatiô Antiôkia. Trên đường ra pháp trường, ngài tự ví mình là “lúa mì của Thiên Chúa”. Ignatiô hiểu rằng hạt lúa chỉ hoàn thành ơn gọi của nó khi chấp nhận rơi xuống đất.

Vì thế, điều Ignatiô tìm kiếm không phải là sống lâu hơn, nhưng là sinh nhiều hoa trái hơn.

Thật nghịch lý: hạt lúa không bao giờ nhìn thấy ngày mùa mà nó làm nên; nó chết đi trong lòng đất, đồng lúa mới ra đời nhiều tháng sau đó. Cũng vậy, khi bước vào đấu trường Rôma, Ignatiô không thấy được những thế hệ Kitô hữu sẽ được nâng đỡ bởi chứng tá của mình. Mùa gặt luôn thuộc về tương lai; người gieo không gặt vào ngày vãi. Hạt giống sống cho một mùa gặt không thuộc về mình; người môn đệ đích thực không sống bằng điều trước mắt, mà bằng hoa trái Thiên Chúa cho trổ sinh từ sự trao hiến của họ.

Phaolô nhắc:“Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời”

– bài đọc một. Niềm hy vọng ấy không khiến chúng ta coi nhẹ đời này; nó giúp chúng ta trao hiến mà không đòi thấy ngay kết quả. Ignatiô có thể mất sự sống nơi đấu trường, nhưng không mất Đấng mình thuộc về. Người môn đệ cũng có thể ra đi khi công việc còn dở dang; phần còn lại, họ phó cho Thiên Chúa. “Đây là thời gieo, không phải thời gặt. Thiên Chúa đang gieo; ngày kia Ngài sẽ gặt. Phần tôi, tôi chỉ cố trở thành một hạt giống tốt, rơi vào lòng đất và trong tay Ngài!” – Alfred Delp.

Phần chúng ta , đấu trường có thể không phải là Rôma, nhưng là gia đình, cộng đoàn hay công việc mỗi ngày. Chính ở đó, chúng ta phải đối diện với những chọn lựa rất nhỏ nhưng rất thật: giữ lại hay trao đi thời gian; giữ lại hay trao đi khả năng; giữ lấy mình hay sống cho người khác.

Có khi chúng ta giữ được một buổi sáng yên hàn, nhưng để một người anh em đang cần mình phải đợi.

Hạt vẫn còn nguyên trong tay; mùa chẳng có gì để hái.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là hạt lúa đầu tiên rơi vào lòng đất. Trên thập giá, người ta chỉ thấy một sự sống tàn lụi; từ ngôi mộ trống, cả một mùa lúa chín mới mở ra. Hội Thánh, các vị tử đạo và mỗi người chúng ta là những bông lúa mọc lên từ Hạt Lúa ấy. Qua bao thế hệ, đồng lúa vẫn lan xa; nơi tưởng chỉ còn cái chết, sự sống đã vàng rộ. Đức Kitô mời chúng ta tiếp tục gieo hạt lúa đời mình vào đồng lúa ấy, để còn có những mùa sau. Trong Ngài, câu hỏi vẫn là: ‘giữ hạt hay giữ mùa?’. “Con người không thể tìm thấy chính mình cách trọn vẹn nếu không chân thành hiến mình cho người khác!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mở tay con để trao điều đang giữ; mở lòng con để tin vào mùa hái; cho con dám gieo cả đời mình trong Ngài – rồi mùa sẽ đến!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thánh IGNATIÔ ANTIÔKIA, giám mục, tử đạo, 

17/10 – Thứ Bảy Tuần XXVIII Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/17.html

Nếu hạt lúa chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 12,24-26

24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”


 

Điều Bất Ngờ Thứ 4: Bạn sẽ can đảm hơn.- Cha Vương

Mến chào bình an đến bạn và gia quyến, xin Chúa đồng hành với bạn 24/7 nhé. Không quên cầu nguyện cho nhau và thế giới luôn an bình nhé 

Cha Vương

Thứ 6: 16/10/2026.     (t2-23)

Thế giới mà bạn đang sống, có thể nói, là một thế giới đầy bất an và bất ổn. Tin tức về xung đột, về chiến tranh, về dịch bệnh, về thiên tai ngày càng nhiều trên các phương tiện truyền thông, như: báo chí, truyền hình, truyền thanh hoặc internet. Nó đã làm cho nhiều người âu lo và tự hỏi, rằng, thế giới bạn đang sống rồi sẽ đi về đâu! 

Vậy thì, ở đâu mới thật sự là nơi an bình! Ở đâu mới có thể đem đến cho ta sự bình an đích thật? Để có được sự bình an thật con người phải trở về với Chúa Giêsu: là nguồn bình an đích thực. Thánh Giáo Hoàng Gioan 23. Ngài là người được nhiều người kính mến. Có lần Ngài nói: “Kinh Mân côi là một lời cầu nguyện tuyệt vời và phổ quát cho nhu cầu của Giáo Hội, các quốc gia, và toàn thế giới.” 

Có phải đây là thời điểm cấp bách nhất không? Nhu cầu ở đây không phải vũ khí có công sức tàn phá mạnh nhưng mà là vũ khí được tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi. Hôm nay mời bạn suy niệm Điều Bất Ngờ Thứ 4 khi bạn thường xuyên chạy đến Nữ Vương Ban Sự Bình An qua chuỗi Mân Côi.

Điều Bất Ngờ Thứ 4: Bạn sẽ can đảm hơn.

Khi bạn đặt trọn niềm tin tưởng và đời sống, thậm chí cả chính tâm hồn bạn nơi bàn tay Đức Maria qua chuỗi Mân côi, bạn bắt đầu hiểu cách thức thực hành rất rõ ràng, đơn giản và đầy đủ trong những giải pháp của Mẹ. Đức Mẹ chỉ muốn đưa chúng ta đến với Đức Kitô và Mẹ yêu thương chúng ta rất nhiều, với sự dịu dàng thực sự của một người mẹ hoàn hảo. Khi chúng ta dâng những khó khăn của chúng ta cho Mẹ, chúng ta tôn vinh Mẹ. Sự can đảm bắt đầu nhuần thấm trong một đời sống mà luôn luôn hướng về mẹ Maria để xin Mẹ giúp đỡ và tin rằng Mẹ sẽ ban cho. Bạn có thể có được sự can đảm khi biết rằng Đức Maria luôn ở bên bạn! 

Thánh Maximialô Kollbe từng nói: “tôi gặp gỡ Mẹ Maria ở mọi nơi. Tôi chẳng còn gặp khó khăn nào nữa.”

Hôm nay mời bạn đọc 10 Kinh Kính Mừng với ý chỉ cầu nguyện cho các anh chị em đang gặp đau khổ vì chiến tranh trên thế giới nhé.

From Do Dzung

*****

Nữ Vương Hòa Bình – Sáng Tác: Hải Linh

Kỹ thuật cuối tuần: Roadster Xe lượn bổng trên cao của Tesla vừa ra mắt

Xe có thể nhảy lượn qua chướng ngại vật đang lúc chạy nhanh

Bộ đẩy khí nén (kỹ thuật của SpaceX) bên trong Tesla Roadster được thiết kế chủ yếu để tăng tốc bứt phá (0–100 km/h dưới 1 giây) và hỗ trợ ôm khúc cua ở tốc độ cao

Các bộ đẩy hướng  có thể phụt khí nén mạnh để ép chặt bánh xe vào mặt đường, bất kể xe đang ở tư thế nào (nghiêng, thẳng đứng, hay lộn ngược đỉnh đầu).

Những thách thức thực tế

Mặc dù đúng về mặt lý thuyết vật lý, việc triển khai xe lượn trong thực tế vẫn gặp các rào cản lớn:

  • Thời gian hoạt động của bình khí nén: Các bình nén khí carbon tổng hợp (COPV) chỉ chứa đủ không khí nén cho vài giây xả lực cực đại. Do đó, xe chỉ có thể đi qua các đường cong/vòng lặp ngắn chứ không thể chạy liên tục trên một trần nhà hay đường cong thẳng đứng kéo dài quá xa.

 

  • Yêu cầu về bề mặt đường: Bề mặt đường cong phải chịu được lực ép khổng lồ (kết hợp giữa trọng lượng xe, lực nén của bộ đẩy và lực ly tâm) mà không bị sụt lún hay hư hỏng.

 

  • Giới hạn chịu đựng của con người: Gia tốc sinh ra khi đi qua đường cong thẳng đứng kết hợp với lực đẩy có thể tạo ra trọng  lực  gravity rất cao, gây hiện tượng ngất xỉu (blackout) cho người lái nếu không có đồ bảo hộ chuyên dụng.

SỢ ĐỂ KHÔNG CÒN SỢ – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thầy sẽ chỉ cho anh em biết phải sợ ai”.

Trong cuốn phim Cuộc Đời của Pi – Life of Pi , một cậu bé Ấn Độ sống sót sau vụ đắm tàu, lênh đênh trên chiếc xuồng cứu sinh cùng con hổ Bengal. Lương thực cạn, bão lớn lại ập đến. Nghĩ mình sắp chết, cậu giơ tay cầu nguyện: “Lạy Chúa, con là khí cụ của Ngài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Bất ngờ biết bao, lời cầu của cậu bé! Lời cầu ấy soi sáng điều Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng hôm nay: khi đặt đời mình trong tay Thiên Chúa, chúng ta đứng vững trước điều đáng sợ: ‘sợ để không còn sợ’.

Chúa Giêsu không hứa những kẻ chống đối sẽ thôi làm hại các môn đệ; Ngài vạch giới hạn rạch ròi của họ: giết thân xác, rồi không làm gì hơn – dừng trước vận mệnh đời đời của một con người. Trong bản Hy Lạp, cùng động từ  phobéomai – “sợ” – diễn tả nỗi sợ người đời lẫn lòng kính sợ Thiên Chúa. Điều quyết định là đặt nỗi sợ đúng chỗ: phải sợ ai hơn? Sự sống đáng quý, nhưng Đấng ban sự sống – đáng cho chúng ta trung tín – còn quý hơn.

Đấng đáng trung tín ấy cũng là Đấng yêu thương chúng ta; là nơi chúng ta thuộc về, cả khi mọi chỗ dựa khác không còn. Ngài không quên một con chim sẻ, biết tóc trên đầu chúng ta bao nhiêu sợi. Chúa Giêsu cho biết chúng ta quý giá trước mắt Thiên Chúa biết bao. Có những lúc chúng ta sợ vì chưa biết ngày mai ra sao; nhưng ngay khi không còn giữ được gì, chúng ta trao mạng sống cho Đấng yêu mình.

“Con sẽ luôn tín thác nơi Ngài, dù có vẻ lạc lối và ở trong bóng tử thần!” – Thomas Merton.

Trong Đức Kitô, “Thiên Chúa đã chọn chúng ta”, tiền định cho chúng ta “làm cơ nghiệp riêng”. Hơn nữa, chúng ta đã được đóng ấn Thánh Thần, “bảo chứng phần gia nghiệp” mai sau – bài đọc một. Dấu ấn ấy nhắc chúng ta thuộc về ai, hầu giữa thử thách, chúng ta biết phải trung thành với ai. Vì thế, lời Thánh Vịnh đáp ca vẫn có thể vang lên ngay giữa bất an: “Hạnh phúc thay dân nào Chúa chọn làm gia nghiệp!”.

Là gia nghiệp của Chúa, chúng ta để lời Ngài hướng dẫn cách đáp lại những con người hay những nghịch cảnh đang làm mình tổn thương. Vẫn nói điều phải nói, ngăn điều phải ngăn; nhưng không nuôi lòng cay đắng, thù ghét. Chính lúc ấy, lời cầu xin trở nên khí cụ của Chúa mang ý nghĩa đích thực ngay giữa những điều khiến chúng ta sợ hãi.

Anh Chị em,

Suốt ba năm rao giảng, giữa bao cạm bẫy, rình rập và đe doạ, Đức Kitô vẫn kiên cường làm việc của Cha. Bao lần người ta tìm cách bắt Ngài, nhưng giờ Ngài chưa đến. Những kẻ toan tính hại Ngài không nắm giữ giờ ấy; giờ ấy thuộc về Cha. Và khi giờ đến, trên thập giá, Ngài vẫn không thôi yêu thương. Nơi Ngài, chúng ta học ‘sợ để không còn sợ’: trung thành với Cha đến cùng, dù phải trao cả mạng sống. Từ cạnh sườn rộng mở của Ngài, Hội Thánh được khai sinh, tiếp nối sứ mạng làm khí cụ cứu độ muôn dân.

“Chính sự sống trao ban sự sống – còn bạn, người tưởng mình là kẻ cho đi, chỉ là một chứng nhân!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, hiểm nguy chưa qua, cho con vẫn bước tới; lòng còn run, cho con vẫn yêu thương; và khi chẳng còn gì, cho con biết con thuộc về ai!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXVIII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/16.html

Tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 12,1-7

1 Khi ấy, đám đông tụ họp hàng vạn người, đến nỗi giẫm lên nhau. Bấy giờ Đức Giê-su bắt đầu nói, trước hết là với các môn đệ : “Anh em phải coi chừng men Pha-ri-sêu, tức là thói đạo đức giả. 2 Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết. 3 Vì thế, tất cả những gì anh em nói lúc đêm hôm, sẽ được nghe giữa ban ngày ; và điều anh em rỉ tai trong buồng kín, sẽ được công bố trên mái nhà.

4 “Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy được biết : Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa. 5 Thầy sẽ chỉ cho anh em biết phải sợ ai : hãy sợ Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục. Thật vậy, Thầy nói cho anh em biết : anh em hãy sợ Đấng ấy. 6 Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào, phải không ? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. 7 Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.”


 

CÔNG GIÁO ĐEM LẠI LỢI ÍCH GÌ – Linh Mục Mi Trầm

Linh Mục Mi Trầm

CÔNG GIÁO ĐEM LẠI LỢI ÍCH GÌ

Giáo dân: Thưa cha, theo đạo Công giáo đem lại những lợi ích gì cho con người?

Linh mục: Đức tin không làm cho người Công giáo tránh được mọi khó khăn, bệnh tật hay đau khổ. Nhưng đức tin giúp chúng ta biết mình sống để làm gì, sống thế nào và hướng về đâu.

Sau đây là những điều nhiều người trẻ nhận thấy nơi đức tin của mình:

  1. Đức tin giúp ta sống có mục đích, có định hướng, có lý tưởng.

Người có đức tin biết mình được Thiên Chúa tạo dựng và mời gọi sống cho một mục đích cao cả hơn những lợi ích vật chất trước mắt. (GLCG 27; GLCG 1721.)

  1. Đức tin giúp ta thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Đức tin giúp chúng ta nhìn cuộc đời dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Những việc tốt nhỏ bé, những hy sinh và cả những đau khổ được đón nhận trong tình yêu cũng không trở nên vô ích. (GLCG 1716–1729; Rm 8,28.)

  1. Đức tin giúp ta kìm hãm đam mê, dục vọng và tu sửa bản thân.

Đức tin giúp chúng ta phân biệt điều tốt và điều xấu, đồng thời tập làm chủ bản thân thay vì để những ham muốn điều khiển mình. Nhờ cầu nguyện, các bí tích và việc tập luyện nhân đức, con người có thể từng bước sửa đổi chính mình. (GLCG 1803–1811; GLCG 2339.)

  1. Đức tin giúp ta sống tốt hơn.

Người Kitô hữu được mời gọi sống trung thực, quảng đại, tha thứ, yêu thương và phục vụ. Động lực sâu xa không chỉ là sợ hình phạt, mà là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân.

Chúa Giêsu dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13,34; GLCG 1822–1829.)

  1. Đức tin giúp ta sống lạc quan, yêu đời.

Người có đức tin vẫn có lúc buồn phiền, thất vọng, nhưng không dễ rơi vào tuyệt vọng. Họ tin rằng Thiên Chúa luôn hiện diện và cuộc đời còn có một tương lai vượt quá những gì mắt thấy hôm nay. (GLCG 1817–1821; Rm 5,3–5.)

  1. Đức tin giúp ta sống bình an và hy vọng.

Bình an Kitô giáo không có nghĩa là cuộc sống không còn khó khăn, nhưng là bình an khi biết mình đang ở trong tay Thiên Chúa.

Chúa Giêsu nói: “Thầy để lại bình an cho anh em; Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.” (Ga 14,27; GLCG 2302–2306.)

  1. Đức tin giúp ta can đảm vượt qua nghịch cảnh và tai ương.

Khi gặp thử thách, người có đức tin không nhất thiết tránh được đau khổ, nhưng có thêm sức mạnh để đối diện, cầu nguyện, phó thác và tiếp tục cố gắng. (GLCG 164–165; GLCG 1817–1821.)

  1. Đức tin giúp ta có thêm sức mạnh khi đối diện với bệnh tật.

Đức tin không có nghĩa là cứ cầu nguyện thì chắc chắn được khỏi bệnh. Nhưng đức tin giúp người bệnh có niềm hy vọng, sự bình an và sức mạnh tinh thần, đồng thời biết phó thác mình cho Chúa và đón nhận sự trợ giúp cần thiết. (GLCG 1500–1501; GLCG 1506–1509.)

  1. Đức tin giúp ta vượt qua những thất bại trong cuộc sống.

Một thất bại không quyết định toàn bộ giá trị của một con người. Đức tin giúp chúng ta biết đứng dậy sau thất bại, rút kinh nghiệm, sửa chữa sai lầm và tiếp tục tiến bước với niềm hy vọng. (GLCG 1731–1734; GLCG 1817–1821.)

  1. Đức tin giúp ta biết tha thứ, yêu thương và phục vụ.

Đức tin dạy chúng ta không chỉ sống cho mình. Người Kitô hữu được mời gọi biết quan tâm đến người nghèo, người đau khổ, tha thứ cho người xúc phạm mình và phục vụ anh chị em.

Chúa Giêsu nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” (Mt 25,40; GLCG 1939–1942; GLCG 2443–2449.)

  1. Đức tin giúp ta đối diện với cái chết trong niềm hy vọng.

Người Kitô hữu không coi cái chết là dấu chấm hết. Chúng ta tin Đức Kitô đã chết và sống lại, và những ai tin vào Người cũng được mời gọi sống lại.

Chúa Giêsu nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.” (Ga 11,25; GLCG 988–1019.)

  1. Đức tin mở cho ta con đường đến sự sống đời đời với Thiên Chúa.

Đây là điều cao quý nhất mà đức tin đem lại. Mục đích cuối cùng của đời người không phải chỉ là thành công, giàu có hay hưởng thụ ở đời này, nhưng là được hiệp thông với Thiên Chúa và hưởng hạnh phúc đời đời với Người. (GLCG 1023–1029; GLCG 1721–1722.)

Giáo dân: Như vậy, đức tin đem lại rất nhiều điều cho cuộc sống?

Linh mục: Đúng. Nhưng chúng ta cần nhớ: đức tin không phải là một phương tiện để tìm lợi ích vật chất, cũng không bảo đảm rằng người có đạo sẽ không gặp đau khổ. Điều lớn lao nhất của đức tin là giúp chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, nhận ra ý nghĩa cuộc đời, biết sống yêu thương và có niềm hy vọng vào sự sống đời đời. (GLCG 150; GLCG 1814–1816.)

Giáo dân: Vậy con có thể tự hỏi mình điều gì?

Linh mục: Bạn có thể tự hỏi: “Đức tin đã đem lại điều gì cho cuộc đời tôi?”

Đức tin có giúp tôi sống tốt hơn không? Có giúp tôi biết tha thứ, biết yêu thương, biết vượt qua đau khổ và biết hy vọng hơn không?

Nếu đức tin thật sự đi vào cuộc sống, người khác sẽ có thể nhận ra nơi chúng ta một con người có niềm tin, có hy vọng và có tình yêu. (Mt 5,13–16; Gc 2,14–18.)

GHI NHỚ:

  1. Đức tin cho ta mục đích để sống, lý tưởng để theo đuổi, sức mạnh để vượt qua thử thách, bình an trong tâm hồn, tình yêu để phục vụ và hy vọng vào sự sống đời đời.
  2. Đức tin không làm cho cuộc đời hết gian nan, nhưng giúp ta biết sống thế nào giữa những gian nan ấy.

Lm. Mi Trầm & AI


 

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: Các Câu Chuyện hay của Cha Lê Quang Uy

Bài của AI Gemini.

1. Phép lạ khởi đi từ lòng tin kiên trung và sự hiệp thông cầu nguyện
Một trong những điểm then chốt trong các câu chuyện phép lạ được Cha Lê Quang Uy chia sẻ là vai trò của đức tin sống động và lời cầu nguyện kiên trì.

Ví dụ điển hình qua câu chuyện “Phép lạ trong mùa Covid”, giữa tâm dịch Vũ Hán nghiệt ngã, khi mọi giải pháp y tế và con người dường như bất lực trước nguy cơ bị cách ly và cái chết, lời cầu nguyện đơn sơ nhưng trọn niềm phó thác của người con dâu Công giáo đã làm thay đổi toàn bộ cục diện.

Câu chuyện xảy ra vào tháng 05/2020 tại Vũ Hán (Trung Quốc) trong thời điểm dịch COVID-19 bùng phát dữ dội. Một người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hoa,  làm dâu hơn 10 năm tại Trung Quốc, bà bị ngăn cấm không được phép công khai thể hiện đức tin Công giáo hay làm dấu thánh giá trong nhà để gia đình khỏi bị chính quyền làm khó. Đến một ngày nọ trong dịch Covid, cả gia đình chồng bị sốt cao, ho khan, nằm la liệt. Hàng xóm phát hiện gia đình có triệu chứng nên họ đã báo công an đến kiểm tra cưỡng chế đưa đi cách ly 

    • Sự can thiệp thiêng liêng:

Chị con dâu Việt Nam liền vội làm một cây thánh giá đơn sơ treo lên tường, lấy tràng hạt Mẫu Mơ ( tràng hạt Mân Côi) và kêu gọi cả nhà cùng quỳ xuống cầu nguyện. Đến nước cùng trước cái chết tuyệt vọng, cả gia đình chồng (vốn không theo đạo) đã đồng lòng quỳ xuống hướng về Thánh Giá cầu nguyện. Đến khi lực lượng công an xông vào đo nhiệt độ từng người, dù trước đó mọi người đang sốt cao vật vã, kết quả đo lại hoàn toàn bình thường. Công an xác nhận không ai có triệu chứng và họ rời đi khỏi nhà. Sau sự kiện này, cả gia đình chồng phục hồi sức khỏe hoàn toàn. Người chồng tự tay treo lại cây Thánh Giá và ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trang trọng trên tường, anh cũng đồng ý cho các con học đạo và chịu phép rửa tội.

2. Lời cầu nguyện gắn liền với sự chữa lành và biến đổi tâm hồn
Phép lạ không dừng lại ở sự chữa lành thể xác (như thoát khỏi bệnh tật hay tai ngộ), mà quan trọng hơn là phép lạ của sự biến đổi tâm hồn: Chữa lành mối quan hệ gia đình, sự trở lại của những tâm hồn xa Chúa: 

3. Phương thế cầu nguyện: Chuỗi Mẫu Mơ  (Mân Côi) và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Điểm đặc trưng trong linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế mà Cha Lê Quang Uy theo đuổi là việc cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Chuỗi Mẫu Mơ (Kinh Mân Côi), nhịp cầu nối kết trái tim con người với Trái Tim Mẫu Tâm của Mẹ.

Nhắc nhở về sự hiện diện của Thiên Chúa: Trong một thế giới thực dụng và đầy biến động, phép lạ là lời nhắc nhở rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người trong cơn gian nan.


Cầu Nguyện và trao quyết định cho Chúa

Sức mạnh của Kinh Kính Mừng trong  lúc khẩn cấp

Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời,  Thì hơn tin cậy ở người trần gian                                 

Giải tội cho người điên    

 

Mừng Lễ Kính Thánh TÊRÊSA AVILA, Trinh nữ – Cha Vương

Chúc ngày Thứ 5 an lành trong tình yêu của Chúa và Mẹ Maria nhé! Hãy tiếp tục cầu nguyện cho nền hoà bình trên thế giới.

Cha Vương

Thứ 5: 15/10/2026.    (t7-22)

Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Kính Thánh TÊRÊSA AVILA, Trinh nữ, tiến sĩ Hội Thánh (1515 – 1585) Têrêsa có lòng kính mến Đức Mẹ đặc biệt. Ngày ngày, ngài lần chuỗi Mân Côi để tỏ lòng tôn kính Đức Mẹ. Năm lên 12 tuổi, khi mẹ ngài mất, ngài đến quỳ trước ảnh Đức Mẹ, xin Đức Mẹ nhận ngài làm con, và hứa suốt đời sống xứng đáng làm con Đức Mẹ. Vậy hôm nay Bạn hãy nhận Đức Mẹ làm Mẹ đi, chưa muộn đâu! Nơi Đức Mẹ, Thiên Chúa ban cho Bạn một người bảo vệ nhiệt tình nhất. Mọi sự ưu ái của Mẹ đều nằm trong Kinh Mân Côi. Nếu Bạn cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân Côi nó sẽ mang lại cho Bạn nhiều điều bất ngờ. Sau đây là điều bất ngờ thứ 7 trong Kinh Mân Côi: Bạn bắt đầu sống biến cố Nhập Thể—Sức mạnh của chuỗi Mân côi nằm ở trong sự đơn giản của nó. Nó quá đơn giản đến nỗi mà dường như có thể ngu ngốc đối với những bộ óc thông minh. Vậy nên chúng ta thường nghĩ rằng, chúng ta cần phải tìm những giải pháp phức tạp, thông thái và đòi hỏi kiến thức tổng hợp để giải quyết những vấn đề phức tạp, khó khăn. Chúng ta tập trung vào vực thẳm của những vấn đề của mình và tự hỏi làm sao có thể tìm thấy giải pháp với một vấn đề quá lớn như vậy. Chúng ta không cần phải như thế. Thiên Chúa đến thế gian như một em bé nhỏ nhắn, yếu đuối và đơn độc khi sinh ra trong hoàn cảnh khó nghèo. Kinh Mân côi quá đơn giản tới mức mà nó có thể cầu nguyện trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó là vũ khí mạnh mẽ nhất của đời sống cầu nguyện mà chúng ta có. “Chẳng có vấn nạn nào mà chúng ta lại không thể được giải quyết bởi chuỗi Mân côi, dầu có khó khăn đến đâu, dẫu là vấn đề thuộc thế gian hay trời cao, trong đời sống cá nhân hay gia đình.” (Sr. Lucia, một trong các thị nhân Đức Mẹ Hiện ra tại Fatima)

Mời bạn đọc 10 Kinh Kính Mừng với tâm tình dâng hiến cả cuộc đời của Bạn cho Đức Mẹ hôm nay nhé.

From: Do Dzung

*****

Tận Hiến Cho Mẹ

CỦA CÉSAR TRẢ CHO CÉSAR, CỦA THIÊN CHÚA TRẢ CHO THIÊN CHÚA – Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

 Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

 Tiền tệ là phương tiện trao đổi mua bán giữa con người với nhau trong đời sống xã hội.  Để khẳng định quyền làm chủ của mình, thường mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng.

 Đế quốc Rôma có đồng tiền riêng của mình.  Đồng tiền này in hình các vị vua trong đế quốc.

 César và các hoàng đế trong đế quốc Rôma cho in hình ảnh của mình trên đồng tiền, nhưng Thiên Chúa thì lại in hình ảnh của Ngài nơi muôn loài muôn vật, nhất là nơi con người (x. St 1,27).  Điều đó cho thấy, César và các hoàng đế Rôma chỉ có quyền làm chủ trong đế quốc Rôma.  Còn Thiên Chúa, thì làm chủ trời đất muôn loài muôn vật, kể cả loài người và trong đó có cả hoàng đế Rôma nữa.

 “Cái gì của César thì hãy trả cho César và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa.

”  Đồng tiền in hình của César thì hãy trả lại cho ông.  Trời đất, muôn loài muôn vật và loài người in hình ảnh của Thiên Chúa thì hãy trả về cho Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đã dạy như vậy, khi những người biệt phái đến hỏi Ngài: “

Thưa Thày, có được phép nộp thuế cho César không?”

 Thật công bằng, chính đáng và phải đạo!  Ngoài bổn phận phải vâng lời các vua chúa trần gian, Chúa Giêsu còn nhắc con người chúng ta còn phải vâng lời Thiên Chúa.  Ngoài nghĩa vụ xây dựng trần thế, con người chúng ta còn phải có bổn phận xây dựng Nước Trời.  Vì con người là xác hồn nhập thể, có sự sống đời này và sự sống đời sau…

 Quả thật, con người là công dân trong một đất nước thì phải chu toàn nghĩa vụ, bổn phận của người công dân theo như luật pháp quốc gia đã định, một khi luật pháp ấy phù hợp với công ích, không trái ngược với lương tâm và phẩm giá của con người.

 Con người cũng là công dân Nước Trời, được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài, nên con người có bổn phận phải xây dựng Nước Trời và phải trả lẽ trước Thiên Chúa những gì con người đã lãnh nhận từ nơi Ngài.  Từ vua quan cho đến thứ dân, ai cũng phải trả lẽ trước Thiên Chúa, không ai được miễn trừ.  Cyrô vua Ba-tư, César hoàng đế Rôma, hay bất kể vua quan trần thế nào cũng thế thôi, tất cả đều phải thần phục Thiên Chúa, tất cả đều phải ra trước tòa Chúa mà chịu phán xét về những việc lành dữ mình đã làm.

 Lạy Chúa, mất những đồng tiền in hình ảnh của César, người ta tiếc xót, người ta ra công gắng sức tìm kiếm.  Tìm lại được người ta vui mừng hớn hở, mời gọi mọi người đến chia vui (x. Lc 15,8-9).

 Mất con người mang hình ảnh mình, Thiên Chúa cũng tiếc xót, Thiên Chúa cũng tìm kiếm như chủ chiên băng đèo lội suối đi tìm chiên lạc.  Tìm lại được, Thiên Chúa cùng các thần thánh trên trời vui mừng và mở tiệc ăn khao (x. Lc 15,4-7).

 Xin cho chúng con ở đời này, đừng bao giờ liều mình phạm tội làm méo mó và hoen ố hình ảnh Chúa nơi chúng con, nhưng xin cho chúng con biết chăm sóc, gìn giữ hình ảnh Chúa nơi chúng con luôn được trong sáng và nguyên vẹn, bằng một đời sống thánh thiện, mến Chúa yêu người và chu toàn bổn phận, để mai ngày chúng con xứng đáng ra trình diện trước tòa Chúa.  Amen.

 Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

 From: Langthangchieutim


 

Gương Mục Tử trung tín thời bách Đạo

ĐGM chui Pham văn Dụ và tấm gương hy sinh cho chiên

Giám Mục 3 không:

  • Không tấn phông, không mũ, chờ đội trong 19 năm rồi đuọc tấn phong chui ở Tòa Giám Mục Bắc Ninh.
  • Không tòa giám mục, không văn phòng, không phụ tá, không tùy tùng. Không được phép đi xa khỏi nhà quá 5 cây số, bị công an quản chế 33 năm theo lệnh của chính quyền trung ương.
  • Không bị rũa nát thi hài sau khi qua đời được 23 năm.

Ơn Thánh:

  • Sống giữa đoàn Chiên để chăm sóc Chiên, cùng lao động như Chiên. Theo Chúa trong mọi hoàn cảnh khó khăn, đau khổ.
  • 30 năm lặn lội phục vụ trong miền núi rừngThất Khê, biên giới phía cực Bắc.
  • Đức Cha chuyên cần dậy giáo lý cho các cá nhân tín hữu trong mọi cơ hội để giữ gìn Đức Tin cho Chiên.

TIỂU SỬ ĐỨC CHA PHẠM VĂN DỤ

Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ
Đức cha Vinh Sơn PHẠM VĂN DỤ,
Giám mục Chính Tòa tiên khởi GP Lạng Sơn
(1960 – 1998)

Giáo phận Lạng Sơn đã được các linh mục Dòng Ða Minh đến truyền giáo từ năm 1908. Năm 1913, Lạng Sơn thành Phủ Doãn Tông Tòa, và năm 1960 trở thành Giáo phận Chính tòa với vị giám mục đầu tiên người Việt Nam là Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ.

Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1922, trong một gia đình sùng đạo tại Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ngày mùng 5 tháng 3 năm 1960, cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa, coi sóc giáo phận Lạng Sơn. Ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Ðức cha Phạm Văn Dụ lại được bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Nhưng hoàn cảnh lúc đó không cho phép Ðức cha được tấn phong Giám mục. Mãi đến ngày mùng 1 tháng 5 năm 1979, Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ mới được tấn phong Giám Mục, do Ðức cha Phạm Ðình Tụng, giám mục Bắc Ninh. Sau đây là sơ lược tiểu sử và hành trình ơn gọi của ngài.

Những năm tháng ẩn dật (1960-1990)

Theo lý tưởng chung của các gia đình công giáo đạo hạnh thời đó, mấy anh em của Vinh Sơn đều muốn đi tu cả. Phạm Văn Thuyết là anh cả vào học chủng viện nhưng không bền đỗ. Anh thứ hai là Phạm Văn Lượng đi tu dòng Đaminh được gởi sang học tại Hồng Kông và đã khấn dòng nhưng cũng không lên tới chức linh mục. Phạm Thị Nhiệm là em gái út đi tu dòng nữ Đa minh tại Waterloo bên Bỉ.

Lúc còn nhỏ, Vinh Sơn theo học trường đệ tử dòng Phanxicô Thanh Hóa. Năm 1939 Vinh Sơn xin vào Tiểu Chủng Viện Thánh Têrêxa Lạng Sơn trong chương trình lớp đệ nhị. Sau đó thì được gởi đi Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Thầy Dụ đã chịu chức linh mục năm 1948 do tay Đức cha Hedde. Sau khi ngài chịu chức, Đức cha có ý định gởi ngài xuống làm phụ tá cha Jeffro lúc đó đang làm bề trên nhà dòng Đa Minh. Nhưng vì địa phận chuẩn bị mở lại Tiểu chủng viện, cha Dụ được gởi lên làm cha phó tại Đồng Đăng để cha Haag rảnh rang về Lạng Sơn tu sửa khu Văn Miếu làm Tiểu chủng viện.

Sau khi Đức cha Jacq, cha Guibert và cha Nerdeux là những vị truyền giáo cuối cùng đã bị trục xuất khỏi địa phận Lạng Sơn, cha Dụ được Tòa Thánh đặt lên chức Tổng quản địa phận. Khi được tin ấy, chính quyền Việt Nam đề nghị cha Dụ lên Thất Khê coi xứ thay cha Guibert.

Tại Thất Khê, ngày 5 tháng 3 năm 1960 cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục, hiệu tòa Boseta. Thế rồi, ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Đức cha Dụ được đặt lên làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Dù vậy, Đức cha vẫn không được đi đâu để chịu lễ tấn phong Giám mục. Ngay trong dịp Đức cha Hedde qua đời tại Lạng Sơn ngày 4 tháng 5 năm 1960, Đức cha Dụ cũng không có mặt trong đám tang. Với Đức cha Dụ, theo nguyên tắc, Lạng Sơn đã thành địa phận Chính tòa, sau khi được các cha Đaminh Pháp tỉnh Lyon gầy dựng vun tưới trong vòng 50 năm. Lúc này, ngoài Đức cha Dụ ra, chỉ còn 3 linh mục phục vụ trong địa phận: cha Thu ở Cao Bằng, cha Khái ở Mỹ Sơn và cha Đức ở Lộc Bình.

Từ khi lên Thất Khê 1960, Đức cha Dụ sống âm thầm một mình, rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài. Khi quân Trung Hoa tràn sang Việt Nam năm 1979, Đức cha Dụ đã cùng với một số giáo dân tản cư về Bắc Ninh. Thừa dịp này, Đức cha Phạm Đình Tụng, giám mục Bắc Ninh đã làm lễ tấn phong cho Đức cha Dụ trong một nhà nguyện nhỏ tại Tòa Giám Mục Bắc Ninh ngày 1 tháng 5 năm 1979. Sau lễ tấn phong, Đức cha đã trở về Thất Khê, không có sự thay đổi gì.

Ngày 2 tháng 4 năm 1979, Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ từ Long Xuyên báo tin ra ngoại quốc như sau:

“Đức Cha Dụ biên thư cho tôi từ Bắc Ninh ngày 15 tháng 3 năm 1979 và Đức cha Tụng ngày 19 tháng 3, Ngài cho biết là Đức cha Dụ sau mười ngày tản cư qua rừng, đã tới Bắc Ninh ngày 28 tháng 2 để bắt đầu Mùa Chay. Tại đây có thầy Quỳnh và 100 giáo hữu Lạng Sơn cũng tản cư về. Còn cha Khái đã về Bùi Chu, cha Đức không tin gì, thầy Thảo có lẽ bị pháo kích chết tại Đồng Đăng. Đàng khác, quân Tầu phá sụp gác chuông Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn; khu nhà các bà Notre Dame des Missions (Văn Miếu) ở Cửa Nam cũng bị phá. Nhà xứ Thất Khê chỗ thì mất mái, chỗ đổ tường. Còn Cao Bằng chưa rõ tin gì… Những ngày hai Đức cha ở cùng nhau vui vẻ êm đẹp lắm, và như vậy tinh thần Đức Cha Dụ lên khá cao, để trở về tái thiết giáo phận từ con số không. Ngài xin chúng tôi giúp đỡ, chúng tôi sẽ cố.”

Ngày 30 tháng 12 năm 1986 Đức cha Vinh Sơn viết ra ngoại quốc: “Tháng 7 vừa qua chúng tôi bị một cơn lụt kinh khủng, đến nóc nhà thờ Thất Khê. Không bị ai chết, nhưng về đồ đạc của cải thì giục xuống bùn cả. Ngẫm nghĩ mà thấy ứng nghiệm biết bao lời của các cụ xưa đã bảo: nạn vô đơn chí.”

Từ năm 1987 thì Đức cha có vẻ tự do hơn về tin tức. Ngày 25 tháng 8 năm 1987 ngài viết: “Tôi ngồi đây gần 30 năm rồi, có được tự do đi đến đâu đâu! Hội đồng Giám mục thế giới đến nơi, dĩ nhiên tôi chả hy vọng chút nào được đi. Tôi thông công bằng lời cầu nguyện vậy…”

Năm 1987, chị dòng Phạm Thị Nhiệm, người em gái của Đức cha ở Âu châu có được về thăm ngài trong những ngày từ 15 đến 21 tháng 11. Chị viết:

“Nhìn thấy cái bàn giấy của anh sao mà buồn thế; có mấy quyển sách nó xấu xí; con hỏi tại sao thì anh nói bị ướt vì năm vừa rồi bị lụt. Bàn ghế cũng chả ra sao cả. Rồi cái màn cửa để chia từ phòng giấy qua phòng ngủ lại là một miếng bao tải, trông thảm ơi là thảm. Sau khi con hỏi những sách em gởi về ở đâu. Ngài nói, “Có người họ cần hơn, anh để cho người ta”.

Chị chia sẻ tiếp: “Con thấy anh con sống rất là đơn sơ, không có vội vã và rất là bình tĩnh, con thì lo sợ, xong thấy anh con cứ rửng rưng. Con có cảm tưởng như có người anh “độc ẩn sĩ” và mục đích của anh là sống theo tinh thần Phúc âm.”

Ngày 11 tháng 2 năm 1989 Đức cha viết: “Năm nay tôi được lên dâng lễ Noel mãi trên Cao Bằng. Lễ nửa đêm sau vài chục năm im lặng, không khí cảm động khác thường. Đứng trên bàn thờ, tôi phải im lặng đến hơn 15 phút, vì họ chen chúc nhau đông quá, tưởng như nhà thờ sắp bể.”

Những năm tháng hy vọng (từ 1991 đến 2-9-1998)

Năm 1990, Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ về Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Toà giám mục được tạm thời đặt tại khu Văn Miếu, Cửa Nam.

Trong tạp chí “Các Giáo Hội Á Châu” (Pháp ngữ) cũng đề cập đến Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ. Theo nguồn tin của tạp chí này số 101 ngày 16 tháng 12 năm 1990 cho hay, chính quyền Việt Nam đã thừa nhận Đức cha Vinh Sơn là Giám mục Lạng Sơn Cao Bằng sau khi phái đoàn Hồng y Etchegaray gặp gỡ và thương lượng với chính phủ từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11 năm 1990. Dầu vậy Đức cha Vinh Sơn vẫn không thu xếp kịp để cùng đi với 21 Giám mục Việt Nam sang triều yết Đức Thánh Cha vào những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1990.

Sau khi được thừa nhận làm Giám mục, Đức cha bắt đầu được tự do đi lại. Ngày 21 tháng 1 năm 1991 Đức cha đã viết sang Pháp cho cha Phạm Phúc Khánh như sau:

“Chắc cha đã cầu nguyện nhiều nên nay tôi được viết mấy chữ này cho cha từ thành phố Hồ Chí Minh. Phải, cha có thể tưởng tượng được không? Tôi đã được giấy vào đây 25 ngày để thăm Đức cha Ngữ. Vừa rồi chính quyền Lạng Sơn đã gọi và bảo cho tôi hay là nhà nước đã công nhận tôi là giám mục của Lạng Sơn. Sau 31 năm chờ đợi, tôi cũng đã già rồi, chả còn sức để đi đây đó trong địa phận để làm ích cho giáo dân. Cha già Quỳnh đã hơn 80 tuổi rồi, nhưng ngài vẫn còn hăng hái lắm. Kỳ đi vắng này tôi giao cả địa phận cho ngài. Tôi được nhà nước công nhận, nhưng vẫn còn phải ở Thất Khê, chưa được về Lạng Sơn. Sự thực cũng khó nghĩ vì bây giờ về Lạng Sơn thì không biết rúc vào đâu. Cha về mau mà xây dựng lại địa phận. Được công nhận là Giám mục, tôi nói đến vấn đề Ad limina, nhưng Ban Tôn giáo trung ương nói: từ từ”.

Ngày 19 tháng 8 năm 1991 Đức cha Dụ đã đáp máy bay sang Rôma để triều yết Đức Thánh Cha và nhân tiện chữa bệnh luôn. Ngài nghỉ tại nhà quản lý Phát Diệm ít ngày rồi đi chữa bệnh tại Clinique Regina Mundi, Roma.

Theo báo “Dân Chúa”, số 110 tháng 12 năm 1991 thì lúc 7 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 1991, Đức cha Dụ đã dâng Thánh Lễ với Đức Thánh Cha trong nhà nguyện riêng tại Vatican. Cùng dâng Thánh Lễ còn còn có 6 linh mục Việt Nam đến từ thành phố Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã mời Đức cha Dụ dùng bữa sáng với ngài. Đức Thánh Cha đã tặng Giám Mục Lạng Sơn một chén lễ quý giá.

Sau khi Đức cha chữa bệnh ít lâu tại Rôma, các bác sĩ cho biết bệnh tình của ngài không thể chữa khỏi hẳn được. Ngày 22 tháng 11, ngài được phép sang Bỉ thăm người em gái đồng thời đi hành hương Lộ Đức và Lisieux. Đến lúc cần phải đi Lyon cùng với Đức cha Jacq để gặp cha quản lý tỉnh Dòng Đaminh thì ngài mệt không đi được. Ngày 7 tháng 12 Đức cha đã trở về Việt Nam. Kể từ đó ngài dọn về ở Tòa Giám Mục Lạng Sơn.

Bước sang năm 1993 thì đời sống của Đức cha bắt đầu trở nên bình thường. Tuần Thánh năm đó, giáo dân các nơi trong khu vực kéo đến mừng lễ Phục Sinh rất sầm uất và long trọng. Mừng lễ Phục sinh ở Lạng Sơn xong, Đức cha đi các nơi: Thất Khê, Cao Bằng, Bố Từ, Tà Lùng. Đi đến đâu, ngài cũng phải một mình làm mọi việc: giải tội, rửa tội, cho chịu lễ lần đầu, xức dầu bệnh nhân, giải quyết các đôi vợ chồng rối ren. Năm ấy địa phận chỉ còn có Đức cha, khi ấy đã 71 tuổi và cha già Quỳnh 87 tuổi hoạt động trong cả miền.

Năm 1993, khởi công xây Toà giám mục. Dự định sẽ xây tiếp nhà thờ chính toà nhưng chưa thành.

Tòa Giám Mục Lạng Sơn do Đức Cha Dụ xây dựng

Năm 1995, khởi công xây dựng nhà thờ Thanh Sơn, Cao Bằng. Năm 1996, xây nhà thờ Cao Bình. Sang năm 1997, sức khoẻ của Đức cha ngày một giảm sút. Ngày 9-3-1998, Toà Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu của Đức cha. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngài đã qua đời lúc 0 giờ 45 ngày 2 tháng 9 năm 1998, sau 38 năm phục vụ Hội Thánh Chúa trong lặng lẽ ngang qua chức vụ giám mục của mình.

 

[Tóm tắt theo: Lm Phạm Phúc Khánh, Lược Sử Địa Phận Lạng Sơn, Cannes, 1994]

LẬT THUYỀN CHỞ NGƯỜI DI CƯ NGOÀI KHƠI DJIBOUTI: 139 NGƯỜI THIỆT MẠNG, 84 NGƯỜI MẤT TÍCH

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 LẬT THUYỀN CHỞ NGƯỜI DI CƯ NGOÀI KHƠI DJIBOUTI: 139 NGƯỜI THIỆT MẠNG, 84 NGƯỜI MẤT TÍCH

Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) ngày 11/10/2026 cho biết ít nhất 139 người di cư, trong đó có ít nhất 15 trẻ em, đã thiệt mạng sau vụ lật thuyền ngoài khơi Djibouti, thuộc vùng Sừng châu Phi. Khoảng 84 người vẫn mất tích.

Theo lời kể của những người sống sót, chiếc thuyền chở 305 người từ Djibouti tới Yemen bị lật gần Guhere, phía bắc thị trấn cảng Obock, trong đêm 8 rạng sáng 9/10. Khoảng 82 người sống sót sau thảm nạn.

Số người thiệt mạng được nâng từ 109 lên 139 sau khi tìm thấy thêm 30 thi thể. Những người sống sót đều là công dân Ethiopia; IOM đang hỗ trợ 64 người tại trung tâm tiếp nhận người di cư ở Obock. Chính quyền Djibouti tiếp tục tìm kiếm và cứu nạn.

Ông Alexandre Coissac, Trưởng phái bộ IOM tại Djibouti, bày tỏ đau buồn trước thảm kịch và nhấn mạnh những nguy hiểm mà người di cư phải đối mặt trên hành trình tìm kiếm cơ hội mưu sinh.

Tuyến đường qua Djibouti và Yemen được nhiều người từ vùng Sừng châu Phi lựa chọn để tới các nước vùng Vịnh tìm việc làm. IOM kêu gọi tăng cường hỗ trợ cứu nạn và mở rộng các con đường di cư an toàn, hợp pháp để ngăn những thảm kịch tương tự.

Nguồn: IOM, Reuters, AFP.