BÀI HỌC TỪ TRONG NỖI CÔ ĐƠN – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Nhiều năm trước, tôi có khuyên một thanh niên, anh có cuộc đấu tranh chống lại nỗi cô đơn gần như ngược đời.  Thay vì cố gắng thoát ra, anh lại sợ mất nó.  Anh khoảng hơn hai mươi tuổi, yêu một cô gái trẻ tuyệt vời, nhưng cảm thấy bị giằng xé về việc cưới cô ấy, vì anh sợ hôn nhân gây trở ngại cho sự cô đơn của anh, và theo lời anh, nó sẽ làm cho anh trở thành “người hời hợt hơn và mất đi những gì có thể dâng tặng Chúa và thế giới này.”

“Tôi bước vào một căn phòng,” anh nói, và “một cách phản xạ, tôi nhìn quanh để tìm một gương mặt buồn rầu, tìm một người nào đó có dáng vẻ gợi cho thấy cuộc sống có nhiều điều hơn là tiệc tùng và những tin tức nóng hổi về những người nổi tiếng.”  Sẽ nguy hiểm nếu ngắn gọn xem trạng thái nặng nề là biểu hiệu của sâu sắc, nhưng trong trường hợp của anh thì điều đó không đúng. 

“Có hai hình ảnh đôi co trong lòng tôi,” anh nói. “Cha tôi mất khi tôi mười lăm tuổi.  Gia đình tôi sống ở miền quê, ông bị lên cơn đau tim.  Chúng tôi vội vàng đưa ông lên xe, mẹ tôi ngồi ôm ông ở băng ghế sau, còn tôi lái xe, mới mười lăm tuổi, và sợ run lên.  Cha tôi mất trên đường tới bệnh viện, nhưng ông chết trong vòng tay mẹ tôi.  Mặc dù chuyện đó rất buồn, nhưng có một cái gì đó rất đẹp.  Lúc nào tôi cũng muốn chết theo kiểu đó, được người tôi yêu ôm trong vòng tay.  Dù hình ảnh đó hút tôi một cách mạnh mẽ về phía hôn nhân, nhưng tôi cũng nhìn hình ảnh Chúa Giê-su chết đơn độc, bị ruồng bỏ, chẳng trong vòng tay của ai, chỉ trong vòng một điều gì đó cao hơn, và tôi cũng bị thu hút về hướng đó.  Hình ảnh đó có một vẻ thanh cao mà tôi không muốn từ bỏ.  Đó cũng là một cách chết hay.

 Anh sợ sẽ mất đi sự cô đơn của mình dù anh khao khát một cách lành mạnh tình cảm thân mật.  Anh không thể nào lý giải được trọn vẹn tại sao anh bị thu hút trước sự cô đơn của Chúa Giê-su trên thập giá, trừ việc cảm thấy rằng điều này cách nào đó là một điều cao đẹp, một điều sâu sắc, và là điều sẽ đem lại cho anh chiều sâu và thanh cao.

 Trước anh, cũng có nhiều người khác có kinh nghiệm này, kể cả Chúa Giê-su.  Chẳng hạn triết gia Soren Kierkegaard, khi còn trẻ, cũng với lý do lo sợ như người bạn trẻ của tôi, ông từ chối hôn nhân.  Dù đúng dù sai, anh cảm thấy những gì anh có để mang tặng cho thế giới này bắt rễ sâu thẳm trong nỗi đau cô đơn của mình, và chỉ có thể tỏa ra từ cốt lõi đó mà thôi, và, nếu anh bớt cô đơn, thì anh cũng sẽ bớt đi những gì có thể trao tặng.  Liệu anh có đúng không?

 Hoa trái của đời một người, ví dụ những người như cha Henri Nouwen, rút ra sức mạnh và khả năng hồi phục từ những tác phẩm của họ, xác nhận cho sự thật của trực giác của họ.  Nhìn hoa trái của họ, bạn sẽ hiểu họ.  Kierkegaard là vị thánh bảo trợ cho những người cô đơn.  Nhưng, như anh bạn trẻ của tôi, ông cũng bị giằng xé bởi những gì điều đó gây ra cho ông.  Quá ít người hiểu được, và điều này dìm ông vào “nỗi buồn của việc đã hiểu ra một điều gì đó chân thực – và rồi thấy mình bị hiểu lầm.”  Ông cũng tự nhận là ông sống trong lời thề “không bao giờ cho phép ai đi vào sâu thẳm trong nội tâm và kết hợp nội tâm sâu sắc với tôi.”  Thomas Merton, khi bàn về vấn đề này, đã nói rằng sự thiếu vắng tình cảm thân mật của đời sống hôn nhân trong đời ông đã tạo thành “một khiếm khuyết trong sự khiết tịnh của tôi.”  Loại sâu sắc này có được cũng bắt nguồn từ một cái giá nào đó.

 Tại sao, bất chấp bất lợi rõ ràng như vậy, mà cô đơn vẫn thu hút nhiều người như Kierkegaard của thế giới chúng ta, với niềm tin rằng đó là chìa khóa dẫn tới sự sâu sắc, lòng lân mẫn, và minh triết?  Cô đơn làm gì cho chúng ta?

Điều mà cô đơn làm cho chúng ta, đặc biệt nỗi cô đơn tột cùng, là lay chuyển bản ngã và khiến bản ngã mong manh đến mức không thể duy trì chúng ta theo cách thông thường được nữa.  Những gì xảy ra sau đó là chúng ta bắt đầu buông bỏ, cảm thấy chúng ta trở nên không còn vướng mắc, hiểu ra sự nhỏ bé của mình, và biết từ trong sâu xa của bản thể rằng chúng ta cần phải kết liên với một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình thì mới sống sót.  Nhưng đó là một trải nghiệm rất đau đớn, và chúng ta có khuynh hướng trốn chạy khỏi nó.

 Tuy nhiên, và đây chính là nghịch lý to lớn, trải nghiệm nỗi cô đơn tột cùng này là một trong những đặc cách để tìm ra câu trả lời sâu thẳm cho cuộc đi tìm bản thể và ý nghĩa của chúng ta.  Bởi vì nó lay chuyển bản ngã và khiến chúng ta mất phương hướng, nỗi cô đơn khiến chúng ta chạm đến những gì nằm bên dưới bản ngã, đó là tâm hồn, bản thể sâu sắc nhất của chúng ta.  Hình ảnh Chúa và sự tương đồng với Chúa nằm ở đó, cũng như năng lượng thanh cao nhất và thiêng liêng nhất của chúng ta cũng ở đó.  Đó chính là sự thật trong niềm tin rằng trong nỗi cô đơn có chiều sâu.

 Và như thế, bài học là, dù lập gia đình hay không: đừng chạy trốn cô đơn.  Đừng coi đó là kẻ thù.  Đừng tìm kiếm  ai khác để chữa chạy nỗi cô đơn của mình.  Hãy coi nỗi cô đơn là đặc cách dẫn tới chiều sâu và lòng lân mẫn. 

Đây là lời khuyên của Hafiz, một nhà thơ Ba-tư xưa: 

Đừng hàng phục nỗi cô đơn
Nhanh đến vậy
Hãy để nó cứa sâu hơn
Để nó ủ men và thêm hương vị
Vì rất ít người phàm
Và ngay cả hương vị thần thánh làm được
Điều trái tim tôi thiếu vắng đêm nay
Đã làm đôi mắt tôi thêm dịu dàng
Giọng nói tôi
thêm trìu mến,
Nhu cầu có Chúa của tôi
Tuyệt đối
Rõ ràng. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA ĐỜI NGƯỜI…

 Pham Kỳlam

 NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA ĐỜI NGƯỜI…

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, ta lang thang trong khuôn viên mái trường, vui cười vô tư và bây giờ đã 50-60-70… năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già!

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Qua một ngày, ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến ta vui một ngày. Vui một ngày… rồi không biết sẽ còn vui được bao nhiêu ngày nữa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống hằng ngày.

Hạnh phúc chỉ là những gì hiện đang ở chung quanh ta, trong tầm tay ta.

Về tiền bạc, ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có mang nó đến, và khi ra đi ta cũng không thể mang nó theo.

Đồng tiền giúp ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú.

Không trách móc ai làm gì nữa. Họ làm sai với ta thì họ cũng đã bị lương tâm cắn rứt, và theo thời gian họ cũng sẽ biết ăn năn, hối hận.

Vào trong internet , fb. để gửi thư cho bạn bè; để chia sẻ một tin mới, một chuyện vui, một bản nhạc hay, một bài viết có giá trị; hay “chat” với người quen biết. Ta cần trau dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.

Hơn nửa đời, ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cữ thì không đủ chất bổ dưỡng. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ. Quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có bạn bè. Gặp bạn tri kỷ, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh trầm cảm stress v. v…

Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa!”.

Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu hay người tình của ta. Hãy luôn trân trọng họ.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu dùng  những gì ta cần vì sẽ có lúc ta để lại cho người khác xài.

Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch.

Ăn được ngủ được là tiên.

Ăn và ngủ đi đôi với nhau.

Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưỡng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.

Khi về già, ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện xưa. Thế nhưng sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời rồi.

Hẹn nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ… mà vui cười thích thú.

Ta phải làm thế nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là liều thuốc bổ quí nhất.

Ta cần tránh đi những sự cãi vã, tranh giành hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.

Chính những lúc cãi vã, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong cuộc sống, không thích hợp trong tuổi của ta, nhất là những người đang đau yếu. Ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan, tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để bác sĩ chăm sóc, luôn luôn giữ bình an trong tâm hồn.

Ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt, chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống ít kiêng cữ khi vào tuổi hoàng hôn.

Thiên đàng không phải đi tìm đâu cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc. Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý  trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh… Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp. Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung.

Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là quy luật ở đời, không ai chống lại được. Khi Tử thần gọi đến thì vui vẻ mà đi. Cốt sao sống thanh thản, không hổ thẹn với lương tâm…

Và cuối cùng  cuộc đời  của một người chỉ là một số không to lớn!!!

 ST fb Nhưng Nguyễn

Bài sưu tầm cũ đăng lại


 

Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

John Nguyễn

 Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

Ngài sinh ngày 11/6/1916 tại Bangkok, Thái Lan, trong một gia đình Phật tử. Năm 1969, ngài được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Ratchaburi. Đến năm 1972, ngài được Hội đồng Giám mục Thái Lan chọn làm đại diện tham dự Thượng Hội đồng Giám mục tại Rôma.

Giám mục Ratna là tác giả của hơn 20 cuốn sách viết bằng tiếng Thái. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngài chọn tên thánh là Robert.

Sau đây là tự truyện của ngài, kể lại hành trình cuộc đời từ thuở thiếu thời cho đến khi lãnh chức linh mục năm 1949.

“Có đời nào thằng Ratna lại chịu phép Rửa để theo đạo!”

Đó là lời nhận xét của một số bạn bè sau những năm cùng học với tôi tại Học viện Wan Yan, do các cha Dòng Tên phụ trách.

Trong suốt ba năm học tại đây, tôi bị xem là một học sinh rất lạnh nhạt với đạo Công giáo. Tôi không bao giờ bước vào nhà nguyện, cũng chẳng bao giờ bàn luận về chuyện đạo nghĩa. Dù vẫn phải học các giờ Giáo lý theo chương trình bắt buộc của nhà trường, nhưng đối với tôi, môn Giáo lý chẳng khác gì môn Toán hay môn Sử, thậm chí còn kém hấp dẫn hơn.

Nếu lúc ấy tôi tỏ ra chống đối đạo, có lẽ các bạn Công giáo đã đến tranh luận với tôi về vấn đề tôn giáo. Nhưng không, tôi chỉ dửng dưng, lạnh nhạt với đạo như một khúc xương khô giữa sa mạc.

Lời nhận xét ấy được nói với tôi vào buổi tối cuối cùng trước khi chúng tôi rời Học viện Wan Yan để vào Đại học Hồng Kông, sau khi vừa tốt nghiệp trung học.

Thế nhưng, một điều lạ lùng đã xảy ra. Chỉ ít ngày sau khi rời Học viện Wan Yan, trong một buổi lễ rất âm thầm tại nhà nguyện Ricci, người lãnh nhận Bí tích Rửa tội lại chính là tôi.

– Tại sao tôi trở thành người Công giáo?

Có một điều tôi có thể khẳng định: tôi theo đạo không phải vì bị lôi cuốn bởi chân lý đức tin, cũng không phải vì bị thuyết phục bởi những lập luận hợp lý của đạo Công giáo.

Giờ đây, khi nhìn lại quá khứ, tôi nhận ra một vài biến cố đã âm thầm chuẩn bị tâm hồn tôi, từ thời thơ ấu, qua chín năm tiểu học tại trường Mông Triệu, tức Assumption College, do các thầy Dòng Thánh Gabriel phụ trách tại Bangkok, rồi ba năm tại Học viện Wan Yan ở Hồng Kông, do các cha Dòng Tên điều hành.

Tôi không nhớ có giây phút nào mình từng được soi sáng đặc biệt bởi chân lý Kitô giáo. Tôi cũng không nhớ có cuộc tranh luận nào khiến tôi bị thuyết phục đến mức phải tự nhủ: “Đây là chân lý, tôi phải chấp nhận và phải theo đạo.”

– Mọi sự đã diễn ra như sau.

Tôi được rửa tội năm 1937, khi vừa 21 tuổi. Đó là buổi tối trước ngày khai giảng năm học tại Đại học Hồng Kông. Ở tuổi ấy, một thanh niên có trình độ đại học như tôi có đủ lý do để tự hào. Hơn nữa, tôi lại có năng khiếu tranh luận. Tôi từng là thành viên của nhóm tranh luận tại Học viện Wan Yan và thường tham gia tranh luận về đủ mọi vấn đề, ngoại trừ vấn đề tôn giáo.

Ngay từ nơi cha tôi, một Phật tử đạo hạnh, tôi nhận ra rằng chính ông đã âm thầm gieo vào tâm hồn tôi những hạt giống đầu tiên của giáo huấn Công giáo, dù ông không hề biết điều đó.

Cuộc sống tự nhiên của cha tôi toát lên nhiều nhân đức đáng kính. Ông không hút thuốc, không uống rượu. Trong công việc, ông cần mẫn và chăm chỉ. Trong giao tiếp, ông chân thật. Với bạn bè, hàng xóm, ông nhân ái và rộng rãi. Ông có lòng kính trọng tôn giáo và không bao giờ nuôi lòng thù oán ai. Mọi người đều kính trọng ông.

Cha tôi cũng không hề có ác cảm với Công giáo. Khi một người bạn Công giáo qua đời, ông còn nhiệt thành giúp đỡ trong các nghi thức tôn giáo. Dù không ai gọi ông là thánh, nhưng ai cũng kính trọng ông vì đời sống đạo đức và lương thiện.

Mỗi buổi sáng, ông thường ngồi ở cổng nhà để phân phát thức ăn cho các vị sư đi khất thực. Ông giữ thói quen ấy cho đến khi tuổi già, sức khỏe suy yếu, nhất là sau khi bị liệt một phần cơ thể.

Trong việc giáo dục con cái, cha tôi rất nghiêm khắc và luôn đặt nặng lễ nghĩa. Ông dạy chúng tôi phải chăm chỉ, cẩn thận, dù làm việc nhỏ hay việc lớn. Nhờ lối giáo dục ấy, tôi không hút thuốc, không uống rượu, và trong túi lúc nào cũng chỉ giữ một ít tiền. Tôi cũng thường được sai làm việc chung với người giúp việc trong nhà. Khi nhà có khách, tôi luôn đóng vai trò hầu bàn. Tất cả những điều đó về sau đã trở thành thói quen trong đời sống tôi.

Bà nội là người dạy tôi học Kinh Phật và chỉ cho tôi cách phân phát thức ăn cho các vị sư khất thực. Dù cha tôi cầu nguyện mỗi ngày, ông không bao giờ bắt các con phải làm giống mình. Chỉ vào dịp Tết Nguyên đán, ông muốn mọi nghi thức trong gia đình phải được thực hiện cách nghiêm chỉnh.

Có thể nói, tôi lớn lên trong một gia đình Phật tử trung lưu, sống bằng nghề buôn bán.

Năm lên bảy tuổi, theo chân các anh, tôi được gửi vào trường Mông Triệu do các thầy Dòng người Pháp điều hành. Tôi học ở đó suốt chín năm. Trong ngần ấy thời gian, tôi chưa bao giờ cảm thấy bị lôi cuốn hay quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Tôi nghĩ Công giáo cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo khác. Ngoài một vài lần tham dự lễ an táng, tôi hầu như không bước chân vào nhà thờ.

Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ có hai sự việc đã xảy ra trong thời gian ấy.

Một buổi sáng, khi tôi đang chơi đùa với các bạn trong sân trường, thầy Giám đốc Martin de Tour bất ngờ đến gặp và nói với tôi về giáo lý. Tôi lắng nghe rất nghiêm chỉnh, nhưng sau đó lại chạy đi chơi tiếp, trong lòng không hề có một chút xúc động nào trước những điều thầy vừa nói.

Lần thứ hai xảy ra vào những năm cuối ở trường Mông Triệu. Khi ấy, chúng tôi học về triết lý Công giáo. Thầy dạy môn này đã dùng lý luận khoa học để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi có nghe, nhưng không chú ý. Tôi không từ chối, cũng không chấp nhận. Trong đầu tôi chẳng có tư tưởng nào hướng về Công giáo. Tôi không tin, cũng không phản bác. Tôi chỉ hoàn toàn lạnh nhạt và thờ ơ.

Năm 1932, tôi rời trường Mông Triệu, mang theo nhiều kỷ niệm, lòng thán phục đối với lối giáo dục của nhà trường, cùng sự kính mến dành cho các thầy dòng và các giáo sư nơi đây.

Vài tháng sau, tôi lên đường sang Hồng Kông để nhập học tại Học viện Wan Yan, nơi anh tôi đã bắt đầu học trước đó một năm.

Tại Học viện Wan Yan, thái độ dửng dưng của tôi đối với đạo Công giáo vẫn không thay đổi. Dĩ nhiên, tôi vẫn phải học môn Giáo lý, nhưng chỉ vì đó là một phần trong chương trình học. Thế thôi. Giáo lý Công giáo không tạo nơi tôi chút chú ý nào.

Có một lần, vào dịp lễ Giáng Sinh, tôi vào nhà nguyện của trường để nghe cha Giám đốc Gallagher giảng. Mọi sự đối với tôi vẫn hoàn toàn xa lạ. Tôi vào nhà nguyện chỉ vì anh tôi muốn tôi vào.

Sau một năm học chung trường với tôi, anh tôi trở về nhà.

Tại Học viện Wan Yan, tôi rất thích đọc sách truyện. Cha Bourke thường đưa sách cho tôi đọc. Tôi rất kính mến và biết ơn ngài, nhưng chưa bao giờ để cha có dịp nói chuyện với tôi về tôn giáo.

Cha Ryan cũng vậy. Ngài muốn tôi cộng tác với tờ báo The Rock của ngài trong phần thiết kế các bản đồ. Một ngày kia, cha Ryan đến phòng tôi nhờ vẽ một bản đồ. Bất chợt, ngài hỏi:

“Ratna, con có bao giờ quan tâm đến tôn giáo không?”

Tôi trả lời rất ngắn gọn, khô khan, chấm dứt câu chuyện cũng bất ngờ như cách nó bắt đầu:

“Thưa cha, không.”

Cha giáo sư Martin thì mỗi tuần thường dẫn chúng tôi ra bãi biển hoặc đi thăm các đồi núi. Tôi rất yêu cảnh đẹp của Hồng Kông và tận hưởng những giây phút thoải mái ấy. Nhưng tôi không bao giờ nói với ngài về tôn giáo. Tôi tham gia gần như mọi sinh hoạt của trường, ngoại trừ các sinh hoạt đạo đức.

Rồi chuyện ấy đã xảy ra.

Vào năm cuối tại Học viện Wan Yan, khi chúng tôi chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học, cha Donnelly tổ chức một kỳ cấm phòng cho học sinh.

Cha nói:

“Trước khi rời trường, cha nghĩ các con nên có một buổi cấm phòng.”

Các học sinh Công giáo cũng như không Công giáo đều tỏ ra vui thích trước kỳ cấm phòng này. Riêng tôi, vì không muốn bị bầu khí sôi động của lớp học chi phối quyết định, nên lúc đầu không bày tỏ ý kiến gì. Sau đó, tôi cũng quyết định tham dự, nhưng với một ý nghĩ rất đơn giản: đi thử xem cấm phòng là gì.

Kỳ cấm phòng được tổ chức tại một ngôi trường cũ ở vùng Kowloon. Nơi ấy thật yên tĩnh, có nhiều phòng và phía sau là một khu vườn để đi dạo. Trong suốt kỳ cấm phòng, mọi người làm gì thì tôi làm theo như vậy.

Điều duy nhất tôi còn nhớ rõ là trong những ngày ấy, tôi đã tự kềm chế và giữ im lặng một cách rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, không có thị kiến nào xảy đến với tôi. Cũng chẳng có tia sáng lạ lùng nào chiếu soi tâm hồn tôi.

Theo chương trình đã định, trong kỳ cấm phòng, cha Donnelly gặp riêng từng người tham dự. Ngài cũng gặp tôi.

Ngài hỏi:

“Ratna, con thấy kỳ cấm phòng thế nào?”

Tôi đáp:

“Thưa cha, tốt lắm.”

Ngài hỏi tiếp:

“Con nghĩ gì về đạo Công giáo?”

Tôi trả lời rằng tôi có vài điểm nghi ngờ về Thiên Chúa. Ngài giải thích cho tôi. Tôi gật đầu rồi ra về, không hề bận tâm gì thêm.

Cho đến lúc ấy, tôi vẫn cảm thấy mình thờ ơ và lạnh nhạt như trước. Không có một động lực nhỏ bé nào khiến tôi nghĩ rằng mình đang muốn gia nhập đạo Công giáo.

Thế rồi tôi thay đổi.

Sau kỳ cấm phòng, một người bạn gặp tôi và nói rằng có vài người nhận thấy cách sống của tôi đã thay đổi nhiều. Tôi suy nghĩ về điều ấy và quả thật, tôi nhận ra trong lòng mình có một niềm vui, một tia sáng nào đó phát xuất từ tận đáy tâm hồn, điều mà trước kia tôi chưa từng cảm nghiệm.

Tôi cười, và cười thật lớn, với một niềm hạnh phúc như tràn đầy trong tâm hồn. Tôi ý thức rằng có một ân sủng thiêng liêng đang bao phủ mình. Không lạ gì khi một vài người bạn tinh ý đã nhận ra điều đó.

Một nguồn ân sủng thiêng liêng đã tràn đến, cuốn đi sự lạnh nhạt và thờ ơ trong lòng tôi. Nguồn ân sủng ấy làm sống dậy khát vọng tìm kiếm chân lý và hạnh phúc tự nhiên trong đời sống. Những sắc màu tươi mới bắt đầu xuất hiện trên vùng đất héo úa của linh hồn tôi. Mảnh xương khô giữa sa mạc nay đã có dấu hiệu của sự sống.

Tất cả những điều ấy nảy sinh và kết tụ trong linh hồn tôi cách lặng lẽ, âm thầm, đến nỗi chính tôi cũng không hay biết.

Như được cuốn hút bởi một sức mạnh ân sủng không thể cưỡng lại, con tàu linh hồn tôi đang chuẩn bị thả neo tại một bến cảng thánh thiện: Giáo hội Công giáo. Đêm tối đã rút lui để nhường chỗ cho ánh sáng ban ngày. Sương mù tan biến, để con mắt linh hồn tôi bắt đầu chiêm ngưỡng thế giới thiêng liêng. Bàn tay thần linh đã chạm đến trái tim tôi, và sự chạm đến ấy đem lại ánh sáng cùng lẽ sống cho linh hồn.

Giờ đây chỉ còn chờ một cơ hội thuận tiện để nguồn ánh sáng âm thầm và kỳ diệu ấy được tỏ lộ, không chỉ cho tôi, mà còn cho những người chung quanh.

Sau kỳ cấm phòng, xét theo phong cách bên ngoài, tôi vẫn sống như trước. Nhưng bên trong, tôi đã đổi khác rất nhiều.

Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi trở lại Học viện Wan Yan và tạm trú tại hội trường Ricci. Tôi đến gặp cha Bourke, Giám đốc nhà trường, để chào ngài lần cuối và thanh toán số học phí còn thiếu. Cha Bourke có vẻ buồn, vì suốt ba năm được ngài chăm sóc và hướng dẫn, nơi tôi chẳng có dấu hiệu nào cho thấy tôi đã thấm nhuần đạo giáo.

Ngài nói:

“Ratna, cha nghĩ có lẽ con sẽ khá hơn nhiều nếu con là người Công giáo.”

Tôi đáp:

“Thưa cha, con cũng nghĩ như vậy.”

Rồi tôi kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra trong lòng mình.

Có lẽ cha Bourke chưa từng ngạc nhiên đến thế trong đời.

Sự quy phục thoát ra từ tiềm thức tôi như dòng nước lũ cuồn cuộn phá vỡ bờ đê của tình trạng thờ ơ lạnh nhạt, rồi cuốn trôi tất cả. Một gánh nặng nào đó từ lâu đè nén trong lồng ngực như vừa được cất bỏ. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và thanh thản.

Vài ngày sau, tôi được rửa tội tại hội trường Ricci. Cha Ryan chủ sự, còn ông Chevalier J.M. Alves là cha đỡ đầu của tôi.

Tôi không xứng đáng được gia nhập Giáo hội Công giáo. Tất cả chỉ là hồng ân Chúa đã dẫn tôi đến với Ngài: “Gratia Dei ego sum id quod sum” – “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr 15,10). Tôi đã từ chối mọi cố gắng thuyết phục của con người, nhưng cuối cùng lại đầu hàng trước ân sủng của Thiên Chúa.

Giờ đây, tôi thấy rất rõ rằng sự tận tâm trong việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện của các thầy Dòng Thánh Gabriel và các cha Dòng Tên đã âm thầm chuẩn bị mảnh vườn tâm hồn tôi, để hạt giống đức tin có thể nảy mầm.

Đối với tôi lúc ấy, điều quan trọng không còn là “làm sao” hay “bằng cách nào” tôi theo đạo, nhưng là “làm sao” và “bằng cách nào” để tôi giữ đạo. Tôi biết có một vài người bạn, sau khi được rửa tội một thời gian, đã không còn sống đức tin nữa. Tôi cũng hiểu những khó khăn khiến họ không tiếp tục. Nhưng trong thâm tâm, tôi tự nhủ sẽ gìn giữ đức tin và sống đạo cho đến hết đời.

Những suy nghĩ ấy đã làm cho đời sống tôi thay đổi sau ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

Từ một người lạnh nhạt, thờ ơ, giờ đây tôi trở nên nóng lòng muốn tìm hiểu mọi điều về Giáo hội. Tôi không muốn trong đầu mình còn một nghi ngờ dù nhỏ bé. Tôi không muốn còn một thắc mắc nào vương lại trong trí. Tôi dồn hết cố gắng để hiểu các giáo huấn của Giáo hội. Tôi muốn đức tin của mình được xây dựng vững chắc trên nền tảng suy tư và lý luận.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần các cuốn Apologetics, Radio Replies của Sheehan và Ripley. Tôi học Ethics của Ignatius dưới sự hướng dẫn của cha Byrne. Các tác giả như Chesterton, Belloc và Maurice Baring cuốn hút tôi. Những cuốn sách tôi đọc lúc bấy giờ hầu như hoàn toàn là sách tôn giáo: Chúa Kitô, Lẽ Sống của Linh Hồn của Marmion; Một Tâm Hồn của Thánh nữ Têrêsa; Những Vị Thánh Cho Kẻ Tội Lỗi của Goodier; Người Phong Cùi Tên Damien của John Farrow. Những tác phẩm ấy trở thành sách tu đức của tôi.

Tôi gia nhập Phong trào Hộ Giáo, và năm 1941, nhóm chúng tôi đoạt giải trong một cuộc tranh luận với Hội Thánh Joan of Arc.

Càng tìm hiểu về Giáo hội, tôi càng cảm phục sự hoàn hảo trong cách Giáo hội giải đáp các vấn nạn của đời sống. Đối với tôi, giáo lý Công giáo là nguồn mạch soi sáng cho mọi lãnh vực tri thức. Tôi vui mừng nhận ra sự hài hòa giữa khoa học và Giáo hội. Tôi kinh ngạc khám phá rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra lịch sử nhân loại. Tôi thán phục cách Giáo hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Tôi cũng ngưỡng mộ cách Giáo hội bảo vệ luân lý và sự thanh khiết.

Càng tìm hiểu những chống đối nhắm vào Giáo hội, tôi càng nhận ra vẻ toàn bích và toàn mỹ của Giáo hội hơn nữa. Nếu giáo huấn của Giáo hội có khiếm khuyết theo cách nào đó mà tôi có thể nhận ra, có lẽ tôi đã không giữ đạo cho đến hôm nay.

Tôi tham dự Thánh lễ và rước lễ mỗi ngày. Tháng 5 năm 1938, tôi gia nhập Hiệp hội Thiếu niên Thánh nữ Maria. Tôi giúp lễ và cảm thấy hạnh phúc khi được đến với Mẹ Maria vào mỗi tháng Năm. Tôi cũng trở thành hội viên Hội Thánh Vincent de Paul, đi xin quần áo cũ cho người nghèo. Tôi xúc động trước đời sống của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và cố gắng noi theo con đường bé nhỏ của thánh nữ.

Thật kỳ diệu khi nhìn lại sự biến đổi nơi tôi: từ một người lạnh nhạt, thờ ơ với Giáo hội suốt mười hai năm dài, dù đã sống trong chiếc nôi của Giáo hội, nay lại được ân sủng tràn ngập cách dồi dào.

Tôi báo cho cha tôi biết việc tôi đã được rửa tội. Ông không phản đối. Có lẽ ông cũng không biết đời sống đạo của tôi lúc ấy đã trở nên mạnh mẽ đến mức nào.

Tháng 5 năm 1941, tôi tốt nghiệp Đại học Hồng Kông. Tương lai mở ra trước mắt tôi với rất nhiều hứa hẹn thành công. Nhưng tôi đã quyết định đi tu để trở thành linh mục.

Tôi trở về nhà với hy vọng cha tôi sẽ đồng ý cho tôi đi tu. Nhưng trái lại, ông không những không đồng ý mà còn tìm cách làm cho tôi bỏ đạo. Ông ngạc nhiên, rồi từ ngạc nhiên chuyển sang giận dữ khi thấy tôi sùng đạo đến như vậy.

Thời gian ấy, chiến tranh Pháp tại vùng Đông Dương cùng những biến động xã hội khiến cả đời sống Giáo hội cũng trải qua nhiều khó khăn. Cha tôi vin vào đó để cho rằng việc tôi vào đạo và sống đạo đã đem lại những rủi ro cho gia đình. Ông không hiểu rằng người Công giáo rất “cứng cổ” trong việc tin đạo và sống đạo.

Tôi cũng nhận ra rằng đời sống đạo của mình đang trở thành nguyên nhân gây xáo trộn trong gia đình. Tôi không biết phải làm sao để mọi người hiểu được. Tôi buộc phải đối diện với những biến động của đời sống và phải chọn một trong hai: Thiên Chúa hay thế gian.

Được thêm sức bởi Bí tích Thánh Thể mà tôi lãnh nhận trong một Thánh lễ tại Dòng Carmelite, vào một buổi sáng, tôi quyết định rời gia đình. Tôi không báo cho ai biết, cũng không để lại địa chỉ hay lời từ biệt nào. Tôi vào chủng viện tại Bank Nok Khuek, Ratburi, ngay trước khi chiến tranh thật sự bùng nổ tại vùng Viễn Á.

Trong khi chiến tranh lan rộng khắp nơi, tại một góc nhỏ yên tĩnh giữa khu vườn dừa rậm rạp, thỉnh thoảng vang vọng vài tiếng bom nổ từ xa, một nhóm chủng sinh, trong đó có tôi, âm thầm trau dồi các môn Triết học và Thần học.

Tôi được thụ phong linh mục vào lễ Thánh Gioan Bosco, ngày 31/1/1949. 


 

ĐÔI MẮT CÓ TIM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng”.

Có người hỏi Mẹ Têrêxa, làm sao Mẹ có thể nhận ra Đức Kitô? Mẹ trả lời: “Tôi nhìn từng người như Chúa Giêsu cải trang. Mỗi người nghèo là Đức Kitô trong hình dạng đau khổ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Mẹ Têrêxa học được cách nhận ra Chúa Giêsu cải trang nơi người nghèo. Có những đôi mắt nhìn rất rõ mà không thấy con người; nhìn rất xa mà không nhìn sâu. Lời Chúa hôm nay cho thấy Chúa Giêsu nhìn thấu con người và nỗi đau của từng người bằng một ‘đôi mắt có tim’.

Thấy đám đông lầm than vất vưởng, Chúa Giêsu không thấy một đám người vô danh; Ngài thấy từng cuộc đời. Bản Hy Lạp viết eskylmenoi kai errimmenoi – “bị xâu xé và quăng xuống”. Đó là những con người bị cuộc đời làm cho tơi tả, bị bỏ mặc như chiên không người chăn. Ngài thấy những vết thương ẩn sau mỗi khuôn mặt; thấy nỗi mệt mỏi ẩn sau những bước chân; thấy những tiếng kêu không ai nghe.

Vậy mà ánh mắt của Ngài không dừng ở lòng trắc ẩn; nó luôn hoá thành một bước chân. Vì thế, Ngài bước đến chữa lành, giải thoát, rồi nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít!”. Ai nhìn bằng một ‘đôi mắt có tim’ sẽ không thể đứng yên trước những cánh đồng đang chờ người gặt. Lòng thương xót đích thực không kết thúc bằng giọt nước mắt, nhưng khởi đầu bằng một đôi chân biết lên đường. “Điều tình yêu nhìn thấy, đôi chân phải tìm đến!” – Madeleine Delbrêl.

Hôsê cũng hé lộ một Thiên Chúa biết đau vì dân Ngài. Israel đã tự lập vua mà không cần Ngài, lấy bạc vàng đúc nên ngẫu tượng và dựng lên những bàn thờ của riêng mình – bài đọc một. Nhưng Thiên Chúa không vì thế mà thôi nhìn họ bằng mắt xót thương. Giữa một dân nhiều lần phản bội, Thánh Vịnh đáp ca vẫn tha thiết: “Nhà Israel, hãy tin cậy Chúa!”. Điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải là thêm những bàn thờ, nhưng là những trái tim biết trở về.

Nhưng trở về với Chúa không dừng lại ở cảm xúc đạo đức. Chúng ta thương, rồi quên; xót xa, rồi bước tiếp; thích bàn về truyền giáo hơn là trở thành người truyền giáo; thích lập kế hoạch hơn là quỳ xuống cầu nguyện. Điều lạ là trước khi sai các môn đệ lên đường, Chúa Giêsu lại bảo họ cầu xin Chủ mùa gặt. Truyền giáo không bắt đầu từ những chương trình lớn, nhưng từ những con người biết ở lại với Chúa. “Chúng ta không cần quá nhiều ý tưởng lý thuyết về kế hoạch mục vụ. Điều cần là cầu nguyện với Chủ mùa gặt!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Đức Kitô là dung mạo hữu hình của lòng thương xót Chúa Cha. Nơi Ngài, Thiên Chúa không chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con người, nhưng bước vào chính nỗi khổ ấy. Trên thập giá, Ngài mang lấy mọi vết thương và mọi phận người bị bỏ rơi để trao ban sự sống mới. Từ đó, không một ai còn nằm ngoài ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa. Theo Đức Kitô là để chúng ta cũng biết nhìn bằng một ‘đôi mắt có tim’, nhận ra nơi mỗi con người một người anh em được Thiên Chúa yêu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đổi ánh nhìn của con trước khi đổi công việc; để mỗi người con gặp không còn chỉ là một khuôn mặt, nhưng là một người anh em được Chúa yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 9,32-38

32 Khi ấy, người ta đem đến cho Đức Giê-su một người câm bị quỷ ám. 33 Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng : “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ !” 34 Nhưng người Pha-ri-sêu lại bảo : “Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.”

35 Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

36 Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. 37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng : “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”


 

Chris Yên, đạo diễn gốc Việt từ chối $1 triệu của Hollywood-Kalynh Ngô/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

July 6, 2026

Kalynh Ngô/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) – Với một người có tư duy sáng tạo, thì thật khó để nói chính xác một ý tưởng thường bắt nguồn từ đâu, bởi vì đôi khi nó bất ngờ như từ trên trời rơi xuống. Tuy nhiên, một khi ý tưởng đã hình thành, họ nhìn lại, hiểu ra nguồn gốc cũng như điểm khởi đầu của nó, thì họ quyết tâm bảo vệ bản chất nguyên thủy của ý tưởng đó bằng mọi giá. Cho dù đó là lời mời hấp dẫn trị giá $1 triệu của Hollywood để mang kịch bản phim lên màn ảnh rộng.

“Bầu, Cua, Tôm Cá là của người Việt”

“Nếu muốn bàn về chuyện tiền bạc, chính sản phẩm có phẩm chất cao nhất mới là thứ mang lại giá trị tài chính. Vậy đâu là sản phẩm có phẩm chất cao nhất? Đó chính là sản phẩm chân thực nhất và giàu ý nghĩa nhất,” anh Chris Yên, đạo diễn gốc Việt sinh năm 2000, giải thích về lý do anh từ chối số tiền mà nhà đầu tư muốn đặt vào bộ phim đầu tay của anh – “Bầu, Cua, Tôm Cá” (Fish, Prawn, Crab).

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên, cũng là diễn viên chính trong bộ phim Bầu, Cua, Tôm Cá. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Phần giới thiệu (trailer) dài khoảng hai phút của “Bầu, Cua, Tôm Cá” cho thấy một nhóm “băng đảng” trẻ tuổi gồm hai thanh niên da đen và một thanh niên Châu Á, do Chris thủ vai, đi vào một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Họ diễn một vở kịch để anh thanh niên Châu Á thừa cơ hội trộm hết tiền trong két sắt của ông chủ. Khi ra cửa, tên trộm còn nhớ lấy theo vài cái bánh để “mừng chiến thắng” với “đồng đội.” Ông chủ, cũng gốc Châu Á, vác cây súng trường chạy ra. Tiếng súng vang lên…

Chris nói, anh đặt một trò chơi dân gian trong ngày Tết của người Việt trong bối cảnh của cuốn phim về tội phạm vì nhân vật chính là một người lớn lên trong nghèo khó, chật vật mưu sinh để chăm sóc em gái của mình.

“Và, điều đó cho thấy rằng ngay cả trong những giai đoạn sóng gió hay khó khăn nhất của cuộc đời, bạn vẫn có thể tận hưởng khoảng thời gian bên gia đình.”

Theo lời anh, rất nhiều nhà biên kịch có tiếng nói trong ngành đã đọc qua kịch bản này và họ đánh giá rất cao.

“Chúng tôi liên tục họp bàn với nhiều hãng phim, từ các hãng lớn cho đến những đơn vị nhỏ hơn. Trong số đó, có một hãng phim lớn ở Hollywood tỏ ra rất hào hứng với kịch bản và muốn bỏ vốn sản xuất. Khi bàn đến phần sáng tạo, họ hoàn toàn ủng hộ chúng tôi,” đạo diễn Chris Yên kể lại trong cuộc nói chuyện qua Zoom.

Thế nhưng, mọi chuyện lại trở nên khác đi khi chuyển sang quảng cáo. Nhóm đầu tư bắt đầu muốn thay đổi mọi thứ theo góc nhìn thuần túy về lợi nhuận. Có nhiều điều vô lý theo cách nhìn của một đạo diễn sáng tạo như Chris, nhưng hoàn toàn hợp lý vì “hợp túi tiền” theo góc nhìn của người đầu tư.

“Chẳng hạn, họ bàn về thời lượng phim, dự trù ​​ban đầu là 2 tiếng 15 phút, nhưng họ lại muốn cắt bỏ tới 45 phút để rút ngắn xuống còn 1 tiếng 30 phút. Lý do là họ tin rằng phim ngắn hơn sẽ thu hút nhiều khán giả hơn và dễ dàng xếp lịch chiếu tại các rạp hơn. Họ không quan tâm đến phẩm chất nghệ thuật,” Chris nói.

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên (giữa,) cũng là diễn viên chính trong bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá.” (Hình: Chris Yên cung cấp)

Nhưng đó chỉ là một việc nhỏ. Điều làm cho chàng đạo diễn gốc Việt này “tức giận” – theo lời anh – là câu hỏi “liệu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc có giống nhau hay có thể thay thế cho nhau hay không?”

Công ty này hiểu Tết Việt Nam và Tết Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng. Vì vậy, họ đã đặt câu hỏi liệu câu chuyện có thể chuyển đổi qua lại giữa hai nền văn hóa hay không. Sau đó họ nói Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ. Hiện tại, quy mô của nó thậm chí còn lớn hơn cả Bollywood của Ấn Độ. Thêm nữa là họ muốn có những tên tuổi lớn, những diễn viên nổi tiếng tham gia bộ phim.

“Do đó, vì không có sẵn những tên tuổi lớn của Việt Nam, họ thà chuyển hướng sang bối cảnh Trung Quốc để có thể đưa các ngôi sao Trung Quốc vào phim,” Chris nói, giọng nói đầy chất điện ảnh của chàng trai gốc Việt vẫn chưa nguôi cơn tức giận.

Chris nói anh là “một người Việt Nam đang kể câu chuyện về dân tộc mình,” và điều đó chính là điều làm nên phẩm chất cao nhất của bộ phim.

Khi nhà đầu tư muốn nhân vật chính là người Trung Quốc và đưa các yếu tố Trung Quốc vào khắp mọi nơi trong kịch bản gốc, anh Chris trả lời không cần suy nghĩ: “Không!”

“Là một người Mỹ gốc Việt đại diện cho văn hóa và cộng đồng của mình, thật vô lý khi làm một bộ phim về người Trung Quốc. Tôi tin rằng rất nhiều người có những tài năng tiềm ẩn. Kỹ năng có thể được đào tạo và kinh nghiệm có thể được tích lũy, thì niềm đam mê lại là thứ bẩm sinh. Có rất nhiều người Việt đang khao khát những cơ hội như thế này, và tôi muốn mang đến cho họ cơ hội đó.”

Số tiền $1 triệu cho một dự án phim dài đầu tay đối với một đạo diễn trẻ như Chris Yên không phải là con số nhỏ. Phim ngắn đầu tiên của anh, “Suburban Story” thực hiện với chi phí chỉ $10,000 và đoạt 15 giải thưởng. Nhưng Chris nói, mục tiêu của anh là đại diện cho người Việt, kể những câu chuyện của mình. Anh không muốn trở thành kẻ bán rẻ lý tưởng của chính mình, “nếu kiên định giữ vững lập trường ngay từ đầu, mọi người sẽ hiểu rằng tôi ở đây là để kể câu chuyện của chính tôi và dân tộc mình.”

Những vùng xám đạo đức

Không phải ngẫu nhiên mà Chris lấy tên là Chris Yên. Tên thật của anh là Chris Nguyễn. Nhưng Chris thích chữ “Yên” nghĩa là “Peace.” An yên, bình yên, đó là điều mà chàng trai gốc Việt sinh năm 2000 này mong muốn.

Mọi chuyện bắt nguồn từ xuất thân và năm tháng trưởng thành của anh. “Là một người Mỹ gốc Việt, tôi đã chứng kiến ​​cảnh cha mẹ mình chật vật mưu sinh tại đất nước này. Họ gặp nhau khi đến Mỹ sau Chiến Tranh Việt Nam. Cả hai nỗ lực xây dựng cuộc sống cũng như xoay xở để tồn tại theo những cách rất khác biệt,” Chris kể lại, khi tôi hỏi “Bầu, Cua, Tôm Cá mang màu sắc gì?”

“Mẹ tôi đi theo con đường truyền thống, bà học đại học và trở thành kỹ sư máy tính. Ngược lại, cha tôi gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với văn hóa và ngôn ngữ mới. Để kiếm sống, ông vướng vào con đường phạm pháp. Ông từng buôn bán ma túy, nghiện cờ bạc, điều hành sòng bạc chui, cho vay nặng lãi, và cả môi giới mại dâm. Ông đang ngồi tù vì nghiện ma túy đá. Tôi chứng kiến ​​tất cả điều đó khi còn nhỏ.”

Cha mẹ và Chris Yên khi mới chào đời. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Chris Yên lớn lên giữa hai lối sống hoàn toàn trái ngược. Điều đó dạy anh từ khi còn rất nhỏ rằng, “luôn tồn tại những vùng xám trong đạo đức.”

Không phải mọi thứ đều chỉ có tốt hay xấu, trắng hay đen. Đôi khi người ta làm điều xấu vì những lý tưởng hoặc lý do chính đáng. Người cha của Chris cũng vậy, “ông làm tất cả những điều đó chỉ vì muốn nuôi nấng tôi nên người. Tôi nghĩ đó chính là nguồn cảm hứng cho câu chuyện của mình.”

Chris nói anh đặc biệt bị những vùng xám đầy phức tạp trong đạo đức con người cuốn hút. Những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất, chẳng hạn như Bố Già (The Godfather) – đó là câu chuyện về tội phạm, nhưng khán giả vẫn say mê vì họ muốn thấu hiểu lý do đằng sau những hành động đó.

“Câu chuyện của tôi cũng bắt nguồn từ chính tư duy ấy,” Chris giải thích. “Với Bầu, Cua, Tôm Cá, tác phẩm này được lấy cảm hứng từ trò chơi dân gian, đó là những thứ đã gắn liền với tuổi thơ tôi và là hình ảnh phản chiếu chân thực văn hóa Việt Nam mà tôi từng trải nghiệm. Trò chơi này cũng đại diện tuyệt vời cho vùng Bay Area, nơi tôi lớn lên, một vùng đất hội tụ các nền văn hóa đa dạng. Nếu quan sát các hình ảnh trên bàn cờ, bạn sẽ thấy sự kết hợp của đủ loại hải sản và sinh vật biển cùng hiện diện tại đó.”

Trong vùng xám của Chris, anh đặt cha mẹ của mình – những người tị nạn – vào một vùng trên bàn cờ “Bầu, Cua, Tôm Cá.” Nơi đó, họ đánh cược với một đất nước mà họ hoàn toàn không thấu hiểu và phải vật lộn để sinh tồn. “Họ không có thời gian để hoàn thiện bản thân. Họ buộc phải lao ngay vào cuộc mưu sinh, vào công việc để xây dựng cuộc sống cho thế hệ của tôi,” Chris nói.

“Cha mẹ tôi vẫn còn mang nặng những tổn thương tâm lý từ chiến tranh và gặp nhiều bất ổn trong cuộc sống.”

Suốt thời thơ ấu của anh, cha mẹ thường xuyên tranh cãi và gặp rắc rối. Chris thậm chí chẳng nhớ nổi khoảnh khắc nào cả nhà anh từng cùng ngồi ăn tối vui vẻ bên nhau.

Điện ảnh luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của Chris Yên. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Tuy nhiên, Chris nhớ, có một khoảng thời gian hiếm hoi, anh thực sự được trọn vẹn ngồi bên cạnh cha mẹ, đó là khi gia đình cùng ngồi trong phòng xem một bộ phim dài hai tiếng đồng hồ. “Chúng tôi có thể ngồi lặng yên và cùng tận hưởng thời gian đó. Từ đó tôi nhận ra rằng nghệ thuật và điện ảnh có sức mạnh kết nối các nền văn hóa. Phim ảnh đã gắn kết chúng tôi lại, giúp xoa dịu những xung đột và xóa nhòa khoảng cách thế hệ. Chính điều đó đã khơi dậy trong tôi niềm đam mê điện ảnh. Tôi khao khát được tạo ra những câu chuyện có thể mang lại sự kết nối tương tự cho mọi người, dù họ là người Việt, người da đen, người Mexico, hay bất kỳ ai khác.”

Những câu chuyện của người Việt tị nạn ở Mỹ cứ như chén cơm của Thạch Sanh, chẳng khi nào vơi. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, tạo thành những vòng tuần hoàn nhiều màu sắc. Giữa những mảng màu đó, có những người tự vươn lên từ những vùng xám để thực hiện mơ ước cho cuộc đời mình. Câu chuyện của đạo diễn Chris Yên, người thẳng thừng từ chối số tiền tài trợ $1 triệu của Hollywood để giữ đúng kịch bản gốc bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá” của mình, là một câu chuyện như thế. [đ.d.]


 

Hết nắng nóng, hàng chục triệu người Mỹ lại lo lũ lụt

Ba’o Nguoi-Viet

July 6, 2026

WASHINGTON, DC (NV) Bão lớn và nắng nóng khắc nghiệt hoành hành ở phần lớn nước Mỹ vào Lễ Độc Lập lần thứ 250 cuối tuần qua, làm hàng trăm ngàn gia đình bị cúp điện, theo CBS News hôm Thứ Hai, 6 Tháng Bảy.

Kỳ Lễ Độc Lập năm nay, hàng triệu người khắp vùng Đông Bắc hứng chịu nhiệt độ cao kỷ lục. Ở một loạt tiểu bang vùng Trung Tây, mưa dông quật ngã cây cối, làm đứt dây điện và khiến cho việc lái xe vừa khó vừa nguy hiểm.

Mây bão bao phủ bầu trời thành phố New York hôm Lễ Độc Lập, 4 Tháng Bảy. (Hình: Jeremy Weine/Getty Images)

Tính tới sáng Thứ Hai, hơn nửa triệu gia đình vẫn bị cúp điện, nhiều nhất ở Pennsylvania và Michigan, theo PowerOutage.us.

Ở khu vực thành phố New York, bão lớn ập vào cuối hôm Thứ Sáu, làm hàng trăm ngàn căn nhà bị cúp điện giữa trời nóng gay gắt.

Ở New Jersey, ít nhất 25 người chết do nắng nóng mấy ngày qua, giới chức y tế tiểu bang này loan báo.

Theo dự báo, thời tiết khắc nghiệt sẽ tiếp tục trong tuần này. Ở vùng Đông Bắc, Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS) ban bố lệnh đề phòng lũ lụt cho 34 triệu người tới cuối ngày Thứ Hai.

Mưa lớn liên tiếp ở vùng Đại Tây Dương có thể gây lũ quét ở khu vực đô thị của vùng Đông Bắc. Một số nơi, như Philadelphia, Pennsylvania, và thành phố New York, có thể mưa tới 4 inch từ Thứ Hai tới Thứ Ba.

Mưa dông lớn cũng có thể xuất hiện từ vùng Trung Đại Tây Dương tới vùng đồng bằng phía Bắc. Trong khi đó, mưa rào và mưa dông dự trù tiếp tục xuất hiện ở những tiểu bang xa nhất về phía Bắc và nhiều nơi ở vùng Great Basin do một đợt lạnh di chuyển qua khắp vùng này.

Lốc xoáy cũng có thể xảy ra rải rác ở vùng đồng bằng, nhưng mối nguy hiểm chính sẽ là gió mạnh và mưa đá. (Th.Long)


 

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Sưu tầm


 

CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

 CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Bài st cũ đăng lại

Điều khiến ta kiệt sức nhất không phải đường xa diệu vợi, mà là sự phiền muộn trong lòng.

Điều khiến ta chán chường nhất không phải con đường phía trước khấp khuỷu, mà là mất đi sự tự tin.

Điều khiến ta đau khổ nhất không phải sự bất hạnh trong cuộc sống, mà là hy vọng sụp đổ.

Điều khiến ta tuyệt vọng nhất thường không phải sự thất bại, mà là linh hồn đã chết…

Cuộc đời cho ta một đôi chân, đi đến đâu đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc đời cho ta đôi tay, cầm cái gì, buông cái gì đó là là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta cái lưỡi, nói cái gì, nói lúc nào, lời hay ý đẹp hay thô tục khó nghe, đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta một trái tim, dùng nó để yêu thương ai, đó là ta quyết định, lựa chọn, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống “tình cờ” sắp xếp ta gặp ai đó trong cuộc đời. Đối xử với họ ra sao, thân thiết hay xa lánh, đó là cũng chính ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Đấng sinh thành chỉ cho ta sự khởi đầu, còn sống ra sao chẳng phải ai khác, chính là ta quyết định.

Tâm thế nào, sẽ tạo nên sắc màu cuộc  sống thế đấy!.

Cuộc sống thế nào, sẽ tạo ra quãng thời gian hưởng thụ cuộc đời như vậy!.

Đừng đổ lỗi cho cuộc sống, cho đấng sinh thành, cho số phận… Cuộc đời ta, chính là do ta tạo ra mà thôi!

Từ fb Vu Le


 

KHÔNG SỢ LÂY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy”.

“Đức Giêsu đã gánh lấy gánh nặng tội lỗi của toàn thể nhân loại; mang nó xuống tận đáy sông Giorđan. Cử chỉ khai mạc sứ vụ của Ngài là một tiên báo thập giá!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúa Giêsu đã bước xuống dòng nước Giorđan, đứng vào hàng ngũ các tội nhân; đó là cử chỉ khai mạc sứ vụ, tiên báo thập giá. Hôm nay, Ngài chạm vào một phụ nữ băng huyết và cầm tay một bé gái vừa qua đời. Ngài là hiện thân của một Thiên Chúa ‘không sợ lây’.

Với người Do Thái, máu làm người ta ô uế; xác chết cũng làm người ta ô uế. Vì thế, người ta tránh xa; còn Chúa Giêsu thì bước tới. Bản Hy Lạp viết ekratēsen; Vulgata dịch tenuit manum eius – “Ngài nắm lấy tay nó”. Ngài cầm lấy tay một bé gái vừa chết; rồi để người phụ nữ băng huyết chạm vào mình. Ngài không sợ điều gì lây sang mình, vì Ngài biết điều lây từ Ngài sang họ mạnh hơn gấp bội. Kể từ đây, điều lây lan không còn là ô uế, nhưng là sự sống. Mỗi khi Chúa Giêsu chạm đến, sự sống bắt đầu lây lan. Nhưng không phải mọi cái chạm đều mở ra sự sống.

Đám đông hôm ấy chen lấn quanh Chúa Giêsu, nhưng chỉ một người chạm đến Ngài. “Đám đông chen lấn, đức tin chạm đến!” – Augustinô. Chúng ta không còn sợ ô uế như người Do Thái xưa, nhưng vẫn sợ nhiều điều khác lây sang mình. Có thể ở rất gần Chúa mà lòng lại rất xa; chúng ta đi lễ, đọc kinh, sinh hoạt đạo đức, nhưng trái tim lại ở một nơi khác. Chúng ta giữ cho mình “sạch”, nhưng nhiều khi cũng giữ mình xa luôn cả lòng thương xót; đang khi “lòng trắc ẩn mời gọi chúng ta bước đến nơi đang đau!” – Henri Nouwen.

Việc Chúa Giêsu ‘không sợ lây’ không phải là một hành động nhất thời, nhưng là dung mạo muôn đời của Thiên Chúa. Israel đã ngoại tình với các thần ngoại, phản bội giao ước; thế nhưng, Ngài không sợ lây sự nhơ nhớp của dân bất trung. Tình yêu của Thiên Chúa luôn mạnh hơn sự phản bội của con người. Qua ngôn sứ Hôsê, Ngài vẫn ngỏ lời: “Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu” – bài đọc một. Lòng thương xót của Thiên Chúa luôn đi tìm, đón nhận, phục hồi và tái tạo. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca mới reo lên: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!”.

Anh Chị em,

Tất cả những cử chỉ của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đều hướng về thập giá; ở đó, Ngài mang lấy tội lỗi của cả nhân loại. Cử chỉ khai mạc sứ vụ ngày nào không còn tiên báo thập giá; nhưng chính là thập giá – nơi Ngài chạm đến sự ô uế tận cùng của con người mà không hề bị ô uế khuất phục. Và từ cạnh sườn bị đâm thâu, sự sống và ơn cứu độ tuôn trào cho muôn người. Bởi thế, người môn đệ của Đức Kitô không khép mình vì sợ liên luỵ, nhưng biết chạm tới những ai đang đau khổ, vì chỉ tình yêu dám chạm tới mới làm cho sự sống tiếp tục lây lan. “Điều gì không được đón nhận thì không được cứu độ!” – Grêgôriô Nazian.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành con; biến con thành sự chữa lành cho tha nhân; và để sự sống ấy cứ lây lan từ người này sang người khác, cho đến khi cả thế giới được chữa lành!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 9,18-26

18 Khi ấy, Đức Giê-su còn đang nói với các môn đệ ông Gio-an, thì bỗng một vị thủ lãnh đến gần bái lạy Người và nói : “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.” 19 Đức Giê-su đứng dậy đi theo ông ấy, và các môn đệ cũng đi với Người.

20 Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo choàng của Người, 21 vì bà nghĩ bụng : “Tôi chỉ cần sờ được vào áo choàng của Người thôi là sẽ được cứu chữa !” 22 Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói : “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.” Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa.

23 Đức Giê-su đến nhà viên thủ lãnh ; thấy phường kèn và đám đông ồn ào. 24 Người nói : “Lui ra ! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” Nhưng họ chế nhạo Người. 25 Khi đám đông bị đuổi ra rồi, thì Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy. 26 Và tin ấy đồn ra khắp cả vùng.


 

Vụ cựu cán bộ thuế bị bắn chết: Đắk Lắk phạt vạ hơn chục người đưa tin

Ba’o Nguoi-Viet

July 5, 2026 

ĐẮK LẮK, Việt Nam (NV) – Ít nhất hơn chục người bị Công An Đắk Lắk triệu tập, phạt vạ với cáo buộc “đưa tin sai sự thật” về vụ một cựu cán bộ thuế chết do bị bắn năm phát đạn vào đầu ở phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Theo báo Dân Việt hôm 5 Tháng Bảy, có 13 chủ danh khoản Facebook và TikTok phải lên đồn do bị công an quy chụp về hành vi “đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin sai sự thật” liên quan vụ án mạng nêu trên.

Trang Facebook Viện Kiểm Sát Nhân Dân Khu Vực 7-Đắk Lắk đăng lại bản tin giễu nhại của Facebooker Hoàng Dũng về việc bắt giữ nghi can là chính ông ta. (Hình: Chụp qua màn hình)

Tất cả các trường hợp này đều phải thừa nhận mình “thiếu hiểu biết, làm theo tâm lý đám đông nên đăng tải, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng” và “tự nguyện gỡ bỏ bài viết, bình luận vi phạm, viết cam kết không tái phạm.”

Công An Đắk Lắk đe dọa củng cố hồ sơ để xử lý nghiêm đối với một số người mà họ cho rằng “đăng bài trên mạng xã hội với mục đích chống phá.”

Bản tin không dám làm rõ chi tiết 13 người nêu trên đã đăng tải những gì trên trang cá nhân.

Tuy vậy, không khó để nhận ra đây là những người chia sẻ bản tin giễu nhại của Facebooker Hoàng Dũng về việc bắt giữ nghi can là chính ông ta.

Ông Hoàng Dũng, hiện đang ở Mỹ, đăng hình mình cởi trần, hai tay bị cột bằng dây thừng, nhìn thẳng vào ống kính cùng với chú thích: “Nghi phạm mặc áo Grab nổ súng giết ông Hải [Hứa Hồng Hải, 47 tuổi, ở xã Ea Knốp, cựu cán bộ thuế], xác định đã tính toán đường tẩu thoát. Tuy nhiên, sau 72 giờ lẩn trốn, y đã bị bắt giữ.”

Bài đăng của ông Hoàng Dũng chế giễu rằng ông Mai Hoàng, giám đốc Công An TP.HCM chỉ đạo 3,000 công an truy bắt nghi can và “rút kinh nghiệm” từ vụ bắt hai sát thủ người Samoa hồi tháng trước.

Facebooker này cũng chế lời ông Mai Hoàng cho biết: “Tổng chiều dài biên giới trên bộ của Việt Nam là 4,600 cây số, chúng tôi huy động 3,000 quân, vị chi mỗi đồng chí đảm trách 1.5 cây số. Chạy đâu cho thoát!”

Bài đăng vừa gợi lại vụ bắt hai sát thủ người Samoa và vụ tấn công võ trang ở làng Đồng Tâm, Hà Nội, hồi đầu năm 2020.

Tuy bài đăng của ông Hoàng Dũng có chủ đích để chế giễu ông Mai Hoàng và Công An Đắk Lắk sau ba ngày vẫn chưa bắt được nghi can, nhưng nhiều người tưởng là thật, nên chia sẻ bài về trang cá nhân để tâng bốc “chiến tích tài tình của công an.”

Ông ĐĐB (phải), ở xã Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, bị triệu tập vì đưa tin vụ cựu cán bộ thuế bị bắn chết. (Hình: Công An Đắk Lắk)

Đáng nói, trong số đó có cả trang Facebook Viện Kiểm Sát Nhân Dân Khu Vực 7-Đắk Lắk, với bài đăng hình ông Hoàng Dũng và chú thích: “Đã bắt được đối tượng nguy hiểm.”

Trong vụ nổ súng xảy ra vào lúc 7 giờ tối 2 Tháng Bảy, ông Hứa Hồng Hải, đang ngồi trên vỉa hè trước một quán cà phê ở đường Trần Nhật Duật, phường Buôn Ma Thuột thì một nam thanh niên, mặc áo Grab, chạy xe gắn máy màu trắng và đỏ tiến đến gần.

Nghi can bước xuống xe, đi bộ tiến đến gần ông Hải, rút súng bắn năm phát vào đầu nạn nhân khiến ông này chết tại chỗ. Thời điểm đó, ông Hải đang ngồi cùng một phụ nữ mặc áo đen.

Sau khi nổ súng, nghi can bình thản quay lại lấy xe gắn máy bỏ trốn tại hiện trường trong lúc người phụ nữ hoảng loạn.

Do không lần được tung tích sát thủ, Công An Đắk Lắk kêu gọi toàn dân truy bắt nghi can và đe dọa “xử lý hình sự” đối với những ai tiếp tay cho người này bỏ trốn. (N.H.K)


 

Đó không phải kỹ năng. Đó là lòng dũng cảm. Truyen ngan HAY

Annie Mỹ AnhSự Thật Lề Đường (STLĐ)

 Ngày 21 tháng 8 năm 2015, chuyến tàu cao tốc Thalys chở 554 hành khách đang chạy từ Amsterdam đến Paris thì một người đàn ông bước ra từ nhà vệ sinh trong tình trạng cởi trần, mang theo súng trường tấn công, súng ngắn, dao rọc giấy và 270 viên đạn.

Con tàu đang lao đi với tốc độ gần 320 km mỗi giờ. Tất cả các cửa đều đóng kín. Không ai có thể chạy trốn.

Một hành khách người Pháp là người đầu tiên lao vào ngăn cản tên tấn công và ngay lập tức bị bắn xuyên qua cổ.

Chỉ vài giây sau, một thanh niên Mỹ 23 tuổi tên Spencer Stone, khi đó còn đang ngái ngủ trên ghế, bật dậy và chạy thẳng về phía kẻ có súng.

Stone không phải một khách du lịch bình thường. Anh là quân nhân của Không quân Hoa Kỳ, được đào tạo như một nhân viên quân y. Anh đang du lịch châu Âu cùng hai người bạn thân từ thuở nhỏ ở Sacramento là Alek Skarlatos, một quân nhân Vệ binh Quốc gia bang Oregon vừa trở về từ Afghanistan, và Anthony Sadler, một sinh viên đại học. Không ai trong số họ ngờ rằng chỉ ít giây nữa họ sẽ phải đối mặt với thử thách sinh tử.

Mọi chuyện diễn ra trong tích tắc.

Một hành khách người Pháp đã cố khống chế tên tấn công nhưng bị hất văng. Sau đó, Mark Moogalian, một giáo sư người Pháp gốc Mỹ 51 tuổi, đã giằng được khẩu súng trường khỏi tay hắn. Khi ông quay lại che chắn cho vợ mình, tên tấn công rút súng ngắn và bắn ông từ phía sau. Viên đạn xuyên qua phổi rồi thoát ra ở cổ. Moogalian gục xuống và giả chết.

Đó là lúc Spencer Stone lao tới.

Không một chút do dự, anh xông thẳng vào kẻ khủng bố. Alek Skarlatos lập tức theo sau. Anthony Sadler cũng tham gia. Rồi đến Chris Norman, một doanh nhân người Anh 62 tuổi chưa từng gặp họ trước đó.

Bản năng của con người là bỏ chạy khi đối mặt với hiểm nguy chết người.

Nhưng bốn người đàn ông ấy lại chạy thẳng về phía nó.

Stone là người tiếp cận đầu tiên. Anh khóa cổ tên tấn công và quật hắn xuống sàn tàu. Trong khoảng 90 giây tiếp theo, một cuộc vật lộn dữ dội diễn ra trong lối đi hẹp.

Tên tấn công rút dao rọc giấy và chém Stone một nhát sâu ở cổ, gần như cắt lìa ngón tay cái của anh.

Stone vẫn không buông tay.

Bốn người đàn ông cuối cùng đã khống chế được tên tấn công, đánh hắn bất tỉnh và trói lại trước khi hắn có thể tiếp cận hàng trăm hành khách còn lại.

Nhưng điều phi thường nhất vẫn còn ở phía sau.

Chỉ cách đó vài mét, Mark Moogalian, người duy nhất bị bắn, đang nằm trên sàn trong vũng máu, còn vợ ông liên tục kêu cứu.

Dù chính mình cũng bị thương rất nặng, Spencer Stone vẫn bò đến bên ông.

Một tay giữ chặt vết thương ở cổ của mình, tay còn lại thực hiện các thao tác sơ cứu cho Moogalian. Với kỹ năng của một quân y, anh đã giữ cho ông sống sót cho đến khi đoàn tàu dừng khẩn cấp và các nhân viên y tế đến nơi.

Các bác sĩ sau này cho biết vết thương ở cổ của Stone chỉ lệch vài milimét nữa là có thể cướp đi mạng sống của anh.

Cả hai người đều sống sót.

Khi tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, câu hỏi đầu tiên Spencer Stone hỏi không phải là tình trạng của bản thân.

Anh chỉ hỏi:

“Có ai khác bị thương không?”

Câu trả lời là không.

Không còn ai thiệt mạng.

Ba ngày sau, Tổng thống Pháp François Hollande đã trao cho Spencer Stone, Alek Skarlatos, Anthony Sadler và Chris Norman Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, phần thưởng cao quý nhất của nước Pháp.

Sau đó, Tổng thống Barack Obama cũng đón tiếp họ tại Nhà Trắng.

Dù được cả thế giới ca ngợi, Spencer Stone vẫn luôn nói rằng anh chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng sẽ làm.

Có lẽ chỉ có một điều trong câu nói ấy là không đúng.

Các nghiên cứu về hành vi con người trong những tình huống bạo lực cho thấy phần lớn mọi người sẽ đứng sững lại, bỏ chạy hoặc tìm nơi ẩn nấp.

Việc lao thẳng vào một kẻ cầm súng chỉ với hai bàn tay không không phải điều mà ai cũng làm được.

Đó là điều chỉ rất ít người có đủ can đảm để lựa chọn.

Quá trình huấn luyện quân đội giúp Stone biết cách chiến đấu, biết cách xử lý tình huống và cứu chữa người bị thương.

Nhưng nó không thể giải thích vì sao anh lại tự nguyện lao vào nơi gần như chắc chắn sẽ mất mạng.

Đó không phải kỹ năng.

Đó là lòng dũng cảm.

Có lẽ cách ngắn gọn nhất để hiểu những gì Spencer Stone đã làm là thế này:

Người đàn ông chấm dứt vụ tấn công cũng chính là người đã cứu sống nạn nhân duy nhất bị bắn.

Anh vừa ngăn chặn thảm sát, vừa cứu một mạng người, trong khi bản thân cũng đang bị thương nghiêm trọng.

Việc 554 hành khách đều có thể trở về nhà ngày hôm đó là nhờ một vài con người đã chấp nhận đối mặt với cái chết để bảo vệ những người xa lạ.

Món quà lớn nhất mà họ dành cho tất cả hành khách trên chuyến tàu ấy là điều này:

Họ sẽ không bao giờ phải biết chuyện gì đáng sợ đã có thể xảy ra.

https://www.facebook.com/share/p/1bk7A2coi3/?mibextid=wwXIfr 


 

Hoa Kỳ 250 năm : Cuộc thử nghiệm vẫn chưa kết thúc (RFI)

(RFI)

Hai trăm năm mươi năm sau ngày lập quốc, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường số một thế giới nhưng cũng đứng trước những chia rẽ sâu sắc về chính trị, xã hội và vai trò quốc tế. Giữa những lo ngại về sự suy yếu của nền dân chủ và sức mạnh công nghệ chưa từng có, báo chí nhìn lại cuộc thử nghiệm mang tên nước Mỹ – một hành trình chưa bao giờ ngừng tự chất vấn và tự đổi mới. Các tuần báo cũng nhận thấy « gió đã đổi chiều » trên chiến trường Ukraina.

 05/07/2026 

Một chiếc tàu của Sở Cứu hỏa New York phun vòi rồng tại cảng New York để chào mừng sự kiện Sail250 – cuộc tập hợp các tàu buồm cỡ lớn và tàu quân sự nhằm kỷ niệm 250 năm thành lập nước Mỹ, ngày thứ Bảy 04/07/2026. (Ảnh AP/Frank Franklin II) AP Photo/Frank Franklin II – Frank Franklin II

Thụy My

Nền cộng hòa Mỹ ra đời : Ngọn hải đăng của thế giới tự do

Hôm nay đúng vào ngày Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm lập quốc, nước Mỹ là mối quan tâm chính của các báo ra cuối tuần. Le Figaro cánh hữu chạy tít trang nhất « Hoa Kỳ 250 năm : Một lễ hội dưới dấu ấn Trump ». Libération thiên tả cho rằng « Trump tước đoạt lịch sử ». Trang bìa The Economist đăng hình một chiếc bánh sinh nhật lớn mang màu cờ Mỹ, nhận định « Nước Mỹ đầy ắp nỗi âu lo, nhưng sở hữu sức mạnh phi thường ».

Ngay từ khi mới thành lập cách đây 250 năm, các nhà lập quốc Mỹ đã tin rằng nền cộng hòa của họ sẽ tỏa sáng như một tấm gương cho toàn nhân loại. Tuy nhiên đây cũng là một cuộc thử nghiệm, họ lo ngại có thể sớm sụp đổ trong hỗn loạn hoặc rơi vào ách thống trị độc tài. Đó chính là những thăng trầm xuyên suốt lịch sử độc đáo của nước Mỹ. Chế độ nô lệ và tâm lý bài ngoại, nạn tham nhũng và sự lộng hành của giới tư bản thao túng, nội chiến và các trận đại chiến thế giới – tất cả đều từng làm chao đảo nền cộng hòa, ngay cả khi nước Mỹ vươn mình trở thành ngọn hải đăng của thế giới tự do.

Vào ngày 04/07, người dân Mỹ kỷ niệm dấu mốc 250 năm thành lập đất nước. Sự trường tồn ấy đã bác bỏ những nỗi lo âu của các nhà lập quốc năm xưa. Thay vì gục ngã trước độc tài, nước Mỹ đã ba lần giải cứu thế giới khỏi ách thống trị của những kẻ bạo tàn. Sự năng động đã tạo nên nguồn năng lượng mạnh mẽ, duy trì vị thế siêu cường của nước Mỹ và trong suốt thời gian dài, Hoa Kỳ vẫn luôn đề cao các giá trị cộng hòa.

Tuy nhiên, cột mốc kỷ niệm này lại diễn ra vào một thời điểm đầy lo âu khác trong lịch sử nước Mỹ. Các giá trị đạo đức đang bị đe dọa và người ta nói về khả năng suy tàn, đất nước chia rẽ sâu sắc. Nước Mỹ đang phá bỏ trật tự thế giới mà chính họ đã thiết lập sau khi đánh bại chủ nghĩa phát xít vào năm 1945.

Khi « giấc mơ Mỹ » phủ bóng âu lo

Nhiều người Mỹ ngày nay đang chia sẻ những nỗi lo sợ giống như các nhà lập quốc thuở nào. Họ lo ngại rằng cơ chế phân quyền đang dần biến thành một hệ thống mà Nhà Trắng thâu tóm mọi quyền lực. Quốc hội, cột trụ của chính phủ đang chia rẽ đảng phái gay gắt, « phe ta » luôn đúng còn « phe bên kia » luôn xấu. Tối cao Pháp viện cũng đang góp phần gia tăng quyền lực cho nhánh hành pháp.

Là quốc gia của những người nhập cư, Hoa Kỳ luôn coi di dân luôn đổ xô vào là nguồn sinh lực và là minh chứng cho « giấc mơ Mỹ ». Trung Quốc cũng có « giấc mơ Trung Hoa », nhưng người nước ngoài lại bị gạt ra ngoài lề. Ngược lại, bất kỳ ai, dù thuộc chủng tộc hay tôn giáo nào, cũng có thể trở thành người Mỹ, trở nên thành đạt nhờ nỗ lực của chính mình.

Tuy nhiên, giấc mơ Mỹ đang dần trở nên u ám. Một bộ phận trong phong trào MAGA muốn chấm dứt luôn nhập cư hợp pháp chứ không chỉ di dân bất hợp pháp. Năm nay, con số này có thể bằng không. Khi tỉ lệ người Mỹ tự nhận là « người da trắng » giảm xuống gần mức 50 %, một số người cánh hữu muốn dành quy chế đặc biệt cho những « người Mỹ gốc » có tổ tiên đã sinh sống qua nhiều thế hệ. Đây là sự quay lại rất đáng tiếc của nạn phân biệt chủng tộc.

Trên trường quốc tế, nước Mỹ cũng đang quay lưng lại với các giá trị của chính mình. Donald Trump đang muốn đập tan các định chế và liên minh mà thế hệ hậu chiến đã thiết lập để bảo vệ thế giới khỏi ách chuyên chế. Nước Mỹ đang hành xử, giống như bất kỳ quốc gia nào khác mải mê theo đuổi sự giàu có và quyền lực. Tự do và dân chủ cho người nước ngoài không còn được quan tâm. Thương mại từng là hệ thống mang lại lợi ích chung, nay đã trở thành công cụ để ép buộc đối phương nhượng bộ. Những giá trị chung từng gắn kết nước Mỹ với các đồng minh, thì nay đồng minh lại bị coi là những kẻ lệ thuộc.

Đừng vội viết cáo phó cho nước Mỹ

Nhiều người kết luận rằng nước Mỹ đang suy tàn, nhưng theo The Economist đó là sai lầm nghiêm trọng. Sức mạnh của nước Mỹ vẫn vô cùng to lớn, và thậm chí có thể sẽ tăng trưởng mạnh mẽ đến mức khó có thể hình dung nổi. Các công ty trí thông minh nhân tạo (AI) của Mỹ đã nhanh chóng huy động hàng trăm tỉ đô la để tài trợ cho cuộc đua giành vị thế dẫn đầu về công nghệ Mỹ cùng hệ sinh thái AI của mình có thể sẽ nắm quyền thống trị tuyệt đối, it nhất là trong một khoảng thời gian. Trong khi đó, các đồng minh của Mỹ đối mặt với một lựa chọn nghiệt ngã : hoặc phục tùng Washington, hoặc đứng về phía Bắc Kinh độc tài.

Song song với việc Mỹ tích lũy quyền lực to lớn, cuộc thử nghiệm vĩ đại này cũng có nguy cơ dẫn đến thảm họa. Ông Trump đã làm vẩn đục đời sống công chúng bằng thái độ hoài nghi đầy ác ý, luôn nhìn nhận mặt xấu xa nhất ở mọi người. Quyền lực hành pháp có thể trở nên quá mức kiểm soát. Sự tập trung của cải và quyền lực chính trị có thể nuôi dưỡng một tầng lớp tinh hoa trục lợi. Các chính trị gia có thể sẽ bất lực trước những biến động kinh tế và xã hội đang chực chờ phía trước.

Hãy hình dung viễn cảnh Mỹ vĩnh viễn từ bỏ sứ mệnh xúc tiến tự do. Các quốc gia khác sẽ theo chân, những nhà lãnh đạo đầy tham vọng được tiếp thêm sức mạnh để xâm lược hoặc cưỡng bức các nước láng giềng. Thế giới sẽ rơi vào hỗn loạn. Tuy nhiên, như các nhà lập quốc từng khẳng định, tương lai đen tối đó khó có khả năng xảy ra. Những biến cố từng kìm hãm nước Mỹ như Trân Châu Cảng, sự kiện Sputnik hay vụ Watergate lại chính là động lực thúc đẩy quốc gia này vực dậy và bứt phá mạnh mẽ hơn. The Economist tin rằng bằng cách này hay cách khác, sự thay đổi chắc chắn sẽ đến với nước Mỹ.

Putin : Người tù của chính cuộc chiến mình phát động

Courrier International dùng màu cờ Nga làm nền trang bìa, chạy tít « Putin, tù nhân trong cuộc chiến của chính mình ». Tại Nga, những dấu hiệu bất bình trước chính quyền ngày càng chồng chất, khế ước giữa Kremlin và xã hội có vẻ đã lỗi thời. Hình ảnh của tổng thống Nga đã xấu đi hẳn, theo nhà chính trị học Nga lưu vong Alexandre Baounov trên tờ Meduza, được Courrier International trích dịch.

Tác giả nhận thấy ba thay đổi. Trước hết là thái độ đối với tổng thống, thứ hai là sự lạc quan về kinh tế đã bay biến, và cuối cùng người ta ý thức được rằng có thể không thắng nổi. Ngưỡng mang tính biểu tượng 1.418 ngày đã vượt qua – rất tai hại cho Kremlin. Khi coi đối thủ là phát-xít mới, đánh đồng những lính đánh thuê với các chiến sĩ Hồng quân, chế độ đã tự rơi vào chiếc bẫy của việc so sánh với thời Đệ nhị Thế chiến.

Bộ máy Nhà nước, truyền thông, chính phủ, Quốc hội, Giáo hội, FSB, tất cả theo đuổi cùng một mục đích là che giấu sai lầm mà Putin đã phạm phải năm 2022. Nhưng sức ảnh hưởng của Putin đang tan dần. Tổng thống Nga vẫn nắm quyền tối cao, nhưng phép mầu đã biến mất. Bộ mặt thật của nhà lãnh đạo đang dần lộ diện : Đó là một ông già còng lưng, bồn chồn, khá yếu đuối, hoàn toàn khác với Putin thời trước chiến tranh ngực trần cỡi trên lưng con hắc mã. Những phát biểu đầy đe dọa nay rối rắm, dài dòng. Vladimir Putin không còn là siêu anh hùng, ông ta sợ hãi drone và internet cũng như những người được cho là bảo vệ mình, giới tinh hoa không còn tin tưởng vào tổng thống.

Khi chiến tranh gõ cửa từng gia đình Nga

Khi xua quân xâm lược Ukraina, khế ước xã hội trước đây đã bị phá vỡ, thay thế bằng một khế ước mới : Đừng chống chiến tranh, sẽ có được cách sống gần như trước. Nhưng mùa xuân 2026, chế độ đã vi phạm tất cả các điều khoản. Khi áp đặt ứng dụng Max để liên lạc, xâm nhập giới hạn cuối cùng của cuộc sống riêng tư tại một quốc gia phi tự do. Nhà nước đã khởi động một « chiến dịch quân sự đặc biệt » trong nội bộ. Thu nhập cao nhờ chiến tranh không còn nữa, năm 2026 khởi đầu bằng việc cắt giảm ngân sách đầu tiên kể từ một thập niên. Những cột khói bốc lên trên bầu trời nước Nga tạo ra hình ảnh một sự trừng phạt, và người chịu trách nhiệm về sự thay đổi tâm trạng ở Nga không ai khác hơn là quân đội Ukraina. Kremlin giờ đây như một chiếc xe đang cố thoát khỏi vũng lầy.

The Atlantic nhấn mạnh, giờ đây drone Ukraina đêm nào cũng tấn công vào các mục tiêu kỹ nghệ Nga, làm tê liệt các nhà máy lọc dầu, hậu càn và vận chuyển hàng không. Courrier International nhận xét « Nga đối mặt với một cuộc khủng hoảng xăng dầu ». Tờ báo độc lập Novaia Gazetta ghi nhận, một quốc gia được mệnh danh là « trạm xăng » nay lại đang thiếu xăng, đề tài « khủng hoảng nhiên liệu » đang là trung tâm các trang viết trên báo chí Nga hiện nay.

Việc bán phân phối theo định mức đã diễn ra khắp nơi, đến tận vùng Viễn Đông. Vận chuyển đường bộ rối loạn, một số công ty hàng không van nài bộ Năng lượng giúp đỡ. Tờ Nezavissimaia Gazeta cho biết chính quyền sẵn sàng trợ giá xăng nhập từ Ấn Độ và Kazakhstan. Những dấu hiện rạn nứt đầu tiên đã xuất hiện ở Kremlin. Bloomberg cho biết đầu tháng Sáu, nhiều quan chức cao cấp đã cảnh báo Vladimir Putin về cái giá của chiến tranh. Bộ Tài chánh và Ngân hàng Trung ương đánh giá mức độ chi quốc phòng hiện nay có thể khiến thâm hụt ngân sách càng lớn hơn một cách nguy hiểm.

Từ « điều không tưởng » đến viễn cảnh chiến thắng của Ukraina

Triết gia kiêm đạo diễn Pháp Bernard-Henri Lévy trên Le Point nhắc nhở rằng từ bốn năm qua ông luôn khẳng định Ukraina sẽ chiến thắng, vì chỉ có cuộc kháng chiến kiên cường của những người công dân bình thường nước này mới thắng được sự hiếu chiến điên rồ của Vladimir Putin. Và phải chăng hồi kết đang đến ?

Ông đã viết các bài xã luận, đã nói trong những bộ phim, phát biểu trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, trước Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội Pháp và khắp các nơi. Ukraina sẽ thắng, tất nhiên là cần có thời gian, có những nỗi đau phải gánh chịu, những thành phố bị hủy diệt, những cuộc đời tan vỡ, những cái chết. Nhưng cuối cùng đất nước của Volodymyr Zelensky sẽ ca khúc khải hoàn trước những kẻ chỉ muốn xóa sổ họ khỏi bản đồ và trong lịch sử. Nhưng người ta nhìn ông như một kẻ mơ mộng hoặc tâm thần. Những quân nhân, các nhà chiến lược thậm chí còn không coi đó là một khả năng.

Bernard-Henri Lévy đã chứng kiến nơi tiền tuyến sự gan dạ, bất khuất của những chiến binh ở những thành phố đã chết như Chasiv Yar hay Toretsk, đối mặt với đội quân lính đánh thuê hay những kẻ đáng thương bị quăng vào lò xay thịt. Khả năng sáng tạo phi thường của người Ukraina đã thuyết phục ông. Trong bốn năm qua, Bernard-Henri Lévy đã thấy dân tộc của các thi sĩ và những người đam mê công nghệ lắp ráp các drone đầu tiên với một máy in 3D, nơi một chiếc lều nằm sâu trong rừng Klichtchiivka. Rồi trong các xưởng ở Kharkiv, họ mổ xẻ các drone của Nga hay Trung Quốc để tìm ra các bí mật. Và ngày nay mỗi năm có hàng triệu con chim sắt tinh vi made in Ukraina.

Trong những đêm dài ở Bakhmut, Kupiansk, Sumy, ông nghiền ngẫm những tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh trong quá khứ. Ông ghi hình, chia sẻ một phần cuộc sống những chiến binh Ukraina. Dù kiệt sức, dù bị đồng minh thờ ơ, dù có những người ngã xuống, họ vẫn trụ lại.

Liệu hồi kết của Putin đã bắt đầu ?

Giờ đây vẫn chưa ai biết được còn bao nhiêu tháng nữa, bao nhiêu thành phố phải giành từng con đường một, bao nhiêu gia đình phải chạy loạn, bao nhiêu người trẻ phải hy sinh mạng sống. Cuộc tàn sát sẽ còn tiếp diễn trước khi người lính Nga cuối cùng rời khỏi đất Ukraina. Nhưng chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới, giấc mơ tưởng chừng hão huyền đã trở thành hiện thực.

Ở mặt trận phía nam, tại căn cứ Otchakiv nơi Nadia chỉ huy, mỗi đêm cô đều dạy con trai đang ở miền bắc học qua FaceTime, một đơn vị tinh nhuệ vừa cắm cờ lên bán đảo Kinbourn, chốt chặn cửa ngõ sông Dniepr. Tại mặt trận Zaporijia, lực lượng Ukraina tiến từng mét một về hướng Melitopol. Ở Crimée, các phi trường bị oanh kích, kho xăng bị đốt cháy, các đường tiếp tế bị đe dọa. Bán đảo được Kremlin coi là hàng không mẫu hạm trên Hắc Hải đã trở thành pháo đài bị vây hãm. Và ở phía đông, nhà thơ nữ Oksana Rubaniak nay là chiến binh điều khiển drone đang quyết liệt bảo vệ Pokrovsk.

Kostiantynivka, Lyman, Chasiv Yar, những thành phố bị tàn phá mà Kremlin nói rằng đã chiếm được, vẫn đứng vững. Rốt cuộc quân đội Ukraina nhỏ bé đã trở thành quân đội mạnh nhất châu Âu, từ những căn cứ bí mật tấn công được những địa điểm quân sự nhạy cảm nhất sâu trong lãnh thổ Nga. Quân đội Sa hoàng năm 1917 bị kiệt lực sau ba năm thất bại đã phải đầu hàng dù tình trạng chưa đến nỗi như vậy. Chế độ Xô Viết, suy yếu bởi cuộc chiến không hồi kết ở Afghanistan, cũng không trụ được lâu. Điều gì sẽ xảy ra nếu Vladimir Putin đã sức cùng lực kiệt ?

Việt Nam : Khi tiếng rao nhường chỗ cho những cú nhấp màn hình

Tại một đất nước từ lâu không còn chiến tranh là Việt Nam, Mekong Riview ở Úc được Courrier International dịch lại, lấy làm tiếc cho « Những tiếng rao của người bán hàng trên đường phố đang dần lịm tắt ». Trước đây, một ngày mới ở Hà Nội được bắt đầu với những tiếng rao « Xôi xéo đây ! », « Bánh giò nóng đây ! », thành phố thức giấc cùng với những chiếc xe hàng rong trên đường phố. Ở Sài Gòn là « Bánh mì đây », « Bắp luộc nóng đây ».

Nhưng những người bán hàng rong nay có đối thủ mới là các siêu thị mini mở 24/24, các ứng dụng đặt hàng. Quảng cáo trên TikTok thay cho âm thanh đường phố. Để mua hàng, những cuộc đối thoại giữa người với người dần được thay bằng những cú chạm trên màn hình điện thoại. Có không nhiều thành phố như Hà Nội và Sài Gòn, hoạt động hết sức đa dạng với những người bán hàng ăn, mua ve chai, sửa chữa…Nhưng những tiếng rao đang tắt dần.