Gói Đường, Gói Muối, Gói Cả Một Đời Chờ Đợi

Liem Pham

 Có những người sau năm 1975 cũng mang án tù, nhưng không có tên trong bất cứ danh sách nào.

Đó là những người vợ. Ngày nhận được mảnh giấy báo chồng đang bị “học tập cải tạo” ngoài Bắc, chị ngồi rất lâu. Không phải vì không biết đọc. Mà vì không biết bắt đầu từ đâu.

Thăm nuôi.

Hai chữ nghe nhẹ như gió, nhưng để đi được một chuyến là cả một hành trình đầy nước mắt.

 Chị bán chiếc nhẫn cưới. Cầm cố chiếc xe đạp. Vay gạo hàng xóm. Gom từng đồng bạc lẻ. Mỗi đồng đều đổi bằng những ngày nhịn ăn của mẹ con ở nhà.

Rồi bắt đầu học:

Học cách gói đường vào túi ni lông nhỏ, buộc thật chặt để khỏi chảy khi gặp mưa.

Học cách chia muối thành từng gói bằng hai ngón tay, vì nghe biết trong trại, một nhúm muối cũng quý hơn vàng.

Học cách gói thuốc lào thật kín để khỏi mất mùi. Với người tù, vài hơi thuốc đôi khi là chút bình yên hiếm hoi sau một ngày lao động kiệt sức.

Học cách khâu tiền vào lai áo. Học cách giấu vài viên thuốc cảm trong ruột bánh. Học cách trả lời cán bộ sao cho vừa đủ, không thừa một câu, không thiếu một chữ.

Không ai dạy chị. Cuộc đời dạy.

 Những người đàn bà gặp nhau ở ga Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng… nhìn chiếc bao tải trên vai là biết cùng chung một số phận. Họ truyền cho nhau từng kinh nghiệm nhỏ:

“Đừng đựng nước mắm bằng chai thủy tinh.”

“Đừng để đường chung với cá khô.”

“Đến trại nhớ cúi đầu, đừng cãi.”

Toàn những bài học không có trong bất kỳ cuốn sách nào.

 Rồi chuyến tàu lắc lư nhiều ngày đêm. Toa tàu đông nghẹt. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi khoai luộc hòa với tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Người đàn bà ôm chặt chiếc giỏ như ôm cả sinh mạng của chồng mình.

Bởi trong đó không chỉ có vài ký gạo, ít đường, ít muối. Mà còn có tình nghĩa vợ chồng.

Có niềm hy vọng.

Có lời nhắn của con: “Ba nhớ về.”

 Đến nơi, sau bao lần kiểm tra, cân đo, xét hỏi, nhiều món bị giữ lại. Có thứ bị tịch thu. Có thứ bị cắt xén. Chị chỉ biết im lặng.

 Rồi cũng đến lúc được gặp.

Chỉ vài chục phút.

Qua hàng rào.

Qua ánh mắt của cán bộ.

Qua khoảng cách tưởng gần mà xa như cả một đời người.

Chị cố cười.

Anh cũng cố cười.

Không ai dám khóc.

Bởi người ở lại sợ người đi thêm đau lòng. Người trong trại lại sợ vợ về sẽ khóc suốt dọc đường.

 Khi chuyến tàu quay về Nam, chiếc giỏ đã nhẹ hơn.

Nhưng trái tim người vợ lại nặng hơn.

Lại tiếp tục những tháng ngày dành dụm.

Lại vá áo thuê.

Lại bán từng lon gạo.

Lại gói đường.

Lại gói muối.

Lại gói thuốc lào.

Để chờ một chuyến thăm nuôi khác, không biết sẽ đến sau sáu tháng, một năm hay lâu hơn.

 Lịch sử thường nhắc đến những năm tháng tù cải tạo với những người đàn ông sau hàng rào kẽm gai. Nhưng lịch sử cũng nên dành một trang cho những người phụ nữ lặng lẽ đứng ngoài cánh cổng ấy.

Không được tuyên dương.

Nhưng bằng đôi vai gầy, họ đã gánh cả một gia đình, nuôi con khôn lớn và giữ cho người chồng trong trại còn niềm tin để sống.

Có lẽ, trong ký ức của nhiều cựu tù cải tạo, thứ ngọt nhất không phải là gói đường.

Mà là biết rằng, ở quê nhà, vẫn có một người vợ đang cặm cụi buộc từng nút ni lông, gói ghém cả tình yêu và hy vọng vào chuyến tàu ra Bắc.

Phạm Sơn Liêm


 

Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) – Cha Vương

Chúc một ngày bình yên trong Chúa, mời bạn noi gương các vị Thánh trong lịch phụng vụ để sống mạnh mẽ trong đức tin của mình nhé.

Cha Vương

Thư 2: 20/7/2026.     (n14-25)

Bạn có biết rằng có một thổ dân Hoa Kỳ được gọi là “Đóa huệ của bộ lạc Mohawks” – một cô gái thổ dân được rửa tội để làm Kitô hữu vào ngày lễ Phục Sinh và rước lễ lần đầu vào ngày lễ Giáng Sinh?

    Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) là trẻ mồ côi và lớn lên trong bộ tộc Mohawks, sống đời sống thổ dân gương mẫu. Nhưng khi 20 tuổi, cô gặp một linh mục truyền giáo nói với cô về Kitô giáo, và Kateri xin được rửa tội. Sau đó, các thổ dân khác tức giận với cô về điều cô đã làm và đối xử với cô như người ngoài bộ tộc.

    Lo sợ, Kateri quyết định rời bộ lạc Mohawks và cố tìm một làng thổ dân Công giáo mà cô đã biết đến. Cô quyết định ra đi một mình, băng qua vùng hoang dã Canada hai ngàn cây số để tìm ra ngôi làng! Cô sống bình yên ở đấy và là một giáo dân tốt, thánh thiện suốt cuộc đời còn lại. Vào năm 1980, cô được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong “chân phước Kateri”. 

Ngày 21/10/2012, Đức Bênêdictô XVI phong thánh cho Kateri như là nữ thánh người da đỏ đầu tiên.

    Bạn có sợ băng qua vùng hoang dã hai ngàn cây số một mình? Hầu hết mọi người đều sợ và có lẽ Kateri cũng thế, nhưng với ơn Chúa giúp sức, cô đã làm được điều mình phải làm. Lần tới, khi bạn phải làm điều gì đó mà bạn sợ thì hãy nghĩ đến Thánh Kateri, xin ngài cầu cùng Chúa giúp– và rồi bạn hãy làm điều bạn phải làm!   

    Thánh nhân nói: “Tôi không cô đơn vì tôi đã tận hiến cho Ðức Giêsu. Người là tình yêu duy nhất của tôi. Tôi không sợ tình trạng bơ vơ nghèo nàn vì không lấy chồng. Tất cả những gì tôi cần là một chút thực phẩm và một vài quần áo. Với công việc tay tôi làm ra, tôi sẽ có những gì tôi cần, và những gì còn dư tôi sẽ cho người bà con và người nghèo. Nếu tôi bị bệnh và không thể làm việc được, tôi sẽ trở nên giống Chúa trên thập giá. Người sẽ thương xót tôi và giúp đỡ tôi. Tôi biết chắc như thế.”

Xin Thánh Kateri Tekakwitha, cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

**************

CÓ CHÚA CÙNG ĐI – Nguyễn Hồng Ân

Con Đi Tù Cải Tạo, Cha Mẹ Già Vẫn Đợi

Liem Pham  

Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.

Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.

Không thư.

Không tin.

Không biết còn sống hay đã chết.

Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.

Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.

Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:

“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”

Năm này qua năm khác.

Mái tóc của cha trắng thêm.

Đôi mắt của mẹ mờ đi.

Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.

Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.

Cha ít nói hơn.

Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:

“Chắc nó đói lắm…”

Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.

Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.

Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.

Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:

“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”

Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.

Không chỉ là những năm tù.

Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:

“Cha… Má… Con về rồi.”

Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.

Phạm Sơn Liêm


 

Thắng Argentina 1-0, Tây Ban Nha lần thứ hai vô địch World Cup

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

EAST RUTHERFORD, New Jersey (NV) – 16 năm trước, Tây Ban Nha lần đầu lên ngôi vô địch thế giới bằng bàn thắng duy nhất của Andres Iniesta vào lưới Hòa Lan ở hiệp phụ thứ hai thì tại World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres vào lưới Argentina đã đưa Tây Ban Nha lần thứ nhì vô địch thế giới theo đúng kịch bản mà lớp đàn anh mình thực hiện.

Nếu bốn năm trước tại Qatar, Argentina đã mở đầu trận chung kết bằng hai bàn thắng vào lưới đối thủ ngay trong hiệp một thì cả trận chung kết 2026 suốt 90 phút hai hiệp chính, Argentina không có lấy nổi một cú sút về phía cầu môn Tây Ban Nha. Phải đến khi nhận bàn thua ở phút 106 và vùng lên thì Argentina mới có cú sút đầu tiên.

Đội tuyển Tây Ban Nha nâng cao cúp vàng vô địch World Cup 2026. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Vô hiệu hóa Messi như thế nào là câu hỏi được đặt ra rất nhiều cho Tây Ban Nha trước trận chung kết. Và đúng như huấn luyện viên Luis de la Fuente lên tiếng là không thể kèm Messi nên cách tốt nhất là đừng để đội hình và lối chơi của mình bị phá vỡ bởi Messi qua việc thực hiện đúng ý đồ theo cách chơi luân chuyển trái bóng mà Tây Ban Nha thành công từ đầu giải đến giờ.

Suốt 45 phút hiệp một, Argentina gần như chỉ phòng ngự, thỉnh thoảng là những pha bóng dài phản công nhưng thủ môn Simon và hàng phòng ngự Tây Ban Nha đã không khó hóa giải.

Ngược lại thì những Yamal, Oyarzabal, Cucurella tiếp cận cầu môn Argentina nhưng những cú sút không đủ lực hoặc bị hàng thủ dày đặc Argentina đánh bật ra.

Ferran Torres (số 7), người hùng của trận đấu, ăn mừng sau khi ghi bàn thắng duy nhất cho Tây Ban Nha, hạ gục Argentina, lên ngôi vô địch thế giới lần thứ hai. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Chút lo lắng cho đương kim vô địch khi trung vệ giữ vai trò trụ cột trong hàng phòng ngự Lisandro Martinez không thể thi đấu tiếp tục từ phút 44 do chấn thương. Thay đổi bắt buộc của huấn luyện viên Lionel Scaloni đưa lão tướng 38 tuổi Otamendi vào thay chỉ là biện pháp chữa cháy.

Hiệp hai vẫn là sức ép ngày càng gia tăng của Tây Ban Nha về phía cầu môn Argentina. Olmo buộc thủ môn Martinez giật mình cản phá cú sút xa chịu phạt góc. Ferran Torres đánh đầu cận thành từ đường chuyền của Yamal nhưng vào tầm đón thủ môn Argentina.

Khung thành luôn bị đe dọa nhưng Argentina lại mất thêm trung vệ thứ hai là Romero chấn thương rời sân ở phút 70.

 

Ferran Torres (7) tung cú sút ghi bàn duy nhất đưa Tây Ban Nha lên ngôi vô địch World Cup 2026 sau 120 phút dồn ép và thi đấu trên chân trước Messi và các cầu thủ Argentina. (Hình: Jewel Samad / AFP via Getty Images)

Mất cặp trung vệ trụ cột và mới phút thứ 70 nhưng Argentina đã thay đủ năm cầu thủ nhưng vẩn chưa có cú sút cầu môn nào. Ngược lại thì Tây Ban Nha làm được tất cả trừ bàn thắng.

Đến phút 75, huấn luyện viên Luis de la Fuente tung cùng lúc “siêu dự bị” Merino và cơn lốc trái Williams vào với mong muốn giải quyết trận đấu ngay trong 90 phút.

 

Lionel Messi (10) hiếm hoi có pha đi bóng như thế. (Hình: Florencia Tan Jun/Getty Images)

Liên tiếp hai phút 76, 77, thủ môn Martinez cứu thua từ hai cú sút xa của Rodri và Cubarsi. Tây Ban Nha chơi bóng nửa sân dồn ép nhưng hàng phòng ngự Argentina dù chắp vá nhưng vẫn chống trả kiên cường.

Argentina đã khó còn khó hơn khi phút 90+3 Fernandez nhận thẻ vàng thứ hai rời sân do lỗi vào bóng ác ý với Cubarsi.

Đương kim vô địch chỉ thoát thua trong hai hiệp chính nhờ thủ môn Martinez bay người cứu thua từ cú đá phạt hiểm hóc của của Yamal ở phút 90+8.

Hai đội bước vào hiệp phụ với lợi thế 11 đánh 10 thuộc về Tây Ban Nha.

Huấn luyện viên Luis de la Fuente sử dụng hết quyền thay người để đưa những cầu thủ tấn công vào với hy vọng sẽ tìm được bàn thắng. Kiên trì tấn công và tấn công, cuối cùng thì nỗ lực của Tây Ban Nha đã được đền bù. Phút 106 từ đường chuyền sâu xuống biên trái, William đè hậu vệ Molina của Argentina đánh đầu ngược lên cho Ferran Torres trên đà băng xuống tung cú sút căng hạ gục thủ môn Martinez ghi bàn duy nhất của trận đấu.

Lamine Yamal (số 19) của Tây Ban Nha và Alexis Mac Allister (số 20) của Argentina. (Hình: Odd ANDERSEN / AFP via Getty Images)

16 năm trước cũng ở hiệp phụ thứ hai Andres Iniesta ghi bàn duy nhất vào lưới Hòa Lan đưa Tây Ban Nha đoạt cúp vô địch lần đầu tiên thì chung kết World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres đã đưa Tây Ban Nha lẩn thứ nhì vô địch thế giới.

Một chức vô địch xứng đáng dành cho đội bóng chơi hay hơn và đẹp hơn. (Phú Trường) [kn]


 

Tâm lý của người bi quan, chán nản, không muốn tiếp xúc với ai cả?

Xin hỏi: Tâm lý của người bi quan, chán nản, không muốn tiếp xúc với ai cả.  Làm sao cho họ có thể lạc quan trở lại?

Gemini trả lời:

Khi một người rơi vào trạng thái bi quan, chán nản và muốn thu mình lại, không muốn tiếp xúc với ai, họ thường đang trải qua sự kiệt quệ về mặt cảm xúc hoặc có thể là dấu hiệu của trầm cảm, lo âu, hoặc khủng hoảng tâm lý.

Để giúp họ tìm lại sự lạc quan, điều quan trọng nhất là sự kiên nhẫn và tinh tế, không thể nóng vội hay ép buộc. Dưới đây là những cách bạn có thể đồng hành và hỗ trợ họ:

  1. Thay đổi cách tiếp cận (Chân thành và không phán xét)
  • Lắng nghe mà không phán xét: Khi họ chịu mở lòng, hãy lắng nghe để hiểu chứ không phải để đưa ra lời khuyên hay dạy bảo. Tránh những câu nói mang tính gạt đi cảm xúc của họ như: “Có chuyện gì đâu mà phải buồn”, “Ngoài kia nhiều người còn khổ hơn”… Thay vào đó, hãy công nhận cảm xúc của họ: “Mình hiểu giai đoạn này thực sự khó khăn với bạn”.
  • Sự hiện diện thầm lặng: Nếu họ chưa sẵn sàng nói chuyện, đừng ép buộc. Hãy cho họ biết bạn vẫn luôn ở đó khi họ cần. Đôi khi chỉ cần một tin nhắn nhắn nhủ nhắn gọn: “Khi nào thấy đỡ hơn thì nhắn mình nhé, mình luôn sẵn sàng” hoặc ngồi im lặng bên cạnh họ cũng là một sự an ủi lớn.
  1. Giúp họ kết nối lại từ những bước rất nhỏ
  • Không ép buộc tham gia đám đông: Người đang chán nản rất sợ những nơi ồn ào hoặc phải xã giao. Đừng cố kéo họ đi tiệc tùng hay gặp gỡ nhóm bạn đông người. Hãy bắt đầu bằng những cuộc gặp 1-1 ở không gian yên tĩnh.
  • Rủ làm những việc không cần nói nhiều: Bạn có thể rủ họ đi dạo công viên, đi xem phim, hoặc cùng nấu một món ăn đơn giản. Những hoạt động này giúp họ tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách tự nhiên mà không bị áp lực phải giao tiếp.
  1. Khơi dậy năng lượng tích cực một cách tự nhiên
  • Khuyến khích vận động nhẹ: Vận động giúp cơ thể giải phóng endorphin (hormone hạnh phúc). Bạn có thể rủ họ đi bộ ngắn vào buổi sáng hoặc buổi chiều. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và thiên nhiên có tác động rất tốt đến việc cải thiện tâm trạng.
  • Gợi nhắc về những điều họ từng thích: Nhắc lại một sở thích cũ, một món ăn họ từng mê, hoặc một kỷ niệm vui vẻ một cách khéo léo để kích hoạt lại những cảm xúc tích cực đã bị che lấp bởi sự bi quan.
  • Ghi nhận những nỗ lực nhỏ nhất: Khi họ chịu bước ra khỏi phòng, chịu ăn một bữa tử tế, hay mỉm cười một cái, hãy âm thầm vui mừng và khích lệ họ. Với người trầm cảm hay chán nản, mỗi việc nhỏ như vậy đều cần một nỗ lực rất lớn.
  1. Tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn nếu cần thiết

Nếu tình trạng này kéo dài quá lâu (trên 2 tuần) đi kèm với các dấu hiệu nghiêm trọng như bỏ ăn, mất ngủ triền miên, bỏ bê hoàn toàn bản thân hoặc có suy nghĩ tiêu cực về cuộc sống, đây có thể là bệnh lý về tâm lý.

Hãy khéo léo gợi ý và đồng hành cùng họ đến gặp bác sĩ tâm lý hoặc chuyên gia tham vấn để có lộ trình điều trị đúng hướng.


 

Thời Trung Cổ có thể dạy chúng ta điều gì về cách phòng tránh kiệt sức? (BBC)

(BBC)

19 tháng 7 2026

Căng thẳng và kiệt quệ về tinh thần không phải là hiện tượng mới.

Từ thời Trung Cổ, con người đã phải đối mặt với những vấn đề tương tự.

Và theo một số học giả, những lời khuyên của thời kỳ này về cách vượt qua tình trạng kiệt sức vẫn còn giá trị đáng ngạc nhiên cho đến ngày nay.

Nhà tu hành John Cassian mô tả các triệu chứng của tình trạng này gần như không thay đổi theo thời gian: mệt mỏi, tuyệt vọng, chỉ muốn rời bỏ công việc, đầu óc mơ hồ và mất tập trung.

Ông gọi đó là “một dạng rối loạn vô lý của tâm trí”, khiến nhiều người cảm thấy mình vô dụng, lười biếng và chỉ mong được ngủ để trốn tránh thực tại.

Nếu từng trải qua tình trạng kiệt sức hay trầm cảm, nhiều người ngày nay có thể nhận ra những cảm giác này và cho rằng chúng là hệ quả của cuộc sống hiện đại.

Tuy nhiên, Cassian đã viết về chúng từ thế kỷ thứ 5, và đối tượng của ông không phải các nhân viên văn phòng hay doanh nhân, mà là những tín đồ Cơ đốc giáo thời kỳ đầu kiệt quệ sau quá trình tu tập tâm linh.

Liệu những ghi chép cổ xưa đó có thể giúp giải thích tình trạng kiệt sức của con người hiện đại, thậm chí gợi ý cách vượt qua nó?

Đó là lập luận của nhà sử học Peter Jones trong cuốn sách mới Self-Help from the Middle Ages: A Journey into the Medieval Mind (Tạm dịch: Tự giúp mình thời Trung Cổ: Hành trình khám phá tư duy Trung Cổ).

Cuốn sách cho thấy cách những người mà tác giả gọi là “các linh mục trị liệu” đã hướng dẫn các giáo dân của họ vượt qua những khủng hoảng tinh thần

Vào thế kỷ thứ 5, John Cassian là một trong những nhà tư tưởng Kitô giáo đầu tiên được gọi là “linh mục trị liệu”

Nghiên cứu của Peter Jones cho thấy cảm giác kiệt sức đã xuất hiện rất phổ biến trong suốt chiều dài lịch sử.

Theo ông, việc nhận ra rằng con người ở mọi thời đại đều từng trải qua những giai đoạn u ám như vậy có thể mang lại sự an ủi cho những ai đang vật lộn với khủng hoảng tinh thần.

“Có rất nhiều điều thông thái trong thời Trung Cổ,” ông Jones nói.

Ông cho rằng, cũng giống như những năm gần đây nhiều cuốn sách khai thác triết học Khắc kỷ của thời cổ đại để giúp con người đối phó với cuộc sống hiện đại, có lẽ đã đến lúc mọi người nên tìm đến những bản thảo thời Trung Cổ để học hỏi.

Lạc giữa Siberia

Ý tưởng viết cuốn sách đến với Jones sau khi chính ông trải qua một giai đoạn khủng hoảng mà ông gọi là “mùa đông lạnh giá nhất trong cuộc đời”.

Vì một quyết định mà đến nay ông vẫn khó lý giải, Jones nhận lời làm Chủ nhiệm khoa Lịch sử tại Đại học Tyumen ở vùng Siberia (Nga).

Mùa đông ở đây khắc nghiệt đến mức chỉ sau khoảng 20 phút ở ngoài trời, ông đã mất hoàn toàn cảm giác ở hai chân.

Bên cạnh rào cản ngôn ngữ, ông còn luôn nhớ gia đình ở Dublin.

“Tôi lẽ ra phải nghiên cứu, chuẩn bị bài giảng và tiếp tục cuộc sống của mình,” ông viết.

“Nhưng tôi không thể ép bản thân làm bất cứ việc gì.”

Ngày nay, từ “sloth” [con lười] thường được hiểu là lười biếng hay chây lười.

Tuy nhiên, theo ông Jones, các tác giả thời Trung Cổ nhìn nhận trạng thái này theo cách khác: họ cho rằng đằng sau sự uể oải là một khoảng trống và nỗi đau về mặt tinh thần, chứ không đơn thuần là sự lười nhác.

Trong quá trình xây dựng khóa học về Bảy tội lỗi của con người, ông Jones nhận ra những mô tả của các tác giả Trung Cổ phản chiếu chính trải nghiệm của mình.

“Bạn sẽ thấy họ đã trải qua đúng những gì chúng ta đang trải qua,” ông nói.

“Những cảm xúc ấy chưa bao giờ thay đổi, và con người ở mọi thời đại đều phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng tương tự.”

“Acedia”, hay sự lười biếng, là một trong Bảy Tội Lỗi Chết Người – khuôn khổ thời trung cổ để hiểu về bản chất con người

Theo Peter Jones, Bảy tội lỗi của con người không xuất hiện trong Kinh Thánh mà được hình thành bởi các nhà tư tưởng Cơ đốc giáo thời kỳ đầu, trong đó có John Cassian.

Sau này, Giáo hoàng Gregory I (Gregory Đại đế) đã hệ thống hóa và hoàn thiện khái niệm này.

Trong cuốn sách của mình, ông Jones viết rằng Gregory cho rằng Bảy tội lỗi của con người là “công cụ hoàn hảo để lập bản đồ những rối loạn của tâm trí”.

Hệ thống này giúp con người nhận diện và sắp xếp các suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực, gồm bảy trạng thái: kiêu ngạo, đố kỵ, giận dữ, lười nhác, tham lam, háu ăn và dục vọng.

Đến thế kỷ 13, nhiều cẩm nang đã được biên soạn để hướng dẫn các linh mục cách giúp tín đồ vượt qua những vấn đề này trong quá trình xưng tội.

“Khi đọc những tài liệu ấy, bạn sẽ thấy chúng khá giống với liệu pháp tâm lý ngày nay,” ông Jones nói.

Thay vì chỉ trích hay lên án, các linh mục khuyến khích những cuộc trò chuyện sâu sắc, đặt nhiều câu hỏi để hiểu rõ nguyên nhân của những khủng hoảng tinh thần.

Acedia – khoảng trống của tâm hồn

Trong Bảy tội lỗi của con người, Jones cho rằng “sloth” (thường được dịch là lười nhác) phản ánh đúng nhất trạng thái ông từng trải qua ở Siberia.

Ngày nay, từ này thường được hiểu là sự lười biếng có chủ ý.

Tuy nhiên, các tác giả thời Trung Cổ lại nhìn nhận nó theo nghĩa sâu sắc hơn.

Họ gọi trạng thái đó là acedia – một khái niệm chỉ sự thiếu vắng tình yêu, sự tê liệt trong khả năng quan tâm và một khoảng trống của tâm hồn.

Jones viết rằng acedia là trạng thái “khi những điều từng khiến bạn vui vẻ và hứng khởi giờ đây chỉ còn lại sự lạnh nhạt và thờ ơ.”

Theo ông, cách hiểu này gần với khái niệm kiệt sức hoặc trầm cảm trong tâm lý học hiện đại hơn là sự lười biếng đơn thuần.

Một bản khắc năm 1612 mô tả tật lười biếng (acedia) – theo các nhà tư tưởng thời trung cổ, đây là một chứng bệnh có thể chữa được

Peter Jones cho biết ông đặc biệt đồng cảm với một văn bản từ thế kỷ 13, được lưu giữ tại Thư viện Trinity College Dublin và có ký hiệu MS 306.

Tác giả của bản thảo mô tả trạng thái acedia như “đứng giữa một dòng sông chảy xiết, đối mặt với dòng nước cuồn cuộn đập vào chân nhưng không còn đủ sức để bước tiếp.”

Theo ông Jones, hình ảnh đó diễn tả chính xác cảm giác trì trệ, bất lực và không còn động lực mà ông từng trải qua trong mùa đông ở Siberia.

Ông cũng tìm thấy sự đồng cảm trong các tác phẩm của “Archpoet” – bút danh của một tác giả vô danh người Đức sống vào thế kỷ 12.

Những bài thơ của Archpoet kể về nỗi chán chường khi làm công việc hành chính, với những lời than phiền mà ông Jones cho rằng nhiều nhân viên văn phòng ngày nay có thể thấy quen thuộc.

“Ông ấy viết về việc phải làm việc không ngừng nghỉ trong một công việc vô nghĩa, tầm thường, nơi bạn cống hiến tất cả nhưng cuối cùng lại kiệt sức vì phải gồng gánh quá nhiều,” ông Jones nói.

Theo ông Jones, những lời tâm sự cách đây gần 900 năm cho thấy cảm giác quá tải trong công việc và kiệt sức tinh thần không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại, mà đã là một phần trong trải nghiệm của con người từ nhiều thế kỷ trước.

Peter Jones không phải là nhà sử học duy nhất nhận thấy những điểm tương đồng giữa các vấn đề tinh thần thời Trung Cổ và con người hiện đại.

Trong cuốn sách Exhausted (Kiệt sức), nhà sử học văn hóa kiêm chuyên gia cố vấn phát triển năng lực lãnh đạo Anna Katharina Schaffner cho rằng acedia – trạng thái suy kiệt tinh thần được các tín đồ Cơ đốc giáo thời Trung Cổ mô tả – có nhiều điểm tương đồng với hội chứng kiệt sức ngày nay.

Theo bà, những người mắc acedia cũng có các biểu hiện quen thuộc với xã hội hiện đại, như ăn uống để giải tỏa cảm xúc, tìm đến những hoạt động giải trí vô bổ hoặc gây xao nhãng thay vì tập trung vào công việc hay những việc có ý nghĩa.

Những triệu chứng này rất gần với cách kiệt sức được mô tả trong tâm lý học hiện đại.

Bà Schaffner cho rằng đây là một vòng luẩn quẩn điển hình.

“Bệnh nhân mắc acedia ngày càng mất khả năng suy ngẫm và hướng đến những giá trị tinh thần, trong khi những cách họ chọn để lấy lại năng lượng lại chỉ khiến tình trạng trở nên tồi tệ hơn,” bà viết.

“Theo nghĩa đó, họ chẳng khác gì chúng ta – những người của thế kỷ 21 đang kiệt sức vì công việc, tìm đến đủ loại hoạt động đánh lạc hướng không hiệu quả để trốn tránh cảm giác mệt mỏi.”

Cánh đồng đầy gai và những ngọn núi cao

Vậy những người thời Trung Cổ đã khuyên gì để vượt qua tình trạng này?

Tác giả bản thảo MS 306 không đưa ra lời khuyên trực tiếp mà mượn một hình ảnh trong Kinh Thánh:

“Dù muốn hay không, người Jebusite vẫn sống trong biên giới của bạn. Bạn có thể khuất phục họ, nhưng không thể tiêu diệt họ.”

Theo Peter Jones, người Jebusite là một bộ tộc cổ từng chiếm giữ Jerusalem và rất khó bị đánh đuổi.

Bằng cách này, tác giả đang khuyên người đang chán nản hãy học cách sống chung với cảm xúc của mình, mà không cần chống lại chúng.

Luận thuyết về các đức tính và thói xấu của William Peraldus khuyên những người bị kiệt sức về tinh thần nên tìm kiếm một mục đích cao cả hơn

Cuốn Treatise on the Virtues and Vices (Luận về các đức hạnh và thói xấu) của William Peraldus cũng đưa ra lời khuyên theo hướng tương tự.

Theo ông Peter Jones, Peraldus viết:

“Hãy nhớ rằng cánh đồng đầy gai góc rồi một ngày cũng sẽ đơm hoa kết trái.”

Ông dùng hình ảnh này để nhắc rằng những giai đoạn khó khăn không kéo dài mãi và vẫn có thể mang lại điều tốt đẹp trong tương lai.

Để thay đổi cách nhìn nhận cuộc sống, Peraldus khuyên mỗi người nên tìm cho mình một “ngọn núi vững chãi” – tức một mục đích sống hoặc một điều có ý nghĩa đủ lớn để giúp họ vượt qua nghịch cảnh.

“Bạn cần điểm tựa và sức mạnh từ một người mình yêu thương hoặc từ một điều mình thực sự yêu quý để vượt qua giai đoạn khó khăn,” Jones giải thích.

“Nếu bạn vẫn giữ được niềm tin vào những điều mình yêu quý, thì cuối cùng chúng cũng sẽ quay trở lại với bạn.”

Peter Jones thừa nhận rằng khi diễn giải những tư tưởng này bằng ngôn ngữ hiện đại, chúng có thể nghe khá sáo rỗng nếu tách khỏi bối cảnh và chiều sâu của các văn bản gốc.

Tuy nhiên, theo ông, những lời khuyên của các tác giả thời Trung Cổ lại đáng kinh ngạc vì rất giống với nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại dành cho người kiệt sức hoặc gặp khó khăn về cảm xúc.

Ví dụ, Liệu pháp Chấp nhận và Cam kết (Acceptance and Commitment Therapy – ACT) khuyến khích con người thừa nhận và chấp nhận cảm xúc của mình thay vì cố gắng loại bỏ hay kiểm soát chúng.

Bên cạnh việc học cách sống cùng những cảm xúc ấy, ACT còn khuyên mỗi người xác định những giá trị cốt lõi của bản thân và từng bước hành động phù hợp với các giá trị đó.

Theo Jones, nếu thêm vào những hình ảnh ẩn dụ thời Trung Cổ như “cánh đồng đầy gai” hay “ngọn núi vững chãi”, thì triết lý của ACT ngày nay gần như tương đồng với lời khuyên mà William Peraldus đã đưa ra cách đây khoảng 800 năm.

Quan trọng hơn cả, các nhà tư tưởng thời Trung Cổ nhắc chúng ta rằng biết tha thứ cho bản thân có thể là một sức mạnh lớn – điều cũng là một chủ đề xuyên suốt trong nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại.

Trong các bản thảo của mình, Cassian đã đề cập đến các triệu chứng mệt mỏi, tuyệt vọng, suy giảm trí nhớ và khao khát “sự an ủi của giấc ngủ”

Jones dẫn lại những trước tác từ thế kỷ 12 của Bernard of Clairvaux – một trong những người đồng sáng lập Knights Templar.

“Ông ví việc sống một cuộc đời tốt đẹp giống như chạy trên một địa hình gồ ghề, và nói rằng bất kỳ ai chạy đủ xa rồi cũng sẽ có lúc vấp ngã hoặc khuỵu xuống,” Jones giải thích.

“Ai trong chúng ta rồi cũng sẽ có những khoảnh khắc hoàn toàn mất phương hướng.”

Theo Jones, chỉ cần nhận ra rằng mình không đơn độc trong những đau khổ đang trải qua cũng đã là một nguồn an ủi lớn.

Dù bạn đang phải chịu đựng điều gì, con người đã cảm thấy như vậy suốt hàng nghìn năm qua.

“Thật an ủi khi nhận ra rằng trong suốt chiều dài lịch sử, đã có biết bao người cũng từng trải qua những điều như mình,” ông nói.

*****

David Robson là một nhà báo khoa học từng đoạt nhiều giải thưởng và là tác giả. Cuốn sách mới nhất của ông, The Laws of Connection: 13 Social Strategies That Will Transform Your Life (tạm dịch: Những Quy Luật Của Sự Kết Nối: 13 Chiến Lược Xây Dựng Quan Hệ Có Thể Thay Đổi Cuộc Sống Của Bạn), được xuất bản tại Anh bởi Canongate Books và tại Mỹ, Canada bởi Pegasus Books vào tháng 6/2024.

Ông sử dụng tài khoản @davidarobson trên Instagram và Threads, đồng thời viết bản tin 60-Second Psychology trên Substack.


 

Vé trận chung kết Argentina – Tây Ban Nha được rao giá 2 triệu US (BBC)

(BBC)

Anh và Pháp sẽ đối đầu trong trận tranh hạng 3 tại sân vận động Miami

Tác giả, Dale Johnson

Vai trò, Phóng viên chuyên về bóng đá

 

18 tháng 7 2026

 

Khoảng 7.000 vé vẫn đang được rao bán trên các nền tảng bán vé của FIFA cho trận tranh hạng 3 World Cup giữa tuyển Anh và Pháp diễn ra vào sáng Chủ nhật, 19/7.

Tính đến 16 giờ chiều ngày 17/7 giờ Việt Nam, trận đấu tại Miami (khởi tranh lúc 4h sáng ngày 19/7) vẫn chưa bán hết vé.

Hiện có 1.246 vé được bán trực tiếp với mức giá 865 USD (khoảng 22,6 triệu đồng) và 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng – được quy đổi theo tỷ giá Vietcombank ngày 18/7, 1 USD = 26.110 đồng)

Ngoài ra, còn 5.864 vé được rao bán trên nền tảng bán lại chính thức của Liên đoàn Bóng đá thế giới (FIFA). Vé rẻ nhất thuộc hạng 3, có giá gốc 455 USD (khoảng 11,9 triệu đồng), chưa bao gồm phí 15% do FIFA thu.

Tuy nhiên, nhiều vé ở các hạng giá cao đang được rao bán với mức thấp hơn đáng kể so với giá mua ban đầu.

Chẳng hạn, một vé hạng nhất có giá gốc 1.125 USD (khoảng 29,4 triệu đồng) hiện được rao bán chỉ còn 659 USD (khoảng 17,2 triệu đồng).

Trong khi đó, trận chung kết World Cup giữa đội tuyển Argentina và đội tuyển Tây Ban Nha diễn ra vào rạng sáng 20/7 cũng vẫn chưa bán hết vé, với 32 vé thuộc hạng đắt nhất vẫn còn được bán trực tiếp.

Các vé này có giá từ 29.995 USD (khoảng 783,2 triệu đồng) đến 32.970 USD (khoảng 860,2 triệu đồng). Đây là vé tiêu chuẩn, không phải vé VIP.

Bên cạnh đó, vẫn còn hơn 1.000 vé được rao bán trên nền tảng bán lại của FIFA, trong đó nhiều vé có giá xấp xỉ giá gốc cộng thêm phí của FIFA.

Giá gốc của những vé này là 7.380 USD (khoảng 192,7 triệu đồng), đồng nghĩa với việc nếu mua, người mua sẽ phải trả thêm 1.107 USD (khoảng 28,9 triệu đồng) tiền phí cho FIFA.

Chiếc vé đắt nhất được rao bán lại cho trận chung kết hiện có giá 2 triệu USD (khoảng 52,22 tỷ đồng), chưa kể 300.000 USD (khoảng 7,83 tỷ đồng) phí do FIFA thu.

Mức giá trên thị trường bán lại do chính người dùng tự đặt và không phản ánh trực tiếp số tiền mà người mua thực tế sẵn sàng chi trả.


 

CHỈ TỎ MÌNH, KHÔNG CHỨNG MINH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng sẽ không được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giôna!”.

“Tôi tin vào Kitô giáo như tôi tin mặt trời đã mọc: không chỉ vì tôi nhìn thấy mặt trời, nhưng vì nhờ mặt trời mà tôi nhìn thấy mọi sự khác!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa bước vào thế giới lặng lẽ nhưng mạnh mẽ. Ngài âm thầm như mặt trời chiếu sáng; nhờ đó, con người nhận biết Ngài, Đấng ‘chỉ tỏ mình – không chứng minh’.

Các kinh sư và người Pharisêu xin một dấu lạ; không để thoả sự hiếu kỳ, họ đòi Thiên Chúa đưa ra bằng chứng. Bản Hy Lạp viết sēmeion – không chỉ là “phép lạ”, nhưng còn là “dấu chỉ”, một thực tại mở đường đến một thực tại lớn hơn chính nó. Chúa Giêsu từ chối! Ngài không đến để áp đảo con người bằng những màn phô diễn quyền năng; Ngài muốn họ nhận ra Đấng đang hiện diện. Thiên Chúa luôn mặc khải, nhưng không bao giờ tự đặt mình vào phép thử của con người. “Điều mới mẻ của Kitô giáo không phải là một ý tưởng, nhưng là một biến cố: Thiên Chúa đã tự mặc khải chính mình!” – Bênêđictô XVI.

Và khi Thiên Chúa từ chối phép thử ấy, lòng người phơi bày. Dân thành Ninivê chỉ nghe lời rao giảng của một ngôn sứ miễn cưỡng, vậy mà họ đã sám hối; nữ hoàng phương Nam chỉ nghe sự khôn ngoan của Salômôn, bà đã lặn lội tìm đến. Còn những người đang đứng trước Chúa Giêsu thì khác. Đấng còn lớn hơn Giôna, còn lớn hơn Salômôn đang hiện diện, vậy mà họ vẫn muốn thêm một dấu lạ. Không phải vì Thiên Chúa chưa tỏ mình đủ, nhưng vì lòng người đã khép lại trước Ngài.

Vì thế, điều còn thiếu không phải là một dấu lạ, nhưng là một bước đi. Ngôn sứ Mikha chỉ ra con đường ấy: “Thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa!” – bài đọc một. Nhưng đó không chỉ là điều kiện để được thấy Thiên Chúa, đó còn là con đường để nhận ra Ngài. Thánh vịnh đáp ca xác quyết: “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn cứu độ Chúa Trời!”.

Nhiều khi, điều chúng ta thiếu không phải là ánh sáng, nhưng là lòng can đảm để bước vào ánh sáng. Thiên Chúa vẫn hiện diện qua Lời, các bí tích, các biến cố và cả những con người bên cạnh. Đức tin không trưởng thành vì có thêm một dấu lạ, nhưng vì dám bước đi với Thiên Chúa giữa những điều còn mù mờ mà vẫn giữ đôi mắt biết ngạc nhiên. “Thiên Chúa luôn luôn mới mẻ; Ngài luôn làm chúng ta ngạc nhiên!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là ‘dấu lạ Giôna’: đi qua lòng đất và sự chết để mở đường vào sự sống không bao giờ tàn lụi. Nơi Ngài, Thiên Chúa không còn gửi một dấu chỉ, nhưng tự trao ban chính mình. Thập giá không nhằm ép ai phải tin, nhưng mặc khải một tình yêu ‘yêu đến cùng’; phục sinh cũng không xoá mọi nghi vấn, nhưng mở ra một con đường để bước theo. Chỉ người bước theo Đức Kitô mới nhận ra rằng điều Thiên Chúa muốn trao ban không phải là những câu trả lời cho mọi thắc mắc, nhưng là chính Ngài. Đó là Đấng không chinh phục con người bằng bằng chứng, nhưng bằng chính tình yêu tự hiến – ‘chỉ tỏ mình – không chứng minh’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con biết tín thác khi chưa hiểu, cứ bước khi chưa thấy hết, và luôn kiên vững giữa bao chông chênh!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên, Năm Chẵn

Trong cuộc phán xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.        Mt 12,38-42

38 Khi ấy, có mấy kinh sư và mấy người Pha-ri-sêu nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ.” 39 Người đáp : “Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giô-na. 40 Quả thật, ông Giô-na đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy. 41 Trong cuộc phán xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng ; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa. 42 Trong cuộc phán xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này, và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn ; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa.”


 

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC

Kimtrong Lam.                                                                                                                                        

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC.

*Một vị Tổng thống qua đời và thấy mình đang đứng trước cánh cổng thiên đường, nơi thánh Phêrô chào đón ông một cách lịch sự.

“Chào mừng đến thiên đường, Ngài Tổng thống,” Thánh Peter nói. “Tuy nhiên, trước khi chúng tôi có thể chính thức cho ngài vào, chúng tôi có một vấn đề nhỏ cần giải quyết. Ngài thấy đấy, một chính trị gia thuộc đẳng cấp như ngài đến đây là khá bất thường, và thành thật mà nói, chúng tôi không hoàn toàn chắc chắn phải làm gì với ngài.”

Vị tổng thống nhượng lông mày.

“Vì vậy đây là những gì chúng tôi đã quyết định,” Thánh Peter tiếp tục. “Ngài sẽ trải qua một ngày trên thiên đường và một ngày dưới địa ngục. Sau đó, ngài có thể chọn cho mình nơi ngài muốn gắn bó vĩnh viễn.”

Thánh Peter dẫn ông ta đến thang máy. Cánh cửa đóng lại, và vị tổng thống bắt đầu đi xuống.

Khi cánh cửa thang máy mở, ông ấy bước vào địa ngục – và với sự ngạc nhiên của mình, nơi đây thật đẹp.

Hiện ra trước mắt ông ta là một sân golf xanh mướt, được cắt tỉa hoàn hảo và tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Phía xa là một câu lạc bộ vô cùng sang trọng. Đột nhiên, một nhóm bạn chính trị gia cũ của ông chạy ùa về phía ông ta, cười tươi, và mở rộng vòng tay chào đón.

Họ ôm chầm ông ấy một cách nồng nhiệt và bắt đầu ôn về những ngày tháng xưa tốt đẹp – các chiến dịch tranh cử, các thương vụ béo bở, các đặc quyền đặc lợi, các bữa tiệc tối, các chuyên cơ riêng và tất cả những năm tháng cùng nhau làm giàu trong khi nói ra rã với mọi người dân phải “thắt lưng buộc bụng” của họ.

Họ chơi một vòng gôn. Sau đó, họ đến câu lạc bộ để dùng một bữa tối tuyệt vời: tôm hùm, bít tết, caviar, rượu vang đắt tiền, và tất cả những thứ xa xỉ mà ông ta khó có thể tưởng tượng.

Ngay cả quỷ Satan cũng đến ngồi cùng bàn với họ.

Và đối với sự ngạc nhiên của vị tổng thống, Satan quyến rũ, vui tính, ăn mặc lịch lãm và vô cùng lịch sự. Hắn kể những câu chuyện tuyệt vời, khiến ai cũng cười lớn, và đối xử với vị tổng thống như một vị khách quý.

Vị Tổng thống có khoảng thời gian tuyệt vời đến nỗi ngày trôi qua cũng không để ý. Nhưng cuối cùng cũng lên thang máy trở lại. Cánh cửa đóng lại, và ông ấy được đưa lên thiên đường.

Hai mươi bốn giờ tiếp theo rất khác.

Ông ấy dành cả ngày bồng bềnh từ đám mây này sang đám mây, nghe nhạc đàn hạc, hát thánh ca, cầu nguyện và nhìn các thiên thần lướt qua bầu trời. Vạn sự bình an, tươi sáng, tươi đẹp.

Nhưng thành thật mà nói, hơi nhàm chán.

Cuối cùng, Thánh Peter cũng xuất hiện.

“Thưa ngài Tổng thống”, ông nói, “ngài đã trải qua một ngày dưới địa ngục và một ngày trên thiên đường. Bây giờ ngài có thể đưa ra lựa chọn của mình. Ngài muốn gắn bó sự vĩnh hằng ở nơi nào?”

Vị Tổng thống suy nghĩ một lúc.

“Chà,” ông ấy chậm rãi nói, “thiên đường chắc chắn là rất tuyệt vời. Rất bình yên. Rất sạch sẽ. Nhưng tôi hoàn toàn thành thật… Tôi nghĩ tôi thích địa ngục hơn. ”

Thánh Peter nhún vai và dẫn ông ta trở lại thang máy.

Vị Tổng thống lại đi xuống địa ngục một lần nữa. Cánh cửa thang máy mở ra.

Lần này không có sân gôn.

Không có câu lạc bộ.

Không có tôm hùm.

Không có bạn cũ mặc vest.

Thay vào đó, ông ta nhìn thấy một vùng đất hoang dã vô tận bị bao phủ trong rác. Không khí có mùi kinh khủng. Những người bạn chính trị gia cũ của ông giờ đang mặc đồng phục lao động bẩn thỉu, nhặt rác và nhét vào túi nilon màu đen dưới cái nóng.

Vị Tổng thống nhìn chằm chằm chết lặng vì sốc.

Quỷ Satan bước lại gần ông, mỉm cười và đặt một cánh tay lên vai.

“Tôi không hiểu”, vị tổng thống lắp bắp. “Ngày hôm qua rõ ràng nơi này thật đẹp. Có chơi gôn, ăn tối, âm nhạc, các bạn của tôi… ”

Quỷ Satan cười tươi.

“Bạn của tôi ơi”, hắn nói, “hôm qua chúng tôi đang trong chiến dịch tranh cử nên quảng bá giống như chương trình tranh cử sinh thời của ông”

Sau đó hắn ta chỉ vào thùng rác.

“Còn hôm nay, ngài đã bỏ phiếu xong rồi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Le Canard enchainé.


 

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN

Cang Huynh

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN.

*Người bán hàng đứng sau quầy của cửa hàng trang sức nhỏ, lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ.

Một bé gái dừng lại bên ngoài và áp mặt vào cửa kính. Ngay khi nhìn thấy thứ mình đang tìm kiếm, đôi mắt cô bé sáng lên vì thích thú.

Cô bé vội vàng chạy vào trong và chỉ vào một chiếc vòng cổ màu ngọc lam trong tủ trưng bày.

“Cháu có thể xem chiếc vòng đó được không ạ?” cô bé hỏi. “Nó dành cho chị gái cháu. Ông có thể gói nó giúp cháu được không ạ?”

Người bán hàng nhìn đứa trẻ với vẻ tò mò.

“Cháu có bao nhiêu tiền ạ?” ông hỏi nhẹ nhàng.

Cô bé thò tay vào túi, lấy ra một chiếc khăn tay nhỏ và cẩn thận trải nó lên quầy. Một nắm tiền xu, tiền hào và tiền lẻ rơi xuống mặt kính.

“Số tiền này có đủ không ạ?” cô bé hỏi đầy hy vọng.

Chỉ có vài đồng xu, nhưng cô bé vẫn tiếp tục nói với vẻ tự hào:

“Cháu muốn tặng chị gái cháu một món quà đặc biệt. Từ khi mẹ mất, chị ấy đã chăm sóc tất cả chúng cháu. Chị ấy luôn nghĩ đến người khác, và chẳng bao giờ có thời gian hay tiền bạc cho bản thân.”

“Hôm nay là sinh nhật chị ấy, và cháu biết chị ấy sẽ thích chiếc vòng cổ này. Màu ngọc lam giống màu mắt của chị ấy.”

Người bán hàng im lặng một lúc.

Rồi ông cầm chiếc vòng cổ lên, mang ra phía sau cửa hàng, và đặt vào một chiếc hộp trang sức xinh xắn. Ông gói chiếc hộp bằng giấy gói trang nhã, buộc một dải ruy băng quanh hộp, và thắt một chiếc nơ xinh xắn.

“Đây,” ông nói, đưa gói quà cho cô bé. “Cầm cẩn thận nhé cháu bé.”

Cô bé ôm chặt chiếc hộp nhỏ vào ngực, cảm ơn ông, rồi vui vẻ chạy ra khỏi cửa hàng.

Gần đến giờ đóng cửa, một cô gái trẻ bước vào cửa hàng. Cô đặt một chiếc hộp trang sức quen thuộc lên quầy, cùng với giấy gói và dải ruy băng chưa buộc.

“Chiếc dây chuyền này mua ở đây à?” cô hỏi. “Nó giá bao nhiêu vậy?”

Người bán hàng nhận ra gói quà ngay lập tức.

“Giá cả của mỗi món đồ trong cửa hàng tôi là chuyện riêng giữa tôi và khách hàng,” ông trả lời.

Cô gái trẻ lắc đầu.

“Em gái tôi chỉ có vài đồng xu. Đây là ngọc lam thật, phải không? Chắc hẳn nó rất đắt. Chúng tôi không bao giờ có đủ tiền mua một thứ như thế này.”

Người bán hàng cầm hộp và gói lại cẩn thận. Ông vuốt phẳng giấy gói, buộc lại ruy băng và thắt nơ với sự dịu dàng như trước.

Rồi ông đưa gói quà lại cho cô.

“Em gái cô đã trả giá cao nhất mà bất cứ ai có thể trả,” ông nói khẽ. “Nó đã cho đi tất cả những gì nó có.”

Sự im lặng bao trùm cửa hàng nhỏ.

Cô gái trẻ đứng đó, tay run rẩy ôm món quà, hai giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má.

Một số món quà không được đo bằng giá cả.

Giá trị thực sự của chúng nằm ở tình yêu thương, sự hy sinh và sự chân thành mà người ta trao tặng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

CHÚA CHƯA RỒI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cho tới mùa gặt!”.

“Chúng ta không được phép tuyệt vọng về bất cứ ai khi Thiên Chúa vẫn còn hy vọng nơi họ!” – Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không được phép tuyệt vọng về bất cứ ai!”. Điều chúng ta muốn khép lại, Thiên Chúa vẫn để mở; điều chúng ta xem như bản án cuối cùng, Thiên Chúa chỉ xem như một chặng đường. Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý: ‘Chúa chưa rồi!’.

Điều đáng chú ý nhất của dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là lệnh cấm của chủ. Các đầy tớ xin nhổ; chủ bảo: “Không!”. Không phải vì cỏ đáng được giữ, nhưng vì lúa đáng được bảo vệ. Điều nguy hiểm không chỉ là cỏ lùng, mà là bàn tay tự tin rằng, mình nhổ đúng. Vì thế, chỉ chủ mùa mới có quyền nhổ. Không ai có quyền đó, vì chỉ Thiên Chúa mới nhìn thấy trọn vẹn một con người. “Nhiều người ban đầu là cỏ dại nhưng sau đó trở thành lúa tốt. Nếu khi còn là cỏ họ không được kiên nhẫn chờ đợi, họ đã không đạt tới cuộc biến đổi đáng ngợi khen!” – Augustinô.

Chúng ta thường nhìn con người bằng một lát cắt của hiện tại; Thiên Chúa nhìn bằng cả hành trình. Chúng ta thấy một lần vấp ngã; Ngài thấy cả khả năng đứng dậy. Chúng ta đọc một chương; Ngài biết cả cuốn sách. Phêrô đã chối Thầy, Phaolô đã bách hại Hội Thánh, Augustinô lạc lối… Nếu Thiên Chúa khép lại câu chuyện của họ quá sớm, lịch sử Hội Thánh đã mất đi những trang đẹp nhất. Bởi thế, khi chúng ta nói: “Hết rồi!”, Thiên Chúa vẫn nói: “Chưa!”. Không phải vì Ngài dễ dãi với tội lỗi, nhưng vì ân sủng của Ngài vẫn âm thầm hoạt động.

Chúa Giêsu giải thích: “Mùa gặt là ngày tận thế”. Bản Hy Lạp viết synteleia – từ này không chỉ có nghĩa là “kết thúc”, mà còn là “sự hoàn tất”. Thiên Chúa không cắt ngang lịch sử; Ngài đưa nó đến hoàn tất. Vì thế, Ngài không vội kết luận ai khi câu chuyện người ấy vẫn chưa khép lại. Chúng ta tưởng một lầm lỗi đã nói hết về một đời người; Thiên Chúa vẫn lật sang trang. Chỉ đến “mùa gặt”, khi lịch sử được đưa tới chỗ hoàn tất, sự thật cuối cùng về mỗi con người mới rỡ ràng.

Thật đẹp khi toàn bộ phụng vụ Lời Chúa hôm nay cùng dẫn chúng ta đến một khám phá: Thiên Chúa biết chờ! Sách Khôn Ngoan cho biết: “Chúa xử khoan dung vì Ngài làm chủ được sức mạnh” – Ngài ban cho con người thời gian hoán cải. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng!” – lòng thương xót luôn đi trước phán xét. Phaolô còn cho biết: “Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” – Thiên Chúa không để chúng ta chờ một mình.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ dạy chúng ta kiên nhẫn với con người; Ngài sống trọn sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Trên thập giá, tưởng rằng mọi sự đã đi đến hồi kết; nhưng chính ở đó, Chúa Cha lại khởi đầu một công trình tạo thành mới. Bởi thế, không ai được quyền đóng lại điều Thiên Chúa còn để mở, cũng không ai được phép tuyệt vọng nơi người anh em mà Thiên Chúa đang kiếm tìm. Theo Đức Kitô là học biết chờ với Thiên Chúa, để một ngày kia mới hiểu rằng: ‘Chúa chưa rồi!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết chờ như Chúa chờ, yêu như Chúa yêu, và không bao giờ nói lời cuối cùng về một ai trước Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế