TRÁCH AI ?

Xuyên Sơn

 TRÁCH AI ?

Hai vợ chồng đến từ một tỉnh miền Tây. Gia đình có vẻ là khá giả.

Người chồng đau nhiều, đi lại rất khó khăn, chỉ có thể đi được vài bước chân, hai chân rất yếu, sức cơ giảm nhiều.

Ngoài trượt đốt sống và hẹp ống sống nặng, ông ấy lại đang trong cơn gút cấp. Đã thế, ông ấy lại còn bị viêm dạ dày ruột, tiêu chảy nhiễm trùng, bệnh mạch vành, viêm da mủ và tiểu đường type 2. Đã có chỉ định mổ cột sống cho ông chồng, nhưng chắc không bác sĩ nào dám cầm dao với tình trạng sức khỏe của như vậy.

Còn người vợ.

Chị ấy đã không còn đi được, teo cơ hai chân. Chị ấy cũng bị trượt đốt sống và hẹp ống sống rất nặng.

Riêng về tiểu đường thì đường huyết cao chất ngất, gần 20 chấm,

HbA1C cũng 16, 17 chấm.

Khớp gối sưng vù, nóng đỏ, siêu âm đầy dịch.

Chị này cũng đã có chỉ định mổ cho bệnh cột sống, nhưng chắc cũng không bác sĩ nào đủ dũng cảm mổ cho chị ấy.

Đến đây thì có lẽ ai cũng cho rằng cái gia đình này không quan tâm đến sức khỏe, cả hai vợ chồng đều để bệnh quá nặng mới đi khám. Để đến nông nỗi này, có lẽ lỗi hoàn toàn thuộc về bản thân người bệnh.

Nhưng không.

Họ cho biết họ có đi khám bệnh.

Nhưng khám mãi không thấy bớt, càng ngày càng nặng, nên mới khăn gói lên thành phố.

Hỏi họ khám thì bác sĩ nói sao, chẩn đoán bệnh gì.

Họ nói không thấy bác sĩ nói gì cả.

Anh chồng thì biết bị nhiều bịnh vì thấy có nhiều bác sĩ khám, cho nhiều toa, còn chị vợ thì nghĩ rằng bác sĩ chỉ khám bệnh thần kinh tọa thôi, vì chị bị đau lưng và đau chân, và không biết mình bị hàng loạt bệnh khác.

Tôi cho rằng, lỗi chính trong chuyện này là hệ thống y tế của chúng ta.

Bên cạnh hệ thống bảo vệ sức khỏe dành riêng cho các quan chức, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân được phó mặc cho những qui định của bảo hiểm.

Công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe được phó mặc cho mạng xã hội và các nhà quảng cáo.

Một số bệnh nhân cho tôi biết, họ đã phát hiện và điều trị loãng xương, hết loãng xương rồi.

Hỏi khám và điều trị ở đâu thì được biết là ở… siêu thị.

Các công ty sữa mang máy đo loãng xương loại không được công nhận làm tiêu chuẩn chẩn đoán, đến đo miễn phí tại các siêu thị, rồi bán sữa về uống, hai tuần sau đo lại hết loãng xương.

Tương tự vậy, các loại thực phẩm chức năng mà chỉ có trời mới biết tác dụng như thế nào, được quảng cáo đầy trên TV.

Người dân cứ tưởng rằng uống nó là trị bá bệnh, hoặc không thì cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chẳng có bệnh tật nào xâm phạm nổi.

Có đi về các miền quê mới thấy, những cái giường, những cái máy,

với hàng đống đèn xanh xanh đỏ đỏ, chớp chớp nhá nhá, có giá vài chục triệu, có khi cả trăm triệu, được mang giới thiệu công khai, có khi còn có sự giúp sức của chính quyền hoặc các cơ quan đoàn thể địa phương.

Người có tiền thì mua máy về xài, người ít tiền thì trả tiền thuê máy để nằm, hãnh diện vì được những cái máy đấy trị bá bệnh cho mình…

Vào trong bệnh viện thì chỉ được làm xét nghiệm này mà không được làm cái khác, thậm chí là chỉ được dùng thuốc này mà không được dùng thuốc khác. Một ngày khám hàng mấy trăm bệnh nhân, bác sĩ, ngoài việc sợ bị bệnh nhân kiện cáo, lại sợ bị BHYT xuất toán, chẳng còn thời gian giải thích.

Hôm nào ít bệnh, có thời gian giải thích thì bị cho là lạm dụng BHYT, có khi đi tù như chơi.

Cứ thế, cả nền y tế được thả nổi.

Sức khỏe của người dân được thả nổi. Khi xảy ra những câu chuyện như gia đình bệnh nhân nói trên, thì, hoặc là qui kết cho bản thân người bệnh, hoặc là chê bai bác sĩ ở tỉnh chuyên môn tệ quá.

Còn cái cốt lõi, là cả một hệ thống chăm sóc sức khỏe bất bình đẳng, bởi sự ảnh hưởng của hệ thống chính trị phân chia đẳng cấp quan – dân,

nơi mà những kẻ hoạch định chính sách không trực tiếp trải nghiệm sản phẩm của mình, thì vô can.

Thanh Lan


 

ĐÚNG LUẬT, CHƯA CHẮC ĐÚNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày Sabbat!”.

“Yêu người lân cận trong sự viên mãn của nó đơn giản là có thể nói: ‘Bạn đang phải trải qua điều gì?’” – Simone Weil.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay lại vang lên một câu hỏi trái ngược: “Điều đó có được phép không?”. Một câu hỏi hướng về con người; một câu hỏi dừng ở lề luật. Giữa khoảng cách ấy, Chúa Giêsu dẫn chúng ta đến một nghịch lý: ‘đúng luật, chưa chắc đúng!’.

Trước cáo buộc của những người Pharisêu về việc các môn đệ bứt lúa ngày Sabbat, Chúa Giêsu trích ngôn sứ Hôsê: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế!”. Bản Hy Lạp viết ouk exestin – “không được phép”. Ngài không phủ nhận lề luật; Ngài đưa nó trở về nền tảng: eleos – “lòng thương xót”. Chỉ khi được lòng thương xót soi sáng, lề luật mới phản ánh đúng ý muốn của Thiên Chúa. Quả thế, như Đức Phanxicô nói, “Thiên Chúa không phủ nhận công lý; Ngài bao bọc và vượt trên công lý bằng lòng thương xót!”.

Không chỉ nhắc đến Hôsê, Chúa Giêsu còn nhắc việc Đavít ăn bánh tiến và các tư tế làm việc trong Đền Thờ ngày Sabbat mà không mắc tội. Không phải để tìm ngoại lệ, nhưng Ngài cho thấy Luật chưa bao giờ là cứu cánh, nhưng luôn phục vụ điều lớn hơn chính nó. Khi không còn phục vụ sự sống, Luật đã bị đọc sai; khi không còn mở ra cho con người, Luật đã đánh mất chính linh hồn mình. ‘Đúng luật, chưa chắc đúng!’.

Điều người Pharisêu mắc phải cũng là cám dỗ của chúng ta. Điều đáng sợ không phải là con người không có luật, nhưng lấy luật làm chỗ núp để khỏi phải yêu. Khi đó, điều đúng trở thành cái cớ để từ chối lòng thương xót; nguyên tắc trở thành nơi trú ẩn của dửng dưng; và trái tim dần khép lại trước người anh em. Đó là lúc Luật vẫn đúng, nhưng trái tim con người đã lệch nhịp với trái tim của Thiên Chúa.

Isaia cho thấy một nguyên tắc xuyên suốt nơi Thiên Chúa: Ngài luôn hành động để cứu chữa. Khítkigia không hát mừng vì đã giữ luật, nhưng vì đã được Ngài kéo khỏi “hố tử vong” – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh mới thưa lên: “Lạy Chúa, chính Ngài đã cứu con khỏi hố diệt vong!” – Thánh Vịnh đáp ca. Nếu Luật phát xuất từ chính Thiên Chúa, nó phải được đọc trong cùng hướng ấy: không để kết án, nhưng để cứu chữa; không để đè nặng, nhưng để nâng con người lên. “Khi tình yêu nguội lạnh, lề luật nở rộ!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để nới lỏng Lề Luật, nhưng để đưa Lề Luật về đúng trái tim của Thiên Chúa. Trên thập giá, Ngài đã làm điều không một ai buộc phải làm: hiến mạng sống mình cho những kẻ tội lỗi. Chiêm ngắm thập giá, chúng ta mới hiểu: có những điều không cấm, nhưng chưa chắc đúng; có những điều hợp lẽ, nhưng chưa chắc đẹp lòng Chúa; và có những điều không một bổn phận nào đòi hỏi, nhưng tình yêu không thể bỏ qua. Chỉ khi mang lấy trái tim của Chúa Kitô, chúng ta mới thật sự hiểu thế nào là ‘đúng luật, chưa chắc đúng!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con một trái tim biết đập nhịp xót thương như tim Chúa; một lương tâm biết chọn điều đẹp lòng Chúa; và một tình yêu luôn dám bước thêm một bước vì anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn

Con Người làm chủ ngày sa-bát.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.         Mt 12,1-8

1 Khi ấy, vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa ; các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. 2 Người Pha-ri-sêu thấy vậy, mới nói với Đức Giê-su : “Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát !” 3 Người đáp : “Các ông chưa đọc trong Sách sao ? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng ? 4 Ông vào nhà Thiên Chúa, và đã cùng thuộc hạ ăn bánh tiến. Thứ bánh này, họ không được phép ăn, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. 5 Hay các ông chưa đọc trong sách Luật rằng ngày sa-bát, các tư tế trong Đền Thờ vi phạm luật sa-bát mà không mắc tội đó sao ? 6 Tôi nói cho các ông hay : ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa. 7 Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này : Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội. 8 Quả thế, Con Người làm chủ ngày sa-bát.”


 

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Donry Nguyen

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Ở Sài Gòn, không xa Dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền.

Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô.

Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản.

Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra.

Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào:

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí.

Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam.

Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn.

Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành.

Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa.

Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại tù cộng sản trên khắp đất nước…

NGUYỄN HẠNH

—————————

-ÔN CỐ TRI TÂN

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Toan giết sạch học trò hay chữ.

Không diệt được Bách gia chư tử,

Mà chính mình lại bị diệt vong.

Xem bao đời lịch sử Tây Đông,

Đâu cũng trọng hiền tài, nhân sĩ.

Vốn học thức tạo nên người tài trí,

Giúp quốc gia tự chủ trường tồn.

Có một thời Giai Phẩm Nhân Văn,

Bị đấu tố sa vòng tù tội

Bọn ngu si ghét người tài giỏi,

Quyết ra tay “hạ thủ bất hườn”.

Những Phan Khôi, Phùng Quán, Trần Dần…

Tên tuổi họ lại thêm lừng lẫy.

Tác phẩm họ còn nguyên giá trị,

Thấm đẫm tình dân tộc bao la.

Trời phương Nam hội tụ tinh hoa,

Nơi góp mặt anh tài cả nước.

Cùng sáng tạo thơ, văn, âm nhạc,

Trên lâu đài dân chủ tự do.

Cuộc phân tranh thế trận xoay cờ,

Khi phương Bắc tiến vào cướp bóc.

Chúng ra tay gồm thâu đốt sạch,

Cả một nền văn học Nước Nam.

Họ thay vào học thuyết lai căng,

Gieo rắc nỗi thù hằn giai cấp.

Biến văn chương trở thành nọc độc,

Phá tan hoang đạo đức bao đời.

Sự hung hăng cũng chỉ một thời,

Men chiến thắng lần hồi nguội lạnh.

Mớ nhạc đỏ im hơi tắt tiếng,

Đám văn nô bồi bút co vòi.

Và nhạc vàng rực rỡ lên ngôi,

Văn thơ cũ vùng lên sống lại.

Bao tài danh phục hồi tên tuổi

Giống như xưa, vốn nó vẫn là…

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Rốt cuộc lại tự mình hủy diệt.

Kẻ độc tài ngày nay nên biết

Càng bạo tàn càng kết liễu nhanh.

-Donry Nguyễn-


 

 DÙ THẾ NÀO CŨNG ĐI NHÀ THỜ

Xuyên Sơn

 DÙ THẾ NÀO CŨNG ĐI NHÀ THỜ

Nếu bạn quan hệ tình dục trước khi kết hôn, dù sao cũng đến nhà thờ.

Nếu bạn là một kẻ nghiện đang cố gắng đánh bại cơn nghiện, dù sao cũng đến nhà thờ.

Nếu bạn say xỉn suốt đêm hôm trước, dù sao cũng đến nhà thờ. Nếu bạn không chắc bạn thích giới tính nào hơn, dù sao đi nữa hãy đến nhà thờ.

Nếu bạn không bỏ được thói quen kinh tởm đó, hãy đến nhà thờ.

NHÀ THỜ cũng là một BỆNH VIỆN cho những người HỎNG, LẠC LẠC, TRỐNG RỐI, RỐI RỐI, HOAN HỶ và BỊ TỪ CHỐI.

Mỗi tội đồ đều có tương lai, và mỗi vị thánh đều có quá khứ.

Làm thế nào chúng ta có thể phá vỡ chuỗi nghiện ngập và ràng buộc?

*Bằng lời cầu nguyện…

Không có một người nào trong 4 bức tường của nhà thờ mà không có điều họ ghét hoặc hối tiếc về quá khứ của họ.

Tất cả chúng ta đều mắc sai lầm và sẽ tiếp tục, NHƯNG Ân sủng của Ngài là đủ.

Có những điều tôi không bao giờ muốn thừa nhận to tiếng về bản thân mình, nhưng Chúa biết.

Và dù sao Ngài cũng yêu tôi.

Ăn năn không phải là khi bạn khóc, mà là khi bạn thay đổi.

Cho nên dù bạn đã làm gì, dù bạn đang làm gì, bất cứ điều gì bạn sẽ làm…

nó có thể thay đổi cuộc sống của bạn nếu…

DÙ THẾ NÀO BẠN CŨNG ĐẾN NHÀ THỜ.

Tác giả: K Forsyth


 

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”

KHẢ TÂM

 Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

Đó là năm 1942.

Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.

Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại tập trung của Liên Xô,nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.

“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”

Thức ăn cạn dần.

Thuốc men không còn.

Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.

Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.

Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.

Các cố vấn nói với ông:

“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:

“Bao nhiêu đứa trẻ?”

“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”

Một khoảng lặng.

Rồi ông nói:

“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.

Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”

Họ cảnh báo:

“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”

“Ta sẽ chịu.”

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:

“Các con được chào đón ở đây.”

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.

Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.

Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.

Các con là con của ta.

Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.

Ông xây dựng một mái nhà.

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:

giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.

“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.

Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.

Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.

Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.

Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:

“Từ nay, các con là con của ta.”


 

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN.

Cang Huynh

*Bà quấn khăn quanh mặt, ấn gai vào trán và buộc một miếng xương rồng vào ngực để mỗi bước đi đều đau đớn. Năm 1940, trên con đường dài đến San Juan de los Lagos, Maria tham gia cuộc hành hương không phải vì bản thân hay để phô trương, mà vì chồng bà, Juan. Sau tai nạn khủng khiếp, các bác sĩ nói rằng ông sẽ không bao giờ đi lại được nữa, và trong tuyệt vọng, bà đã hứa với Đức Mẹ Maria – rằng bà sẽ gánh chịu nỗi đau của ông nếu ông được trả lại đôi chân. Vì vậy, bà đi chân trần trên quãng đường dài đầy bụi và đá, giấu mặt trong sự khiêm nhường, để nỗi đau trở thành lời cầu nguyện của mình.

Đây không phải là nghi lễ; đó là lòng sùng kính được thể hiện trần trụi. Máu nhuộm đỏ con đường khi bà thì thầm từng lời cầu nguyện qua lớp vải, không chịu chậm lại. Và phía sau bà, một điều không thể tin được đang xảy ra. Juan, người đã không đi lại được trong hai năm, bỏ lại nạng và bước theo bà từng bước run rẩy. Ông cầu xin bà dừng lại, nghỉ ngơi, nhìn ông, nhưng bà không quay lại. “Phép lạ của anh là sức mạnh của em,” bà nói khẽ, tin tưởng vào lời hứa hơn là nỗi đau.  Khi họ đến nơi thờ cúng, đám đông bỗng im lặng. Không phải vì những vết thương của cô, mà vì những gì họ đã chứng kiến. Tình yêu đã chữa lành những gì y học không thể. Niềm tin đã dời chuyển cả núi non – nó đã giúp một người đàn ông đứng dậy và một người phụ nữ vượt qua lửa để đến với người mình yêu.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

Tại sao ta phải tập luyện tư cách? – Cha Vương

Thứ 6 rồi bạn ơi! Chúc bạn và gia đình một weekend  như ý. Đừng quên thốt lên “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa” để kết hiệp với Chúa trong ngày không quên cầu Nguyện cho nhau và cả thế giới ngưng chiến tranh và thiên tai nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 16/7/2026.     (n19-24)

GIÁO LÝ:  Tại sao ta phải tập luyện tư cách? Ta phải cố gắng tập luyện để làm việc lành một cách dễ dàng, tự do và vui vẻ. Trước tiên, phải có một đức tin vững chắc nơi Chúa, Đấng sẽ giúp ta, nhưng cũng phải thực hành các nhân đức, nghĩa là, phải xin ơn Chúa, phát triển nơi ta, khả năng vận dụng lý trí và lòng muốn ngày càng liên tục kiên quyết hướng tới các việc lành, không để ta buông mình theo các đam mê hỗn loạn. (YouCat, số 300)

SUY NIỆM: Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện. “Mục đích của một đời sống nhân đức là trở nên giống Thiên Chúa” (thánh Grêgôriô thành Nyssa).

❦  Các nhân đức chính là: khôn ngoan, công bằng, can đảm, tiết độ. Người ta cũng gọi là các nhân đức căn bản.

❦  Đừng sợ rằng đời bạn chấm dứt nay mai. Đúng hơn phải sợ mình quên bắt đầu lại cho đúng đắn hơn—Hồng y Newman. (YouCat, số  300 t.t.)

Bạn đang cần nhân đức nào nhất trong lúc này?

LẮNG NGHE: Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em. (Pl 4:8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban nhân đức cho con để con biết gìn giữ và theo đuổi những gì là chân thiện mỹ.

THỰC HÀNH: Cố gắng rèn luyện một nhân đức mà bạn đang cần nhất nhé.

From: Do Dzung

***************

Chúa biết con yêu mến Ngài – Nguyễn Hồng Ân (Sáng tác: Sr. Hiền Hoà)

THIÊN CHÚA KIÊN NHẪN ĐỢI CHỜ –  Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Phụng vụ Lời Chúa hôm nay làm nổi bật hình ảnh của một Thiên Chúa giàu lòng từ bi và hay thương xót, luôn kiên nhẫn đợi chờ kẻ có tội biết ăn năn.

 Thiên Chúa khoan dung cách lạ lùng

Thiên Chúa của chúng ta là một người cha đầy lòng trắc ẩn, và rất mực khoan dung.  “Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung” (Kn 12,16).  Người luôn chờ đợi với con tim rộng mở để đón chào và tha thứ cho người có tội, kẻ gian ác muốn ăn năn.  Ngài luôn tha thứ, nếu đến với Ngài… Chúa dạy : “Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối” (Kn 12,19). 

Thái độ của Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu rằng sự dữ không phải là điểm đầu và điểm kết.  Có cái gì đó hơn thế nữa: nhờ niềm hy vọng đầy tình thương mến của Thiên Chúa mà những con tim xấu xa, ngập tràn tội lỗi có thể trở nên hạt giống tốt.  Lòng trắc ẩn không phải là làm ngơ trước sự xấu; hay là lẫn lộn giữa tốt và xấu! 

Lý do cuối cùng để Thiên Chúa thực hiện lòng bao dung là muốn cho tội nhân trở lại mà được sống, đây là lòng bác ái quá bao la.  Thế nên thái độ của người công chính ở đời, của người đi theo đường lối Thiên Chúa, là phải nhân đạo, thương người, không muốn cho kẻ có tội bị tiêu diệt nhưng là mong họ sám hối ăn năn. 

Kiên trì và cố gắng 

Với dụ ngôn “Cỏ Lùng.”  Chúa Giê-su mạc khải cho các môn đệ cũng như chúng ta về sự kiên nhẫn và lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với đủ hạng người, lành cũng như dữ, đồng thời cảnh tỉnh chúng ta đừng có nông nổi như người tôi tớ và nhất là phải luôn cố gắng.  Ông chủ trong dụ ngôn thật nhân hậu tuyệt vời.  Ông thận trọng thẳng thừng nói: “Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng.  Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt.  Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt” (Mt 13, 29-30).  Ý muốn nói, giống tốt cũng phải mọc lên và sinh bông trái; nếu không, đến mùa gặt là ngày tận thế, giống tốt cũng chỉ là cỏ, bị bỏ vào lửa thôi.  Bởi cứ sự thường, người ta sẽ chỉ gặt lúa mang về nhà.  Còn rươm rạ sẽ cắt sau.  Nhưng ở đây vì tôi tớ đang muốn biết về số phận của cỏ lùng, nên buộc lòng người chủ phải nói đến nó trước. 

Đôi lúc thấy sự dữ hay kẻ dữ lấn át người lành, và cũng dễ thấy, người lành thánh ao ước có được một thiên đàng ngay trên trần thế, nên muốn Thiên Chúa diệt sạch kẻ ác ra khỏi thế gian.  Lời thân thưa và tiếp đến là lời cầu xin của người đầy tớ với ông chủ trong dụ ngôn là một bằng chứng: “Thưa ông, thế ông đã không gieo giống tốt trong ruống ông sao?  Vậy cỏ lùng từ đâu mà có? ” (Mt 13,27)  Nhiều người hôm nay vẫn hỏi Chúa: Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên mọi sự trong đó có con người, và Ngài đã chẳng thấy mọi sự đều tốt đẹp đó sao?  Vậy, sự dữ, người gian ác do đâu mà có?  Và họ khơi lên ước muốn trừng phạt: “Nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ” (Mt 13,28). 

“Cỏ lùng” tiếng Do Thái, có gốc từ chữ “Satan” và nói đến việc chia rẽ.  Tất cả chúng ta đều biết rằng quỷ dữ là người gieo cỏ lùng: luôn tìm cách gây chia rẽ con người với nhau, chia rẽ trong gia đình, hội đoàn, giáo họ, giáo xứ, quốc gia và dân tộc.  Những người đầy tớ muốn nhổ cỏ xấu đi ngay lập tức, nhưng ông chủ ngăn cản vì sợ rằng khi nhổ cỏ lùng thì nhổ nhầm cả lúa.  Bởi cỏ lùng, khi lớn lên, trông rất giống lúa tốt, nên dễ gây nhầm lẫn.  Quỷ Dữ đến trong đêm để gieo cỏ lùng, trong đêm tối, trong sự hỗn loạn…  Nơi đâu không có ánh sáng, quỷ sẽ đến để gieo cỏ lùng.  Kẻ thù này rất tinh khôn: hắn gieo sự xấu vào giữa điều tốt, để chúng ta không thể nào tách biệt rõ ràng, nhưng Thiên Chúa sẽ làm điều đó.  Ông chủ trong dụ ngôn thật nhân hậu tuyệt vời. 

Lòng Chúa cao cả hơn lòng chúng ta 

Trước cỏ lùng đang hiện diện trên thế giới, cụ thể hơn, sống chung với kẻ vô đạo, kẻ gian ác, chống lại sự thiện, người môn đệ Chúa được mời gọi bắt chước Chúa, hy vọng với niềm tin vào chiến thắng chung cuộc của sự Thiện, là chính Thiên Chúa.

 Thật vậy, chỉ trên mặt đất này mới có chỗ cho lúa và cỏ lùng mọc lên, chỉ trong cuộc sống nhân trần mới có bột cần chất men, nên ở trên Thiên Đàng, chỉ có Thiên Chúa là tất cả mọi sự trong mọi người. 

Thánh Au-gút-ti-nô quan niệm: “Chính Giáo Hội là một cánh đồng có lúa và cỏ lùng, có kẻ xấu và người tốt đều chung sống với nhau, là nơi để chúng ta bắt chước gương nhẫn nại của Chúa.  Những kẻ dữ hiện hữu trong thế gian này hoặc là để được cải hóa hay là nhờ họ mà những kẻ lành có thể luyện tập đức nhẫn nại.” 

Vì thế, trước sự hiện hữu của cái ác, thái độ của các môn đệ Chúa Kitô là gì nếu không phải là kiên nhẫn với sự hiện hữu của cái ác trên thế giới. 

Việc cần làm là tích cực gieo quanh chúng ta thật nhiều hạt tốt.  Tiếp đến là phải hành động với sự khôn ngoan, thận trọng khi đối đầu với sự ác, đồng thời cầu xin Chúa Thánh Thần giúp sức cho, vì: “Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta”(Rm 8, 26). 

Sau cùng, cần phải vững tin, hy vọng và sống bác ái; nghĩa là chinh phục cái ác bằng việc làm tốt, theo lời khuyên của Thánh Tông đồ Phao-lô: “Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (Rm 12, 21). 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

LỚP CỦA NGƯỜI MỎI MỆT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường!”.

“Người thầy bước đi giữa các môn sinh không trao sự khôn ngoan, nhưng trao đức tin và tình yêu của mình!” – Kahlil Gibran.

Kính thưa Anh Chị em,

Không chỉ trao sự khôn ngoan, người thầy còn trao cả đức tin và tình yêu. Lời Chúa hôm nay còn đi xa hơn: Chúa Giêsu mời chúng ta học chính con người Ngài. Người Thầy trở thành bài học; Ngài mở ra một lớp học khác: ‘Lớp của người mỏi mệt’.

Điều lạ là Chúa Giêsu không nói: “Hãy học những điều tôi dạy”, nhưng: “Hãy học với tôi!”. Bản Hy Lạp viết mathete ap’ emou – “hãy học nơi tôi, học từ tôi”. Bài học có thể tách khỏi người dạy; nhưng trong trường của Chúa Giêsu, Người Thầy không đứng ngoài giáo trình; chính Ngài là giáo trình. Mỗi lời Ngài nói, mỗi cách Ngài nhìn đều mở ra một chương của chính trái tim Ngài. Bởi đó, “hãy học với tôi” không chỉ là một lời mời lắng nghe, nhưng là lời mời ở lại đủ gần, đủ lâu để trái tim người học dần mang nhịp đập của trái tim Người Dạy.

Lạ hơn nữa, Chúa Giêsu không chỉ dạy bài học; Ngài dạy bằng chính cách Ngài đối xử với học trò: “Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường!”. Ở nhiều trường học, người không theo kịp dễ bị bỏ lại; trong trường của Ngài, chính những ai mỏi mệt lại được gọi đến trước. Ngài không dùng sự cao cả của mình để làm môn sinh thấy nhỏ bé, nhưng để họ dám đến gần. Ngài không dạy bằng cách phơi bày sự kém cỏi, nhưng bằng cách làm cho người học tin rằng mình vẫn có thể bắt đầu lại. “Không thể giáo dục nếu không có tình yêu… Người ta dạy bằng lòng kiên nhẫn biết cảm hoá!” – Phanxicô.

Isaia cho thấy ngay dung mạo của những môn sinh ấy: “Chúng con đã mang thai, đã quằn quại, nhưng chỉ sinh ra gió!” – bài đọc một. Ở trường học của thành công, đó là một điểm âm; trong trường của Chúa Giêsu, chính những người ấy lại được gọi đến trước: “Hãy đến cùng tôi!”. Và “từ trời xanh Chúa đã nhìn xuống cõi trần” – Thánh Vịnh đáp ca, không để vào sổ các thành quả, nhưng để không ai bị bỏ lại trong phần đời chưa thành của mình.

Vì thế, điều đáng hỏi không phải: tôi học được bao nhiêu, nhưng tôi đang học trường nào? Nếu vẫn học trong trường của thành công, chúng ta sẽ mãi sợ bị bỏ lại. Còn trong trường của Chúa Giêsu, người mỏi mệt không bị loại khỏi lớp; họ là những người đầu tiên được mời đến.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, bài học không còn là lời dạy, nhưng là một đời được trao đi. Trên thập giá, Người Thầy đi vào tận cùng gánh nặng của con người; Ngài không đứng ngoài nỗi đau để dạy về hiền hậu, nhưng mang lấy nỗi đau ấy bằng chính sự hiền hậu của mình. Học với Đức Kitô là ở lại trong ‘lớp của người mỏi mệt’: tìm được sự nghỉ ngơi nơi Ngài, rồi biết ghé vai vào những gánh nặng không phải của mình. “Người Kitô hữu phải mang lấy gánh nặng của người anh em. Chỉ khi trở thành một gánh nặng, người khác mới thật sự là anh em!” – Dietrich Bonhoeffer.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở lại đủ gần để học nơi Chúa; đủ khiêm nhường để trao Ngài những gì con không thể làm nên; và đủ hiền hậu để không bỏ lại những ai đang mỏi mệt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.        Mt 11,28-30

28 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.


 

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Catholic News

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Giữa tiếng ve râm ran của mùa hè, trưa thứ Bảy, ngày 11/7, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng bữa trưa với khoảng 200 người đang gặp hoàn cảnh khó khăn tại khu vườn của Dinh Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, nơi ngài đang nghỉ hè trong vài ngày.

Những người được mời tham dự bữa ăn đều đang đối diện với nhiều hoàn cảnh thử thách như vô gia cư, di cư hoặc phải rời bỏ quê hương. Họ chờ đón Đức Thánh Cha thành từng nhóm nhỏ dưới bóng những cây ôliu trong khuôn viên dinh thự.

Khi chào đón mọi người, Đức Thánh Cha mở đầu bằng một lời nói hóm hỉnh:

“Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói.”

Lời chia sẻ khiến các đầu bếp đang chuẩn bị món mì ngoài trời cùng mọi người bật cười. Tuy nhiên, ngài tiếp tục giải thích rằng đó là:

“Cơn đói về công lý, cơn đói về tình bác ái đích thực, cơn đói về một Giáo hội biết thực sự mở rộng cửa, biết đón tiếp và chào đón tất cả mọi người; một Giáo hội nơi tình yêu dành cho mọi người được thể hiện và không ai bị xem là kẻ thù.”

Gợi lại ý nghĩa của danh xưng “Giáo hoàng” (Pontiff), vốn có nghĩa là “người xây cầu”, Đấng kế vị Thánh Phêrô mời gọi mọi người cùng nhau xây dựng:

“một thế giới khác, một thế giới của hy vọng, một thế giới trở thành ánh sáng”, giữa một thực tại đang quá nhiều lần bị chia rẽ bởi bạo lực, hận thù và phân biệt đối xử.

Đức Thánh Cha nói:

“Hôm nay, chúng ta muốn xây dựng một nhịp cầu với tất cả anh chị em, với gia đình của anh chị em và với xã hội mà chúng ta mong muốn được sống – một xã hội công bằng. Một nơi mà những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói được loại bỏ, nơi những nguyên nhân của bất công vẫn còn tồn tại trong thế giới hôm nay được xóa bỏ. Đó chính là Giáo hội mà chúng ta mong muốn trở thành.”

Ngài cũng bày tỏ sự gần gũi với tất cả những ai đang sống trong đau khổ hoặc gặp nhiều khó khăn.

Trong bữa ăn, Đức Thánh Cha ngồi cùng bàn với một số đại diện của các khách mời, gồm: một người mẹ tị nạn đến từ Tanzania cùng hai con nhỏ (7 và 5 tuổi), một người Ukraine, một người tị nạn đến từ Peru và một người đến từ Sudan.

Thực đơn của bữa trưa gồm có:

  • Mì sốt Amatriciana
  • Thịt bê quay
  • Rau diếp xoăn
  • Dâu tây dùng với kem tươi.

Trước đó, vào ngày 17/8/2025, Đức Thánh Cha Lêô XIV cũng đã dùng bữa trưa với khoảng 80 người có hoàn cảnh khó khăn. Hoạt động này hiện được dự định trở thành một cuộc gặp gỡ thường niên, do Borgo Laudato Si’ – trung tâm sinh thái của Vatican đặt trong khuôn viên Dinh Giáo hoàng mùa hè – tổ chức.

Một bữa ăn đơn sơ, nhưng là dấu chỉ cụ thể của sự gần gũi, lắng nghe và chia sẻ, đồng thời nhắc nhớ lời mời gọi không ngừng xây dựng một xã hội công bằng hơn, nơi phẩm giá của mỗi con người luôn được tôn trọng.

Jos Nguyen chuyển ngữ – Aleteia 


 

Dám làm dám chịu

Kim LeCâu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam

Dám làm dám chịu

Những gì đang xẩy ra quanh vụ đấu tố, bắt bớ các nhà văn, biên tập viên, nhà xuất bản ở Việt Nam khiến tôi nghĩ đến bài “Nỗi đau khổ không chỉ của riêng ai” viết cách đây một năm.

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/31129502989974377

Những người thấp cổ bé họng, bị mất đất, bị bọn cường hào mới chèn ép luôn quằn quại đau khổ vì án oan. Nhiều khi hàng chục năm, có khi cả đời. Nhiều người bán hết cả nhà cửa, gia tài để lên Hà Nội, ăn chực nằm chờ, khiếu kiện, kêu oan cho người thân. Họ ngủ, nghỉ ở đâu cũng bị xua đuổi. Thế rồi cuối cùng con cái mình vẫn bị giết chết như tù nhân Lê Văn Mạnh. Gia đình tử tù Hồ Duy Hải sống khắc khoải suốt 12 năm qua. Vụ án lên đến Chủ tịch nước, Quốc hội mà vẫn không ai dám quyết. Chàng trai Nguyễn Văn Chưởng chờ chết trong tù suốt gần 20 năm qua. Nếu có lúc nào đó được ra khỏi tù, chắc cậu sẽ khó trở lại cuộc đời bình thường.

Nhiều lắm, những chuyện bất công đang diễn ra trước mắt chúng ta.

Nhưng kể cả những kẻ tưởng như nằm chiếu trên của sự bất công  cũng chẳng sướng gì. Từ các vị tứ trụ, bộ chính trị, đại biểu quốc hội, đến chủ các tập đoàn nghìn tỷ, ai cũng có thể bị trảm bất cứ lúc nào. Thậm chí kể cả những người tin yêu chế độ, sùng tín lãnh tụ, muốn đưa một luồng sinh khí mới vào sử thi ca ngợi cũng có thể bị đập chết như ngóe. Tội danh thì không bao giờ thiếu. Bí thì bổ sung thêm vào luật hình sự những con số 88, 117, 331…. Luật pháp “cây nhà lá vườn” hay ở chỗ: Muốn thông qua quốc hội lúc nào cũng xong.

Đó chính là cái bi kịch trong một hệ thống kiên quyết không chịu xây dựng và phát triển xã hội dựa trên một nền tư pháp độc lập và khai phóng con người. Những kẻ cổ vũ hoặc góp phần xây dựng nền tư pháp bỏ túi đến lúc nào đó sẽ bị chính nó quật lại.

Thiên hạ đang nói về nạn đấu tố như những năm 1990 về trước. Họ mang “Cách mạng Văn hóa”, “Nhân văn Giai phẩm” ra so sánh. Về hiện tượng thì các vụ lùm xùm về sách vở gần đây giống như những gì diễn ra trong quá khứ. Nhưng về bản chất thì đã khác.

Trước kia nhà nước yếu kém, cả về kinh tế cũng như chính trị. “Thù trong giặc ngoài” là điều được nhắc đến thời đó. Đất nước bị cô lập nặng nề, chỉ vỏn vẹn có 12-13 nước bạn XHCN giúp đỡ và cổ vũ. Từ cây kim sợi chỉ đến hạt lúa mỳ phải xin từ nước ngoài. Sinh hoạt văn hóa thì nghèo nàn như phim “Bạch Mao Nữ” và buồn như “Chung một dòng sông”. Công cụ hiếm hoi để đảm bảo sự tồn tại của chế độ chỉ là sức mạnh quân sự và chuyên chính công an. Do đó mọi tư tưởng làm ảnh hưởng đến tính chính danh của chế độ, của đảng, của lãnh tụ đều bị đập chết ngay từ trong trứng.

Ngày nay Việt Nam đã ở vào một vị thế khác. Cho dù vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển, chưa công nghiệp hóa xong, nhưng là một quốc gia không chỉ đang tự nuôi sống được mình, mà bắt đầu tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sinh hoạt văn hóa và tự do báo chí tuy vẫn bị xếp vào danh sách 10 quốc gia mất tự do nhất hành tinh [1], nhưng người Việt khi vào Internet vẫn có nhiều lựa chọn hơn ở Trung Quốc, hoặc thậm chí ở Nga.

Điều quan trọng hơn cả là nhà nước này đã tự tin hơn.

Người ta biết rằng chế độ độc đảng không còn là trở ngại trong quan hệ quốc tế. Đã có hai vị Tổng Bí Thư đi thăm nước ngoài với cương vị đúng đầu nhà nước. Có được ba tổng thống Mỹ cùng vài nguyên thủ Tây Âu, Bắc Âu gọi họ một cách lễ phép: “Thưa ông Tổng bí thư”. Các nguyên thủ phương tây nay biết rõ rằng, để làm việc với Việt Nam một cách hiệu quả, phải nói chuyện với Tổng Bí thư. Hiến pháp chỉ là hình thức.

Sự tự tin này lên đến mức mọi phân định trách nhiệm giữa chính quyền và đảng cầm quyền đã bị xóa bỏ. Các cơ quan báo chí nhà nước như đài phát thanh VOV, truyền hình VTV, TTXVN rồi kể cả các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật cũng trực thuộc đảng cầm quyền.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đều từ công an, quân đội mà ra nên họ rõ hơn ai hết về mối đe dọa của chế độ. Số bản án, các vụ bắt bớ, kỷ luật dành cho quan chức, doanh nhân trong những năm qua đã vượt xa số các vụ án dành cho người bất đồng chính kiến. Đó đang và sẽ là thực tế ở Việt Nam. Thực tế này cũng gây ra những nhiễu loạn cho công chúng khi nhìn vào các sự việc. Cả “Nỗi buồn Chiến tranh” hay “Nói chuyện với Thanh” lúc đầu đều được báo chí chính thống vinh danh để rồi tác giả bị đánh hội đồng. Rồi chính các cơ quan ca ngợi họ đều rút lui, xóa bài. Thậm chí có lúc đại diện phe chính thống còn lên tiếng phê phán đám đông đánh hội đồng (Như ông cục trưởng gì đó vừa làm).

Đại loại là đều ê chề như nhau, người ca ngợi rồi rút lui, người bị đánh và đám đông đánh hội đồng.

Trong lúc người ta hỏi học sinh làm sao để nước ta có được những người như Steve Job, thì lại diễn ra đấu tố văn hóa, trong khi kêu gọi tinh giảm bộ máy hành chính thì lại bắt người dân đến thăm họ hàng qua đêm phải khai báo… Tất cả những dích dắc đó chứng tỏ nỗi sợ vấn còn quá lớn. Tôi không tin là các NXB sơ sót điều gì. Nền kiểm duyệt mà tôi cọ xát suốt bao năm qua chưa bao giờ lơ đãng.

Phong trào tạo phản chủ yếu xuất phát từ những cựu quan chức văn hóa bảo thủ. Tuy họ không nắm quyền lực nữa, nhưng vẫn đại diện cho một lực lượng đáng kể trong xã hội. Đám đông này thổi bùng ngọn lửa “Cách mạng” để được sống lại với quá khứ của họ. Ngọn lửa này cháy to rát mặt đến mức những người chủ trương làm ngơ cho dòng chảy cuối cùng cũng phải gật đầu “cho trảm”. Lúc đầu muốn chơi trò đột phá, nhưng khi bị tạo phản thì không ai dám chịu.

Nguyên nhân của bi kịch nằm ở lực lượng “Âm binh” được nuôi dưỡng từ trước kia, nay dù muốn hay không, cũng vẫn không kiểm soát nổi.

Mất kiểm soát và thiếu bản lĩnh bản lĩnh thì thối lui.

Tất nhiên cái thực tế này sẽ còn kéo dài, bất chấp tất cả mọi mong muốn “Hóa rồng” trong “Kỷ nguyên vươn mình”. Người ta vẫn dám chấp vì luôn tin vào tăng trưởng 8-10% /năm kéo dài sẽ đưa vị thế Việt Nam tiếp tục lên cao. Điều này duy trì được chừng nào đất nước tiếp tục phát triển bằng cơ bắp, bằng gia công, bằng xuất khẩu nông sản, tài nguyên, bằng những cái giá của môi trường.

Nhưng rồi thế hệ vàng sẽ chấm dứt, lao động chân tay sẽ cạn. Đến lúc đó đất nước cần những con người có có phẩm chất để tạo ra những sản phẩm cao cấp như Chips, AI, Nano. Những con người đó không thể sinh ra trong một xã hội không có tự do học thuât, không có tự do tư tưởng, mà chỉ quen a dua đánh hội đồng.

Giả sử ngày mai có phép thần để chấm dứt các trò ngu muội đó đi, thì cũng phải mất cả chục năm để nền giáo dục khai phóng và văn hóa nhân bản mới cho ra những con người đủ phẩm chất cạnh tranh với thế giới.

Phẩm chất con người không chỉ là kiến thức, mà quan trong hơn là lý trí, đạo đức và ý chí.

Đó là điều duy nhất tôi muốn nói.

Các nhân vật từng được ưu ái, chuyên nằm chiếu trên khi ra tòa thường ăn năn, khóc lóc, xin được tha để chuộc tội lỗi. Họ càng khóc lóc thì những người xưa nay tung hô nâng đỡ họ càng tìm cách xa lánh, phủi tay. Họ có nhiều tiền để sống dễ chịu hơn trong tù, được pháp luật nương tay cho ra sớm. Nhưng họ ra tù một các lặng lẽ, giấu giếm. Vì thể tôi không mất công để viết họ.

Ngược lại những người không hề được nương tay như Hùng Gàn Lê,  hoặc Pham Doan Trang khiến tôi kính trọng. Trước tòa họ luôn tỏ ra có khí phách “Dám làm, dám chịu”. Trong suốt 5 năm Hùng Gàn ngồi tù, mẹ con Tử Đinh Hương luôn nhận được sự đùm bọc của bạn bè. Ngày Hùng ra tù, hàng ngàn người chờ trên mạng mong được nhìn vợ chồng em hội ngộ. Năm năm tù đã làm Hùng suy kiệt về sức khỏe, tài sản, sự nghiệp. Nhưng em không rời bỏ nguyên tắc của cuộc đời.

Tôi không bao giờ quên hình ảnh Đoan Trang bị giải ra khỏi phiên tòa hôm 14.12.2021. Trang không khóc, chỉ ngoái cổ lại tìm mẹ để nói: „Mẹ ơi con yêu mẹ! Con không sợ gì đâu. Mẹ giữ sức khỏe nhé!“.

THO NGUYEN 


 

Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh.- Cha Vương 

Mến chào bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay 15/7, Giáo hội mừng kính Thánh Bonaventura (1221-1274), Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh. Mừng Bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương 

https://youtu.be/QabvEw53W2k

Thứ 4: 15/7/2026.      (t3-25)

Thánh Bonaventura sinh tại Bagnorea miền Toscane năm 1221. Ngài trải qua thời niên thiếu tại dòng thánh Phanxicô Khó Khăn thành Assise (1243). Dưới sự hướng dẫn của Alexandre de Hales, ngài theo học văn chương và cũng thâu lượm nhiều kiến thức khoa học. Bảy năm sau, ngài cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Commentaire sur les 4 livres des sentences” và nhiều sách có giá trị khác.

Ngài có lòng dịu hiền tột bậc, lòng khiêm nhường sâu xa và lòng mộ mến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Năm 35 tuổi, ngài được bầu làm Bề Trên của dòng Phanxicô (1257). Với trọng trách nặng nề này, ngài được mọi người biết đến, không những vì học thuyết và sự thánh thiện nhưng còn vì sự thông minh và khôn khéo của ngài nữa. Chính vì vậy, năm 1273, Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô X đặt ngài làm Hồng Y coi địa phận Albanô. Ngài đã viết nhiều tác phẩm thần học rất có giá trị và sau cùng ngài chết tại Lyon (1274), hưởng thọ 53 tuổi.

Ðức Giáo Hoàng Sixtô IV nâng ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1482 và Ðức Giáo Hoàng Sixtô V đặt ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1588, vì ngài là cột trụ chống đỡ Giáo Hội, lưu tâm đến vấn đề hiệp nhất Hy Lạp và La Mã, đồng thời duy trì và củng cố dòng Phanxicô được lớn mạnh, vững vàng.

 (Nguồn: Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt, Vietnamese Missionaries in Asia)

Sau đây là những câu nói của Thánh Bonaventura:

(1) Vinh quang và danh dự chỉ dâng lên Thiên Chúa.

(2) Tất cả của Mẹ là của con và tất cả của con là của Mẹ.

(3) Hỡi linh hồn các tín hữu, anh chị em muốn chứng tỏ tình yêu thật đối với người đã qua đời không? Anh chị em muốn gửi cho họ món quà trợ giúp quý nhất và chìa khoá mở cửa Thiên đàng không? Hãy năng rước lễ cho các linh hồn được an nghỉ.

(4) Nếu ta kính chào Mẹ bằng kinh Kính Mừng thì Mẹ sẽ đáp lại ta bằng muôn ơn phúc.

(5) Thiên Chúa có thể tạo dựng một thế giới khác tốt đẹp hơn, nhưng không thể tạo dựng một người mẹ khác hoàn hảo hơn Mẹ Thiên Chúa được.

(6) Hạnh phúc cho những ai hiến dâng tâm hồn mình cho Mẹ! Hạnh phúc cho những ai hết tình phụng sự Mẹ!

(7) Ôi tình thương lạ lùng của Chúa! Muốn một ngày kia khỏi phải tuyên án tống giam chúng con vào ngục tuyệt vọng đời đời, Chúa đã ban Mẹ là Mẹ Chúa, là Chủ tối cao kho tàng ân sủng, làm Trạng sư bầu chữa chúng con.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Đối với mình thì câu số 3 và 4.

From: Do Dzung

************

Chúa Yêu Con Nhiều