DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY

DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY

Trong hơn 2000 năm, người Do Thái ly biệt quê hương và tản mạn đi khắp mọi khu vực của trái đất.

Mãi đến năm 1947, khi chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt, người Do Thái mới trở về đất nước của mình.

Nhưng mà, là một dân tộc dù phải lang bạt hơn 2000 năm, nhưng Do Thái lại là dân tộc “độc nhất vô nhị” không có người ăn mày.

Người Do Thái cho rằng: Giáo viên vĩ đại hơn cả quốc vương. Họ vô cùng kính trọng giáo viên.

Dựa vào học tập, tri thức và sách, người Do Thái dù lang thang ở bất kể nơi đâu họ cũng đều có thể sinh tồn, hơn nữa còn phát triển mạnh mẽ.

Người Do Thái là một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo mạnh mẽ. Họ coi học tập là một phần của tín ngưỡng, học tập là một hình thức thể hiện sự tôn kính của mình đối với Thượng đế.

Mỗi người Do Thái đều cần phải đọc sách.

Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”.

Talmud cho rằng:

“Học tập là thứ giúp hành vi hướng thiện, là nguồn gốc của đức hạnh. Sự thành kính, lương thiện, ôn hòa, ưu nhã của một người đều là dựa vào kết quả của giáo dục.”

Người Do Thái coi sách là bảo bối của cả đời. Giá sách không được đặt ở đầu giường hay cuối giường nếu không sẽ bị coi là bất kính với sách.

“Trí tuệ quan trọng hơn tri thức”.

Như thế nào là tri thức?

Tri thức chính là thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật.

Còn trí tuệ là đem thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.

Đối với con người, quan trọng nhất là cái gì?

Là đến từ trí tuệ, mà trí tuệ lại đến từ tri thức.

Mục đích của đọc sách là để mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét.

Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ!

Vì vậy, trí tuệ đến từ tri thức và quan trọng hơn tri thức!

Người Do Thái ủng hộ sáng tạo cái mới.

Họ cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.

Người Trung Quốc thường hỏi con cái khi chúng tan trường là:

– “Hôm nay con làm bài thế nào?”

Còn người Do Thái sẽ hỏi con:

– “Hôm nay con có đưa ra câu hỏi nào không?

– “Hôm nay con có gì khác hôm qua không?”

Người Do Thái cho rằng, thông qua học tập mọi người có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính mình.

Cách giáo dục của người Do Thái bao gồm cả đóng và mở.

Đối với nội bộ người Do Thái là cởi mở, còn đối với bên ngoài là đóng kín, để duy trì sự cạnh tranh sinh tồn của người Do Thái. Talmud là kinh thánh chuẩn.

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 6 công nguyên, người Do Thái đã vận dụng nó 500 năm.

Hơn 2000 giáo sĩ Do Thái và các nhà khoa học đã biên soạn ra cuốn sách quý này. Nó là bảo bối sinh tồn của người Do Thái.

Trên thế giới, dân tộc Do Thái là dân tộc hiểu nhất về nghệ thuật của giáo dục. Có thể nói, người Do Thái là dân tộc thành công nhất về giáo dục.

Người Do Thái cho rằng giáo dục có thể cải biến đời người, số mệnh, cải biến hết thảy.

Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của họ đều bị cướp đoạt hết chỉ có sách và tri thức là không thể bị cướp mất.

Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, tri thức và sách.

Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng.

Vì thế, người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ.

Từ trước năm 1947, ngay cả một mảnh đất lãnh thổ cũng không có. Thế nhưng, trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa mù chữ, vì vậy tố chất chỉnh thể của dân tộc này cao hơn của các dân tộc khác một bậc.

Dù với dân số ít ỏi, nhưng Do Thái là dân tộc đã giành được rất nhiều giải thưởng Nobel, với 169 người, chiếm 17.7% tổng số người giành được giải thưởng này của cả thế giới.

Chính những yếu tố này đã khiến cho người dân Do Thái dù phải phiêu bạt khắp thế giới hơn 2000 năm, nhưng lại là một nước duy nhất trên thế giới không có ăn mày.

Hãy dạy con cái làm người trước khi dạy chúng cách kiếm tiền.

Gia Nguyễn chia sẻ từ Quý Mão

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY

Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người?

Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người?

Chuẩn bị mở cửa để Cọp vào nhà chưa? Chúc bạn một ngày an lành trong Chúa và Mẹ yêu nhé.

Cha Vuong

Thứ 3: 18/01/2022

GIÁO LÝ: Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người? Thiên Chúa dựng nên tất cả là vì con người, con người là “tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ” (Gaudium et Spes 24,3), Người dựng nên họ để họ được hạnh phúc nếu họ nhận biết, yêu mến, phục vụ Thiên Chúa, sống trong niềm biết ơn Đấng dựng nên mình. (YouCat, số 59)

SUY NIỆM: Lòng biết ơn là ghi nhớ về tình yêu của Thiên Chúa. Người biết ơn thì tự nguyện quay về với người ban ơn và đi vào trong hiệp thông mới và sâu sắc hơn với người ban ơn. Thiên Chúa muốn ta ghi nhớ tình yêu của Người, và ngay bây giờ ta sống đời ta trong hiệp thông với Thiên Chúa, mãi mãi (YouCat, số 59 t.t)

❦ Nếu lời kinh duy nhất của đời bạn cốt tại thưa rằng: “Con xin cám ơn Chúa” chắc như thế là đủ rồi. (Maître Eckhart)

❦ Việc cám ơn được nâng đỡ bởi đức tin có thể đi sâu vào cả những gì là nặng nhọc đau buồn và chừng nào được như vậy thì mọi sự có thể biến đổi. (Romano Guardini)

❦ Lòng biết ơn là ký ức của tâm hồn. (Thánh nữ Mary Euphrasia Pelletier)

❦ Chúa Giêsu không đòi hỏi chúng ta những hành động lớn lao, nhưng chỉ đơn giản là phó thác và biết ơn. (Thánh nữ Têrêsa Lisieux)

LẮNG NGHE: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. (Cl 1:15-16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa đã dựng nên con giống hình ảnh Chúa, có xác có hồn, xin cho con luôn biết yêu mến và trung thành tuân giữ luật Chúa là con đường đưa đến hạnh phúc thật.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Cám Ơn

From: Đỗ Dzũng

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người?

Nếu đây là lần cuối cùng trong đời? Cha Phạm Quang Hồng

Nếu đây là lần cuối cùng trong đời? Cha Phạm Quang Hồng

Đăng tải tại PHIM ẢNH & BÀI GIẢNG | Chức năng bình luận bị tắt ở Nếu đây là lần cuối cùng trong đời? Cha Phạm Quang Hồng

Trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 – Tác giả Liên Thành

Van Pham

On Cố Tri Tân – Đọc để thấy chính sách, đường lối của Việt cộng đến nay cũng không khác gì trước 1975 tại Miền Nam VN. Hiện nay tình cảnh các Cộng đồng NVTD NSW & VIC cũng y hệt cảnh đấu tranh, xuống đường 1965-1966 và Tổng nổi dậy Tất Mậu Thân 1968.

Và cũng kỷ niệm 52 năm tắm máu kinh hoàng tại Cố Đô Huế…

***

LÊ VĂN HẢO, THÍCH ĐÔN HẬU, HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN & NGUYỄN ĐẮC XUÂN – 5 NHÂN VẬT CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC LỊCH SỬ & TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ TỘI ÁC CHIẾN TRANH & TỘI ÁC DIỆT CHỦNG”

(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 – Tác giả Liên Thành)

Khoảng 6 giờ sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, sương mù tan dần, trời trở lạnh và thấp, Huế bật khóc trong nghẹn ngào tủi hận, khi nhìn về phía Kỳ Đài Phú Văn Lâu lá quốc kỳ VNCH không còn nữa, thay vào đó là một lá cờ gồm 3 phần: xanh, đỏ, xanh ở giữa nền đỏ có ngôi sao vàng. Đó chính là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Phần đông đồng bào Huế cứ ngỡ đó là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng không phải vậy. Cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ có hai phần: xanh và đỏ, giữa có ngôi sao vàng.

Lá cờ treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu trong suốt 24 ngày gây chết chóc đau thương tột cùng cho đồng bào Huế là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Người Huế sau hai mươi sáu ngày ngập trong đau thương, trong kinh hoàng bởi ngọn cờ “xanh, đỏ, xanh và ngôi sao vàng chính giữa” họ đã hỏi nhau:

a- Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

b- Khai sinh ra lúc nào? Mục đích gì?

c- Tại sao phục vụ dưới ngọn cờ này toàn là cán binh Việt cộng và đám nằm vùng?

d- Tại sao những những kẻ đã từng tham gia trong vụ phản loạn của Thích Trí Quang và Đôn Hậu vào 6/1966 đào thoát lên mật khu theo Việt cộng nay đều có mặt trong tổ chức này?

e- Tại sao lại giết hại đồng bào Huế nhiều như vậy?

Lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

Theo tài liệu giải mật:

– Tháng 5 năm 1967 Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp của Bộ Chính trị Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam để đánh giá tình hình, dự thảo chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

– Tháng 6 năm 1967 Bộ Chính Trị lại được triệu tập lần thứ 2 để bàn bạc kỹ lưỡng hơn dự thảo kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

– Tháng 10 năm 1967 Bộ Chính Trị triệu tập phiên họp lần thứ 3 từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 10 năm 1967, trong năm ngày, thay mặt Quân Ủy Trung ương Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo kế hoạch Đông-Xuân-Hè 1967-1968:

Thực hiện một cuộc đột kích chiến lược bất ngờ và mãnh liệt nhất, bằng cả hai lực lượng vũ trang và chính trị, tức là “Tổng Công Kich-Tổng Nổi Dậy”. Và Bộ chính trị quyết định thời gian mở cuộc “tổng tấn công và tổng nổi dậy” là vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

– Ngày 28 tháng 12 năm 1967 Bộ chính trị triệu tập phiên họp đặc biệt dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung Ương đảng, chính thức thông qua kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy.

– Tháng 1 năm 1968 Ban chấp hành Trung Ương đảng họp lần thứ 14 tại Hà Nội thông qua nghị quyết tháng 12/1967 của Bộ Chính trị, quyết định: “Tổng Công Kích và Tổng Khởi Nghĩa” tại miền Nam Việt Nam.

Riêng về lực lượng để tổng khởi nghĩa đó là kết hợp quần chúng nông thôn và đô thị thành một lực lượng to lớn để tổng nổi dậy. Do đó Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình ra đời.

Đây là lực lượng chủ lực và nòng cốt cho kế hoạch Tổng Khởi Nghĩa của Hồ chí Minh và của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam tại Huế.

Vào ngày 21 tháng 1 năm 1968, Bộ Chính trị đã gởi một mật điện cho Phạm Hùng Trung Ương Cục Miền Nam, Võ Chí Công Khu Ủy Khu 5 và Tướng Trần Văn Quang, Khu Ủy Trị Thiên quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập một mặt trận chính trị thứ hai sau Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lấy tên là:

“Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình” nhằm phân hóa địch đến mức cao nhất, tranh thủ và tập hợp thêm những lực lượng những cá nhân chống Mỹ và Thiệu-Kỳ. Tranh thủ các tầng lớp trung gian ở đô thị, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi ở nước ngoài.

Riêng tại Cố Đô Huế Thiếu Tướng VC Trần Văn Quang Khu Ủy Trị Thiên giao cho Chính Ủy Lê Chưởng, sau này là Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam, thi hành lệnh của Bộ Chính Trị thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình tại Huế.

Lê Chưởng phối hợp cùng Hoàng Kim Loan, và Hoàng Lanh, hai cán bộ Thành Ủy Huế, chịu trách nhiệm phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy”, gấp rút thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình trước thời điểm tấn công Huế để kịp thời trình diễn với đồng bào quốc nội cũng như tuyên truyền với quốc tế rằng: Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là một lực lượng tự phát của dân chúng miền Nam, được kết hợp bởi mọi thành phần yêu nước trong quần chúng và tôn giáo. Họ vùng lên “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” giành lại chính quyền trong tay Ngụy Quân, Ngụy Quyền, bè lũ tay sai, và Đế quốc Mỹ xâm lược ác ôn. Ngoài ra lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình còn có nhiệm vụ:

“Lùng, diệt, truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ‘Ngụy’, các thành phần làm tay sai cho tình báo CIA.”

Những thành phần nòng cốt được tuyển chọn đặt vào những chức vụ chủ chốt và quan trọng trong tổ chức Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ tại Huế gồm:

Chủ Tịch: Lê Văn Hảo.

Giáo Sư Nhân Chủng Học Trường Đại Học Huế. Lê Văn Hảo sinh quán tại Huế. Du học tại Pháp. Về nước vào năm 1965. Giáo sư của Đại học Sài Gòn và Đại học Huế về môn nhân chủng học.

Lê Văn Hảo hoạt động trong Tổ Trí Vận của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Tiềm, Ngô Kha, Hoàng Văn Giàu, và Tôn Thất Hanh. Y tham gia phong trào nổi loạn vào năm 1966 của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu tại Miền Trung-Huế.

Vụ phản loạn của Thích Trí Quang thất bại, Lê Văn Hảo bị lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi bắt giữ. Chúng tôi đang thẩm vấn y để truy lùng bắt đám trí vận nội thành thì ông Trưởng Ty Đoàn Công Lập ký giấy trả tự do cho y. Tôi trực tiếp phản đối chuyện này với ông Đoàn Công Lập, nhưng vô hiệu. Ông là Trưởng Ty, là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Ông ta có toàn quyền, đủ tư cách pháp lý pháp nhân, bắt ai, thả ai là quyền của ông ta. Và ông ta đã sử dụng quyền này để thả tù nhân Cộng sản ra, tôi biết làm sao hơn?

(1967 chúng tôi tình nghi ông Đoàn Công Lập làm nội tuyến. Sau Mậu Thân Đoàn Công Lập bị bắt. 1972 điệp viên VC Hoàng Kim Loan xác nhận y là cán bộ điều khiển Đoàn Công Lập. Sẽ nói rõ trong phần sau).

Gần cuối tháng 12/1967 trước trận đánh Mậu Thân, Hoàng Kim Loan đã chuyển Lê Văn Hảo lên mật khu học tập và nhận chỉ thị thi hành kế hoạch Mậu Thân để “tổng nổi dậy”, đồng thời nhận chức Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Theo màn kịch cướp chính quyền này của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Văn Hảo được đề cử kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Nhân Cách Mạng thành phố Huế kể từ sáng Mùng 2 Tết Mậu Thân.

Phó Chủ Tịch: Thích Đôn Hậu, Chánh đại diện Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh.

Thích Đôn Hậu là cơ sở Tôn Giáo Vận được tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan tổ chức hoạt động cho Cộng sản từ trước 1963.

(Xin đọc phần sau: “Sự thật về Thích Đôn Hậu”).

Tổng Thư Ký: Giáo Sư Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nguyên quán tại làng Bích Khê, Huyện Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị. Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, là hậu duệ của Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng, đời Vua Tự Đức.

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, Giáo sư Việt Văn trường Quốc Học, hoạt động trong tổ chức trí thức vận của Khu Ủy 5, và sau đó trực thuộc cơ quan Thành ủy Huế.

Hoàng Phủ Ngọc Tường tham dự hầu hết các vụ rối loạn tại Miền Trung. Với danh nghĩa là thành phần trí thức, y hoạt động kết hợp với tổ chức Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng Thành phố Huế.

Từ cuộc tranh đấu của Phật Giáo Ấn Quang vào năm 1963, do hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí Quang và Đôn Hậu cầm đầu, đến vụ khởi loạn tại Miền Trung vào năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường đều có mặt bên cạnh Trí Quang và Đôn Hậu, theo chỉ thị của Khu Ủy Khu 5 và tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan. Cũng như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những thành phần tin cậy, là cánh tay mặt của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu trong lực lượng học sinh, sinh viên và trí thức, lực lượng chủ lực của Đôn Hậu và Trí Quang trong các cuộc tranh đấu lên đường xuống đường gây rối loạn tại miền trung, Huế.

Sau cuộc đảo chánh phản loạn 1963 lật đổ nền đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và hai bào đệ là ông Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn bị thảm sát, thì tại Huế hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí Quang và Đôn Hậu là hai tay quyền lực nhất nước, và chùa Từ Đàm mới thực là Dinh Độc Lập. Đám Việt cộng mặc lớp áo trí thức, sinh viên thuộc Đại Học Huế là những công thần của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, đã trở thành những kiêu binh nắm quyền sinh sát chính trị.

Kết quả lực lượng an ninh tình báo VNCH đã bị tên Việt cộng Trí Quang và Cục Tình Báo Chiến Lược Bắc Việt đánh tơi tả. Vì thế đám Việt cộng nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường mặc sức tung hoành chẳng ai dám đụng tới. Điển hình là từ 1964 tại Đại học Huế có hai tờ báo của Việt cộng ngang nhiên hoạt động. 4

Tờ báo thứ nhất của nhóm trí thức thiên tả tại Đại Học Huế đó là tờ “Lập Trường” do Giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm. Chủ trương của nhóm Lập Trường là chống lại tất cả các nội các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Sáu nội các chính phủ sau chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm đều bị dán nhãn là “Chính quyền Diệm mà không Diệm”. Chiêu bài này cũng còn được sử dụng tiếp tục và dài dài sau đó, ngay cả đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Thậm chí bọn Cộng sản nằm vùng và tay sai còn sử dụng chiêu bài này ngay tại hải ngoại hiện nay).

Ngoài ra Giáo sư tiến sĩ Cao Huy Thuần bút hiệu là Ba Cao mở mục “Chén Thuốc Đắng” để thường xuyên tuyên truyền vu khống bôi xấu tấn công các cấp lãnh đạo và chính quyền Miền Nam Việt Nam là ác quỷ đàn áp dân chúng sinh viên học sinh.

Tờ báo thứ hai xuất phát từ Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế với tên gọi là “Sinh Viên Huế” thực chất là của “Lực Lượng Học sinh, Sinh viên Giải Phóng Thành phố Huế”, và Hoàng Phủ Ngọc Tường, người của Khu ủy Khu 5, giữ chức Tổng Thư Ký Tòa Soạn. Ban biên tập “Sinh Viên Huế” gồm nhiều “sinh viên” hoạt động cho cơ quan Thành Ủy Huế. Đặc biệt có Phan Duy Nhân, sinh viên Đại học Luật Khoa Huế, với bút hiệu Thiết Sử. Phan Duy Nhân là một tên Việt cộng nằm vùng loại rất nguy hiểm. Mọi cuộc lên đường xuống đường của Trí Quang và Đôn Hậu, Phan Duy Nhân đều tham gia tổ chức. Lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi đã bắt và giam y tại Côn Sơn 1968-1975.

Trước đây khi chúng tôi bắt những tên Việt cộng giả dạng “đối lập” tổ chức những đám biểu tình phủ màu sắc áo cà sa nhân danh tôn giáo, nhân danh sinh viên học sinh thì liền bị quy chụp là Cảnh Sát Quốc Gia và bè lũ Mỹ Ngụy ác ôn đàn áp sinh viên học sinh, đàn áp đối lập đàn áp tôn giáo!

Sự thật ở đâu?

Sau tháng 4/1975, những “đối lập” này hiện nguyên hình là Việt cộng nằm vùng! Chính chúng trá hình là lãnh tụ đối lập để phá nát chính quyền VNCH. Nếu chúng tự xưng là MTGPMN hoặc là Việt cộng thì có ai nghe chúng? Quả thật bảo vệ lý tưởng quốc gia tại mặt trận là điều khó, nhưng bắt giam Việt cộng nằm vùng ở hậu phương là một mặt trận lại càng khó hơn. Các anh chị em CSQG luôn phải chịu đựng bị chụp mũ, bị bôi nhọ thóa mạ, thậm chí có thể bị trù dập bởi những người cùng chung chiến tuyến.

Thí dụ, sau tháng 4 năm 1975 cựu “sinh viên đối lập” thực chất là nội tuyến Phan Duy Nhân có tên mới là Nguyễn Chính, chức vụ Trưởng Ban Tôn Giáo trong Mặt Trận Tổ Quốc, ngạch trật tương đương với cấp thứ trưởng trong chính phủ Cộng sản Việt Nam! Thích Đôn Hậu sau 1975 là Đại Biểu Quốc Hội nhiều khóa, Thích Như Ý và Thích Thiện Siêu sau 1975 cũng là Đại Biểu Quốc Hội, thành viên Mặt Trận Tổ Quốc. Trước đây khi lực lượng CSQG đến chùa Trà Am bắt hắn thì bị Phật tử biểu tình rầm rộ buộc thả hắn ra, còn cá nhân tôi thì suýt bị Thiếu Tướng Trần Thanh Phong bắt và cách chức.

Song song với công tác tờ báo Sinh Viên Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tham gia trong nhóm sinh viên chủ chốt của phong trào tranh đấu phản loạn miền trung của Trí Quang, Đôn Hậu. Nhóm sinh viên này gồm có: Nguyễn Hữu Ngô, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Quang Long, Ngô Kha, Lê Văn Sâm (Sinh viên Luật Khoa, không phải là Lê văn Sâm sinh viên Văn Khoa).

Vào khoảng đầu tháng 9/1964 thì nhóm sinh viên nằm vùng này thành lập quán café “Quán Bạn” ở đường Đào Duy Từ. Chủ quán là sinh viên Lê Văn Sâm, nữ văn sĩ Túy Hồng phụ trách giao tế.

Khi ông Tướng Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến Chương Vũng Tàu”, thì tại Huế do chỉ thị của Khu ủy Khu 5 và tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang, Hoàng Phủ Ngọc Tường thành lập Lực Lượng Giáo Chức Tranh Đấu Huế. Y làm chủ tịch lực lượng này. Đồng thời y cho ra đời tờ báo “Báo Dân”. Tất cả thành phần trong “Quán Bạn” là những cây viết chủ lực của tờ Báo Dân.

Vào đầu năm 1966 theo chỉ thị của Khu ủy Khu 5, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan cho ra mắt tại Huế tờ báo “Việt Nam Việt Nam” công khai chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chống chiến tranh xâm lược Mỹ, nhằm hỗ trợ tích cực và mạnh mẽ cho hai tên cán bộ Việt cộng Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu đang phát động cuộc phản loạn của bọn chúng tại miền trung, nhằm thực hiện mưu đồ cắt miền trung từ đèo Hải Vân ra đến Tỉnh Quảng Trị, biến vùng này thành vùng trái độn.

Điều đáng lưu ý là nhóm chủ biên các tờ báo này toàn là những cơ sở nằm vùng của Khu Ủy Khu 5, của ban Trí Vận Thành ủy Huế, gọi chung là cán bộ của phong trào đô thị. Bọn chúng gồm có:

Lê Văn Hảo: Giáo sư Đại Học Huế. Lê văn Hảo cầm đầu nhóm chủ biên và để bảo mật. Lê Văn Hảo đã dùng phòng riêng của y để in báo.

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nguyễn Khắc Túy tức Nguyễn Đắc Xuân

Hoàng Phủ Ngọc Phan

Lê Thanh Xuân

Hà Trung Tiến tức Hoàng Hữu Pha

Lê Tử Thành tức Trường Thành

Nguyễn Kim Sơn tức Lê Trường Sơn

Trần Hoàng Phong tức Trần Quang Long.

Nguyễn Thị Tố Liên: Xướng ngôn viên đài phát thanh Cứu Nguy Phật Giáo thuộc lực lượng phản loạn 6/1966 của tên Việt cộng nằm vùng Thích Trí Quang.

Đinh Cường: Họa sĩ, bí danh Các Hồng.

Số báo “Việt Nam Việt Nam” mang số 1 phát hành đúng vào thời gian cao điểm cuộc phản loạn của Trí Quang và Đôn Hậu vào 1966. Cũng phải nói đến giáo sư Bửu và Thái Ngọc San là 2 tay liên lạc đem báo từ Huế vào Sài Gòn, Quy Nhơn.

Tờ “Việt Nam Việt Nam” số thứ 2 đang sửa soạn phát hành thì toàn bộ bọn chúng bị lực lượng CSĐB của chúng tôi bổ vây truy bắt. Khu Ủy Khu 5 liền chỉ thị cho cơ quan Trí Vận thành ủy Huế gấp rút đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và một số khác chạy trốn. Điệp viên Hoàng Kim Loan cấp tốc gởi giao liên đến đưa bọn này lên mật khu.

Còn nhớ đêm cuối cùng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan ăn cơm tối tại nhà Trịnh Công Sơn sau đó giao liên là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm và tài xế là Lê Cảnh Đạm, Tổng Thư Ký trường Đại Học Y Khoa Huế, dùng xe hơi của Bà Tuần Chi, tức bà Đào Thị Xuân Yến, một cơ sở trí vận của Thành Ủy Huế. Y thị cũng là người tình của Thích Đôn Hậu.

Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm đến nhà Trịnh Công Sơn chở Tường, Phan lên Chùa Linh Mụ của Thích Đôn Hậu, sau đó chúng đi qua ngả Long Hồ, Ngọc Hồ, vuợt nguồn hữu lên mật khu tại vùng sau lưng núi Kim Phụng hay thường gọi là núi Chuối thuộc quận Nam Hòa, đó là nơi cơ quan Tỉnh Ủy Thừa Thiên Việt cộng trú đóng.

Năm 2009, khi tôi công bố chi tiết này trong bài viết về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng thì Hoàng Phủ Ngọc Phan lập tức chối tội của hắn và đồng bọn trong một số các bài viết bằng cách cho rằng chi tiết anh em Hoàng Phủ trốn trong nhà Trịnh Công Sơn là không đúng, rằng anh em chúng trốn ở nhà ông Nguyễn Kim Sơn nào đó hiện nay đang ở Đức? Nhưng đã quá trễ, chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết trong hồi ký của hắn kể lại việc Trịnh Cộng Sơn đã che giấu Phan và Tường trong nhà trong lúc tìm đường chạy trốn khỏi lực lượng CSĐB chúng tôi.

Trước trận “Tổng Công Kích, Tổng Nổi Dậy” Mậu Thân 1968 tại Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường được lệnh của khu Ủy Khu 5 giữ chức Tổng Thư Ký của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, đồng thời trong thời gian cộng quân chiếm Huế, y được giao nhiệm vụ và chức vụ Chủ Tịch Tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu, Gia Hội thuộc Quận II, hay dùng đúng theo danh từ của bọn chúng là Tòa Án Nhân Dân tại “Mặt Trận Cánh Bắc”.

Tại phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân này, y đã ra lệnh chôn sống 204 thường dân vô tội trong đó có xử bắn một số Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Xin nhắc lại, sau này khi các đài truyền thanh, truyền hình và báo chí quốc tế hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường, cụ thể trong: Loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer).

– Tại sao lại phải giết nhiều người như vậy?

Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời:

-“Giết bọn chúng thì cũng như giết những con rắn độc mà thôi”.

Và hãy nghe chính hắn trong đoạn phim năm 1982 thực hiện bởi một đài truyền hình London nói về lý do hắn giết người như sau “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”.

Muốn biết Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có mặt tại trận địa Tết Mậu Thân Huế không và đã giết người thế nào, xin vào link phỏng vấn hắn ta dưới đây để thấy chính miệng hắn chứ không ai khác xác nhận hắn đã có mặt tại Huế, đã thù hận và giết quân cán chính VNCH và dân chúng thế nào. Nay khi chủ nghĩa Cộng sản bị cả thế giới lên án là tội ác của nhân loại thì hắn chối rằng lúc đó hắn đang ở trên rừng?! Rừng nào đây Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Đồng ý dối trá là một đặc tính chung của bọn Cộng sản và tay sai, có tên chối được vì bằng cớ đã bị mất, nhưng đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đã quá trễ, có thể nào hắn chối được những đoạn phim trong link này không?

https://openvault.wgbh.org/…/V_226B408F90EB4A4BA79758A8…

Nguyễn Đắc Xuân: Phụ trách lực lượng học sinh, sinh viên, trí thức, của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Kiêm chức vụ: Đoàn Trưởng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của thành phố Huế, tức Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Đây là lực lượng chủ lực trong vụ tàn sát đồng bào Huế.

Nguyễn Đắc Xuân là một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành Ủy Huế nằm vùng trong giới sinh viên đại học. Trước khi đào thoát lên mật khu vào tháng 7/1966, y là sinh viên năm thứ 2 Đại học Sư phạm ban Việt Hán. Trong suốt thời gian sôi động của cuộc Nổi Loạn Miền Trung do 2 tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo chỉ huy là Thích Đôn Hậu và Thích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân là tay chân tín cẩn của hai tên này.

Theo lệnh của Thích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân thành lập Đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử, gồm có 3 đại đội được cấp tốc huấn luyện quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Văn Thánh của Sư Đoàn I BB, đồng thời cũng được Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận Tư lệnh Sư Đoàn I/BB cho phép lấy vũ khí của sư đoàn trang bị cho 3 Đại Đội Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân. Thành tích của Nguyễn Đắc Xuân đối Với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu và với cơ quan Thành Ủy Việt cộng Huế là:

– Chiếm đài phát thanh của chính phủ tại Huế, đổi tên là đài phát thanh “Cứu Nguy Phật Giáo”.

– Đốt tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế vào ngày 29/5/1966.

– Kế tiếp đốt phòng Thông Tin Văn Hóa Hoa Kỳ.

– Chiếm ty CSQG/Thừa Thiên Huế, cướp kho súng, cướp máy móc truyền tin xe cộ của cảnh sát để trang bị cho đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y.

– Đốt nhà của Trung tá Phan Văn Khoa Tỉnh Thị Trưởng Thừa Thiên-Huế tại gần Cống Thủy Quan trên đường Cường Để, thuộc quận Thành Nội, vì Trung tá Tỉnh Thị Trưởng không theo phong trào nổi loạn của bọn chúng.

– Tổ chức các cuộc biểu tình gây hỗn loạn trong thành phố.

– Chỉ huy 3 Đại đội Sinh Viên Quyết Tử đi từng nhà một trong thành phố Huế bắt ép dân chúng tham gia phong trào phản loạn, ai khộng chịu theo thì bị vu khống là người của Thiệu Kỳ, liền bị bọn chúng hăm đọa, hoặc dùng bạo lực khống chế.

– Sau đó Nguyễn Đắc Xuân đưa lực lượng Sinh Viên Phật Tử Quyết tử này vào tăng cường cho Chùa Tinh Hội tại Đà Nẵng. Tại đây y và 3 đại đội Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y đã gây xáo trộn và chết chóc cho dân cư của thành Phố Đà Nẵng không ít.

Vô nghề nghiệp, tên sát nhân Nguyễn Đắc Xuân vào Đại Nội xem một số cổ vật của Hoàng Cung rồi về nhà viết về Triều Nguyễn, từ đó tự phong “Nhà Huế Học”, thực chất hắn rất giỏi về môn “Tắm Máu Mậu Thân Học”, “đồ tể học”.

Đang nghẹn ngào vì Đảng cho thành vật phế thải…?

Khi quân đội và cảnh sát chiếm lại thành phố Đà Nẵng trong tay bọn làm loạn, thì tại một nhà kho của Chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng, Đại tá Cảnh Sát Trần Minh Công khi ấy là Trưởng Ty CSQG thị xã Đà Nẵng phát giác một số thây người đã sình thối trong nhà kho chùa. Chính đích thân ông và một số nhân viên cảnh sát của ông đã phải vác những xác chết đó đi chôn cất.

Nguyễn Đắc Xuân và lực lượng Quyết Tử đã gây thiệt hại sinh mệnh và kinh hoàng cho dân Huế và Đà Nẵng vào năm 1966, nay Tết Mậu Thân 1968 cũng chính tên đao thủ này cùng với Đội An Ninh và Bảo Vệ Khu phố của y, phục vụ cuồng nhiệt cho Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập mà Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, Thích Đôn Hậu phó Chủ Tịch, đã tắm máu dân Huế trong suốt 22 ngày, với 5327 người bị chúng giết và bắt dẫn đi mất tích 1200 người.

BẠO LỰC CÁCH MẠNG: 624 GIỜ DÂN HUẾ SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT, CUỘC TẮM MÁU RÙNG RỢN NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM: TẾT MẬU THÂN 1968 TẠI HUẾ CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Sáu giờ sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968 khi lá cờ sắt máu của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình xuất hiện tại Kỳ Đài Phú Văn Lâu, khi mà 10 ngàn quân Cộng sản gồm chính quy, địa phương, công an, cơ sở nằm vùng đã tràn ngập thành phố Huế, bọn chúng bắt đầu thi hành chỉ thị của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, của Hồ chí Minh, của Lê Duẩn, phát động cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền tại Huế. Lực lượng quân sự vừa kể trên hỗ trợ cho lực lượng chính trị là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê văn Hảo, Thích Đôn Hậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, với sự chỉ đạo của các cán bộ Cộng sản thuộc Quân Ủy Trị Thiên, Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế như:

– Lê Chưởng, chính ủy Khu Ủy Trị Thiên và mặt trận Huế.

– Hoàng Phương Thảo, cán bộ thành ủy

– Hoàng Lanh, cán bộ thành ủy

– Phan Nam tức Lương, cán bộ thành ủy

– Tống Hoàng Nguyên, trưởng ban An Ninh Quân Khu Trị Thiên

– Nguyễn Đình Bảy, tự Bảy Lanh trưởng ty Công An Thừa Thiên-Huế

– Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của thành Phố Huế.

Thực chất lực lượng này là đám cơ sở Việt cộng nằm vùng trong mọi giới học sinh, sinh viên, tiểu thương chợ Đông Ba, công chức, cảnh sát, quân nhân v.v. và cũng chính là đám bình mới rượu cũ tranh đấu nổi loạn vào năm 1966 của hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu.

Bọn này vào tháng 6, tháng 7/1966 một số đào thoát lên mật khu, số khác không bị lộ nằm ém lại, nay công khai lộ diện bắt bớ tàn sát dân lành vô tội.

Lực lượng này là đại lực lượng gây chết chóc đau thương nhất cho dân chúng Huế trong suốt 22 ngày. Đây là lực lượng sắt máu số 1, giết người trên căn bản thù hận Quốc-Cộng, bọn chúng say máu người còn hơn là quỷ dữ và luôn chủ trương giết lầm hơn bỏ sót, như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình đã phát biểu qua nhiều cuộc phỏng vấn của giới truyền thông Quốc Tế còn được lưu trữ hiện nay rằng:

“Giết bọn chúng cũng giống như giết những con rắn độc”.

Đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp qua đi, nhưng âm thanh lời nói này vẫn mãi mãi được ghi lại và phát đi trên toàn cầu qua hệ thống internet cho lịch sử, cho người dân Huế nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung phán xét.

Chỉ huy cuộc Tổng Nổi Dậy tại Huế là điệp viên Trung tá Cộng sản Hoàng Kim Loan, Thành ủy viên Thành Ủy Huế.

THÀNH LẬP CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG

1- Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên, thị xã Huế.

Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế, hay còn gọi là Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế đã được thành lập theo lệnh bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam trước Tết Mậu Thân, khoảng tháng 12 năm 1967. Thành phần nhân sự của tổ chức này gồm có:

1- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị Xã Huế: Giáo sư nhân chủng học Lê Văn Hảo.

Quá khứ hoạt động tích cực cho Bác Đảng như thế, nhưng ê chề thay, sau 1975, nhân một chuyến được mời đi Pháp thuyết trình, Lê Văn Hảo lại đào thoát khỏi thiên đường Cộng sản mà trước đó y đã bỏ biết bao tâm huyết công sức, và dùng bao máu người dân Huế để xây dựng. Mặc dù tang chứng và nhân chứng còn rành rành ra đó, nhưng Lê Văn Hảo vẫn không ngượng miệng chối bỏ quá khứ tội lỗi đã hoạt động Cộng sản rất tích cực, đến nỗi đã được bọn chúng tin cậy giao cho một lần 2 chức vụ quan trọng trong Tết Mậu Thân 1968 đó là Chủ Tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành Phố Huế.

Có lẽ vì xấu hổ với tội lỗi làm Cộng sản cho nên kể từ khi trốn ở lại hải ngoại tại, y thường tiếp xúc với báo chí quốc tế và dối trá rằng:

“Tôi bị ép buộc phải nhận một lần 2 chức quan trọng bọn họ giao cho tôi trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế”

a- Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

b- Chủ tịch ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành phố Huế.

“Khi lực lượng quân sự tràn vào Huế thì trong suốt 26 ngày tôi vẫn ở trên núi xanh, không có mặt ở Huế v.v.”

Thưa ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, trên đời có ai mà “bị” ép buộc phải nhận chức vụ quan trọng bao giờ? Thói thường phải gọi là “được” nhận chức vụ “quan trọng” phải không? Nhất là đối với cách mạng, đây là một đặc ân được ban phát cho những kẻ có thành tích quan trọng, kèm theo là phải được sự tin tưởng rất cao của cấp trên, cớ sao ông lại nói ngược là “bị ép buộc”?

Cựu chủ tịch Ủy Ban Liên Minh, và cựu chủ tịch Ủy Ban Cách Mạng thành phố Huế, xin ông hãy đọc kỹ những dòng chữ dưới đây của người vừa là bạn thân thiết, và vừa là đồng chí của ông Lê Văn Hảo là Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“Nhân đây tôi thấy cần nói một điều sòng phẳng về trường hợp anh Lê Văn Hảo. Trước khi thoát ly tham gia kháng chiến hồi Mậu Thân 1968, giáo sư lê văn Hảo dạy Đại Học văn Khoa Huế, là một trí thức yêu nuớc và tiến bộ có quan điểm chống Mỹ rõ ràng, được sinh viên cảm phục. Với tạp chí Việt Nam Việt Nam, dù không trực tiếp tham gia nội dung, nhưng sau khi dọc hết bản thảo, đã đồng ý đứng lên cầm đầu nhóm chủ biên và cho mượn phòng riêng để đảm bảo bí mật trong việc in báo. Còn sau này anh Hảo không kìm chế được những bức xúc cá nhân, đánh mất bản lĩnh của người trí thức chân chính đến nỗi phải phủ nhận đại nghĩa dân tộc mà mình đã lựa chọn, thì đó là điều đáng tiếc cho anh và hoàn toàn bất ngờ đối với tôi”. –(Trích Hoàng phủ Ngọc Tường tuyển tập 3 bút ký- Trang 158 và 159).

Những chi tiết Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa ra ở trên hoàn toàn đúng với hồ sơ CSQG Thừa Thiên Huế về những gì Lê Văn Hảo đã làm, như vậy có thể chối tội được nữa không ông giáo sư nhân chủng học, tốt nghiệp tại Pháp, ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản? Thật quá đúng khi lời “Mao Chủ Tịch” vĩ đại của các ông nói về chính các ông: “Giá trị của đám trí thức còn thua giá trị một bãi phân!”

Bọn Cộng sản dùng ông vào hai chức vụ quan trọng trong Mậu Thân 1968 tại Huế để chém giết đồng bào vô tội, để lừa bịp quốc tế rằng “trí thức” Miền Nam tổng nổi dậy, xong việc rồi thì bọn chúng đưa ông về ngồi chơi “thời nước” tại Mặt Trận Tổ Quốc, ông bất mãn nên mới quay đầu lại vừa sủa vừa cắn bọn chúng, luôn thể để chối tội sát nhân của ông trước lịch sử, trước oan hồn của 5327 thường Huế vô tội đã bị quân đội nhân dân, bị ông, Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình mà ông là Chủ Tịch, lực lượng Công An của Đại tá Trưởng Ty Công An, đám An Ninh và Bảo Vệ Khu phố trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên-Huế mà ông làm chủ tịch đã sát hại họ.

Tóm lại, về vấn đề Lê Văn Hảo, chúng ta có thể nói rằng phải chăng vì bị thất sủng bị đá ra khỏi guồng máy quyền lực, cũng như những tên Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ v.v. ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Lê Văn Hảo mới vỡ mộng? Một giấc mộng đã được bọn Tội Đồ Miền Nam này xây trên xương máu người dân Miền Nam và người dân xứ Huế vô tội. Vì giấc mộng kinh tởm này mà những người như Lê Văn Hảo, đám đồ tể Việt cộng Huế và toàn bộ đám “Mặt trận giải phòng Miền Nam” đã phá nát Miền Nam cũng như phá nát chính danh dự bản thân chúng, cho lịch sử đời đời nguyền rủa bọn ngu dốt dã man này.

2- Phó Chủ Tịch: Bà Đào thị Xuân Yến, tức bà Tuần Chi, nguyên hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Đồng Khành Huế.

3- Đồng phó chủ tịch: Hoàng Phương Thảo: Thành ủy viên Thành ủy Huế.

a- Chính quyền Cách mạng Quận I (Quận Thành Nội)

Vào gần trưa ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, Hoàng Kim Loan thành ủy viên Thành Ủy Huế, người phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Huế cùng với một số cán bộ và cơ sở nằm vùng như Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm v.v. tổ chức cuộc mít-tinh có khoảng hơn một trăm người tham dự. Trong cuộc mít-tinh này bọn chúng đưa Nguyễn Hữu Vấn giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ra “bầu” làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I (Quận Thành Nội).

Tưởng cũng cần nói rõ Nguyễn Hữu Vấn là cơ sở trí vận của điệp viên Hoàng Kim Loan. Ngoài ra Nguyễn Hữu Vấn còn là cháu ruột của giáo sư âm nhạc Nguyễn Hữu Ba, một nhạc sĩ nổi tiếng tại đất Thần Kinh.

b- Chính quyền Cách mạng Quận II (Quận Tả Ngạn)

Cũng trong ngày mùng 2 Tết, Phan Luơng cán bộ thành ủy phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Quận II (Quận Tả Ngạn) đã đề cử Nguyễn Thiết bí danh Hoàng Dung lên giữ chức vụ chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng Quận II.

Nguyễn Thiết vượt tuyến vào Nam trong thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa, cùng thời điểm với Nguyễn văn Kim. Nguyễn Thiết sau đó là sinh viên của trường Đại học Luật Khoa Huế. Nguyễn Thiết đã len lỏi trong hàng ngũ Tổng Hội Sinh Viên và nằm trong ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế.

Cũng như Nguyễn văn Kim, y được Tình Báo Chiến Lược Hà Nội bố trí vượt tuyến vào Nam. Nguyễn Thiết hoạt động trong ban Trí Vận của thành ủy Huế, cùng với hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo v.v. tại Đại Học Huế.

Cũng cần nói rõ thêm về Nguyễn Văn Kim:

Nguyễn Văn Kim mà tôi đề cập ở đây chính là Dân Biểu Nguyễn Văn Kim của VNCH, là một trong những nhân vật cao cấp của đảng Đại Việt Cách Mạng của ông Hà Thúc Ký. Cũng nhờ vào thế lực của Đại Việt Cách Mạng đương sự mới trúng cử dân biểu VNCH. Sau 1975 tại hải ngoại cũng đã có lần Nguyễn Văn Kim định đảo chánh lãnh tụ của mình để nắm quyền chủ động lèo lái đảng Đại Việt Cách Mạng.

Khi Phong trào kháng chiến của phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh ra đời, Nguyễn văn Kim đã tham gia phong trào này và cũng nắm giữ một trong những vai trò quan trọng của phong trào. Cái chết của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh theo nhiều tin tức cho thấy Nguyễn Văn Kim cũng có phần trách nhiệm.

Theo hồ sơ văn khố của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, Nguyễn Văn Kim tên thật là Nguyễn Văn Tú, gốc người Nghệ An, vượt tuyến 1954 từ Nghệ An sang Lào. Tại Lào, y được tòa Đại Sứ VNCH nhận lãnh đem về Sài Gòn. Thời gian ở Sài Gòn y học tại trường Trung học Võ Trường Toản, sau đó Nguyễn văn Tú ra Huế học 2 năm cuối cùng của bậc trung học là đệ nhị và đệ nhất tại trường Quốc Học. Nguyễn Văn Tú là học trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sau này Nguyễn Văn Tú đổi tên là Nguyễn Văn Kim.

Tại Huế, Nguyễn Văn Kim vào đạo Công Giáo và được linh mục viện trưởng Viện Đại Học Huế Cao văn Luận nhận làm cha đỡ đầu. Trong suốt thời gian ở Huế, Nguyễn Văn Kim trú ngụ tại nhà thờ Cụ Phan Bội Châu, ở ngã ba Chùa Từ Đàm với ba người cháu nội của Cụ Phan, đó là Phan Thiện Cầu, Phan Thiện Tường, và Phan Thiện Cát là những người đồng hương của Nguyễn Văn Kim.

Điều đáng nói ở đây là trong hồ sơ văn khố của Ty Công An Thừa Thiên Huế thời Đệ I Cộng Hòa đã đặt y trong tình trạng theo dõi vì tình nghi y được cơ quan tình báo Bắc Việt bố trí cho vượt tuyến.

Vì lý do đó, từ 1967 cho đến trước 30/4/1975, CSĐB/BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế chúng tôi vẫn bám sát Nguyễn Văn Kim mỗi khi y ra Huế, vì chúng tôi vẫn nghi y hoạt động cho tình báo Cộng sản, mặc dầu hơi khó khăn khi theo dõi y vì khi đó y đã là dân Biểu VNCH và là một trong những lãnh tụ cao cấp của Đại Việt Cách Mạng, một thế lực chính trị rất mạnh từ sau tháng 6/1966 đến trước 30/4/1975 tại miền trung và nhất hạng là tại Huế.

Sau 1975 chúng tôi được biết em ruột của Nguyễn Văn Kim là một Đại tá thuộc Tổng Cục 2 Tình Báo Chiến Lược của Cộng sản đang sống tại Sài Gòn.

Tôi xin trích một đọan trong hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường để khi quý độc giả đọc xong xin tự kết luận về dân biểu VNCH Nguyễn văn Kim:

“Một đêm khuya, những ngày sắp diễn ra cuộc đàn áp của chính quyền trung ương Sài Gòn, Tú đến tuyệt tình cốc gặp tôi. Tú gốc Nghệ An, vượt tuyến sau 1954. Tôi tóm tắt câu chuyện giữa Tú và tôi đêm hôm ấy:

– Thầy có gia nhập một tổ chức yêu nước phải không?

– Dĩ nhiên là có.

– Tổ chức nào thầy cho con biết được không?

– Tổng Hội Sinh Viên Huế.

– Thế mà lâu nay con cứ nghĩ là thầy đang ở trong một tổ chức yêu nước có quyền lực nào đó. Con biết chính xác là tờ “Việt Nam Việt Nam” đang đặt thầy trong những nguy hiểm nghiêm trọng. Tổng Hội Sinh Viên làm sao bảo vệ cho thầy được, khi Thiệu Kỳ đưa quân ra Huế?

Bây giờ con thấy con phải lo cho thầy.

Tú thông báo kế hoạch: Tú sẽ trao cho tôi một chiếc áo dòng để ngụy trang lúc cuộc càn quét bắt đầu ở Huế. Tú sẽ đưa tôi đến ẩn náu một nhà thờ xa thành phố, và sau đó sẽ thoát thân vào Sài Gòn.

Còn sau này, qua tin tức hải ngoại, Tú hoặc là Kim, Nguyễn Văn Kim đang tham gia nhiều tổ chức chống cộng cực đoan…” – (Trích Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 2. Trang 706-707)

Vài giai thoại gay cấn giữa ông dân biểu Nguyễn Văn Kim, linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu và tác giả cuốn sách này, Liên Thành, đã xảy ra, xin được đề cập kỹ hơn ở phần cuối sách, tại đây xin tóm tắt thế này: cá nhân tôi đã bắn phi tiễn trực xạ vào linh mục Trần Hữu Thanh và các ông thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, dân biểu Nguyễn Văn Kim để trấn áp cuộc biểu tình của phong trào chống tham nhũng tại Huế vào lúc Huế đang bị cộng quân áp sát chuẩn bị tấn công.

Khoảng gần cuối năm 1974, ông Nguyễn văn Kim đã hoạt động rất tích cực trong phong trào chống tham nhũng của Linh Mục Trần Hữu Thanh trong lúc quốc gia đang trong tình trạng hấp hối dầu sôi lửa bỏng. Thay vì giúp ổn định tình hình an ninh xã hội để hô hào quân dân cán chính cùng hiệp lực với chính quyền VNCH chung lòng chung sức tích cực chống cộng trước đã, thì dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh đã tích cực chống chính quyền quốc gia dưới chiêu bài bài trừ tham nhũng.

Trong một quốc gia, bộ não của quốc gia chính là chính quyền, đặc biệt là trong tình trạng đang có chiến tranh thì mọi công dân phải biết tự giới hạn sự đòi hỏi của mình, đặc biệt là các quyền tự do báo chí, tự do biểu tình. Ngay cả Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Harry Truman, đảng Cộng sản đã bị đặt ra ngoài vòng luật pháp, cũng như khi quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng, tổng thống Franklin Roosevelt đã đem tất cả dân Mỹ gốc Nhật vào trong một trại tập trung ở California để bảo đảm an ninh quốc gia, cho dù việc làm này hơi thất nhân tâm.

Do đó, là một công dân thực sự ái quốc, thì mỗi cá nhân phải biết tự chế và tự giới hạn mình. Những kẻ không biết tự chế là những kẻ ích kỷ hoặc là bọn chính trị cơ hội hoặc chính là Cộng sản trá hình. Chính quyền quốc gia VNCH cũng dù giỏi dù dở cũng chính là bộ não để chống lại Cộng sản. Hô hào dẹp bỏ chính quyền quốc gia trong tình thế chiến tranh như thế thì thật sự chẳng khác nào là một hành động phá hoại thông đồng với giặc.

Thử đặt lại vài vấn đề lịch sử trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đó, phải chăng đã có bàn tay của Cộng sản giựt dây chuyện chống tham nhũng này? Và kẻ đó là ai? Nên chăng việc dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh liên tục gây bất ổn chính trị và bất an trong lòng dân Miền Nam bằng các cuộc biểu tình và các bài báo trên trang nhất, các cuộc họp báo đình đám từ Sài Gòn ra Huế trong lúc Việt cộng đã áp sát?

Nên chăng việc biểu tình chống chính phủ tham nhũng thối nát trong lúc bọn phản chiến Mỹ trong quốc hội Hoa Kỳ đang lên kế hoạch cắt viện trợ cho Miền Nam? Nên chăng tất cả những hoạt động chính trị làm khủng hoảng chính phủ VNCH dùm cho Cộng sản Bắc Việt trong lúc Miền Nam đang thoi thóp?

Câu trả lời xin để lương tâm mỗi người tự vấn và trách nhiệm của từng cá nhân đã vô tình hay cố ý đánh phá chính quyền VNCH từ giai đoạn từ ngày chia đôi đất nước 1954 đến 1975.

Lịch sử sẽ đánh giá các ông linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, và một phần trách nhiệm nữa là Đại Việt Cách Mạng đảng về việc làm này.

Còn nhân vật Nguyễn Văn Kim, xin trích dẫn lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường để kết luận:

“Ra hải ngoại, Nguyễn Văn Kim tham gia vào các tổ chức chống cộng cực đoan”. Xin hỏi, để làm gì và ông ta đã làm những gì? Câu trả lời đã có!

Xin trở lại Nguyễn Thiết chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II:

– Nguyễn Thiết cũng là một trong những kẻ giết người tàn bạo không khác gì Nguyễn Đắc Xuân trong suốt 26 ngày cộng quân chiếm Huế. Những ngày cuối cùng trước khi bọn Cộng sản tháo chạy, Nguyễn Thiết đã bị pháo kích chết ngay tại tường thành gần cửa Đông Ba.

Về Phan Nam, cơ quan CSĐB/Thừa Thiên-Huế chúng tôi ghi nhận như sau: Phan Nam cán bộ thành ủy viên Thành Ủy Huế. Phan Nam phụ trách tổ Dân Vận và Trí Vận. Cũng giống như Hoàng Kim Loan y hoạt động bí mật trong thành phố Huế. Căn cứ lõm của y trong thành phố Huế là:

1- Nhà của một nhân viên tại nhà máy lọc nước Cồn Dã Viên ngay tại cầu Bạch Hổ.

2- Nhà của Ông Nguyễn văn Cán, quận trưởng Cảnh Sát, trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia Thị xã Huế.

3- Nhà của tên Tiếu, trưởng ban hồ sơ của Trung Tâm Thẩm Vấn thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế. Tên Tiếu này chính thức nuôi hai đứa con của vợ chồng Phan Nam.

4- Chính quyền Cách mạng Quận III (Quận Hữu Ngạn)

Bọn chúng không thể tập trung dân chúng cho dù số lượng chỉ một vài chục người tại khu vực Quận III để tổ chức mít-tinh biểu tình, lý do: địa thế Quận III đất rộng, dân cư không tập trung, bọn Cộng sản đi đến đâu thì dân chúng bỏ chạy đến đó. Vì thế Hoàng Lanh Thường Vụ thành ủy, Hoàng Kim Loan người chịu trách nhiệm phát động cuộc Tổng Nổi Dậy đành bó tay chưa có thể tổ chức được Chính Quyền Cách Mạng Quận III.

Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh quyết định giao quận III cho Đại tá Công An Nguyễn Đình Bảy chịu trách nhiệm.

5- Lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Như đã trình bày ở trên, hệ thống tổ chức của lực lượng chính trị do trung ương đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh vừa cho ra đời tại Huế là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, với 4 nhân vật chủ chốt là:

– Chủ tịch giáo sư: Lê Văn Hảo

– Phó chủ Tịch: Thích Đôn Hậu

– Tổng Thư ký: Hoàng Phủ Ngọc Tường

– Phụ trách học sinh, sinh viên và thành phần trí thức: Nguyễn Đắc Xuân

Nguyễn Đắc Xuân là người chỉ huy toàn bộ hành động của lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Vùng hoạt động của lực lượng này bao gồm Quận I, Quận II, Quận III thị xã Huế và lực lượng này có khoảng 700 người.

Có đến tám mươi phần trăm đội viên là thành phần học sinh, sinh viên và những thành phần khác đã thoát ly lên mật khu khi cuộc làm loạn của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu vào mùa Xuân-Hè năm 1966 tại Huế bị thất bại. Nay sau 2 năm, bọn chúng xuống núi với súng AK-47, B40, dao găm mã tấu, sát hại dân lành vô tội. Hai mươi phần trăm còn lại là bọn nằm vùng và bọn chỉ điểm địa phương tại các Quận I, Quận II, Quận III trong thành phố Huế.

Phải nói rõ ràng minh bạch và chính xác rằng: Lực lượng An Ninh Bảo Vệ Khu Phố do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy là một lực lượng tàn bạo nhúng tay vào máu đào của đồng bào Huế vô tội nhiều nhất, gây kinh hoàng tang tóc đau thương cho đồng bào Huế suốt 624 giờ bọn chúng chiếm Huế nhiều nhất.

6- Lực lượng “Nghĩa Binh Cảnh Sát”

Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát và giao cho Quận Trưởng CSQG/VNCH Nguyễn Văn Cán, nguyên Trưởng Ty CSQG thị xã Huế trong thời gian phản loạn 1966 do Trí Quang chỉ huy.

Lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát này quy tụ được một số nhỏ nhân viên của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế bị kẹt trong vùng địch phải ra trình diện với bọn chúng. Nguyễn Đắc Xuân giao cho Quận Trưởng Cảnh Sát Nguyễn Văn Cán chỉ huy nhóm này. Mục đích của bọn chúng khi nặn ra lực lượng này chỉ là để tuyên truyền với quốc nội và quốc tế là lực lượng Công An Cảnh Sát Ngụy đã quay đầu về với Cách Mạng chống lại Ngụy Quyền Sài Gòn và Đế Quốc Mỹ xâm lược. Thế nhưng toi công cho bọn Việt cộng, chỉ một thời gian ngắn sau đó một số đoàn viên trong lực lượng này đã đào thoát về trình diện BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một số khác chưa kịp trốn đi liền bị bọn chúng dẫn đi chôn sống.

Riêng về phần tên phản bội Nguyễn Văn Cán, sau khi cộng quân tháo chạy vào ngày 26 tháng 2 âm lịch, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh CSQG/VNCH đến Huế ông ra lệnh tôi bắt giữ Nguyễn Văn Cán, và Đoàn Công Lập. Lúc đầu ông có ý định sau khi thẩm cung xong lập pháp trường cát tại Huế xử bắn Nguyễn Văn Cán để làm gương, nhưng sau đó vì nhiều Quận Trưởng CSQG trong Bộ Tư lệnh đứng ra bảo lãnh và xin Tướng Loan khoan hồng trong đó phải kể đến ông Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Lương đương nhiệm là giám Đốc Nha CSQG/Vùng I đứng ra xin với Chuẩn Tướng Loan.

Quận trưởng Võ Lương là người Tướng Loan rất nể vì khả năng, tư cách, và thâm niên công vụ trong ngành. Tướng Loan không còn ý định xử bắn Nguyễn văn Cán, nhưng ra lệnh tôi giao Nguyễn Văn Cán cho Trung tá Lê Tự Cường Trưởng Ty An Ninh Quân Đội Đà Nẵng thụ lý nội vụ để được vô tư hơn.

7- Lực Lượng Nghĩa Binh

Nguyễn Đắc Xuân giao việc tổ chức Nghĩa Binh cho Đại úy Nguyễn văn Lợi, một sĩ quan QLVNCH. Lực lượng này chỉ có tiếng mà không có miếng vì trên thực tế chẳng có quân nhân nào tham gia, chỉ có khoảng 10 tên lao công đào binh mà thôi, và chẳng có một hoạt động nào cả. Như đã nói ở phần trên mục đích của cộng quân khi tổ chức lực lượng Nghĩa Binh là bọn chúng chỉ nhắm vào vấn đề truyên truyền dối trá tại quốc nội cũng như quốc tế rằng: “Chính sách binh vận của bọn chúng đã thành công. Ngụy quân quay súng trở về với Cách Mạng.”

8- Tòa Án Nhân Dân tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968

Theo lời khai của Thành ủy viên Thành ủy Huế, Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972 tại Huế thì:

“Khi Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Tòa Án Nhân Dân tại mặt trận Huế, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, Hoàng Lanh Thường vụ Thành Ủy Huế và tôi (tức Hoàng Kim Loan) đã hội ý với nhau rất kỹ.

Lúc đầu cả ba chúng tôi nhất trí đưa Nguyễn Đắc Xuân làm chủ tịch Tòa Án Nhân Dân, nhưng sau đó Thường Vụ thành ủy Hoàng Lanh đổi ý, đề nghị đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện là Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là nhân tuyển tốt nhất, vì đây là một lực lượng kết hợp các thành phần trí thức, tôn giáo, những nhân vật có uy tín tại Huế đứng lên chống Thiệu-Kỳ, chống Mỹ. Vậy Tòa Án Nhân Dân giao cho Tổng Thư Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đại diện dân chúng Huế ngồi xử các tên ác ôn, các tên tay sai của Thiệu-Kỳ, và của Đế quốc Mỹ xâm lược là thích hợp nhất”.

Ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968 tức ngày 1-2-1968, hãy nghe đài phát thanh Hà Nội phát đi bản tin như sau:

“Tại Cố Đô Huế dân chúng đã tổng nổi dậy thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Đây là một lực lượng kết hợp nhân sĩ, trí thức, sinh viên và tôn giáo lớn (Phật Giáo) yêu nước, nhằm đứng dậy chống đế quốc Mỹ xâm lược và đám tay sai bọn “Ngụy Quân Ngụy Quyền”.

Lực lượng này đã thành lập Chính Quyền Cách Mạng Tỉnh, Quận, thành lập đội An Ninh Khu Phố, lực lượng Nghĩa Binh, lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát, cũng như thành lập Tòa Án Nhân Dân”.

Đài phát thanh Hà Nội loan tin trên hơi muộn màng. Bởi vì Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình, cũng như Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế đã được đẻ ra trước tết Mậu Thân vào thời điểm tháng 12/1967 trong một kế hoạch đã được soạn thảo họp tới họp lui của Bác Đảng, và khi mà “ấu chúa” Lê Văn Hảo ở Huế đã được cân nhắc chọn lựa bởi đảng Cộng sản mãi tận Hà Nội, rồi được Hoàng Kim Loan đưa lên mật khu để được chăm sóc giáo dục, trước khi được sắc phong và nhận chỉ thị thi hành của cơ quan Khu Ủy Trị Thiên và Thành Ủy Huế. Do đó khi từ mật khu trở lại Huế thì y đã là “quan đầu tỉnh” với hai chức chủ tịch rồi!

Khi mở miệng chối tội làm Cộng sản trên đài RFA, tôi xin được hỏi ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, thử xét lại có ai được đặt trong các chức vụ lớn nhỏ của Cộng sản mà tay không hề được từ chi bộ đảng đến trung ương đảng duyệt xét? Huống hồ gì trong giai đoạn chiến tranh thì những con bài chủ lực bắt buộc phải là những kẻ tay chân thân tín đồng bọn với chúng. Còn chuyện chúng vắt chanh bỏ vỏ sau này lại là chuyện khác, không thể dùng chuyện chúng nó không xài ông nữa để chứng minh là ông không hoạt động Cộng sản. Ông Lê Văn Hảo có chối rằng ông đi chơi lang thang rồi bị Cộng sản bắt giữ rồi cho làm chủ tịch trên cả chục cái đài phát thanh hải ngoại thì cũng vô ích mà thôi!

Có biết bao nhiêu người dân đi lang thang đây đó sao chúng không bắt làm chủ tịch mà Cộng sản lại lựa bắt ông Tiến Sĩ, bạn bè với Hoàng Phủ Ngọc Tường tên Cộng sản sắt máu, về làm chủ tịch? Những hoạt động móc nối của đám Cộng sản tại Pháp với nhóm trí thức ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản không ai mà không biết ông thưa ông. Không ai bắt ông làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thị Xã, cũng chẳng ai ép ông làm chủ tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, mà phải nói là đây là một vinh dự Bác Đảng đã ban cho ông mà ông đã từng rất hãnh diện, thưa ông Tiến Sĩ Nhân Chủng Học Lê Văn Hảo!

Tóm lại Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, các đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát, Nghĩa Binh Quân Nhân v.v. mà Việt cộng trình làng trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế có hai mục đích rõ rệt:

1- Dùng những lực lượng này để lôi cuốn quần chúng Huế tham gia vào cuộc tổng nổi dậy, một hình thức như năm 1966 khi bọn Cộng sản kết hợp với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu gây ra vụ Phản Loạn Miền Trung. Bọn chúng thành lập Chiến Đoàn Quân Nhân Phật Tử Nguyễn Đại Thức, Lực Lượng Cảnh Sát Phật Tử, Lực Lượng Sinh Viên Học Sinh Phật Tử Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân v.v. và v.v.

Nay mùa xuân Mậu Thân 1968 khi Hà Nội xua mười ngàn quân tấn công chiếm Huế, Hồ Chí Minh và Chính Trị Bộ đảng Cộng sản Việt Nam lại bổn cũ soạn lại, khai sinh một mặt trận chính trị mới, đó là Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và các tổ chức Nghĩa Binh, Nghĩa Binh Cảnh Sát, đội An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố. Thật là bình mới rượu cũ, bình mới chỉ là cái tên mới còn rượu cũ không ai khác hơn chính là bọn Việt cộng Nằm Vùng năm xưa, cũng tuyên truyền là dân chúng “tự ý nổi dậy”. Kịch bản muôn đời của Cộng sản vẫn vậy!

2- Đánh lừa dư luận quốc nội và quốc tế rằng tại Huế có “Tổng Nổi Dậy”, rằng dân chúng Huế đã tự phát thành lập các lực lượng rất “quần chúng” để nổi dậy. Từ dân chúng đến quân đội, cảnh sát, trí thức sinh viên, Phật Giáo, đồng loạt đứng lên chống chính phủ VNCH, chống trung ương Sài Gòn, chống đế quốc Mỹ xâm lược!

Thế nhưng, Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam và tên Hồ Chí Minh đã ước tính hết sức sai lầm.

Đúng ra chúng đã hoang tưởng nên chuốc lấy thảm bại nặng nề trong màn kịch này. Dân chúng Miền Nam cũng như chính phủ quốc tế biết rõ trò hề của Cộng sản Bắc Việt: toàn bộ các lực lượng này nọ chỉ là sự đội lốt trá hình láo lừa của bọn Cộng sản Hà Nội và bọn Việt cộng nằm vùng. Huế trong Tết Mậu Thân 1968 chẳng hề có cuộc tổng nổi dậy nào của quần chúng nhân dân mà chỉ có sự giết người man rợ của cán binh Bắc Việt và đám đồ tể nằm trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Lực lượng Quân đội Nhân Dân, Quân Giải phóng của Hồ chí Minh đến vùng nào, chiếm vùng nào, thì dân Huế kinh hãi bỏ trốn khỏi vùng đó bằng mọi giá. Viết đến đây thì tôi bỗng nhớ lại lời nói của phó chủ tịch Thích Đôn Hậu nói với dân biểu Nguyễn Lý Tưởng rằng “Quân Đội Giải Phóng Miền Nam đi đến đâu cũng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai!”

Đúng, bọn Việt cộng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai nào cả mà chỉ làm rơi rụng thây người xuống các hố chôn tập thể trong khắp thành phố, thôn làng, núi đồi Thừa Thiên-Huế!

Thất bại chua cay vì không phát động được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cho lệnh Tướng VC Trần văn Quang Tư lệnh mặt trận Trị Thiên và Lê Chưởng, Chính Ủy quân khu Trị Thiên áp dụng biện pháp “Bạo Lực Cách Mạng” hay “Bạo Lực Đỏ” để răn đe và trừng trị dân chúng Huế.

Trách nhiệm thi hành Bạo Lực Cách Mạng được giao phó cho 3 tổ chức: lực lượng an ninh Khu Ủy Trị Thiên của Tống Hoàng Nguyên, Lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, và quan trọng hơn cả là lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân.

Sau này, theo lời tường trình của hầu hết thân nhân nạn nhân bị Việt cộng sát hại, thì hầu như có đến 80% những nạn nhân bị bắn tại chỗ, hoặc bị bắt đi, đều do Nguyễn Đắc Xuân và những tên đồ tể trong lực lượng của Nguyễn Đắc Xuân thực hiện.

Điều nguy hiểm và kinh hoàng nhất của dân Huế trong 22 ngày Việt cộng tàn sát đồng bào Huế chính là lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, vì các thành viên trong lực lượng này một trăm phần trăm là những thành phần địa phương trong lực lượng tranh đấu phản loạn của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu vào năm 1966 nên chúng biết rất rành rẽ nhân sự và địa lý của Huế, do đó bạo lực cách mạng đã được bọn chúng “phát huy” một cách vô cùng hiệu quả: chiến lợi phẩm và thành quả cách mạng của bọn Nguyễn Đắc Xuân đó là xác chết và mồ chôn tập thể tràn ngập xứ Huế.

Bọn này vào năm 1966 thoát ly lên mật khu, nay xuống núi trở lại Huế với lòng hận thù ngút trời, hăng say chém giết sát hại đồng bào. Vì là người địa phương nên bọn chúng nắm chắc chắn rõ ràng địa chỉ lý lịch những đối tượng mà bọn chúng muốn thanh toán.

Vì bọn sát nhân này quá đông, nên tôi chỉ có thể nêu điển hình một số ít nhân vật quan trọng chủ chốt trong lực lượng Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân:

– Tôn Thất Dương Tiềm, Giáo sư

– Hoàng văn Giàu, phụ khảo Giáo sư Đại Học Huế

– Nguyễn Đóa, nguyên giám thị trường Quốc Học, Giáo sư Bồ Đề

– Nguyễn Thị Đoan Trinh, sinh viên Dược Khoa Đại Học Sài Gòn

– Hoàng Phủ Ngọc Tường, Giáo sư Quốc Học

– Hoàng Phủ Ngọc Phan, Sinh viên Y Khoa

– Lê Hữu Dũng, sinh viên Đại Học Sài Gòn, con trai tên cán bộ nằm vùng Lê Hữu Tý

– Nguyễn Thúc Tuân, Giáo sư, nguyên nhân viên Pharmacy Trường Tiền

– Nguyễn Tròn, bồi bàn tiệm ăn Quốc Tế

– Diệu Linh, thầy bói

– Nguyễn Bé, thợ nề

– Tên Gù, tiệm bán thuốc lá Cẩm Lệ ở đường Trần Hưng Đạo

– Thiên Tường, chủ tiệm thuốc bắc tại đường Duy Tân, An Cựu, Huế

– Hai con trai của Thiên Tường là cán bộ Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông Thôn tại Tỉnh Thừa Thiên

– Nguyễn Hữu Vấn, Giáo sư Âm nhạc, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I

– Nguyễn Thiết, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II

– Lê Minh Trường.

Và quá nhiều… tôi không thể nhớ hết!

Sáng sớm Mùng 2 Tết, sau khi lá cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình được treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu và chính quyền cách mạng Tỉnh Thừa Thiên, Thị Xã Huế, Chính Quyền Cách Mạng Quận I, Quận II đã thành lập xong, Lê Chưởng Chính Ủy Khu Ủy Trị Thiên, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, các thành ủy viên Thành Ủy Huế như: Hoàng Kim Loan, Phan Nam, Hoàng Lanh, Trưởng Ty Công An VC Thừa Thiên-Huế Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh và Nguyễn Đắc Xuân kẻ chỉ huy lực lượng An Ninh và bảo vệ Khu Phố của 3 quận Thị xã Huế bắt đầu khởi động cuộc tổng nổi dậy hay danh từ mà bọn Cộng sản đã gọi là “tổng khởi nghĩa” cướp chính quyền.

Từ sáng sớm ngày mùng 2 Tết và những ngày kế tiếp, Nguyễn Đắc Xuân với lực lượng cơ hữu của hắn là các đoàn viên trong tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố đi khắp ba quận thị xã Huế Quận I, Quận II, Quận III, kêu gọi đồng bào “hãy treo cờ của Ôn lên (Ôn Đôn Hậu), nếu không có thì treo cờ Phật Giáo lên!” (lời này chính Nguyễn Đắc Xuân đã xác nhận trong cuốn hồi ký của y). Kế tiếp bọn chúng lục soát từng nhà, chận hỏi dân chúng chạy giặc, tìm kiếm bắt giữ và hạ sát ngay tại chỗ bọn “Ngụy ác ôn”.

Ngoài ra Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đã cố gắng kêu gọi thúc giục đồng bào tham gia các cuộc biểu tình do bọn chúng tổ chức để gọi là “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” tại ba quận trong thành phố Huế.

Thế nhưng mọi sự đã ngoài ước tính của bọn chúng, đám tử thần Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đi đến đâu thì dân Huế hốt hoảng kinh hoàng chạy đến đó. Họ chạy để tránh xa tử thần tránh xa Việt cộng, chạy nói theo kiểu người Huế là “chúi mũi chúi lái, chạy vắt chân lên cổ, chạy không dám nhìn lui”, thì thử hỏi dân chúng Huế, tổng nổi dậy ở đâu? Tổng khởi nghĩa ở đâu? Tổng bỏ chạy, tổng tàn sát thì có!

Vậy mà ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968, đài phát thanh Hà Nội loan tin: “Dân chúng Cố Đô Huế đã tổng nổi dậy cướp chính quyền”! Quả thật Hồ Chí Minh, đảng Cộng sản Việt Nam và đồng bọn tay sai thật là một bọn nói láo không biết ngượng miệng.

Tức giận và mất mặt vì dân Huế không theo bọn chúng như ước tính, cộng quân và đám tay sai không thể tổ chức được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và đám Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam liền quyết định áp đụng biện pháp mạnh là “Bạo Lực Cách Mạng, Bạo Lực Đỏ” để áp lực, để răn đe khủng bố và trả thù dân chúng Huế.

Máu của dân Huế đã nhuộm đỏ dòng sông Hương, xương của dân Huế đã chất cao quá núi Ngự Bình trong cuộc thảm sát ghê rợn và kinh hoàng suốt 624 giờ, của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam, và đám tay sai nằm vùng.

Vietnam: A Television History; Tet, 1968; Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982

https://openvault.wgbh.org/…/V_226B408F90EB4A4BA79758A8…

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 – Tác giả Liên Thành

Bộ Lạc Tà Ru A-20- Tưởng Năng Tiến

Bộ Lạc Tà Ru A-20 – Tưởng Năng Tiến

Đất này chẳng có niềm vui

Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt

Trại lính, trại tù người đi không ngớt

Người về thưa thớt dăm ba…

Mấy câu thơ trên được trích dẫn từ thi phẩm Đất Này của Nguyễn Chí Thiện, viết vào năm 1965. Gần chục năm sau, trong đám “người về thưa thớt dăm ba” đó, có Bùi Ngọc Tấn. Tác giả Chuyện Kể Năm 2000 (nxb Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh, CA: 2000) xác nhận tình trạng “trại tù người đi không ngớt” bằng một câu văn rất ngắn: “Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ.”

Thế nhỡ gặp lại đúng bạn tù cũ thật rồi sao?

Tay bắt, mặt mừng, bá vai, bá cổ … rồi kéo nhau vào quán (hay mời ngay bạn về nhà) tiếp đãi linh đình – cơm gà cá gỏi không thiếu món chi, ăn uống phủ phê, nhậu nhẹt linh đình – chăng?

Hổng dám “phủ phê” đâu. Ở Đất Này làm gì có mấy cái vụ “linh đình” như vậy:

Một buổi chiều, con Thương đi học về bảo hắn:

– Bố. Có ai hỏi bố ở dưới nhà ấy?

– Ai con?

– Con không biết, trông lạ…

Hắn xuống thang. Hai người quần nâu, áo nâu đứng dựa lưng vào tưởng chỗ bể nước. Quen quen. Đúng rồi. Min: toán chăn nuôi, người đã giũa răng cho hắn. Còn một anh nữa mặt loang, tay loang. Thấy hắn, cả hai cười rất tươi. Người mặt loang bảo:

– Anh không nhận ra em à?

Trời ơi. Thì ra là Dự. Dự có con chuột được đem xử án. Dự hay bắt tóp. Dự cũng đã được ra rồi. Dự bảo:

– Em bị cháy, bỏng.

Hắn mời hai người lên nhà, nhưng Dự lắc đầu:

– Thôi, chúng em đứng ở đây thôi. Hắn liếc nhanh vào cửa sổ của gia đình gần bể nước. Bọn hắn thì chẳng lẫn vào đâu được. Bây giờ bè bạn hắn rặt một loại như vậy… người ta còn dặn con, dặn vợ:“Cửa rả cẩn thận. Quần áo kéo vào đi…( Bùi N.T., s.đ.d, II, trang 13 – 20).

May mà thời thế không đứng mãi về phe những kẻ cầm quyền hà khắc nên dân làng Tà Ru (tù ra) giờ đây không còn bị thiên hạ xem thường là “rặt một loại như vậy” nữa. Phạm Thanh Nghiên, Việt Khang, CấnThị Thêu, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn … đều được thân bằng quyến thuộc (cùng hàng xóm, láng giềng) đón rước tưng bừng – ngay khi bước ra khỏi nhà giam – như những anh thư hoặc anh hùng thời đại.

Chả những thế, nhiều tù nhân– từ Trại Tù Trừng Giới A-20 – còn tiếp tục gắn bó chặt chẽ với nhau như những thành viên của một đại gia đình vậy. Họ nối kết và liên lạc qua một trang mạng (Quán Lá Của Trại Tù A20) có cả ngàn người, hiện đang sống ở khắp mọi nơi trên thế giới, tham dự thường xuyên.

A-20 Nguyễn Chí Thiệp, tác giả Trại Kiên Giam, mô tả: “Trại Xuân Phước là nơi tập trung thành phần chống đối của các trại cải tạo miền Nam, cũng là nơi tập trung của các người lãnh đạo các tổ chức phản động ở khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam, Nghĩa Bình chuyển vào, từ cao nguyên Ban Mê Thuột đến và cả những người ở tận Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ.”

A-20 Lê Hoàng Ân cho biết thêm: “Những anh em chúng ta không được coi như những con người nữa, mà chỉ được coi như những con vật, không hơn không kém. Chúng muốn để cho sống thì sống, chúng muốn giết thì chúng giết không nương tay. Vài mẩu khoai mì H.34, ít nước muối hay nước mắm ròi. Có nhà tù nào trên thế giới đối xử với tù nhân như vậy không?”

Dù vậy, đám tù nhân ở đây vẫn sống mãnh liệt từng ngày, từng giờ. Họ hành xử cứ như những nhân vật trong tiểu thuyết, hay phim ảnh vậy. A-20 Phạm Đức Nhì kể chuyện :

Ngày đầu tiên bị giải đến Trại Trừng Giới A20 Xuân Phước, tất cả chúng tôi – thành phần cứng đầu, khó cải tạo từ các trại – bị lùa vào hội trường để được dằn mặt và đưa vào khuôn phép.

Mở đầu là màn văn nghệ ca tụng đảng và nhà nước có tính cách bắt buộc. Cán bộ giáo dục yêu cầu một người tù trong chúng tôi ra bắt giọng cho mọi người hát một bản nhạc cách mạng để lấy khí thế. Hối thúc hoài cũng chẳng ai thèm ra.

Cuối cùng, khi hắn giở giọng đe dọa thì tôi nóng mặt đứng lên bắt nhịp cho anh em hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang. Được gãi đúng chỗ ngứa anh em hát muốn bể tung hội trường. Cán bộ giáo dục và ban thi đua ú ớ chẳng biết gì nên dù “ngờ ngợ có cái gì không ổn” cũng không làm chi được.

Tuy đây quả là một màn “ngoạn mục” nhưng vẫn chỉ là … chuyện nhỏ thôi, như nhiều chuyện nho nhỏ tương tự (tuyệt thực, chất vấn cán bộ quản giáo, trình diễn văn nghệ phản cách mạng ) đã xẩy ra không chỉ một lần, tại Thung Lũng Tử Thần – một tên gọi khác của trại Kiên Giam Xuân Phước.

Sự xuất hiện của tờ báo chui (underground press) Hợp Đoàn mới thực sự là vụ lớn, làm chấn động không chỉ Cục Quản Lý Trại Giam mà đến cả Bộ Công An nữa. Cái giá phải trả, tất nhiên, không rẻ. A-20 Nguyễn Thanh Khiết cảm thán :

Sáu năm biệt giam

ba muỗng nước, ba muỗng cơm

chưa lần lung lay ý chí

một đời anh – một đời sĩ khí

bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi

ngọn bút hiên ngang

thay làn tên mũi đạn

giữa trại thù nét mực chưa phai

Những nhân vật tham gia báo Hợp Đoàn (A-20 Nguyễn Hùng Cương, A-20 Nguyễn Hữu Giao, A-20 Phạm Văn Hải, A-20 Trần Kim Hải, A-20 Trần Bửu Ngọc, A-20 Phạm Đức Nhì, A-20 Trần Danh San, A-20 Phạm Chí Thành, A-20 Nguyễn Chí Thiệp…) đều bị biệt giam, và chỉ được nhận được khẩu phần tiêu chuẩn (“ba muỗng nước, ba muỗng cơm”) mỗi ngày nhưng không ai ngã gục.

Theo A-20 Vũ Ánh [người khởi xướng vụ clandestine press (*) này] thì họ vẫn có thể sống sót không chỉ nhờ cái tâm thiền định, và ý chí mãnh liệt của chính bản thân mà còn nhờ vào tấm lòng quả cảm của nhiều bạn đồng tù nữa: “Nếu ở ngoài các bạn bè tâm phục không liều chết tổ chức cho một người liều chết leo qua bức tường cao 4 thước có kẽm gai trước họng thượng liên của vọng gác tiếp tế thuốc vitamin B-1 cho chúng ta, chắc chúng ta cũng không thể sống nổi.”

Sống chí tình với nhau đến thế nên không có gì ngạc nhiên khi những cựu tù nhân từ Trại Trừng Giới Xuân Phước đã hợp thành bộ lạc Tà Ru A-20. Họ tổ chức những cuộc họp mặt mà có người phải vượt nhiều ngàn dặm (hoặc cả một đại dương) chỉ để tay bắt, mặt mừng và hàn huyên với bạn tù ngày cũ.

Họ cũng tận tình chia sẻ với nhau những niềm vui bình dị khi con cháu thành hôn hay thành đạt. Đôi khi, họ còn tận tụy giúp đỡ lẫn nhau một cách thiết thực khi biết có kẻ lâm vào cảnh túng quẫn, giữa lúc nhà có việc và tang gia bối rối.

Họ là biểu trưng của một thứ hội ái hữu với tinh thần tương trợ cao đẹp nhất dù chỉ là những người đồng cảnh, chứ không phải là đồng hương/đồng môn hay đồng đội gì ráo trọi.

Tự thâm tâm – có lẽ – tất cả A-20 vẫn chưa bao giờ quên đại cuộc, cùng những hoài bão lớn lao khi tóc hãy còn xanh. Tuy thế, dòng đời (và tuổi đời) khiến tất cả đều nhận ra rằng cái cơ hội để có thể tham dự vào lịch sử của đất nước quê hương (vốn) rất hiếm hoi trong một kiếp nhân sinh. Chúng ta thường vẫn chỉ là nạn nhân, hay “những người cam chịu lịch sử” mà thôi, theo như cách nói của tù nhân Bùi Ngọc Tấn.

Tôi cũng là một người thuộc bộ tộc Tà Ru nhưng trong suốt thời gian bị giam giữ chưa hề dám có một hành động phản kháng nào ráo (ngoài những câu “phát biểu linh tinh” mà không quên dòm trước/ngó sau ) nên khi nhìn cách “cam chịu” của những anh hùng A-20 trong Trại Kiên Giam Xuân Phước (và những ân tình mà họ dành cho nhau sau đó) thì không khỏi sinh lòng kính trọng và vô cùng ngưỡng mộ.

ởng Năng Tiến

(*) Trong những trang sổ tay kế tiếp, chúng tôi hy vọng sẽ có thể viết thêm đôi điều về tờ báo Hợp Đoàn (và những người chủ xướng) cũng trên diễn đàn này.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Bộ Lạc Tà Ru A-20- Tưởng Năng Tiến

Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV

Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV

Chúc bình an! Hôm nay 17/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV. Mời bạn đọc hành trình nên thánh của ngài nhé, lý thú lắm!

Cha Vương

Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai cập. Cha mẹ Ngài nổi danh giàu có lẫn đạo đức, đã lo lắng dạy dỗ Ngài sống đạo ngay từ nhỏ. Khi được 18 tuổi thì cha mẹ Ngài qua đời. Sáu tháng sau ngày mất cha mất mẹ, tại một giáo đường, thánh nhân đã nghe đọc lời sách thánh: “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và đem phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21). Tưởng như Thiên Chúa nói riêng với mình đã về bán hết của cải và đem phân phát cho người nghèo khó.

Sau khi lo lắng gửi gấm em gái của mình cho một nữ tu viện, Ngài lui vào sa mạc để làm việc và cầu nguyện, Ngài theo đuổi một cuộc sống rất khắc khổ, chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn. Để giữ được sự cô tịch trọn vẹn, Ngài còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống. Thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho Ngài bánh đến cho Ngài nhưng ma quỉ đã tìm cách quấy phá để trục Ngài ra khỏi “căn phòng” và cuộc sống khắc khổ, chúng thường hay la hét và hiện hình kỳ quái. Phản ứng lại, thánh nhân thường cầu nguyện nhiều hơn và tăng gấp những việc hãm mình. Giận dữ vì các mưu mô bị thất bại, ma quỉ còn công khai hành hạ Ngài nữa.

Một ngày kia người bạn mang bánh đến, bỗng thấy thánh nhân nửa sống nửa chết, mình đầy thương tích. Nhưng khi vừa bừng tỉnh, thánh nhân liền chỗi dậy và la lớn: – Tôi còn sẵn sàng chiến đấu. Lạy Chúa, không, không gì có thể tách lìa con khỏi lòng yêu mến Chúa được. Giữa những đau đớn vì các cuộc tấn công của ma quỉ, Ngài khinh bỉ trả lời: – Ồn ào vô ích. Dấu thánh giá và lòng tin tưởng vào Chúa là những thành trì kiên cố.

Thánh nhân luôn tin tưởng nơi Chúa. Ngày kia, được an ủi trong tâm hồn và cảm thấy là ma quỉ đã lùi bước, Ngài cầu nguyện: -Ôi, lạy Chúa, Chúa ở đâu? Sao Chúa không ở đây lau sạch nước mắt và thoa dịu những dày vò của con?

Tiếng Chúa trả lời: – Cha ở gần con, cha giúp con chiến đấu. Bởi vì con đã chống trả lại ma quỉ, cha sẽ bảo vệ quãng đời còn lại của con. Cha sẽ làm cho tên con rạng rỡ trên trời.

Tràn đầy nghị lực, thánh nhân chỗi dậy tạ ơn Chúa. Muốn xa mọi người hơn nữa, Ngài vượt sông Nil đến trú ngụ trong một pháo đài hoang phế đầy những rắn rết. Nhưng sự thánh thiện của Ngài như một sức nam châm, vẫn thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ. Thế là một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ. Sa mạc mọc lên những mái tranh, từ đó không ngừng vang lên những lời kinh ca khen Chúa. Thánh nhân trở nên vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

Dầu vậy, thánh An tôn đã hai lần từ giã sa mạc. Vào năm 311 khi có cuộc bách hại của Alaximiô, Ngài nói: – Nào ta cùng đi chiến đấu với anh em ta.

Ngài lên đường đi Alexandria. Người ta thấy thánh nhân khích lệ các tù nhân nơi các trại giam, theo họ tới trước quan tòa và khuyên nhủ họ can đảm chết vì đạo, Ngài còn xuống hầm trú để an ủi các linh mục. Ngài thoát chết là một điều lạ lùng.

Cuộc bách hại chấm đứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc. Số các môn sinh ngày càng tăng thêm đông. Sợ bị cám dỗ thành kiêu căng, và thấy gương các thánh tử đạo, thánh Antôn khao khát sống khắc khổ để đền tội. Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc. Sau ba ngày đi theo đoàn người buôn bán, Ngài dừng lại gần biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim và dựng một căn lều vừa đủ để nằm để ở. Dân Bê-đu-anh (Bédouins) cho Ngài bánh ăn. Về sau các môn sinh tìm tới và mang cho Ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đây là nguồn gốc của tu viện thánh Antôn hay là Deir-el-Arat, một tu viện theo nghi lễ Cốp (Copte) ngày nay vẫn còn.

Lần thứ hai, thánh nhân trở lại Alexandria theo lời mời của đức giám mục Athanasiô, để chống lại lạc giáo. Dân chúng cả thành chen lấn nhau đi đón Ngài. Các lương dân cũng bảo nhau : – Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa.

Nhiều người cảm động vì những bài diễn thuyết và những phép lạ Ngài làm, đã xin lãnh bí tích rửa tội, người ta tưởng sẽ gặp một lão già tám mươi hoang dại, nhưng đã ngạc nhiên khi thấy Ngài rất lịch thiệp, xử dụng ngôn ngữ văn hóa và diễn tả tư tưởng rất uyên thâm. Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi Ngài:

– Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết? Thánh nhân trả lời: Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng.

Và người ta ngỡ ngàng về những điều thánh nhân đã khám phá được trong cuốn sách vĩ đại này của Đấng Tạo hóa.

Điều đáng kể dường như không phải những nhiệm nhặt Ngài theo đuổi, mà là tâm hồn trong trắng Ngài kết hiệp mật thiết với Chúa, Ngài nói: – Hư danh là kẻ thù nguy hiểm nhứt của chúng ta.

Danh tiếng của thánh Antôn lan rộng đến nỗi vua Constantinô và con cái ông đã viết thư tham khảo ý kiến Ngài, Môn sinh của Ngài hãnh diện lắm. Nhưng Ngài bảo họ: Đừng ngạc nhiên lắm khi thấy nhà vua là một con người viết thư cho một con người. Đáng ngạc nhiên là chính Thiên Chúa đã muốn viết luật cho loài người, và đã nói với chúng ta qua đức Giêsu Kitô.

Và trả lời cho lớp người vương giả ấy, Ngài dùng những lời cao thượng để khuyên họ biết khinh chê danh vọng mà nhớ tới cuộc chung thẩm.

Khi Ngài đã quá 90 tuổi, Thiên Chúa qua một thị kiến đưa ngài đến thăm thánh Phaolô ẩn tu trong sa mạc. Ngài còn được cho biết là sẽ sống tới tuổi 105.

Biết sắp tới giờ từ giã trần gian, Ngài đi thăm anh em Ngài lần chót. Ngài nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương. Họ đã khóc ròng, nhưng Ngài khuyên nhủ họ: – Hãy sống như phải chết mỗi ngày. Hãy cố gắng noi gương các thánh.

Thánh nhân trở lại núi với hai môn sinh. Trong căn phòng nghèo nàn của mình, Ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa lúc 105 tuổi. Chúng ta biết được ân sủng giai thoại quý báu của đời thánh An tôn là nhờ thánh Athanasiô kể lại. (Nguồn: Mạng Vui Học Thánh Kinh)

Chết là từ bỏ cái tôi cái ích kỷ để được sống tự do với Chúa. “Hãy sống như phải chết mỗi ngày.” Mời bạn hãy cố “chết” đi một tí hôm nay nhé.

From: Đỗ Dzũng

Đăng tải tại CHUYỆN CÁC THÁNH | Chức năng bình luận bị tắt ở Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV

Giỗ cụ Lê Đình Kình: Nghĩ về vòng xoáy tội ác — Vòng xoáy đau thương

Giỗ cụ Lê Đình Kình: Nghĩ về vòng xoáy tội ác — Vòng xoáy đau thương

Bởi AdminTD

Phạm Đình Trọng

16-1-2022

15 tháng Chạp năm Kỷ Hợi – 15 tháng Chạp năm Tân Sửu (9.1.2020 – 17.1.2022)

  1. Ra đời từ nạn đói năm 1945, không một hạt gạo, không một xu dính túi, nhà nước cộng sản của Hồ Chí Minh được người đàn bà goá bụa Nguyễn Thị Năm, chủ doanh nghiệp Cát Hanh Long mở lượng hải hà nghiêng nhà, nghiêng cửa dốc của cải, tiền bạc cả đời tần tảo, nhạy bén kinh doanh tích lũy của mẹ goá con côi ra nuôi nấng, chăm bẵm từ người đứng đầu nhà nước cộng sản đến người lính để nhà nước cộng sản làm cuộc kháng chiến chống Pháp giữ chính quyền.

Cuộc chiến tranh chống Pháp chỉ là cuộc chiến tranh giữ chính quyền cộng sản cũng như cuộc chiến tranh Nam – Bắc chỉ để áp đặt chính quyền cộng sản trên cả nước chứ không vì độc lập của nước, không vì tự do của dân. Cho đến nay nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn bị cột chặt vào nước cộng sản đàn anh trong thế giới cộng sản thì làm gì có độc lập thực sự. Cho đến nay người dân vẫn không có những quyền tự do đương nhiên của con người, không có những quyền tự do đương nhiên của công dân thì làm gì có tự do.

Nuôi chính phủ, nuôi quân, nuôi cả cuộc kháng chiến đầu tiên của nhà nước cộng sản. Khi cuộc kháng chiến cuồn cuộn thế tiến công đến thắng lợi, chính quyền cộng sản được củng cố vững mạnh, nhà nước cộng sản liền vu cho người đàn bà nuôi nhà nước cộng sản từ thuở trứng nước là địa chủ, lôi người đàn bà ân nhân, lôi người đàn bà là Thánh sống cứu sinh của chính quyền cộng sản ra bắn trong cánh rừng âm u của bầy thú thời hồng hoang.

Ngày 9 tháng bảy năm 1953 tiếng súng tội ác của nhà nước cộng sản bắn chết người đàn bà tài năng, giỏi làm giầu chính đáng và rộng lớn lòng yêu nước thương nòi Nguyễn Thị Năm.

Người dân đều biết CB là bút danh quen thuộc của ông Hồ Chí Minh trong nhiều bài viết đăng trên tờ báo đảng của ông. Mười hai ngày sau khi bắn bà Thánh Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm, ngày 21 tháng bảy năm 1953, trên báo đảng lại có bài viết của CB: Địa Chủ Ác Ghê, bịa đặt, vu khống cho người đàn bà tài hiền, lòng Phật những tội do bộ máy vu khống chuyên nghiệp của đảng tạo ra. Địa Chủ Ác Ghê là những ngụm máu phun vào người đàn bà có tấm lòng Phật Nguyễn Thị Năm:

Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:

– Giết chết 14 nông dân.

– Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

– Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

– Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.

– Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.

Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-Hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào !

Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:

– Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.

– Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.

– Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.

– Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.

– Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.

– Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến . . .

Địa Chủ Ác Ghê là sự vu khống vô cùng đê tiện, hèn hạ như giọng điệu của đám dư luận viên hạ đẳng ngày nay.

  1. Phát động cuộc chiến tranh Nam – Bắc bằng nghị quyết trung ương 15/1959 nhằm áp đặt thể chế cộng sản trên cả nước, nhà nước cộng sản lại vét sức dân, vét máu dân làm cuộc nội chiến đẫm máu. Anh thanh niên nông dân Lê Đình Kình hăng hái nhập ngũ cầm súng đi vào cuộc nội chiến. Từ mặt trận cuộc nội chiến trở về đồng ruộng, người lính xuất ngũ Lê Đình Kình liền được trao trách nhiệm lo cho màu xanh cánh đồng, lo cho cuộc sống người dân làng xã. Lần lượt đảng viên Lê Đình Kình gánh vác: Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp toàn xã Đồng Tâm. Trưởng công an xã. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã. Bí thư đảng uỷ xã.

Từ đó, cuộc sống người dân Đồng Tâm là cuộc sống gia đình đảng viên Lê Đình Kình. Sự được, mất của mùa màng Đồng Tâm là niềm vui, nỗi buồn của lương tâm Lê Đình Kình. Sự tồn tại của mảnh đất Đồng Tâm là sự tồn tại của cuộc đời, sự nghiệp con người Lê Đình Kình.

Sau gần suốt cuộc đời gắn bó máu thịt với mảnh đất Đồng Tâm, trí nhớ minh mẫn và văn bản nhà nước về mảnh đất Đồng Tâm có đầy đủ trong tay, lão nông Lê Đình Kình thuộc địa phả Đồng Tâm như gia phả nhà mình. Biến động của đất nước, đất sống của Đồng Tâm cứ hao hụt là nỗi lo, nỗi bận tâm Lê Đình Kình.

Năm 1961 Đồng Tâm phải cắt 300 ha trong 406,3 ha đất cánh đồng Sênh cho quân đội làm trường bắn của sư đoàn 308, nay là trường bắn quốc gia Miếu Môn.

Năm 1981, sân bay đã chiến Miếu Môn được qui hoạch. 47,3 ha đất phía Đông đồng Sênh lại nằm trong 208 ha đất sân bay Miếu Môn. Một lần nữa Đồng Tâm lại phải cắt đất đồng Sênh giao cho bộ Quốc phòng. Dân Đồng Tâm chỉ còn 59 ha đất Tây đồng Sênh.

Đất sống của Đồng Tâm hao hụt hàng trăm ha, xót xa lắm nhưng nhà nước thu hồi đất đúng pháp luật thì phải chấp hành. 59 ha đất phía Tây đồng Sênh còn lại của tổ tiên người dân Đồng Tâm kéo địa giới Đồng Tâm vào tới chân dãy núi Găng, giáp đường Hồ Chí Minh đã xác định hình hài, tầm vóc Đồng Tâm, đã xác định vị thế chiến lược Đồng Tâm trong thế chiến lược của đất nước. 59 ha đất đồng Sênh còn lại của lịch sử, của sự sống Đồng Tâm, đầm đìa mồ hôi, đầm đìa khát vọng người dân Đồng Tâm càng vô cùng quí giá đến thiêng liêng.

Nhưng qua thời bần cố nông lộng hành. Qua thời bộ máy vu khống chuyện nghiệp tạo dựng lên những bần cố nông vu khống, đấu tố, buộc tội và giết hại bà Thánh Nguyễn Thị Năm lại đến thời tư bản hoang dã lộng hành. Quyền lực đồng tiền của tư bản hoang dã kết cấu với quyền lực nhà nước cộng sản sử dụng bộ máy vu khống chuyên nghiệp vu khống, buộc tội và sử dụng bạo lực nhà nước cướp đất dân.

Cho đến nay không có bất cứ một văn bản hợp pháp nào của nhà nước thu hồi 59 ha đất Tây đồng Sênh của dân Đồng Tâm. Nhưng lòng tham của tư bản hoang dã mang tên doanh nghiệp quân đội Viettel đã nhòm ngó mảnh đất Tây đồng Sênh thì dân Đồng Tâm phải mất đất Tây đồng Sênh. Như dân Văn Giang, Hưng Yên phải mất 500 ha đất bờ sôi ruộng mật, như dân Dương Nội, Hà Đông phải mất mảnh đất sống cho tư bản hoang dã chiếm làm đất kinh doanh thu lợi nhuận tư bản. Bộ máy vu khống chuyên nghiệp liền lu loa hô biến 59 ha đất Tây đồng Sênh của dân Đồng Tâm thành đất quốc phòng.

Làm kinh tế là hoạt động sản xuất kinh doanh tư bản. Quân đội làm kinh tế đã biến những tướng tá quân đội ở những đơn vị làm kinh tế thành những nhà tư bản thời tích luỹ tư bản, thời tư bản hoang dã, lòng dạ và tâm địa chỉ vì lợi nhuận. Biến người lính ở những đơn vị làm kinh tế thành những lao động không công cho những tướng tá kinh doanh tư bản. Như những nô lệ da đen lao động không công cho những tư bản da trắng thời nước Mỹ làm công nghiệp hoá.

Quân đội làm kinh tế biến nhiều tướng tá thành tư bản hoang dã, hối hả săn tìm lợi nhuận. Lợi nhuận bất chính đã dẫn dắt nhiều ông tướng vào con đường phạm pháp, tù tội, từ thượng tướng thứ trưởng bộ Quốc phòng đến trung tướng tư lệnh Cảnh sát biển. Quân đội làm kinh tế làm hư hỏng quân đội, tàn phá sức mạnh quốc phòng của đất nước và biến quan hệ quân dân cá nước thành quan hệ đối kháng. Đối kháng giữa tư bản hoang dã cướp đất phi pháp với người dân giữ đất hợp pháp, chính đáng.

Lão nông, đảng viên Lê Đình Kình quyết giữ chính đáng 59 ha đất Tây đồng Sênh cho người dân Đồng Tâm đã phải đối đầu với sức mạnh đồng tiền của tư bản hoang dã, đối đầu sức mạnh chính trị lực lượng vũ trang của đảng, đối đầu sức mạnh bạo lực nhà nước chuyên chính vô sản và người nông dân giữ đất chính đáng Lê Đình Kình phải nhận cái chết rùng rợn, man rợ hơn cả cái chết đau đớn của bà Thánh Nguyễn Thị Năm.

Bà Thánh Nguyễn Thị Năm bị toà án bần cố nông tuyên án tử hình và bị đội du kích xã xử bắn ban ngày trong cánh rừng chiến khu Việt Bắc.

Không có bản án nào buộc tội công dân Lê Đình Kình. Không có một hình thức kỉ luật nào kết tội đảng viên Lê Đình Kình. Đang là công dân lương thiện, đang là đảng viên trong sạch, giữa đêm bình yên rạng sáng 9.1.2020 đúng ngày rằm tháng chạp Kỷ Hợi, lão nông Lê Đình Kình bị cả một trung đoàn cảnh sát cơ động với xe bọc thép súng lớn, xe vũ khí điện tử, với ba ngàn quân tinh nhuệ vây kín quanh nhà và đội đặc nhiệm cảnh sát còn đảng còn mình, coi dân có tiếng nói khác biệt với đảng là thù địch, sôi sục sắt máu, phá cửa xông vào tận giường ngủ kề súng vào sát đầu, sát ngực dân xả đạn.

Công dân lương thiện, đảng viên trong sạch Lê Đình Kình không những bị bắn vỡ sọ, thủng ngực, toác đầu gối mà còn bị mang xác đi phanh thây từ cổ tới tận cùng bụng. Chỉ những kẻ lòng lang dạ thú không còn một chút tính người mới hành xử với con người, với đồng loại man rợ như vậy.

Giết bà Thánh Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm rồi CB Hồ Chí Minh viết trên tờ báo đảng của ông vu khống người đàn bà mở lượng hải hà nuôi nấng đảng cộng sản thành địa chủ giết người!

Tung cả một trung đoàn công an tinh nhuệ trong đêm đánh úp thôn Hoành bé nhỏ, bình yên, tung lực lượng đặc nhiệm phá cửa xông vào tận giường ngủ bắn nát tim, vỡ sọ đảng viên lão thành cách mạng 59 tuổi đảng rồi tướng phát ngôn bộ Công an Tô Ân Xô lên báo vu cho công dân lương thiện, đảng viên trong sạch Lê Đình Kình là “Địa chủ cường hào mới”. Tướng Xô đơm đặt: “Sự nổi lên của đối tượng cầm đầu, nhất là ông Lê Đình Kình trong bối cảnh dòng họ Lê Đình có ảnh hưởng lớn tại thôn Hoành, có khả năng chi phối, tác động kết quả bầu cử ở cơ sở, là một loại cường hào địa chủ mới” Địa chủ thì phải làm chủ nhiều đất hơn người dân trong làng xã. Cường hào thì phải có sức mạnh quyền uy và sức mạnh bạo lực đàn áp, khống chế người khác. Đảng viên Lê Đình Kình chỉ có lòng tin ngây thơ, son sắt vào đảng của ông và tình yêu máu thịt với con người và mảnh đất Đồng Tâm.

  1. Từ đội du kích thi hành bản án tử hình xử bắn bà Thánh Nguyễn Thị Năm giữa ban ngày trong cánh rừng vắng đến đội đặc nhiệm cảnh sát trong đội hình trung đoàn cảnh sát cơ động giữa đêm xông vào tận giường ngủ hành quyết không cần có bản án, xả súng giết rồi phanh thây công dân thánh thiện, đảng viên trong sạch Lê Đình Kình đã tạo ra vòng xoáy tội ác ngày càng ghê tởm, tội ác đã được đẩy lên cao tới tận cùng man rợ!

Trong nhà nước cộng sản, quyền lực cộng sản cứ ngạo nghễ ngự trị trên vòng xoáy tội ác và người dân cứ mãi mãi chìm sâu trong vòng xoáy thăm thẳm đau thương, oan trái và oán hờn.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Giỗ cụ Lê Đình Kình: Nghĩ về vòng xoáy tội ác — Vòng xoáy đau thương

Arizona lại bác bỏ các cáo buộc ‘gian lận bầu cử’ ngay trước cuộc tập hợp của Trump

Arizona lại bác bỏ các cáo buộc ‘gian lận bầu cử’ ngay trước cuộc tập hợp của Trump

January 16, 2022

PHOENIX, Arizona (NV) – Giới chức Arizona hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Giêng thông báo bác bỏ hầu hết các cáo buộc gian lận bầu cử đang được điều tra ở tiểu bang này, chỉ một ngày trước khi cựu Tổng Thống Donald Trump đến một cuộc tập hợp ở khu vực này, theo tạp chí Business Insider.

Các nhà điều tra ở Pima County, bao gồm thành phố Tucson, kết luận không truy tố hình sự sau khi kiểm tra 151 trường hợp cử tri bỏ nhiều hơn một lá phiếu trong cuộc bầu cử năm 2020, chiếm hơn 2/3 tổng số vụ án được giới chức Arizona xem xét, trong một tuyên bố của Biện Lý Cuộc Pima County (PCAO) nêu rõ.

Một ngày trước khi cựu TT Trump đến cuộc tập hợp tại Florence, giới chức Arizona công bố bác bỏ nhiều cáo buộc bầu cử gian lận. (Hình: Mario Tama/Getty Images)

“Dù các cuộc điều tra của PCAO cho thấy những cử tri cố tình gửi nhiều hơn một lá phiếu, nhưng có rất ít hoặc không có bằng chứng cho thấy những người này tin rằng các lá phiếu họ gửi sẽ đều được tính,” bà Laura Conove, biện lý Pima County, nói trong một bản tường trình. “Những cuộc điều tra cho thấy những người này bị nhầm lẫn về quy trình bầu cử, đặc biệt liên quan đến việc gửi phiếu bầu qua bưu điện và các lá phiếu bầu tạm thời, một số trường hợp gửi nhiều hơn một lá phiếu vì sợ rằng phiếu bầu ban đầu sẽ không được tính.”

Tuyên bố của PCAO cũng đưa ra các ví dụ, bao gồm một người nghĩ rằng lá phiếu đầu tiên của mình đã bị đánh cắp khỏi hộp thư nên đã gửi lá phiếu thứ hai. Một người khác làm mất lá phiếu đầu tiên và phải gửi lá phiếu khác, đồng thời tin rằng ai đó đã nhặt được và gửi lá phiếu đầu tiên của người này đi.

Nhân viên công ty Cyber Ninjas, công ty không hề có kinh nghiệm nhưng được phía Cộng Hòa Thượng Viện Arizona thuê kiểm phiếu bầu tại Maricopa County. (Hình: Courtney Pedroza/Getty Images)

“Để làm rõ, các lá phiếu thứ hai trong những sự việc này không được tính vào lần kiểm phiếu cuối cùng và không ảnh hưởng đến kết quả bầu cử, PCAO cũng không phát hiện âm mưu bầu cử nào trong các sự việc được điều tra,” tuyên bố cho biết.

Tuyên bố cũng cho biết 1/3 trong số 151 sự việc được xem xét kỹ càng hơn. Những lá phiếu này thuộc về 23 đảng viên Cộng Hòa đã ghi danh, 15 đảng viên Dân Chủ đã ghi danh và 13 người không đảng phái.

Thông báo được đưa ra một ngày trước khi ông Trump tham dự cuộc mít tinh ở Florence, Arizona, nơi ông tiếp tục lặp lại những tuyên bố sai trái về cuộc bầu cử năm 2020.

Trên thực tế, Tổng Thống Joe Biden đã đánh bại Trump ở Arizona và kết quả này được xác nhận bởi nhiều cuộc kiểm toán, bao gồm cả một cuộc kiểm toán do các nhà lập pháp đảng Cộng Hòa trong tiểu bang ra lệnh và thuê Cyber Ninjas, một công ty chưa hề làm việc kiểm phiếu.

Tháng Chín, 2021, Thượng Nghị Sĩ Karen Fann, chủ tịch Thượng Viện Arizona, tuyên bố “cuộc kiểm toán” do công ty Cyber Ninjas thực hiện cho thấy kết quả chiến thắng thuộc về Tổng Thống Joe Biden. (Hình chụp qua màn ảnh azcentral.com)

Cyber Ninjas sau khi không mang đến kết quả mà cựu Tổng Thống Donald Trump đặt kỳ vọng sẽ chứng thực cho những cáo buộc gian lận bầu cử là sự thật, đã tuyên bố phá sản, theo Washington Post hôm Thứ Hai, 10 Tháng Mười Hai.

Trước đó vài ngày, Chánh Án John Hannah của Tòa Thượng Thẩm Maricopa County ra phán quyết phạt công ty này khoản tiền phạt $50,000/ngày sau khi bất tuân lệnh toà giao nộp hồ sơ sau khi thực hiện việc tái kiểm phiếu.

Sau khi, nhất quyết thực hiện việc tái kiểm phiếu dù bị phản đối rộng khắp, cuối cùng, vào ngày 24 Tháng Chín, 2021, Thượng Nghị Sĩ Karen Fann, chủ tịch Thượng Viện Arizona, đành tuyên bố “cuộc kiểm toán” 2.1 triệu phiếu bầu tại Maricopa County do công ty Cyber Ninjas thực hiện phù hợp với kết quả chiến thắng thuộc về Tổng Thống Joe Biden do uỷ ban bầu cử của quận hạt công bố hồi Tháng Mười Một, 2020. (MPL)

Đăng tải tại Tin Hoa Kỳ | Chức năng bình luận bị tắt ở Arizona lại bác bỏ các cáo buộc ‘gian lận bầu cử’ ngay trước cuộc tập hợp của Trump

Tại sao những ca khúc trước 1975 được ưa chuộng?

Tại sao những ca khúc trước 1975 được ưa chuộng?

Nguyễn Văn Tuấn

Hôm nọ, ông NPTrọng phàn nàn là Việt Nam không có những bài hát hay. Tôi thì nghĩ khác ổng, vì Việt Nam có những bài hát hay. Có thể ổng chưa nghe đó thôi. Chúng ta thử tìm về nhạc thời trước 1975 ở miền Nam xem, có nhiều bài hay lắm chứ, và vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay dù nó bị vùi dập nhiều lần …

Câu hỏi đặt ra là tại sao những bài ca đã được sáng tác hơn nửa thế kỉ trước mà đến nay vẫn còn được giới thưởng ngoạn, từ bình dân đến lịch lãm, đều ưa thích. Tôi nghĩ đến 4 lí do và cũng là đặc điểm của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam: tính nhân văn, tự do tư tưởng, tính phong phú, và giàu chất nghệ thuật.

Nhân văn

Thứ nhất là đậm chất nhân văn. Nếu nhìn lại những bài ca trước 1975 ở miền Nam và so sánh với những sáng tác ở miền Bắc, tôi nghĩ ít ai có thể bác bỏ tính nhân văn trong các sáng tác ở trong Nam. Khi nói “nhân văn”, tôi không chỉ nói đến những sáng tác về thân phận con người, mà còn kể cả những sáng tác thuộc dòng nhạc lãng mạn, trữ tình, nói lên cảm xúc của con người trước thời cuộc.

Người ta thường phân nhóm những sáng tác của Trịnh Công Sơn thành hai nhóm tình yêu và thân phận, nhưng tôi nghĩ cách phân nhóm đó cũng có thể áp dụng cho nhiều nhạc sĩ khác như Từ Công Phụng chẳng hạn. Tình yêu không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn tình yêu quê hương đất nước (“Tôi đi xem để thấy những gì yêu dấu Việt Nam”) và giữa người với người “Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu”).

Thỉnh thoảng cũng có một vài bài có chất “máu” (như câu “nhưng thép súng đang còn say máu thù” trong bài “Lính xa nhà”), nhưng cho dù như thế thì câu kết vẫn có hậu “Hẹn em khi khắp trời nở đây hoa có tôi về”. Có thể nói rằng cái đặc tính nhân văn và nhân bản của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam là yếu tố mạnh nhất để phân biệt so với các ca khúc cùng thời ngoài Bắc vốn lúc nào cũng có nhiều mùi máu và súng đạn.

Nghệ thuật

Cái đặc điểm nổi bật thứ hai là tính nghệ thuật trong các ca khúc. Khi nói “nghệ thuật” tôi muốn nói đến những lời ca đẹp, giàu chất thơ, và những giai điệu đẹp. Những bài ca mà ngay cả từ cái tựa đề đã đẹp. Những Dấu tình sầu, Giáng ngọc, Mùa thu cho em, Nghìn trùng xa cách, Tuổi biết buồn, Thà như giọt mưa, Giọt mưa trên lá, Hạ trắng, Diễm xưa, Ướt mi, và biết bao tựa đề có ý thơ và sâu lắng như thế đã đi vào lòng người thưởng ngoạn.

Thử so sánh những tựa đề của các sáng tác cùng thời ngoài Bắc như Bài ca năm tấn, Em đi làm tín dụng, Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng, Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, v.v. thì chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt.

Lời ca trong những ca khúc trước 1975 ở miền Nam cũng là những lời đẹp. Tôi thán phục những nhạc sĩ như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Hoài Linh [không phải anh hề], Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên (và nhiều nữa) đã viết ra những lời ca đi vào lòng người. Không phải chỉ đơn giản nhân văn theo kiểu những ý tưởng trừu tượng trong sáng tác của Trịnh Công Sơn (ví dụ như “hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”, hay “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”), nhưng có khi đi thẳng vào vấn đề như Phạm Duy (“tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”). Còn nhiều nhiều bài đã đi vào lòng người qua những lời ca đẹp và giản dị: “Hôm xưa tay nắm tay nhau anh hỏi tôi rằng: ‘Những gì trong đời ta ghi sâu vào tâm tư / Không tan theo cùng hư vô, không theo tháng năm phai mờ / Tình nào tha thiết anh ơi?”. Có những lời ca mà tôi nghĩ giới trẻ ngày nay có thể mỉa mai cười khẩy nói sến, nhưng tuổi trẻ thì thường chưa đủ lớn để cảm những câu như “Phút ban đầu ấy / Thư xanh màu giấy viết nhưng chưa gởi e / Ngõ đi chung một lối / Đôi khi định nói với em một lời.”

Không biết từ thuở nào mà tôi đã mê bài Trộm nhìn nhau và đã từng dự báo rằng bài này có ngày sẽ nổi tiếng. Thời đó, tôi mới về thăm nhà sau 20 năm xa cách, và nhìn người xưa, tôi thấy những câu “Ðôi khi trộm nhìn em / Xem dung nhan đó bây giờ ra sao / Em có còn đôi má đào như ngày nào” sao mà hay quá, hợp cảnh quá. Chỉ trộm nhìn thôi. Lời nhạc rất thơ. Mà, thật vậy, đa số những lời ca trong các sáng tác trước 1975 được viết ra như những vần thơ hoặc phổ từ thơ. Người phổ thơ thành nhạc hay nhất là Nhạc sĩ Phạm Duy, được xem như là một “phù thuỷ âm nhạc”. Chính vì thế mà âm nhạc trước 1975 có những lời ca sang trọng. Thời nay, trong môi trường những ca khúc dung tục, rất hiếm thấy những ca khúc có những lời ca đẹp như trước.

Lạ một điều là cũng là nhạc tuyên truyền (ở ngoài Bắc gọi vậy) hay nhạc tâm lí chiến (cách gọi trong Nam), nhưng những sáng tác trong Nam thì lại được người dân nhớ và xưng tụng. Sau cuộc chiến, những bài gọi là “nhạc đỏ”, dù được sự ưu ái của nhà cầm quyền văn hoá, chẳng ai nhớ hay muốn nhớ đến chúng.

Ngược lại, những sáng tác về người lính ở trong Nam thời trước 1975 thì lại còn lưu truyền và nuôi dưỡng trong lòng dân, dù nhà cầm quyền ra sức cấm đoán! Ngay cả những người lính miền Bắc cũng thích những bài hát về lính của các nhạc sĩ trong Nam. Tại sao vậy? Tôi nghĩ tại vì tính nghệ thuật và nhân bản trong những sáng tác ở miền Nam. Người lính, cho dù là lính cộng sản hay cộng hoà, thì vẫn cảm được những câu “Con biết xuân này mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương” hay “Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay”. Những lời ca đó không có biên giới chính trị.

Tự do

Đặc điểm thứ ba là tự do. Dù có kiểm duyệt, nhưng nói chung các nghệ sĩ trước 1975 ở miền Nam có tự do sáng tác. Không ai cấm họ nói lên nỗi đau và những mất mát của chiến tranh. Không ai “đặt hàng” họ viết những bài ca tụng lãnh đạo như ngoài Bắc. Thật vậy, nhìn lại dòng nhạc thời đó, chẳng có một ca khúc nào ca tụng ông Nguyễn Văn Thiệu cả. Có một bài ca tụng ông Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chẳng ai ca vì nó được dùng trong mấy rạp chiếu bóng là chính. Thay vì ca ngợi “lãnh tụ” dòng nhạc miền Nam ca ngợi con người và dân tộc, nhưng cũng đồng thời nói lên nỗi đau của chiến tranh.

Trịnh Công Sơn viết hẳn một loạt “Ca khúc Da Vàng” (mà hình như cho đến nay vẫn chưa được phép phổ biến). Trong thời chiến mà họ vẫn có thể phổ biến những sáng tác không có lợi cho chính quyền. Những ca khúc như “Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ / Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn” chắc chắn không có cơ may xuất hiện trong âm nhạc miền Bắc thời đó (và ngay cả sau này). Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất trong thời chiến có lẽ là bài “Kỉ vật cho em” (phổ thơ của Linh Phương) với những lời ca ray rứt, bi thảm: “Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime / Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã / Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả / Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa / Anh trở về trên chiếc băng ca / Trên trực thăng sơn màu tang trắng.” Nghe nói ca khúc này đã làm cho chính quyền VNCH rất khó chịu với nhạc sĩ.

Tiêu biểu cho tinh thần tự do sáng tác có lẽ là tự sự của Phạm Duy: “Tôi đưa ra một câu nói thôi: ‘Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ đất nước bơ vơ, nó rối bù đi thì tôi phải khóc thôi. Lúc nào mà đoàn kết thì tôi cười theo. Khóc cười theo mệnh nước. Cái xã hội mình nó rối tung lên như vậy thì làm sao mà mình …. thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề là … Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi đầy đủ, hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi thì tôi thấy cho đến giờ phút này thì tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử đại khái nếu mà tôi có chết đi thì tôi hãy còn gần như là tôi không được thỏa mãn.”

Cái tính tự do còn thể hiện qua một thực tế là chính quyền thời đó không cấm đoán việc phổ biến các nhạc sĩ còn ở ngoài Bắc. Những sáng tác của Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, v.v. đều được phổ biến thoải mái trong Nam. Ngay cả bài quốc ca mà chính quyền vẫn sử dụng bài “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước vốn là một người cộng sản. Ngược lại, nhà cầm quyền ngoài Bắc thì lại cấm, không cho phổ biến các sáng tác của các nhạc sĩ trong Nam hay đã vào Nam sinh sống.

Đa dạng

Đặc điểm thứ tư của âm nhạc ngày xưa là tính phong phú về chủ đề. Khác với nhạc ngoài Bắc cùng thời tất cả dồn cho tuyên truyền và kêu gọi chiến tranh, các sáng tác trong Nam không kêu gọi chiến tranh nhưng yêu thương kẻ thù. Nhạc thời đó đáp ứng cho mọi nhu cầu của giới bình dân đến người trí thức, từ người dân đến người lính, từ trẻ em đến người lớn quan tâm đến thời cuộc, từ tình yêu lãng mạn đến triết lí hiện sinh, từ tục ca đến đạo ca, từ nhạc trẻ đến nhạc “tiền chiến”, từ nhạc tâm lí chiến (tuyên truyền) đến nhạc chống chiến tranh, nói chung là đủ cả. Không chỉ sáng tác bằng tiếng Việt mà còn trước tác hay dịch từ các ca khúc nổi tiếng ở nước ngoài để giới thiệu cho công chúng Việt Nam.

Tôi nghĩ 4 đặc điểm đó có thể giải thích tại sao những ca khúc dù đã sáng tác hơn nửa thế kỉ trước mà vẫn còn phổ biến và được yêu chuộng cho đến ngày nay. Mai kia mốt nọ, nếu có người viết lại lịch sử âm nhạc, tôi nghĩ họ sẽ ghi nhận những sáng tác thời trước 1975 ở miền Nam là một kho tàng vàng son của âm nhạc Việt Nam. Như là một qui luật, những bài hát tuyên truyền thô kệch và nhồi sọ, những bài ca sắt máu, những sáng tác kêu gọi giết chóc và hận thù sẽ bị đào thải, và thực tế đã chứng minh điều đó. Ngược lại, chỉ có những sáng tác đậm tính nhân văn, giàu nghệ thuật chất, và phong phú xuất phát từ tinh thần tự do thì mới tồn tại theo thời gian.

Hình :

https://www.facebook.com/photo/?fbid=1372095503237763&set=pcb.1372096573237656

https://www.facebook.com/photo/?fbid=1372096186571028&set=pcb.1372096573237656

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Tại sao những ca khúc trước 1975 được ưa chuộng?

Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc

Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc

Trời Houston hôm nay gió lạnh, chúc bạn một ngày thật ấm áp dưới tà áo của Mẹ Maria nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 14/01/2022

TIN MỪNG: Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. (Lc 1:48)

SUY NIỆM:

2/ Không tả được Đức Mẹ coi ơn [Vô Nhiễm Nguyên Tội] này trọng đại chừng nào! Người hằng bày tỏ ơn trọng ấy trước mặt như sự khôn ngoan vua Sa-lô-môn xưa ở trước con mắt vua vậy. Từ trước vô cùng Chúa đã ban cho Đức Mẹ lấy ơn vĩ-đại này làm cao trọng hơn mọi của trên đời. Thật ra Chúa đã ban cho Đức Mẹ nhiều ơn riêng; song ơn trọng này quí báu hơn các ơn khác muôn phần, vì làm cho Đức Mẹ được đẹp lòng Chúa hơn. Bởi thế, trót đời Người luôn luôn tỏ lòng biết ơn Chúa.

3/ Hỡi con, khi chịu phép Rửa-tội, con cũng được ơn thánh hoá, như khi Đức Mẹ mới chịu dựng thai trong lòng bà thánh Anna. Mà vì ơn trọng ấy nên con được gọi Đức Chúa Trời là Cha, Chúa Giê-su là Anh và được hưởng phần gia tài cùng Chúa Giê-su trên thiên-đàng. (Rom 8:17), (x. Gương Đức Mẹ, Q1:2:2,3)

❦ “Ôi Mẹ, Mẹ được làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ được đặc ân vinh hiển là làm cho những kẻ tội lỗi nặng nề trở lại cùng Chúa: vì lời Mẹ cầu bầu không thể không được chấp nhận, bởi Chúa luôn luôn xử với Mẹ như Mẹ thật vẹn tuyền”. (Thánh Germanô)

LẮNG NGHE: Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1:38)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, Mẹ thật diễm phúc, với trọn niềm tin tưởng, mến yêu, con phó thác cho Mẹ thế giới này, đất nước con, gia đình con, bạn bè thân bằng khuyến thuộc của con, và cả những người tội lỗi đang làm Mẹ đau lòng. Xin Mẹ hãy đồng hành với con hôm nay để yêu thương, chăm sóc và dẫn dắt con sống theo ý Chúa. Xin giúp con hết lòng yêu Mẹ bằng tình con thảo hiếu.

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại.

From: Đỗ Dzũng

Đăng tải tại CHUYỆN VỀ CHÚA VÀ ĐỨC MẸ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc

Ván bài thắng ngược!- CHUYỆN PHIẾM… BI HÀI…

Van Pham

CHUYỆN PHIẾM… BI HÀI…

Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Xin gởi đến các bạn bài ký sự dưới đây để biết: tại sao chúng ta cứ bị… việt vị mãi???!!!!!!!!!!

***

Bắc Kỳ 9 Nút, Bắc Kỳ 2 Nút.

“Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!”

Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954.

Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?

Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:

Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đờiˮ, cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.

Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!

“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất“bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng vv. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.

Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng“bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội Dương-thu- Hương đã nhận xét.

Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.

Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.

Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.

Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạy “trong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có, biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!

Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”! Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.

Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2 nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”

Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày “chém tre, chặt gỗ trên ngàn, hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai” của ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) đã thay cho phần kết của chuyện kể mà tôi thiển nghĩ, những người dân miền Nam, cái đất nước ở sau con sông Bến-Hải kia đều đã biết cái số phận căn nhà đó ra sao.

Những ngày vừa qua, nhân lễ kỷ niệm 50 năm anh em Tổng Thống Ngô-đình-Diệm bị sát hại, vài đài truyền hình có chiếu lại hình ảnh của gần một triệu người bắc kỳ (9 nút) bồng bế, gồng gánh, mang theo những chổi cùn, rế rách, luộm thuộm dắt díu nhau lên con tàu “há mồm” xuôi nam. Sau đó họ được định cư ở những vùng xa, vùng sâu, hoang vu hẻo lánh, lập nghiệp. Mơ ước cư ngụ ở giữa thành phố ồn ào, xôn xao, đối với họ chỉ là hoài bão.

Thế còn 30-4-1975, bắc kỳ (2 nút) xuôi nam thì sao? Vai đeo súng, tay cầm dao, nghênh ngang tràn vào thành phố cướp của, lấy nhà, chiếm đoạt, chễm chệ ở trong những căn nhà lớn ngay giữa thị thành. Áp đẩy khổ chủ đến vùng xa, vùng sâu có tên gọi là “kinh tế mới”! Cái tư thế “chễm chệ” kể trên, mỗi ngày một phát triển lớn, tới độ, bây giờ 38 năm sau, gần như toàn thể những thành thị ở miền nam, trên những đường phố lớn, trong những căn nhà to, chủ nhân đều là bắc kỳ (2 nút). Như vậy, chẳng phải rõ ràng bắc kỳ (2 nút) không những chỉ thắng bắc kỳ (9 nút), mà còn thừa thắng xông lên, áp đảo luôn cả những nam kỳ chủ nhà, không nút nào hay sao?

Tên công an chính trị viên, phó trại giam, tốt nghiệp viện triết học Marx, trong đối thoại về chủ nghĩa Cộng-Sản, hỏi tôi rằng “chân lý có thay đổi không?” Tôi trả lời: “đã là chân lý thì không thay đổi”. Hắn cười.

Hôm nay, hắn đúng, tôi sai. Chân lý của Marx quả đã thay đổi. Thế giới C/S của Marx đã xây dựng gần một thế kỷ, hoàn toàn sụp đổ. Học trò của Marx đã chia tay ý thức hệ với Marx, lũ lượt bỏ chạy qua vùng đất tư bản, thấy của cải vật chất phong phú thừa thãi mà chóng mặt, hoa mắt nên làm càn làm loạn”. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, gia sức trấn lột, cướp bóc, lừa bịp, điên đảo, tham nhũng bừa bãi, trơ tráo tới độ vô văn hóa, vô nhân tính.

Trở lại con số 9 nút (1954) và con số 2 nút (1975) mà người ta mệnh danh là bắc kỳ cũ và bắc kỳ mới, với những chuyện xảy ra ở trên một đất nước xa Hà-Nội tới ngàn dậm này: Đất nước Hoa-Kỳ.

“Này chị kia, ở nước Mỹ chợ nào cũng có chỗ cất shopping- car, sao chị lại bỏ bừa sau xe của tôi?ˮ “Cứ tự nhiên như ở Hà-Nội!ˮ, “Nhà tôi” (bắc kỳ 9 nút), bực mình la lớn. Hai bà (bắc kỳ 2 nút) tỉnh bơ, nổ máy xe biến mất. Còn lại là hai tôi, mỗi người đẩy một xe đưa vào chỗ cất.

Một lần khác, người bạn tôi kể rằng “Đi chợ, mua vội, tay chỉ cầm có hai gói cà-phê, đang xếp hàng chợt một chị bắc kỳ (2 nút) chen ngang vào đứng trước anh, anh phản đối thì chỉ hỏi lại: “xe của ông đâu?” Anh giận quá la lớn: “Đây là ở nước Mỹ, mua nhiều hay ít đều phải xếp hàng chứ không phải ở Hà-Nội của chị”.

Tại một nhà hàng, cháu gái của tôi cầm tờ biên lai tính tiền do bạn trai là người Mỹ trả, tới nói với người thâu ngân rằng: “chúng tôi gọi hai tô bún thịt nướng chứ đâu phải chả cá thăng-long mà tính nhiều thế này?” thì được thâu ngân viên buông gọn một chữ “nhầm”, rồi đếm tiền hoàn lại, không một lời xin lỗi. Tôi đoán chắc người Hà-Nội, chủ nhân (2 nút) tưởng Mỹ khờ khạo (đã bị bác và đảng đánh bại), nên mập mờ đánh lận con đen.

Trên đường về nhà, dọc hai bên đường, ở giữa lòng cái thủ đô có tên Little Saigon này, lác đác những căn nhà to như dinh thự mà người Hà-nội đã bỏ tiền triệu để sở hữu một cách ngạo nghễ, khiến tôi chợt nhớ đến ông chiến hữu bại trận của tôi năm xưa đã phải “trả nhà cho nhân dân” (nhân dân Hà-Nội), mà xót xa!

Tôi miên man tự hỏi, chẳng lẽ từ niềm tự hào “đánh thắng hai đế quốc lớn” của người Hà-Nội đang được thể hiện một cách ngang ngược, lỗ mãng, vô văn hóa ngay giữa cái thủ đô của người Việt tị nạn trên đất nước Hoa-Kỳ này đến vậy sao? Lý do gì họ có mặt nơi này? phần đất nơi cư ngụ cuối cùng, mà những người hoảng sợ đã phải bỏ nhà bỏ của để chạy xa họ? Tôi đang nghĩ đến người con gái bắc kỳ (9 nút) ở đất Hố-Nai Biên-Hòa năm xưa. Tôi ước ao được gặp lại cô ở nơi này, nơi cư ngụ cuối cùng của những người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ lại quê hương, chạy trốn những kẻ bạo tàn! Tôi muốn lại được nghe cô nói rằng “Các anh hãy đi cho khuất mắt tôi, tôi đã sợ các anh quá rồi, chạy xa các anh tới nửa vòng trái đất mà các anh vẫn không buông tha!”

Ông nhà văn Hoàng-hải-Thủy của miền nam cũ, mới đây cay đắng than rằng “Nếu một ngày nào đó trên đất nước Hoa-Kỳ này, giữa nơi ở của những người Việt tị nạn có phất phới lá cờ đỏ sao vàng thì xin cho tôi được chết trước!” Nghe mà xót xa cay đắng quá! Mong là con bài 2 nút sẽ không thắng ngược 9 nút thêm lần nữa!

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Ván bài thắng ngược!- CHUYỆN PHIẾM… BI HÀI…

Tịnh Thất Bồng Lai: Những câu hỏi quanh việc ‘đàn áp tôn giáo’ và tội ‘loạn luân’ (BBC)

Tịnh Thất Bồng Lai: Những câu hỏi quanh việc ‘đàn áp tôn giáo’ và tội ‘loạn luân’

12 tháng 1 2022

Ông Lê Tùng Vân (giữa) cùng 2 đệ tử của Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ

Hiện nay một số luật sư đang đăng ký thủ tục để bảo vệ pháp lý cho các thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai (hay Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ ). Trong khi chờ đợi vụ việc được đưa ra xét xử, nhiều câu hỏi nhức nhối đang được dư luận đặt ra.

Có hay không việc đàn áp tôn giáo?

Giới chức cho rằng các thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai là ‘sư giả’, không thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, không được nhà nước công nhận nhưng ‘vẫn cạo đầu, mặc áo tu hành’.

Vậy đi tu mà không nằm trong hệ thống cơ sở tôn giáo của nhà nước có phải là tu không?

Trao đổi với BBC hôm 11/1, tu sĩ Thích Đồng Long ở Thành phố Hồ Chí Minh, một thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, không được nhà nước công nhận, nói:

“Hiện tại, không có tiêu chuẩn cụ thể nào để khẳng định một người có tu hay không. Nhưng thông thường, theo truyền thống Phật giáo, có hai hình thức là tu tại gia và tu xuất gia.

“Phật tử tu tại gia vẫn được có gia đình và tham gia vào mọi hoạt động xã hội. Họ chỉ có trách nhiệm giữ gìn 5 giới hay cao hơn là bồ tát giới hoặc thập thiện… Việc giữ gìn này cũng là tự nguyện.

“Với người xuất gia, tùy mức độ thọ giới mà họ phải giữ các giới pháp của họ. Nếu sai phạm thì tùy theo mức độ mà bị xử lý theo luật của Phật.

“Tịnh Thất Bồng Lai khẳng định họ tu tại gia. Họ cạo tóc là việc bình thường. Xưa nay không có quy định nào cấm người tu tại gia không được cạo tóc, thờ Phật hay ca hát. Những việc làm của họ dù đúng hay sai theo Giáo Pháp, thì đứng trên phương diện tự do dân chủ về tín ngưỡng, tôn giáo, không ai có quyền can thiệp hay phán xét họ. Bởi vì người ta có quyền có một lập trường, quan điểm và cách tu tập theo nhận thức của mình.”

“Sự việc xảy ra với Tịnh Thất Bồng Lai thể hiện sự thiếu tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, và cũng là một hình thức đàn áp tôn giáo với cá nhân, tổ chức không tham gia vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam.”

Chính Thượng tọa Thích Nhật Từ, Chủ nhiệm Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Văn hóa Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong bài trả lời Báo Giác ngộ năm 2017 cũng khẳng định những người ở Thiền Am tu tại gia, ông Lê Tùng Vân chưa bao giờ nhận mình là hòa thượng và cũng chưa từng nói mình là ‘trụ trì’ chùa Bồng Lai.

Ông Thích Nhật Từ khẳng định hai bị cáo “Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên tu tại gia, cạo đầu, mặc áo nâu sòng từ nhỏ, họ không hề giả mạo tăng sỹ để lừa đảo bất kỳ ai như một số báo chí đã cáo buộc”.

Việc họ tham gia các chương trình ca hát, theo ông Thích Nhật Từ, là không có gì vi phạm giới luật của đạo Phật.

“Vấn đề cốt lõi là ban tổ chức chương trình games show phải nói rõ trong thông cáo báo chí và cho giới truyền thông biết họ chỉ là những người tu tại gia…. Khu Bồng Lai viên chỉ là một tịnh thất, không có bảng hiệu chùa, nên không đăng ký với Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An.

Ông Thích Nhật Từ cũng nói rằng ông ngạc nhiên vì sao Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An chưa cử đại diện đến Bồng Lai viên để nắm rõ thực hư vấn đề, dẫn đến các ‘phát ngôn vội vã’.

Có hay không tội loạn luân?

Trước khi bốn thành viên của Thiền Am bị khởi tố, truyền thông Việt Nam đồng loạt đưa tin rằng ông Lê Tùng Vân (90 tuổi), có thể bị kết tội ‘Loạn luân’. Rằng kết quả xét nghiệm DNA bước đầu cho thấy nhiều người tại Tịnh Thất Bồng Lai có quan hệ huyết thống với ông Vân, trong đó “có những đứa trẻ chỉ vài tuổi”. Và rằng “kết quả điều tra ban đầu cũng xác định, ông Lê Tùng Vân có ba con với ít nhất hai người con gái ruột của ông“.

Hàng loạt báo lề phải đăng các bài viết với tiêu đề gây xôn xao như ‘Hé lộ gây sốc về chuyện loạn luân tại “Tịnh thất Bồng Lai” (Vietnamnet), Vụ án loạn luân tại Tịnh thất Bồng Lai: Mẹ của những đứa trẻ “mồ côi” sống cùng ông Lê Tùng Vân là ai? (Kenh14.vn), Ông Lê Tùng Vân có 3 con sau khi loạn luân với 2 con gái ruột (Soha)…

Tuy nhiên, ngay sau đó, có ý kiến từ nhà khoa học rằng có thể có sai số trong xét nghiệm DNA, đồng thời có những quy định nghiêm ngặt liên quan đến quy trình này.

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn từ ĐH New South Wales, Australia, xét nghiệm huyết thống vẫn có thể sai lầm, dao động trong khoảng 1% đến 30%. Sai lầm có thể là vô ý nhưng cũng có thể cố ý.

Bên cạnh đó, do tầm quan trọng của việc xét nghiệm huyết thống, không phải labo nào cũng được phép làm. Với những labo được cấp phép, việc xét nghiệm DNA chỉ được thực hiện với sự đồng thuận của ‘khách hàng’.

“Lấy mẫu máu của người ta đi làm xét nghiệm mà người ta không biết là một vi phạm về nhân quyền và vi phạm đạo đức khoa học”, theo GS Tuấn.

Sai lầm cố ý phổ biến trong xét nghiệm DNA là khi có sự can thiệp nhằm thay đổi kết quả xét nghiệm theo ý đồ của ai đó.

“Đó cũng chính là lí do tại sao người ta không đặt niềm tin vào những xét nghiệm do cảnh sát làm,” GS Tuấn viết trong một bài phân tích đăng trên Facebook cá nhân.

Sai lầm cũng có thể xảy ra do vô ý, như lấy mẫu xét nghiệm sai chỗ, không bảo quản mẫu xét nghiệm đúng tiêu chuẩn (đúng nhiệt độ và vô trùng) trước khi làm xét nghiệm, không xử lý mẫu xét nghiệm tốt khiến mẫu bị nhiễm, dẫn đến kết quả sai, vẫn theo GS Tuấn.

Trong vụ việc Tịnh Thất Bồng Lai, dư luận đặt câu hỏi giới chức đã lấy mẫu xét nghiệm như thế nào, vào bao giờ, có được sự đồng ý của gia đình hay không? Tại sao báo chí lại được phép thông tin về kết quả này khi đang trong giai đoạn điều tra, và ngay sau đó lại đưa tin cơ quan chức năng truy tố ông Lê Tùng Vân một tội khác không liên quan?

“Cần sự có mặt của luật sư từ giai đoạn điều tra, bao gồm cả việc thu thập mẫu DNA và giám định DNA để bảo đảm tính khách quan của vụ án,” luật sư Đặng Đình Mạnh – người đang nộp hồ sơ đăng ký bào chữa cho ông Lê Tùng Vân, nói với BBC News Tiếng Việt từ Sài Gòn.

Luật sư Mạnh ủng hộ việc giám định DNA tại các cơ sở giám định tư pháp độc lập. Tuy nhiên ông ‘lấy làm tiếc’ vì Việt Nam chưa có các cơ sở giám định DNA độc lập nào. Hầu hết các cơ sở xét nghiệm DNA có tư cách giám định tư pháp đều thuộc nhà nước.

Trao đổi với BBC từ Hà Nội, luật sư Ngô Anh Tuấn cho rằng chỉ có cách là mời nước ngoài để giám định DNA độc lập.

“Nhưng điều đó thì gần như không thể và chưa có tiền lệ trong lịch sử tố tụng Việt Nam,” luật sư Tuấn nói với BBC.

Báo chí VN vi phạm quyền riêng tư?

Một số thành viên của Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ

Các báo chính thống của Việt Nam và nhiều diễn đàn, tải khoản Facebook của người Việt mới đây cũng đăng tải hình ảnh, tên tuổi của các thành viên Thiền Am, trong đó có các trẻ nhỏ.

Luật sư Đặng Đình Mạnh nói với BBC rằng “việc chia sẻ các thông tin này là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của những người liên quan, đặc biệt là trẻ nhỏ”.

Luật sư Ngô Anh Tuấn cũng cho rằng “mọi sự đưa tin không đúng sự thật về người khác của bất kỳ ai đều là sự vi phạm pháp luật Việt Nam”.

“Nó vi phạm quyền tự do cá nhân, quyền bí mật cá nhân bất khả xâm phạm của mọi cá nhân được Hiến pháp bảo vệ. Luật pháp đã có quy định rõ ràng nhưng việc có quá ít cá nhân, tổ chức bị xử lý trách nhiệm nên việc sai phạm cứ ngang nhiên diễn ra lâu nay và vẫn sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới,” luật sư Tuấn nói.

Hôm 12/1, Cục Trẻ em đề nghị Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, kiểm tra, xử lý các tài khoản, fanpage chia sẻ hình ảnh trẻ em trong vụ “tịnh thất Bồng Lai” ‘chưa đươc kiểm chứng’, có thể gây tổn hại đến trẻ, theo VNExpress.

‘Tránh oan sai và chia rẽ’

Theo luật sư Ngô Anh Tuấn, vì tính chất nghiêm trọng của vụ việc nên cần cẩn trọng trong việc điều tra, xử lý để không làm tổn hại thêm, khoét sâu thêm mâu thuẫn và sự chia rẽ trong xã hội giữa những người đứng về hai phía: bảo vệ và bài trừ.

LS Đặng Đình Mạnh cho rằng việc sớm tiếp nhận và hoàn tất thủ tục luật sư đăng ký bào chữa (nếu có) sẽ là bước tích cực bảo đảm sự khách quan, vô tư của cơ quan điều tra và quyền hợp pháp của những người bị khởi tố.

“Ngay sau khi nhận quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thì ông Lê Tùng Vân và các thành viên ở Tịnh Thất Bồng Lai nên nhờ luật sư giúp bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình ngay từ giai đoạn bắt đầu chính thức điều tra vụ án. Đó là một trong những cách để họ tự bảo vệ mình. Đối với những người bị tạm giam, thân nhân của họ có thể thay mặt họ nhờ luật sư.”

Luật sư Mạnh cho hay hom 07/01/2022, ông đã đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để nộp hồ sơ đăng ký bào chữa cho ông Lê Tùng Vân.

“Tuy nhiên, sau khi xin ý kiến lãnh đạo thì trực ban đã không nhận hồ sơ của tôi với nhiều lý do không đúng quy định luật pháp,” luật sư Mạnh thuật lại.

Luật sư Mạnh sẽ trở lại đây để tiếp tục thực hiện việc nộp hồ sơ đăng ký bào chữa. Riêng đối với ông Lê Tùng Vân, dù được tại ngoại điều tra, nhưng lực lượng chức năng vẫn đang phong tỏa cơ sở Tịnh Thất Bồng Lai và đã ngăn cản luật sư vào tiếp xúc với ông, theo lời luật sư Mạnh.

Vụ việc Tịnh Thất Bồng Lai diễn ra như thế nào?

Hôm 7/1, công an tỉnh Long An ra quyết định khởi tố ông Lê Tùng Vân (SN 1932); Lê Thanh Hoàn Nguyên (SN 1990); Lê Thanh Nhất Nguyên (SN 1991) và Lê Thanh Trùng Dương (SN 1995). của Tịnh Thất Bồng Lai về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân”.

Chỉ trước đó vài ngày, báo Việt Nam đăng tải thông tin khả năng ông Lê Tùng Vân sẽ bị khởi tố tội ‘loạn luân’, ‘lừa đảo’ và ‘Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân”.

Thông tin trên truyền thông Việt Nam cũng cho hay trước đó, cơ quan của tỉnh Long An nhận được nhiều đơn tố cáo Tịnh Thất Bồng Lai “có dấu hiệu lợi dụng hình thức tu tại gia, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, cơ nhỡ để kêu gọi góp vốn từ thiện và lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của tổ chức, cá nhân; có dấu hiệu loạn luân… nên gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại phương”.

Trước khi bị khởi tố, cơ sở Tịnh Thất Bồng Lai nhận là nơi tu tại gia, nuôi dưỡng 9 trẻ mồ côi. Các trẻ này, cùng một số thành viên khác của Tịnh Thất từng tham gia một số games show ca hát trên truyền hình và nhận được một số giải thưởng.

Hiện ba bị cáo đã bị tạm giam, ông Lê Tùng Vân được tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú, trong khi Tịnh Thất bị phong tỏa.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Tịnh Thất Bồng Lai: Những câu hỏi quanh việc ‘đàn áp tôn giáo’ và tội ‘loạn luân’ (BBC)

Mỹ: Bệnh nhân được ghép tim heo lần đầu tiên trên thế giới (BBC)

Mỹ: Bệnh nhân được ghép tim heo lần đầu tiên trên thế giới (BBC)

11 tháng 1 2022

Bác sĩ Bartley P. Griffith và bệnh nhân David Bennett vào thời điểm đầu tháng 1/2022

Một người đàn ông ở Mỹ đã trở thành người đầu tiên trên thế giới được ghép tim từ loài heo biến đổi gen.

David Bennett, 57 tuổi đang hồi phục tốt ba ngày sau cuộc phẫu thuật ghép tim heo ở Baltimore, các bác sĩ cho biết.

Ca ghép tim được xem là hy vọng cuối cùng để cứu sống ông Bennett mặc dù chưa rõ là cơ hội sống lâu dài của ông là bao nhiêu.

“Chết hoặc là thực hiện ca ghép này,” ông Bennett giải thích một ngày trước ca phẫu thuật.

“Tôi biết là hy vọng mong manh nhưng đây là sự lựa chọn cuối cùng của tôi,” ông cho biết.

Các bác sĩ tại Trung tâm Y tế học thuật Đại học Maryland được giới chức y khoa Mỹ trao một quyền miễn trừ đặc biệt để tiến hành ca cấy ghép, dựa trên căn cứ là ông Bennett sẽ chết nếu không được phẫu thuật.

Theo đánh giá, bệnh nhân không thể được cấy ghép nội tạng người, một quyết định thường được bác sĩ đưa ra khi sức khỏe bệnh nhân rất kém.

Đối với đội ngũ y tế tham gia ca cấy ghép, điều này đã đánh dấu một cột mốc sau hàng năm nghiên cứu và có thể thay đổi cuộc sống của nhiều người trên khắp thế giới.

Bác sĩ phẫu thuật Bartley Griffith nói rằng ca cấy ghép sẽ mang thế giới “tiến gần hơn một bước để giải quyết cuộc khủng hoảng thiếu hụt nguồn nội tạng”, theo tuyên bố từ Trung tâm Y tế học thuật Đại học Maryland. Cuộc khủng hoảng có nghĩa là 17 người tại Mỹ chết mỗi ngày trong khi chờ được cấy ghép, và hơn 100.000 người còn nằm trong danh sách chờ.

Các nhà khoa học đã từ lâu cân nhắc khả năng sử dụng nội tạng động vật để cấy ghép cho người (xenotransplantation) nhằm đáp ứng nhu cầu, và việc sử dụng van tim heo hiện đã phổ biến.

Vào tháng 10/2021, các bác sĩ phẫu thuật tại New York cho biết đã ghép thành công một quả thận heo cho người. Vào thời điểm đó, đây là một ca cấy ghép thử nghiệm tiên tiến nhất.

Tuy nhiên vụ cấy ghép được tiến hành trên một bệnh nhân bị chết não không có hy vọng phục hồi.

Ca phẫu thuật được tiến hành ở Baltimore, Maryland và kéo dài trong 7 giờ

Ông Bennett đang hy vọng ca cấy ghép sẽ giúp ông tiếp tục được sống. Ông đã nằm trên giường bệnh trong 6 tuần trước ca phẫu thuật, gắn chặt với một chiếc máy giúp duy trì sự sống sau khi bị chẩn đoán mắc một bệnh tim chết người.

“Tôi mong chờ được phục hồi và bước ra khỏi giường bệnh”, ông nói vào tuần rồi.

Vào ngày 10/1, ông Bennett đã tự thở được trong khi vẫn được theo dõi chặt chẽ.

Thế nhưng chính xác điều gì sẽ diễn ra vẫn chưa rõ ràng. Quả tim sử dụng trong ca cấy ghép là từ heo biến đổi gen, nhằm loại bỏ một số gen có thể gây nên hiện tượng đào thải nội tạng từ cơ thể, theo hãng tin AFP.

Bác sĩ Griffith nói đội ngũ đang tiến hành thận trọng và theo dõi chặt chẽ tình hình của ông Bennett trong khi David Bennett Jr, con trai của bệnh nhân nói với Associated Press rằng gia đình “vẫn không chắc chắn được điều gì vào thời điểm này”.

“Chúng tôi chưa bao giờ tiến hành điều này trên người và tôi nghĩ chúng tôi đã trao cho bệnh nhân một sự lựa chọn tốt hơn là phương pháp điều trị hiện tại,” bác sĩ Griffith nói. Nhưng liệu [ông ấy sẽ sống] thêm được một ngày, tuần, tháng hay năm thì tôi chưa biết được.”

Đột phát khoa học ở Mỹ: Lần đầu tiên ghép thành công thận heo cho người

Đăng tải tại SỨC KHOẺ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mỹ: Bệnh nhân được ghép tim heo lần đầu tiên trên thế giới (BBC)

VỀ CA KHÚC “GÁI XUÂN”

VỀ CA KHÚC “GÁI XUÂN”

Có thể nói nhạc xuân là một phần quan trọng của việc đón xuân. Nhất là đối với những kẻ tha hương. Ngày xưa, Tết đi đôi với mai vàng, pháo nổ, bánh chưng, hạt dưa, đánh bài, xông đất, hái lộc. Từ khi có cassette, rồi băng nhạc, rồi video, rồi CD, rồi DVD, thì nhạc – và nhạc xuân – đã đi vào từng ngõ ngách của đời sống.

Nghe nhạc xuân không giống như nghe nhạc tình hay nhạc êm dịu. Nhạc xuân không để nghe một mình. Nhạc xuân không để ru dỗ giấc ngủ. Nhạc xuân là cái gì chung, phải mở lớn ra cho mọi người cùng nghe. Đã thế, không phải là ngồi yên lặng mà phải vừa nghe vừa làm một cái gì đó. Chẳng hạn như nhậu, đánh bài, nấu nướng, cúng quẫy, trò chuyện râm ran về xuân hoặc dọn dẹp nhà cửa. Nhạc xuân có tính chất “hâm nóng” thêm không khí Tết. Nó lan tỏa mọi nơi, chan hòa.

Tuy nhiên, nhạc xuân từ sau năm 1975 rất nhiều ca khúc của các nhạc sĩ viết về xuân. Nhưng lại rất ít bài khi nghe mà lòng mình thấy nôn nao xuân về, mặc dù trong ca từ nhắc đến từ xuân rất nhiều, nhưng vẫn không thấy xuân… Đó là điều đáng buồn…

Và ngược lại hầu hết những ca khúc xuân đi vào lòng người yêu nhạc lại nằm ở thời điểm sáng tác trước năm 1975 rất bất hủ, mỗi khi nghe, lòng người thấy rộn ràng, tươi trẻ…mọi điều phiền muộn đều được cởi bỏ ra khỏi tâm hồn mình và có cảm giác như mùa xuân đang đến bên lưng….

Về ca khúc Gái Xuân

“Em như cô gái hãy còn xuân. Trong trắng thân chưa lấm bụi trần…”.

“Gái xuân” nay đã 69 tuổi. Nhưng sức hút của ca khúc này như cô gái tuổi “teen”, vẫn trẻ mãi không già, cho dù người thi sĩ sinh ra “cô” đã hóa thành người thiên cổ từ lâu, và người nhạc sĩ nuôi nấng/tô điểm cho “nàng” giờ đây đã bước sang tuổi 90. Có thể nói, trong danh mục bài hát Việt, nói về mùa xuân, ngày càng dài thêm, thì “Gái Xuân” vẫn là một trong những nhạc phẩm đặc sắc nhất.

Hát thì cứ hát, nghe thì cứ nghe, nhưng có mấy người biết “Gái Xuân” đã ra đời như thế nào? Phần lớn, người ta chỉ biết “Gái xuân” là một trong những bài thơ hay của thi sĩ Nguyễn Bính, được phổ nhạc một cách xuất thần. Nhưng ít ai biết, người đã thổi âm điệu cho hồn thơ đó bay cao chính là Từ Vũ.

Tên khai sinh của Từ Vũ là Trần Đỗ Lộc. Ông sinh năm 1932 tại Thường Tín, Hà Đông (nay là Hà Tây, Hà Nội). Năm 1950, ông theo gia đình vào Nam sinh sống.

Mùa xuân năm 1953, chàng trai Từ Vũ tròn 21 tuổi, sống kiếp tha phương giữa đất Sài Gòn hoa lệ, không có gia đình, người thân, bạn bè bên cạnh. Ông nằm trên gác trọ tìm quên nỗi buồn bằng sách báo cho vơi nỗi nhớ nhà. Bất chợt ông tìm thấy trong đống sách báo lộn xộn đó tập thơ “Mây Tần” của thi sĩ Nguyễn Bính. Khi đọc đến bài “Gái xuân”, một bài thơ rất ngắn, chỉ vỏn vẹn 2 khổ, 8 câu, ông đã rung động tận đáy lòng. Nhạc sĩ Từ Vũ nói: “Tôi không thể nén được cảm xúc khi đọc câu “Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”.

Đích thị đây phải là một cô gái Hà Đông, quê tôi. Bởi lẽ, không chỉ lụa Hà Đông đã nổi tiếng từ ngàn xưa trên đất Bắc, mà gái Hà Đông cũng nổi tiếng đẹp đẽ, ngoan hiền, dịu dàng như lụa. Chẳng kém cạnh gì những cô gái quan họ Bắc Ninh. Rồi thì “…Đôi tám xuân đi trên mái tóc/ Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”. Thi sĩ Nguyễn Bính đã diễn tả tâm trạng cô gái quá tài tình. Tôi đọc đi, đọc lại bài thơ dăm ba lần là “ngấm” ngay vào máu, vào tim. Trong giây phút xuất thần, tôi viết ngay một mạch, không chỉnh sửa gì cả. Thế là thành nhạc phẩm “Gái xuân”. Ông quả quyết: “Mọi lãnh vực sáng tác, kể cả âm nhạc đều tùy vào “thần hứng”. Không phải lúc nào cái giây phút thăng hoa, khiến tâm hồn mình bay bổng cũng đến. Một đời, đôi khi “thần hứng” chỉ đến một đôi lần, nếu không kịp ghi lại cảm xúc tuyệt vời đó là coi như chẳng có được gì”.

Nhạc sĩ tiết lộ: “Có một điều, nguyên tác ‘Gái xuân’ của Nguyễn Bính ngắn quá”:

Khi phổ nhạc, chẳng lẽ cứ lặp đi, lặp lại bấy nhiêu lời. Thành thử Ông mạn phép tác giả, thêm 2 câu trong khổ thơ này:

Xuân đi. Xuân đến hãy còn xuân,

Cô gái trông xuân đến bao lần.

Sau khi hoàn thành “Gái xuân” cho đến khi bài hát được thịnh hành rồi đi vào lòng công chúng, mãi mãi tôi không một lần được gặp Nguyễn Bính để nói với ông một vài lời. Lòng tôi áy náy lắm! Không biết thi sĩ có gì trách móc hay không?

Không ai có thể nói thay Nguyễn Bính, 2 câu mà ông thêm vào nghe cũng rất … Nguyễn Bính, và cũng chẳng kém phần tài hoa, đã nhập với toàn bộ bài thơ một cách hài hòa. Do đó, chắc Nguyễn Bính cũng vui lòng, bởi sự thêm thắt không làm mất đi giá trị của nguyên bản.

Từ Vũ có đến 20 ca khúc, và một số bài hát ngoại quốc do ông đặt lời Việt. Tuy nhiên, nhắc đến ông, người ta chỉ nghĩ đến “Gái xuân”. Ca khúc này đã đưa ông lên hàng “chiếu trên” của làng âm nhạc VN.

“Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”

Chúng ta chắc đều thắc mắc không biết Sông Vân ở đâu? – Trả lời khi được phỏng vấn Nhạc sĩ cho đó là một dòng sông rộng lớn và rất đẹp chảy qua làng Vân Tử, phủ Thường Tín, Hà Đông, nơi các cô gái thường đến giũ lụa (Hà Đông). Nhưng theo thời gian vật đổi sao dời, hiện nay chỉ còn là một làn nước chảy.

Vân cũng là tên người con gái ông yêu (Thanh Vân), mặc dù chỉ trong một niên học, mà ông muốn viết bài hát này để tặng cô ấy, nhưng sau đó cô ta đã xuất ngoại.

Một ca khúc được nhiều ca sĩ thuộc nhiều thế hệ nối tiếp hát, mỗi người một chất giọng, một phong cách khác nhau, nhưng hầu hết họ đều thể hiện thành công. Đó chính là điểm đặc sắc của Từ Vũ. Nói như giọng hát vượt thời gian Thái Thanh: “Bởi vì tự thân “Gái Xuân” quá hay, khó mà hát dở cho được”. Khởi thủy, Từ Vũ viết “Gái Xuân” bằng điệu Tango dồn dập, lôi cuốn một cách sang trọng. Nhưng về sau, nhiều ca sĩ lại chuyển sang điệu Rumba, rồi Chachacha, với tiết tấu trẻ trung, phần phối âm, phối khí hiện đại, đã khoác cho ca khúc này một chiếc áo mới. Từ Vũ nhận xét: “Sự chuyển thể này tôi nghe cũng thấy hay, rộn ràng và tươi trẻ hơn. Vấn đề là vẫn giữ được cái hồn và tình cảm của ca khúc”.

Điều đặc biệt “Gái xuân” là nhạc phẩm mang âm hưởng miền Bắc đã trở thành món ăn tinh thần được yêu quý ở miền Nam. Từ ca sĩ đến người dân miền Nam chưa một lần đặt chân đến đất Bắc nhưng vẫn hào hứng hát: “Xuân đến hoa mơ hoa mận nở/ Gái xuân rũ lụa bên sông Vân”. Chính ca khúc này đưa nhạc sĩ Từ Vũ ngang hàng với các nhạc sĩ nổi tiếng ở thế hệ trước. gần 70 năm sau, ca khúc “Gái Xuân” vẫn sống khỏe qua các thế hệ ca sĩ và trở thành một nhạc phẩm thân thuộc không thể thiếu trong dịp tết đến xuân về từ Nam ra Bắc.

Theo lời kể của nhạc sĩ Từ Vũ khi ra mắt “Gái Xuân”, ông đã nhờ nữ ca sĩ Linh Sơn hát đầu tiên, nhưng ông không lấy làm hài lòng cho lắm. Một hôm, tình cờ gặp nữ ca sĩ Tâm Vấn, bà trách ông sao không tặng bà bài “Gái Xuân”? Ông đã viết vội ca khúc này lên một mảnh giấy và trao cho Tâm Vấn. Sau đó, Từ Vũ theo gia đình ra Phan Thiết và chưa được nghe Tâm Vấn hát một lần nào cả. Nhưng theo lời bạn bè kể cho ông thì Đài Phát thanh Sài Gòn đã thường xuyên phát đi, phát lại ca khúc “Gái xuân” với tiếng hát Tâm Vấn, rất được công chúng ưa thích.

Một buổi tối cuối năm 1953. Từ Vũ rảo bước lang thang trên dường phố Phan Thiết, bỗng dưng từ loa phóng thanh công cộng của Ty Thông tin Phan Thiết, tiếp sóng Đài Phát thanh Huế vang lên điệu nhạc Tango của bài “Gái Xuân” qua tiếng hát của nữ ca sĩ Diệu Hương. Từ Vũ đã xúc động đến trào nước mắt. Đó là lần đầu tiên Từ Vũ gặp lại đứa con tinh thần của mình kể từ khi ông cho nó ra đời. Dù ông không biết Diệu Hương là ai, và đó là lần đầu ông mới nghe tên, thế mà cứ thẫn thờ, tiếc nuối! Biết bao giờ mới được nghe lại thêm lần nữa. Tối hôm đó, Từ Vũ không chợp mắt được. Ông nằm thương nhớ “Gái Xuân” vang vọng mãi trong hồn giọng hát từ xứ Huế xa xôi.

Sau Linh Sơn, Tâm Vấn, Diệu Hương, đến lượt Thái Thanh, Sĩ Phú, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Lan, Hoàng Oanh, Lan Ngọc, Hương Lan, Băng Tâm, Ý Lan, Ánh Tuyết… và nhiều ca sĩ danh tiếng của thế hệ kế tiếp như: Trang Nhung, Quang Linh, Cẩm Ly, Hiền Thục, Hồng Ngọc, ban tam ca Áo Trắng, ban tam ca 3A…cũng hát “Gái Xuân”. Nhất là vào dịp tết, cùng với “Ly Rượu mừng”, “Xuân và Tuổi trẻ”, “Gái Xuân” là 3 ca khúc kinh điển, luôn vang lên trong từng mái ấm gia đình VN ở trong nước cũng như nhiều nơi trên khắp thế giới. Khi nghe ban tam ca Áo Trắng tập bài “Gái Xuân”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “Hồi mới lớn, ‘moa’ đã rất thích bài này. Có thể nói, tết mà thiếu ‘Ly Rượu mừng’, ‘Xuân và tuổi trẻ’, ‘Gái xuân’ là đã mất đi một nửa mùa xuân”.

– Đầu xuân 20022, mời các bạn nghe NGÂM THƠ Gái Xuân:

https://www.youtube.com/watch?v=D1QzJEo4tM4

Và xuân Nhâm Dần – tết con cọp, mời thưởng thức Gái Xuân (Ý Lan):

https://www.youtube.com/watch?v=W_jtxllV7v0

VĂN KÝ tổng hợp

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở VỀ CA KHÚC “GÁI XUÂN”

Tình cờ gặp thượng đế

Tình cờ gặp thượng đế

Đối với cuộc đời mỗi người, quan trọng nhất là: biết yêu thương, trân trọng và thứ tha cho những người chung quanh lẫn cả bản thân mình.

Một hôm, Thượng đế ghé xuống thăm trần gian, thì gặp một nhà hiền triết đang nghiên cứu vấn đề đời người. Thượng đế đi đến trước mặt nhà hiền triết dưới hình dạng một ông lão và nói:

– Ông cũng không hiểu nổi sự đời, vậy chúng ta cùng nhau tìm hiểu được không? Chúng ta chỉ bàn luận về sự đời, xong rồi tôi sẽ đi, không cần nói những vấn đề khác.

Nhà hiền triết dù không biết cụ già đang đứng trước mình là ai, nhưng vẫn chấp nhận trò chuyện cùng ông lão lạ mặt. Nhà hiền triết nói:

– Tôi đang suy ngẫm về con người, cụ à. Càng tìm hiểu, tôi càng cảm thấy con người là một động vật đặc biệt. Đôi lúc rất thông minh, nhưng đôi lúc lại vô cùng ngu dốt, lại thường đánh mất lý trí khi gặp vấn đề lớn.

Thượng đế cảm khái:

– Điểm này tôi đồng ý, họ ghét thời gian tốt đẹp lúc nhỏ, vội vàng trưởng thành, nhưng trưởng thành rồi lại muốn cải lão hoàn đồng. Lúc khỏe mạnh thì họ không biết trân trọng sức khỏe, luôn muốn dùng sức khỏe đổi lấy tiền tài, sau đó lại lấy tiền tài mua sức khỏe. Họ luôn lo lắng về tương lai, nhưng lại thờ ơ với hiện tại, kết quả là không thể sống ở cả hiện tại lẫn tương lai. Họ sống theo cách tưởng chừng không bao giờ chết, nhưng lúc chết đi thì giống như chưa từng sống, còn có người nói đời người như một giấc mộng…

Nhà hiền triết nhận thấy lý luận của người đang đối thoại với mình rất sâu sắc, liền nói:

– Nghiên cứu vấn đề cuộc đời con người phải chăng sẽ rất phí thời gian? Cụ nghĩ thế nào?

– Với riêng tôi, thời gian là vĩnh hằng. Tôi nghĩ nếu con người thật sự hiểu được giá trị của thời gian, cũng sẽ hiểu rõ sự đời…

Nhà hiền triết im lặng lắng nghe. Sau đó ông yêu cầu cụ già rút ra kết luận về đời người. Thượng đế móc từ trong túi áo ra một cuốn sách dày, bên trên có viết mấy dòng chữ:

“Làm người hãy nhớ rằng không thể làm vừa lòng tất cả mọi người. Quan trọng nhất không phải có được gì, mà là sống như thế nào và có được bạn bè thế nào.

Sự giàu có không phải là chiếm hữu nhiều thứ mà là khi có ít lòng tham.

Làm tổn thương một người chỉ cần vài giây, nhưng muốn chữa lành vết thương phải mất rất nhiều thời gian. Có người yêu bạn thật lòng nhưng lại không biết bày tỏ thế nào.

Yêu thích một đóa hồng không nhất thiết phải cắt hết gai của nó. Nếu không muốn bản thân bị tổn thương thì cũng đừng nên làm tổn thương người mình yêu thương.

Thứ quý báu nhất mà tiền không thể mua được chính là hạnh phúc.

Tha thứ cho người khác hay được người khác tha thứ vẫn chưa đủ, ta còn phải biết tha thứ cho bản thân.

Và quan trọng nhất: Đôi khi cần biết bỏ qua, bỏ qua được thì sẽ đổi thay được”.

Nhà hiền triết xem xong, cảm động nói:

– Chỉ có Thượng đế mới có thể…

Ông ngẩng đầu lên thì cụ già đã biến mất rồi.

(Theo hatgiongtamhon)

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Tình cờ gặp thượng đế