CHIẾC VALI HÀNH LÝ CUỐI ĐỜI

May be an image of text that says '"Hãy chăm sóc tốt thể xác nếu bạn muốn sống lâu, hãy chăm Soc tốt linh hồn, vì cô the bạn se chết vào ngày mai. -Thánh Augustino-'

CHIẾC VALI HÀNH LÝ CUỐI ĐỜI

Một người kia biết mình sắp từ giã cõi thế, ông mơ thấy Chúa đến gần, trong tay Ngài cầm một chiếc vali.

Chúa bảo: “Nầy con, đã đến lúc đi theo Ta rồi”. Ngạc nhiên, người ấy trả lời: “Bây giờ sao ? Mau quá vậy ? Con có bao nhiêu là dự định…” – “Rất tiếc nhưng đã đến giờ đi rồi”.

Người ấy hỏi: “Ngài có gì trong chiếc vali kia vậy ?” Chúa trả lời: “Tất cả những gì thuộc về con”. “Ồ, những gì thuộc về con sao ? Ý Ngài muốn nói những đồ đạc, áo xống, tiền bạc của con ư ?” Thượng Đế trả lời: “Những cái đó đã không phải của con; chúng thuộc về trần gian”.

Người ấy lại hỏi: “Có phải nó là ký ức của con không ?” Chúa trả lời: “Ký ức đã không bao giờ thuộc về con; chúng thuộc vào thời gian”.

“Vậy có phải là những tài năng của con ?”… “Tài năng đã không bao giờ là của con; chúng tuỳ thuộc vào những tình huống con gặp trong đời con phải giải quyết”.

“Phải chăng là bạn bè và gia đình của con ?”… “Rất tiếc, họ đã không bao giờ là của con, họ thuộc về con đường mà con đã đi qua”.

“Hay đó là thân xác con ?”… “Thân xác đã không bao giờ là của con, nó thuộc về cát bụi”.

“Vậy đó là linh hồn của con chăng ?”… “Không đâu, linh hồn của con thuộc về Ta là Đấng đã tạo dựng nên con”.

Đầy hoang mang sợ hãi, người ấy nhận chiếc vali từ tay Chúa và mở nó ra, ông chỉ thấy nó trống trơn.

Một giọt nước mắt lăn dài trên má, người ấy thốt lên: “Trời ơi, vậy là cuối cùng con đã chẳng có gì cả sao ?”…

Chúa trả lời: “Không đâu, con đã có được nhiều lắm chứ, nhưng nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, nó chính là tấm lòng vị tha của con. Mỗi khi con nói một lời tử tế, mỗi khi con làm một điều dễ thương, mỗi khi con nghẹn ngào trước một mảnh đời khốn khổ, Ta đều cất giữ tất cả vào làm hành lý cho con mang theo về cùng Ta…”

Sưu tầm

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở CHIẾC VALI HÀNH LÝ CUỐI ĐỜI

Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam?

Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam?

24/04/2020

By VÕ VĂN QUẢN

Các liên danh tranh cử ở miền Nam ra mắt cử tri năm 1967. Ảnh: Chân Trời Mới/Chưa rõ nguồn.

Các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý sau thời kỳ Ngô Đình Diệm nắm quyền không thoát khỏi cái nhìn cú diều của nhiều nhà sử học Việt Nam lẫn một số nhà báo phương Tây cánh tả vốn đã có sẵn định kiến với nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Song thiện cảm của giới sử gia và các nghiên cứu khoa học chính trị về tính minh bạch và dân chủ của bầu cử tại miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Đệ Nhị và Đệ Tam Cộng hòa đều tăng.

Như cuộc tổng tuyển cử ngày 3/9/1967 của Việt Nam Cộng hòa, New York Times – một trong những tờ báo cánh tả chống chiến tranh Việt Nam mạnh mẽ nhất cũng đã phải so sánh rằng, so với kiểu bầu cử một đảng “làm cho có” (pro forma affairs) ở Bắc Việt, và những cuộc bầu cử 97, 98% của Diệm, giai đoạn mới của Việt Nam Cộng hòa và nền dân chủ của nó có vẻ đáng được đánh giá cao hơn rất nhiều.

Điều mà rất nhiều người quên là, chính trị miền Nam Việt Nam rối ren hơn hẳn miền Bắc do đặc tính của một vùng đất mới với nền chính trị vẫn còn phải qua một thời gian dài thử sai; giống như sự khác biệt giữa miền Viễn Tây hoang dã và vùng phía Đông công nghiệp hóa của Hoa Kỳ vậy. Bản thân chính quyền miền Nam Việt Nam lại phải đối mặt với sự giám sát không chỉ của báo chí tự do ở đây, mà còn là báo chí Mỹ, người dân Mỹ và các nhà phản chiến người Mỹ; điều mà chính quyền Bắc Việt không hề biết và không cần phải biết. Không chỉ vậy, họ cũng không sở hữu được những công cụ đàn áp tuyệt đối mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có.

Với một lịch sử lộn xộn của đảo chính quân sự, tướng tá lạm quyền, các cuộc nổi dậy ở địa phương và các cuộc chiến giữa những phe phái tôn giáo, cuộc tổng tuyển cử năm 1967 phải nói là một thành công lớn, khi được tiến hành đúng trình tự, mang lại tính chính danh cho chính quyền mới, tôn trọng đa nguyên (ở một mức độ nhất định) cũng như ổn định nội tại xã hội.

Hình ảnh vận động tranh cử nơi công cộng (từ trái qua phải):
Hàng trên: Ứng cử viên Tổng Thống Phan Khắc Sửu – Ứng cử viên Tổng Thống Phan Quang Đán.
Hàng dưới: Ứng cử viên Tổng Thống Trần Văn Hương – Ứng cử viên Tổng Thống Trương Đình Dzu.
Ảnh: Chân Trời Mới/Chưa rõ nguồn.

Không chỉ đề xuất về việc xây dựng một bản Hiến pháp mới với một cơ chế lưỡng viện quyền lực hơn, có khả năng đối trọng với vai trò của tổng thống nhiều hơn; cuộc bầu cử còn giới thiệu những yếu tố dân chủ đáng quý ngay trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam đang leo thang: từ các cuộc tranh luận toàn quốc giữa các ứng cử viên, cho đến việc các ứng cử viên được cấp thời lượng phát sóng trên truyền hình khiến cho cuộc đua vào các chức danh dân cử trở nên công bằng và sòng phẳng hơn bao giờ hết.

Các ứng viên thoải mái phê phán chính phủ quân quản ở nhiều phương diện, trong khi bản thân họ cũng đại diện cho các nhóm chính trị đa dạng tại miền Nam Việt Nam: từ các chính trị gia cấp tiến chủ hòa ở đồng bằng sông Cửu Long cho đến những nhóm quân nhân Công giáo tị nạn với lời kêu gọi đưa quân “giải phóng” miền Bắc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại của cả hai miền, không khí thảo luận chính trị lại đa nguyên, đa dạng và được tôn trọng như vậy.

Báo cáo mật của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cho chính phủ Hoa Kỳ ngay sau cuộc tổng tuyển cử, vốn có rất ít lý do để nói dối về tình hình tại miền Nam Việt Nam, cũng phải thừa nhận rằng cuộc bầu cử diễn ra rất công bằng và đúng tiêu chuẩn. Trong số 11 ứng cử viên cho chức danh tổng thống, chỉ có một người đại diện quân lực Việt Nam Cộng hòa, và 10 người còn lại có nền tảng, thân thế chính trị đa dạng. Họ cũng được tạo điều kiện tiếp cận với công chúng một cách sòng phẳng. CIA ghi nhận chỉ có khoản 11 khiếu nại đơn lẻ về cuộc bầu cử, và hầu hết đều không đủ cơ sở để chứng minh quá trình bầu cử bị thao túng hay chỉnh sửa kết quả.

Đặc biệt thú vị hơn, luật sư Trương Đình Dzũ, dựa vào các kênh tiếp cận công chúng bình đẳng, nhanh chóng đạt được tỉ lệ ủng hộ đáng nể nhờ vào tài ăn nói và xu thế hòa bình của mình. Ông kết thúc cuộc bầu cử ở vị trí thứ hai – 17% – đánh bật mọi kỳ vọng trước đó của giới quân đội VNCH. Và một tương lai dân sự, công bằng, dân chủ của chính quyền miền Nam Việt Nam mở rộng hơn bao giờ hết.

Nhưng rồi năm 1968 với trận Tết Mậu Thân đến. Với những sai lầm chiến thuật của cả quân đội Hoa Kỳ lẫn quân lực Việt Nam Cộng hòa, dù bên nhận phải tổn thất kinh hoàng nhất là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Việt Cộng) và quân đội Bắc Việt, chiến dịch đã khiến cho các kỳ vọng dân sự hóa miền Nam Việt Nam đổ sông đổ bể, và phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ lại bị đẩy lên cao hơn bao giờ hết.

Có nhiều lý do để cho rằng đây là chủ đích của phe Bắc Việt, và đây cũng không phải là lần duy nhất họ cố gắng phá hoại các nỗ lực dân sự hóa của chính quyền miền Nam Việt Nam (như vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông chẳng hạn). Chiến tranh Việt Nam càng đẫm máu, miền Nam Việt Nam càng rối loạn, có vẻ càng có lợi cho công cuộc “thống nhất đất nước” mà các nhà Marxist chủ nghĩa ở Hà Nội vẽ ra.

Bầu cử ở miền Nam Việt Nam, đáng trân trọng, cũng vì lẽ ấy.

Một số hình ảnh về cuộc bầu cử năm 1967 của tạp chí LIFE.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam?

Sau đảo chính, kinh tế Myanmar sụp đổ

Sau đảo chính, kinh tế Myanmar sụp đổ

On Apr 10, 2021

Hiếu Chân

Hơn hai tháng sau ngày quân đội Myanmar làm cuộc đảo chính lật đổ chính quyền dân sự và tiến hành cuộc đàn áp tàn bạo những đám đông biểu tình phản đối đảo chính, nền kinh tế nước này đang dần dần sụp đổ, những thành tích phát triển của một thập niên mở cửa, cải cách dân chủ đang dần dần bị xóa sạch.

Khắp nước Myanmar, các chi nhánh ngân hàng đều đóng cửa, nhân viên chính phủ và các công ty không đi làm việc, công nhân các nhà máy bỏ việc về quê, các công ty nước ngoài rút chuyên gia về nước, còn mạng viễn thông internet gần như đã bị cắt.

Từ khi quân đội làm đảo chính ngày 06-01-2021, các đường phố ở Myanmar ngày nào cũng xảy ra biểu tình phản đối, đòi tái lập nền dân chủ và đều bị quân đội đàn áp dã man. Đến hôm nay, thứ Bảy 10-04, đã có hơn 618 người biểu tình bị giết, trong đó có nhiều trẻ em bị bắn chết khi đang ở trong nhà, trong sân, theo số liệu của tổ chức Hội Hỗ trợ Tù nhân Chính trị (AAPP).

Tình hình mất an ninh ở các khu vực đô thị làm cho công việc kinh doanh trở nên hết sức rủi ro, chỉ trừ một số dịch vụ thiết yếu, phần lớn các cửa tiệm, công sở, nhà máy đều đã đóng cửa, các hoạt động sản xuất kinh doanh gần như đều ngưng trệ.

Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB) và các chuyên gia kinh tế dự đoán năm 2021 kinh tế Myanmar sẽ bị “co lại” ít nhất 10%, thành quả về xóa đói giảm nghèo bị xóa sạch, các nhà đầu tư nước ngoài cùng với du khách quốc tế – động lực phát triển kinh tế của Myanmar trong thập niên qua – sẽ sợ hãi mà tránh xa đất nước này. Trước đảo chính, World Bank đã dự đoán kinh tế Myanmar trong năm tài chính kết thúc vào tháng Chín 2021 sẽ tăng trưởng khoảng 2%, chậm hơn năm ngoái một chút do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Trước đảo chính, Myanmar đã là quốc gia nghèo nhất Đông Nam Á, với sáu triệu người dân sống trong cảnh khốn cùng có thu nhập chưa tới 3,2 USD mỗi ngày – ngưỡng nghèo đói áp dụng cho những nước thu nhập trung bình thấp như Myanmar; một phần tư số trẻ em Myanmar bị thiếu cân và thấp lùn do suy dinh dưỡng kinh niên.

Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo là do nhiều thập niên, đất nước nằm dưới sự cai trị của các tướng lãnh quân sự với những chính sách kinh tế sai lầm và thảm họa. Khi tập đoàn quân phiệt bắt đầu nhường bớt quyền cai trị cho một chính phủ dân sự, thực hiện cải cách, thì nhiều hoạt động kinh tế được “cởi trói”, dòng vốn đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đổ vào, thúc đẩy sự tăng trưởng. Theo dữ liệu của World Bank, tỷ lệ người nghèo đói trong dân số Myanmar đã giảm từ mức 42,2% năm 2010 (năm trước cải cách) xuống còn 24,8% năm 2017. Nhưng do tình hình trì trệ sau đảo chính, con số này có thể tăng trở lại mức 30% trong năm 2021, sẽ có thêm 1,8 triệu người rơi trở lại cảnh đói nghèo.

Công ty xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Solutions còn bi quan hơn khi dự báo kinh tế Myanmar sẽ giảm sút khoảng 20%, căn cứ vào các dữ kiện như sức mua của người dân giảm sút, nhà nước thất thu thuế nên sẽ giảm chi tiêu và đầu tư.

Sự đình đốn được thể hiện rõ nhất trong ngành dệt may – ngành sử dụng nhiều lao động nhất và đóng góp một phần tư doanh thu xuất cảng của Myanmar, một phần nhờ chính sách miễn thuế khi nhập cảng vào thị trường Liên minh châu Âu. Sau vụ đảo chính, các hãng thời trang quốc tế lớn như Hennes & Mauritz AB của Thụy Điển, Benetton của Ý đã ngừng đặt hàng các công ty dệt may Myanmar, buộc nhiều nhà máy may phải đóng cửa. Các vụ biểu tình và đàn áp của quân đội diễn ra ở các khu công nghiệp làm cho người lao động sở hãi, nhiều người bỏ thành phố trở về làng quê, làm cho tình trạng thiếu lao động trở nên trầm trọng ở những nhà máy còn có đơn hàng để hoạt động.

Các ngành dịch vụ như ngân hàng, viễn thông đình trệ vì mạng internet bị cắt trên diện rộng. Ngành du lịch, một thế mạnh của Myanmar nhờ di tích lịch sử và văn hóa Phật giáo phong phú, từng tăng trưởng gấp năm lần trong thập niên vừa qua, nay đang ngắc ngoải, một phần vì đại dịch Covid-19 và các biện pháp phong tỏa biên giới để phòng dịch, một phần vì tình trạng hỗn loạn trên đường phố, du khách không cảm thấy an toàn khi đi du lịch Myanmar. Hàng loạt khách sạn, nhà hàng, dịch vụ du lịch phải đóng cửa, cho nhân viên nghỉ việc, chưa biết đến bao giờ mới hoạt động trở lại được.

Tình trạng đình trệ các hoạt động kinh tế Myanmar còn do chủ ý của những lực lượng đối lập với quân đội; họ vận động người dân thực hiện một phong trào “bất tuân dân sự”, bãi công, bãi khóa, bãi thị trong nỗ lực làm cho tập đoàn quân phiệt cầm quyền không điều khiển được đất nước. Mục tiêu của họ là “từng bước, từng bước làm cho guồng máy của quân đội chao đảo và ngừng hoạt động,” một nhà giải phẫu học lãnh đạo phong trào bất tuân dân sự viết trên Facebook và cho biết những người ủng hộ phong trào, kể cả những người giàu có ở nước ngoài, đã gửi tiền đóng góp vào quỹ hỗ trợ những gia đình gặp khó khăn về đời sống khi tham gia bãi công, bãi thị.

Hôm thứ Tư, tướng Min Aung Hlaing, tổng tư lệnh quân đội và cầm đầu vụ đảo chính, được báo chí nhà nước trích lời, gọi phong trào bất tuân dân sự “đang tàn phá đất nước” nhưng ông không cho biết tập đoàn quân sự cầm quyền sẽ có biện pháp gì để ổn định các hoạt động kinh tế của đất nước.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Sau đảo chính, kinh tế Myanmar sụp đổ

Miến Điện: Lực lượng an ninh bị tố bắn lựu đạn tàn sát hơn 80 người biểu tình

RFI Tiếng Việt

Đã có ít nhất 82 người thiệt mạng trong vỏn vẹn một ngày ở Miến Điện với vụ lực lượng an ninh bị cáo buộc là đã dùng súng phóng lựu bắn vào những người biểu tình ở một thị trấn gần Rangoon hôm 09/04/2021. Đây là thông tin do Hiệp Hội Hỗ Trợ Tù Nhân Chính Trị tại Miến Điện (AAPP) và một trang tin địa phương tiết lộ.

Miến Điện: Lực lượng an ninh bị tố bắn lựu đạn tàn sát hơn 80 người biểu tình

RFI.FR

Miến Điện: Lực lượng an ninh bị tố bắn lựu đạn tàn sát hơn 80 người biểu tình

Đã có ít nhất 82 người thiệt mạng trong vỏn vẹn một ngày ở Miến Điện với vụ lực lượng an ninh bị cáo buộc là đã dùng súng phóng lựu bắn vào những người biểu tình ở một thị trấn gần Rangoon hôm 09/04/…

xem thêm:

VOA

Đăng tải tại Tin Thế Giới | Chức năng bình luận bị tắt ở Miến Điện: Lực lượng an ninh bị tố bắn lựu đạn tàn sát hơn 80 người biểu tình

Gặp Gỡ Diêm Vương… Rồi Trở Về

Gặp Gỡ Diêm Vương… Rồi Trở Về

– Trường Sơn Lê Xuân Nhị –

Tác Giả Trường Sơn Lê Xuân Nhị sau khi gặp Diêm Vương trở về

Một: What’s the hell going on?

Sáng thứ hai, một buổi sáng bình thường như mọi buổi sáng của tuổi về hưu, khoảng 8 giờ ngày 1 tháng 2 Dương Lịch 2021, New Orleans Louisiana, tôi thức giấc… trong cô đơn, nhà cửa vắng tanh vì bà xã đang ở xa lo công việc. Vào phòng tắm vừa đánh răng xong, xoay người toan bước ra thì tôi bỗng bị… rụng xuống sàn nhà như một trái mít nghe đến rầm một tiếng đinh ai nhức óc.

Đầu và ngực tôi đập xuống sàn có lẽ nặng lắm vì khi mở mắt ra, tôi nhìn thấy cái … bồn cầu tiêu đang nằm song song ngay trước mặt mình, lại còn cao hơn mình cả … thước, ngạo nghễ, trắng bóc và … tròn quay, đang lắc lư trước mặt mình.

Đù mẹ, mới sáng sớm đã lại có chuyện rồi, tôi lẩm bẩm chửi thề và tự hỏi: “What’s the fuck going on?” Tối qua mình lại uống rượu say quá chăng? Không, tối qua tôi chẳng uống gì cả và hôm nay mới sáng sớm chưa có rượu chè gì. Mình cũng không bị trượt té. Thế thì tại sao tôi lại nằm thẳng cẳng như thế này hở trời?

Có lẽ đây là hậu quả của những ngày đi Cali chơi mùa Noel rồi mới về, ăn nhậu nhiều quá chăng? Nhưng về đã hơn tháng rồi, chẳng hề bị rụng, sao bây giờ mới rụng?

Không cần phài suy nghĩ lâu, sống trong thời buổi thiên hạ bị dính Covid rầm rầm, tôi kết luận ngay là mình đã bị dính cúm Tàu. Tôi đã đọc rất nhiều về cúm Tàu để biết một trong những chuyện thường xảy ra cho bệnh nhân khi mới bị nhiễm là mất hết sức lực. (Thực tế thì chuyện này chỉ xảy ra ở giai đoạn sau khi bị sốt—nhưng tôi chưa hề bị sốt.) Tôi cũng thắc mắc là suốt tháng qua, từ khi đi chơi xa về, tôi đã không đi đâu, không tiếp xúc với ai, thế thì sao con Cúm Tàu đột nhập vào tôi được? Cũng cần nói thêm là tất cả khứu giác, vị giác, thính giác của tôi vẫn còn đầy đủ, những người bị Covid sẽ bị mất hết những thứ này. Nhưng buổi sáng hôm đó, tôi kết luận ngay là mình bị cúm Tàu. Gì chớ cúm Covid-19 thì nhằm nhò gì. Ai sợ, ông đếch sợ. Ông chỉ cần tỉnh dưỡng và cách ly một vài ngày, xông vài phát thật tốt là xong ngay. Nhưng chuyện quan trọng bây giờ là phải … đứng lên cái đã.

Loay hoay mãi một lúc mới vịn cái bồn tắm ngồi lên được và nhìn vào tấm gương trước mặt, tôi giật mình đến thót. Sao mặt mũi tôi tím bầm và … thô bỉ như thế này hở trời?

Một lúc sau, tôi gượng đứng lên được nhưng lại bị rụng xuống sàn ngay phát thứ hai, cú secondary.

Lúc ấy tôi mới khám phá ra là mình chẳng còn chút sức lực nào trong người cả. Chuyện này hơi lạ. Nhưng nghĩ kỹ một chút thì cũng chẳng… lạ chút nào. Bố khỉ, chú mày đã 70 tuổi rồi, già mẹ nó rồi út ơi. Thằng Út ngày xưa của phi đoàn 114 bây giờ đã thành một lão già. Sinh Lão Bệnh Tử là chuyện thường, tôi chẳng lấy gì làm buồn. Chuyện đáng làm bây giờ là phải làm thế nào để đứng lên đây? Mẹ bố, không đứng được thì ông đành phải… bò thôi.

Nửa tiếng đồng hồ sau, vừa lết vừa bò, tôi cũng mò được xuống lầu dưới. Ngồi được xuống cái sofa phòng khách mà tưởng êm ấm như ngồi trên ghế thiên đàng, thở hồng hộc như trâu, và không biết đã ngất đi thêm bao nhiêu lâu nữa.

Khi tỉnh dậy, quên mẹ nó mất là mình đã hết sức, tôi vụt đứng dậy và lại rớt xuống sàn một lần nữa. Nhà dưới tôi là sàn gạch nên thân thể ê ẩm, tôi nằm co quắp. Lần này thì tôi không còn bò dậy được, lăn cũng không được, đành nằm luôn dưới sàn nhà. Lầu dưới nhà tối qua đi ngủ tôi đã tắt máy sưởi, trời bên ngoài hình như khoảng 40 độ, sàn gạch lại lạnh như băng, tôi run lên bần bật…

Nhà lúc ấy chỉ có mình tôi, tôi biết nếu nằm thêm một lúc nữa thì có lẽ tôi sẽ chết cóng… Vợ đang ở mãi bên Cali, tôi quyết định gọi điện thoại cho thằng con trai. (Đáng lẽ phải gọi cho 911, nhưng nghĩ không ra) Nhưng khốn nạn, chẳng biết cái điện thoại bị rớt chỗ nào mất tiêu, kiếm mãi không ra. May quá, không biết một lúc nào đó, chuông điện thoại tôi reo. Thì ra nó nằm lọt tuốt dưới đáy cái sofa trước mặt tôi…

Tôi không còn nhớ mình đã gọi cho thằng con trai như thế nào, ra sao, nhưng giật mình tỉnh dậy ra thì đã 11 giờ đêm, đang nằm trong ICU nhà thương Ochsner, chung quanh toàn là đủ thứ ống Ni-lông, từ ống Oxygen cho tới ống máu, ống IV, toàn ống là ống. Thằng con trai tôi vẫn còn ngoan ngoãn ngồi bên cạnh chờ bố, đang chơi với cái iphone. Nó mừng rỡ nhìn tôi nói:

-Con tới trễ chừng nửa tiếng thì bố chắc đi rồi… Sao bố không gọi 911?

-Bố bị Covid phải không con?

No, your Covid test is negative – You got something much, much more serious than that, Daddy.

Nghe như thế thì biết thì biết như thế, nhưng đầu óc tôi lúc ấy hoàn toàn không còn cảm nhận, không hiểu được ra gì cả. Rồi chẳng bao lâu lại mê đi, rồi lại tỉnh dậy rồi lại mê đi cho đến ngày hôm sau mới nói chuyện được với bác sĩ. Bác sĩ chỉ vắn tắt cho biết, mày bị ung thư, nhưng tụi tao vẫn còn chờ đợi kết quả thử nghiệm…

Vợ tôi hôm đó cũng đã khẩn cấp bay từ Cali về, hai người chỉ biết ngồi tâm sự, bàn những chuyện cần phải làm, nhưng tuyệt nhiên, không ai than trách số mạng. Trời cho, trời lấy, chẳng có gì phải thắc mắc buồn phiền ở đây.

Thêm vài ngày nữa, tỉnh táo hơn, nằm trong nhà thương có nhiều thì giờ, tôi bắt đầu suy nghĩ về những gì xảy ra. Và càng suy nghĩ những chi tiết thì tôi càng thấy giật mình. Việc tôi nằm ở trong cái ICU này không phải là một chuyện mới xảy ra một sớm một chiều mà dấu hiệu đã có từ cách đây mấy năm mà tôi không thèm để ý đến. Tôi xin viết lại để chia sẻ với những ai ở lứa tuổi trên dưới 70 như tôi.

Hai: Những dấu hiệu ngầm báo trước mà tôi không thèm … thấy

1/ Cách đây khoảng chừng 3 năm, mặt tôi bỗng bị nổi lên những đốm đen trên má, ban đầu nhỏ nhưng sau lớn dần như đồng xu. Cho rằng đây là dấu hiệu của tuổi già, tôi phớt tỉnh.

2/ Khoảng 2 năm trở lại đây, tôi thấy trong người khá mệt mỏi và bắt đầu ngủ càng ngày càng nhiều. Có ngày tôi ngủ đến 10, 12 tiếng, chưa kể ngủ trưa, ngủ vặt. Tôi nghĩ bởi mình đã lớn tuổi, lại hay ăn nhậu hay làm việc nhiều quá, nên chẳng quan tâm lắm. Tôi bắt đầu bớt ăn nhậu lại, nhưng tình hình chẳng khá hơn gì.

3/ Đầu óc tôi thấy không còn minh mẫn, không còn trí sáng tạo như ngày xưa. Có lẽ đó là lý do tôi quyết định về hưu hồi đầu năm ngoái.

4/ Tôi rất dễ cảm thấy lạnh. Trong sở tôi, ai bước vào văn phòng tôi cũng chê nóng vì tôi để nhiệt độ cao mà vẫn phải mặc thêm áo khoác.

5/ Thân thể cảm thấy bị ngứa ngáy nhiều chỗ, nhất là sau lưng…

6/ Quan trọng hơn cả, những tháng sau nay, mặt mũi tôi bắt đầu lần lần thấy biến dạng, sưng lên những thớ thịt hai bên má và dưới cổ, có hạch ở nách và dưới háng….

7/ Hay bị chảy nước mắt và mắt cảm thấy bị mờ, ngứa ngáy. Đi khám mắt, bác sĩ chỉ cho thuốc uống.

Đây toàn là những dấu hiệu không tốt, và nếu cẩn thận, một người sẽ đi hỏi bác sĩ. Dĩ nhiên là tôi có hỏi bác sĩ của tôi, một thanh niên mới ra trường, kinh nghiệm không biết có bao nhiêu nhưng đã mở phòng mạch hốt thuốc đếm tiền. Hắn chỉ lắc đầu bảo, không có gì quan trọng. Mẹ, bác sĩ đã nói thế thì ông việc gì phải lo.

Cho đến những ngày hôm nay…

Ba: Những gì tôi đã gây ra cho chính tôi

Thành thật mà nói, dĩ nhiên là tôi cũng đóng góp một phần không nhỏ cho sự suy sụp sức khỏe của mình. Trước hết, ai cũng biết, tôi bắt đầu biết ăn nhậu từ hồi chưa đi lính. Vào lính, nhậu dữ hơn. Qua Mỹ, nhậu tiếp. Những năm gần đây, tôi bớt uống đi nhiều, nhưng mỗi ngày cũng phải chơi vài chai bia vân vân.

Có nhiều thì giờ ngồi coi lại hồ sơ bệnh tình và của tôi, nhất là phân tích những kết quả thử máu, tôi ngạc nhiên nhận ra vài điều sau đây:

1/ Số lượng sodium (muối) trong máu quá thấp: Cách đây khoảng 20 năm, vì bị áp huyết hơi cao, nên tôi đã cử ăn mặn tối đa. Tôi không còn nhớ mình đã cử như thế nào, nhưng hình như đã mấy chục năm qua, tôi còn nhìn thấy một hũ muối nào trong nhà nữa.

2/ Ăn Chay: Khoảng hơn 3 năm nay, khi nhìn thấy những người làm việc trong hãng tôi càng ngày bụng càng bự, đứng gần chúng nó, tôi có cảm tưởng như mình đứng gần cái thùng tô-nô. Thế là tôi đâm hoảng, không muốn như chúng nó nên quyết định ăn chay. Thay vì ăn uống 3 bữa như thiên hạ, tôi chỉ rút xuống chỉ còn ăn 1 bữa ăn chính. Sáng sớm thức dậy, tôi chỉ chơi một ly cà phê, buổi trưa không ăn gì và buổi tối thì ăn một bữa thịnh soạn với rượu bia đầy đủ.

3/ Tự uống Aspirin để ngừa đột quỵ: Đã từ hơn 20 năm nay, nghe lời ai hay đọc ở đâu không biết, tôi uống mỗi ngày 31 mg Aspirin. Cách đây 2 năm, tôi tăng lên 238 mg (tức gấp 3 lần). Cho đến năm ngoái, tự dưng tôi bị chảy máu cam, chảy hoài và chảy nhiều lần. Tôi liền ngưng uống Aspirin thì đồng thời cũng hết bị chảy máu cam.

4/ Không bao giờ coi trọng việc ăn uống. Xuất thân là một người lính, tôi luôn luôn coi thường chuyện ăn uống. Có khi cả tuần lễ, chỉ uống bia chứ không ăn. Khi nào đói quá, quơ đại vài miếng bánh, miếng chip, ăn cũng xong. Nếu cần đổi một bữa ăn để lấy một chầu nhậu, tôi sẵn sàng liền. Lính mà em.

5/ Tôi không biết mình đã bị thiếu dinh dưỡng trầm trọng, từ thiếu máu, muối, ít chất Albumin trong gan, vân vân. Tôi, nói một cách khác, suốt mấy năm nay, đã tự nhịn đói đến … gần chết mà không hay.

6/ Tập thể thao. Tôi không bao giờ tập thể thao nhưng mỗi ngày vận động, làm việc nhà, cắt cỏ vân vân cho đủ một tiếng đồng hồ. Chuyện này không đến nỗi tệ.

Cũng có một điều cần nói là sau 4 tuần lễ trong nhà thương, họ chạy cho tôi hơn vài chục cái khám nghiệm, đủ mọi thứ scan, ultrasound, bone marrow, thử máu, đủ cả, bác sĩ xác nhận bao tử, thận của tôi còn rất tốt, không hề bị tiểu đường hay một thứ bệnh gì. Tôi không phải là thầy thuốc nên không biết những gì tôi làm đã gây tai hại cho sức khỏe của tôi như thế nào. Và cũng đếch có thì giờ để bàn thêm ở đây, nhưng xin viết lại để anh em coi cho vui.

Bốn: Vài câu chuyện kể lại cho vui

Dĩ nhiên là trong cuộc đời mình, chuyến đi nào thường cũng để lại nhiều kỹ niệm. Chuyến đi vô nhà thương vừa rồi tôi cũng có vài chuyện đáng kể lại cho vui.

1/ You can die any moment now… (Lời bác sĩ)

Sau khi được đưa từ ICU xuống phòng bệnh, một buổi sáng Chủ nhật, tôi nhớ hôm đó trời ở Texas bắt đầu bị bão tuyết, tôi đang ngồi nghĩ đến bạn bè bên đó đang bị cúp điện, sống chết không biết thế nào thì khoảng 8 giờ, ông bác sĩ có lẽ là trưởng ca trực ngày hôm đó và một phụ tá bước vào phòng tôi, tay cầm một xấp hồ sơ, mặt mày coi nghiêm trọng lắm.

Ông bác sĩ ngồi xuống giường tôi rồi buông liền một câu xanh dờn:

-Mr. Le, xin thông báo cho ông biết là ông đã được chẩn bệnh với Advanced lung cancer. You can die anytime now…

Mới nghe qua, tôi tưởng mình nghe lộn. Nhưng ngài bác sĩ lập lại như thế. Ngay lúc ấy, tôi còn đủ sáng suốt để biết rằng một ông bác sĩ Mỹ trực một nhà thương to lớn như thế này không bao giờ có thì giờ rảnh để tới đây ngồi nói đùa với tôi một câu chuyện quan trọng như vậy.

My death sentence has just been written in the sky, and I know it… Tôi nhủ thầm trong lòng mình như thế. (Sau này xuất viện, tôi biết tôi được chẩn bệnh không bị ung thư phổi.)

Tôi nhớ mãi, lúc ấy nghe như thế và nhìn qua cửa sổ nhà thương, tôi thấy như linh hồn mình như sắp sửa được bay ra khỏi cái giường bệnh với những cái ống nhựa đang dính chằng chịt vào người tôi, được bay ra khỏi cái chốn ngục tù tăm tối đầy những sự ràng buộc vô nghĩa lý của thế gian này, bay tuốt lên trời cao, ở một chỗ nào đó thanh vắng hơn, yên bình hơn, tự do thoải mái hơn chỗ tôi đang ở. Mẹ, làm người khổ thật.

Ở giây phút bi thảm nhất của cuộc đời đó, tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy lòng mình tự nhiên trở nên bình thản và thanh tịnh vô cùng, chẳng thấy có gì phải tiếc nối cả. Ngày xưa tôi đã luôn luôn nghĩ rằng, nếu một ngày nào đó có ai đến bảo cho tôi biết rằng tôi sắp chết, có lẽ tôi sẽ vật vã đau đớn, quỳ xuống mà lạy trời lạy Chúa, lạy luôn cả Phật, lạy tuốt luốt tất cả để xin được sống lâu thêm. Nói ra nghe hèn thật nhưng cuộc đời là thế, con người là thế, có ai hơn ai. Phải đến lúc đứng trước ngưỡng cửa Tử Sinh của cuộc đời mới biết được chính mình là ai.

Tôi chưa bao giờ biết được tôi là ai, nhưng, như đã nói, buổi sáng hôm đó tôi không hề thấy sợ hãi hay nối tiếc bất kỳ một cái gì trên cõi đời này. Phải chăng tôi đã bắt đầu biết được chính tôi sau 70 năm làm người? Hoặc giả, tôi đang còn bị … say thuốc nên mới “ngon lành” như vậy. Tôi chẳng biết được.

Dù cả một cuộc đời làm lụng hy sinh cho gia đình, đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất đời cho tổ quốc, mới được về hưu có mấy tháng, chưa kịp hưởng gì đã phải tất tả ra đi, tôi chẳng thấy buồn phiền tiếc nuối gì cả. Trước sau gì rồi ai cũng phải ra đi thôi. Đi sớm cũng vậy mà đi sau cũng thế, có ở lại chốn trần gian này thêm vài chục năm chưa biết cũng sẽ được cái gì.

Nhưng tự nhiên, tôi nghĩ đến một điều làm cho tôi cảm thấy đau buồn quá đỗi. Đau buồn đến khóc được. Đó là, tôi tự hỏi, suốt đời mình, không biết mình đã làm được cho bao nhiêu người sung sướng? Hoặc đau đớn hơn cả, mình đã làm cho bao nhiêu người buồn? Một lời mình nói ra không cần phải nói, một câu chửi thề không cần phải chửi, một lời phê bình không cần thiết, tôi đã làm cho bao nhiêu người buồn phiền cay đắng?

Quãng đời 70 năm từ lúc lọt lòng mẹ cho đến ngày hôm nay chạy xẹt qua thật nhanh như một ánh chớp. Những ngày thơ ấu làm khổ cha mẹ anh em, vào trường học làm khổ thầy giáo bạn bè, đi lính thì vô kỷ luật, vân vân… Tôi đã làm một người lính… không bình thường chút nào, gây phiền toái rắc rối cho không biết bao nhiêu người.

Suốt đời tôi, tôi đã nói được bao nhiêu lần những lời nói ngọt ngào êm ái ngay cả với vợ con, với người thân, với anh em bạn bè? Miệng tôi đã nhả được bao nhiêu cành hoa, bao nhiêu hương thơm, bao nhiêu lời hay ý đẹp, bao nhiều lời khen tặng cho đời được tươi đẹp hơn, hay chỉ mở miệng ra là văng tục chửi thề, phun ra những lời nói không hay làm cho nhiều người vốn đã đau khổ lại càng phiền muộn thêm?

Ngay lúc ấy, tôi muốn quỳ ngay xuống đất để xin tạ tội với tất cả mọi người mà tôi đã làm cho họ buồn bực hay không vừa ý trong suốt đời tôi, từ những người thân thiết như cha mẹ đến vợ con, anh chị em trong nhà cho đến bạn bè bằng hữu. Xin tất cả hãy tha thứ cho tôi, để tôi được thoải mái và thanh thản ra đi, lòng không vướng bận gì.

Một lúc sau, ông bác sĩ lại hỏi tôi, nếu tôi bị trường hợp… bất ngờ, tôi có cho phép nhà thương rút ống hay chữa trị bằng mọi cách? Tôi đã tính quyết định cho họ rút ống đi, nhưng chợt nhớ ra người vợ ở nhà, tôi bảo chuyện đó để vợ tôi lát nữa sẽ vào đây quyết định. Tôi sẽ từ từ trình bày với nàng mọi chuyện khi nàng vào đây.

Ông bác sĩ bắt tay, để lại tờ giấy… rút ống trên giường, chúc tôi may mắn.

Tôi liền bốc điện thoại gọi cho hai đứa con thân yêu, báo cho chúng nó biết rằng bố chúng nó sẽ ra đi. Tôi chậm rãi và bình thản trăn trối cho từng đứa một những lời cuối cùng của một người cha đã hy sinh và chiến đấu cho chúng nó suốt cả cuộc đời mình, vắn tắt dặn dò những gì muốn nói, giọng đều đều, không hề xúc động, bình thản và chịu đựng,như ngày xưa lái tàu bay, sau những trận đánh đẫm máu, gọi máy về nhà báo cáo kết quả, những xe tăng địch bị thiêu hủy, những xác người cháy đen nằm đầy dẫy trên núi rừng Trường Sơn. Hai trạng huống, hai mảnh đời khác biệt, nhưng mầm móng và hình ảnh đau thương buồn thảm của những sự chết chóc chia lìa chẳng khác nhau chút nào. Một lúc nào đó, các con tôi khóc rống lên trong đường giây, nghe chịu không được.

Rồi vợ tôi vào, câu chuyện trở nên hơi phức tạp hơn và rất nhiều xúc động, nhiều cảm tình và nước mắt nhưng rồi cũng xong. Chúng tôi đồng ý ở một quyết định chung.

Nhưng cuối cùng thì tôi vẫn… không chịu chết. Ra khỏi nhà thương 3 lần, lại bị lôi cổ nhập viện vào phòng cấp cứu 2 lần vì bị xuất huyết không cầm được. Lần cuối cùng, nếu trễ nửa tiếng đồng hồ thì tôi đã được đưa thẳng xuống nhà xác thay vì ICU. Đây là lời bác sĩ nói, tôi không… chế biến.

Bây giờ tôi đã về nhà được gần 2 tuần, đang xạ trị và thấy càng ngày càng khỏe ra như trâu.

2/ I’m not a brave man

Một đêm nọ, một bà y tá tới đổi máu và chích thuốc cho tôi. Nhìn những ống kim ống ni-lon chằng chịt quanh mình, tôi lắc đầu ngao ngán than: “You know, I’m not a very brave man. This stuff scares me …”

Tôi nói là nói cho vui vậy thôi trong một giây phút ngã lòng chán nản, nào ngờ, bà y tá quay lại nhìn tôi, nghiêm mặt nói: “Mr. Le, everybody here thinks you’re a very brave man.

“Wow, how is that?”

You have conducted yourself perfectly in this hospital. You are suffering tremendously, yet you take it bravely, silently and gracefully. You always have that beautiful and confident smile on your face. We are supposed to comfort you, but it’s you that comfort us, cheer us up. Thank you Mr. Le.”

Thành thật mà nói, nghe như thế thì lòng mình thấy vui hẳn lên. Không phải riêng gì tôi nhưng bất cứ ai đã từng mắc áo lính đều phải học để biết… chấp nhận thương đau. Mẹ, nếu chết thì đành phải chết chứ làm đếch gì mà phải nhăn nhó đau khổ, làm mất cái hào khí của người lính đi, phải không các bạn? Tôi hãnh diện rằng mình vẫn còn có chút máu lính trong người và hành xử như một người lính của QLVNCH trong một cơn thất cơ lỡ vận.

3/ Thèm ăn đồ Mỹ và đồ ngọt

Sau một tuần lễ nằm bệnh viện và được tiếp khoảng 9 bịch máu, tôi bỗng thèm đồ ăn thức uống của… Mỹ. Những cái Hamburger King mày ngày xưa đi làm, cực chẳng đã mới ăn vài cái, và chẳng bao giờ thấy ngon lành gì. Nhưng nằm coi TV, thấy chúng nó quảng cáo, tôi thèm nhỏ dãi. Lại thèm cả những đồ ngọt mà ngày xưa tôi rất ghét như Coca, bánh Cookie, Kem vân vân… Nửa đêm tôi gọi điện thoại cho vợ, dặn dò mua cho tôi những thứ này thứ kia. Ngày hôm sau, vợ tôi khệ nệ bưng vào một bịch đủ thứ. Nàng nói đùa với tôi: “Anh được tiếp máu Mỹ nhiều quá nên bây giờ anh thành người Mỹ rồi.” Một câu nói đùa nhưng nghĩ cũng hơi có lý. Vài ngày sau, có chút thì giờ rảnh, tôi dở kết quả thử máu ra nghiên cứu thật kỹ mới thấy lượng đường trong máu mình xuống còn có 54 (bình thường 70-110), ngay cả lượng muối, Potassium, cái gì cũng thiếu cả.

4/ Nhớ lại một bài thơ cũ làm năm 2012

Vì không biết làm thơ nên tôi rất sợ thơ, nhưng lâu lâu nổi hứng cũng làm đại một bài. Năm 2012, nhân việc thiên hạ bàn chuyện “Ăn Cơm Hay Ăn Phở” trong một bàn nhậu, tôi nổi hứng làm đại một bài chọc phá thiên hạ cho vui. Bài thơ mới đầu là ăn phở, nhưng từ từ lại … biến thái trở thành chuyện nhậu nhẹt với Diêm Vương dưới âm phủ.

Một đêm trong nhà thương, tôi giật mình thức dậy vì không thở được. Không hiểu tại sao, tất cả những ống ni-lông ống Oxy và IV của tôi vẫn đầy đủ nhưng tôi không thể nào thở được. Tôi ngộp thở muốn chết, tôi vùng vẫy lăn lộn, muốn bấm máy gọi y tá nhưng không gọi được, đầu óc trở nên xây xẩm rồi ngất lịm đi.

Và tôi thấy hồn mình bay khỏi xác, bay xuống dưới âm phủ thật. (Tôi phải xuống âm phủ vì chẳng ai cho một thằng du côn mất dạy như tôi vào Thiên Đàng—đành chịu thôi) Và xuống âm phủ thì nhất định phải gặp Diêm Vương. Nhưng gặp Diêm Vương rồi lại được trở về mới là hay…

Không biết bao lâu sau đó, tôi giật mình tỉnh giấc thấy thiên hạ bu quanh mình đông như kiến, chỉ chỏ nói năng tùm lum. Tôi đếch có thì giờ để tìm hiểu tại sao, nhưng tôi biết tôi vừa thoát chết. Và tôi nhớ ngay đến bài thơ “Ăn Phở” tôi làm năm 2012 như sau:

Ăn cơm hay ăn phở?

Đầu năm mới làm bài thơ … con cóc

Chuyện ăn cơm, ăn phở thứ nào ngon?

Thiên hạ người muốn ăn kẻ bảo đừng

Có anh còn sợ cơm nhà bị hàng xóm… bứng

Lạy Thượng Đế con xin người tha thứ

Phần con, cơm khê, cơm nhão, con đều… đớp ráo

Ra đường gặp phở con cũng… chơi luôn.

Hủ tíu Mỹ Tho ư? Sức mấy con từ

Mì Vịt tìm là món con khoái khẩu

Ếch xào lăn, khỏi nói nhậu tới chiều

Càng cua rang muối càng nhai càng nhớ đến:

Cặp… mông đít em cắn mãi, sao ngon được như vầy?

Ham Bơ Gơ Mỹ ai chê xin để đấy

Tóc vàng mắt xanh, “Thù dân tộc” con đành phải trả

Su-Shi uống với Sa-Kê con sẽ … “Đoàn kết Đại Đông Á”

Jambon Pháp thịt trắng tươi thơm phức, ngu sao chẳng vồ?

Đời người ngắn ngủi làm con phải ằng-gioi

Ai cười con chịu ai chê con cũng cười

Nhưng có vài thứ con không bao giờ đụng tới:

Một là vợ bạn, hai bà con máu mủ,

Ba là phụ nữ tuổi con cháu mình…

Được dâng hiến con lắc đầu… bỏ chạy

Mai mốt ngủm, xuống đáy tầng địa ngục

(Trời đất nào dung một thằng quỷ như con?)

Gặp Diêm Vương hắn chỉ mặt quát lớn:

Thằng quỷ sống, sao giờ này mới xuống?”

Con chẳng hãi quạt liền, “Mẹ, vừa thôi bố,

Cũng đều là … quỷ, sao mày nỡ ép nhau?

Kiếm chai rượu mình ngồi đây cạn láng

Nói thật với mi tao chẳng hám Thiên đàng,

Bởi trên đó toàn Cha Cố Bà Sơ, người đúng đắn

Mặt mày táo bón, bộ tịch nghiêm trang coi mà thấy nản,

Ăn mặc kín bưng chẳng cho ai xem tí… vú chút đùi

Uống toàn nước lạnh, hay cô ca hay cà phê sữa đá

Tao đây bợm rượu làm sao mà sống nổi?

Tao thà xuống địa ngục với mi

Bởi nơi đây hảo hán bạn bè đầy đủ cả,

Toàn những thằng trời đánh phải…. đứng xa

Những thằng ngày xưa vá trời lấp biển

Áo lính giày sô ngang dọc bốn phương trời

Nhưng nửa đường gẫy cánh dù đại bàng cũng ngã

Thành không giữ được, gạt nước mắt, lời thề xưa đành bỏ

Thằng chết thảm, thằng vào tù, thằng bỏ chạy

Uất hận cháy con tim và linh hồn ngập máu

Thôi đành “Làm Quỷ Nước Nam” kể từ ngày tháng đó…

Mi Quỷ nhà trời, tao Quỷ nước Nam, mình cùng đều là quỷ

Thôi uống đi cha đừng giở trò lý sự…”

Diêm vương nghe nói liền bùi ngùi sa lệ,

Hắn vỗ vai con “Này thằng quỷ nước Nam,

Năm 75 địa ngục tao bỗng rộn ràng,

Dân lính miền Nam tự dưng ào đổ xuống

Chết trong ngục tù, chết trên biển cả đại dương…

Chết vùng kinh tế mới, chết vì thiếu ăn, chết bờ chết bụi

Những người thảm tử chết oan mắt không thể nhắm

Chuyện tang thương tao đâu biết, bây giờ mi mới nói,

Cho tao xin lỗi đã làm mi nổi nóng

Thôi bây giờ mi có muốn chi không?”

Lỗi phải mẹ gì vểnh tai nghe tao nói

Tao muốn mi lên trở lại trần thế

Diệt hết loài Cộng Phỉ cho tao

Thằng Hồ thằng Duẫn chết trốn nơi nao?

Và luôn cả thằng cẩu Kỳ khốn nạn

Chỉ cho tao, tao đái vào mặt chúng

Diêm Vương đưa con cuốn sổ miệng cười cười:

Chuyện nhỏ cưng ơi, đây này mày sẽ thấy

Cộng Phỉ sắp tàn rồi sổ sách có ghi đây

Còn bọn thằng Hồ tụi Cộng Sản ác ôn

Tao nhốt hết dưới hầm phân mày ỉa đái

Thôi uống đi cha để rồi cho tao hỏi

Tại sao trần thế có cơm mà còn hay mê phở?”

Con làm ngụm rượu rồi khà ra một phát:

Mẹ, quỷ nhà trời sao hiểu được bọn tao?

Cơm ăn hoài phải đổi món chớ sao

Không những Phở ngon nhưng còn nhiều thứ khác…

Diêm vương ngắt lời và chắp tay mà lạy:

Con lạy ông, xin ông đừng nói nữa

Làm con thèm chắc bỏ địa ngục theo ông

Ông quả đúng là một thằng quỷ sống…

Quỷ sống (mầm non thi sĩ) Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Xuân 2012

Gần chục năm sau, nhớ lại bài thơ, thấy… hay hay, viết lại chia sẽ cho anh chị em coi. Một điều quan trọng, tâm hồn tôi ngày xưa thế nào thì bây giờ cũng y như vậy, chẳng thay đổi chút nào. Ai biết đời đổi thay, sẽ không bao giờ thay đổi.

Kết luận

Đời người, Sinh Lão Bệnh Tử là lẽ thường, mỗi ngày có hàng trăm ngàn người chết trên thế giới, chết thêm một thằng dở hơi như tôi cũng chẳng có gì quan trọng. Tôi viết lại những dòng này vì bây giờ có nhiều thì giờ để nhìn lại cuộc đời mình. Và nhìn đến đâu thì tôi thấy mình mang nợ tới đó. Nợ công ơn sinh thành dưỡng dục của song thân, nợ công cha nghĩa mẹ chữ thầy, nợ sông nợ núi, nợ những người lính QLVNCH đã chết cho tôi được sống, nợ bạn bè bằng hữu, nợ tha nhân, vân vân. Nợ tiền bạc có thể trả được, nhưng nợ ân tình thì khó mà trả lắm, chỉ có chết mới đem theo được mà thôi…

Đã trải qua một lần ở ngưỡng cửa tử sinh của cuộc đời và nhìn thấy được cái phù du mong manh của kiếp người, tôi mới thấy biết ơn vợ con, anh em ruột thịt trong nhà. Những chuyện này bình thường tôi không nhìn thấy, nhưng khi hữu sự, mới thấy đó là những món quà vô giá mà trời ban cho tôi. Những giọt nước mắt thổn thức và đau đớn của người vợ hiền, những cái nhìn lo âu sợ của con cái, những chia sẻ ngọt ngào của anh em ruột thịt trong nhà, đã làm cho lòng tôi rúng động. Rồi còn bạn bè xa gần nữa. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình đã làm gì xứng đáng để được quý thương như thế. Tôi thật là may mắn lắm …

Thôi thì xin cho tôi được quỳ xuống đất mà lạy tạ tất cả.

Nhắc tới bạn bè, từ bạn học La San ngày xưa còn bé cho đến bạn bè anh em trong phi đoàn ngày xưa, bạn lính, bạn trong những hội ái hữu, bạn trong phong trào tranh đấu, bạn văn, bạn ăn nhậu bây giờ, bỗng cảm thấy nhớ và thương quá họ quá. Tôi chí tình với người ta như thế nào thì tôi chưa biết rõ, nhưng tôi thấy anh em bạn bè chí tình với tôi quá. Từ ngày tôi ngã bệnh, đã không biết có bao nhiêu email, bao nhiêu lời nhắn gởi nồng nàn thân thiết đến với tôi. Tôi đọc và cảm động lắm, nhưng chưa có dịp trả lời.

Nhân bài này, tôi xin gởi đi khắp nơi để cám ơn tất cả các bạn bè thân mến xa gần của tôi, dù chỉ quen biết nhau qua email, chưa một lần được gặp. Những tấm thịnh tình này, tôi nguyện khắc cốt ghi tên. Tôi hiện còn mệt lắm, xin đừng gọi điện thoại, nhưng tôi có thể đọc mail, dù chưa thể trả lời được…

Văn Bút Nam Hoa Kỳ ở Houston sắp long trọng tổ chức họp mặt bầu ban chấp hành mới ngày 13 tháng 3 này, nghe vui quá nhưng tôi đang làm Xạ Trị, không đi được, đành xin kiếu. Xin uống giùm tôi vài hớp rượu cho tôi đỡ thèm, chửi thề giùm tôi vài tiếng cho tôi đỡ nhớ, và cuối cùng, hãy cười lên khằng khặc để nhớ đến nhau. Chúc anh chị em vui vẻ và hẹn lần sau.

From: TU PHUNG

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở Gặp Gỡ Diêm Vương… Rồi Trở Về

Dừng Bước Giang Hồ – [Hoàng Trọng – Kiều Nga] – Dau Nguyen

Dừng Bước Giang Hồ – [Hoàng Trọng – Kiều Nga] – Dau Nguyen

Đăng tải tại NHẠC CẢNH | Chức năng bình luận bị tắt ở Dừng Bước Giang Hồ – [Hoàng Trọng – Kiều Nga] – Dau Nguyen

15 lời khuyên của các Thánh lớn để biến ngạo nghễ thành khiêm tốn

Nguyễn Hoàng Diễm

15 lời khuyên của các Thánh lớn để biến ngạo nghễ thành khiêm tốn

Đi ngược với kiêu căng, ích kỷ và ngạo nghễ, tính khiêm tốn giúp chúng ta nhìn thực tế đúng với thực tế, không ảo tưởng, không biến dạng theo tính ích kỷ. Khiêm tốn giúp chúng ta nhận biết giới hạn của mình và hành động có ý thức. Kiêu ngạo, huênh hoang và ngạo nghễ làm mù quáng, đến mức làm cho người kiêu ngạo nghĩ mình hoàn toàn có lý. Khi đó họ nghĩ họ cao hơn người khác. Vấn đề càng nặng thêm khi họ khép mình trong cô độc để tự bảo vệ mình với thế giới mà họ nghĩ là chống lại họ.

Làm thế nào để tính ngạo nghễ bị rơi rụng?

Chúng ta tìm ở đây 15 lời khuyên của các Thánh lớn giúp chúng ta trau dồi tính khiêm tốn trong đời sống hàng ngày của mình.

1-Khiêm tốn là con đường của sự thật.

Thánh Bernard de Clairvaux

2-Nếu trên quả đất này có một tâm hồn thật sự hạnh phúc, thì đích thực đó là tâm hồn của người khiêm tốn.

Thánh Faustina Kowalska

3-Có một cái gì trong sự khiêm tốn làm nâng tâm hồn lên một cách kỳ lạ.

Thánh Âugutinô

4-Lòng khiêm tốn phải đi theo tất cả các hành động của chúng ta, phải ở trong con người chúng ta, vì ngay lập tức khi chúng ta ca ngợi các việc tốt lành của mình thì chúng ta mất tất cả giá trị các tiến bộ trên con đường đức hạnh của mình.

Thánh Âugutinô

5-Với tầm mức các ân sủng lớn lên trong lòng các con, các con phải phát triển tính khiêm tốn làm sao để các con có thể xem đây là món quà mình mượn.

Cha Thánh Piô

6-Nếu con khiêm tốn thì không có gì đụng được đến con, lời khen cũng như sỉ nhục, vì con biết con người thật của mình. Nếu người ta nói con là vị thánh, thì con đừng leo lên bệ thờ ngồi.

Mẹ Têrêxa

7-Nhận biết mình sẽ làm cho chúng ta quỳ gối xuống, một tư thế cần thiết cho tình yêu. Vì nhận biết Thiên Chúa nảy sinh ra tình yêu, và nhận biết mình nảy sinh ra lòng khiêm tốn.

Mẹ Têrêxa

8-Sự dịu dàng và lòng khiêm tốn không có một nghĩa nào là yếu đuối.

Đức Gioan-Phaolô II

9-Chúng ta có được tất cả với lòng khiêm tốn, chúng ta không được gì với vũ lực.

Thánh Phanxicô Xaviê

10-Ơn của Chúa càng lớn thì chúng ta càng phải khiêm tốn: vì không có lòng khiêm tốn thì không có đức hạnh nào được Chúa chấp nhận. Thánh Phanxicô Xaviê

11-Khiêm tốn không phải chỉ nghĩ và nói các khiếm khuyết của chúng ta, nhưng còn là yêu mến những gì người khác nghĩ và nói.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu

12-Khiêm tốn là đời sống được sống trong sự thật.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu

13-Lòng khiêm tốn dù lớn như thế nào thì cũng không làm cho tâm hồn lo lắng, khuấy động, chao đảo nhưng làm cho tâm hồn được bình an, vui vẻ và yên nghỉ.

Thánh Têrêxa Avila

14-Khiêm tốn là nguồn của mọi yên tỉnh. Thánh Gioan Bosco

15-Khiêm tốn là các đức hạnh như sợi dây của tràng chuỗi: bỏ khiêm tốn đi thì các đức tính khác sẽ biến mất.

Thánh Gioan-Vianê

Marta An Nguyễn dịch

Phanxicovn

May be an image of 1 person

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở 15 lời khuyên của các Thánh lớn để biến ngạo nghễ thành khiêm tốn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Nhiễu Nhương

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Nhiễu Nhương

09/04/2021

Hơn mười năm trước – chính xác là vào hôm 04 tháng 7 năm 2012 – báo Công An Nhân Dân có một bài viết ngắn (“Ấm Lòng Tình Đảng Chan Chứa Lòng Dân”) của nhà báo Hồng Dung, về chuyến đi thăm dân của ông Nông Đức Mạnh, khiến nhiều độc giả phải rơi nước mắt:

“Bà con ùa ra, vây quanh Tổng Bí Thư, chân tình, ngây ngất như đón người thân trở về gia đình. Những cái bắt tay, những nụ cười rạng rỡ. Tất cả tạo nên sự đầm ấm đến nao lòng…”

Tài đức cỡ Nông Đức Mạnh thì được nhân dân tiếp đãi “như đón người thân trở về gia đình” là chuyện tất nhiên, không có gì để phải suy nghĩ (lăn tăn) hay suy diễn (linh tinh) cả.

TBT Lê Khả Phiêu, cũng thế. Tình cảm dân chúng dành cho ông cũng rạt rào đến độ nhà văn Thanh Phong ghi lại được cả một tuyển tập (Mênh Mông Tình Dân) dầy tới 284 trang, và đã được nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành vào năm 2008.

Trong buổi “Lễ Trao Huy Hiệu 70 Năm Tuổi Đảng” cho đồng chí Lê Khả Phiêu, đương kim Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng đã không tiếc lời ca tụng thành tích của người tiền nhiệm: “Chúng tôi luôn học tập ở đồng chí về phương pháp, tác phong làm việc sâu sát, cụ thể và hiệu quả.”

Nói thế chả qua là vì quá khiêm tốn mà thôi, chứ tài ba và đức độ tới cỡ như Bác Trọng thì xưa nay hiếm, nếu chưa muốn nói là vô song, cần chi mà phải học tập hay noi gương ai nữa.

Báo Người Lao Động, số ra ngày 29 tháng 3 năm 2021, vừa hớn hở đi tin (“Đại Biểu Quốc Hội Cảm Động Về Hình Ảnh Của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước”) khiến cả nghị trường đều cảm thấy nức lòng:

  • ĐB Ngọ Duy Hiểu: “Mỗi khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước xuất hiện ở đâu, người dân, cán bộ, đảng viên đều rất vui mừng, phấn khởi, được truyền cảm hứng mạnh mẽ, xây dựng tình cảm cách mạng, tạo sự đồng thuận trong toàn đảng, toàn dân và toàn quân.”
  • ĐB Nguyễn Anh Trí: “Tổng Bí thư, Chủ tịch nướcmái đầu bạc trắng hiên ngang, với gánh sơn hà nặng trĩu hai vai, là trung tâm đoàn kết, là ngọn cờ tập hợp, là người khơi nguồn tự hào dân tộc.”

Thiệt là quá đã, và (hoàn toàn) không có gì quá đáng!

Bác Hồ giữ chức Chủ Tịch Đảng kiêm Chủ Tịch Nước từ ngày 19 tháng 4 năm 1948 cho mãi đến khi chuyển qua từ trần, vào hôm 2 tháng 9 năm 1969. Trong hơn hai mươi năm lèo lái đất nước, Người được dân chúng thương mến và ca tụng cả râu lẫn tóc: Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, râu Bác dài tóc Bác bạc phơ…

Nửa thế kỷ sau, đất nước mới lại xuất hiện thêm một Người Cầm Lái Vỹ Đại mà tóc tai cũng gợi hứng cho giới văn nghệ sỹ. Nhạc phẩm CÓ MỘT MÁI ĐẦU TÓC BẠC do nhạc sỹ Nguyễn Anh Trí sáng tác, Học Viện An Ninh dàn dựng, ca sỹ Viết Danh (và nhóm Tốp Ca HVANQG) trình bầy – vào hôm 28 tháng 3 năm 2021 – đã khiến cho cả nước ngất ngây suốt mấy tuần qua:

Có một mái đầu bạc trắng vinh quang!
Có một con người vì nước vì dân
Những nỗi lo cho đất nước thoát nghèo
Những biển Đông sóng cồn…

Tóc trên đầu ông bạc trắng hiên ngang
Kia nhìn lên mái đầu tóc bạc của ông
Như thấy đỉnh Fanxipan
Như bao lớp sóng biển trùng khơi…

Cùng lúc báo chí nước nhà cũng đều hân hoan và đồng loạt loan tin: NHÂN DÂN VỠ OÀ CẢM XÚC KHI TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÁI ĐẮC CỬ!

Nói nào ngay thì cũng có ít nhất dăm ba “nhân dân” hoàn toàn không có “cảm xúc” gì ráo trọi với bản tin thượng dẫn. Lý do, giản dị, là họ không có cơ hội đi bầu vì đang nằm viện – Viện Tâm Thần.

Xin phép được trích dẫn đôi ba đoạn chính, trong thư đề ngày 28 tháng 3 năm 2021 (THƯ GỬI CÁC THẦY THUỐC CÓ LƯƠNG TRI) của CLB Lê Hiếu Đằng– do T.S Mạc Văn Trang chấp bút – để rộng đường dư luận:

Thưa các Bác sĩ, các nhân viên y tế trực tiếp đem nghề nghiệp phục vụ nhân dân.

Chúng tôi biết rằng, ngoài một số người lợi dụng nghề Y để làm những việc bất chính nhằm trục lợi, số còn lại, các thầy thuốc tuân theo lời thề Hypocrates và những quy định về Y đức của Việt Nam, đều hết lòng vì nhân dân phục vụ.

Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng chúng tôi viết Thư này gửi đến các Quý vị vì nỗi lo lắng, tình trạng Công an đã chuyển một số Tù nhân lương tâm, vốn là những người bình thường trước khi bị bắt, vào Bệnh viện Tâm thần. Gần đây là trường hợp các ông Lê Anh Hùng, Phạm Thành, Trịnh Bá Phương, cụ thể như sau:

1 – Tin cho biết ông Lê Anh Hùng khi từ chối uống thuốc, đã bị nhân viên y tế tại Bệnh Viện Tâm thần trung ương đánh đập dã man, trói chân tay vào giường và cưỡng bức tiêm thuốc tâm thần.

2 – Trường hợp nhà văn Phạm Thành, vợ ông bà Nguyễn Thị Nghiêm, nói với đài VOA: “Ngày 24/11/2020, họ chuyển anh ấy từ trại số 1 Hỏa Lò thuộc Công an thành phố Hà Nội đến Viện pháp y Tâm thần Trung ương ở huyện Thường tín. Ngày 25/11, Điều tra viên báo với tôi rằng như vậy. Trong lòng tôi rất hỗn loạn. Tôi không biết làm thế nào cả”.

3 – Trường hợp ông Trịnh Bá Phương, vợ ông, bà Thu nói với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau: “Là anh Nguyễn Thế Bắc (công an), chỉ thông báo bằng mồm rằng đã trích xuất chồng em đi tới Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương 1 vào hôm 1 tháng 3 năm 2021”…

Chúng tôi hy vọng và cầu mong các thầy thuốc có lương tri hãy không tiếp tay cho tội ác, mà bằng Y đức và chuyên môn của mình, hãy cứu lấy các Tù nhân lương tâm thoát khỏi “thảm kịch tâm thần”. Đó sẽ là Quả phúc của Quý vị do hành nghề lương thiện mà có được.

Xin gửi đến các thầy thuốc có lương tri Niềm tin và Hy vọng.

Sài Gòn, ngày 28/3/2021

TM CLB Lê Hiếu Đằng

Mạc Văn Trang

Tôi được tiểu bang California cấp bằng hành nghề trị liệu tâm thần (license number 17705) từ ngày 20 tháng 11 năm 1995 cho đến khi nghỉ hưu, vào hôm 30 tháng 4 năm 2015. Tôi cũng là bạn FB với anh Trịnh Bá Phương, và là độc giả thường xuyên của nhà báo Lê Anh Hùng cùng nhà văn Phạm Thành, từ nhiều năm qua. Chúng tôi thỉnh thoảng vẫn trao đổi đôi điều tâm sự về những vấn đề thời cuộc. Tuyệt nhiên, tôi không nhận thấy có dấu hiệu bất thường nào nơi họ cả.

Vấn đề, chả qua, là cả ba nhân vật thượng dẫn đều không thích cái thói xu nịnh và đã thẳng thắn nói lên những lời trung thực khiến ông Nguyễn Phú Trọng (và cả giới cầm quyền nghịch nhĩ) nên họ đành phải chịu họa – họa trung ngôn – giữa thời buổi nhiễu nhương. Trong một xã hội mà không có nhân cách người ta vẫn sống (thậm chí còn sống béo tốt hơn) thì những người chính trực bị giam trong Viện Tâm Thần … là phải!

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời Nhiễu Nhương

CÒN ĐÂU TÌNH NGƯỜI NHƯ XƯA…

CÒN ĐÂU TÌNH NGƯỜI NHƯ XƯA…

Mấy ngày nay một số Facebook chia sẻ lại câu chuyện (nghe nói là xảy ra năm 2014) về cô bé “ăn cắp” 2 cuốn sách ở một nhà sách ở Gia Lai. Thay vì cảm thông cho cô bé ham đọc sách, và tặng thêm sách sau khi chỉ bảo điều hơn lẽ thiệt, người ta đã bắt cô bé lại, trói 2 tay vào thành lan can, đeo tấm bảng ghi chữ “Tôi là người ăn trộm” trước ngực, rồi chụp hình và bêu rếu lên mạng xã hội.

Cách làm bất nhơn, không chút tình người của những người quản lý ở đây đã thể hiện phần nào một xã hội không tình không nghĩa, phản giáo dục, đi ngược lại sự tiến bộ, văn minh của loài người. Nói chánh xác hơn thì đây là hành vi man rợ của những con người vô văn hoá, những cái xác biết đi chứ khổng biết cư cử đúng mực con người! Âu con người cũng là sản phẩm của nền giáo dục của xã hội đó!

Chợt nhớ lại câu chuyện cậu bé 14-15 tuổi cũng ăn cắp sách trong tiệm sách Khai Trí của bác Nguyễn Hùng Trương, mà người đời hay gọi là ông Khai Trí. Khi thấy lùm xùm, do nhân viên nhà sách định làm dữ với cậu bé, một vị khách ôn tồn hỏi rõ đầu đuôi câu chuyện, tỏ vẻ khâm phục cậu bé vì học giỏi mà không tiền mua sách nên phải ăn cắp, ông đã ngỏ lời xin tha và trả tiền sách cho cậu.

Ngay lúc đó thì ông Khai Trí bước vào…

“Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

….

Một buổi chiều [sau 1975 khá lâu], người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí, các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm. “Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi. Không ai biết ông ta là ai cả…”

Đọc chuyện xưa, ngẫm chuyện nay mà sao ngao ngán cho cái tình người trong cái xã hội nhiễu nhương này. Chẳng lẽ sau hơn 45 năm “giải phóng”, đạo đức con người, đạo đức xã hội này không có chút tiến bộ nào, ngược lại còn suy đồi đến mức bất nhân?

(Copy từ Sài Gòn trong tim tôi)

Từ Fb LE VAN QUY

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở CÒN ĐÂU TÌNH NGƯỜI NHƯ XƯA…

Người Mẹ Của Biên Giới Sống Và Chết

Người Mẹ Của Biên Giới Sống Và Chết

NGUYỄN TẦM THƯỜNG

 

 

 

Năm 2000 tôi tới giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi tôi. Quay lại nhìn, ngờ ngợ, ai ngờ đâu tôi gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu.

Sáu năm làm việc tại trại tỵ nạn Palawan, Philippines 1989 – 1995, tôi gặp ông ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong khu trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy tráng bánh từ hai giờ sáng, bên vỉa đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy, 1 US dollar được 25 pesos tiền Philippine. Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. Kẻ sách nước, người kiếm củi, ông tráng bánh. Khoảng ba tháng ông góp được hai chục đô la, lại nhờ cha Crawford, một cha già người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào, gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ.

Ông rời cửa biển Cam Ranh ngày 2.9.1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót. Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tầu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước, và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này.

Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe người Tầu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tầu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tầu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặc cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không mất đứa bé, toàn ghe có thể chết. Chiếc ghe đánh cá người Tầu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông cứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Đau thương vì mất con. Con tôi trôi giạt nơi đâu? Vợ chồng mỗi người một ngả. Đứa con mất tích sẽ ra sao. Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi.

Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha già gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công Giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo. Rồi một linh cảm nào đó xui khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già nghe chuyện ông mất con.

Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc của tôi là thu lượm những mẩu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.

Câu chuyện bắt đầu…

Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển vì hơn ba tháng sau mới nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu với nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.

Đó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Những lần giảng trong thánh lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đô la gởi tiếp tế cho vợ.

Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngày nào đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán cho ông. Bao giờ ông mới được định cư? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Đất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết đâu tìm? Bao nhiêu khó khăn như tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ chìm xuống lòng đại dương.

– Tại sao không nhờ Cao Ủy Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Đỏ Hongkong?

Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tầu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu tứ chiếng.

Các thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Ủy Ti Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand. Đợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông cứ dáng điệu buồn bã ngồi bên đường tráng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên nhà thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông nhà thờ bạc vôi sơn và tiếng chuông mỗi chiều là bao.

Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây thánh giá trên nóc nhà thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây thánh giá cũng bạc nước sơn. Những người tỵ nạn đã bỏ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiều ra biển ngồi. Đêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh.

Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến. Hội Hồng Thập Tự Hongkong báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé.

Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tầu ở đầu ghe bên kia vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số ghe đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Đó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam.

Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền mọi sinh hoạt trong gia đình kia là của cháu. Hồi bị bắt cháu còn bé quá, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tầu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột. Để thỏa mãn điều kiện kia, sở di trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trại sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy tỵ nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cũng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng không tin chuyện có thể xảy ra như thế.

Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ nuôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không biết mình. Tất cả ai cũng khóc. Cao Ủy tỵ nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm nhân loại của con người với con người.

Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì chết đói. Hải tặc Thailand tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hãm hiếp, chặt răng vàng, giết. Đối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm?

Đây là lý do:

Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn Độ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin bộ ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế.

Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ bề trên dòng. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Tòa Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh. Một linh mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:

– Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.

Nghe câu nói đó của cha. Tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. Chính vì thế tôi đặt tên cho bài viết này là: Người Mẹ của biên giới sống và chết.

Nghe tiếng người đàn ông gọi. Quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.

Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ nạn. Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện tình này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia. Không ngờ vào ngày lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh bí tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở nhà thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại.

Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi nhà thờ nhỏ miền quê độc nhất. Đêm Noel năm 1985 sau khi đến nhà thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác.

Trong câu chuyện này cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.

Tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi. Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ?

NGUYỄN TẦM THƯỜNG

(Những Trang Nhật Ký Của Một Linh Mục, sách in lần thứ nhất năm 2002)

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Mẹ Của Biên Giới Sống Và Chết

ĐỊNH NGHĨA LÒNG THƯƠNG XÓT

ĐỊNH NGHĨA LÒNG THƯƠNG XÓT

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Hôm nay lễ lòng thương xót Chúa. Thiết tưởng chúng ta cần hiểu lòng thương xót nghĩa là gì? Thương xót nghĩa là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn. Lòng thương xót đối với Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó. Như vậy, lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước những hoàn cảnh khó khăn của dân Chúa.

Lòng thương xót của Chúa không như con người. Vì con người thương xót nhưng có chọn lựa, có tính toán. Cùng hoàn cảnh nhưng chúng ta thương người này và có thể ghét người kia. Thế nhưng, lòng thương xót của Chúa thì trải rộng cho mọi người. Không toan tính. Không chọn lựa. Ngài yêu thương con người bất kể tình trạng luân lý của họ. Bởi vì, Chúa vẫn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.

Thế nên, lòng thương xót của con người chúng ta thì giới hạn. Chúng ta có thể xót thương kẻ cơ hàn. Xót thương những người già yếu, bệnh tật bị bỏ rơi. Xót thương những trẻ nhỏ bị lạm dụng, bị bóc lột nơi cha mẹ hay người nuôi dưỡng. Và chắc chắn chúng ta sẽ chẳng bao giờ xót thương những phường tội lỗi như: trộm cắp, mại dâm, hay tham ô. Chúng ta thường không thương xót họ mà có khi còn nguyền rủa họ.

Lòng thương xót Chúa thì không giới hạn. Ngài yêu thương mà không cần nhìn xem họ là ai? Ngài chỉ bận tâm đến nhu cầu của con người và ra tay nâng đỡ. Thánh Kinh bảo rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được. Thế nhưng, Chúa đã không chấp tội con người, Ngài cũng không giáng phạt theo như tội ta đã phạm. Lòng thương xót của Chúa trải rộng trên con người. Trên người lành cũng như người dữ. Ngài luôn biểu lộ lòng thương xót cho bất cứ ai đến với Ngài. Lòng thương xót ấy không dừng lại ở nơi kẻ yêu Ngài mà còn dành cho cả kẻ ghét Ngài, xỉ nhục và kết án Ngài. Chính trong đau thương khổ nhục mà Ngài vẫn xót thương những kẻ đang hành hạ Ngài khi Ngài cầu nguyện cùng Cha: Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.

Có lẽ với bản tính con người, chúng ta sẽ thù hận kẻ giết hại chúng ta một cách oan uổng. Có lẽ chúng ta cũng kinh tởm kẻ vô ơn, phản bội với chúng ta. Thế mà, Chúa Giê-su dường như không còn nhớ đến tội lỗi của con dân thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đã tha thứ cho kẻ làm nhục Ngài. Ngài cũng tha thứ cho những môn đệ đã bỏ Ngài trong tuần thương khó.

Vâng, khi Chúa sống lại Ngài không tìm ai để trách móc, kêu oan. Và dường như Ngài cũng không bận tâm đến lỗi lầm của các môn sinh. Ngài đã trao bình an cho các môn sinh mỗi khi hiện ra với họ. Ngài biết trong lòng các ông còn một nỗi buồn vì phản bội, vì bỏ rơi Thầy trong gian nguy. Ngài biết sau khi Chúa sống lại lòng các tông đồ còn rối bời hoang mang lo sợ, bất an vì mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội Thầy. Chúa đã biết điều đó nên đã đi bước trước để ban bình an cho các ông.

Sứ điệp lễ lòng Chúa thương xót là sứ điệp của yêu thương. Thiên Chúa vẫn tiếp tục xót thương dân Người. Lòng thương xót của Chúa không bị tội lỗi của con người cản trở mà vẫn đong đầy cho những ai đến với Ngài. Lòng thương xót Chúa vẫn xoa dịu những ai đang bất an vì tội lỗi. Lòng thương ấy vẫn đang chữa lành cho những ai đang đau khổ bệnh tật tâm hồn hay thể xác. Lòng thương xót ấy vẫn là căn tính của Thiên Chúa rất yêu thương và xót thương dân Người.

Ước gì mỗi người chúng ta biết tín thác vào lòng thương xót Chúa cho dẫu chúng ta còn mang đầy những vết thương của yếu đuối lỗi lầm. Hãy để cho lòng thương xót Chúa chữa lành những tật nguyền của chúng ta. Ước gì khi chúng ta đã hưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa thì cũng biết trao ban lòng thương xót ấy cho anh em. Xin Chúa ban cho chúng ta cũng có một tấm lòng bao dung để gạt qua những thành kiến, những đố kỵ, ghen tương mà đón nhận nhau trong yêu thương chia sẻ. Xin Chúa giúp chúng ta cũng trở thành một chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa bằng tình yêu hiến dâng phục vụ tha nhân. Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐỊNH NGHĨA LÒNG THƯƠNG XÓT

Khi thế giới không như ta thấy

May be an image of text that says 'K FACT A AC T'

Khi thế giới không như ta thấy

“Mặt trận truyền thông” là khái niệm được dùng để mô tả cuộc chiến thông tin khi mạng xã hội xuất hiện. Với sự bùng nổ của Internet, các nguyên tắc kiểm duyệt thông tin dần dần bị vô hiệu hóa. Nếu như trước đây mặt trận truyền thông là sự phân tranh giữa trắng và đen, thì nay, một màu xam xám lờ mờ đã xuất hiện.

Năm 2016 – 2020, tin giả xuất hiện. Công thức để chế biến tin giả ngày càng trở nên điêu luyện. Dựa trên một bản tin thật người chế biến tin giả có thể lọc lại hình ảnh, sự kiện, diễn biến để lồng ghép vào các diễn biến xã hội. Hình ảnh là thật, nhưng nội dung, bối cảnh lại là giả dẫn tới thông tin đưa ra là không có thật. Một cách chế biến tin giả phổ biến nhất đó là dẫn nguồn tin bi ẩn kiểu “ông chú Viettel” hay “người ẩn danh ở bên trong bộ máy quyền lực”. Loại tin này thỏa mãn tâm lý hiếu kỳ của quần chúng.

Nếu như ở Việt Nam, khi mạng xã hội chưa lên ngôi, mặt trận truyền thông đơn giản thì là cuộc chiến giữa lề đảng và lề dân thì nay mọi thứ không như thế nữa.

Khi người xem, người nghe, người đọc cho mình quyền quyết định thông tin “muốn” tiếp cận, họ sẽ tự lựa chọn tin tức mà họ muốn “thấy”. Nắm bắt tâm lý này, gam màu xám trên mặt trận truyền thông bắt đầu chiếm ưu thế. Tất cả những tin tức không có lợi, không hợp nhãn đều bị gọi là “tin giả”. Cụm từ fake news xuất hiện được lặp đi lặp lại bởi những lãnh tụ có uy quyền khiến một bộ phận người dân từ chối tiếp nhận thông tin theo bản chất mà nó vốn có. Và để chứng minh càng thông tin thật là giả, người ta đưa các tin giả đã được chế biến ra để làm luận điểm cho bản thân mình.

Trong một thế giới mà con người nghi kỵ, bất mãn, chán chường, việc tự nhốt mình với những thông tin mang tính khích lệ, gây hưng phấn tinh thần để có động lực sống khiến người ta ngày càng chuộng tin giả hơn.

Với số đông quần chúng, họ chỉ muốn nghe, muốn thấy đều họ cần, còn thực tế đối chứng, kiểm tra thì chẳng mấy ai có thời gian để thực hiện. Vì vậy, việc quần chúng phó mặc và bị định hướng thông tin là chuyện thường xảy ra ở các quốc gia độc tài, có cơ chế kiểm duyệt thông tin. Và các quốc gia như Nga, Trung Quốc, Iran, Việt Nam sẵn sàng đổ tiền, lên chiến lược, kế sách để phát tán tin giả hòng chứng minh với dân chúng rằng “đừng mơ mộng, hy vọng hão huyền vào các giá trị dân chủ, tự do”. Từng ngày một, chiến lược tin giả khiến quần chúng rơi vào mộng mị. Và khi thế giới không như họ thấy, thì dân chúng ngoan ngoãn, xếp re trở thành những con chiên hiền lành dễ bảo.

Không phải ai cũng có khả năng kiển chứng thông tin nên nạn nhân của tin giả rất đa dạng. Sự thông cảm có thể được giành cho các nạn nhân không có cơ hội tiếp cận nguồn tin đa chiều, nhưng tuyệt đối không thể cảm thông với những người cố tình tiếp tay phát tán tin giả vì muốn quần chúng nhìn thế giới theo cách mà họ muốn.

Vì thế nếu ai đó bảo rằng tôi hãy thông cảm cho những người phát tán tin giả, câu trả lời của tôi là KHÔNG BAO GIỜ. Bởi chính những kẻ phát tán tin giả chính là nguồn cơn hủy hoại niềm tin và các giá trị tự dân chủ và sự thật.

P/s: Sự thật và dối trá đôi khi chỉ xê xích nhau chút xíu. Quan trọng là bạn chọn cách tiếp cận và chấp nhận ra sao mà thôi. Thế giới vốn không như ta thấy, nhất là khi người có thể điều khiển thế giới ấy là những kè độc tài mị dân.

Ảnh minh họa: Internet

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Khi thế giới không như ta thấy

LÝ THUYẾT CON GIÁN

LÝ THUYẾT CON GIÁN

Một con gián, không biết từ đâu, bay vào nhà hàng và đậu lên vai một quý bà.

Quý bà vô cùng hoảng hốt. Khuôn mặt sợ đến tái mét, bà vừa la hét, vừa nhảy ra khỏi ghế ngồi, cố lắc thật mạnh để tách con gián ra.

Con gián bay sang đỗ lên vai một quý bà khác. Quý bà này cũng sợ hãi không kém và tạo ra một sự hỗn loạn còn lớn hơn.

Và cứ thế, con gián chuyền từ người này sang người khác. Sự hỗn loạn ngày càng gia tăng.

Cuối cùng người bồi bàn cũng chạy tới. Anh lấy chiếc khăn xua nhẹ và con gián vô tình bay sang vai anh. Rất bình tĩnh, anh chậm rãi đi ra cửa, rồi chạm nhẹ vào nó. Con gián tự bay ra vườn. Sự hỗn loạn kết thúc”.

Sundar Pichai đúc kết:

“Nhìn qua, chúng ta dễ lầm tưởng rằng, sự hỗn loạn là do con gián mang lại. Nhưng qua cách xử lý của người bồi bàn, chúng ta hiểu là không phải thế. Sự hỗn loạn thực tế đã được tạo ra bởi những hành động của các quý bà đối với con gián, chứ không phải bản thân con gián”.

Trong cuộc sống, những chuyện ta không mong muốn vẫn luôn xảy ra. Chẳng hạn, nhỏ thì như chuyện: cơm sống, canh mặn; hoặc lớn hơn như chuyện: trẻ con hàng xóm đánh nhau hay anh chồng nhậu say xỉn… Bản thân chúng chưa phải là vấn đề; chính thái độ và cách xử lý không thích hợp của chúng ta mới thực sự biến chúng thành vấn đề.

St

May be an image of outdoors and text
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở LÝ THUYẾT CON GIÁN

Nhiều lợi ích khi tha thứ, tại sao không? & Hẹn gặp Ngài ở đâu, lúc nào và để làm gì?-Lm. Micae Phạm Quang Hồng

Nhiều lợi ích khi tha thứ, tại sao không? Cha Phạm Quang Hồng

Hẹn gặp Ngài ở đâu, lúc nào và để làm gì?-Lm. Micae Phạm Quang Hồng

Đăng tải tại NHẠC CẢNH, TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhiều lợi ích khi tha thứ, tại sao không? & Hẹn gặp Ngài ở đâu, lúc nào và để làm gì?-Lm. Micae Phạm Quang Hồng

Nhà thơ người Chăm từng tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội, mất tích sau khi bị công an mời làm việc

Nhà thơ người Chăm từng tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội, mất tích sau khi bị công an mời làm việc

RFA.ORG

Một nhà thơ người Chăm mất tích 2 ngày sau khi bị công an mời lên làm việc. Bạn bè và gia đình của nhà thơ cho phóng viên Đài Á Châu Tự Do biết như vậy hôm 9/4.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhà thơ người Chăm từng tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội, mất tích sau khi bị công an mời làm việc