Thiên Đàng là gì? & Chết thiêu thì khi sống lại sẽ thế nào?-Lm. Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ

Thiên Đàng là gì? – Lm. Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ

LM. Vinhsơn Nguyễn Thế Thủ: Chết thiêu thì khi sống lại sẽ thế nào?

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiên Đàng là gì? & Chết thiêu thì khi sống lại sẽ thế nào?-Lm. Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ

TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Bang Uong

TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Nhiều người hay than thở rằng cuộc đời này thật bất công. Thực ra, nếu suy ngẫm kỹ, bạn sẽ nhận ra rằng những thứ quý giá nhất trên đời này đều miễn phí. Cuộc sống vốn đơn giản, chỉ có điều chúng ta luôn làm cho mọi thứ phức tạp lên mà thôi.

* Ánh sáng mặt trời là miễn phí

Trên thế gian này, không sinh vật nào có thể sống sót nếu thiếu ánh mặt trời. Thế nhưng có ai từng phải trả một đồng nào cho thứ ánh sáng kỳ diệu đó chưa?

* Không khí là miễn phí

Phật dạy mạng người mong manh như hơi thở. Chúng ta có thể nhịn ăn vài tuần mà không chết, chúng ta có thể chịu khát được một vài ngày, nhưng chỉ nhịn thở vài phút là chúng ta sẽ chết. Chúng ta đang được hít thở không khí miễn phí nhưng lại coi đó là đương nhiên và không trân trọng, bởi vậy nên chúng ta thản nhiên phá hại môi trường, làm ô nhiễm bầu không khí chung. Có khi nào bạn ngồi thư giãn hít thở dưới tán cây xanh? Hãy tri ân nếu bạn đang có không khí trong lành miễn phí để thở hàng ngày.

* Tình yêu thương là miễn phí

Mỗi người chúng ta đều trần trụi khi đến với thế gian này và đều nhận được sự che chở vô bờ bến của cha mẹ, một thứ tình thương không mong báo đáp in sâu trong máu thịt. Nhưng không có người cha mẹ nào nói với con mình rằng: “con cho mẹ tiền mẹ mới thương con”.

Tình yêu thương này của cha mẹ, sẽ không giảm giá trị vì bạn đã trưởng thành, càng không mờ nhạt vì họ đã già đi, chỉ cần cha mẹ còn sống ở trên đời này, bạn vẫn nhận được tình yêu thương này trước sau như một. Nếu bạn đang được sống trong tình yêu thương của gia đình, người thân, hãy biết ơn điều đó.

* Tình bạn là miễn phí

Người âm thầm ở bên cạnh bạn khi bạn cô đơn, người giơ cánh tay ra đỡ bạn khi bạn ngã, người cho bạn dựa vào vai an ủi bạn khi bạn đau lòng, người luôn sẵn sàng xuất hiện mỗi khi bạn cần giúp đỡ, thế nhưng người đó có bao giờ đổi những thứ đã cho đi thành tiền mặt, sau đó kêu bạn trả không?

* Nụ cười

Mọi người vẫn thường nói: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, nụ cười đem đến rất nhiều lợi ích: giảm căng thẳng, tăng hưng phấn, khiến mọi người thêm gần gũi và yêu thương nhau hơn… Và đặc biệt, không ai “đánh thuế” nụ cười cả, vậy tại sao chúng ta không cùng cười thật tươi hằng ngày để cho cuộc đời thêm vui nhỉ?

* Những cái ôm nồng ấm

Một điều cực kì tuyệt vời nữa trong cuộc sống bạn có thể thoải mái trao và nhận, đó chính là những cái ôm. Bạn đâu có phải trả phí khi muốn ai đó ôm mình hay muốn ôm người bạn yêu thương đúng không? Vậy còn chần chừ gì nữa mà không thoải mái thể hiện tình cảm chân thành nhất của bản thân với những cái ôm.

* Những kỉ niệm đẹp

Có những ký ức đẹp có thể tiếp thêm động lực cho chúng ta vào những lúc khó khăn hoặc bất cứ khi nào cần, nó hoàn toàn miễn phí. Thay vì tiếc nuối quá khứ đã qua, hãy để những kỷ niệm đẹp cho chúng ta thêm niềm tin yêu cuộc đời.

* Hy vọng là miễn phí

Bất luận bạn đang giàu có hay nghèo đói, bạn đều có thể đặt ra mục tiêu riêng cho cuộc đời mình. Mục tiêu này có thể là vĩ đại, cũng có thể là bình thường, giản dị, chỉ cần bạn cảm thấy bằng lòng với nó là đủ rồi.

Còn có gió xuân, thì còn có mưa phùn, còn có ánh trăng trong vắt, thì còn có các vì sao lấp lánh trên trời…

Vậy nên bạn đừng có than thở nữa, hãy quan sát cuộc sống để thấy những điều tốt đẹp luôn hiện hữu. Hãy tri ân cuộc sống và hân hưởng những gì mình đang có.

ST

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

CHÚA GIÊSU VÀ ĐỨC PHẬT CÓ PHẢI LÀ 1? – LM Nguyễn Thiết Thắng

CHÚA GIÊSU VÀ ĐỨC PHẬT CÓ PHẢI LÀ 1? | LM Nguyễn Thiết Thắng Giải Đáp CÂU HỎI HÓC BÚA trong MÙA VỌNG

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở CHÚA GIÊSU VÀ ĐỨC PHẬT CÓ PHẢI LÀ 1? – LM Nguyễn Thiết Thắng

Người phu xe hiếm có

Người phu xe hiếm có

Tinh thần quốc dân của người Nhật qua chuyện “Người phu xe hiếm có”

Phan Bội Châu

Cuối năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ dành dụm được vài đồng bạc làm hành phí để lên Tokyo tìm cho được anh học sinh Trung Quốc, quê Vân Nam có tên Ân Thừa Hiến. Xuống khỏi xe lửa, 2 người gọi một phu xe và đưa danh thiếp “Ân Thừa Hiến” ra. Người phu không biết chữ Hán bèn đi tìm một đồng nghiệp khác biết chữ. Người này viết chữ trao đổi: “Bạn tôi không thông chữ Hán nên tiến tôi với các ông. Tôi biết chữ Hán nên nếu muốn đi đâu, các ông cứ viết chữ ra là tôi đưa các ông tới”.

Nói rồi, người phu đưa 2 ông tới Chấn Võ Học Hiệu, hỏi học sinh Ân Thừa Hiến. Té ra anh này đang thuê nhà nơi khác chờ qua năm, không ai biết ở đâu.

Người phu xe nghĩ một lúc rồi kéo xe vào bên đường và nói: “Các ngài hãy cứ chờ tôi ở đây vài ba tiếng, tôi đi tìm chỗ ở của người đó, rồi sẽ quay lại”.

Đứng chờ từ 2h đến 5h chiều, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ nghĩ, Tokyo quá rộng, lữ quán có muôn nhà, tìm chỗ ở một học sinh Tàu, gốc Vân Nam chỉ biết tên thiệt không lấy gì làm chắc, nếu cùng một nết với dân Việt, e sẽ khốn nạn với vấn đề tiền nong… Ai dè sau 3h, anh phu xe mừng rỡ chạy về, dắt hai người đi thêm 1 tiếng, đến một lữ quán có treo biển với hàng chữ “Thanh quốc Vân Nam lưu học sinh Ân Thừa Hiến”.

Giờ mới hỏi đến tiền công, anh phu nói: “Hai hào năm xu”. Phan Bội Châu làm lạ, rút một đồng bạc ra trao và tỏ tấm lòng đền ơn. Người phu xe đáp lại khảng khái: “Theo quy luật Nội vụ sảnh đã định thì từ nhà ga Tokyo đến nhà trọ này, giá xe chỉ có ngần ấy. Vả lại các người là ngoại quốc, yêu mến văn minh nước NHẬT mà đến đây; Vậy ta nên hoan nghênh các vị, chứ không phải hoan nghênh tiền bạc đâu. Bây giờ, các người cho tôi tiền xe vượt quá lệ, thế là khinh bạc người NHẬT BẢN đó!”.

Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ tạ ơn người phu xe đáng kính, lòng thêm tủi!

Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta xem với người phu xe Nhật Bản, chẳng dám chết thẹn lắm hay sao!

(Tự phán, Phan Bội Châu)

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Người phu xe hiếm có

Lợi ích của đọc sách

Lợi ích của đọc sách

Có một chú tiểu sống trên núi cùng với sư phụ tại một ngôi chùa nhỏ, cậu bé rất chăm chỉ làm các việc đã được giao phó như gánh nước, nấu cơm, quét dọn bụi bặm… nhưng riêng việc đọc sách cùng sư phụ là cậu không hào hứng cho lắm.

Trong khi đó, ngày nào sư phụ cũng không quên nhắc cậu đọc sách, cậu thắc mắc: “Tại sao chúng ta phải đọc nhiều sách như vậy, con thấy việc đọc sách có ích gì đâu?”.

Sư phụ nghe vậy bèn mỉm cười nói với cậu ngày mai hãy mang cái giỏ dính đầy than bẩn để xách nước thay vì cái thùng hay xách bấy lâu nay. Chú tiểu mặc dù không hiểu nhưng vì đó là yêu cầu của sư phụ nên chú đành nghe và làm theo. Ngày nào cũng mang cái giỏ đi để xách nước nhưng bao nhiêu nước cũng chảy hết qua cái lỗ trên giỏ, không thể mang chút nước nào về nhà.Khi cậu thắc mắc về việc này thì sư phụ nói hãy cứ tiếp tục và cậu vâng lời nhưng chẳng được bao lâu. Nỗi thất vọng ngày càng lớn khi ngày nào cũng phải làm việc vô ích này khiến cậu chán nản, đến khi không chịu được nữa cậu nói với sư phụ rằng từ ngày mai mình sẽ không đi xách nước nữa.

Sư phụ mỉm cười, bảo chú tiểu lấy cái giỏ ra đây và ôn tồn nói: “Con nghĩ việc làm của con là vô ích sao? Hãy nhìn thử xem, cái giỏ này trước kia đựng than đen nhẻm nhưng từ ngày con lấy nó để xách nước nó đã sạch trong không còn lấm lem vết than như xưa nữa.

Việc đọc sách cũng vậy, lợi ích của nó không thấy được bằng mắt, không phải ngày một ngày hai để mong thành công nhưng không có nghĩa là quá trình này trải qua vô nghĩa. Con đọc một quyển sách mỗi ngày, tâm hồn sẽ được rửa trôi một ít, đến khi đủ thì sẽ sạch bong như cái giỏ than này”.

Chú tiểu hiểu ra, thầm cảm ơn sư phụ và từ đó không còn chán ghét việc đọc sách nữa.

Nhìn chung có rất nhiều lợi ích của đọc sách như để giải trí, để có thói quen lành mạnh, hoàn thiện kỹ năng viết, nâng cao kiến thức, kích thích tinh thần, cải thiện trí nhớ… Thế nhưng hầu hết chúng ta né tránh chúng chỉ vì một chữ LƯỜI và bao biện rằng không có thời gian, trong khi họ chỉ cần 20-30 phút mỗi ngày để cho não mình được “ăn” mà họ không chịu thực hiện.

Cơ thể chúng ta muốn nạp năng lượng thông qua việc tiêu thụ thức ăn, còn não của chúng ta cũng vẫn hàng ngày cần “ăn” nhưng ta chẳng bao giờ chịu chăm sóc chúng.

Có hai cách để bạn có được kiến thức: một là tự học, tự đọc và tìm hiểu, cách thứ hai là có một người thầy chỉ dẫn. Sách chính là người thầy tuyệt vời mà bao lâu nay vẫn sẵn sàng ở bên chúng ta nhưng không phải ai cũng nhận ra.

Nếu bạn phải học qua thực tế, qua vấp ngã của chính mình thì điều đó không chỉ gây đau đớn mà còn tốn rất nhiều thời gian. Cách để giảm bớt rủi ro và rút ngắn thời gian đó là thông qua sách vở.

Đọc sách như là một cách để trò chuyện với những bộ não vĩ đại nhất trên thế giới này khi họ đã ghi ra những kiến thức, hiểu biết của mình vào những cuốn sách sống mãi với thời gian.

Sách là tri thức lưu truyền mãi cho thế hệ về sau, là những công trình nghiên cứu, là nguồn kiến thức tuyệt vời trong mọi lĩnh vực. Vì vậy đừng nghi ngờ về ý nghĩa của việc đọc sách, hay có suy nghĩ chúng chẳng có tác động gì đến cá nhân bạn cả.Không có quyển sách nào vô ích cả, tiểu thuyết, sách văn học, sách kinh doanh, sách dạy kỹ năng mềm, sách hội họa, âm nhạc, lịch sử… đều cho ta những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống này. Bằng một cách vô tình nào đó, tất cả đều tác động đến nhân cách cũng như cuộc sống mỗi người chỉ là chúng ta không nhận ra điều đó mà thôi.

S.T.

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Lợi ích của đọc sách

Anna Nguyễn từ CH Czech và hành trình tìm bản thân trong môi trường đa văn hóa

Anna Nguyễn từ CH Czech và hành trình tìm bản thân trong môi trường đa văn hóa (BBC)

4 tháng 12 2021

Cuốn ‘Outsider’ (Người ngoài cuộc) của Anna Nguyễn kể về trải nghiệm lớn lên trong gia đình gốc Việt ở Czech, và quyết định sang Mỹ để theo đuổi thành công của cô

Anna Nguyễn, cô gái trẻ người Czech gốc Việt, là một công dân toàn cầu đúng nghĩa.

Sinh ra ở Praha, Czech trong một gia đình Việt Nam, học trường trung học Anh ở Việt Nam một năm, học đại học ở Nam California và có từng sống và làm việc ở TP HCM, Thụy Sỹ, London và Los Angeles.

Khi 10 tuổi, Anna là nữ diễn viên nhí gốc Á đầu tiên xuất hiện trên truyền hình Czech, với một vai diễn trong bộ phim truyền hình nhiều tập Josef a Ly.

Từng giữ vị trí Giám đốc Điều hành cho một số hãng startup công nghệ ở Los Angeles và London, Anna Nguyễn vừa cho ra đời một cuốn tự truyện mang tên “Outsider” (Người ngoài cuộc). Cuốn sách viết về trải nghiệm sinh ra và lớn lên như một người Czech gốc Việt của cô.

Trong loạt bài về phụ nữ gốc Việt sinh sống ngoài Việt Nam, BBC News Tiếng Việt có cuộc trao đổi với cô bằng tiếng Anh vào cuối năm 2021.

Để thành đạt ở Phương Tây cần điều gì?

Phụ nữ VN: Tự lực vượt qua ma tuý

BBC: Lớn lên trong môi trường đa văn hóa, bạn coi trọng điều gì nhất về văn hóa gốc Việt của mình?

Anna Nguyễn: Đạo đức làm việc và thói quen không coi mọi chuyện nghiễm nhiên mà có là điều mà tôi học tập được ở gia đình tôi, những người di dân, và tôi rất biết ơn họ về điều này. Tôi cũng học được rằng mình phải ân cần với mọi người và quan tâm đến người thân. Tôi tin rằng văn hóa châu Á coi trọng điều này hơn văn hóa phương Tây và tôi rất may mắn là đã lớn lên trong văn hóa đó.

Anna Nguyễn là người sáng lập Saigon Comic Con ở Việt Nam hồi 2014

BBC: Sinh ra và lớn lên ở Cộng hòa Czech, bạn có gặp khó khăn, thách thức gì không?

Anna Nguyễn: Tôi rất tự hào về nơi mình sinh ra và tôi coi mình là người Czech. Tất nhiên nếu bạn lớn lên ở một nơi mà 99% người dân là gốc Âu, bạn sẽ khác biệt và sẽ bị hỏi những câu hỏi về các chuẩn mực văn hóa và gia đình bạn sống ra sao. Chằng hạn, chúng tôi có ăn bằng đũa không và có ăn nhiều cơm không. Tôi viết nhiều về chuyện đó trong cuốn tự truyện của mình. Tôi không thể nói là mình có trải nghiệm nào tồi tệ ở trường hay ngoài xã hội.

Tôi nghĩ vấn đề tôi gặp là xung đột giữa những gì mọi người trông đợi ở tôi ngoài xã hội và những gì bố mẹ trông đợi vào tôi ở nhà, vì cha mẹ tôi có những giá trị khác với bạn bè và thầy cô giáo tôi.

Vì thế tôi thường hỏi tại sao tôi lại phải theo những quy tắc khác với bạn bè? Tại sao tôi không được đi chơi khuya như các bạn?

Anna Nguyễn khi bốn tuổi. Bé Anna thường ở nhà tự chơi một mình khi bố mẹ đi làm.

BBC: Vì sao bạn quyết định viết cuốn “Outsider”?

Anna Nguyễn:Tôi được truyền cảm hứng từ những câu chuyện của người nhập cư ở Mỹ. Ở Mỹ, chuyện bạn là người nhập cư hay con cháu của người nhậu cư là rất phổ biến, và các nền văn hóa nhập cư cũng vậy. Nhưng ở Cộng hòa Czech, không có lịch sử với nhiều thế hệ di dân nên tôi không thể nói ra những gì tôi cảm thấy hay tìm được nhiều người đồng cảm với việc ‘khác biệt’ cho tới khi tôi chuyển tới Mỹ học đại học.

Khi đó tôi nhận ra câu chuyện của tôi là rất giống với nhiều người ở Mỹ. Vậy là tôi có cảm hứng viết cuốn sách mang tên “Outsider” (Người ngoài cuộc), một cuốn tự truyện nói về trải nghiệm cá nhân và nghề nghiệp của tôi, và về danh tính của tôi đã thay đổi ra sao trong các môi trường khác nhau cũng như hành trình tìm bản thân của tôi. Tên của cuốn sách tóm tắt trải nghiệm của tôi – cảm thấy như người ngoài bất kể tôi sống ở đâu.

BBC: Bạn về thăm Việt Nam lần cuối là bao giờ? Bạn nghĩ gì về đất nước và con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ?

Anna Nguyễn: Tôi về thăm Việt Nam lần cuối là 2016 trước khi có dịch Covid. Tôi thấy điều hứng thú nhất ở Việt Nam là số người trẻ ngày càng lớn – điều mà các nước phương Tây không có. Tầng lớp trung lưu ngày một lớn và dân số rất trẻ thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn, có nhiều cải tiến trong công nghệ và nói chung đẩy nền văn hóa về phía trước. Tôi rất tin vào việc bỏ đi những truyền thống không còn có ý nghĩa và không có mục đích đúng đắn (đặc biệt là những truyền thống làm hạn chế quyền của phụ nữ).

Anna Nguyễn với vai diễn đầu tay trong bộ phim truyền hình nhiều tập Josef a Ly

Tôi tin rằng thế hệ trẻ có đầy đủ công cụ và sức mạnh để đưa xã hội tiến lên. Về phương diện công nghệ, tôi rất thích thú là có nhiều hoạt động gaming và blockchain đến từ Việt Nam. Là một người làm trong lĩnh vực tech, tôi rất có ấn tượng bởi các dự án như Axie Infinity. Trong cuốn ‘Outsider’, tôi dành hẳn một chương để viết về trải nghiệm là một Việt Kiều điều hành một công ty ở Việt Nam, và thời gian tôi sống ở Việt Nam lần đầu tiên khi tôi 15 tuổi – tôi học một trường của Anh ở đó trong một năm.

BBC: Bạn có thông điệp gì cho thế hệ người Việt thứ hai – những người gốc Việt sinh ở nước ngoài, mang hai dòng máu hay chuyển sang sống ở nước ngoài từ khi còn rất nhỏ?

Anna Nguyễn:Tôi nghĩ điều quan trọng nhất chúng ta nên làm là tự tìm hiểu về bản thân. Hãy phát hiện ra bạn là ai, bạn thích điều gì, hãy sẵn sàng bỏ đi những chuẩn mực văn hóa hay thói quen văn hóa không phù hợp với bạn vì bạn lớn lên ở một xã hội không giống như cha mẹ bạn. Hãy tôn trọng tất cả các nền văn hóa nhưng hãy linh hoạt. Tôi không tin vào chuyện yêu nước thái quá và theo các tiêu chuẩn cứng nhắc, nhất là trong một thế giới toàn cầu.

Chúng ta có thể làm theo một số chuẩn mực văn hóa và thói quen được truyền từ các thế hệ trước nhưng chúng ta cũng có khả năng sáng tạo và làm thay đổi nền văn hóa hiện tại. Vậy nên chúng ta nên tạo ra văn hóa mà kể cả những người như tôi – người lớn lên trong môi trường đa văn hóa và không cảm thấy mình thuộc về nhóm nào – cũng cảm thấy mình thuộc về nó.

Anna Nguyễn tại trường quay phim truyền hình Czech ‘Sever’. Cô đóng vai một thám tử Việt Nam điều tra cái chết của một người đàn ông Việt. Trong hình, Anna khám phá camera trong giờ nghỉ trưa

BBC: Bạn muốn làm gì để giúp thế giới này tốt đẹp hơn? Làm một nhà văn chẳng hạn?

Anna Nguyễn: Tôi muốn là chính mình – đạt được tiềm năng của mình như một doanh nhân, theo đuổi những gì làm cho tôi hạnh phúc và không theo các quy tắc chỉ vì mọi người bảo tôi phải làm thế (nhưng tất nhiên tôi vẫn là người tốt và tôn trọng người khác). Tôi cho rằng quá nhiều người sợ không dám sống theo ý mình vì họ sợ xã hội sẽ nghĩ gì về họ. Tôi tin rằng cách tốt nhất tôi có thể tác động đến thế giới là sống cuộc đời của mình mà không phải lo về chuyện làm theo ý người khác, và cho mọi người thấy rằng hoàn toàn có thể, và OK khi bạn khác biệt và ưu tiên bản thân và hạnh phúc của bản thân.

Cuốn ‘Outsider‘ của Anna Nguyễn được xuất bản bằng tiếng Czech cách đây hai tháng, cả sách giấy và e-book. Cô hy vọng cuốn sách sẽ được độc giả Czech đón nhận và một ngày có thể được chuyển ngữ sang các tiếng khác.

Là một doanh nhân ‘từ trong máu’, Anna cũng đang theo đuổi một ý tưởng startup mới mà cô nói cô chưa thể chia sẻ ngay lúc này.

Đăng tải tại Tin Cộng Đồng | Chức năng bình luận bị tắt ở Anna Nguyễn từ CH Czech và hành trình tìm bản thân trong môi trường đa văn hóa

Điếu Thuốc Ba Tôi …- Văn Mỹ Lan

Van Pham

Câu Chuyện Cuối Tuần – Bạn nhận ra điều gì trong câu chuyện ngắn và giản dị này?

***

Điếu Thuốc Ba Tôi …

Văn Mỹ Lan,

Mấy em tôi gọi điện thoại qua mét, giọng bực bội:“Chị nói với Ba. Ổng bệnh vậy mà cứ lén hút thuốc hoài.”

Ba tôi đã trên 85 và đang bị ung thư gan. Ai cũng nói ung thư gan sẽ đi rất nhanh. Ba tôi đã chuẩn bị tinh thần. Má tôi và chị em tôi cũng đã chuẩn bị tinh thần cả rồi nhưng ba vẫn kiên cường trụ được hơn ba năm dù lâu lâu phải cấp cứu. Bản thân tôi đã hơn ba lần bay về để tiễn biệt ba.

Tụi nó mét tôi vì nghĩ rằng tôi là chị lớn, lại là người cung cấp tài chánh cho ông cụ mấy chục năm nay. Chúng tin là tôi có uy tín với ông nhất.

Tôi hỏi lại:” Lén hút là sao?”

– Thì tụi em không cho ba hút thuốc sợ ông ho mà ông cứ lén hút hoài. Đã vậy má còn đồng loã, bả còn canh tụi em cho ổng hút nữa.

Tôi bật cười. Bà già tôi luôn có lối suy nghĩ và hành xử không giống bà già nào trên cõi đời. Tôi khoái bà chỗ đó! Tôi hỏi:

– Ba hút thuốc gì?

– Ổng khoái nhất là Marlboro á. Ổng cứ nói thuốc này nhẹ hều, hút chút có sao .

Tôi gọi điện về cho má, vừa cười vừa hỏi:

– Bộ má canh tụi nó cho ba hút thuốc hả?

Nghe tiếng cười đồng loã của tôi, bà mạnh dạn nói:

– Ờ. Thì tao hỏi bây ổng đã gần chín mươi rồi. Nếu ổng không bệnh thì cũng không biết ổng” đi” ngày nào. Gần chết tới nơi rồi còn bày đặt kiêng cử làm gì. Còn sống ngày nào cứ để cho ổng sướng ngày đó đi.

Tôi về thăm ba sau lần nói chuyện với má, quà cho ông là hai cây thuốc lá mua ở phi trường. Má tôi vội đem thuốc vô phòng dấu. Ba tôi nhìn thấy hai cây thuốc lá cười rạng rỡ cứ như tôi ngày nào còn bé, được ông mua cho chiếc xe đạp mini đi học.

Sướng nhất với ông là tôi để ông hút thoải mái, không cần phải giấu đút. Mà tôi đã không cự nự thì đố đứa nào dám nói. Từ hôm đó ông cứ hút công khai, chẳng cần phải dụi ngang điếu thuốc khi có đứa con nào bất chợt xuất hiện.

Mấy em biết được chị cho ba hút thuốc, có đứa bất mãn ra mặt. Có đứa còn dám nghĩ tôi mong ông cụ đi sớm để khỏi phải nuôi.

Rồi có lần ông rất khoẻ, ông đòi đi tắm biển. Ông muốn nghe tiếng sóng biển ầm ì,hương biển tanh tanh mùi cá, vị biển mằn mặn trong gió.

Lần đó bọn tôi mướn một nhà sát biển ở. Sáng sớm khi con cái còn say giấc, ông cụ cởi trần ra biển bơi. Mấy đứa con lại la ầm lên: “Ba ra biển bơi sớm vậy, rủi có gì rồi ai hay?”

Ba tôi nói: “Có gì thì vớt xác ba lên chôn. Có chi mà ầm ĩ”.

Má tôi bênh chồng: “Ổng đang bơi, đang sướng mà “đi luôn” là sướng tới chết rồi còn gì. Có chi đâu mà ầm ĩ.”

Cứ đụng tới cách hành xử hơi trái khuấy của ba tôi là nhà tôi chia hai phe. Tôi với má cùng phe. Mấy đứa con ít chăm sóc trực tiếp hay nuôi dưỡng lại cùng một phe.

Má tôi nói: “ Mấy đứa không thức đêm thức hôm chăm ông già, không nặng gánh cơm áo gạo tiền thuốc men thì tụi nó phải la to hơn để thể hiện sự quan tâm, thể hiện cái lòng hiếu thảo. Nói đại một câu cho sướng miệng lại được tiếng quan tâm tới cha mẹ thì ngại gì không nói.

Tao bảo ổng cứ kệ tụi nó, thích làm gì thì cứ làm, muốn ăn mặn ngọt thế nào thì cứ ăn. Không cần kiêng cử gì cả nhưng ông cứ sợ đứa này la, đứa kia nói. Phải nói là cha mẹ già lại thích sợ con hơn ngày xưa con sợ cha mẹ nha. Khi bị con rầy la, cái miệng các cụ thì than chứ cái bụng cũng thấy sướng sướng. Nó la vẫn còn hơn nó không thèm nói đụng tới, ngó ngàng tới.

Ông cứ kể thằng Khanh nó không cho tôi đi chụp hình, muốn đi là phải trốn mà đi. Con Lan không cho ăn nhiều mỡ sợ khó tiêu, con Liên bắt phải vận động sợ cứng khớp…

Ba tôi hút thuốc nên ho nhiều hơn. Mấy em tôi nhờ bác sĩ khuyên can ông nhưng bác sĩ nói :’ Hút nhiều là ho nhiều cụ nhá.” Ông trả lời: “Ho cũng khổ mà nhịn cũng khổ bác sĩ ơi. Ho thì khổ lúc ho thôi, nhịn thì khổ suốt ngày đó bác sĩ à”.

Bác sĩ cười, chịu!

Rồi một ngày ba tôi đi nhẹ nhàng không phải vì ung thư, cũng không phải vì thuốc lá hay bơi sớm mà chết đuối dưới nước. Ông đi vì ông đã như một cây đèn cạn dầu nên thôi không cháy nữa. Vậy thôi!

Trên bàn thờ ông lúc nào cũng có một cây Marlboro. Mấy đứa con hay cấm ông hút thuốc giờ hay đến đốt một điếu thuốc lá cắm lên bàn thờ cho ông. Má tôi nhìn mà không nói gì!

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở Điếu Thuốc Ba Tôi …- Văn Mỹ Lan

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

Trên đời có 3 thứ làm ta đau khổ: Rượu ngon làm ta mất trí, tiền nhiều làm ta bất chính, vợ đẹp làm ta đau khổ

J.P. Sartre

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

Ông đã để lại cho chúng ta 4 lời phát biểu như sau:

1.Không có gì là vĩnh cửu trong cái thế giới này,kể cả những phiền muộn của chúng ta.

2.Tôi thích đi dạo dưới trời mưa,vì không ai có thể nhìn thấy tôi rơi nước mắt.

3.Ngày mất mát nhiều nhất trong đời là ngày chúng ta không cười.

4.Có 6 vị bác sĩ giỏi nhất trên thế giới là:

-Mặt trời.

-Sự nghỉ ngơi.

-Thể dục.

-Ăn kiêng.

-Lòng tự trọng.

-Bạn hữu.

Hãy thực hiện 4 điều đó trong tất cả giai đoạn của cuộc đời mình và hãy tận hưởng cuộc sống khỏe mạnh..

Nếu bạn nhìn thấy mặt trăng, bạn nhìn thấy vẻ đẹp của Thượng đế…

Nếu bạn nhìn thấy mặt trời, bạn nhìn thấy sức mạnh của Thượng đế…

Nếu bạn nhìn thấy tấm gương, bạn nhìn thấy tác phẩm đẹp nhất của Thượng đế.

Hãy tin điều đó, tất cả chúng ta là những du khách, Thượng đế là hãng lữ hành của chúng ta, người xác định lộ trình, đặt chỗ, nơi đến…

Hãy tin Thượng đế và tận hưởng cuộc sống.

Cuộc đời là một chuyến lưu hành, vì vậy hãy sống cho ngày hôm nay…

Ngày mai có thể sẽ không đến.

St.

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

Việt Nam: Dã man vô nhân tính không có điểm dừng!

Việt Nam: Dã man vô nhân tính không có điểm dừng!

Mấy hôm nay trên báo chí và mạng xã hội xôn xao nhiều chuyện. Trước hết là chuyện một cô bé 17 tuổi lấy trộm chiếc váy trong một cửa hàng ở Thanh Hoá. Không bị bắt tại trận nhưng có lẽ phát hiện sau đó qua camera, chủ tiệm đã đăng lên đe doạ sẽ báo công an. Cô bé đã đến xin lỗi và mong được đền tiền chiếc váy. Thế nhưng cô bé đã bị đánh đập tàn nhẫn, bị cắt áo lót bằng kéo và bị yêu cầu đền bù 10 triệu. Dã man!

Dù biết hoàn cảnh cô bé rất khó khăn, thèm chiếc váy mà trở thành kẻ cắp. Chúng ta không đồng tình với hành động ăn cắp. Không thể viện cớ nghèo mà phạm tội. Thế nhưng chúng ta cũng không thể đồng tình với thói tàn nhẫn và ỷ thế có tiền mà chà đạp lên nhân phẩm người khác. Đó hành vi xâm phạm quyền con người, nhất là cháu bé chưa đủ tuổi thành niên. Chưa kể dùng sức mạnh và đòn tra tấn để tống tiền kẻ phạm tội. Thời nay kẻ ỷ có chút tiền lên mặt và khinh thường người nghèo nhiều lắm, đông như quân Nguyên. Bởi thời bây giờ người ta dựa vào đồng tiền mà xử.

Bà mẹ của nạn nhân nói: “Cháu trót dại, có lỗi và đã biết mình sai, lên quán xin lỗi, bồi thường cho cô chủ. Là người mẹ, xảy ra việc này cũng là lỗi của tôi nên mong mọi người chia sẻ, thông cảm để cháu sớm ổn định trở lại”. Câu nói của bà mẹ cho thấy gia đình đã nhận lỗi. Chiếc váy giá chỉ 160,000 đồng (khoảng $7) và gia đình cũng như kẻ có tội đã nhận tội và xin được đền bù. Nhưng kẻ giàu lại muốn lấy gấp vài chục lần giá trị vật đã bị lấy cắp. Hành động của họ không chỉ là tàn ác của kẻ hút máu người mà còn thể hiện tính tham lam vô độ.

Thời đại gì mà những kẻ có tiền trở thành quan toà và luật pháp. Một xã hội vô pháp vô thiên. Miệng kẻ có tiền có gang có thép bỗng dưng biến thành Bao Công hết lên án kẻ này đến kể tội người khác. Và rồi công an, luật pháp lại chạy theo những lời tố cáo không bằng cớ đó. Nhà nước, toà án, công an trở thành công cụ nghe theo miệng lưỡi của kẻ có tiền. Lạ thật đấy! Rồi bỗng dưng nhiều người oan ức lại lên tiếng với kẻ có tiền xin có tiếng nói giúp họ với nhà nước, với luật pháp. Buồn cười chưa? Rồi họ trở thành anh hùng bảo vệ công lý trong mắt một số người.

Một chuyện nữa cũng râm ran là chuyện cô giáo tự tử ngay trong phòng họp của một trường học ở trường Hoàng Quốc Việt (quận 7, Sài Gòn). Theo báo chí tường thuật thì cô giáo này bị trù dập từ khi tố cáo những tiêu cực của Ban Giám hiệu nhà trường. Cuộc đấu tranh của cô giáo đã đưa đến kết quả là cô giáo bị ngưng “đứng lớp”, bị đưa xuống làm lao công, bị nhà trường đưa ra hội đồng xét xử. Không có lý do gì trong một cuộc họp xét kiểm điểm giáo viên mà lại có mặt của Hội Phụ huynh và đại diện công an.

Nội chuyện đó đã sai rồi. Cũng không hiểu tại sao nhà trường thời nay thường có hình thức kỷ luật giáo viên là không cho phép giảng dạy và bắt giáo viên làm việc như người lao công. Thầy Cô khi tốt nghiệp ra trường đến nhận trường lớp với công việc là dạy học. Nếu vì một lý do nào đấy bị kỷ luật thì cho nghỉ việc hay cảnh cáo ghi vào hồ sơ cá nhân.

Không nên bắt Thầy Cô giáo trở thành lao công trong nhà trường, tính sư phạm trong một trường học không cho phép làm thế. Bởi làm như vậy là hạ nhục và chà đạp nhân cách của Thầy Cô giáo. Học sinh sẽ nghĩ gì khi ngày hôm qua những người đó là người đứng trên bục giảng, là Thầy Cô của chúng, hôm nay thành người lao công hốt rác giữa sân trường? Người ta cứ hô hào nghề giáo là nghề cao quý mà đối xử với họ chẳng có chút nhân văn. Chưa bao giờ kiểu gọi công an để can thiệp vào chuyện nội bộ của nhà trường lại luôn xảy ra trong trường học nhiều như hiện nay. Dùng lực lượng công an để trấn áp giáo viên là sai bét rồi.

Khi một con người đã chọn cho mình cái chết để giải quyết là lúc họ đã cùng đường. Nhà trường bây giờ nhiều nơi là chốn gió tanh mưa máu không còn là chốn mô phạm nữa rồi. Người ta tranh giành quyền lực, chụp giật cơ hội, tìm đủ cách để kiếm lợi. Và từ đó nhà trường biến thành chợ chữ và Thầy Cô giáo trở thành kẻ bán chữ. Cho nên phụ huynh và cả học sinh không còn tôn kính Thầy Cô như ngày xưa nữa. Người Thầy không còn là tấm gương cho học sinh. Nhà trường không còn là nơi dạy học sinh làm người và truyền thụ kiến thức. Và đó là nguyên nhân mọi đạo lý bị đảo lộn, xã hội bị tha hoá đến cùng cực. Khi không được học làm người trước khi học chữ, những đứa trẻ đó sẽ không giữ gìn đạo lý, không học được cách cư xử với mọi người, trở thành kẻ thực dụng và tàn nhẫn với chính đồng loại của mình.

Cách kỷ luật tước quyền hành nghề của giáo viên như hiện nay là lối thi hành quyền lực phi lý. Có thể cho họ nghỉ việc chứ không được biến họ thành nhân viên lao công trong nhà trường. Đó là kiểu hành xử không có luật pháp. Đã đến lúc chấm dứt kiểu này trong môi trường sư phạm. Đó là cách xử lý phi giáo dục.

Cũng đã đến lúc Thầy Cô giáo tự vấn lương tâm đã làm tròn chức năng của người Thầy chưa? Cũng đã đến lúc những lãnh đạo trong nhà trường phải thay đổi cách thức lãnh đạo trong một ngôi trường. Đã đến lúc những quan chức ngành Giáo dục cần chỉnh đốn những mục nát của nền giáo dục nước nhà. Khi Thầy không còn là Thầy, trò không còn là trò, nhà trường không còn là nhà trường nữa thì giáo dục đã xuống tận cùng của hố thẳm rồi.

Sài Gòn, 5 Tháng Mười Hai 2021

(Tựa của SGN)

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Việt Nam: Dã man vô nhân tính không có điểm dừng!

Hồ Xuân Hương: Chân Dung Và Tác Phẩm

Hồ Xuân Hương: Chân Dung Và Tác Phẩm

Phạm Trọng Chánh – Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Sorbonne, Paris

Tượng Hồ Xuân Hương. (nguồn: https://en.wikipedia.org)

Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai, đó là lý do khiến Tốn Phong trong 31 bài thơ tặng Xuân Hương, đã có 29 bài nhắc đến Mai, có bài nhắc đến hai ba lần. Hồ Phi Mai hiệu là Xuân Hương, hoa mai bay trên hồ nơi ngắm cảnh xuân, Mai là hương hoa mùa xuân.

Hồ Xuân Hương xuất thân từ một gia đình danh giá. Hoàng các khấu lai chân vọng tộc, bài 1, thơ Tốn Phong. Hoàng các vốn gia đình vọng tộc.

Thân phụ là Hồ Phi Diễn sinh năm 1703 và mất năm 1786. Năm 20 tuổi ông đậu Tam Trường (Tú Tài) khoa Thi Hương đời Bảo Thái thứ tư, tức năm Quý Mão 1723. Ông đồ Nghệ phiêu bạt đi dạy học tại Hải Dương và kết hôn với mẹ nàng họ Hà quê Hải Dương, ông sinh Hồ Phi Mai lúc 69 tuổi, ông mất lúc Hồ Phi Mai 14 tuổi, bà mẹ sinh nàng có lẽ lúc khoảng hai mươi và còn sống đến sau năm 1814, năm Tốn Phong trở lại đề tựa Lưu Hương Ký và tặng thêm 21 bài thơ, Tốn Phong đã biết đến Hồ Xuân Hương đã yêu và hứa hẹn với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển nên chúc mừng ; « Xe loan mong sớm với người xa. » Nhưng mãi đến hai năm sau Trần Phúc Hiển mới rước nàng về Vịnh Hạ Long. Mẹ Hồ Xuân Hương mất trong khoảng thời gian này nên nàng phải cư tang ít nhất một năm.

Hồ Phi Diễn chánh quán làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Họ Hồ tại Quỳnh Lưu rất có tiếng tại Nghệ An và có từ đời nhà Hậu Hán cai trị (917-971). Viên Thái Thú Diễn Châu là Trạng nguyên Hồ Hưng Dật làm nhà ở đây, con cháu phồn thịnh sau khi nước nhà độc lập. Đời Trần có chi ra Thanh Hóa sau sinh ra Hồ Quý Ly. Gia phả họ Hồ ở Nghệ An chép đến đời Trần Xương Phù (1377-1389) một cách liên tục. Đời Trần có một chi vào đất Đông Thành cùng phủ sinh Hồ Tông Thốc có ba đời Trạng nguyên. Chi ở xã Hoàn Hậu đời Lê có nhiều người đỗ Tiến sĩ nổi danh như Hồ Sĩ Dương nhà chính trị học, sử học. Riêng chi, đời thứ 8 Hồ Sĩ Anh (1618-?) đời Lê có hai người đỗ Hoàng Giáp là Hồ Phi Tích (1665-1734) đỗ năm 1700 và Hồ Sĩ Đống (1739-1785) đỗ năm 1772. Có chi ra Tây Sơn đổi họ Nguyễn, Hồ Phi Phúc sinh ra Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, do đó vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống và nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Tú tài Hồ Phi Hội cùng có một ông tổ đời thứ 8 là Hồ Sĩ Anh. Ngày xưa bà con bốn đời là rất gần. Tốn Phong biết đến Hồ Xuân Hương vì nàng là em của quan lớn họ Hồ. Phạm Đình Hổ trong bài Thi Ca trong Vũ Trung Tùy bút, đã viết Hồ Sĩ Đống, Hoàn Hậu Công là một trong ba bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng cùng với Nguyễn Tông Khuê (thầy của Lê Quý Đôn) và Nguyễn Huy Oánh (cha Nguyễn Huy Tự, học trò hơn 30 người đỗ Tiến Sĩ).

Khi Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du bị nạn kiêu binh phải bỏ trốn lên Sơn Tây với Nguyễn Điều, thì Hồ Sĩ Đống được Chúa Trịnh gọi về thay chức Hành Tham Tụng (quyền Thủ Tướng), Hồ Sĩ Đống đã làm yên được kiêu binh, Hồ Sĩ Đống còn được gửi vào Phú Xuân, có lẽ Chúa Trịnh mong muốn thương thuyết với anh em Tây Sơn, nhưng Tây Sơn đang bận những chiến trận với Chúa Nguyễn phương Nam nên không gặp. Hồ Sĩ Đống từng làm Phó Sứ năm Mậu Tuất 1778, khi đi đến Động Đình Hồ, Chánh Sứ Võ Khâm Tự tự tử và đốt tờ biểu xin sắc phong vương của Chúa Trịnh Sâm thay vua Lê, Hồ Sĩ Đống thay thế làm Chánh Sứ, Nguyễn Trọng Đan làm Phó Sứ, cuộc đi sứ hoàn tất trở về và Chúa Trịnh cũng không dám hỏi ông việc xin phong vương, Hồ Sĩ Đống sống thanh liêm giản dị, chu tất việc triều chính, ông mất sớm năm 1885 chỉ mới 46 tuổi, ông được mọi người đều thương tiếc, nhà Trịnh vua Lê cũng sụp đổ một năm sau đó.

Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên tại làng Nghi Tàm bên Hồ Tây, nơi nổi tiếng nghề dệt lụa, làm giấy, dệt lĩnh đen và trồng hoa. Tây Hồ có cảnh đẹp Tây Hồ Bát Cảnh, một thi xã đời Vĩnh Hựu (1735-1739) đã ca tụng tám cảnh đẹp quanh Tây Hồ :

– Bến Trúc Nghi Tàm, bến tắm chúa Trịnh Giang dưới dãy trúc ngà làng Nghi Tàm.

– Rừng bàng Yên Thái, rừng bàng trên núi đất làng Bưởi do chúa Trịnh Giang bắt trồng.

– Đàn thề Đồng Cổ do vua Lý Thái Tông xây để hàng năm quần thần đến thề để tỏ lòng trung hiếu.

– Phật say làng Thụy. Pho tượng Phật chống gậy dáng đi như người say rượu ở chùa Làng Thụy Chương. (Làng Thụy Khuê có nghề nấu rượu rất ngon nên Phật cũng say).

– Sâm cầm rợp bóng. Nghề săn ngỗng trời các làng quanh Hồ Tây, do ngỗng mập mạp, người ta cho rằng ngỗng ăn sâm từ Cao Ly bay về nên gọi là sâm cầm.

– Đồng hoa Nghi Tàm, làng Nghi Tàm làm nghề trồng hoa có những vườn hoa rất đẹp.

– Chợ đêm Khán Xuân, Chúa Trịnh thường họp chợ đêm cùng các cung nữ, thái giám giả làm người mua bán làm vui. Khu đất ngày xưa rất rộng nơi đình làng Nghi Tàm ngày nay. Bên cạnh có ngôi Gác Tía của Nguyễn Khản làm nơi câu cá hầu Chúa Trịnh.

Cổ Nguyệt Đường được xây dựng khoảng năm 1783, ngày xưa khi thầy được 80 tuổi, để mừng thọ thầy, học trò lớn, bé, làm quan hay không đều góp công góp sức xây nhà cho thầy. Do việc xây cất bề bộn, Hồ Xuân Hương được gửi về quê nội Quỳnh Lưu, đó là dịp Hồ Xuân Hương xướng họa với Dương Tri Tạn. Cổ Nguyệt Đường là một cơ ngơi rộng rãi, theo thơ Tốn Phong gọi là viện hay mai đình có tả viện là nơi tiếp khách, phòng ăn, nơi bán sách giấy bút mực của vợ và con gái thầy. nghĩa có tiền viện nơi thờ phượng, hữu viện nơi dạy học và hậu viện phòng ngủ, chính giữa là khoảng sân rộng có hòn non bộ, chậu kiểng và bếp. Phong cách kiến trúc hình chữ khẩu, hình vuông ngày nay còn lại trong các ngôi nhà cổ, đình chùa Việt Nam. Nhà quay mặt hướng Đông (Đối mặt trời xanh mưa móc thuận, bài 1), trước Cổ Nguyệt Đường có cây bàng lớn, (Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình, bài 6 ), cạnh Bến Trúc Nghi Tàm (Bến Trúc mừng vui gặp mỹ nhân, bài 25), quanh nhà có trồng nhiều hoa (Nàng đây đối mặt giữa hoa ngàn, bài 7). Khi cụ Hồ Phi Diễn mất năm 1786, người trưởng tràng là Tử Minh tức Cả Tân thay thầy dạy học. Ba bài thơ Hồ Xuân Hương khóc Tử Minh là có những chi tiết quý báu. Khi Tử Minh mất năm 1811, 40 tuổi để lại vợ và hai con trai, Hồ Xuân Hương ngừng đi buôn do tình hình bất an do loạn Đặng Trần Siêu và Võ Đình Lục (1810-1822) vùng Sơn Nam, nàng trở về đảm nhận lớp học. Học trò nàng có hai con Tử Minh và cô Nguyễn Thị Hinh tức là bà Huyện Thanh Quan sau này, về sau bà học với Tiến sĩ Phạm Quý Thích, chung lớp với Phương Đình Nguyễn Văn Siêu.

Cổ Nguyệt Đường dùng đèn bạc khác với mọi người dùng đèn đất, hay đèn sứ và có cả hồ đồng để coi giờ theo mực nước, là một cơ ngơi khá giả đương thời. Năm 1892 Antony Landes mướn Lê Quý và Nguyễn Văn Đại về làng Nghi Tàm chép thơ Hồ Xuân Hương, thì hai người con Tử Minh, nếu còn sống cũng khoảng 80 tuổi, Hồ Xuân Hương không con cháu, hai người con trai Tử Minh là người thân thiết nhất trong gia đình đã sưu tập thơ Hồ Xuân Hương và trông coi Cổ Nguyệt Đường. Ba bài thơ Khóc Tử Minh là bằng chứng của việc này vì thơ phúng điếu chỉ có gia đình người quá cố cất giữ. Tập thơ này nhiều bài lẫn lộn với thơ vua Lê Thánh Tôn, tôi cho rằng đó là những bài thơ Hồ Xuân Hương yêu thích, là mẫu mực thi ca của bậc thầy, cần thiết trả lại các bài thơ Chợ Trời, Đánh Đu, đền Khán Xuân.. cho ông Vua Thơ Nôm Lê Thánh Tôn, không thể sửa đổi vài chữ rồi cho rằng thơ ấy hay hơn thơ vua Lê, phải công nhận là thơ Hồ Xuân Hương như Xuân Diệu viết trong sách Các nhà thơ Cổ Điển. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến từng làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ đã viết Giai Nhân Dị Mặc dựa theo văn bản này. Văn bản này còn lưu trử tại Société Asiatique tại Paris, Giáo sư Maurice Durand đã dùng để viết sách L ́Oeuvre de la poétesse vietnamienne Hồ Xuân Hương EFEO Paris 1968.

Thuở nhỏ Hồ Xuân Hương học chữ với cha, cha mất năm Hồ Xuân Hương 14 tuổi, có lẽ nàng tiếp tục đọc sách và học hỏi với trưởng tràng Tử Minh. Mẹ bán quán giấy bút, sách nôm, nghề bán giấy bút và sách vở ngày xưa là nghề của vợ và con gái các thầy đồ, vì người bán cũng biết đọc và đọc qua các sách. Từ nhỏ Hồ Xuân Hương chăm chỉ đọc sách vừa ăn trầu, làm bếp cũng nhớ chuyện sử sách : “Mở sách ra rồi lại nhá trầu” (thơ Dương Tri Tạn), hay “Học thói Bàn Canh nấu bún Thang”. Cổ Nguyệt Đường còn có nghề dệt và trồng hoa có gia nhân chăm sóc. Các chú dẫn trong thơ Văn bản Landes, Hồ Xuân Hương thường đi lễ chùa du xuân, lễ Thanh Minh với bạn gái vợ Tử Minh và các học trò trai gái.

Có thể chia tác phẩm Hồ Xuân Hương làm ba phần:

– Thơ văn Hồ Xuân Hương theo văn bản Anthony Landes trước năm 1892, (thời kỳ này chưa có Trường Viễn Đông Bác Cổ, ông là người đầu tiên mướn người sao chép sách cổ Việt Nam, Landes chết đuối trên sông Sài Gòn năm 1892) văn bản gồm những bài thơ truyền khẩu. Những bài thơ ứng khẩu thời Hồ Xuân Hương không chép thành thi tập. Các văn bản về sau của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và nhà in Xuân Lan.. dựa theo văn bản này.

– Thơ Lưu Hương Ký, Tốn Phong đề tựa là những bài thơ viết về chuyện tình mình với các danh sĩ Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh, Trần Phúc Hiển.

– Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập những bài thơ viết trao đổi với Nguyễn Du và các bài thơ trong thời kỳ sống với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Tập thơ này bị phân tán làm nhiều mãnh.

Cổ Nguyệt Đường chiết tự chữ Hán chữ Hồ, chữ Cổ là xưa và chữ Nguyệt là trăng , là nơi Hồ Xuân Hương dạy học, bên cạnh có quán trà của bà mẹ đã là Phòng Khách Văn Học của Việt Nam đầu thế kỷ 19. Là nơi các tao nhân mặc khách, các nhà thơ lớn đương thời xướng họa : Thi hào Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ tác giả Vũ Trung Tùy Bút, Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh. Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, Tốn Phong Phan Huy Huân, Mai Sơn Phủ, Tử Minh, Cư Đình và cả một Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường 28 người mà Trần Ngọc Quán được bầu làm Thi Tướng. Bản Lưu Hương Ký còn lưu lại tại nhà cụ Cử Nguyễn Văn Tú làng Hành Thiện và bản Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập ông Trần Tường tìm ra tại Nam Định năm 1974, có lẽ là từ những người có chân trong Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường.

Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập là tập thơ cuối cùng của Hồ Xuân Hương. Tập thơ này đã được Miên Thẩm Tùng Thiện Vương và đại thần Trương Đăng Quế đọc, nên họ so sánh Hồ Xuân Hương với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh. Tập thơ này gồm các bài : Tưởng đáo nhân tình, Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân, Vịnh Thạch Phu Phụ, Quá Khinh Dao từ hoài cổ, Ngư Ông khúc hành, Tái ngoại văn châm, Bán chẩm thư hoài.. Tám bài Vịnh cảnh Hạ Long (nay còn 5 bài) và tám bài thơ Vịnh Cảnh Đồ Sơn.. Các tác giả thế kỷ 19 không nhìn Hồ Xuân Hương như một nhà thơ dâm tục.

Năm Hồ Phi Mai, 18 tuổi, năm 1790, Nguyễn Du sau ba năm lưu lạc giang hồ Trung Quốc, sau cuộc khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông, tỉnh Thái Nguyên thất bại, cùng Quyền Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Đăng Tiến tức Nguyễn Đại Lang (trong Thanh Hiên thi tập), Cai Già (trong Lịch Triều Tạp Kỷ) Cai Gia (trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí) và Nguyễn Quýnh (tức Nguyễn Sĩ Hữu) họ bị chỉ huy Giáo bắt và giải về cho Vũ Văn Nhậm (theo Lê Quý Kỷ Sự, tr. 100). Nhậm trân trọng khí khái tha chết và cho muốn đi đâu thì đi. Hai câu : “Sinh tử giao tình tại, Tồn vong cùng khổ khi” bài Biệt Nguyễn Đại Lang của Nguyễn Du cho biết ông cũng bị bắt và cùng được tha trong trận này. Sau đó họ lên đường đi Vân Nam, nơi cách Trường An ngàn dậm, có tuyết, có lá vàng rơi, trưởng giả còn ăn mặc theo thời nhà Hán (không thắt bính đuôi sam, ăn vận theo nhà Thanh) và không dùng lịch nhà Tần (họ dùng lịch theo Tây Tạng). Tại Vân Nam, vì không quen khí hậu miền núi Nguyễn Du bị bệnh ba tháng xuân, phải bán con ngựa đi đường và ở nhà người thầy thuốc để chữa bệnh (Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ), Vườn thuốc đìu hiu lạnh trúc thưa, bài Sơn cư mạn hứng). Hết bệnh Nguyễn Du thực hiện ước mơ mình, “Ná đắc khiêu ly phù thế ngoại”, Ước gì thoát khỏi vòng trần tục (bài Sơn Thôn), Nguyễn Du đã xuất gia thành nhà sư mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu dùng cho đến năm 1796, hai bài thơ Chí Hiên tặng trong Lưu Hương Ký. Theo gương Lý Bạch lúc 21 tuổi, mặc áo trắng đạo sĩ, mang trường kiếm đi ngao du khắp Ngũ hồ và các sông Giang Bắc Giang Nam, ngày dạo chơi thắng cảnh ban đêm trú chân nơi các đạo quán trên đường đi. Nguyễn Du thành nhà sư Chí Hiên, cũng “Giang Nam Giang Bắc nhất nang không”, (bài Mạn Hứng II), Giang Bắc, Giang Nam một túi không, ngày dạo chơi thắng cảnh ban đêm trú chân trong các chùa trên đường đi, tụng kinh Kim Cương, nhà chùa đãi cho món ăn rau đậu,và tặng xôi oản. Trong túi vải Nguyễn Du có bản Kinh Kim Cương chú giải của Lê Quý Đôn, quyển sách được trí thức Bắc Hà yêu chuộng thời bấy giờ, Nguyễn Du đi khoảng gần 5000 km (Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh, Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế, bài Mạn Hứng II) và đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt (ba năm) bài Phân Kinh Thạch Đài.

Đến Liễu Cao Lâm, Liễu Châu họ chia tay nhau, Nguyễn Đại Lang về thăm quê cũ ở Việt Đông, vùng Quế Lâm cao sơn lưu thủy, và hẹn gặp lại tại Trung Châu. Nguyễn Sĩ Hữu trở về làm chủ Hồng Lĩnh, khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nguyễn Du đến Quế Lâm thăm mộ Quế Lâm Cù Các Bộ và lăng mộ Quế Vương nhà Minh (khi đi sứ sang triều đình nhà Thanh, Nguyễn Du ở công quán không thể đi thăm mộ và di tích những người Phản Thanh Phục Minh), sau đó đi theo sông Tương, Mịch Giang thăm nơi Khuất Nguyên trầm mình. (Viết bài Ngũ nguyệt quan cạnh độ) xem đua thuyền nhân lễ Đoan Ngọ, mùng 5 tháng 5, khi đi sứ Nguyễn Du qua nơi này tháng 7 và trở về tháng 3 Âm lịch. Nguyễn Du còn viết bài Phản Chiêu Hồn bài bác thơ Tống Ngọc, mượn cớ để nói chuyện chính sự Việt Nam đời Tây Sơn :”Về thành Yên thành Dĩnh làm chi nữa, Thành quách y nguyên dân sự khác, Cát bụi lấm cả quần áo người, Đi ra xe ngựa, về vênh váo, Lên mặt Cao, Quỳ tán chuyện đời..” và bài Trường Sa Giả Thái Phó : “Trời ban tài lạ không có chỗ dùng.” Khi đi sứ Nguyễn Du đã được vua Gia Long biết tài, trọng dụng tất nhiên không còn viết như thế.

Nguyễn Du đến thành Tín Dương, khi trận chiến Tây Sơn thắng Tôn Sĩ Nghị năm Kỷ Dậu 1789 đã xãy ra, cách biên giới trăm dặm dân chúng Trung Quốc hoảng sợ bỏ chạy theo tàn binh rút lui. Trận chiến làm rung động cả đất khách. (Tây Phong biến dị hương, bài Tín Dương tức sự).

Nguyễn Du đến Vũ Hán rồi sang sông Hán Dương đi Trường An (Ngã biệt phù Giang Hán) tại Trường An (tức Tây An, Thiểm Tây) làm bài Dương Phi Cố Lý, quê Dương Ngọc Hoàn tại làng Hoàng Nông huyện Hòa Âm tỉnh Thiểm Tây và Bùi Tấn Công Mộ tại Vị Thành, Trường An. Sau đó đi Lạc Dương kinh đô nhà Tùy, nơi đây có chùa Bạch Mã, ngôi chùa tổ đình, đầu tiên của Phật Giáo Trung Quốc lập năm 65 sau công nguyên, Nguyễn Du thăm đình Tô Tần , đình chỉ có tại Lạc Dương quê hương ông, Nguyễn Du viết hai bài thơ Đình Tô Tần, và bài Phân Kinh Thạch Đài có nhắc đến bạch mã. Sau đó Nguyễn Du theo kênh đào Đại Vận Hà đi Hàng Châu, nơi đây Miếu Nhạc Phi, Nguyễn Du dừng chân nơi này khá lâu nên viết 5 bài thơ. Tôi cho rằng đây là điểm hẹn “Tương kiến tại Trung Châu” với Nguyễn Đại Lang, trong bài Biệt Nguyễn Đại Lang. Trước Miếu Nhạc Phi có con đê Tô, do Tô Đông Pha khi làm Thứ Sử Hàng Châu đã cho nạo vét lòng hồ đắp thành đê, nối liền Miếu Nhạc Phi với chùa Hổ Pháo, nơi Từ Hải từng tu hành với danh hiệu Minh Sơn hòa thượng trước khi thành nụy khấu, cướp biển. Nguyễn Du có bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tân Tài Nhân nơi này, tại Hàng Châu đã khắc bản gỗ in ấn và bán thời nhà Thanh. Tôi bác bỏ thuyết cho rằng Nguyễn Du đi ngang Miếu Nhạc Phi ở Thang Âm quê hương ông vì nơi đây không có núi Thê Hà như thơ mô tả, cũng không có tượng vợ chồng Tần Cối quỳ chịu tội cùng Trương Tuấn, tên tướng bắt Nhạc Phi và tên cai ngục Vạn Sĩ Tiết. Ngô Thời Nhiệm khi đi sứ triều Tây Sơn, trong Hoàng Hoa đồ phả có bài thơ Miếu Nhạc Phi tại Thang Âm.

Sau khi gặp lại Nguyễn Đại Lang, họ cùng đi Yên Kinh (Bắc Kinh) gặp quần thần Lê Chiêu Thống, họ đã bàn việc xin nhà Thanh một tỉnh Thái Nguyên, như nhà Mạc xin Lạng Sơn, làm hương hỏa nhà Lê, nhưng không thành, vì Tể Tướng Hoà Thân tiếp sứ thần Tây Sơn do Ngô Vi Quý mang quà tặng riêng, nên đày các quần thần nhà Lê đi xa. Phan Huy Ích và Đoàn Nguyễn Tuấn có thơ tặng Ngô Vi Quý khi hai đoàn sứ gặp nhau tại Vũ Hán. Nguyễn Đại Lang cùng Nguyễn Du quay trở về đến Hoàng Châu vào mùa thu năm 1790, thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn phó sứ trong sứ đoàn Phan Huy Ích. Đoàn có tặng văn nhân họ Nguyễn hai bài thơ, cho biết họ bàn luận sôi nổi chuyện văn chương (Hồng nhan đa truân), Đoàn Nguyễn Tuấn cho tin Nguyễn Nể ( anh cùng cha cùng mẹ, còn gọi Nguyễn Đề, Nể là kính nể, Nễ dấu ngã không có nghĩa) đã ra làm quan Tây Sơn làm Hàn Lâm thị thư, đã đi sứ và cố vấn cho vua Quang Trung, ngày ngày nhà vua gióng ngựa quý sang thăm bàn việc nước. Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Huy Ích phải tiếp tục đi Nhiệt Hà, cung điện mùa hè vua Càn Long đang nghỉ nơi này, và hẹn gặp lại Nguyễn Du vào mùa xuân. Nguyễn Du đi xe song mã về đến Long Châu, sông Long Thủy, xóm Nam Đài và trở về Thăng Long.

Nguyễn Du về sống tại Thăng Long, nương tựa anh Nguyễn Nể, nhưng nơi dinh thự cũ bị kiêu binh phá, và trận cháy lớn do Lê Chiêu Thống sai đốt phủ Chúa Trịnh khi chúa Trịnh Bồng trốn đi, toàn bộ Thăng Long thành tro khói, Nguyễn Nể khi ra làm quan đã cho xây dựng lại mới nơi nền cũ nhà cụ Nguyễn Nghiễm tại Bích Câu. Nhưng nơi đây thường hội họp ca hát với quan tướng Tây Sơn, bài Long Thành cầm giả ca cho biết Nguyễn Du chỉ đứng trong bóng tối xem ca hát, Nguyễn Du không ở với anh mà ra ở nơi Gác Tiá, nơi câu cá của anh Thượng Thư Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Tại đây Nguyễn Du quen cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai, tuổi vừa 18, cùng đi hái sen với nàng và mối tình ba năm. (Chữ tình chốc đã ba năm vẹn, Bài Cảm Cựu kiêm trình Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu, Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân.) Những ngày gặp gỡ Hồ Xuân Hương viết bài Duyên kỳ ngộ và Hỏi Trăng, Nguyễn Du ghi lại mối tình cô hàng xóm bằng bài Mộng đắc thái liên (Mơ thấy hái sen).

Năm 1792, vua Quang Trung mất, Nguyễn Nể nhận được nhiệm vụ mới phải vào Phú Xuân, giữ chức vụ Trung Thư Lĩnh và dạy dỗ vua Cảnh Thịnh mới lên mười. Nguyễn Du và Nguyễn Ức được anh trao nhiệm vụ và tiền bạc về Tiên Điền xây dựng lại làng Tiên Điền, từ đường họ Nguyễn, đình làng, chùa, cầu Tiên bị tướng Lê Văn Dụ đốt phá năm 1790 do cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh chống Tây Sơn. Nguyễn Du báo tin này cho Hồ Phi Mai và nàng viết bài : Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình. Hồ Xuân Hương tiễn đưa Nguyễn Du về Hồng Lĩnh tại Thạch Đình, bến thuyền bên sông Vị Hoàng, Nam Định. nàng viết bài Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân (Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam) trong cuộc tiễn đưa này Nguyễn Du viết bài Thạch Đình tặng biệt, và Hồ Xuân Hương họa lại bài Họa Thanh Hiên nguyên vận.

Nguyễn Du về Tiên Điền dựng nhà tranh bên bến Giang Đình, sách vở thư viện không kém gì thư viện Phúc Giang dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu, bị đốt mười phần chỉ còn lại một hai chất bốn vách, ngoài sân trồng khóm cúc vàng, nơi này tiếp nhận gỗ, gạch chở bằng thuyền đến. Nguyễn Ức chỉ huy vẽ kiểu xây cất, Nguyễn Ức thừa hưởng cái tài khéo léo xây cất của anh Nguyễn Khản, dinh thự Chúa Trịnh đều do tay Nguyễn Khản, về sau Nguyễn Ức làm Thiêm Sự Bộ Công, kinh thành Huế thời Gia Long đều do ông vẽ kiểu và chỉ huy xây dựng, Lê Quý Thanh con Lê Quý Đôn coi phong thủy.

Thời gian Nguyễn Du ở Tiên Điền, khi có dịp người đi về, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương trao đổi thơ từ, ta có thể dễ dàng nhận ra những bài thơ đối đáp qua những chữ dùng như thanh chiên, Tây phong, nhạn ảnh, hàn trùng, giấc mộng, Tây Hồ.. được lập lại. Hồ Xuân Hương gửi bài Nhân Tặng Nguyễn Du đáp lại bằng bài Ký Hữu (Gửi bạn), nàng viết bài Thu dạ hữu hoài chàng trả lời bằng bài Thu Dạ I, nàng lại đáp bằng bài Thu Vũ, khóc khi nghe tin Nguyễn Du bệnh vào cuối năm. Nguyễn Du lại đáp bằng bài Thu Dạ II. Hồ Xuân Hương đáp lại bằng bài Cố Kinh thu nhật dùng chữ thanh chiên, Nguyễn Du đáp bằng bài Khai Song cũng dùng lại chữ thanh chiên, Xuân Hương viết bài Thu Nhật tức sự cho biết Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du cũng đáp lại Thu nhật ký hứng , lập lại chữ Tây phong, cho biết Tây Sơn ra Bắc nên chàng không ra Thăng Long được. Hồ Xuân Hương còn cho biết có người đến ve vản nàng và mẹ thúc ép nàng nhận lời lấy chồng : “Thẩn thơ trước viện nhà khoe gió, Đồng vọng bên tai địch thét đâu. Ướm hỏi trăng già khe khắc lắm. Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.” Nguyễn Du viết bài Ký Mộng, mơ Xuân Hương về thăm mình: “Mộng đến ngọn đèn sáng, Mộng đi gió lạnh lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương.”. Hồ Xuân Hương bài Cảm Cựu.. nhắc lại : “Giấc mộng rồi ra nửa khắc không”.

Trở về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du làm Hồng Sơn liệp hộ, dẫn chó vàng đi săn, nhưng thương xót loài nai, hoảng nên chỉ đến để nhìn dấu mùi nai còn thơm trên cỏ ướt, không nỡ giết hại các loài, lòng chẳng cầu danh lợi, nên chỉ “đi săn” được măng non và củ mài..

Năm 1796, khi Nguyễn Ánh đánh tới thành Diên Khánh, Nguyễn Du lại làm Nam Hải điếu đồ, đi câu cá và kiếm thuyền đi về phương Nam. Nguyễn Du bị Quận công Nguyễn Văn Thận trấn thủ Hà Tĩnh bắt giam mười tuần, chờ đến ngày bạn là Nguyễn Nể đi sứ mừng lễ vua Càn Long truyền ngôi cho con về thì thả ra. Nguyễn Du ra đến Thăng Long thì hay tin, trong lúc chàng nằm tù, thì mẹ Hồ Xuân Hương đã gả nàng cho anh Lang, con Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du viết hai bài Chí Hiên tặng, oán trách nàng tệ bạc, và “cảnh cáo” nàng : “Có mắt mà xem mặt nước non “. Nguyễn Du được Nguyễn Nể đi sứ về, mai mối cùng Đoàn Nguyễn Tuấn cưới cô em út họ Đoàn (sinh trước năm 1775, năm cụ Đoàn Nguyễn Thục mất). Nguyễn Du về Quỳnh Hải, Thái Bình sống cuộc đời hạnh phúc với vợ, chấm dứt cuộc đời “mười năm gió bụi”. Điều này phản bác gia phả sách vở, cho rằng mười năm gió bụi là thời gian Nguyễn Du sống nơi quê vợ, và ngược với câu thơ Nguyễn Hành viết về chú: “Giang hồ, long miếu hai điều đủ. Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh”. Nguyễn Du có cuộc đời giang hồ nghĩa là đi rong chơi trên các sông và các hồ lớn Trung Quốc như Phạm Lãi, Lý Bạch, khác nghĩa chữ “giang hồ” ngày nay. Thời gian từ 1786 đến 1796, Nguyễn Du 20 đến 30 tuổi, là thời gian mười năm gió bụi, Nguyễn Du đi rong chơi đây đó, từ Thái Nguyên đi Trung Quốc, lại về Thăng Long Tây Hồ câu cá, về Hồng Lĩnh bị tù, nhà cửa dinh thự Bích Câu lẫn Tiên Điền đều bị đốt cháy, làng Tiên Điền thành chiến địa bị làm cỏ, yêu đương lại dang dỡ với Cô Cúc làng Trường Lưu, cô Xuân Hương làng Nghi Tàm. Thu Cúc Xuân Lan thành mộng ảo. Từ năm 30 tuổi, (1796) sống hạnh phúc bên vợ, Nguyễn Du dạy văn, dạy võ, cho đến khi Gia Long ra Bắc năm 1802. Nguyễn Du dẫn học trò, tráng đinh ngựa, bò lương thực dâng sớ tiếp đón vua Gia Long, đến huyện Phù Dung thì gặp vua, nhà vua phong ngay cho Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung, trấn Sơn Nam. Sự kiện này giống như Phi Tử thời Chiến Quốc dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương, được phong chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử, Nguyễn Hành nhắc đến trong bài Đi Săn.

Thơ Tốn Phong viết : “Mai quả đã từng ba độ kết”, nghĩa là Hồ Xuân Hương ba lần lấy chồng. Dựa vào thơ Lưu Hương Ký, Gs Hoàng Xuân Hãn nhận thấy có ba khoảng trống nàng vắng làm thơ: 1794-1798, 1802-1806 và 1810-1813. Tương truyền lần thứ nhất nàng lấy một thầy Lang, thầy thuốc mất sớm, nàng viết bài Bà Lang khóc chồng, lần thứ hai lấy Tổng Cóc, một viên chánh tổng tên Cóc, và lần thứ ba tri phủ Vĩnh Tường. Gs Hoàng Xuân Hãn bác bỏ việc lấy tri phủ Vĩnh Tường, vì trước năm 1822, phủ mang tên Tam Đái suốt thời Gia Long, năm 1821 đổi ra Tam Đa, năm 1822 mới đổi thành Vĩnh Tường. Do đó bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường chỉ là bài thơ do người đời sau viết, hay sửa đổi thơ Hồ Xuân Hương khóc Trần Phúc Hiển.

Khi Nguyễn Du bị tù, mẹ Hồ Xuân Hương đã gả nàng cho anh Lang con thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tầm, Thơ Phạm Đình Hổ bài Hoài Cổ trêu chọc Hồ Phi Mai: “Năm xưa hoa đào nở, Em tôi học cài trâm, Năm nay hoa đào nở, Mẹ gả xóm Tây gần.. Em nhìn hoa mà khóc, Sầu vương nét mi cong”. Thầy thuốc ngày xưa đi chữa bệnh, bốc thuốc cam thảo, trần bì.. anh Lang trẻ chưa có kinh nghiệm, không đọc sách Vệ Sinh Toát Yếu của Hải Thượng Lãn Ông, nên gặp những bệnh lây nhiểm như bệnh dịch, bệnh lao.. thì cũng đi đời như bệnh nhân, Hồ Xuân Hương góa chồng sớm.

Một mối tình ghi dấu trên thơ Lưu Hương Ký từ năm 1799 đến 1801, năm Hồ Xuân Hương 27, 29 tuổi là mối tình với Mai Sơn Phủ. Mai Sơn là bút hiệu, Phủ là tiếng sang trọng để xưng người đàn ông. Phạm Đình Hổ bút hiệu là Tùng Niên (cây tùng lâu đời nhựa thành hổ phách), nên gọi là Tùng Niên Phủ. Nguyễn Kính là Kính Phủ. (Nguyễn Kính thường cùng Phạm Đình Hổ đi thăm chùa Kim Liên, năm 1807 làm Tri huyện Phù Dung nơi Nguyễn Du từng trấn nhậm) Mai Sơn Phủ người Vịnh Phố, tức Vinh ngày nay. Mai Sơn Phủ yêu nàng ngỏ ý xin cưới nàng hai người từng cắt tóc, trích máu vào chung rượu thề nguyền, nếu phụ lòng nhau sẽ bị trừng phạt bằng dao búa. “Dao búa nguyền xin lụy đến mình”. Mối tình Mai Sơn Phủ đã để lại cho Hồ Xuân Hương những bài thơ tình nồng nàn thắm thiết : Thuật ý khiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ, Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ. Nguyệt dạ ca.. Bài Điệu ca Xuân Đình lan : “Tâm ở Vu Phong, Hồn ở Vu Phong. Ân ái cuộc tao phùng”, Hồ Xuân Hương thổ lộ không dấu diếm hai người đã ân ái với nhau. Mai Sơn Phủ tài thơ kém hơn Hồ Phi Mai, nên bài Thu Tứ Ca mượn cả bốn câu thơ cổ nổi tiếng tương truyền của một vị vua Trung Quốc: Thu phong khởi hề bạch vân phi.. để rồi thề thốt: Ta có rượu chừ không bạn uống, Ta có đàn chừ chẳng tri âm. Và chàng thề không uống rượu và chẳng gảy đàn, chàng chỉ uống trà xanh thôi để nhớ tới nàng.

Mai Sơn Phủ từ biệt Xuân Hương, về quê làng Liên Cừ, Vịnh Phố, Phạm Đình Hổ trong bài Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng, mùa hè xa cố đô, mà Hồ Phi Mai khóc sướt mướt : Sơ mai hương đậu Hoàng Giang vũ. Hoàng giang mưa điểm hương mai nở. Mùa hè làm gì có mai nở, chỉ có Phi Mai khóc.

Mai Sơn Phủ về đến quê nhà, có lẽ bị cha mẹ bắt gả vợ, chàng đã phụ lời thề hay đã chết vì dao búa trong chiến tranh ? Tháng ba năm 1801. Nguyễn Ánh chiếm Quảng Nam, sau đó thừa thắng tiến đánh Đà Nẵng, tháng năm thủy quân đánh cửa bể Tư Dung, thừa thắng kéo vào kinh thành Phú Xuân. Vua Quang Toản bỏ kinh thành chạy ra Bắc, trận chiến tiếp diễn tại Nghệ An, Thanh Hoá, trấn thủ Nguyễn Văn Thận chạy ra Thanh Hoá bị bắt giết. Tháng năm Nhâm Tuất 1802. Nguyễn Ánh lập đàn ở đồng An Ninh, Phú Xuân tế trời đất lên ngôi đặt niên hiệu Gia Long. Trong lúc đó Nguyễn Nể được lệnh triều Tây Sơn đưa La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về Phú Xuân, đang kẹt trong chiến trận thì được Gia Long cho gọi đến. Gia Long tha cho Nguyễn Thiếp về quê quán, và đem theo Nguyễn Nể theo hầu để hỏi chuyện đi sứ xin phong vương. Do đó người đi theo Gia Long từ Phú Xuân ra Thăng Long không phải là Nguyễn Du như gia phả Nguyễn Tiên Điền viết mà là Nguyễn Nể.

Trong tình hình đó Hồ Xuân Hương viết bài Tự Thán I, II “Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt, Trong suốt nhân tình dạ muốn say. Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn, Một đời riêng mấy tiếng chua cay.”. Mối tình Mai Sơn Phủ chấm dứt nơi đây, ta không biết được số phận Mai Sơn Phủ thế nào, trong giai đoạn cuộc chiến dữ dội. Nhưng Hồ Xuân Hương thì đau điếng, miệng lưỡi người đời chua cay dèm pha tình nàng với Mai Sơn Phủ. Trong cơn túng quẩn, quán trà ế khách, trường thiếu học trò, chiến tranh sắp xãy ra tại Thăng Long, bỗng có chàng Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, học trò cũ của cha, đến ve vãn, rước nàng về dạy kèm cho con, đưa nàng lánh nạn lên Vĩnh Phú nay thuộc Hưng Yên, năm đó nàng 29 tuổi, mở đầu thời kỳ : Mười năm lận đận như ăn trộm bịt tai đi trộm chuông. Thập tải phong trần quán nhỉ linh. (1801-1811)

Cóc tiếng Việt ngày xưa có nghĩa là Biết. Cóc hay thân ảo (Phú Cư trần lạc đạo của Vua Trần Nhân Tôn). Ba, bốn làng ngày xưa họp lại thành một Tổng, làng có chế độ tự trị rộng rãi, phép vua thua lệ làng, Hội đồng Hương chính do các người đàn ông thế lực trong làng cử ra. Quyền hành triều đình chỉ đến cấp huyện, do triều đình bổ nhiệm một vị Cử nhân hay Tiến sĩ trấn nhậm, Cai Tổng là một chức vị trung gian không có thực quyền, chẳng có lương bổng, liên hệ giữa Hội đồng Hương chính làng với quan Tri huyện, do đó các làng thường cử một người giàu có ruộng đất làm công việc này. Ông Cai Tổng chỉ vác ô đi ăn đám giỗ. và nhận quà cáp dân chúng biếu xén dăm con cá rô, cá lóc khi tát ao ruộng. Cai Tổng phải biết chữ nho để đọc các Sắc, Lệnh của vua quan, hay Sớ trong các buổi lễ, do đó Tổng Cóc không phải là người dốt.

Theo tài liệu Nguyễn Hữu Nhàn trong bài Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc. Hồ Xuân Hương Thơ và Đời, Văn Học Hà Nội 1989, trang 218, tài liệu do cụ Dương Văn Thâm cung cấp. Tổng Cóc người Tứ Xã tên thật là Nguyễn Bỉnh Kình, tự là Nguyễn Công Hòa, dòng dõi Nguyễn Quang Thành, đỗ Tiến sĩ năm 1680. Tổng Cóc từng là một nho sinh, từng lều chỏng đi thi nhưng không đỗ. Tổng Cóc tính ăn chơi, chẳng bao lâu cửa nhà sa sút, vợ Cả ghen. Tổng Cóc bỏ đi biệt sau khi Hồ Xuân Hưng có thai ba tháng.

Bài thơ Gửi Tổng Cóc, câu thơ Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi, nói ngược lại sự việc trên. Hồ Xuân Hương bỏ Tổng Cóc, chứ không phải Tổng Cóc bỏ Hồ Xuân Hương, cũng không phải Tổng Cóc chết, Hồ Xuân Hương mắng nhiếc, như Xuân Diệu và nhiều nhà bình thơ giải thích. Cóc ngày xưa vào nền nhà bằng đất, cóc thường trốn vào gầm giường xó bếp, đánh đuổi đi cóc cũng trở lại chỗ cũ, chỉ có bôi chút vôi ăn trầu vào cóc là cóc bỏ đi mất tiêu. Do đó câu thơ có nghĩa là: Dù có cho tôi nghìn vàng, tôi cũng không trở về với anh, như cóc đã bị bôi vôi.

Hồ Xuân Hương, trở về Tây Hồ, theo tôi do nàng nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Câu thơ “Bách tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp tố như.” Có nghĩa là Không biết rồi đây ba trăm năm nữa, Ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh. Hiểu “tố như” là Nguyễn Du là chuyện phi lý, sáu câu đầu viết về nàng Tiểu Thanh bổng nhiên câu kết, tự hỏi ai khóc mình, là thơ lạc đề. Nguyễn Du không thể làm thơ lạc đề, Nguyễn Du không phải là phụ nữ, cũng không phải là kẻ đồng tính luyến ái để sánh mình với phụ nữ. Ngày xưa nam nhi không ai sánh mình với phụ nữ. Tố như chỉ xuất hiện duy nhất trong bài thơ này, Tố theo Tự điển Thiều Chửu có nghĩa là tơ trắng, là người (phụ nữ) phẩm hạnh cao quý, như là như thế, như vậy. Không ai chứng minh được Nguyễn Du là phụ nữ hay một người á nam á nữ, thì “tố như” chỉ là một sự lầm lẫn như người viết Gia phả Tiên Điền đã lầm như Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu thành Nguyễn Du, hay Đoàn Nguyễn Tuấn cùng Nguyễn Du chống Tây Sơn tại Quỳnh Hải, trong lúc Đoàn Nguyễn Tuấn làm quan thị thần bên cạnh vua Quang Trung.. Hồ Xuân Hương trở về đáp lại thơ Nguyễn Du :”Tây Hồ hoa uyển tận thành khư”, Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu, bằng : “Tây Hồ phong cảnh vẫn như xưa.” bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn.

Việc Hồ Xuân Hương, có thai và sinh con, được Tốn Phong xác nhận : “Chốn dời, mai đã nẩy thêm cành”, tiếc thay con nàng mất sớm sau khi sinh.

Hồ Xuân Hương trở về Thăng Long, mở quán sách khoảng năm 1804-1807, với sự giúp đỡ của bạn bè như Phạm Đình Hổ cho mượn năm ba quan tiền, nàng mở quán bán sách bút kế bên trường ông Nghè Phạm Quý Thích (1760-1825), người bạn thân thiết của Nguyễn Du, mở ở Phố Nam thành Thăng Long, thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, gần đền Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không và chùa Báo Thiên (khu Nhà Thờ Lớn Hà Nội ngày nay). Nhà Nguyễn Kính cũng ở gần nơi này. Quán sách không lời vì những cậu học trò nhỏ như Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) lúc đó mới 8 tuổi, “Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, đến ngắm bà chị 35 tuổi, sắc đẹp đổ nước nghiêng thành, các quan thị từ cung vua Lê, chúa Trịnh, cung điện cháy chẳng còn nơi ở, thất nghiệp đến la cà, hay anh chàng Cư Đình không nhà sống trong đình làng.. khách hàng như thế thì chẳng mua bán được gì !.. Hồ Xuân Hương bán các sách truyện: Nữ Tú, Phương Hoa, Tuyển Phu, Chinh Phụ, Bích Câu Kỳ Ngộ.. (bài Cô Hàng Sách) và dĩ nhiên các sách Giáo khoa Nho học đương thời : Tam Tự Kinh, Sơ học vấn tâm, Ấu học ngữ ngôn thi, Minh Tâm bảo giám. Minh đạo gia huấn. Tứ Thư, Ngũ Kinh.. Sách Toát Yếu, sách “học tủ” để đi thi của cụ Nghè Bùi Huy Bích dạy học làng Thịnh Liệt, Thanh Trì, và những sách do thương nhân Trung Quốc từ Quảng Đông đưa sang: Xuân Thu Chiến Quốc, Tam Quốc Chí, Liêu Trai Chí Dị, Đào Nguyên ký, Nam Hoa Kinh, Minh Sử, Tống Sử.. điều này chứng minh sau thời gian bán sách thơ Hồ Xuân Hương dùng nhiều điển tích hay lạ khác với ngày trước thơ ứng khẩu.

Thời kỳ 1807-1811. Hồ Xuân Hương xoay qua nghề đi buôn sách bút tại các nơi, thơ nàng lưu dấu nhiều nơi : Đền Sầm Nghi Đống, chùa Hương Tích ở Hà Đông, Đá ông Chồng Bà Chồng ở Tuyên Quang, Kẽm Trống ở Ninh Bình, Đèo Ba Dội núi Tam Điệp, Quán Khánh ở Thanh Hóa.. Hồ Xuân Hương bán cả sách bút cho cả các quan trấn nhậm, đó là cơ hội nàng gặp gỡ Trần Quang Tĩnh Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ (vùng Nam Định), Trần Ngọc Quán Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng tại Châu Cầu và Trần Phúc Hiển, Tri phủ Tam Đái ( Việt Trì). Các quan trấn nhậm, xa quê quán, xa vợ con gặp một người đẹp sắc nước hương trời biết xướng họa thơ, đến bán sách bút thì chắc nàng bán gì cũng mua hết. Tuy nhiên tình hình loạn nông dân Đặng Đình Siêu và Võ Đình Lục từ 1810 đến 1822 làm tình hình vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ bất an, các phụ nữ xinh đẹp đi buôn có khi mất cả vốn lẫn người. Năm 1811, người bạn thân Tử Minh lại mất, để lại lớp học, vợ và hai con dại, Hồ Xuân Hương phải đảm nhận lớp học Cổ Nguyệt Đường.

Lưu Hương Ký từ đây lưu lại các mối tình xướng họa thơ văn với Tốn Phong, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh và người chồng Trần Phúc Hiển.

Tốn Phong cùng họ với Phan My Anh, người Hoan Châu huyện Thạch Hà, nơi chánh quán. dòng họ Phan Huy Ích. Bài thơ số 10 Tốn Phong cho Hồ Xuân Hương địa chỉ: Từ biệt trường đình nàng còn nhớ. Ghi lấy Hoan Nam, Thạch Ẩn nhi. Tốn Phong họ Phan Huy tên Huân hay Nam Sơn, Huân là Gió Nam, Phong còn có nghĩa là núi, Núi Nam hiệu là Nham Giác Phu là người ẩn trong núi mà hiểu sự đời. Đến Thăng Long, Tốn Phong ở cạnh hồ Kim Âu nơi Cửa Giám (Văn Miếu), Phan Huy Ích có mở nhà học nơi này, có nhiều thầy dạy họ Phan, như Phan Mậu Hiên, có lẽ Tốn Phong là một người dạy nơi này. Sau khi Gia Long lên ngôi, triều đình Huế mở khoa thi đầu tiên năm 1807 đến năm 1813 mới mở khoa thi Hương thứ hai. Tốn Phong đi thi trường Nghệ, nhưng cả hai khoa đều hỏng. Tốn Phong đã có vợ nhưng tán tỉnh nàng “Lạ mặt dám quen cùng gió nước” tại quán sách, chàng ví mình như như anh thuyền chài lạc Vũ Lăng đến chốn Đào Nguyên, chàng ăn mặc áo xanh lục bảnh bao, xức nước hoa xạ hương : Sương xoa áo lục nhồi hương xạ, dáng đi thơn thớt: Gió lọt cành lê lướt mặt hồ. Nhưng Hồ Xuân Hương trải qua bao kinh nghiệm tình ái : Trong trần mấy kẻ tinh con mắt. Biết ngọc mà trao mới kể cho, nhưng yêu Tốn Phong thì không vì : Tơ nguyệt rày xe ba mối lại, Hỏi khách đa tình nhẽ có hay. Năm canh hồn bướm thêm bơ bãi. Ông tơ bà nguyệt không có tài se được ba mối tơ : chàng, vợ chàng và tôi vào một, Xuân Hương sợ dấn thân vào cảnh khổ một anh đồ nghèo, sợ hãi như cánh bướm bay bơ vơ bừa bãi nên từ chối. Năm 1814 gặp lại Xuân Hương, mối tình si đã hết, Xuân Hương đưa tập thơ Lưu Hương Ký cho Tốn Phong đề tựa, và kể chàng nghe những mối tình, chàng cũng cầu chúc cho Xuân Hương sớm hạnh phúc với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Chàng trở về Hoan Châu với lời thề như Tư Mã Tương Như, không lập công danh không trở lại qua cầu này, chàng đã thi hỏng, từ đó không còn trở lại gặp Xuân Hương và bạn Cư Đình ở Thăng Long.

TÌNH BẠN HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM ĐÌNH HỔ (1768-1839)

Phạm Đình Hổ là một cây bút tài hoa, Vũ Trung Tùy Bút, chuyện viết lan man trong ngày mưa, ông mô tả toàn cảnh xã hội Việt Nam, ngày nay muốn tìm hiểu về xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương không thể không đọc sách ông.

Phạm Đình Hổ chánh quán xã Đan loan huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương, mồ côi cha sớm lúc 10 tuổi, năm Giáp Thìn (1784-1785), ông mới ra du học tại Thăng Long, ông xin được vào Trường Quốc Tử Giám, theo dự các buổi bình văn chưa kịp đi thi thì nhà Lê mất. Ông tục gọi là Chiêu Hổ, chữ Chiêu do Chiêu Văn Quán đời vua Lê Trang Tông (1533-1548) đổi Sùng Văn Quán lập từ đời vua Lê Thánh Tông, nơi tòng học của con quan từ tam phẩm trở lên, tuy nhiên chế độ thụ nghiệp ban hành năm 1492 bỏ lâu không giảng nữa, nhưng vẫn theo tục cũ con quan từ ngũ phẩm trở lên được gọi Chiêu Văn Quán, con quan các hàm cuối gọi là Tú Lâm Cục. Cậu Chiêu, Cậu Tú bắt đầu từ thời này.

Phạm Đình Hổ cư ngụ tại Hàng Buồm, thân thiết với Nguyễn Án cư ngụ gần chùa Lý Quốc Sư, ông dạy học tại thôn Khánh Vân, hạ lưu sông Tô Lịch (nay là xã Khánh Hà). Bài thơ Quá Kim Liên trong Đông dã ngôn thi tập ông cho biết : Bèo dạt làm thân khách cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần. Chùa Kim Liên bên cạnh Cổ Nguyệt Đường là nơi Phạm Đình Hổ và bạn bè thường đến, có lẽ ông đã từng học với cụ Hồ Phi Diễn, Phạm Đình Hổ có nhiều bài thơ tả một cô gái nhỏ tuổi hơn ông, yêu hoa mai và biết làm thơ và thường đứng trước gương uốn éo như đứt ruột.

Cô gái ấy là ai ? Phạm Đình Hổ trêu cô có tình ý với anh chàng đang viết Đoạn Trường Tân Thanh ? Bài thơ Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng, ông còn trêu mưa ướt cả hoa mai nở trong mùa hè. mùa hè làm gì có mai, chỉ có Phi Mai khóc sướt mướt.

Khi vua Gia Long lên ngôi, ông tham dự kỳ thi 1807 đỗ Tam Trường, Nguyễn Ḱính đỗ Tứ Trường được bổ làm Tri huyện Phù Dung. Khoa thi 1813 Phạm Đình Hổ thi hỏng, khoa 1919 đang thi thì bị bệnh phải bỏ ra về.

Năm 1821, vua Minh Mệnh ra Bắc, lưu ý khuyến khích việc soạn sách, ông được vời ra diện kiến, ông viết Hành tại diện đối tả cuộc gặp gỡ này, nhân dịp này ông dâng sách được vua ban thưởng được bổ làm Hành Tẩu, một tháng sau thăng Hàn Lâm Viện biên tu. Năm ấy Hồ Xuân Hương chồng đã bị tử hình, trở về Cổ Nguyệt Đường làm câu đối mừng : Mặc áo Giáp cài chữ Đinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý. Lấy những chữ trong thập can ý muốn chế giễu Phạm Đình Hổ, không thi đỗ nhưng nhờ dâng sách, nên mặc áo nhà quan ra vẻ ta đây. Chiêu Hổ nổi nóng đối đáp lại bằng lời mắng nặng nề : Là đỉ Càn. Tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn. Lấy những chữ trong Bát quái mắng Hồ Xuân Hương là con đỉ càn dỡ lại còn tự phụ cho rằng mình khôn. Những lời mắng nặng nề đó có lẽ chấm dứt mối liên hệ giữa Xuân Hương và Chiêu Hổ. Hồ Phi Mai từng bị tai tiếng là thèo đảnh, tai tiếng chua cay trong mối tình Mai Sơn Phủ, nay bị mắng là đỉ càn.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ HIỆP TRẤN SƠN NAM HẠ TRẦN QUANG TĨNH

Trần Quang Tĩnh vốn quê ở Gia Định mới ra Bắc Hà làm quan lần đầu. Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ gồm đất Thái Bình, Nam Định ngày nay. Được nghe tiếng Xuân Hương đã đến thăm và tỏ tình qua lại nhiều lần. Tháng 3 năm Kỷ Tị 1809 nhân dịp lên Thăng Long cáo từ quan Tổng Trấn Bắc Thành đã ghé thăm Xuân Hương. Xuân Hương làm tiệc tiễn chân. Trần Quang Tĩnh xướng và Xuân Hương họa lại nàng muốn thoát xác như Sãnh Nương đi theo chàng.

Trần Quang Tĩnh xướng : Nâng chén dưới đèn tiệc tiễn chân. Tơ sầu dằng dặc lặng câm buồn. Cây lặng gió im chim lặng tiếng, Ngoài rèm trăng xế khách kêu ồn, Ta thẹn không tài thơ Bạch Tuyết. Khen bạn duyên cao sinh Cửa Son. Trùng phùng còn biết ngày nao gặp, Ngơ ngẫn tình say vướng mộng hồn.

Xuân Hương đã họa : Gặp gỡ bèo mây dưới nguyệt tròn, Ngỗn ngang sầu vọng nói gì hơn. Phượng Cầu ai gảy đàn đưa ý, Chim Khách kêu chi ngõ vắng buồn. Ai chuộc tiếng kèn về Hán khuyết. Lòng ta luống thẹn biệt Hồ môn. Chia tay giữa tiệc tình lưu luyến. Ngây ngất hồn say mộng Sãnh Nương.

Hai bài thơ nguyên tác chữ Hán dùng điển tích thật khéo léo tài tình.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ HIỆP TRẤN SƠN NAM THƯỢNG TRẦN NGỌC QUÁN

Trần Ngọc Quán người Quảng Bình, theo vua Gia Long, giỏi văn chương năm 1890 giữ chức Hàn Lâm thị thư và được phong làm Cai Bạ doanh Quảng Đức,( Thừa Thiên sau này). Bốn doanh đất kinh kỳ chức vị đứng đầu là quan Cai Bạ, phụ tá có quan Ký Lục. (nhiều người lầm Nguyễn Du làm Cai Bạ Quảng Bình là người coi địa bạ ruộng đất). Tháng ba năm Ất Hợi 1815 được bổ nhậm chức Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng, đất này gồm hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên về sau. Trị sở ở Châu Cầu, Phủ Lý.

Mối tình Hồ Xuân Hương với Trần Ngọc Quán là mối tình đến muộn, vì nàng đã yêu Tham Hiệp Trần Phúc Hiển. Trần Ngọc Quán nghe tiếng danh nàng từ khi ở Phú Xuân, nên khi đến trấn nhậm Sơn Nam Thượng đã đến thăm nàng:

Tài cao nhã phượng thế gian kinh, Nay đến Long Thành được thấy danh.

Trần Ngọc Quán khuyến khích lập Tao Đàn tại Cổ Nguyệt Đường và được bầu làm Thi Tướng. Hồ Xuân Hương mời thi nhân hội họp ngâm thơ, nhưng cũng có người cười chê nàng là “thèo đảnh”, phụ nữ mà tụ họp nam giới uống rượu ngâm thơ. (Thèo đảnh khen ai khéo đặt cho).

Rằm tháng 7 trung thu năm 1815, Hội Thơ được tổ chức tại phủ đường Châu Cầu, Hồ Xuân Hương sợ bà Hiệp Trấn ghen, ngụ tại phủ đường bà sẽ đối xử “mát mẻ”, ngụ tại quán khách lòng bà sẽ chẳng yên “băn khoăn”. Hồ Xuân Hương làm bài Tặng Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng, để từ chối, nói lên một tâm sự tế nhị phức tạp thật tuyệt tác:

Hẹn thu hẹn nguyệt luống ăn năn, Cái kiếp phù sinh những nợ nần. Cửa viện xuân về hoa mát mẻ, Đài trang nương náu nguyệt băn khoăn. Duềnh xanh nước chảy tin lai láng, Lá thắm gieo thơ bút ngại ngần. Son phấn dám đâu so ngọn bút, Mượn tay thi tướng nhắc đồng cân.

Trần Ngọc Quán mất năm 1818, trong thời điểm cuộc thanh trừng vây cánh Nguyễn Văn Thành vì bài thơ Nguyễn Văn Thuyên. Phải chăng Nguyễn Văn Thuyên thường ra Bắc Hà đã đến cư ngụ nơi Trần Ngọc Quán. Mối quan hệ với vị chỉ huy toàn quân đội Nguyễn Văn Thành, khi làm Cai Bạ vùng đất kinh đô Phú Xuân là điều bình thường, trở thành một mối lo âu khi Nguyễn Văn Thành tự tử, trước áp lực của Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất, phe Lê Văn Duyệt, tôi cho rằng điều này đã dẫn đến cái chết của Trần Ngọc Quán. Thơ văn Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường bị đốt, bị cất dấu do ảnh hưởng việc này.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ TRẦN PHÚC HIỂN.

Trần Phúc Hiển con Trần Phúc Nhàn, giữ chức tham mưu trong quân đội Nguyễn Ánh trước khi chiếm được Phú Xuân, có lẽ tử trận, để đền công khi lên ngôi Gia Long phong cho con là Phúc Hiển chức Hàn Lâm Thị Thư năm 1803, sau đó được thăng dần đến chức Tri Phủ Tam Đái, Việt Trì ngày nay, thuộc trấn Sơn Tây, tháng 12 năm 1813 được thăng chức Tham Hiệp trấn Yên Quảng. Hồ Xuân Hương quen biết Trần Phúc Hiển từ khi còn là Tri Phủ Tam Đái. Một bài thơ không tựa, ghi dấu sự kiện này : Trăm năm gặp gỡ là bao nã, Thắc mắc sầu riêng khó gỡ ra.

Phép trị gia ngày xưa vợ cả không theo chồng tại chức mà ở lại quê chăm sóc gia trang, Phúc Hiển rời phủ Tam Đái dòng thuyền qua Thăng Long để đi Yên Quảng nhậm chức mới, để rủ bạn tình cùng đi, đến gần trấn lỵ sông Bạch Đằng, Phúc Hiển để bạn tình trở lại Thăng Long và hẹn sẽ rước nàng về làm vợ, nhưng mẹ Xuân Hương mất trong thời gian này, Xuân Hương phải cư tang, nên năm 1816, Trần Phúc Hiển mới trở lại cưới Hồ Xuân Hương, về Hạ Long nàng tham dự việc quan cùng chồng, thời gian này Xuân Hương viết các bài thơ vịnh cảnh Hạ Long, cảnh Đồ Sơn, Sầm Sơn bằng chữ Hán. Năm 1818 nhân việc ruộng Châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều, do dân bỏ đi làm nghề chài lưới được nhiều lợi hơn, Quan Tham Hiệp ép dân trở về cày ruộng, dân không chịu. Viên Án Thủ Dung vốn có tị hiềm xui dân kiện Phúc Hiển đòi ăn hối lộ 700 quan tiền, Phúc Hiển bị bắt. Vua Gia Long phê án “Tham nhũng như thế mà không giết thì lấy gì khuyến liêm” và bảo quan Bắc Thành trị tội. Phúc Hiển bị giam một năm đến tháng 5 năm 1819 thì bị tử hình.

Cùng một thời kỳ, xãy ra các vụ án bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, vì có câu : “Giúp nhau thay đổi hội cơ này”. Thuyên bị án chém, cha là Trung Quân Nguyễn Văn Thành, thống lĩnh toàn quân đội phải tự tử, Thầy dạy là Vũ Trinh, anh rể Nguyễn Du làm quan Hữu Tham Tri Bộ Hình bị án giảo, được giảm án đày đi Quảng Nam năm 1828 mới được ân xá. Thượng Thư Bộ Binh Đặng Trần Thường bị xử thắt cổ (án giảo), Nguyễn Gia Cát Tham Tri Bộ Lễ, Vũ Quý Đĩnh Thiêm Sự Bộ Lễ cũng bị án giảo. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán cũng chết có lẽ tự tử.. Các vụ án mang nhiều nghi vấn một cuộc thanh trừng phe phái với phe Tả Quân Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Án Thủ Dung và phe Trung Quân Quân Nguyễn Văn Thành. Vua Gia Long khi về già, lo sợ uy quyền các công thần lấn lướt, nên hành xử theo lối “được chim bẻ ná, hết thỏ thịt chó săn”, việc này thường xãy ra trong các triều đại Trung Quốc và Việt Nam. Phúc Hiển là người được Nguyễn Văn Thành che chở. Xuân Hương có mặt trong vụ xử tử chồng. Trong một bản văn Nôm cổ bài Khóc chồng có hai câu : Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc. Giọt máu trên tay mĩm miệng cười. Xuân Hương đã khóc cười điên dại bên xác chồng.

Khi Trần Phúc Hiển bị nạn lúc đó Trần Quang Tĩnh trở ra làm Tào Binh Bắc Thành, Tham Tri Bộ Binh, Hồ Xuân Hương có đến cầu cứu, nhưng quan Tham Tri lánh mặt. Bài Bán Chẩm Thư Hoài Hồ Xuân Hương viết: “ Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng. Tình ma không sức đuổi sầu binh”. Người bạn tình từng ngâm thơ đã lánh mặt, và nàng bị lính hầu xua đuổi.

Tương truyền sau khi chồng mất, Hồ Xuân Hương có vào chùa Giải Oan núi Yên Tử, nhưng rồi không hợp cảnh thiền môn, nàng trở về làng Nghi Tàm vài năm sau năm 1822 thì mất, hưởng dương 51 tuổi. Mộ được chôn tại nghĩa địa Đồng Táo trước chùa Kim Liên.

Hai mươi năm sau năm 1842, Miên Thẩm Tùng Thiện Vương theo anh vua Thiệu Trị ra Hà Nội tiếp sứ sang phong vương. Vương thăm Hồ Tây có viết 14 bài thơ tứ tuyệt thể liên hoàn Long Biên Trúc Chi từ trong Thương Sơn thi tập có đoạn viết về mộ Hồ Xuân Hương.

Đầy hồ rực rỡ hoa sen nở, Sai đứa hoa nô hái cúng dường. Chớ trèo qua mộ Xuân Hương nhé, Suối vàng nàng vẫn xót xa duyên. Phấn rữa hoa tàn trơ một nấm, Xuân Hương đã khuất cỏ mồ xanh, U hồn say mãi nay chưa tỉnh, Xuân qua mấy độ gió vô tình.

Năm 1869, Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San (1840-1878) viết Xuân Đường Đàm Thoại, một thể văn hư cấu tạo nên hai nhân vật Hùng Lĩnh Xuân Mai và Hoa Đường Ngọc Như tượng trưng cho Nguyễn Du và Phạm Quý Thích, mỗi người làm một bài phú tán tụng Hồ Xuân Hương. (Đặng Trần Côn trong Tùng Bách thuyết thoại và Đoàn Thị Điểm trong Hải Khẩu linh từ, từng viết thể văn hư cấu này).Trần Bích San đã nói tới mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, qua Hùng Lĩnh Xuân Mai: “Xuân Hương là một nữ lưu phù hoa, vẻ mặt như hoa đào, nhan sắc như nước mùa thu. Tôi lúc trẻ đã có một dạo giao du. Nào đàn, nào cờ, nào rượu, nào thơ, có thể viết nên một thiên “Phong tình tân lục”.

Về sau khi đắp đường Cổ Ngư, mực nước Hồ Tây lên cao, ngôi mộ Xuân Hương tại nghĩa địa Đồng Táo xây bằng đá vôi, chìm xuống lòng nước khoảng một thước. Khi Cuba xây dựng khách sạn Thắng Lợi dưới nước còn ngỗn ngang mồ mã. Nhiều người đi câu làng Nghi Tàm còn cho biết họ từng đứng trên các ngôi mộ đá vôi. Việc hạ lại mực nước Hồ Tây, xuống trở lại mực nước cũ không phải là chuyện khó khăn ngày nay.

Kỷ niệm 250 Hồ Xuân Hương, không gì quí bằng đề án xây dựng lại Cổ Nguyệt Đường gần chùa Kim Liên thành một viện bảo tàng, sưu tập thơ văn Hồ Xuân Hương được phổ biến trên thế giới, với một công viên cây cảnh như Tốn Phong viết trong thơ và đưa mộ Hồ Xuân Hương ra khỏi lòng nước Hồ Tây và dựng lại ngôi Gác Tía cạnh đình làng Nghi Tàm nơi Nguyễn Du từng ở ba năm tình với Xuân Hương. Thành phố Hà Nội có thêm một di tích văn hóa quí báu cho khách du lịch bốn phương trời đến thăm và tưởng nhớ hai thi hào lớn của dân tộc từng sinh sống tại kinh đô Thăng Long nghìn năm văn hóa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO TÓM LƯỢC :

BÙI HẠNH CẨN. Hồ Xuân Hương Thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại. Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 1995.

DURAND MAURICE . L ́ Oeuvre de la poétesse vietnamienne, Hồ Xuân Hương. Eds EFEO Paris 1968.

HOÀNG XUÂN HÃN. Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long. Về Tình sử và thơ văn Hồ Xuân Hương. Tạp chí Khoa Học Xã Hội Số 10 và 11 tháng 12-1983.

NGUYỄN DU. Thơ chữ Hán. Văn Học Hà Nội 1965,

NGUYỄN VĂN HANH. Hồ Xuân Hương tác phẩm, thân thế và văn tài. Ipr Aspar. Sài Gòn 1937.

PHẠM ĐÌNH HỔ. NGUYỄN ÁN . Tang Thương Ngẫu lục. TTHL Saigon 1971

PHẠM ĐÌNH HỔ. Vũ Trung Tùy Bút. Bản dịch Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Đông Nam Á Paris tái bản.

PHẠM TRỌNG CHÁNH. Hồ Xuân Hương , Nàng là ai ? Eds Khuê Văn. Paris. 2001

TRẦN THANH MẠI. Bản Lưu Hương Ký và lai lịch phát hiện nó, TCVH.11-1964 tr69-78.

XUÂN DIỆU Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Tập II Hồ Xuân Hương nxb Văn Học.1982.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Hồ Xuân Hương: Chân Dung Và Tác Phẩm

Cứu Cánh & Phương Tiện-Tưởng Năng Tiến

Cứu Cánh & Phương Tiện-

Tưởng Năng Tiến

Cùng với vài chục tờ báo quốc doanh khác, Người Lao Động (số ra ngày 15 tháng 11 năm 2021) cũng trân trọng đưa tin:

“Trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho thân sinh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc. Cụ Nguyễn Văn Hiền (SN 1917, quê xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) từ khi còn trẻ đã tích cực tham gia các phong trào của Hội Thanh niên phản đế tại địa phương. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí hết mình cống hiến cho Đảng, Nhà nước và được kết nạp Đảng vào năm 1947, kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng tại địa phương và các cơ quan, đơn vị.”

Bản tin thượng dẫn – dường như – không được công luận tán thưởng hay lưu tâm gì lắm, trừ bỉnh bút Sơn Trà của trang VNTB :

Nhìn hình ảnh một cụ ông sinh năm 1917 nằm thiêm thiếp trên giường bệnh y tế với sắc mặt hom hem, mắt nhắm nghiền, miệng không thể khép kín…, mang đến cảm giác bất nhẫn khi dùng những hình ảnh đó phục vụ tuyên truyền cho nghi thức có tên “trao huy hiệu đảng”… nhờ vào tin tức trao huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, công chúng biết rằng chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc đang có thân phụ phải sống cuối đời trên giường bệnh với những hom hem rất thương tâm. Trong tình cảnh ấy, cụ ông vẫn phải buộc sắm vai veston – cravat để nhận huy hiệu Đảng chụp hình đăng báo để phục vụ tuyên truyền chính trị.

Về lý thuyết, theo khoản 1 Điều 32 của Bộ luật dân sự 2015 thì: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý”… Trong trường hợp như cụ ông Nguyễn Văn Hiền thì ở tuổi 104, sức khỏe tâm thần của cụ dường chừng không còn đủ sức đưa ra bất kỳ quyết định nào. Như vậy ở đây không khó nhận ra người quyết định thay cụ, chính là người con trai đang làm chủ tịch nước.

Chuyện pháp lý thì “bao la” quá, tôi vốn dốt luật nên xin được miễn bàn thêm. Vấn đề, nếu chỉ nhìn ở góc cạnh đạo lý, cũng đủ khiến cho nhiều người bất nhẫn khi thấy một ông cụ đang thiêm thiếp trên giường bệnh cùng với thằng con – mặt trơ, trán bóng – đứng tươi cười bên cạnh!

Ông Hiền không phải là nhân vật đầu tiên (hay duy nhất) đã nằm trong cái tình trạng đáng thương và trớ trêu như thế. Hoàn cảnh của Võ Nguyên Giáp, lúc đã gần đất xa trời – xem ra – cũng rất khó coi và bất nhân không kém.

Ông cũng bị dựng dậy, bắt mặc quân phục, đeo huy chương, và tuy “mắt đã nhắm nghiền” nhưng vẫn bị dí vào mặt một lá thư mời (tham dự Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội) dù chắc là cụ đang mặc tã, và không còn sức lực để có thể tự đứng dậy một mình được nữa.

Binh nghiệp (cũng như sự nghiệp chính trị) của Võ Nguyên Giáp kể như là chấm hết, sau khi ông buộc phải từ bỏ chức vụ Bộ Trưởng Quốc Phòng và trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Sinh Đẻ Có Kế Hoạch – theo ghi nhận của dân gian :

Ngày xưa đại tướng cầm quân
Bây giờ đại tướng cầm quần chị em

Nhờ cái hào quang “cầm quân ngày xưa” (cùng thái độ vô cùng nhịn nhục khi bị bắt phải cầm quần) nên tuy thất thế Võ Nguyên Giáp vẫn được sống bình an. Đám con cháu cũng nhờ vào chút “dư âm” này để dễ bề xoay sở làm ăn, và đều ăn nên làm ra cả. Bởi thế, việc chúng tận tình khai thác cái xác sống của ông (cho mãi đến hơi thở cuối cùng) không phải là chuyện lạ.

Có lạ lùng chăng chỉ là cách ứng xử bất cận nhân tình của Nguyễn Xuân Phúc vào lúc này thôi. Ở cương vị Thủ Tướng, rồi đương kim Chủ Tịch Nước, ông có còn thiếu thứ chi đâu mà vẫn cứ dựng cái thi thể (“mắt nhắm nghiền, miệng không thể khép kín”) của thân phụ mình dậy “để chụp hình đăng báo phục vụ cho tuyên truyền chính trị”!

Tuyên truyền cho cái gì vậy, hả Trời? Bộ muốn thêm tên NXP vô danh sách của Nhị Thập Tứ Hiếu chắc?

Đúng là hết khôn dồn đến dại!

Thế mới biết tại sao mà quyền lực và danh lợi vẫn thường được ví như ma túy. Bao nhiêu cũng không vừa. Không ít kẻ còn chỉ vì chút lợi danh mà có thể đấu tố cha mẹ nữa cơ.

Wikipedia tiếng Việt, tuy luôn được biên soạn theo đúng khẩu vị của dân Ba Đình – Hà Nội, vẫn có đoạn đáng chú ý như sau :

Trong cải cách ruộng đất, Chu Văn Biên được xem là người thực hiện nghiêm túc nhưng cũng khét tiếng hiếu sát. Theo hồi ký Đèn cù của Trần Đĩnh, ông là người đã đấu tố cả mẹ mình khi là bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ Tĩnh, ông ngồi trên thềm cao chỉ tay mẹ mình nói: “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại”… Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được đảng trao chức Thứ trưởng Bộ nông nghiệp!

Một đảng viên cộng sản Việt Nam có thể giết cả mẹ đẻ chỉ vì danh lợi nên không có gì ngạc nhiên khi toàn Đảng đã đồng lòng bắt vị “cha già dân tộc” phải nằm phơi thây từ hơn nửa thế kỷ qua, dù dân gian đã vô cùng sốt ruột hay xót ruột :

Vào trong lăng bác âm u
Chị em phụ nữ dở mu ra chào
Ông là đứa mả mẹ nào
Sao không hạ xuống để đào đất chôn ?

G.S Ngô Bảo Châu, một vị trí thức khoa bảng nên nói năng lịch sự và nhỏ nhẹ hơn: “Có quý‎ mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.” Đến xác chết của cụ Hồ Chí Minh mà chúng còn không tha thì xá gì mấy cái xác sống của Võ Nguyên Giáp hay Nguyễn Văn Hiền.

Lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện vốn là châm ngôn của người cộng sản. Họ có thể dùng ngay cả xác chết của lãnh tụ, hay xác sống của chính tứ thân phụ mẫu để “củng cố” hay “che chắn” cho chuyện lợi danh thì cũng … OK. Mọi người đều có quyền tự do hành xử theo quan niệm sống của riêng mình.

Tuy nhiên, khi nhân danh một thứ cứu cánh thổ tả gì đó rồi dùng mồ hôi nước mắt và xương máu của cả dân tộc – từ thế hệ này qua thế hệ khác – để làm phương tiện (mà chưa biết đến đời kiếp nào mới thực hiện xong) thì lại là chuyện khác, gian manh thấy rõ:

Gần nửa thế kỷ trước, hồi năm 1973, Nguyễn Chí Thiện đã khẳng định rồi:

Đảng thực chất chỉ là Đảng cướp!

Nguyễn Chí Thiện đã tri hô lên như thế từ lâu. Cái giá mà bọn cướp bắt ông phải vì đã chỉ mặt và đặt tên cho chúng, tất nhiên, không rẻ. Tuy thế, từ đó đến nay – thỉnh thoảng – vẫn có nhiều người Việt tiếp tục công việc hiểm nguy này.

Nhân vật mới nhất, nhà báo Nguyễn Thông lại vừa lên tiếng nhắc nhở về cái sự thực trần trụi và phũ phàng này, vào hôm 21 tháng 11 năm 2021 (từ Việt Nam)

Thứ chủ nghĩa xã hội bánh vẽ vĩ đại mà các ông bà ấy theo đuổi tới nay đã hai phần ba thế kỷ rốt cục chỉ đem lại nghèo đói, lạc hậu, nội chiến, chiến tranh, xâu xé đất đai, tan rã rường mối xã hội, dân chúng bất hạnh, kìm hãm đất nước chậm tiến hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm so với cả rất nhiều quốc gia khác… Nếu nó (chủ nghĩa xã hội) có đem lại chút gì “tích cực” thì chính ở chỗ đã tạo được cuộc sống đế vương cho tầng lớp lãnh đạo, mà trường hợp xơi thịt bò dát vàng là ví dụ rõ nhất.

Liệu dân Việt sẽ vẫn cứ tiếp tục nhẫn nhịn sống với “đám đế vương” này thêm bao lâu nữa?

Tưởng Năng Tiến
12/2021

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Cứu Cánh & Phương Tiện-Tưởng Năng Tiến

Nhạc Giáng Sinh Xưa – Hai Mùa Noel, Bài Thánh Ca Buồn

Nhạc Giáng Sinh Xưa – Hai Mùa Noel, Bài Thánh Ca Buồn

Đăng tải tại NHẠC CẢNH & BÀI HÁT | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhạc Giáng Sinh Xưa – Hai Mùa Noel, Bài Thánh Ca Buồn

ÔNG ĐẠI TÁ SAY (tức Ông Đại tá ở Cao Bằng, Chú tôi!)

Diep Nong

ÔNG ĐẠI TÁ SAY (tức Ông Đại tá ở Cao Bằng, Chú tôi!)

Kim Chi

Ba tôi một mình lạc vào trong Nam làm việc từ năm 1948. Tất cả dòng họ bà con, đại tộc bên nội lúc ấy đều sống ở miền Bắc. Đến 1954, khi hiệp định Genève ký chia đôi đất nước, ba tôi mua vé tàu tất tả chạy ngược ra Bắc để níu kéo gia đình nhưng không kịp nữa vì dòng họ nội đều ở Cao Bằng, quá xa Hà Nội, không có đủ phương tiện để đi và về kịp… Ba đành phải đau khổ lên tàu quay về lại Sài Gòn…

Thế là bắt đầu từ đấy, ba tôi quay quắt nhớ cha mẹ, nhớ đàn em tám đứa hãy còn nheo nhóc, nhớ núi, đồi, làng xóm…

Khi vào Nam làm việc cho Pháp, cũng có vài bác cùng quê ở Cao Bằng, Lào Cai, cùng học và ra trường với ba tôi chung khoá một Quốc Gia Hành Chánh, khoá đầu tiên của Pháp đào tạo, và cũng vào Nam làm việc như ba tôi. Ba và các bác chơi rất thân thiết với nhau. Khi gặp nhau, ba và các bác hay phì phèo điếu xì-gà, nói chuyện với nhau bằng tiếng Tày, là ngôn ngữ của sắc dân Tày ở Cao Bằng. Khi ấy, tôi loáng thoáng, mơ hồ đoán ba tôi có những nỗi niềm mà chỉ có các bác mới chia sẻ được với ba… Đến khi biến cố 1975 ập đến, chúng tôi mới biết chúng tôi còn có một… ông anh cùng cha khác mẹ sống bao nhiêu lâu nay ở Cao Bằng, thiếu hoàn toàn hơi ấm với những săn sóc, thương yêu của người cha mà chúng tôi ở SG đã được hưởng trọn vẹn…

Ba và cả má của tôi lúc ấy đang là công chức trong Tòa Hành Chánh ở Bình Dương. Tháng 6/75, như bao công chức khác, ba tôi được lệnh phải đi học tập MỘT tháng để biết “đường lối của nhà nước mới”. Chúng tôi, cũng như tất cả người miền Nam lúc ấy, đã ngây thơ soạn cho ba chỉ vỏn vẹn một ba lô gồm ít quần áo, vật dụng cá nhân, một cái chiếu với cái gối bằng gỗ bọc da màu đỏ đã đi theo ba tôi cả cuộc đời của ông.

(Má của tôi sau đó cũng bị đi học tập, nhưng chỉ học tại BD sáng đi chiều về trong ba tháng!)

Trước ngày ba đi học tập một ngày, trưa ấy chỉ có tôi và má tôi ở nhà để lo thức ăn cho ba sáng hôm sau lên đường. Bỗng có tiếng chuông ngoài cỗng reo. Ôi! Tiếng chuông như đã bị quên lãng sau cái ngày tang thương 30/04/75, chẳng ai dám thăm viếng ai cả, nhất là những gia đình Mỹ Nguỵ như gia đình của tôi, họ đều ngó lơ đi khi chạm mặt chúng tôi ngoài đường…

Tôi nhìn ra cổng, thấy anh bạn học cùng trường với chị Hai của tôi, có mái tóc quăn tít, đi với một người cán bộ Việt Cộng. Cả hai cùng mang dép râu, cùng kẹp nách đầy sổ sách giấy tờ…

Tôi và má tôi đoán rằng họ muốn bổ túc giấy tờ trước khi ba đi học tập, nên tôi đã ra mở cổng…

Nhưng không phải như chúng tôi đoán! Cái người bạn học của chị tôi là… điềm chỉ viên cho tên cán bộ, đến nhà chúng tôi để… kiểm kê và tịch biên nhà !

Họ ghi xuống tất cả những gì đang có trong nhà của chúng tôi. Từ chiếc ghế đẩu, đến cái chuồng gà…; từ cái nồi cơm điện, bộ ấm trà, đến các… toilet bowls! Cuối cùng, trước khi ra về, họ đã bắt má tôi ký vào. Trong tờ kiểm kê dài cả chục trang giấy này, họ bảo rằng vì ba và má của tôi đã làm việc cho Mỹ Ngụy tức là thuộc thành phần phản động, vì chị Hai của tôi làm việc cho…C.I.A, một thành phần “cực kỳ nguy hiểm”! (Chị tôi đang du học môn… Kinh Doanh và Kế Toán tại Nhật mà cái tên bạn học của chị tôi đã cố tình chụp mũ gia đình tôi!), vì các cậu, các dì, và chánh yếu là vì ông anh rễ của má tôi là một Tổng Trưởng của guồng máy Tổng Thống Thiệu đến ngày 29/04/1975 nên chúng tôi có quá nhiều …tội với nhân dân, phải… trả nợ lại cho nhân dân! Và, cái câu quan trọng, khủng khiếp nhất trong văn bản này là: “Phải ra khỏi nhà trong vòng một tháng mà không được đem theo những thứ đã liệt kê…”, có nghĩa là phải để lại hết tất cả của cải vật chất đã oằn lưng dành dụm cả đời để cho bọn họ chia chát, rồi ra đi với hai bàn tay trắng!

Ba tôi đi “trình diện học tập” ngày hôm sau với cõi lòng tan nát, không biết rồi gia đình sẽ dọn đi đâu? Không biết rồi vợ con mình sẽ làm sao mà sống? Nhìn ba tôi rưng rưng lệ, bước chân thiểu não mà tôi thật đau lòng. Phải chi họ đến kiểm kê trễ hơn một ngày, chỉ một ngày thôi, thì có lẽ ba tôi đi … “học” mà không đau khổ và lo lắng như vậy.

Các cậu, các dì, các bà con của má tôi cũng đi học tập khắp các trại cải tạo hẻo lánh, đều bị kiểm kê, đều bị lấy nhà, khổ không thua gì chúng tôi. Gia đình năm người của chị Hai Ng, (con của dì Ba tôi) vì lên tàu ra sông Sài Gòn ngày 30/4/75, đã bị đạn bắn theo. Chiếc tàu Hải Quân chở các sỹ quan viên chức cao cấp cùng gia đình đi chuyến di tản cuối cùng đã nổ và cháy tan tành, nhấn chìm những đứa con VN da vàng, những tương lai và tuổi trẻ xuống dòng nước oan khiêng, tanh tưởi mùi máu của gia đình chị Hai Ng. Các cháu của tôi, từ hai đến tám tuổi, chưa kịp lớn để hiểu chiến tranh là gì, miệng hãy còn ngậm nắm vú, tay hãy còn ôm con búp bê có đau không khi những mảnh đạn xé nát thân thể của các em? Đã thế, họ còn hăm hở đến tịch thu nhà và tiệm bán đồ dùng điện tử của chị Hai Ng. Một tên cán bộ có gò má hóp cao, mắt thâm quầng, tím đen như bị ai đấm, cầm cái máy cạo râu lên ngắm nghía, rồi áp vào tai nghe ngóng… Hắn ngờ nghệch hỏi chúng tôi:

– “Này, có phải đây là cái… đài không?”

Tôi cảm thấy thương hại cho sự khù khờ, quê mùa của hắn quá. Thời ấy, cái máy cạo râu hơi to và thô thiển, nhưng không thể nào nhầm với cái “đài” được.. Chúng tôi chỉ xin nhặt lại các quyển albums hình của gia đình chị Hai Ng mà thôi. Đứng lật và xem sơ hình các cháu cùng anh chị Hai tươi cười rất hạnh phúc trong các albums, chúng tôi nghẹn ngào, không cầm được nước mắt. Nâng những quyển albums hình lên như chúng tôi đang nâng thân thể lạnh lẽo của các cháu bé bỏng thơ ngây lên. Một đám tang của gia đình năm người, không có lấy một quan tài, không kèn trống, không nhang khói, không bóng người đưa tiển….

Sáng hôm sau, tôi chở ba tôi đi xuống một trường trung học công lập để tập trung và điểm danh. Có đông người lắm… Tôi cố gắng tìm xem các bác làm việc trong Toà Hành Chánh tỉnh của ba má tôi ai còn ai mất. Tôi mừng thầm cho… sự vắng mặt của các người ấy. Họ thật là may mắn hơn chúng tôi… Sau vài giờ chờ đợi và điểm danh, họ chất những khuôn mặt ủ dột, buồn bả lẫn lo âu của những người chiến bại lên xe cam nhông, chở các quân nhân, công chức đi mà không cho biết là đi đâu cả! Thật tâm tôi lúc ấy chỉ muốn chạy cái xe Honda theo đoàn cam nhông kia, để biết họ sẽ đem ba tôi đi đâu…

Ba tôi đi được hơn mười ngày, má tôi chạy đôn chạy đáo lên xuống Sài Gòn, Cai Lậy, Biên Hòa, Bình Dương.. để năn nỉ bà con xa gần cho ở nhờ. Cho đến hôm ấy, vẫn chưa biết chúng tôi sẽ dọn đi đâu ở! Và má tôi cũng phải chạy đôn chạy đáo để bán nữ trang (để có tiền đi chợ!) mà má tôi nhanh tay giấu kịp…Thời ấy, vàng vòng bán không ai muốn mua cả. Nếu mua thì họ mua với giá rẻ mạt…

Hôm ấy, tôi và má tôi đang ở nhà tém dẹp đồ đạc. Ngoài cổng lại có tiếng chuông! Từ trong cửa sổ nhà nhìn ra, tôi thấy có một chiếc xe jeep đậu ngay trước cổng. Có hai người bộ đội đang đứng chờ mở cửa. Một người trẻ, một người trung niên, dáng dấp to lớn. Trên cổ áo của cả hai người loáng thoáng những sao vàng và huân chương đầy tràn trên ngực, lại còn dắt súng lục bên hông nữa! Tôi nấp vào trong nhà, người tôi run lên, tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực…

Tôi đoán họ đến lấy nhà sớm hơn ngày ghi trên giấy tờ! Tôi khẽ bảo má tôi hãy trốn vào trong! Mặc cho họ bấm chuông liên tục, tôi và má tôi cuống quít trong nhà như những con gà đang tìm ổ, chạy vội lên lầu, rồi lại quýnh quáng chạy ngược xuống lầu… Má tôi rưng-rức khóc, không biết phải giấu cái gì vào người, phải làm sao với hai ông tướng tá bộ đội ngoài kia… Còn tôi thì sững sờ và chết điếng cả người khi nghĩ rằng phải giao nhà cho họ ngay bây giờ… Tôi rùng mình hình dung ngay cảnh tượng gia đình anh chị em tôi sẽ chui rúc dưới một gầm cầu nào đó để sống tối nay… Phản xạ, tôi vơ vội một bộ đồ rồi mặc chồng vào, để nếu ra khỏi nhà thì tôi cũng có thêm một bộ quần áo…

Có lẽ vì thấy thấp thoáng bóng chúng tôi ở trong, người bộ đội dáng dấp to lớn mới nói thật to vọng vào trong nhà bằng giọng Bắc Cao Bằng như của ba tôi:

– Chị ơi! Em là em họ của anh Ch đây! Em ở Cao Bằng vào Nam tìm anh đây. Chị ơi, em là người nhà ngoài Bắc vào đây, chị mở cửa đi nào… Em là người nhà đây chị ạ…

Tôi và má tôi nhìn nhau… Nghe thật là lạ lùng quá, lạ… tai quá! Chúng tôi chưa bao giờ biết đến bất cứ một người thân nào ở bên nội. Chưa nghe! Chưa thấy! Chưa biết bao giờ… Ôi! Ngạc nhiên quá, lạ quá….

Tôi đi từ từ lại cửa sổ để lén nhìn kỹ họ lần nữa. Trên cổ áo của họ có nhiều sao vàng lấp lánh, nhưng cả hai có vẻ rất thân thiện. Má tôi hỏi từ trong nhà ra vài câu rồi mới bảo tôi mở cửa cổng.

Người trẻ tuổi tên Thuỵ, có chức vụ quân đội là trung uý (hai sao). Còn người to lớn, đấy là em rể họ của ba tôi. Chú tên là Phan Ninh.

*

Chú Phan Ninh cao lớn, phải trên 1 mét 70, da dẻ trắng và hồng hào y hệt người Dalat. Trên ngực áo của chú đeo dày đặc huân chương. Cổ áo của chú gắn hai gạch với ba ngôi sao. Lần đầu tiên sau ngày 30 tháng 4, tôi mới được thấy một người bộ đội đeo nhiều… sao như thế! Và cũng là lần đầu tiên, tôi được thấy một người bộ đội cao lớn, trắng trẻo, đẹp trai, phương phi, dáng dấp như Tây Phương chứ không… quê mùa, đen đủi, răng hô mã tấu như những bộ đội mang dép râu lúc ấy!

Thật là vô cùng thú vị khi nghe câu chuyện của chú kể nhờ đâu mà chú tìm được chúng tôi…

Sau khi tốt nghiệp đại học, chú đăng ký đi bộ đội để… giải phóng miền Nam! Chú rời Cao Bằng cả hơn sáu tháng nay để vào “Giải Phóng miền Nam”. Khi rời Cao Bằng, cả dòng họ đại tộc đã đặt hết tất cả hy vọng vào chú. Bằng đủ mọi cách, chú phải tìm cho ra người cháu, người anh Cả, người bác, người chồng và người cha đã mất tông tích mấy chục năm qua!

Chú kể, chú nằm dưới hầm hố ngay trong… tỉnh BD đã ba tháng trời trước ngày 30/4! Sau đó, chú lên chức Đại tá. Nhưng vì chưa tìm được tông tích của ba tôi nên chú không thể về Cao Bằng.

Mà làm cách nào để tìm ba tôi đây? Biết mặt mũi ba tôi thế nào! Biết ba tôi ở đâu mà tìm! Biết bắt đầu tìm từ đâu!

Chú cùng Thuỵ, người cận vệ của chú, hay đi ăn phở Pasteur ở Saigon. Một hôm, trong quán phở đông đúc, đa số là dân Sài Gòn, nên chú và Thuỵ chỉ nói chuyện với nhau bằng tiếng Tày..

Chú băn khuăn tâm tình với Thuỵ:

– Công tác GPMN đã xong rồi. Nhưng còn công tác tìm anh Ch thì chưa xong, nên ta không thể về quê bây giờ được. Cả cái miền Nam rộng lớn thế này, biết đi đâu mà tìm anh Ch bây giờ?! Ngay cả nếu anh Ch đang ở Sài Gòn này, cũng không biết làm cách nào mà tìm anh đây?! Chưa thể về Bắc được, khi chưa tìm được anh Ch….

Ngồi ở cái bàn sát bên chú Linh là bác Cược. Bác Cược là bạn thân thiết nhất của ba tôi, cũng là người Tày ở Cao Bằng. Bác cùng học Quốc Gia Hành Chánh khóa một chung với ba, cùng rời Cao Bằng và cùng vào Nam chung với ba tôi. Nhưng bác lại làm việc cho Tòa Lãnh sự Pháp trực thuộc chính phủ Pháp nên bác không bị đi học tập. Tất cả bạn của ba đều cùng số phận như ba tôi, ngoại trừ có một mình bác Cược!

Bác Cược lắng nghe hai người bộ đội bàn kế bên nói chuyện với nhau bằng tiếng Tày. Và bác quyết định bắt chuyện ngay với hai người bộ đội cũng bằng tiếng Tày:

– Hai anh có phải đi tìm anh Ch người quê Hà Quãng, Cao Bằng đấy không? Anh ấy có tám người em tất cả, có bố làm Chánh Tổng ở… mẹ tên là….., có cậu em Út tên là… Các em gái tên là….

Chú Ninh cùng Thuỵ và cả bác Cược đập bàn reo ầm ĩ lên, vô cùng mừng rỡ. Thế là nhờ vào cái tiệm phở, nhờ vào câu chuyện bằng tiếng Tày, nhờ bác Cược không đi học tập, và nhất định là phải có bàn tay của trời đất ơn trên sắp xếp cho gia đình tôi gặp được một đại ân nhân, chú Phan Ninh, người đã cứu và cưu mang chúng tôi rất nhiều…

Sau khi kể sơ chuyện gia đình ngoài Bắc, và hỏi thăm tình hình gia đình chúng tôi trong Nam. Chú Phan Ninh ngỏ ý muốn đi tìm thăm ba tôi ngay lập tức, để chú có thể giúp ba được gì chăng? Chú đã chở má tôi cùng Trị, (em trai Út của tôi), đi tìm ba tôi ngay trưa hôm đó. Chú đi hỏi hết tất cả các cơ quan công an đến các cơ quan hành chánh để biết ba tôi đang ở trại học tập nào. Họ đã dời ba tôi ra, vào nhiều trại. Và bấy giờ thì ba đang ở trại tù Long Khánh. Vì quá bất ngờ, nên má tôi chỉ kịp ngừng xe dọc đường mua cho ba tôi ít chôm chôm và hộp sữa Ông Thọ mà thôi!

Khi đến trại Long Khánh khoảng hai giờ trưa, chú Phan Ninh đã vào văn phòng của thủ trưởng trại cải tạo nói chuyện. Chỉ mươi phút sau, loa phóng thanh gọi tên ba tôi ra ngoài cổng, bảo rằng có người cần gặp. Tất cả các trại cải tạo thời điểm ấy, chưa có ai được gặp người nhà bên ngoài, mà thân nhân bên ngoài cũng chưa có ai được vào thăm nuôi người nhà đang học tập cả. Cho nên, khi ba tôi được tên cán bộ dẫn ra, ba đã đứng khựng lại, sững sờ, gần như muốn ngất xỉu khi thấy má tôi và emTrị bị hai tên… tướng tá bộ đội kè sát! Ba tôi đã nghĩ rằng, bọn họ đã bắt luôn cả má và em trai Út của tôi vào học tập chung! Từ xa, ba thiểu não bước về hướng cổng trại tù, những bước chân lê lết… Đôi mắt trũng sâu, đôi lông mày đen thật rậm ngày xưa của ba đổi thành màu bạc trắng, quần áo mặc rộng thùng thình như mặc đồ khính… Chỉ mới mười mấy ngày trong tù thôi mà ba tôi tiều tụy thấy rõ…

Chú Phan Ninh đoán được nỗi lo sợ của ba tôi. Chú dùng tiếng Tày nói trấn an ba tôi ngay tức khắc:

– Em là em họ của anh đây. Em từ Cao Bằng vào tìm anh. Anh yên tâm, chị và gia đình không sao cả. Anh đừng sợ, có em vào Nam lo cho anh và các cháu…

Họ cho thăm ba tôi độ nửa tiếng. Chú Ninh cố gắng xen vào ít câu tiếng Tày để dạy ba cách khai lý lịch như thế nào, nên khai cái gì và không nên khai cái gì… Ba tôi kể cho chú biết rằng ba phải khai lý lịch… mỗi ngày! Phải kể hết tất cả tên tuổi những người bà con xa gần, họ làm gì, ở đâu… Nếu khai không rõ điều gì là họ bắt lên tra khảo mãi tới đêm khuya! Và cho đến hôm ấy, ba vẫn còn đang viết lý lịch vì họ chưa… vừa lòng!

Thế là chú điện báo tin ngay cho ngoài Bắc biết đã tìm được ba tôi rồi. Cả họ hàng ngoài Bắc vô cùng mừng rỡ, mọi người chuyền tin cho nhau, cả dòng họ lẫn xóm làng vui hơn cả ngày Tết.

Và việc cần kíp phải làm là làm sao giữ lại được căn nhà đang gần ngày phải dọn ra! Chú rất thông minh. Chú nói má tôi viết một tờ giấy bán nhà cho… chú! Cái ngày má tôi “bán” nhà là cái ngày trước ngày của hai tên cán bộ đến kiểm kê!

Sau đó, chú cùng Thuỵ, người cận vệ của chú, cả hai cùng nai nịt súng ống, đeo huân chương đầy tràn trên ngực, cầm tờ giấy “mua bán nhà “đi thẳng lên UBND tỉnh BD. Ông đại tá Phan Ninh để tờ giấy mua bán nhà trên bàn của tên cán bộ tỉnh ủy rồi gằn giọng:

– “Đây là nhà của tôi, tôi đã mua trước rồi. Ai muốn lấy nhà này cứ đến tìm tôi nói chuyện. Có ai thắc mắc gì không?!”

Không ai “thắc mắc” cả! Và chúng tôi ở yên ổn trong căn nhà luôn 15 năm trời, cho đến ngày đi ra khỏi VN. Chú cũng chở các dì của tôi đi các trại học tập để thăm nuôi chồng. Người thì bị học tập ở miền Trung, người thì miền Tây. Phải đi ghe xuồng, băng rừng, phải ngủ tạm trên xe hơi ban đêm mới đến được những nơi khỉ ho gà gáy ấy. Nếu không có chú xông xáo vào từng ty Công An để hỏi cho ra tông tích của các dượng, các cậu, thì có lẽ các cậu, các dượng đã bỏ xác trong trại rồi. Ban ngày, những kẻ chiến bại này phải khai phá rừng. Ban đêm thì làm kiểm điểm và nghe họ o ép hài tội Mỹ Ngụy! Họ nhục mạ những kẻ chiến bại trong trạng thái bần cùng khánh kiệt. Họ cũng không cần phải đánh đập gì cả, chỉ… bỏ đói thôi! Đói lắm, không có gì để ăn hết, phải ăn cả… giun dế ngoài đồng, phải ăn sống khoai mót khoai sùng… Rừng thiêng nước độc, rất nhiều người bị bệnh sốt rét rừng, kiết lỵ và chết vùi xác vì không có đến một viên thuốc, hay là chết vì đói, chết gục ngay trên luống khoai chính mình đã trồng.

Thời ấy, tranh tối tranh sáng, nhiều xã trưởng, ấp trưởng, chỉ là bọn vô lại mới lên… Chú dắt chúng tôi đi “chơi” khắp mọi nơi để họ không còn ức hiếp chúng tôi nữa. Mỗi lần từ Sài Gòn lên Bình Dương thăm chúng tôi, chú cứ đi rễu rễu ngoài đường, gặp ai chú cũng “vui vẻ” bắt chuyện không sót một người. Chú không quên tự giới thiệu là chú RUỘT của chúng tôi!

Gia đình tôi có một miếng đất trống khoảng nữa mẫu ở Gò Đậu, cách nhà chúng tôi chừng hai cây số. Chúng tôi phải xuống đó trồng khoai lang và đậu phộng để sinh sống tạm thời như bao gia đình quân nhân công chức phải làm thời ấy, và cũng để hàng xóm nhìn vào thấy chúng tôi đã giống… nông dân lắm rồi! Anh em chúng tôi đã cật lực cuốc cỏ lột cả da tay, bật cả máu để hiểu thật sâu sắc… “lao động là vinh quang”! Chúng tôi trồng đậu phộng, khoai lang từ sáng sớm, đến chiều tối mịt mới về nhà. Ngôi nhà có vườn hoa đẹp nổi tiếng của khu phố ngày xưa đã gần như mất hẳn dấu tích, má tôi bảo tôi phải chặt bỏ các bụi hoa hồng nở quanh năm, bỏ rác hết các giò Lan…, chỉ còn thấy chăng là cuốc, xẽng nằm la liệt chung với mớ khoai, đậu ngỗn ngang trên sân xi-măng, nhìn thảm thương không thua gì chủ nhân của nó…

Cái tên chăn trâu ở cạnh đấy biết gia đình tôi là người của chế độ cũ bị đi học tập, nên mỗi ngày sau khi chúng tôi về, nó nhổ ăn cắp từ từ những cái cọc hàng rào bằng sắt để… bán lấy tiền. Hắn nhổ đều đặn, nhổ mỗi ngày hầu như công khai mà má tôi chẳng biết kêu gào với ai đây?! Chẳng những thế, rào kẽm gai cũng mất từ từ…

Chú Phan Ninh đến nói chuyện bâng quơ với hắn:

– Này! Anh để ý hộ cháu và chị tôi nhá. Thấy đứa nào nhổ cọc với ăn trộm hàng rào thì báo cho tôi biết, tôi bắn bỏ mẹ cả nhà nó… nát óc, chết tươi ngay….

Từ đấy, tuyệt nhiên không bị mất cọc với hàng rào nữa…

Chú Phan Ninh là chỗ dựa của chúng tôi thời ấy. Chú vạch rõ đường đi cho chúng tôi. Chú chở tôi đi xin học, lăn xả đi tìm việc làm. Tôi nhớ, khi công ty Shell cần tuyển người, chú từ Sài Gòn chạy xe jeep về Bình Dương, và chở tôi vội vàng đi ngược về Saigon nộp lý lịch để xin việc. Hỡi ơi, người đông như kiến, không có cách chi mà chen vào chỉ để nộp cái đơn thôi. Chú Ninh bèn vẹt mọi người ra, đẩy tôi đến ngay trước cái bàn nhận đơn. Rồi chú đứng cung tay ra, không cho ai xô đẩy, chen lấn tôi cả. Đợi mãi cả tiếng đồng hồ, họ gọi tên tôi lên để.. trả đơn lại! Tôi cũng đã đoán trước rồi! Tôi nào có tha thiết gì lúc ấy. Ai giở cái lý lịch của tôi ra mà không …choáng váng?! Họ ghi chú thật thậm tệ bên trong, một loạt hàng chữ ngoệch ngoạc chụp mũ và cố dìm chết chúng tôi… Nào là “Thành phần xấu”, “Gia đình có người làm cho CIA..”, “Gia đình là tay sai của Thiệu và đế quốc Mỹ”, “Gia đình thuộc thành phần phản động”…Ai sẽ mướn tôi? Ai sẽ chứa tôi? Ai cho tôi ghi danh học Đại học, Cao Đẳng, hay bất cứ ngành nghề gì khi thấy cái lý lịch như thế này?

Chú Ninh giận lắm khi bị trả cái đơn lại. Chú to giọng lên hỏi:

“Sao lại không nhận cháu của tôi? BÁC và ĐẢNG ta đã có chủ trương rõ ràng là ai làm thì người ấy chịu cơ mà? Cháu tôi chỉ là một đứa học trò trung học thôi. Nó nào có tội tình gì? Các người sai bét nhè cả rồi…”

Khi đi ra cửa, chú rất giận dữ, vẫn cứ tiếp tục văng tục “ĐMTS” , chửi thề ỏm tỏi cả lên…

Tôi còn nhớ, chú đã mắng xối xả vào tên ấp trưởng của gia đình tôi khi họ bắt má tôi phải đi học tập, rồi họp ngày, họp đêm mãi… Chú bảo họ:

“Gia đình chị của tôi đã có anh tôi đi học tập rồi. Chị và các cháu cũng đã… học tập… tốt rồi. Gớm! Cả nhà 7, 8 miệng ăn mà suốt ngày cứ bảo người ta hội với họp, học với tập. Bộ nói họp là … xách cái quần đi họp được ngay à? Thế các anh nuôi các cháu tôi đi nhé để chị tôi mới rảnh rỗi mà đi họp!”

Chú cũng dẫn tôi đến “thăm” một tên thư ký của xã nơi gia đình cư ngụ. Tên này đã “mời ” tôi làm một tờ kiểm điểm vì tôi mặc một cái quần…Tây! Thời 75, quần Tây được cắt rất rộng rãi, ống xì gà. Hắn đã hăm dọa tôi mà còn mặc các loại quần áo Mỹ Ngụy như thế này nữa thì hắn sẽ… cắt ngay. Chú chỉ nói với hắn ta có một câu thôi:

– “Cháu của tôi nó dại khờ lắm nên mới bị người ta… ăn hiếp thôi. Chú xem cháu có gì cần dạy bảo cứ… mách thẳng tôi nhá”.

Chú cũng dạy cho chúng tôi biết thế nào là chế độ Cộng Sản. Tôi nhớ mãi câu nói để đời của chú:

– “Cộng Sản là cái chế độ giống cái mặt bàn này đây. Ở trên đánh vẹc-ni bóng loáng, nhưng ở dưới nhám xịt, sờ vào sướt da đau lắm đấy cháu ạ!….”

Bằng một giọng nói u uất, chú kể cho chúng tôi nghe, trước khi vào Nam để thực hiện công tác “giải phóng miền Nam” chú đã bị gạt rằng trong miền Nam rất đói khổ, bọn Mỹ Nguỵ hành hạ và ức hiếp dân đen thật ghê gớm… nên chú càng hăm hở làm nhiệm vụ GPMN với tất cả nhiệt huyết con tim… Đến khi chú vào tới miền Nam rồi, ngày thì chú trốn dưới hầm, đêm chú trốn ra, đi chơi bên ngoài lẫn lộn với dân chúng. Chú đã choáng váng, thật ngỡ ngàng khi biết chú và tất cả dân miền Bắc bị gạt…. Nỗi bàng hoàng kéo dài cả tháng trời vì chú thấy ra chủ nghĩa Cộng Sản là một trò lừa bịp, nhưng chú không còn đường thối lui nữa… Thật cay đắng, chú nói với chúng tôi, chú và thân nhân ngoài Bắc đã để dành khá nhiều tiền để vào Nam cho ba tôi (!) vì họ bảo dân miền Nam làm việc nhiều mà… lương rất ít, rất nghèo và rất đói khổ, không mua sắm được gì cả!

Anh Ba của tôi lúc ấy vừa học Luật vừa học Đại học Khoa học để lấy chứng chỉ SPCN chuẩn bị thi Y Khoa. Chú Phan Ninh đã giả lả, mon men, la cà với ban lãnh đạo trường. Cuối cùng, chú đã khuyên anh Ba rằng:

“Cháu không vào được các ngành ấy đâu. Ngay cả cháu có học giỏi cách mấy cũng vậy. Họ chắc chắn sẽ đánh rớt cháu đấy… Cháu nên đổi qua Nông Nghiệp thì hoạ may họ còn cho cháu đậu! Mà cháu phải đổi ngay trong năm nay, chứ sang năm sau sẽ không được đâu…. Cả dòng họ mình ngoài Bắc chỉ vì có một mình ba cháu vào Nam, mà các chú, thím, các em… đều có lý lịch xấu ba đời không được học hành hay có chức tước gì cả đấy cháu ạ! “

Anh Ba của tôi thật buồn, mộng làm bác sĩ bay theo mây khói! Nhưng cũng nhờ chú hướng dẫn, nên anh đã đậu môn mục súc trong đại học Nông Nghiệp ở Thủ Đức để tốt nghiệp làm Bác Sĩ Thú Y. Anh đã học ngày học đêm vì rất sợ bị đi nghĩa vụ quân sự như số đông các bạn bè của anh bị chết mất xác bên Campuchia…

Sau nầy, khi ba tôi bị dời về học tập ở Bình Phước, ba tôi “được ” phân công gánh… phân xanh để tưới rau! Ông không chịu làm, bị làm kiểm điểm, bị chửi bới, phạt kỷ luật! Chú Phan Ninh phải vào trại dàn xếp cho ba tôi. Cuối cùng ba tôi được làm anh… nuôi! Tức là người..nấu cơm.. (Từ bé, tôi chưa bao giờ thấy ba tôi vào bếp cả! Sau này, ba tôi kể, ba chỉ đi tìm củi và phụ việc vặt trong bếp mà thôi!)

Kế sát nhà tôi là nhà ông bà Trưởng Ty Điền Địa. Rồi đến nhà ông bà bác sỹ R Ông bà Trưởng Ty lúc ấy phải trên dưới bảy mươi tuổi rồi. Bỗng dưng nhà ông bà để đèn suốt ngày đêm cả tuần lễ, rồi sau đó Hội Phụ Nữ đến đóng đô! Lúc ấy chúng tôi mới biết ông bà đã… đi vượt biên! Và rồi lại đến nhà ông bà bác sỹ R!

Chú Phan Ninh đi dò la tin tức, trầm tư suy nghĩ, rồi nghiêm giọng bảo chúng tôi:

– “Hai ông bà hàng xóm… già thế kia mà còn đóng tàu đi vượt biên được. Ông bà đã qua tới Mỹ rồi. Có khi các cháu phải đi vượt biên thôi … Các cháu không thể nào chịu nổi chế độ Cộng Sản đâu… Chị cố gắng gói ghém lại và tìm cách cho các cháu đi càng sớm càng tốt chị ạ. Hay! Thật hay! Em mà còn trẻ và không vướng bận gia đình, chắc em cũng phải đi vượt biên thôi chị ạ. Nhất định là phải lo cho các cháu đi vượt biên nhé chị. Hay lắm! Thật là hay đấy chị!”

Chúng tôi đã nhận ra những lời chú nói đều đúng như thế. Trị, em trai Út của tôi thi vào Đại Học Nông Nghiệp. Em học giỏi, bài thi làm trôi chảy. Nhưng lại không có tên trên danh sách thí sinh đậu dán trên văn phòng Ty Giáo dục tỉnh BD. Đi hỏi các thầy chấm bài, thì các thầy đều nói bài của em phải đậu, mà phải đậu hạng cao. Chắc có sự nhầm lẫn?! Má tôi đạp xe lên Ty Giáo Dục tỉnh để hỏi. Khi về má tôi khóc nức nở… Họ đã mắng như tát nước vào mặt của má tôi rằng:

– “Bà đi về đi! Các con của bà đến ba đời cũng không học đại học được đâu. Bà đừng mơ tưởng….”

Chú Ninh giận dữ, đùng đùng lái xe jeep đi đến Ty Giáo Dục tỉnh, chú đứng chống nạnh và chửi họ không ngớt miệng:

– “Các anh chị làm công tác giáo dục mà các anh chị sao có thể nào lại ăn nói lỗ mãng thua cả thằng chăn trâu chăn bò thế kia?! Các anh các chị dốt nát nên sợ người khác khôn hơn mình à?! Nên đánh gạt hết những người tài giỏi, chỉ để lại toàn một lũ… dzòi bám đít các anh chị, thối tha, ngu xuẩn… Rồi tương lai nước ta sẽ có những lãnh đạo… thối…địt! Mẹ kiếp! Con “người ta ” chỉ muốn học có cày cấy thôi mà cũng gạt bỏ, không cho học… Chả trách có những thằng bác sĩ không biết… cầm tiêm, thằng kỹ sư thì không biết làm toán… chia! Và các anh chị làm ngành giáo dục mà chẳng biết trọng nhân tài. (ĐMTS…!) Hãy dẹp… mẹ cái biển Ty Giáo Dục xuống đi…”

Chú về Bắc rồi chú lại vào Nam thêm vài ba lần. Mỗi lần vào trong Nam là chú dẫn theo các chú, các cô hay các cháu ở Cao Bằng vào Nam thăm ba tôi trong trại học tập. Chú ở lại trong Nam cho đến khi cả họ ngoại tôi đi thăm nuôi thân nhân đều đặn, chú giúp các dì lấy lại đất đai, nhà cửa đã bị mất. Chú đi săn tin từ trong… công an ra, và biết ba tôi hay các cậu sắp bị chuyển trại, là chú về báo cho chúng tôi hay ngay tức khắc. Rồi chú chở từng thùng xăng, từng bao gạo sấy mà trại lính Mỹ đã bỏ lại, để chúng tôi bán lấy tiền thăm nuôi ba tôi và sinh sống. Ngày chú phải trở về Bắc luôn, tôi rất buồn vì mất đi một người chú xốc vác, nương tựa. Chú dặn chúng tôi không được nói cho ai biết là chú về Bắc luôn vì sợ họ sẽ ăn hiếp gia đình chúng tôi nữa. Và chú nhắc nhở chúng tôi phải tìm đủ mọi cách để phải đi…. vượt biên! Quà mang về Bắc, chú chỉ xin chiếc máy ảnh Nikon cũ của ba tôi để kỷ niệm và cũng để về quê chụp hình, có thể kiếm thêm chút ít cho những ngày hưu trí.

Tôi đã nghe lời chú, tôi trầy vi tróc vảy đi vượt biên bốn, năm lần. Tôi bị công an rượt đuổi ở Phan Thiết, trốn chạy trong ruộng mía cả ngày y hệt như đóng phim trinh thám! Xã hội đảo điên, tôi cũng bị lường gạt sạch túi vài lần. Tôi đi vượt biên bị bắt và bị cả tù cùm chân…(*) Sống dưới chế độ CS, tôi như con thú phải sống trong rừng sâu, không thể ra ngoài ánh sáng. Nhưng cuối cùng, trời đất ơn trên đã phù hộ cho tôi đến được xứ sở tự do.

Tôi ước ao được một lần về thăm quê nội, thăm hằng trăm người bà con của tôi vì có ba tôi vào Nam mà họ đã không ngóc đầu lên được cả mấy đời con cháu. Thăm lại ông anh một cha khác mẹ thật đáng thương của chúng tôi. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của ba và anh trong trại cải tạo, anh đã khóc rưng rức khi thấy dáng Ba từ xa, rồi oà lên khóc tồ tồ, khóc như chưa bao giờ được khóc. Hầu như đây là lần đầu tiên trong cuộc đời của anh Cả được gọi tiếng BA, được biết cái bàn tay, cái gương mặt, cái tướng đi của mình giống Ba như thế nào khi tuổi của anh đã gần bốn mươi. Còn ba tôi, tóc bạc muối tiêu, tay run lẩy bẩy, vai nấc lên, mắt ràn rụa, ướt nhòe nhoẹt…

Bây giờ, tôi thật thấm câu chú Phan Ninh đã nói với tôi khi tôi chưa tròn mười tám tuổi:

– “Người dân ở miền Bắc tội nghiệp không thua gì dân ở miền Nam bây giờ. Họ cũng cùng số phận như người miền Nam, cùng bị chế độ độc tài Cộng Sản cai trị… Chỉ khác có một điều là người miền Bắc đã bị bọn Cộng Sản cai trị trước người miền Nam thôi!”

Chú Phan Ninh đã thấy quá rõ đời sống trước và sau ngày 30/4 /75 của người dân miền Nam và của gia đình tôi như thế nào, ngược hẳn với những gì mà chú bị tuyên truyền và nhồi sọ! Chú đã nhìn thấy sự đau khổ của chúng tôi khi bị.. đổi đời như thế nào! Chú sững sờ lặng ngắt người, đau đớn không thua gì gia đình chúng tôi khi nghe tin em trai út Trị của tôi đã mất tích trong lòng đại dương lạnh lẽo…

Chú về lại Cao Bằng, người ta thẳng tay cho chú về hưu! Chanh đã vắt kiệt, họ vất ngay cái vỏ, mà là cái vỏ đầy… gai góc. Trước khi về hưu, họ đã bắt chú tường trình những gì chú đã làm cho chúng tôi, chú đã đi đâu, đã thấy những gì từ cái gia đình Mỹ Nguỵ kia. Họ trông đợi một tố giác của chú, mà chú đã không đáp ứng như ý họ… Chú PN càng nổi điên lên, càng chửi bới nhiều hơn. Chú uống rượu giải sầu, cũng là để mượn rượu mà chửi “thiên hạ”. Khi say, dân làng, hàng xóm được nghe người Đại tá say này kể rất nhiều chuyện “phản động” mà họ đã bị giấu bưng bít!

***

Chú ơi! Hôm nay cháu ngồi nhỏ nước mắt gõ lộc cộc trên phím của computer, bồi hồi ôn lại chuyện chú cháu mình đúng tháng ngày này của 45 năm về trước. Cháu đang mang một kiếp lưu vong với những vinh nhục, vui buồn trên xứ lạ quê người. Ôm cái computer, mỗi ngày cháu mỗi thờ thẫn bàng hoàng vì những tin tức đen tối bên trời Nam… Cái án tử nặng ngàn cân đang cứa vào cổ dân mình rồi chú ạ! Quê hương và dân tộc VN đang lâm vào cảnh khốn đốn, tồi tệ nhất trong lịch sử. Nếu chú còn ở dương gian này, chú sẽ chỉ bảo cháu làm gì để cứu lấy Bản Giốc, cứu những tôm cá nuôi cả triệu đồng bào VN, cứu quê hương chúng ta thoát khỏi chế độ CS độc tài độc ác đây? Hay chú cũng chỉ làm người lưu vong tủi nhục như cháu, cái mầm lưu vong đã nhú lên ngay từ 45 năm về trước, để cây lưu vong mọc ngay trên dãi đất hình chữ S cong quẹo đau thương này, không biết khi nào mới ngẫng mặt đứng thẳng với thế giới và lịch sử mai sau…

Cháu không còn trẻ để vẫy vùng được như 20, 30 năm trước nữa. Ai cũng phải bước tới cái ngày nhắm mắt lìa đời… Nhưng chú ơi, cháu đau lòng lắm nếu ra đi mà không giúp ích gì được cho quê hương và dân tộc mình…

Có phải cũng cái đau này đã canh cánh, đeo đẳng chú về tận bên kia thế giới không, thưa chú Phan Ninh kính yêu…

Kim Chi

(*) KChi có viết truyện Đứa Con Trong Tù kể chuyện bị cùm chân trong tù.

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở ÔNG ĐẠI TÁ SAY (tức Ông Đại tá ở Cao Bằng, Chú tôi!)

TẠI SAO ĐẾN GIỜ VẪN CÒN NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN TỴ NẠN?

Van Pham

TẠI SAO ĐẾN GIỜ VẪN CÒN NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN TỴ NẠN?

Có người hỏi tại sao đến hôm nay vẫn còn người Việt vượt Biển để xin tỵ nạn?

Điều này dễ hiểu, bởi nhà nước XHCNVN luôn nhìn người dân Việt, đặc biệt dân miền Nam VN với con mắt thù ghét nếu không nói là “hận thù”.

Họ luôn xem dân Việt như là “Giặc” là “Phản Động”. Như vừa qua chống dịch Covid-19 họ phát động khẩu hiệu “Chống Dịch Như Chống Giặc” và đưa hàng ngàn, chục ngàn Bộ Đội từ miền Bắc với xe tăng, thiết giáp vào Nam, vào Saigon để lùa “Giặc F0, F1, F2” tập trung vào một nơi để dễ truyền nhiễm và mau chết…. Vì họ có chữa trị gì đâu với mấy viên thuốc, có lẽ là Xuyên tâm Liên?

Trong số gần 30K sinh mạng bị chết trong đợt dịch vừa qua hết 4/5 số người là bị chết oan bởi chế độ xem họ là giặc…

Trong khi đó, 3 gia đình được chính quyền Indonesia và Cao Ủy Tỵ Nạn tại Indonesia cho cư ngụ với chổ ăn ở, suốt gần 4 năm. Các cháu nhỏ được đi học, người lớn học Anh văn và mọi người cũng được chích ngừa Covid-19 vaccine. Họ cũng thông cảm cho hoàn cảnh phải bỏ đất nước ra đi mà dễ dãi cho anh Trần Văn Yên bị bắt vì đánh cá bất hợp pháp trong hải phận Indonesia… nhưng không bị tù tội mà còn được cho đoàn tụ với vợ là gia đình chi Trần Thị Phúc. Là gia đình đã đến định cư tại Canada hôm 02-12-2021 vừa qua (xin xem bài tường thuật và hình ảnh…)

Như thế chúng ta so sánh hai nhà nước Việt Nam & Indonesia, xem ai đối xử với người Việt với tình thương đồng loại, ai đối xử với dân như giặc, như phản động?

Thêm một điều, tại sao hầu hết là phụ nữ và trẻ em đến tại Indonesia lại dễ dàng được Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ chấp thuận cấp cho “quy chế tỵ nạn”? Vì thường họ là thành phần ít bị chế độ đàn áp.

– Thưa là, chính cái chế độ XHCNVN đã lươn lẹp, thất hứa với chính phủ Úc là sẽ không trừng phạt những người bị nước Úc trả về. Nhưng sau khi nhận tiền xong là chế độ đưa họ ra Tòa quy chụp tội và bắt bỏ tù họ. Chính vì thế rõ ràng là họ bị chế độ đàn áp không thể chối cãi, nên Cao ủy LHQ đã nhanh chóng cấp quy chế tỵ nạn cho họ….

Chính vì thế “cây cột điện biết đi thì nó cũng tìm cách để ra đi….

HÌNH:

– Gia đình chị Trần Thị Phúc được tiếp đón khi đến Toronto, Canada. Anh Trần Văn Yên (được Phóng viên Vũ Nhuận phỏng vấn) là thuyền viên đánh cá bị Indonesia bắt khi đánh cá bất hợp pháp trong hải phận. Nhưng được chính quyền Indonesia không những tha bổng mà còn cho phép đoàn tụ với vợ con đang sống trong trại tỵ nạn tại thủ đô Jakarta…

– Lực lượng quân đội và công an duy trì giãn cách xã hội ở quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh.

https://www.qdnd.vn/…/bai-2-gian-cach-xa-hoi-chong-dich…

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Cộng Đồng | Chức năng bình luận bị tắt ở TẠI SAO ĐẾN GIỜ VẪN CÒN NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN TỴ NẠN?

Khủng hoảng di dân: Liên Âu áp dụng các biện pháp trừng phạt mới đối với Belarus

RFI Tiếng Việt

Hôm qua 02/12/2021, Liên Hiệp Châu Âu (EU) đã ban hành một loạt các biện pháp trừng phạt mới đối với Belarus trong cuộc khủng hoảng di dân mà Ba Lan, Latvia và Litva đang phải đối đầu và cáo buộc chế độ của tổng thống Belarus Alexander Lukashenko là thủ phạm

Đăng tải tại Tin Thế Giới | Chức năng bình luận bị tắt ở Khủng hoảng di dân: Liên Âu áp dụng các biện pháp trừng phạt mới đối với Belarus