NGHĨ GÌ KHI BỘ TRƯỞNG CŨNG VƯỢT BIÊN

 Trần Thuận

NGHĨ GÌ KHI BỘ TRƯỞNG CŨNG VƯỢT BIÊN

Ngày 15/5/1975, Sài Gòn mở cuộc diễn binh mừng chiến thắng.

Trên khán đài danh dự, có một người đàn ông ngồi đó, với chức vụ Bộ Trưởng Tư Pháp của Chính Phủ Lâm Thời miền Nam Việt Nam.

Ông tên Trương Như Tảng.

Trương Như Tảng sinh ra tại Chợ Lớn, trong một trong một gia đình giàu có và thành đạt.

Sau khi tốt nghiệp trường trung học Chasseloup-Laubat, nơi ông có những người bạn nổi tiếng như Norodom Sihanouk, Dương Quỳnh Hoa, Phạm Ngọc Thảo,… ông được gia đình gửi sang Pháp để học ngành dược. Tuy nhiên ông đã bỏ khoa này nửa chừng để chuyển sang học chính trị và luật. Trong thời gian ở Paris, Trương Như Tảng tham gia phong trào chống chiến tranh của Đảng Cộng sản Pháp, vì thế ông bị gia đình cắt viện trợ và phải rửa chén, gọt khoai kiếm tiền sinh sống để có thể tiếp tục con đường đã chọn. Trương Như Tảng cũng từng gặp ông Hồ Chí Minh vào năm 1946. Năm 1951, ông tốt nghiệp cao học chính trị và cử nhân luật sau đó trở về nước vào năm 1954.

Từ 1958, Trương Như Tảng bắt đầu hoạt động bí mật cho cộng sản, tại Sài Gòn.

Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được cử làm Tổng Giám đốc Công ty Đường Việt Nam, một công ty quốc gia lớn. Trong thời gian này ông đã hoạt động ngầm cho hai tổ chức cộng sản là “Phong trào Tự Quyết” và “Ủy ban bảo vệ Hòa Bình”.

Sau khi việc làm của Trương Như Tảng bại lộ, ngày 16 tháng 6 năm 1966, ông bị chính quyền Sài Gòn bắt.

Nhờ có Trần Bạch Đằng thu xếp với người Mỹ về trao đổi tù binh, ông được trả tự do và đã ra bưng hoạt động hẳn cho cộng sản.

Sau khi Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam thành lập, ông là phó chủ tịch liên minh ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Trương Như Tảng tham gia sáng lập và giữ chức bộ trưởng Bộ Tư Pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Để rồi sau đó năm 1976, tại Hà Nội, bộ trưởng Bộ Lương thực Thực phẩm Ngô Minh Loan đã mời ông này làm thứ trưởng với lí do Trương Như Tảng có kinh nghiệm để phát triển ngành công nghiệp mía đường của Việt Nam nhưng Trương Như Tảng đã từ chối.

Năm 1977, để tránh bị theo dõi, ông Trương Như Tảng nhận lời mời của ông Võ Văn Kiệt phụ trách ngành công nghiệp cao su.

Ngày 25 tháng 8 năm 1978, Trương Như Tảng xuống thuyền vượt biển và hơn một tuần sau thì được một tàu hàng Singapore chở tới đảo Galang, thuộc Indonesia.

Sau đó ông Tảng định cư ở Pháp.

Trương Như Tảng đã viết hồi ký nguyên văn bằng Tiếng Pháp là Mémoire d’un Vietcong, bản dịch Tiếng Anh là A Vietcong Memoir, tiếng Việt là “Hồi Ký của một Việt Cộng”.

Cuốn sách này viết về ước mơ tan vỡ của Trương Như Tảng, về một nước Việt Nam độc lập, hòa bình và dân chủ, về một quả lừa mà không những riêng ông, rất nhiều trí thức tầm cỡ khác cũng phải ngậm đắng nuốt cay sau khi ăn phải. 


 

MẸ CHẾT, CON SỐNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu!”.

Trong Phúc Âm “Luca cho Mọi Người”, Luke for Everyone, N. T. Wright kể, sau một vụ cháy chuồng trại, người ta đã tìm thấy một con gà mẹ bị thiêu chết, thân cháy đen, nhưng những chú gà con dưới đôi cánh nó vẫn sống.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa đống tro tàn, một sự sống đã mất để những sự sống khác được giữ lại. Hình ảnh ấy trở thành hiện thực nơi Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Tình yêu Ngài sẽ đi đến tận thập giá, nơi nghịch lý cứu độ được tỏ bày: ‘mẹ chết, con sống’.

Trước lời đe dọa của Hêrôđê – “con cáo ấy”; như gà mẹ, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục chữa lành, trừ quỷ và vẫn lên Giêrusalem. Điều khiến Ngài đau lòng không phải là cái chết đang chờ mình ở đó, mà là sự khước từ của những người Ngài muốn quy tụ. Đã bao lần Ngài muốn ôm lấy họ, nhưng họ không chịu đến! Gà mẹ dang cánh, nhưng đàn con vẫn có thể không tìm đến. Tình yêu Thiên Chúa cũng thế: tha thiết đến cùng, nhưng không cưỡng bức tự do con người. “Ngài không thể cưỡng đoạt; Ngài chỉ có thể dùng tình yêu mà lôi kéo!” – C. S. Lewis.

Trong nguyên bản Hy Lạp, Luca đặt hai lần động từ “muốn” đối diện nhau: ēthelēsa – “Ta muốn”; ouk ēthelēsate – “các ngươi không chịu”, không muốn. Một bên là khát vọng không ngơi của Thiên Chúa; bên kia là sự chối từ của con người. Giêrusalem không thiếu Đấng muốn cứu mình; họ không muốn Ngài cứu! Chúa Giêsu đau lòng không chỉ vì họ cự tuyệt, nhưng vì Giêrusalem đang khép lại con đường dẫn đến sự sống của mình. Đôi cánh vẫn rộng mở, đàn con vẫn đứng ngoài.

“Vẫn đứng ngoài” là cám dỗ muôn thuở của ma quỷ. Cuộc chiến của người môn đệ không nhằm đánh bại những kẻ chống đối mình, nhưng chống lại sự dữ đang tìm cách đẩy xa chúng ta khỏi Thiên Chúa. Vì thế, “Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ!” – bài đọc một. “Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Có khi chúng ta đứng ngoài đôi cánh Chúa mà không hay. Biết điều gì đang làm mình xa Ngài, chúng ta vẫn chống chế; biết sự dữ đang rình rập, vẫn tưởng mình an toàn. Chúng ta sợ mất điều đang níu mình lại hơn sợ đánh mất linh hồn. Chúa muốn che chở, chúng ta cứ cứng lòng. Điều đáng sợ không phải là đã đi xa, nhưng là không còn thấy cần trở về.

Anh Chị em,

“Trên thập giá, Chúa Giêsu đã hiến tế chính thân mình làm lá chắn, hứng chịu toàn bộ sức mạnh của hận thù và bạo lực thế gian!” – Robert Barron. Ngài không tìm cách thoát chết để tự cứu mình; Ngài đón lấy cái chết để cứu nhân loại đã đóng đinh Ngài. Đôi cánh từng muốn quy tụ con cái Giêrusalem nay dang rộng trên thập giá ôm trọn mọi người. Chính nơi đó, nghịch lý ‘mẹ chết, con sống’ trở thành sự thật cứu độ. Đức Kitô không chết vì chúng ta đã chịu đến với Ngài; Ngài chết cả khi chúng ta còn không muốn đến!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con tưởng mình tự do mà đang nô lệ sự dữ; giúp con muốn điều Chúa muốn; xin kéo con về dưới đôi cánh đang dang rộng trên thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/29.html

Ngôn sứ mà chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem thì không được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 13,31-35

31 Khi ấy, tại Giê-ru-sa-lem, có mấy người Pha-ri-sêu đến thưa Đức Giê-su rằng : “Xin ông đi ra khỏi đây, vì vua Hê-rô-đê đang muốn giết ông !” 32 Người bảo họ : “Các ông hãy đi nói với con cáo ấy thế này : ‘Hôm nay và ngày mai tôi trừ quỷ và chữa lành bệnh tật, ngày thứ ba tôi hoàn tất. 33 Tuy nhiên, hôm nay, ngày mai và ngày mốt, tôi phải tiếp tục đi, vì một ngôn sứ mà chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem thì không được.’

34 “Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem ! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi ! Đã bao lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. 35 Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ mặc cho các ngươi. Mà Ta nói cho các ngươi hay : các ngươi sẽ không còn thấy Ta nữa cho đến thời các ngươi nói : Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa !”


 

 

Mừng kính 2 thánh Simon và Giu-đê – Cha Vương

Hôm nay Giáo hội mừng kính 2 thánh Simon và Giu-đê, uớc mong bạn là một người dũng cảm với một quả tim nhiệt thành trong mọi lãnh vực. Mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm bổn mạng nhé. Cậ`u nguyện cho nhau và thế giới được an lành nữa nhé .

Cha Vương

Thứ 4: 28/10/2026.    (t5-21)

THÁNH SIMON được tất cả bốn Phúc Âm nhắc đến. Trong hai Phúc  a^m, ngài được gọi là “người Nhiệt Thành” (Zealot). Phái Zealot là một nhánh Do Thái Giáo, đại diện cho chủ nghĩa dân tộc Do Thái. Ðối với họ, lời hứa cứu tinh trong Cựu Ước, có nghĩa là người Do Thái sẽ được tự do và có được một quốc gia độc lập. Chỉ có Thiên Chúa là vua của họ, nên việc nộp thuế cho người La Mã – là người đang đô hộ – được coi là xúc phạm đến Thiên Chúa. Chắc chắn rằng, một số người Zealot là miêu duệ tinh thần của người Maccabee, muốn tiếp tục lý tưởng tôn giáo và tranh đấu cho độc lập. Nhưng nhiều người trong nhóm họ cũng giống như quân khủng bố ngày nay. Họ lùng bắt để giết những người ngoại quốc và người Do Thái “cộng tác với địch”. Họ là những người chủ chốt trong vụ nổi loạn chống La Mã, và kết thúc bằng việc tiêu hủy thành Giêrusalem vào năm 70.

THÁNH GIU-ĐÊ  (Jude) là một nhân vật được đề cập đến trong Phúc Âm theo Thánh Luca, cũng như trong Công Vụ Tông Ðồ Thánh Mátthêu và Thánh Máccô gọi ngài là Thadeus (Ta-đê-ô), có nghĩa là “người dũng cảm”.  Sau ngày phục sinh Ta-đê-ô hỏi Chúa Giêsu: “Vì sao Thầy tỏ cho chúng tôi và không cho thế gian?” Và Chúa trả lời cho ông rằng Ngài tỏ mình qua những ai yêu mến Ngài. Ngoài ra, ngài không được nhắc đến ở chỗ nào khác trong các Phúc Âm, ngoại trừ, khi kể tên các tông đổ`. Các học giả cho rằng ngài không phải là tác giả của các thư Thánh Giu-đa. Thực ra, Giu-đê cùng tên với Giu-đa Ítcariốt (Judas Iscariot). Do đó, vì sự bất xứng của tên Giu-đa (bán Chúa), nên người ta đã gọi tắt là “Giu-đê”. Tương truyền sau đó cho biết người giảng đạo ở xứ Mesopotamia và đã chết vì đạo tại đó. Thánh tích của người hiện ở đền thờ Thánh Phêrô – Rome, Rheims và Toulouse nước Pháp. Người ta tôn kính Thánh Giu-đê như quan thầy “những hoàn cảnh thất vọng”. Trong kinh kính người có câu: “Lạy thánh tông đồ Giuđa Taddeo được cầu khẩn như vị trạng sư của những hoàn cảnh đau thương, gần như thất vọng, xin nghe lời những kẻ đang gặp khó khăn…”

       Có tương truyền khác cho rằng người chịu tử đạo cùng lúc với thánh Simon Tông Đồ tại Persia (Ba Tư). Cả hai cùng được mừng lễ kính chung trong một ngày. Hôm nay mời bạn hãy xin Chúa ban cho hai ơn: (1) Ơn “nhiệt thành” để rao giảng Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh,

 (2) Ơn “dũng cảm” để minh chứng cho đức tin của mình trong một thế giới đang bị sa đọa. 

From: Do Dzung

*****

Giêsu bên đời -tinmung.net

SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC…Nguyễn Ngọc Chính

Nguyễn Ngọc Chính

Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn. Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế.  Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ !

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương.  Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa !. Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá.  Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).  Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó. Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng.  Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường.  Bài thơ Ðường Luật có

4 câu đầu như sau:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,

Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino.

Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị

Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn !

… Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng.  Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc.  Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh.  Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường.  Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường.

Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được”. Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét.  Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu.  Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt.  Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay.  Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay. Ông thường xuyên đội nón, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù.  Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách.  Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa”, bánh và thịt trên mức hậu hĩnh.

… Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam.  Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh patechaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác.  Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách.  Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tiếu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống.  Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô.  Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó.  Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải.  Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn.  Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo.  Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao !

***

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, pate ăn kèm với sốt mayonnaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng.  Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo !

Một trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm 1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy.  Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa.  Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp casse croute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ.  Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

… Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya.  Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng.  Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt.  Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đỉnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trên đường Tự Do hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa.  Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

… Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dãy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa.  Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông.  Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún).  Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền.  Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là”, tên chữ là “hồ đa tử”.  Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ”, tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

Sơn Nam viết : “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất.  Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là”.

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt.  Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay.  Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được”. Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có của thịt vịt.  Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng.  Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào.  Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay.  Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng.  Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người.  Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ.  Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng.  Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…”

Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu.  Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút.  Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ.  Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy”.  Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi !

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng.  Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi-Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông.  Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan.  Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh !

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen.  Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai.  Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng : “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

… Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy.  Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ” như đã nói ở trên.  Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ.

Tất cả chỉ còn là… hoài niệm!

Nguyễn Ngọc Chính

From: T. Nguyen 


 

CHỢ RẪY – MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Kiều Diễm

CHỢ RẪY – MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Ai từng có người thân điều trị dài ngày ở Chợ Rẫy, có lẽ sẽ hiểu nơi này chất chứa biết bao nỗi đau chẳng thể gọi thành tên.

Hôm qua, sau khi thăm anh, mình bấm thang máy đi xuống. Khi ngang qua khoa Thận, một nhân viên y tế đẩy chiếc xe có người bệnh được phủ khăn kín mặt vào cùng khoang thang máy với mình. Bên cạnh là người thân đang khóc nức nở.

Mình lặng người. Không cần ai nói, mình cũng hiểu, có lẽ một cuộc chia ly vừa xảy ra.

Mẹ mình cũng từng chạy thận, từng trải qua những tháng ngày chống chọi với bệnh tật, rồi cuối cùng rời xa anh em mình. Có những ký ức tưởng chừng đã ngủ yên, vậy mà chỉ một khoảnh khắc cũng đủ khiến lòng đau nhói.

Giờ đây, mình lại đứng trước nỗi sợ ấy một lần nữa. Người đang nằm trên giường bệnh, chống chọi với bệnh tật, chính là người anh trai duy nhất của mình.

Gia đình nhỏ ngày ấy có bốn người: ba, mẹ, anh và mình. Vậy mà ba mẹ đã lần lượt rời xa anh em mình khi cả hai đều ở tuổi 46. Từ một gia đình đủ đầy, giờ chỉ còn hai anh em nương tựa vào nhau giữa cuộc đời.

Có những nỗi sợ chẳng thể nói thành lời. Mình vẫn cố gắng hy vọng, vẫn mong anh sẽ vượt qua, vẫn tự nhủ mọi chuyện rồi sẽ ổn. Nhưng sâu thẳm trong lòng, mình thật sự rất sợ. Sợ nỗi đau năm xưa một lần nữa lặp lại, sợ một ngày nào đó, người thân cuối cùng cũng rời xa mình.

Chứng kiến quá nhiều bệnh tật và mất mát, mình mới hiểu sức khỏe quý giá đến nhường nào. Chỉ mong bản thân biết thương lấy mình hơn, để những người yêu thương không phải khổ sở, lo lắng vì mình.

Ở nơi này, có người đang cố giành giật sự sống, có người ngày đêm cầu mong người thân tỉnh lại, và cũng có người phải đau đớn chấp nhận một cuộc chia ly.

Mình chỉ mong anh đủ mạnh mẽ để vượt qua. Mong ông trời đừng lấy đi người thân cuối cùng mà mình còn có thể gọi là gia đình.

Ba mẹ đã đi xa rồi. Mình thật sự không muốn một lần nữa phải học cách sống tiếp khi thiếu đi một người thân yêu.

Anh à, D chẳng mong gì nhiều. D chỉ mong anh khỏe lại, để hai anh em mình còn có nhau


 

Người dì đang định cư ở Mỹ chuyển tiền về cho cháu ruột để mua nhà ở Đà Nẵng, song đã bị người cháu này chiếm đoạt.

 Người dì đang định cư ở Mỹ chuyển tiền về cho cháu ruột để mua nhà ở Đà Nẵng, song đã bị người cháu này chiếm đoạt.

Hôm 27 Tháng Mười, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Thành Phố Đà Nẵng đã khởi tố, bắt giữ bị can Trần Hoàng Vĩnh Tú, 37 tuổi, ở phường Hải Châu, để điều tra về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”

Báo Thanh Niên dẫn tin điều tra ban đầu cho hay, do tin tưởng người thân ở Việt Nam, bà LHC, Việt kiều Mỹ, đã nhiều lần chuyển tiền về nhờ bị can Tú, cháu kêu bằng dì, quản lý, gửi tiết kiệm và tìm mua nhà đất để ở khi hồi hương.

Vào Tháng Hai, 2026, bà C. gom hết tiền bạc bán căn nhà cũ và chuyển thêm cho bị can Tú tổng cộng hơn 4.7 tỷ đồng ($182,285) để nhờ mua nhà. Đến đầu Tháng Ba vừa qua, thông qua người quen giới thiệu, bà C. tìm được một căn nhà ưng ý trên đường Trần Xuân Lê, thành phố Đà Nẵng, với giá 4.77 tỷ đồng ($184,644) và nhờ bị can Tú đến đặt cọc để mua. Tuy nhiên, bị can Tú chỉ đặt cọc 70 triệu đồng ($2,709), không thanh toán đủ hết số tiền cọc theo thỏa thuận với người bán nhà, đồng thời cắt đứt liên lạc với bà C.

Vụ án đang được Công An Thành Phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra, làm rõ. 


 

XÂY NHÀ TRONG ĐÊM – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa!”.

Có người nhận xét: “Nhà thờ sống luôn có nhiều vấn đề; nhà thờ chết thì không! Nhà thờ sống có thể ồn ào vì trẻ em chạy nhảy; nhà thờ chết đìu hiu như nghĩa trang. Nhà thờ sống luôn cần đổi thay; nhà thờ chết nhện tha hồ dăng!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Hội Thánh trở nên sống động không nhờ những không gian vật chất, nhưng nhờ những con người cầu nguyện. Lời Chúa lễ hai Thánh Simon và Giuđa tông đồ hé mở bí quyết ấy: ‘xây nhà trong đêm’.

Trước khi gọi Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Chúa Cha. Nền móng Hội Thánh được đặt trong tương quan ấy.

Mỗi ơn gọi, mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn không thể lớn lên ngoài cầu nguyện. “Hội Thánh không phải là một cơ chế, nhưng là một sự sống siêu nhiên!” – Henri de Lubac.

Hội Thánh được xây trên nền tảng các tông đồ và ngôn sứ, với chính Đức Kitô là đá góc tường.

Nền móng ấy không chỉ để tuyên xưng mà để sống.

Những viên đá sống chỉ đứng vững khi gắn bó với Đấng là đá tảng. “Trong Người, toàn thể công trình ăn khớp với nhau” – bài đọc một.

Một viên đá đứng riêng vẫn chỉ là viên đá; chỉ khi gắn kết với những viên đá khác quanh Đức Kitô, nó mới trở thành viên đá sống của Đền Thờ Thiên Chúa.

Vì thế, xây dựng Hội Thánh không khởi đi từ hoạt động, nhưng từ tương quan với Thiên Chúa. Cành cây chỉ sinh hoa trái khi ở lại trên thân cây.

Chúa Giêsu cầu nguyện rồi mới đến những việc khác: dân chúng, tuyển chọn, chữa lành, trừ quỷ. Đêm ấy, Ngài thức cầu nguyện; sáng ra, Ngài gọi tên từng người.

Những con người bình thường ấy lại được sai đi đánh thức cả thế giới.

Họ được chọn không phải vì đã chuẩn bị đủ, nhưng vì Đấng sai đi đã mang họ vào lời cầu nguyện của Ngài.

Trước mặt Chúa Cha, Ngài vẫn đang nói với mỗi người chúng ta như đã nói với Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh”. Chúng ta được gọi không phải vì đã xứng đáng, nhưng vì được Chúa Giêsu yêu thương và cầu nguyện cho. “Lời cầu nguyện của Đức Kitô là nền tảng cho lời cầu nguyện của Hội Thánh; lời chúng ta có thể bay lên vì lời cầu của Ngài không bao giờ ngơi nghỉ!” – Hans Urs von Balthasar.

Có những ‘đêm’ chúng ta chỉ biết loay hoay tìm cách giải quyết mọi sự, nhưng lại quên quỳ xuống cầu nguyện. Chúng ta muốn xây thật nhanh, trong khi Thiên Chúa vẫn âm thầm đặt từng viên đá móng. Điều được dựng nên trong cầu nguyện luôn bền hơn điều chỉ được dựng bằng sức riêng.

Anh Chị em,

Đức Kitô vẫn đang xây Hội Thánh bằng lời chuyển cầu của Ngài.

Ngài tiếp tục ‘xây nhà trong đêm’: đêm thử thách, đêm chờ đợi, đêm hoán cải và đêm tín thác. Ai đón nhận lời chuyển cầu của Đức Kitô và gắn bó với Ngài, người ấy trở thành viên đá sống, được ghép vào Đền Thờ của Thiên Chúa. Ngay cả những rạn nứt muốn che giấu cũng có thể thành nơi Ngài nối chúng ta lại với nhau.

Bấy giờ, chúng ta mới có thể cùng các tông đồ làm cho “Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết quỳ xuống giữa những đêm lo âu; dạy con gắn bó với Ngài và anh em; và dùng đời con xây một mái nhà cho những người còn đứng ngoài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa kính Thánh Simon & Thánh Giuđa Tông Đồ, 28/10,

Thứ Tư tuần XXX Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/28.html

Đức Giê-su chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 6,12-19

12 Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. 13 Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ. 14 Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, 15 Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Nhiệt Thành, 16 Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội.

17 Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn 18 đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật. Những kẻ bị các thần ô uế quấy nhiễu cũng được chữa lành. 19 Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.


 

Tại sao chúng ta đọc “Amen” vào cuối kinh Tin kính-Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, ước mong bạn tận dụng những thời gian trong ngày để đến gần với Chúa và những người thân yêu hơn hôm qua  luôn nhớ nhau trong nguyện cầu và thể giới được bình an nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 27/10/2026.     (t5-22)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta đọc “Amen” vào cuối kinh Tin kính [hoặc các kinh đọc hằng ngày]? Chúng ta kết thúc kinh Tin Kính bằng từ Amen. Từ này theo tiếng Do Thái có nghĩa là “thưa vâng”, bởi vì Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở thành nhân chứng đức tin. Ai nói Amen là vui sướng và tự do tán thành công việc tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Amen cũng là tin tưởng chắc chắn, trông cậy và trung thành. (YouCat, số 165)

SUY NIỆM: Theo tiếng Hibá, từ Amen có ý nghĩa vừa là “tin” vừa là “tin chắc, tin cậy và trung thành”. “Ai nói Amen là ký tên xác nhận” (Thánh Augustinô). Ta chỉ có thể công bố Amen không chút nghi ngại chỉ vì Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho ta biết bằng cái chết và sự sống lại của Người rằng: Người là đấng trung thành, và đáng tin cậy. Người là “Amen” của loài người đối với tất cả những lời Thiên Chúa hứa, Người cũng là “Amen” dứt khoát của Thiên Chúa với mọi người chúng ta. 

❦  Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” nơi Người. Vì thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên “Amen” để tôn vinh Thiên Chúa. (2 Cr 1:20)

❦  Amen được dùng trong Cựu Ước với ý nghĩa chính là “mong được như vậy”, để làm cho mong ước hoạt động của Thiên Chúa mạnh mẽ hơn, hoặc để liên kết với lời ca tụng Thiên Chúa. Trong Tân Ước, Amen được dùng để tăng cường cho kết luận của lời cầu nguyện. Thường Chúa Giêsu dùng Amen cách đặc biệt để dẫn vào một lời nói quan trọng. Amen ở đây làm nổi uy thế của lời nói. (YouCat, số 165 t.t.)

LẮNG NGHE: Amen, Amen, Thầy nói cho anh em hay, anh em sẽ thấy Trời mở ra, và các Thiên Thần của Thiên Chúa lên xuống trên Con Người. ( Ga 1:51)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, là một người Ki-tô hữu tiếng “Amen” không còn gì xa lạ nhưng rất nhiều lần con chỉ đọc cho qua loa vô ý thức, xin cho con biết tin tưởng chắc chắn, trông cậy và trung thành vào lời con tuyên xưng như là một mệnh lệnh sống của đức tin trong ngày.

THỰC HÀNH: Đọc chữ “amen” với niềm xác tín.

From: Do Dzung

********

AMEN – Nguyễn Hồng Ân

GIỚI TRẺ BIẾT ƠN NGÀI-Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P   

Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P   

 Đọc lại những trang tiểu sử cuộc đời của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, có lẽ người trẻ chúng ta chỉ thực hiện một nghĩa cử tuyệt đẹp đó là tạ ơn Chúa và tri ân ngài mà thôi.

 Ngài tên là Karol Josef Wojtyla, sinh ngày 18/5/1920, nước Ba Lan.  Là người con út trong gia đình có ba người con.  Năm lên chín tuổi (1929) mồ côi mẹ, năm 21 tuổi mất cả cha (1941).  Sau khi học hết chương trình Trung học cậu Josef Wojtyla ghi danh vào Đại học Jagellônica, Cracôvia.  Năm 19 tuổi, khi quân xâm lược Naziste đóng cửa trường Đại học (1939), cậu Karol làm việc trong một hầm mỏ (1940-1944) để kiếm sống.

 Cảm nghiệm được tiếng gọi của Chúa, năm 22 tuổi (1942) cậu bắt đầu theo học tại Đại Chủng viện Cracôvia dưới sự hướng dẫn của chính Đức Tổng Giám mục Cracôvia.  Thầy được thụ phong linh mục năm 26 tuổi (11/11/1946) và được cử đi học tại Roma, rồi làm Giáo sư Thần học.  Ngài được thụ phong giám mục vào năm 38 tuổi (28/9/1958) tại nhà thờ chánh tòa Cracôvia.  Sáu năm sau đó (13/01/1964), Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đặt ngài làm Tổng Giám mục Cracôvia và rồi đề cử ngài lên tước vị Hồng y vào ngày 26/6/1967.  Ngài tham dự Công đồng Vaticanô II (1962-1965) với sự đóng góp quan trọng trong việc soạn thảo Hiến chế Gaudium et Spes.  Với tư cách Hồng y, ngài cũng là thành viên trong 5 Thượng Hội đồng Giám mục trước khi trở thành Giáo hoàng vào ngày 16/10/1978.  Ngài qua đời tại Vatican ngày 02/4/2005 vào chiều thứ Bảy bước vào Ngày Chúa nhật Lòng Chúa Thương Xót.

 Ðức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng thứ 264 (1978-2005) của Giáo hội Công giáo. Ngài là giáo hoàng người Ba Lan duy nhất cho đến nay, và là giáo hoàng đầu tiên trong thời hiện đại không phải là người Ý.  Với lòng hăng say trong sứ vụ mục tử, ngài đã thăm 104 quốc gia, đi qua 700.000 dặm tương đương với 28 lần đường vòng quanh Trái Ðất, hay tương đương 3 lần từ Trái Đất đến Mặt Trăng.  Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến Anh quốc, thăm ngôi đền Hồi giáo ở Syria, thuyết giảng trong buổi lễ tại một nhà thờ Tin Lành ở Áo (1983), bước vào đại hội đường Do Thái tại Roma (1986), thăm Rumania một nước Chính Thống giáo (1999), thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Vatican và Israel. 

 Ngài đã chủ tọa 15 Thượng Hội đồng Giám mục, ban hành 14 Thông điệp, 15 Tông huấn, 11 Tông hiến và 45 Tông thư.  Ngài cũng đã ban hành cuốn Giáo lý của Giáo hội Công giáo…

 Ngài đã xuất bản 5 cuốn sách:

“Bước qua ngưỡng cửa Hy vọng”

 (10/1994);

“Hồng ân và Mầu nhiệm”

 (11/1996); 

những bài suy niệm  dưới hình thức thơ văn (3/2003);

“Hãy đứng dậy, chúng ta cùng đi!”

 (5/2004);

“Ký ức và căn tính”

 (02/2005).

 Ngài đã dành cho giới trẻ một chỗ đứng quan trọng trong trái tim Giáo hội, vì thế ngài thành lập Ngày Giới trẻ Thế giới  kể từ năm 1985.  19 lần Ngày Giới trẻ Thế giới – diễn ra trong triều đại của ngài – đã quy tụ hàng triệu bạn trẻ trên khắp thế giới.  Ngài cho rằng khởi điểm của Đại hội giới trẻ thế giới nằm trong cuộc tập họp người trẻ một cách rất tự nhiên khi họ đi theo Đức Giêsu tại Giêrusalem…  Trẻ em và thanh niên mang cành lá đón rước Đức Kitô và tuyên dương Ngài:

‘Hoan hô con vua Đavit!’

 Vì vậy, có thể nói rằng Chúa Giêsu hân hoan đi vào Giêrusalem là Ngày Giới trẻ Thế giới đầu tiên.[1]

 “ Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô!”

  Ngay bài diễn văn thứ nhất, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bộc lộ tinh thần rất trẻ trung của ngài.  Hôm nay đây, khi cùng nhau ngắm nhìn chân dung của Ngài, chúng ta và các bạn trẻ hãy dâng lên Thiên Chúa tâm tình tri ân, cảm mến và chung tiếng thân thưa với Ngài rằng:

“Chúng con – những người trẻ rất biết ơn ngài.”

Ngài là mẫu gương, là điểm kết nối, là nhân chứng, là vị thầy dạy người trẻ chúng con sự can đảm: “ Đừng sợ!Hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô!”

 Các bạn trẻ thân mến, các bạn hãy đẩy lui những ý thức hệ hẹp hòi và tàn bạo; các bạn hãy tránh xa mọi hình thức quốc gia chủ nghĩa quá khích và cố chấp.  Các bạn được giao “sứ vụ mở ra những con đường huynh đệ mới giữa các dân tộc, để xây dựng một gia đình nhân loại duy nhất, trong khi đào sâu quy luật cho và nhận, hy sinh và đón nhận kẻ khác.  Các bạn có nhiệm vụ loan truyền “nền văn hoá Tin Mừng” phong phú, trong đó Chúa Kitô “hôm qua, hôm nay và mãi mãi” là giải pháp cụ thể cho những vấn nạn cụ thể chủ yếu của con tim khắc khoải loài người…[2]

 Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã cho Giáo hội có một vị mục tử tài đức; chúng con tạ ơn Chúa đã cho một vị cha luôn yêu thương và gần gũi với người trẻ; chúng con tạ ơn Chúa đã dùng Ngài để hướng dẫn người trẻ chúng con cung cách sống phục vụ Giáo hội và xã hội.  Xin cho chúng con có được tinh thần trẻ trung và thánh thiện như ngài.  Amen!

 Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P   

  [1]

  1. Lm. Giuse Nguyễn Thịnh Phước, SDB,

“Đức Gioan Phaolô II- Bạn của Giới trẻ.”

https://songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=1247

 Jean Offredo, Đức Gioan Phaolô II: giấc mơ về Giê-ru-sa-lem, 236.

[2]

  1. Lm. Giuse Nguyễn Thịnh Phước, SDB,

“Đức Gioan Phaolô II- Bạn của Giới trẻ.”

https://songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=1247

 “Tin tưởng và Hy vọng,” tr 227.

 From: Langthangchieutim


 

Chúng Ta Có Đang Sống Trong Thời Đại Bách Hại Đức Tin?

Nhà thờ Ethiopia

Các tín đồ Chính thống giáo cầu nguyện tại Nhà thờ Chúa Ba Ngôi ở Addis Ababa, Ethiopia [Ảnh: Michael Tewelde/AFP]

Vụ sát hại hàng chục tín đồ Chính thống giáo tại vùng Oromia của Ethiopia một lần nữa khiến thế giới phải suy ngẫm về một thực tế đau lòng: bách hại tôn giáo không chỉ là câu chuyện của quá khứ mà vẫn đang diễn ra trong thời đại hiện nay.

Theo các lãnh đạo Giáo hội Chính thống Tewahedo Ethiopia, ít nhất 60 tín hữu đã thiệt mạng, nhiều người khác bị thương và nhà cửa bị đốt phá trong các cuộc tấn công liên tiếp. Những con số đó không chỉ phản ánh tổn thất về sinh mạng mà còn cho thấy nỗi sợ hãi, đau khổ và bất an mà nhiều cộng đồng tôn giáo đang phải đối mặt.  No photo description available.

 

Hồi tháng 7 năm 2026 cũng đã xảy ra một vụ tấn công khác.

Vụ tấn công bằng máy bay không người lái gây chết nhiều người vào Tu viện Thánh Arsema ở Ethiopia, Giáo hội mô tả đây là một cuộc tấn công kinh hoàng nhằm vào các tín đồ Chính thống giáo. Theo tuyên bố, vụ tấn công xảy ra vào ngày 22 tháng 7 năm 2026, trong lúc cử hành Thánh lễ, khiến sáu linh mục và hai nữ tu thiệt mạng. Vụ tấn công cũng làm bị thương nặng một số phụ nữ địa phương đang phục vụ tại tu viện và gây ra sự tàn phá trên diện rộng cho khu phức hợp tu viện, bao gồm cả nhà thờ.

Hội đồng đã kêu gọi chấm dứt ngay lập tức bạo lực nhắm vào các tín đồ Chính thống giáo ở Ethiopia và kêu gọi các nhà lãnh đạo tôn giáo và dân sự trên toàn thế giới cầu nguyện cho hòa bình và lên tiếng chống lại sự đàn áp đang diễn ra.

Nguồn: Hội đồng Thường trực các Giáo hội Chính thống Đông phương (Tuyên bố chính thức trên Facebook)

 

 

Nhiều người thường cho rằng thế kỷ XXI là thời đại của văn minh, khoa học và nhân quyền. Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở nhiều nơi trên thế giới, con người vẫn bị đe dọa, kỳ thị, thậm chí bị giết hại chỉ vì đức tin của mình. 

Những bi kịch như tại Ethiopia nhắc nhở rằng hòa bình, sự tôn trọng khác biệt và quyền tự do tín ngưỡng không phải là điều hiển nhiên. Chúng cần được bảo vệ bằng trách nhiệm, lòng khoan dung và sự lên tiếng của toàn xã hội.

Sự kiện này làm chúng ta liên tưởng đến vô số các chứng nhân anh hùng tử đạo tiên khởi, thời Văn Thân ở Việt Nam. Đồng thời liên đới chia sẻ nỗi đau và cầu nguyện cho Giáo Hội Phương Đông ở Ethopia, Phi Châu

Reuters nhận định bong bóng AI ở Trung Quốc bắt đầu vỡ

Bài viết do nhóm thị trường châu Á của Reuters thực hiện. Bổ sung thông tin từ Gregor Stuart Hunter tại Singapore. Biên soạn bởi Tom Westbrook, Kevin Buckland

FILE PHOTO: Unitree G1 Humanoid Robots dance during an uveiling event to announce new services by GMO AI & Robotics Corporation (GMO AIR) in Tokyo, Japan, September 8, 2026. REUTERS/Issei Kato/ File Photo

Trong khi cổ phiếu công nghệ toàn cầu đang chao đảo, tại Trung Quốc, chúng đã lao dốc khi định giá cao ngất ngưởng sụp đổ do lo ngại về nhu cầu AI và các hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc.

Sự sụp đổ này, khiến chỉ số STAR50 của các công ty hàng đầu về trí tuệ nhân tạo và bán dẫn trên thị trường Trung Quốc giảm 40% trong vòng chưa đầy bốn tháng và làm bốc hơi khoảng 480 tỷ đô la giá trị thị trường.

Kể Đi Tìm nhận định:

Trong khi các tổ chức tài chính phương Tây như Goldman Sachs duy trì góc nhìn lý thuyết khi khuyến nghị “mua vào” dựa trên kỳ vọng về các gói hỗ trợ của chính phủ, thực tế thị trường và góc nhìn của giới đầu tư trong nước lại chỉ ra một sự thật trái ngược: Bong bóng định giá P/E xấp xỉ 100 lần của công nghệ Trung Quốc là không thể cứu vãn chỉ bằng tiền.

Sự khác biệt cốt lõi nằm ở bản chất của nghành Trí tuệ nhân tạo (AI). Nếu như với EV, Trung Quốc thành công nhờ làm chủ tài nguyên đất hiếm, chuỗi cung ứng pin và quy mô sản xuất công nghiệp, thì ngành AI và bán dẫn lại là bài toán thuộc về rào cản khoa học cơ bản và độc quyền công nghệ toàn cầu. Các lệnh cấm vận của Mỹ đối với dòng chip cao cấp NVIDIA cùng việc ASML ngừng cung cấp máy quang khắc EUV đã tạo ra một “nút thắt cổ chai” vật lý không thể vượt qua trong ngắn hạn.