‘SAVE Act,’ coi chừng lợi bất cập hại!-Hiếu Chân/Người Việt

March 20, 2026 

Hiếu Chân/Người Việt

Hôm 17 Tháng Ba, Thượng Viện Hoa Kỳ bỏ phiếu 51-48 đưa dự luật cải cách bầu cử Safeguard American Voter Eligibility Act (SAVE Act) ra tranh luận khoáng đại sau khi một dự luật tương tự, gọi là H.R.22, đã được Hạ Viện thông qua tháng trước. Các dự luật này ảnh hưởng thế nào tới cử tri và liệu nó có tăng lợi thế cho đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ Tháng Mười Một năm nay?

Một cử tri bỏ phiếu bầu qua thư ở California. (Hình minh họa: FREDERIC J. BROWN/AFP via Getty Images)

Phải chứng minh tư cách công dân

Nói vắn tắt, SAVE Act bắt buộc cử tri chứng minh tư cách công dân (quốc tịch) khi đi bầu nhằm loại trừ những người chưa phải là công dân, người cư trú bất hợp pháp, bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang.

(1) Để ghi danh đi bầu, cử tri phải xuất trình tài liệu chứng minh mình là công dân Hoa Kỳ, đang có quốc tịch Hoa Kỳ. Bằng chứng là sổ thông hành (passport), thẻ căn cước quân đội của quân nhân hiện dịch (active military ID), giấy khai sinh hoặc bản chính giấy chứng nhận nhập tịch (certificate of naturalization). Người ghi danh phải trực tiếp nộp bằng chứng tại cơ quan bầu cử, không chấp nhận ghi danh qua thư (mail-in) hoặc ghi danh trực tuyến (online).

Nên để ý, bằng lái xe và thẻ căn cước Real ID không được coi là bằng chứng quốc tịch, trừ thẻ Real ID của năm tiểu bang New York, Washington, Vermont, Michigan và Minnesota. Phụ nữ đã kết hôn và đổi họ theo họ chồng, thì giấy khai sinh ghi tên họ thời con gái sẽ không được chấp nhận là bằng chứng quốc tịch. Chứng chỉ hôn nhân (marriage license) không thể hiện quốc tịch nên không được chấp nhận là bằng chứng.

(2) Khi bỏ phiếu, cử tri phải trình thẻ căn cước có ảnh. Muốn bỏ phiếu khiếm diện qua thư cử tri phải nộp bản sao hai mặt thẻ căn cước cùng với ba chữ số cuối của số an sinh xã hội (SSN) khi yêu cầu lá phiếu và khi nộp phiếu cho cơ quan bầu cử.

(3) Cơ quan bầu cử tiểu bang phải đối chiếu danh sách cử tri (vote roll) với cơ sở dữ liệu SAVE Database của Bộ Nội An (DHS) để nhận diện và loại trừ những người chưa phải là công dân. Việc đối chiếu và loại trừ này phải được thực hiện mỗi 30 ngày một lần. Ngoài ra, tiểu bang cũng phải chia sẻ danh sách cử tri đầy đủ (unredacted) với chính quyền liên bang để DHS kiểm chứng tư cách công dân của những người ghi danh đi bầu.

Ngoài ra, dự luật cũng đặt hình phạt nặng những viên chức bầu cử ghi danh bỏ phiếu cho những cá nhân không xuất trình bằng chứng quốc tịch, cho phép công dân được khởi kiện viên chức bầu cử khi họ tin rằng viên chức đó không làm đúng luật.

Liêm chính hay cản trở?

Tổng Thống Trump và các dân cử Cộng Hoà cho rằng dự luật SAVE Act là cần thiết để bảo đảm tính liêm chính của bầu cử, ngăn ngừa gian lận của những người chưa phải là công dân Hoa Kỳ, từ đó phục hồi niềm tin của công chúng vào kết quả bầu cử.

Mặc dù Hiến Pháp quy định chỉ công dân Hoa Kỳ mới có quyền bỏ phiếu bầu cử liên bang, nghiêm cấm người chưa là công dân Hoa Kỳ đi bỏ phiếu và hình phạt cho hành vi này rất nặng nhưng những người ủng hộ dự luật vẫn cho rằng đòi hỏi bằng chứng quốc tịch khi ghi danh cử tri là biện pháp duy nhất bảo đảm quyền bầu cử chỉ thuộc về công dân.

Theo luật, tổ chức bầu cử thuộc thẩm quyền của tiểu bang và địa phương, cho nên mỗi tiểu bang có luật lệ và thể thức bầu cử khác nhau. Dự luật SAVE Act nhắm “thống nhất” cách thức bầu cử sao cho cử tri ở mọi tiểu bang đều tuân theo những tiêu chuẩn bầu cử giống nhau.

Phía đảng Dân Chủ và các tổ chức dân quyền thì cho rằng dự luật này thổi phồng một vấn đề không có thực (phantom problem) nhằm gây cản trở quyền bầu cử hợp pháp của cử tri Mỹ và phân biệt đối xử.

Số liệu của nhiều tổ chức độc lập cho biết, hiện nước Mỹ có gần một nửa dân số không có sổ thông hành, khoảng 21 triệu công dân có quyền bầu cử nhưng không có giấy khai sinh do đó không thể ghi danh đi bầu theo luật SAVE Act. Phần lớn số cử tri này là người cao tuổi, người ở vùng nông thôn dân cư thưa thớt hoặc người có thu nhập thấp.

Phụ nữ là người bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo Hội Người Hưu Trí Mỹ (AARP), 69 triệu phụ nữ Mỹ hiện có họ tên trên thẻ căn cước không trùng với họ tên trên giấy khai sinh do đổi họ theo chồng. Theo luật SAVE Act, những phụ nữ này sẽ phải trình giấy chứng nhận kết hôn bản gốc và xin lệnh toà cho phép ghi danh cử tri – một thủ tục không dễ dàng.

Với những đòi hỏi chặt chẽ về chứng minh quốc tịch, dự luật SAVE Act cũng sẽ loại bỏ phương thức bầu cử qua thư, bầu cử khiếm diện bởi vì cử tri khó mà xuất trình được bằng chứng quốc tịch với cơ quan bầu cử để được xác nhận tư cách công dân, được nhận phiếu bầu và gửi phiếu qua đường bưu điện.

Gian lận bầu cử – vấn đề không có thực

Tổng Thống Trump và nhiều cử tri Cộng Hoà từ lâu đã than phiền rằng hệ thống bầu cử của Mỹ dễ bị lũng đoạn và gian lận bầu cử là phổ biến. Họ cho rằng có một số lượng lớn những người chưa phải là công dân Hoa Kỳ đã đi bỏ phiếu, làm sai lệch kết quả bầu cử, do đó luật bầu cử cần được cải cách, bắt buộc cử tri chứng minh tư cách công dân ngay từ khi ghi danh đến khi bỏ phiếu vào thùng.

Trước cuộc bầu cử tổng thống 2024, Chủ Tịch Hạ Viện Mike Johnson nói ông biết “theo trực giác” rằng “rất nhiều di dân bất hợp pháp đã bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang.” Hội nghị toàn quốc đảng Cộng Hòa hồi Tháng Bảy 2024 nhắc lại những tuyên bố vô căn cứ như vậy. Rồi đến Tháng Mười Một 2024, ông Trump tái đắc cử tổng thống, đảng Cộng Hòa giành được đa số ở cả hai viện Quốc Hội thì không thấy họ nhắc tới chuyện di dân không giấy tờ đi bầu cử nữa.

Nhưng việc xem xét cẩn thận kết quả bầu cử chứng tỏ không có hiện tượng người chưa là công dân đi bầu đủ để làm sai lệch kết quả. Heritage Foundation – tổ chức nghiên cứu bảo thủ, nơi biên soạn Đề Án 2025 (Project 2025) làm kim chỉ nam cho việc trị quốc của ông Trump – đã mất nhiều năm tìm hiểu về gian lận bầu cử và cuối cùng phải thừa nhận chuyện người chưa phải là công dân Mỹ đi bỏ phiếu chỉ là một huyền thoại!

Cơ sở dữ liệu bầu cử của Heritage Foundation, thu thập trong bốn thập niên từ 1985 đến 2025, ghi nhận “1,546 trường hợp gian lận bầu cử,” trong đó chỉ có 68 trường hợp người bỏ phiếu chưa phải là công dân Mỹ, kể cả 10 trường hợp là người nhập cư không giấy tờ, còn lại là vi phạm của công dân Mỹ. So với hơn một tỷ lá phiếu của nhiều cuộc bầu cử liên bang suốt 40 năm mà Heritage Foundation xem xét, tỷ lệ phiếu bất hợp pháp của người chưa phải là công dân chỉ chiếm chưa tới một phần triệu (0.0001%).

Một nghiên cứu khác của Brennan Center – một tổ chức nghiên cứu phi đảng phái về bầu cử – phân tích 23.5 triệu lá phiếu ở 42 khu vực năm 2016 ghi nhận chỉ 30 trường hợp bỏ phiếu của người chưa phải là công dân Mỹ, tỷ lệ cũng chỉ một phần triệu (0.0001%).

Điều tra của cơ quan bầu cử nhiều tiểu bang cũng ghi nhận kết quả tương tự: hiện tượng người chưa là công dân đi bỏ phiếu là có, nhưng vô cùng hiếm, không phải là một vấn đề nghiêm trọng đến mức cần phải đặt ra những rào cản khắc nghiệt như dự luật SAVE Act.

Đã có án lệ là năm 2013 tiểu bang Kansas ban hành luật bầu cử SAFE (Secure And Fair Elections Act) nội dung giống hệt đạo luật SAVE Act hiện nay, hậu quả là hỗn loạn: 31,000 cử tri, chiếm 12% tổng số cử tri tiểu bang, bị tước quyền bỏ phiếu dù họ là công dân Mỹ chỉ thiếu những giấy tờ quốc tịch.

Tháng Sáu 2018, đạo luật SAFE bị tòa án liên bang tuyên “vi hiến” và bị huỷ bỏ. Năm 2013 Tối Cao Pháp Viện đã bác bỏ quy định của tiểu bang Arizona đòi cử tri phải chứng minh quốc tịch vì vi phạm Luật Ghi Danh Cử Tri Quốc Gia (National Voter Registration Act – NVRA) năm 1993.

Coi chừng “gậy ông đập lưng ông”

Ông Trump và các đồng minh Cộng Hoà coi dự luật SAVE Act là yếu tố quyết định thắng thua của đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2026. “Bầu cử Mỹ bị Gian Lận, bị Đánh Cắp, là Trò Cười cho cả Thế Giới. Chúng ta hoặc phải chấn chỉnh, hoặc sẽ không còn Đất Nước nữa,” ông Trump viết trên Truth Social. Ông cho rằng, dự luật sẽ mang lại cho đảng Cộng Hoà thắng lợi “chắc chắn” trong cuộc bầu cử sắp tới và ông đe doạ trừng phạt các vị dân cử Cộng Hoà nào không bỏ phiếu thuận cho dự luật SAVE Act của ông.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cảnh báo, luật SAVE Act bắt buộc cử tri phải xuất trình sổ thông hành/giấy khai sinh để ghi danh, chưa chắc đã có lợi cho đảng Cộng Hoà.

Dữ kiện và các cuộc khảo sát ghi nhận cử tri Cộng Hoà ít sở hữu sổ thông hành hơn người Mỹ nói chung. Hãng tin Reuters phân tích dữ liệu của Center for American Progrees ghi nhận, ở cuộc bầu cử 2024, trong 17 tiểu bang có tỷ lệ người dân sở hữu sổ thông hành cao nhất nước Mỹ thì 14 tiểu bang bỏ phiếu cho bà Kamala Harris, mười hai tiểu bang có tỷ lệ sở hữu sổ thông hành thấp nhất bỏ phiếu cho ông Trump. Hầu hết các tiểu bang có tỷ lệ sở hữu sổ thông hành thấp đều là vùng nông thôn, cử tri ít có nhu cầu ra nước ngoài du lịch hoặc làm việc, nghĩa là ít có cơ hội ghi danh bầu cử hơn.

Tỷ lệ sở hữu sổ thông hành tỷ lệ thuận với trình độ học vấn. Năm 2024, ông Trump thắng lớn trong số cử tri có trình độ trung học hoặc thấp hơn, còn bà Harris giành được phiếu của cử tri có trình độ đại học và cao hơn.

Một nghiên cứu năm 2023 của Pew Research Center được Reuters dẫn lại cho biết, khi lấy chồng, phụ nữ theo đảng Dân Chủ có xu hướng giữ lại họ tên thời con gái nhiều gấp đôi phụ nữ Cộng Hoà. Còn phụ nữ độc thân, không gặp khó khăn về họ tên khi ghi danh bầu cử, có xu hướng bỏ phiếu cho Dân Chủ nhiều hơn, tỷ lệ 61%-38% theo khảo sát của CNN trong cuộc bầu cử 2024.

Điều ông Trump sợ nhất là đảng Dân Chủ giành đa số Quốc Hội trong cuộc bầu cử sắp tới. Đảng Cộng Hoà đã vận dụng nhiều thủ pháp, từ vẽ lại bản đồ khu vực bầu cử, cho đồng minh thâu tóm các công ty truyền thông như CBS, CNN, các công ty sản xuất và vận hành máy bỏ phiếu như Dominion, và thay đổi luật bầu cử. Cho dù sắp tới luật SAVE Act giành được 60 phiếu thuận ở Thượng Viện thì đó chưa chắc đã là điều hay cho đảng Cộng Hoà. [kn]


 

Iran thách thức Hoa Kỳ với chiến tranh du kích trên biển

Làm thế nào để giành chiến thắng trong một trận hải chiến ? Đó là câu hỏi đang dấy lên tại Washington trước một đối thủ bị cho là chỉ có « những phương tiện vừa cũ kỹ, lỗi thời và nghèo nàn » như Iran. Hoa Kỹ xác nhận đã đánh chìm hơn 120 tàu chiến của Iran nhưng cho đến ngày 20/03/2026 Teheran vẫn phong tỏa eo biển Hormuz nhờ chiến lược « du kích biển ».

Đăng ngày: 20/03/2026 

Thanh Hà

YouTube player

Mặc dù đã  điều hai hàng không mẫu hạm và huy động đến 1/3 các khả năng của Hải Quân Hoa Kỳ đến Trung Đông, hàng ngàn lính Mỹ đang được điều đến khu vực, hôm 15/03/2026 tổng thống Trump đã kêu gọi các  « đồng minh » và Trung Quốc chung sức bảo đảm an toàn và tự do giao thương hàng hải. Trước mắt, cộng đồng quốc tế trước mắt không mấy hào hứng chia sẻ gánh nặng xuất phát từ một cuộc chiến mà Mỹ và Israel đã khởi xướng mà quốc tế không  không tham khảo ý kiến và cũng không trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc. 

Iran và những thiệt hại trong 2 tuần đầu chiến tranh

Họp báo hôm 19/03/2026 bộ trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth cho biết Hoa Kỳ và Israel đã phá hủy « 85 % các hệ thống phòng không và radar, 70 % khả năng phóng tên lửa đạn đạo » của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran. Trên biển « hơn 120 trong số từ 200-300 tàu của Iran đã bị nhận chìm ». Ngoạn mục hơn cả là vụ hôm 04/03, một tàu hộ tống của Iran ở mãi tận ngoài khơi Sri Lanka ngư lôi phóng đi từ một tàu ngầm của Mỹ đánh chìm, gần 90 thủy thủ thiệt mạng hơn 60 người mất tích.

Theo các tổng kết gần đây nhất, sau gần 3 tuần chiến tranh, hải quân Iran đã chịu nhiều thiệt hại. Ít nhất 4 tàu corvet, 1 tàu chở conterner còn mới nguyên đã bị nhận chìm. Căn cứ hải quân Bandar-Abbas, nơi cũng là « tổng hành dinh » của chi nhánh đường biển được đặt dưới sự điều hành của Vệ Binh Cách Mạng đã nhiều lần là mục tiêu bị nhắm tới.

QUẢNG CÁO

Cảng nước sâu Konarak – Chabahar hướng ra Ấn Độ Dương cũng đã bị nhiều thiệt hại, tương tự như căn cứ ở Buchehr, nơi có các cơ sở hạt nhân của Iran.

Nhưng Teheran vẫn làm chủ tình hình ở eo biển Hormuz và dọa « không một giọt dầu nào » trong Vịnh có thể đi qua cửa khẩu này cho tới chấm dứt chiến tranh

Những mũi nhọn trong chiến thuật « du kích biển »

Trong bài tham luận mang tựa đề Làm thế nào giải tỏa Hormuz ? Những kịch bản chiến thuật nhằm bảo đảm an ninh trong vùng Vịnh đăng trên báo Le Grand Continent, chuyên gia quân sự Stéphane Audrand, một nhà tư vấn độc lập chuyên về những rủi ro quốc tế nhận định : Đóng cửa eo biển Hormuz là kịch bản mà dường như Nhà Trắng đã không tính đến, như thể bất chấp những báo động của Lầu Năm Góc Mỹ – Israel đã cố tình loại bỏ khả năng Iran lao vào một cuộc hải chiến.

Nhà phân tích Louis Borer chuyên nghiên cứu về các mối đe dọa đường biển thuộc cơ quan tư vấn Đan Mạch Rish Intelligence được báo Le Monde trích dẫn lưu ý : Teheran từ lâu nay đã rất xuất sắc trong chiến thuật « du kích biển », chủ yếu sử dụng khoảng 200 tàu hộ tống cỡ nhỏ và tàu tuần tra, kết hợp với việc sử dụng drone do chính Iran tự tạo và tên lửa hành trình không quá tốn kém mà một phần là do Trung Quốc cung cấp.

Lấy số đông làm sức mạnh

Ngoài ra, Iran áp dụng mô hình « lấy số đông làm sức mạnh » mà chuyên gia Pháp Stéphane Audrand gọi là chiến thuật « ong vỡ tổ » : tức là hy động rất nhiều tàu tuần tra, nhỏ và gọn nhẹ, để áp đảo đối phương. Mỗi tàu nhỏ này thường chỉ mang theo « vũ khí nhẹ như rocket, tên lửa nhỏ hoặc thủy lôi từ tính gắn vào thân tàu ». Phương án này hiệu quả ở eo biển Hormuz và trong vùng Vịnh Ba Tư : đó là một « cửa biển hẹp mà lại rất đông tàu thuyên qua lại ».

Nhìn từ phía Hoa Kỳ thì có nhiều yếu tố bất thuận lợi khi can thiệp trong vùng Vịnh và eo biển Hormuz : Các bờ biển của Iran là những vách núi đá cho phép các loại tàu nhỏ ẩn núp và cất giữ vũ khí, đạn dược. Địa hình đó thuận lợi cho « chiến tranh du kích ». Theo thẩm định của Stéphane Audrand, bên cạnh khoảng 15 căn cứ hải quân, hơn 100 cảng -chủ yếu phía tây Hormuz và vô số vịnh nhỏ nơi các tàu nhỏ ẩn nấp và cất giữ vũ khí. Đây là một « cơn ác mộng » đối với các nhà chiến lược của Mỹ.

Làm thế nào để bảo đảm an toàn cho một « hành lang đường biển » có chiều dài hơn 1500 km dọc theo duyên hải của Iran ? 

Hải quân Iran : Phương tiện không nhiều nhưng « hiệu quả »

Vẫn chuyên gia quân sự Stéphane Audrand nhắc lại vài cột mốc quan trọng trong học thuyết hải quân của Iran. Đầu tiên hết là một sự tổ chức lại hồi 2007. Các nhiệm vụ « bảo vệ lãnh hải, kiểm soát các nguồn đánh bắt cá hay an ninh biển, chống hải tặc … vẫn thuộc về lực lượng hải quân truyền thống. Nhưng về những phương tiện và chiến lược tác chiến thì lại thuộc thẩm quyền của  Vệ Binh Cách Mạng trong tay giáo chủ Ali Khamenei. Đó là thời điểm Teheran chuyển sang phát triển các phương tiện can thiệp « gọn và nhẹ, mà lại ít tốn kém » như drone, drone biển, và các loại tàu nhỏ mà giới trong ngành gọi là những « hạt bụi biển »

Những phương tiện này cuối 2023 đã được lực lượng Hồi giáo Houthi ở  Yemen, thuộc phe hệ phái Shia sử dụng. Với ít phương tiện nhưng cũng đủ để phe này thách thức các tàu hàng của phương Tây đi qua Hồng Hải và làm rối loạn giao thương đường biển trong vùng.

Chiến thuật này của phe Houthi ở Yemen làm giới trong ngành liên tưởng đến trường phái Jeune Ecole – được Hải Quân Pháp phát triển vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Trong một bài nghiên cứu đăng trên trang nhà tạp chí Conflits  chuyên gia Kevin D. McCranie thuộc Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ đã nhắc lại quân Houthi ngày nay dùng số nhiều và sử dụng các phương tiện « vừa gọn, vừa nhẹ » và không quá tốn kém được Iran trang bị để nhắm vào các tàu hàng của phương Tây. Ở góc đài bên kia, Mỹ và các đồng minh đã phải huy động những loại tên lửa rât tối tân và tốn kém để đáp trả. Lần này tại eo biển Hormuz, đối mặt với Iran, Hoa Kỳ đã gửi 2  hàng không mẫu hạm cùng một đội ngũ các tàu hộ tống tháp tùng và hàng ngàn quân sang Trung Đông.

Phía Iran đã tìm ra một phương thức khác ít tốn kém hơn để cho dù trong thế « châu chấu đá voi » nhưng cũng đủ để đẩy siêu cường quân sự số 1 thế giới vào cái thế « bị động », đủ để phương án Washington huy động tàu chiến hộ tống các tàu dầu tại vùng nóng này bị coi là « vô ích », đủ để tại Washington Lầu Năm Góc phải « cân nhắc thách thức mà Teheran đang đặt ra liên quan đến vấn đề an ninh hàng hải của cả một vùng biển rộng lớn và phức tạp hơn » chứ không chỉ khoanh vùng ở eo biển Hormuz.

Chuyên gia quân sự Pháp Stéphane Audrand trong bài tham luận trên tạp chí Le Grand Continent nhấn mạnh : bảo đảm an ninh cho Vùng Vịnh, eo biển Hormuz không phải là « cốt lõi của vấn đề ». Hơn thế nữa, với chiến tranh Trung Đông lần này Iran đang « thách thức vai trò của Mỹ trong mục tiêu bảo vệ các đồng minh, thách đố luôn cả mức độ bền bỉ của kinh tế toàn cầu ». Bất luận kết cục ra sao, các quốc gia dầu hỏa trong khu vực cũng sẽ phải « rà soát lại » mối liên minh của họ với Hoa Kỳ.

Một số nhà quan sát khác tại châu Á được báo Asia Times trích dẫn còn đi xa hơn khi nói đến « Những bài học Trung Quốc đang rút ra từ chiến tranh giũa một bên là Mỹ-Israel và bên kia là Iran »     


 

NƠI TĨNH LẶNG – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta cần có thêm thinh lặng trong cuộc sống.  Tôi nói điều này một cách dè dặt, bởi vì vị trí của thinh lặng trong đời ta không phải là điều dễ xác định.

 Tĩnh lặng là một thực tại phức tạp; đôi khi chúng ta sợ nó và tìm cách tránh né, nhưng cũng có lúc, khi mệt mỏi và bị kích thích quá mức, chúng ta lại tha thiết khao khát nó.

 Nhìn chung, chúng ta có quá ít thinh lặng trong đời mình.  Công việc, điện thoại di động, các cuộc trò chuyện, giải trí, tin tức, những xao lãng và đủ loại bận tâm khác lấp đầy từng phút giây tỉnh thức.

 Chúng ta đã quá quen với việc được kích thích bởi lời nói, thông tin và sự phân tâm, đến mức thường cảm thấy lạc lõng và bồn chồn khi ở một mình, không có ai để nói chuyện, không có gì để xem, không có gì để đọc hay làm để chiếm lấy sự chú ý của mình.

 Tuy nhiên, không phải tất cả điều này đều xấu.  Trước đây, các tác giả viết về tâm linh thường quá phiến diện trong việc ca ngợi đức tính của sự thinh lặng.  Họ có xu hướng tạo ấn tượng quá đơn giản rằng Thượng đế và chiều sâu tâm linh chỉ được tìm thấy trong sự thinh lặng, như thể những đức tính của công việc thường nhật, trò chuyện, lễ hội, gia đình và cộng đồng đều kém quan trọng hơn về mặt tâm linh.

 Khi nói về không gian thinh lặng, các tín ngưỡng tâm linh xưa kia thường trừng phạt người hướng ngoại và quá dễ dãi với người hướng nội.  Nói tóm lại, họ đã không xem xét đầy đủ rằng tất cả chúng ta, cả người hướng ngoại và hướng nội, đều cần đến liệu pháp của đời sống xã hội.  Trong khi chúng ta cần sự thinh lặng để có chiều sâu, chúng ta lại cần sự tương tác với người khác để ổn định tâm trí và giữ gìn sự tỉnh táo.  Một số quá trình tự khám phá bản thân chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, nhưng một số khía cạnh khác của sự tỉnh táo lại phụ thuộc vào sự tương tác với người khác.  Sự thinh lặng cũng có thể là một lối thoát, một sự né tránh quá trình thanh lọc khắc nghiệt thường chỉ có thể xảy ra thông qua thử thách của việc tương tác trong gia đình và cộng đoàn.

 Hơn nữa, thinh lặng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để đối diện với những nỗi đau hay ám ảnh trong lòng.  Xét cho cùng, đó có thể là một dạng tập trung quá mức vào chính mình.  Đôi khi, khi một nỗi đau đang đe dọa sự quân bình nội tâm, điều tốt nhất ta có thể làm không phải là vào nhà nguyện, nhưng là đến rạp hát hoặc dùng bữa với một người bạn.  Sự chuyên tâm vào công việc hay một hình thức giải trí lành mạnh đôi khi lại chính là người bạn cần thiết khi con tim ta đang ngột ngạt.

 Có một câu chuyện về triết gia nổi tiếng Hegel.  Ngay sau khi hoàn tất công trình đồ sộ của mình về hiện tượng học của lịch sử, ông nhận ra rằng mình đang bên bờ suy sụp vì cường độ tập trung kéo dài quá lâu.  Ông đã làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?  Đi tĩnh tâm trong thinh lặng ư?  Không.  Ông đi xem nhạc kịch mỗi tối, dùng bữa hằng ngày với bạn bè, và tìm đến đủ mọi hình thức giải trí cho đến khi, sau một thời gian, sự siết chặt nghẹt thở của thế giới nội tâm dần buông lỏng và ánh nắng cùng sự tươi mới của đời sống thường ngày lại bừng lên.  Đôi khi, chính sự xao lãng – chứ không phải thinh lặng – mới là phương thuốc tốt nhất cho chúng ta, kể cả trên bình diện thiêng liêng.

 Dẫu vậy, thinh lặng vẫn là điều cần thiết.  Những gì các bậc thầy linh đạo qua mọi thời đại muốn dạy về điều này có thể được tóm gọn trong một câu của Meister Eckhart: Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.

 Thực chất, Eckhart muốn nói rằng thinh lặng là một lối vào đặc biệt của cõi thần linh.  Bên trong mỗi chúng ta có một khoảng thinh lặng mênh mông đang mời gọi ta bước vào, và có thể giúp ta học ngôn ngữ của trời cao.  Điều đó có nghĩa là gì?

 Thinh lặng là một ngôn ngữ sâu xa hơn, bao quát hơn, thấu hiểu hơn, giàu lòng trắc ẩn hơn và vĩnh cửu hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.  Trên thiên đàng, dường như sẽ không còn ngôn ngữ, không còn lời nói.  Thinh lặng sẽ cất tiếng.  Chúng ta sẽ hiểu nhau cách trọn vẹn, thân mật và hân hoan, và nâng đỡ nhau trong tĩnh lặng.  Trớ trêu thay, dù rất quan trọng, lời nói cũng là một phần lý do khiến chúng ta chưa thể làm được điều ấy ngay bây giờ.  Lời nói có thể hiệp nhất, nhưng cũng có thể chia rẽ.  Trong tĩnh lặng, có một sự kết nối sâu xa hơn.

 Những người yêu nhau đã biết điều này, cũng như các tín hữu Quaker với phụng vụ cố gắng phản chiếu sự thinh lặng của thiên đàng, và như những ai thực hành cầu nguyện chiêm niệm.  Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả điều ấy bằng một câu đầy ẩn ý: “Hãy học để hiểu nhiều hơn bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.”

 Thinh lặng có thể nói lớn hơn và sâu hơn lời nói.  Chúng ta đã trải nghiệm điều này theo nhiều cách khác nhau: khi bị ngăn cách bởi khoảng cách hay cái chết với những người thân yêu, chúng ta vẫn có thể ở với họ trong thinh lặng; khi bị chia rẽ với những người thiện chí vì hiểu lầm, thinh lặng có thể là nơi chúng ta lại có thể ở cùng nhau; khi đứng bất lực trước nỗi đau của người khác, thinh lặng có thể là cách diễn tả sự cảm thông tốt nhất; và khi chúng ta phạm lỗi và không còn lời nào có thể khôi phục sự nguyên vẹn trước đây, thì trong thinh lặng, một Lời sâu xa hơn có thể vang lên, cho ta biết rằng rốt cuộc mọi sự sẽ ổn thỏa, và mọi cách thế hiện hữu sẽ được ổn thỏa.

 Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.  Đó là ngôn ngữ của thiên đàng, đã sẵn ở sâu thẳm trong ta, đang mời gọi ta bước vào sự thân mật sâu xa hơn với mọi sự – ngay cả khi chúng ta vẫn cần đến “liệu pháp” của đời sống công khai.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Làm thế nào để khỏe mạnh – sống lâu?

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ của con người. Trong cuộc sống thời hiện đại, mọi người đều quan tâm đến thực phẩm sạch, nguồn nước sạch nguồn dinh dưỡng chính để nuôi sống con người. Nhưng rất nhiều người lại không quan tâm đến vấn đề của sơ thể đó là SỰ ĐÀO THẢI ĐỘC TỐ RA NGOÀI, sau khi đã nạp những nguồn thực phẩm vào .

Bài viết dưới đây sẽ giúp mọi người hiểu 1 phần nào đó về cơ chế đào thải của chính cơ thẻ mình.

Nguồn sưu tầm từ tài liệu của cô Hien Thu Nguyen  

  1. Hãy giúp phổi thải độc, chứ đừng làm hại nó

Vậy bạn thấy ngay nhé, những ai bị bệnh phổi nhất định ho vào giờ dần, tức 3 đến 5 giờ sáng. Phổi là để thở. 3 đến 5 giờ sáng là phổi thải độc.

Nếu mình ngủ dậy, mở cửa sớm mai, không khí trong lành nhất vì qua đêm, bụi lắng hết xuống rồi, khí dương bắt đầu có mà ta thở nhẹ và sâu, thở chủ động thì có gì tốt hơn để giúp phổi thải chất độc từ chính phổi ra. 

  1. Đừng để chất thải trong người quá 7h sáng

Và bạn biết rồi, như đã nêu ở trên, 5 đến 7 giờ là giờ sáng của đại tràng tức ruột già. Giờ này đại tràng thải chất độc, tức là phân. Người khỏe mạnh nhất định đi đại tiện vào giờ này. Tuyệt đối không sai.

Làm sao mà cứ đến giờ này thì bạn muốn đi đại tiện và không thể khác được. Làm sao ngày bạn chỉ đi đại tiện 1 giờ duy nhất là giờ mão. Nếu bạn đi đại tiện không đúng giờ này là rất không tốt cho đại tràng và hệ tiêu hóa. Mà lưu ý rằng, bạn cần biết cách để đi hết chất thải ra ngoài, cho đại tràng sạch (Tôi sẽ viết riêng 1 bài về điều này).

Nếu 5 đến 7 giờ sáng mà bạn vẫn ngủ, tức chất thải đang ách lại trong ruột già. Theo bạn có tốt không? Phân là chất độc. Chất độc lẽ ra phải được tống khứ ra khỏi cơ thể mà vào giờ này, chỉ vì bạn thèm ngủ hoặc là có thói quen tai hại – ngủ dậy muộn mà cả cơ thể phải gánh chịu số phân này. 

  1. Muốn sống lâu, nhất định phải ăn sáng

Giờ tiếp theo là giờ thìn, tức 7 đến 9 giờ. Giờ này của dạ dày. Dạ dày hoạt động vào giờ này. Nếu bạn không ăn sáng trước 7 giờ thì dạ dày bóp cái gì nào. Bóp cái dạ dày rỗng tuếch à?

Dạ dày tiết ra các chất để chuyển hóa thức ăn mà không có thức ăn thì theo bạn tốt hay xấu cho dạ dày nói riêng và cơ thể nói chung?

Có một thông tin mà tôi nghĩ là bạn chưa biết, trong dạ dày có rất nhiều a xít và độ chua trong dạ dày tương đương với độ chua của nước quả chanh đấy nhé. Nếu đến giờ thìn bạn có thói quen không hoặc chưa ăn sáng thì nguy cơ bị bệnh dạ dày rất cao.

Bạn không biết đấy, hệ tiêu hóa là bộ não thứ 2. Còn dạ dày lại là trái tim của bộ não. Nếu dạ dày không bóp, không tiêu hóa thức ăn thì 1 loạt bộ phận tiếp theo bị ảnh hưởng lây. Không chỉ ruột non, ruột già mà cả gan, thận, lá lách, túi mật, tim, phổi… bị ảnh hưởng theo dây chuyền. Tất cả cơ thể chịu ảnh hưởng.

Vậy nên, chẳng may bạn biết ai ngủ trễ, kể cả ngày nghỉ, đến tận 7 giờ sáng thì thức tỉnh họ ngay bằng cách cho họ đọc các thông tin này. 

  1. Làm việc quần quật từ 21h -23h là sát hại Tam tiêu

Bây giờ tôi nói về giờ hợi tức 21 đến 23 giờ đêm. Đây là giờ của tam tiêu.

Nhiều người không hiểu tam tiêu là gì và vai trò quan trọng ra sao. Dễ hiểu thế này: Tam tiêu là ba khoang rỗng trong cơ thể con người gồm có thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu.

Thượng tiêu là khoang rỗng trên cùng từ miệng xuống tâm vị dạ dày chứa tim và phổi. Trung tiêu là khoang rỗng ở giữa từ tâm vị dạ dày đến môn vị dạ dày chứa tỳ vị. Hạ tiêu là khoang rỗng dưới cùng từ môn vị dạ dày đi tới hậu môn chứa gan và thận. Bạn đã thấy tam tiêu quan trọng chưa nào!

Lại nữa, sự hoạt động của tam tiêu thể hiện ở sự khí hóa đồ ăn, tức là làm cho vật chất trong cơ thể hóa thành khí. Khí này lại hóa thành một chất khác trong cơ thể. Đây là các phản ứng hóa học, sinh học bên trong cơ thể.

Bạn cũng có thể đã từng nghe thấy nói rằng thượng tiêu như mây mù, trung tiêu như bọt nước sủi, hạ tiêu như nước chảy. Nghe rồi chứ ạ. Nhưng nay mới hiểu đúng không nào.

Bạn có giật mình khi nghe thấy rằng tam tiêu chính là cái nhà để ở, chính là cái ví để đựng tiền, chính là cái làn, cái giỏ cho các bà, các mẹ đi chợ, là quần áo để mặc.

Nếu giật mình thì tốt rồi. Giật mình để ngộ ra. Giật mình để quyết tâm thay đổi tư duy, đổi thay thói quen xấu và quyết tâm chăm sóc tam tiêu.

Thêm một ý nữa mà những ai đọc sách đều đã nắm rõ, rằng ở thượng tiêu phổi hô hấp, phân bố khí và chất dinh dưỡng vào các mạch máu và đưa đi khắp cơ thể.

Ở trung tiêu thì lá lách vận hoá, hấp thu tinh hoa của đồ ăn và nước đưa lên phổi. Ở hạ tiêu, các chất tinh hoa được tàng trữ tại thận, các chất cặn bã được tống ra ngoài bằng đại tiện và tiểu tiện.

Khí của hạ tiêu đi xuống chứ không nhận vào thêm. Ngoài ra tam tiêu còn có chức năng bảo vệ lục phủ, ngũ tạng trong cơ thể ta. Đấy, bạn thấy chưa ạ? 

5.Tại sao người ta hay chết lúc 3h sáng: Hãy cứu gan 

Từ 23 giờ đêm đến 1 giờ sáng là giờ của mật. Giờ này mật tiết chất độc ra. Bạn cảm nhận được ngay mà. Bởi miệng đắng. Buổi sáng ngủ dậy, bạn thấy miệng đắng là do mật tiết ra chất độc vào giờ tý đấy nhé.

Xin nhắc lại, theo đông y thì 23 giờ là bắt đầu ngày mới. Ngoài chuyện mật thải độc ra, nếu tại thời điểm ngày mới mà bạn không ngủ, không nghỉ ngơi thì rất có hại cho cơ thể. Hại nhất là mật. Mà mật liên quan chặt chẽ đến gan.

Vậy nên, nếu không muốn đến nghĩa địa sớm, xin đừng thức đến tận giờ tý. Cơ thể bạn, bao gồm cả thân và tâm, không thích bạn đưa họ đến nghĩa địa sớm đâu nhé.

Cuối cùng tôi muốn bàn đến khung giờ sửu, tức từ 1 đến 3 giờ sáng. Đây là giờ của gan. Cũng xin nói luôn rằng có rất nhiều người chết vào giờ này.

Nguyên nhân là do gan có đến 64 chức năng. Khi mà gan yếu, các chức năng này không hoạt động được nữa thì ta chết. Nếu có người nhà bị bệnh nặng, khi thức đêm chăm bệnh nhân, nên lưu ý khung giờ này.

Nếu 1 giờ sáng mà bạn vẫn không ngủ thì rất hại gan. Giờ này gan thải độc. Giờ này gan đang cần bạn nghỉ ngơi nhất, cần bạn ngủ thật sâu nhất. Ấy vậy mà có người lại dại dột đi chống lại gan, làm tổn thương gan. Thật chẳng có cái dại nào dại hơn cái dại này. Rất thương!

Tôi muốn nhấn mạnh đến 1 ý rằng gan và mật hỗ trợ lẫn nhau, gắn kết chặt chẽ với nhau như một. 23 giờ là lúc kinh mạch của túi mật được mở ra. Nếu bạn chưa hoặc không ngủ thì sẽ làm tổn hại lớn tới đảm khí.

Tại sao ư? Bởi tất cả 11 cơ quan bao gồm lục (tức 6) phủ và ngũ (tức 5) tạng đều phụ thuộc vào túi mật. Nếu đảm khí hư, hỏng, yếu, thiếu sẽ dẫn tới việc giảm chức năng của tất cả các bộ phận trong cơ thể. Hơn thế nữa, khả năng miễn dịch giảm xuống.

Nguy hiểm hơn nữa còn ở chỗ nếu đảm khí bị tổn thương (do đảm khí hỗ trợ trung khu thần kinh) thì quý vị có nguy cơ rất cao mắc các bệnh về thần kinh. Đó là lý do tại sao những người mất ngủ triền miên dễ bị các triệu chứng hay bệnh như uất ức, tâm thần phân liệt, bồn chồn, ám ảnh…

Từ 1 đến 3 giờ sáng cần ngủ rất ngon, rất sâu. Bạn nên nhớ nằm lòng rằng đây là thời gian kinh mạch của gan vượng nhất. Lúc này gan thải độc, sản xuất ra lượng máu mới.

Nếu bạn chưa ngủ hay không ngủ, có nguy cơ bạn sẽ có sắc mặt xanh xao, dần dần có thể sẽ mắc các bệnh về gan. Thức khuya vào giờ sửu, bạn rất có nguy cơ bị bệnh viêm gan siêu vi B.

Nguyên nhân rất dễ hiểu, là do cơ thể quá suy nhược, thậm chí bị rối loạn và virus cứ thể mà tấn công, xâm nhập vào cơ thể. Cơ thể yếu quá, bó tay, virus vào tự do, vô tư, thoải mái.

Và bạn cũng giúp tôi ghi tâm khắc cốt rằng tim chủ huyết mạch, tức là làm cho huyết dịch vận hành trong các mạch máu để dinh dưỡng và tư nhuận. Còn gan có chức năng lưu giữ và điều tiết máu.

Vậy nên nếu quá 23 giờ sáng mà không đi ngủ sẽ làm can huyết bất túc dẫn tới tình trạng tim không cung cấp đủ máu. Khi đó tim sẽ đập mạnh, loạn nhịp, run sợ, có thể dẫn đến cao huyết áp, xuất huyết não và nhiều bệnh nguy hiểm khác.

Đấy, ngủ đúng giờ là tối quan trọng. Ngủ đúng giờ còn quan trọng hơn cả ngủ đủ giờ. Nếu ban ngày bạn ngủ suốt cả ngày, dù có ngủ từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối cũng thua ngủ sâu vài tiếng lúc cần, tức quãng thời gian cho mật và gan.

From: Xuan Nguyen


 

Không có hành động tử tế nào là nhỏ bé cả. Truyen ngan HAY

My Lan Pham

Ở đâu đó tại Thụy Điển vào những năm 1970, một người phụ nữ từng là một đứa trẻ tị nạn chạy trốn khỏi nước Đức Quốc xã đã tham gia một chương trình cho phép những người bình thường tài trợ việc học cho một đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Bà chọn một cái tên trong danh sách.

Chris Mburu. Kenya.

Tên bà là Hilde Back.

Bà sinh năm 1922 tại Đức, trong một gia đình Do Thái, vào thời điểm mà thế giới đối với bà vẫn còn cảm giác an toàn. Thế giới đó chấm dứt khi bà 16 tuổi. Trẻ em Do Thái bị cấm đến trường công theo các đạo luật Nuremberg của Đức Quốc xã.

Khi mối nguy hiểm đối với gia đình ngày càng rõ ràng, Hilde được chấp nhận sang Thụy Điển tị nạn.

Cha mẹ bà không thể đi cùng.

Chính sách nhập cư của Thụy Điển lúc đó không cho phép người lớn tuổi tị nạn với số lượng tương tự. Bà đến Thụy Điển một mình khi mới 16 tuổi, biết rằng có thể sẽ không bao giờ gặp lại gia đình nữa.

Và bà đã đúng.

Cha mẹ bà đều bị đưa vào trại tập trung. Bà nhận được một lá thư từ mẹ nói rằng cha bà đã qua đời. Sau đó mẹ bà bị chuyển sang một trại khác.

Hilde không bao giờ nhận được tin tức gì từ mẹ nữa.

Dù vậy, bà vẫn xây dựng cuộc sống mới tại Thụy Điển.

Bà học để trở thành giáo viên mẫu giáo, sau đó dạy kịch tại một trường đào tạo giáo viên mầm non. Bà sống giản dị. Giúp đỡ trong khả năng của mình.

Và vào một thời điểm nào đó trong những năm đi dạy, bà đăng ký tham gia chương trình Học bổng Thụy Điển , một chương trình cho phép mọi người tài trợ việc học cho những đứa trẻ có nguy cơ phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí.

Số tiền mỗi học kỳ chỉ khoảng 15 đô la.

Bà chọn Chris Mburu.

Bà không biết cậu. Không biết rằng gia đình cậu sống trong một căn nhà tường đất ở vùng nông thôn Kenya. Không biết rằng họ không có điện. Không biết rằng nếu không có người đóng học phí, rất có thể cậu sẽ phải dành cả đời hái cà phê trên những cánh đồng quanh ngôi làng nơi mình sinh ra.

Bà chỉ thấy một cái tên.

Và nói: đồng ý.

Chris được tiếp tục đi học.

Cậu viết thư cho Hilde kể về kỳ thi, thầy cô và ước mơ của mình. Bà viết lại những lời động viên.

Trong những lá thư đó, một điều đã bén rễ trong cậu điều mà không lớp học nào có thể dạy được:

Niềm tin rằng ở đâu đó, có một người xa lạ tin rằng cậu xứng đáng được đầu tư.

Niềm tin đó trở thành động lực cho tất cả những gì xảy ra sau này.

Chris tốt nghiệp Khoa Luật Đại học Nairobi. Sau đó nhận học bổng Fulbright vào Trường Luật Harvard. Anh trở thành luật sư nhân quyền của Liên Hợp Quốc ,làm việc tại các quốc gia bị chiến tranh tàn phá, điều tra tội ác chống lại loài người, và đứng trước tòa để bảo vệ các nạn nhân của nạn diệt chủng.

Cậu bé mà tương lai từng phụ thuộc vào 15 đô la mỗi học kỳ đã trở thành một người đàn ông dành cả sự nghiệp để chống lại chính loại bạo lực đã hủy hoại gia đình của Hilde.

Lúc đó, cả hai vẫn chưa biết sự kết nối đặc biệt ấy.

Sau khi học ở Harvard, Chris bắt đầu tìm kiếm bà.

Anh gần như không biết gì chỉ có tên bà và biết rằng bà đang ở đâu đó tại Thụy Điển. Anh liên hệ với đại sứ Thụy Điển tại Kenya, người đã giúp tìm ra bà.

Anh phát hiện bà vẫn còn sống, vẫn ở Västerås, Thụy Điển.

Năm 2001, anh thành lập Quỹ Giáo dục Hilde Back, đặt theo tên người phụ nữ mà anh chưa từng gặp. Năm 2003, anh mời bà sang Kenya dự lễ khánh thành quỹ.

Khi họ gặp nhau lần đầu, Chris nghĩ rằng bà sẽ hiểu rõ tầm vóc của điều mình đã làm.

Nhưng thay vào đó, anh gặp một người phụ nữ hiền hậu, khiêm tốn, thực sự tin rằng mình không làm điều gì quá đặc biệt.

Rồi các nhà làm phim xuất hiện.

Khi thực hiện bộ phim tài liệu về câu chuyện của họ bộ phim sau đó được trình chiếu tại Sundance, giành giải Humanitas và được đề cử Emmy một nhà làm phim bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về quá khứ của Hilde.

Khi các mảnh ghép dần hoàn chỉnh, chiều sâu của sự kết nối mới trở nên rõ ràng.

Một người sống sót sau thảm họa Holocaust ,người bị chia cắt khỏi cha mẹ khi còn là thiếu niên bởi chính kiểu thù hận do nhà nước bảo trợ có thể hủy diệt cả một dân tộc lại dành 15 đô la mỗi học kỳ trong nhiều năm để giúp một cậu bé sau này trở thành công tố viên chống tội ác diệt chủng.

Bà đã trao tiếp lòng nhân ái mà những người xa lạ từng dành cho mình mà không biết nó sẽ đi đến đâu, hay sẽ trở thành điều gì.

Khi Chris biết toàn bộ câu chuyện của bà, anh đã bật khóc.

Hilde Back sinh ngày 3 tháng 10 năm 1922. Bà qua đời ngày 13 tháng 1 năm 2021 tại Västerås, Thụy Điển, hưởng thọ 98 tuổi.

Bà chưa bao giờ tìm kiếm sự công nhận.

Quỹ mang tên bà vẫn tiếp tục hoạt động sau khi bà qua đời, vẫn cấp học bổng cho những người trẻ Kenya thông minh, giàu khát vọng nhưng bị mắc kẹt trong nghèo đói giống như Chris Mburu ngày trước, khi một người phụ nữ chưa từng gặp đã quyết định rằng 15 đô la mỗi học kỳ là cái giá hợp lý cho tương lai của một người khác.

Làn sóng lan tỏa từ quyết định đó vẫn tiếp tục.

Nó đi từ Đức đến Thụy Điển.

Từ Thụy Điển đến Kenya.

Từ Kenya đến các tòa án luật quốc tế.

Từ một đứa trẻ đến một quỹ học bổng.

Từ một quỹ học bổng đến hàng trăm sinh viên.

Từ hàng trăm sinh viên đến những cộng đồng mà họ đang phục vụ.

Tất cả bắt đầu từ một người phụ nữ nhìn vào danh sách những cái tên… và chọn một người.

Thế giới thường dạy chúng ta chờ đợi những hành động vĩ đại hay những tổ chức quyền lực.

Nhưng đôi khi lịch sử lại thay đổi từ những điều nhỏ bé hơn nhiều từ lòng tốt bình thường của một người từng được cứu giúp, người hiểu cảm giác được ai đó tin tưởng đáng giá 15 đô la là như thế nào, và lặng lẽ trao lại điều đó cho người khác.

Hãy chia sẻ câu chuyện này với ai đó đang cần được nhắc rằng:

Không có hành động tử tế nào là nhỏ bé cả.

Theo Legacy of Great Humans

My Lan Phạm


 

GÂY KINH NGẠC- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”.

“Tình yêu và sự thật như muối – Natri Clorua. Không có sự thật, tình yêu mơ hồ; sự thật thiếu tình yêu có thể gây thương tổn. Khi sự thật và tình yêu tích hợp, nó trở nên ‘muối của đất’ và là yếu tố gây kinh ngạc!” – David H. Johnson.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiết lộ: sống trong sự thật là cách hấp dẫn nhất để truyền đạt nó. Chúa Giêsu là kiểu mẫu; Ngài trở nên “muối của đất”, một yếu tố ‘gây kinh ngạc’ đến nỗi “Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”.

Tuy nhiên, sự thật luôn có giá của nó; và không phải ai cũng dám trả giá để đứng về phía nó. Trước Chúa Giêsu, người thì tin Ngài là tiên tri; kẻ khác tin Ngài là Đấng Kitô; số khác không tin. Vệ binh được sai đến bắt Ngài thì trở về tay không; giới lãnh đạo thì khinh thị. Nicôđêmô lại lưỡng lự – trái tim muốn bênh vực, lý trí lại sợ liên luỵ. Đó cũng là giằng co quen thuộc nơi mỗi chúng ta – không phải không biết điều đúng, nhưng chỉ không dám trả giá! Hồng y Cantalamessa từng cho rằng, điều khó nhất không phải là nhận ra sự thật, nhưng là chấp nhận để nó thắng mình!

Vậy điều gì nơi Chúa Giêsu khiến người ta bất đồng? Chỉ vì Ngài ‘gây kinh ngạc’. Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền; một lời, quỷ phải xuất; ai nghe cũng kinh hãi. Vậy mà Lời Ngài không chỉ vang lên, nhưng chạm tới và làm khác đi. Không dễ cắt nghĩa, nhưng không thể chối cãi – lời ấy mang sức mạnh kêu gọi đức tin, gợi lên một sự hiện diện chỉ Thiên Chúa có. Vì thế, Chúa Giêsu quá hấp dẫn và không ai có thể thờ ơ. Và vì không thể thờ ơ, người ta buộc phải chọn – và chọn lựa ấy có thể gây mất mát.

‘Gây kinh ngạc’ luôn kéo theo phản ứng. Người đơn sơ mở lòng và đáp lại; kẻ tự cao thì khép lại và lên án. Họ ghen tị và miệt thị cả những ai dám tin nhận Ngài. Bởi lẽ, một khi sự thật chạm vào cái tôi, nó thường bị coi như một đe doạ hơn là một giải thoát. Giêrêmia đã nếm trải điều đó: “Con đâu biết chúng đang mưu tính hại con” – bài đọc một. Bị chống đối, ông vẫn nói sự thật và phó mình – “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con ẩn náu bên Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”. Trước Chúa Giêsu, không ai đứng ngoài; hoặc theo Ngài, hoặc loại trừ Ngài. Không chọn Ngài, là đã âm thầm tẩy chay Ngài. Trung lập trước Chúa Giêsu thường chỉ là một ảo tưởng dễ chịu. Bước vào Tuần Thương, thập giá của Ngài phải ‘gây kinh ngạc’ lớn nhất. Chúng ta không thể dửng dưng trước tình yêu hy tế của Ngài, “như con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” vì tội lỗi nhân loại – và tội lỗi của mỗi chúng ta. Nếu thập giá không làm nhói đau, có lẽ trái tim đã bắt đầu xơ cứng. Thập giá của Ngài, nơi lời và tình yêu trùng khít; từ đó, Con Thiên Chúa trở nên “muối của đất”, “muối của thế giới!”. “Trên thập giá, Thiên Chúa nói lời cuối cùng của Ngài – và lời ấy là tình yêu!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Đấng ‘gây kinh ngạc’, đừng để con gây kinh hoàng; cho con là muối – âm thầm mà khác biệt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 *********************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần IV Mùa Chay

Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 7,40-53

40 Khi ấy, Đức Giê-su giảng dạy tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Trong dân chúng, có những người nghe các lời của Đức Giê-su thì nói : “Ông này thật là vị ngôn sứ.” 41 Kẻ khác rằng : “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói : “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ? 42 Nào Kinh Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao ?” 43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. 44 Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.

45 Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng : “Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây ?” 46 Các vệ binh trả lời : “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy !” 47 Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng : “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? 48 Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? 49 Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !” 50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ : 51 “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?” 52 Họ đáp : “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.”

53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình. 


 

THIÊN CHÚA MỞ HUYỆT MỘ – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Trong bất cứ nền văn hóa nào, cái chết luôn là một kinh nghiệm đau thương nhất của kiếp người.  Cái chết chia lìa người thân, chấm dứt mọi kế hoạch và dự tính cho tương lai.  Người đã chết nhanh chóng rơi vào quên lãng, ngay cả đối với những người thân của mình.  Ở mọi thời đại, các nền văn hóa và tín ngưỡng đều tìm kiếm câu trả lời cho ý nghĩa cuộc đời cũng như tương lai con người sau khi đã chết.

 Vào thế kỷ thứ Sáu trước Công nguyên, khi dân Do Thái đang bị phát lưu đi đày ở Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã gửi đến cho họ một thông điệp hy vọng: Thiên Chúa sẽ mở nấm huyệt mộ cho dân và đem họ về đất Ít-ra-en, tức là về quê cha đất tổ.  Trong bối cảnh cụ thể của thời lưu đầy, hành động “mở huyệt” của Thiên Chúa có nghĩa là Ngài giải phóng họ khỏi cảnh lưu đày tha hương.  Những người Do Thái khi nghe lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chắc chắn liên tưởng tới cuộc giải phóng vĩ đại Thiên Chúa đã thực hiện để đưa dân tộc họ ra khỏi Ai-cập, sau hơn bốn trăm năm sống cảnh nô dịch tại xứ người.  Đó cũng sẽ là thời mà Thiên Chúa khôi phục truyền thống huy hoàng đã mất do cuộc lưu đày. 

Sự can thiệp của Thiên Chúa không chỉ là giải phóng dân Do Thái khỏi cảnh lưu đày, mà còn đổi mới tâm hồn của họ.  Hãy nghe ngôn sứ nói: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh… bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa.”  Nhờ quyền năng của Thiên Chúa, người Do Thái được về lại cố hương, đồng thời cũng được canh tân để mang một tâm hồn mới, dồi dào ân sủng và niềm vui của Thần Khí.  Một dân tộc đã thực sự hồi sinh!

 Thiên Chúa, Đấng đã giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập, và đã dẫn dân lưu đày từ Ba-by-lon về lại quê hương.  Vị Thiên Chúa ấy đã thực hiện những điều vĩ đại qua Đức Giê-su.  Phép lạ làm cho ông La-da-rô đã chết bốn ngày sống lại đã chứng minh quyền năng của Thiên Chúa.  Nơi Đức Giê-su, những gì các ngôn sứ loan báo trong Cựu ước đã trở thành hiện thực.  Người không chỉ mở huyệt mộ cho một cá nhân là ông La-da-rô, nhưng cho cả nhân loại đang nằm dưới ách của bóng tối tội lỗi và của sự chết.  Hơn nữa, ông La-da-rô được Chúa Giê-su cho sống lại, rồi sau này cũng phải chết.  Nhân loại đang đi trong tối tăm của nấm mồ được Chúa Giê-su cứu rỗi sẽ không phải chết, như lời Chúa nói: Tôi là sự sống lại và là sự sống.  Ai tin vào tôi, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.  Ai sống và tin vào tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26) Những ai tin vào Người, sẽ được hưởng sự sống vĩnh cửu.  Dù sự chết vẫn hiện hữu, dù thân xác vẫn mục nát trong nấm mồ, nhưng những ai tin vào Chúa sẽ được sống lại trong ngày phán xét, và họ sẽ được hưởng sự sống đời đời. 

Những lời đối đáp giữa Chúa Giê-su và bà Mác-ta, không đơn thuần chỉ là cuộc đối đáp giữa hai cá nhân, mà là cuộc đối đáp giữa Ki-tô giáo và các nền văn hóa ở mọi thời đại.  Quả vậy, theo quan niệm thông thường, thì một người chết đã được chôn bốn ngày rồi, thì xác bắt đầu phân hủy và rất nặng mùi, không nên mở huyệt ra.  Tuy vậy, đối với quyền năng của Thiên Chúa, La-da-rô vẫn có thể sống lại.  Tin vào Chúa là tin một điều không thể lại trở thành có thể.  Hai mươi thế kỷ đã qua, trong bất kỳ nền văn hóa nào, Giáo Hội Ki-tô luôn khẳng định: Đức Giê-su đã sống lại từ cõi chết, và những ai tin vào Chúa, Người sẽ cho sống lại để hưởng hạnh phúc trường sinh. 

Dưới ngòi bút của tác giả Tin Mừng, nhân tính của Chúa Giê-su được diễn tả cách rõ nét.  Người đã rơi lệ trước cái chết của một người bạn.  Người xót xa trước nỗi khổ của tang quyến.  Chúng ta có thể thấy sự cảm thương của Chúa Giê-su ở những nơi khác trong Phúc âm: khi chứng kiến đám tang của người thanh niên, là con duy nhất của một người đàn bà góa (x. Lc 7,11-17); khi thấy nỗi đau của cha mẹ có đứa con gái vừa chết (Mt 9,18-26); và trước đám đông đi theo Người ba ngày trong hoang địa mà không có gì ăn (x. Mt 14,13-21).  Đức Giê-su là Đấng Thiên sai.  Người diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa trong lời giáo huấn, qua các phép lạ và trong mọi hành vi cử chỉ thường ngày.  Đó là hình ảnh một Thiên Chúa cảm thông với nỗi đau của con người, và ra tay cứu giúp họ. 

Giữa cuộc sống còn nhiều bon chen lận đận, chúng ta đôi khi bị giam hãm trong những “ngôi mộ” là tính ích kỷ, những đam mê, những hận thù nhỏ nhen toan tính…  Mùa Chay mời gọi chúng ta bước ra khỏi nấm mồ, nhờ quyền năng của Thiên Chúa.  Thánh Phao-lô quảng diễn: con người chúng ta luôn bị xác thịt chi phối.  Để làm đẹp lòng Chúa, chúng ta phải biết làm chủ những ước muốn của chúng ta, và điều khiển chúng theo cách phù hợp với ý Chúa.  Thánh nhân cũng nói đến cái chết thiêng liêng, tức là phạm tội.  Khi phạm tội, là chúng ta chết về phần linh hồn; khi hòa giải với Chúa (qua thiện chí sám hối và Bí tích Hòa Giải), chúng ta được sống lại với Đức Giê-su, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. 

“Từ vực thẳm, con kêu lên Chúa… ” (Đáp ca).  Lời Thánh vịnh nói lên thân phận bi thảm của con người.  Lời ấy cũng diễn tả niềm hy vọng vào lòng từ bi của Chúa.  Chính Người sẽ giải thoát chúng ta và sẽ mở huyệt mộ cho chúng ta. 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

 NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Người Giồng Trôm

 NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Giữa dòng xe cộ hối hả của đường Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh ngày nay, có một góc khuất mà ít ai để ý: một ngôi thánh đường Công Giáo nhỏ bé, cổ kính, nằm lặng lẽ bên cạnh doanh trại quân đội (nay là Quân khu 7). Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngôi nhà thờ này bị chiếm dụng, đóng cửa kín mít, khuôn viên từng là nơi cầu nguyện thiêng liêng nay trở thành bãi đậu xe tải của ngành điện lực, cỏ dại mọc um tùm, tường vôi loang lổ, mái ngói phủ bụi thời gian. Nhiều người Sài Gòn sinh ra sau 1975, sống ngay quanh khu vực này, thậm chí đi qua hàng trăm lần, vẫn không biết đây là nhà thờ gì, thuộc Tin Lành hay Công Giáo. Tra Google Maps hay tìm kiếm trên mạng, kết quả gần như bằng không – như thể ngôi thánh đường này đã bị lịch sử xóa sổ khỏi ký ức tập thể.

Nhưng với những bậc tiền bối Bắc di cư năm 1954 còn sống sót quanh giáo xứ Tân Sa Châu, Bùi Phát (vùng Ông Tạ xưa), họ vẫn nhớ rõ như in: Đây chính là Nhà Thờ Truyền Tin – một trong những nhà thờ Công Giáo quan trọng nhất phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thời chiến tranh. Tên gọi “Truyền Tin” lấy từ mầu nhiệm Lễ Truyền Tin (Annunciation) – ngày Sứ Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria rằng Bà sẽ mang thai Con Thiên Chúa. Ngôi nhà thờ được xây dựng để dành riêng cho các linh mục tuyên úy dâng Thánh Lễ, chăm sóc đời sống thiêng liêng cho hàng ngàn quân nhân đóng quanh phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu (TTM), và các đơn vị binh chủng Truyền Tin, Không Quân, cùng gia đình họ ở khu gia binh gần đó.

Lịch sử xây dựng và những năm tháng huy hoàng

Ngôi nhà thờ được khởi công vào những năm đầu thập niên 1960, thuộc giáo khu Truyền Tin, giáo xứ Tân Sa Châu, dưới sự quản lý của Tổng Giáo phận Sài Gòn. Viên đá đầu tiên được đặt vào dịp Noel, ngày 23 tháng 12 năm 1961, và hoàn thành chỉ trong vòng chưa đầy một năm – ngày 13 tháng 8 năm 1962. Ban đầu, một số người gọi là “Nhà Thờ Không Quân” vì khu vực phi trường Tân Sơn Nhất lúc ấy chỉ có nhà thờ Công Giáo này phục vụ quân nhân. Sau đó đổi tên thành Nhà Thờ Truyền Tin vì nằm sát khu vực binh chủng Truyền Tin và cư xá gia binh Truyền Tin.

Người trực tiếp đảm trách và góp phần lớn vào việc xây dựng là Linh mục Phan Phát Huồn, dòng Chúa Cứu Thế (DCCT). Cha Huồn sinh ngày 5 tháng 10 năm 1926 tại họ đạo Thợ Đúc, giáo xứ Trường An, Hương Thủy, Huế. Năm mới 11 tuổi (1937), ngài đã vào tu tại Dòng Chúa Cứu Thế – một quyết định dấn thân sớm lạ thường. Khấn dòng năm 1948, thụ phong linh mục ngày 27 tháng 6 năm 1955. Từ năm 1957, cha được chọn tham gia ngành Tuyên Úy Công Giáo Quân Lực VNCH, với cấp bậc cao nhất là Trung tá Tuyên úy, Phó Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo QLVNCH.

Không chỉ là linh mục tuyên úy, cha Huồn còn là một sử gia Công Giáo lỗi lạc. Tác phẩm đồ sộ nhất của ngài là bộ “Việt Nam Giáo Sử” (2 tập, xuất bản năm 1965 bởi Cứu Thế Tùng Thư tại Sài Gòn) – một công trình nghiên cứu công phu, chi tiết về lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ thời khai phá đến thế kỷ 20. Sau 1975, sách được tái bản tại Mỹ. Ngoài ra, cha còn làm Chủ bút Nguyệt san Tinh Thần, Giám đốc Chương trình Phát thanh Nha Tuyên Úy, mở trường Trung Tiểu học Tinh Thần, Trung Tiểu học Truyền Tin, Trung Tiểu học Lê Văn Duyệt… để chăm lo giáo dục cho con em quân nhân.

Thánh Lễ tại Nhà Thờ Truyền Tin thường diễn ra vào sáng Chúa Nhật, do các linh mục tuyên úy luân phiên chủ tế, nổi bật là cha Nguyễn Ái (người gốc Huế, cấp bậc trung úy, sau là trung tá). Cha Ái có người em là linh mục Nguyễn Ân (cấp bậc đại tá). Không khí thánh đường lúc ấy tràn đầy hy vọng, tiếng kinh nguyện hòa lẫn tiếng máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất, tiếng cầu xin bình an giữa bom đạn chiến tranh.

Sau 1975: Bi kịch chiếm dụng và lãng quên

Ngày 30/4/1975, mọi thứ thay đổi. Như bao cơ sở tôn giáo, quân sự của chế độ cũ, Nhà Thờ Truyền Tin bị nhà nước tiếp nhận. Khuôn viên bị biến thành nhà kho chứa thiết bị, vật tư điện lực cao thế. Xe tải điện lực đậu kín sân, cổng khóa chặt, không còn tiếng chuông, không còn Thánh Lễ. Người coi sóc cuối cùng cũng đã qua đời. Hầu hết quân nhân, gia đình từng tham dự lễ ở đây nay đã cao niên, phần lớn định cư nước ngoài theo diện HO hoặc các chương trình khác.

Riêng cha Phan Phát Huồn, như bao tuyên úy và quân nhân khác, phải trải qua 13 năm tù cải tạo (1975–1988), từ Nam chí Bắc: Tam Hiệp, Thanh Phong, Nam Hà… Ngài được thả tự do năm 1988, định cư tại Hoa Kỳ năm 1992 theo diện HO. Tại Mỹ, cha tiếp tục sinh hoạt trong Dòng Chúa Cứu Thế hạt Long Beach, làm Đặc trách Nhà dòng, Chủ bút Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (tái bản sau khi bị đình bản tại Việt Nam), Giám đốc Chương trình Phát thanh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Linh hướng chương trình truyền hình Ánh Sáng Niềm Tin… Cha qua đời ngày 16 tháng 10 năm 2015 tại Mỹ, để lại di sản tinh thần lớn lao.

Gần 50 năm trôi qua: Di sản vẫn chưa được trả lại

Gần nửa thế kỷ, tài sản của Giáo Hội vẫn nằm trong tay nhà nước, chưa được trả lại để giáo dân tu sửa, biến nơi đây thành chốn thờ phượng. Khu vực Phổ Quang xưa kia có hai địa điểm tôn giáo phục vụ quân nhân VNCH: Nhà Thờ Truyền Tin và Chùa Phổ Quang. Chùa Phổ Quang đã được trả lại cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trùng tu khang trang, trở thành điểm hành hương đẹp đẽ. Còn Nhà Thờ Truyền Tin thì vẫn im lìm, hoang phế, như một vết thương chưa lành của lịch sử.

Nhà Thờ Truyền Tin không nằm trong danh sách thái “giao tặng” lại một số cơ sở tôn giáo cho Giáo phận Sài Gòn. Thiết nghĩ, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn nên có những động thái cụ thể, khẩn thiết hơn: gửi văn bản chính thức, vận động, đối thoại để đòi lại ngôi thánh đường này. Kẻo để lâu, công trình sẽ hư hại hoàn toàn – mái sụp, tường đổ, và lặp lại bi kịch của không ít nhà thờ, cơ sở tôn giáo khác trong lịch sử đau thương sau 1975.

Đây không chỉ là một ngôi nhà thờ nhỏ trên đường Phổ Quang. Đây là di sản thiêng liêng, là ký ức của biết bao người đã từng quỳ gối cầu nguyện giữa khói lửa chiến tranh, là nơi cha Phan Phát Huồn – một linh mục, một sử gia, một tuyên úy – đã dâng hiến tuổi trẻ và cả cuộc đời cho đức tin và quê hương. Và quan trọng hơn, đây là lời nhắc nhở về công bằng, về quyền tự do tôn giáo, về việc trả lại những gì thuộc về Giáo Hội.

Lm. Anmai, CSsR

PS : Linh mục Phan Phát Huồn cũng chính là người sáng lập Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Xóm Mới.


 

SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG-Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG

Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta một lời vừa ngắn gọn vừa đầy sức lay động: “Thời gian chẳng còn bao lâu” (1 Cr 7,29). Đó không phải là một lời làm ta hoảng sợ, nhưng là một tiếng chuông thức tỉnh. Cuộc đời này không kéo dài mãi. Lịch sử thế giới rồi cũng sẽ đi tới hồi viên mãn, khi Thiên Chúa hoàn tất mọi sự và quy tụ vạn vật trong Đức Kitô. Tuy nhiên, cũng chính Kinh Thánh lại dạy rằng: “Đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2 Pr 3,8). Nghĩa là con người không thể dùng đồng hồ của mình để đo lường chương trình của Thiên Chúa. Ta không biết ngày tận thế đến khi nào. Ta cũng không biết giờ phút nào đời mình sẽ khép lại. Điều duy nhất ta biết chắc, đó là ngày ấy sẽ đến.

Chính vì thế, Hội Thánh thật khôn ngoan khi mỗi năm đều dành những tuần cuối năm phụng vụ, đặc biệt là tuần XXXIII Thường niên, để hướng lòng con cái mình về thực tại cánh chung. Đây là thời gian của tỉnh thức. Đây là thời gian của hồi tâm. Đây là thời gian để mỗi người tự hỏi: nếu hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, tôi có sẵn sàng chưa? Nếu đêm nay Chúa gọi tôi ra khỏi thế gian này, lòng tôi sẽ thế nào? Bình an hay bối rối? Tín thác hay sợ hãi? Gần Chúa hay xa Chúa?

Nhiều người khi nghe nói đến ngày cùng tận thường nghĩ đến những biến động lớn lao của vũ trụ, những hình ảnh kinh hoàng, những biến cố chấn động. Nhưng thật ra, đối với mỗi người, ngày cánh chung gần gũi nhất không hẳn là ngày tận thế của toàn cầu, mà là giờ phút cuối cùng của chính đời mình. Thế giới có thể còn tiếp tục, nhưng đời tôi thì không kéo dài vô tận. Vì thế, vấn đề không phải là đoán khi nào tận thế xảy ra, nhưng là học cách sống sao cho mỗi ngày, nhất là mỗi buổi tối, đều trở thành một cuộc chuẩn bị âm thầm mà nghiêm túc cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Chúa.

Cuối ngày là một khoảnh khắc rất đặc biệt. Sau bao bận rộn, tiếng động, công việc, lo toan, con người trở về với chính mình. Bóng chiều buông xuống như nhắc rằng một ngày đã qua và sẽ không bao giờ trở lại. Mỗi buổi chiều là một hình ảnh nhỏ của đời người. Sáng là tuổi trẻ, trưa là trưởng thành, chiều là tuổi xế bóng, và đêm là lúc mọi sự đi vào thinh lặng. Nếu biết sống giây phút cuối ngày với tâm tình đức tin, ta sẽ nhận ra rằng đó không chỉ là lúc nghỉ ngơi của thân xác, mà còn là giờ linh thiêng để dọn tâm hồn.

Có biết bao người sống rất kỹ cho ngày mai, nhưng lại quá hời hợt với phần rỗi đời đời. Người ta biết khóa cửa nhà trước khi ngủ, biết sạc điện thoại, chuẩn bị quần áo, lên kế hoạch công việc, nhưng nhiều khi lại quên dọn lòng mình trước mặt Chúa. Người ta sợ một đêm mất trộm, nhưng lại không sợ một linh hồn nguội lạnh. Người ta cẩn thận với sức khỏe thể lý, nhưng lại dễ dãi với đời sống thiêng liêng. Trong khi đó, có một sự thật không thể chối cãi: không ai biết mình còn thức dậy vào sáng hôm sau hay không. Nói điều ấy không phải để gieo buồn phiền, nhưng để giúp ta sống sâu hơn, thật hơn, và khôn ngoan hơn.

Những phút cuối ngày vì thế không nên bị bỏ trôi trong vô thức. Đó phải là lúc ta trở về trước mặt Chúa, lặng lẽ nhìn lại một ngày đã sống. Hôm nay tôi đã yêu thương thế nào? Tôi đã nói những lời nào làm người khác được nâng đỡ, và những lời nào làm người khác bị tổn thương? Tôi đã trung thành với bổn phận ra sao? Tôi đã sống gần Chúa hay để mình trôi dạt giữa quá nhiều bận tâm? Tôi có cố chấp, ghen ghét, kiêu ngạo, ích kỷ không? Tôi có bỏ lỡ những cơ hội làm điều tốt không? Một ngày qua đi không chỉ là thêm một ô trên tờ lịch bị xé bỏ. Một ngày qua đi là một phần đời không thể lấy lại. Mỗi buổi tối là lúc ta đặt phần đời vừa sống ấy vào tay Chúa.

Xét mình cuối ngày là một việc đạo đức rất đơn sơ nhưng vô cùng sâu sắc. Đó không phải là lúc tự dằn vặt mình, cũng không phải là lúc chỉ ngồi đếm lỗi để rồi thất vọng. Xét mình là đứng trong ánh sáng của Thiên Chúa mà nhìn lại chính mình. Trong ánh sáng ấy, ta thấy cả hai điều: tội lỗi của mình và lòng thương xót của Chúa. Ta thấy mình yếu đuối, nhưng cũng thấy Chúa vẫn kiên nhẫn đợi chờ. Ta thấy mình đã có lúc nguội lạnh, nhưng cũng thấy ơn Chúa vẫn âm thầm nâng đỡ mình suốt ngày qua. Người tín hữu chân thành không kết thúc ngày sống bằng mặc cảm, nhưng bằng sự khiêm nhường và tín thác. Họ biết nói với Chúa: “Lạy Chúa, hôm nay con còn thiếu sót nhiều, nhưng con xin trở về với Ngài. Xin tha thứ, thanh tẩy và gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.”

Đẹp biết bao khi một Kitô hữu đi vào giấc ngủ với một linh hồn đã được hòa giải. Đẹp biết bao khi trước khi nhắm mắt, ta kịp nói một lời cảm ơn vì mọi ơn lành nhận được, một lời xin lỗi vì những vấp ngã, một lời phó thác cho đêm tối sắp đến. Đó là cách sống những phút cuối ngày trong tinh thần cánh chung. Không phải sống trong lo âu, nhưng trong tỉnh thức. Không phải trong ám ảnh, nhưng trong bình an. Không phải trong nỗi sợ bị phán xét, nhưng trong niềm hy vọng được gặp Đấng mình yêu mến.

Thật ra, ai sống tốt phút cuối ngày thì cũng sẽ sống tốt phút cuối đời. Người nào mỗi tối đều biết trở về với Chúa, người ấy sẽ không quá bỡ ngỡ khi một ngày nào đó phải trở về với Chúa mãi mãi. Người nào tập sống trong ánh sáng sự thật từng ngày, người ấy sẽ không quá hoảng hốt khi đứng trước ánh sáng vĩnh cửu. Cái chết, đối với người sống trong ân sủng, không còn chỉ là một kết thúc, nhưng là cuộc vượt qua. Không còn chỉ là mất mát, nhưng là cuộc gặp gỡ. Không còn chỉ là đóng lại một cánh cửa, nhưng là mở ra một quê hương.

Bởi vậy, những phút cuối ngày mang một giá trị thiêng liêng rất lớn. Đó là lúc ta học buông bỏ những gì không cần thiết. Một ngày sống qua đi cho ta thấy rõ hơn biết bao điều mình tưởng quan trọng thật ra rất chóng qua. Những bực bội, tranh chấp, tự ái, ganh đua, hơn thua… đến cuối ngày nhìn lại, nhiều khi chỉ là bụi nhỏ. Trước mặt Thiên Chúa, chỉ còn điều quan trọng nhất: tôi đã yêu mến Ngài và yêu thương anh em đến đâu. Càng gần đêm, tâm hồn càng được mời gọi sống đơn sơ hơn. Và chính trong sự đơn sơ ấy, ta chạm được điều cốt lõi của Tin Mừng.

Tuần XXXIII Thường niên và những ngày cuối năm phụng vụ vì thế không muốn làm ta sợ hãi về ngày tận thế, nhưng muốn dạy ta nghệ thuật sống mỗi ngày như một hồng ân và mỗi buổi tối như một cuộc chuẩn bị. Ai biết sống như thế sẽ không phung phí đời mình. Họ không trì hoãn việc hoán cải. Họ không nói: mai tôi sẽ cầu nguyện hơn, mai tôi sẽ tha thứ, mai tôi sẽ sửa mình, mai tôi sẽ sống tử tế hơn. Vì họ hiểu rằng đời người rất mong manh, và ơn gọi nên thánh luôn là chuyện của hôm nay. Chính hôm nay tôi phải yêu. Chính hôm nay tôi phải hoán cải. Chính hôm nay tôi phải làm hòa với Chúa. Chính tối nay tôi phải dọn lòng.

Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là tận thế đến bất ngờ, mà là lòng ta ngủ mê giữa khi Chúa đang đến gần. Có những người sống rất lâu nhưng không thực sự tỉnh thức. Có những người kéo dài năm tháng, nhưng tâm hồn thì nguội lạnh, trống rỗng, xa Chúa. Trái lại, có những người sống âm thầm, ngắn ngủi, nhưng từng ngày đều đầy ý nghĩa vì họ biết sống dưới ánh sáng vĩnh cửu. Điều làm nên giá trị của đời người không phải chỉ là sống bao nhiêu năm, nhưng là sống những năm tháng ấy như thế nào trước mặt Thiên Chúa.

Vì thế, khi chiều xuống, ta hãy coi đó như một lời mời của Chúa. Lời mời dừng lại. Lời mời nhìn lại. Lời mời quay về. Lời mời phó thác. Giữa bao xao động của cuộc sống, những phút cuối ngày có thể trở thành cuộc hẹn rất đẹp giữa linh hồn và Thiên Chúa. Ở đó, không cần những lời lẽ cầu kỳ. Chỉ cần một tâm hồn thật lòng. Chỉ cần một ánh nhìn hướng về Chúa. Chỉ cần một câu nguyện đơn sơ: “Lạy Chúa, nếu đêm nay là đêm cuối cùng của đời con, xin cho con được ở trong tình thương của Ngài.”

Sống như thế, ta sẽ không sợ ngày mai, cũng không sợ ngày cuối cùng. Vì người luôn trở về với Chúa vào mỗi cuối ngày thì thật ra đã bắt đầu sống đời đời ngay giữa cuộc đời này rồi. Mỗi đêm là một lần tập phó thác. Mỗi sáng thức dậy là một lần được ban thêm thời gian để yêu mến và sửa mình. Và đến khi tiếng gọi sau cùng vang lên, người tín hữu có thể thưa lên trong bình an: “Lạy Chúa, con đây.”

Xin cho những tuần cuối năm phụng vụ đánh thức nơi chúng ta một tâm hồn tỉnh thức. Xin cho mỗi buổi chiều không chỉ là lúc kết thúc công việc, mà còn là lúc bắt đầu một cuộc trở về nội tâm. Xin cho ta biết tận dụng những phút cuối ngày để dọn mình, để yêu thương hơn, để tha thứ hơn, để sống thật hơn, và để mỗi đêm đều là một bước chuẩn bị dịu dàng cho cuộc gặp gỡ vinh quang với Chúa, Đấng sẽ đến, chắc chắn sẽ đến, nhưng đến vào giờ ta không ngờ.

Lm. Anmai, CSsR


 

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm-Lê Diễn Đức

Nguyễn Kim Chi

Lê Diễn Đức

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm: cuộc đối đầu không còn dừng ở các mục tiêu quân sự, mà đã chuyển sang đánh thẳng vào hạ tầng năng lượng – huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.

Việc Israel tấn công vào mỏ khí South Pars của Iran và Iran lập tức đáp trả bằng các đòn đánh vào chuỗi cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh không chỉ là ăn miếng trả miếng, mà là sự chuyển pha sang một dạng chiến tranh mới – nơi mỗi đòn đánh đều mang tính hệ thống.

Bề ngoài, Israel vẫn là bên chiếm ưu thế rõ rệt. Khả năng tấn công chính xác, năng lực tình báo và kiểm soát không gian tác chiến giúp họ đánh trúng những mục tiêu có giá trị cao trong lòng Iran. Nhưng nếu chỉ nhìn vào các đòn đánh này để kết luận cục diện, thì sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất của cuộc chiến: cách Iran “chơi game”.

Iran không cố thắng theo cách truyền thống. Họ hiểu rõ mình không thể cạnh tranh trực diện với Israel, càng không thể đối đầu đối xứng với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Tehran là chuyển cuộc chiến từ một ván cờ quân sự sang một trò chơi tiêu hao và phá vỡ hệ thống. Thay vì bảo vệ tuyệt đối lãnh thổ, Iran chấp nhận bị đánh, nhưng đổi lại họ mở rộng chiến trường ra toàn khu vực – nơi mà bất kỳ đòn tấn công nào cũng có thể gây chấn động dây chuyền.

Đòn phản công của Iran vào các cơ sở năng lượng ở Qatar, Saudi Arabia hay UAE là minh chứng rõ nhất. Đây không chỉ là hành động quân sự, mà là một tín hiệu: nếu Iran bị đẩy vào chân tường, họ sẵn sàng khiến cả hệ thống năng lượng toàn cầu rung chuyển. Nói cách khác, họ biến cuộc chiến thành một bài toán mà chi phí của việc đánh bại Iran có thể vượt xa lợi ích thu được.

Chính điểm này đã đặt Mỹ vào một tình thế cực kỳ khó xử. Về quân sự thuần túy, Mỹ có thể áp đảo Iran. Nhưng vấn đề không nằm ở việc “đánh thắng”, mà ở việc “kết thúc được chiến tranh”.

Nếu Washington lựa chọn leo thang, họ sẽ đối mặt với một kịch bản quen thuộc: chiến thắng nhanh về quân sự, nhưng sa lầy trong một không gian bất ổn kéo dài – nơi các lực lượng ủy nhiệm, xung đột cục bộ và phá hoại kinh tế liên tục bào mòn nguồn lực.

Bài học từ Chiến tranh Afghanistan vẫn còn rất mới. Mỹ đã lật đổ Taliban chỉ trong thời gian ngắn, nhưng phải mất hai thập kỷ để nhận ra rằng việc kiểm soát một xã hội phức tạp bằng sức mạnh quân sự là điều gần như bất khả thi.

Trước đó, Chiến tranh Iraq cũng cho thấy việc loại bỏ một chế độ không đồng nghĩa với việc xây dựng được một trật tự ổn định. Và Nội chiến Libya là ví dụ điển hình cho một khoảng trống quyền lực biến thành hỗn loạn kéo dài.

Iran thậm chí còn là một bài toán khó hơn. Đây không phải là một quốc gia dễ sụp đổ theo kiểu “cắt đầu là xong”. Họ có một hệ thống quyền lực đa tầng, một bản sắc quốc gia mạnh, và quan trọng hơn, một mạng lưới ảnh hưởng trải rộng khắp Trung Đông. Ngay cả trong kịch bản cực đoan nhất – Mỹ đánh bại chế độ hiện tại – thì việc “xóa sổ toàn bộ hệ thống” gần như là điều không tưởng. Những gì còn lại có thể là một Iran phân mảnh, bất ổn và thậm chí nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nghịch lý của cuộc chiến này nằm ở chỗ: càng leo thang, Mỹ càng tiến gần đến một chiến thắng quân sự – nhưng lại xa dần một kết thúc chiến lược. Iran hiểu điều đó, và họ đang chơi đúng vào điểm yếu này. Họ không cần thắng nhanh; họ chỉ cần kéo dài, mở rộng và làm cho đối phương phải trả giá ngày càng đắt.

Nhìn từ góc độ này, có thể thấy cục diện hiện tại không phải là một cuộc chiến có bên thắng rõ ràng. Israel đang thắng trong từng trận đánh. Iran đang làm biến dạng toàn bộ cuộc chơi. Còn Mỹ, dù là siêu cường, lại bị đặt vào thế phải lựa chọn giữa hai con đường đều rủi ro: hoặc không hành động đủ mạnh để chấm dứt xung đột, hoặc hành động quá mạnh và tự đẩy mình vào một vòng xoáy sa lầy mới.

Và đó chính là điều khiến cuộc chiến này trở nên nguy hiểm: không phải vì nó chưa có người thắng, mà vì ngay cả người có thể thắng cũng không chắc sẽ thoát ra được.