Khủng hoảng của nền dân chủ – khi dân chủ trở thành nạn nhân của chính mình-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Khủng hoảng của nền dân chủ – khi dân chủ trở thành nạn nhân của chính mình

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

22/10/2026

Đã từ lâu, tôi muốn viết về vấn đề này nhưng chưa có dịp. Những biến động chính trị trên thế giới trong những năm gần đây, đặc biệt là những sự kiện xảy ra tại Pháp trong tháng 10 này, đã thôi thúc tôi cầm bút. Đây là một vấn đề lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều mặt của đời sống chính trị và xã hội, nên khó có thể trình bày đầy đủ chỉ trong vài dòng.

Trước hết phải nói dân chủ là một trong những thành tựu chính trị lớn nhất của nhân loại. Sau hàng nghìn năm sống dưới các chế độ quân chủ chuyên chế, độc tài và toàn trị, con người đã phải trải qua biết bao cuộc đấu tranh, cách mạng và đổ máu để giành được quyền tự do, quyền lựa chọn những người lãnh đạo và quyền tham gia quyết định vận mệnh đất nước. Không ai có thể phủ nhận những giá trị to lớn ấy. Trong vòng một thế kỷ qua, nền dân chủ đã có những bước phát triển vượt bậc. Từ chỗ chỉ hiện diện ở một số ít quốc gia, dân chủ đã lan rộng ra nhiều khu vực trên thế giới, trở thành một trong những thành tựu chính trị quan trọng nhất của nhân loại. Dù vẫn còn những bước thăng trầm, dân chủ có thể được xem là một xu hướng phát triển lâu dài của xã hội loài người.

Nhưng điều đó không có nghĩa dân chủ là một chế độ hoàn hảo, càng không có nghĩa nó không chứa đựng những mâu thuẫn có thể đe dọa chính sự tồn tại của mình.

Nhìn vào tình hình chính trị hiện nay tại Pháp và nhiều nước phương Tây, người ta không thể không đặt câu hỏi: Phải chăng nền dân chủ đang lâm vào khủng hoảng, không chỉ vì những kẻ chống đối nó, mà còn vì chính cách nó vận hành?

  1. Muốn lãnh đạo đất nước, trước hết phải thắng cử

Nguyên tắc cơ bản của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Người lãnh đạo phải được dân chúng lựa chọn thông qua bầu cử. Về lý thuyết, đó là một nguyên tắc rất đẹp. Nhưng trong thực tế, nó tạo ra một nghịch lý: muốn có quyền điều hành đất nước, chính trị gia phải thắng cử. Muốn thắng cử, họ phải thuyết phục được cử tri. Và muốn được cử tri ủng hộ, họ thường phải hứa hẹn những điều mà cử tri muốn nghe. Đúng là kiểu hứa hươu hứa vượn.

Trong khi đó, những điều có lợi cho đất nước về lâu dài lại không nhất thiết là những điều làm người dân hài lòng trước mắt.

Một quốc gia nợ nần chồng chất cần giảm chi tiêu, cải cách ngân sách, đôi khi phải tăng thuế hoặc giảm một số khoản trợ cấp. Một xã hội già hóa cần xem xét lại tuổi nghỉ hưu. Một nền kinh tế mất sức cạnh tranh cần những thay đổi có thể gây khó khăn cho một bộ phận dân chúng.

Nhưng chính trị gia nào dám công khai nói với cử tri rằng họ sẽ phải làm việc nhiều hơn, đóng góp nhiều hơn và hưởng ít đi? Chẳng mấy ai.

Nói như vậy thì làm sao thắng cử?

Thế là xuất hiện một nghịch lý: người có khả năng quản lý đất nước tốt nhất chưa chắc là người có khả năng thắng cử, còn người có khả năng thắng cử giỏi nhất chưa chắc đã có khả năng quản lý đất nước.

Và khi đã được bầu, nhiều chính trị gia lại bắt đầu tính toán cho cuộc bầu cử tiếp theo.

Thay vì hỏi: “Điều gì cần thiết cho tương lai đất nước?”, họ có thể tự hỏi: “Làm điều này liệu tôi có mất phiếu không?”

Khi lợi ích bầu cử được đặt cao hơn lợi ích quốc gia, dân chủ bắt đầu bộc lộ một trong những nhược điểm nguy hiểm nhất của nó. Sau 36 năm sống ở Pháp, tôi đã tận mắt chứng kiến điều đó. Gần như toàn bộ các đảng phái chỉ lo mất phiếu hơn là lo làm sao cho đất nước phát triển. Có những quyết định đúng đắn, cần thiết cho đất nước, nhưng chỉ cần gặp phản đối dữ dội là chính phủ đã phải chùn bước, thậm chí từ bỏ. Trong khi đó, yêu sách của các tầng lớp dân chúng thì nhiều vô kể, không ít đòi hỏi quá đáng, thậm chí xa rời thực tế. Tôi sẽ trở lại vấn đề này ở phần sau.

  1. Khi lá phiếu của người hiểu biết và người không hiểu biết có giá trị ngang nhau.

Dân chủ dựa trên nguyên tắc bình đẳng chính trị: mỗi công dân một lá phiếu. Nhưng nguyên tắc ấy cũng đặt ra một vấn đề rất khó giải quyết. Trong xã hội, không phải ai cũng có kiến thức giống nhau về kinh tế, chính trị, lịch sử hay quan hệ quốc tế. Không phải ai cũng có khả năng phân biệt một chính sách khả thi với một lời hứa viển vông.

Thế nhưng, khi bước vào phòng phiếu, lá phiếu của một người nghiên cứu kỹ chương trình kinh tế có giá trị ngang với lá phiếu của người chỉ bỏ phiếu vì một khẩu hiệu hấp dẫn hoặc một đoạn video trên mạng xã hội.

Có một cách nói dân gian rất cay độc, cố ý cường điệu:

“Muốn được bầu thì phải thuyết phục được những thằng ngu, vì những thằng ngu đông gấp vạn lần những thằng khôn.”

Câu nói ấy thô tục, nhưng đặt ra một câu hỏi không hề thô tục: nếu một bộ phận lớn cử tri thiếu hiểu biết về những vấn đề mà họ được yêu cầu quyết định, chất lượng của nền dân chủ sẽ ra sao?

Dĩ nhiên, không thể vì thế mà tước quyền bầu cử của những người ít học. Bằng cấp không bảo đảm sự sáng suốt, và những người có học cũng có thể bị tuyên truyền, định kiến hoặc lợi ích cá nhân chi phối.

Nhưng chính vì mọi lá phiếu đều bình đẳng, nền dân chủ càng cần một xã hội có giáo dục, có tinh thần phê phán, có báo chí độc lập và có những công dân biết suy nghĩ thay vì chỉ phản ứng theo cảm xúc, điều này hơi bị khó ở bất cứ một xã hội nào.

Bầu cử rất dễ và thường xuyên trở thành cuộc thi xem ai nói hay hơn, hứa nhiều hơn và kích thích được nhiều cảm xúc hơn, thay vì cuộc lựa chọn người có năng lực lãnh đạo.

  1. Khi người dân muốn hưởng nhiều hơn nhưng không muốn trả giá

Một trong những biểu hiện rõ rệt của mâu thuẫn dân chủ là khoảng cách ngày càng lớn giữa những đòi hỏi của dân chúng và khả năng thực tế của quốc gia.

Người dân muốn lương cao hơn, trợ cấp nhiều hơn, dịch vụ công tốt hơn, tuổi nghỉ hưu thấp hơn, thuế ít hơn.

Đồng thời, họ cũng muốn nhà nước giảm thâm hụt ngân sách, giảm nợ công và bảo đảm tương lai cho các thế hệ sau.

Nhưng tiền ở đâu ra?

Không thể vừa tăng chi tiêu, vừa giảm nguồn thu, vừa giảm nợ công mãi mãi mà không có những thay đổi về tăng trưởng, năng suất hoặc sự phân bổ nguồn lực.

Ở Pháp, những cuộc tranh cãi về cải cách hưu trí, ngân sách và chi tiêu công đã cho thấy rất rõ khó khăn ấy.

Dĩ nhiên, không phải mọi yêu sách xã hội đều vô lý. Nhiều cuộc đấu tranh đã góp phần sửa chữa bất công và cải thiện đời sống người lao động. Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm khi quản lý yếu kém hoặc phân phối gánh nặng không công bằng.

Nhưng một xã hội không thể tồn tại lâu dài nếu ai cũng chỉ biết đòi hỏi quyền lợi mà không sẵn sàng chấp nhận bất kỳ sự hy sinh nào. Khi những yêu sách không được đáp ứng, người ta lại tận dụng các quyền tự do dân chủ để phản đối, biểu tình, thậm chí đập phá, gây rối, khiến chính phủ phải nhượng bộ. Nhưng vừa nhượng bộ được nhóm này thì những nhóm khác lại tiếp tục « nổi lên », đưa ra những đòi hỏi mới. Cứ như thế, hết nhóm này đến nhóm khác, hết yêu sách này đến yêu sách khác, tạo thành một vòng luẩn quẩn dường như không bao giờ có hồi kết…

Dân chủ không thể chỉ là quyền đòi hỏi. Nó còn phải là ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng và các thế hệ tương lai.

  1. Khi quá nhiều quyền tự do có thể làm tê liệt quyền lực nhà nước

Đây có lẽ là một trong những nghịch lý sâu sắc nhất của dân chủ.

Để bảo vệ người dân trước sự lạm quyền, chế độ dân chủ trao cho họ nhiều quyền tự do: tự do ngôn luận, tự do biểu tình, tự do đình công, tự do lập hội, tự do phản đối chính phủ.

Nhưng điều gì xảy ra khi các quyền ấy bị sử dụng một cách thiếu trách nhiệm?

Một chính phủ được thành lập hợp pháp có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện chương trình của mình vì những cuộc phản đối liên tiếp, những cuộc đình công kéo dài hoặc những chiến dịch gây sức ép không ngừng.

Mỗi nhóm xã hội bảo vệ lợi ích riêng của mình. Mỗi tổ chức chính trị tìm cách buộc chính phủ phải nhượng bộ. Mỗi đảng đối lập có thể xem thất bại của chính phủ là cơ hội giành thêm phiếu bầu.

Kết quả là một chính phủ có quyền lực trên danh nghĩa nhưng lại thiếu khả năng hành động trong thực tế.

Vấn đề xuất hiện khi quyền phản đối bị biến thành sự phủ nhận mọi thỏa hiệp, mọi quyết định hợp pháp và mọi trách nhiệm đối với xã hội.

Một nền dân chủ không thể khỏe mạnh nếu người dân có quyền phản đối mọi quyết định nhưng không ai chịu trách nhiệm về hậu quả của việc không thể đưa ra quyết định nào.

  1. Khi các đảng phái không còn muốn thuyết phục mà chỉ muốn tiêu diệt đối thủ

Trong một nền dân chủ, sự tồn tại của các đảng đối lập là cần thiết. Không có đối lập, quyền lực rất dễ trở thành độc đoán. Nhưng đối lập không có nghĩa là phải chống đối bằng mọi giá.

Rõ ràng là ngày càng có những lực lượng chính trị coi việc làm cho đối thủ thất bại là mục tiêu hàng đầu, quan trọng hơn việc tìm ra giải pháp cho đất nước.

Thay vì tranh luận về chính sách, người ta công kích con người. Thay vì tìm kiếm thỏa hiệp, người ta kích động sự giận dữ. Thay vì coi đối thủ là những người có quan điểm khác biệt, người ta biến họ thành kẻ thù.

Tại Pháp, sự đối đầu giữa các lực lượng chính trị ngày càng gay gắt. Một số phong trào thuộc cánh tả, cực tả chủ trương đấu tranh bằng sự đối đầu quyết liệt, trong khi những lực lượng cực hữu cũng khai thác nỗi sợ hãi và sự bất mãn để tập hợp cử tri.

Những vụ bạo lực và phá hoại bên lề các cuộc biểu tình tháng 10 năm 2026 một lần nữa đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của các tổ chức và nhân vật chính trị đối với bầu không khí xã hội.

Đáng lên án hơn nữa là thái độ của một số nhân vật chính trị Pháp trước những hành vi bạo lực vừa xảy ra. Điển hình là Philippe Poutou, thuộc đảng cực tả NPA, đã công khai từ chối lên án những vụ đập phá và cướp bóc trong cuộc biểu tình ngày 17/10/2026, viện dẫn sự bất công xã hội và truyền thống nổi dậy trong lịch sử nước Pháp. Theo tôi, đó là một thái độ vô trách nhiệm, một ví dụ điển hình cho việc « chọc gậy bánh xe »: thay vì góp phần giải quyết những khó khăn của đất nước, người ta lại đổ thêm dầu vào lửa, khiến tình hình vốn đã căng thẳng càng trở nên rối ren.

Một nền dân chủ có thể chịu đựng những cuộc tranh luận gay gắt. Nhưng nó sẽ suy yếu khi các lực lượng chính trị không còn công nhận tính chính đáng của nhau.

Nếu mục tiêu của chính trị không còn là quản lý đất nước mà chỉ là giành quyền lực hoặc làm cho đối thủ không thể cầm quyền, thì người thất bại cuối cùng chính là quốc gia.

  1. Dân chủ có thể bị tiêu diệt bằng chính những phương tiện dân chủ

Lịch sử đã chứng minh rằng không phải mọi chế độ độc tài đều ra đời từ một cuộc đảo chính quân sự.

Có những lực lượng chính trị sử dụng bầu cử, tuyên truyền và các quyền tự do dân chủ để giành quyền lực, rồi từng bước phá bỏ những cơ chế đã đưa họ lên cầm quyền.

Nước Đức thời Cộng hòa Weimar là một bài học lịch sử đau đớn. Đảng Quốc xã đã khai thác sự bất mãn xã hội, khủng hoảng kinh tế và những yếu kém của hệ thống chính trị để phát triển lực lượng. Sau khi Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng năm 1933, chế độ dân chủ nhanh chóng bị phá hủy.

Điều đáng sợ là một nền dân chủ có thể mở cửa cho chính những người muốn xóa bỏ nó.

Nhưng ai có quyền quyết định lực lượng nào là kẻ thù của dân chủ?

Nếu chính phủ có thể tùy tiện cấm một đảng đối lập với lý do bảo vệ dân chủ, thì chính phủ ấy cũng có thể trở thành mối đe dọa đối với dân chủ.

Đây là một mâu thuẫn cực kỳ khó giải quyết.

Một nền dân chủ phải đủ khoan dung để chấp nhận bất đồng, nhưng cũng phải đủ mạnh để ngăn chặn những hành động bạo lực và những âm mưu phá bỏ trật tự hiến định.

Khoan dung không có nghĩa là tự sát. Nhưng bảo vệ dân chủ cũng không thể trở thành cái cớ để thủ tiêu tự do.

  1. Dân chủ yếu kém có phải là lý do để ca ngợi độc tài?

Hoàn toàn không.

Những nhược điểm của dân chủ là có thật, nhưng chúng không chứng minh rằng độc tài tốt hơn.

Một chế độ độc tài có thể ra quyết định nhanh chóng vì không cần thuyết phục cử tri, không phải đối mặt với đối lập và không cần chấp nhận những cuộc biểu tình.

Khi quyền lực không bị kiểm soát, những sai lầm của người lãnh đạo có thể trở thành thảm họa cho cả dân tộc. Khi báo chí không được tự do, sự thật có thể bị che giấu. Khi người dân không có quyền phản đối, bất mãn không biến mất mà chỉ bị dồn nén.

Lịch sử các chế độ cộng sản toàn trị đã để lại quá nhiều bài học về hậu quả của việc tập trung quyền lực, đàn áp bất đồng và nhân danh lợi ích tập thể để tước bỏ tự do cá nhân.

Vì vậy, phê phán những nhược điểm của dân chủ không có nghĩa là muốn quay lại chế độ độc tài.

Ngược lại, chính vì coi trọng dân chủ mà chúng ta phải dám nhìn thẳng vào những khuyết tật của nó.

  1. Dân chủ cần được bảo vệ, nhưng cũng cần được sửa chữa

Vấn đề không phải là làm thế nào để người dân có ít quyền hơn, mà là làm thế nào để quyền tự do đi đôi với trách nhiệm.

Không phải làm thế nào để chính phủ có quyền lực tuyệt đối, mà là làm thế nào để chính phủ có đủ khả năng điều hành trong khuôn khổ pháp luật.

Không phải làm thế nào để loại bỏ các đảng đối lập, mà là làm thế nào để cạnh tranh chính trị không biến thành cuộc chiến hủy diệt lẫn nhau.

Và cũng không phải làm thế nào để chỉ những người được coi là thông minh mới có quyền bầu cử, mà là làm thế nào để nâng cao hiểu biết và trách nhiệm chính trị của toàn xã hội.

Điều đó đòi hỏi không chỉ những thể chế tốt, mà còn những chính trị gia có bản lĩnh, những cơ quan kiểm soát quyền lực độc lập và những công dân có khả năng suy nghĩ vượt ra ngoài lợi ích trước mắt của mình.

Dân chủ không thể tồn tại chỉ bằng những lá phiếu được bỏ vào thùng phiếu vài năm một lần.

Nó cần một nền văn hóa chính trị trong đó người thắng cử không coi chiến thắng là giấy phép muốn làm gì cũng được, người thất cử không coi thất bại là lý do để phá hoại, và người dân hiểu rằng tự do không thể tách rời trách nhiệm.

Tóm lại

Dân chủ đã giúp con người thoát khỏi nhiều hình thức áp bức và tạo ra những xã hội tự do, thịnh vượng hơn. Nhưng những thành tựu ấy không phải là bất biến.

Một nền dân chủ có thể suy yếu từ bên ngoài bởi những lực lượng độc tài, nhưng cũng có thể bị bào mòn từ bên trong bởi chủ nghĩa dân túy, sự vô trách nhiệm của chính trị gia, những đòi hỏi thiếu thực tế của cử tri và sự cực đoan hóa của các đảng phái.

Điều đáng lo ngại nhất không phải là dân chủ cho phép người dân có những quan điểm bất đồng, bởi chính việc được tự do thể hiện những bất đồng ấy mới là một trong những biểu hiện căn bản của nền dân chủ.

Điều đáng lo ngại là khi xã hội không còn khả năng biến những bất đồng ấy thành các quyết định chung, khi quyền lợi cá nhân luôn được đặt trên trách nhiệm tập thể, khi chính trị gia chỉ nghĩ đến cuộc bầu cử tiếp theo và khi các đảng phái coi sự thất bại của đất nước là cơ hội chiến thắng của mình.

Dân chủ không chỉ có thể chết dưới bàn tay của những kẻ độc tài. Nó còn có thể bị làm cho kiệt quệ bởi chính những người đang sống nhờ những quyền tự do mà nó bảo vệ.

Và đó có lẽ là nghịch lý lớn nhất của nền dân chủ hiện đại.

Vì vậy, mỗi chúng ta cần ý thức rằng dân chủ không phải là một thứ quyền lợi đương nhiên có được và sẽ tồn tại mãi mãi. Nó đã phải trả giá bằng biết bao cuộc đấu tranh và hy sinh của các thế hệ đi trước. Muốn bảo vệ dân chủ, trước hết mỗi người phải biết sử dụng quyền tự do của mình một cách có trách nhiệm, biết tôn trọng quyền của người khác và hiểu rằng không thể chỉ đòi hỏi mà không chấp nhận nghĩa vụ.

Bởi dân chủ không chỉ là những gì chúng ta được hưởng, mà còn là những gì mỗi chúng ta có trách nhiệm gìn giữ.


 

2 ‘trùm lừa đảo’ và ‘Shark’ Bình sắp ra tòa tại Hà Nội

2 ‘trùm lừa đảo’ và ‘Shark’ Bình sắp ra tòa tại Hà Nội

Ba’o Nguoi-Viet

October 25, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Theo dự trù, ngày 26 Tháng Mười, hai bị cáo Phó Đức Nam (tự Mr.Pips) và Lê Khắc Ngọ (tự Mr.Hunter) sẽ ra tòa tại Hà Nội cùng Nguyễn Hòa Bình (tự “Shark” Bình, chủ tịch tập đoàn NextTech và công ty Ngân Lượng).

Hai bị cáo Nam và Ngọ được coi là hai “trùm lừa” với chiêu thức kêu gọi đầu tư trên sàn giao dịch ngoại hối và chứng khoán quốc tế.

Bị cáo Phó Đức Nam, tự Mr.Pips. (Hình: Công An Hà Nội)

Theo báo Dân Trí hôm 25 Tháng Mười, hai nam bị cáo bị quy các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “rửa tiền,” trong lúc bị cáo Bình bị xét xử về tội “rửa tiền.”

Cáo trạng vụ án cho hay, hồi năm 2018, bị cáo Phó Đức Nam quen biết Isik Uran, 42 tuổi, quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ.

Cả hai bàn bạc, thống nhất việc Uran tạo lập, quản lý, điều hành các trang web kết nối với các ứng dụng để giao dịch ngoại hối, chứng khoán quốc tế. Những trang này có tên tiếng Anh giống với tên các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế có uy tín để gây nhầm lẫn.

Bị cáo Nam xuất cảnh sang Thổ Nhĩ Kỳ và được đưa đi tham quan, học hỏi mô hình làm việc tại các văn phòng hoạt động kinh doanh chứng khoán quốc tế, forex.

Khi về Việt Nam, bị cáo Nam lập doanh nghiệp, chỉ đạo nhân viên dụ dỗ khách hàng mở tài khoản, nạp tiền đầu tư chứng khoán.

Khách hàng đầu tư trên trang web của đường dây này thực chất là chơi với chủ sàn (admin), nên mỗi khi khách hàng thua là chủ sàn được hưởng tiền.

Đến năm 2019, bị cáo Nam bàn bạc với đồng phạm Lê Khắc Ngọ về việc mở rộng hệ thống sàn giao dịch ở Việt Nam, núp dưới danh nghĩa công ty, trang mạng hoạt động về lĩnh vực “tele maketing” (tiếp thị, quảng bá sản phẩm qua điện thoại), “tele sale” (tư vấn, bán hàng qua điện thoại), tư vấn môi giới chứng khoán, forex.

Chiêu thức của nhóm bị cáo là dụ dỗ, lôi kéo nạn nhân tham gia đầu tư, sau đó chiếm đoạt tài sản của họ.

Hành vi của các bị cáo trong vụ án này được cho là “có quy mô, tổ chức, thực hiện rất tinh vi.”

Trong số các đồng phạm ra tòa còn có bị cáo Ngô Thị Thêu, vợ bị cáo  Lê Khắc Ngọ. Bị cáo Thêu bị bắt tại Bangkok, Thái Lan, và dẫn độ về Việt Nam với cáo buộc “lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”

Bị cáo Nguyễn Hòa Bình, tự “Shark” Bình, chủ tịch tập đoàn NextTech và công ty Ngân Lượng. (Hình: Công An Hà Nội)

Còn ông Nguyễn Hòa Bình, 44 tuổi, chủ tịch tập đoàn NextTech, được biết đến với biệt danh “Shark” Bình, do tham gia chương trình “Shark Tank Vietnam” (Thương Vụ Bạc Tỷ) trên đài Truyền Hình Việt Nam (VTV).

Ông Bình bị tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong vụ đầu tư tiền số AntEx. Báo VNExpress hôm 7 Tháng Mười, 2025 cho biết, Công An Hà Nội khám xét trụ sở công ty của ông Bình tại một tòa nhà ở phố Tam Trinh, phường Vĩnh Tuy, trong nhiều giờ và đem đi hàng chục thùng tài liệu.

Phiên tòa dự trù kéo dài trong 15 ngày, với tổng cộng 188 bị cáo và 200 luật sư, hàng trăm người liên quan, nhân chứng… (N.H.K) [kn]


 

THÁO DÂY – GIỮ XIỀNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Bà ấy bị Satan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày Sabbat sao?”.

“Chúng ta không thích đường lối của Chúa. Chúng gây bất an và đe doạ vì phá vỡ những trò áp bức và loại trừ mà chúng ta dựa vào để đề cao cái tôi!” – Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,                    

Lời Chúa hôm nay phơi bày một nghịch lý của cái tôi: người ta sẵn lòng tháo dây cho con vật, nhưng lại không muốn một con người được cởi trói – ‘tháo dây – giữ xiềng’.

Một ngày Sabbat, Chúa Giêsu chữa cho một phụ nữ còng lưng mười tám năm đứng thẳng. Viên trưởng hội đường tức giận: sao không đến ngày khác? Ngài hỏi: Ngày Sabbat, người ta tháo dây cho bò lừa uống nước, sao không cởi trói cho một người con cháu Abraham? Bản Hy Lạp dùng lythênai – “được cởi xiềng xích” và lýei – “tháo dây”; cả hai cùng một gốc động từ. Ngôn ngữ không phân biệt, chỉ lòng người phân biệt. Ông giữ luật đến mức quên con người! “Việc chỉ tuân giữ lề luật trở nên vô hồn, đơn thuần là chuyện làm cho đúng; con người trở nên cứng cỏi, thậm chí cay nghiệt!” – Bênêđictô XVI.

Người đàn ông ấy không phủ nhận phép lạ; ông chỉ phản đối phép lạ xảy ra sai ngày. Với ông, người phụ nữ vừa thoát khỏi tật nguyền không quan trọng bằng việc đến đúng ngày! Bà chịu trói buộc gần hai mươi năm; ông mang một thứ ràng buộc không ai nhìn thấy. Bà không thể đứng thẳng vì bệnh tật; ông không thể đứng thẳng để vui cùng một người vừa được cứu. Có khi người cần được chữa lành nhất lại là người vẫn nghĩ mình chẳng có gì cần chữa!

Viên trưởng hội đường giữ luật nhặt nhiệm, nhưng lại xụ mặt trước một cuộc đời vừa đổi khác. “Hãy bắt chước Thiên Chúa, như con cái được Người yêu thương!” – lời đáp ca mời gọi chúng ta “hãy ăn ở như con cái ánh sáng” – bài đọc một. Cùng giữ luật, có người tìm thấy niềm vui, có người đánh mất niềm vui vì luật! Bắt chước Thiên Chúa là học thương xót như Ngài. Thiếu thương xót, chúng ta xa anh em ngay khi tưởng mình đang đến gần Chúa.

Trong cuộc sống, chúng ta không ngăn ai đứng dậy, nhưng cũng chẳng muốn ai đứng cao hơn. Điều trói buộc không ở nơi người kia, mà nằm ngay trong lòng mình. Có khi chúng ta nhân danh điều đúng để giữ người khác mãi trong lỗi lầm cũ. Và đôi khi, chúng ta tự tháo dây cho mình, nhưng lại cột chặt người anh em! “Điều bạn gọi là tự do, thực ra lại là xiềng xích nặng nề nhất, dù những mắt xích ấy lấp lánh dưới mặt trời!” – Kahlil Gibran.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Đấng đến tháo cởi những cuộc đời. Ngài tháo gỡ sự cô lập của người phong cùi, đưa người phụ nữ ngoại tình ra khỏi vòng vây kết án, giúp Giakêu mở tay trước tiền bạc, giúp Phêrô vượt qua mặc cảm chối Thầy. Trước mộ Lazarô, Ngài còn truyền: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi!”. Nhưng để giải thoát nhân loại, Ngài đưa tay chịu trói, chịu đóng đinh vào thập giá. Con người ‘tháo dây – giữ xiềng’; Đức Kitô nhận lấy xích xiềng để giải thoát con người!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, tháo khỏi lòng con những xét đoán khắt khe; cho con khiêm tốn nhận ra điều đang trói buộc mình; và dạy con biết vui khi anh em được đứng dậy!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XXX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/26.html

Chẳng lẽ người con cháu ông Áp-ra-ham này lại không được cởi xiềng xích trong ngày sa-bát sao ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 13,10-17

10 Khi ấy, Đức Giê-su giảng dạy trong một hội đường. 11 Ở đó, có một phụ nữ bị quỷ làm cho tàn tật đã mười tám năm. Lưng bà còng hẳn xuống và bà không thể nào đứng thẳng lên được. 12 Trông thấy bà, Đức Giê-su gọi lại và bảo : “Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền !” 13 Rồi Người đặt tay trên bà, tức khắc bà đứng thẳng lên được và tôn vinh Thiên Chúa.

14 Ông trưởng hội đường tức tối vì Đức Giê-su đã chữa bệnh vào ngày sa-bát. Ông lên tiếng nói với đám đông rằng : “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày sa-bát !” 15 Chúa đáp : “Những kẻ đạo đức giả kia ! Thế ngày sa-bát, ai trong các người lại không cởi dây, dắt bò lừa rời máng cỏ đi uống nước ? 16 Còn bà này là con cháu ông Áp-ra-ham, bà ấy bị Xa-tan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày sa-bát sao ?” 17 Nghe Người nói thế, tất cả những kẻ chống đối Người lấy làm xấu hổ, còn toàn thể đám đông thì vui mừng vì mọi việc hiển hách Người đã thực hiện.


 

Lời Thức Tỉnh Từ British Columbia: Chính sách mị dân cho con nghiện chích choác tự do, cho cướp phá hôi của đã hết thời

Cuộc bầu cử tại tỉnh bang British Columbia, Canada vào tháng 10 năm 2026 đã ghi dấu một bước ngoặt lịch sử khi Đảng Bảo thủ giành chiến thắng đa số và áp đảo, kết thúc gần một thập kỷ cầm quyền của Đảng Tân dân chủ (NDP). 

Sự thay đổi diện mạo chính trị lớn này không chỉ đơn thuần là kết quả của một cuộc bỏ phiếu thông thường, mà còn là sự bộc phát từ những bức xúc dồn nén của cử tri trước các chính sách y tế và xã hội gây ra nhiều tranh cãi.

Con Đường Dễ Dãi Và Con Đường Hẹp

Nhìn lại toàn bộ quá trình thực thi chính sách phi tội phạm hóa và cung cấp chất gây nghiện tự do, người ta nhận ra một bài học sâu sắc về nhân sinh và quản trị xã hội. Lời Kinh Thánh từng nhắc nhở:

“Hãy vào cửa hẹp; vì cửa rộng và đường khoảng-khoát dẫn đến sự hư-mất, kẻ vào đó nhiều lắm. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ tìm thấy thì ít.”

— Ma-thi-ơ 7:13-14

Chính sách nới lỏng và cung cấp chất kích thích giống như một “con đường rộng rãi, dễ dãi” — đưa ra giải pháp ngắt ngọn ngắn hạn nhưng để lại hậu quả dài hạn là sự tàn phá thể xác, tinh thần và trật tự xã hội. Ngược lại, con đường phục hồi, cai nghiện triệt để và giữ vững kỷ cương tuy là “con đường chật, cửa hẹp” đầy gian khổ, đòi hỏi nỗ lực kiên trì của cả cá nhân lẫn cộng đồng, nhưng đó mới là con đường duy nhất dẫn đến sự phục hồi và sự sống chân chính.

2. Sự Thất Bại Của Chính Sách “Cung Cấp An Toàn” Và Nỗi Đau Xã Hội

Tại B.C., chính sách thí điểm từng được kỳ vọng mang tính nhân văn đã nhanh chóng bộc lộ những mặt tối. Việc sử dụng ma túy công khai xuất hiện khắp các công viên, trạm xe buýt và khu thương mại. Tình trạng tuồn thuốc ra thị trường tự do (diversion) cùng sự bùng nổ của độc tố fentanyl đã gia tăng áp lực đè nặng lên hệ thống y tế khẩn cấp, lực lượng cảnh sát và đời sống người dân.

OPINION: Opioid deaths hit record high, again, as governments dither ...

Thay vì giúp người nghiện thoát khỏi cạm bẫy, việc bình thường hóa chất gây nghiện vô hình trung duy trì sự phụ thuộc, làm xói mòn trách nhiệm cá nhân và đe dọa an toàn của con trẻ.

Canada’s fix to the opioid crisis: Vending machines that distribute ...

3. Khôi Phục Hình Ảnh Một Canada Thịnh Vượng Và Văn Minh

Trong nhiều thập kỷ, Canada — và đặc biệt là British Columbia — luôn là biểu tượng toàn cầu về sự an toàn, văn minh, phát triển kinh tế thịnh vượng và chất lượng cuộc sống cao. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa khủng hoảng nghiện ngập, chi phí sinh hoạt đắt đỏ và tình trạng mất an ninh trật tự đã làm tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh ấy.

Cảm nhận chung của cử tri B.C. trong cuộc bầu cử này là mong muốn quyết liệt từ bỏ con đường dễ dãi gây hại, khôi phục lại các giá trị cốt lõi: một cộng đồng an toàn, sự nghiêm minh của pháp luật, và hệ thống hỗ trợ dựa trên sự chữa lành và cai nghiện thực sự.

Vancouver One of Best City in The World - Gets Ready

4. Hướng Đi Cho Tương Lai

Kết quả bầu cử phản ánh thông điệp rõ ràng từ người dân B.C. đòi hỏi một định hướng mới:

  • Tái thiết An ninh Công cộng: Chấm dứt tình trạng sử dụng ma túy tràn lan nơi công cộng, bảo vệ không gian sống của gia đình và cộng đồng.

  • Tập trung vào Phục hồi & Điều trị: Chuyển ngân sách sang mở rộng các trung tâm cai nghiện, giường điều trị tâm lý và chương trình tái hòa nhập xã hội.

Teen Alcohol And Drug Rehab Centers

  • Tái thiết Thịnh vượng: Cắt giảm thủ tục hành chính, thúc đẩy kinh tế để khôi phục lại chất lượng cuộc sống vốn có.

TRỜI Ở DƯỚI THẤP – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình!”.

“Càng vươn cao trong phụng vụ, càng phải cúi thấp để phục vụ người nghèo!” – Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay hé mở một nghịch lý: càng ngước lên cao trong cầu nguyện, chúng ta càng phải cúi xuống để gặp Thiên Chúa nơi tha nhân – ‘trời ở dưới thấp’.

Trả lời câu hỏi điều răn nào trọng nhất, Chúa Giêsu không chỉ chọn mến Chúa yêu người, nhưng Ngài nói: “Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”. Bản Hy Lạp dùng krématai – “tuỳ thuộc”, còn có nghĩa là “treo vào”. Như cành cây không thể sống khi lìa thân, mọi giới luật sẽ mất linh hồn khi tách khỏi tình yêu. Điều răn thứ hai “cũng giống” điều răn thứ nhất. Không phải vì tha nhân ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa muốn tình yêu dành cho Ngài phải chảy xuống con người.

Điều răn thứ hai là phép thử của điều răn thứ nhất. Yêu Thiên Chúa, chúng ta dễ tuyên xưng; nhưng yêu người thân cận như chính mình lại đòi chúng ta phải nhường phần mình cho họ. Điều đáng sợ là chúng ta an tâm về lòng đạo đức, trong khi một người anh em không tìm được chỗ trong trái tim vẫn tưởng đang yêu Chúa. Điều răn thứ hai không làm giảm lòng yêu Chúa; nó phơi bày khoảng cách giữa Thiên Chúa và những người cạnh mình.

“Bạn tôn kính Đức Kitô nơi bàn thờ, nhưng lại bỏ mặc Ngài chịu lạnh ngoài đường sao?” -Gioan Kim Khẩu.

Đó là những người dễ đứng ngoài trái tim chúng ta: ngoại kiều, mẹ goá, con côi, người phải đem cầm cả chiếc áo choàng. Chúa không chỉ dạy thương họ; Ngài còn phán: “Nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó!”. Giữa bao tiếng nói, Ngài nghiêng tai về phía những người chẳng ai bênh vực. Chiếc áo choàng phải trả trước khi mặt trời lặn, vì đó là tấm chăn của người nghèo – bài đọc một. Thiên Chúa quan tâm đến cả một đêm lạnh của một người. Đấng chúng ta ngước nhìn trong thờ phượng lại đang đợi chúng ta cúi xuống trước một phận người không đủ ấm qua đêm.

Nhưng cúi xuống không dễ. Chúng ta có thể giúp một người, lại không muốn họ tìm đến lần sau. Có những lòng tốt dừng lại đúng nơi hy sinh bắt đầu. Sống giới răn yêu thương mà vẫn vui trong Thánh Thần là để tình yêu vượt qua những tính toán ấy – bài đọc hai. “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con!” – Thánh Vịnh đáp ca. Sức mạnh ấy giúp chúng ta yêu thương, cả người khó thương. “Chúng ta chỉ thực sự yêu Chúa bao nhiêu bằng yêu người mình ít yêu nhất!” – Dorothy Day.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống điều Ngài dạy. Đấng ngự trên trời đã xuống tận phận người; Đấng được phụng thờ đã cúi mình rửa chân các môn đệ. Trên thập giá, Ngài còn đi xa hơn: trao cả mạng sống cho nhân loại Ngài yêu. Từ đó, chúng ta hiểu, trời cao không xa cách những phận người thấp bé. Cúi xuống trước một người khốn khó, chúng ta đang bước vào tình yêu của Cha, Đấng đã sai Con xuống trần gian.

Chỉ khi cúi xuống, chúng ta mới nhận ra Thiên Chúa đã xuống thấp đến chừng nào. Thì ra, ‘trời ở dưới thấp!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con đừng ngoảnh mặt với bất cứ ai; không để họ thất vọng khi ra về; và đừng bao giờ để con tưởng mình đã yêu Chúa đủ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN, NĂM A: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/25.html

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và yêu người thân cận như chính mình.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.    Mt 22,34-40

34 Khi ấy, nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng : 36 “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37 Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.”


 

Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh-Cha Vương

Mến chào “BÌNH AN!”. Chân phước George Matulaitis nói: “Mỗi Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng (trong Kinh Mân Côi) giống như lương thực từ trời, củng cố sức mạnh của chúng ta.” Vậy trong những ngày còn lại của Tháng Mân Côi, mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Maria sống vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Hãy nhớ cầu nguyện cho nhau và thế giới được bình an nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 24/10/2026   (n23-21)

NĂM SỰ VUI: Thứ năm thì ngắm—Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh. Dù là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và đầy ân sủng, nhưng Mẹ Maria vẫn là một con người hữu hạn. Nghĩa là, Mẹ không phải là Đấng Toàn Năng. Mẹ không thể biết được mọi sự, làm được mọi thứ, hay siêu vượt hẳn không gian và thời gian. Nhưng Mẹ khiêm tốn nhìn nhận sự giới hạn của mình. Đồng thời, thay vì tự ti, mặc cảm, và đóng kín, Mẹ sống tâm tình tạ ơn và mở lòng cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi Mẹ. Mẹ cộng tác với ơn thánh (thời gian, sức lực, khả năng riêng, đức hạnh . . .) để công trình của Thiên Chúa được thành tựu.

 Hôm nay qua việc suy niệm 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy mở lòng để cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi mình và xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi. (Luca 2:41-42) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết.(Luca 2:43) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm.(Luca 2:44-45) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. (Luca 2:46) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. (Luca 2:47) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Luca 2:48) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? ” (Luca 2:49) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. (Luca 2:50) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. (Luca 2:51)Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.  (Luca 2:52) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay…

From: Do Dzung

*****

THÁNH CA || XIN CHÚA CHỮA LÀNH || N.S HOÀNG BỔN

GIÚP CHA MẸ VUI TUỔI GIÀ…-  Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nhung Nguyen

 Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Đợi cha mẹ già qua đời rồi mới báo hiếu, làm đàn tràng cầu siêu thiệt to, mua đất nghĩa trang thiệt rộng, xây mồ xây mả thiệt đẹp, hoặc đem tro cốt vào chùa, nhang khói mịt mù, đặt nắm tro tàn cha mẹ ở một vị trí thiệt tốt… không ngại tốn kém!

Đợi cha mẹ già vào bệnh viện, đặt ống nội khí quản giúp thở, truyền đạm truyền dịch chai dưới chai trên, bơm thức ăn qua ống thông dạ dày, dây nhợ chằng chịt khắp người theo dõi nhịp tim nhịp thở, thuốc men không ngại tốn kém… sẵn sàng bán nhà bán cửa chữa chạy, còn nước còn tát!

Thế nhưng khi cha mẹ già đang sờ sờ bên cạnh thì bận bịu trăm công ngàn việc, không có chút thì giờ để hỏi han, chăm sóc…

Một ông bố viết cho con:

“… Người già sợ nhất cảnh cô đơn nên nếu các con đã hiểu thì hãy thương cho tròn. Tình thương ấy không đánh đổi bằng tấm ngân phiếu kếch xù hay quà bánh đắt tiền mà chính là… thời gian. Một lúc nào đó trong ngày mà các con thấy trống vắng thừa thãi thì hãy mang đến tặng Bố giờ phút vô nghĩa ấy! Bản chất nó vô giá nhưng lại vô cùng quý báu nếu chia sẻ đúng đối tượng… Con dư biết, sáng chiều Bố lủi thủi hết ngồi lại nằm, cô đơn bên cạnh một người trả công chỉ biết im lặng canh chừng. Nếu con đến thăm, nhớ bỏ hết công việc và lo toan ở ngoài xe trước khi vào nhà, tránh cảnh thân tâm mỗi chỗ mỗi nơi để cha con sống thật những kỷ niệm cuối đời bên nhau. Người già như Bố đương nhiên ăn nói sẽ không còn mạch lạc hấp dẫn, xin con đừng nhăn nhó… Hãy nhẫn nại ngồi nghe như thuở nuôi con còn bé, Bố đã từng chăm chú theo dõi tiếng con bi bô học nói… lặp đi lặp lại nhiều lần một chữ từ ngày này qua ngày nọ liên hồi…”. (Internet).

Thiệt ra, không phải chỉ lỗi ở các con. Lỗi một phần ở cha mẹ! Có ai chịu là mình già bao giờ đâu! Cha mẹ thường nhìn các con 40, 50 tuổi đầu mà vẫn coi như một đứa con nít; còn con cái thì dù đã có tuổi vẫn luôn thấy cha mẹ mình là một người… còn trẻ, còn khỏe mạnh, chưa cần đến sự giúp đỡ!

Có một cách giúp biết khi nào cha mẹ đã… bước vào tuổi già ấy là “lén” quan sát họ có những dấu hiệu bất thường nào về tâm lý, về sức khỏe của lứa tuổi già chưa.  Nhưng biết là để quan tâm, chăm sóc, can thiệp kịp thời thôi chớ không phải để “dán nhãn” cho họ đã già nua, lỗi thời, rồi không để họ còn có chút độc lập tự do gì nữa thì rất không nên!

Họ có lơ là quá đáng chuyện ăn mặc không? Xưa áo quần thẳng thớm, nay xốc xếch, xộc xệch, đứt nút, rách bâu mặc kệ? Họ có lơ là quá đáng việc chăm sóc bản thân mình không? Chẳng buồn tắm rửa, hớt tóc cạo râu, tóc tai bù xù mặc kệ. Trí nhớ họ còn tốt không hay quên trước quên sau, lặp đi lặp lại hoài một chuyện? Họ có loay hoay tìm kiếng lão, dù đang đeo trên mắt hay tòng teng trên cổ không?

Họ có nghễnh ngãng nghiêng tai bên này bên kia để nghe cho rõ hoặc cứ hỏi đi hỏi lại một chữ không? Họ có kêu TV mờ, sách báo chữ nhỏ quá, màu sắc không rõ ràng như xưa không? Họ có bước đi từng bước chầm chậm, loạng choạng, lê chân trên mặt đất như chân đã mọc dài ra và dễ bị vấp, bị trượt, bị té ngã không? Họ có kêu đau lưng nhức mỏi thường xuyên không? Có bỏ quên chìa khóa, quên điện thoại nơi này nơi kia tìm kiếm vất vả không? Thỉnh thoảng có quên tắt lò gaz, quên khóa cửa nhà… không?

Để ý coi họ còn thèm ăn uống không, ăn uống có còn biết ngon lành không, hay sao cũng được? Họ có chê món này cứng món kia, khó nhai không? Ngủ có dễ không hay trằn trọc loay hoay suốt đêm? Có còn ham đi đây đi đó, cà phê cà pháo với bạn bè không? Có còn mê coi đá banh, tennis… như ngày xưa không hay chỉ thích ngồi im một chỗ lúc nào cũng như đang im lặng lắng nghe, nhớ nghĩ đâu đâu… hoặc ôm TV suốt ngày rồi nhầm tưởng cảnh tượng trong phim ảnh là sự thật ngoài đời?

Để ý coi họ có đã bắt đầu thở hổn hển nặng nhọc… khi leo cầu thang trong căn nhà quen thuộc của mình không? Họ có bắt đầu thức giấc tiểu đêm nhiều lần, có dễ bị dị ứng khi ăn một món  ăn quen thuộc? Có bị bón phải rặn hì hục vất vả không?…

Tóm lại, quan sát kỹ một chút sẽ thấy những thay đổi đó và tốc độ thay đổi ngày càng nhanh. Già thiệt rồi!

Một ông lão than thở: “Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi”. Ngậm ngùi quá đỗi! Vì đâu nên nỗi?

Bởi vì thế hệ trước kia sống trong nền văn hóa đề cao “đạo hiếu”, học Quốc văn giáo khoa thư, học Nhị thập tứ hiếu, gia đình “tứ đại đồng đường”, xóm làng gần gũi, dư luận buộc ràng,  nay thì đời sống đã khác: gia đình hạt nhân, nhiều cặp ly hôn ly dị, single mom, single dad v.v…, nhiều gia đình chỉ có một con duy nhất làm sao gánh nổi ông bà nội ngoại hai bên?  Rồi đây các thế hệ già sẽ được nuôi trong nhà dưỡng lão (nursing home), nên ngay bây giờ phải coi chuyện “con cái bỏ rơi” là chuyện bình thường, có hiếu thuận là thỉnh thoảng con cái nhớ mà đến thăm đôi khi.

Có nhiều cách để giúp cha mẹ già được vui:

Dành thời gian ngồi bên cha mẹ, nhắc những chuyện xưa, hỏi chuyện tuổi thơ của cha mẹ, chuyện học hành, chuyện chọn nghề, chuyện tình cảm của họ… để họ có cơ hội kể lại một cách hào hứng, nhiều khi lặp đi lặp lại cũng nên ân cần lắng nghe;

Nhắc những ngày còn thơ của mình, những khó khăn, gian khổ của gia đình như một cách tỏ lòng biết ơn, rằng nhờ họ mà mình có được ngày nay;

Sưu tầm những hình ảnh kỷ niệm của gia đình qua nhiều giai đoạn, những hình ảnh thuở còn thơ của con cháu, dán vào một album để cùng coi chung cả nhà hoặc làm một  “triển lãm bỏ túi” gợi nhớ những kỷ niệm: “ngày này năm xưa em còn bé tí teo”, “bé lên ba bé vô mẫu giáo”…;

Thỉnh thoảng dành thì giờ đưa cha mẹ đi thăm những nơi nhiều kỷ niệm của họ, mái trường xưa, căn nhà cũ dù đã đổi thay, những bà con lâu ngày chưa gặp nơi này nơi khác, những bạn bè thuở ấu thơ kẻ mất người còn…;

Thỉnh thoảng tổ chức những buổi họp mặt gia đình, đặc biệt những ngày Giỗ chạp, để con cháu được nghe ông bà kể chuyện xưa, kết nối bà con cô bác. Nếu có thể thì tổ chức họp mặt bạn bè cùng lứa của cha mẹ ở một nơi phù hợp, khoáng đãng, họ sẽ có cơ hội trò chuyện râm ran với nhau…;

Sưu tầm những bản nhạc xưa, phim cũ mà họ yêu thích, giúp họ được nghe lại, xem lại…

Kỹ thuật media bây giờ rất hiện đại, chịu khó giúp để tránh sự lọng cọng của cha mẹ già;

Sưu tầm các bài báo, hình ảnh… nếu có về thành tích của cha mẹ trong lãnh vực văn nghệ, thể thao, nghề nghiệp v.v… làm thành tập tư liệu để cùng xem với nhau, nhắc nhở những niềm hãnh diện xưa!

Giúp cha mẹ tham gia những buổi sinh hoạt của nhóm bạn già, câu lạc bộ, hội quán người cao tuổi, nhóm coi bóng đá, tennis, nhóm hát hò, ngâm thơ, thậm chí nhóm bạn chơi tứ sắc, mạc chược, cờ vua, cờ tướng…

Khuyến khích cha mẹ học một kỹ năng mới: ngoại ngữ, vi tính, chơi games, biết dùng smartphone để chuyện trò, nhắn tin, biết xài tablet (cái “quẹt quẹt” này giúp biết đủ thứ chuyện trên đời!)… Nhờ đó các tế bào não không bị rỉ sét, các nối kết thần kinh được hoạt hoá, sinh động. Ngày nay, người ta biết tế bào não rất nhu nhuyễn và có thể sinh sôi!

Khuyến khích cha mẹ gần gũi nhiều hơn với nhu cầu tâm linh, nói với cha mẹ về nhân quả, luân hồi, thiên đàng, địa ngục… Thường nhắc những việc làm tốt đẹp của họ trước đây để thấy thanh thản, an vui… Khuyên cha mẹ đi chùa, đi nhà thờ… Giao lưu bạn đạo, học tập điều thiện, miễn là không để rơi vào mê tín dị đoan…

Và còn nhiều nữa, nhiều nữa… không chỉ trong mùa Vu Lan!

BS Đỗ Hồng Ngọc


 

Ta cần nên ”chết thử” một lần…

Ta cần nên ”chết thử” một lần…

Chuyện mô tả một người giả vờ chết sau khi uống một ly nước lọc, mà người nhà tưởng ông đã uống thuốc độc để quyên sinh. Ðã hơn nửa thế kỷ qua, tôi không còn nhớ tác giả mô tả nhân vật chính trong vở kịch giả chết như thế nào và có sự phụ giúp của ai không, nhưng trong khi chờ tẩm liệm, ông được nghe và biết con cái, bà con và bạn bè của ông nói về ông và đối xử với ông như thế nào!

Bạn cứ thử tưởng tượng, khi đã nằm trong quan tài ở nhà quàn rồi, mà bạn có thể nghe những người đến viếng, bề ngoài thắp nén nhang kính cẩn viếng bạn, nhưng sau đó lại đàn đúm chê, khen bạn hết lời, hay đứa con bất hiếu đang toan tính chi ly chia phần phí tổn tang lễ sau này cho anh em ra sao, và lăm le để ý đến cái nhà, cái xe, trương mục trong ngân hàng của bạn và rồi đây sẽ gửi người vợ già của bạn vào nhà dưỡng lão nào?

Giá người ta có thể chết thử một lần rồi sống lại thì sướng biết mấy? Bạn sẽ biết có bao nhiêu trang báo chia buồn, sẽ có bao nhiêu tràng hoa viếng, bao nhiêu người tiễn chân bạn đến mộ phần. Sẽ có bao nhiêu người vui mừng khi nghe tin bạn qua đời, và sẽ có những ai thương yêu thật sự, bàng hoàng, tiếc nuối về sự ra đi của bạn. Thế giới này không còn sự hiện hữu của bạn có thay đổi gì không?

Nhưng người ta chỉ có thể chết một lần, nên mọi điều xẩy ra sau cái chết, vui buồn, xấu tốt, bạn không thể nào biết được, nếu chết là hết. Thôi như thế cũng hay! Nếu biết những gì xẩy ra sau cái chết của bạn, có hai điều xẩy ra, một là bạn muốn chết phứt đi cho xong, hai là lại yêu cuộc sống này hơn. Tôi nghĩ là bạn sẽ chọn điều thứ hai, vì dầu sao cuộc sống này cũng không đến nỗi nào đáng ghét.

– Một văn phòng dịch vụ ở Hán Thành, Nam Hàn có sáng kiến là sẽ tạo cơ hội cho khách hàng qua một lần chết thử, để thấy cảm giác nó ra sao, cũng như quan niệm về sự sống có gì thay đổi, khi bạn, coi như từ cõi chết, sống trở lại, dở nắp hòm ngồi dậy. Ông Ha Yu-soo, 62 tuổi là một người khách hàng của dịch vụ chết thử. Ông mặc một bộ quốc phục dành cho người chết khi tẩm liệm, nằm thẳng trong quan tài chiếc quan tài chật hẹp, ông không cảm thấy điều gì khác lạ thay đổi, cho đến khi nắp quan tài được đóng lại và nghe tiếng búa gõ trên nắp hòm. Trong bóng tối vây tỏa, lặng câm, ông cảm thấy sợ hãi vô cùng, tưởng như mình đã chết thật. Những giây phút trong bóng tối dày đặc đó, những ý nghĩ chết chóc ập đến, và bao nhiêu ý nghĩ hiện lên trong đầu óc ông. Nhưng may, ông đã trấn an mình: “Ðây chỉ là một sự chết giả mà thôi!” Lạy trời, đẹp đẽ biết bao khi ta vẫn còn sống! Từ “phút chết” trong bóng tối bước ra ngoài ánh sáng của sự sống, trong tâm hồn ông đã có một sự thay đổi lớn.

  Ban tổ chức khóa học chết thử, cho biết, kinh nghiệm về cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ, thuộc tầng lớp nào trong xã hội.

    Sau khi chết thử, những người này cảm thấy sự sống đáng quý hơn, những người chung quanh mình đáng yêu hơn, tha thứ mọi lỗi lầm của kẻ khác. Ðiều này cũng như sau khi thoát chết trong một tai nạn thảm khốc nào đó, con người trở nên hiền lương, bỏ mọi sự tham lam, cố chấp hẹp hòi, và mở rộng tấm lòng hơn đối với tha nhân.

    Nhiều người đã thay đổi sau khi họ thoát chết từ vụ tháp đôi ở New York hay từ vụ Tsunami mới đây của nước Nhật. Chúng ta sẽ ôm hôn mọi người, xem cái tôi từ nay là hạt cát, chúng ta sẽ không còn kẻ thù, không còn ai để ghét bỏ. Ngoài đường phố sáng nay sao thấy ai mặt mày cũng trung hậu, dễ thương, chúng ta muốn chào hỏi với cả thiên hạ, bắt tay mọi người và la lớn ở góc phố như một thằng điên: “Tôi vẫn còn sống! Tôi yêu thương hết thảy mọi người!”

    Khi nằm trong quan tài “chết thử” có thể người ta sẽ nghĩ đến những việc lâu nay chưa làm, những món tiền chưa tiêu hết, những điều chưa nói với ai đó. Trước khi chết, bạn sẽ viết thư cho ai, để lại chúc thư như thế nào, nói những lời trăn trối ra sao? Một người trước khi chết thử đã viết cho con: “Ngay cả khi cha không còn trên cõi đời này, mong các con hãy hòa thuận và đối xử với nhau tử tế hơn!” Một bệnh nhân ung thư đang ở vào thời kỳ cuối cùng, cho biết, việc trải nghiệm cái chết thử làm bà cảm thấy thương yêu hơn đối với những người xung quanh. Bà hứa “sẽ từ bỏ thói tham lam, ích kỷ với chồng và yêu con cái nhiều hơn”.

    Ðó chỉ mới là chuyện “chết thử!”. Còn như, bằng cách nào đó bạn biết rằng chỉ còn 24 giờ đồng hồ nữa thôi, bạn sẽ thở hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc đời đẹp đẽ này, thì bạn sẽ làm gì, suy nghĩ ra sao, đối xử với mọi người như thế nào? Trong trương mục ngân hàng, bạn có nửa triệu đồng chưa tiêu hết, bạn sẽ phân bố như thế nào, cho ai? Bạn chưa kịp nói với ai một lời xin lỗi, chưa kịp nói với ai một lời yêu thương. Trong sự hối hả của chút thời gian còn lại, bạn hối tiếc những gì, ân hận điều chi? Có những người trong gian trá, lừa lọc kiếm đồng tiền bất chính, để trở nên giàu có, có những kẻ đạp lên đầu người khác để tìm chỗ tiến thân cho mình, tiền của, danh vọng nào có thể mang theo?

    Không, cũng như những người chết khác, bạn sẽ ra đi tay không? Chỉ còn 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa thôi, dù có vội vàng, chúng ta cũng không làm kịp những điều chưa làm, sửa đổi kịp những điều lầm lỗi. Ðó là trường hợp chỉ một mình bạn ra đi. Những nhà tiên tri trên thế giới này loan báo về một ngày tận thế, dù đã sai nhiều lần và nói đi nói lại nhiều lần, đến nỗi những lời tiên tri đã trở thành một trò bịp nhảm nhí, nhưng phần tôi, tôi vẫn tin sẽ có ngày như thế.

    Chúng ta đã thấy cảnh tượng bình địa ở Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8-1945, khi hai quả bom nguyên tử rơi xuống đã giết khoảng 210, 000 người. Trận sóng thần tồi tệ nhất trong lịch sử được ghi nhận là tại Ấn Ðộ Ðương vào năm 2004 đã gây cảnh hoang tàn và giết chết 230,000 người ở 11 quốc gia. Tsunami ở Nhật năm 2011 làm thiệt mạng hơn 20,000 người và những quang cảnh chúng ta thấy ở miền Bắc nước Nhật không khác gì một bãi rác khổng lồ. Ðó chính là hình ảnh cho ta thấy trước những gì sẻ xẩy ra trong ngày tận thế.

    Ðến một ngày nào đó quả đất này sẽ nổ tung hay tất cả các băng sơn ở Bắc Băng Dương sẽ tan rã, nhận chìm địa cầu này dưới hai mươi thước nước. Sẽ không còn một sinh vật nào trên trái đất này nữa! Nếu có một ngày như thế sẽ đến ngay ngày mai đây thôi, liệu chúng ta có sống được một ngày tốt hơn, ngay thẳng hơn, tử tế với đồng loại của chúng ta hay không? Không cần phải chết thử, mỗi người chúng ta đều phải đến một ngày chết thật!

    Sáng sớm vào hộp thư nhận được một lá thư chứa câu truyện trên đây… chợt nhận ra bấy lâu mình sống quá cố chấp… luôn giữ lại những đối xử tệ của tha nhân đối với mình mà không bao giờ muốn “buông” dù chẳng biết để làm gì….đúng thật là niết bàn hay địa ngục cũng do chính mỗi người cảm vời ra rồi tự đày ải mình ngay khi còn sống….Biết thế nhưng sự tổn thương và vết thương vẫn còn đó và không lành lặn đôi khi làm mình yếu đuối…

    – Bây giờ giả thử chỉ còn một ngày để sống….tôi muốn nói với mọi người tôi đã từng yêu thương, đã từng bạn bè rồi sau đó không là bạn bè nữa….rằng tôi yêu những cái tốt đẹp từng có và tôi sẽ quên hết những gì còn lại….Tôi luôn cầu mong hạnh phúc đến với mọi người trong cuộc sống vốn vô cùng mong manh ngắn ngủi này, hãy tận hưởng tận hiến khi xây dựng nó…cuộc sống của các bạn ấy mà….

    – Hãy cứ là loài người không hiểu được ý nghĩa thật sự ngôn ngữ của loài chim…chỉ thấy mỗi giọng chim hót lên đều là những nốt nhạc, những bản nhạc yêu đời từ bình minh đến đêm tối…

NGỌN SÓNG MÙ

Biển ngàn năm sóng vỗ

Nước tìm về đại dương

Rồi quên mình, tha phương

Sóng vô thường, lãng đãng.

Đời rêu phong năm tháng

Mưa, nắng phủ quanh hồn

Sóng chưa lúc mỏi, chồn..

Trên lối về tay trắng.

Phút đi hoang dừng lặng

Ngắm biển chiều phôi pha,

Thấy dã tràng nho nhỏ

Chết khô vì.. thiết tha…

Mượn thân từ cát bụi

Xây mộng đời thiên thu.

Sóng tan thành giọt lệ

Bên cõi bờ thực, hư.

Chiều lao xao sóng vỗ

Hoát nhiên nghe sóng cười

Tử sinh loang từ độ

Với vọng tình rong chơi!

Như Nhiên – TT Tuệ


 

ÔNG QUYẾT ĐỊNH TỪ THIỆN HẾT KHỐI TÀI SẢN 600 TRIỆU ĐÔ LA CỦA MÌNH…

Quang Minh Phan

ÔNG QUYẾT ĐỊNH TỪ THIỆN HẾT KHỐI TÀI SẢN 600 TRIỆU ĐÔ LA CỦA MÌNH, VÀ CHỈ HỖ TRỢ TIỀN HỌC PHÍ ĐẠI HỌC CHO CON TRAI, ÔNG MUỐN CON TỰ ĐI TRÊN ĐÔI CHÂN CỦA MÌNH

Triệu phú Simon Cowell quyết định không để lại khối tài sản ước tính 600 triệu USD cho người con trai 11 tuổi, Eric, xuất phát từ niềm tin vững chắc rằng sự giàu có thừa kế từ thế hệ trước sẽ tước đi tính tự lập và mục đích sống thực sự của một cá nhân.

Ngoại trừ việc chi trả cho việc học đại học của Eric, Cowell dự định sẽ quyên góp toàn bộ tài sản cho các quỹ từ thiện hỗ trợ trẻ em và bảo vệ động vật – những mục đích ông đặc biệt tâm huyết như nhà nuôi dưỡng trẻ em và các tổ chức cứu hộ chó. Đối với Cowell, việc chuyển hướng các nguồn lực của mình đến các tổ chức này sẽ biến thành công tài chính thành một động lực vì cộng đồng, mang lại sự chăm sóc y tế, mái ấm và cơ hội sống cho những trẻ em yếu thế và động vật cần cứu giúp. Ông xem đây là việc làm cần thiết vì di sản thực sự không được đo bằng quy mô của quỹ thác nào dành cho gia đình, mà bằng số lượng người mà bạn có thể trao quyền và trao cơ hội để họ tự mình thành công.

Quyết định này truyền tải một bài học cuộc sống sâu sắc cho con trai ông về đạo đức làm việc, sự độc lập và tinh thần trách nhiệm. Trưởng thành từ công việc khiêm tốn ở phòng thư của một công ty thu âm, Cowell muốn Eric tự mình trải nghiệm niềm tự hào, sự kiên cường và cảm giác viên mãn đến từ việc gặt hái thành công bằng chính sự chăm chỉ và hoài bão của bản thân. Bằng cách cung cấp một nền tảng giáo dục vững chắc nhưng đòi hỏi Eric phải tự vạch ra con đường riêng, Cowell dạy con rằng giá trị thực sự nằm ở nhân cách và sự nỗ lực cá nhân, thay vì dựa dẫm vào đặc quyền thừa kế. Sau cùng, quyết định này củng cố nguyên tắc rằng sự giàu có nên được dùng làm đòn bẩy để giúp đỡ xã hội, thay vì là điểm tựa làm cản trở sự phát triển của một con người.

Theo: IndiaTimes, Simon Cowell/GQ, Esquire


 

DÀNH CHO NHỮNG AI CHO RẰNG MÌNH LÀ KHỔ NHẤT

DÀNH CHO NHỮNG AI CHO RẰNG MÌNH LÀ KHỔ NHẤT

Ta khóc lóc tưởng rằng mình bất hạnh

Nhưng ngoài kia còn cả tỷ nỗi buồn

Ta cứ ngỡ có mỗi mình cô quạnh

Nhưng cuộc đời đầy ắp cảnh đau thương.

Có người ước được một đôi chân nhỏ

Để bước đi trên thảm cỏ thật mềm

Có người ước sau đêm dài vò võ

Đôi mắt này họ sẽ thấy bình minh.

Những đứa trẻ chưa một lần gặp mẹ

Chỉ ước ao hai tiếng gọi: Gia Đình

Nếu ta chỉ có một ngày thật tệ

Thì đừng buồn mà hãy cố gắng lên!

Có đôi lúc ta cần ngưng giận dữ

Nhìn thoáng hơn để thấu rõ sự tình

Hãy giữ lấy niềm vui dù rất nhỏ

Giữa bão đời ta chọn sống tự tin.

ST

post by : Hoài Thu


 

DƯỜNG VÀO THIÊN QUỐC  – Linh mục  Inha-xi-ô Trần Ngà

 Linh mục  Inha-xi-ô Trần Ngà

 (Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (22, 34 – 40) Chúa nhật 30 thường niên năm A)

Tuyến đường sắt Bắc Nam có 2 đường ray chạy song song từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn. Các chuyến tàu bắc nam cứ bám theo 2 đường ray đó, chạy bon bon qua nhiều chặng đường dài.

 Bao lâu tàu đi đúng đường ray, nó sẽ di chuyển nhanh chóng, an toàn; nhưng nếu nó chạy trật đường ray, hậu quả khủng khiếp sẽ xảy ra.

 Mỗi người chúng ta tiến về Thiên quốc cũng tựa như tàu chạy trên đường ray, cứ bám lấy 2 đường ray mà tiến, chắc chắc sẽ được vào quê trời; nếu lìa bỏ 1 trong 2 đường ray, thế là trật đường ray, cuộc đời chúng ta sẽ kết thúc trong thảm họa.

 Qua trích đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su cho chúng ta biết 2 đường ray đó chính là giới luật mến Chúa và yêu người, được Ngài công bố như sau:

“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 37-39).

Ngoài ra, Chúa Giê-su gắn kết hai điều răn nầy thành một, khi dạy rằng ai yêu thương người thì kẻ ấy cũng đang yêu mến Thiên Chúa. Trong dụ ngôn Phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su nói: “Những gì các ngươi làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” và “Những gì các ngươi đã không làm cho những anh em bé mọn nầy là đã không làm cho Ta”(Mt 25,31-46)

 Ảo tưởng tai hại

Thế mà có một số người lầm tưởng rằng: Ta chỉ cần tỏ lòng mến Chúa qua việc tham dự các Thánh lễ ngày Chúa nhật, đọc kinh sáng tối… là đủ để được lên thiên đàng; còn chung quanh ta, ai đói mặc ai, ai khổ mặc ai… ta chẳng cần quan tâm giúp đỡ, đèn nhà ai nấy sáng, miễn là đừng làm hại người khác là được rồi!

 Đó là ảo tưởng tai hại. Chỉ biết thờ phượng Chúa trong nhà thờ mà không phục vụ Chúa nơi tha nhân cũng giống như tàu chỉ dựa vào một đường ray mà chạy, bất cần đường ray thứ hai. Sống như thế đúng là “trật đường ray” và sẽ rơi vào thảm họa.

 Trong dụ ngôn Phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su là Đấng phán xử mọi người sẽ nói với những người nầy rằng: “Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!” (Mt 25, 31-46). Và Chúa Giê-su cũng cho biết rằng khi ta từ chối cứu giúp người khác là không cứu giúp chính Ngài. Thảm họa phát sinh từ đó.

 Lạy Chúa Giê-su,

 Chúa ban cho con điều luật mến Chúa yêu người là con đường duy nhất đưa tới quê Trời. Xin giúp chúng con ghi tâm khắc cốt lời Chúa phán dạy và đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày để được hưởng hạnh phúc muôn đời. Amen.

 Linh mục  Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12- NguyenNThu


 

Học giả Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975

Phạm Thắng Vũ

Học giả Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975.

Việc đốt sách là một tội ác trước lịch sử. Nó không chỉ xảy ra dưới thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu mà đã xảy ra ngay trên đất nước ta sau 1975. Ngọn lửa phần thư ngày ấy cháy bùng trên các đường phố Sài Gòn.

Từng đoàn thanh niên nam nữ của chính quyền lùng sục vào các tiệm sách, nhà tư nhân thu hết sách đem tiêu hủy.

Học giả Nguyễn Hiến Lê một danh sĩ Miền Nam trong Hồi Ký của mình đã ghi lại hiện tượng đốt sách ngày ấy.

Đoạn văn dưới đây được trích từ chương Văn Hóa của cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê Tập III, từ trang 74 đến trang 80-Văn Nghệ xuất bản gợi cho người đọc bao nỗi khóc cười về một thời kỳ lịch sử.

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt.

Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý…

Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn (1). Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Oservateur (của khối cộng), số đó bị chặn lại.

Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết.

Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”.

Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có prospecties cho biết cách dùng, trị bệnh gì…mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành.

Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất hai tháng, có khi bốn tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến… mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại ba bốn giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi.

Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên.

Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền.

Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được.

Trái lại bộ Lê Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

Nguyễn Hiến Lê

(1) Tôi lầm. Giữa năm 1981 vì ở khắp các thành phố, thị xã, các sách đồi trụy, băng nhạc ngụy, cả phim đồi trụy nữa lại lưu hành, nên có vụ kiểm kê các quán cà phê, sách cũ, nhưng lần này các sách khảo cứu Việt miền Nam và các sách Anh Pháp không bị hốt.

https://m.facebook.com/…/permalink/3353579398121175/

Copy from NET –  PTV 

*****

Nguyễn Hiến Lê Nói Về Việc Đốt Sách Sau 1975