Đỗ Trường – Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử – Phạm Tín An Ninh

Đỗ Trường – Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử

June 24, 2022

Phạm Tín An Ninh

CALI TODAY NEWS – Đầu năm 2022, tôi bất ngờ đọc được bài viết “Níu Một Đời, Giữ Một Thời” của tác giả Ban Mai, một nhà văn trẻ trong nước. Cô đang là giáo sư giảng dạy về Khoa Học Công Nghệ và Hợp Tác Quốc Tế tại Trường Đại Học Qui Nhơn

Mở đầu bài viết, tác giả đã vẽ lại bức tranh đen tối, kinh hoàng sau ngày 30.4.75:

“…phần lớn người Miền Nam làm việc cho chính phủ Cộng Hòa đều bị tập trung cải tạo. Cuộc sống của nhiều gia đình đảo lộn. Vì sau khi đổi đời, họ bị thất nghiệp, nhiều người lâm vào cùng quẫn. Cảnh quan thành phố tiêu điều xơ xác, thiếu lúa gạo khiến dân phải ăn độn bo bo và mì sợi. Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức Miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thu tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương Miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên…

Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật Miền Nam vô cùng gía trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…”

Và tác giả cho biết sự tình cờ được may mắn tiếp cận với dòng văn chương miền Nam:

“Mùa hạ năm 2010, tôi tình cờ đọc bài viết của nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu về tác phẩm “Những cơn mưa mùa Đông” của tác giả Lữ Quỳnh do nxb Thư Ấn Quán ở Mỹ xuất bản, thời gian này tôi đang tìm hiểu dòng văn chương Miền Nam nên liên hệ, ngay lập tức nhà văn Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh trả lời, tôi biết họ từ ngày ấy.

Bắt đầu từ đó, tôi tìm đọc dòng văn chương Miền Nam Việt Nam do nxb Thư Ấn Quán phát hành, vì ngày xưa trước năm 1975 tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì, tôi sinh ra và lớn lên ở Quy Nhơn, thuộc Miền Nam Việt Nam vì vậy tôi không muốn văn chương Miền Nam bị thất lạc và bôi xoá, tôi cần phải tìm hiểu và phổ biến lại cho thế hệ trẻ ở trong nước biết.

Thật may mắn, mùa thu năm 2011 nhà thơ Vũ Trọng Quang từ Sài Gòn photo cho tôi trọn bộ “Văn Miền Nam” (4 tập) và 2 tập “Thơ Miền Nam thời chiến” do Thư Ấn Quán phát hành năm 2009. Cuốn sách mới nhất tôi được Trần Hoài Thư tặng là cuốn “Những tạp chí Văn học Miền Nam” do ông sưu tầm và nhận định in năm 2018, ông đã sưu tầm được 15 tạp chí đã từng xuất bản ở Miền Nam Việt Nam gồm các tạp chí: Ý thức, Bách khoa, Văn, Sáng tạo, Khởi hành, Vấn đề, Trình bày, Thời tập, Hiện đại, Văn nghệ, Nghệ thuật, Mai, Văn học, Văn hóa nguyệt san, Tình thương.

Nhờ ông, tôi có được một cái nhìn khái quát về diện mạo nền văn chương Miền Nam Việt Nam mà hiện nay ở trong nước đã không còn nữa.

Nếu không có ông, làm sao tôi biết 462 tác giả trong 2 tập “Thơ Miền Nam trong thời chiến”, mà phần nhiều là những người lính cầm bút đã chết, đó là “những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương, khởi điểm bằng lệnh tổng động viên và chấm dứt bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương Miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rỏ và đúng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản”

Cuối bài, tác giả có nhiều lạc quan về cái nhìn của một một số trí thức trẻ trong nước và kêu gọi sự tiếp tay của mọi người trong trách nhiệm “bảo tồn và chia sẻ Văn Học Miền Nam cho đời sau”.

“Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm Văn học Miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn: “Ta về như lá rơi về cội/Bếp lửa nhân quần ấm tối nay/Chút rượu hồng đây xin rưới xuống/Giải oan cho cuộc biển dâu này”. Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.

Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng Văn chương Miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ Văn học Miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam.”

Đọc bài viết của tác giả Ban Mai, tôi bỗng nghĩ ngay đến một người khác, mà diện mạo của ông trong lĩnh vực này lúc nào cũng sáng lên trong suy nghĩ và hy vọng của tôi: Nhà văn Đỗ Trường.

(nhà văn Đỗ Trường)

Đỗ Trường người Nam Định, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm năm 1980. Sau thời gian theo học Khoa Anh Ngữ tại Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội, năm 1987 ông nghỉ học, đi buôn rồi theo lao động xuất khẩu sang CHDC Đức. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, ông ở lại và cùng cả gia đình định cư tại thành phố Leipzip, CHLB Đức. Tác phẩm đầu tay là tập truyện “Không Bao Giờ Thành Sẹo” do Vipen xuất bản 2013. Sau đó là “Về Miền Ký Ức” (tạp bút),“Đất Nước Với Những Đường Cong”, “Không Thể Sống Trong Im Lặng”, “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” (xuất bản năm 2019, là một tác phẩm đặc biệt nói về những khổ nạn mà chính quyền CS Việt nam đã hành xử đối với ông, vì những bài viết của ông), và mới nhất là “Men Còn Đọng Lại Đáy Vò”, viết về một số tác giả tiêu biểu, những người lính cầm bút miền Nam (Nhân Ảnh xuất bản năm 2022.) Ngoài ra, là một loạt các truyện ngắn, tùy bút, ký sự, biên khảo đựợc độc giả khắp nơi đón nhận khá nồng nhiệt.

Sự nghiệp văn chương chưa dày lắm, nhưng tên tuổi ông đã nổi bật cả trong lẫn ngoài nước, bởi các bài nghiên cứu khá tường tận, với những nhận định một cách khá công tâm, sâu sắc, tinh tế về nềnvăn học miền Nam, đặc biệt qua những tác giả vốn là những người lính cầm bút trong và sau cuộc chiến.

Lần đầu tiên tôi biết và đặc biệt lưu ý tới Đỗ Trường, cách nay hơn mười năm, khi đọc được bài viết “Những Giải Văn Học Không Có Thật”. Ông phê phán (có thể gọi là lên án) Hội Nhà Văn Việt Nam tại Hà Nội đã trao giải thưởng cho tác phẩm Dị Hương của một tác giả trong nước:

“Ngắc ngứ mãi, rồi tôi cũng đọc xong truyện ngắn Dị Hương của Sương Nguyệt Minh. Quả thật, ngoài những pha làm tình mang dáng dấp từ truyện Đồi Thông Hai Mộ, Gia Long Nguyễn Ánh hiện lên đậm tính lục lâm thảo khấu với giọng văn kiếm hiệp phương Bắc. Còn lại tôi không tìm được điều gì khác tác giả muốn chuyển tải đến người đọc.”

Để rồi ông nhận định thêm về “hiện tượng” đa số các cây bút trong nước lúc ấy:

“Trong khi viết về chiến tranh, các cây bút trong nước thật sự chưa có cái nhìn công bằng với những người quân, cán của VNCH. Họ vẫn hiện lên đầy rẫy ở các tác phẩm với những hình ảnh méo mó, với những tên gọi xếch mé. Gần đây nhất tôi mới thấy các cây viết trong nước ca ngợi một người lính VNCH, vì anh có công cùng với người lính Mỹ cất giữ cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm, để hôm nay chúng ta mang ra phát động tuyên truyền. Chúng ta hãy bình tâm đọc lại những vần thơ của nhà thơ Trần Trung Đạo, anh là một thuyền nhân. Cũng viết về người lính, nhưng anh không phân biệt đâu lính VNCH, hay là anh bộ độ…”

Sau này, qua nhiều bài giới thiệu, nhận định, phê bình về một số tác giả và tác phẩm miền Nam của ông, tôi dần dà có nhiều thiện cảm và đánh giá cao về khả năng văn chương, đặc biệt ý thức về một nền văn học mà cá nhân ông trước đây chưa từng biết qua, và chắc chắn khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã từng bị đầu độc đó là loại “văn chương phản động”, “văn chương đồi trụy” mà sau tháng 4 /1975 chính quyền Cộng Sản tìm mọi cách hủy diệt, nhưng không thể.

Ông nghiên cứu và viết khá nhiều về những tác giả, tác phẩm miền Nam. Một số tôi đã đọc được:

  • Trần Trung Đạo – Tiếng Vọng Từ Bên Kia Đại Dương
  • Luân Hoán – Người Kể Chuyện Bằng Thư
  • Vũ Hữu Định – Đường Đi Không Đến
  • Vũ Hoàng Chương – Lạc Loài Trong Cõi Nhân Sinh
  • Đinh Hùng – Con Đường Thi Ca Độc Đạo
  • Hòa Thượng Thích Như Điển – Chân Dung Một Nhà Văn
  • Du Tử Lê – Đời Lưu Vong Chưa Tận Tuyệt Với Linh Hồn
  • Phạm Tín An Ninh – Con Đường Giải Oan Cho Một Cuộc Bể Dâu
  • Cao Xuân Huy – Người Vẫn Không Thể Thoát Ra Khỏi Cuộc Chiến
  • Tô Thùy Yên – Tiếng Thơ Lầm Than Hào Kiệt Từ Một Thời Khủng Khiếp, Một Vận Phân Ly
  • Nguyễn Đức Sơn – Chập Chờn Trong Cõi Hư Vô
  • Thảo Trường – Những Mảng Ghép Của Chiến Tranh
  • Duyên Anh – Từ Cảm Xúc Cho Đến Tận Cùng Của Con Chữ
  • Trần Hoài Thư – Người Ngồi Vá Lại Những Linh Hồn…
  • Trần Hoài Thư Với Những Vần Thơ Lúc Nửa Đêm
  • Nguyễn Bắc Sơn – Một Đặc Phẩm Của Thi Ca Miền Nam
  • Phạm Ngọc Lư – Người Vẫn Giữ Lửa Cho Văn Học Miền Nam
  • Tùy Anh – Từ tháng Tư buồn đến nỗi đau biệt xứ
  • Phan Nhật Nam – Hè Vẫn Còn Đỏ Lửa
  • Nguyễn Tất Nhiên – Một Trường Thiên Kịch Bản Bi Ai
  • Cao Đăng Khánh – “Lửa Ngoài Giới Hạn” Chúng Không Tạ Từ
  • Nguyễn Nho Sa Mạc – Một Ngôi Sao Xẹt Qua Bầu Trời Thi Ca
  • Lữ Quỳnh – Chiếc Cán Cân Của Văn Học Miền Nam
  • Song Vũ – Người Vẫn Chưa Thể Bước Ra Khỏi Cuộc Chiến
  • Trạch Gầm – Một Giọng Thơ Độc Đáo
  • Cung Trầm Tưởng – Từ Chuyện Tình Lãng Mạn Đến Hồn Thơ (Thế Sự) Lưu Đày

Đặc biệt, trong bài “Văn Học Miền Nam – Một Góc Nhìn” được viết ngày 16.11.2021, nhà văn Đỗ Trường đã có cái nhìn rất sâu sắc về Văn Học Miền Nam, đặc biệt hai khía cạnh Hiện Thực và Nhân Bản. Xin trích đoạn một số tiêu biểu:

…tuy bị bức tử, song cũng như âm nhạc, sức sống của nền văn học ấy vẫn mãnh liệt lắm. Nó không chỉ âm thầm đi sâu vào lòng người ở ngay đó, mà còn sinh sôi nảy nở ngoài cương thổ, nơi có mấy triệu người Việt nữa kìa!

…có được sức sống lâu dài ấy, cũng bởi Văn học miền Nam chứa đựng những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Hai giá trị cơ bản của văn học này, dường như ta rất ít gặp ở những tác phẩm ngoài Bắc trong cùng giai đoạn chiến tranh 1954-1975, bởi tính tuyên truyền đã bóp nghẹt những giá trị ấy. Dù miền Bắc có rất nhiều nhà văn tài năng

…dù bị đánh tráo khái niệm, hay khoác cho một chiếc áo, một tên gọi mới, thì thực chất Văn học miền Nam không hề bị méo mó, đổi thay. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ đi sâu vào cái giá trị hiện thực, và nhân đạo của Văn học miền Nam (trong chiến tranh) dưới ngòi bút của những nhà văn người lính mà thôi.

…Có thể nói, chiến tranh tuy tàn khốc, nhưng đã sản sinh ra một loạt các nhà văn, nhà thơ tài năng xuất thân từ những người lính: Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Thảo Trường, Tô Thùy Yên, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, Trần Dzạ Lữ… Những tác phẩm còn nguyên mùi khói thuốc, vang tiếng đạn bom của họ như một luồn gió mới làm thức tỉnh, và giải tỏa sự bế tắc của Văn thơ miền Nam đang gà gật lúc đó. Và những tác phẩm ấy gắn liền với hiện thực của xã hội, sự tàn khốc chiến tranh, cũng như thân phận người lính.

…Có thể nói, những nhà văn miền Nam (1954-1975) không chịu ảnh hưởng, chi phối bởi bất kể thế lực, đảng phái nào. Cái tôi, và tự do tư tưởng, sáng tạo của họ đã được coi trọng, phát triển. Với tư tưởng như vậy, nên nền Văn học miền Nam được hình thành bởi những giá trị hiện thực, và nhân đạo là điều hiển nhiên. Với tôi đó chính là một nền văn học đích thực.

…Nếu không có thơ văn đích thực, thì chúng ta và các thế hệ sau này chắc chắn sẽ không hiểu sự thật về bản chất của cuộc chiến này, cũng như tâm trạng người lính với những năm tháng tang thương đó. Văn học như một chiếc cầu nối lịch sử đến với con người vậy. Và chính những nhà văn người lính đã nối những nhịp cầu ấy. Thật vậy, giữa sự sống và chết rất mỏng manh nơi chiến trường, vậy mà ta vẫn thấy tính nhân bản của con người chợt hiện lên…Và cái tình người ấy, dường như xuyên suốt trang thơ của người lính.

Trong bài “Phạm Ngọc Lư -, Người Vẫn Giữ Lửa Cho Nền Văn Học Miền Nam”, (khi đang ngồi đọc Văn thơ miền Nam 1954-1975, tác giả chợt nhớ đến nhà thơ Phạm Ngọc Lư, sống trong nước, gốc giáo chức (theo lệnh động viên nhập ngũ vào khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nhưng chỉ một thời gian ngắn, được biệt phái trở lại ngành giáo dục), sau 1975 dù phải sống đời lang bạt khốn cùng, nhưng vẫn tiếp tục sáng tác những bài thơ (hành) đầy khí khái miền Nam, nhà văn Đỗ Trường đã viết:

“…Từ độ“đất trời dị biệt, gió mây bất đồng” thì nền Văn học miền Nam bị khai tử. Và tròn bốn mươi năm, tưởng chừng nó cũng đã chìm vào lãng quên. Nhưng nhìn lại, dường như dòng văn học ấy vẫn nảy nở, âm thầm chảy trong lòng đất Việt. Có thể nói, ngay sau biến cố 1975 dòng chảy đó tự chẻ ra như những nhánh sông luân lạc… rồi tìm về, tụ lại đó đây. Tuy chưa thể cháy lên, nhưng nó đã cùng với những nhà thơ, nhà văn hải ngoại làm ấm lại phần nào cho nền Văn học miền Nam.

Nếu được phép đi tìm những khuôn mặt cho Văn học miền Nam còn ở lại trong nước, chắc chắn thi sĩ tôi nghĩ đến trước nhất phải là Phạm Ngọc Lư. Tuy viết không nhiều, nhưng cốt cách Con Người cũng như hồn vía văn thơ của ông trong một cái xã hội dối trá lọc lừa, không phải ai cũng giữ được.”

Không chỉ viết về những tác giả, tác phẩm của Văn Học Miền Nam, nhà văn Đỗ Trường cũng đã viết về một số nhà văn nhà thơ tiêu biểu miền Bắc. Ông ca ngợi tài năng, sự thành công và cả thái độ “phản tỉnh”của họ, nhưng cũng đã thẳng thắn phê phán những trường hợp sai lầm, tiêu cực:

-Trong bài “Vài Suy Nghĩ Về Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh Của Nguyên Ngọc” có một đoạn nhà văn Đỗ Trường viết:

“Đọc “Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh” của nhà văn Nguyên Ngọc, tuy rất khoái, nhưng tôi cảm thấy còn chút lăn tăn. Bởi, không chỉ Nguyên Ngọc, mà một số nhà văn trong nước vẫn còn luyến tiếc cái Trường viết văn Nguyễn Du. Một cái trường, dường như có tác dụng hợp thức hóa bằng cấp cho các bác vừa từ chiến trường trở về thì đúng hơn. Chứ các bác đã thừa biết, có cái trường quái nào đào tạo được nhà văn, nhà thơ đâu. Do vậy, không những giải tán cái trường này, mà các bác nên giải tán luôn cái Hội nhà văn, cái Văn Nghệ Quân Đội, cũng như các trường báo chí tuyên truyền, trường luật pháp cùng các đoàn, trường nghệ thuật quân đội đỡ gánh nặng thuế má của người dân

Tôi đồng ý với Nguyên Ngọc về sự đánh giá cao Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Tuy nhiên, cuốn sách này còn không ít những đoạn Bảo Ninh lên gân, và bốc phét hơi bị nghĩa lộ, chứ không toàn bích như Nguyên Ngọc đã viết

Cách nay vừa tròn hai mươi năm(1993), tôi có về Hà Nội, gặp được ông em họ vừa ở tù ra vì can tội là lính thám kích, quân đội VNCH. Tôi có đưa cho hắn cuốn Nỗi Buồn Chiến Tranh. Đọc xong, hắn bảo, ông Bảo Ninh viết hoàn toàn sai về người lính VNCH. Như câu chuyện bốn người lính thám kích bị bắt, tác giả viết một cách không đúng sự thật. Từ cách mô tả hành động đến thuật lại những mẩu đối thoại của những người lính thám kích này.

Lính thám kích được chọn, hầu hết còn trẻ, gan dạ và có bản lãnh. Họ không thể nào quá hèn hạ, van xin như Bảo Ninh kể. Nếu có xin tha đi nữa, thì cách nói và những lời nói ấy, nhất định không phải của họ. Điều này hắn khẳng định không thể có. Người lính thám kích đã được giáo dục về nhân cách, ngay sau khi đã được tuyển chọn. Trong nhiệm vụ đặc biệt, những toán thám kích cần phải tránh nổ súng, tránh bị phát hiện, trừ trường hợp, tự vệ, bất khả kháng. Cho nên, không thể có trường hợp phát hiện, bắt ba cô gái, rồi dẫn đi nhởn nhơ như vậy, để nhóm của Kiên tóm được. Hơn nữa, trong trường hợp đã bị bắt, trước sự sống chết, không thằng nào ngu xuẩn, nói giọng trêu cợt: Ba nhỏ đó trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi… Mấy nhỏ la khóc quá trời..

Hắn cũng cho rằng, cuốn truyện còn nhiều cảnh tưởng tượng quá mức, như trường hợp, một đám lính, làm thịt con xà niêng, nhưng sau khi cạo lông mới phát hiện ra đó là một người đàn bà.

Tôi viết lại lời hắn theo trí nhớ của mình. Và còn nhiều lời nặng nề khác của hắn về Nỗi Buồn Chiến Tranh, nhưng tôi xin phép không chép ra đây. Hắn ra người thiên cổ đã lâu. Vài dòng như một chút tưởng niệm đến hắn và những người lính cả hai miền Nam-Bắc đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua.”

Trong bài “Hữu Loan – Tài Năng Và Sự Mâu Thuẫn Trong Tư Tưởng Cũng Như Thi Ca”, (viết nhân 10 năm ngày mất của thi sĩ Hữu Loan), nhà văn Đỗ Trường đã đưa ra một vài chi tiết mà gần như hầu hết trong chúng ta chưa được biết về tác giả bài thơ nổi tiếng“Màu Tím Hoa Sim” này:

“Khó hiểu, và bất ngờ hơn nữa, trong cùng một thời điểm Hữu Loan viết bài ngợi ca: Chế Độ Ta, khác hẳn với sự châm biếm, đả kích ở bài: Cũng Những Thằng Nịnh Hót. Sự mâu thuẫn, nhức nhối này, làm cho người đọc một cảm giác “Cây gỗ vuông chành chạnh” Hữu Loan, dường như còn một khuôn mặt khác nữa:

“…Chế độ ta
Đến đâu
Mặt trời theo
Đến đấy
Chế độ ta
Đã dạy
Cho mặt trời
Công bình…

Chế độ ta
Không còn hành khất
Không còn người ăn sương
Nhân loại cần lao
Lớp lớp
Lên đường
Mặc áo muôn màu
Hát muôn thứ tiếng
Tay nắm tay thân mến
“Ta giữ hòa bình
Cho chế độ ta đây…”

Có thể nói, Hữu Loan có cái nhìn méo mó về Hà Nội và Saigon, cũng như cuộc di cư của hơn một triệu đồng bào miền Bắc (sau1954), khi ông viết bài Đêm vào tháng 5/1956. Qủa thực, dưới cái tư tưởng, quan điểm phiến diện như vậy của Hữu Loan, Hà Nội trước kia, và Saigon hôm nay (1956), hiện lên trong thơ như một thứ ung nhọt, giang mai cùng mã tấu. Sự đĩ điếm, bỉ ổi ấy, càng rõ nét hơn dưới phép so sánh của ông: “Đêm Hà Nội/ Ngày nay/ Như em nhỏ nằm tròn/ Ru trong nôi chế độ”. Cái khía cạnh, và sự ru ngủ này, trong thơ Hữu Loan, dường như ít được các nhà nghiên cứu, và phê bình nhắc đến:

“…Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Lõa lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả

Những đêm Sài Gòn
Ngày nay
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mưng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà-phê
100$ 1 con gái…”

Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn

Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên”

Sau 1954, những thi sĩ, nhà văn cùng thời như, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, hay Nguyễn Tuân… đều phải đảo bút, úp mặt quay lưng vì cuộc sống là điều dễ hiểu. Song với Hữu Loan một nhà thơ thẳng thắn, và can trường là một điều thật khó lý giải. Do vậy, cần lắm một sự nghiên cứu của các bậc tiền bối từ trong nước ra đến hải ngoại, để làm sáng tỏ một cách chân thật nhất về nhà thơ tài năng, đáng kính Hữu Loan.

Và một trong nhiều trường hợp thay đổi tư duy ngược lại: nhà thơ Đinh Thị Thu Vân (trong Hội Văn Nghệ Long An)

“…ngay từ những ngày đầu cầm bút Đinh Thị Thu Vân đã hồ hởi, reo vui: “Tháng Tư ơi xin đẹp mãi tâm hồn.”. Và Ba mươi tháng Tư đến, nhà thơ như cởi bỏ dĩ vãng, gột rửa được tâm hồn. Lời tự thú ấy đã được Đinh Thị Thu Vân viết thành thi phẩm: Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư, rất đồng điệu với khí thế hừng hực của những ngày sau 30-4-1975. Quả thực, nó chẳng khác gì một bản kiểm thảo trước chi bộ đảng đoàn vậy

“…Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư
Em giờ vẫn như thuở nào, sợ tay mình lấm đất
Sẽ không biết tự khuyên mình những lời nghiêm khắc nhất
Không một lần dám sống hy sinh
Và giữa dòng người cuộc sống gấp bon chen
Em đâu biết tin ai một điều gì tuyệt đối
Em sẽ đến với tình yêu bằng nửa trái tim yếu đuối
Còn nửa tim kia đành giữ lại… để nghi ngờ

—-

Sẽ… rất nhiều, anh hiểu phải không anh
Ngày tháng trước em là con ốc nhỏ
Con ốc đa nghi cuộn mình trong lớp vỏ
Sống vô tình mà ngỡ sống thông minh…”

Nếu “Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư” là lời tự thú, để rũ bỏ quá khứ, gột rửa tâm hồn, thì đến với “Saigon Đau” lại là sự tìm về dĩ vãng, trong cái tiếc nuối và nỗi đau mất mát của Đinh Thị Thu Vân. Có thể nói, “Saigon Đau” là bài thơ tiêu biểu, và rõ nét nhất cái mâu thuẫn tư tưởng trên những trang viết của Đinh Thị Thu Vân. Và nó cũng là một trong những bài thơ viết về thế sự xã hội hay nhất, mà tôi được đọc. Thật vậy, nỗi đau và sự luyến tiếc đó, dường như không phải của riêng nhà thơ, mà nó đưa đến, và nhận được sự đồng cảm của rất nhiều người. Vẫn những lời thơ tự sự, Saigon Đau như một mũi khoan xoáy vào lòng người đọc. Nhất là những kẻ buộc phải rời xa quê. Ta hãy đọc lại những trích đoạn có lời thơ dân dã, song rất đẹp dưới đây để thấy rõ, (và so sánh) cái mâu thuẫn tư tưởng, cũng như cái tôi, và chất trữ tình trong thơ thế sự xã hội của Đinh Thị Thu Vân:

“em yêu Sài Gòn, vì nơi đó có một người đau
một người mất những vàng son quá khứ…
Sài Gòn của anh
một thời Công Lý
một thời Tự Do
Sài Gòn của một thời Thương xá
em bước qua, ngơ ngẩn mắt quê mùa…
không có tình yêu, Sài Gòn như đất trống
như câu thơ lạc vận chẳng neo hồn!
không giữ lại dáng hình xưa được nữa
Sài Gòn đau ngơ ngác buổi em về
anh ở đâu những ngày cây lá đổ
có đợi chờ bàn tay nắm sẻ chia?…”

-Một vài nhận xét về Đỗ Trường từ những nhà văn thành danh trong và ngoài nước:

-Trong bài viết về tác phẩm “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” của tác giả Đỗ Trường, nhà thơ Trần Trung Đạo đã có nhận xét:

“Nhà văn Đỗ Trường cảm nhận giá trị văn chương và hoàn cảnh của tác phẩm bằng trái tim trong sáng hơn là tình cảm riêng tư, quen biết trước. Anh không viết theo cách “mặc áo thụng vái nhau”. Cảm xúc dâng lên sau khi đọc một bài thơ, một truyện ngắn anh bắt gặp đâu đó, và như thế anh ngồi xuống viết. Anh có thể không biết và cũng không quá cần phải biết ngay tác giả của bài thơ, bài văn mà anh đang phân tích là ai, tầm cỡ nào, còn sống hay đã chết, miền Nam hay miền Bắc, Cộng Sản hay Quốc Gia.

Trong không gian mênh mông không hố hầm ngăn cách của tâm hồn anh, họ là những con người có trái tim Việt Nam như anh và cùng rung môt nhịp xót xa hay hy vọng với anh.

Với nhà văn Đỗ Trường, giá trị của tác phẩm làm nên tên tuổi chứ không phải tên tuổi làm nên giá trị tác phẩm”

-Trong bài viết “Thân Phận Bút Mực Trong Con Chữ Đỗ Trường”, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có những nhận xét khá độc đáo:

“Đỗ Trường viết văn bí mật như người đi vào một thành phố bị chiếm. Chao ôi, những trang giấy trắng này đã bị sự dối trá chiếm đóng từ muôn nơi, trong đó có quê hương của ông tàn tạ những chân trời. Ông hân hoan trao sự thật lòng mình cho trang giấy như người vợ đêm tân hôn trao cho chồng sự trinh trắng cả tâm hồn và thể xác…”

-Đặc biệt và mãnh liệt hơn, trong bài viết ngày 28.8.2017, dưới cái tựa: “Đỗ Trường – Kẻ Không Khoan Nhượng Với “Bầy Sâu Đang Khiêng Nước Việt Đi Chôn”, được đăng trên RFA, nhà văn Võ Thị Hảo sau khi nhận định về tài năng và khí tiết của Đỗ Trường, đã kết luận như sau:

“Người Việt ở Đức và mọi nơi trên thế giới rất cần thêm những người viết mang nhân cách chính trực như Đỗ Trường. Ngay tại Đức quốc, ai ngờ lại quá hiếm hoi những người viết như vậy. Chúng ta cần biết bao những người dám nói và viết lên sự thật để tẩy rửa sự tanh tưởi của những cơ hội và nhạt đạo tâm hồn.

Không cần nổi danh, Đỗ Trường viết vậy là chỉ để tự cứu rỗi chính mình. Nhưng nhân cách viết da diết vì sự thật và cộng đồng ấy đã cần mẫn ngày ngày gắng gỏi cho một sự nghiệp lớn và vì thế anh thành danh ngoài mong muốn.

Bằng những gắng gỏi, góp gió thành bão của mỗi người, sẽ tới một ngày, Việt Nam…”

-LỜI KẾT:

Bài viết này, ngoài việc giới thiệu đến độc giả diện mạo đặc biệt đáng quí của một nhà văn sinh ra và lớn lên từ miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, cũng để thay cho lời cám ơn gởi đến nhà văn Đỗ Trường, người đã “chuyên chở văn học miền Nam, đặc biệt những người lính cầm bút miền Nam, vượt qua vũng lầy của cuộc chiến” do chế độ CS man rợ đã cố tình hủy diệt sau tháng 4.1975, để mang đến cho mọi người Việt Nam, đặc biệt những thế hệ hậu sinh trong nước, giá trị đích thực và vĩnh cữu của nó.

Bắc Âu, 23.6.2022

Phạm Tín An Ninh

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Đỗ Trường – Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử – Phạm Tín An Ninh

Tại sao đến nông nỗi này?

Tại sao đến nông nỗi này?

24-6-2022

Đoàn Bảo Châu

Tôi nghĩ vấn đề là các vị có muốn làm không thôi, chứ quyền lực trong tay, làm gì mà không được? Vi khuẩn thì đủ các loại, biến thể lung tung mà kháng sinh thì nửa vời, có mà đốt lò từ năm này sang năm khác cũng không hết củi bởi một điều đơn giản là chính bộ máy này đang sản xuất ra củi.

Hãy nhìn ngay ở thủ đô, thử hỏi có cái vỉa hè nào tồn tại tử tế được quá ba năm không? Vậy có ai phải chịu trách nhiệm về những đồng tiền ngân sách bị phung phí ấy? Một sản phẩm bán cho khách hàng còn có bảo hành, vậy mấy cái công trình công cộng ấy chẳng lẽ không có?

Cây xanh đang yên ổn, tự nhiên chặt, rồi để trồng cây mới, giờ có mấy cây được trồng lên được tử tế, dưới cái nóng đến há mồm ở Hà Nội dân biết trú ở đâu? Một con sông có cái tên rất đẹp là Tô Lịch thì không khác gì một cái cống lộ thiên, thối um, dưới trời nóng đi qua phải nhịn thở.

Một hệ thống thoát nước ì trệ cả trăm năm, trong khi ấy thì các nhà cao tầng được xây lên, Hà Nội không biến thành Venice bất đắc dĩ mới là lạ. Hai đời thị trưởng Hà Nội nối đuôi nhau vào tù. Kẻ trước có liên quan tới dự án lọc nước con sông này, kẻ sau liên quan tới việc coi lỗ mũi của dân là tài nguyên, là cơ hội làm giàu.

Thị trưởng cần có tư cách cao quý, bởi thị trưởng là bộ mặt của một thành phố, nhưng không cao quý được thì cũng đừng bẩn thỉu đến vậy. Đâu phải cứ nhe răng hềnh hệch, chớp chớp mắt, xoa tay xoắn xuýt nhìn đàn anh, cấp trên như thể nhìn chúa trời là được chọn làm thị trưởng.

Trong nước, nội xâm đang hoành hành, đấy chính là nạn tham nhũng tràn lan khắp các tỉnh thành, khắp các bộ, ban ngành. Vấn đề là không có biện pháp quyết liệt và triệt để để chặn đứng nạn này, chỉ là hô hào chung chung, xử lý theo vụ việc.

Tôi nghĩ vấn đề là các vị có muốn làm không thôi, chứ quyền lực trong tay, làm gì mà không được? Vi khuẩn thì đủ các loại, biến thể lung tung mà kháng sinh thì nửa vời, có mà đốt lò từ năm này sang năm khác cũng không hết củi bởi một điều đơn giản là chính bộ máy này đang sản xuất ra củi.

Để khỏi phải đốt lò, bước đầu tiên là đừng sản xuất ra củi. Hãy bắt đầu bằng việc cấm đưa phong bì ở tất cả các ban ngành, kê biên tài sản, kiểm soát dòng tiền trong tài khoản ngân hàng của quan chức, không cho phép các quan chức các cấp viếng thăm nhà riêng của nhau.

Chống tham nhũng không khó, cái khó là có thực tâm muốn làm không và có ai có tâm, có tầm, có chí, có quyết tâm làm không. Nội xâm không xử lý được triệt để thì tương quan sức mạnh của ta với ngoại bang sẽ kém đi và chúng muốn làm gì mà chẳng được.

Để rơi vào thế yếu là một điều đáng xấu hổ và không nên tự hào với cái kiểu đối ngoại “mềm mại” nhưng thực chất là kiểu ứng xử bất đắc dĩ. Việc này y như một cô gái yếu đuối, khi bị thằng cướp thò tay vào ngực thì chỉ chiêm chiếp thốt lên: “iem quan ngại, iem quan ngại lắm anh ôi…!”

Nó cứ bóp rồi tay nó thò lung tung nữa thì điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Có vị nào nói không đòi được Hoàng Sa thì thế hệ con cháu sẽ đòi được. Thế hệ này mà để tham nhũng bòn rút tài nguyên đất nước, làm kiệt quệ sức dân thì thế hệ sau lấy đâu ra nền tảng và sức mạnh để đòi lại phần đã bị ngoại bang cướp? Rồi chính vị này bảo phải dạy sao cho thế hệ trẻ khi đứng chào cờ mà mắt rưng rưng lệ.

Câu này đúng, không hề sai. Một đất nước chỉ có thể hùng cường được khi người trẻ có lòng ái quốc tha thiết và mạnh mẽ nhưng làm sao có được điều ấy thì cần phải bàn tiếp.

Đúng là chúng có quyền tự hào về lịch sử chống ngoại xâm hào hùng nhưng chúng cũng không thể giữ mãi cái lòng tự hào ấy trong một thế giới biến chuyển với tốc độ chóng mặt, khi các nền văn hoá mạnh xâm nhập vào Việt Nam và chúng nhìn thấy cái hạn chế của một chính thể nhiều tham nhũng, mà một chính thể nhiều tham nhũng thì không thể xây dựng được một nền văn hoá có thể toả sáng long lanh trên quốc tế được.

Mọi thứ đều liên quan tới nhau. Chúng cần có những niềm tự hào mới về một quốc gia đang phát triển rực rỡ, không phải chỉ là những trận đá bóng mà ở nhiều lĩnh vực khác. Đất nước này “rừng vàng biển bạc”, câu ấy không hề sai.

Các địa phương có văn hoá riêng phong phú và đặc sắc nhưng du lịch, các sản vật không có chỗ đứng trên quốc tế là bởi phong thái làm ăn làng nhàng, luộm thuộm, ăn chặn, gây khó dễ, các doanh nghiệp phải đối phó với đủ các khó khăn.

Hãy nhìn ngay ở thủ đô, thử hỏi có cái vỉa hè nào tồn tại tử tế được quá ba năm không? Vậy có ai phải chịu trách nhiệm về những đồng tiền ngân sách bị phung phí ấy? Một sản phẩm bán cho khách hàng còn có bảo hành, vậy mấy cái công trình công cộng ấy chẳng lẽ không có?

Cây xanh đang yên ổn, tự nhiên chặt, rồi để trồng cây mới, giờ có mấy cây được trồng lên được tử tế, dưới cái nóng đến há mồm ở Hà Nội dân biết trú ở đâu? Một con sông có cái tên rất đẹp là Tô Lịch thì không khác gì một cái cống lộ thiên, thối um, dưới trời nóng đi qua phải nhịn thở.

Một hệ thống thoát nước ì trệ cả trăm năm, trong khi ấy thì các nhà cao tầng được xây lên, Hà Nội không biến thành Venice bất đắc dĩ mới là lạ. Hai đời thị trưởng Hà Nội nối đuôi nhau vào tù. Kẻ trước có liên quan tới dự án lọc nước con sông này, kẻ sau liên quan tới việc coi lỗ mũi của dân là tài nguyên, là cơ hội làm giàu.

Thị trưởng cần có tư cách cao quý, bởi thị trưởng là bộ mặt của một thành phố, nhưng không cao quý được thì cũng đừng bẩn thỉu đến vậy. Đâu phải cứ nhe răng hềnh hệch, chớp chớp mắt, xoa tay xoắn xuýt nhìn đàn anh, cấp trên như thể nhìn chúa trời là được chọn làm thị trưởng.

Điều đáng sợ nhất, khó thay đổi nhất là người dân cam phận, coi tất cả những điều ấy là tự nhiên, và lấy việc im miệng là phương châm sống yên bình của mình.

Hơn bao giờ hết, đất nước này cần những lãnh đạo có tâm, có tầm, quyết liệt và mạnh mẽ trong tư duy và hành động chứ không cần những lời phát biểu đèm đẹp, mơ màng, những ví von lơ lửng, lạc quan tếu như đang ngồi ở quán bia vỉa hè.

Hãy thay đổi trước khi quá muộn khi mà ngoại bang có thể lợi dụng sự yếu đuối của ta để lấn tới.

 

https://dantri.com.vn/xa-hoi/viet-nam-len-tieng-viec-trung-quoc-tap-tran-o-hoang-sa-20220623163434708.htm

Ngành sản xuất củi đốt lò của Việt Nam là vô địch (chú thích của BVN)

Đ.B.C.

Nguồn: FB Chau Doan

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Tại sao đến nông nỗi này?

Rõ ràng, minh bạch, mẹ nó đếch ký!

Rõ ràng, minh bạch, mẹ nó đếch ký!

Mai Bá Kiếm

26-6-2022

Hỗm rày, dư luận đồn cựu chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong bị kỷ luật cảnh cáo vì ký đề xuất tặng huân chương “tào lao động đậy” hạng ba cho Việt Á, nhưng tôi nghĩ rằng đó là lỗi hệ thống, với Phong chỉ là lỗi nhỏ!

Cuối năm 2018, tại kỳ họp HĐNDTP, Nguyễn Thành Phong than thở: “Thanh tra, khởi tố nhiều làm cán bộ giảm năng động, chậm giải quyết hồ sơ hành chính”.

Ảnh chụp màn hình báo VNExpress

Anh Phong thanh minh, việc thanh tra, khởi tố liên quan đến các nhiêm kỳ trước, như việc khiếu kiện ở Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu công nghệ cao, Dự án Safari, Khu đất 8-12 Lê Duẩn, 2-4-6 Hai Bà Trưng.

Đúng, những vụ đó không liên quan anh Phong, mà Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Hữu Tín, Trần Vĩnh Tuyến đã chịu rồi. Nhưng, đương kim PCT UBNDTP Võ Văn Hoan cũng bị kỷ luật khiển trách trong nhiệm kỳ 2015-2020 thì tôi nghi có dính đến vụ Công ty Thuận Việt!

Ngày 11/12/2020, Võ Văn Hoan ký quyết định giao 27.393,1m2 đất tại P. Bình Khánh cho Công ty Thuận Việt là đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng 50 năm! Sau đó, Thuận Việt tạm nộp tiền sử dụng đất 700 tỷ đồng, tức 26 triệu đồng/m2 (cùng phường với lô đất Tân Hoàng Minh đấu 2,4 tỷ đồng/m2).

Thật ra, đó chỉ là “quyết định chạy tang” cho Thuận Việt. Trước đó, Thuận Việt là nhà thầu xây chung cư tái định cư (TĐC) 1330 căn, theo phương thức BT. Không hiểu bằng cách nào, Thuận Việt thay đổi thiết kế nhà TĐC thành nhà ở thương mại (NƠTM), đến đầu năm 2018, khi chưa hoàn thành, Thuận Việt đã rao bán với giá (70 triệu/m2) theo phương thức trả góp, ViettinBank bảo lãnh cho vay!

Khách đặt cọc, cầm hợp đồng đến ViettinBank mới Thuận Việt không có cái quần què để thế chấp! Vậy mà, Thuận Việt vẫn lừa bán được 1.122 căn, có người nộp đến 90% trị vẫn không được giao nhà.

Khi người mua nhà giăng biểu ngữ khiếu kiện, Thuận Việt thanh minh với các bồi bút: “Khi xây xong, TP không có tiền trả, Thuận Việt xin TP cho cấn trừ tiền xây dựng bằng 1330 căn hộ TĐC và xin chuyển Dự án New City thành NƠTM. Thuận Việt đã giải bài toán tài chính ngoạn muc cho TP, mà còn bị tai tiếng”.

Bị áp lực khiếu kiện, GĐ Sở XD Trần Trọng Tuấn (bị cáo trong vụ án Lê Tấn Hùng, em của “Hai Japan”) cho thanh tra và xử phạt Thuận Việt (ngày 11/1/2018) đã trả lời báo chí: “Nguồn 1330 căn của Thuận Việt nằm trong nguồn đất của Ban quản lý khu đô thị Thủ Thiêm. Tuy nhiên, nhà nước chưa chi trả để mua lại quỹ nhà này. Do đó, có thể khẳng định rằng dự án New City chưa đủ điều kiện để bán đấu giá. Ngoài ra, giá trị đất sẽ tính theo giá thị trường”.

Còn Sở Tài môi nói “Hồ sơ nộp tiền sử dụng đất dự án New City chưa tới Sở”.

Đến độ, Thanh tra Chính phủ nhập cuộc và kết luân: “TP.HCM đã thanh lý hợp đồng ĐTXD dự án 1.330 căn hộ New City Thủ Thiêm, khi chưa có ý kiến chấp thuận của Thủ tướng CP về giao đất là không đúng quy định tại Điều 118, Luật Đất đai năm 2013.

Cty Thuận Việt đã thay đổi thiết kế dự án New City Thủ Thiêm, từ nhà TĐC sang NƠTM. Nhà đầu tư này đã chuyển nhượng cho người mua 1.122 căn hộ. Sau đó, ngày 11/12/2020, UBND TP.HCM có quyết định giao khu đất diện tích 27.393,1m2 cho Công ty Thuận Việt. Đến nay chưa có một quyết định nào của cơ quan chức năng cho phép chuyển dự án này từ TĐC sang nhà ở thương mại”.

Như vậy, quyết định của Võ Văn Hoan ký để “chạy tang” cho vụ án Thuận Việt bán nhà khống!

Nếu Bộ Công an khởi tố Thuận Việt tội lừa đảo lớn nhất nước thì “nhiêm kỳ” 2015-2020 sẽ bung toang!

Anh Phong đã tiên tri: Thanh Tra, khởi tố làm cán bộ hết năng động ký hồ sơ!

Ký hồ sơ nộp thuế đất ở TP Thủ Đức ứ đọng 3, 4 tháng! Bên Y tế không dám ký đấu thầu thuốc, thiết bị y tế! Rõ ràng, minh bạch, mẹ nó đ*o ký, làm gì tao?

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Rõ ràng, minh bạch, mẹ nó đếch ký!

TRÁI TIM NGƯỜI MẸ

TRÁI TIM NGƯỜI MẸ

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Nếu ai hỏi Mẹ Maria điều gì quý nhất trong đời Mẹ, hẳn Mẹ sẽ trả lời đó là Giêsu, con của Mẹ. Người con này Mẹ đã cưu mang, dưỡng dục, và bảo vệ giữ gìn. Người con này đã đem lại cho Mẹ biết bao niềm vui và hãnh diện. Nhưng Mẹ cũng chịu nhiều đau khổ vì người con ấy.

Bài Tin Mừng hôm nay vén mở một chút nỗi đau của Mẹ, cho thấy một chút trái tim của Mẹ khi sống bên Giêsu. Cậu Giêsu, mười hai tuổi, cùng với cha mẹ lên Đền thờ mừng lễ Vượt qua. Kể cũng lạ khi cậu ở lại Giêrusalem mà không báo cho cha mẹ biết. Hai ông bà đi một ngày đường mới nhận ra mình mất con, vội vã đi tìm trong đám bà con thân thuộc, nhưng không thấy, nên trở lại Giêrusalem mà tìm.

Phải qua ba ngày đầy lo âu và nước mắt mới tìm thấy con trong Đền thờ. Kinh nghiệm mất – tìm kiếm – tìm thấy này thật đau đớn đối với người mẹ. Mẹ Maria sợ mất con, mất điều rất quý đã được Thiên Chúa trao cho mình. Nhưng khi thấy con mình ngồi giữa các vị thầy, rất bình an trò chuyện với họ, thì Mẹ lại sửng sốt, ngỡ ngàng, thay vì vui sướng. Như vậy là con không bị lạc, nhưng đã cố ý ở lại Đền thờ mà không báo.

Mẹ không nén được một lời trách móc: “Tại sao con làm thế với cha mẹ? Cha con và mẹ đã khắc khoải tìm con” (c. 48). Chuyện không ngờ là cậu Giêsu đã đáp lại câu hỏi của Mẹ bằng hai câu hỏi, đầy vẻ sửng sốt và cũng là một lời trách: “Tại sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con phải ở nhà của Cha con sao?” (c.49). Cũng có thể hiểu là: cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con sao?

Đức Giêsu, khi lên mười hai tuổi, đã bắt đầu có ý thức mình thuộc về Cha. Người Cha trên trời này khác với người cha mà Ngài đang chung sống. Ngài phải ở với và lo việc cho người Cha này, lẽ ra cha mẹ phải biết chuyện đó.

Dĩ nhiên hai ông bà chưng hửng, không hiểu được câu nói của cậu Giêsu (c.50). Riêng Mẹ Maria có thói quen nghiền ngẫm về các biến cố khó hiểu. Mẹ giữ kỹ trong trái tim mình những chuyện xảy ra (Lc 2, 19. 51b).

Chúng ta tưởng Mẹ Maria luôn luôn hiểu Con mình, hiểu ngay, hiểu trọn vẹn. Chúng ta tưởng ai sống thánh thiện thì lúc nào cũng vui, chẳng bao giờ lo sợ. Nhìn Mẹ Maria, chúng ta hiểu theo Chúa là bước vào một cuộc hành trình. Có những lúc như đang chơi ú tim với Chúa, mất rồi lại tìm, tìm thấy rồi lại mất. Chúng ta chẳng bao giờ nắm được Chúa, giữ chặt Chúa trong tay. Chúa vẫn là Đấng không thể thấu hiểu được, và vẫn làm chúng ta sững sờ.

Mẹ Maria đã chứng kiến Đức Giêsu lớn dần về mọi mặt (Lc 2, 40), từ khi sinh ra đến khi mười hai tuổi, và từ mười hai tuổi đến lúc trưởng thành (Lc 2, 52). Ngài càng lúc càng ý thức mình thuộc về Cha và ý thức về sứ mạng. Con của Mẹ là một mầu nhiệm khôn dò mà Mẹ phải tìm hiểu mỗi ngày. Mẹ để cho Con tự do sống theo Ý Cha, dù điều đó đem lại nhiều đau khổ. Chuyện mất Con hôm nay chuẩn bị cho việc Con sẽ chia tay Mẹ đi sứ vụ, và chuẩn bị cho cuộc chia tay kinh hoàng trên thập giá.

Chúng ta cầu cho các bà mẹ đang đau khổ vì con. Mong sự vâng phục của con cái làm tươi trái tim người mẹ.

*****

Lạy Mẹ Maria,

khi đọc Phúc Âm, lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường. Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu. Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ. Mẹ tìm con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana. Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng. Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ. Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong, từ con người hay từ Thiên Chúa. Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu trong mọi bước đường của cuộc sống. Chẳng phải con đường nào cũng là thảm họa. Có những con đường đầy máu và nước mắt. Xin Mẹ dạy chúng con đừng sợ lên đường mỗi ngày, đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly. Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

From: Langthangchieutim

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở TRÁI TIM NGƯỜI MẸ

Nhiều lúc cũng cần phải quên…

Lê Hoàng Nam

Nhiều lúc cũng cần phải quên…

Cuộc đời con người giống như một cuộc hành trình dài, không ngừng bước đi, ven đường nhìn thấy vô vàn phong cảnh, trải qua biết bao những gập ghềnh, nếu như đem tất cả những nơi đã đi qua đã nhìn thấy ghi nhớ hết trong lòng thì sẽ khiến cho bản thân mình chất chứa thêm rất nhiều gánh nặng không cần thiết.

Sự từng trải càng phong phú, áp lực càng lớn, chẳng bằng đi một chặng đường quên một chặng đường, mãi mãi mang một hành trang gọn nhẹ trên đường.

Quá khứ đã qua, thời gian cũng không thể quay ngược trở lại, ngoài việc ghi nhớ lấy những bài học kinh nghiệm, còn lại không cần thiết để cho lòng phải vướng bận thêm.Sẵn sàng quên đi là một cách cân bằng tâm lý, cần phải chân thành và thản nhiên đối mặt với cuộc sống.

Có một câu nói rất hay rằng tức giận là lấy sai lầm của người khác để trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình, bởi lẽ đó để có được niềm vui và cuộc sống thanh thản ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.Rất nhiều người thích câu thơ : “Xuân có hoa bách hợp, thu có trăng. Hạ có gió mát, đông có tuyết”.

Trong lòng không có việc phải phiền lo mới chính là mùa đẹp của nhân gian.

Nhớ những cái cần nhớ, quên những cái nên quên, sống cuộc sống cởi mở, trong lòng không vướng mắc thì cuộc sống này sẽ thật tươi đẹp.

Gia Nguyễn chia sẻ từ

thuvienvietnam

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhiều lúc cũng cần phải quên…

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5:3)

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5:3)

Thứ 6 rồi bạn ơi, chúc bạn một weekend hạnh phúc và zui zẻ bên cạnh những người thân yêu. Nếu có đi nghỉ hè nơi nào thì đừng để Chúa ở nhà nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 24/06/2022

Quà tặng thứ 6 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương sống khó nghèo

TIN MỪNG: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5:3)

SUY NIỆM: Thánh Giuse đã sống nghèo thực sự, nghèo cả vật chất lẫn tinh thần. Dù xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, nhưng Thánh Giuse đã cùng Đức Mẹ và Chúa Giêsu sống trong ngôi làng Nazarét nhỏ bé với nghề thợ mộc, chẳng mấy người biết đến. Thậm chí, chính sự nghèo khó này đã có lúc trở thành cản trở, khiến người Do Thái khó chấp nhận sứ mạng của Chúa Giêsu khi nhìn vào gốc gác, thân thế của Người. Cái nghèo nơi gia đình thánh không phải là sự thiếu thốn cơm ăn, áo mặc, bởi một người chăm chỉ lao động như Thánh Giuse chắc chắn sẽ đủ nuôi sống gia đình. Nhưng thâm sâu hơn, tinh thần nghèo khó của thánh nhân được thể hiện ở tấm lòng khiêm hạ, hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa, hạnh phúc là một người nghèo của Giavê.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse, mẫu gương về sự khó nghèo, xin giúp chúng con noi gương ngài, sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng, để giữa một xã hội đầy dẫy những bon chen và hưởng thụ, chúng con biết tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa và chia sẻ với tha nhân. Bây giờ và mãi mãi, xin cho chúng con được vững lòng trông cậy vào lòng nhân hậu của Chúa, biết quý trọng ơn gọi bậc sống mình và trau dồi các nhân đức, để chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ chúng con luôn thanh thoát, tự do, sống gắn bó với Đức Giêsu Kitô và phát huy gia bảo tốt đẹp của các bậc tiền nhân trong tình yêu và thánh ý Chúa. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và ngày sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. (Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5:3)

Cập nhật tin cô gốc Việt ngoài 20 tuổi ở Florida bị chồng cắt cổ chết tại nhà

Cập nhật tin cô gốc Việt ngoài 20 tuổi ở Florida bị chồng cắt cổ chết tại nhà

June 24, 2022

Nguoi-viet

ALTAMONTE SPRINGS, Florida (NV) – Vụ một cô gái gốc Việt, chỉ mới ngoài 20 tuổi, bị chồng mới cưới chưa đầy một năm cắt cổ chết trong nhà ở Florida, đã có thêm các biến chuyển mới, với việc nghi can bị tòa án địa phương ra lệnh tiếp tục giam giữ mà không cho đóng tiền thế chân để tại ngoại hậu tra. Trong khi đó, một số người cho biết là bạn bè thân hữu của nạn nhân đã mở trang GoFundMe để quyên góp tiền trang trải chi phí đưa thi thể cô gái về Việt Nam, nơi cha mẹ và hai người em đang sinh sống.

Cảnh sát thành phố Altamonte Springs ở Florida hôm Thứ Tư, 22 Tháng Sáu, cho hay một thanh niên 21 tuổi, cư dân nơi đây, đã xác nhận dùng dao cắt cổ vợ, một cô gái gốc Việt, tuổi chỉ mới ngoài 20, ngay tại nhà của hai người.

Theo bản tin của đài truyền hình địa phương WFTV Orlando cùng các cơ quan truyền thông khác, nghi can sau đó kéo nạn nhân vào trong bồn tắm, ngồi cạnh nắm tay, cho nghe bản nhạc nạn nhân ưa thích, trong khi nạn nhân chết dần.

Nghi can Xichen Yang (Hình: Seminole County Sheriff’s Office)

Nghi can Xichen Yang, 21 tuổi, khai với cảnh sát rằng anh ta có thể không làm hành động giết người ghê gớm này, nhưng nói thêm rằng mình là kiểu người “luôn làm mọi sự tới nơi tới chốn.” Vụ này xảy ra ở khu chung cư trên đường Ballard St. gần Ronald Reagan Blvd. lúc khoảng 9 giờ sáng Thứ Ba, 21 Tháng Sáu.

Cảnh sát đến khu chung cư Goldelm at Charter Pointe Apartments để điều tra về tình trạng an toàn của vợ nghi can và có được chìa khóa từ văn phòng điều hành nơi này để tiến vào căn chung cư của nghi can Yang, theo báo cáo của nhân viên công lực.

Khi tiến vào căn chung cư, họ thấy nạn nhân, cô Phạm Như Quỳnh, nằm trong một vũng máu lớn trong bồn tắm, với vết cắt ở cổ, bên cạnh là thuốc tẩy và găng tay cao su.

Theo cảnh sát, nghi can Yang giết vợ trong cơn giận dữ. Hai vợ chồng chỉ mới cưới nhau chưa được một năm. Cảnh sát nói đã hai lần được gọi đến căn chung cư. Một lần là vì nghi can Yang “có hành động gây hại cho chính mình” khiến người vợ lo ngại. Lần thứ nhì là vì Yang bị tố cáo đánh vào mặt người vợ.

Căn chung cư nơi xảy ra án mạng. (Hình: YouTube)

Các điều tra viên cho hay ông Michael Rathel, chủ công ty giữ vệ sinh hồ bơi Marco Polo Pool Maintenance, nơi nghi can làm việc, gọi cho nghi can để hỏi tại sao không đi làm việc.

Nghi can trả lời là có cãi cọ với vợ vì cô này “đốt passport” của nghi can. Khi ông Rathel trách nghi can là “nhân viên vô trách nhiệm,” nghi can trả lời là đã làm điều “tệ hại hơn nữa là giết vợ.”

Nghe xong, ông Rathel vội vàng gọi 911 để báo cảnh sát.

Báo cáo của cảnh sát nói rằng sau khi bị cắt cổ, nạn nhân cố bò về phía cửa ra vào, nhưng bị nghi can Yang kéo lại, đưa vào trong bồn tắm để nằm chết nơi đây. Sau đó, nghi can dùng thuốc tẩy để chùi rửa các vết máu trên tường và sàn nhà.

Hồ sơ báo cáo của Sở Cảnh Sát Altamonte Springs về vụ án mạng. (Hình: Altamonte Springs Police Department)

Theo bản báo cáo cảnh sát, nghi can nói với các điều tra viên là anh ta có thể ngừng tay lại, không giết vợ, nhưng khi được hỏi vì sao không làm điều này, nghi can Yang trả lời “Đó không là điều được dạy từ nhỏ” và là người làm việc gì thì làm hết mình.

Hệ thống Học Khu Seminole County xác nhận nghi can Xichen Yang tốt nghiệp trung học Ovideo High School năm 2019.

Bà Michelle Montalvo, phát ngôn viên Sở Cảnh Sát Altamonte Springs, nói nạn nhân Phạm Như Quỳnh chỉ mới ngoài 20 tuổi và có cả tương lai tươi sáng trước mắt.

Nghi can Xichen Yang được đưa đi khám nghiệm tâm thần và khi ra trước tòa án Seminole County hôm Thứ Năm đã bị chánh án ra lệnh giam giữ mà không cho đóng tiền thế chân để được tại ngoại hậu tra.

Trong khi đó, một số người cho hay có quen biết với nạn nhân Phạm Như Quỳnh đang tổ chức quyên góp qua trang GoFundMe để có tiền trang trải chi phí đưa thi thể cô về Việt Nam, nơi cả gia đình cô đang sinh sống, theo lời người đứng ra tổ chức là anh Ryan Tran.

Một người trong số này, Trinh Nguyen, cho biết trên trang GoFundMe rằng cô Phạm Như Quỳnh còn cha mẹ và hai người em cùng nhiều chú bác cô dì ở Việt Nam.

Cho đến sáng ngày Thứ Sáu, số tiền thu được vào khoảng hơn $18,000 so với mức mong muốn là $10,000. (V.Giang)

Đăng tải tại Tin Hoa Kỳ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cập nhật tin cô gốc Việt ngoài 20 tuổi ở Florida bị chồng cắt cổ chết tại nhà

Hoa Kỳ chấn động: ‘Bảo thủ’ thắng thế, Tòa tối cao không xem phá thai là ‘quyền dĩ nhiên’ – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt

Tòa án tối cao Hoa Kỳ hôm thứ Sáu 24/6 đã gây chấn động khi xóa bỏ phán quyết năm 1973 lâu nay công nhận quyền phá thai hợp pháp của phụ nữ và hợp pháp hóa quyền này trên toàn quốc.

Tòa án lật ngược án lệ nổi tiếng ‘Roe kiện Wade’ năm 1973, với tỉ lệ phiếu 5-4.

Cuộc bỏ phiếu chấm dứt quyền phá thai được sự ủng hộ của 5 trong số 6 thẩm phán ‘bảo thủ’ của tòa án, trong khi Chánh án John Roberts và 3 thẩm phán ‘cấp tiến’ phản đối.

Lật ngược án lệ Roe kiện Wade từ lâu đã trở thành mục tiêu của những người bảo thủ Cơ đốc giáo và nhiều thành viên đảng Cộng hòa.

BBC.COM

Đăng tải tại Tin Hoa Kỳ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hoa Kỳ chấn động: ‘Bảo thủ’ thắng thế, Tòa tối cao không xem phá thai là ‘quyền dĩ nhiên’ – BBC News Tiếng Việt

Một bác sĩ ưu tú rơi từ tầng 12 Bệnh viện Quân y 103

Đài Á Châu Tự Do

Chủ nhiệm Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn thuộc Viện Quân Y 103 ở Hà Nội, bác sĩ Kiều Chí Thành, chính là người trong clip được đưa lên mạng xã hội gây xôn xao dư luận từ ngày 22/6.

Thông tin vừa nêu được Bộ Quốc Phòng Việt Nam đưa ra vào ngày 24/6 cho truyền thông Nhà nước. Theo đó, người đàn ông mặc áo trắng nằm bất động trên vũng máu trong clip mà nhiều người xem được trên mạng xả hội là đại tá, thầy thuốc ưu tú, Phó Giáo sư-TS Kiều Chí Thành. Ông là Chủ nhiệm Khoa Kiểm soát Nhiễm Khuẩn thuộc Viện Quân Y 103.

Vụ việc nam bác sĩ này được nói rơi từ tầng thứ 12 tòa nhà trong khuôn viên Bệnh Viên Quân Y 103 xảy ra lúc khoảng bảy giờ tối ngày 22/6.

Tin cho biết, Cơ quan Điều tra thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam đang thụ lý vụ việc để làm sáng tỏ thêm. Trong khi đó Báo Quân đội Nhân dân đăng tin buồn về ông này.

RFA.ORG

Một bác sĩ ưu tú rơi từ tầng 12 Bệnh viện Quân y 103

Vụ việc nam bác sĩ này được nói rơi từ tầng thứ 12 tòa nhà trong khuôn viên Bệnh Viên Quân Y 103 xảy ra lúc khoảng bảy giờ tối ngày 22/6.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Một bác sĩ ưu tú rơi từ tầng 12 Bệnh viện Quân y 103

Vài suy nghĩ sau các phiên điều trần của Quốc hội Hoa Kỳ về cuộc bạo loạn ngày 6.1.2021

Vài suy nghĩ sau các phiên điều trần của Quốc hội Hoa Kỳ về cuộc bạo loạn ngày 6.1.2021

Song Chi

24-6-2022

Trong suốt 4 năm Donald Trump làm Tổng thống Hoa Kỳ, nhiều người đã đặt câu hỏi về sự bất ổn trong nhân cách, tính cách của ông. Nhưng giai đoạn đó, Donald Trump đang có sự ủng hộ, ngưỡng mộ của (luôn luôn) gần một nửa dân chúng Mỹ, đa số đảng viên đảng Cộng hòa, chưa kể 90% người Việt ở trong nước nên mọi lời nhận xét tiêu cực về Donald Trump đều bị những người ủng hộ Trump bất chấp lý lẽ, đúng sai, công kích dữ dội.

Nhưng trong những ngày tháng cuối cùng tại Nhà Trắng, khi biết mình bị thua trong cuộc bầu cử 2020, Donald Trump đã có hàng loạt lời nói, hành động khó mà tưởng tượng nổi là của một Tổng thống có lý trí, biết tôn trọng luật pháp, Hiến pháp Hoa Kỳ. Bây giờ khi nghe xong các phiên điều trần của Ủy Ban điều tra vụ bạo loạn ngày 6.1 thì ngoại trừ những người vẫn ngưỡng mộ, ủng hộ ông Donald Trump bất chấp đúng sai như vừa nói ở trên, bất cứ ai có một khả năng phân tính, suy xét vấn đề một cách bình thường cũng đều nhận ra 3 điều:

1. Vụ tấn công vào tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ ngày 6.1.2021 hoàn toàn không phải là một vụ bạo loạn ngẫu nhiên, mà là một âm mưu đảo chính nhằm mục đích để Donald Trump tiếp tục làm TT thêm một nhiệm kỳ nữa, mà vai trò tích cực chính là cựu TT Donald Trump.

2. Nền dân chủ và Hiến pháp của Hoa Kỳ suýt chút nữa thì rơi vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, có những người đã dùng những cụm từ như: nền dân chủ của Hoa Kỳ đã bị đưa đến bờ vực thẳm (American democracy was brought to the brink), nền dân chủ của Hoa Kỳ đã ở trên cạnh của lưỡi dao (America on the knife’s edge). Cứ thử tưởng tượng vào cái ngày bạo loạn đó biết bao nhiêu điều tồi tệ hơn có thể xảy ra, chẳng hạn, những kẻ bạo loạn tìm được cựu Phó TT Mike Pence, giết chết Mike Pence, dẫn đến việc không có ai xác nhận kết quả Biden là TT, Trump nhân cơ hội đó ra lệnh “thiết quân luật” và tiếp tục nắm quyền, rồi cả nước Mỹ hỗn loạn, chia rẽ, xảy ra nội chiến v.v…

3. Toàn bộ những lời nói, hành vi của Donald Trump từ khi biết mình bị thua trong cuộc bầu cử vào tối ngày 3.11.209 cho tới cuộc bạo loạn ngày 6.1.2020 và cho tới tận bây giờ, đã chứng tỏ Donald Trump thực sự là một trường hợp bị rối loạn về nhân cách (personality disorder). Không có một con người bình thường nói chung và một TT Hoa Kỳ nói riêng nào có lý trí, đầu óc suy nghĩ lành mạnh, bình thường mà lại như vậy.

Ảnh chụp màn hình báo Người Việt

Rối loạn nhân cách có rất nhiều dạng, nhưng điều lạ lùng là giữa Donald Trump hay Vladimir Putin lại có một số nét giống nhau: yêu bản thân một cách thái quá hoặc rối loạn nhân cách tự ái kỷ (narcissistic personality disorder), một người nói dối bệnh hoạn (a pathological liar) có nghĩa là nói dối bất cần ai tin, nói dối liên tục đến mức tin luôn vào những điều mình nói, không chấp nhận sự thật nếu sự thật đó không có lợi cho mình hoặc không theo ý mình muốn, sống trong một thế giới khác (alternative world), không quan tâm đến cái gì khác ngoài bản thân mình, một khi cái ý nghĩ gì đó đã vô đầu thì khó mà lấy ra được (ví dụ như ý nghĩ của Putin là Ukraine không phải là một quốc gia, không phải là một dân tộc, Ukraine là một phần của nước Nga và ông ta sẽ lấy lại Ukraine; hay ý tưởng cuộc bầu cử đã bị đánh cắp, Mike Pence có khả năng đảo ngược kết quả… của Donald Trump); hoang tưởng (paranoia) về sức mạnh của chính mình… Và cả hai cũng có những xu hướng độc tài như chỉ thích tập hợp chung quanh mình những kẻ xu nịnh, trung thành chứ không muốn nghe những lời góp ý đúng đắn. Cái khác là luật pháp Hoa Kỳ, xã hội Hoa Kỳ không cho phép Donald Trump trở thành một kẻ độc tài toàn diện như Putin mà thôi.

Tuy nhiên, những người như Adolf Hitler, Vladimir Putin, Donald Trump,… vì họ có một tính cách mạnh mẽ, áp đảo người khác nên họ thường thu hút được đám đông quần chúng sùng bái những người có cá tính mạnh, cho họ mới đúng là những người đàn ông thực sự, những lãnh đạo, lãnh tụ thực sự. Trái ngược với Joe Biden luôn bị xem là mờ nhạt, thiếu sức hấp dẫn, thiếu động lực gây cảm hứng nên số lượng người kính trọng, tin cậy thì có mà số người ngưỡng mộ, thậm chí “cuồng” thì rất ít.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Hoa Kỳ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vài suy nghĩ sau các phiên điều trần của Quốc hội Hoa Kỳ về cuộc bạo loạn ngày 6.1.2021

Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!

Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!

Diễm Thi, RFA
2022.06.23

Hình minh hoạ: Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước báo chí sau khi tham gia bỏ phiếu ở Hà Nội hôm 23/5/2021

AP

Tại buổi tiếp xúc cử tri tại Hà Nội hôm 23 tháng 6 năm 2022, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại lên tiếng về công tác chống tham nhũng. Ông Trọng cho biết, cuối tháng này Trung ương sẽ tổ chức hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng để nhìn lại giai đoạn từ khi thành lập Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực thuộc Bộ Chính trị.

Ban này do ông Nguyễn Phú Trọng làm trưởng ban với cái tên ban đầu là Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, được thành lập vào ngày 1 tháng 2 năm 2013. Đến ngày 16 tháng 9 năm 2021, ông Trọng đã ký quyết định sửa đổi ban này thành Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Nói tóm lại, ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cái cơ chế này. Phải có sự cạnh tranh giữa các đảng phái để họ nhìn vào cái đảng đang điều hành đất nước. Phải thay đổi tận gốc. – Nhà báo Trần Ngọc Tuấn

Nhà báo Trần Ngọc Tuấn ở Cộng hòa Séc, một người luôn đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trong nước cho rằng, muốn thật sự chống tham nhũng thì phải thay đổi thể chế:

“Tôi nghĩ chẳng có một quốc gia nào mà chống tham nhũng một cách tuyệt đối đâu. Còn ở Việt Nam thì chống tham nhũng chỉ chống từ rốn trở xuống. Nghĩa là không chống ở trên cao. Họ chỉ tỉa lá ở những cây bị sâu ăn mà thôi.

Cách tốt nhất và có hiệu lực nhất là phải thay đổi tận gốc, thay đổi cả một cái cây, trồng cây mới với cái tên là cây Dân Chủ. Phải có tam quyền phân lập và báo chí độc lập. Ở các nước dân chủ, báo chí có vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ chính phủ chống tham nhũng, hạn chế tham nhũng.

Nói tóm lại, ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cái cơ chế này. Phải có sự cạnh tranh giữa các đảng phái để họ nhìn vào cái đảng đang điều hành đất nước. Phải thay đổi tận gốc.”

Giữa tháng 12 năm 2020, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 – 2020, Trưởng Ban chỉ đạo là ông Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu phải xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; một cơ chế để “không cần tham nhũng”.

Cũng nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, năm trước, Bộ Chính trị đã ban hành quy định số 85 về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Sau đó, một số đảng viên và học giả công bố một bức thư ngỏ yêu cầu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng “công khai tài sản” để “làm gương”. Cuối tháng 10 năm 2020, Thủ tướng Việt Nam ký ban hành Nghị định số 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Theo một số người quan tâm, việc chống tham những bằng nghị định, văn bản không hiệu quả. Muốn chống tham nhũng phải làm mạnh tay từ bên trong. Ông Lê Văn Triết, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại từng nêu quan điểm với RFA về biện pháp kê khai tài sản như một cách để làm sạch bộ máy:

“Nói vậy chứ có làm được gì đâu, có ai kê khai gì, lâu lâu có chỗ nổi cộm thì lại lôi ra… rồi lập hồ sơ, mở phiên tòa, rồi lại kết luận gây hậu quả nghiêm trọng do kém ý thức tổ chức… chứ có giải quyết gì đâu. Theo tôi muốn giải quyết vấn đề này phải nghiêm minh từ bên trong, từ trên xuống, nghiêm tức trong tổ chức thực hiện. Chứ không phải muốn nói gì thì cứ nói đại một cái, đưa ra văn bản này, văn bản nọ, nói thế thì ai nghe, ai làm, chả đi đến đâu, họ hết việc làm rồi…”

Việc kê khai tài sản, quan chức được nói đến nhiều mấy năm gần đây khi những căn biệt thự có giá từ hàng chục đế cả trăm tỷ của các quan chức xuất hiện trên mặt báo. Gần đây nhất là những căn biệt thự của ông Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ KH&CN, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội) được một số chuyên gia bất động sản đánh giá có giá thị trường dao động từ 80-100 tỷ/căn. Trong khi đó, theo quy định hiện hành, mức lương của chủ tịch thành phố Hà Nội là 15.347.000 đồng/tháng.

Các vị công khai tài sản hết đăng báo Nhân Dân cho dân đọc và nói luôn, nếu ai phát hiện tôi ngoài những tài sản đã kê khai mà còn có hơn một tỷ, hay cho mười tỷ cũng được, mà nguồn gốc không rõ ràng thì xin trả lại chức về nghỉ. – Luật sư Trần Quốc Thuận

Tuy các hình thức tham nhũng rất khó bị phát hiện nhưng kết quả của nó ai cũng có thể thấy, ít nhất với phần nổi là bất động sản. Nếu các quan chức phải kê khai và giải trình nguồn gốc tài sản một cách công khai thì chắc chắn tham nhũng sẽ giảm. Đó là nhận định của Luật sư Trần Quốc Thuận, cựu Phó chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội với RFA sáng 23 tháng 6 năm 2022:

Tham nhũng ở Việt Nam bây giờ là từ trong xương nó dòi ra cho nên phải trị bằng một loại thuốc đặc trị. Tôi đề nghị có những bước đi thích hợp. Thích hợp là từ xã, phường, ấp phải thực sự có tự do ứng cử, bầu cử. Tiếp đến là đến cấp quận, cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh rồi lên tới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Làm sao trong các cơ quan dân cử, Hội đồng Nhân dân và Quốc hội phải có năm đến mười phần trăm những người không là đảng viên để nghe tiếng nói thật sự của dân.

Ở Việt Nam bây giờ những người có chức đều là đảng viên mà tội tham nhũng là tội của những người có chức. Như vậy tham nhũng là từ trong đảng mà ra. Bây giờ phải thực hiện những câu mà Tổng bí thư đã nói về chống tham những. Muốn chống tham nhũng thì phải làm gương về tài sản. Làm gương trước nhất là Bộ chính trị rồi Ban bí thư, Ban chấp hành trung ương. Các vị công khai tài sản hết đăng báo Nhân Dân cho dân đọc. Và nói luôn, nếu ai phát hiện tôi ngoài những tài sản đã kê khai mà còn có hơn một tỷ, hay cho mười tỷ cũng được, mà nguồn gốc không rõ ràng thì xin trả lại chức. Về nghỉ.”

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 – 2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của mình; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế!

Một từ Chết thôi mà muốn điên cái đầu…

Ngọc LinhCâu nói hay mỗi ngày

Một ông Mỹ già học tiếng Việt đã được 2 tháng!

Sáng nay ổng nói tao không thèm học nữa, bởi có một từ Chết thôi mà muốn điên cái đầu…

(T.ử Vong) cũng ch.ết

(Tự s.át) cũng ch.ết

(Tự t.ử) cũng ch.ết

(Tự vận) cũng ch.ết

(Từ trần) cũng ch.ết

(Qua Đời) cũng ch.ết

(Mất) cũng ch.ết

(Rồi đời) cũng ch.ết

(Tiêu đời) cũng ch.ết

(Đi đứt) cũng ch.ết

(Đứt bóng) cũng ch.ết

(Hi sinh) cũng ch.ết

(Đã Khuất) cũng ch.ết

(Nhắm Mắt) cũng ch.ết

(Xuôi tay) cũng ch.ết

(Đứng tròng) cũng ch.ết

(Khuất Núi) cũng ch.ết

(Khuất bóng) cũng ch.ết

(Tắt thở) cũng ch.ết

(Đi rồi) cũng ch.ết

(Toi rồi) cũng ch.ết

(Xuôi tay) cũng ch.ết

(Ngủm củ tỏi) cũng ch.ết

(Đắp Chiếu) cũng ch.ết

(Chầu trời) cũng ch.ết

(Thăng thiên) cũng c.hết

(Theo Ông Bà) cũng ch.ết

(Về tổ tiên) cũng ch.ết

(Gặp Diêm Vương) cũng c.hết

(Băng hà) cũng ch.ết

(Vĩnh biệt) cũng c.hết

(Lìa trần) cũng ch.ết

(Chán sống) cũng ch.ết

(Buông tay) cũng ch.ết

(Lìa đời) cũng ch.ết

(Đã mất) cũng ch.ết

(Ra đi) cũng ch.ết

(Về cõi tây phương) cũng ch.ết

(Hóa kiếp lai sinh) cũng ch.ết

(Ra đi ngàn thu) cũng ch.ết

(Trở về cát bụi) cũng ch.ết

(Từ giã cõi đời) cũng ch.ết

(Đi lên niết bàn) cũng ch.ết

(Chia tay cõi trần) cũng ch.ết

(Nghẻo – Queo) cũng ch.ết

(Ngắm gà khỏa thân) cũng ch.ết

(Ăn chuối cả nải) cũng ch.ết

(Xong kiếp phàm trần) cũng ch.ết

(Xong một kiếp người) cũng ch.ết

(Xong một đời, ngủm củ tỏi) cũng ch.ết…

Philip VinhQuoc

Bán muối cũng chết

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Một từ Chết thôi mà muốn điên cái đầu…

Mùa Thu Cuộc Tình – TRUYỆN NGẮN…. Tiểu Tử

Van Pham

TRUYỆN NGẮN…. Tiểu Tử

Mùa Thu Cuộc Tình

Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị : một trái cà tô-mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị ! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị !

Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh-kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy.

Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết ” làm ” một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…

Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố.

Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là ” đi chợ Tàu ” chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương : những khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen !), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ…

Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. “Chắc lá đã rụng đầy”, ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ.

Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur. Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa !

Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây – năm sáu năm gì rồi – cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa ! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu…

Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết : “Anh thừơng nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai ? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo-nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh ! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trứơc mắt để hứơng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hứơng về đâu hả em ?

Anh bỗng ứa nứơc mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả ?” Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật ngừơi, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…

Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nứơc mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm.

Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những ngừơi giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình.

Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than :

– “Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy !”.

Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay ngừơi lại để nhìn sâu vào mắt: – “Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa ? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao ?”.

Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến “cái ngày không còn có nhau” đó.

Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác ! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, Nhà Nước đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng “văn phạm Nhà Nước”.

Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến ! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được nhập cảnh gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt… Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu !

Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa ! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…

Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một !

Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ ? Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức.

Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ-rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy !

“Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc ! Vậy rồi thôi ! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết !”.

Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số ! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ “Thôi ! Đừng nghĩ tới nữa” Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…

Khi đi qua trước phòng gác-dang, có tiếng gọi :

– Ông Georges ! Ông Georges !

Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác-dang bước ra trao cho ông một điện tín, nói :

– Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.

Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa : “Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai”. Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe : “Đúng rồi ! Bả được xuất cảnh rồi !”. Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng :

– Có sao không ? Có chuyện gì không ? Ông Georges ?

Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh :

– Cám ơn bà ! Cám ơn bà nhiều ! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng! Quá tốt bụng! Cám ơn! Cám ơn !

Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh ! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng “Nhưng mà… Nhưng mà…” trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang. Nữa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói vói xuống :

– Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi ! Cám ơn ! Cám ơn nhiều !

Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hưu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi !

Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi ! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà ! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu “Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai” Đọc là hiểu ngay ! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa ! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong.

Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy ! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi ! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng. Tội nghiệp ! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả.

Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm ông bận tâm.

Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức ! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là “thằng Năm trúng số độc đắc” hoặc “đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy”.

Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương… Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá !

Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mười năm… lâu lắm chớ ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá ! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không ! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ!

Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra. Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp-phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó ! Coi vậy mà cũng nặng ớn !

Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À ! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó “sáng” ra mới được. Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À ! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy ! Mà thiệt ! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì !

Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn “nét” lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi ? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt ! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai…

…Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói ! Tuy vậy, cũng phải “bỏ bụng” một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô-mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho “lấy có” và ăn cũng cho “lấy có”. Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu “hai đứa gặp nhau” (Tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng !),ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi “hai đứa hẹn hò” (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không ?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó. Chao ôi ! Đẹp quá ! Dễ thương quá ! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…

-oOo-

Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi. Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột. Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh:

– Georges ! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nỗi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ !

Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu.

Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật ! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa :

– Ông chờ đón bạn à ?

Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời :

– Không ! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.

Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết ! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…

Lại nghĩ đến bà Năm. Bả điệu” lắm ! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả.

Hà ! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó dàng trời ! Người ta nói bả có “gout”. Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái “gout” để vào đâu cho nó nổi ! Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu “Gái không con mà nom cũng mòn con mắt”, nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn !

Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục “điệu” như thường ! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có “tác phong cách mạng” thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng “Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi”, bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn : “Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được”…

Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngã văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài ! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France.

Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ : “Ông Năm !” Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi : “Ông Năm…”

Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt : khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi ! Là vợ tôi đây mà !

Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng : “Mai !” Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp ! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng “Ông Năm” như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt !

Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn : “Sao vầy nè ?”.

Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết : “Sao vầy nè… Trời ?”.

Tiếng “Trời” nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng : nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà “tụi nó” chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy !

Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói :

– Thôi mình về đi em !

Tiếng “em” thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng “em” mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy ! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa : to tròn như mắt đầm, trồng đen lay láy. Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu :

– Để em xách !

Tiếng “em cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm…

Ông vói tay cầm lấy quai túi :

– Để anh xách cho.

Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải :

– Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.

Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra “tụi nó” đày đọa bả đến nước đó ! Bả tội gì ? Tội gì ? Tội vượt biên ? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa ? Vậy tội gì ? Ông Năm nghiến cái căm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra : “Quân khốn nạn !”

-oOo-

Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói :

– Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không ?

Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo :

– Gì không nổi ? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.

Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy ! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy ! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này ! Tội nghiệp !

Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được !

Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh :

– Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.

Bà Năm dịu dàng :

– Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…

Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng “hai đứa” nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi : bây giờ “hai đứa” vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết : họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.

Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi :

– Cây thánh giá này đây ?

Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu : cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng…

Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá.

Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh :

– Để em soạn đồ ra.

Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy ! Ông thấy thương vợ vô cùng.

Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn : vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ…

Vừa làm bà vừa nói :

– Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.

Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm :

– Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.

Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây ? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.

Có tiếng bà Năm nói :

– Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.

Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tìm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn…

Chao ơi ! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa !

Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sửa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răng, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi ! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt !

Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp ! Mười năm xa quê hương…

Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo :

– Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp-phê đó.

Bà Năm nghi ngờ :

– Anh mà làm bếp cái nỗi gì ? Mua ở tiệm thì có.

Ông Năm cười sảng khoái :

– Em lầm rồi ! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi ! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe !

Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng.

Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cáng gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc.

Ông vui vẻ :

– Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em ?

Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng :

– Súp ngon chớ ! Anh học nấu ở đâu vậy ?

Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật :

– Hùm… Không nói đâu ! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết !

Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…

Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra để mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước ! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất.

Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa ! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa ! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được.

Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ : “Mình !”. Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng “mình” nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều. Tiếng “mình” mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng “mình” gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng “mình” cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng “mình” ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến…

Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng “mình” gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm xóc lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, run lên như đang cơn sốt, thân xác gầy còm của vợ. Và tai ông còn nghe những tiếng “mình” đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…

Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ?

-oOo-

Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì…

…Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm, lâu nay, bây giờ bà mới cho biết : hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. “Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy ! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa ?”. Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật !

Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho “nhân dân”. Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất !

Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mưòi năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…

Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.

Mùa thu đó lá rụng thật nhiều…

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở Mùa Thu Cuộc Tình – TRUYỆN NGẮN…. Tiểu Tử

Mộ yêu nước, mộ thực dân

Mộ yêu nước, mộ thực dân

21-6-2022

Năm ngoái một người bạn Facebook hỏi nhưng không nhớ là ai nên góp ý chung ở đây. Câu hỏi là tại sao có Tây Ban Nha trong Liên Quân Pháp-Y Pha Nho đánh Việt Nam rồi bỗng dưng biến mất khỏi chiến tranh thuộc địa?

Trước 1975, chúng ta học về giai đoạn thực dân Pháp bắt đầu xâm chiếm Việt Nam có mặt của Tây Ban Nha và được gọi là liên quân Pháp-Y Pha Nho.

Tây Ban Nha không có ý định chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Lúc đó Tây Ban Nha đã có thuộc địa ở Á Châu là Philippines. Ý định chiếm Việt Nam làm thuộc địa là của Pháp. Nhiều thế kỷ trước đó Tây Ban Nha đã có những dòng tu truyền đạo tại Việt Nam và Cambodia. Vào thời điểm 1850, cả Pháp lẫn Tây Ban Nha đều có các nhà truyền đạo bị triều đình nhà Nguyễn bắt giữ.

Mùa hè 1857, Giám Mục Tây Ban Nha là Jose Sanjurjo Diaz bị bắt và bị kết án tử hình. Trong tuyệt vọng, Tổng Lãnh Sự Tây Ban Nha tại Macao là Nicasio Moral yêu cầu Pháp giúp để bảo vệ mạng sống của Giám Mục Diaz. Lá thư đến trễ, Giám mục Jose Sanjurjo Diaz đã bị tử hình ngày 20 tháng 7, 1857.

Pháp và Tây Ban Nha đều giận và có ý định trừng phạt Việt Nam về tội giết các nhà truyền giáo nên khi Pháp mời Tây Ban Nha tham gia chiến dịch đánh Đà Nẵng Tây Ban Nha nhận lời. Hải quân Tây Ban Nha gồm hai chiến hạm Jorge Juan và Elcano do Đại Tá Oscariz chỉ huy với 500 quân gồm phần lớn là người Philippines.

Chỉ huy quân đội Việt Nam để bảo vệ Đà Nẵng là Tổng thống Quân Vụ Nguyễn Tri Phương vừa được điều từ Nam ra. Vì phương tiện chiến tranh chênh lệch quá xa, danh tướng Nguyễn Tri Phương chủ trương đánh tiêu hao lực lượng địch thay vì đương đầu trực tiếp với hỏa lực của Pháp và Tây Ban Nha.

Trận Đà Nẵng là một chiến thắng của Việt Nam dù phải chống lại một quân đội hai nước, đúng ra là ba nếu tính cả Philippines, với võ khí vượt trội. Riêng hải quân Pháp có 12 tàu chiến và Tây Ban Nha có 2 tàu chiến. Số lượng tàu chiến khác nhau vài chiếc phát xuất từ nguồn trích dẫn. Chiến lược của Nguyễn Tri Phương chứng tỏ có tác dụng. Sau 6 tháng bị phục kích và bịnh tật, liên quân Pháp và Tây Ban Nha để lại một số đơn vị, chuyển hướng mục tiêu vào tấn công Gia Định.

Ngày 16 tháng 2, 1859, liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công Gia Định. Quân Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của tướng Charles-Gabriel-Felicite Martin des Pallires. Tháng 2, 1861, Phó Đô Đốc Pháp Leonard Charner từ Thượng Hải đến Sài Gòn để tiếp tục kế hoạch đánh chiếm Việt Nam. (Filipino Involvement in the French-Spanish Campaign in Indochina 1858 – 1862)

Vào thời điểm này quân Tây Ban Nha dưới quyền Đô Đốc Bernardo Ruiz de Lanzarote rút lui theo lời yêu cầu của Pháp. Các đơn vị người Philippines, thuộc địa của Tây Ban Nha, rút khỏi Sài Gòn năm 1862. Tướng Carlos Palanca Gutiérrez sau này lên chức Thống Chế ghi lại các chi tiết củas cuộc chiến xâm lược Việt Nam của Pháp và Tây Ban Nha trong giai đoạn từ 1857 đến 1862 trong tác phẩm: “La Reseña histórica de la Expedición de Cochinchina” (The Historical Review of the Cochinchina Expedition).

Danh tướng Việt Nam bảo vệ thành Gia Định cũng là Nguyễn Tri Phương. Trong trận này ông bị thương. Sau đó được điều ra bảo vệ miền Bắc và bị trọng thương khi bảo vệ thành Hà Nội. Vị tướng lãnh thao lược nhất của các triều đình nhà Nguyễn đã “chịu đói nhịn đau mà chết” ngày 20 tháng 12, năm 1873 (nhằm ngày 1 tháng 11 Âm Lịch), thọ 73 tuổi.

Hôm kia đọc trên facebook của một người bạn và thấy hình ảnh ngôi mộ của danh tướng Nguyễn Tri Phương.

Mộ Nguyễn Tri Phương. Ảnh: Kienthuc.net.vn

Nhìn ngôi mộ cổ đầy cỏ dại như đã bỏ hoang từ lâu lắm mà không khỏi đau lòng. Dĩ nhiên không cần phải xây dựng theo cách khoe khoang các cổng làng ở Việt Nam hiện nay nhưng ít nhất một việc mà ai cũng làm được là giữ gìn sạch sẽ, trang nghiêm.

Khu mộ Trần Đại Quang. Ảnh trên mạng

Nhìn ngôi mộ của danh tướng suốt đời hy sinh cho dân tộc Nguyễn Tri Phương và các khu mộ của Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang v.v… người có nhận thức sẽ hiểu ra Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới nơi chế độc thực dân vẫn còn tồn tại, chỉ đổi màu.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Mộ yêu nước, mộ thực dân

Những giọt nước mắt của những tên quan lại bị lộ có khác gì nhau

Những giọt nước mắt của những tên quan lại bị lộ có khác gì nhau

Bởi AdminTD

9-6-2022

Ông Tất thành Cang khóc trước toà. Ảnh trên mạng

Lãnh đạo của xứ ta thời nay dù xuất thân nguồn gốc khác nhau, nhưng khi ngồi được vào ghế lãnh đạo cũng như lúc sa cơ, ra toà, đều xử sự giống nhau của một lũ hèn. Từ Bộ trưởng cho đến Thứ trưởng, từ Cục trưởng cho đến Chủ tịch, Bí thư. Lúc đương chức thì hét ra lửa, nịnh trên nạt dưới, thái độ ngông nghênh, xem dân bằng nửa con mắt. Khi còn ghế, tìm mọi cách vơ vét, chiếm đất, chiếm nhà của dân. Xây nhà to, đào hầm chứa bạc vàng. Mặt lúc nào cũng nghếch lên trời, đi đứng khệnh khạng.

Xuất thân từ thôn quê hay dân thành thị, đa số là từ nghèo khó phấn đấu, nịnh bợ mà lên. Đến khi có quyền chức thì bắt chước sống như quý tộc, rượu ngon, gái đẹp, món ăn cao cấp đắt giá hơn vàng. Sống như thế nhưng đến đâu cũng phát biểu đạo đức cách mạng, vì dân, vì nước. Quan ngày nay còn quan liêu, hạch sách dân còn hơn quan chức thời phong kiến, thời Pháp thuộc. Bởi chúng chẳng còn lương tâm, chẳng còn bổn thiện. Chỉ biết bòn rút, tham nhũng, hối lộ cho tiền đầy túi, vàng bạc đầy kho.

Tất Thành Cang là một trong những khuôn mặt đấy. Từ một bộ đội xuất ngũ, hoạt động Đoàn Thanh niên rồi ngoi lên thành quan chức cấp cao của thành phố lớn nhất nước, năng động nhất nước, đóng góp cho ngân sách nhiều nhất nước. Bằng cấp khoe tá lả nhưng nghe đồn thời đi học toàn copy với paste. Nhưng cần chi, chỉ cần có băng cao cấp lý luận từ trường Đảng ra thì làm chi mà không được. Tài năng chưa bộc lộ được gì nhưng tài đục khoét, hối lộ, tham ô thì đúng là thượng thừa, đàn anh cũng phải nể mặt.

Được chống lưng bởi quan thầy, y xem trời bằng vung, bán đất, bán ruộng, sang tay này qua tay kia tha hồ hốt bạc. Ăn chơi khét tiếng trời Nam. Ăn nhậu mỗi đêm như vua chúa, rượu ngoại đắt như vàng tràn như suối. Đi công tác cũng có đàn em bay theo với nhiều thùng rượu quý.

Đùng một cái, trở thành người bị lộ, y lật đật sang nhà, bán vi la, ly dị vợ để phân tán tài sản. Ngày ra toà, mang dép nhựa, mặc áo sờn, diễn giỏi còn hơn các danh hài. Đến khi cho phép nói lời cuối, khóc như cha chết, từ hài kịch chuyển sang bi kịch, hai mắt đỏ lòm. Cha ông ta gọi là nước mắt cá sấu.

Nhưng đố lừa được ai. Dân biết hết, dân rành từng tên một. Tất Thành Cang giờ Tan Thành Cứt, diễn chẳng khác gì cả đám cán bộ lãnh đạo ra toà xưa nay. Tay nào cũng diễn, tay nào cũng khóc lóc xin tha. Bộ mặt đạo đức giả rớt xuống, bộ mặt của kẻ nói láo rơi xuống, bộ mặt vênh váo một thời bay đi đâu mất. Hèn nhát, nhục nhã chẳng có chút bản lĩnh nào của một người đã từng hét ra lửa. Hoá ra đây mới là bản chất thật của chúng. Chúng chỉ là một lũ hề múa may theo đúng một kịch bản y chang nhau.

Chiếm đất của dân, gieo tội ác, làm giàu trên xương máu của đồng bào đến lúc phải đền tội. Tiếng rên siết của người dân Thủ Thiêm còn đó, nỗi oan khiên của dân còn đó, trốn sao khỏi quả báo. Lưới trời thưa mà khó thoát. Những giọt nước mắt cá sấu giả tạo làm sao che hết tội lỗi của y và đồng bọn.

Y đã bị lộ, bị ra toà. Còn bao nhiêu kẻ như y hay thầy y chưa lộ mặt, vẫn còn nhởn nhơ. Rồi có ngày chúng sẽ bị lôi ra hết và rồi cũng sẽ có những giọt nước mắt giữa toà như hôm nay y đã giả khóc, kêu than. Lúc đấy lòng dân mới hả dạ.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Chức năng bình luận bị tắt ở Những giọt nước mắt của những tên quan lại bị lộ có khác gì nhau