Trước khi bước xuống xe, cô mỉm cười với ông

My Lan Pham

Vào buổi sáng ngày 11 tháng 3 năm 2011, Yasuo Takamatsu lái xe đưa vợ mình là Yuko đến nơi làm việc. Hôm đó trời có tuyết. Trước khi bước xuống xe, cô mỉm cười với ông.

Ông không hề biết rằng đó sẽ là lần cuối cùng ông được nhìn thấy gương mặt của vợ mình.

Đến 2 giờ 46 chiều, mặt đất rung chuyển.

Một trận động đất mạnh 9,0 độ richter mạnh nhất từng được ghi nhận trong lịch sử Nhật Bản xảy ra ngoài khơi vùng đông bắc. Mặt đất rung lắc suốt sáu phút dài đằng đẵng.

Ba mươi lăm phút sau, điện thoại ông rung lên.

Đó là Yuko.

“Anh có sao không? Em muốn về nhà.”

Ông lập tức gọi lại.

Không có ai trả lời.

Yuko cùng mười hai đồng nghiệp tại ngân hàng 77 Bank ở Onagawa đã chạy lên mái tòa nhà hai tầng khi cảnh báo sóng thần vang lên.

Thực ra có một ngọn đồi ,núi Horikiri chỉ cách đó khoảng một phút đi bộ. Nơi cao ráo. Quy tắc cơ bản để sống sót khi có sóng thần.

Nhưng lệnh sơ tán lại hướng họ lên mái nhà.

Một mái nhà hai tầng.

Không đủ cao.

Khoảng ba mươi phút sau khi họ trèo lên mái, con sóng ập tới.

Trong mười ba người trên mái nhà hôm đó, mười hai người thiệt mạng.

Tám người ,trong đó có Yuko bị cuốn trôi và không bao giờ được tìm thấy.

Cô khi ấy 47 tuổi.

Cô yêu nhạc cổ điển và thích vẽ màu nước.

Cô có một con trai và một con gái.

Yasuo đã yêu nụ cười của cô suốt hai mươi ba năm.

Vài tháng sau, một công nhân dọn dẹp tìm thấy một chiếc điện thoại gập màu hồng trong bãi đậu xe ngập nước của ngân hàng.

Đó là điện thoại của Yuko.

Khi Yasuo sạc pin lên, ông tìm thấy một tin nhắn nháp mà cô chưa kịp gửi.

Chỉ bốn chữ:

“Sóng thần nhiều quá.”

Dấu thời gian là 3 giờ 25 chiều.

Điều đó có nghĩa là trong những khoảnh khắc cuối cùng ấy, cô vẫn còn sống.

Nước đang dâng dần lên mái nhà.

Cô đã cố liên lạc với chồng lần cuối.

Nhưng tín hiệu đã mất trước khi tin nhắn được gửi đi.

Trong hai năm, Yasuo đi tìm Yuko trên đất liền.

Ông đi dọc mọi bãi biển.

Ông lần theo mọi bờ sông.

Ông tham gia các chiến dịch tìm kiếm chính thức.

Ông tự tay dọn dẹp đống đổ nát.

Nhưng ông không tìm thấy gì cả.

Đến tháng 9 năm 2013 khi đã 56 tuổi, và chưa từng một lần đeo mặt nạ lặn ,ông đưa ra một quyết định.

“Nếu cô ấy không ở trên đất, thì cô ấy ở dưới biển.”

Ông đăng ký học lặn biển.

Gia đình lo lắng.

Mọi người nói rằng tìm một người trong đại dương chẳng khác nào tìm một hạt cát giữa tất cả bãi biển trên thế giới.

Yasuo lặng lẽ lắng nghe.

Rồi ông lấy bằng lặn.

Và bước xuống nước.

Từ đó đến nay, ông chưa từng dừng lại.

Mỗi tuần suốt hơn mười ba năm, Yasuo lại lặn xuống vùng nước lạnh và tối ngoài khơi Onagawa.

Ông và người hướng dẫn lặn lưu giữ những tấm bản đồ chi tiết:

  • khu vực nào đã tìm
  • dòng chảy ra sao
  • nơi nào cần kiểm tra lại vì biển luôn dịch chuyển mọi thứ

Cho đến nay, ông đã thực hiện hơn 650 lần lặn.

Ông hiện đã 67 tuổi.

Biển cả đã bào mòn cơ thể ông.

Cái lạnh giờ khó chịu đựng hơn trước.

Mỗi lần lặn lấy đi ở ông nhiều sức lực hơn.

Nhưng ông vẫn đi.

Trong tất cả những lần lặn ấy, ông đã tìm thấy album ảnh, quần áo, và những mảnh vụn của cuộc đời người khác nằm rải rác dưới đáy biển ,những dấu tích lặng lẽ, đau lòng của gần 16.000 người thiệt mạng hôm đó, và 2.500 người giống như Yuko mãi mãi không được tìm thấy.

Riêng Yuko, ông vẫn chưa tìm thấy dấu vết nào.

Và thế nhưng…

“Tôi cảm thấy gần cô ấy nhất khi ở dưới biển,” ông nói.

“Giống như tôi đang đến thăm cô ấy vậy. Khi tôi tìm kiếm, tôi cảm giác cô ấy đang ở đâu đó rất gần.”

Ông không chỉ tìm một thi thể.

Ông đang giữ một lời hứa.

Chúng ta sống trong một thế giới luôn bảo người đang đau buồn rằng phải bước tiếp, phải chấp nhận, phải buông bỏ.

Yasuo Takamatsu lại đưa ra một câu trả lời khác.

Không phải cố chấp.

Không phải phủ nhận.

Mà là một điều lặng lẽ hơn, sâu sắc hơn rất nhiều.

Sự thủy chung.

Là quyết định rằng có những người đáng để ta bước vào bóng tối tìm kiếm dù mất bao lâu, dù nước có lạnh đến đâu, dù mọi xác suất đều chống lại mình.

“Tôi tin chắc cô ấy vẫn muốn trở về nhà,” ông nói.

“Và tôi sẽ đưa cô ấy về. Chừng nào cơ thể tôi còn cử động được, tôi vẫn sẽ đi tìm vợ mình.”

Vì thế, mỗi tuần ông lại mặc bộ đồ lặn.

Kiểm tra thiết bị.

Bước xuống khỏi thuyền.

Và đi tìm cô.

650 lần lặn. Một người đàn ông. Một lời hứa.

Ông vẫn đang tiếp tục tìm kiếm.

Câu chuyện này thật sự rất ám ảnh và đẹp theo một cách buồn đến lặng người.

Mình thấy đây không chỉ là tình yêu, mà còn là lòng thủy chung vượt qua cả thời gian, hy vọng và nỗi đau mất mát.

Theo True Story

My Lan Phạm


 

Phi công được giải cứu : Thành công hay thất bại của Trump ? (RFI)

(RFI)

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm nay, 05/04/2026, trên mạng xã hội Truth Social loan báo đã cứu thoát được viên phi công Mỹ bị mất tích tại Iran sau khi chiếc chiến đấu cơ F-15E bị hệ thống phòng không Iran bắn hạ hôm thứ Sáu, 03/04, trong một chiến dịch giải cứu mà ông đánh giá là « táo bạo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ ».

Đăng ngày: 05/04/2026 

 

Ảnh được cho là xác máy bay Mỹ trong chiến dịch giải cứu phi công bị lâm nạn trên lãnh thổ Iran. Ảnh do Lực lượng Vệ Binh Cách Mạng cung cấp và truyền thông Iran đăng tải ngày 05/04/2026. AFP – –

Minh Anh

Tổng thống Mỹ khẳng định viên phi công này đã bị thương, nhưng « sẽ phục hồi nhanh ». AFP nhắc lại, viên phi công được giải cứu là thành viên đội bay chiếc F-15E hai chỗ ngồi bị bắn rơi trên không phận Iran ; người còn lại trên máy bay đã được tìm thấy an toàn và bình an ngay từ khi chiếc máy bay gặp nạn hôm 03/04/2026.

Tuy nhiên, đối với Teheran, chiến dịch giải cứu này của Mỹ là một « thất bại thảm hại ». Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo đăng nhiều hình ảnh khẳng định đã bắn hạ nhiều máy bay chiến đấu của Mỹ trên không phận Iran. Lực lượng quân sự này còn cho biết thêm là quân đội Mỹ đã sử dụng một phi trường bỏ hoang ở Isfahan để giải cứu viên phi công.

Từ Teheran, thông tín viên Siavosh Ghazi giải thích :

« Iran gọi đây là một thất bại thảm hại cho chiến dịch giải cứu phi công Mỹ. Theo Teheran, một máy bay C-130 cũng như một trực thăng Black Hawk và hai chiếc drone hiện đại của Mỹ là Hermès và MQ9 đã bị bắn rơi trong chiến dịch này. Giao tranh trên bộ đã diễn ra, phía Iran cho biết có 9 người chết và 8 người khác bị thương.


 

MỘT HÔM NAY KHÁC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, cô Maria Mađalêna đi đến mộ”.

“Ngày của Chúa là ngày phục sinh!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Maria ra mộ từ sáng sớm. Nhưng không phải như mọi ngày. Cô mang theo một hôm qua. Một mất mát mà chúng ta cũng biết rõ. Và vì thế, cô không nhận ra – ‘một hôm nay khác!’.

“Sáng sớm, lúc trời còn tối”. Thời gian đã sang ngày thứ nhất, một ngày mới đã bắt đầu – dies nova – nhưng bóng tối vẫn còn đó. Gioan không vô tình đặt hai điều này cạnh nhau! Ánh sáng đã được ban, nhưng chưa được nhận ra. Cô thấy ngôi mộ trống, nhưng không hiểu. Cô đứng trong buổi sáng của một ngày mới, nhưng vẫn nhìn bằng ánh mắt của một đêm cũ. Ngày đã khác nhưng lòng cô chưa khác. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta; có ánh sáng, nhưng đêm vẫn còn. “Trong đêm tối của linh hồn, dòng sông của Thiên Chúa vẫn sáng chảy!” – Gioan Thánh Giá.

Maria thấy; nhưng vẫn ở trong đêm – cũng thế, nhiều khi chúng ta đã thấy, mà vẫn không thoát khỏi đêm. Cô thấy tảng đá đã lăn, ngôi mộ trống; nhưng cô không nhận ra điều đã thấy. “Thấy” không dẫn đến “hiểu”; nó chỉ dừng lại ở dấu vết; Maria vẫn đọc mọi sự theo logic của cái chết: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Cô bị giới hạn bởi một cách hiểu cũ – một cách hiểu được định hình bởi mất mát. Cũng vậy, chúng ta hiểu theo cách của nỗi đau mình mang. Và vì thế, dù đứng ngay trong bình minh của một ngày mới – như Maria – chúng ta vẫn ở lại trong thế giới của ngày hôm qua, nơi mọi sự đã khép lại quá sớm.

May thay, Maria quay lại; và lần này, cô không còn đứng yên. Cô chạy đi tìm Phêrô và người môn đệ kia; cô nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Từ đó, mọi sự bắt đầu chuyển động; không còn đứng yên; không còn khép kín. Phêrô và người môn đệ kia cũng chạy, cũng tìm; họ cùng bước vào trong dấu vết của một điều chưa hiểu. Việc nhận ra không dừng lại nơi một mình Maria; nhưng lan ra, kéo người khác vào cuộc tìm kiếm. Và rồi đây, tại nhà Cornêliô, Phêrô sẽ đứng lên mà nói – bài đọc một. Điều được thấy không còn giữ lại cho riêng mình; nhưng trở thành lời công bố. Mộ trống không mở ra để Đấng Phục Sinh bước ra; nhưng để con người nhận ra. Không đóng kín; nhưng khai mở sứ vụ.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngày không còn là một ý niệm; nhưng là một con đường, một hành trình. Với Ngài, mỗi ngày với Cha luôn là ngày mới; một ngày sinh ra từ tương quan, không từ những gì đã qua. “Đây là ngày Chúa đã làm ra” – Thánh Vịnh đáp ca; ngày của thập giá, cũng là ngày của phục sinh. Ngày mà chúng ta không còn tìm những gì thuộc hạ giới; nhưng hướng lòng về thượng giới – bài đọc hai. Không còn sống từ những điều đã qua; nhưng từ Đấng đang sống. Không còn ở trong cái chết; nhưng trong sự sống – một sự sống không còn bị quá khứ định nghĩa. ‘Một hôm nay khác’ bắt đầu – không từ những gì chúng ta giữ lấy, nhưng từ những gì chúng ta dám trao ban.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gọi tên con giữa đêm không hiểu; cho con nhận ra một hôm nay khác; xin đưa con đi, khỏi nơi con muốn nán lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 20,1-9

1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. 


 

Chúa Khước Từ Những Ai Gieo Rắc Chiến Tranh: Đức Giáo Hoàng Leo XIV Lên Án Những Bàn Tay Vấy Máu

Viet Ba’o

03/04/2026

Nguyên Hòa

Giáo hoàng Leo XIV chào tín hữu từ xe giáo hoàng khi tiến vào Quảng trường Thánh Phêrô để cử hành thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Vatican, ngày 29 tháng 3 năm 2026. Ảnh: Grzegorz Galazka/Archivio Grzegorz Galazka/Mondadori Portfolio via Getty Images.

 Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.”

Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những cuộc xung đột dữ dội, ngôn ngữ chính trị trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.

Hai ngày sau Lễ Lá, vào ngày 31 tháng 3, trả lời báo chí tại Castel Gandolfo, Đức Giáo Hoàng lại nhắc trực tiếp đến Donald Trump. Ngài nói hy vọng Tổng thống Mỹ đang tìm một “lối thoát” để giảm bớt bom đạn, hạ nhiệt chiến tranh và mở đường cho đối thoại. Ngài cũng kêu gọi lãnh đạo thế giới trở lại bàn đối thoại, tìm cách giảm bớt bạo lực, để “bình an, nhất là trong mùa Phục Sinh, có thể ngự trị trong tâm hồn chúng ta.” Ngài nói, như một lời nhấn mạnh rằng hòa bình không đến từ việc đẩy xung đột tới cực điểm, mà từ khả năng dừng lại trước khi quá muộn.

Trong khi ấy Washington lại phát ra một giọng điệu khác hẳn. Chính quyền Trump gia tăng áp lực với Iran, đưa ra những lời đe dọa nhắm vào hạ tầng điện, nước và năng lượng. Họ có thể gọi đó là chiến lược. Nhưng khi mục tiêu bị đẩy sát đến những điều kiện sống còn tối thiểu của dân thường, vấn đề không còn chỉ là đối sách giao tranh, nó trở thành một câu hỏi về giới hạn đạo lý.

Sự đối nghịch càng rõ hơn khi Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, trong buổi lễ cầu nguyện tại Bạch Ốc hôm 25 tháng 3 đã lên tiếng cầu nguyện cho “bạo lực áp đảo” đối với những kẻ mà ông tự cho là “không đáng được thương xót”. Cũng là ngôn ngữ của niềm tin, nhưng một bên đặt niềm tin vào lòng thương xót, bên kia đặt nó cạnh sức mạnh hủy diệt.

Ngôn ngữ bao giờ cũng đi trước hành động, vì thế điều quan trọng của giờ phút này không phải chỉ là chiến tranh, mà là cách người ta nói về nó.

Trump tuyên bố sẽ “xóa sổ” hệ thống năng lượng, điện lực và nước uống của Iran nếu Tehran không nhượng bộ. Người ủng hộ ông có thể xem đó là đòn răn đe mạnh tay. Nhưng với bất cứ ai còn giữ một ý niệm tối thiểu về luật chiến tranh, đây là lời đe dọa chạm đến phần sống còn của xã hội dân sự, nơi có mạng sống của gia đình, người già và trẻ em.

Khi biến những điều kiện sống căn bản để con người tồn tại trở thành áp lực chính trị, chuyện không còn đơn thuần giữa hai nhà nước. Nước uống không phải là một công cụ thương lượng. Điện lực không phải là một con bài chiến thuật. Chúng là nền tảng để con người sống còn, và luật nhân đạo quốc tế từ lâu đã nhìn chúng như những hạ tầng phải được bảo vệ đặc biệt.

Chính quyền Trump lâu nay vẫn có tài đổi tên sự việc. Phá hủy được gọi là răn đe. Ép buộc được gọi là đòn bẩy. Làm dân thường khốn đốn được gọi là tạo ưu thế trên bàn thương lượng. Nhưng đổi tên không có nghĩa đổi được bản chất. Một chính quyền sẵn sàng đẩy thường dân tới chỗ không nước, không điện, không lối sống còn thì đã sẵn sàng vượt rào những chuẩn mực nhân đạo căn bản.

Ở điểm này, tiếng nói của Đức Leo XIV trở nên quan trọng, vì giữa lúc rất nhiều người nói như thể sức mạnh là thứ luật duy nhất còn lại, ngài nhắc rằng vẫn có những giới hạn luân lý không được bước qua.

Đức Leo XIV là vị giáo hoàng người Mỹ đầu tiên, sinh tại Chicago, nhưng đời mục vụ của ngài lại gắn với những vùng nghèo, những nơi bấp bênh, những cộng đồng sống trong sợ hãi và dịch chuyển. Khi ngài lên tiếng về chiến tranh hay di dân, ngài không nói bằng tiếng nói của người đứng xa nhìn vào.nói của, mà nói bằng tiếng nói của một người hiểu thế nào là thân phận bị dồn ép.

Vì thế, lập trường của ngài về di dân cũng nhất quán với lập trường về chiến tranh. Ngài nhiều lần kêu gọi phải đối xử nhân đạo với người di dân, nhắc rằng họ không phải là gánh nặng, càng không phải là những con số vô cảm, trong khi chính quyền Trump tiếp tục đẩy mạnh bắt bớ, trục xuất và siết chặt di trú bằng một thứ không khí chính trị đặt nỗi sợ lên trên phẩm giá con người.

Trong bài giảng Lễ Lá, Đức Leo XIV nói: “Hãy đặt vũ khí xuống. Hãy nhớ rằng anh chị em là anh chị em với nhau.” Câu ấy nghe tưởng đơn sơ. Nhưng giữa thời buổi này, nói được như thế đã là đi ngược dòng. Bởi lẽ chính trị hiện thời, ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ không xây trên ý niệm con người là anh em với nhau, mà cho rằng người khác mình là mối đe dọa, là vật cản phải dẹp bỏ.

Trong hồ sơ Iran, điều đó hiện ra rất rõ. Từ đầu cuộc chiến, quân đội Mỹ nhắm chủ yếu vào các mục tiêu quân sự và chương trình hạt nhân. Nhưng khi lời đe dọa mở rộng sang cả hệ thống nước và năng lượng, thì giới hạn giữa mục tiêu quân sự và hạ tầng dân sự trở nên mong manh, nguy hiểm. Chính ở chỗ ấy, thế giới cần nghe lại những tiếng nói nhắc nhở không phải cái gì có thể làm thì cũng được phép làm.

Đức giáo hoàng còn nói mạnh hơn nữa: “Chúa không nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, mà khước từ họ; vì tay họ vấy máu.” Câu nói này không bàn chiến thuật. Cũng không đứng về một phía quân sự nào. Nó chỉ đặt ra một sự thật xưa cũ mà thời đại hôm nay cố quên: không phải mọi sức mạnh đều chính đáng chỉ vì nó mạnh.

Vatican, trong giờ phút này, đang làm điều mà rất ít trung tâm quyền lực còn muốn làm: nói về lương tri. Nhưng không nói như một chính quyền, không nói như một bộ tham mưu, mà như một hồi chuông cảnh tỉnh. Dù giữa chiến tranh, vẫn có những điều không thể mặc cả: nước uống, bệnh viện, trường học, và phẩm giá của những người trong tay không có súng.

Ngay cả những cử chỉ biểu tượng của Đức Leo XIV cũng mang cùng một ý nghĩa. Việc ngài không sang Hoa Kỳ trong năm nay, dù đã được mời, mà chọn Lampedusa vào ngày 4 tháng Bảy là một quyết định có sức nặng. Lampedusa là nơi người tị nạn trôi dạt tới, là bờ chạm đầu tiên của những kiếp người bị xua đẩy khỏi quê hương. Chọn nơi ấy vào đúng ngày Hoa Kỳ đánh dấu 250 năm lập quốc là một cách nhắc nhở rõ ràng rằng nước Mỹ được dựng nên từ người di dân – câu hỏi là nước Mỹ hôm nay còn nhớ điều đó hay không.

Sau cùng, điều Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói không chỉ dành cho người Công giáo, mà dành cho bất cứ ai còn tin rằng quyền lực cần phải giới hạn. Một quốc gia có thể mạnh. Một lãnh tụ có thể cứng rắn. Nhưng nếu sức mạnh ấy không còn biết sợ điều sai, nếu sự cứng rắn ấy biến thành thói quen của tàn nhẫn, thì phần thua thiệt đầu tiên không chỉ là đối phương, mà chính là phẩm giá của con người.

Trump có thể tin rằng đe dọa là con đường ngắn nhất để buộc đối phương lùi bước. Có thể, trong một khoảnh khắc nào đó, nó đem lại kết quả. Nhưng lịch sử không chỉ nhớ ai thắng trong một cuộc mặc cả, mà sẽ nhớ ai đã sẵn sàng đẩy cả một dân tộc đến bờ vực không nước, không điện, không hy vọng, chỉ để đổi lấy một lợi thế trên bàn thương lượng.

Lời của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Chúa Nhật Lễ Lá sau cùng không chỉ là một lời giảng lễ. Đó là lời nhắc rằng chiến tranh không bao giờ chỉ được đo bằng thắng bại. Nó còn phải được đo bằng những gì con người chấp nhận làm, và những gì con người từ chối làm, dù đang nắm trong tay quyền lực lớn đến đâu.

Và thế giới này, nếu còn giữ được bao nhiêu lòng tin vào điều thiện, cũng tùy ở việc con người còn nghe được bao nhiêu từ lời giảng của ngài trong Chúa Nhật Lễ Lá vừa qua:

“Anh chị em thân mến, đây là Thiên Chúa của chúng ta: Đức Giêsu, Vua Hòa Bình, Đấng khước từ chiến tranh, Đấng mà không ai có thể lợi dụng để biện minh cho chiến tranh. Người không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, nhưng loại bỏ chúng và nói: ‘Cho dù các ngươi có cầu nguyện nhiều, Ta cũng chẳng nghe: tay các ngươi vấy máu’ (Is 1:15).”

(Đức Giáo hoàng Leo XIV, Chúa nhật Lễ Lá).

Nguyên Hòa 


 

Một năm ‘Ngày Giải phóng’: Cách thuế ông Trump thay đổi thế giới (BBC)

(BBC)

Tác giả, Natalie Sherman

Vai trò, Phóng viên Kinh doanh

4 tháng 4 2026

Khi Tổng thống Mỹ Donald Trump phát động cuộc chiến thương mại hồi tháng Tư năm ngoái, ông đã hứa hẹn một kỷ nguyên mới cho nước Mỹ – cam kết khôi phục ngành sản xuất, tăng ngân sách chính phủ và mở ra các thị trường mới.

Một năm sau, thuế quan tại Mỹ đang ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ, với thuế suất có hiệu lực ở mức trung bình khoảng 10%, tăng từ khoảng 2,5% vào đầu năm ngoái.

Dưới đây là bốn cách mà thuế quan Mỹ đã thay đổi thương mại toàn cầu.

1. Mỹ và Trung Quốc gia tăng rạn nứt

Ông Trump tạo ra cú sốc toàn cầu vào “Ngày Giải phóng” hồi tháng Tư năm ngoái khi công bố mức thuế tối thiểu 10% đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu – và nhắm vào hàng hóa từ một số quốc gia, chẳng hạn như Trung Quốc, với mức thuế cao hơn nhiều.

Khi Trung Quốc đưa ra các mức thuế đáp trả của mình, cuộc chiến ăn miếng trả miếng đã đẩy thuế quan lên tới ba chữ số và trong vài tuần đã khiến thương mại giữa hai cường quốc này gần như đình trệ.

Những căng thẳng đó cuối cùng đã lắng xuống. Đến cuối năm 2025, hàng hóa Trung Quốc phải chịu mức thuế cao hơn 20% so với đầu năm.

Thương mại giữa hai nước bị ảnh hưởng nặng nề.

Giá trị hàng nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc đã giảm mạnh khoảng 30% vào năm ngoái. Hàng hóa xuất khẩu từ Mỹ sang Trung Quốc cũng giảm tương tự, hơn 25%.

 Đến cuối năm ngoái, hàng hóa Trung Quốc chiếm chưa đến 10% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ – tương đương với mức năm 2000 và giảm so với hơn 20% năm 2016, năm ông Trump lần đầu đắc cử.

Việc nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam và Mexico tăng lên, vốn là các quốc gia doanh nghiệp Trung Quốc tăng cường đầu tư, cho thấy mối quan hệ kinh doanh giữa hai nước chưa hoàn toàn tan vỡ.

Nhưng các số liệu cho thấy sự tách rời manh nha từ nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump cuối cùng đã đến, theo giáo sư Davin Chor, chủ nhiệm bộ môn toàn cầu hóa tại Trường Kinh doanh Tuck thuộc Đại học Dartmouth.

Khi nói đến các lô hàng trực tiếp, “sự thay đổi là rất rõ rệt và mang tính xoay chuyển”, ông nói.

Giáo sư Chor cho biết sự thay đổi lớn xảy ra năm ngoái cho thấy các công ty đã hành động theo những kế hoạch đã được thực hiện từ lâu. Ngay cả khi ông Trump không khôi phục lại các loại thuế mạnh mẽ nhất, sự đứt gãy vẫn sẽ kéo dài, ông nói thêm.

“Tôi nghĩ không nên kỳ vọng mọi thứ sẽ trở lại như bình thường,” ông đánh giá.

2. Đối tác thương mại tìm kiếm nguồn cung ứng khác

Thuế quan đã buộc các đối tác thương mại của Mỹ, như Canada, phải tìm kiếm các thị trường khác

Những thay đổi của ông Trump đối với thuế quan của Mỹ có phạm vi ảnh hưởng rộng hơn nhiều so với tuyên bố ở Ngày Giải phóng. Ông cũng tăng thuế đối với các mặt hàng cụ thể như thép, gỗ và ô tô, đồng thời bãi bỏ các quy định cho phép các lô hàng trị giá dưới 800 USD miễn thuế vào nước này, cùng với nhiều biện pháp khác.

Mặc dù có các loại thuế mới, nhập khẩu của Mỹ vẫn tăng hơn 4% vào năm ngoái – tốc độ chậm hơn so với năm 2024 – nhưng khó có thể coi là bằng chứng cho thấy sự suy giảm của chủ nghĩa biệt lập.

Tuy nhiên, các biện pháp này đã khiến nhiều công ty ở các quốc gia khác tìm kiếm người mua ngoài Mỹ, khi các nhà lãnh đạo chính trị chạy đua để củng cố các mối quan hệ thương mại với các quốc gia khác.

Điều đó thậm chí đúng với một nước như Anh, quốc gia phải đối mặt với mức thuế tương đối hạn chế là 10% đối với hàng hóa của mình.

Mặc dù Mỹ vẫn là điểm đến hàng đầu cho hàng hóa của Anh vào năm 2025, nhưng thị phần đã giảm, trong khi các quốc gia như Đức, Pháp và Ba Lan lại tăng.

“Một số người có thể ngạc nhiên – thương mại toàn cầu nói chung… đã duy trì khá tốt,” giáo sư kinh tế Jun Du của Đại học Alston cho hay. Nhưng bà nói thêm rằng “cần phải tái cấu trúc rất nhiều”.

Mỹ đã thuyết phục thành công một số quốc gia đồng ý với những thay đổi thương mại nhằm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp Mỹ, như nông dân, bán hàng ra nước ngoài.

Nhưng nỗ lực của ông Trump cũng đã làm mất lòng các đồng minh, thúc đẩy những thay đổi trái ngược với lợi ích của Mỹ – ngay cả với trường hợp Canada, nơi ông Trump rốt cuộc cũng đã miễn thuế cho phần lớn hàng hóa nhờ một hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ.

Mới đây, Canada đã đồng ý cắt giảm mạnh thuế quan đối với hàng ngàn xe điện do Trung Quốc sản xuất, từ mức 100% xuống còn khoảng 6,1%. Bước đi này đánh dấu một sự xoay trục đột ngột từ Mỹ sang Trung Quốc và là một tin đặc biệt xấu đối với các hãng xe Mỹ vốn từ lâu đã thống lĩnh thị trường Canada.

Điều gây lo ngại “không phải là mức thuế quan mà là chủ nghĩa đơn phương”, theo Giáo sư Petros Mavroidis của Trường Luật Columbia.

3. Leo thang căng thẳng với đồng minh

Căng thẳng do thuế quan gây ra đã lan sang các khu vực khác

Căng thẳng từ thuế quan đã lan sang các lĩnh vực phi thương mại.

Lượng khách Canada du lịch đến Mỹ năm 2025 đã giảm 20%, gây thiệt hại cho nền kinh tế nước này hơn 4 tỷ đô la, theo ước tính của Hiệp hội Du lịch Mỹ.

Thuế quan cũng làm phức tạp thêm nỗ lực của Mỹ trong việc tập hợp sự ủng hộ cho các vấn đề lớn nhỏ, cho dù đó là cuộc chiến ở Iran hay việc gia hạn lệnh cấm thuế quan kéo dài 28 năm đối với các giao dịch điện tử, chẳng hạn như phát trực tuyến, Giáo sư Mavroidis cho hay.

“Làm sao có thể yêu cầu hợp tác khi bạn gây khó khăn cho họ về thương mại?” ông nói. “Bạn mất đi quyền lực mềm, vốn là lợi thế lớn nhất của Mỹ. Tất cả những điều này giờ đã biến mất và làm thế nào để gầy dựng lại?”

Mặc dù các biện pháp trả đũa thương mại trực tiếp chống lại Mỹ vẫn còn hạn chế, nhưng không có gì đảm bảo rằng mô hình đó sẽ tiếp tục, nhà kinh tế Michael Pearce của Oxford Economics bình luận. Ông nhấn mạnh rằng lập trường của ông Trump đã cổ xúy các quốc gia khác phát triển các chính sách bảo hộ mậu dịch của riêng họ.

“Đó là rủi ro lớn – rằng theo thời gian, chúng ta bắt đầu thấy sự trả đũa theo những cách khác,” ông nói. “Đó là cách mà thiệt hại từ cuộc chiến thương mại có thể lan rộng.”

4. Giá cả ở Mỹ cũng tăng

Các mức thuế mà ông Trump đe dọa áp đặt vào Ngày Giải phóng và gây ra nhiều lo ngại thì rốt cuộc cũng đã được giảm nhẹ, sau khi tổng thống miễn trừ nhiều mặt hàng và đạt được thỏa thuận với các quốc gia và áp dụng mức thuế thấp hơn.

Những lời hứa đao to búa lớn mà ông đưa ra khi đó cũng không thành hiện thực.

Ngành sản xuất đã suy giảm trong phần lớn năm ngoái, trong khi đầu tư nước ngoài vào Mỹ cũng giảm, bất chấp cam kết của một số công ty, chẳng hạn như các nhà sản xuất dược phẩm, về việc tăng chi tiêu, theo phân tích của Tax Foundation dựa trên dữ liệu của chính phủ.

Sau đó, vào tháng Hai, Tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ hoàn toàn các mức thuế áp dụng vào Ngày Giải phóng, thậm chí còn đặt câu hỏi về sự gia tăng doanh thu thuế quan mà chính phủ thu được năm ngoái. Mỹ hiện phải hoàn trả hơn một nửa trong số 260 tỷ đô la mà họ đã thu được.

Nhà Trắng khẳng định sẽ cần thời gian để các chính sách của họ mang lại hiệu quả, lặp lại những lời hứa đầu tư lớn từ các công ty và quốc gia.

Nhưng hiện tại, hậu quả chính của thuế quan ở Mỹ là những khó khăn trong kinh doanh và giá cả cao hơn đối với người tiêu dùng.

Khoảng 55% các khoản phí mới đã bị chuyển sang túi người tiêu dùng vào năm ngoái, theo ước tính của Goldman Sachs hồi tháng 10. Điều đó đã góp phần đẩy tỷ lệ lạm phát của Mỹ năm ngoái tăng khoảng nửa điểm phần trăm lên khoảng 3%, so với mức lẽ ra đạt được nếu không có thuế quan, ông Pearce nhận định.

Với việc khả năng chi tiêu là mối quan tâm hàng đầu của nhiều cử tri, vấn đề này đã làm phức tạp thêm lập luận của Đảng Cộng hòa trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11.

Nhưng mặc dù thuế quan đã ảnh hưởng đến chi tiêu của người tiêu dùng và hoạt động kinh doanh, nền kinh tế vẫn tăng trưởng 2,1%, với tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 12 ở mức 4,4%.

“Thuế quan đã tạo ra rất nhiều ồn ào, nhưng tôi nghĩ khó có thể nói rằng điều đó đã đem đến tác động kinh tế vĩ mô cực kỳ tiêu cực,” ông Pearce nói.

Nhà Trắng cam kết sau phán quyết của Tòa án Tối cao sẽ khôi phục lại các chính sách này bằng các đạo luật khác. Việc ông Trump thúc đẩy mạnh mẽ đến mức nào trong thời gian chuẩn bị cho cuộc bầu cử vẫn còn phải chờ đợi.

“Tôi không nghĩ chúng ta sẽ quay trở lại mức thuế được công bố trong Ngày Giải phóng,” bà Erica York, phó chủ tịch chính sách thuế liên bang tại tổ chức nghiên cứu Tax Foundation, dự báo.


 

 Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)- Cha Vương

 Chúc bạn và gia đình một ngày bình an trong Tình Yêu mạnh hơn sự chết của Thiên Chúa nhé. Xin luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho toàn thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 7: 04/04/2026. (n16-22)

TIN MỪNG: Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói : “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ? 6 Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, 7 là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)

SUY NIỆM: Mấy ngày qua bạn suy niệm 7 lưỡi gươm đâm vào tim Mẹ, bạn đã cảm nhận được những khoảnh khắc đau buồn của Mẹ Maria khi theo Con mình trên đường tới pháp trường, chứng kiến con bị đóng đinh, và đứng dưới chân thập giá để nhìn người ta dùng đòng đâm thấu trái tim của con bà, rồi đau đớn ôm lấy xác con trong vòng tay của mình. Hôm nay là Thứ 7 Thánh. Trọng tâm suy niệm và cầu nguyện của ngày hôm nay là “sống trong thinh lặng và mong đợi”. Thiết tưởng rằng bạn đã có một lần tham dự buổi canh thức cầu nguyện của người quá cố. Người đó có thể  là người thân yêu của bạn mới qua đời. Cảnh thinh lặng và mong đợi nói lên mối chân tình sâu đậm trong niềm tin vào Đức Kitô sống lại từ cõi chết. Chính trong tình yêu này mà tất cả những người tin vào “xác loài người ngày sau sống lại; tôi tin hằng sống vậy” có được mối dây liên hệ thắm thiết đang nối kết trong một không gian thinh lặng tràn đầy sức mạnh của đức tin. Vậy hôm nay mình mời bạn hãy ôn lại những khoảnh khắc đó để xin Chúa tăng thêm niềm tin cho bạn nhé.

LẮNG NGHE: Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. (Rm 6:8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy những điều trong chiều sâu của đức tin đó là bên kia thân xác bầm dập, bên kia nơi an táng và tảng đá che giấu Chúa Giêsu là sự sống và niềm vui phục sinh mà Chúa hứa ban cho những ai tin vào Chúa. Lạy Chúa xin tăng thêm niềm tin cho con và đừng để con nao núng trước cảnh hư nát mau qua của thế gian này.

THỰC HÀNH: Làm một việc hy sinh trong ngày hôm nay để cầu nguyện cho các ACE tân tòng nhé.

From: Do Dzung

*********************

Hứa Với Chúa – Hiền Thục

ĐÊM NGÀI KHÔNG NGỦ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Đó là đêm Đức Chúa canh thức để đưa họ ra khỏi đất Ai Cập!”.

“Này là đêm xiềng xích bị bẻ tung!” – Exsultet.

Kính thưa Anh Chị em,

Đêm nay không chỉ là một đêm tưởng niệm, nhưng là một đêm đang tiếp diễn. Đây là đêm xiềng xích tử thần bị bẻ tung. Và Thiên Chúa vẫn hành động: từ đêm tạo dựng đến đêm Abraham; từ đêm Xuất Hành đến đêm nghĩa địa… khi mọi sự tưởng như kết thúc, thì chính lúc ấy, Ngài khởi sự. Chỉ khi hồi tưởng, chúng ta mới nhận ra: đó là những ‘đêm Ngài không ngủ’.

Trong Thánh Kinh, đêm không chỉ là thời gian, nhưng còn là không gian, nơi Thiên Chúa ưa chọn để hành động. Từ buổi đầu, khi “bóng tối bao trùm vực thẳm”, Ngài không xua đêm; nhưng từ đêm, Ngài tạo ánh sáng. Với Abraham – được hứa giữa đêm – người đếm các vì sao; nhưng đêm cũng trở thành một “tentatio” – thử thách – nơi lời hứa và dao sát tế con cùng xuất hiện. Trong đêm Xuất Hành, khi “bên này không thấy bên kia”, Ngài không chọn lúc thấy rõ, nhưng lúc mù mịt; và chính ở đó, lối đi được mở ra. Và nơi đêm mồ, khi mọi sự tắt lịm, Ngài khởi sự một điều mới. Thiên Chúa không vội hành động theo cách chúng ta chờ. “Nếu Thiên Chúa xem ra chậm đáp lời, là vì Ngài đang chuẩn bị một ân ban tốt hơn!” – Augustinô.

Nếu đêm là nơi Thiên Chúa hành động, thì đêm ấy đạt tới đỉnh trong biến cố phục sinh. Tin Mừng không kể lại khoảnh khắc Đức Kitô sống lại; mọi sự xảy ra trong thinh lặng. Các phụ nữ đến khi trời còn tối, chỉ thấy tảng đá đã lăn ra – ngôi mộ trống. Phục sinh không phải là điều được thấy, nhưng là điều được nhận ra. Chính trong khoảng không ấy, đức tin được khai sinh. Có những lúc trong đời, đứng trước những đêm mộ trống như thế – và chỉ khi ở lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa vẫn hành động – đó là những ‘đêm Ngài không ngủ’.

Phục sinh không phải là một hành động bên ngoài, nhưng là một “anastasis” – đứng dậy từ bên trong; không ai thấy, vì đó không phải là một biến cố để quan sát, nhưng là một chuyển động quyết định của sự sống. Cái chết không bị phá vỡ từ bên ngoài, nhưng bị xuyên thủng từ bên trong. Và nếu không có một sự trỗi dậy như thế, thì Phục Sinh nào còn ý nghĩa gì! “Thiên Chúa đang hoạt động trong mọi hoàn cảnh, ngay cả những hoàn cảnh tăm tối nhất!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ sống lại, nhưng đứng dậy từ trong cái chết; Ngài không được kéo ra, nhưng tự trỗi dậy như sự sống không thể bị giữ lại. Và nếu Ngài đã phục sinh như thế, thì Ngài cũng chạm đến chúng ta theo cách ấy: không từ bên ngoài, nhưng từ nơi sâu nhất, nơi chúng ta tưởng đã khép lại; và chính ở đó, không phải tự sức mình, nhưng bởi quyền năng Thiên Chúa, chúng ta được trỗi dậy. Vì thế, điều Ngài làm trong đêm mồ, Ngài vẫn đang làm trong chính chúng ta; giữa bao biến cố, vẫn có những đêm Ngài không ngủ. “Trong đêm tối, Thiên Chúa âm thầm dạy dỗ linh hồn!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự tối sầm, cho con biết ở lại; khi lạc mất phương hướng, cho con tin lối Ngài đang mở; và trong đêm tối nhất, cho con nhận ra: Chúa không ngủ!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***************************************************

LỜI CHÚA THỨ BẢY VỌNG PHỤC SINH

Người đã trỗi dậy và đi Ga-li-lê trước các ông.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 28,1-10

1 Chiều ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ. 2 Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên ; 3 diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. 4 Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. 5 Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. 6 Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, 7 rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này : Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.” 8 Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.

9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : “Chào chị em !” Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” 


 

Tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục đe dọa phá hủy hạ tầng cơ sở dân sự Iran (RFI)

(RFI)

Cuộc xung đột tại Trung Đông bước sang tháng thứ 2 nhưng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Hôm qua 02/04/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục đưa ra những lời đe dọa Iran, cảnh báo rằng các cơ sở hạ tầng dân sự như cầu đường và nhà máy điện có thể trở thành mục tiêu tiếp theo trong chiến dịch tấn công của Mỹ và đồng minh.

Đăng ngày: 03/04/2026 

 Cầu B1 của Iran tại Karaj bị hư hại sau một cuộc tấn công của Mỹ-Israel nhắm vào Iran, ngày 3 tháng 4 năm 2026. via REUTERS – Majid-Asgaripour

Anh Vũ

Trên mạng xã hội Truth Social, ông Trump viết: “Các cây cầu sẽ là mục tiêu tiếp theo, rồi đến các nhà máy điện!”. Thông điệp đã làm dấy lên lo ngại về khả năng leo thang mới của cuộc xung đột tại Trung Đông.

Tuyên bố này được đưa ra sau khi các cuộc không kích của Mỹ và Israel phá hủy một cây cầu đang xây dựng gần Teheran. Theo truyền thông Iran, vụ tấn công đã khiến 8 dân thường thiệt mạng. Tổng thống Mỹ trước đó đã đăng hình ảnh cuộc tấn công.

Trong một thông điệp khác cùng ngày, ông Trump còn khẳng định chiến dịch phá hủy cơ sở hạ tầng của Iran “thậm chí còn chưa thực sự bắt đầu”, đồng thời cho biết, phần lớn các mục tiêu quân sự của Iran đã bị phá hủy hoặc hư hại nghiêm trọng kể từ khi chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel bắt đầu vào 28/02.

Nhà lãnh đạo Mỹ cũng tiếp tục gây sức ép với chính quyền Teheran, kêu gọi nước này nhanh chóng chấp nhận một thỏa thuận ngừng bắn. “Các lãnh đạo của chế độ mới biết họ cần phải làm gì – và phải làm thật nhanh”, ông Trump nhấn mạnh.

Iran đáp trả bằng tên lửa

Bất chấp các lời đe dọa từ Washington, trong đêm hôm qua, Iran đã phóng thêm nhiều tên lửa về phía Israel. Theo quân đội Israel, các vụ oanh kích này không gây thương vong, nhưng một số thiệt hại đã được ghi nhận tại một nhà ga ở Tel Aviv.

Truyền thông Iran cho biết, lực lượng Vệ binh Cách mạng đã sử dụng tên lửa tầm xa nhắm vào Tel Aviv và khu nghỉ dưỡng Eilat ở miền nam Israel.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi phản ứng mạnh mẽ trước tuyên bố của ông Trump, cho rằng việc tấn công các cơ sở hạ tầng dân sự sẽ không khiến người Iran khuất phục.

Đánh vào các công trình dân sự, kể cả những cây cầu chưa hoàn thành, sẽ không buộc Iran đầu hàng”, ông viết trên mạng xã hội X.

Các quốc gia vùng Vịnh đang phải đối mặt với sự trả đũa của Iran. Kowait, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất hôm nay (03/04) cho biết đang phải đối phó với các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone của Iran. Một cuộc tấn công bằng drone vào nhà máy lọc dầu Mina Al-Ahmadi của Koweit đã gây ra hỏa hoạn tại một số tổ máy, theo hãng tin Kuna.

Cuộc xung đột với Iran do Mỹ và Israel phát động ngày 28/2 đã lan rộng ra toàn khu vực Trung Đông. Theo các ước tính ban đầu, khoảng ba nghìn người đã thiệt mạng, phần lớn ở Iran và Liban.


 

CHÚA GIÊ SU CÓ THẬT SỰ SỐNG LẠI KHÔNG? – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm lễ Phục sinh)

Có dư luận cho rằng Chúa Giê-su không sống lại, chẳng qua là các môn đệ đánh cắp xác Ngài ra khỏi mồ rồi đem đi nơi khác. Sau đó, họ toa rập với nhau, phao tin Chúa đã sống lại, xác Ngài không còn nằm trong mồ nữa. 

Thực hư thế nào? Có bằng chứng nào chứng tỏ Chúa Giê-su đã sống lại không?

Có nhiều bằng chứng khác nhau, ở đây chúng ta chỉ nêu lên bằng chứng thuyết phục nhất.

Đó là các Tông đồ sẵn sàng chịu chết để làm chứng Chúa Giêsu sống lại.

BẰNG CHỨNG CỦA CÁC TÔNG ĐỒ

Nếu Chúa Giêsu chết đi mà không sống lại như lời Ngài báo trước, thì tình huống sau đây sẽ xảy ra:  

-Thứ nhất: Các Tông đồ sẽ nhận ra rằng Thầy Giêsu mà họ đem lòng tin tưởng, yêu mến và ngưỡng mộ bấy lâu không phải là Con Thiên Chúa như lời Ngài nói mà chỉ là người phàm tự xưng là Con Thiên Chúa, vì Ngài cũng chết như bao người khác chẳng hơn gì. Các ông sẽ thất vọng cách cay đắng về Ngài, sẽ oán hận và phế bỏ Ngài vì Ngài đã lừa dối các ông, đã làm cho cuộc đời các ông dang dở: bỏ công theo Ngài ba năm, giờ chẳng được tích sự gì. Thế là, Nhóm Mười Hai môn đệ sẽ như rắn mất đầu và tất nhiên phải rã đám… và Giáo hội Chúa Giê-su mới lập cũng rã theo!

-Thứ hai: Các ông sẽ không bịa đặt chuyện Chúa Giêsu sống lại rồi đi rao truyền khắp nơi để lừa bịp người khác; vì khi làm như thế, các ông chẳng được lợi lộc gì, mà còn mất tất cả, kể cả mạng sống mình.

Thứ ba: Các ông sẽ không điên rồ đến nỗi tiếp tục từ bỏ gia đình, chịu đựng gian lao đau khổ và chịu chết để loan truyền một điều dối trá trắng trợn là Chúa Giêsu sống lại.  

Trong thực tế, các Tông đồ tiếp tục hy sinh tất cả, từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, chấp nhận đòn vọt, tù đày và chấp nhận chịu chết để làm chứng cho mọi người biết Chúa Giêsu đã thực sự sống lại từ cõi chết, vì đó là sự thật rành rành.

Khi người làm chứng sẵn sàng chịu chết và mất tất cả để minh chứng mình nói thật, thì lời chứng của người đó là chân thật. Không ai liều chết và đánh mất tất cả chỉ vì một điều bịa đặt bao giờ. 

Tóm lại, nếu Chúa Giê-su không sống lại, Nhóm môn đệ Ngài sẽ tan tác, rã đám ngay từ đầu và vì thế Giáo hội Chúa Giê-su thành lập cũng tiêu tan từ trong trứng nước chứ không thể tồn tại đến ngày hôm nay.

Chúa Giê-su có thực sự sống lại mới củng cố tinh thần sa sút của các môn đệ bị giao động nặng nề sau cái chết của Chúa Giê-su và các ngài mới có thể hiến dâng thân xác và cuộc sống mình để rao giảng và xây dựng Hội thánh Chúa. 

Lạy Chúa Giê-su,

Chúng con vô cùng diễm phúc vì Chúa chịu khổ nạn để cứu độ chúng con và càng hạnh phúc hơn vì Chúa đã sống lại để mở cửa Trời cho chúng con, dẫn chúng con đến cõi phúc muôn đời. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: NguyenNThu


 

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh gia nhập Ðạo Công Giáo

Tony Nguyễn

 Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh gia nhập Ðạo Công Giáo

California (VietCatholic News 21-10-2016)

– Hôm 19 tháng 10 năm 2016, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được Ðức Giám Mục Mai thanh Lương làm phép Thánh Tẩy gia nhập Ðạo Công Giáo tại nhà thờ Saint Bonaventure Church ở Huntington Beach, California. Ông cũng đã được lãnh nhận bí tích Thêm Sức và Thánh Thể cùng ngày. Hiện diện trong dịp trọng đại này có gia đình thân quyến và các bạn hữu lâu năm của ông đến từ xa, và Bác sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ là người đỡ đầu trong nghi thức Thánh Tẩy. Trong thánh lễ đồng tế có Cha Mai Khải Hoàn, Cha Cao Phương Kỷ, Cha Trần Ðức, phó tế Chu Bình.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là nhà toán học, nhà khoa học không gian xuất sắc của Hoa Kỳ, nhà văn và nghệ sĩ. Ông cũng là cựu Ðại tá Tư lệnh Không Quân Việt Nam (1958-1962). Sau khi từ nhiệm quân vụ, ông sang Hoa Kỳ du học.

Ông sinh năm 1930 tại Yên Bái, sinh viên khoa học Hà Nội, động viên theo học Khóa 1 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức tháng 9 năm 1951; thi đậu vào Trường Võ Bị Không Quân Pháp ở Salon de Provence, 1952; và sau ba năm được huấn luyện ở Pháp và Bắc Phi, tốt nghiệp sĩ quan phi công với nhiều văn bằng đại học trước khi trở về nước phục vụ trong Quân Ðội Quốc Gia.

– Tiến sĩ Khoa học Hàng không và Không gian tại Ðại Học Colorado vào năm 1965;

– Tiến sĩ Quốc gia Toán học tại Ðại Học Paris VI vào năm 1972;

Ông được bầu vào Hàn Lâm Viện Quốc Gia về Hàng Không và Không Gian (Académie Nationale de l’ Air et de l’Espace) của Pháp, từ 1984; và Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics) từ năm 1986.

Trong suốt hai mươi năm (1979- 1999) là phó chủ bút đặc trách môn Cơ Học Vũ Trụ (Astrodynamics) cho nguyệt san Acta Astronautica là tờ báo khoa học chính thức của Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế.

Năm 1986 là viện sĩ chính thức của Viện Hàn Lâm Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics).

Năm 1998, khi về hưu, được Hội đồng Quản trị (Board of Regents) tại Ðại học Michigan phong tặng chức Giáo sư danh dự vì công lao đóng góp cho khoa học và giáo dục.

Trong nhiều năm ông đã được tham gia thuyết trình thỉnh giảng tại rất nhiều đại học lớn cũng như hội nghị quốc tế khắp nơi trên thế giới bao gồm Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Áo, Ðức, Ý, Hoà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Ðiển, Hungary, Israel, Nhật, Trung Quốc, Ðài Loan và Úc.

Về văn học, ông Nguyễn Xuân Vinh lấy bút hiệu Toàn Phong và là tác giả Ðời Phi Công, một cuốn sách bán rất chạy và được giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961.

Ông cũng là tác giả cuốn Gương Danh Tướng do Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Bộ Quốc Phòng, in năm 1957 và tập tùy bút Theo Ánh Tinh Cầu do nhà sách Ðại Nam xuất bản năm 1990.

Khi còn trong quân đội, Toàn Phong đã viết bốn cuốn Sách giáo khoa Toán học bằng tiếng Việt trong đó có hai cuốn do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam xuất bản.

Ông đã viết hàng trăm tiểu luận về toán, động học không gian (astrodynamics) và tối ưu hóa quỹ đạo (trajectory optimization). Các sách viết bao gồm:

– Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics. 1980. Vinh, N. X.; Busemann, A.; Culp, R. D. University of Michigan Press.

– Optimal Trajectories in Atmospheric Flight 1981. Vinh N. X., Studies in Astronautics 2, Elsevier Scientific Publishing Company, Amsterdam.

– Flight Mechanics of High-Performance Aircraft. 1993. Nguyen X. Vinh. Cambridge Aerospace Series. ISBN 052134123X.

Ðồng Nhân & Kingston Bùi


 

Thứ 6 Thánh, tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa- Cha Vương

Hôm nay Thứ 6 Thánh, tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa , ước mong bạn cảm nhận được Tình Yêu tự hiến trên thập giá mà Chúa dành cho bạn hôm nay.  Cầu nguyện cho nhau và cho toàn thế giới nhé.

Cha Vương

Thư 6: 03/04/2026. (n15-22)

MỞ ĐẦU: Lạy Đức Mẹ, xin Mẹ lấy lòng thương xót mà cầu nguyện cho chúng con được nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu cùng nhờ công nghiệp Đức Mẹ, cho được khỏi tội lỗi chúng con đã phạm, cùng những hình phạt chúng con đáng phải chịu. Xin Đức Mẹ phù hộ cho chúng con làm việc này nên, cho được những phép ân xá Hội Thánh ban cho kẻ làm việc kính những sự thương khó Đức Mẹ. (Nêu ra ý chỉ cầu xin….)

LƯỠI GƯƠM THỨ BẢY: Ngày khởi đầu của Con yêu nơi hang đá Be-lem Mẹ hạnh phúc bao nhiêu, thì giờ đây Mẹ đau đớn bấy nhiêu khi xác Con yêu được táng trong mộ đá, còn đâu nữa nụ cười ngây thơ dễ thương của Con những ngày đầu đời; còn đâu nữa tiếng gọi Mẹ ơi khi Con cất những tiếng nói đầu đời; còn đâu nữa tiếng nguyện cầu cùng Mẹ nơi mái nhà Na-ra-rét; còn đâu nữa giọng thuyết giảng của Con đầy sức mạnh của Thiên Chúa và những lời Con an ủi, động viên những kẻ khốn cùng vvv… 

Trái tim Mẹ như muốn ngừng đập theo Con “ Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào ” (Lc.23,55). 

 Môn đệ táng xác Đức Chúa Giêsu vào huyệt đá mới. Khi tắm xác Đức Chúa Giêsu mà táng trong hang đá, đoạn lấy hòn đá lớn mà che ngoài cửa hang thì lòng Đức Mẹ đau đớn như đã chết mà chôn một mồ cùng con vậy, vì khi trước còn xem thấy xác Con mà còn đau đớn khốn cực dường ấy, song le bây giờ chẳng còn xem thấy xác Con nữa, thì biết đau đớn khốn cực là thế nào!  Như dao sắc thâu qua lòng vậy. Khi ngắm sự ấy, thì nguyện một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng.  Xin Đức Mẹ cầu cho chúng con được ăn năn lo buồn mọi tội, vì làm cho mất nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu, cùng xin in những sự thương khó Đức Chúa Giêsu vào lòng chúng con cho đến trọn đời.  Amen.

+ Kinh Lạy Cha 

+ Kinh Kính Mừng

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria! Con đường đi theo Chúa là con đường khổ giá, con đường gánh chịu những vết thương từ bỏ ý riêng, hy sinh, phục vụ vì tình yêu dành cho Chúa và cho nhau, Mẹ đã đi trọn con đường đó, qua đời sống Mẹ sống kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa, để tạ lỗi với Chúa vì sự thờ ơ, thoái thác bước theo con đường Chúa đã vạch sẵn cho con. Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống cầu nguyện, đặc biệt là kết hiệp với Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nhờ đó mà con mới có sức mạnh đi tron con đường Chúa đã hoạch định cho con. Mẹ đã gánh chịu những vết thương lòng của khổ đau, thử thách, buồn phiền, xin Mẹ nâng đỡ con, an ủi con và tất cả mọi người đang mang trong tâm những buồn khổ, xin đồng hành với con và mọi người trong những lúc gặp gian nan và thử thách trong cuộc sống này. Amen

From: Do Dzung

************************

Thập giá tiếng nói tình yêu

NGÀY LỜI THẲM LẶNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Ngài không có ở đây!”.

“Hài Đồng là lời mà thẳm lặng!” – Kinh cầu Hài Đồng.

Kính thưa Anh Chị em,

Thứ Bảy Tuần Thánh đặt chúng ta trước một sự vắng mặt: “Ngài không có ở đây!”. Lời không còn vang lên, nhưng chính trong sự tĩnh mịch ấy, mầu nhiệm vẫn tiếp tục – vì đây là ‘ngày Lời thẳm lặng’.

Hôm nay Giáo Hội không cử hành một nghi lễ phụng vụ nào; chỉ lặng yên chiêm ngắm. Nhưng chiêm ngắm gì? Chiêm ngắm Con Thiên Chúa đang yên giấc trong mồ sâu. Giờ đây, Lời im hơi, lặng tiếng; không phải vì Lời đã chết, nhưng vì Lời đã đi vào thẳm lặng. Một sự thinh lặng không trống rỗng, nhưng chất chứa; không vắng mặt, nhưng ẩn mình, nơi mầu nhiệm tình yêu vẫn tiếp tục hoạt động âm thầm trong chính sự im ắng ấy.

Thứ Bảy xưa, Thiên Chúa nghỉ sau công trình tạo dựng; thứ Bảy này, Thiên Chúa cũng nghỉ khi công trình cứu độ vừa đi qua thập giá. Tất cả như dừng lại, nhưng không phải là kết thúc, mà là một khoảng nghỉ sâu, nơi mọi sự đang đi đến hoàn tất. Thiên Chúa nghỉ, không phải trong một vườn, nhưng trong một nấm mồ; và chính trong sự yên nghỉ ấy, ‘ngày Lời thẳm lặng’ tiếp tục cưu mang mầu nhiệm, chuẩn bị cho một khởi đầu mới.

Mặc dầu không được nhấn mạnh trong phụng vụ, nhưng Hội Thánh vẫn tuyên xưng Đức Kitô xuống ngục tổ tông vào ngày này – Lời đang đi vào nơi không còn lời nào có thể cất lên. Không phải để đưa họ ra, nhưng để hiện diện nơi sâu nhất của phận người: cô đơn và lẻ loi. Vì thế, sự trầm mặc của ngày hôm nay không phải là khoảng trống, nhưng là một hành trình kín đáo, nơi tình yêu đi tới tận cùng của cái chết. Từ thế kỷ thứ tư, thánh Epiphaniô đã xác tín: “Ngài đã ngủ trong thân xác, và đánh thức những kẻ đã ngủ từ muôn đời!”.

Chiều thứ Sáu, khi mọi người ra về, cảnh vật rơi vào thinh lặng, dường như Lời đã biến mất khỏi trần gian… thì vẫn còn một nơi Lời không bị đánh mất: lòng của Mẹ! Đấng đã từng cưu mang Lời, nay vẫn ấp ủ Lời trong lòng; không cần nghe lại, không cần thấy lại, nhưng vẫn trung tín, trong niềm chờ đợi thẳm sâu như trực giác tinh tế của một người mẹ mách bảo. Khi các môn đệ tứ tán, khi niềm tin chao đảo, giữa một ngày không có Lời, vẫn có một đức tin biết chờ; một đức tin không còn cảm thấy gì, nhưng vẫn không bỏ đi. Vì “Đức Kitô đã sống lại, niềm hy vọng của tôi!” – Điệp ca Phục Sinh cổ.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã đi vào thinh lặng không phải để trốn tránh, nhưng để hoàn tất; Ngài không còn nói, nhưng vẫn yêu; không còn hành động hữu hình, nhưng vẫn cứu độ trong âm thầm. Chúng ta cũng vậy, có những lúc không còn ngôn từ để cầu nguyện, không còn cảm xúc để nâng đỡ, chỉ còn một khoảng trống tưởng như vô nghĩa; nhưng chính ở đó, nếu vẫn ở lại với Lời, vẫn tin, vẫn chờ, thì chúng ta cũng sẽ thấy, ‘ngày Lời thẳm lặng’ chỉ là chuyển tiếp của phục sinh! “Đừng ai tuyệt vọng; sự phục sinh của Đức Kitô là niềm hy vọng của chúng ta!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trong những khoảng trống không lời, cho con biết ở lại; trong những thất vọng, cô đơn, giữ lòng con không tắt; khi con tưởng Chúa như xa vắng, cho con vẫn tin!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế