CHẶNG THỨ 7: Chúa Giê-su ngã xuống đất lần thứ hai- Cha Vương

Xin Chúa Thánh Thần thêm sức cho bạn trong những giây phút yếu đuối nhé. 

Cha Vương

Thứ 5: 26/02/2026  (n2-3-23)

CHẶNG THỨ 7: Chúa Giê-su ngã xuống đất lần thứ hai

TIN MỪNG: Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. (Is 53:5)

SUY NIỆM: Chúa Giê-su đã từng được bao nhiêu người hâm mộ bây giờ Ngài bị từ chối, khinh bỉ và bị chà đạp. Sức nặng ngày càng đè nặng trên vai làm cho Chúa ngã xuống đất lần thứ 2 là do việc thiếu nỗ lực biến đổi hoặc hoán cải đời sống. Con người cứ lập đi lập lại cái tội đó mà không gắng sức để quyết tâm thay đổi, họ tiến được một bước về phía trước, và đôi khi lại lùi lại hai ba bước về phía sau. 

XÉT MÌNH: Lướt qua những tội sau đây, tội nào mà bạn cứ lập đi lập lại: lười biếng không làm việc; bài bạc ăn uống rượu chè say sưa quá độ; nhìn ngắm hoặc tưởng nghĩ điều dâm ô, nói những lời dâm ô thô tục, những lời ám hiểu ý tà hoặc xem sách báo, phim ảnh khiêu dâm; tìm thú vui nhục dục bên ngoài cuộc sống hôn nhân, một mình hoặc với người khác; sản xuất, phổ biến sách báo, mua bán phim ảnh khiêu dâm; làm dịp cho người khác phạm những tội trên đây. Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, thánh giá nặng nề đang đè trên thân xác Chúa là hậu quả của tội lỗi con, xin giúp con biết vượt lên mọi yếu đuối thử thách hằng ngày và quyết tâm từ bỏ những tội xúc phạm đến đức khiết tịnh để thân xác, linh hồn con trong sạch xứng đáng là đền thờ cho Chúa Ba Ngôi ngự trị.

From: Do Dzung

*******************

Tâm Hồn Trong Trắng

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

SỰ KHÁC BIỆT NGHIỆT NGÃ GIỮA CÁI TÃ CỦA TRẺ THƠ VÀ NGƯỜI GIÀ

Trong vòng quay của một kiếp người, có những sự lặp lại về mặt sinh học nhưng lại mang những số phận cảm xúc hoàn toàn trái ngược. Một đứa trẻ tè dầm là hình ảnh của sự khởi đầu, của một mầm sống đang lớn lên và cần được bao bọc. Nhưng một người già không may mất kiểm soát bài tiết lại thường bị xem là dấu hiệu của sự tàn úa, của gánh nặng và sự phiền phức. Sự khác biệt trong thái độ của chúng ta trước cùng một hiện tượng vật lý ấy đã phản chiếu một thực tế nghiệt ngã về cách con người nhìn nhận giá trị của nhau dựa trên sự hữu dụng và tương lai. Khi đứa trẻ tè dầm, chúng ta mỉm cười, sẵn lòng dọn dẹp với niềm hy vọng rằng mai này con sẽ lớn, sẽ biết tự chủ. Nhưng khi người già rơi vào hoàn cảnh tương tự, niềm hy vọng ấy dường như đã tắt lịm, thay vào đó là cảm giác mệt mỏi trước một thực tại không thể đảo ngược. 

Chính sự thiên kiến này đã vô tình tạo nên những vết thương lòng sâu sắc cho những người đã đi đến cuối dốc cuộc đời.

Tại sao chúng ta lại thấy việc chăm sóc một đứa trẻ là hiển nhiên và tràn đầy yêu thương? Bởi vì đứa trẻ là biểu tượng của tương lai. 

Mỗi lần thay tã, mỗi lần dọn dẹp đống đổ nát mà trẻ gây ra, người lớn đều coi đó là một khoản đầu tư cho sự trưởng thành. Chúng ta nhìn vào đứa trẻ và thấy cả một bầu trời tiềm năng phía trước. Tiếng cười của trẻ thơ làm dịu đi những vất vả của người mẹ, người cha. Việc trẻ chưa kiểm soát được hành vi của mình được coi là một giai đoạn phát triển tự nhiên, cần thiết và đầy tính nhân văn. Không ai trách một đứa trẻ một tuổi vì nó chưa biết đi vệ sinh đúng chỗ. Ngược lại, người ta còn dành cho nó những lời âu yếm, những cái vuốt ve để vỗ về. Đứa trẻ nhận được sự khoan dung tuyệt đối bởi vì nó “chưa biết”, và thế giới đang chờ đợi nó học hỏi để trở nên hoàn thiện hơn.

Thế nhưng, khi kịch bản ấy lặp lại ở tuổi già, thái độ của chúng ta chuyển từ bao dung sang chịu đựng. Người già tè dầm thường bị coi là phiền phức vì họ đại diện cho sự suy tàn và quá khứ đã qua. Trong một xã hội đề cao hiệu suất và sự năng động, một người không còn khả năng tự chăm sóc những nhu cầu cơ bản nhất thường bị coi là “mất giá trị”. Người ta dọn dẹp cho người già với tâm thế của một người đang thực thi bổn phận nặng nề hơn là sự tận hiến của tình yêu. Những lời cằn nhằn, những tiếng thở dài, hay thậm chí là ánh mắt ghẻ lạnh của con cháu đã vô tình biến nỗi đau bệnh tật thành nỗi nhục nhã của phẩm giá. Người già, khác với trẻ em, họ “đã biết” và họ ý thức rất rõ về sự bất lực của mình. Chính cái ý thức ấy làm cho nỗi đau của họ nhân lên gấp bội khi nhìn thấy sự khó chịu của người thân.

Sự bất công này còn nằm ở chỗ chúng ta quên mất quy luật của lòng biết ơn. Đứa trẻ chưa làm gì cho chúng ta, nhưng chúng ta sẵn sàng phục vụ nó vô điều kiện. Người già đã cống hiến cả cuộc đời, đã từng là đôi tay vững chãi nâng đỡ chúng ta những bước đi đầu tiên, đã từng thức trắng đêm khi chúng ta ốm đau, vậy mà khi họ cần một sự chăm sóc tương tự, họ lại nhận về sự thiếu kiên nhẫn. Có một sự đứt gãy về mặt cảm xúc khi chúng ta không thể kết nối hình ảnh của người cha, người mẹ mạnh mẽ năm xưa với thân xác già nua, bệnh tật hiện tại. Chúng ta khó chịu vì người già không còn giống như những gì chúng ta kỳ vọng, chúng ta quên rằng chính họ cũng đang phải đấu tranh quyết liệt với sự xuống cấp của chính cơ thể mình. Tè dầm ở người già không phải là sự lười biếng hay cẩu thả, đó là tiếng kêu cứu của một cơ thể đã mỏi mệt sau bao năm tháng gánh vác cuộc đời.

Nỗi đau lớn nhất của người già không phải là bệnh tật, mà là cảm giác mình trở thành vật cản trong đời con cháu. Đứa trẻ tè dầm xong có thể thản nhiên chơi đùa, nhưng người già sau một sự cố như vậy thường rơi vào mặc cảm tội lỗi sâu sắc. Họ thu mình lại, họ sợ hãi khi phải yêu cầu sự giúp đỡ, họ âm thầm chịu đựng sự bẩn thỉu vì không muốn nghe những lời nặng nhẹ. Sự “phiền phức” mà chúng ta gán cho họ thực chất là tấm gương phản chiếu sự ích kỷ của chính chúng ta. Chúng ta chỉ muốn nhận những gì tươi đẹp, khỏe mạnh và từ chối những gì xấu xí, héo úa. Nhưng cuộc đời là một vòng tròn khép kín, không ai có thể trẻ mãi, và sự chăm sóc mà chúng ta dành cho người già hôm nay chính là lời cam kết cho tương lai của chính chúng ta mai sau.

Nếu chúng ta có thể nhìn vết bẩn trên giường của người già bằng đôi mắt đã từng nhìn đứa con thơ của mình, chúng ta sẽ thấy đó không phải là sự phiền phức, mà là một cơ hội để đền đáp. Mỗi lần thay áo, lau mình cho cha mẹ là một lần chúng ta được chạm vào lịch sử của chính mình, được thể hiện sự hiếu kính bằng những hành động cụ thể nhất. Người già cần sự kiên nhẫn hơn cả trẻ em, vì họ đang phải đối mặt với nỗi sợ hãi về cái chết và sự biến mất. Một nụ cười cảm thông, một câu nói nhẹ nhàng: “Không sao đâu mẹ, chuyện nhỏ thôi mà” có giá trị hơn ngàn liều thuốc bổ. Nó giúp người già giữ vững được phẩm giá cuối cùng của một con người, giúp họ cảm thấy mình vẫn được yêu thương dù không còn khả năng đóng góp về mặt vật chất.

Chúng ta cần thay đổi tư duy về sự hữu dụng. Một con người có giá trị không phải vì họ làm được bao nhiêu việc, mà vì sự hiện diện của họ là một phần không thể thiếu trong cấu trúc của tình yêu gia đình. Người già tè dầm là một thử thách đối với lòng nhân ái của con cháu. Nếu chúng ta vượt qua được sự ghê sợ về mặt cảm giác để thấu cảm với nỗi đau của người già, chúng ta đang thực sự trưởng thành về mặt tâm linh. Đừng để những nhu cầu sinh lý tự nhiên trở thành rào chắn ngăn cách tình thâm. Đừng để người già phải sống những ngày cuối đời trong sự tủi hận chỉ vì họ không còn kiểm soát được cơ thể mình – điều mà chính chúng ta cũng đã từng như vậy và chắc chắn sẽ lại như vậy trong tương lai.

Khi trí tuệ con người đủ lớn, họ sẽ hiểu rằng việc chăm sóc một người già mất năng lực cũng thiêng liêng như việc nuôi nấng một đứa trẻ. Đó là sự tiếp nối của sự sống, là biểu hiện cao nhất của tính người. Sự phiền phức chỉ tồn tại trong tâm trí của những kẻ tính toán hơn thua với chính người thân của mình. Đối với một trái tim biết yêu thương, sự bất lực của cha mẹ là lời mời gọi của lòng trắc ẩn. Hãy nhớ rằng, nếu mùi vị của tã lót trẻ thơ mang theo hương vị của bình minh, thì sự chăm sóc người già mang theo vẻ đẹp trầm mặc và bao dung của hoàng hôn. Cả hai đều cần được nâng niu như nhau, vì chúng đều là những mảnh ghép không thể thiếu của một kiếp người trọn vẹn.

Lời kết cho sự so sánh nghiệt ngã này chính là lời nhắc nhở về sự vô thường. Ngày hôm nay chúng ta dọn dẹp cho người khác với thái độ nào, thì ngày mai chúng ta sẽ nhận lại điều tương tự như thế. Hãy đối xử với người già bằng sự dịu dàng mà bạn muốn nhận được khi chính bạn rơi vào hoàn cảnh ấy. Đừng để sự vô tâm biến những năm tháng cuối đời của cha mẹ thành một chuỗi ngày dài của sự nhục nhã và cô độc. Sự thật là, trẻ con hay người già, tất cả đều cần được yêu thương ngay cả khi họ không còn sạch sẽ, không còn thông minh hay không còn hữu dụng. Đó mới chính là ý nghĩa thực sự của hai chữ “gia đình”.

S.T.

From: Phi Phuong Nguyen


 

THAY ĐỔI BẢN THÂN-TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Sống trong cuộc đời, chúng ta bị ràng buộc bởi nhiều thứ: phong tục làng xóm; não trạng cổ xưa; môi trường xung quanh; sự ích kỷ của bản thân và những thói quen từ nhỏ.  Những điều kể trên, có những điểm tốt lành đáng trân trọng, nhưng cũng có những bất cập cần thay đổi.  Trong tất cả những điều cần thay đổi, điều khó nhất – mà lại là quan trọng nhất – là thay đổi bản thân.  Để chấp nhận thay đổi bản thân, cần có sự can đảm và kiên trì, vì sự thay đổi không bao giờ là dễ dàng.

 Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã viết: “Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì bạn chưa bỏ gì cả, vì chính bạn sẽ dần dần quơ góp lại những gì bạn đã bỏ trước đó” (Đường Hy vọng 3).  Đức Hồng y cũng viết ở một nơi khác: “Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, thì có khác gì ở nhà đâu? (DHV 5).  Quả vậy, thay đổi con người là điều kiện tiên quyết để thay đổi xã hội.  Không thể có một môi trường xanh và sạch nếu không có những con người ý thức bảo vệ môi trường.  Không thể có một cộng đoàn thánh thiện, nếu mỗi tín hữu không cố gắng để hoàn thiện bản thân.  Nhiều khi chúng ta cứ kêu gào đòi thế giới phải thay đổi, nhưng cái gọi là “thế giới” lại là một khái niệm rất tổng quát mơ hồ.  Thế giới là tất cả mọi người; tất cả mọi người cũng có nghĩa không một ai.  Thế giới bao gồm những cá nhân, và thế giới sẽ thay đổi, khi cá nhân thay đổi.

 Khởi đi từ sự kiện Chúa Giê-su biến hình, Phụng vụ Chúa Nhật II Mùa Chay mời gọi chúng ta “lên núi” để thay đổi bản thân.  Đây là một điều kiện thiết yếu để sống Mùa Chay có ý nghĩa.

 Trước hết chúng ta cần thay đổi quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ.  Các môn đệ là những người đã theo Chúa một thời gian dài ba năm.  Tuy vậy, cái nhìn của các ông về Thầy mình vẫn còn sơ sài, phiến diện và mang tính trần tục.  Khi Đức Giê-su nói đến thập giá, các ông bối rối đến mức hoảng loạn.  Tại Xê-da-rê Phi-líp-phê, khi nghe Thầy nói về cuộc khổ nạn và sự chết, Phê-rô vội can ngăn và bị Chúa mắng là Sa-tan.  Trong khi Chúa nói về cuộc thương khó, thì các môn đệ lại tranh giành xem ai là người lớn nhất, và đòi phải có một vị trí trong tương lai (x. Mt 20,17-28).  Cuộc biến hình giúp các môn đệ thanh lọc hình ảnh về Đấng Mê-si-a mà các ông đang có trong đầu.  Qua sự kiện biến hình, Chúa Giê-su muốn nói với các ông: Người là Thiên Chúa quyền năng và vinh quang.  Người sẽ chịu đau khổ, nhưng sẽ được tôn vinh.  Lời Chúa Cha phán từ đám mây, vừa như một lời giới thiệu, vừa như một khẳng định về sứ mạng của Chúa Giê-su trên trần gian.  Khi lên núi, tâm trạng ba môn đệ nặng nề chán nản; khi xuống núi, các ông cảm thấy lạc quan vui mừng.

 Tiếp đến, chúng ta cần xem xét lại lòng trung tín của chúng ta đối với Chúa.  Một ngày nọ, Áp-ra-ham nghe tiếng Chúa truyền bỏ mọi sự để lên đường đến nơi Ngài sẽ chỉ cho.  Chúa không nói ông sẽ đi đâu.  Áp-ra-ham cũng không vặn hỏi xem mình sẽ làm gì để sống.  Ông tin vào Thiên Chúa, và ông chắc một điều là Chúa chỉ muốn cho ông những điều tốt lành.  Xã hội hôm nay tự nhận là vô thần, nhưng trong thực tế, càng ngày càng có nhiều thứ thần tượng.  Những ngẫu thần hôm nay là tiền bạc, người nổi tiếng, minh tinh màn bạc hay ngôi sao bóng đá.  Trong xã hội tự nhận là văn minh, lại nhan nhản trên mạng những hình thức bói toán mê tín dị đoan.  Giữa một rừng những ngẫu tượng đó, Ki-tô hữu làm thế nào để trung tín với Thiên Chúa của giao ước, Thiên Chúa mà Đức Giê-su giới thiệu với chúng ta?  Giữa một mớ âm thanh hỗn tạp của những tín ngưỡng khác nhau, làm thế nào để chúng ta chọn lọc ra tiếng Chúa và phân định được thánh ý Ngài?  Sự can đảm dám thay đổi bản thân sẽ giúp chúng ta đạt được những điều đó.  Như Áp-ra-ham dứt khoát lên đường, mỗi chúng ta cũng cần can đảm lên đường khởi đầu một lộ trình mới.  Đó là lộ trình theo Đức Giê-su và luôn phấn đấu để trở nên giống như Người.

 Tin vào Thiên Chúa là tin vào Đấng làm cho cái không thể trở thành điều có thể.  Thánh Phao-lô mời gọi người môn sinh của mình là Ti-mô-thê đồng lao cộng khổ trong sứ vụ rao giảng Chúa Giê-su.  Nhìn theo nhãn giới trần gian, khẳng định Chúa Giê-su đã chết và đã sống lại là điều không tưởng, vì đi ngược lại với thực tại của thế giới con người.  Ấy vậy mà lịch sử đã chứng minh, khởi đi từ một nhóm nhỏ các môn đệ có kiến thức khiêm tốn và địa vị bình dân ở xứ Ga-li-lê-a, Danh Đức Giê-su đã được loan báo cho cả thế giới.  Trong xã hội hiện đại hôm nay, nhiều người coi đức tin vào Đức Giê-su như một ảo tưởng không còn hợp thời.  Ki-tô hữu là người tin vào sức mạnh của Thiên Chúa và hoạt động của Chúa Thánh Thần.  Thiên Chúa có đường lối riêng của Ngài, chúng ta không thể hiểu nổi.  Đường lối ấy, thánh Phao-lô gọi là “kế hoạch và ân sủng” của Thiên Chúa.  Mặc dù hèn kém và hữu hạn, Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi tham gia kế hoạch diệu kỳ ấy.

 Cuộc lên núi của ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê cần phải cố gắng và chấp nhận mệt mỏi.  Tuy vậy, chính trên núi mà các ông đã được chiêm ngưỡng Thầy mình trong một bộ dạng hoàn toàn khác với ngày thường.  Cũng chính trên núi này, các ông thay đổi quan niệm về Thầy mình.  Mùa Chay thực sự là một cuộc “leo núi”, giúp ta hướng thượng, để nhìn lại mình và can đảm chấp nhận thay đổi bản thân.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

TIẾNG GỌI TỪ NHỮNG VẾT CHAI SẦN- Lm Anmai CSsR

Anmai CSsR

Trong guồng quay vội vã của một đời người, đôi khi chúng ta mải mê đuổi theo những ánh hào quang rực rỡ phía chân trời mà quên mất rằng, ngay sau lưng mình, có một ngọn đèn dầu đang cạn dần theo năm tháng, lặng lẽ tỏa sáng để soi đường cho ta đi. Ngọn đèn ấy chính là mẹ, là cha, là những người đã dành cả thanh xuân để đổi lấy tương lai cho con cái, để rồi khi tóc đã pha sương, họ lại trở nên bé nhỏ và mong manh trước quy luật nghiệt ngã của thời gian. Có một câu hát cứ ám ảnh mãi trong tâm khảm người Việt qua bao đời: “Mẹ già như chuối chín cây, gió lay mẹ rụng con phải mồ côi.” Hình ảnh ấy không chỉ là sự ví von về tuổi già, mà còn là một lời cảnh báo đau xót về sự hữu hạn của kiếp người. Chuối chín cây thì ngọt, nhưng cũng dễ rụng rơi chỉ sau một cơn gió thoảng. Cha mẹ ta cũng vậy, họ đang ở cái ngưỡng cửa mà sự chia ly có thể đến bất cứ lúc nào, nhẹ nhàng như một chiếc lá lìa cành nhưng lại để lại khoảng trống mênh mông không gì bù đắp nổi.

Sự mồ côi không chỉ là khi ta mất đi người sinh thành về mặt thể xác, mà đau đớn hơn, đó là sự mồ côi trong tâm hồn khi ta chợt nhận ra mình đã đánh mất cơ hội để yêu thương, để thấu hiểu và để tạ lỗi. Đời người vốn dĩ là một kiếp ngang qua, chúng ta gặp gỡ hàng vạn người, nhưng để được gọi nhau là mẹ con, là cha con, có lẽ phải từ cái duyên nợ sâu nặng của muôn vàn kiếp trước. Thế nhưng, cái “duyên mấy kiếp” ấy đôi khi lại bị chúng ta đối xử một cách thờ ơ, xem đó là điều hiển nhiên như hơi thở, để rồi vô tình gieo rắc những lời trách móc vô tâm làm tổn thương những trái tim vốn đã đầy vết xước của thời gian.

Hãy nhìn sâu vào đôi bàn tay của mẹ, của cha. Bạn có thấy những ngón tay sần chai, thô ráp, những khớp xương bắt đầu run rẩy mỗi khi cầm bát cơm hay chén trà? Những vết chai ấy không tự nhiên mà có, chúng là chứng tích của những ngày nắng cháy lưng trên cánh đồng, những đêm thức trắng bên ánh đèn dầu lo cho con giấc ngủ, là kết quả của bao nhiêu năm tháng lao lực để nuôi nấng ta thành người. Mỗi vết chai là một câu chuyện về sự hy sinh, là một nốt nhạc trầm buồn trong bản đại giao hưởng của tình phụ tử, mẫu tử. Vậy mà, đã bao giờ chúng ta thực sự nâng niu những đôi tay ấy, hay ta chỉ thấy chúng thật phiền phức khi cha mẹ chậm chạp vụng về? Đôi mắt mẹ cha giờ đây đã mờ đục, không còn tinh anh như thuở trước. Cái nhìn ấy đôi khi lạc lõng, đôi khi đờ đẫn vì sự tàn phá của tuổi già, của chứng đãng trí. Có lúc người già hệt như trẻ con, lặp đi lặp lại một câu chuyện cũ rích, hỏi đi hỏi lại một vấn đề vừa mới trả lời. Đó là quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” mà không ai có thể tránh khỏi.

Chúng ta thường dễ dàng bao dung với sự nghịch ngợm của một đứa trẻ, nhưng lại dễ nổi cáu trước sự lẩm cẩm của người già. Tại sao vậy? Có lẽ vì ta quên mất rằng, ngày xưa chính cha mẹ đã kiên nhẫn dạy ta từng con chữ, cầm tay ta tập viết từng nét nguệch ngoạc, và mỉm cười bao dung khi ta làm sai hàng vạn lần. Khi cha mẹ già đi, họ đang lùi dần về phía bóng tối để nhường lại ánh sáng rực rỡ cho ta. Họ trở nên nhạy cảm hơn, dễ tổn thương hơn và khao khát hơi ấm gia đình hơn bao giờ hết. Một lời gắt gỏng của con cái, một ánh nhìn khó chịu khi cha mẹ chậm hiểu có thể là một nhát dao cứa vào lòng người già, khiến họ cảm thấy mình trở thành gánh nặng, trở thành người thừa trong chính ngôi nhà mà họ đã gây dựng cả đời.

Đừng để bản thân phải sống một đời để hối tiếc. Hối tiếc là một thứ cảm giác đáng sợ nhất, nó không giết chết ta ngay lập tức nhưng lại gặm nhấm tâm hồn ta mỗi khi đêm về. Đó là khi ta đứng trước nấm mồ xanh cỏ, gào khóc gọi tên mẹ cha nhưng chỉ nhận lại sự im lặng của đất đá. Đó là khi ta muốn nấu một bữa cơm ngon cho cha, muốn mua một chiếc áo ấm cho mẹ, nhưng người đã không còn để nhận. Khi ấy, mọi lời xin lỗi đều trở nên muộn màng. Sự hiếu thảo không nằm ở những món quà đắt tiền hay những ngôi nhà lộng lẫy, mà nó nằm trong cách chúng ta lắng nghe, cách chúng ta kiên nhẫn và cách chúng ta dành thời gian cho cha mẹ. Hãy lắng nghe những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” của họ bằng cả trái tim, dù bạn đã nghe đến thuộc lòng. Hãy nhẹ nhàng giải thích khi họ quên, hãy nắm lấy đôi bàn tay run rẩy khi họ bước đi. Bởi vì, một ngày nào đó, bạn sẽ ước ao được nghe lại giọng nói ấy, được nhìn thấy ánh mắt ấy dù chỉ là trong giấc mơ.

Cuộc đời này ngắn ngủi lắm, cái “duyên mấy kiếp” ấy không kéo dài mãi mãi. Đừng đợi đến khi gió lay chuối rụng mới giật mình tỉnh ngộ. Ngay lúc này, khi cha mẹ vẫn còn ngồi đó, dù đãng trí, dù lẩm cẩm, hãy học cách trân trọng từng phút giây. Hãy nhìn vào những nếp nhăn trên trán họ như nhìn vào một cuốn sử ký về tình yêu thương vô điều kiện. Hãy biến những lời trách móc thành lời hỏi han, biến sự thờ ơ thành cái ôm ấm áp. Xin đừng trách mỗi khi cha mẹ quan tâm quá mức, bởi đó là bản năng, là hơi thở của người làm cha làm mẹ. Dù ta có lớn khôn bao nhiêu, trong mắt họ, ta vẫn mãi là đứa con bé bỏng cần được chở che. Hãy để tình yêu thương khỏa lấp những hố sâu ngăn cách giữa các thế hệ, để mỗi ngày trôi qua là một kỷ niệm đẹp chứ không phải là một dấu gạch chéo của sự ân hận. Mong sao mỗi chúng ta đều biết cúi xuống thật thấp để nâng niu những giá trị thiêng liêng nhất, để sau này khi đối diện với sự chia ly tất yếu, lòng ta bình yên vì đã yêu thương trọn vẹn.

Lm. Anmai, CSsR


 

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt- Cha Vương

Lại một Tháng nữa trôi qua, bạn đã làm gì cho Chúa, cho anh em và cho chính phần rỗi của linh hồn bạn trong tháng qua? Xin Chúa luôn đồng hành với bạn hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thư 4: 25/02/2026. (N1-3-23)

CHẶNG THỨ 6: Bà Veronica trao khăn cho Đức Chúa Giêsu lau mặt

TIN MỪNG: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10:40,42)

SUY NIỆM: Bà Veronica có lẽ là một người rất can đảm và liều lĩnh, dám lấy khăn thấm máu mặt một tên tử tội trên đường đến pháp trường. Không biết bà có nhận ra đó là Chúa Giê-su hay không nhưng cử chỉ của bà đã vạch ra một lối sống, thay vì chỉ nghĩ đến bản thân mình thì bà lại luôn quan tâm đến người khác, lòng bà bị dày vò bởi sự khốn khổ của nhân loại, cho dù người đó là một người xa lạ, hay thậm chí là kẻ thù. Có bao giờ lòng bạn bị dày vò trước nỗi khổ của người khác chưa? Phản ứng của bạn ra sao? Ai là người cần đến sự giúp đỡ của bạn trong lúc này?

XÉT MÌNH: Đã bao lần bạn ngoảnh mặt làm ngơ hoặc thiếu bác ái trước những hoàn cảnh khốn khó của một ai đó, hoặc không chia sẻ gánh nặng hằng ngày với những người trong gia đình và những người chung quanh? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, qua gương của bà Veronica, xin mở mắt con để con  khám phá ra khuôn mặt của Chúa nơi những người đang sống trong cảnh bần cùng đói khổ mà biết quan tâm, chia sẻ với hết khả năng của con hôm nay. Amen. 

From: Do Dzung

***************************

Bảo Trân – Chúa Trong Đời Con – Tác Giả Lm. Thái Nguyên

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.- Truyen ngan HAY

Trầm Mặc Huơng Lai

 Tôi bắt gặp mẹ tôi, 82 tuổi, ngồi trong bóng tối, đang rửa những chiếc đĩa giấy mềm nhũn dưới vòi nước lạnh ngắt để dùng lại lần nữa.

Khi tôi bật đèn bếp lên, bà không chỉ giật mình. Bà co người sát vào bàn, ôm chặt chiếc đĩa giấy rách bươm, ướt sũng trước ngực như đang cầm một tấm khiên. Ánh mắt ấy không phải chỉ là ngạc nhiên.

Đó là nỗi sợ đến thắt lòng.

Bà sợ tôi phát hiện ra bà đang yếu đi. Sợ rằng đây sẽ là lý do cuối cùng để tôi ép bà rời khỏi căn nhà của mình.

Tôi vội bước đến, nắm lấy đôi tay lạnh buốt của bà, nhẹ nhàng gỡ mớ đĩa ướt khỏi tay bà.

— Mẹ làm gì vậy? Sao không bật đèn? Sao lại hạ sưởi xuống? Ngoài trời đang có tuyết đó! — tôi nói, giọng gắt vì mệt mỏi sau 40 phút kẹt xe và một tuần làm việc 50 tiếng.

Bà không nhìn tôi. Bà nhìn xuống nền nhà cũ bạc màu — thứ sàn mà ba tôi đã tự tay lát năm 1982, ngay trước khi nhà máy thép địa phương đóng cửa.

Bà xoa hai cánh tay run rẩy, khẽ nói về chuyện giá cả tăng cao. Lương hưu tháng này không đủ trả tiền sưởi và tiền chợ. Bà cố tiết kiệm từng đồng lẻ để khỏi phải nhờ tôi.

Tim tôi như rơi xuống.

Tám tháng nay, tôi gần như thành người xa lạ với chính mẹ mình. Tôi có lý do. Lý do rất hợp thời. Tôi tự an ủi mình rằng mình thuộc “thế hệ kẹp giữa” — kẹt giữa công việc, lịch học dày đặc của con cái và nhịp sống quay cuồng mỗi ngày.

Nhưng trong căn bếp lạnh buốt đó, sự thật đập thẳng vào tôi.

Tôi không muốn nhìn người phụ nữ mạnh mẽ nhất đời mình dần yếu đi. Nhắn một tin ngắn hay gọi video năm phút dễ hơn nhiều so với việc có mặt và đối diện với sự sa sút ấy.

Mỗi lần nói chuyện, tôi nói với mẹ như đang họp công việc. Tôi đưa cho bà những tờ rơi bóng loáng.

— Mẹ, mấy bậc thềm trước cửa nguy hiểm lắm, lỡ té gãy hông thì sao.

— Mẹ, con xem một viện dưỡng lão đẹp lắm. Có đầu bếp, có chăm sóc 24/24, người ta lo thuốc men cho mẹ. Bán nhà đi là đủ chi phí. Hợp lý mà.

Tôi nghĩ mình là đứa con tốt. Tôi tưởng mình đang bảo vệ mẹ.

Nhưng khi thấy bà run trong bóng tối, tôi hiểu ra điều đau đớn: tôi không tìm cách cho bà sống tốt hơn. Tôi đang tìm cách để bản thân yên tâm. Tôi muốn chuyển gánh nặng tuổi già của bà ra khỏi cuộc sống bận rộn của mình.

Tôi kéo ghế, giúp bà ngồi xuống bàn bếp. Nhà lạnh ngắt.

— Mẹ xin lỗi, Sarah — bà thì thầm. Giọng bà mong manh chưa từng thấy. — Mẹ không muốn làm phiền con. Mẹ biết cuộc sống con bây giờ bận rộn lắm.

Bà dừng lại, bàn tay nhăn nheo bấu vào mép bàn.

— Nhưng mẹ không muốn rời khỏi nhà.

Bà chỉ sang phòng khách. Thế giới của bà giờ thu nhỏ trong căn phòng ấy: chiếc ghế hoa cũ bên cửa sổ, chiếc tivi đang phát tin tức địa phương, và chồng hóa đơn y tế cùng giấy tờ bảo hiểm mà bà không còn hiểu nổi.

— Nếu mẹ nói mẹ không ổn, hay trí nhớ mẹ kém đi, con sẽ bắt mẹ đi. Mà nếu mẹ rời khỏi nhà này… mẹ chẳng còn gì. Mẹ mất hết ký ức. Mẹ thành một con số trong căn phòng nào đó, chờ ngày chết.

Câu nói ấy như một cú đấm vào ngực tôi.

Tôi đã đối xử với mẹ như một bài toán cần giải. Như một trách nhiệm cần quản lý.

Tôi quên mất bà là ai.

Bà từng làm hai ca ở nhà hàng suốt mười năm sau khi ba tôi mất, chỉ để tôi tốt nghiệp mà không mang nợ. Bà luôn tự lập, đầy tự trọng, chỉ mong giữ lại chút phẩm giá trong những năm cuối đời.

Tôi không cãi. Không nhắc đến tờ rơi. Không nói gì thêm.

Tôi đứng dậy, chỉnh nhiệt độ sưởi lên ấm áp, mở tủ và nấu cho hai mẹ con một bữa ăn nóng.

Chúng tôi ngồi rất lâu bên chiếc bàn cũ. Chỉ còn tiếng nĩa chạm đĩa và tiếng máy sưởi khẽ rì rì.

Một lúc sau, bà nhìn qua ô cửa sổ phủ sương, nơi tuyết đang rơi, rồi nói:

— Càng già, người ta càng bớt quan tâm đến việc có đồ đẹp hay lúc nào cũng an toàn. Người ta chỉ muốn biết mình vẫn còn ý nghĩa. Muốn được ở bên gia đình.

Tôi hiểu mình đã mù quáng thế nào.

Mẹ không chống lại tôi. Bà đang giữ lấy cuộc đời mình.

Bà không cần một căn phòng sạch bóng trong cơ sở sang trọng với những người xa lạ mặc đồng phục. Bà không cần lịch chơi bingo hay đầu bếp riêng.

Bà cần con gái mình.

Bà cần người ngồi cùng mở từng lá thư bảo hiểm mà không làm bà thấy mình kém cỏi. Cần người viết hướng dẫn điều khiển tivi thật to, thật rõ. Cần ai đó ngồi cạnh trong phòng khách, để căn nhà ấy không trở thành một ngôi mộ lặng lẽ.

Xã hội dạy ta rằng yêu cha mẹ già là sắp xếp mọi thứ cho họ bằng tiền bạc hay dịch vụ chuyên nghiệp.

Nhưng khi họ thật sự đi về cuối con đường, ta mới hiểu yêu thương là có mặt.

Là ngồi lại trong thực tế lộn xộn, khó chịu, đau lòng của tuổi già — và chọn không quay lưng.

Tối hôm đó, tôi về nhà và vứt hết tờ rơi viện dưỡng lão vào thùng rác.

Từ đó, mỗi Chủ nhật tôi đều băng qua thành phố. Không viện cớ. Không nói bận.

Có khi tôi mang đồ ăn cho cả tuần. Có khi tôi đưa bọn trẻ theo, chúng làm phòng khách lộn xộn, ăn hết bánh quy của bà và lấp đầy căn nhà bằng tiếng cười ồn ào.

Nhưng phần lớn thời gian, tôi chỉ pha một ấm cà phê, rồi hai mẹ con ngồi trên ghế cũ bên cửa sổ, nhìn khu phố trôi qua. Nhắc chuyện ba. Nhắc chuyện vu vơ.

Vì một ngày nào đó — có thể sớm, có thể còn xa — chiếc ghế bên cạnh tôi sẽ trống.

Và tôi đã hiểu rằng chẳng có viện dưỡng lão hiện đại nào, chẳng có số tiền tiết kiệm nào, chẳng có thành công nghề nghiệp nào có thể mua thêm cho tôi một buổi chiều bên người phụ nữ đã sinh ra mình.

Đừng xem cha mẹ già là gánh nặng hay bài toán cần xử lý.

Họ không cần tiền của bạn.

Không cần những bài giảng về an toàn.

Không cần giải pháp hào nhoáng.

Họ cần thời gian của bạn.

Hãy ở bên họ, trước khi thời gian của họ cạn đi. 

TG Văn Chương

 

#ChaMe – #TinhThanGiaDinh =  #ConCaiTruongThanh – #HieuVaThuong

#TuoiGia – #YeuThuongThatSu – #DungBoLo – #GiaTriThoiGian

#SongChamLai – #ConConMeConMay


 

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp

Gieo Mầm Ơn Gọi

Lễ phong Chân Phước cho Tôi Tớ Chúa là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sẽ được cử hành lúc 9 giờ sáng ngày 2.7.2026  ở Nhà thờ Tắc Sậy ở Bạc Liêu do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle . Quyền Bộ trưởng Bộ truyền giáo của Vatican , Đại sứ của ĐTC Leo XIV chủ sự.

Mừng vì Giáo Hội Việt Nam có thêm một vị thánh.

Cha thánh TRƯƠNG BỬU DIỆP xin cầu cho chúng con.

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Bùi Chí Vinh

Bà Dương Quỳnh Hoa, Bộ trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam mất ngày 25-2-2006 tính đến nay vừa tròn 20 năm. Nhân ngày kỷ niệm này, tôi đăng bài viết về bà như một nén nhang thương tiếc người bạn thân thiết của cha tôi…

BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA, MỘT NGƯỜI BẠN CỦA CHA TÔI

Như tôi đã từng viết trên FB này, cha tôi là ông Bùi Văn Trình sinh năm 1914 tại huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định sang Pháp từ thời còn trẻ để học nghề thợ giày (dành đóng riêng cho người tàn tật). Ở Pháp, ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp và thân thiết với bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cũng là Đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp như ông.

Khi về nước, ông là Đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam lớp đầu tiên. Ông mở cửa tiệm giày tàn tật Bùi Văn Trình trên mặt tiền đường Yên Đỗ (tức đường Lý Chính Thắng bây giờ). Ông là thành viên Ban Tuyên Truyền Thi Hành Hiệp Định Geneve do ông Mai Văn Bộ làm Trưởng ban, nên bị chế độ Ngô Đình Diệm bỏ tù và tịch biên gia sản. Kể từ đó gia đình chúng tôi rất khốn khó phải di chuyển nhiều nơi để tự tồn tại. Năm 1960 ông ra tù và Tết năm nào cũng dẫn tôi đến nhà bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa để tôi được bà lì xì, còn cha tôi và bà thì đàm đạo với nhau bằng tiếng Pháp tránh sự thị phi dòm ngó. Lúc đó tôi mới 6 tuổi.

Mới 6 tuổi nên làm sao tôi biết bà có bi danh là Thùy Dương, là thành viên sáng lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và sau này giữ chức Bộ Trưởng Y Tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ biết năm 1979 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với nguyện vọng xin ra khỏi Đảng của bà với điều kiện bà giữ im lặng. Năm 1971 cha tôi chết vì hậu quả những vết thương tra tấn trong nhà tù. Năm 2006 bà Dương Quỳnh Hoa cũng qua đời nhưng những câu nói nổi tiếng còn ở lại: “Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã không còn”…”Trong chiến tranh, chúng tôi sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm trong tay Đảng, Đảng coi nhân dân như kẻ thù tiềm ẩn”.

BÙI CHÍ VINH

NHỚ BÀ DƯƠNG QUỲNH HOA

Bà là một người bạn của cha tôi

Sống thủy chung với nước với dân trước sau như một

Là dân Sài Gòn giàu sang nhưng ăn ngay nói thật

Đã phát ngôn là dám nói dám làm

Bà thừa sức leo lên tột đỉnh vinh quang

Nhưng một người có học khác một người vô học

Bà không giống những bà cùng sáng lập Mặt Trận với mình lặng im như thóc

Bà thích giống bà Triệu bà Trưng chém cá tràng kình

Ở một chế độ còn quá nhiều những thứ bất minh

Bà lẳng lặng lưu vong sang Pháp

Bà không ngu trung như Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc

Đánh thắng giặc xong là bị phản bội bởi triều đình

Cha tôi chết lúc nước nhà còn tang tóc điêu linh

Bà thì chết lúc quê hương thống nhất

Nhưng hai cái chết đều đem theo nước mắt

Của thằng bé ngày xưa mà bà đã lì xì

Bà chính là một thời tươi đẹp đã chết đi…

BCV

Hình 1: Bà Dương Quỳnh Hoa

Hình 2: Bà Dương Quỳnh Hoa có mặt trong đám cưới cha mẹ tôi ở nhà thờ Tân Định


 

CAO HƠN NỮA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho!”.

William Tyndale – người dịch Thánh Kinh từ Do Thái và Hy Lạp sang Anh ngữ – bị giam ở Vilvoorde. Ở đó, ông chịu thiêu trên cọc như một kẻ dị giáo. Ngày 06/10/1536, ông cầu nguyện, “Lạy Chúa, nguyện ý Chúa thành sự! Xin mở mắt cho vua nước Anh!”. Chỉ một năm sau, lời cầu ấy được nhậm.

Kính thưa Anh Chị em,

Tyndale cầu nguyện giữa lửa thiêu không để được cứu, nhưng để ý Chúa thành sự. Lời Chúa hôm nay cũng không dạy chúng ta cầu xin cho thuận lợi, nhưng ‘cao hơn nữa’ – để được kéo khỏi ý riêng, khỏi cái tôi của mình.

Lời cầu ấy cho thấy tầm cao của linh hồn. Nếu chúng ta chỉ xin bình an, thoát nạn, thành công, những lời cầu ấy vẫn quanh quẩn dưới thấp. Không sai; nhưng chưa đủ! Chúa không khước từ những nhu cầu nhỏ bé của con cái; nhưng Ngài luôn muốn nâng khát vọng của chúng ta lên một tầng ‘cao hơn nữa’. “Cứ xin… cứ tìm… cứ gõ…!” – không phải là lời hứa nuông chiều, nhưng là lời mời lớn lên. “Chúa thường muốn nhìn xem tâm hồn bạn có bao nhiêu tình yêu; và tình yêu không được thử thách bởi sự dễ chịu hay hài lòng!” – Gioan Thánh Giá.

Esther hiểu điều ấy. Trước hiểm hoạ diệt vong, cô không xin tiêu diệt kẻ thù, không xin bảo toàn địa vị; chỉ xin được xác tín rằng, “Chúa là Vua chúng con, Ngài là Thiên Chúa duy nhất” – bài đọc một. Cô xin lòng can đảm để bước vào hiểm nguy, rồi phó thác kết quả cho Chúa. Đó là một lời cầu được nâng lên khỏi sợ hãi. Và Thiên Chúa đã đáp lời. “Lạy Chúa, ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúa Giêsu còn đi xa hơn. Ngài không chỉ dạy phải xin; nhưng còn mặc khải “của tốt lành” mà Chúa Cha ban. Của tốt lành không chỉ là điều chúng ta ưa thích, nhưng là điều làm chúng ta nên thánh. Khi chúng ta xin sức khỏe, Ngài có thể ban kiên nhẫn; khi chúng ta xin thành công, Ngài có thể ban khiêm nhường; khi chúng ta xin thoát khổ, Ngài có thể ban sức mạnh để đi qua khổ đau. Vì mục tiêu của Cha không phải làm chúng ta dễ chịu, nhưng làm chúng ta trưởng thành – ‘cao hơn nữa’. “Thiên Chúa không an ủi chúng ta để chúng ta được dễ chịu, nhưng để chúng ta trở nên người biết an ủi!” – John H. Jowett.

Anh Chị em,

Đỉnh cao của mọi lời cầu là lời cầu trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha!”. Ở đó, lời cầu không xoá thập giá; nhưng biến thập giá thành hiến dâng; không hạ tiêu chuẩn đau khổ xuống, nhưng nâng tình yêu lên cao. Chính trong sự vâng phục tự do ấy, nhân loại được kéo lên khỏi án phạt, khỏi tuyệt vọng, khỏi cái tôi khép kín. “Cứ xin thì sẽ được!”. Không chỉ được điều chúng ta mong; mà được nâng lòng mình lên. Được thanh luyện ước muốn, được giải thoát khỏi sự hẹp hòi của chính mình. Khi lời cầu không còn nhằm thay đổi Thiên Chúa, nhưng để Thiên Chúa thay đổi chúng ta, lúc ấy lời cầu đã chạm tới đỉnh. Và đó là phép lạ bền vững nhất.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con dừng lại ở điều dễ dãi; đừng để con chỉ tìm lợi ích riêng; nhưng khi con cầu, xin nâng lòng con lên ‘cao hơn nữa!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần I Mùa Chay

Hễ ai xin thì nhận được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.  Mt 7,7-12

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 8 Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 9 Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá ? 10 Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn ? 11 Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao ?

12 “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.”


 

‘Nghịch tử’ 19 tuổi ở Đà Nẵng giết cha ruột vì mâu thuẫn gia đình

Ba’o Nguoi-Viet

February 24, 2026

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) – Người dân sống ở phường An Hải, Đà Nẵng, rúng động khi phát hiện một ông 42 tuổi, quê phường Sơn Trà, thiệt mạng trong nhà do con trai sát hại.

Theo báo VietNamNet, hôm 24 Tháng Hai, Công An Thành Phố Đà Nẵng đã bắt giữ nghi can NTB, 19 tuổi, ở phường An Hải, để điều tra về tội “giết người.”

Gia đình tổ chức hậu sự cho nạn nhân NCT tại nhà riêng ở phường An Hải, Đà Nẵng. (Hình: Đ.C/VietNamNet)

Nghi can B. bị cáo buộc đã giết chết cha ruột của mình là ông NCT, 42 tuổi, quê phường Sơn Trà, ngay tại nhà trên đường Nguyễn Thiện Kế, phường An Hải, Đà Nẵng.

Bản tin cho biết, sáng sớm cùng ngày, người dân phát hiện ông T. thiệt mạng trong nhà với nhiều vết thương.

Nhận được tin báo, Công An Phường An Hải đến hiện trường khám nghiệm. Tại đây, công an phát hiện một chiếc chày và một chiếc búa được cho là hung khí bị vứt bên hông nhà.

Khi giới hữu trách đến hiện trường, nghi can B. đã rời khỏi nhà. Qua điều tra, công an xác định hung thủ là con trai của nạn nhân nên bắt giữ nghi can B.

Bước đầu, cơ quan hữu trách nhận định nguyên nhân sự việc xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình.

Các vụ “nghịch tử” gây án mạng xảy ra liên tiếp thời gian qua tại Việt Nam.

Theo báo Người Lao Động hôm 2 Tháng Mười Một, 2025, nghi can TCT, 29 tuổi, ở xã Tam Giang, tỉnh Đắk Lắk, thường đi làm thuê ở xa.

Cách đây hơn một tháng, nghi can T. về chịu tang bà ngoại ở cùng thôn. Trong những ngày anh ta ở nhà, trong gia đình xảy ra mâu thuẫn.

Nơi nghi can TCT, con trai ông TCG, treo cổ tự sát là mảnh rẫy của gia đình. (Hình: Công An Đắk Lắk)

Vào chiều 1 Tháng Mười Một, 2025, nghi can T. chở mẹ mình bị bệnh tâm thần về nhà người thân bên ngoại. Sau đó, anh ta quay về nhà, dùng dao sát hại cha mình là ông TCG, 50 tuổi.

Nhân chứng là hàng xóm cho biết nhìn thấy nghi can T. rời khỏi nhà bằng xe gắn máy ngay trước lúc họ phát giác ông G. nằm trước nhà với nhiều vết thương trên người, cạnh đó có một con dao dính máu. Hàng xóm đưa ông G. đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng, nạn nhân đã thiệt mạng.

Đến sáng hôm sau 2 Tháng Mười Một, 2025, lực lượng công an phát giác nghi can T. treo cổ chết ở mảnh rẫy của gia đình, cách nhà khoảng 400 mét. (Tr.N) [kn]


 

 Kỷ Nguyên Cắt Quần: Từ Sài Gòn 1975 Đến Viễn Cảnh “Bình Nhưỡng Hóa” Seoul

Nhật Ký Yêu Nước 

 Kỷ Nguyên Cắt Quần: Từ Sài Gòn 1975 Đến Viễn Cảnh “Bình Nhưỡng Hóa” Seoul

Khi những đôi dép lốp bước vào Sài Gòn năm 1975, họ mang theo một sứ mệnh thiêng liêng: Giải cứu người dân miền Nam khỏi sự “đồi trụy” của… cái quần ống loe và những bước nhảy Chachacha. Đối với những “anh bộ đội cụ Hồ” vốn chỉ quen với rừng thiêng nước độc và những bài hát hành khúc rập khuôn, việc thấy một thanh niên mặc quần ống rộng hay một cặp đôi dìu nhau theo điệu nhạc là một cú sốc văn hóa cực độ.

Cuộc cách mạng của những cây kéo

Trong mắt những người chiến thắng, văn hóa miền Nam là một “bãi rác” cần được dọn dẹp bằng kéo. Họ quy chụp rằng âm nhạc và khiêu vũ làm xói mòn đạo đức, trong khi thực chất họ chỉ đang che đậy sự lạ lẫm và nỗi sợ hãi trước những gì mình không hiểu.

Hình ảnh thanh niên bị mang ra đường bêu riếu, bị cắt quần ngay giữa phố phường không phải là một sự uốn nắn đạo đức, mà là một màn trình diễn của sự ức chế. Đó là sự lên ngôi của cái nghèo nàn áp đặt lên sự phong phú, cái đơn sắc áp đặt lên đa sắc. Họ biến một sở thích cá nhân thành một “tội ác chống lại nhân dân”.

May be an image of one or more people and text that says 'VATENNIWTAN ব MMAIWAETAWAN IM MC NHaY NaM Hình ảnh xua sau 1975, một thanh niên miền Nam bị CSVN bêu rếu trên đường vì tội biế "nhảy đầm" TRIỀU TIÊN Hh HÀN QUỐC H I F'

Liên tưởng kinh hoàng: Nếu Nam Hàn rơi vào tay Kim Jong-un

Hãy thử tưởng tượng, nếu một ngày “ánh sáng cách mạng” từ Bình Nhưỡng tràn xuống Seoul, kịch bản Việt Nam 1975 sẽ được tái hiện ở mức độ kinh dị hơn:

K-Pop biến thành K-Hành khúc: Thay vì Blackpink nhảy “How You Like That”, chúng ta sẽ có những đội thiếu nữ mặc quân phục đồng thanh hát ca ngợi lãnh tụ với gương mặt không cảm xúc. Mọi bước nhảy uốn lượn sẽ bị coi là “nọc độc tư bản”.

Cắt tóc và Cắt váy: Những chiếc váy ngắn tại khu Gangnam sẽ bị cắt vụn bởi các “đội tự quản văn hóa”. Mọi thanh niên sẽ phải để một kiểu tóc duy nhất được phê duyệt bởi trung ương Đảng.

Smartphone thành gạch: Những chiếc Samsung đời mới sẽ bị thu giữ vì chúng chứa đựng “văn hóa phản động” từ internet. Thay vào đó, mỗi người dân sẽ được cấp một chiếc radio chỉ thu được đài truyền thanh địa phương.

Sự bêu riếu hiện đại: Nếu ngày xưa người ta bêu riếu trên đường phố, thì ở Seoul “cộng sản hóa”, họ sẽ dùng màn hình led khổng lồ để công khai nhục mạ những người dám nhảy đầm hay trang điểm theo phong cách phương Tây.

Bi kịch của sự cào bằng

Tại sao họ lại sợ “nhảy đầm”? Vì khiêu vũ là sự tự do của cơ thể, là biểu hiện của cá nhân tính. Trong một chế độ độc tài toàn trị, cá nhân không được phép tồn tại, chỉ có “quần chúng” là một khối đặc nghẹt và vâng lời.

Khi nhìn lại hình ảnh những thanh niên bị làm nhục vì cái quần, cái áo, chúng ta thấy một sự thật trần trụi: Chế độ cộng sản sợ nhất là cái đẹp và sự tự do. Họ muốn mọi người phải xấu xí giống nhau, nghèo đói giống nhau và sợ hãi giống nhau. Một đất nước mà công an đi đầy đường để canh chừng cái ống quần của dân là một đất nước đang tự cắt đi đôi cánh của chính mình để mãi mãi quẩn quanh trong cái máng lợn của sự lạc hậu.

Hàn Quốc ngày nay rực rỡ là vì họ được “nhảy đầm” theo cách họ muốn. Việt Nam 1975 đã mất đi mấy thập kỷ chỉ để nhận ra rằng cái ống quần hay điệu nhảy chẳng làm chết ai, chỉ có sự độc tài và ngu dốt mới làm thối rữa một dân tộc. Nếu Seoul biến thành Bình Nhưỡng, thế giới sẽ mất đi một trung tâm sáng tạo để đổi lấy một cái nhà tù khổng lồ canh gác bởi những người… không biết nhảy.


 

VĂN HÓA CHỬI – TỪ BÀN PHÍM RA NGOÀI ĐỜI

Kim Dao Lam –  Fb Vi Tran 

VĂN HÓA CHỬI – TỪ BÀN PHÍM RA NGOÀI ĐỜI

Nhiều người tưởng “văn hoá chửi” của một bộ phận DLV, BĐ chỉ tồn tại trên mạng. Odin nói thật: nghĩ vậy là hơi ngây thơ.

May be an image of one or more people

Thứ ngôn ngữ đầy công kích, hạ nhục, ăn thua đủ đó không nằm trong điện thoại. Nó bước ra ngoài đời. Chỉ cần một va chạm giao thông, một mâu thuẫn nhỏ, là âm lượng tăng lên, lời lẽ nặng xuống. Ai từng xem những clip ẩu đả lan truyền trên mạng đều thấy: cách chửi không khác gì comment section.

Điều đáng nói là nó đang len vào giao tiếp thường ngày. Bạn bè nói chuyện với nhau cũng phải “gắt” mới vui. Người yêu, vợ chồng cãi nhau là phải lớn tiếng mới “đã”. Thậm chí cha mẹ với con cái cũng dùng ngôn từ thô ráp như một cách thể hiện quyền lực. Rồi quay lại, đăng lên mạng, coi như giải trí.

Đáng ngại hơn, có gia đình còn dạy con: ra đời phải hơn thua, phải đáp trả cho tới cùng. Tự ái thành danh dự. Lớn tiếng thành bản lĩnh.

Nếu một xã hội xem sự nhục mạ là bình thường, xem ồn ào là sức mạnh, thì dần dần nó không còn là hiện tượng nữa nó thành thói quen. Mà thói quen lâu ngày rất dễ biến thành “văn hoá”.

Odin không cực đoan. Nhưng nếu chúng ta không tự hỏi: vì sao phải nói chuyện với nhau bằng âm lượng và sự cay độc như thế  thì vài năm nữa, có khi con cháu mình sẽ nghĩ đó là cách giao tiếp mặc định.

Hình ảnh vụ “giành ghế” đang lan truyền chỉ là một ví dụ. Điều đáng bàn không phải cái ghế. Mà là cách người ta chọn đối xử với nhau.

@EchoOfTruthVN