Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa-Truyen ngan HAY

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa

09/05/2026

Phương Hoa

TG Phương Hoa nhận giải Chung Kết TG-TP VVNM từ nhà thơ Du Tử Lê và  Chủ khảo Trương Ngọc Bảo Xuân 

Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, “Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên,” tác giả đã nhận giải Chung Kết 2014, giải Trùng Quang 2018 và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ. Góp vào loạt bài đón mừng ngày Lễ Mẹ, tác giả kể lại một câu chuyện về tình mẹ con với kết thúc có hậu. 

***

 (Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi)

Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời.  Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than.  Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai.

Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt. Cô nào biết, sẽ có ngày mình phải hát khúc biệt ly trong khoảng cách giữa đại ngàn trùng điệp núi non và vực thẳm từ xứ sở văn minh.

Năm ấy, theo tiếng gọi của tình yêu và giấc mơ về một vùng trời tự do, Lũ cùng người yêu, Mịch, chàng thanh niên đẹp trai học thức, ngoan cường trong bản con của Già Làng khả kính, dấn thân vào cuộc vượt biên đầy bão táp để đi tìm tự do nơi đất nước Thái Lan. Họ theo một nhóm người đi bộ xuyên qua những cánh rừng già thâm u, nơi mà lân tinh của cái chết luôn rập rình trong từng lùm cây, ngọn cỏ. Đêm ở rừng biên giới lạnh thấu xương, tiếng thú dữ gầm vang hòa cùng tiếng bước chân đạp trên lá khô xào xạc, khiến kẻ lữ hành phải lạnh cả sống lưng. Đôi bàn chân Lũ rướm máu, đôi vai gầy run rẩy dưới những cơn mưa rừng xối xả, cô nắm chặt tay Mịch và bước theo anh, để mặc cho đám vắt đói bám vào người hút máu. 

Qua bao gian truân, trải nhiều khiếp hãi, cuối cùng nhóm người từ Bắc Việt Nam cũng đến được đất tự do. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã giáng một đòn chí mạng khi họ vừa chạm chân đến Thái Lan. Một tai nạn kinh hoàng trên cung đường tị nạn đã cướp đi sinh mạng của Mịch. Giữa lòng đất lạ, Lũ khuỵu xuống bên nấm mồ đất đỏ vừa đắp, tiếng gào khóc của cô tan loãng vào hư không. Người thanh niên duy nhất cô tin cậy đã vĩnh viễn nằm lại dưới tán rừng già, để lại một mình cô bơ vơ, tâm hồn vụn vỡ như mảnh gương tan.

Qua bao mùa xuân hạ vất vả khó khăn, bấy nhiêu lần nhìn trăng tròn rồi khuyết hồi họp đợi chờ, cuối cùng Lũ cũng đặt chân được đến Mỹ, định cư ở miền Bắc California. Với vốn tiếng Anh bằng không, Lũ như người mù đi trong ánh sáng. Cô chấp nhận làm công việc dọn dẹp lau chùi, do người nhà thờ giới thiệu, cho một gia đình giàu có gần bờ biển Berkeley.

Henry, người đàn ông Mỹ vừa ly dị vợ, mang vẻ ngoài lịch lãm nhưng ẩn chứa sự độc đoán. Sắc đẹp của bông hoa rừng núi đã lọt vào mắt xanh của người đàn ông này. Ông ta ép cô vào một mối quan hệ không hôn thú. Trong căn biệt thự lộng lẫy nhưng lạnh lẽo ấy, Lũ sống như một cái bóng, nhẫn nhục và câm lặng vì sự ngăn cách ngôn ngữ.

Hằng đêm, Lũ phải cắn răng chịu tủi nhục, bị hành hạ dục tình. Vì tuổi lớn ông ta luôn cần thuốc trợ lực nên việc ấy rất dẻo dai. Và Lũ bị bắt buộc đáp ứng, tuân theo những trò làm tình đầy quái đản không phải của con người, nếu không sẽ bị đánh đập. Cô luôn đuối sức gần như ngất đi sau mỗi cuộc truy hoan, nên thân thể cô ngày càng héo úa. Cộng với sự nhớ thương về Mịch, nhiều lần Lũ nghĩ quẩn, muốn bỏ cuộc đời.

Nhưng sau đó bé Kathy chào đời. Đứa trẻ là ánh sáng duy nhất, là sợi dây mỏng manh níu giữ cô với cuộc đời đầy ảm đạm. Một lần, nhân dịp đưa con đi dạo ngoài shopping mall, Lũ ghé vào một tiệm vàng người Việt. Với số tiền chắt chiu từ những giờ làm lụng vất vả, cô đặt làm hai sợi dây chuyền vàng 14 cara, mặt hình trái tim giống hệt nhau. Trên mặt mỗi trái tim ấy là dòng chữ khắc rất đẹp: “Kathy – Lũ”.

“Mẹ đeo một sợi, con đeo một sợi. Sau này dù có lạc mất nhau, nhìn thấy trái tim này, con sẽ biết mẹ vẫn luôn ở bên con”. Lũ thì thầm vào tai bé, dù nó chẳng hiểu một chữ tiếng Việt.

Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, vì bi kịch xảy ra. Khi Kathy lên sáu, Henry chán chường vì sự im lặng chịu đựng và ngày càng tàn tạ của Lũ.  Ông ta đưa một người đàn bà Mỹ về nhà và nhẫn tâm đuổi cô ra khỏi cửa.  Cay đắng hơn, ông dùng quyền lực và tiền bạc để tước đoạt quyền nuôi con, dứt bé Kathy ra khỏi vòng tay mẹ.

Vì không biết tiếng Anh, Lũ không thể kêu cứu, không thể ra tòa. Cô chỉ biết hằng ngày sau khi đi làm về lại đến rình rập bên hàng rào sắt, với đôi mắt đỏ hoe nhìn qua khe lá để được thấy bóng dáng con thơ đang chạy nhảy hoặc ngồi xích đu trong sân.

Một chiều hoàng hôn tím ngắt, khi Lũ đang cố với tay gọi tên con qua kẽ hở, Henry bất ngờ lao ra. Trên tay ông ta là khẩu súng đen ngòm, họng súng lạnh lùng dí thẳng vào trán cô.

“Cút đi, hoặc tôi sẽ bắn nát đầu cô!”  Tiếng thét của ông ta vang lên như sấm sét. “Từ bây giờ, nếu gặp cô ở đây lần nữa là tôi sẽ bắn!”

Lũ hoảng loạn bỏ chạy rớt cả dép, đôi chân trần đạp trên sỏi đá bên đường chảy máu, trái tim cô như bị xé toạc khi tiếng khóc xé lòng của Kathy vọng lại phía sau:

“Mommy! Mommy! Don’t go! I want mommy!” Mẹ ơi! Mẹ ơi! Đừng đi! Con muốn mẹ!

Dù trong sự sợ hãi tột cùng và nỗi nhớ thương con đến cháy cả tâm can, Lũ cũng quyết định rời bỏ California, trốn chạy sang Arizona theo lời khuyên của một người bạn mới quen vừa từ Cali dọn qua đó, để bảo toàn mạng sống, ôm theo lời thề sẽ có ngày trở lại tìm con.

Tại Arizona, Lũ tìm việc làm rồi lao vào học như một kẻ điên. Đêm về, cô thức trắng với những cuốn từ điển dày cộm, nước mắt rơi nhòe cả những trang sách y khoa.  Cô hiểu rằng, chỉ có tri thức và việc làm ổn định trong xã hội mới giúp cô cơ hội tìm lại con gái.

Mười bảy năm ròng rã, Lũ từ người đàn bà không biết một chữ tiếng Anh bẻ đôi đã trở thành một LVN (Y Tá Điều Dưỡng) làm việc tận tụy trong bệnh viện. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, hình bóng bé Kathy với sợi dây chuyền hình trái tim vẫn là một vết thương chưa bao giờ khép miệng. Mỗi khi thấy những người mẹ bế con trong bệnh viện, lòng cô lại quặn thắt.  

Cuối cùng, Lũ xin được việc làm tại bệnh viện Summit Medical Center Bắc Cali, và dọn về thành phố cũ, chấp nhận đối mặt với quá khứ đau thương để tìm lại máu mủ của mình. Lần mò đến nhà xưa, Lũ theo dõi nhiều ngày không thấy bóng dáng người chồng cũ độc ác ra vào, mà chủ nhân là những người lạ mặt. Thì ra ông ta đã đổi chỗ dời nhà, lòng cô đau như cắt, không biết tìm con nơi nào. Từ đó Lũ làm việc và sống vất vưởng như kẻ không hồn. 

Ba năm sau, trong một đêm trực khuya tại bệnh viện, sau nhiều ngày làm việc quá sức và nỗi nhớ con bào mòn sức lực, khi ra về Lũ ngất xỉu ngay tại hành lang. Khi tỉnh lại, ánh đèn trắng của phòng cấp cứu làm Lũ chói mắt nên vội nhắm lại ngay. Một bàn tay ấm áp đang nắm chặt lấy tay cô, và một giọng Mỹ run run cất lên:

“Bà ơi… bà tỉnh rồi sao?”

Lũ lờ mờ hé mắt và thấy một cô gái Mỹ trẻ tuổi, tóc vàng xinh đẹp trong chiếc áo blouse trắng tinh khôi đang ngồi nhìn cô với ánh mắt kinh ngạc đến khó tả, đôi môi thì run rẩy. Một người nam y tá trẻ bước vào hỏi: “Bác sĩ, nhịp tim bệnh nhân đã…”

Chưa nói hết câu, anh ta bỗng khựng lại, nhìn vào mặt người bác sĩ và kêu lên: “Chuyện gì đang xảy ra vậy, bác sĩ?

Lũ lật đật ngồi hẳn dậy, đôi mắt mờ đục bỗng sáng lên, nhìn chăm chăm vào người bác sĩ ngồi bên cạnh giường, tay còn đang nắm chặt tay cô. Trên khuôn mặt vô cùng xinh đẹp ấy có những giọt nước mắt đang lăn xuống, lấp lánh dưới ánh đèn. Lũ vội nhìn lên bảng tên trên áo vị bác sĩ: “Kathy Williams M.D. – Attending Physician”

 Lũ há hốc miệng, mắt trợn tròn, người run lẩy bẩy vội chỉ tay vào cái bảng tên, lắp bắp: “Ka…thy! Cô… là…Kathy?”

“Yes! Mẹ… ơi! Con là Kathy đây!” Kathy nói trong nghẹn ngào, xong thò tay vào trong cổ áo, lôi ra sợi dây chuyền mặt trái tim có khắc chữ, “Kathy – Lũ” và nói tiếp.  “Con nhận ra nó trên cổ mẹ khi kích tim làm cấp cứu cho mẹ. Con rất nhớ mẹ nên giữ kỹ sợi dây chuyền này đến tận bây giờ, vì con tin mẹ sẽ quay về tìm con… Con vẫn còn nhớ như in ngày bố chỉa súng đuổi mẹ đi.”

Lũ sững sờ không thốt nên lời. Cô ôm chầm lấy con gái, tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa giữa phòng cấp cứu yên tĩnh. Hai mảnh ghép của trái tim sau gần hai thập niên xa cách đã khớp lại hoàn hảo. Bác sĩ Kathy cũng bật khóc lớn trước sự ngỡ ngàng của người y tá, những giọt nước mắt nóng hổi rơi lên bàn tay gầy guộc của Lũ. Cô hít một hơi dài. Mùi hương tóc con, hơi ấm của con, những thứ Lũ đã hằng đêm mơ thấy suốt hai chục năm qua, giờ đây đà hiện hữu. Nỗi đau của rừng thiêng bão tố, họng súng lạnh lùng của Henry, sự thương nhớ Kathy, và những đêm trắng học hành vất vả… tất cả đều tan biến trong khoảnh khắc này.

Dưới ánh đèn neon sáng rực, hai trái tim yêu thương – mẹ hiền và con gái – đã chạm vào nhau, lấp lánh một tình yêu bất diệt. Lũ hiểu rằng, sau bao “trận lũ” của cuộc đời, cuối cùng cô cũng đã tìm thấy bến đỗ bình yên nhất: Đó chính là vòng tay của con gái Kathy…

 Phương Hoa


 

Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.

 My Lan Pham  

Ông ngã trong nhà vào một buổi sáng Chủ nhật, chỉ năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm, khi đang chuẩn bị đi nhà thờ. Ông đập trán vào một cạnh sắc. Ông được đưa đến bệnh viện. Khi ra viện, ông có mười bốn mũi khâu phía trên mắt trái, một vết bầm tím đen lan khắp khuôn mặt, và một miếng băng trắng dán trên trán.

Đội ngũ của ông lặng lẽ hỏi liệu sự kiện ở Nashville có nên hoãn lại hay không.

Đây là điều Jimmy Carter đã nói:”Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.”

Tối hôm đó, đội chiếc mũ bóng chày Atlanta Braves và mang gương mặt bầm tím, băng bó của một người tuyệt đối không chịu ở nhà, ông đứng trên sân khấu tại nhà hát Ryman Auditorium trong tiếng reo hò của hàng trăm tình nguyện viên. Sáng hôm sau, ông đã có mặt tại công trường.

Ở tuổi chín mươi lăm. Tay cầm búa.

Đó không phải là màn trình diễn. Đó đơn giản chỉ là con người ông.

James Earl Carter Jr. sinh ngày 1 tháng 10 năm 1924 tại Plains, bang Georgia — một thị trấn có chưa đến bảy trăm dân. Gia đình ông không có điện hay nước máy cho đến khi ông bước vào tuổi thiếu niên. Cha ông là nông dân. Mẹ ông, bà Lillian, là một y tá, người đã gia nhập Peace Corps ở tuổi sáu mươi tám vì bà tin rằng mình vẫn còn có thể cống hiến thêm cho đời.

Ông sớm học được rằng sự phụng sự không phải là điều để nói.

Mà là điều để làm.

Ông phục vụ trong Hải quân. Ông phục vụ tại Thượng viện bang Georgia. Ông phục vụ với tư cách Thống đốc bang Georgia. Từ năm 1977 đến 1981, ông là Tổng thống thứ ba mươi chín của Hoa Kỳ.

Rồi ông rời Nhà Trắng.

Và ông vẫn tiếp tục cống hiến.

Tháng 9 năm 1984, chỉ ba năm sau khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống Jimmy Carter cầm lấy một chiếc búa và tham gia tình nguyện cùng Habitat for Humanity. Khi đó ông năm mươi chín tuổi và nghĩ rằng có lẽ đó chỉ là một lần duy nhất.

Nhưng không phải vậy.

Cũng trong năm ấy, ông và Rosalynn đang đi bộ ở thành phố New York thì nhìn thấy một công trình của Habitat với rất ít tình nguyện viên. Họ bước tới. Họ tham gia làm việc. Họ đưa thêm nhiều người khác đến cùng. Họ giúp cải tạo một tòa nhà bỏ hoang thành mái ấm cho mười chín gia đình.

Và họ không bao giờ dừng lại.

Trong suốt ba mươi lăm năm tiếp theo, Jimmy và Rosalynn Carter luôn xuất hiện. Năm nào cũng vậy. Dù mưa hay nắng. Dù khỏe mạnh hay đau đớn. Hết quốc gia này đến quốc gia khác. Hết mái nhà này đến mái nhà khác.

Rồi tháng 8 năm 2015 đến.

Khi ấy Carter đã chín mươi tuổi, các bác sĩ phát hiện một khối u trong gan ông. Sau phẫu thuật, họ xác định đó là ung thư hắc tố di căn dạng ung thư da nguy hiểm nhất. Các xét nghiệm cho thấy nó đã lan tới bốn vị trí khác nhau trong não. Nếu không điều trị, các bác sĩ nói rằng ông có lẽ chỉ còn sống chưa đầy sáu tháng.

Ông bước lên trong một cuộc họp báo, mỉm cười và nói với cả thế giới:

“Tôi đã có một cuộc đời tuyệt vời. Tôi sẵn sàng cho bất cứ điều gì xảy đến.”

Các bác sĩ điều trị cho ông bằng một loại thuốc miễn dịch tiên tiến vừa được FDA phê duyệt một năm trước đó. Kết hợp với xạ trị nhắm trúng đích vào các khối u trong não, điều đó đã tạo nên một kết quả đáng kinh ngạc.

Nó có hiệu quả.

Đến cuối năm 2015, chỉ vài tháng sau chẩn đoán, Jimmy Carter được xác nhận đã sạch ung thư.

Ông quay lại xây nhà.

Năm 2019, ông bị ngã và chấn thương hông. Ông hồi phục. Rồi lại quay về xây nhà. Sau đó là buổi sáng Chủ nhật ấy, năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm — mười bốn mũi khâu, gương mặt bầm tím, chiếc mũ bóng chày, sân khấu Ryman Auditorium, và công trường xây dựng ngay sáng hôm sau.

Trong hơn bốn mươi năm, Jimmy và Rosalynn Carter đã giúp xây dựng, cải tạo và sửa chữa hơn bốn nghìn bốn trăm ngôi nhà trên khắp thế giới — làm việc cùng hơn một trăm nghìn tình nguyện viên. Những gia đình từng không có gì giờ đã có một nền móng vững chắc dưới chân mình. Một nơi thực sự thuộc về họ.

Bởi vì một người từng có tất cả vẫn luôn chọn xuất hiện vì người khác.

Jimmy Carter qua đời ngày 29 tháng 12 năm 2024 tại nhà riêng ở Plains, Georgia, trong vòng tay gia đình.

Ông thọ một trăm tuổi vị tổng thống sống lâu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Ông không hoàn hảo. Không ai hoàn hảo cả. Nhưng suốt bốn thập kỷ sau khi rời khỏi cương vị quyền lực nhất thế giới, ông chưa bao giờ ngừng cầm lấy chiếc búa để giúp những người cần một mái nhà.

Khi ngã xuống, ông đứng dậy. Khi bệnh tật ập đến, ông chữa trị, hồi phục và quay lại làm việc. Khi cơ thể nói hãy dừng lại, ông nói với nó rằng mình còn có nơi cần đến.

Một số người nói về niềm tin của mình.

Còn Jimmy Carter thì xây dựng nó bằng chính đôi tay mình. 


 

Hồ sơ Cầu Voi: Vụ án Hồ Duy Hải và “Kịch bản thế thân” hoàn hảo?

Chan Dung Lanh Dao

Hồ sơ Cầu Voi: Vụ án Hồ Duy Hải và “Kịch bản thế thân” hoàn hảo?

Suốt 18 năm qua, vụ án Bưu điện Cầu Voi (2008) không đơn thuần là một hồ sơ hình sự, mà là một “vở kịch” được dàn dựng tinh vi nhằm che giấu một sự thật kinh hoàng. Khi nhìn sâu vào 5 lỗ hổng chí mạng mà tòa án cố tình bỏ qua, người ta không khỏi rùng mình trước giả thuyết về một kế hoạch “chọn người thế thân” hoàn hảo nhất lịch sử tư pháp Việt Nam.

Hãy bắt đầu từ hiện trường vụ án: Không một dấu vân tay, không một sợi tóc hay vết ADN nào của Hồ Duy Hải được tìm thấy. Tại sao một hung thủ thực hiện vụ sát hại dã man lại có thể “bốc hơi” sạch sẽ như một bóng ma? Câu trả lời rất có thể vì hung thủ thực sự là một kẻ có “quyền lực tuyệt đối” hoặc được bảo vệ bởi một thế lực đứng sau, kẻ có đủ thời gian và kỹ nghệ để xóa sạch mọi dấu vết sinh học trước khi cơ quan điều tra vào cuộc.

Sự dàn dựng càng lộ liễu khi những vật chứng cốt lõi như dao và thớt bị tiêu hủy một cách bí ẩn, rồi được thay thế bằng đồ mua mới ngoài chợ. Đây không phải là “sai sót tố tụng” vô ý. Việc tiêu hủy vật chứng gốc là cách duy nhất để xóa sổ vĩnh viễn ADN của kẻ thủ ác thực sự, ngăn chặn mọi cuộc giám định khoa học trong tương lai có thể lật tẩy danh tính của hắn.

Đáng sợ hơn, bằng chứng ngoại phạm của Hải tại tiệm cầm đồ vào lúc 19h13 hoàn toàn bị gạt phắt. Thời không bị bẻ cong để ép một người không thể phân thân phải có mặt tại hiện trường. Hàng loạt lời khai mâu thuẫn, những hồ sơ có lợi bị rút bớt, và sự biến mất của các nhân chứng nhìn thấy “người đàn ông lạ mặt” khác tại bưu điện cho thấy có một bàn tay vô hình đang vận hành cỗ máy tố tụng. Hồ Duy Hải, một thanh niên bình thường, đã được lựa chọn để trở thành quân cờ gánh tội cho một “nhân vật tầm cỡ” nào đó.

Đến năm 2026, vụ án này vẫn là một vết sẹo nhức nhối. Dù Hội đồng Thẩm phán từng giữ nguyên bản án vào năm 2020, nhưng dư luận vẫn đổ dồn mắt vào đợt đặc xá sắp tới. Liệu Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Anh Rừng có quyết định lật mở lại bức màn đen này? Quyết định đặc xá không chỉ là lòng nhân đạo, mà sẽ là cú đòn trực diện phá tan “ma trận im lặng” đã bao che cho hung thủ thực sự suốt gần hai thập kỷ qua.

https://www.facebook.com/le.anh.274642

Chân dung lãnh đạo

#chandunglanhdao 


 

MỘT CHUYỂN ĐỘNG – KHÔNG PHẢI MỘT CÔNG THỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đến nỗi ban Con Một!”.

“Con Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa!” – Athanasiô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không mặc khải Chúa Ba Ngôi như một công thức để giải thích, nhưng như một chuyển động để bước vào: Chúa Cha ban Con Một cho thế gian, để thế gian được dự phần sự sống của Thiên Chúa. Đó là ‘một chuyển động – không phải một công thức’.

Điều đáng chú ý là Gioan không mô tả Thiên Chúa bằng những khái niệm siêu hình, nhưng bằng những động từ: yêu, ban, sai và cứu. Chúng ta biết Thiên Chúa là ai nhờ những gì Ngài thực hiện cho thế gian. Vì thế, Ba Ngôi không được mặc khải như một công thức về Thiên Chúa, nhưng như một lịch sử tình yêu. Đóng khung Thiên Chúa vào công thức là đang thờ lạy một ngẫu tượng thần học. Hans Urs von Balthasar gọi chuyển động ấy là theo-drama – “vở kịch thần linh”, trong đó Chúa Cha trao ban Chúa Con cho thế gian để thế gian được cứu độ.

Điều gây ngạc nhiên nhất không phải là việc Thiên Chúa yêu, nhưng là đối tượng được Ngài yêu. Gioan dùng từ kosmos – “thế gian”. Trong Tin Mừng thứ tư, kosmos còn là thế giới khước từ Thiên Chúa và chống lại ánh sáng. Thế nhưng, chính thế giới ấy lại được yêu thương. Tình yêu đi trước sự hoán cải; ân sủng đi trước mọi công trạng. Yêu một thế giới dễ thương là thoả hiệp; yêu một thế giới tội lỗi mới là cứu độ.

Nhưng chuyển động tình yêu của Ba Ngôi không cưỡng ép ai. Thiên Chúa không sai Con đến để kết án thế gian, nhưng để cứu độ thế gian. Vì thế, phán xét trong Gioan trước hết là một sự tự phán xét. Khi khước từ Đấng được trao ban, con người tự tách mình khỏi sự sống phát xuất từ Chúa Cha. Thiên Chúa không ngừng yêu thương; chính việc khước từ tình yêu ấy mới trở thành phán xét. “Cửa hoả ngục được khoá từ phía trong!” – C. S. Lewis.

Các bài đọc hôm nay cho thấy điều đó. Môsê không gặp một định nghĩa về Thiên Chúa, nhưng gặp một Thiên Chúa “từ bi và nhân hậu”; Phaolô cũng không trình bày một công thức tín lý, nhưng một lời chúc: “ân sủng, tình yêu và hiệp thông”. Và Hội Thánh đáp lại bằng khúc tụng ca của Đaniel: “Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời!”. Trước mầu nhiệm Ba Ngôi, thái độ đầu tiên không phải là giải thích; nhưng là bước vào, ở lại và tôn thờ. Có những thực tại chỉ được hiểu từ bên trong khi người ta tham dự vào đó.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mặc khải Thiên Chúa; Ngài đưa chúng ta vào chính sự sống của Thiên Chúa. Nơi Ngài, chuyển động yêu thương của Chúa Cha trở nên hữu hình. Vì thế, tin không chỉ là đồng ý với một công thức, nhưng là bước vào một tương quan; không chỉ là hiểu một mầu nhiệm, nhưng là sống trong mầu nhiệm ấy. Đức tin không phải là một bài kiểm tra giáo lý; đó là cuộc xuất hành vào tình yêu. Thiên Chúa không cần những khán giả đứng xem, Ngài cần những chứng nhân dám nhập cuộc. Đó là ‘một chuyển động – không phải một công thức’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Ba Ngôi, xin kéo con vào ‘vở kịch thần linh’ của tình yêu Chúa, để con biết yêu thương, trao ban như Chúa đã không ngừng trao ban cho thế gian!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI, NĂM A

Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 3,16-18

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.”


 

Ý NGHĨA CỦA “MAGNIFICA HUMANITAS” ĐƯỢC GIẢI THÍCH MỘT CÁCH ĐƠN GIẢN, VÀ ĐẦY BẤT NGỜ

Legio Mariae Dao Binh Duc Me

28/05/2026 Phêrô Phạm Văn Trung

Thông điệp Rerum Novarum là cuộc gặp gỡ với Cách mạng Công nghiệp. Thông điệp Magnifica Humanitas là cuộc gặp gỡ với trí tuệ nhân tạo, và yêu cầu chúng ta lựa chọn giữa Tháp Babel và Thành phố của Chúa. Dưới đây là một câu trích dẫn từ mỗi chương.

Năm 1891, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII nhìn vào một thế giới đang bị tàn phá bởi quá trình công nghiệp hóa và đã viết Rerum Novarum, một thông điệp đã mãi mãi thay đổi cách Giáo hội tương tác với xã hội. Vào ngày 15 tháng 5 năm 2026, đúng 135 năm sau, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã ký thông điệp Magnifica Humanitas. Hoàn cảnh khác nhau, nhưng tính cấp thiết vẫn như nhau.

Thông điệp này dài, giàu nội dung thần học, và đôi khi táo bạo đến bất ngờ. Dưới đây là nội dung của từng chương, và một yếu tố trong mỗi chương có thể khiến bạn ngạc nhiên.

Lời giới thiệu: Hai thành phố, một sự lựa chọn

Thông điệp của Đức Lêô XIV mở đầu bằng hai hình ảnh Kinh Thánh: Tháp Babel và việc xây dựng lại Giêrusalem dưới thời Nơkhemia. Một là dự án của sự kiêu hãnh và đồng nhất; dự án kia thì chậm rãi, mang tính cộng đồng và bắt nguồn từ Thiên Chúa. Toàn bộ thông điệp đều xuất phát từ sự lựa chọn này. Chúng ta đang xây dựng Babel, hiệu quả, mạnh mẽ, nhưng phi nhân tính, hay đang xây dựng Giêrusalem, từng viên gạch một cách kiên nhẫn?

Chương 1: Một truyền thống sống động

Đức Giáo Hoàng đã truyền lại giáo huấn xã hội của Giáo hội từ thời Đức Lêô XIII đến thời Đức Phanxicô, cho thấy mỗi vị giáo hoàng đã ứng phó với các cuộc khủng hoảng thời bấy giờ như thế nào. Dòng chảy này trải dài từ quyền lợi người lao động đến chiến tranh hạt nhân, sự sụp đổ môi trường và bất bình đẳng toàn cầu.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Lêô XIV không chỉ áp dụng Học thuyết Xã hội vào Trí tuệ Nhân tạo. Ngài nói rằng Trí tuệ Nhân tạo chủ động thách thức các phạm trù của của Học thuyết Xã hội đó từ bên trong, và đòi hỏi truyền thống này phải phát triển hơn nữa.

Đoạn số 17 viết:

“Trí tuệ nhân tạo…không nên được coi chỉ là một chủ đề khác để nghiên cứu hay một cuộc khủng hoảng cần được giải quyết, mà đúng hơn là một sự phát triển thách thức các phạm trù của Học thuyết Xã hội từ bên trong, đòi hỏi sự phát triển hơn nữa của chúng trong sự trung thành với Tin Mừng”.

Chương 2: Những nguyên tắc bất biến

Thông điệp này tái khẳng định những trụ cột nền tảng: phẩm giá con người, lợi ích chung, nguyên tắc bổ trợ, tình đoàn kết, công bằng xã hội và sự phát triển toàn diện của con người. Những nền tảng vững chắc, quen thuộc, cho đến khi chúng không còn như vậy nữa.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đề cập rõ ràng đến thuật toán, dữ liệu, nền tảng kỹ thuật số và bằng sáng chế theo nguyên tắc về mục đích sử dụng chung của hàng hóa. Dữ liệu không phải là tài sản của một công ty công nghệ. Nó thuộc về tất cả mọi người, theo đúng nghĩa.

Điều 67 viết:

“Ngày nay, bên cạnh những của cải được dành cho tất cả mọi người, chúng ta cũng cần bao gồm những hình thức sở hữu mới, chẳng hạn như bằng sáng chế, thuật toán, nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng công nghệ và dữ liệu. Trong bối cảnh mà sự giàu có của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào tri thức và công nghệ, nếu những của cải này vẫn tập trung trong tay một số ít người, mà không có các hình thức chia sẻ và tiếp cận phù hợp, thì sẽ tạo ra một sự mất cân bằng mới, trái ngược với mục đích phổ quát của của cải.”

Chương 3: Trí tuệ nhân tạo là gì và không phải là gì

Đây là trọng tâm giáo lý của thông điệp. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV viết rõ ràng rằng trí tuệ nhân tạo (AI) không phải là trí tuệ con người. Nó xử lý dữ liệu. Nó không thể cảm nhận, đau khổ, yêu thương, hay gánh vác trách nhiệm đạo đức. Nó có thể mô phỏng sự đồng cảm mà không hiểu được sự đồng cảm đó. Điều đó vô cùng quan trọng khi chúng ta trao cho trí tuệ nhân tạo quyền lực chi phối cuộc sống của con người.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng kêu gọi “giải giáp” trí tuệ nhân tạo, giải phóng nó khỏi logic cạnh tranh địa chính trị và thương mại, khỏi sự kiểm soát độc quyền, và trả lại cho sự đa dạng của các nền văn hóa nhân loại.

Đoạn số 110 ghi:

“Cuối cùng, tôi muốn sử dụng cụm từ “giải giáp”, một cụm từ rất gần gũi với trái tim tôi. Giải giáp AI có nghĩa là giải phóng nó khỏi tư duy cạnh tranh “có vũ trang”, điều mà ngày nay không chỉ giới hạn trong bối cảnh quân sự, mà còn là một hiện tượng kinh tế và nhận thức. Điều này dẫn đến cuộc chạy đua để có được các thuật toán ngày càng mạnh mẽ hơn và các tập dữ liệu lớn hơn, được thúc đẩy bởi mong muốn giành được sự thống trị về địa chính trị hoặc thương mại. Giải giáp có nghĩa là bác bỏ giả định rằng sức mạnh kỹ thuật tự động mang lại quyền cai trị. Giải giáp không có nghĩa là từ chối công nghệ, mà là ngăn chặn nó thống trị nhân loại. Giải giáp có nghĩa là giải phóng công nghệ khỏi sự kiểm soát độc quyền và mở ra cho thảo luận và tranh luận, do đó làm cho công nghệ thân thiện với con người và khôi phục công nghệ đưa nó vào sự đa dạng của các nền văn hóa và lối sống của con người. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay không chỉ là đạo đức hay kỹ thuật. Đạo đức hay kỹ thuật mang tính sinh thái theo nghĩa sâu sắc nhất, bởi vì nó liên quan đến một chiều kích mới của ngôi nhà chung của chúng ta. AI đã là một môi trường mà chúng ta đang sống trong đó, cũng như một lực lượng mà chúng ta phải tương tác. Vì lý do này, chỉ điều chỉnh nó thôi là chưa đủ; nó phải được giải giáp, trở nên thân thiện và dễ tiếp cận.”

Chương 4: Chân lý, lao động và tự do

Chương bốn là chương có phạm vi bao quát rộng nhất. Chương này đề cập đến thông tin sai lệch và dân chủ, sự chuyển đổi công việc do công nghệ tự động hóa, sự mong manh của các gia đình dưới áp lực kinh tế, những nguy hiểm của chứng nghiện kỹ thuật số và sự bóc lột người lao động ẩn giấu trong chuỗi cung ứng AI.

Điều bất ngờ: Trong một đoạn văn về chế độ nô lệ hiện đại và nền kinh tế kỹ thuật số, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV chính thức thừa nhận, nhân danh Giáo hội, sự đồng lõa trong lịch sử của Giáo hội đối với chế độ nô lệ. Đó là một khoảnh khắc đáng chú ý của sự khiêm nhường trong một văn kiện về tương lai.

Đoạn số 176 viết:

“Thật đúng là không thể đánh giá các sự kiện trong quá khứ một cách lỗi thời, như thể các tiêu chí đạo đức, vốn được hoàn thiện theo thời gian, đã luôn luôn tồn tại. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận hay xem nhẹ sự chậm trễ mà cả xã hội và Giáo hội trong việc lên án tệ nạn nô lệ. Trong thời Cổ đại và Trung Cổ, nhiều cá nhân và thậm chí cả các thể chế giáo hội đều có nô lệ. Ngay từ thời kỳ cận đại, Tòa Thánh La Mã, đáp lại yêu cầu từ các vị vua, đã can thiệp nhiều lần để điều chỉnh và hợp pháp hóa các hình thức áp bức, và trong một số trường hợp, là việc nô dịch những người “ngoại đạo”. Chỉ đến thế kỷ XIX, một sự lên án chính thức, tuyệt đối và phổ quát đối với chế độ nô lệ mới được nêu rõ ràng, đặc biệt là dưới thời Đức Giáo Hoàng Lêô XIII.”

Chương 5: Nền văn minh của tình yêu

Chương cuối cùng đề cập đến chiến tranh. Nội dung rất thẳng thắn: chi tiêu quân sự đang gia tăng, các giới hạn đạo đức đang bị xói mòn, và trí tuệ nhân tạo đang đưa ra những quyết định chết người nhanh hơn và vô cảm hơn bao giờ hết.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tuyên bố rõ ràng rằng lý thuyết chiến tranh chính nghĩa truyền thống giờ đã lỗi thời. Trong một thế giới của vũ khí tự động và chiến tranh hỗn hợp, khuôn khổ cũ không thể trụ vững. Ngoại giao, đối thoại và chủ nghĩa đa phương là con đường thực tế duy nhất phía trước.

Đoạn 192 viết:

“Ngày nay, hơn bao giờ hết, bất kể quyền tự vệ theo nghĩa chặt chẽ nhất, điều quan trọng là phải khẳng định lại rằng lý thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn thường được sử dụng để biện minh cho bất cứ loại chiến tranh nào, giờ đây đã lỗi thời. Nhân loại sở hữu những công cụ hiệu quả và có khả năng hơn nhiều để thúc đẩy sự sống con người và giải quyết xung đột, chẳng hạn như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ánh sự nghèo nàn về mặt quan hệ, điều luôn dẫn đến những hậu quả thảm khốc đối với dân thường.”

Kết luận: Bài học của Nơkhemia

Thông điệp kết thúc bằng một chương trình thực tiễn: hãy trung thành với chân lý, đầu tư vào giáo dục, vun đắp các mối tương quan chân thật, yêu công lý và hòa bình. Hình ảnh được thể hiện là Nơkhemia, xắn tay áo lên, xây dựng lại từng bức tường một. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV gợi ý rằng đó chính là hình ảnh của việc trở thành người Công giáo trong thời đại trí tuệ nhân tạo.

Daniel Esparza, 25/05/2026

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

Từ https://aleteia.org

THÔNG ĐIỆP NÀY DẪN CHỨNG 224 TÁC GIẢ:

TOLKIEN, FRANKL, MONTESSORI, V.V.

Thông điệp mới của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV kết hợp các biểu tượng thế tục và các nhà tư tưởng hiện đại vào giáo huấn xã hội Công giáo, dựa trên một nguồn tư liệu bất ngờ gồm 224 nguồn tham khảo.

Tolkien, Marie Curie, Viktor Frankl, Plato, Guernica , Schindler’s List và Maria Montessori… Trong thông điệp Magnifica humanitas, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã đề cập đến một loạt các cá nhân và tác phẩm mà người ta có thể không ngờ tới từ ngòi bút của một vị giáo hoàng. Chúng tôi đã xem xét 224 dẫn chứng rải rác trong văn bản này, nhiều dẫn chứng được mượn từ các giáo hoàng trước đây nhưng cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thế giới Anglo-Saxon.

Từ Trung Địa đến Auschwitz

Một trong những trích dẫn đáng chú ý nhất trong thông điệp Magnifica Humanitas đến từ nhà văn người Anh J.R.R. Tolkien (1892–1973), hay chính xác hơn, từ Gandalf, vị pháp sư huyền thoại trong bộ ba tiểu thuyết Chúa tể những chiếc nhẫn. Để nhấn mạnh rằng mỗi người phải hành động theo khả năng của mình, Đức Giáo Hoàng đã trích dẫn những lời khôn ngoan của vị pháp sư dành cho Frodo, là người mang chiếc nhẫn, cảm thấy nản lòng trước sự vĩ đại của nhiệm vụ: “Việc của chúng ta không phải là làm chủ mọi dòng chảy của thế giới, mà là làm những gì trong khả năng của mình để giúp đỡ những năm tháng mà chúng ta đang sống, nhổ tận gốc cái ác trên những cánh đồng mà chúng ta biết, để những người sống sau có thể có đất đai sạch sẽ để canh tác.”

Đức Giáo Hoàng cũng nhắc đến nhà tâm thần học người Áo Viktor Frankl (1905–1997), người sáng lập ra “liệu ​​pháp ý nghĩa”, tập trung vào việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Thông điệp này mượn kết luận từ một cuốn sách của người sống sót sau thảm họa Holocaust này, khẳng định rằng trong những giờ phút đen tối nhất của nhân loại, “chúng ta đã hiểu được con người thực sự là gì. Xét cho cùng, con người chính là kẻ đã tạo ra các phòng hơi ngạt ở Auschwitz; tuy nhiên, họ cũng chính là kẻ đã bước vào những phòng hơi ngạt đó với tư thế đứng thẳng, miệng vẫn đọc Kinh Lạy Cha hoặc Kinh Shema Yisrael.”

Thông điệp Magnifica humanitas cũng nhắc đến một nhân vật Do Thái nổi bật khác, người đã chứng kiến ​​sự trỗi dậy đen tối của chủ nghĩa Quốc xã trước khi di cư đến Hoa Kỳ: nhà lý luận chính trị Hannah Arendt (1906–1975). Nổi tiếng với những hiểu biết sâu sắc về “sự tầm thường của cái ác”, bà cũng có bằng tiến sĩ về Thánh Augustinô. Đức Giáo Hoàng dựa trên công trình của bà về chủ nghĩa toàn trị để giải thích rằng những người dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các hệ thống ý thức hệ là “những người mà đối với họ không còn có sự phân biệt giữa sự thật, tức là kinh nghiệm thực tế, và hư cấu, và sự phân biệt giữa đúng, tức là các chuẩn mực tư duy, và sai”.

Nghệ thuật mang tính tiên tri và những người phụ nữ dũng cảm

Xuyên suốt các trang sách, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nhấn mạnh những tác phẩm văn hóa và nghệ thuật “mang ý nghĩa gần như tiên tri”. Trong âm nhạc, ngài xem bản giao hưởng số 9 của Beethoven như một biểu hiện của “khát vọng hiệp nhất”. Trong hội họa, ngài coi bức tranh Guernica của Picasso là “lời lên án sự phi nhân hóa”. Cuối cùng, trong điện ảnh, ngài chỉ ra bộ phim Schindler’s List của Steven Spielberg như “một lời kêu gọi không được để quá khứ bị lãng quên”.

Ngoài việc viện dẫn Hiến chương Liên Hợp Quốc, với mục tiêu “cứu các thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh”, Đức Giáo Hoàng còn vinh danh những cá nhân đã thay đổi tiến trình lịch sử bằng cách đấu tranh cho phẩm giá con người. Ngài ca ngợi “lời chứng của Martin Luther King Jr., hay việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi sau khi Nelson Mandela được trả tự do và quyết định không để tương lai bị chi phối bởi lòng thù hận”.

Thông điệp Magnifica humanitas nêu bật danh sách những người phụ nữ “can đảm và hào phóng” đã góp phần làm cho “lịch sử trở nên nhân văn hơn”. Danh sách này bao gồm hai vị thánh, Thánh Laura Montoya và Thánh Têrêsa thành Calcutta, cũng như những phụ nữ thuộc các tôn giáo và hoàn cảnh khác. Đức Giáo Hoàng chọn tưởng nhớ nhà hoạt động Công giáo người Mỹ Dorothy Day, nhà vật lý theo chủ nghĩa bất khả tri người Pháp-Ba Lan Marie Skłodowska-Curie, nhà giáo dục người Ý Maria Montessori, nhà truyền giáo Tin Lành người Mỹ Elisabeth Elliot, nhà hoạt động môi trường người Kenya Wangari Maathai và chính trị gia Hồi giáo người Pakistan Benazir Bhutto.

Những tia sáng của triết học và đức tin Công giáo

Thông điệp này gợi nhắc triết gia Hy Lạp Platon (427–347 trước Công nguyên) cảnh báo về hậu quả của sự thỏa mãn tức thời trong giáo dục do trí tuệ nhân tạo điều khiển. Đức Giáo Hoàng lưu ý: “Như Platon đã viết, những điều sâu sắc và quan trọng nhất chỉ được học sau nhiều thời gian và nỗ lực, bằng cách tham gia thảo luận với người khác, cùng nhau khám phá các ý tưởng và kinh nghiệm như dùng đá lửa cho đến khi tia lửa hiểu biết được nhen nhóm trong chúng ta.”

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trích dẫn nhà thần học và triết gia người Đức Romano Guardini (1885–1968), giống như Đức Giáo Hoàng Phanxicô, coi triết gia này là một người có ảnh hưởng lớn, nhắc lại lời cảnh báo của ông: “Con người hiện đại chưa được rèn luyện để sử dụng quyền lực một cách đúng đắn.” Ngài cũng nhắc đến cựu thị trưởng Florence, Giorgio La Pira (1904–1977), người ủng hộ “phương pháp đàm phán, gặp gỡ, phối hợp, tức là phương pháp đích thực của con người!”

Một tác giả người Pháp cũng được nhắc đến trong số những nguồn cảm hứng của vị Đức Giáo Hoàng thứ 267: Hồng y Pierre de Bérulle (1575–1629), người sáng lập Dòng Oratory tại Pháp, và là cha đẻ của Trường phái Linh Đạo Pháp. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cũng lấy cảm hứng từ hai nhà thần học vĩ đại của Giáo hội Công giáo: Thánh Tôma Aquinô (1225–1274) và Thánh Augustinô (354–430), bậc thầy tâm linh của ngài, là vị được nhắc đến bốn lần. Trong số các nhân vật Công giáo, ngài nhắc đến một số vị tử đạo, Thánh Maximilian Kolbe, một tu sĩ dòng Phanxicô người Ba Lan, Thánh Oscar Romero người El Salvador, và Giám mục Enrique Angelelli người Argentina, cùng với Đức Hồng Y Phaxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận người Việt Nam.

Hơn nữa, khi đề cập đến tính chất bấp bênh của việc làm, vị giáo hoàng người Mỹ đã tạo cơ hội cho các giám mục Hoa Kỳ khẳng định rằng “công việc không chỉ đơn thuần là nguồn thu nhập mà còn là một lĩnh vực quan trọng, nơi hình thành bản sắc, vun đắp tình bạn và các mối tương quan, học hỏi trách nhiệm thực tiễn và nhận ra ơn gọi của mình.”

Dựa trên những giáo huấn gần đây của các Giáo Hoàng.

Trong văn kiện này, góp thêm tiếng nói của mình vào những giáo huấn xã hội của các giáo hoàng, Đức Lêô XIV đã đề cập rộng rãi đến các vị tiền nhiệm gần đây của ngài, những vị đã suy ngẫm về các chủ đề này, bắt đầu từ Đức Giáo Hoàng Lêô XIII. Vị giáo hoàng được trích dẫn nhiều nhất trong phần chú thích của Magnifica humanitas chắc chắn là Đức Phanxicô, với 55 lần xuất hiện. Tiếp theo là Thánh Gioan Phaolô II, người được nhắc đến 39 lần, và Đức Bênêđíctô XVI, được trích dẫn 18 lần.

Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI cũng được nhắc đến 16 lần, tiếp theo là Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII (ba lần), Đức Giáo Hoàng Piô XII (ba lần) và Đức Giáo Hoàng Piô XI (một lần). Đức Lêo6 XIII, người mà vị giáo hoàng thứ 267 đã lấy tên, xuất hiện trong ba chú thích nhưng được mô tả là người tiên phong của giáo huấn xã hội Công giáo hiện đại. Công đồng Vatican II cũng nằm trong số các nguồn tư liệu cung cấp cho văn bản, với khoảng 15 lần nhắc đến được ghi nhận, cùng với Bộ Giáo lý Đức tin.

Cuối cùng, để nhấn mạnh nhu cầu cải cách của Giáo hội hướng tới “một nền văn hóa minh bạch, trách nhiệm giải trình và đánh giá”, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhắc lại Thượng Hội đồng về Tương lai của Giáo hội. Dự án đồ sộ này, được người tiền nhiệm của ngài khởi xướng nhằm làm cho Giáo hội trở nên bao dung hơn, nay đã được ghi khắc vĩnh viễn vào một thông điệp.

I.Media, 25/05/2026

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

Từ https://aleteia.org


 

Dân Hưng Yên phải quật mồ, khai mả, giao đất Trump làm sân golf

Ba’o Nguoi-Viet

May 29, 2026

HƯNG YÊN, Việt Nam (NV) – Một dự án sân golf và khu dân cư cao cấp mang thương hiệu Trump trị giá $1.5 tỷ ở Hưng Yên, Việt Nam đang vấp phải sự phẫn nộ của người dân địa phương, khi dân làng buộc phải giao đất nông nghiệp và bốc mộ người thân để nhường chỗ cho dự án.

Tờ Financial Times (FT) đưa tin rằng nông dân tại xã Châu Ninh, tỉnh Hưng Yên, đã bắt đầu tháo dỡ một nghĩa trang tồn tại nhiều thập niên giữa những vườn cây ăn trái. Người dân ở đây bị yêu cầu di dời các ngôi mộ, lấy đất cho dự án rộng 990 hectare (khoảng 9.900.000 2) của Trump Organization và đối tác Việt Nam là Tổng Công Ty Phát Triển Đô Thị Kinh Bắc thực hiện. Dự án dự trù bao gồm các sân golf, khách sạn năm sao, biệt thự cao cấp và khu dân cư.

Một phụ nữ đạp xe ngang qua tấm biển tại lễ khởi công dự án khu nghỉ dưỡng và sân golf Trump International, Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng Yên vào ngày 21 Tháng Năm, năm 2025.(Hình: Nhac NGUYEN / AFP via Getty Images)

Vụ việc này chạm đến một vấn đề rất sâu trong văn hóa Việt Nam, nơi mồ mả tổ tiên được xem là thiêng liêng. Tại nghĩa trang, theo FT, những bảng tên bị vỡ, chân nhang cháy dở và các bia mộ bị đánh dấu cho thấy phần hài cốt nào đã được di dời.

“Vì dự án này mà người dân bị buộc phải chuyển đi,” ông Trần Minh Hải, một nông dân trồng hoa ly, nói. Nhắc đến quan niệm của người Việt rằng mồ mả nên được để yên, ông nói thêm: “Đây là chuyện tâm linh, người ta không muốn động đến mồ mả.”

Dự án được khởi công vào Tháng Năm, năm 2025, không lâu sau khi chính quyền Việt Nam phê duyệt khoản đầu tư. Hãng Reuters đưa tin khi đó rằng ông Eric Trump, con trai của Tổng Thống Trump, phó chủ tịch điều hành của Trump Organization, đã dự lễ khởi công cùng Thủ Tướng Phạm Minh Chính. Ông Chính nói chuyến thăm của ông Eric Trump đã “tạo động lực để chúng tôi đẩy nhanh dự án này,” và yêu cầu chính quyền địa phương hỗ trợ để khu nghỉ dưỡng hoàn thành đúng tiến độ. Ông Eric Trump nói các dự án được phát triển tại Việt Nam sẽ là “niềm ao ước của toàn châu Á và cả thế giới.”

Thời điểm của dự án là khi Việt Nam, một nền kinh tế phụ thuộc lớn vào xuất cảng, đang tìm cách duy trì quan hệ tốt với Washington trong lúc đàm phán về thuế quan của Mỹ. Theo Reuters cho biết, Việt Nam phê duyệt kế hoạch đầu tư $1,5 tỷ này khi đang tìm cách tránh mức thuế nhập khẩu 46% mà ông Trump từng đề xuất. FT ghi nhận rằng lễ khởi công diễn ra sáu tuần sau khi ông Trump tuyên bố thuế quan “ngày giải phóng” và dự án được nhiều người nhìn nhận như một phần trong nỗ lực của Hà Nội nhằm giữ thiện cảm với chính quyền Trump.

Ông Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện ISEAS-Yusof Ishak, nói với FT: “Ngày càng có cảm giác rằng Việt Nam cần làm nhiều hơn để làm hài lòng chính quyền Trump về thương mại, thuế quan và mối quan ngại gần đây về quyền sở hữu trí tuệ.”

Nhưng đối với dân làng, vấn đề này rất trực tiếp và cá nhân. Bài báo của FT ghi nhận, một số cư dân nói mức bồi thường đất thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế và không đủ để thay thế sinh kế của họ. Một số người dân phàn nàn về sự đe dọa, thiếu minh bạch trong khảo sát đất và việc định giá hoa màu không công bằng.

Ông Hoàng Đô, 72 tuổi, nói ông nhận khoảng 70 triệu đồng để di dời mộ cha mẹ và con trai. “Đau lắm,” ông nói. “Tôi phẫn nộ về giá bồi thường thu hồi đất.”

Một cư dân khác, bà Bùi Thị Yến, nói bà không muốn giao phần đất vốn từng được cấp để bồi thường cho gia đình các liệt sĩ trong Chiến Tranh Việt Nam. Ông Hoàng Anh Xa, người có năm thân nhân được chôn trong nghĩa trang, đặt câu hỏi vì sao mồ mả gia đình ông phải bị di dời. “Mộ của cụ tôi đã ở đó từ năm 1967, trước khi đất nước này được thành lập, vậy tại sao tôi phải chuyển đi?” ông nói với FT.

Ông Xa cũng nói dự án đe dọa sinh kế của ông. “Tôi sẽ không thể tìm được việc khác,” ông nói. “Chúng tôi không phản đối chính sách của Đảng và nhà nước. Chúng tôi chỉ xin một điều duy nhất, giá đất phải cao hơn.”

Trump Organization nói dự án này là một khoản đầu tư lớn vào tương lai của Việt Nam. Trong thông cáo chính thức, công ty mô tả Trump International, Vietnam là dự án sân golf và khu dân cư đầu tiên mang thương hiệu Trump tại Việt Nam. Ông Eric Trump nói Việt Nam là “một trong những thị trường năng động và nhiều triển vọng nhất thế giới hiện nay,” và gọi dự án này là “một cam kết về sự xuất sắc, một sự tôn vinh văn hóa và một khoản đầu tư lâu dài vào tương lai của Việt Nam.”

Nhưng trên thực địa ở Hưng Yên, dự án xa hoa được hứa hẹn ấy đã trở thành biểu tượng đau đớn của sự di dời. Với nhiều nông dân, tranh chấp này không chỉ là chuyện tiền bạc. Đó là chuyện đất đai, tổ tiên, ký ức, và câu hỏi liệu những người dân bình thường có thật sự có tiếng nói khi một dự án mang ý nghĩa chính trị lớn xuất hiện hay không. (K.L)


 

Tòa ra lệnh Trump gỡ tên khỏi Kennedy Center trong 2 tuần

Ba’o Nguoi-Viet

May 29, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Trong một phán quyết đưa ra vào ngày Thứ Sáu, 29 Tháng Năm, Chánh Án Christopher Cooper của tòa liên bang ở Washington, DC ra lệnh phải gỡ tên của Tổng Thống Donald Trump ra khỏi tòa nhà Trung Tâm Biểu Diễn Nghệ Thuật Donald J. Trump và John F. Kennedy Center vì nó được gắn vào một cách bất hợp pháp.

Theo AP, phán quyết của tòa cũng đi kèm lệnh chặn kế hoạch đóng cửa dài hạn địa điểm văn hóa quốc gia quan trọng này.

Công nhân gắn bảng hiệu “The Donald J. Trump and The John F. Kennedy Memorial Center for the Performing Arts” ngày 19 Tháng Mười Hai, 2025. (Hình: Heather Diehl/Getty Images)

Chánh Án Christopher Cooper ra lệnh trong vòng hai tuần, chính quyền phải gỡ bỏ mọi bảng hiệu tại Kennedy Center có gắn tên ông Trump, đồng thời cập nhật trang web để loại bỏ mọi đường dẫn đến tên gọi “Trung Tâm Kennedy Trump Center” hay “Trung Tâm Biểu Diễn Nghệ Thuật Donald J. Trump và John F. Kennedy.”

Theo lệnh của tòa, hội đồng quản trị trung tâm đã vượt quá thẩm quyền pháp lý khi bỏ phiếu gắn tên Tổng Thống Trump lên tòa nhà và tiến hành kế hoạch đóng cửa dài hạn. Chánh Án Cooper nói Quốc Hội là cơ quan đặt tên cho Kennedy Center, và chỉ Quốc Hội mới có quyền đổi tên.

Phán quyết này là một thất bại lớn đối với nỗ lực của ông Trump nhằm tái định hình một trong những địa điểm văn hóa quan trọng nhất tại Washington, DC.

Kể từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc, ông Trump đã trực tiếp can dự vào hoạt động của trung tâm này, tự bổ nhiệm một hội đồng quản trị mới và tự bổ nhiệm mình làm chủ tịch hội đồng. Tên của ông sau đó được gắn lên mặt tiền tòa nhà, từ lâu là đài tưởng niệm quốc gia dành cho cố Tổng Thống John F. Kennedy.

Chánh Án Cooper đặc biệt chỉ trích cuộc bỏ phiếu ngày 16 Tháng Ba của hội đồng quản trị nhằm đóng cửa trung tâm để sửa chữa, gọi quyết định này là “thiếu hiểu biết và dường như đã được định sẵn.” Ông viết trong phán quyết, các ủy viên có thể đã xem xét tính phù hợp của việc đóng cửa “theo nhiều cách thận trọng,” nhưng nói thêm: “Đây không phải là một trong những cách đó.”

“Không có bằng chứng nào cho thấy hội đồng đã cân nhắc toàn bộ các nghĩa vụ pháp định của mình khi xác định rằng việc đóng cửa hoàn toàn Trung Tâm Kennedy Center là phù hợp,” ông Cooper viết trong một phán quyết dài do CNN thu thập được. “Tóm lại, không có bằng chứng nào được trình trước tòa án cho thấy hội đồng quản trị trung tâm đã xem xét cách thức thực hiện trọn vẹn sứ mệnh lập pháp của mình trong suốt thời gian đóng cửa.”

Một trong những bảng hiệu của Trung Tâm Kennedy Center mà tòa ra lệnh phải gỡ bỏ chữ “Trump.” (Hình: Mandel Ngan/AFP via Getty Images)

Phán quyết được đưa ra sau một vụ kiện do các tổ chức văn hóa và bảo tồn lịch sử đệ trình. Một vụ khác do Dân Biểu Joyce Beatty (Dân Chủ-Ohio), người giữ vai trò là thành viên đương nhiệm trong hội đồng quản trị Kennedy Center, khởi kiện. Chánh Án Cooper bác đơn của các nhóm bảo tồn, nhưng chấp nhận yêu cầu của Dân Biểu Beatty nhằm chặn việc đổi tên và đóng cửa trung tâm, theo AP.

Dân Biểu Beatty kiện Tổng Thống Trump và những người liên quan hồi Tháng Mười Hai, 2025, lập luận rằng hội đồng quản trị không có thẩm quyền đổi tên John F. Kennedy Center for the Performing Arts. Khi công bố vụ kiện, bà nói: “Chỉ Quốc Hội mới có thẩm quyền đổi tên Kennedy Center. Tổng Thống Trump và những người xu nịnh ông ấy không được phép chà đạp luật liên bang và qua mặt Quốc Hội để phục vụ cái tôi của ông ấy.”

Bà Beatty cũng lập luận rằng sau vụ ám sát ông Kennedy, Quốc Hội đã chỉ định trung tâm này là đài tưởng niệm quốc gia duy nhất tại Washington, DC dành cho cố tổng thống, vì vậy bất kỳ thay đổi tên nào cũng phải do Quốc Hội thông qua.

Ngay sau phán quyết của tòa, ông Trump có phàn nàn đôi chút, nhưng có vẻ “miễn cưỡng” chấp nhận.

Tổng thống viết trên Truth Social: “…Điều không may là Chánh Án Cooper và nhóm cánh tả muốn thấy nó (trung tâm) CHẾT hơn là có Tổng Thống Trump thay đổi nói thành một cái gì đó mà tất cả mọi người có thể tự hào…”

“Trừ khi tôi được tự do làm điều mà tôi làm tốt hơn bất kỳ ai khác, đưa nơi này trở lại vị thế vốn có về mặt vật chất, tài chính, và nghệ thuật, tôi không có hứng thú tiếp tục một hành trình chỉ có thể là vô vọng vào “MIỀN ĐẤT KHÔNG BAO GIỜ.” Chưa từng có một tổng thống nào của Hoa Kỳ bị các tòa án đối xử bất công như tôi, nhưng không sao cả, tôi sẽ tiếp tục làm điều được xem là một công việc tuyệt vời cho những người dân tuyệt vời của đất nước chúng ta. Tôi đã chỉ đạo Bộ Thương Mại thực hiện mọi sắp xếp cần thiết với Quốc Hội để cho phép chuyển giao đầy đủ và hoàn toàn tòa nhà này, trao cho họ trách nhiệm về vận hành, bảo trì, và quản trị,” ông Trump viết tiếp. (K.L) [đ.d.]


 

TẠI SAO THINH LẶNG  LẠI CẦN THIẾT? – Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Thánh Biển Đức dạy các môn sinh của mình: giữ thinh lặng, ngay cả đối với những điều lành thánh.  Một lời nói đúng cũng thành sai, bởi vì ngay khi ta dùng lời để nói về sự thật, nó đã bị bóp méo; dù ta có nói đúng về Thiên Chúa, thì, cũng giống như ngón tay vẽ trên mặt đại dương, sự thật không nằm trong ngôn từ, Thiên Chúa không nằm trong các định nghĩa. 

Có một nghịch lý: người càng hiểu sâu, thì càng nói ít, còn người càng biết ít, thì càng nói nhiều.  Khôn ngoan thật sự không nằm ở lời nói, nhưng ở thinh lặng, nơi không còn gì để chứng minh, không còn gì để khoe khoang.  Thinh lặng không phải là yếu đuối, mà là, dấu hiệu của sự trưởng thành: khi ta còn nhiều sợ hãi, ta nói để bảo vệ mình; khi ta còn nhiều mong cầu, ta nói để được người khác chấp nhận; khi ta còn nhiều lo âu, ta nói để khỏa lấp khoảng trống; nhưng, khi đã đủ sâu, ta bắt đầu thấy: không phải điều gì biết cũng cần nói, không phải điều gì tốt cũng cần chia sẻ, không phải sự thật nào cũng cần lời để thể hiện.  Thinh lặng là không gian để sự thật được hiển lộ: giống như mặt nước phẳng lặng, mới có thể phản chiếu bầu trời; tâm hồn tĩnh lặng mới phản ánh những điều sâu xa.

 Lời nói chỉ quý khi nó được sinh ra từ sự tĩnh lặng, chứ không phải, từ sự bất an.  Có người chọn im lặng vì sợ: sợ bị đánh giá, sợ bị hiểu lầm, sợ bị bỏ rơi.  Có người nói rất nhiều cũng vì sợ: sợ bị lãng quên, sợ bị coi thường, sợ mất quyền lực.  Thinh lặng không phải là trạng thái trống rỗng, mà là, một cánh cửa mở vào một thế giới sâu nhất bên trong ta: khi ta thinh lặng, ta không còn bận rộn để nói, cũng không còn bị cuốn theo phản ứng, lúc đó, ta mới đủ tỉnh táo để nhận ra mọi chuyện đang diễn ra: ta sẽ nhận ra nỗi giận vừa rồi, hóa ra không đến từ người kia, mà, từ một tổn thương cũ; hóa ra sự ghen tỵ vừa thoáng qua, là vì, mình chưa nhận ra các ân huệ mà mình nhận được; hóa ra tâm hồn ta vốn rất đẹp, nhưng, từ lâu đã bị phủ bởi quá nhiều tiếng ồn. 

Có người ít nói, lâu lâu mới nói một câu, không triết lý, không giảng giải, nhưng, sự tĩnh lặng nơi họ sâu hơn mọi điều được đọc trong sách vở.  Có người thông minh, nói giỏi, biết nhiều, tư duy sắc bén, nhưng, mỗi lần trò chuyện với họ, ta lại thấy áp lực, không phải vì họ không tốt, mà vì, họ quá muốn đúng: luôn cần thắng lý, luôn phải giải thích, luôn cố để người khác hiểu mình, câu chuyện nào cũng dài, ý nào cũng phải bảo vệ, và thế là, đối thoại biến thành tranh luận gay gắt.  Có người bước vào phòng không nói gì, chỉ mỉm cười nhẹ và không khí như dịu lại.  Có người bước vào, ngay lập tức, khiến bầu khí trở nên căng thẳng, sự khác biệt nằm ở nội tâm, người càng bất an, thì càng phải lên tiếng; người càng tĩnh lặng, thì càng không cần thể hiện.  Có người bị trách mắng, cúi xuống không nói gì, nhưng thật ra, đang co mình lại vì sợ hãi, đang im lặng vì không biết phải phản ứng sao.  Có người thinh lặng, vì đã thấy rõ mọi điều, không còn tức giận, không còn kháng cự, chỉ đơn giản, thấy và buông.  Vì vậy, ta đừng nhầm lẫn giữa hai sự thinh lặng: một bên là co rút, một bên là thấu suốt; một bên là sợ, một bên là hiểu; một bên là đè nén, một bên là buông lơi.

 Người chưa thật sự thinh lặng, bên trong vẫn còn tranh cãi, vẫn còn diễn tập từng câu đáp trả, như đang chống lại cả thế giới.  Người thật sự thinh lặng thì không còn tranh với ai nữa, không cần phải thắng trong bất kỳ cuộc trò chuyện nào, không cần được khen, chỉ cần sống thật với lòng mình.  Ước gì ta trở nên người thật sự tĩnh lặng, để khi ai đến gần ta, họ đều cảm thấy bình yên, không phải vì ta nói đạo lý, mà vì ta lặng mà thấu: không ồn ào nhưng sâu, không sắc bén nhưng sáng, không cháy rực nhưng nóng nhẹ, đủ để họ được ấm lòng.  Ước gì ta đủ can đảm để chọn không nói, không biện minh, không tô vẽ, nhưng hiện diện đơn sơ, chân thật, trần trụi trước Nhan Thánh Chúa, đủ tĩnh lặng, đủ khiêm cung để nghe được tiếng Chúa nói trong lòng ta.  Ước gì được như thế! 

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

From: Langthangchieutim


 

Hãy bắt đầu chăm sóc cơ thể bằng sự hiểu biết, đừng để quá muộn như tôi

Nga Nguyễn

 Chỉ vì tin rằng uống nước râu ngô và nước đậu đen rang “bổ thận”… tôi đã tự đẩy mình từ suy thận giai đoạn đầu vào phòng lọc máu.

Tôi năm nay 42 tuổi – cái tuổi mà tôi vẫn nghĩ mình còn tràn đầy sức sống, vẫn đủ sức thức khuya lo cơm nước cho chồng con, vẫn gồng gánh áp lực công việc và mệt mỏi mà tự nhủ “mình ổn”.

Tôi chưa bao giờ hình dung được có một ngày mình phải nằm bất động trong phòng lọc máu lạnh ngắt, nhìn dòng máu của chính mình chậm rãi chảy qua một chiếc máy khổng lồ rồi mới quay trở lại cơ thể.

Mọi chuyện bắt đầu từ những đêm mất ngủ vì tiểu đêm, những buổi sáng thức dậy với gương mặt hơi phù nề và đôi chân nặng trĩu vào mỗi buổi chiều.

Khi chồng ép, tôi mới đi khám.

Cầm tờ kết quả trên tay, tai tôi như ù đi: Suy thận giai đoạn đầu.

Tôi vẫn nhớ như in lời bác sĩ dặn lúc đó, rằng bệnh chưa đến mức quá nguy hiểm nhưng tôi phải tuyệt đối nghe theo chỉ định, tuyệt đối không được tự ý uống các loại nước lá, nước “bổ thận” theo lời truyền miệng.

Tôi gật đầu rất ngoan, nhưng bước chân ra khỏi bệnh viện, nỗi sợ hãi lại đẩy tôi vào một cơn hoảng loạn khác.

Thay vì tin bác sĩ, tôi lên mạng lao vào tìm kiếm những phương thuốc tự nhiên với hy vọng đảo ngược bản án.

Những lời mách bảo ngọt ngào như “nước râu ngô lợi tiểu, mát thận”, “nước đậu đen rang bổ thận, thải độc, uống thay nước lọc càng tốt” nghe dễ chịu hơn những cảnh báo khô khốc ở bệnh viện rất nhiều.

Và tôi đã tin.

Tôi tin bằng tất cả sự hoang mang của một người đàn bà sợ đổ bệnh nặng.

Căn bếp nhà tôi từ đó lúc nào cũng nghi ngút khói với những bình nước râu ngô, nước đậu đen rang.

Tôi uống thay nước lọc, đi làm mang theo một chai lớn, uống bằng một niềm tin tuyệt đối rằng mình đang tự cứu lấy chính mình.

Mỗi lần đi tiểu nhiều hơn, tôi còn thấy yên tâm. Tôi nghĩ chắc thận đang được làm sạch, độc tố đang được đào thải ra ngoài.

Chồng tôi lo lắng hỏi, tôi chỉ cười xòa bảo:

“Cái này đồ tự nhiên, mát thận mà anh”.

Nhưng sự thật là thận của tôi đang âm thầm kiệt quệ.

Người tôi cứ lả dần đi, miệng nhạt nhẽo, ăn không ngon, những cơn chóng mặt ập đến khiến tôi phải bám vào tường để không ngã khuỵu.

Đôi mắt sưng húp mỗi sáng và đôi chân phù căng cứng vào cuối ngày được tôi bao biện bằng lý do:

“Chắc do cơ thể đang thải độc nên mới mệt thế thôi”.

Cho đến một buổi sáng, tôi không thể ngồi dậy nổi nữa. Cơ thể nặng như chì, hơi thở đứt quãng. Chồng tôi mặt biến sắc, đưa thẳng tôi vào viện.

Khi các chỉ số xét nghiệm trả về, mọi thứ trong tôi như sụp đổ hoàn toàn.

Chỉ số Creatinin tăng vọt, mức lọc cầu thận giảm sâu, điện giải rối loạn nghiêm trọng.

Nghe tôi run rẩy kể về những bình nước râu ngô, nước đậu đen uống thay nước lọc suốt mấy tháng qua, bác sĩ im lặng vài giây, rồi kéo ghế ngồi đối diện tôi.

Giọng ông trầm xuống, từng câu chữ như đánh thẳng vào sự tự tin mù quáng của tôi:

“Chị không sai vì muốn cứu thận. Nhưng chị sai vì nghĩ cứ thứ gì ‘mát’ là thận sẽ khỏe lên. Cơ thể người suy thận không giống người khỏe mạnh. Đậu đen rất nhiều khoáng chất, khi thận đã yếu mà chị bắt nó lọc một lượng lớn mỗi ngày, nó sẽ quá tải.

Râu ngô có tính lợi tiểu, nhưng đi tiểu nhiều không có nghĩa là thận khỏe lên, nó chỉ làm cơ thể chị mất cân bằng điện giải nặng hơn mà thôi. Thận yếu cần được giảm gánh nặng đúng cách, chứ không phải được ‘rửa’ bằng mẹo dân gian.”

Tôi ngồi chết lặng, cổ họng nghẹn đắng không thốt nên lời.

Một lúc sau, bác sĩ thông báo tình trạng đã quá nặng, tôi phải chuẩn bị tinh thần để lọc máu. Tôi quay sang nhìn chồng, gương mặt anh trắng bệch, không một lời trách móc, anh chỉ hỏi rất nhỏ:

“Em uống mấy thứ đó vì nghĩ sẽ khỏe hơn đúng không?”.

Câu hỏi ấy còn đau đớn hơn cả một cái tát. Chính tay tôi nấu, chính miệng tôi uống, tôi không có một ai để đổ lỗi ngoài sự thiếu hiểu biết của chính mình.

Những ngày sau đó là chuỗi ác mộng. Lần đầu tiên bước vào phòng lọc máu, mùi sát trùng nồng nặc và tiếng máy chạy đều đều khiến lòng tôi lạnh ngắt. Nhìn dòng máu đỏ sẫm của mình chảy ra ngoài, tôi hiểu có những sai lầm phải đánh đổi bằng cả phần đời còn lại.

Qua tấm kính hành lang bệnh viện, con gái nhỏ của tôi đứng nhìn vào, không dám lại gần, nó lí nhí hỏi bố:

“Mẹ phải nằm máy như vậy đến bao giờ hả bố?”.

Giây phút ấy, nước mắt tôi chảy ngược vào trong, đau đớn đến tận cùng xương tủy.

Sau biến cố nghiệt ngã đó, tôi bừng tỉnh. Tôi không còn dám chạm vào những bài viết truyền miệng, không còn tin vào cái mác “tự nhiên thì an toàn”.

Nghĩ lại, điều khiến tôi đau nhất là lúc chồng khuyên đi tái khám, tôi còn cáu gắt vì nghĩ anh không hiểu.

Tôi bắt đầu học lại từ đầu: ăn gì, uống bao nhiêu nước, muối phải giảm thế nào, đạm phải tính ra sao, kali và photpho là gì, tại sao có món rất lành với người khỏe nhưng lại có thể trở thành gánh nặng với người bệnh thận.

Nhờ ăn uống đúng khoa học, cơ thể tôi dần đỡ mệt hơn, sắc mặt khá lên và cân nặng dần ổn định. Thận đã tổn thương thì không thể hồi phục như cũ, tôi vẫn phải gắn liền cuộc đời với chiếc máy lọc máu, nhưng ít nhất, tôi không còn sống trong sự hoang mang, mù quáng nữa.

Mỗi buổi chiều ngồi ở phòng chờ lọc máu, nhìn những gương mặt mệt mỏi, lặng lẽ xung quanh, tôi lại tự hỏi có bao nhiêu người trong số họ cũng từng giống tôi? Cũng từng ăn uống bằng niềm tin để rồi bước vào đây bằng sự hối hận muộn màng?

Tôi kể câu chuyện của đời mình không phải để nói râu ngô hay đậu đen là xấu. Tôi chỉ muốn thức tỉnh những ai ngoài kia đang có người thân bị bệnh thận, gan, tiểu đường, huyết áp cao… xin đừng tự chữa bệnh bằng những lời mách bảo vô căn cứ.

Đừng để chữ “mát” khiến chúng ta quên mất chữ “đúng”. Một cơ thể đã tổn thương cần được bảo vệ bằng kiến thức khoa học, chứ không phải bằng sự đánh cược của niềm tin mù mờ.

Nếu bạn cũng đang loay hoay, hoang mang không biết người bệnh thận hay bất kỳ căn bệnh mạn tính nào thực sự nên ăn gì, kiêng gì cho đúng, tôi sẽ chia sẻ lại tài liệu giúp tôi học được các kiến thức đó ở phần bình luận.

Hãy bắt đầu chăm sóc cơ thể bằng sự hiểu biết, đừng để quá muộn như tôi.