Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

John Nguyễn

 Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

Ngài sinh ngày 11/6/1916 tại Bangkok, Thái Lan, trong một gia đình Phật tử. Năm 1969, ngài được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Ratchaburi. Đến năm 1972, ngài được Hội đồng Giám mục Thái Lan chọn làm đại diện tham dự Thượng Hội đồng Giám mục tại Rôma.

Giám mục Ratna là tác giả của hơn 20 cuốn sách viết bằng tiếng Thái. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngài chọn tên thánh là Robert.

Sau đây là tự truyện của ngài, kể lại hành trình cuộc đời từ thuở thiếu thời cho đến khi lãnh chức linh mục năm 1949.

“Có đời nào thằng Ratna lại chịu phép Rửa để theo đạo!”

Đó là lời nhận xét của một số bạn bè sau những năm cùng học với tôi tại Học viện Wan Yan, do các cha Dòng Tên phụ trách.

Trong suốt ba năm học tại đây, tôi bị xem là một học sinh rất lạnh nhạt với đạo Công giáo. Tôi không bao giờ bước vào nhà nguyện, cũng chẳng bao giờ bàn luận về chuyện đạo nghĩa. Dù vẫn phải học các giờ Giáo lý theo chương trình bắt buộc của nhà trường, nhưng đối với tôi, môn Giáo lý chẳng khác gì môn Toán hay môn Sử, thậm chí còn kém hấp dẫn hơn.

Nếu lúc ấy tôi tỏ ra chống đối đạo, có lẽ các bạn Công giáo đã đến tranh luận với tôi về vấn đề tôn giáo. Nhưng không, tôi chỉ dửng dưng, lạnh nhạt với đạo như một khúc xương khô giữa sa mạc.

Lời nhận xét ấy được nói với tôi vào buổi tối cuối cùng trước khi chúng tôi rời Học viện Wan Yan để vào Đại học Hồng Kông, sau khi vừa tốt nghiệp trung học.

Thế nhưng, một điều lạ lùng đã xảy ra. Chỉ ít ngày sau khi rời Học viện Wan Yan, trong một buổi lễ rất âm thầm tại nhà nguyện Ricci, người lãnh nhận Bí tích Rửa tội lại chính là tôi.

– Tại sao tôi trở thành người Công giáo?

Có một điều tôi có thể khẳng định: tôi theo đạo không phải vì bị lôi cuốn bởi chân lý đức tin, cũng không phải vì bị thuyết phục bởi những lập luận hợp lý của đạo Công giáo.

Giờ đây, khi nhìn lại quá khứ, tôi nhận ra một vài biến cố đã âm thầm chuẩn bị tâm hồn tôi, từ thời thơ ấu, qua chín năm tiểu học tại trường Mông Triệu, tức Assumption College, do các thầy Dòng Thánh Gabriel phụ trách tại Bangkok, rồi ba năm tại Học viện Wan Yan ở Hồng Kông, do các cha Dòng Tên điều hành.

Tôi không nhớ có giây phút nào mình từng được soi sáng đặc biệt bởi chân lý Kitô giáo. Tôi cũng không nhớ có cuộc tranh luận nào khiến tôi bị thuyết phục đến mức phải tự nhủ: “Đây là chân lý, tôi phải chấp nhận và phải theo đạo.”

– Mọi sự đã diễn ra như sau.

Tôi được rửa tội năm 1937, khi vừa 21 tuổi. Đó là buổi tối trước ngày khai giảng năm học tại Đại học Hồng Kông. Ở tuổi ấy, một thanh niên có trình độ đại học như tôi có đủ lý do để tự hào. Hơn nữa, tôi lại có năng khiếu tranh luận. Tôi từng là thành viên của nhóm tranh luận tại Học viện Wan Yan và thường tham gia tranh luận về đủ mọi vấn đề, ngoại trừ vấn đề tôn giáo.

Ngay từ nơi cha tôi, một Phật tử đạo hạnh, tôi nhận ra rằng chính ông đã âm thầm gieo vào tâm hồn tôi những hạt giống đầu tiên của giáo huấn Công giáo, dù ông không hề biết điều đó.

Cuộc sống tự nhiên của cha tôi toát lên nhiều nhân đức đáng kính. Ông không hút thuốc, không uống rượu. Trong công việc, ông cần mẫn và chăm chỉ. Trong giao tiếp, ông chân thật. Với bạn bè, hàng xóm, ông nhân ái và rộng rãi. Ông có lòng kính trọng tôn giáo và không bao giờ nuôi lòng thù oán ai. Mọi người đều kính trọng ông.

Cha tôi cũng không hề có ác cảm với Công giáo. Khi một người bạn Công giáo qua đời, ông còn nhiệt thành giúp đỡ trong các nghi thức tôn giáo. Dù không ai gọi ông là thánh, nhưng ai cũng kính trọng ông vì đời sống đạo đức và lương thiện.

Mỗi buổi sáng, ông thường ngồi ở cổng nhà để phân phát thức ăn cho các vị sư đi khất thực. Ông giữ thói quen ấy cho đến khi tuổi già, sức khỏe suy yếu, nhất là sau khi bị liệt một phần cơ thể.

Trong việc giáo dục con cái, cha tôi rất nghiêm khắc và luôn đặt nặng lễ nghĩa. Ông dạy chúng tôi phải chăm chỉ, cẩn thận, dù làm việc nhỏ hay việc lớn. Nhờ lối giáo dục ấy, tôi không hút thuốc, không uống rượu, và trong túi lúc nào cũng chỉ giữ một ít tiền. Tôi cũng thường được sai làm việc chung với người giúp việc trong nhà. Khi nhà có khách, tôi luôn đóng vai trò hầu bàn. Tất cả những điều đó về sau đã trở thành thói quen trong đời sống tôi.

Bà nội là người dạy tôi học Kinh Phật và chỉ cho tôi cách phân phát thức ăn cho các vị sư khất thực. Dù cha tôi cầu nguyện mỗi ngày, ông không bao giờ bắt các con phải làm giống mình. Chỉ vào dịp Tết Nguyên đán, ông muốn mọi nghi thức trong gia đình phải được thực hiện cách nghiêm chỉnh.

Có thể nói, tôi lớn lên trong một gia đình Phật tử trung lưu, sống bằng nghề buôn bán.

Năm lên bảy tuổi, theo chân các anh, tôi được gửi vào trường Mông Triệu do các thầy Dòng người Pháp điều hành. Tôi học ở đó suốt chín năm. Trong ngần ấy thời gian, tôi chưa bao giờ cảm thấy bị lôi cuốn hay quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Tôi nghĩ Công giáo cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo khác. Ngoài một vài lần tham dự lễ an táng, tôi hầu như không bước chân vào nhà thờ.

Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ có hai sự việc đã xảy ra trong thời gian ấy.

Một buổi sáng, khi tôi đang chơi đùa với các bạn trong sân trường, thầy Giám đốc Martin de Tour bất ngờ đến gặp và nói với tôi về giáo lý. Tôi lắng nghe rất nghiêm chỉnh, nhưng sau đó lại chạy đi chơi tiếp, trong lòng không hề có một chút xúc động nào trước những điều thầy vừa nói.

Lần thứ hai xảy ra vào những năm cuối ở trường Mông Triệu. Khi ấy, chúng tôi học về triết lý Công giáo. Thầy dạy môn này đã dùng lý luận khoa học để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi có nghe, nhưng không chú ý. Tôi không từ chối, cũng không chấp nhận. Trong đầu tôi chẳng có tư tưởng nào hướng về Công giáo. Tôi không tin, cũng không phản bác. Tôi chỉ hoàn toàn lạnh nhạt và thờ ơ.

Năm 1932, tôi rời trường Mông Triệu, mang theo nhiều kỷ niệm, lòng thán phục đối với lối giáo dục của nhà trường, cùng sự kính mến dành cho các thầy dòng và các giáo sư nơi đây.

Vài tháng sau, tôi lên đường sang Hồng Kông để nhập học tại Học viện Wan Yan, nơi anh tôi đã bắt đầu học trước đó một năm.

Tại Học viện Wan Yan, thái độ dửng dưng của tôi đối với đạo Công giáo vẫn không thay đổi. Dĩ nhiên, tôi vẫn phải học môn Giáo lý, nhưng chỉ vì đó là một phần trong chương trình học. Thế thôi. Giáo lý Công giáo không tạo nơi tôi chút chú ý nào.

Có một lần, vào dịp lễ Giáng Sinh, tôi vào nhà nguyện của trường để nghe cha Giám đốc Gallagher giảng. Mọi sự đối với tôi vẫn hoàn toàn xa lạ. Tôi vào nhà nguyện chỉ vì anh tôi muốn tôi vào.

Sau một năm học chung trường với tôi, anh tôi trở về nhà.

Tại Học viện Wan Yan, tôi rất thích đọc sách truyện. Cha Bourke thường đưa sách cho tôi đọc. Tôi rất kính mến và biết ơn ngài, nhưng chưa bao giờ để cha có dịp nói chuyện với tôi về tôn giáo.

Cha Ryan cũng vậy. Ngài muốn tôi cộng tác với tờ báo The Rock của ngài trong phần thiết kế các bản đồ. Một ngày kia, cha Ryan đến phòng tôi nhờ vẽ một bản đồ. Bất chợt, ngài hỏi:

“Ratna, con có bao giờ quan tâm đến tôn giáo không?”

Tôi trả lời rất ngắn gọn, khô khan, chấm dứt câu chuyện cũng bất ngờ như cách nó bắt đầu:

“Thưa cha, không.”

Cha giáo sư Martin thì mỗi tuần thường dẫn chúng tôi ra bãi biển hoặc đi thăm các đồi núi. Tôi rất yêu cảnh đẹp của Hồng Kông và tận hưởng những giây phút thoải mái ấy. Nhưng tôi không bao giờ nói với ngài về tôn giáo. Tôi tham gia gần như mọi sinh hoạt của trường, ngoại trừ các sinh hoạt đạo đức.

Rồi chuyện ấy đã xảy ra.

Vào năm cuối tại Học viện Wan Yan, khi chúng tôi chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học, cha Donnelly tổ chức một kỳ cấm phòng cho học sinh.

Cha nói:

“Trước khi rời trường, cha nghĩ các con nên có một buổi cấm phòng.”

Các học sinh Công giáo cũng như không Công giáo đều tỏ ra vui thích trước kỳ cấm phòng này. Riêng tôi, vì không muốn bị bầu khí sôi động của lớp học chi phối quyết định, nên lúc đầu không bày tỏ ý kiến gì. Sau đó, tôi cũng quyết định tham dự, nhưng với một ý nghĩ rất đơn giản: đi thử xem cấm phòng là gì.

Kỳ cấm phòng được tổ chức tại một ngôi trường cũ ở vùng Kowloon. Nơi ấy thật yên tĩnh, có nhiều phòng và phía sau là một khu vườn để đi dạo. Trong suốt kỳ cấm phòng, mọi người làm gì thì tôi làm theo như vậy.

Điều duy nhất tôi còn nhớ rõ là trong những ngày ấy, tôi đã tự kềm chế và giữ im lặng một cách rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, không có thị kiến nào xảy đến với tôi. Cũng chẳng có tia sáng lạ lùng nào chiếu soi tâm hồn tôi.

Theo chương trình đã định, trong kỳ cấm phòng, cha Donnelly gặp riêng từng người tham dự. Ngài cũng gặp tôi.

Ngài hỏi:

“Ratna, con thấy kỳ cấm phòng thế nào?”

Tôi đáp:

“Thưa cha, tốt lắm.”

Ngài hỏi tiếp:

“Con nghĩ gì về đạo Công giáo?”

Tôi trả lời rằng tôi có vài điểm nghi ngờ về Thiên Chúa. Ngài giải thích cho tôi. Tôi gật đầu rồi ra về, không hề bận tâm gì thêm.

Cho đến lúc ấy, tôi vẫn cảm thấy mình thờ ơ và lạnh nhạt như trước. Không có một động lực nhỏ bé nào khiến tôi nghĩ rằng mình đang muốn gia nhập đạo Công giáo.

Thế rồi tôi thay đổi.

Sau kỳ cấm phòng, một người bạn gặp tôi và nói rằng có vài người nhận thấy cách sống của tôi đã thay đổi nhiều. Tôi suy nghĩ về điều ấy và quả thật, tôi nhận ra trong lòng mình có một niềm vui, một tia sáng nào đó phát xuất từ tận đáy tâm hồn, điều mà trước kia tôi chưa từng cảm nghiệm.

Tôi cười, và cười thật lớn, với một niềm hạnh phúc như tràn đầy trong tâm hồn. Tôi ý thức rằng có một ân sủng thiêng liêng đang bao phủ mình. Không lạ gì khi một vài người bạn tinh ý đã nhận ra điều đó.

Một nguồn ân sủng thiêng liêng đã tràn đến, cuốn đi sự lạnh nhạt và thờ ơ trong lòng tôi. Nguồn ân sủng ấy làm sống dậy khát vọng tìm kiếm chân lý và hạnh phúc tự nhiên trong đời sống. Những sắc màu tươi mới bắt đầu xuất hiện trên vùng đất héo úa của linh hồn tôi. Mảnh xương khô giữa sa mạc nay đã có dấu hiệu của sự sống.

Tất cả những điều ấy nảy sinh và kết tụ trong linh hồn tôi cách lặng lẽ, âm thầm, đến nỗi chính tôi cũng không hay biết.

Như được cuốn hút bởi một sức mạnh ân sủng không thể cưỡng lại, con tàu linh hồn tôi đang chuẩn bị thả neo tại một bến cảng thánh thiện: Giáo hội Công giáo. Đêm tối đã rút lui để nhường chỗ cho ánh sáng ban ngày. Sương mù tan biến, để con mắt linh hồn tôi bắt đầu chiêm ngưỡng thế giới thiêng liêng. Bàn tay thần linh đã chạm đến trái tim tôi, và sự chạm đến ấy đem lại ánh sáng cùng lẽ sống cho linh hồn.

Giờ đây chỉ còn chờ một cơ hội thuận tiện để nguồn ánh sáng âm thầm và kỳ diệu ấy được tỏ lộ, không chỉ cho tôi, mà còn cho những người chung quanh.

Sau kỳ cấm phòng, xét theo phong cách bên ngoài, tôi vẫn sống như trước. Nhưng bên trong, tôi đã đổi khác rất nhiều.

Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi trở lại Học viện Wan Yan và tạm trú tại hội trường Ricci. Tôi đến gặp cha Bourke, Giám đốc nhà trường, để chào ngài lần cuối và thanh toán số học phí còn thiếu. Cha Bourke có vẻ buồn, vì suốt ba năm được ngài chăm sóc và hướng dẫn, nơi tôi chẳng có dấu hiệu nào cho thấy tôi đã thấm nhuần đạo giáo.

Ngài nói:

“Ratna, cha nghĩ có lẽ con sẽ khá hơn nhiều nếu con là người Công giáo.”

Tôi đáp:

“Thưa cha, con cũng nghĩ như vậy.”

Rồi tôi kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra trong lòng mình.

Có lẽ cha Bourke chưa từng ngạc nhiên đến thế trong đời.

Sự quy phục thoát ra từ tiềm thức tôi như dòng nước lũ cuồn cuộn phá vỡ bờ đê của tình trạng thờ ơ lạnh nhạt, rồi cuốn trôi tất cả. Một gánh nặng nào đó từ lâu đè nén trong lồng ngực như vừa được cất bỏ. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và thanh thản.

Vài ngày sau, tôi được rửa tội tại hội trường Ricci. Cha Ryan chủ sự, còn ông Chevalier J.M. Alves là cha đỡ đầu của tôi.

Tôi không xứng đáng được gia nhập Giáo hội Công giáo. Tất cả chỉ là hồng ân Chúa đã dẫn tôi đến với Ngài: “Gratia Dei ego sum id quod sum” – “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr 15,10). Tôi đã từ chối mọi cố gắng thuyết phục của con người, nhưng cuối cùng lại đầu hàng trước ân sủng của Thiên Chúa.

Giờ đây, tôi thấy rất rõ rằng sự tận tâm trong việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện của các thầy Dòng Thánh Gabriel và các cha Dòng Tên đã âm thầm chuẩn bị mảnh vườn tâm hồn tôi, để hạt giống đức tin có thể nảy mầm.

Đối với tôi lúc ấy, điều quan trọng không còn là “làm sao” hay “bằng cách nào” tôi theo đạo, nhưng là “làm sao” và “bằng cách nào” để tôi giữ đạo. Tôi biết có một vài người bạn, sau khi được rửa tội một thời gian, đã không còn sống đức tin nữa. Tôi cũng hiểu những khó khăn khiến họ không tiếp tục. Nhưng trong thâm tâm, tôi tự nhủ sẽ gìn giữ đức tin và sống đạo cho đến hết đời.

Những suy nghĩ ấy đã làm cho đời sống tôi thay đổi sau ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

Từ một người lạnh nhạt, thờ ơ, giờ đây tôi trở nên nóng lòng muốn tìm hiểu mọi điều về Giáo hội. Tôi không muốn trong đầu mình còn một nghi ngờ dù nhỏ bé. Tôi không muốn còn một thắc mắc nào vương lại trong trí. Tôi dồn hết cố gắng để hiểu các giáo huấn của Giáo hội. Tôi muốn đức tin của mình được xây dựng vững chắc trên nền tảng suy tư và lý luận.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần các cuốn Apologetics, Radio Replies của Sheehan và Ripley. Tôi học Ethics của Ignatius dưới sự hướng dẫn của cha Byrne. Các tác giả như Chesterton, Belloc và Maurice Baring cuốn hút tôi. Những cuốn sách tôi đọc lúc bấy giờ hầu như hoàn toàn là sách tôn giáo: Chúa Kitô, Lẽ Sống của Linh Hồn của Marmion; Một Tâm Hồn của Thánh nữ Têrêsa; Những Vị Thánh Cho Kẻ Tội Lỗi của Goodier; Người Phong Cùi Tên Damien của John Farrow. Những tác phẩm ấy trở thành sách tu đức của tôi.

Tôi gia nhập Phong trào Hộ Giáo, và năm 1941, nhóm chúng tôi đoạt giải trong một cuộc tranh luận với Hội Thánh Joan of Arc.

Càng tìm hiểu về Giáo hội, tôi càng cảm phục sự hoàn hảo trong cách Giáo hội giải đáp các vấn nạn của đời sống. Đối với tôi, giáo lý Công giáo là nguồn mạch soi sáng cho mọi lãnh vực tri thức. Tôi vui mừng nhận ra sự hài hòa giữa khoa học và Giáo hội. Tôi kinh ngạc khám phá rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra lịch sử nhân loại. Tôi thán phục cách Giáo hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Tôi cũng ngưỡng mộ cách Giáo hội bảo vệ luân lý và sự thanh khiết.

Càng tìm hiểu những chống đối nhắm vào Giáo hội, tôi càng nhận ra vẻ toàn bích và toàn mỹ của Giáo hội hơn nữa. Nếu giáo huấn của Giáo hội có khiếm khuyết theo cách nào đó mà tôi có thể nhận ra, có lẽ tôi đã không giữ đạo cho đến hôm nay.

Tôi tham dự Thánh lễ và rước lễ mỗi ngày. Tháng 5 năm 1938, tôi gia nhập Hiệp hội Thiếu niên Thánh nữ Maria. Tôi giúp lễ và cảm thấy hạnh phúc khi được đến với Mẹ Maria vào mỗi tháng Năm. Tôi cũng trở thành hội viên Hội Thánh Vincent de Paul, đi xin quần áo cũ cho người nghèo. Tôi xúc động trước đời sống của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và cố gắng noi theo con đường bé nhỏ của thánh nữ.

Thật kỳ diệu khi nhìn lại sự biến đổi nơi tôi: từ một người lạnh nhạt, thờ ơ với Giáo hội suốt mười hai năm dài, dù đã sống trong chiếc nôi của Giáo hội, nay lại được ân sủng tràn ngập cách dồi dào.

Tôi báo cho cha tôi biết việc tôi đã được rửa tội. Ông không phản đối. Có lẽ ông cũng không biết đời sống đạo của tôi lúc ấy đã trở nên mạnh mẽ đến mức nào.

Tháng 5 năm 1941, tôi tốt nghiệp Đại học Hồng Kông. Tương lai mở ra trước mắt tôi với rất nhiều hứa hẹn thành công. Nhưng tôi đã quyết định đi tu để trở thành linh mục.

Tôi trở về nhà với hy vọng cha tôi sẽ đồng ý cho tôi đi tu. Nhưng trái lại, ông không những không đồng ý mà còn tìm cách làm cho tôi bỏ đạo. Ông ngạc nhiên, rồi từ ngạc nhiên chuyển sang giận dữ khi thấy tôi sùng đạo đến như vậy.

Thời gian ấy, chiến tranh Pháp tại vùng Đông Dương cùng những biến động xã hội khiến cả đời sống Giáo hội cũng trải qua nhiều khó khăn. Cha tôi vin vào đó để cho rằng việc tôi vào đạo và sống đạo đã đem lại những rủi ro cho gia đình. Ông không hiểu rằng người Công giáo rất “cứng cổ” trong việc tin đạo và sống đạo.

Tôi cũng nhận ra rằng đời sống đạo của mình đang trở thành nguyên nhân gây xáo trộn trong gia đình. Tôi không biết phải làm sao để mọi người hiểu được. Tôi buộc phải đối diện với những biến động của đời sống và phải chọn một trong hai: Thiên Chúa hay thế gian.

Được thêm sức bởi Bí tích Thánh Thể mà tôi lãnh nhận trong một Thánh lễ tại Dòng Carmelite, vào một buổi sáng, tôi quyết định rời gia đình. Tôi không báo cho ai biết, cũng không để lại địa chỉ hay lời từ biệt nào. Tôi vào chủng viện tại Bank Nok Khuek, Ratburi, ngay trước khi chiến tranh thật sự bùng nổ tại vùng Viễn Á.

Trong khi chiến tranh lan rộng khắp nơi, tại một góc nhỏ yên tĩnh giữa khu vườn dừa rậm rạp, thỉnh thoảng vang vọng vài tiếng bom nổ từ xa, một nhóm chủng sinh, trong đó có tôi, âm thầm trau dồi các môn Triết học và Thần học.

Tôi được thụ phong linh mục vào lễ Thánh Gioan Bosco, ngày 31/1/1949. 


 

Được xem 5 lần, bởi 5 Bạn Đọc trong ngày hôm nay