Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

John Nguyễn

 Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

Ngài sinh ngày 11/6/1916 tại Bangkok, Thái Lan, trong một gia đình Phật tử. Năm 1969, ngài được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Ratchaburi. Đến năm 1972, ngài được Hội đồng Giám mục Thái Lan chọn làm đại diện tham dự Thượng Hội đồng Giám mục tại Rôma.

Giám mục Ratna là tác giả của hơn 20 cuốn sách viết bằng tiếng Thái. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngài chọn tên thánh là Robert.

Sau đây là tự truyện của ngài, kể lại hành trình cuộc đời từ thuở thiếu thời cho đến khi lãnh chức linh mục năm 1949.

“Có đời nào thằng Ratna lại chịu phép Rửa để theo đạo!”

Đó là lời nhận xét của một số bạn bè sau những năm cùng học với tôi tại Học viện Wan Yan, do các cha Dòng Tên phụ trách.

Trong suốt ba năm học tại đây, tôi bị xem là một học sinh rất lạnh nhạt với đạo Công giáo. Tôi không bao giờ bước vào nhà nguyện, cũng chẳng bao giờ bàn luận về chuyện đạo nghĩa. Dù vẫn phải học các giờ Giáo lý theo chương trình bắt buộc của nhà trường, nhưng đối với tôi, môn Giáo lý chẳng khác gì môn Toán hay môn Sử, thậm chí còn kém hấp dẫn hơn.

Nếu lúc ấy tôi tỏ ra chống đối đạo, có lẽ các bạn Công giáo đã đến tranh luận với tôi về vấn đề tôn giáo. Nhưng không, tôi chỉ dửng dưng, lạnh nhạt với đạo như một khúc xương khô giữa sa mạc.

Lời nhận xét ấy được nói với tôi vào buổi tối cuối cùng trước khi chúng tôi rời Học viện Wan Yan để vào Đại học Hồng Kông, sau khi vừa tốt nghiệp trung học.

Thế nhưng, một điều lạ lùng đã xảy ra. Chỉ ít ngày sau khi rời Học viện Wan Yan, trong một buổi lễ rất âm thầm tại nhà nguyện Ricci, người lãnh nhận Bí tích Rửa tội lại chính là tôi.

– Tại sao tôi trở thành người Công giáo?

Có một điều tôi có thể khẳng định: tôi theo đạo không phải vì bị lôi cuốn bởi chân lý đức tin, cũng không phải vì bị thuyết phục bởi những lập luận hợp lý của đạo Công giáo.

Giờ đây, khi nhìn lại quá khứ, tôi nhận ra một vài biến cố đã âm thầm chuẩn bị tâm hồn tôi, từ thời thơ ấu, qua chín năm tiểu học tại trường Mông Triệu, tức Assumption College, do các thầy Dòng Thánh Gabriel phụ trách tại Bangkok, rồi ba năm tại Học viện Wan Yan ở Hồng Kông, do các cha Dòng Tên điều hành.

Tôi không nhớ có giây phút nào mình từng được soi sáng đặc biệt bởi chân lý Kitô giáo. Tôi cũng không nhớ có cuộc tranh luận nào khiến tôi bị thuyết phục đến mức phải tự nhủ: “Đây là chân lý, tôi phải chấp nhận và phải theo đạo.”

– Mọi sự đã diễn ra như sau.

Tôi được rửa tội năm 1937, khi vừa 21 tuổi. Đó là buổi tối trước ngày khai giảng năm học tại Đại học Hồng Kông. Ở tuổi ấy, một thanh niên có trình độ đại học như tôi có đủ lý do để tự hào. Hơn nữa, tôi lại có năng khiếu tranh luận. Tôi từng là thành viên của nhóm tranh luận tại Học viện Wan Yan và thường tham gia tranh luận về đủ mọi vấn đề, ngoại trừ vấn đề tôn giáo.

Ngay từ nơi cha tôi, một Phật tử đạo hạnh, tôi nhận ra rằng chính ông đã âm thầm gieo vào tâm hồn tôi những hạt giống đầu tiên của giáo huấn Công giáo, dù ông không hề biết điều đó.

Cuộc sống tự nhiên của cha tôi toát lên nhiều nhân đức đáng kính. Ông không hút thuốc, không uống rượu. Trong công việc, ông cần mẫn và chăm chỉ. Trong giao tiếp, ông chân thật. Với bạn bè, hàng xóm, ông nhân ái và rộng rãi. Ông có lòng kính trọng tôn giáo và không bao giờ nuôi lòng thù oán ai. Mọi người đều kính trọng ông.

Cha tôi cũng không hề có ác cảm với Công giáo. Khi một người bạn Công giáo qua đời, ông còn nhiệt thành giúp đỡ trong các nghi thức tôn giáo. Dù không ai gọi ông là thánh, nhưng ai cũng kính trọng ông vì đời sống đạo đức và lương thiện.

Mỗi buổi sáng, ông thường ngồi ở cổng nhà để phân phát thức ăn cho các vị sư đi khất thực. Ông giữ thói quen ấy cho đến khi tuổi già, sức khỏe suy yếu, nhất là sau khi bị liệt một phần cơ thể.

Trong việc giáo dục con cái, cha tôi rất nghiêm khắc và luôn đặt nặng lễ nghĩa. Ông dạy chúng tôi phải chăm chỉ, cẩn thận, dù làm việc nhỏ hay việc lớn. Nhờ lối giáo dục ấy, tôi không hút thuốc, không uống rượu, và trong túi lúc nào cũng chỉ giữ một ít tiền. Tôi cũng thường được sai làm việc chung với người giúp việc trong nhà. Khi nhà có khách, tôi luôn đóng vai trò hầu bàn. Tất cả những điều đó về sau đã trở thành thói quen trong đời sống tôi.

Bà nội là người dạy tôi học Kinh Phật và chỉ cho tôi cách phân phát thức ăn cho các vị sư khất thực. Dù cha tôi cầu nguyện mỗi ngày, ông không bao giờ bắt các con phải làm giống mình. Chỉ vào dịp Tết Nguyên đán, ông muốn mọi nghi thức trong gia đình phải được thực hiện cách nghiêm chỉnh.

Có thể nói, tôi lớn lên trong một gia đình Phật tử trung lưu, sống bằng nghề buôn bán.

Năm lên bảy tuổi, theo chân các anh, tôi được gửi vào trường Mông Triệu do các thầy Dòng người Pháp điều hành. Tôi học ở đó suốt chín năm. Trong ngần ấy thời gian, tôi chưa bao giờ cảm thấy bị lôi cuốn hay quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Tôi nghĩ Công giáo cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo khác. Ngoài một vài lần tham dự lễ an táng, tôi hầu như không bước chân vào nhà thờ.

Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ có hai sự việc đã xảy ra trong thời gian ấy.

Một buổi sáng, khi tôi đang chơi đùa với các bạn trong sân trường, thầy Giám đốc Martin de Tour bất ngờ đến gặp và nói với tôi về giáo lý. Tôi lắng nghe rất nghiêm chỉnh, nhưng sau đó lại chạy đi chơi tiếp, trong lòng không hề có một chút xúc động nào trước những điều thầy vừa nói.

Lần thứ hai xảy ra vào những năm cuối ở trường Mông Triệu. Khi ấy, chúng tôi học về triết lý Công giáo. Thầy dạy môn này đã dùng lý luận khoa học để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi có nghe, nhưng không chú ý. Tôi không từ chối, cũng không chấp nhận. Trong đầu tôi chẳng có tư tưởng nào hướng về Công giáo. Tôi không tin, cũng không phản bác. Tôi chỉ hoàn toàn lạnh nhạt và thờ ơ.

Năm 1932, tôi rời trường Mông Triệu, mang theo nhiều kỷ niệm, lòng thán phục đối với lối giáo dục của nhà trường, cùng sự kính mến dành cho các thầy dòng và các giáo sư nơi đây.

Vài tháng sau, tôi lên đường sang Hồng Kông để nhập học tại Học viện Wan Yan, nơi anh tôi đã bắt đầu học trước đó một năm.

Tại Học viện Wan Yan, thái độ dửng dưng của tôi đối với đạo Công giáo vẫn không thay đổi. Dĩ nhiên, tôi vẫn phải học môn Giáo lý, nhưng chỉ vì đó là một phần trong chương trình học. Thế thôi. Giáo lý Công giáo không tạo nơi tôi chút chú ý nào.

Có một lần, vào dịp lễ Giáng Sinh, tôi vào nhà nguyện của trường để nghe cha Giám đốc Gallagher giảng. Mọi sự đối với tôi vẫn hoàn toàn xa lạ. Tôi vào nhà nguyện chỉ vì anh tôi muốn tôi vào.

Sau một năm học chung trường với tôi, anh tôi trở về nhà.

Tại Học viện Wan Yan, tôi rất thích đọc sách truyện. Cha Bourke thường đưa sách cho tôi đọc. Tôi rất kính mến và biết ơn ngài, nhưng chưa bao giờ để cha có dịp nói chuyện với tôi về tôn giáo.

Cha Ryan cũng vậy. Ngài muốn tôi cộng tác với tờ báo The Rock của ngài trong phần thiết kế các bản đồ. Một ngày kia, cha Ryan đến phòng tôi nhờ vẽ một bản đồ. Bất chợt, ngài hỏi:

“Ratna, con có bao giờ quan tâm đến tôn giáo không?”

Tôi trả lời rất ngắn gọn, khô khan, chấm dứt câu chuyện cũng bất ngờ như cách nó bắt đầu:

“Thưa cha, không.”

Cha giáo sư Martin thì mỗi tuần thường dẫn chúng tôi ra bãi biển hoặc đi thăm các đồi núi. Tôi rất yêu cảnh đẹp của Hồng Kông và tận hưởng những giây phút thoải mái ấy. Nhưng tôi không bao giờ nói với ngài về tôn giáo. Tôi tham gia gần như mọi sinh hoạt của trường, ngoại trừ các sinh hoạt đạo đức.

Rồi chuyện ấy đã xảy ra.

Vào năm cuối tại Học viện Wan Yan, khi chúng tôi chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học, cha Donnelly tổ chức một kỳ cấm phòng cho học sinh.

Cha nói:

“Trước khi rời trường, cha nghĩ các con nên có một buổi cấm phòng.”

Các học sinh Công giáo cũng như không Công giáo đều tỏ ra vui thích trước kỳ cấm phòng này. Riêng tôi, vì không muốn bị bầu khí sôi động của lớp học chi phối quyết định, nên lúc đầu không bày tỏ ý kiến gì. Sau đó, tôi cũng quyết định tham dự, nhưng với một ý nghĩ rất đơn giản: đi thử xem cấm phòng là gì.

Kỳ cấm phòng được tổ chức tại một ngôi trường cũ ở vùng Kowloon. Nơi ấy thật yên tĩnh, có nhiều phòng và phía sau là một khu vườn để đi dạo. Trong suốt kỳ cấm phòng, mọi người làm gì thì tôi làm theo như vậy.

Điều duy nhất tôi còn nhớ rõ là trong những ngày ấy, tôi đã tự kềm chế và giữ im lặng một cách rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, không có thị kiến nào xảy đến với tôi. Cũng chẳng có tia sáng lạ lùng nào chiếu soi tâm hồn tôi.

Theo chương trình đã định, trong kỳ cấm phòng, cha Donnelly gặp riêng từng người tham dự. Ngài cũng gặp tôi.

Ngài hỏi:

“Ratna, con thấy kỳ cấm phòng thế nào?”

Tôi đáp:

“Thưa cha, tốt lắm.”

Ngài hỏi tiếp:

“Con nghĩ gì về đạo Công giáo?”

Tôi trả lời rằng tôi có vài điểm nghi ngờ về Thiên Chúa. Ngài giải thích cho tôi. Tôi gật đầu rồi ra về, không hề bận tâm gì thêm.

Cho đến lúc ấy, tôi vẫn cảm thấy mình thờ ơ và lạnh nhạt như trước. Không có một động lực nhỏ bé nào khiến tôi nghĩ rằng mình đang muốn gia nhập đạo Công giáo.

Thế rồi tôi thay đổi.

Sau kỳ cấm phòng, một người bạn gặp tôi và nói rằng có vài người nhận thấy cách sống của tôi đã thay đổi nhiều. Tôi suy nghĩ về điều ấy và quả thật, tôi nhận ra trong lòng mình có một niềm vui, một tia sáng nào đó phát xuất từ tận đáy tâm hồn, điều mà trước kia tôi chưa từng cảm nghiệm.

Tôi cười, và cười thật lớn, với một niềm hạnh phúc như tràn đầy trong tâm hồn. Tôi ý thức rằng có một ân sủng thiêng liêng đang bao phủ mình. Không lạ gì khi một vài người bạn tinh ý đã nhận ra điều đó.

Một nguồn ân sủng thiêng liêng đã tràn đến, cuốn đi sự lạnh nhạt và thờ ơ trong lòng tôi. Nguồn ân sủng ấy làm sống dậy khát vọng tìm kiếm chân lý và hạnh phúc tự nhiên trong đời sống. Những sắc màu tươi mới bắt đầu xuất hiện trên vùng đất héo úa của linh hồn tôi. Mảnh xương khô giữa sa mạc nay đã có dấu hiệu của sự sống.

Tất cả những điều ấy nảy sinh và kết tụ trong linh hồn tôi cách lặng lẽ, âm thầm, đến nỗi chính tôi cũng không hay biết.

Như được cuốn hút bởi một sức mạnh ân sủng không thể cưỡng lại, con tàu linh hồn tôi đang chuẩn bị thả neo tại một bến cảng thánh thiện: Giáo hội Công giáo. Đêm tối đã rút lui để nhường chỗ cho ánh sáng ban ngày. Sương mù tan biến, để con mắt linh hồn tôi bắt đầu chiêm ngưỡng thế giới thiêng liêng. Bàn tay thần linh đã chạm đến trái tim tôi, và sự chạm đến ấy đem lại ánh sáng cùng lẽ sống cho linh hồn.

Giờ đây chỉ còn chờ một cơ hội thuận tiện để nguồn ánh sáng âm thầm và kỳ diệu ấy được tỏ lộ, không chỉ cho tôi, mà còn cho những người chung quanh.

Sau kỳ cấm phòng, xét theo phong cách bên ngoài, tôi vẫn sống như trước. Nhưng bên trong, tôi đã đổi khác rất nhiều.

Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi trở lại Học viện Wan Yan và tạm trú tại hội trường Ricci. Tôi đến gặp cha Bourke, Giám đốc nhà trường, để chào ngài lần cuối và thanh toán số học phí còn thiếu. Cha Bourke có vẻ buồn, vì suốt ba năm được ngài chăm sóc và hướng dẫn, nơi tôi chẳng có dấu hiệu nào cho thấy tôi đã thấm nhuần đạo giáo.

Ngài nói:

“Ratna, cha nghĩ có lẽ con sẽ khá hơn nhiều nếu con là người Công giáo.”

Tôi đáp:

“Thưa cha, con cũng nghĩ như vậy.”

Rồi tôi kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra trong lòng mình.

Có lẽ cha Bourke chưa từng ngạc nhiên đến thế trong đời.

Sự quy phục thoát ra từ tiềm thức tôi như dòng nước lũ cuồn cuộn phá vỡ bờ đê của tình trạng thờ ơ lạnh nhạt, rồi cuốn trôi tất cả. Một gánh nặng nào đó từ lâu đè nén trong lồng ngực như vừa được cất bỏ. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và thanh thản.

Vài ngày sau, tôi được rửa tội tại hội trường Ricci. Cha Ryan chủ sự, còn ông Chevalier J.M. Alves là cha đỡ đầu của tôi.

Tôi không xứng đáng được gia nhập Giáo hội Công giáo. Tất cả chỉ là hồng ân Chúa đã dẫn tôi đến với Ngài: “Gratia Dei ego sum id quod sum” – “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr 15,10). Tôi đã từ chối mọi cố gắng thuyết phục của con người, nhưng cuối cùng lại đầu hàng trước ân sủng của Thiên Chúa.

Giờ đây, tôi thấy rất rõ rằng sự tận tâm trong việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện của các thầy Dòng Thánh Gabriel và các cha Dòng Tên đã âm thầm chuẩn bị mảnh vườn tâm hồn tôi, để hạt giống đức tin có thể nảy mầm.

Đối với tôi lúc ấy, điều quan trọng không còn là “làm sao” hay “bằng cách nào” tôi theo đạo, nhưng là “làm sao” và “bằng cách nào” để tôi giữ đạo. Tôi biết có một vài người bạn, sau khi được rửa tội một thời gian, đã không còn sống đức tin nữa. Tôi cũng hiểu những khó khăn khiến họ không tiếp tục. Nhưng trong thâm tâm, tôi tự nhủ sẽ gìn giữ đức tin và sống đạo cho đến hết đời.

Những suy nghĩ ấy đã làm cho đời sống tôi thay đổi sau ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

Từ một người lạnh nhạt, thờ ơ, giờ đây tôi trở nên nóng lòng muốn tìm hiểu mọi điều về Giáo hội. Tôi không muốn trong đầu mình còn một nghi ngờ dù nhỏ bé. Tôi không muốn còn một thắc mắc nào vương lại trong trí. Tôi dồn hết cố gắng để hiểu các giáo huấn của Giáo hội. Tôi muốn đức tin của mình được xây dựng vững chắc trên nền tảng suy tư và lý luận.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần các cuốn Apologetics, Radio Replies của Sheehan và Ripley. Tôi học Ethics của Ignatius dưới sự hướng dẫn của cha Byrne. Các tác giả như Chesterton, Belloc và Maurice Baring cuốn hút tôi. Những cuốn sách tôi đọc lúc bấy giờ hầu như hoàn toàn là sách tôn giáo: Chúa Kitô, Lẽ Sống của Linh Hồn của Marmion; Một Tâm Hồn của Thánh nữ Têrêsa; Những Vị Thánh Cho Kẻ Tội Lỗi của Goodier; Người Phong Cùi Tên Damien của John Farrow. Những tác phẩm ấy trở thành sách tu đức của tôi.

Tôi gia nhập Phong trào Hộ Giáo, và năm 1941, nhóm chúng tôi đoạt giải trong một cuộc tranh luận với Hội Thánh Joan of Arc.

Càng tìm hiểu về Giáo hội, tôi càng cảm phục sự hoàn hảo trong cách Giáo hội giải đáp các vấn nạn của đời sống. Đối với tôi, giáo lý Công giáo là nguồn mạch soi sáng cho mọi lãnh vực tri thức. Tôi vui mừng nhận ra sự hài hòa giữa khoa học và Giáo hội. Tôi kinh ngạc khám phá rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra lịch sử nhân loại. Tôi thán phục cách Giáo hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Tôi cũng ngưỡng mộ cách Giáo hội bảo vệ luân lý và sự thanh khiết.

Càng tìm hiểu những chống đối nhắm vào Giáo hội, tôi càng nhận ra vẻ toàn bích và toàn mỹ của Giáo hội hơn nữa. Nếu giáo huấn của Giáo hội có khiếm khuyết theo cách nào đó mà tôi có thể nhận ra, có lẽ tôi đã không giữ đạo cho đến hôm nay.

Tôi tham dự Thánh lễ và rước lễ mỗi ngày. Tháng 5 năm 1938, tôi gia nhập Hiệp hội Thiếu niên Thánh nữ Maria. Tôi giúp lễ và cảm thấy hạnh phúc khi được đến với Mẹ Maria vào mỗi tháng Năm. Tôi cũng trở thành hội viên Hội Thánh Vincent de Paul, đi xin quần áo cũ cho người nghèo. Tôi xúc động trước đời sống của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và cố gắng noi theo con đường bé nhỏ của thánh nữ.

Thật kỳ diệu khi nhìn lại sự biến đổi nơi tôi: từ một người lạnh nhạt, thờ ơ với Giáo hội suốt mười hai năm dài, dù đã sống trong chiếc nôi của Giáo hội, nay lại được ân sủng tràn ngập cách dồi dào.

Tôi báo cho cha tôi biết việc tôi đã được rửa tội. Ông không phản đối. Có lẽ ông cũng không biết đời sống đạo của tôi lúc ấy đã trở nên mạnh mẽ đến mức nào.

Tháng 5 năm 1941, tôi tốt nghiệp Đại học Hồng Kông. Tương lai mở ra trước mắt tôi với rất nhiều hứa hẹn thành công. Nhưng tôi đã quyết định đi tu để trở thành linh mục.

Tôi trở về nhà với hy vọng cha tôi sẽ đồng ý cho tôi đi tu. Nhưng trái lại, ông không những không đồng ý mà còn tìm cách làm cho tôi bỏ đạo. Ông ngạc nhiên, rồi từ ngạc nhiên chuyển sang giận dữ khi thấy tôi sùng đạo đến như vậy.

Thời gian ấy, chiến tranh Pháp tại vùng Đông Dương cùng những biến động xã hội khiến cả đời sống Giáo hội cũng trải qua nhiều khó khăn. Cha tôi vin vào đó để cho rằng việc tôi vào đạo và sống đạo đã đem lại những rủi ro cho gia đình. Ông không hiểu rằng người Công giáo rất “cứng cổ” trong việc tin đạo và sống đạo.

Tôi cũng nhận ra rằng đời sống đạo của mình đang trở thành nguyên nhân gây xáo trộn trong gia đình. Tôi không biết phải làm sao để mọi người hiểu được. Tôi buộc phải đối diện với những biến động của đời sống và phải chọn một trong hai: Thiên Chúa hay thế gian.

Được thêm sức bởi Bí tích Thánh Thể mà tôi lãnh nhận trong một Thánh lễ tại Dòng Carmelite, vào một buổi sáng, tôi quyết định rời gia đình. Tôi không báo cho ai biết, cũng không để lại địa chỉ hay lời từ biệt nào. Tôi vào chủng viện tại Bank Nok Khuek, Ratburi, ngay trước khi chiến tranh thật sự bùng nổ tại vùng Viễn Á.

Trong khi chiến tranh lan rộng khắp nơi, tại một góc nhỏ yên tĩnh giữa khu vườn dừa rậm rạp, thỉnh thoảng vang vọng vài tiếng bom nổ từ xa, một nhóm chủng sinh, trong đó có tôi, âm thầm trau dồi các môn Triết học và Thần học.

Tôi được thụ phong linh mục vào lễ Thánh Gioan Bosco, ngày 31/1/1949. 


 

 Thanh niên Tại TGP Sài Gòn từ bỏ lương hơn 7 tỷ để đi Tu

  02/01/2025 

Câu Chuyện Ơn Gọi của Thầy Dương Nguyên Khang

Vào những ngày đầu tháng 5, 2022, tôi nhận được một cú điện thoại của một vị mà tôi không ngờ tới, Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, vì chưa bao giờ tôi liên hệ với ngài.

– Thưa Đức Cha, ngài gọi cho con có việc gì vậy ?

– Trước nhất, tôi được tin là cha mới được Cộng đoàn chọn để hướng dẫn Cộng đoàn, tôi chúc mừng cha. Và tôi có một việc nhờ cha và Dòng giúp.

– Đức Cha cho chúng con biết điều gì chúng con có thể giúp Đức Cha ?

– Có một Thầy tên Khang đi tu Dòng Chartreuse de La Valsainte, ở gần Dòng của cha. Mẹ của Thầy dự định sẽ sang Thụy Sĩ thăm Thầy vào tháng 9, tôi nhờ cha giúp đi đón ở phi trường, chở bà đến Dòng Chartreuse để bà thăm Thầy Khang, rồi sau đó xin cha trở lại Dòng đón bà về ở Dòng của cha, vì theo luật Dòng Chartreux họ chỉ cho bà ở nhà khách và thăm Thầy được hai ngày thôi.

– Thưa Đức Cha, chúng con sẽ giúp bà tận tình.

– Tôi xin phép cha, tôi cho bà số điện thoại của cha để bà liên lạc với cha nhé ?

– Vâng ạ. …………..

Một thời gian sau đó, mẹ của Thầy Khang đã gọi nói chuyện với tôi. Bà đã kể cho tôi biết về ơn gọi của Thầy Khang như sau : Sau khi vợ chồng chúng con thành hôn với nhau, chúng con có được một cô con gái đầu lòng.

Hằng ngày con cầu xin với Chúa : nếu đẹp ý Chúa, xin cho chúng con một cậu con trai, nếu Chúa thương ban, chúng con sẽ giáo dục cháu và hướng dẫn cháu sau này dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì.

Và Chúa đã thương nhậm lời chúng con cầu xin, chúng con đã sinh ra cháu Dương Nguyên Khang vào ngày 11.3.1996. Và ngày 13.4.1996 cháu đã được Rửa tội tại Vương cung thánh đường Đức Bà Saigon với tên thánh Augustinô. Cháu Khang học giáo lý lúc 4 tuổi. Cứ đòi đi học chung với Chị,  các Sơ St Paul thấy thằng bé mập tròn, ngoan ngoãn nên cho vào lớp ngồi nghe.

  •  

Đến 5 tuổi Sơ cho học lớp khai tâm trước 1 năm. Những lúc kiểm tra giáo lý, vì không biết chữ nên Sơ cho bé trả lời bằng miệng. Sách giáo lý mang về bắt mẹ đọc cho học thuộc từng câu.

Đến khi vào lớp 1 biết đọc, biết viết thì làm bài luôn đạt điểm 10. Sang cấp 2 thì các bài kiểm giáo lý Sơ luôn cho 10+ hoặc 10++.

Con vẫn giữ những bài viết này. Khang chỉ chờ dịp để được viết về Chúa với tất cả tâm tình, có khi dài hơn câu trả lời bắt buộc đến cả trang giấy. Vì thấy cháu có lòng ham học giáo lý và hướng về Chúa như thế, con đã may cho cháu 4 chiếc áo lễ với 4 bốn màu khác nhau để cho cháu mặc, hầu giúp cháu yêu thích và ước muốn đi tu sau này.

Cháu Khang lúc nhỏ chiều nào cũng dâng lễ rồi xin mẹ, chị, bà ngoại hoặc có ai đang ở trong nhà đều phải dự lễ và rước lễ như thật. Mặc dù chưa biết chữ, nhưng đi lễ học thuộc cả kinh tiền tụng, vinh tụng ca… mở sách như thật, đọc vanh vách. Phúc âm và bài đọc thì phải nhờ người đọc.

Thời gian này cháu đang học Mẫu giáo. Chiều dâng lễ, tối trước khi ngủ vẫn ôm bình sữa bú. Lúc chưa biết chữ, ngày nào cũng bắt mẹ đọc sách cho nghe. vừa nghe đọc, vừa bú bình đến 7 tuổi mới ngưng. Đến lúc 7 tuổi, cháu được giúp lễ ở Vương cung thánh đường Đức Bà Saigon, lúc đó cháu mới ngưng dâng lễ ở nhà. Cháu giúp lễ khi chưa rước lễ lần đầu.

Có lần khi giúp lễ cho Đức Hồng Y, vì ngài không biết đã trao Mình Thánh cho Khang và cháu vẫn rước. Về nhà rất vui sướng kể cho mẹ nghe, mặc dù đã được mẹ và các Cha dặn là chỉ giúp lễ, không được rước lễ. Khi các Cha phát hiện, vào các lần sau, đến lúc cho rước lễ, các anh trong phòng Thánh phải dắt em vào.

ĐC Giuse Vũ Duy Thống lúc Ngài đang làm GM phụ tá Saigon đã từng hỏi cháu Khang khi cháu 9 tuổi : «Cha thấy con sáng láng thông minh, vậy con có muốn đi tu không? Nếu sau này khi con muốn đi tu, thì đến gặp ĐC và ĐC sẽ giúp con».

Và  ngài cũng đã hỏi con :  “Nếu Chúa chọn con của chị, chị có vui lòng dâng cho Chúa không?» 

Nhưng Ngài đã qua đời khi Khang còn đang học ở Mỹ. Từ Tiểu học cháu Khang được học trường song ngữ Pháp-Việt. Cháu là một học sinh chăm chỉ và ham học, cháu luôn đạt được điểm cao, từng đạt giải các kỳ thi Olympic. Học sinh giỏi cấp thành phố, cấp quốc gia, Thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp trung học vào năm 2014 trường Lê Hồng Phong, Saigon.

Ơn gọi chớm nở….                    

     

Yêu thích dâng Thánh lễ như một Linh mục

Cháu Khang đã hoàn thành chương trình hệ Trung cấp 9 năm tại  Nhạc viện Saigon chuyên khoa Piano vào năm 2014. Cháu là người sáng lập nhóm nhạc GERMER mang âm nhạc cổ điển đến với người trẻ tại Saigon. Nhóm hiện nay vẫn đang họat động và trình diễn mỗi tháng 1 lần. Từ Tháng 9.2015 đến tháng 5.2019 vinh dự nhận học bổng 4 năm du học tại Mỹ.

Ngày 28.5 2019 cháu Khang tốt nghiệp Master (Thạc sĩ) ngành Trí tuệ nhân tạo, hạng Tối Ưu. Lúc đó cháu đã nói được 7, 8 ngoại ngữ. cháu muốn học thêm để lấy bằng Tiến sĩ ngành này, cháu cũng được một hãng lớn ở Mỹ mời làm việc với một mức lương trên 300.000 đô la Mỹ một năm. Nhưng cháu đã từ chối, vì lúc đó cháu đã khám phá ra trong tâm hồn tiếng Chúa gọi tận hiến cho Ngài.

Thủ khoa ngành Âm Nhạc  2014                       

Master ngành Trí tuệ nhân tạo 2019

Mỗi dịp hè, cháu Khang chỉ về VN khoảng 1 tháng. Phần còn lại của kỳ hè hoặc các kỳ nghỉ khác thì đều đi tĩnh tâm ở các nhà Dòng ở Mỹ, Châu Âu, Hàn Quốc hay ra Dòng Xitô Châu Sơn, Ninh Bình, để tĩnh tâm với Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt. Hè năm 2018 cháu Khang sang Dòng Chartreux ở Pháp 1 tháng để tĩnh tâm và muốn xin ở lại tu tại đây, sau khi học xong.

Nhưng vì nhà Dòng này đã có đông đan sĩ, nên cha Bề trên đã giới thiệu Khang sang Thụy sĩ. Cuối năm 2018 Khang sang Thụy Sĩ 1 tháng và được cha Bề trên, cha Giáo tập chấp nhận, nên các ngài tiến hành làm các thủ tục cho cháu Khang nhập Dòng Chartreuse de La Valsainte, tại Thụy Sĩ ngày 15. 8. 2019. 

Được mặc áo Dòng ngày 25.3.2020  và Thầy chọn cho mình một tên thánh mới là Théophile (Thánh Théophile Antioches, Hy lạp. Théophile nghĩa là «người yêu mến các Thần». Tuyên khấn  lần đầu ngày 25.3.2022. (Dòng Chartreux do thánh Bruno thành lập năm 1084, cũng được gọi là Ordo Cartusiensis. Có thể nói là Dòng khổ hạnh nhất trong Giáo hội hiện nay).

Năm đầu đời khổ tu  2020   

 

Sau 3 năm tu trị, hạnh phúc tỏa sáng 2022

Tôi hỏi mẹ của Thầy Théophile Khang : – Chị và những người thân trong gia đình phản ứng thế nào sau khi nghe Thầy Khang nói là chọn đi tu Dòng Chartreux?

– Thú thật, con ước muốn cháu dâng mình cho Chúa như con đã hứa với Chúa khi xin cho chúng con có được một người con trai, con mong muốn cháu đi tu Dòng hoạt động hơn, nên chúng con cũng cảm thấy sốc và hụt hửng.

– Con có hỏi Thầy Khang: Con có hạnh phúc trong ơn gọi của con?

– Thầy trả lời: Thưa Mẹ, con rất hạnh phúc với ơn gọi mà con đã chọn lựa, Mẹ và gia đình an lòng nhé. Khi được biết Thầy Khang hạnh phúc trong ơn gọi của Thầy đã chọn, cả gia đình chúng con từ từ tập đón nhận Thánh Ý Chúa, và chúng con đang hòa nhập vào niềm hạnh phúc mà Thầy Khang đang sống để Ý Chúa được thực hiện. ……………………

Ngày 29.9.2022 mẹ và em trai của Thầy Khang đã đến phi trường Genève, Thụy Sĩ, tôi đã đón bà và cháu Nguyên về Dòng Chartreux. Cha Bề trên Dòng đã đón tiếp chúng tôi cách vui vẻ, thân thiện. Thầy Khang được phép ra nhà khách thăm mẹ và em trai, được phép ở lại nói chuyện một số giờ được quy định, nhưng không được phép ở lại Nhà khách dùng cơm với mẹ và em trai mà phải trở về phòng riêng và dùng cơm tại đó.

Cha Bề trên cho phép Thầy Khang đưa tôi và cậu em trai đi vào trong nội vi để thăm viếng. Thầy đưa chúng tôi viếng thăm nhà Nguyện, phòng Hội chung, nhà Cơm cộng đoàn. Trong ngày, các đan sĩ Chartreux có giờ kinh Đêm, kinh Sáng, Thánh Lễ và kinh Chiều là chung với nhau, còn các giờ Kinh nhỏ khác, đọc sách thiêng liêng, làm việc, dùng cơm trong phòng riêng mỗi người, trừ lễ trọng thì dùng cơm chung.

Ban tối các đan sĩ đi ngủ lúc 20g; Thức dậy lúc 23g30 và nguyện gẫm trong phòng riêng; 12g15 ra nhà Nguyện đọc chung kinh Đêm (Sách) và kinh Sáng, kéo dài khoảng 2 tiếng; sau đó đi ngủ lại; dậy lần 2 lúc 6g30; 8g Thánh Lễ…. Thăm viếng phòng riêng của Thầy Khang: ở phòng trệt để nhiều khúc củi, một số đã được Thầy bửa nhỏ để sưởi vào mùa đông.

Phía sau căn phòng là một khu vườn rộng khoảng 20m2, có bờ tường xi-măng cao 4m bao quanh, không thể thấy được gì bên ngoài. Có khoảng gần 10 cây táo, lê được trồng sát bờ tường, ở giữa sân được trồng cỏ. – Thầy nói với tôi: Khi con vào căn phòng này, con đã bỏ ra nhiều giờ để lật đất của khu vườn này, vì trước đó cỏ dại mọc nhiều, và con xin mua hạt cỏ để gieo lại, bây giờ thì con có được một mãnh vườn cỏ đẹp hơn.

– Tôi hỏi : Các cây táo và lê này đã được hái trái ?

– Thầy Khang trả lời : Con đã hái chúng và giao cho nhà bếp để dùng chung. Sau đó Thầy đưa chúng tôi lên lầu trên, nửa phòng ngoài có máy tiện gỗ để Thầy có thể tiện một vài món đồ như chân đèn, cái bình, để giải trí sau những giờ cầu nguyện, suy gẫm. Kế bên là cái máy cắt giấy cũ, Thầy Khang đang đóng lại một vài cuốn sách cũ cho thư viện hay sách kinh.

Ở giữa phòng có một lò sưởi củi, gần đó là một gian nhỏ có ghế quì và một số tượng ảnh Chúa, Mẹ treo phía trước ghế quì, đây là nơi Thầy đọc kinh hay cầu nguyện riêng. Thầy bảo: Mỗi lần con đi ra khỏi phòng trở về, con phải quì ở đây để xin lỗi Chúa. Bên cạnh là giường ngủ với một tấm nệm cũ, có trải mền và ra trắng, cuối giường có treo chỉ một chiếc áo len để mặc thêm khi trời lạnh.

Thầy đưa cho tôi xem một cái áo nhặm. Nó là hai miếng vải to khoảng 20cm2, trên mỗi miếng vải có đính lông ngựa, được nối với nhau bằng hai sợi dây, để đeo một miếng trước ngực và một miếng sau lưng, có một sợi dây vải trắng thắt chặt hai miếng vải có lông ngựa vào sát ngực và lưng. Thầy bảo: mục đích của áo nhặm là tạo ra sự ngứa ngáy, khó chịu, đó là một hình thức phạt xác.

Mỗi người được phát 2 bộ áo nhặm để thay đổi khi giặt, và phải mặc áo nhặm suốt ngày đêm. -Tôi hỏi: Nó có tạo ra sự ngứa ngáy đến phải gãi và thành ghẻ không ?

-Thầy trả lời: Vì có 2 bộ để thay đổi nên con chưa bị ghẻ.

– Vấn đề ăn uống thế nào ? Tôi hỏi.

– Ban sáng, chúng con không ăn gì, chỉ uống nước. Đến trưa, có một thầy mang thức ăn đến, bỏ vào lỗ cửa nhỏ, con chỉ được phép mở ra lấy thức ăn sau khi Thầy đó đã đóng cánh cửa nhỏ ở ngoài lại, vì chúng con không được phép nói chuyện với nhau. Thức ăn ban trưa thì đủ no, Dòng chúng con tuyệt đối không dùng thịt, chỉ ăn cá, trứng, pho mát, bánh mì, khoai tây, mì ống, mì sợi, rau, đậu, trái cây.

Thầy mở cửa nhỏ và lấy ra cho tôi xem bữa ăn tối để trên một đĩa gồm có : 2 lát bánh mì đen dầy khoảng 1cm X 10cm2. Một chùm nho khoảng 8 trái, 2 cái bánh bít quy nhỏ, một thỏi sô cô la bằng 1 ngón tay.

– Ăn như vậy Thầy có đói không?

– Dạ, lúc đầu thì đói, nhưng riết thì dạ dày cũng quen. Mỗi thứ Sáu chúng con chỉ dùng bánh mì với nước lã thôi.  Trong Mùa Chay thì ăn uống khổ chế hơn nữa.

– Vấn đề quần áo thế nào ?

– Thưa cha, mỗi người chúng con nhận được 2 chiếc áo Dòng bằng len dầy: một cái mới và một cái rất cũ của những cha, thầy đã chết để lại và chúng con phải mặc chúng vì tinh thần nghèo khó. Chiếc áo Dòng cũ thì nó rách nhiều và phải vá rất nhiều mảnh, nhưng con lại thích mặc nó, vì nó rách và vải đã sờn thì mùa hè mặc nó mát hơn mặc áo còn mới, và Thầy cười dịu dàng.

– Tôi thấy trong phòng của Thầy chỉ có 2 cuốn sách?

– Dạ đúng, chúng con chỉ được giữ trong phòng một cuốn Kinh Thánh và một cuốn sách thiêng liêng, đọc xong thì trả lại thư viện và xin cuốn khác.

– Vấn đề liên lạc với gia đình thế nào:

– Chúng con không có điện thoại, không có internet, một năm chúng con được phép viết thư 4 lần cho gia đình mà thôi, được phép nhận thư từ của bạn bè, nhưng không được phép trả lời.

– Tôi hỏi Thầy: Thầy có thể chia sẻ tại sao Thầy lại chọn ơn gọi khổ chế này, Chúa có tỏ ra một dấu hiệu nào rõ rệt với Thầy?

– Thầy từ tốn trả lời: Con đã yêu Chúa từ nhỏ. Con không nhận được một ơn lạ nào từ Chúa để quyết định chọn ơn gọi này cả. 

Đối với tôi, câu trả lời của Thầy Khang tuy ngắn gọn, nhưng quá đủ để hiểu một tâm hồn đã có lòng yêu mến Chúa ngay khi còn nhỏ, tình yêu đó khi đã trưởng thành, chín muồi thì muốn hiến dâng thật trọn vẹn cho Đấng mà mình đã yêu mến trong nhiều năm dài.

Từ bỏ tất cả: sự thông minh, thành công rực rỡ trong việc học vấn, một tương lai hứa hẹn thành đạt, giàu có, vinh quang đang đón chờ với tuổi đời mới chỉ 23 khi Thầy thi đậu tối ưu bằng Master và chuẩn bị dọn Tiến sĩ, nhưng Thầy đã chọn Chúa, Đấng cao cả, trọn hảo trên tất cả mọi sự của trần thế này.

Thầy Khang đã gởi cho tôi một tấm thiệp để cám ơn tôi đã đến phi trường đón mẹ và em Thầy về và sẽ lo sau những ngày thăm Thầy, Thầy nói lên ước muốn từ bỏ một cách sâu xa nhất: «Chúa chỉ đòi hỏi con cái Ngài từ bỏ một thứ mà thôi: từ bỏ chính mình. Người ngoài chiêm ngưỡng Dòng Chartreux như là nơi ở của các thánh. Nhưng suy cho cùng, các hy sinh dù có lớn đến đâu, dù đau đớn đến đâu, có lẽ cũng chỉ là điều kiện, phương tiện để giúp kẻ tu hành từ bỏ chính mình. Có lẽ 4 bức tường cao của Dòng Chartreux không phải là biểu tượng của sự thánh thiện, nhưng là tiếng rên siết của muôn loài đang sống dưới ách tội lỗi, rên siết vì từ bỏ chính mình khó quá, lớn quá, lớn hơn cả các hy sinh của một đời khổ tu. Đường dài vô tận, mà ách tội lỗi đè nặng, xin cha cầu nguyện cho con. Xin Chúa thương nâng đỡ cha. Đi bộ vất vả, chỉ chờ ngày Chúa thương cất khỏi bóng đêm để đưa chúng ta vào vương quốc ánh sáng của Thánh Tử. Trong khi chờ đợi: từ bỏ mình, vác Thánh Giá hằng ngày theo Chúa Giêsu».

Sự từ bỏ quảng đại của Thầy trẻ Théophile Dương Nguyên Khang muốn nói gì với chúng ta, với các bạn trẻ, với con người hôm nay đang quá chú trọng đến thành công, danh vọng, tiền tài, vật chất: điều gì là quan trọng nhất? Thiên Chúa hay vinh quang trần thế này? Thầy Khang viết thư cho mẹ và tóm tắt cuộc đời dâng hiến của mình một cách sâu sắc :  “Con như chiếc bình bạch ngọc đập vỡ vụn dưới chân Chúa”.

Đan sĩ, Đan viện Đức Mẹ Fatima, Thụy Sĩ.


 

Lời cầu nguyện được nhậm lời: Sophia Forchas, người sống sót sau vụ xả súng tại Annunciation, cuối cùng đã trở về nhà

YouTube player

Sophia Forchas, 12 tuổi, cuối cùng đã được về nhà — sau 57 ngày nằm bệnh viện vì những vết thương nghiêm trọng do vụ xả súng chết người tại Nhà thờ Công Giáo Truyền tin ở Minneapolis trong Thánh lễ đầu tiên tại trường trong năm khiến hai học sinh thiệt mạng.

Sophia đã nhận được lời tạm biệt trìu mến bên ngoài bệnh viện vào ngày 23 tháng 10.

Trong một tuyên bố được đăng trên trang GoFundMe của gia đình, cha mẹ của Sophia, Tom và Amy Forchas, đã viết: “Hôm nay đánh dấu một trong những ngày phi thường nhất trong cuộc đời chúng tôi! Con gái yêu quý của chúng tôi, Sophia, sắp trở về nhà!!”

Bày tỏ lòng biết ơn đối với đội ngũ bác sĩ đã tận tụy cứu sống con gái mình, hai vợ chồng viết: “Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên sự chăm sóc tận tình của các bạn đã giúp con bé vượt qua. Sự tận tụy của các bạn đã giúp chúng tôi vượt qua.”

Sophia vẫn còn một chặng đường dài phía trước với “liệu pháp ngoại trú”, nhưng cha mẹ cô bé cho biết “trái tim chúng tôi tràn ngập niềm vui khôn tả khi chứng kiến giọng nói của con cải thiện từng ngày, tính cách của con lại tỏa sáng, và khả năng đi lại, bơi lội, thậm chí là rê bóng rổ của con. Mỗi bước đi của con là một minh chứng sống động cho ân sủng vô biên của Chúa và sức mạnh kỳ diệu của lời cầu nguyện.”

Đức Tổng Giám Mục Bernard Hebda của Tổng giáo phận St. Paul và Minneapolis nói với tờ Register:

Tôi cùng cộng đoàn Truyền Tin mừng vui mừng Sophia Forchas trở về nhà. Thật cảm động khi cô ấy có thể cùng chúng tôi tham dự buổi đọc kinh Mân Côi hàng ngày lúc 9:00 tối qua bên ngoài nhà thờ. Cô ấy và cha cô ấy cảm ơn cộng đoàn vì những lời cầu nguyện mà họ đã nhận được trong suốt thời gian Sophia nằm bệnh viện và tại trung tâm phục hồi chức năng. Xin hãy cùng tôi tiếp tục cầu nguyện cho sự hồi phục của tất cả những người bị ảnh hưởng bởi thảm kịch tại Annunciation, và đặc biệt là cho gia đình và người thân của Harper Moyski và Fletcher Merkel.

Trong buổi họp báo ngày 5 tháng 9, bác sĩ phẫu thuật thần kinh Walt Galicich thuộc Trung tâm Y tế Quận Hennepin nói với các phóng viên rằng khi điều trị chấn thương cho Sophia, ông sẽ cố gắng “xuyên qua phần não bình thường để tiếp cận” và có khả năng gây ra nhiều tổn thương hơn. Do áp lực trong não quá lớn, khả năng sống sót của Sophia là cực kỳ thấp.

Bác sĩ phẫu thuật thần kinh đã dẫn đầu một nhóm thực hiện phẫu thuật cắt hộp sọ giải áp, cắt bỏ nửa bên trái hộp sọ của cô để giảm áp lực trong não.

Galicich đã nói với các phóng viên trong nước mắt vào tháng 9 rằng: “Nếu lúc đó bạn nói với tôi rằng, 10 ngày sau, chúng ta sẽ đứng đây với một tia hy vọng, tôi sẽ nói, ‘Phải có phép màu mới làm được’“.

Mẹ của Sophia, y tá nhi khoa làm việc tại khoa chăm sóc đặc biệt của bệnh viện nơi các nạn nhân được đưa đến, không hề biết rằng trường học của con mình đã bị tấn công vào ngày định mệnh đó. Ban đầu, bà không hề biết rằng một trong ba bệnh nhân là con gái mình.

Em trai của Sophia cũng chứng kiến vụ xả súng ở trường học ngày hôm đó; và nhờ ơn Chúa, em trai không hề hấn gì, mặc dù vẫn đang phải chịu đựng nỗi đau do sự kiện kinh hoàng đó gây ra và những vết thương nghiêm trọng của chị gái em.

Sau 57 ngày nằm bệnh viện, bác sĩ Galicich đã ôm chặt bệnh nhân nhỏ của mình khi cô bé bước ra khỏi Trung tâm Y tế Quận Hennepin trong tiếng reo hò và vỗ tay của gia đình và bạn học. Ngay cả cảnh sát trưởng thành phố cũng có mặt, đưa cô bé đi dạo quanh thành phố trên chiếc limousine dài để kỷ niệm sự kiện này.

Phát biểu với tờ The Minneapolis Star Tribune, Cảnh sát trưởng Brian O’Hara gọi sự trở về của Sophia là “một phép màu”.

Cha mẹ Tom và Amy vô cùng xúc động cũng ghi nhận tầm quan trọng của lời cầu nguyện trong quá trình chữa lành của con gái họ. Họ viết trong tuyên bố: “Những lời cầu nguyện đó đến từ gia đình, bạn bè và vô số tâm hồn trên khắp thế giới; nhiều người trong số họ chưa từng gặp Sophia, nhưng đã nâng đỡ tinh thần con bé bằng tình yêu thương vô điều kiện. Những lời cầu nguyện của quý vị là nguồn an ủi, hy vọng và chữa lành cho cả gia đình chúng tôi. Chúng tôi tin chắc rằng Chúa đã lắng nghe từng lời cầu nguyện của mọi người.”

Gia đình Forchas đã gửi lời chia buồn đến các gia đình có con em thiệt mạng trong vụ xả súng, nói rằng: “Chúng tôi tiếp tục cầu nguyện cho những người đã mất mạng một cách bi thảm trong ngày đau thương đó. Cầu mong họ được sống mãi trong ký ức.”

“Chúng tôi cũng xin chia buồn cùng những người đã bị thương và mang những vết sẹo vĩnh viễn, và gia đình cùng những người thân yêu đã mãi mãi thay đổi,” vợ chồng Forchas tiếp tục. “Nguyện xin Chúa ban ơn chữa lành, an ủi và bình an cho tất cả những ai đang đau buồn. Với những ai đang chai sạn trong tuyệt vọng, nguyện xin ân sủng của Chúa Thánh Thần làm họ mềm lòng. Chúng tôi cầu xin Chúa Ba Ngôi đổ đầy lòng trắc ẩn và tình yêu thương vào thế giới này.”


 

Nguyễn Thị Mỹ Lynn, một tân tòng có đức tin tuyệt vời – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Trước hết con – đại diện của nhóm đọc kinh Lòng Chúa Thương Xót – xin chia buồn cùng anh Tâm, chị Liên, cháu Mẫn cùng toàn thể quý tang quyến.

Cách nay 4 năm, Lynn đến với đạo Chúa vào tháng 09 năm 2021 sau khi đã phát giác ra bịnh ung thư và đã được rửa tội vào mùa phục sinh năm 2022.

Trong lớp Tân tòng niên khóa 2021-2022 có tất cả 29 người ghi tên tham dự khóa học đạo trong vòng 9 tháng.

Đặc biệt có ba má Lynn và hai đứa con của Lynn cũng đã theo học đạo trong lớp tân tòng trên.  Lynn cũng là thành viên của nhóm đọc kinh “Cầu nguyện Lòng Chúa Thương Xót” ở Houston, Texas.

Năm nay Lynn đã được 43 tuổi.

Mặc dầu Lynn mới theo đạo nhưng Lynn hoàn toàn phó thác và tin tưởng vào Chúa. Một trường hợp rất đặc biệt với niềm tin tuyệt đối vào Chúa Giêsu.

*****

Đây là bức thơ của Lynn viết trước khi mất, (Lynn mất ngày 06-06-2025) để gởi cho tất cả những người thân yêu, đã đăng trong Facebook của Lynn như sau:

Lynh (Lynn) Nguyen is with Karen Tu Le and 18 others.

Hello tất cả mọi người, là Lynn đây…

Mình biết trong lòng mọi người Lynn rất là dễ thương, hiền lành, hòa đồng luôn luôn quan tâm đến mọi người xung quanh…

Lynn cảm ơn rất nhiều đến mọi người đặc biệt là gia đình Lynn 7 năm nay đã bỏ thời gian thăm Lynn, bên cạnh Lynn, động viên và cầu nguyện cho Lynn…

Trên thiên đàng, bận quá Lynn phải về phụ… Chúa đã gọi Lynn về với vòng tay ấm áp yêu thương của Chúa.

Mọi người ở lại giữ gìn sức khỏe nhen, Lynn đi lên thiên đàng đây…

Ý quên, trên thiên đàng Lynn sẽ cầu nguyện, phù hộ cho mọi người ở lại bình an, mạnh khỏe và hạnh phúc trong cuộc sống trần gian…vậy nha!!!!

Lynn Cười nè

Bye tất cả mọi người!!!!!

Hình ảnh của Lynn (Lynh) rất lạc quan yêu đời (từ facebook của Lynn)

Kết:

Lynn Cười nè

Bye tất cả mọi người!!!!! 

Hai câu nói trên đã biểu lộ niềm vui, hạnh phúc được về với Chúa yêu thương. “Lynn cười nè” chứng tỏ rằng Lynn đã cảm nghiệm sâu sắc câu nói: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” của thánh Phanxicô Assisi.

Tôi rất thán phục và quý mến tinh thần lạc quan của Lynn, đã chịu đựng những đau đớn về thể xác trong thời gian điều trị bịnh ung thư suốt thời gian dài khoảng 7 năm qua.

Lynn nói, có lúc Lynn không thấy đường vì bị ảnh hưởng của bịnh ung thư làm mờ mắt.

Chỉ vài dòng ngắn gọn trên của Lynn, tôi đã thấy Lynn có niềm tin mãnh liệt vào lòng nhân từ, lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa tình yêu.

Hy vọng Chúa đã đón linh hồn Faustina Lynn về nước thiên đàng vĩnh cửu của Chúa rồi.

Tuy nhiên, bổn phận của chúng ta là vẫn tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn Faustina Lynn.

Trong niềm an ủi và hy vọng của Chúa phục sinh, kẻ đi trước người đi sau, rồi chúng ta sẽ gặp lại nhau trong ngày sau hết.

Phùng Văn Phụng

Ngày 18 tháng 06 năm 2025

KHOA HỌC DẪN ĐẾN THIÊN CHÚA – Nguyễn Hy Vọng

KHOA HỌC DẪN ĐẾN THIÊN CHÚA – Nguyễn Hy Vọng

Tiến sĩ Phan Như Ngọc bị nhồi nhét thuyết vô thần từ lúc nhỏ và lớn lên trong lòng Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhân một chuyến công tác ở nước ngoài, ông đã xin tị nạn và gia nhập Đạo Chúa. Ông viết: “Sức mạnh nào khiến cho hàng tỷ người trên thế giới, trong đó có hầu hết các nhà khoa học vĩ đại mà tôi từng ngưỡng mộ, tin Kinh thánh?”

“Tính muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên, tính di truyền kỳ diệu: hạt giống nào sinh cây trái đó, vẻ đẹp tuyệt vời của những nàng hoa, sự hài hòa và hoàn thiện của cơ thể con người, sự hùng vĩ của bầu trời sao; tất cả những cái đó, cộng với những ý kiến các vĩ nhân mà tôi hằng kính phục, chính là sự chứng minh tuyệt vời và làm cho tôi tin rằng phải có Đấng Sáng Tạo. Đó chính là Thượng Đế toàn năng, toàn tri, toàn trí và toàn tại.”

Bác học Pasteur: “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế.” ; “Mỉa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết hoặc chết là trở về với hư vô.”

Bác học Becquerel: “Nhờ nghiên cứu khoa học đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đức tin.”

Bác học Isaac Newton, vì nhìn thấy sự kỳ diệu và trật tự của bầu trời tôi đã thốt lên: “Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính” ; “Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chắc chắn về tính có thực hơn bất cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó.”

Bác học Bourgeois: “Không có gì cản trở tinh thần khoa học hòa hợp với tín ngưỡng đã được suy nghĩ sáng suốt. Trái lại, khoa học càng được đào sâu, thì tôn giáo lại càng được tăng thêm sức mạnh và bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, lại càng được sáng tỏ hơn.”

Bác học Duclaux: “Nếu sự sống đầu tiên xuất hiện trên mặt đất do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuất hiện kia nó kỳ dị như hòn đá tự bò lên sườn núi.”

Bác học Albert Einstein: “Khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là qùe quặt.”; “Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo.” ; “Sự ác là do vắng bóng Thượng Đế trong tâm hồn.”

Giáo sư Edwin Carlson, nhà Sinh vật học Trường Đại Học Princeton, Hoa Kỳ: “Sự sống phát xuất từ sự tình cờ, thì cũng giống như một quyển từ điển, xuất hiện do kết quả của một vụ nổ xẩy ra ở một nhà máy in.”

Giáo sư James Simpson, người phát minh ra phương pháp gây mê trong phẩu thuật, khi được hỏi về những phát minh của ông, đã trả lời: “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu.”

Bác học Edison, đã ghi vào sổ vàng khi ông đến viếng tháp Eiffel: “Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tất cả kỹ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa.”

Giáo sĩ Moreux, giám đốc đài thiên văn Bourges: “Tôi liên lạc với các vị giám đốc thuộc hết mọi đài thiên văn trên thế giới, tất cả đều tin có Thiên Chúa.”

Charles Nicolle, người đoạt giải Nobel Y học, năm 1928: “May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu ấn của Thiên Chúa.”

Alexis Carrel, tiến sĩ y khoa, giáo sư đại học Lyon, đoạt giải Nobel 1912. Ông là một nhà vô thần, nhưng sau khi chứng kiến phép lạ nhãn tiền tại Lộ Đưc (Lourdes , France), Marie Ferrand, từ một cô gái sắp chết, trở nên lành mạnh tức khắc, ông nói: “Thật là một chuyện không thể có nhưng có thực. Quả là bất ngờ, một phép lạ mới xẩy ra.” Không dám tin ở mình. Alexis Carrel mời hai bác sĩ bạn đến chứng kiến và cả hai đều xác nhận cô đã hoàn toàn bình phục. Alexis Carrel đã trở nên tín hữu Thiên Chúa giáo, trước khi về Nhà Cha trên trời.

Bác học Chevreul (1786-1889): “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài”.

Bác học Diderot: “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần.”

Bác học John Eccles, người đoạt giải Nobel: “Tôi chấp nhận tất cả những lý thuyết khoa học, nhưng những lý thuyết này không giải thích một chút nào về sự kiện, làm thế nào, tôi, một sinh vật biết suy nghĩ, đang hiện hữu và có thể làm nhiều điều… Sự sáng tạo linh hồn là một hành động thiêng liêng là điều khoa học không thể phủ nhận được, nó hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của khoa học”.

Ông nói thêm: “Niềm tin của những người chủ trương duy vật chất đang hao mòn; họ không dẫn chúng ta đến đâu cả. Thuyết ‘khoa học duy vật’ đưa con người đến tuyệt vọng, trống rỗng, vô giá trị. Giá trị thật là vấn đề tâm linh, tình yêu thương, can đảm, bác ái”.

D’Alembert: “Cái tính hão huyền không muốn nghĩ tường như mọi người, là lý do tạo nên kẻ vô thần hơn là chứng lý sáng tỏ.”

Bác sĩ riêng của Lenine, lúc 83 tuổi, ông xuất bản hai cuốn sách: “Sự bí mật và sự khôn ngoan của thân xác (1958); và “Mầu nhiệm của sự sống” (1960). Ông nói: “Môn sinh vật học và môn phân tích tâm lý, đã làm cho tôi trở nên một kẻ hữu thần.”

Wernher Von Braun (1917-1977) thám hiểm Mặt Trăng thành công năm 1967. Ông cùng 3 phi hành gia bạn cắm cờ Hoa kỳ và đặt ca vịnh trên cung trăng ngợi khen Đấng Tạo Hóa. Năm 1976 khi diễn thuyết tại Philadelphia , Bang Pennsylvania , Ông nói: “Sự bao la huy hoàng của vũ trụ đã làm cho đức tin vào Đấng Tạo Hóa của tôi tăng thêm. Khoa học và đạo không mâu thuẫn nhưng là chị em ruột. Khoa học tìm thấy sự huy hoàng của vạn vật, trong khi đạo thì tìm thấy Đấng Tạo Hóa đã dựng nên vạn vật tốt đẹp lạ lùng. Đạo không phải là di sản mà người đời sau hưởng thụ và bảo vệ. Nhưng đạo cũng như khoa học phải thăng tiến. Người tín hữu phải tìm hiểu đạo, và nhà khoa học phải khổ công nghiên cứu mới thành bác học.”

Bác học T. Termier: “Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Hơn mọi người khác, nhà bác học dù chuyên về khoa nào, bao giờ cũng dễ dàng nhận thấy mọi vật đều biến chuyển, bị tạo, hỗn hạp, khuyết điểm, có cùng đích và rất phức tạp. Do đó, hơn những người dốt nát, nhà khoa học dễ có ý hướng về một Đấng bất di bất dịch, tự hữu, cần thiết, hoàn toàn, và là Đấng duy nhất an bài mọi sự. Chính vì thế mà người ta bảo : khoa học dẫn đến Thiên Chúa; và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói : vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa.”

A. Eynieu đã công bố bản thống kê: trong số 432 nhà bác học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biết lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% các nhà bác học tin có Thiên Chúa.

Bác sĩ Dennert, người Đức cũng tuyên bố kết qủa tìm tòi của ông để biết quan niệm tôn giáo của 300 nhà bác học, tìm hiểu trong những số lỗi lạc nhất thuộc 4 thế kỷ qua. “38 vị tôi không rõ các ông quan niệm thế nào, còn 262 vị, thì 20 vị dửng dưng, 242 ông tin. Tức cũng 92% tin có Thiên Chúa.”

Nhà bác học người Mỹ, có ý mỉa mai và đánh giá những kẻ chủ trương vô thần như sau:

– Trong con người có một số nước, đủ giặt một cái khăn bàn.
– Chứa chất sắt, ……………………….đủ làm 7 cái đinh đóng móng ngựa.
– Có một số chất vôi, …………………đủ quét một bức tường nhỏ.
– Đốt ra than, ………………………….có thể làm được 65 cây viết chì.
– Chất phốt phát, …………………….đủ làm được hộp diêm.
– Và chất muối, ………………………. độ hai muỗng nhỏ.


Bán những thứ đó được 95 xu, đó là giá trị của kẻ vô thần.

NGUYỄN HY VỌNG
(Báo Mai 13/03/2015)


 

Cảm nghiệm của đời mình sau 20 năm bị Stroke vào đúng ngày 24.12.2004-Nguyễn Ngọc Thụ.

Anh Thụ đã gởi gấm cho chúng ta về Lòng yêu thương của Thiên Chúa. Chúa đóng cửa này thì Chúa cũng mở ra cửa khác cho chúng ta sống chứ Chúa không để chúng ta phải quá sức chịu đựng, và dân gian ta thường nói “tái ông mất ngựa”.

Xin cám ơn anh Thụ và mời các bạn đọc tâm tình của anh Nguyễn Ngọc Thụ.

Phung Van Phung

**********

20 năm về trước, vào ngày Giáng sinh 24/12/2004 tại Northern Virginia, con/tôi bị stroke vào nhà thương cấp cứu, ICU/hospital. Hôm đó, con/tôi đi công tác ở Vancouver, Canada và Seattle, WA về đến Washington D.C trời xuống -36 độ lạnh. Lúc con/tôi đi trời ấm như mùa xuân, lúc về buốt lạnh mùa đông. Từ terminal xe bus đưa tôi ra parking lot, không ngờ xe bus đưa tôi ra lộn parking lot. Một tiếng rưỡi lội bộ đi tìm xe dưới nhiệt độ trừ 36 độ âm nhưng tôi không có áo lạnh. Kết quả, tôi bị stroke sau 1-2 với cái shock bất ngờ đó. Một cái stroke rất là nặng tưởng chết, nhưng Chúa và Đức Mẹ đã cứu tôi và cho tôi sống lại một cuộc sống gần gũi với Chúa và Đức Mẹ hơn và được làm nhân chứng cho Chúa.

Biến cố đó, gia đình và người thân và bạn bè đã đến thăm và care cho tôi nhiều lắm. Bố Mẹ và một số người thân, 26 người đã hũy bỏ chuyến đi đến Indonesia/Malaysia/Thailand để chăm sóc cho tôi. Một ngày rưỡi sau, là biến cố Tsunami làm cho 330,000 người đã bỏ mạng ở vùng Indonesia/Malaysia/Thailand, nhưng gia đình tôi đã được Chúa và Đức Mẹ cứu sống, và tôi từ dạo đó tôi chiêm niệm sống gần gũi với Chúa và Đức Mẹ.

Tạ ơn Thiên Chúa đã cứu tôi và gia đình tôi. Tôi bị câm không nói được vài tháng, nhưng rồi trong mội buổi sáng Mai đã cùng tôi cầu nguyện để xin Sáng Danh Chúa, xin Chúa cho tôi được nói lời ca ngợi Chúa. Và Chúa đã nhận lời, cho tôi lần đầu tiên bật lại tiếng là Kinh Lạy Cha và Kính Kính Mừng và tôi đã ca ngợi Chúa và Đức Mẹ đọc hết Chuỗi Mân Côi trong buổi sáng đó, và mỗi ngày từ đó về sau. 40 ngày nằm nhà thương như là mầu nhiệm được vào sa mạc 40 ngày với Chúa.

Ba tháng sau khi bị stroke, tôi đã lập ra một đường dây để thông đạt với các Cha, các Soeurs, các Thầy, các Bác và các Anh Chị thân mến… 20 năm rồi có Ngọc Nga, Kim Hà, Chị Kim Nga, A Roger Phung, A Pham Trung, A Cao Tan Tinh, và các Cha Sáng Lập và Anh Chị Em 

Xin các Đức Giám Mục, các Cha, Thầy, các Soeurs, các Bác và Bố Mẹ, gia đình, người thân và tất cả mọi người cho chúng con/tôi được cám ơn, nhầm ngày kỷ niệm 20 năm tôi bị stroke, tận đáy lòng chúng tôi… một tình yêu mà Thiên Chúa cho kết hiệp.

Xin chúc các Đức Giám Muc, các Cha, các Thầy, các Soeurs, các Bác và Anh Chị đầy Hồng Ân Chúa Cứu Thế và tiếp tục hành trình sống với Chúa.

MERRY CHRISTMAS 2024 AND HAPPY NEW YEAR 2025!

Happy New year to you and your family.

O Holy Night by Andrea Bocelli & Celine Dion

https://youtu.be/Y1oLk54R5Xg

Silent Night – Andre & Rieu

https://youtu.be/RDpWkBi-cr4

Chỉ có một thứ hạnh phúc trên đời này, đó là yêu thương và được yêu thương ~ George Sand


 

Cha Adrian Suyanto (30 tuổi), Cha là một Tân Tòng,

 Make Christianity Great As Always is at Catholic Archdiocese of Sydney.

Cha Adrian Suyanto (30 tuổi), một trong những Linh mục vừa được chịu chức tại Tổng Giáo phận Sydney (Úc) hôm 11/7 vừa qua.

Cha là một Tân Tòng, xuất thân trong một gia đình Di Dân gốc Indonesia, và là một Kỹ sư Hóa học (tốt nghiệp Đại học New South Wales).

Xin cầu nguyện cho cha, và cho Ơn Thiên Triệu. 


 

MỘT TÂN TÒNG GỐC HOA TRỞ THÀNH LINH MỤC

 Make Christianity Great As Always

Ngày 7/6, tại Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn, TGM Giuse Nguyễn Năng đã đặt tay truyền chức linh mục cho 19 thầy phó tế. Trong số này, có tân linh mục Vincent Lucia Cổ Diệu Thanh, người gốc Hoa.

Điều đáng nói, tân linh mục Cổ Diệu Thanh không chỉ là người gốc Hoa mà còn là một Tân Tòng. Ơn gọi của cha khá đặc biệt. Thuở nhỏ, cha cùng các bạn hay đạp xe tới Nhà thờ Cha Tam chơi. Thế rồi, từng chút một Chúa cảm hoá cậu thiếu niên lúc nào không biết và giờ đây cậu trở nên một linh mục dâng trọn đời mình cho Chúa.