LÀM CHÍNH TRỊ KHÔNG PHẢI LÀM GIÁO DỤC

Nguyễn Đình Ngọc
LÀM CHÍNH TRỊ KHÔNG PHẢI LÀM GIÁO DỤC

________________________________________________

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo nói: “Trung Quốc đang bị cai trị bởi một chế độ tàn bạo, độc tài, một chế độ cộng sản kể từ năm 1949. Trong nhiều thập niên, chúng ta nghĩ rằng chế độ này SẼ DẦN DẦN TRỞ NÊN GIỐNG CHÚNG TA HƠN – thông qua thương mại, trao đổi khoa học, tiếp cận ngoại giao, cho phép họ tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới với tư cách một quốc gia phát triển. Điều đó đã không xảy ra”.

Văn hóa và giáo dục từ chủ nghĩa tự do đã kiên nhẫn đủ mức độ của nó qua lời phát ngôn của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo.

Thật vậy, trong nhà trường của chế độ VNCH mà tôi may mắn thụ hưởng trước 1975 và sau đó một chút, tức là nền giáo dục nhân bản – dân tộc – khai phóng chưa mất hẳn sau 1975 mà nó bị mài mòn dần dần rồi chết lịm đi, để thế chỗ cho giáo dục XHCN – một nền giáo dục TRỐNG RỖNG HỒN NGƯỜI – HÀO NHOÁNG NHƯ HÀNG MÃ – PHI TRIẾT LÝ TUYỆT ĐỐI .

Hồi xưa, thế hệ chúng tôi được thầy cô dạy theo cách CHỊU TRÁCH NHIỆM những gì mình gây ra.

Khi phạm lỗi, dù lớn hay nhỏ cũng theo cách như vậy.

Đứa nào bướng bỉnh và lì lợm quá mức, thầy cô hay giao cho nó những vị trí quan trọng (ví dụ lớp trưởng – để nó ý thức hơn) hay tưởng thưởng nó bằng cách khen ngợi trong lớp, khi nó có một bài văn tàm tạm hoặc 1 bài toán điểm khá => Mục đích nhằm để bản thân nó thấy được sự nỗ lực cá nhân cũng như cảm nhận được giá trị bản thân và càng ý thức hơn trong học đường, từ đó nó trở nên văn minh hơn cho trường đời mai sau. PHẢI CÔNG NHẬN SỰ THÀNH CÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC NHƯ VẬY.

Một nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, nhân cách được hình thành từ khoảng 3 – 16 tuổi. Sau khoảng thời gian đó, đứa trẻ sẽ từ nền tảng đó mà lớn lên.

Nghiên cứu trên cũng cho biết không có tính tuyệt đối như tất cả nghiên cứu về mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ.

LÀM CHÍNH TRỊ KHÔNG PHẢI LÀM GIÁO DỤC!!!

Cái sai lầm mà ngày nay cả thế giới phải trả giá trước những gì Trung Cộng tàn phá theo cách “tốt nhất” mà họ có thể làm, cũng xuất phát từ cách NHÌN NHẬN VÀ ĐÁNH GIÁ của nền giáo dục chủ nghĩa tự do.

Nói cho dễ hiểu, Hoa Kỳ và cả phương Tây nhìn Trung Cộng theo cách dạy dỗ một đứa trẻ chưa hình thành đầy đủ nhân cách theo ví dụ nói trên, thay vì nhìn đó là một con người chính trị toàn diện!!!

Chính cách NHÌN NHẬN VÀ ĐÁNH GIÁ MÉO MÓ như thế, nên họ tưởng Tập Cận Bình như một đứa trẻ dù hư hỏng, lỳ lợm nhưng vẫn có thể dạy dỗ bằng cách: cho tham gia WTO, trao đổi khoa học, tiếp cận công nghệ, ngoại giao mềm mỏng, sinh viên du học cả mấy triệu người v.v… để rồi chuốc lấy thất vọng ngập tràn như hiện nay…

Đã khá muộn, khi Hòa Kỳ, Nhật Bản và cả phương Tây phải chứng kiến tình hình thế giới tồi tệ và khủng hoảng như hiện nay, trong đó LỖI LẦM TAI HẠI của họ rất lớn.

Cựu Tổng thống Obama thắng cử năm xưa với thông điệp: CHANGE WE NEED – ông ta chưa làm được gì cả mà chỉ để lại đống hỗn độn khổng lồ thế giới đang gánh chịu và… cho Tổng thống Trump phải… CHANGE!!!
________________

Nguyễn Ngọc Già

Image may contain: 1 person, suit

Chết Dễ Hơn Là Sống? – Huy Phương

Chết Dễ Hơn Là Sống? – Huy Phương

Tượng chiến sĩ VNCH tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ, thành phố Westminster, California. (Hình: David McNew/Getty Images)

Kính gửi Ông Nguyễn,

Xin cám ơn tình cảm của ông muốn đọc một bài của chúng tôi viết về sự ra đi của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Mặc dầu có hân hạnh quen biết Thiếu Tướng qua cả hai thời kỳ trước và sau biến cố 1975, tôi cũng chưa dám “cái quan luận định” về nhân vật đáng kính này. Thay vào đó, cũng như nhân ngày 30 Tháng Tư sắp đến, chúng tôi xin gửi đến ông và độc giả bài viết “Chết dễ hơn là sống?” để chúng ta hiểu thêm phần nào cái khó khăn của người trong cuộc khi phải chọn giữa cái chết và cái sống trong bước đường cùng! (HP)

Nói một cách đơn giản “chết dễ hơn là sống,” cũng có thể hiểu rằng chọn cái sống muôn vàn khó khăn hơn là chọn cái chết. Cũng xin nói thêm rằng, xưa nay không ai gọi những người sống là anh hùng.

Trần Bình Trọng thách thức kẻ thù trước khi bị giết. Nguyễn Biểu thản nhiên dự bữa tiệc đầu người, bị Trương Phụ cột vào chân cầu, cho nước thủy triều dâng lên mà chết. Rồi Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Phan Thanh Giản cũng chọn cái chết mà trở thành anh hùng. Tháng Tư năm 1975, miền Nam chúng ta cũng có những tướng lãnh anh hùng không chấp nhận sự sống trong nỗi nhục mất nước.

Nói về những anh hùng của nước Nhật, sau khi Okinawa lọt vào tay quân đội Mỹ, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu, và Tướng Ushijima lấy gươm tự mổ bụng tự sát cùng với bảy sĩ quan tham mưu trong binh đoàn.

Năm 1945, sau khi Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, đưa đến việc Nhật Hoàng phải đầu hàng, nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã tự sát vì danh dự và không chịu nổi điều ô nhục, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng Cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka…

Người đời vẫn xem thường những ai chọn cái sống và không xem họ là những anh hùng. Chúng ta còn nhớ Tổng Thống Donald Trump trong một cuộc vận động tranh cử đã phát biểu Thượng Nghị Sĩ John McCain không phải là một anh hùng trong chiến tranh, vì đã bị cầm tù bởi đối phương.

Hai trong bảy quy tắc đạo đức mà các võ sĩ samurai Nhật Bản phải tuân theo, phản ánh tinh thần võ sĩ đạo rất sắc nét, mạnh mẽ, là can đảm và danh dự. Đối với một quân nhân VNCH là trách nhiệm và danh dự, những điều tâm niệm cho binh nghiệp của mình và đã chọn cái chết vì nhận ra mình không tròn “trách nhiệm,” cũng như “danh dự” bị tổn thương. Trong những phút bức bách cuối cùng này, một người chọn cái chết cho mình, là một điều dễ dàng hay khó khăn?

Những vị tướng lãnh tự sát vì quốc nhục giờ đầu hàng, là những vị có bản chất anh hùng, trọng danh dự, khí khái, không biết quỵ lụy, khó có thể sống qua những ngày tù tội, đói khát và nhất là luôn luôn bị lăng nhục bởi những kẻ thắng trận từ các hang động trở về. Ai cũng có một mạng sống đáng quý, một gia đình để yêu thương và một đất nước để phụng sự, trong hoàn cảnh này, điều gì được cho là đáng quý hơn hết? Chọn giữa chết hay sống phải là một điều rất khó khăn?

Liệu trước một tương lai, đau đớn, mù mịt, với mười bảy, mười tám năm tù, gia đình ly tán, tấm thân sẽ phải chịu bao nhiêu nỗi nhọc nhằn đau đớn và tủi nhục, liệu chúng ta có can đảm nhận lấy sự sống hay không? Tôi nghĩ chúng ta có thể quyết định về cái chết của chúng ta trong vài mươi giây hay có thể lâu hơn chút nữa, nhưng chọn cái sống, chúng ta phải dằn vặt bao nhiêu ngày và can đảm sống từng giờ, từng phút, đôi khi chưa biết điều gì có thể xẩy ra cho chúng ta trong những ngày đang tới.

Vì vậy khi đặt câu hỏi với nhiều người về những ngày cuối Tháng Tư, 1975, về cái chết và sự sống, phần lớn câu trả lời là: “Có lẽ chết dễ hơn là sống!”

Phật Giáo quan niệm cái chết chỉ là một sự chuyển tiếp, một hiện tượng hay biến cố trên dòng tiếp nối liên tục của sự sống. Thiên Chúa Giáo, chủ trương rằng, dựa vào niềm tin của một người vào Chúa Giê-su (Jesus) như là Chúa cứu thế của loài người, người ta sẽ được lên thiên đường hay xuống địa ngục.

Mặc dù có những miêu tả về những vấn đề thưởng hay phạt, thiên đường hay địa ngục ở trong nhiều tôn giáo, không ai có thể xác minh một cách rõ ràng sự hiện hữu của chúng. Nhiều người đi tìm cái chết vì chán sự sống hay sợ hãi sự sống. Ở đây chúng ta không đi tìm một chứng minh cho hai cõi chết và sống, cũng không lên án những người đã chọn cái chết cho mình là đúng hay chấp nhận sự sống lúc bấy giờ là đúng. Điều khó khăn của người trong cuộc là khi phải chọn giữa cái chết và sự sống trong bước đường cùng.

Thì những điều cụ thể đã đặt ra trước mắt chúng ta, sống là phải chấp nhận, chịu đựng trong một thời gian dài, và sống không phải là quỳ gối hay bò lết, mà sống được đứng thẳng, có nhân cách.

Chúng ta nghiêng mình trước những tấm gương uy dũng của những người đã không chấp nhận số phận an bài, tự tìm đến cái chết; nhưng chúng ta cũng không khỏi khâm phục, những người đã chọn cái sống, chấp nhận phần khó khăn, chịu trách nhiệm về những hành động của mình.

Chúng ta kính trọng những cái chết nhưng cũng phải cúi đầu trước những cái sống, vì chúng tôi biết rằng, sống cho ra con người, có lẽ cũng phải chịu muôn vàn khó khăn hơn là chọn cái chết. Chết chỉ là khoảnh khắc, nhưng chọn cái sống là chịu đựng triền miên suốt cả một cuộc đời!

Chúng tôi xin trích dẫn một câu nói của nhà giáo Phạm Toàn, ông là người đồng sáng lập trang Bauxite Việt Nam: “Chết đẹp đã là rất khó. Nhưng chết đẹp là quyết định của một khoảnh khắc. Còn để sống đẹp, là cả một đời, là dằng dặc những chuỗi lựa chọn và từ bỏ cám dỗ, thật ít ai làm được.” 

Huy Phương
nguoi-viet.com

Chris Patten nói về Cộng sản TQ: “Chế độ dơ bẩn rồi sẽ bị xóa sổ”

Chris Patten nói về Cộng sản TQ: “Chế độ dơ bẩn rồi sẽ bị xóa sổ”

  • Chris Pattern
  • Virus corona tàn phá thế giới, cướp đi sinh mạng, làm cho gia đình ly tán, phá hủy việc làm và doanh nghiệp, xé nát nền kinh tế, và là mối đe dọa tồi tệ hơn với các nước nghèo nhất. Chúng ta biết chắc chắn ba điều.

Đầu tiên, Covid-19 khởi phát từ Vũ Hán. Thứ hai, những dấu hiệu đầu tiên cho thấy việc lây lan virus đã bị che đậy. Thứ ba, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã liên tục dối trá về những vấn đề đó và lợi dụng lúc thế giới đang bận bịu chống lại đại dịch để khoe khoang sức mạnh trên toàn cầu bằng cách bắt nạt, đe dọa và bội tín.

Chúng ta nên rõ ràng một chuyện. Đây không phải lỗi của người dân Trung Quốc. Những bác sĩ và y tá Trung Quốc dũng cảm, cũng như các bác sĩ và y tá của chúng ta, đã mất đi sinh mạng khi chiến đấu với dịch bệnh.

Khi có ai đó tiết lộ những việc đang diễn ra, các quan chức cộng sản sẽ sử dụng lực lượng an ninh để bịt miệng họ lại.

Trong khi các nhân viên y tế bị bịt miệng, đại dịch đã lây lan khắp Vũ Hán vào cuối tháng 1 đầu tháng 2. Hàng triệu người rời khỏi thành phố Vũ Hán và rời khỏi tỉnh Hồ Bắc để nghỉ Tết. Họ di chuyển khắp Trung Quốc và đến khắp nơi trên thế giới. Đây là nguyên nhân cơ bản khiến cho tất cả các quốc gia trên thế giới đều bị đe dọa bởi đại dịch.

Lỗi ở đâu thì phải truy về ở đó. Chế độ độc tài Cộng sản Trung Quốc chính là thủ phạm, không phải công dân Trung Quốc, cũng không phải những người Hoa sống và làm việc tại hải ngoại, bao gồm cả những công dân Vương Quốc Anh đến từ Hồng Kông đang sinh sống tại đây.

Chính sự độc tài của ĐCSTQ, do Tập Cận Bình đứng đầu, mới là đối tượng cần lên án vì đã khiến cho các quốc gia trên thế giới bị đe dọa bởi dịch bệnh.

Đưa những người vô tội ra giơ đầu chịu báng chính là phản bội lại những giá trị của chúng ta, là hành động sai trái không khác gì việc một vài người ở Trung Quốc ngược đãi và phân biệt đối xử những người châu Phi đang học tập và làm việc tại Trung Quốc.

Đài Loan, một cộng đồng người Hoa khác, lại xử lý dịch bệnh một cách hiệu quả. Vì sao? Bởi vì đó là một xã hội cởi mở và dân chủ với một nền báo chí tự do.

Kẻ giết người là Cộng sản – chế độ luôn tồn tại dựa trên bí mật và dối trá – chứ không phải là văn hóa hay con người Trung Quốc.

Ông Chris Patten, Thống đốc cuối cùng của Hồng Kông, tác giả bài viết.

Chúng ta sẽ vượt qua bệnh dịch này. Tôi đặc biệt tự hào vì tại Đại học Oxford, nơi tôi đang làm việc trên cương vị Hiệu trưởng, đang cùng các nhà khoa học y tế giỏi giang phát triển một loại vắc-xin.

Những nhà khoa học tiên phong này, cũng như các đồng nghiệp của họ ở khắp nơi trên thế giới – kể cả ở Trung Quốc – đều mong muốn chứng kiến quốc tế chung tay hợp tác chống lại đại dịch. Đại dịch này không có quốc tịch và đe dọa mọi ngóc ngách trên thế giới.

Nhưng hợp tác nên mang ý nghĩa gì trong tương lai? Chúng ta không thể đơn giản là quay lại giao thiệp với Cộng sản Trung Quốc và hợp tác kinh doanh như trước đây.

Thứ nhất, thái độ thù địch của ĐCSTQ đối với sự thật luôn tồn tại một mối nguy hiểm cố hữu.

Covid-19 không phải là ví dụ đầu tiên về những rủi ro nói trên. Năm 2002 đến năm 2004, dịch SARS đã bắt đầu khởi phát với hình thức tương tự như Covid-19 hôm nay, và việc dịch bệnh lây lan cũng là vì ngay từ đầu nó đã bị che đậy. May thay, hậu quả lần đó không tệ như đại dịch lần này.

Thứ hai, bà Theresa May đã đúng khi phát biểu rằng chúng ta phải hợp tác để chống lại đại dịch và ngăn chặn bất cứ điều gì tương tự như vậy trong tương lai. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể làm điều đó với Trung Quốc, một đất nước bị cai trị bởi chế độ Cộng sản hoàn toàn không thể tin tưởng?

Rõ ràng, tại Liên Hợp Quốc và các nơi khác, chúng ta nên hợp tác với các quốc gia khác trong việc kêu gọi một cuộc điều tra chuyên môn đầy đủ và cởi mở về nguyên nhân và sự phát tán lúc đầu của virus. Nếu không làm được việc này, thì không chỉ cuộc chiến chống lại đại dịch hôm nay gặp trở ngại mà cả những nỗ lực ngăn chặn đại dịch tương tự trong tương lai cũng vì thế mà gặp khó khăn.

Theo lẽ thường tình, trong một thế giới công minh, tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nên là tổ chức đứng ra làm việc này. Tuy nhiên, không chỉ từ phía tổng thống Trump, đã có những lo ngại về việc tổ chức này bị Bắc Kinh mua chuộc.

Nếu có ai nghi ngờ về điều đó, hãy nhìn vào cách mà WHO bắt tay với chính quyền Cộng Sản Trung Quốc để loại bỏ vai trò thành viên của Đài Loan, một quốc gia với 24 triệu dân, ra khỏi tổ chức này.

Cuối tháng 12 năm ngoái, Đài Loan đã cảnh báo với WHO về khả năng lây truyền virus từ người sang người. WHO đã phớt lờ cảnh báo đó trong 3 tuần lễ liền, thay vào đó lặp lại lời của Trung Quốc, phủ nhận việc bệnh dịch lây lan. Đài Loan mặc dù ở ngay cạnh Trung Quốc nhưng chỉ có 380 ca nhiễm và 5 ca tử vong.

Chúng ta chắc chắn không thể để cho Trung Quốc tiếp tục ngăn không cho Đài Loan, một đất nước tự do và nói lên tiếng nói chân thật, gia nhập WHO.

Quá trình điều tra vụ việc đã dấy lên một vấn đề khác mà chúng ta nên phải để mắt đến. Vào ngày 30/1/2020, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, ông Vương Nghị, đã bảo đảm với người đồng cấp của nước Úc, bà Marise Payne, rằng “dịch bệnh về cơ bản là có thể phòng ngừa, kiểm soát và cứu chữa được.”

Một hai tuần sau, Đại sứ quán Trung Quốc tại Canberra đã công kích rằng lệnh hạn chế du lịch từ Trung Quốc của Úc là một phản ứng thái quá.

Tuy nhiên, từ cuối tháng 1, Trung Quốc đã mua và nhập một lượng lớn vật tư y tế từ Úc. Họ đã biết điều gì mà không nói với chúng ta?

Không có gì ngạc nhiên khi gần đây ông Scott Morrison, thủ tướng Úc, đã kêu gọi một cuộc điều tra quốc tế về đại dịch. Và Đại sứ Trung Quốc tại Canberra đã đe dọa lời kêu gọi này theo phong cách ngoại giao mới “ngoại giao chiến binh sói” của chính quyền Trung Quốc, rằng trừ khi Úc từ bỏ ý định này, bằng không người Trung Quốc sẽ ngừng mua hàng hóa của Úc.

Đây là chiến thuật bắt nạt thường thấy của Trung Quốc. Thế giới phải lên án nó. Các quốc gia là bạn của nước Úc hãy lên tiếng đồng thuận với lời kêu gọi của Thủ tướng Úc, càng nhiều càng tốt. Về thương mại và kinh tế, chúng ta phải cùng nhau đối phó với Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào khoáng sản của Úc.

Đối với nước Anh của chúng tôi, Trung Quốc có thặng dư thương mại lớn. Chúng tôi nhập khẩu 45 tỷ bảng từ Trung Quốc. Chúng tôi xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng một nửa con số đó. Trung Quốc chiếm 3,5% hàng xuất khẩu của Anh và 6,6% hàng nhập khẩu của chúng tôi.

Vậy đâu là “thời hoàng kim” của thương mại với Trung Quốc? Theo lời cựu lãnh đạo Hội đồng thành phố Sheffield thì, hầu hết các khoản đầu tư Trung Quốc hứa hẹn đổ vào Nhà máy điện miền Bắc Vương quốc Anh đã tan biến như “kẹo bông gòn”.

Trung Quốc không tuân thủ luật lệ về thương mại, đầu tư và bảo vệ sở hữu trí tuệ như chúng ta. Tổng thống Trump đã đúng khi nói về cách Trung Quốc bẻ cong và vặn vẹo các quy tắc theo hướng có lợi. Nhưng một tổng thống Hoa Kỳ thức thời hơn sẽ hợp tác với những người khác – chứ không phải đứng một mình – để thiết lập lại một sân chơi bình đẳng.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ghét dân chủ và tất cả những gì mà chúng ta đại diện. Không lâu sau khi trở thành nhà độc tài Trung Quốc, ông đã đưa ra những chỉ thị mới cho chính phủ và các quan chức trong Đảng Cộng sản để cảnh báo về những thách thức đối với Chủ nghĩa Cộng sản từ các giá trị tự do và luật pháp của phương Tây. Ông kêu gọi công kích vào các ý tưởng Tây phương về báo chí, về quyền tự do hiểu biết lịch sử, về xã hội dân sự và dân chủ.

Vì vậy, không có gì lạ khi Tập Cận Bình sử dụng vỏ bọc Covid-19 để siết chặt xã hội tự do của Hồng Kông, bắt giữ các nhà lãnh đạo dân chủ và phá vỡ thỏa thuận mà Trung Quốc đưa ra trong một hiệp ước tại Liên Hợp Quốc, rằng Hồng Kông sẽ được hưởng một mức độ tự chủ cao và các quyền tự do truyền thống của nó cho đến năm 2047.

Việc Trung Quốc vi phạm hiệp ước này là một lý do khác khiến chúng ta phải quan ngại. Nước Anh có đạo đức và nghĩa vụ pháp lý để bàn luận vấn đề này một cách mạnh mẽ trên trường quốc tế. Chúng ta nên khuyến khích bạn bè quốc tế và những người khác làm điều tương tự.

Trong lúc này, Trung Quốc đang tiếp tục gây ảnh hưởng nặng nề lên các vùng biển lân cận, xây dựng các căn cứ quân sự ở đó và coi thường phán quyết của Tòa án Hague về biên giới hàng hải hợp pháp.

Chúng ta không nên cô lập Trung Quốc. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể tin tưởng chế độ độc tài Cộng sản đang cai trị Trung Quốc? Làm thế nào chúng ta có thể đối phó trong các vấn đề thương mại, môi trường, an ninh và sức khỏe – chẳng hạn khi một ngày nào đó chúng ta có thể phải đối mặt với một dịch bệnh khác do việc kháng kháng sinh?

Trung Quốc sản xuất khoảng 95% kháng sinh trên thế giới và có mức sử dụng bình quân đầu người cao gấp đôi so với bất kỳ nơi nào khác.

Chắc chắn thế giới phải chung tay. Nhưng chúng ta không thể cho phép Cộng sản Trung Quốc phá vỡ hay làm méo mó các quy tắc hòng đạt được mục đích của họ.

Một ngày nào đó chế độ dơ bẩn và nguy hiểm này sẽ bị xóa xổ. Cho đến lúc đó, tất cả những người bạn của sự tự do và trung thực sẽ phải cảnh giác.

Chris Pattern, DailyMail
Minh Nhật biên dịch

Ngài Chris Patten là Thống đốc cuối cùng của Hồng Kông trước khi được trao trả cho ĐCSTQ. Ông là một chính trị gia Anh quốc nổi bật, từng gia nhập nội các và giữ chức Bộ trưởng, từng là chủ tịch đảng Bảo thủ Anh. Hiện ông là hiệu trưởng danh dự của Đại học Oxford.

M.TRITHUCVN.NET

Chris Patten nói về Cộng sản TQ: “Chế độ dơ bẩn rồi sẽ bị xóa sổ”

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể tin tưởng chế độ độc tài Cộng sản đang cai trị Trung Quốc? Làm thế nào chúng ta có thể đối phó trong các vấn đề…

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản | Tiếng Dân

BAOTIENGDAN.COM

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản

Bởi   AdminTD

 Trần Trung Đạo

Không ít người đến nay vẫn lấy làm tiếc vì chính phủ Mỹ đã bỏ lỡ cơ hội khi không đoái hoài gì đến những lá thư của Hồ Chí Minh gởi TT Truman và Bộ Ngoại Giao Mỹ.

TT Truman không trả lời nhưng có kiểm chứng.

Mặc dù Mỹ đã có tài liệu và bằng chứng Hồ Chí Minh là lãnh tụ CSVN và là nhân viên của Đệ Tam Quốc Tế, những lá thư của Hồ không phải vì thế mà được tự động đưa vào văn khố. Chính phủ Mỹ qua trung gian tòa đại sứ Mỹ tại Paris trực tiếp liên lạc với Hồ.

Như người viết đã trình bày trong Chính Luận, theo tài liệu lưu trữ trong văn khố Hoa Kỳ, tổng số gồm 11 lá thư Hồ Chí Minh gởi TT Truman, Ngoại trưởng James Byrnes và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Lá thư thứ nhất ký ngày 17 tháng 10 năm 1945 và lá cuối cùng vào ngày 28 tháng Hai năm 1946.

Ngày 12 tháng 9 năm 1946, George M. Abbott, lúc đó là Đệ nhất Tham Vụ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Paris, đã điện đàm với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ vẫn là gốc gác của họ Hồ. Theo báo cáo của George M. Abbott cho đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, Hồ Chí Minh không thừa nhận ông ta là Cộng Sản. Không những thế, Hồ còn chỉ ra cho George M. Abbott thấy “không một người nào trong nội các của ông ta là Cộng Sản.”

Trong thực tế, các chức vụ then chốt gồm Chủ tịch (Hồ Chí Minh), Bộ trưởng Quốc Phòng (Võ Nguyên Giáp), Bộ trưởng Tài Chánh (Lê Văn Hiến), Bộ trưởng Tư Pháp (Vũ Đình Hòe) trong nội các liên hiệp kháng chiến đều do các đảng viên đảng CS hay đảng Dân Chủ (ngoại vi của đảng CS) nắm giữ.

Khi George M. Abbott hỏi có hay không có một đảng CS tại Việt Nam, Hồ Chí Minh thừa nhận là trước đây có nhưng đã giải tán mấy tháng trước rồi. Dĩ nhiên, như viết trong báo cáo, George M. Abbott cũng biết những câu trả lời của Hồ Chí Minh chỉ là những câu nói dối.

Với đảng CS, việc thay tên đổi họ, từ một người hay thậm chí cả đảng, theo nhu cầu chiến lược mỗi thời kỳ là chuyện bình thường. Đảng CS tổ chức tinh vi và chặt chẽ đến mức dù dùng tên gì vẫn hoạt động thống nhất và tuân chỉ triệt để một cương lĩnh. Vào thời điểm 1946, trước khi CSTQ chiếm toàn lục địa Trung Hoa, nếu Mỹ viện trợ, Hồ Chí Minh sẽ nhận và nếu Mỹ lên tiếng phản đối Pháp, Hồ Chí Minh sẽ cám ơn nhưng chắc chắn không bao giờ có chuyện “giải tán đảng CS” hay thành thật từ bỏ đảng CS.

Mỹ không đánh giá cao tinh thần dân tộc hay chủ nghĩa dân tộc trong người Hồ Chí Minh. Hầu hết các đảng CS từ Á sang Phi đều núp dưới bình phong “giải phóng dân tộc”.

Bản thân hai tổng thống Franklin D. Roosevelt và người kế nhiệm là Harry Truman đều là những người có cảm tình với các dân tộc bị trị.

TT Franklin D. Roosevelt là người đã khẳng định việc tôn trọng quyền tự quyết dân tộc của các quốc gia như ông đã đề ra trong Hiến Chương Đại Tây Dương (Atlantic Charter) tháng 8, 1941.

Ngày 24 tháng 1, 1944, TT Roosevelt khẳng định lần nữa ước muốn của ông để đặt Đông Dương dưới sự quản trị của quốc tế thay vì trả lại cho Pháp.

TT Roosevelt viết: “Tôi gặp Halifax [Ngoại trưởng Anh] tuần trước và nói với ông ta một cách thẳng thắng rằng một điều hoàn toàn đúng là hơn một năm trước tôi đã bày tỏ ý kiến Đông Dương không nên trả lại cho Pháp mà đặt dưới sự quản trị của một cơ quan ủy thác quốc tế (international trusteeship). Pháp đã chiếm dân tộc này, với ba chục triệu người, gần cả thế kỷ, và điều kiện của người dân còn tệ hại hơn lúc bắt đầu. (Tài liệu Mật Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, giải mật 2011 theo Quyết Định Tổng Thống 13526)

Trong cùng tài liệu, TT Roosevelt cũng viết một câu cảm động “Pháp đã vắt sữa các dân tộc Đông Dương suốt một trăm năm và người dân của các nước Đông Dương xứng đáng được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn.” (France has milked it for one hundred years and people of Indo-china are intitled to something better than that).

TT Truman kế nhiệm đã chia xẻ quan điểm TT Roosevelt. Trong thời gian sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, TT Truman nghiêm cấm các tàu bè Mỹ giúp chở quân đội và võ khí của Pháp để tái chiếm Viêt Nam. Chính phủ Anh, vì quyền lợi của một đế quốc thực dân đã thông đồng để đưa Pháp trở lại Việt Nam.

Ngay trong lúc Hồ Chí Minh nói với George M. Abbott không có một đảng viên CS nào trong chính phủ thì Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn và Văn Thừa Vũ đang ra tay tận diệt các đảng phái không CS như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt v.v.. Vụ Ôn Như Hầu tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân Đảng vào tháng 8, 1946 là một bằng chứng.

“Cuối tháng 5 [1946] khi quân đội Trung Quốc bắt đầu rút hết ra khỏi Việt Nam, Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho các lực lượng Việt Minh tấn công vào các cánh quân quốc gia tại miền Trung, tiêu diệt số lực lượng nhỏ nhoi của các đảng quốc gia tại vùng này.” (Lê Mạnh Hùng, Nhìn Lại Sử Việt, thời cận hiện đại 1945-1975, chương 6).

Các vụ tàn sát các đảng phái quốc gia chống thực dân diễn ra suốt 1946 không chỉ riêng tại Hà Nội, miền Bắc mà cả nước. Một chương sử đầy máu xương và hận thù trên đất nước Việt Nam vốn đã chịu đựng gần một trăm năm dưới gót thực dân bắt đầu từ đó.

Lịch sử không có “nếu” nhưng cần phải đặt lại những “nếu” để đọc, để ôn, để học và để đi về phía trước là trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam yêu nước ngày nay.

Chữ “nếu” lớn nhất là với xu hướng giải thể chế độ thực dân sau Thế Chiến Thứ Hai, sự suy yếu của Pháp, quyết tâm ủng hộ của các TT Mỹ, nếu không có đảng CSVN thì ngày nay Việt Nam không phải mất đất, mất biển, lệ thuộc mọi thứ vào Trung Cộng mà là một quốc gia dân chủ giàu mạnh, đứng oai hùng và đầy kiêu hãnh như bên bờ Thái Bình Dương.

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản | Tiếng Dân

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản Bởi AdminTD – 20/05/2020 Trần Trung Đạo 20-5-2020 Không ít người đến nay vẫn lấy làm tiếc vì chính…

Vũ Hán, Tàu Cộng làm ác gặp ác

Vũ Hán, Tàu Cộng làm ác gặp ác

Trúc Giang MN (Danlambao) – Mỗi ngày tôi nhận được khoảng 20 email do bạn bè chuyển tới. Nội dung chủ yếu là xoáy vào đại dịch Coronavirus-Vũ Hán. Một email đặc biệt do chị Tống Mỹ Loan, Nantes, Pháp, với tựa đề Vũ Hán đang ở tình trạng bị đe dọa như ngàn cân treo sợi tóc, do đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam) bị vỡ.

Vũ Hán phát tán ra Coronavirus-Vũ Hán, gây kinh hoàng trên 212 quốc gia và dùng lãnh thổ với 4,519,986 ca nhiễm, số tử vong 316,026 người (14-5-2020). Đồng thời Vũ Hán đang bị đe dọa bởi một tai họa kinh hoàng, là vỡ đập Tam Hiệp.

Vũ khí nước của Trung Cộng là mối đe dọa của chính họ. Trung Cộng dùng nguồn nước làm năng lượng chạy máy phát điện và làm vũ khí khống chế các quốc gia Đông Nam Á, nhưng bị trời hại, vũ khí này hiện là mối đe dọa 6 tỉnh lớn có thể bị san bằng thành bình địa dưới mặt nước khi đập Tam Hiệp bị vỡ.

Đúng là trời bất dung gian đảng. Làm ác gặp ác. 

Đập thủy điện Tam Hiệp

Trung Quốc gọi đập Tam Hiệp là kỳ quan kiến trúc vĩ đại nhất 

kể từ khi xây dựng Vạn Lý Trường Thành. (Ảnh Reuters)

Đập thủy điện Tam Hiệp được xây chặn ngang sông Dương Tử (Yangtze River), còn gọi là Trường Giang. Tam Hiệp là đập thủy điện lớn nhất thế giới. Con đập được chính thức xây dựng vào tháng 11 năm 1997 và hoàn thành đưa vào xử dụng ngày 4-7-2012. Đập cung cấp năng lượng để chạy 32 máy phát điện (Turbine) sản xuất nguồn điện 22,500 Megawatts (MW). Chi phí xây dựng 75 tỷ USD. Trên 2 triệu người phải di chuyển ra khỏi khu vực để lấy đất xây hồ chứa nước cho con đập.

Hồ chứa nước dài 2,355m, cao 185m, chứa 116,000 m3 nước. Mực nước ở đập Tam Hiệp cao 185m so với mặt nước biển, và cao hơn hạ nguồn sông Dương Tử 100m. Đặc tính của nước là từ trên cao chảy xuống thấp, nước sông Dương Tử chảy ra biển.

Để xây dựng đập, 27.2 triệu khối bê tông. 463,000 tấn thép (đủ xây 63 tháp Eiffel) đã được dùng và 102.6 triệu mét khối (M3) đất được đào lên. Thành vách của đập cao 181m so với nền đá ở đáy hồ. 

Nguy cơ vỡ đập Tam Hiệp 

Nguy cơ vỡ đập được thấy qua sự biến dạng của đập Tam Hiệp. Ngày 1-7-2019, một học giả tên Lãnh Sơn đưa ra hai tấm hình, một tấm cho thấy đập là một con đường thẳng, so với tấm hình kia thì thấy con đập biến dạng rõ rệt. Thêm vào đó hai bên bờ sông Dương Tử bị lở sạt.

Ông này cho biết, một khi đập vỡ thì một nửa Trung Quốc sẽ rơi vào cảnh khốn khổ. Một phần ba (1/3) diện tích của vùng thịnh vượng nhất, bao gồm Vũ Hán, (11 triệu dân), Nam Kinh, Thượng Hải, bị thiệt hại nặng nề. Vũ Hán là thành phố nằm sát con đập Tam Hiệp nên lãnh đủ cơn thịnh nộ của sóng thần gồm 116,000 mét khối nước của hồ. Trung Cộng khó tránh được cơn đại hồng thủy này.

Nếu đập Tam Hiệp vỡ, dự tính có hàng ngàn thành phố lớn nhỏ bị chìm trong nước từ 5 đến 10m. 6 tỉnh miền Bắc Trung Quốc trở thành bình địa dưới biển nước. Các công ty, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, du lịch bị tàn phá và theo dòng nước bị cuốn trôi tất cả ra biển Hoa Đông. Thiếu điện, khoa học, kinh doanh, công nghệ tan tành. Ngoài việc con đập bị biến dạng, các chuyên gia cho rằng đập Tam Hiệp chỉ bị vỡ khi bị tấn công mạnh mẽ hoặc bị động đất.

Chính quyền đã nhiều lần trấn an và cho biết tin tức đó vô căn cứ. Tờ Beijing News thừa nhận: “Đập Tam Hiệp có biến dạng, nhưng đó là trạng thái bình thường, vô hại. Những tin tức về vỡ đập là giả mạo”.

Ngày 11-11-2019, tin Tam Hiệp có nguy cơ bị vỡ do biến dạng và sạt lở nên chính quyền đã di tản 100,000 dân ra khỏi khu vực. Nguồn tin không được nhà nước kiểm chứng.

Một nguy cơ khác là đập thủy điện của Trung Quốc bị đe dọa bởi những trận động đất

– Động đất năm 1976 tại thành phố Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc: Động đất đo được 7.8 độ Richter. Gây thương vong lớn nhất trong thế kỷ 20. Thiệt mạng 655,000, bị thương nặng 164,000 và thiệt hại trên 10 tỷ nhân dân tệ.

– Những trận động đất ở tỉnh Tứ Xuyên: Tứ Xuyên là tỉnh hứng nhiều trận động đất, gây thiệt hại nhất ở thế kỷ 20, với 300 trận từ 3 độ Richter trở lên. Động đất năm 2008 đo được 7.8 độ Richter, gây thiệt mạng 69,000 người, bị thương nặng 292,481 và 18,000 mất tích. Động đất ngày 2-2-2020 với cường độ 5.1 độ Richter, kéo dài 10 phút trong thời gian dịch cúm Coronavirus-Vũ Hán đang hoành hành tại Trung Quốc. Họa vô đơn chí, tai họa không đến một mình. Ác giả ác báo. Làm ác gặp ác.

Hệ thống bảo vệ đập Tam Hiệp

Ông Hoàng Vạn Lý (Huang Wanli), một chuyên gia thủy lợi nổi tiếng của Trung Quốc cho biết: “Nếu nước ngoài tấn công thì đập Tam Hiệp là mục tiêu hàng đầu”.

Đập Tam Hiệp, Bắc Kinh và Thượng Hải, là ba vị trí chiến lược quan trọng nhất, liên kết chặt chẽ với nhau trong việc phòng thủ. Khi một trong ba vị trí này bị tấn công, thì toàn bộ lực lượng vũ trang của Trung Quốc phản công, nhắm vào những địa điểm phát xuất vũ khí tấn công. Do đó, một quốc gia đơn độc sẽ không dám tấn công vào một trong ba vị trí nêu trên. Nói rõ ra là không dám tấn công đập Tam Hiệp. Tuy nhiên, chỉ cần một quả mìn 2 kg cũng có thể làm đập tan vỡ, vì thế việc bảo vệ hồ chứa nước của đập Tam Hiệp được thực hiện rất nghiêm nhặt. Ông Hoàng Vạn Lý cho biết: “Một ngày nào đó, con đập không chịu nổi sức ép của nước trong hồ đưa đến vỡ đập”. Quả mìn 2kg phá vỡ đập trong tình trạng đó.

Lực lượng cảnh sát cơ động, trang bị vũ khí nặng, thiết bị dò mìn, tháo gỡ mìn, đồng thời súng cao xạ phòng không cũng được bố trí. Một hệ thống radar do Trung Quốc chế tạo đặc biệt cho việc bảo vệ đập Tam Hiệp. Hệ thống radar này có khả năng hoạt động trong khu vực có bán kính 70km. Được xem như cây dù trong việc bảo vệ con đập.

Bên cạnh đó là hệ thống phòng thủ từ xa. Hai sư đoàn máy bay chiến đấu loại tiêm kích (không chiến) lớp J-11, thế hệ 4.5, tương đương với máy bay Hoa Kỳ, F-16 và F/A-18. Hai sư đoàn này được bố trí ở hai tỉnh Trùng Khánh và Côn Minh, tạo thành một màng lưới bảo vệ con đập. Thêm vào đó, cũng còn có những giàn phóng tên lửa đạn đạo (Cruise missile) và hành trình (Ballistic missile) tầm ngắn góp phần bảo vệ đập.

Ngoài Trùng Khánh và Côn Minh, Trung Quốc còn một màng lưới bảo vệ xa ở 3 tỉnh Giang Tây, Quý Châu và An Huy.

Một Thiếu tướng Trung Cộng, ông Trương Triệu Trung nói rằng: “Trung Quốc có vũ khí hạt nhân nên có khả năng tấn công trả đủa các nước ngoài bằng vũ khí hạt nhân. Tên lửa Tomahawk của Mỹ tấn công Tam Hiệp như con muổi đốt vào Inox”. 

Các nhà phân tích cho rằng chỉ có bom siêu nặng MOP (Massive Ordnance Penetration) của Mỹ mới phá được đập này. Bom siêu nặng MOP, mẹ của các loại bom, dài 6.2m. Đường kính 0.8m, nặng 13,608kg. Đầu nổ 2,404kg, xuyên phá 61m.

Vũ khí nước của Trung Cộng

Trung Cộng lợi dụng ưu thế là chiếm thượng nguồn của hai con sông Dương Tử và Mekong, vừa dùng năng lượng nước để chạy máy phát điện, vừa dùng nước làm vũ khí khống chế các quốc gia hạ nguồn. Ngày 28-10-2019, tờ báo Nhật Nikkei Asian Rewiew, giáo sư Ấn Độ Brahma Chellaney đã vạch mặt thủ đoạn của Trung Cộng qua bài: “Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á – China is weaponizing water and worsening droughts in Asia”.

Sông Mekong

Sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, dưới chân dãy núi Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn). Dãy Himalaya nằm giữa biên giới 5 nước là Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Nepal và Bhutan, có trên 100 ngọn núi cao trên 7,000 mét, trong đó ngọn Everest cao nhất thế giới là 8,848 mét. Một tảng băng khổng lồ bao phủ quanh năm trên hàng trăm ngọn núi đó. Khi nhiệt độ tăng, hoặc mùa mưa, một số băng tan chảy thành nước, theo hàng ngàn khe núi từ trên đỉnh chảy xuống chân núi. Chân núi phía Trung Quốc là một cao nguyên cao trên 4,000 mét thuộc tỉnh Thanh Hải và cao nguyên Tây Tạng.

Nước từ các đỉnh núi chảy xuống, tích tụ vào một cái hồ khổng lồ trên cao nguyên. Đặc tính của nước là chảy từ trên cao xuống chỗ thấp. Do đó, nguồn nước này chảy qua cao nguyên Tây Tạng, xuống tỉnh Vân Nam, qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, qua đồng bằng Nam Bộ rồi chảy ra Biển Đông. Đó là sông Mekong.

Sông Mekong dài 4,200 Km. Phần Mekong trong lãnh thổ Trung Quốc được gọi là sông Lan Thương, phần ở Lào và Thái Lan được gọi là Mènam Khong, người Campuchia gọi là Mékongk hay Tông-lê Thơm. Từ thủ đô Phnom Penh, Campuchia, sông Mekong chia làm hai nhánh chảy vào Việt Nam, là Sông Tiền và Sông Hậu, đổ nước ra biển bằng 9 cửa sông, ví như 9 con rồng nên gọi là Cửu Long: cửa Đại, cửa Tiểu, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Ba Lai, cửa Định An, cửa Tranh Đề và cửa Ba Thắc (Bassac). Khoảng thập niên 1970, cửa Ba Thắc bị đất bồi lấp lại, nên Cửu Long còn 8 cửa chảy ra biển.

Những con đập thủy điện của Trung Quốc trên sông Mekong

– Đập Nọa Trát Độ (Nouzhdu Dam): Con đập này nằm ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Cao 261m. Hồ chứa dung tích 21,749 tỷ mét khối (M3) nước.

– Đập Cảnh Hồng: thuộc tỉnh Vân Nam, cao 108m, diện tích hồ 510m2, chứa 249 triệu mét khối (M3) nước.

– Đập Tiểu Loan (Xiaowan Dam): Đập cao 292m. Dung lượng 15 tỷ m3 nước. Chi phí xây dựng nhà máy thủy điện Tiểu Loan 3.9 tỷ USD.

– Đập Mạn Loan (Manwan Dam): Đập cao 132m, dài 418m. Sức chứa 1.006 triệu m3.

Trung Cộng kiểm soát nguồn nước trên sông Mekong

Căn cứ vào bốn con đập khổng lồ trên, Trung Cộng có khả năng kiểm soát nguồn nước bằng cách giữ nước lại các hồ, hoặc xả nước từ các hồ xuống hạ nguồn sông Mekong. Giữ nước tại các hồ tạo ra khô hạn, xả nước tạo ra lũ lụt.

Tổ chức Eyes on Earth chuyên nghiên cứu về nước do Hoa Kỳ tài trợ, đã kết luận, việc lưu trữ và không xả nước từ các con đập thượng nguồn sông Mekong, đưa đến việc hạn hán ở các quốc gia hạ nguồn, trong đó có Việt Nam. Do đó, trong hai thập kỷ qua, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Lào và Myanmar phải chịu đựng những đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong lịch sử.

Ngăn chặn nguồn nước ở thượng nguồn tạo ra thiệt hại kép. Ruộng đồng khô, đất nứt nẻ, lúa chết… Nước biển tràn vào làm chết hoa màu và các loại gia súc, gia cầm. Hạn hán kéo dài, các dòng sông cạn kiệt khiến cho nước biển tràn vào. Ở Bến Tre, ao hồ, sông rạch bị nhiễm mặn vì nước biển tràn vào nội địa 80km. Nước mặn cũng làm thiệt hại mọi thứ. Các trại nuôi tôm, “ngao sò ốc hến” gì cũng chết hết. Người dân thiếu nước ngọt để uống và nước sinh hoạt đời sống. Đó là thiệt hại kép.

Trung Quốc xả nước thượng nguồn gây lũ lụt nghiêm trọng

Hồi tháng 10 năm 2019, đó là mùa mưa, nước sông Mekong dâng lên gần đầy ở đập Mạn Loan, vì sợ vỡ đập nên Trung Quốc tháo nước ra, kết quả là một trận lũ lụt kinh hồn bất ngờ đổ ập xuống Đồng bằng sông Cửu Long (ĐB/SCL). Làm chết lúa và các loại hoa màu khác. Gia cầm, gia súc như gà vịt, trâu bò chết vô số kể. Nhà cửa chôn vùi dưới mặt nước, thiệt hại kinh tế trầm trọng.

Những thảm cảnh của người dân ở miền Tây Nam bộ

Đốt lúa tế trời. Bà Đặng Thị Cúc có 5 công lúa (5,000m2), lúa vừa trổ bông thì nước mặn tràn vào làm lúa lép gần hết. Đốt lúa tế trời. Rơi nước mắt bỏ 50 công lúa (1công = 1,000m2). Chị Đặng Thị Út thấy ruộng khô, bom nước vào, không ngờ nước bị nhiễm mặn, lúa lép gần hết. Rơi nước mắt bỏ đi. Ứa nước mắt bỏ hàng chục tấn hàu, tiền tỷ, đem đi tiêu hủy.

Bãi xác hàu ngày càng dày thêm đồng nghĩa với đói nghèo, nợ nần bủa vây người dân nơi đây

 

Tôm cá chết vì ngập mặn

Tài nguyên của đồng bằng sông Cửu Long

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có những khoáng sản phục vụ xây dựng như cát, sỏi, đất sét để làm gạch ngói. 

Về nông nghiệp. ĐBSCL là vựa lúa của nước Việt Nam. Những cánh đồng lúa bao la bát ngát ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang. VN là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Thái Lan và Hoa Kỳ. 

Những loại cây như mía đường, dừa, xoài, sầu riêng, cam, quít, bưởi và nhiều loại cây ăn trái khác cũng là nguồn lợi đáng kể.

Chăn nuôi cũng phát triển như nuôi vịt, bò, trâu. Vịt được nuôi từng đàn lớn, nhiều nhất là ở Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng.

Kiên Giang là tỉnh săn bắt thủy sản nhiều nhất, 80,000 tấn/ năm. Nghề nuôi tôm xuất khẩu cũng phát triển mạnh.

Hình ảnh tài nguyên chỉ là quá khứ, trước vũ khí nước của Trung Cộng.

Kết luận

Vũ Hán đã phát tán một thứ virus nguy hiểm nhất, gây kinh hoàng cả thế giới, vì bệnh mà chưa có thuốc chữa trị. Đã có hơn 4 triệu người bị nhiễm bệnh trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ, với số tử vong là 316,026 người (15-5-2020).

Vũ Hán là nguồn gốc gây kinh hoàng trên thế giới, đồng thời, Vũ Hán cũng đang bị đe dọa một cách khủng khiếp, đó là bị chôn vùi toàn bộ dưới biển nước khi đập Tam Hiệp bị vỡ.

Trung Cộng dùng vũ khí nước của sông Mekong để khống chế các quốc gia hạ nguồn, mà Việt Nam bị nặng nhất vì sông Cửu Long tách ra làm hai, là sông Tiền và sông Hậu tỏa ra 9 cửa đổ nước ra biển. Xem như sông Cửu Long bao trùm cả ĐBSCL cho nên vùng đất miền Tây Nam bộ bị tác động nhiều nhất đối với vũ khí nước của Trung Cộng trên sông Mekong.

Tài nguyên sông Cửu Long không còn phong phú như trước kia nữa. Vũ khí nước là một trong những mưu đồ mà Trung Cộng sử dụng để khống chế những tên đầy tớ có mưu đồ tạo phản.

20.05.2020

 Trúc Giang MN

 danlambaovn.blogspot.com

Tư duy thoát Trung và câu chuyện đặc khu

Về mặt chính trị, sự gần gũi giữa hai Đảng Cộng sản, cộng với những sự tương đồng trong văn hoá, đã khiến bộ máy nhà nước Việt Nam như một bản sao thu nhỏ từ bộ máy nhà nước Trung Cộng. Tất cả các cơ quan nhà nước Việt Nam đều có cấu trúc và tên gọi giống như cơ quan tương tự bên Trung Cộng. Trong chương trình đào tạo các quan chức Việt Nam, có rất nhiều chương trình đưa các cán bộ sang đào tạo tại Trung Cộng. Và đã có chuyên gia lên tiếng cảnh báo việc Trung Cộng tìm cách khai thác, mua chuộc, khống chế cán bộ Việt Nam khi đi học tại Trung Cộng.

About this website

RFA.ORG

Tư duy thoát Trung và câu chuyện đặc khu

Gần đây, cách hành xử một cách độc đoán, thô lỗ của Trung Cộng trong Đại dịch COVID-19 đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới kêu gọi tẩy chay Trung Cộng. Trong bối cảnh đó, cũng đã có một số chuyên gia Việt Nam kêu gọi đây là d…..

“Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ trở thành khuyết tật.”

Image may contain: one or more people and outdoor

Sài Gòn trong tim tôi

Có lẽ mấy ngày nay, ai quan tâm đến giáo dục và tương lai của dân tộc này cũng đều biết đến câu nói nổi tiếng được bà Diệp Thị Hồng Liên, Trưởng phòng Khảo thí tỉnh Hoà Bình phát biểu trước toà: “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ trở thành khuyết tật.”

Một câu nói đầy hình tượng như một cú đấm chí mạng thọc thẳng vào lương tri của một nền giáo dục, lương tri của một dân tộc được xem là hiếu học.

Nhưng trước tiên, xin nói rõ một chút rằng câu này không phải là sản phẩm của bà Liên. Bà chỉ nhắc lại câu nói của Đại văn hào Horoné de Banzac, tác giả của bộ Tấn trò đời (La Comédie humaine): “Quand tout le monde est bossu, la belle taille devient la monstruosité”.

Thực sự thì trong nguyên bản, chữ dùng nặng nề hơn nhiều. Không chỉ là “khuyết tật” mà là quái dị.

Cái đáng nói là bà đã vận dụng đúng nơi, đúng chỗ. Câu dịch giảm nhẹ không làm giảm chút nào lực tàn phá của nó khi được đặt đúng vị trí, đúng thời điểm. Vậy hoá ra đây không phải là cú đấm mà là cú điểm vào tử huyệt. Câu nói này thực sự gây bão trên mạng và sẽ còn được phân tích, mổ xẻ nhiều lần và nhiều tháng năm sau đó.

Nhưng phân tích gì đi nữa thì chúng ta vẫn không thể tránh khỏi một tiếng thở dài cố nén không thành.

Trong một thế giới người gù, người có thể không gù thuở ban đầu, đã phải tự gù hoá để mình không trở thành khiếm khuyết hoặc quái dị. Và điều trớ trêu là những người gù đó lại mang sứ mệnh kỹ sư tâm hồn, người đưa đò vĩ đại. Theo một logic thông thường thì những người gù này sẽ chỉ thấy những học trò gù là bình thường. Những học trò không gù sẽ được các kỹ sư này bẻ cong lưng cho thành gù một cách bình thường. Những trẻ không chịu gù đến độ các kỹ sư tâm hồn không bẻ cong nổi thì chắc người đưa đò sẽ tìm cách hất chúng xuống sông bởi đơn giản chúng khuyết tật mà không chịu cong cho bình thường, một loại bệnh nan y kháng trị. Một logic khủng khiếp, kinh hoàng.

Sau hơn 150 năm, đôi mắt tinh tường mà u mặc của Banzac đã thức dậy ở một nơi rất xa, ở một đất nước rất xa nơi ông từng sống, từng viết. Hoá ra, cái vở hài kịch Tấn trò đời có sân khấu quá rộng và buổi diễn quá dài đi qua ba thế kỷ. Có thể nó đã mở màn trước khi Banzac ra đời và sẽ không đóng lại sau khi bà Liên lên đường đi gặp đại văn hào này.

Mọi người đang đau đấy. Rồi cũng có người tự nhủ có thể chỉ ở một nơi xa xôi nào đó như Hoà Bình mới có chuyện nhiều người gù làm giáo dục.

– Nhưng liệu chỉ có Hoà Bình?

Nếu sợ đau, xin đừng trả lời hay suy nghĩ về câu hỏi này. Đó là điều có ích duy nhất tôi có thể khuyên bạn trong bối cảnh ta chưa được khám cột sống.

Theo Fb Bác sĩ – Nhà văn Lê Minh Khôi

Khi những đòn tra tấn hiểm ác giúp cho cảnh sát điều tra thăng tiến

No photo description available.

Image may contain: 1 person, indoor
Image may contain: one or more people
Image may contain: shoes and indoor
Image may contain: 4 people, people sitting

Nguyễn Văn Sơn Trung  Follow

Khi những đòn tra tấn hiểm ác giúp cho cảnh sát điều tra thăng tiến

Theo tường trình của Phạm Quốc Nhật gửi Viện KSND Tối cao: “Một anh hỏi tôi tên gì? Tôi nói tôi tên Phạm Quốc Nhật (tên thường gọi là Đỏ). Anh cảnh sát hình sự đó nói tôi nói xạo, tôi không phải là Đỏ mà là tên Phát. Rồi anh ta đánh tôi vì lý do đó.

Và anh cảnh sát hình sự đó nói: “Không cần phải hỏi, tao cũng biết mày tên thường gọi là tên Phát”. Anh lấy súng ra và đánh súng vào đầu tôi không ngừng tay. Cho đến lúc tôi ngất xỉu…

Về tới Công an TP.Cao Lãnh, tôi bị còng tay vào cửa sổ. Tuấn thì bị nhốt phòng đối diện. Tôi thấy có rất đông công an đánh Tuấn. Tôi nghe Tuấn chỉ nói là: “Không biết, và em có gì đâu mấy anh đánh em?”, vậy mà mấy anh công an vẫn cứ đánh.

Đến khoảng 2 hay 3 tiếng sau, tôi bị 2 anh Công an TP.Cao Lãnh đánh và hỏi: “Mày với Tuấn đi đâu? Tôi nói là đi xuống nhà bạn gái của Tuấn chơi từ hôm qua tới giờ thì bị mấy anh bắt về đây. Tôi biết gì đâu mà mấy anh đánh. Và 2 anh nữa đi lại đánh tôi tiếp. 4 người đánh tôi cho đến khi tôi ngất đi… và đỡ tôi lên ghế. Ngồi được một tí thì đánh tôi tiếp, đánh vào đầu, đá vào ngực và đập đầu tôi vào tường…”.

Hậu quả, ngay đêm đó Tuấn đã chết vì bị đánh quá dã man! Và những cán bộ công an được xác định gây ra cái chết của Tuấn phải ra hầu tòa, 2 người nhận án. Tuấn và Nhật bị bắt nhầm! Còn Nhật, may mắn sống sót, nhưng những gì đã trải qua ở Công an TP.Cao Lãnh, có lẽ suốt đời em không bao giờ quên. Cứ thấy sắc phục công an, là em ớn lạnh!

Còn ở Sóc Trăng, giữa năm 2013 xảy ra một vụ án mạng, công an lập tức bắt giam 7 thanh niên và ai cũng “thành khẩn nhận tội”. Hơn nửa năm sau, 2 hung thủ thực sự ra tự thú. Và 7 thanh niên sau khi được thả, khai bị đánh bầm dập, có cả màn xốc ngược cắm đầu xuống đất, rồi dùng đá lạnh chườm vào bộ phận sinh dục, như tra tấn những kẻ ác ôn!

Có đến 25 cán bộ công an bị kỷ luật, 3 cán bộ bị khởi tố hình sự vì bức cung, nhục hình trong vụ án ở Sóc Trăng. Nhưng cái giá của những người bị bắt oan lớn hơn nhiều. Vợ con bị khinh bỉ, cha mẹ bị xa lánh… trong thời gian dài, vì dính dấp với kẻ bị bắt “được gán” cho nghi can gây tội ác!

Còn vụ án 3 thanh niên ở Cà Mau bị bắt giam oan gần 1 năm, Điều tra viên Phạm Hải Âu đã đưa giấy bút để Nguyễn Vũ Ca (1 trong 3 thanh niên bị oan) viết thư nhận tội gửi về nhà. Anh Hải Âu không ngờ, bức thư chủ yếu để làm cớ buộc tội Ca, lại là bằng chứng việc công an các anh đánh nghi can.

Một đoạn thư viết: “Mẹ ơi con rất thèm bữa cơm gia đình có cha mẹ và chế Hai. Cha mẹ ơi bữa đó vào con bị đánh ho ra máu luôn. Nhưng con nghĩ đó là bài học của con vì không nghe lời cha mẹ dạy… Ở đây con bị mấy người đó đánh, con suy nghĩ như cha mẹ đánh con dạy con nên người, bây giờ đầu con nhức lắm mẹ ơi. Nhưng con đã làm sai rồi phải chịu thôi. Thương cha mẹ nhiều nhiều với chế Hai nữa”.

https://motthegioi.vn/…/khi-nhung-don-tra-tan-hiem-ac-giup-…

​Cơ quan tố tụng đòi xử lý luật sư của bị hại

Rạng sáng 12/5/2012, nghi phạm Ngô Thanh Kiều (ngụ xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, Phú Yên) tham gia vụ trộm ở thị xã Sông Cầu. Rạng sáng hôm sau, theo chỉ đạo của Trưởng ban chuyên án Lê Đức Hoàn, các công an đã đến bắt anh Kiều về Công an TP Tuy Hòa.

Tại đây, nghi phạm bị còng tay vào thành ghế và bị các điều tra viên Mẫn, Quyền, Huy, Quang đánh dùi cui vào đùi, cẳng chân; Thành đánh 2-3 cái vào đầu. Đến chiều thì anh Kiều chết trên đường chuyển đến bệnh viện.

https://tuoitre.vn/khong-du-co-so-rut-chung-chi-hanh-nghe-c…

Vụ án Nguyễn Tuấn Thanh sinh năm 1986 ngụ xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An chết bất thường trong nhà tạm giữ công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

https://tuoitre.vn/nguyen-thieu-ta-dung-nhuc-hinh-lam-chet-…

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=282393735576515&id=100014176721813

Thảm trạng cuộc đời – Chết trong Chúa

Thảm trạng cuộc đời – Chết trong Chúa

 Thanh Quảng sdb

 16/May/2020

Đứng trước nhiều cái chết kinh hoàng của cơn đại dịch hiện nay, con số nhiễm đã lên quá 4 triệu rưỡi và con số tử vong hơn 300 ngàn, tại nhiều nơi!

Những hình ảnh người nhiễm bệnh bị cách ly không được gặp gỡ người thân và rồi chết trong cô quạnh một mình, không một lời từ biệt trăn trối…

Nhiều hình ảnh cho thấy để giải quyết số người chết quá nhiều, người đã tận dụng tối đa các lò thiêu mà không giải quyết được, đành phải cho xe ủi đất, đào các hố chôn tập thể…

Và rồi ngay cả trước cái chết bình thường của người thân của chúng ta, nhưng vì hoàn cảnh, chúng ta không thể hiện diện vì không gian trắc trở, vì lệnh đóng cửa biên giới và các chuyến vận hành du lịch đều bị hủy hoãn vô thời hạn…

Hoặc trong hoàn cảnh quy luật giới hạn các cuộc tu họp đông người dưới bất cứ hình thức hay lý do nào, chẳng hạn đám cưới hay ma chay số người tham dự bị giới hạn… Làm sao không đau lòng cho những người con, người cháu, chắt hay thân bằng quyến thuộc không thể tham dự các nghi lễ mừng vui trong đám cưới; đặc biệt tiễn đưa người thân trong các tang lễ…

Trước những hoàn cảnh bi thương hiện nay, chúng tôi xin gửi tới quí vị bài viết “Không ai chết mà bị lãng quên trong Chúa Kitô” của linh mục Federico Lombardi, hầu tìm ra một lối vươn lên, một đường tiến tới và một sự an bình cho cuộc sống…

Chết trong Chúa…

Bài viết thứ tư với nhan đề: “Không ai chết mà bị lãng quên trong Chúa Kitô” trong loạt bài “Cuộc sống siêu vượt trên cơn đại dịch” của cha Federico Lombardi.

Một trong những gia sản tinh thần quí báu của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II để lại là Ngài làm hồi sinh và sống lại những mẫu gương của các anh hùng tử đạo trong thế kỷ 20 này.

Chắc chắn khi cầu nguyện với Chúa, chúng ta nhớ đến số phận của vô số các nạn nhân, cả nam lẫn nữ thuộc mọi chủng tộc, thời gian và không gian đã hiến mạng sống qua nhiều thảm trạng cuộc đời như bỏ mình trên rừng sâu hay trong biển cả bao la, qua các cuộc giao tranh, hay trong lúc thanh bình. Nhiều người đã chết trong cô đơn, chết vì bạo lực hoặc vì một thảm họa nào đó…

Có những tiếng kêu than đau đớn thét lên trong cõi thinh lặng từ đất mẹ ở khắp mọi nơi trên thế giới mà những người có tai tinh tế sẽ nghe và nhận ra hàng triệu, thậm chí hàng tỷ người đã bị lãng quên – tiếng khóc than của bao người bị lãng quên! Nhân danh họ và với họ, chúng ta muốn cất lên tiếng kêu cầu lòng thương xót bao la của Chúa.

Hình ảnh những cỗ quan tài xếp đầy trong các nhà thờ ở Bologna, Ý hay những ngôi mộ tập thể gần New York, Hoa kỳ làm chúng ta suy nghĩ… có rất nhiều người, đặc biệt những người già, đã chết trong sự cô đơn, cô độc trong những tháng qua, đã chạm tới tâm lòng chúng ta một các sâu sắc. Không chỉ trên phương diện cảm tính tự nhiên thương cảm như của những người thân trong gia đình, đã mất những người thân; mà còn trong mầu nhiệm hiệp thông thân mình huyền nhiệm của Chúa Kitô với tha nhân nữa…

Tất cả những thực trạng trên giúp chúng ta, một lần nữa hiểu và trân quí những liên đới gần gũi quý giá và tình cảm chân thành trong những lúc ốm đau, trong tuổi già và bệnh hoạn… Nhưng nó cũng giúp chúng ta nhận chân ra được một thực tại, đó là đứng trước cái chết của chính mình hay của bất luận ai thì chiều kích cô đơn cô độc luôn có đó… Vào cuối đời, giữa lúc cô đơn, thì sự gần gũi của những người thân là điều vô cùng quan yếu!

Làm thế nào chúng ta có thể chuẩn bị giây phút đó, cho chính chúng ta hay cho người thân yêu của chúng ta? Làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi nỗi thống khổ nếu bị rơi vào thảm trạng này?

May mắn thay, chỉ vài tuần trước đây, chúng ta mới cử hành lễ Phục sinh của Chúa Giêsu. Chắc chắn, chúng ta có thể sống mầu nhiệm phục sinh đó hằng ngày bằng cách kết hợp một cách bí tích và thiêng liêng với Chúa Giêsu qua việc rước lễ thiêng liêng; đó là sống mầu nhiệm Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy tuần Thánh một cách đặc biệt. Cái chết ê chề nhuốc khổ của Chúa Giêsu nói lên cái cảm nghiệm của một con người bị bội phản, bị Thiên Chúa bỏ rơi, như chúng ta thấy lời Thánh vịnh mà Chúa Giêsu đã kêu lên từ cây Thánh Giá “Lạy Cha, sao Cha lại bỏ con!” Rồi những phút giây thân xác đó được chôn vùi cách vội vã trong huyệt mộ! Chúa Giêsu đã xuống xuống ngục tổ tông cho thấy Ngài đã sống trọn kiếp người, liên đới với anh chị em đồng loại qua cái chết. Chúa như nhắn gửi chúng ta một điều là ‘không ai chết, bất kể ở đâu và lúc nào, trong cảnh trạng nào đi nữa như trong cơn đại dịch, sẽ không bị lãng quên. Chúa Giêsu thực sự đã chết, giống như họ, và Ngài chết với họ…

Nhưng sau cái chết, Chúa được mai táng và phục sinh, thì cái chết không còn như trước nữa như thánh Phaolô đã kêu lên: “Hỡi tử thần, nọc độc của ngươi ở đâu?”. Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần, Chúa cho thế gian biết: Tình yêu của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn sự chết. Và điều này đã thắng vượt mọi nỗi cô đơn cô độc. Cho nên trước cái chết, chúng ta hãy tín thác và trao phó mọi sự vào vòng tay yêu thương của Cha chúng ta.

Vài ngày trước đây, một trong các Thánh lễ tại nguyện đường thánh Marta, Đức Phanxicô đã suy niệm về cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu với ông Nicodemô và Đức Thánh Cha mời gọi mọi người hãy nhìn lên Đấng bị đóng đinh, chính Ngài là trung tâm của đức tin và của đời sống Kitô hữu chúng ta.

Những ai đã từng nhìn thấy hình ảnh Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đứng ôm cây gậy Thánh giá trong Vương cung thánh đường vài ngày trước khi Ngài qua đời, hay trong các cuộc đi đàng Thánh giá tại hí trường Colosseum, hay trong các nghi thức suy tôn Thánh giá vào các ngày Thứ Sáu Tuần Thánh thì không thể quên được các hình ảnh đó. Không có cách nào chuẩn bị cho mình sống chết tốt đẹp hơn là nhìn vào Đấng bị đóng đinh, Người chết vì chúng ta và cho chúng ta. Với trọn vẹn trái tim, chúng ta hãy phó thác mọi sự trong vòng tay nhân ái của Thiên Chúa. Vì vậy, dù sống hay chết, với Chúa Giêsu chúng ta không còn lo sợ, vì chúng ta được tháp nhập vào mầu nhiệm tình yêu và lòng thương xót của Chúa… Có thế chúng ta mới cảm nghiệm được như thánh Phanxicô, không còn run sợ trước cái chết, mà còn coi cái chết như người em gái rất thân thương của cuộc đời mình.

Trong cơn đại dịch coronavirus hay bất luận cảnh trạng nào, sự chết có đến với chúng ta, chúng ta đừng quên rằng, nhờ Chúa Giêsu mà sự chết không phải là phán quyết cuối cùng… Mọi sự trong cuộc sống chúng ta, ngay cả giây phút biệt ly tang tóc và cái chết ê chề đi nữa… Tất cả sẽ không bị quên lãng và không bị rơi vào hư vô, nhưng tất cả đều nằm trong vòng tay từ ái của Thiên Chúa, Cha chúng ta.

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa

Bởi  AdminTD

Đào Tăng Dực

18-5-2020

Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân chủ trên thế giới. Chính vì thế hệ thống pháp lý của Việt Nam là “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”, không phải là chế độ pháp trị bình thường như tại các quốc gia dân chủ.

Lý do pháp chế xã hội chủ nghĩa khác biệt với chế độ pháp trị bình thường là vì sự vắng bóng của yếu tố hiến định (tức là tính tối cao của một hiến pháp nghiêm chỉnh, thay vì tính tối cao của điều lệ đảng CSVN) và sự vắng bóng của yếu tố đa nguyên (tức sự hiện diện của đối lập chính trị hầu giám sát hoạt động của đảng CSVN).

Sự vắng bóng của hai yếu tố này đưa đến sự lệ thuộc của hệ thống tư pháp, gồm các tòa án vào sự lãnh đạo chính trị của đảng và từ đó, thiếu yếu tính độc lập và công lý có thể bị bức tử dễ dàng.

Chính vì thế, không những anh Hồ Duy Hải mà bất cứ công dân Việt Nam nào khác, đứng trước vành móng ngựa của một tòa án theo pháp chế xã hội chủ nghĩa này, cũng có xác xuất chịu một số phận như nhau.

Tuy nhiên, lý do chúng ta chú tâm nhiều đến vụ án này, ngoài tính nghiêm trọng của nó vì liên quan đến tội cố sát và án tử hình, là vì những vi phạm không những các nguyên tắc luật pháp bình thường tại các quốc gia dân chủ, mà nó còn vi phạm ngay cả những thủ tục pháp lý của pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nữa.

Trước khi phân tích và đánh giá vụ án này, chúng ta xác định các sự kiện như sau, theo Wikipedia Việt Ngữ:

“1. Thảm sát xảy ra ngày 13/01/2008:

Tại Bưu điện Cầu Voi, ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Trong đó, hai nữ nhân viên bưu điện tên Nguyễn Thị Ánh Hồng (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Thu Vân (sinh năm 1987) bị giết bằng cách cắt cổ.

  1. Ngày 21 tháng 3 năm 2008, nghi phạm Hồ Duy Hải sinh năm 1985 bị bắt
  2. Qua hai lần xét xử sơ thẩm (năm 2008 tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An) và phúc thẩm (năm 2009 tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh), Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về tội giết người, 5 năm tù về tội cướp tài sản, tổng hợp hình phạt là tử hình. Tuy nhiên, gia đình Hồ Duy Hải liên tục kêu oan.
  3. Năm 2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình quyết định không kháng nghị vụ án.
  4. Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bác đơn xin ân xá của Hồ Duy Hải. Sau đó, trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận trong nước và quốc tế cũng như Quốc hội Việt Nam, năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ra lệnh tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải.
  5. Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019
  6. Ngày 8 tháng 5 năm 2020, sau 3 ngày xét xử giám đốc thẩm vụ án, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua bỏ phiếu công khai, quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  7. Đây là một vụ án có nhiều vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án như:
  8. Thay đổi vật chứng;
  9. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  10. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo
  11. Tuy nhiên Tòa án nhân dân tối cao nhận định những vi phạm pháp luật này không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
  12. Tại thời điểm xảy ra vụ án, nạn nhân Nguyễn Thị Ánh Hồng đang có mối quan hệ tình cảm với ba người đàn ông: Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng.”

Thành viên Hội Đồng Thẩm Phán gồm 17 người và chủ tịch Hội Đồng là thẩm phán Nguyễn Hòa Bình, người mà năm 2011, trong chức vụ viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, đã quyết định không kháng cáo vụ án này.

Một các tổng quát thế giới đương đại có hai hệ thống tư pháp thịnh hành, một là hệ thống tư pháp phát xuất từ Anh Quốc theo truyền thống Common Law căn cứ nhiều trên án lệ và hai là hệ thống phát xuất từ Pháp gọi là Code Napoleon hay Civil Code, chịu ảnh hưởng của cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, căn cứ nhiều trên luật thành văn.

Hệ thống luật pháp Cộng Sản tuy gọi là pháp chế xã hội chủ nghĩa, và không còn yếu tố độc lập và vô tư của Civil code hiện hành tại Pháp hoặc phần lớn các quốc gia lục địa Âu Châu, nhưng chịu ảnh hưởng của Liên Xô cũ và qua Liên Xô cũ, chịu ảnh hưởng của Civil Code nhiều hơn.

Tuy nhiên cả Common Law (Anh Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Tân Tây Lan…) lẫn Civil Code (Pháp, các nước lục địa Âu Châu, các cựu thuộc địa các quốc gia trên) đều tôn trọng những nguyên tắc nền tảng sau đây:

  1. Các khái niệm giả định vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof):

Một bị cáo tự thể được giả định là vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof) một bị cáo có tội hầu kết án về hình sự là trách nhiệm của Công Tố Viện (Prosecutor’s Office), trong trường hợp của Việt Nam là Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, không phải trách nhiệm của bị cáo.

Tuy bị cáo có thể nêu ra chứng cớ phản bác những chứng cớ của Viện Kiểm Sát và chứng minh sự vô tội của mình, nhưng chỉ cần VKS bày tỏ nghi vấn về phẩm chất của chứng cứ đã trình tòa, hoặc minh thị rút lại chứng cứ, thì nguyên tắc “giả định vô tội” lập tức được kích hoạt và tòa án không còn sự chọn lựa nào ngoài hủy án, tái xét hoặc tha bổng cho bị cáo.

Trong trường hợp của Hồ Duy Hải, một khi vào “ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019” thì điều này chứng minh có nhiều khiếm khuyết về phẩm chất cũng như số lượng chứng cứ đưa đến việc kết án,và Ông Nguyễn Hòa Bình cũng như 16 vị thẩm phán TANDTC còn lại không có sự chọn lựa nào ngoài chấp nhận kháng nghị của VKS, hủy bỏ bản án, tái điều tra và tái xử hoặc tuyên bố Hồ Duy Hải vô tội.

  1. Cấp độ chứng minh (standard of proof):

Vấn đề chứng cứ trong một phiên tòa, dù là những phiên tòa dân sự hay hình sự cũng vô cùng quan trọng, nhất là về hình sự thì lại càng nghiêm khắc hơn.

Phiên xử Hồ Duy Hải cho thấy nhiều khuyết điểm về chứng cứ như:

  1. Thay đổi vật chứng;
  2. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  3. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo

Trong hệ thống hình sự Common Law có 2 cấp độ chứng cứ rõ rệt trước khi tòa tuyên phán. Cấp độ chứng minh trong các phiên tranh tụng dân sự là “có xác xuất phải chăng” (On the balance of probability) có thể đồng nghĩa với xác xuất một sự kiện xảy ra trên 50% là thắng kiện. Tuy nhiên trong một phiên tòa hình sự thì cấp độ chứng minh phải là “Không còn lý do chính đáng để nghi ngờ” (Beyond Reasonable Doubt) có nghĩa một người phải chăng (reasonable person) không còn lý do để nghi ngờ tội phạm của một bị cáo. Hầu như xác xuất là 90% hay hơn nữa.

Hệ thống tư pháp Civil Code tại Pháp và Âu Châu khác với Anh Quốc và Hoa Kỳ ở điểm then chốt này. Trong cả dân sự lẫn hình sự, cơ quan hoặc cá nhân trách nhiệm phải thuyết phục quan tòa đến mức độ quan tòa đạt đến một “sự thuyết phục thâm tâm” (intime conviction) trước khi phán quyết. Ý niệm “thuyết phục thâm tâm” này buộc quan tòa phải xét đến tất cả mọi chứng cứ từ lời nói, văn kiện, khoa học, tâm lý v.v… và quyết định trong khi ý thức hoàn toàn tính chủ quan của chính vị thẩm phán.

Tuy về dân sự, cấp độ quan tòa phán xét một vụ tranh chấp căn cứ trên nguyên tắc “sự nổi bật của chứng cứ” (preponderance des preuves). Nhưng sự nổi bật của chứng cứ này không phải tương xứng với ý niệm “có xác xuất phải chăng” trong Common Law mà đòi hỏi một cấp bực chứng cứ tương đối cao hơn. Chính vì thế tranh tụng về dân sự tại Pháp đòi hỏi nhiều chứng cứ hiển nhiên hơn tại Anh hay Hoa Kỳ như giao kèo thành văn chẳng hạn.

Trong khi đó, trong một phiên xử hình sự, tuy mức độ “thuyết phục thâm tâm” áp dụng, nhưng dĩ nhiên vì hình sự liên hệ đến sự tự do và đôi khi tính mạng của một công dân nên, trong thực tế, yếu tố “nổi bật của chứng cứ” sẽ cao hơn và tương tự với “beyond reasonable doubt”.

Chính vì thế trong trường hợp của Hồ Duy Hải, nếu đứng trước một pháp đình nghiêm chỉnh trong truyền thống Common Law lẫn Civil Code, Hồ Duy Hải đều vô tội vì những chứng cứ nhiều khuyết điểm như thế sẽ không đủ sức thuyết phục một Bồi Thẩm Đoàn “beyond reasonable doubt” tại Anh Quốc hay Hoa Kỳ và cũng sẽ không thể thuyết phục một Thẩm Phán hay Thẩm Phán Đoàn tại Pháp đến mức độ “intime conviction” và Hồ Duy Hải sẽ được tuyên bố vô tội tại cả 2 pháp đình.

Thêm vào đó, vì cấp độ chứng minh của cả 2 khái niệm “beyond reasonable doubt” hoặc “intime conviction” trong án hình sự rất cao, nên sự hiện hữu của những nghi can khác (như Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng) hầu như chắc chắn sẽ làm các vị thẩm phán vô cùng nghi ngờ phẩm chất các chứng cớ về tính tội phạm (criminality) của Hồ Duy Hải và xác xuất trắng án của bị cáo lại càng cao hơn nữa.

  1. Khái niệm xung đột quyền lợi (conflict of interests)

Đây là một khái niệm then chốt của công lý nhân loại đương đại, phát xuất từ một phiên tòa tại Anh Quốc năm 1924 và xuất xứ của một câu châm ngôn lừng danh trong giới luật sư và thẩm phán thời đại.

Đó là câu:

“Justice must not only be done, but must be seen to be done” dịch ra tiếng Việt là “Công lý không những phải được thực thi, mà phải làm sao cho mọi người nhìn thấy nó được thực thi” của Chánh Thẩm Phán Lord Chief Justice Hewart trong phiên xử R v Sessex Justices, ex parte McCarthy, năm 1924.

Phiên xử này quy định những nguyên tắc nền tảng liên hệ đến tính vô tư và sự vắng mặt cần thiết của các thẩm phán khi có xung đột quyền lợi.

Chính vì thế thẩm phán Nguyễn Hòa Bình và 16 vị Thẩm Phán trong phiên xử Hồ Duy Hải cần học hỏi phiên xử này.

Theo Wikipedia Anh ngữ, thì phiên xử được tóm lược như sau:

“Năm 1923 một người đi xe gắn máy là McCarthy dính vào một tai nạn xe cộ và bị truy tố trước tòa về tội lái xe gây nguy hiểm (dangerous driving). Cả bị cáo lẫn luật sư của ông đều không biết thư ký của các chánh án là thành viên của một cong ty luật đại diện trong một phiên xử dân sự chống lại McCarthy đòi bồi thường thiệt hại liên hệ tới tai nạn xe cộ này. Các quan tòa kết tội McCarthy sau đó. Sau khi biết được quan hệ trên của thư ký này thì McCarthy kháng cáo yêu cầu hủy án. Các quan tòa nộp một văn kiện hữu thệ xác định họ đã phán quyết kết án bị cáo nhưng không hề tham khảo người thư ký này”.

Theo chánh thẩm phán Lord Chief Justice Hewart này thì tuy các thẩm phán xử án thực sự vô tư, nhưng chỉ cần hình thức bề ngoài có vẻ không vô tư thì công lý đã không được thực thi rồi.

Chính vì thế ngài đã phải hủy bản kết án và phán xét này đã đi vào lịch sử.

Khi nguyên tắc này áp dụng cho Hồ Duy Hải thì 2 sự kiện:

  1. Một là ông Nguyễn Hòa Bình vào năm 2011 làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định không kháng nghị vụ án và;
  2. Hai là ông ngang nhiên trở thành Chánh Thẩm Phán trong phiên xử ngày 8 tháng 5, 2020, đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc xung đột quyền lợi (conflict of interests) vô cùng hiển nhiên và cũng vì thế sự phán xét của tòa bị hoen ố toàn diện khi ông làm chánh thẩm.
  3. Tương quan nghiêm chỉnh giữa Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (BLTTHS) và Bộ Luật Hình Sự (BLHS).

Một trong những lập luận rất lạ lùng của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao là những vi phạm pháp luật liên hệ đến Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, khi truy tìm chứng cứ của Công An không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Khi lập luận như thế 17 vị thẩm phán này đã lập luận không phải như những luật gia, mà như những đảng viên trung kiên của ý thức hệ Mác Lê.

Trong khi tương quan giữa BLTTHS và BLHS không những là một tương quan có tính phương tiện và cứu cánh (means and end), mà kèm theo đó là một tương quan có tính nhân quả (cause and effect).

Một mặt BLTTHS cần phải được tuân thủ nghiêm cẩn hầu bảo đảm phẩm chất của chứng cớ (phương tiện) và đạt đến mục tiêu công lý của BLHS (cứu cánh).

Mặt khác nếu không có chứng cớ phẩm chất cao qua tuân thủ BLTTHS (nguyên nhân) thì công lý như quy định trong BLHS sẽ không được thực thi (hậu quả).

Không những trong chế độ pháp trị dân chủ chân chính mà ngay cả dưới chế độ pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, nguyên tắc này phải được mọi luật gia đả thông.

Chính vì thế, điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Lập luận nêu trên của 17 vị thẩm phán là lập luận cố hữu của các đảng viên CS giáo điều tức “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.

Vì họ đã cả quyết Hồ Duy Hải là có tội thì BLTTHS chỉ là một phương tiện, nếu không cần thiết thì vứt đi, vì mục tiêu đã đạt được.

Câu hỏi chúng ta đặt ra là:

Tại sao những quan tòa tối cao của đất nước lại có thể quan niệm về luật pháp lạ lùng như thế?

Câu trả lời đơn giản là dưới trật tự chính trị Mác Lê và pháp chế xã hội chủ nghĩa, các thẩm phán, thay vì là những luật gia uyên bác và vô tư thì chỉ là những đảng viên thuộc các phe nhóm, được gài ghép vào những vị trí hầu ban thưởng hoặc củng cố quyền lực, hoàn toàn không đủ phẩm chất của những thẩm phán nghiêm chỉnh như tại các quốc gia pháp trị nghiêm minh.

Ngay cả trong trường hợp Hồ Duy Hải được tái thẩm đúng theo công lý hoặc phán xét vô tội, thì số phận của nhân dân Việt vẫn không được cải thiện, trừ khi một hệ thống pháp lý nghiêm chỉnh được hình thành tại Việt Nam trong phạm trù của một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính.

BAOTIENGDAN.COM

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa Bởi AdminTD – 18/05/2020 Đào Tăng Dực 18-5-2020 Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân ch…

TÌNH BẠN TRONG ĐỜI

TÌNH BẠN TRONG ĐỜI

Dù đã sẵn sàng hay còn chưa chuẩn bị, nhưng rồi một ngày kia, chúng ta cũng phải chia tay thế giới này.

Tiền bạc, danh vọng, quyền lực, tất cả với ta cuối cùng cũng sẽ trở thành vô nghĩa. Còn ý nghĩa chăng là những gì ta tạo ra đối với thế giới này. Vậy điều gì là thật sự quan trọng lưu lại dấu ấn của ta trong cuộc sống?

Quan trọng không phải là những thứ bạn mang theo, mà là những gì bạn đã chân thành đóng góp cho tha nhân.

Quan trọng không phải là những thứ bạn nhận được mà là những gì bạn đã cho đi.

Quan trọng không phải là những thành công bạn đã có được trong cuộc đời, mà là ý nghĩa thanh cao của chúng.

Quan trọng không phải là những thứ bạn học được, mà là những gì bạn đã truyền lại cho người khác.

Quan trọng không còn là năng lực của bạn, mà chính là những gì mà bạn đã cư xử với mọi người xung quanh.

Quan trọng là những khoảnh khắc cử chỉ, thái độ mà bạn đã vô tình hay cố ý khắc ghi trong lòng người khác, khi cùng chia sẻ với họ những lo âu, phiền muộn, khi bạn an ủi và làm yên lòng họ bằng cách riêng nào đó của mình, hay chỉ đơn giản là một nụ cười hoan hỹ hay một cái nắm tay, đỡ cho một người khỏi ngã.

Quan trọng không chỉ là những ký ức, mà phải là ký ức về những người đã yêu thương bạn.

Quan trọng đâu chỉ là bạn sẽ được mọi người nhớ đến trong bao lâu, mà là họ nhớ GÌ về bạn (tốt hay xấu).

Quan trọng không phải là bạn quen biết thật nhiều người, mà là bao nhiêu người sẽ đau xót khi mất bạn trong đời.

Vậy thì, bạn ơi, hãy nhìn cuộc sống bằng ánh mắt yêu thương và hiểu biết. Bởi vì, chỉ có tình yêu thương, sự hiểu biết mới đem lại những điều kỳ diệu cho cuộc sống, bạn ạ.

From: TU-PHUNG