In Retrospect – Nhìn Lại Của Cha và Con Steinbeck Giữa Chiến Tranh Việt Nam – Phần 2.

In Retrospect – Nhìn Lại Của Cha và Con Steinbeck Giữa Chiến Tranh Việt Nam – Phần 2.

***

STEINBECK VÀ 2 CUỘC GẶP GỠ CHƯA GHI LẠI – (tiếp theo & hết)

Cần Thơ, Việt Nam, Ngày… Tháng 12 Năm 1966

BS Hoàng Ngọc Khôi, YKSG 1960:

“Khi John Steinbeck được giải Nobel văn chương 1962, tôi – Hoàng Ngọc Khôi và anh DS Nguyễn Phúc Bửu Tập đang làm tại Trường Quân Y và cùng phụ trách tờ Tập San Quân Y (TSQY). Anh Bửu Tập mua được cuốn Of Mice and Men (OMAM), đọc xong đưa cho tôi đọc.

Khi trả lại, Bửu Tập bảo: Hay là chúng mình dịch rồi đăng vào Tập San. Chúng tôi bắt đầu dịch và cho đăng vào TSQY khoảng giữa năm 1963, dựa theo cuốn tiếng Anh OMAM nhưng vẫn có thêm cuốn tiếng Pháp Des souris et des hommes để tham khảo. Nhà văn Trần Phong Giao, lúc đó là Thư ký Tạp chí Văn, tình cờ đọc được vội tìm hai chúng tôi đặt cọc là khi viết xong giao cho Tạp chí Văn xuất bản. Tôi không biết Nxb Văn có liên lạc với John Steinbeck hay không, nhưng hình như hồi đó chưa có thoả hiệp về tác quyền giữa hai nước.

Khi Steinbeck sang Việt Nam thì tôi đang làm Y sĩ trưởng Quân y viện Trương Bá Hân tại Sóc Trăng. Lúc đó, có một Đại úy cố vấn Mỹ thuộc Cục IV Tiếp Vận phụ trách tiếp vận cho Quân y viện TBH cứ khoảng hai tháng lại tới kiểm tra xem QYV có nhu cầu gì không và không hiểu sao ông ta lại biết tôi có dịch cuốn OMAM.

Bỗng một hôm, cuối năm 66 hay đầu năm 67 gì đó, cũng viên Đại uý cố vấn ấy (mà nay tôi quên mất tên) bay trực thăng ghé thăm QYV bảo tôi là John Steinbeck đang ở Cần Thơ và có hẹn gặp ông ta ngày mai đi uống cà phê trưa từ 2 tới 3 giờ chiều và hỏi tôi có muốn gặp Steinbeck không? Ông bảo tôi có thể lên ngay trực thăng đi cùng nhưng khi về phải tự lo. Tôi mừng quá nhưng trả lời sáng mai tôi sẽ lấy xe Jeep đi và về cho tiện vì từ Sóc Trăng sang Cần Thơ chỉ khoảng hơn một giờ lái xe.

Hôm sau đúng giờ, viên đại uý Mỹ đã đợi tôi tại QYV Phan Thanh Giản, Cần Thơ và rồi ông chở tôi tới một câu lạc bộ sĩ quan Mỹ. Tới nơi thì Steinbeck cũng vừa tới, ông ta mặc đồ như một quân nhân tác chiến, có khoác cả áo giáp, có bộ râu lẫn ria cắt tỉa gọn ghẽ.

Khi gặp Steinbeck tôi còn là Y sĩ Đại uý, ông ta gọi tôi là Doctor và hỏi tôi có sang Mỹ bao giờ chưa và sao lại chọn dịch cuốn sách OMAM của ông? Tôi nói tôi đã sang Mỹ hai lần rồi và lần nào tôi cũng muốn mau trở về vì nhớ quê nhà và bằng hữu. Ông cười bảo vậy đúng là điều ông muốn nói trong cuốn truyện rồi, ước vọng sao có một mảnh đất, một khu vườn và ngày ngày gặp bạn bè tán gẫu với nhau.

Tôi mang theo hai cuốn truyện dịch, một cuốn OMAM và một cuốn Des souris et des hommes để ông ký cho tôi và Bửu Tập, còn tôi cũng tặng ông một cuốn truyện dịch Của Chuột và Người. Tôi chỉ được viên Đại uý cố vấn nhường cho nửa giờ nên tôi chỉ hỏi ông một câu duy nhất là ông có dự tính gặp một nhà văn Việt Nam nào không? Ông trả lời chuyến đi này của ông không có liên quan gì tới văn chương cả, mà là quan sát tại chỗ về tình hình miền Nam xem có cơ thắng trận hay không.

Hôm đó viên Đại uý cố vấn có chụp cho tôi với John Steinbeck một tấm hình polaroid lấy liền. Nửa giờ quá ngắn ngủi và Steinbeck chỉ ở Việt Nam có sáu tuần mà phải đi khắp bốn vùng chiến thuật và viết bài hàng ngày cho tờ báo Newsday mà ông là đặc phái viên. Steinbeck ủng hộ Mỹ đem quân tới Việt Nam để chống sự bành trướng của CS và rất ghét nhóm phản chiến. Ngược lại con ông, đang phục vụ tại Việt Nam trong đoàn Truyền thông quân sự Hoa Kỳ thì lại chống chiến tranh VN. Những bài báo của ông viết từ Việt Nam sau được in lại thành một cuốn sách: John Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the war. Và anh cũng đã biết rồi.

Đêm 29–04–1975 do tôi di tản nhờ tàu Hải quân rất bất ngờ nên đã không mang theo được gì. Sau 1975 có người nhà bên Việt Nam gửi cho tôi cuốn Của Chuột và Người do Hội Nhà Văn in lại và đây là lần xuất bản thứ hai, đề năm 1997. Cuối sách có lời viết như sau: “Chúng tôi đã nhiều lần liên lạc với các ông Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập. Rất tiếc cho đến nay chúng tôi vẫn không nhận được tin tức cụ thể từ hai dịch giả”.

Sau đó bên nhà lại gửi cho cuốn Của Chuột và Người nhưng lần này do nhà Xuất bản Văn Học ấn hành năm 2001. Và tôi nghe nói cuốn truyện được tái bản nhiều lần vì được dùng làm tài liệu tham khảo trong các trường Đại học về môn Anh ngữ. Người bạn cùng dịch sách OMAM với tôi, DS Nguyễn Phúc Bửu Tập, thì nay cũng đã mất [1930-2020]. BS Hoàng Ngọc Khôi, Toronto, Email ngày 21-03-2021

*******

Tây Ninh, Việt Nam, Ngày… Tháng 01 Năm 1967

BS Trần Văn Khánh, YKSG 1965

BS Khánh nguyên cựu nội trú các bệnh viện, anh là bạn đồng khoá YKSG 1965 và rất thân với Nghiêm Sỹ Tuấn, trong Ban Quan Điểm báo SVYK Tình Thương. Ra trường bị động viên với cấp bậc Y sĩ Trung uý, là bác sĩ chuyên khoa giải phẫu thần kinh / neurosurgeon hiếm hoi, anh được bổ nhiệm về làm trưởng khoa Giải Phẫu QYV Tây Ninh. Anh Khánh kể: Giai đoạn ấy, do đụng độ hai bên thương vong nhiều, ngày đêm tôi làm việc trong Quân y viện và cả sang giúp bên Dân y viện! Tôi mổ đủ thứ; có thể tưởng tượng là tôi đã làm cả giải phẫu thần kinh Stellectomie, với những dụng cụ dã chiến!

“Tôi có diễm phúc gặp văn hào John Steinbeck tại Tây Ninh năm 1967, không nhớ rõ ngày tháng trong một dịp bất ngờ khó tin! Như một “duyên khởi” vào một buổi sáng sau vòng thăm các bệnh nhân sau mổ, rất tình cờ tôi gặp nhóm người Mỹ trên một xe Jeep chạy vào Quân y viện, hai người đàn ông và một phụ nữ. Họ cần có nước rửa tay và khu vệ sinh. Trong đám người ấy, tôi nhận ra ngay nhà văn Steinbeck qua chùm râu và ria mép trên khuôn mặt nông dân của ông ấy. Steinbeck trông phong trần trong bộ quân phục GI’s với cả áo giáp và nón sắt.

Qua vài câu trao đổi, Steinbeck quá đỗi ngạc nhiên khi có một người bản xứ xa lạ nói tiếng Anh lưu loát và nhận ra mình; hơn thế nữa anh ta còn là độc giả từ bao năm của ông. Khánh nhắc tới cuốn sách The Grapes of Wrath, nhắc tới cảnh tượng một người mẹ vừa sẩy thai đã cố gắng cứu sống một người đàn ông sắp chết đói và cho ông ta bú bầu sữa từ chính nơi ngực mình. Khánh nói với Steinbeck, trang sách cuối ấy không chỉ vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng và cả tuyệt đẹp, đã đọc rồi không sao có thể quên.

Chỉ bấy nhiêu thôi, Steinbeck đã hoàn toàn bị chinh phục. Steinbeck thân thiết mời Khánh – mà ông gọi là “young man” lên chuyến xe Jeep cùng ông trong chuyến thăm đi một trại Lực Lượng Đặc Biệt không xa chân núi Bà Đen mà lính Mỹ gọi đó là Black Virgin Mountain, cũng là nơi mà Steinbeck tưởng như đó là điểm cuối của con đường mòn Hồ Chí Minh.

Ấn tượng sâu đậm nhất nơi Khánh: Steinbeck nói nhiều như là một war advocate / bênh vực chiến tranh, ông tin rằng với vũ khí tối tân như hiện nay Mỹ sẽ thắng đám lính VC hỗn tạp và cả quê mùa. Trong khi đó thì cô Mỹ tóc bạch kim ngồi phía sau – không biết có phải là vợ mới cưới của ông hay không, đi theo làm stenodactylo / tốc ký ghi xuống những điều Steinbeck đang nói.

Không phải là không nhớ, nhưng Khánh không muốn nói nhiều về chuyến field trip ngày hôm ấy với Steinbeck, Khánh coi đó như một chút riêng tư mà Khánh muốn giữ cho riêng Anh. Khánh viết: “Tôi xin được phép không làm nhân chứng lịch sử của một giai đoạn chiến tranh tương tàn mà rốt cuộc miền Nam bị miền Bắc cưỡng chiếm”. Sau này sang Mỹ, Khánh đã có dịp tới thăm The National Steinbeck Center ở Salinas, tới thành phố Carmen, cả ôm pho tượng Steinbeck. Trần Văn Khánh, Oklahoma, Email: ngày 7 tháng 3, 2021

MỘT CUỐN SÁCH GÂY TRANH CÃI

“Những bức thư gửi Alicia” trên tờ Newsday được tập hợp trong một cuốn sách có tên là Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War, nhưng rồi đã không được in ra vào thập niên 1960s, do những e ngại danh tiếng của Steinbeck bị thêm tổn thương và mãi tới 44 năm sau khi Steinbeck mất (1968), cuốn sách mới được University of Virginia Press xuất bản (2012), với Thomas Barden giáo sư Đại học Toledo, Ohio từng là cựu chiến binh ở Việt Nam và là một học giả chuyên về Steinbeck viết lời Dẫn Nhập và Kết Từ cho tác phẩm cuối đời của Steinbeck.

Theo Barden, chính TT Johnson cũng muốn Steinbeck tới Việt Nam tường trình tại chỗ những gì đang diễn ra lúc đó. Steinbeck muốn có một chuyến đi độc lập, nhưng qua nội dung các bức thư viết từ chiến trường, rõ ràng Steinbeck có quan điểm ủng hộ cuộc chiến tranh, phản ánh chính sách của TT Johnson lúc đó với chủ thuyết Domino, và tính tất thắng / winnability của Mỹ trong cuộc chiến này. Giữa Cha và Con Steinbeck đã có đụng độ với cách nhìn khác nhau về cuộc chiến tranh Việt Nam. John IV con trai Steinbeck cho rằng đây là một cuộc chiến sai lầm, “đa số lính Mỹ thì nghiện ngập, con số thương vong thì không chính xác, và rằng chúng ta – người Mỹ phải rút chân ra khỏi cuộc chiến tranh này.”

Sau thời gian ở Việt Nam trở về Mỹ và trong những trao đổi riêng tư, Steinbeck đã tỏ ra bất bình về những tin tức sai lạc về cuộc chiến tranh hàng ngày cung cấp cho dân chúng Mỹ. Chính Elaine vợ ông cũng khuyên Steinbeck cần thay đổi cách nhìn về cuộc Chiến tranh Việt Nam, nhưng Steinbeck đã không còn sống lâu hơn để viết thêm gì khác về cuộc chiến tranh ấy.

Đồng ý với John Steinbeck hay không, thì sự nghiệp của ông đã hoàn tất. Tất cả những trang viết của ông trước sau, thì nay vẫn hiện diện trên các kệ sách trong các thư viện và trường học. Sẽ vẫn là một bài học cho các thế hệ tương lai.

IN RETROSPECT – NHÌN LẠI

Năm 1972, thời gian tôi đi tu nghiệp ở San Francisco về chuyên ngành Y Khoa Phục Hồi, John Steinbeck đã mất trước đó 4 năm (1968). Tiếp sau Lyndon B. Johnson, Richard Nixon là Tổng thống Mỹ, đang theo đuổi chính sách Việt Nam hoá cuộc chiến tranh – mà báo chí Mỹ gọi đó là kế hoạch đổi màu da trên xác chết, chuẩn bị cho Mỹ hoàn toàn rút chân ra khỏi Nam Việt Nam.

Và cũng chưa bao giờ phong trào phản chiến với teach-in, sit-in lên cao và lan rộng ra khắp các đại học trên toàn nước Mỹ như vậy. Nơi sân trường Đại học Berkeley, đám sinh viên “con ông cháu cha” từ miền Nam Việt Nam sang du học Mỹ cũng hoà nhập vào đám phản chiến ấy, chúng mặc bộ áo bà ba đen tổ chức các nhạc hội hát “Quảng Bình Quê Ta ơi” quyên tiền ủng hộ Hà Nội và Mặt trận Giải Phóng. Và ở đâu đó, hai con trai của John Steinbeck cũng đang hoà nhập vào dòng người đó.

Cũng trong năm 1972 và cả sau này, tôi đã hơn một lần tới thăm Monterey, Salinas quê hương của Steinbeck. Steinbeck mất ở New York, tro cốt của ông được đưa về California và chôn cất lặng lẽ trong khu nghĩa trang của gia đình. Ba mươi năm sau khi ông mất, một National Steinbeck Center được khai trương (27-06-1998) nơi thị trấn Salinas, nơi quê hương ông sinh ra.

Trung tâm Quốc gia Steinbeck, [địa chỉ 1 Main Street, Salinas, CA 93901] nơi thị trấn Salinas quê hương của Steinbeck. Trung Tâm Steinbeck được xây dựng và khai trương (1998) 30 năm sau khi ông mất (1968)

Câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.

Trong một lần đã tới thăm, điều vẫn còn lưu lại trong trí nhớ là câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng bày nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.

“Nhà văn phải tin tưởng rằng điều hắn đang làm là quan trọng nhất trên thế giới. Và hắn phải giữ ảo tưởng ấy cho dù khi biết được điều đó là không thực.”

Dĩ nhiên đây không phải là câu văn hay nhất của Steinbeck nhưng có lẽ phản ánh đúng nhất về cuộc đời 66 năm đầy thăng trầm và cả nghịch lý của Steinbeck mà ông đã bướng bỉnh lựa chọn để đi tới vinh quang và cả đôi khi chống lại chính mình.

Bức tượng đồng John Steinbeck, nơi thành phố Monterey, California, quê hương ông.

California 28-03-2021

*******

– Hình trái, Of Mice and Men, của John Steinbeck bản tiếng Anh; giữa: Des souris et des hommes bản tiếng Pháp; phải: Của Chuột và Người, bản dịch của Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập, Nxb Văn Sài Gòn 1967. Từ sau 1975, bản tiếng Việt này đã được tái bản nhiều lần ở Việt Nam.

– Hình bìa cuốn sách“Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War” đã không ra mắt vào thập niên 1960s, mà mãi tới 44 năm sau khi Steinbeck mất. University of Virginia Press (2012).

– Câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.

– Bức tượng đồng John Steinbeck, nơi thành phố Monterey, California, quê hương ông.

Thời mạt pháp

 

Thiên Đức

Thời mạt pháp

– Mọi xã hội đều được xây dựng trên nền tảng pháp luật, hưng thịnh hay suy vong cũng từ đó mà ra. Một chế độ vững bền hay suy thoái rồi đi đến cáo chung cũng từ nền pháp luật của thể chế đó, bởi một điều dễ hiểu là bất cứ một chính thể nào, chế độ nào cũng từ nhân dân. Từ ngàn xưa cũng thế, không có dân thì lấy đâu ra vua? Vua cũng từ một con dân mà có chứ đâu phải từ trên trời rơi xuống? chớ lạm dụng hai từ “thiên tử” (con trời) mà áp đặt câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” hay “Trung thần bất sự nhị quân” cho dù vị vua trước mà mình phụng sự là hôn quân vô đạo và vị vua sau (đổi thời) là một minh chúa hoặc như ngày nay với kiểu thần thánh hóa cá nhân để rồi núp bóng áp đặt cho xã hội, cho người dân với nhiều ý đồ đen tối khác của giới cầm quyền. Cái trung đó là “ngu trung” mà ý thức đó, nét văn hóa đó nó đã chìm sâu vào lòng đất, vào quá vãng tự xưa rồi.

Ta lật từng trang sử loài người từ thời cổ đại cho đến ngày nay cũng thế, tuy rằng mỗi triều đại, thời gian có những gam màu khác nhau. Từ thời xa xưa ngôn ngữ, văn minh còn hạn hẹp phôi thai nhưng nền văn hóa của những thời đại đó vẫn có những dấu ấn khó phai mờ, cho dù dưới hình thức này hay hình thức khác thì quyết định tồn vong của một chính thể, một chế độ đều hoàn toàn ở người dân. Nền pháp luật nơi đó có tồn tại hay không cũng từ lòng dân, cho dù những bộ luật đó có là luật thành văn hay bất thành văn. Nói tóm lại từ cổ chí kim mọi chính thể đều phải có hiến pháp và pháp luật. Mà hiến pháp và pháp luật đó phải xuất phát từ người dân, hợp lòng dân, trái với lòng dân thì cho dù dưới chế độ nào, hình thức cai trị nào rồi cũng tiêu tan và sụp đổ.

Có phải ngày xưa dưới chế độ phong kiến có những triều đại hà khắc bạo tàn, người dân trong tay không một tấc sắt, nhưng cuối cùng chế độ đó cũng phải sụp đổ khi quần chúng nhân dân nổi dậy rồi sao? Đó là sự khẳng định rằng, không một chính thể nào cho dù là bạo cường cách mấy cũng không thể ngồi trên đầu dân một cách lâu dài được. Một nền hiến pháp, pháp luật không hợp lòng dân không bao giờ được áp dụng lâu dài và tồn tại. Mà đã không hợp lòng dân, trái lại ý chí của người dân thì không còn sửa chữa được nữa mà phải cáo chung và khai tử nó. Và lẽ đương nhiên đi theo nó là cả một hệ thống cầm quyền núp sau những trang hiến pháp ngụy trang đó mà thực hiện mưu đồ trong thời gian cai trị.

Nói thẳng vào chế độ và hiến pháp, pháp luật CSVN. Hiến pháp, pháp luật hiện hành ở VN là của riêng tập đoàn đảng CSVN, không phải là của toàn dân VN. Do đó không thể đem một ý thức hệ, một ý chí riêng của một tập đoàn, một nhóm hơn 3 triệu người trong xã hội mà áp đặt lên toàn dân hơn 90 triệu người và mạo nhận là ý chí của toàn dân? Chính quyền này là do Đảng CSVN cướp đoạt và áp đặt chính sách cai trị “ngoại nô” sau khi cướp được chứ không do nhân dân VN trao cho. Nếu đảng CSVN rêu rao rằng chính quyền này là “của dân, do dân và vì dân” thì bằng chứng nào để chứng minh cho được cái “của, do và vì” đó? Từ năm 1945 đến nay cơ quan nào của bộ máy cầm quyền nhà nước CSVN mà đích thực là của dân?

Công an nhân dân ư? Chúng đánh đập, giết chết, cầm tù người dân chân chính và yêu nước như một cô bé SV Phương Uyên ở tuổi 20 trước đây với chỉ một lời “Cháu ghét TQ”, tức thì còng trói giam cầm, kéo đi như phường thảo khấu lục lâm mà không cần minh bạch lý do đồng thời chối bỏ mọi hành động, cùng với nhiều nhà yêu nước khác như Minh Hạnh, Bùi Hằng, Như Quỳnh, Huy Chương, Quốc Hùng, Duy Thức… cùng hàng hàng người dân vô tội khác trong xã hội đã và đang bị công an CS giết chết, cầm tù từng ngày mà không hề chùn tay.

Quân đội nhân dân ư? Quân đội tại sao phải tuyệt đối trung thành với đảng? Trong lúc đó không lo đi bảo vệ biên cương, đất nước, khi non sông hải đảo đang bị quân xâm lược Bắc Kinh lấn chiếm cõi bờ? Không lo bảo vệ nhân dân đang bị ngoại bang giết chóc, hà hiếp đe dọa cuộc mưu sinh, hủy hoại môi trường sống từng giờ từng phút? Mà đi bảo vệ giặc (Formosa), bảo vệ đội quân thứ 5 của Tàu cộng đang tiềm ẩn trên đất nước ta? Trong lúc quân đội chính là con của nhân dân đẻ ra và nuôi khôn lớn bằng mồ hôi, nước mắt, đôi khi pha cả máu nữa?

Tòa án nhân dân ư? Tại sao phải theo ý đảng mà xử tù oan nghiệt cho những người yêu nước, thương dân? Đã gọi là thẩm phán cầm cân nảy mực đại diện cho công lý mà khi xử án nhất là những án có liên quan đến người yêu nước thì tuyên bằng bản án bỏ túi do đảng đã phán trước? trong đó có cha mẹ con cái người thân của các quan tòa cũng là dân tộc VN?…v.v và v.v… Rất nhiều cái mà chúng gọi là của nhân dân nữa.

Một điều tôi cũng muốn xin hỏi đảng CSVN rằng cái gọi là quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân là đại diện cho toàn dân. Thế thì trong 500 vị được gọi là đại diện cho nhân dân ai thực sự là người dân? Trong đó hết 98% là đảng viên CS, 2% còn lại là các sư sãi ăn bã CS hoặc là đảng viên csVN trá hình trong người lận thẻ máu, dân tộc thiểu số giả danh anh hùng “núp lén” bị che mắt bịt tai để làm tay sai, lừa mỵ là đại diện cho các sắc tộc anh em và những con cừu con dê theo đóm ăn tàn và chỉ nói ngọng nghệu, bước đi tập tễnh theo sợi dây thừng mà đảng viên CS nắm và dắt đi. Thế thì những tiếng nói đó đại diện cho ai? thay mặt cho ai mà nói? Bao cuộc bầu cử quốc hội, HĐND các cấp, các đại biểu người dân được quyền lựa chọn, tự do bầu ra những người có đức, có tài để lãnh đạo quốc gia ư? Ai đã ăn nuốt xương máu của nhân dân hơn ngàn tỉ đồng cho mỗi lần lừa gạt nhân dân và quốc tế như vậy? Tôi nói không sai bởi các ông cho rằng dân bầu thì tại sao ngày bầu cử chưa đến mà trước đó hàng nhiều tháng thậm chí cả năm ai, vị nào, con cừu, con dê, thằng điếm, con đĩ nào ở vị trí nào đã có sẵn mà toàn dân VN, truyền thông quốc tế đã biết và loan lên? Y như rằng, sau ngày bầu cử lừa đảo đó tất cả đều không sai! Ai vào chỗ nấy. Từ gã chủ tịch nước đến tên thủ tướng rồi tới thằng, con chủ tịch quốc hội và các tay sai khác đều đúng vị trí như mọi người đã biết trước với kịch bản và sự đạo diễn của đảng. Thế cho nên những cái gì mà đưa ra từ “cái gọi là quốc hội” đều là ý đảng và trái ngược lòng dân. Soạn thảo bản hiến pháp ư? Ban soạn thảo hiến pháp thì 100% là đảng viên CS viết theo ý đảng chứ đừng lừa mỵ đèo thêm cái đuôi là “lòng dân – ý đảng”. Lòng dân ư? XHCN xạo hết chỗ nói. Đây, lòng dân đây:

– Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý. Một bản án tử hình cho toàn dân từ nông thôn đến thành thị, bởi tất cả mọi công dân đều ăn, ở, sống trên mảnh đất của mình qua bao đời mà quyền quản lý là của đảng? khi đảng muốn cưỡng đoạt mà người dân phản kháng ư? Chống người thi hành công vụ à? Đánh đập, còng trói và tống vào tù. Và anh Đoàn Văn Vươn cùng gia đình đã phải chịu án oan…cả gia đình chị Cấn thị Thêu phải chịu cảnh ngục tù tra tấn vì dám đấu tranh cho quyền lợi của mình và của nhân dân Dương Nội đã và đang bị đảng cướp? Chị Trần ngọc Anh ở Vũng Tàu cũng cùng cảnh ngộ bi thương. Từ Nam chí Bắc không đâu là không có phiên bản Đoàn văn Vươn, Cấn thị Thêu, Trần ngọc Anh…

– Tự do ư? Tự do trong khuôn khổ pháp luật. Đã tự do mà trong khuôn khổ? mà pháp luật là gì? là điều 79, 88, 258… của bộ luật hình sự? Các điều luật mơ hồ đánh lận con đen để phủ đầu người yêu nước, người muốn nói lên chính kiến hợp pháp của mình một cách bỉ ổi và vô liêm sỉ.

– Nhân quyền ư? Thế quyền tự do đi lại là việc cấm xuất cảnh để ra nước ngoài nhận các giải thưởng cao quí, danh dự trên thế giới mà người dân VN có được như gia đình Huỳnh Thục Vy, Nguyễn ngọc như Quỳnh và nhiều người ra nước ngoài vì những lý do chính đáng khác? Đáng lý ra đảng cũng là người VN phải tự hào và vinh dự chứ? Và không những cấm cản mà còn cao giọng phản bác việc thế giới trao giải danh giá tôn vinh cho các Anh Thư như Tạ Phong Tần, Nguyễn Hoàng Vi, Huỳnh Thục Vy, và vừa qua là Nguyễn ngọc như Quỳnh?

– Tự do ngôn luận ư? Chỉ câu nói “Cháu ghét TQ” mà cô bé Phương Uyên đã phải vào tù khi mới 20 tuổi. Hay những người vạnh trần bọn tham nhũng, lên tiếng bảo vệ tổ quốc khi bị Trung cộng xâm lăng, nếu nhẹ thì bị sách nhiễu, nặng thì mục xương trong tù.

Tự do báo chí ư? Cái này thì đảng “hoàn toàn đúng và nhân hậu “ bởi đảng đang lo lắng chăm sóc các nhà báo, nhà dân chủ của chúng ta thật kín kẽ và chu đáo. Trước đây như Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Ls. Cù Huy Hà Vũ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Việt Khang, Đỗ Thị Minh Hạnh, Ls Nguyễn văn Đài, Ls Lê quốc Quân, Ls Lê công Định, Ks Trần Huỳnh duy Thức… và nhiều vị khác nữa kẻ thì còn đang thu mình trong nhà đá, kẻ tuy đã thoát ra khỏi nhà tù nhỏ nhưng vẫn bị câu lưu, theo dõi, truy bức nơi nhà tù lớn gọi là nhà nước CHXHCNVN. Sợ các thế lực thù địch hãm hại nên đảng đã cất dấu các vị này thật kỹ nơi tường cao rào kín, cơm nước hàng ngày, thuốc men đầy đủ và gia đình không cần phải thăm nuôi, hỏi han sức khỏe. Thậm chí còn đưa đi thật xa đến nơi núi rừng hẻo lánh như Phạm Thanh Nghiên, Đỗ thị minh Hạnh, Trần Huỳnh duy Thức … và nhiều vị khác nữa để được an toàn và không khí trong lành hơn, cũng để không bị ô nhiễm môi trường từ các sáng kiến của các GS – TS, Nhà Xí CSVN. Đặc biệt là đảng độc quyền yêu nước. Một thứ quyền thiêng liêng cao cả. Trên đời này nếu ai không có lòng yêu nước là như kẻ không có trái tim và bị xem như là phản quốc, có khi là tội đồ của dân tộc.

Cũng chính vì cái gọi là quốc hội này nên từ đó đã đưa ra những dự luật thật khôi hài và quái đản chưa nói là ngu si dốt nát nữa vì những con rối này tất cả đều giả danh mang những tước hiệu, học vị, học hàm rất là lổn cổn và hào nhoáng nào GS – TS, nhà nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu kinh tế, triết học, nhà lý luận, viện sĩ nọ, viện sĩ kia…

Dự luật tiếp dân, bắt buộc người dân đang lang thang khiếu kiện với cảnh màn trời chiếu đất, một miếng ăn qua ngày để kéo dài thêm sự sống mà đuổi theo tờ đơn kiện chạy lòng vòng khắp các tỉnh thành cho tới thủ đô còn không có mà phải đặt “tiền cọc” rồi mới được kêu oan? Thật là kiểu bày trò rút ruột, xương máu của nhân dân cho tới tận cùng trong chất bã của nhà khoa học tiến sĩ giấy chủ nhiệm cái gọi là UBKHCN và môi trường xưng danh là đại tiểu, đại tiện của nhân dân thật là vô tiền khoáng hậu. Chỉ có những đầu óc bã đậu của các “đỉnh cao trí tệ” quá cao siêu mới có những tối kiến vô cùng quái đản như vậy mà thôi.

Nhận thấy tình hình mạng sống của nhân dân VN mỗi ngày một treo lơ lửng trên cành cây cho nên cộng đồng các dân tộc và các chính phủ tiến bộ trên thế giới đã nhiều lần lên án nhà cầm quyền CSVN. Tưởng rằng bọn mặt người dạ thú mang trái tim của quỉ kia cũng phần nào dè dặt hay rụt tay hãm bước. Nhưng với bản chất man rợ, thú tính chúng không hề động tâm mà còn tiếp tục trắng trợn gia tăng giết người một cách dã man hơn, nó đang diễn ra trên toàn cõi đất nước như ở Vĩnh Yên, Vinh rồi Đắc Nông và gần đây công an Gia Lai dùng súng tiểu liên đuổi theo và bắn người không đội nón bảo hiểm. Thậm chí người ta sợ súng đạn chạy trốn vào một công ty gần đó mà tụi công an côn đồ vẫn bắn vào phá cửa, hành hung và gây ra thương tích cho những người nơi đó. Đúng là bọn “kiêu binh thời @” xem trời đất bằng vung thật là kinh khủng và rừng rú, luật bắn dân chưa ra (tính sẽ đưa ra) mà chúng đã ngang nhiên xả đạn tiểu liên giữa đường phố, giữa công ty đang làm việc như trên, thì đúng là“thời mạt pháp”. Chưa hết, trước đây một học sinh 16 tuổi cũng bị đánh hành hung gây thương tích ngay đường số 9 cư xá Bình Thới phường 8 quận 11 Sài Gòn cũng chỉ vì không đội nón bảo hiểm. Hay ngay thủ đô Hà Nội, nhiều người dân Dương Nội – Hà Đông khi cản trở việc cưỡng đoạt đất đai của tập đoàn, phe nhóm lợi ích cho đảng, thì cũng bị công an phường Dương Nội đánh đập dã man rồi tống lên xe bus để cùng nhau đánh tiếp, đánh dài dài, đánh cho đến thập tử nhất sinh. Thậm chí dùng gàu xe xúc đất xúc chị Cấn thị Thêu để bắt nhốt vào tù khi chị cùng người thân và nhân dân Dương Nội quyết tâm giữ đất của cha ông bao đời để lại nay bị đảng cướp! Những cảnh như thế thì ai là người còn mơ hồ ngây thơ tin vào pháp luật của CSVN?

Chưa dừng lại ở đó. Bộ công an còn âm mưu, manh nha đưa vào luật điều khoản được phép bắn dân khi thi hành công vụ mà bị chống lại. Thật khốn nạn và dã man vô cùng. Lúc nào là lúc thi hành công vụ? Và hành động thế nào là chống thi hành công vụ? Cướp đất cướp tài sản cá tôm, phá nhà hợp pháp của nhân dân là thi hành công vụ sao? Phiên tòa xét xử Đoàn Văn Vươn, Cấn thị Thêu và người thân đã diễn ra tại Hải Phòng, Hà Nội là câu trả lời rõ nhất cho bản chất những kẻ thi hành công vụ và nỗi oan tình của người dân. Nạn nhân biến thành tội phạm giết người, chống người thi hành công vụ chỉ vì bảo vệ tài sản, nhà cửa hợp pháp của mình. Còn kẻ cướp giết nhân dân giữa ban ngày được trang bị đầy đủ vũ khí và mọi lực lương hổ trợ thì được xem là công trạng đáng ghi vào phim sách. Rồi những vụ Văn Giang, Vụ Bản, Dương Nội, đồng bằng sông Cửu Long là những minh chứng. Trong khi đó tên 3 ếch cựu “tưởng thú” ra vẻ an dân và xoa dịu lòng dân bằng cách trực tiếp chủ trì cuộc họp vụ Tiên Lãng, nhưng lại giao nhiệm vụ cho tên cầm đầu cuộc cưỡng chế đất là tên Đỗ Hữu Ca đi điều tra ai làm nên chuyện phá nhà cướp hại nhân dân? Rồi cũng chính hắn giao cho lãnh đạo côn an Hưng Yên điều tra ai đã đàn áp nông dân Hưng Yên trong vụ cưỡng chế đất trong khi cả ngàn côn an, bộ đội, dân quân, côn đồ xh đen và cả chó nghiệp vụ với vũ khí tận răng tham gia đánh đập dân oan. Lực lượng này không phải của csVN, cs Tàu thì là âm binh từ địa ngục hiện lên??? Thật khôi hài.

Cuối cùng tôi xin hỏi đảng CSVN một câu chót là với lực lượng gần 5 triệu đảng viên CS của các ông đó là chưa cộng thêm vợ, chồng con cái, anh em mẹ cha dòng họ bè nhóm đã cùng hùa với các ông cướp bóc hút máu dân lành, con số có thể hơn mười mấy triệu bản mặt mà lại sợ “đa nguyên, đa đảng”? Tôi thiết nghĩ cho dù có vài ba đảng phái chính trị nào khác để ra cạnh tranh sòng phẳng nơi chính trường với các ông đi chăng nữa thì con số đó có lẽ cũng kém hơn các ông xa. Nhưng có một điều duy nhất và chắc chắn hơn hẳn và khác các ông xa là người ta có trí thức và chính nghĩa. Đối diện với trí thức và chính nghĩa thì dốt nát và tà quyền bá đạo sẽ lòi mặt chuột ra. Do đó các ông “sợ” như virus sợ ánh sáng, xì-ke sợ nước hay ma quỷ sợ ban ngày vậy. Các ông dư biết rằng nếu đảng phái đối lập có trí thức và chính nghĩa thì sẽ được lòng dân, có dân đứng sau lưng khoảng gần 80 triệu người VN cả trong và ngoài nước sau khi đã trừ đi gần mười mấy triệu người thân và bè nhóm của các ông ra thì con số nhân dân yêu nước, khát khao tự do nhân quyền dân chủ này sẽ là cơn bão lũ nhấn chìm các ông, sẽ là biển lửa thiêu rụi các ông trong một sớm một chiều nên các ông run sợ là phải.

Mấy năm trước các ông bày trò sửa đổi hiến pháp mà lại đi từng nhà, gặp từng người dân trao bản dự thảo hiến pháp sửa đổi của các ông và tờ mẫu in sẵn áp đặt ký tên đồng ý với bản dự thảo điếm lừa nêu trên và sau đó cho là ý dân! Đến giờ phút này mà các ông còn lừa dân một cách xảo trá, mạt hạng rẻ tiền đến thế sao? Cặp mắt của người dân VN và cả thế giới đâu có đui mù và đâu còn bị các ông che chắn như trước đây được nữa. Do đó nhân dân VN cương quyết khai tử bản hiến pháp hiện hành là hoàn toàn đúng đắn, vì nội dung của nó thể hiện ý chí của đảng CSVN đi ngược lại ý chí và quyền lợi của toàn dân. Hiến pháp lẫn chế độ CSVN không thể nào sửa đổi được mà phải cáo chung, đào thải, thay đổi hoàn toàn mà thôi. Bài viết này tôi chỉ gói gọn trong sự nhận xét của tôi về lĩnh vực hiến pháp và pháp luật của csVN đã đến thời MẠT PHÁP.

GS David Tran

THƯỚC ĐO MỨC ĐỘ ĐỘC TÀI

 
May be an image of one or more people and text

THƯỚC ĐO MỨC ĐỘ ĐỘC TÀI

Đỗ Ngà

Bạn ghét cay ghét đắng thằng cha đó, nhưng phải chọn tên hắn trong phiếu bầu. Bởi nếu không chọn bạn bị liệt vào danh sách đen đợi bị xử lí sau. Khi toàn đảng đều mang tâm lý như vậy, thì ứng viên sẽ có 100% phiếu bầu. Đấy chính là bản chất của cái gọi là bầu cử trong một nhà nước độc tài.

Sự khác biệt là bản chất tự nhiên. Bạn và tôi được sinh ra trên đời này vốn không thể là phiên bản của nhau. Bạn là một mẫu duy nhất trên thế gian và tôi cũng vậy. Trên thế giới này có 7 tỷ người thì có 7 tỷ cá tính và 7 tỷ hình dáng vv… Ngay cả anh em song sinh vẫn có sự khác biệt. Vì vậy nếu được tự do thì không bao giờ có chuyện 100% người có chọn lựa giống nhau. Sự chọn lựa giống nhau càng nhiều, chứng tỏ ý chí những con người ấy bị khuất phục bởi cùng một thế lực.

Đồng phục tư tưởng nghĩa là con người không sử dụng tư tưởng của mình mà bị ép phải dùng tư tưởng của người khác. Đồng phục về chọn lựa cũng vậy, nó không thể hiện sự mong muốn cử tri mà nó thể hiện sự mong muốn của thế lực khác. 100% người bầu cho ông Vương Đình Huệ, điều đó cũng có nghĩa là toàn bộ đại biểu quốc hội biết sợ thế lực đang ủng hộ ông này và họ phải chọn theo ý muốn của thế lực đó.

Được biết, ngày 30/3 khi quốc hội tổ chức miễn nhiệm chức chủ tịch quốc hội của bà Ngân có 449 người bỏ phiếu thì số ý kiến tán thành là 429, không tán thành là 15, và không có ý kiến là 5 người. Nói chung có đến 20 người không muốn lột chức bà Ngân.

Như vậy theo tính logic, khi bầu tân chủ tịch quốc hội cho ông Vương Đình Huệ thì ít nhất phải có 20 người không tán thành chứ? Tại sao tỷ lệ bầu cho ông Huệ lại là 100%? Nghĩa là sau một ngày, 20 người lạc lõng kia đã đổi ý. Tại sao vậy? Chỉ có thể là bị áp lực. Có lẽ 20 người ấy đã cảm thấy cái nguy hiểm đang lởn vởn quanh mình khi họ thử đi ngoài lề mà thế lực ông Huệ đã định sẵn.

Trong bầu cử, tỷ lệ càng gần 100% bao nhiêu thì mức độ độc tài càng nghiêm trọng bấy nhiêu chứ nó không thể hiện sự đồng lòng. Xem ra, thế lực của Vương Đình Huệ hung hiểm lắm. Ngồi ghế chủ tịch Quốc hội, nhưng ông Huệ không hẳn là yếu. Đất nước này nó càng ngày càng trở nên độc tài, mà mức độ độc tài càng cao thì cái ác càng lộng hành, luật pháp càng bị xem thường và thực tế đã chứng minh điều đó qua vụ án Đồng Tâm và vụ án Hồ Duy Hải.

-Đỗ Ngà-

50 năm sau ngày bắt đầu Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc,…

 May be an image of 1 person, standing, tree and outdoors

Học sinh tiểu học, trung học mà dám chửi mắng, đánh đập, nhục mạ cô giáo thì là chuyện nghiêm trọng. Hãy nhớ tới những đứa trẻ đã từng tham gia CMVH ở TQ và hậu quả khủng khiếp mà chúng tạo ra là sẽ hiểu.

Lớn lên bằng sữa sói

50 năm sau ngày bắt đầu Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc, bà Yu Xiangzhen chưa hết cảm thấy tội lỗi về những điều bà đã gây ra. Nay bà là một biên tập viên đã về hưu, người mới chỉ là một cô bé 13 tuổi khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu tại Trung Quốc, cho biết mình đã sống cả đời trong sự ám ảnh của cảm giác tội lỗi.

Năm 1966, bà Yu là một trong số nhiều Hồng vệ binh của Chủ tịch Mao Trạch Đông. Bản thân bà và hàng triệu học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông khác đã lên án giáo viên, bạn bè, gia đình mình. Họ cướp phá nhiều ngôi nhà, phá hoại tài sản của người khác. Những cuốn sách giáo khoa ngày nay giải thích Cách mạng Văn hóa – với hàng trăm nghìn người bị sát hại và hàng triệu người khác bị lạm dụng và tổn thương tâm lý – như một phong trào chính trị được chủ tịch Mao khởi xướng và lãnh đạo “một cách sai lầm”. “Nhưng trên thực tế, đó là một thảm kịch khủng khiếp mà tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm”, bà Yu nhấn mạnh.

Và điều khiến bà Yu ân hận nhất là những gì đã làm với cô giáo Zhang Jilan.

“Tôi là một trong những học sinh tích cực nhất khi lớp học tổ chức một buổi đấu tố bà Zhang”, bà Yu nhớ lại. “Tôi bịa ra những cáo buộc vô căn cứ, nói rằng bà ấy là một giáo viên nhẫn tâm, một phụ nữ lạnh lùng, mà tất cả đều sai”.

Những người khác cáo buộc cô giáo là tín đồ Thiên chúa giáo bởi vì tên của bà có chữ “Ji”, có thể liên quan tới đạo Thiên chúa. Những chỉ trích vô căn cứ của bà Yu và những người khác trong lớp sau đó được viết thành những biểu ngữ chữ lớn – một cách phổ biến để phê bình “những kẻ thù của giai cấp” và truyền bá thông điệp tuyên truyền. Những biểu ngữ này phủ kín cả bức tường bên ngoài phòng học.

Không lâu sau đó, giáo viên của bà Yu bị đưa tới chuồng bò – một nơi giam giữ tạm dành cho những người trí thức cùng “các nhân tố tư sản” – và phải chịu đủ hình thức lạm dụng, nhục mạ.

Mãi đến năm 1990 bà Yu mới gặp lại cô giáo của mình. Trong một cuộc họp lớp và đi chơi Vạn lý Trường thành, bà Yu và các bạn khác trong lớp đã chính thức nói lời xin lỗi cô giáo Zhang – người lúc đó đã ngoài 80 tuổi, về những gì họ gây ra cho bà.

Họ hỏi cô giáo mình về chuyện gì đã xảy ra trong chuồng bò. “Cũng không có gì quá tệ”, người giáo viên nói. “Tôi bị bắt phải bò như một con chó trên mặt đất”.

Khi nghe thấy điều này, bà Yu òa khóc. Khi đó bà chưa đầy 14 tuổi nhưng đã khiến cuộc sống của bà Zhang bi thảm. Hai năm sau khi được xin lỗi, bà Zhang qua đời.

Bà Yu tin rằng thế hệ của mình đã lớn lên bằng “sữa sói”: “Chúng tôi sinh ra với sự thù hận, và được dạy dỗ để đấu tố và thù hận mọi người”, cựu biên tập viên nói. “Một vài người bạn Hồng vệ binh của tôi cho rằng họ chỉ là những đứa trẻ ngây thơ bị dẫn dắt lầm lạc. Nhưng chúng tôi đều sai”.

Bà Yu cảm thấy đau lòng khi nhiều người trong thế hệ của bà chọn cách lãng quên quá khứ, và một số thậm chí còn gọi đó là “những ngày xưa tốt đẹp”, khi họ có thể đi khắp đất nước như những người có đặc quyền, những Hồng vệ binh vô tư lự.

Bà Yu thừa nhận bà phải chịu trách nhiệm về nhiều thảm kịch và các vụ hành hạ, và chỉ có thể bày tỏ hối tiếc với những người đã mất đi người thân trong Cách mạng Văn hóa.

“Nhưng tôi không muốn xin tha thứ. 

Theo VN Express, hình bà Yu của CNN Tôi muốn kể sự thật về Cách mạng Văn hóa với tư cách một người đã trải qua những ngày điên rồ và hỗn loạn, để cảnh báo mọi người về sự hủy diệt khủng khiếp, để mọi người có thể tránh lặp lại nó”, bà Yu chia sẻ.

Fb Nguyễn Thị Bích Hậu

Hai mặt của những gia đình Việt ở Mỹ

Hai mặt của những gia đình Việt ở Mỹ

Bởi  AdminTD

 Nhã Duy

30-3-2021

Tôi đọc được vài tâm tình, chia sẻ, của một anh bạn trên Facebook, nhân kỷ niệm ngày 20 năm gia đình anh đến Mỹ. Một gia đình hai con nhỏ, đến Mỹ khi hai vợ chồng đã quá tuổi 30 với tay trắng, hạn chế ngôn ngữ và xa lạ văn hóa, để tạo dựng một đời sống mới trên xứ người.

Cần mẫn vừa học vừa làm toàn thời gian đầy vất vả, anh ra kỹ sư sau năm năm đến Mỹ và chị cũng tốt nghiệp đại học sau anh ba năm. Cuộc sống bắt đầu ổn định để lo cho con cái và rồi cây trái đã trổ bông. Hai con trai bé nhỏ ngày nào đã ra trường, lại là trường danh tiếng UC Berkeley và Harvard, một luật sư và một chuẩn bị hoàn tất cao học.

Một câu chuyện đáng ngưỡng mộ và thành công, nhưng không phải hiếm hoi bởi một khuôn mẫu gia đình như vậy cũng là câu chuyện của nhiều gia đình Việt tại Mỹ. Nhưng điều đáng quý nơi họ là tâm tình cảm tạ và đầy trách nhiệm với nước Mỹ.

Anh viết: “Kỷ niệm 20 năm ngày đặt chân đến Mỹ, chúng tôi biết ơn nước Mỹ và sẽ sống một cách xứng đáng với những gì nước Mỹ đã ban tặng cho chúng tôi. Tôi vẫn hy vọng rằng nước Mỹ sẽ mãi mãi mở rộng vòng tay cho những người di dân đến sau chúng tôi“.

Còn câu chuyện gia đình thứ nhì mà tôi biết và qua những điều họ tự kể. Họ đến Mỹ đã gần 30 năm khi tuổi quá 20 rồi gặp nhau, có hai con còn đi học. Cũng cần mẫn tạo dựng, hai vợ chồng làm chủ được một tiệm nail nhỏ, tôi đoán đời sống của họ cũng khá ổn định với công việc.

Những câu chuyện như vậy khá nhiều và khá phổ biến. Bất kể công việc và hành trình ra sao, sự cố gắng vươn lên và lo cho tương lai con cái để trở thành những công dân trách nhiệm của người Việt tại Mỹ là mẫu số chung đáng trân trọng của nhiều gia đình. Nhưng câu chuyện có điều khác hơn để kể tiếp.

Chạy xe sang, ngoài căn nhà đang ở, còn có căn nhà nhỏ khác cho thuê, nhưng qua lời kể, gia đình chủ tiệm nail này khoe rằng, mỗi năm vẫn được cho tín thuế EITC (Earned Income Tax Credit) năm, sáu ngàn đô la dành cho các gia đình thu nhập thấp. Tôi ước lượng ngay thu nhập khai thuế trên giấy tờ của cả hai vợ chồng chỉ ở mức dưới 30 ngàn mỗi năm mới được vậy.

Đó là lý do gia đình họ được hưởng các phúc lợi xã hội và y tế miễn phí cho đến vài năm qua, khi những điều kiện để xin không còn dễ dãi như trước kia nên đã chuyển sang mua bảo hiểm Obamacare, được tài trợ gần như toàn bộ. Còn con cái thì không biết được Medicaid hay CHIP, một chương trình y tế cho trẻ em giá cũng rất rẻ, cũng như họ đủ tiêu chuẩn nhận chương trình tem phiếu thực phẩm (Food stamp/SNAP).

Câu chuyện gia đình thứ nhì cũng không thiếu trong cộng đồng Việt ở Mỹ, vì theo thống kê dân số Hoa Kỳ, American Community Survey 2019, thì có đến 9.9% gia đình Việt nhận trợ cấp tem phiếu thực phẩm, 3% nhận trợ giúp tiền mặt và 8.4% nhận tiền SSI, loại trợ cấp tiền mặt cho người trên 65 hay được chứng nhận tàn tật. Cũng như có đến 31.8% dân số cộng đồng, tức khoảng 600 ngàn người lớn nhỏ được hưởng miễn phí hay mua bảo hiểm y tế giá rẻ các loại từ chính phủ.

Việc nhận các phúc lợi xã hội không phải là điều để bàn, bởi đây là chương trình nhân đạo của chính phủ, có ngân sách hàng năm để giúp đỡ các gia đình nghèo hay người già không có thu nhập. Nó từng là một sự giúp đỡ to lớn cho hầu hết người Việt định cư tại Hoa Kỳ bước đầu để tạo dựng cuộc sống mới và đi lên rồi đóng góp, đáp trả lại cho xã hội.

Nhưng điều đáng nói ở đây là sự lạm dụng. Có những người ở nhà lớn, đi xe sang, xài hàng xa xỉ, vài năm vẫn “áo gấm về làng” bên Việt Nam và họ vẫn thuộc diện “nghèo”, không những chưa từng đóng thuế mà còn được lấy thêm tiền.

Đừng hỏi tại sao họ làm được? Họ biết và dám làm những điều người khác không biết hay không dám làm. Trong vụ dịch vụ khai gian tiền thất nghiệp liên quan đến hàng ngàn người Việt tại Nam Cali, văn phòng biện lý Quận Cam bảo rằng, những người làm dịch vụ bị bắt đã xin được tiền thất nghiệp cho cả cụ già trên 90 tuổi không còn sức làm việc từ lâu, hay cho tu sĩ trên 70 tuổi đang nhận tiền SSI.

Để có thêm một chi tiết khi kể về hai gia đình này và chắc chắn cho suy đoán của mình, tôi nhắn riêng anh kỹ sư để hỏi về những số tiền cứu trợ chính phủ. Đúng vậy, gia đình anh chỉ có đóng thuế. Thu nhập vợ chồng anh cao hơn mức để nhận được tiền trợ giúp trong các gói cứu trợ từ chính phủ, so với những gia đình có hai con nhỏ đủ điều kiện như gia đình thứ nhì được nhận 14,000 đô trong năm nay ($2,000 mỗi người từ chính phủ và $3,000 tín thuế cho mỗi trẻ em), không kể thêm các tín thuế EITC cùng các phúc lợi, trợ cấp học phí khác như đã kể trên.

Không lấy cái riêng để nói điều chung và chẳng thể vẽ trọn vẹn qua đôi câu chuyện nhưng hai gia đình Việt, hai câu chuyện không hiếm, hay thậm chí khá phổ biến cũng ít nhiều góp thêm một phần về chân dung cộng đồng Việt trên đất nước Mỹ. Có những công dân trách nhiệm và có những người lạm dụng hệ thống. Tôi tin rằng nhìn quanh mình thì ắt không khó bắt gặp những gia đình tương tự, cả ở ngoài đời và theo như các số liệu đã dẫn.

Có thêm điều khác biệt là anh bạn kỹ sư nói trên là một người không-Trump, là một ngòi bút sắc bén để chống lại Trump. Còn gia đình thứ nhì là một gia đình mê Trump, chửi đảng Dân Chủ và những người đã bầu cho tổng thống Joe Biden. Họ “lo” Biden mở tung biên giới để cho di dân lậu tràn vào làm gánh nặng xã hội, họ chỉ trích Biden sẽ tăng thuế người dân. Tựa như trong thế giới những người Việt-Trump vẫn thường đăng đàn bảo rằng, những người ủng hộ Biden, ủng hộ Dân Chủ chỉ là những người “ít học, ăn trợ cấp” (!?).

Cộng đồng người Việt tại Mỹ có những điều tích cực lẫn tiêu cực như vậy, cái nhìn sẽ đầy đủ hơn khi soi từng góc nhỏ khác nhau. Nhưng dẫu thế nào thì cũng sẽ khó lòng trọn vẹn hay hiểu hết được chân dung của nó. Có thể đó là lý do tại sao mà câu thơ “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu” của thi sĩ Du Tử Lê vẫn thường được người ta nhắc đến nhiều chăng?

“Ý NGHĨA CỦA DANH DỰ”

“Ý NGHĨA CỦA DANH DỰ”

(Vũ Thái)

Tháng 11, tòa báo tổ chức cuộc thi “Người thầy danh dự”, nhằm tôn vinh những thầy cô vĩ đại nhất trên cả nước. Chưa bao giờ có cuộc thi lớn như vậy, mọi ngóc ngách của hàng chục nghìn trường lớp đều xôn xao. Người ta ví von, giải thưởng về người thầy mà đình đám cứ như giải Oscar ở xứ Hoa Kỳ.

Đến đầu tháng 1, sau sự làm việc hăng hái của hội đồng xét giải, 3 người thầy đã lọt vào danh sách cuối cùng. Ba vị này, toàn các vị đã trên 50 tuổi. Vị thì đầu bạc, vị bạc một nửa, và vị thì không có tóc mà bạc.

Cô phóng viên rất thích chủ đề này nên định tới phỏng vấn cả 3 người…

Vị giáo sư đầu tiên hẹn cô tại một quán café sang trọng. Ông mặc bộ vest hợp thời, may rất khéo, bộ râu tỉa kỹ, và chiếc kính hàng hiệu tôn lên ánh mắt trầm tĩnh sâu thẳm của ông.

Cô phóng viên bị ấn tượng mạnh bởi một người đàn ông trung niên và lịch lãm như vậy. Sau màn chào hỏi, họ bắt đầu bài phỏng vấn:

– Thưa Giáo sư, danh dự có ý nghĩa gì với ông?

– Cuộc đời tôi, danh dự là quan trọng nhất. Tôi có thể mất mọi thứ, nhưng không bao giờ để mất danh dự cả.

– Giáo sư có bao giờ thất hứa?

– Tôi đã vài lần thất hứa khi còn trẻ, và người ta bắt đầu bàn tán xôn xao. Tôi cảm thấy rất khó chịu việc người khác cứ nói xấu sau lưng mình. Từ đó, tôi quyết không bao giờ thất hứa.

– Với Giáo sư, giờ giấc có quan trọng?

– Tôi không bao giờ đến muộn trong gần 30 năm nay. Và tôi cũng không ngày nào nghỉ làm cả. Công việc với tôi là một niềm vui thú.

– Ông có được nhiều đồng nghiệp, sinh viên yêu quý?

– Tất nhiên, đó là tất cả những gì ý nghĩa với tôi (ông vừa nói, vừa cười đầy tự hào).

Cuộc trò chuyện kéo dài một tiếng. Cô phóng viên rất hài lòng. Lần đầu tiên trong đời cô gặp một người thầy mực thước như vậy. Gần ông, cô cảm giác rất ấm áp, được che chở, được quan tâm, được lắng nghe. Những ai được học ông quả thực là may mắn.

***

Vị giáo sư thứ hai hẹn gặp cô tại trường học. Khi cô đến, ông đang giảng bài cho sinh viên, nên cô được mời tham gia lớp học luôn. Cô phóng viên xin phép rằng liệu giáo sư có thể giảng về danh dự được không. Ông cười hiền và đồng ý.

Giáo sư yêu cầu cả lớp, mỗi người cầm lên một vật có ý nghĩa với mình nhất bây giờ, đứng dậy và giơ nó lên. Cô phóng viên cũng cầm cốc nước trước mặt và giơ lên.

Tiếp theo, giáo sư yêu cầu giữ càng lâu càng tốt. 10 phút trôi qua, mọi người vẫn giữ được. 15 phút, những ai cầm những vật nặng thì đã bắt đầu hạ tay xuống. Cô phóng viên đầu hàng sau 30 phút, cùng hơn một nửa lớp. Sau 60 phút, người cuối cùng cũng phải đầu hàng và buông tay xuống.

Lúc này ông giáo sư mới hỏi cả lớp:

– Ban đầu, khi cầm một vật và nâng nó trước mặt, các em cảm thấy thế nào?

– Thưa thầy, rất thoải mái ạ.

– Sau 5 phút thì sao?

– Dạ, bắt đầu mỏi tay ạ.

– Sau 30 phút?

– Dạ, đau tay đến không chịu được.

– Em nào cầm vật nhẹ thì có đau tay không?

– Dạ, em cầm mỗi tờ tiền polyme giơ lên, nhưng cũng chỉ chịu được 60 phút. Đau lắm.

Ông Giáo sư ôn tồn nói:

“Vật các em nâng lên cũng như danh dự của các em vậy. Không quan trọng là danh dự của các em nặng bao nhiêu gam, chỉ cần giữ lâu thì chắc chắn sẽ rất đau.

Không ai có thể giữ danh dự cả đời được cả. Ngay cả những người hết sức vĩ đại trên đời này cũng vậy. Ngay cả Đức Phật cũng chịu bao nhiêu lời phỉ báng từ những người đạo khác. Ngay cả Chúa Giê su cũng bị treo trên cây Thánh giá. Ngay cả ông Washington, cha đẻ của Huê Kỳ, cũng bị con cháu thời nay lôi ra đâm xỉa xem đã ngủ với bao nhiêu nô lệ da đen.

Vậy nên, đừng cố giữ danh dự làm gì cả. Hãy hành xử đúng với trái tim các em.

Đừng cố tỏ ra là người tốt trước mặt mọi người, hãy cố gắng làm điều tốt nhất cho mình và cho người khác.

Các em hãy xem trái tim mình hát ở đâu, và hãy làm theo điều trái tim mình hát.”

Ông nhấp ngụm trà chay HAPI Vegan do nhóm học trò mới tặng và nói tiếp:

“Hồi trẻ thầy cũng đã từng làm hết sức để giữ danh dự của mình. Rồi đến một ngày thầy cũng nhận ra, càng cố giữ lâu thì lại càng đau, như ta cầm cốc nước vậy.

Thầy cũng đã từng làm mọi chuyện để có được sự kính trọng từ học trò các em và đồng nghiệp. Thầy cố giảng bài thật hay, ăn mặc thật lịch lãm, thầy quan tâm tới các thầy cô giáo khác.

Ban đầu thầy nghĩ là vì học trò, vì đồng nghiệp. Rồi một ngày thầy nhận ra, sâu xa nhất thầy làm tất cả là vì mình, vì cái danh dự của mình. Thầy muốn lau nó mỗi ngày, rồi đặt nó lên cao để mọi người ngước nhìn nó và trầm trồ thán phục. Thầy đã từng sống như thế. Mọi người rất yêu thầy, nhưng thầy thấy thật mệt mỏi vì luôn phải ôm cái cục danh dự của mình.

Đến khi hiểu, thầy buông nó xuống. Chỉ đến khi đó, thầy làm mọi chuyện thật tự do. Thầy mặc những bộ đồ thầy thích, không quan tâm xem ai nói mình thế nào, chỉ chú tâm sao cho học trò được tiến bộ, giúp đồng nghiệp phương pháp giảng bài hay, giúp tất cả mọi người trong công việc và cuộc sống.

Khi không còn quan tâm tới danh dự của mình, chỉ lúc đó, thầy thấy mình thật hạnh phúc.”

Ông vừa nói dứt, cả lớp vỗ tay không dứt. Cô phóng viên rưng rưng cảm động và sung sướng. Ngày hôm nay, cô và những người sinh viên này đã học được một bài học thật đáng quý.

Cô bước ra ngoài, hít một hơi thật dài. Cái lạnh đầu đông thấm vào cổ họng, chạy thẳng xuống dạ dày mát lạnh.

Hai người thầy hai phong cách. Thầy đầu tiên mang cho cô cảm giác ấm áp của một người cha. Người thầy thứ hai mang cho cô sự thức tỉnh thật mát lành, như nước suối nguồn.

Thầy đầu tiên, cô coi như thần tượng. Thầy thứ hai giúp cô thấy có một thứ gì đó nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ nổi lên trong cô.

Mãi nhiều năm sau cô mới biết, người thầy thứ nhất cho cô sự ngưỡng mộ, còn người thứ hai cho cô sự hiểu biết và hiểu biết là thứ thuộc về cô, nó nảy mầm và nó sẽ lớn.

Cô đã có một ngày đầu tuần thật đẹp. Cô sống trọn vẹn ngày hôm đó mà rất hứng khởi nghĩ đến ngày gặp người thầy thứ ba.

**

Sau cuộc trò chuyện hết sức thú vị với hai người thầy với phong cách tuy trái ngược nhưng cùng rất thu hút, cô phóng viên trẻ đẹp tài năng đi tới gặp người thầy thứ ba. Lạ thay, người này chỉ có địa chỉ, chứ không có số điện thoại, mà lại chẳng ghi trường lớp nào. Cô bắt đầu tò mò…

Người thầy này sống ở Huế, gần con sông Hương êm đềm mơ mộng nên thơ. Cũng tại nơi đây, Trịnh Công Sơn đã say ngắm cô nữ sinh thướt tha tà áo trắng hàng ngày đi học dưới hàng cây long não mà làm nên tuyệt phẩm “Diễm xưa”.

Khi đến nơi, cô lần hỏi người dân xung quanh thì mới biết cái ông mà được mọi người yêu quý bình chọn này hóa ra là… một ông lái đò, nay đã tầm 70. Ông chèo đò giữa đôi bờ sông, đưa hàng trăm người qua sông mỗi ngày. Ông chèo đò sao mà lại được bình chọn là “Người thầy danh dự” nhỉ?

Thế rồi cô đến bờ sông và không khó để tìm ra bến đò. Cả một khúc sông dài chỉ có một ông lái đò. Cô trầm trồ: “Chỉ là ông lái đò thôi mà, có cần đẹp trai như vậy không chứ?”.

Cô lại gần và nói chuyện. Hóa ra, ông lái đò này chẳng biết gì về cái giải danh dự này cả. Ông hết sức điềm nhiên, không vui mà cũng không không vui khi biết tin mình được nhận giải thưởng cao quý này. Vẻ điềm nhiên này có lẽ đã tạo nên nét đẹp ở ông.

Ở người này, không hiểu sao, cô thấy sự an toàn, sự ấm áp, thân thuộc. Và rồi cô quên béng nhiệm vụ đến phỏng vấn mà thao thao kể cho ông về chính mình, về nghề báo mà cô mới tham gia, về những người cô may mắn được phỏng vấn trong những ngày chập chững vào nghề.

Ông lái đò nhìn cô phóng viên bằng ánh mắt trìu mến như nhìn đứa cháu yêu quý lâu ngày không gặp. Đợi cô dứt lời, ông nói: “Tôi cũng có chuyện này muốn kể cho cô. Tôi chắc là cô sẽ thích”…

– Cách đây mấy chục năm, tôi tốt nghiệp trường Sư phạm và về Huế làm giáo viên dạy Văn. Hồi trẻ, tôi đẹp trai lắm, lại còn tài hoa và hào sảng nên mấy cô nữ sinh mê tôi lắm. Mấy cậu nam sinh thì coi tôi như thần tượng.

Trong đó, tôi đặc biệt quý một cậu học trò. Cậu này nhà nghèo, học siêu giỏi, đĩnh đạc oai phong, đầy nghị lực. Cậu ấy học tôi 3 năm cấp 3 và lấy tôi là hình mẫu để cậu ấy cả đời vươn tới. Bây giờ, cậu ấy đã là một ông giáo sư danh tiếng, và cũng chính là người thầy đầu tiên mà cô tới phỏng vấn đấy.

Khi cậu ấy ra trường được vài năm, thì tôi gặp chuyện. Hồi đó, do đẹp trai quá mà tôi bị ông hiệu trưởng Chu Du ganh ghét, tìm cách hãm hại và đuổi tôi khỏi ngành.

Thế là tôi phải đi tìm việc và bén duyên với nghề lái đò này. Nhiều năm đầu, tôi cực kỳ oán hận ông hiệu trưởng, và dồn nén cái sự bực tức của mình lên vợ con.

Tôi chán đời nên đâm rượu chè, rồi đánh vợ đánh con. Từ một người thầy trẻ tương lai tươi sáng vậy mà đùng một phát trở thành anh lái đò thấp kém, tôi không cam tâm. Cuộc sống tôi thật đen tối trong suốt nhiều năm như vậy.

Thế rồi, mọi chuyện thay đổi trong một chuyến đò chiều cách đây 20 năm.

Hôm đó, tôi chở vài người qua sông, gồm một sư thầy nổi tiếng khắp vùng, hai đệ tử theo hầu, hai mẹ con một thiếu phụ, một cậu thanh niên ước chừng 30 đang bước đầu vào nghiệp kinh doanh, một ông thầy giáo trẻ và một ông say rượu.

Đò đến giữa sông, đứa bé mải nghịch nước mà ngã xuống, la lên inh ỏi. Bà mẹ không biết bơi nên cầu cứu mọi người trên đò cứu đứa bé. Ông say rượu kia đang lơ thơ thì tỉnh đầu tiên và quay sang hỏi vị sư danh tiếng (lúc đó đang nhắm mắt tọa thiền): “Ông có biết bơi không?”

Vị sư đáp: “Tôi có biết bơi, thưa thí chủ”.

Thế là ông say rượu đột nhiên đạp vào mông sư thầy té xuống sông rồi nói “Vậy thì cứu đứa bé đang sắp chết đuối kia đi”.

Sư thầy như chợt bừng tỉnh, vội bơi ra kéo đứa bé đưa lên đò. Hai đệ tử theo hầu thầy tức tối xông lên định đánh ông say rượu. Sư thầy quát đệ tử “Dừng lại”.

Rồi ông tới gần, cúi lạy ông say rượu một lạy: “Xin cám ơn ông, nhờ ông mà tôi đã thức tỉnh”.

Rồi ông quay sang giảng giải cho hai đệ tử đi cùng:

“Các con à, ta xưa nay quá chú trọng vào hình thức, phải đi đứng khoan thai, phải ở chùa đẹp, phòng ốc gọn gàng, bàn thờ thanh tịnh.

Do quá chú trọng mấy thứ bề ngoài như vậy nên ta quên mất đi vào sửa cái bên trong. Rồi người khác cũng chỉ nhìn thấy vẻ ngoài cao cao tại thượng của ta mà lầm ta đã đắc đạo.

Họ càng tôn thờ ta thì cái cục danh dự mà họ phong cho ta càng lớn. Ta dồn quá nhiều năng lượng trông coi cái cục danh dự ấy, luôn luôn sợ nó mất sáng mất đẹp mà quên đi mất việc chính của mình là phải tu tâm.”

Rồi ông đột ngột ném chiếc áo cà sa hàng hiệu, đính đầy đá quý của mình xuống sông. Trước sự ngạc nhiên của hai đệ tử, ông giải thích:

“Chiếc áo không làm nên thầy tu. Nhưng vì chiếc áo này mà đã ngăn ta xuống cứu đứa bé. Ta chỉ bo bo giữ thể diện, giữ cái tiếng thầy nổi tiếng của mình mà thôi, rồi ta quên mất trước mắt ta có một người đang chết đuối. Trong khi đó, vị thí chủ kia dù say rượu nhưng thấy người hoạn nạn là lập tức tỉnh ngay. Vị ấy cố tình đá vào mông ta nhằm đánh thức ta.

Hôm nay, ta đã học được một điều thiêng liêng. Bất kỳ ai trên đời nếu giúp ta nhận ra cái sai thì đều là thầy ta. Mà sai thì sửa. Con đường ta đi từ giờ sẽ là không sợ sai, nhận sai và sửa sai”.

Ba thầy trò cùng nhìn mặt sông tĩnh lặng, mặt tràn đầy hạnh phúc.

Cậu thanh niên trên đò chứng kiến từ đầu câu chuyện cũng bừng tỉnh. Cậu đã 30 tuổi, đã bước vào nghề kinh doanh một thời gian nhưng sao cứ lao đao mãi. Đến hôm nay cậu mới ngộ ra hóa ra để thành công thì cần không sợ sai. Chỉ đơn giản vậy thôi. Không sợ sai thì mới thấy cái sai của mình và sửa sai. Nhận ra càng nhanh thì sửa càng nhanh. Niềm vui thú đến quá đột ngột khiến tóc trên đầu cậu ngay lập tức bạc một nửa. Nhiều năm sau này, giới doanh thương gọi cậu là Dương Quá, một doanh nhân thành đạt cả tâm cả trí.

Thầy giáo trẻ cũng vừa quá 30. Nghe xong câu chuyện, ngay lập tức tóc cậu rụng hết. Con người cũ chỉ chăm chăm lau chùi danh dự hàng ngày, đặt nơi cao nhất cho mọi người chiêm ngưỡng đã biến mất. Từ đó, cậu sống tự do với trái tim mình, đi theo nơi nào trái tim mình hát. Cậu ấy bây giờ chính là người thầy thứ 2 mà cô đã phỏng vấn đấy.

Còn tôi, tôi thấy thật sự hạnh phúc, vì chỉ vài phút ngắn ngủi mà bao nhiêu chuyện đã xảy ra.

Người thầy tu học được cách tu tâm, chứ không tu tướng như trước đây.

Người doanh nhân trẻ học được bài học về thành công ở đời là không sợ sai.

Người thầy giáo trẻ học được cách đặt danh dự xuống và sống tự do theo trái tim mình.

Hóa ra, nghề chèo đò cũng có thể làm được nhiều điều có ích vậy.

Và tôi cũng hiểu, tôi có thể mang trái tim một ông giáo với cái vỏ là một người chèo đò.

Kể từ đó, mỗi chuyến đò, tôi kể lại câu chuyện này. Tôi tiếp tục học nhiều thứ, chia sẻ, giúp đỡ những người đi đò. Tôi dạy dỗ cả những em học sinh hàng ngày vẫn đi qua chiếc đò nhỏ này. Mỗi ngày hàng trăm người. Tôi mang trái tim của một thầy giáo tới hàng trăm người mỗi ngày, được giúp đỡ họ về mọi thứ vướng mắc trong cuộc sống của họ. Có lẽ chính họ là người bình chọn tôi trong cái giải này mà chính tôi cũng không hề quan tâm.

Vì tôi hiểu mình cho đi, nhưng mình không hề mong nhận lại bất cứ cái gì, không mong đợi lòng biết ơn, không mong ai phải tôn trọng mình, không vì giải thưởng hay cúp nào cả. Tôi đơn thuần chỉ giúp tất cả mọi người tôi có thể giúp. Tôi yêu nghề chèo đò. Tôi tự do và hạnh phúc, và gia đình tôi cũng hạnh phúc hơn rất nhiều kể từ ngày đó.

Đó là toàn bộ câu chuyện.

Cô phóng viên trẻ lắng nghe hồi lâu. Cô thấy mọi chuyện thật huyền diệu. Mọi chuyện cô thấy thích thú trong những ngày gần đây hóa ra đều xuất phát từ một chuyến đò. Và rồi cô chợt khóc. Mẹ cô vẫn hay kể lại chuyện hồi nhỏ cô nghịch nước trên đò và bị rơi xuống sông, rồi may mắn được một sư thầy cứu giúp. Đã hai mươi năm rồi. Và sứ mệnh của cô là viết lại câu chuyện tuyệt vời này cho nhiều người được biết.

Cô gạt nước mắt và quay sang hỏi ông lái đò: Ông có biết vị sư thầy và ông say rượu nọ nay ở đâu không?

Ông lái đó cười hiền từ: Tôi biết.

…..

Cô phóng viên, sau duyên tao ngộ kỳ lạ với ông lái đò, đã xin địa chỉ của sư thầy, người đã cứu mạng cô hai mươi năm về trước. Ông đang là trụ trì một ngôi chùa nhỏ ở ven hồ Tây.

Sau khi trở về Hà Nội, cô lập tức tới gặp sư thầy. Ông nay đã lớn tuổi, tóc râu bạc trắng, ung dung tự tại, điềm nhiên như mặt hồ tĩnh lặng.

Vừa trông thấy sư thầy, một sự rung động mãnh mẽ nổi lên trong lòng cô gái. Cô kể lại toàn bộ quá trình cô tìm được thầy để cảm ơn, từ cuộc bình chọn “Người thầy danh dự”, tới những cuộc phỏng vấn kỳ lạ.

Nghe xong, ông nhấp ngum trà, rồi nói với cô:

– Con gái à, tòa soạn báo các con nhọc công đi tìm người thầy danh dự, vậy con có thể cho ta biết danh dự của con đâu không, có thể lấy ra cho ta xem không?

– Dạ, ý thầy là gì ạ? – cô phóng viên trẻ ngỡ ngàng.

– Theo con, thế nào là danh dự?

– Dạ, danh dự là tất cả những gì người khác nghĩ về mình.

– Vậy thì nếu người khác nghĩ về con chính là danh dự của con thì danh dự của con nằm trong tay ai, trong tay con hay trong tay người khác?

Cô gái sững người, lặng một lúc rồi trả lời: “Thưa thầy, danh dự của con nằm trong tay người khác ạ.”

Sư thầy lại nhấp ngụm trà, bình thản nói: Danh dự của con nằm trong tay người khác, vậy con có tất cả bao nhiêu cục danh dự? Mỗi người nghĩ về con giống nhau hay khác nhau? Hoàn toàn khác nhau. Ai cũng có suy nghĩ của họ.

Nếu vậy thì mỗi người lại nắm giữ một cục danh dự của con. Vậy thì có hai vấn đề:

. Thứ nhất, danh dự của con nằm trong tay người khác nên nếu con quá coi trọng thứ gọi là danh dự đó, coi hạnh phúc của con nằm ở danh dự, thì khác nào hạnh phúc là thứ quý giá nhất với con mà con lại trao trong tay kẻ khác.

. Thứ hai, có hàng nghìn cục danh dự như vậy, con có thể nào lau chùi cho nó sạch sẽ được không. Trong khi nếu muốn, bất kỳ ai cũng có thể làm bẩn cục danh dự của con, vì nó nằm trong tay họ.

Con gái à, như vậy, cái danh dự mà các con tôn vinh liệu có thực sự cần thiết không? Mỗi người sẽ nghĩ về con với một phiên bản khác nhau. Dù con có là thiên thần, có tốt đẹp đến đâu chăng nữa, thì vẫn có một nửa thế giới coi con là ác quỷ, vì đơn giản, với một tâm xấu ác thì họ thường sẽ nghĩ ai cũng xấu ác. Họ không thể nào hiểu nổi phẩm tính mà họ không có.

. Cái ông thầy đầu tiên trong câu chuyện của con, rồi ngày nào đó ông ta sẽ phải khổ, vì cố giữ cái không thể nào giữ nổi. Ông ta chỉ sống theo cái mà xã hội muốn ông ta là, chứ không phải cái ông thực sự là. Ông ta nằm trong nhà tù của xã hội phong cho ông ta.

. Ông thứ hai, biết buông xuống có thể sống một đời nhẹ nhàng.

. Ông thứ ba, không còn nghĩ tới nó, biết giữ trái tim đẹp – không quan tâm cái vỏ, làm từng việc nhỏ theo trái tim mình hát, sẽ có một đời tự do tự tại.”

Cô phóng viên trẻ thực sự cảm động. Những lời của sư thầy đã đi sâu vào trái tim cô. Cô không kiếm tìm, nhưng cô nhận được.

Có lẽ do dòng nhân quả cứ thế trôi, nghĩ tốt sống tốt sẽ có ngày nhận được những điều tốt, gặp được những người tốt. Cô biết ơn cuộc đời đã cho mình gặp được những con người kỳ lạ, được nghe những câu chuyện sâu sắc này. Cô cảm thấy vui hơn. Cô yêu đời hơn, yêu cỏ cây, hoa lá một cách nhẹ nhàng.

Hồ Tây thật tĩnh lặng. Mặt nước thật đẹp. Lòng người cũng nhẹ nhàng hơn…

– Vũ Thái –

Bức thư của người đàn ông tên Cố Điển Điển đăng trên trang cá nhân khi vừa chia tay vợ được 24 giờ

Mạng xã hội ngày hôm nay đang ‘dậy sóng’ bởi bức thư của người đàn ông tên Cố Điển Điển đăng trên trang cá nhân khi vừa chia tay vợ được 24 giờ:

“Hôm qua, tôi đã ly hôn vợ. Khoảnh khắc bước chân vào Cục dân chính, tôi tràn đầy niềm vui bởi từ giờ sẽ không bao giờ phải nghe người phụ nữ này cằn nhằn nữa. Tôi có thể thản nhiên hút thuốc hoặc đi nhậu với bạn bè, về nhà không còn nhìn thấy khuôn mặt cau có và già nua của cô ấy.

Mặc dù bố mẹ tôi không đồng ý việc ly hôn và nói rằng thật đáng thương cho hai đứa trẻ, nhưng tôi đã chịu đựng nhiều năm rồi và không thể tiếp tục được nữa. Đối với các con quả thật tôi có lỗi, nhưng đều đặn đóng tiền sinh hoạt hàng tháng, chúng sẽ vẫn yêu tôi và mang họ của tôi.

Sau khi ly hôn, tôi hẹn vài người bạn đi uống bia. Họ đều ghen tị khi biết tôi bây giờ rất rảnh rỗi. Một trong những người bạn nhận được cuộc gọi từ vợ khi anh ta vừa ăn được nửa bữa cơm, hỏi khi nào về nhà. Một người khác nhận được điện thoại từ đứa con, nói rằng đợi bố về để cùng giải bài tập.

Lúc chưa ly hôn, vợ cũ chắc chắn sẽ gọi điện cho tôi, hỏi vài câu ngớ ngẩn với giọng điệu tức giận. Mỗi lần như vậy tôi chỉ đáp vài câu chiếu lệ rồi dập máy. Nhưng bây giờ thì khác, tôi đã tự do, sẽ chẳng ai gọi điện làm phiền và cũng chẳng ai nhắn tin giục về.

Thật sự, có vài giây trong buổi tối đó, tôi có cảm giác người từng ở bên cạnh mình không còn nữa. Nhưng ngay sau đó, cảm xúc này bị tôi lãng quên, và dự định sẽ uống rượu với bạn bè cả đêm. Nhậu đến 1h sáng tôi bắt taxi về , trời đã tối và trong nhà không có ánh đèn, tôi vô thức gọi tên “vợ” và chợt nhận ra mình đã ly hôn. Tôi nằm trên giường, khát khô cổ và muốn uống một cốc nước nhưng chẳng ai rót nước cho. Tôi định đi tắm, nhưng không tìm thấy bộ đồ ngủ của mình.

Hôm sau tôi ngủ một giấc đến 10h sáng, mở mắt ra thấy căn phòng im ắng khủng khiếp, không ai gọi tôi dậy ăn sáng. Tôi đứng dậy và đi vào bếp, nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Trong tủ lạnh có thịt bò và vịt, tất cả các món yêu thích , nhưng không ai chế biến giúp tôi bây giờ. Cuối cùng tôi chọn một gói mì ăn liền. Không còn ai ngăn cản chuyện ăn đồ nhanh không tốt cho sức khỏe nữa. Trong nhà im ắng, không một tiếng động nào.

Sau khi ăn no, tôi nằm trên ghế sofa, vô tình nhặt được bài kiểm tra của con gái thứ hai rơi ở gầm ghế. Tôi mở ra xem mới biết con mình đã học tới lớp 5, phía dưới bài kiểm tra có chữ ký của vợ cũ.

Lần đầu tiên tôi phát hiện ra vợ mình làm tất cả những việc trong gia đình này.

Mới 24 giờ kể từ khi ly hôn, tôi cảm tưởng đã trải qua một tuần. Đây rõ ràng là nhà của mình, tuy sống ở đây nhưng luôn cảm thấy mọi thứ đều xa lạ.

Tôi không thể tìm thấy bộ quần áo muốn mặc, không nhớ cái bấm móng tay ở đâu. Khăn giấy vệ sinh không còn nữa, cũng chẳng biết tìm ở đâu để thay thế. Căn bếp cũng trở nên xa lạ, đã không còn mùi thơm nữa. Sàn phòng ngủ bẩn nhưng tôi chẳng muốn động tay chân.

Đột nhiên tôi cảm thấy mình đã trở thành “đồ bỏ đi”, chẳng biết làm gì ngoại trừ việc đi làm. Tôi thực sự hối hận, chỉ 24 giờ sau ly hôn, tôi bắt đầu nhớ những ngày tháng bên vợ.

Trước đây, tôi luôn nghĩ làm phụ nữ thật dễ dàng, đàn ông kiếm tiền nuôi gia đình mới khó nhưng giờ tôi mới phát hiện vợ mình không sống dễ dàng chút nào. Cô ấy phải làm việc không kém gì đàn ông với những công việc không tên.

Tôi thấy vợ mình già nhanh chóng, đôi khi chế nhạo cô ấy là “vợ béo” nhưng không biết lý do vì sao lại vậy. Đó là vì cô ấy ăn uống đạm bạc và không bao giờ mua các sản phẩm chăm sóc da đắt tiền, chăm chút cho bản thân.

Tôi từng không thích vợ mình cằn nhằn, nhưng giờ mới hiểu đó là cách làm của nhiều phụ nữ quan tâm tới chồng. Cô ấy dặn tôi không được hút thuốc, không nghe điện thoại khi lái xe và không uống quá nhiều rượu vào ban đêm. Cái nào trong số này không phải vì lợi ích của tôi?

Trên đời này thứ không mua được chính là thuốc hối hận. Có những người chỉ biết quý giá thứ gì đó khi đã mất đi. Thật nực cười, tôi phát hiện ra mình thuộc loại người này.

Tôi nhớ khi mới kết hôn, vợ cũ chỉ là một cô gái mỏng manh và dịu dàng. Sau này, khi sinh con, nghe cô ấy hét lên đau đớn trong phòng sinh, lúc đó tôi tự nhủ mình phải dành cả cuộc đời để bảo vệ và nâng niu vợ. Nhưng bao năm rồi tôi không cho cô ấy được sống một ngày thoải mái, có khi công việc không suôn sẻ, về đến nhà là tôi phải xả hơi vào vợ, dẫn đến cãi vã triền miên.

Tôi thấy trên mạng có câu: Đàn ông bất tài thích quát mắng vợ.

Tôi từng ghét và phản đối câu nói này, bây giờ nghĩ lại, có lẽ tôi quá bất tài, không thể cho cô ấy và hai đứa con điều kiện sống tốt . Đôi khi cô ấy vu vơ nói kiếp sau sẽ không muốn trở thành phụ nữ, giờ thì tôi mới hiểu.

Chỉ một ngày sau ly hôn, tôi phát hiện ra trong gia đình có quá nhiều việc đều do cô ấy làm. Không phải ngày một ngày hai mà là hơn mười năm rồi, tôi cũng tự hỏi bản thân ngoài việc kiếm tiền cho gia đình, mình còn làm được gì nữa không?

Tôi không nấu ăn, không giặt quần áo, thậm chí không buồn vò đôi tất bẩn cũng như chưa bao giờ đi đổ rác. Tôi cũng không kèm bài tập về nhà cùng con và chưa khi nào đưa con đến trường. Ngay cả khi bố mẹ tôi bị ốm, vợ cũng là người phải chăm sóc.

Cô ấy ăn uống đạm bạc và không bao giờ chịu mua những thứ đắt tiền, nhưng lại rất hào phóng với tôi, vì sợ chồng mất mặt bên ngoài. Cô bận rộn nhất khi gần đến Tết, không chỉ dọn dẹp nhà cửa mà còn chuẩn bị những bữa cơm thịnh soạn.

Và bây giờ, tôi đã ly hôn với cô ấy.

Tôi từng nghĩ ly hôn nhất định sẽ tìm được người khác tốt hơn, trẻ trung hơn. Nhưng soi gương thấy cái bụng bia nhô cao và mái tóc thưa dần, có lẽ chẳng còn ai yêu tôi như cô ấy từng yêu.

Cuộc đời của một người phụ nữ, kể từ khi kết hôn, giống như dành những năm tháng đẹp nhất của mình cho một người đàn ông. Điều một người đàn ông cần là bảo vệ, cưng chiều và coi vợ như một công chúa nhỏ.

Giờ tôi đã hiểu chân lý này, nhưng mọi thứ đã quá muộn.

Nếu ông trời cho tôi một cơ hội, tôi sẽ không bao giờ cãi nhau với cô ấy nữa, và cũng không nói câu “ly hôn” một cách bốc đồng”

From: TU-PHUNG

Hoa Cứt Lợn – Tưởng Năng Tiến

Hoa Cứt Lợn – Tưởng Năng Tiến

Tôi ít học và lười đọc nên mãi đến năm 2011 mới được nhà văn Vũ Thư Hiên giới thiệu cho tập Tùy Tưởng Lục của Ba Kim. Qua tác phẩm này, tôi lại biết thêm một người cầm bút (danh tiếng) khác của đất nước Trung Hoa – Lão Xá.

Ông cũng là một nạn nhân bi thảm trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá. Cứ theo như  lời của Ba Kim thì Lão Xá đã “ngậm hờn mà chết.” Ông trầm mình vào ngày 24 tháng 4 năm 1966, với lời trối trăn (“Tôi yêu nước ta lắm chứ, thế nhưng ai yêu tôi?”) khiến ai cũng cảm thấy ngậm ngùi.

Nỗi đắng cay của Lão Xá cũng khiến tôi nhớ đến đôi lời cay đắng (khác) nghe được ngay sau khi Chiến Tranh Việt Nam vừa chấm dứt:

Gần nhà tôi có cụ Lập, hơn bảy chục tuổi, thổi clarinette dàn nhạc cung đình của Bảo Đại, cùng dàn nhạc theo cách mạng, đánh Pháp rồi tập kết ra Bắc… Sống một mình. Nghèo, đói…

Bây giờ, tôi mau mắn mừng cụ sắp được đoàn tụ gia đình. Nhưng cụ nắm tay tôi:

– Cảm ơn ông, đoàn với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân… Tôi về đó vẫn lại trơ làm thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình… Ra đi để thống nhất đất nước, bây giờ ai thống nhất với thân già tôi? (Trần Đĩnh. Đèn Cù II. Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Cụ Lập, tất nhiên, không phải là người duy nhất sống “nghèo đói” và “trơ trọi một mình” như thế. Tôi còn biết thêm nhiều ông cụ nữa, cũng rơi vào hoàn cảnh bẽ bàng (và lỡ làng) tương tự:

“Điển hình nhất là ông Đốc Huệ và ông Đốc Thỉnh của tỉnh Bến Tre. Một học giả uyên thâm có bằng cử nhân Văn chương Pháp thời Pháp thuộc có được mấy người. Nếu ở lại với Pháp thì ông đã vinh thân phì da vào hạng nhất Nam kỳ, nhưng ông đã đem cả gia đình đi kháng chiến. Ra Bắc về Nam hai lần. Khi hiệp ước Hòa Bình 54 được ký kết ông Thỉnh bị bỏ quên…

Riêng ông Mười Huệ chủ tịch tỉnh Bến Tre chín năm liền, ra Bắc được phong cho chức Thư ký của Hội Việt Pháp Hữu Nghị ở đường Lý Thường Kiệt và được cho ở trong một cái garage tồi tàn dột nát đầy sách nát của Tây vứt lại trước khi chúng chuồn. Ông Mười có bệnh cánh tay phải, không được săn sóc, không có cả bếp để nấu cơm phải đi ăn vất vưởng ở hợp tác xã bữa có, bữa không hoặc bằng những ổ bánh mì nguội nài nỉ mua bằng những hào bạc hiếm hoi còn sót lại của tháng lương chết đói.

Ngồi viết những dòng này tôi còn trông thấy ông trên những nẻo đường kháng chiến của Ba Tri, Giồng Trôm, Tán Kế mà tôi kính yêu như một thần tượng. Ôi kháng chiến mà chi. Anh dũng mà chi. Thành Đồng Đất Thép để làm gì? Tất cả đều đút vào mồm con sói mặt đỏ Bắc kỳ tên là Hồ Chí Minh thôi. Một tên sát nhân, một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam.” (Xuân Vũ & Dương Đình Lôi. 2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi. QII. California: Xuân Thu, 1998).

Tôi hoàn toàn chia sẻ cái tâm cảm uất hận của nhà văn Xuân Vũ. Tuy thế, tôi e rằng ông không được hoàn toàn khách quan khi mang hết đám dân miền Nam tập kết bỏ chung vào … một rọ để cho “một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam” lạm dụng. Thực tế thì cũng có kẻ này, kẻ nọ, chớ Bác và Đảng đâu có bạc đãi tất cả mọi người.

Gần đây, trên trang Vietnamnet (đọc được vào hôm 13/05/2020) Ths Vũ Thị Kim Yến có những ghi nhận như sau :

Đến năm 1975, hơn 15.000 học sinh miền Nam được đào tạo qua bậc đại học và sau đại học ở các trường đại học trong và ngoài nước. Phần lớn các “hạt giống đỏ” mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân miền Bắc gieo trồng ngày nào đã nẩy mầm thành những cây vạm vỡ, vững chắc.

Trong số này, có 6 ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TƯ Đảng; 18 nguyên ủy viên TƯ Đảng, 3 Bí thư Tỉnh ủy; 18 Thứ trưởng và Chủ tịch tỉnh…

Điển hình như nguyên Phó Chủ tịch QH Trương Quang Được, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm UB Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng Văn hoá Nguyễn Khoa Điềm, nguyên Trưởng Ban Nội chính TƯ Nguyễn Bá Thanh…

Nhiều học sinh miền Nam trở thành lãnh đạo cấp cao trong lực lượng công an, quân đội như Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thượng tướng Trương Quang Khánh, Trung tướng Bùi Quang Bền…

Đặc biệt, hiện tại, nhiều học sinh miền Nam vẫn đang đảm nhận những trọng trách rất quan trọng của đất nước như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân, Chánh án TAND tối cao Nguyễn Hòa Bình…

Không ai chối cãi được rằng có những hạt giống đỏ miền Nam mà Bác và Đảng gieo trồng nay đã đơm bông. Chỉ có điều đáng tiếc lại là loại hoa hôi. Tuy đều “đảm nhận những trọng trách rất quan trọng của đất nước nhưng những nhân vật thượng dẫn đều không thực hiện được một thành quả nào ráo, ngoài những lời lẽ mị dân hoặc những câu tuyên bố ngây ngô hay sáo rỗng:

Nguyễn Thiện Nhân: “Đến năm 2010, giáo viên sống được bằng lương.”

Nguyễn Xuân Phúc: “Hợp tác xã là con đường để đưa nhân dân đến gần hơn với lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội.”

Nguyễn Bá Thanh: “Sắp tới tôi sẽ rà một số cái, cho hốt liền, khỏi nói nhiều.”

Nguyễn Hòa Bình: “Nếu không có đủ căn cứ chứng minh là tội nặng thì phải quyết có tội nhưng tội nhẹ.”

Nguyễn Khoa Điềm: “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ.”

Gọi họ là những tinh hoa của miền Nam trong đám người tập kết thì (nghe chừng) không ổn. Về hạn từ này, dịch giả Phạm Nguyên Trường đã rất cẩn thận khi dụng bút: “Nghĩa của từ ELITE: the richest, most powerful, best-educated, or best-trained group in a society cho nên nếu luôn luôn dịch là TINH HOA thì e rằng không đúng.” Vẫn theo lời ông thì có lắm kẻ chỉ đáng gọi là thuộc giới ăn trên ngồi trốc.

Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là  những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!

Tưởng Năng Tiến

03/2021

 

ĐỪNG CẬY DỰA QUÁ VÀO TIỀN CỦA MÀ HÃY CẬY DỰA VÀO THIÊN CHÚA

ĐỪNG CẬY DỰA QUÁ VÀO TIỀN CỦA MÀ HÃY CẬY DỰA VÀO THIÊN CHÚA

(Tâm Tình Mùa Chay)

 Tuyết Mai

** Nói chung thì có tiền mới cho gia đình cuộc sống thoải mái và cho chúng ta những thứ cần thiết trong đời sống rất căn bản ngày qua ngày – như có chỗ ăn, chỗ ở và chỗ nghỉ ngơi sau một ngày làm việc vất vả.

Thiếu “Tiền” là chuyện mà không ai biết rành hơn bằng người homeless cả và họ cũng đông vô số kể nhưng Thiên Chúa của chúng ta hẳn đâu có muốn họ ra như thế nhưng vì cuộc đời Chúa đã tác thành cho từng người và ban cho tất cả có cuộc sống tự do – nên hậu quả không tốt là do chính họ đã để cho sự dữ dẫn đi sai đường mà Thiên Chúa không ngăn cản được.

** Nhưng nếu chúng ta cứ mãi sống trong hốt hoảng, lo âu và phát bệnh vì cứ lo sợ rằng ngày mai chúng ta sẽ thiếu tiền hay hết tiền xài thì là điều quá đáng vì chúng ta thiếu tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa. Đấng luôn yêu thương, luôn trao ban cho con người cuộc sống dư đầy và sung mãn.

Và Thiên Chúa đã chứng minh điều đó qua cái chết nhục hình mà Chúa Giêsu (Con duy nhất của Chúa Cha) đã phải gánh chịu để chứng minh tình yêu trọn vẹn là gánh thay mọi tội lỗi của con người. Để rồi con người sau khi lìa đời cũng sẽ được lên Trời sống hạnh phúc bên ba ngôi Thiên Chúa, Chúa chúng ta.

** Giả như ngày hôm nay Chúa gọi ta ra khỏi đời này mà về với Chúa thì chúng ta sẽ trả lời sao với Chúa đây?. Hay rằng thưa: “con chưa muốn đi vì con chưa kịp sống”. Hay rằng con chưa thỏa mãn vì chưa đủ giàu; chưa tậu đủ những thứ con ao ước muốn có, chưa có được vợ đẹp con khôn hoặc con chưa trả thù được mối thù của những người đã hại con, v.v.v…

** Nếu sự trả lời của chúng ta là một trong những điều tương tự giống như ở trên hoặc hơn nữa thì đã chứng minh cho thấy chúng ta là con người ích kỷ và đã sống quá trật với con đường mà Thiên Chúa đã dạy cho chúng ta cách rồi đó không? Đó là con đường yêu thương, những tưởng ai cũng làm được nhưng thực sự thì rất khó cho những ai sống trong ích kỷ.

Vì con đường mà Thiên Chúa muốn Nơi ta đến không cần mang theo bao bị hay ba-lô gì cả như khi Chúa sanh ta ra đời trần truồng thế nào thì khi ta ra đi ta trần truồng thế ấy, để trở về cùng cát bụi.

** Nơi ta đi không cần phải có ba-lô chất cho thật nặng, thật đầy những lượng vàng trong đó. Chỉ sợ rằng ba-lô càng nặng, càng đầy thì sức nặng của nó chỉ kéo chúng ta xuống Hỏa Ngục nhanh hơn chúng ta có thể ngờ được. Chúng ta cần hiểu rằng tiền, tài, danh vọng và mọi thứ quý giá nhất trên trần gian này đối với Thiên Chúa chúng chỉ là những phân bớn dơ bẩn mà thôi.

Do đó sự khôn ngoan nhất của người Kitô hữu là luôn sống trong sự chuẩn bị; chọn cách sống sao để bất cứ giờ phút nào Chúa đến gọi ta ra khỏi cuộc đời này… Thì sẽ là điều vui mừng khấp khởi mà thân thưa cùng Chúa rằng: “Lạy Chúa, con sẵn sàng và xin vâng để được về với Chúa ngay liền giây phút này đây”.

** Nếu chúng ta không biết cách sống sao cho nên tốt thì khuyên nên tìm đọc những gương tốt lành của các thánh khi các ngài còn sống để giúp chúng ta sống được bình an trong tâm trí và trong tâm hồn. Học cách dùng đồng tiền để sinh mưu ích, để được có lợi ích cho linh hồn của chính mình và của nhiều linh hồn khác nữa.

Nếu chúng ta biết để mọi việc và mọi sắp xếp cho Chúa cùng đem Lời Chúa ra thực hành. Vì nếu không thì ai có thể đảm bảo được linh hồn sống đời của chúng ta sẽ không bị quỷ dữ chúng khống chế, lấy cắp và đem theo xuống Hỏa Ngục muôn đời.

** Ở đời thì ai cũng học biết sự Căng Thẳng về tiền bạc nó giết người cách im lặng nhất, nhanh nhất và độc hại nhất vì không có dấu hiệu báo trước. Một là cho ta đứt mạch máu não. Hai là bị nhồi máu cơ tim. Đối với chúng ta thì điều nào cũng là khủng khiếp và không ai muốn cho ngày đó xảy ra cả!

Ấy vậy mà khi xẩy ra thì là do chính chúng ta gây ra và rồi phải tự một mình gánh chịu. Thưa có thực tế lắm không vì nếu chúng ta có còn sống đi chăng nữa thì cũng chẳng còn một người thân để ở đó chăm sóc, hầu hạ cho chúng ta ngày đêm, khi thân xác sống như loài thực vật.

Hóa ra thì tiền chúng ta làm ra dành dụm, cất giấu bấy lâu; bao nhiêu cơ đồ chúng ta cố công gầy dựng… ai đâu đó sẽ hưởng dùng hay phá đổ mà chúng ta không còn làm gì được.

** Lạy Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, trong Mùa Chay Thánh này xin Chúa mở rộng lượng từ bi giúp cho đôi mắt đức tin của chúng con được sáng hơn. Đổi mới trái tim để biết rung cảm trước tình người hơn và sưởi ấm tấm lòng của chúng con để chúng con sống bác ái hơn. Nhất là hiểu rằng con người thì luôn cần có Chúa hơn hết cả thảy, hơn cả bất cứ kho tàng quý giá nào trên trần gian này. Vì khi chết là chấm dứt tất cả. Amen.

** Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

28 tháng 3, 2021

***

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

http://www.youtube.com/watch?v=1g-kjKGbEZI

(Hãy Tìm Chúa Vì Kiếp Người Sống Là Bao)

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Kimtrong Lam  Lương Văn Can 75.

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Người Dịch: Nguyên Phong

Bác sĩ Elizabeth Kübler-Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết:

“Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được.”

Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La Revue Spirite:

Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử.

Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: “Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?”

Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con.”

Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.

Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: “Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi.”

Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cầu cơ này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành bức thư như sau:

Các con thân mến,

Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội nói lại cho các con biết.

Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mỏi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.

Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với “tần số rung động” (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.

Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặt câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.

Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Sử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Sử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.

Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.

Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú, v.v…

Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là khuôn vàng thước ngọc thì đời sau lại bị coi là cổ hủ, lỗi thời; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi những giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.

Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.

Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán… nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang những thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vật chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kết hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự trải nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.

Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên cá nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một dòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sự của nó. Cũng như sóng biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu. Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi. Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở.

Nguyên Phong dịch

CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Lm. Kiều Công Tùng

Nghi thức tuần thánh khởi đầu bằng một cuộc kiệu Lá để tưởng niệm việc Chúa Giêsu vào thành Giê-ru-sa-lem.  Một cuộc kiệu tưng bừng tiếng tung hô: “Hoan hô thái tử nhà Đa-vít!  Chúc tụng Vua Ít-ra-en,” nhưng lại nhuốm buồn vì liền ngay sau đó chúng ta được nghe trình thuật về cuộc thương khó của Chúa.  Trong suốt Tuần Thánh này, có ba cuộc kiệu như thế.  Hai cuộc kiệu còn lại vào chiều thứ Năm tuần thánh – kiệu Mình Thánh Chúa, và Đêm Vọng Phục Sinh – kiệu Nến Phục Sinh.  Những cuộc kiệu trong khung cảnh cuộc thương khó vừa mở ra trước mặt chúng ta một con đường, vừa như là một nhắc nhớ: đằng sau buồn thương có niềm vui cứu độ, qua khổ nạn sẽ là Phục Sinh.

Đường đưa tới vinh quang

 Bài thương khó theo thánh Mát-thêu đã gợi lên những hình ảnh xem ra hoàn toàn trái ngược với cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem.  Thật vậy, việc Chúa được dân chúng tung hô đón rước khi Ngài vào thành thánh chỉ là hình ảnh báo trước vinh quang đích thực Ngài sẽ nhận được khi Chúa Cha cho Ngài sống lại từ cõi chết.  Nhưng để được vinh quang ấy, Đức Giêsu phải đi vào con đường khổ nạn, phải tự hiến mình làm hy lễ dâng lên đẹp lòng Cha.

Rất nhiều lần chiêm ngắm bức ảnh Chúa hấp hối, chúng ta thấy được gì phía sau hình ảnh một Chúa Giêsu đẹp đẽ uy nghi quì gối bên một phiến đá dưới ánh trăng vàng đầy thơ mộng?  Chúng ta có nhận thấy một Đức Kitô đang gập mình xuống đất, oằn oại trong cơn khủng hoảng vượt quá sức mình?  Chúng ta có hiểu được lời Ngài thổ lộ với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26, 38) và cả tiếng kêu thống thiết trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

Nỗi đắng cay như vây kín và xiết chặt lấy Ngài, đắng cay của người bị bạn mình phản bội, của Thầy bị môn đệ chối từ và bỏ rơi, của Đấng cứu tinh bị dân mình loại trừ.  Tất cả đều do sự ích kỷ, lòng kiêu căng và nỗi tham vọng của con người.  Thân xác Chúa khổ sầu đến nỗi mồ hôi máu đổ ra và tâm hồn Ngài gần như tan nát không phải vì những roi đòn và nhục mạ, nhưng chính là gánh nặng của tội lỗi nhân loại. “Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53, 4).

Qua khổ nạn mới đến Phục Sinh.  Đó chính là chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, nhờ đó Chúa Cha và Chúa Con được tôn vinh.  Còn trong thực tế cuộc sống, có nhiều người lại muốn đạt đến vinh quang bằng những con đường ngắn nhất và dễ nhất.  Cuối cùng, những gì mà họ có được chỉ là hư ảo, tầm thường nhất và cũng mau qua nhất.

Đường nở hoa tình yêu

 Đức Giêsu chịu chết khổ hình nhằm cứu chuộc nhân loại và cũng để tôn vinh Thiên Chúa Cha.  Nhiều khi ta tự hỏi: có cần phải như thế với một Thiên Chúa quyền năng?  Hẳn rằng điều làm cho Hiến Lễ Thập Giá của Đức Giêsu trở nên có giá trị và đem lại ơn Cứu Độ không phải là đau khổ hay sự chết, mà là tâm tình vâng phục trong yêu mến đối với Chúa Cha; nhưng chính đau khổ và Thập Giá lại là cách thế diễn tả tâm tình đó thật tuyệt vời.

Sự vâng phục yêu mến của Đức Giêsu đã được I-sai-a báo trước qua hình ảnh người tôi trung: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50, 5).  Còn thánh Phao-lô đã ca ngợi: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 7 – 8).  Lời cầu nguyện của Đức Giêsu thưa với Chúa Cha trong vườn cây Dầu đã nói lên tất cả sự vâng phục yêu mến: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26, 42).

Con Thiên Chúa đâu có lạ gì với những đau khổ của phận người khi bước vào trần gian.  Đứng trước con đường khổ nạn, Ngài không hỏi tại sao cũng chẳng buông lời nguyền rủa, nhưng Ngài đã bước đi và đi tới cùng với tất cả tình yêu, tình yêu thật lớn lao dành cho Cha và nhân loại, và lập tức bao nhiêu đau khổ kia trở nên ý nghĩa.  Con đường Thập Giá bỗng nở hoa rộn ràng.  Cây Thánh Giá đã trở nên lộng lẫy với vương miện tình yêu.  Qua đó, Đức Giêsu cũng dạy cho con người một bí quyết để sống hạnh phúc, để có hòa bình: Tình yêu và tha thứ.

Như thế, con đường mà Phụng Vụ Tuần Thánh đang mở ra cho chúng ta chẳng phải là “con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về,” nhưng là con đường đã in dấu chân, đã thấm mồ hôi và đã mang cả trái tim của Thầy Giêsu – Con Đường Thập Giá.

Cùng Chúa ta lên đường

 Lời Chúa hôm nay muốn đưa chúng ta vào mầu nhiệm thánh giá của Đức Giêsu không phải để gợi lên trong ta niềm thương cảm đau xót, nhưng là muốn mời gọi chúng ta hãy can đảm bước theo Đức Giêsu trên con đường thập giá.  Rước lá đi theo Chúa trong vài giờ là điều dễ.  Theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô, chẳng khó khăn gì.  Nhưng tiếp tục theo Ngài và ở lại khi Ngài bị mọi người bỏ rơi, điều đó khó hơn nhiều.

Pascal đã nói: “Chúa Giêsu sẽ còn hấp hối đến tận thế.”  Mỗi năm có hàng triệu thai nhi bị loại khỏi lòng mẹ một cách bất công.  Và còn bao nhiêu người đang ở trong điều kiện sống chẳng xứng với phẩm giá của mình.  Đó chính là Đức Kitô đang hấp hối giữa thế giới hiện đại.  Chúng ta vẫn gặp những Kitô hữu đang bị lo lắng, buồn rầu, ấm ức… dày vò nghiền nát.  Đó chính là Đức Kitô đang hấp hối trong nhiệm thể Ngài.  Và chính đời sống chúng ta nhiều khi cũng nhuốm phiền muộn, bất an, lo sợ, nghi ngại và xáo trộn.  Nếu ta biết đón nhận với lòng khiêm tốn và tình yêu để cứu rỗi thế gian thì trong ta, Đức Kitô cũng đang tiếp tục hấp hối và thân thưa với Chúa Cha rằng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin vâng ý Cha hoàn toàn.”

Đã hơn 2000 năm rồi, tất cả những gì đã xảy ra dường như vẫn đang còn diễn lại.  Chúng ta vẫn đang cùng Đức Giêsu đi vào đời và ở trong đời với lý tưởng cứu thế.  Chớ gì lời Đức Giêsu mời gọi: “Hãy vác thập giá mình hằng ngày” (Lc 9, 23) luôn vang vọng bên tai chúng ta mỗi khi phải đối mặt với thử thách hay khi bị lăng nhục nhạo cười…  Sau khi đã hiểu thấu ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa, hẳn chúng ta sẽ thấy yêu Thánh Giá của Chúa hơn, và cũng mến Thánh Giá của mình hơn, đồng thời biết kính trọng Thánh Giá của người khác nữa.

Chiêm ngắm Đức Giêsu chịu Thương Khó, có lẽ mỗi người chúng ta đều rất sốt sắng với lời hát: “Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình…  Xin giúp con đường thiêng liêng theo lối…”  Chớ gì chúng ta luôn có được tâm tình của Đức Giêsu hôm nay, để hân hoan tiến bước vào đời tiếp tục con đường nên Thánh và cứu thế của Ngài, Con Đường Tình Yêu dẫn tới Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.

Lm. Kiều Công Tùng

From: Langthangchieutim

Luật Bù Trừ

CÙNG NHAU SUY GẪM…

Mỗi cuộc chơi đều có quy luật riêng của nó và cuộc đời mỗi người chúng ta đều phải vận động trong quy luật tối cao nhất trong trời đất. Có bao giờ bạn than trách về sự bất công của cuộc sống hay phàn nàn với những điều bất hạnh xảy ra với ta.

Mời các bạn chiêm nghiệm những quy luật sống trong đời để nhìn nhận sâu sắc hơn về cuộc sống xung quanh ta các bạn nhé!

***

Luật Bù Trừ

Một thực tế mà chúng ta thường thấy trong cuộc sống về quy luật bù trừ đó chính là câu chuyện về trúng số độc đắc.

Rất nhiều trường hợp sau khi may mắn sở hữu gia tài đồ sộ nhờ vào phần thưởng trúng số thì sau một thời gian, họ lại lâm vào tình cảnh nợ nần, bệnh tật, gia đình mất hạnh phúc…

Mọi chuyện trên đời này đều có sự đánh đổi lẫn nhau. Trong quy luật này, cái lợi luôn đi cùng với cái hại và ngược lại khi được một thứ gì thì lại mất đi một cái khác.

Chúng ta nên sống dựa theo quy luật này để cảm thấy bình tĩnh trước những mất mát trong cuộc đời và đừng quá tự mãn về những gì mình đang có.

Không ai biết sự đánh đổi này sẽ xảy ra khi nào. Cuộc sống vốn dĩ luôn vận động và vô thường như thế.