Câu Chuyện Cuộc Sống

 

GÓC SUY GẪM…

Câu Chuyện Cuộc Sống

Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông:

– “Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?”

Hasan đáp:

– “Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.

Người đầu tiên là một tên trộm.

Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng.

Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời:

– “Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm.”

Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo:

– “Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!”

Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi:

– “Có trộm được gì không?”

Ông ta đều đáp:

– “Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ”.

Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.

Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này.

Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: “Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!”

Người thầy thứ hai là một con chó.

Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta:

– “con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.

Người thầy cuối cùng là một đứa bé.

Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé:

– “Con tự thắp cây nến này phải không?”

Đứa bé đáp:

– “Thưa phải.”

Đoạn ta hỏi:

– “Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?”

Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói:

– “Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?”

Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.

***

Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể.

Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò, nhưng đừng làm thày. Điều này có nghĩa là gì?

Nghĩa là bạn có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học hỏi để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật…!

CẰN CỖI THIÊNG LIÊNG

CẰN CỖI THIÊNG LIÊNG

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai không ở trong Thầy, thì bị vứt ra ngoài như nhành nho, và sẽ khô héo.”

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến sự gắn bó, kết hiệp, sinh trái của những linh hồn tháp nhập vào Chúa Giêsu.  Bên cạnh đó, Tin Mừng còn nói đến sự khô héo, sự vô dụng; hay đúng hơn, một sự “cằn cỗi thiêng liêng” của một linh hồn lãng quên Thiên Chúa, khác nào cành nho tách khỏi thân nho.  Chúa Giêsu nói, “Ai không ở trong Thầy, thì bị vứt ra ngoài như nhành nho, và sẽ khô héo.”

Chúng ta thường nghe, “Tiền vào, Chúa ra!”  Điều này đúng không chỉ với tiền, nhưng cũng đúng với bất cứ cái gì không thuộc về Chúa.  Thật dễ dàng để lãng quên Thiên Chúa khi cuộc sống của chúng ta quá bận rộn; hoặc khi mọi thứ diễn ra quá tốt đẹp, khiến chúng ta dễ dàng lãng quên Thiên Chúa.  Một khi không nhận ra điều đó, chúng ta bắt đầu tách mình khỏi Thiên Chúa như cành nho tách rời thân nho.  Hãy nhìn vào thời gian cầu nguyện của chúng ta!  Nó là một nhiệt kế luôn luôn chính xác.  Một khi tách khỏi “thân nho Giêsu”, giờ cầu nguyện của chúng ta sẽ ngày càng ngắn lại cho đến khi gần như tắt lịm.  Chúng ta đi con đường riêng của mình, giảm thiểu cầu nguyện và không chóng thì chày, bỏ cầu nguyện và rơi vào một sự “cằn cỗi thiêng liêng.”  Tuy nhiên, vấn đề không nhất thiết là phải bỏ qua một bên các hoạt động khác để đi cầu nguyện nhưng chúng ta sẽ làm tất cả bổn phận Thiên Chúa trao đang khi yêu mến Ngài và ước ao kết hiệp với Ngài.

Tách mình ra khỏi “thân nho Giêsu” để đầu tư sức lực của mình vào những việc khác, ai trong chúng ta cũng biết điều gì sẽ xảy ra.  Điều xảy ra là, chúng ta sẽ không tạo nên được một hoa trái nào đúng nghĩa.  Đây cũng là kinh nghiệm của thánh Augustinô, “Việc Chúa Giêsu nói thêm “Không có Thầy, anh em không thể làm gì được” là để nhấn mạnh một sự thật rằng, tự sức chúng ta, bằng nỗ lực riêng mình, chúng ta thậm chí, sẽ không thể tạo ra một trái tốt ‘nhỏ.’”  Đó là hậu kết của cái gọi là “cằn cỗi thiêng liêng.”  Điều xảy ra tiếp theo sẽ là những gì tệ hại nhất, linh hồn bị ném ra ngoài như một cành khô; những cành vô dụng này sẽ được gom lại, ném vào lửa và bị đốt cháy.

Từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được tháp nhập vào Chúa Giêsu; ai trong chúng ta cũng muốn sinh trái dồi dào, tạo nên một sự khác biệt, mang lại một sự thay đổi cho cộng đồng, cho thế giới… điều đó thật hấp dẫn và có ý nghĩa với mỗi người.  Thế nhưng, ai trong chúng ta cũng đã trải nghiệm một sự thật rằng, chỉ khi kết hiệp với Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể trổ sinh hoa trái lâu dài cho Vương Quốc Nước Trời; đây cũng là cách thức chúng ta tôn vinh Chúa Cha.  Được như thế, mỗi người sẽ cảm nhận rằng, nhựa sống của Chúa Kitô đang luân chuyển trong linh hồn mình.  Cuộc sống của chúng ta sẽ nở hoa cho người khác; đó là những bông hoa của Thánh Thần: bác ái, hoan lạc, bình an, đại lượng, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà và tiết độ.  Những bông hoa này không chỉ tỏa hương hôm nay, nhưng vương mãi hương thơm cả khi chúng ta đã lìa thế.

Trong túi áo của một em bé đã chết ở trại tập trung Ravensbrück, nước Đức, người ta đọc được lời nguyện này, “Lạy Chúa, xin hãy nhớ đến không chỉ những thiện nam tín nữ của Chúa mà còn nhớ đến cả những người ác ý.  Nhưng xin Chúa đừng nhớ tất cả những đau khổ mà họ đã gây ra cho chúng con; thay vào đó, xin nhớ đến những hoa trái mà chúng con đã trổ sinh vì sự đau khổ này.  Đó là tâm tình hiệp thông của chúng con, lòng trung thành, sự khiêm tốn, lòng can đảm, sự rộng lượng của chúng con; đó là sự vĩ đại của những trái tim đã trưởng thành từ những cực hình này.  Khi những kẻ bắt bớ chúng con đến để chịu sự phán xét của Chúa, xin hãy để tất cả những hoa trái mà chúng con đã sản sinh trở thành sự tha thứ mà Chúa nhân từ sẽ dành cho họ.”

Anh Chị em,

Không ai trong chúng ta không ngưỡng mộ sự cao thượng của em bé Ravensbrück; và cũng không ai muốn cho mình ra cằn cỗi.  Vì sự èo uột, sự “cằn cỗi thiêng liêng” của chúng ta là nỗi nhục cho Thiên Chúa; Chúa Giêsu đã nói, “Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là, anh em sinh nhiều hoa trái.”  Muốn được vậy, chúng ta phải ở lại trong Chúa Giêsu.  Chỉ khi ở lại trong Ngài, nhựa sống thần linh nguyên tuyền của Thiên Chúa mới có thể luân lưu trong ta, nhựa sống của Ngài làm cho chúng ta đầy sinh lực thiêng liêng để sinh hoa trái.  Bởi chưng, là Kitô hữu, chúng ta không chỉ “sống với Chúa Giêsu”, “sống cho Chúa Giêsu” mà còn phải “sống trong Chúa Giêsu.”  Nhận thức được tầm quan trọng này, Chúa Giêsu đã thiết tha van nài mỗi người chúng ta, “Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, để con khỏi “cằn cỗi thiêng liêng”, xin giúp con bám chặt vào Chúa.  Nhờ việc rước lấy Thánh Thể và Lời Chúa soi rọi mỗi ngày, xin cho con biết củng cố mối dây hiệp nhất trong Chúa; nhờ đó, niềm tin và tình yêu của con với Chúa ngày càng lớn lên, vì Chúa là tất cả của con,” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

Tâm tình của một người Úc gốc Việt Lưu Vong gời đến các cháu Du Học Sinh tại Úc và khắp nơi trên thế giới.

Nói với các cháu, các em du học sinh và thế hệ trẻ người Việt qua Úc sinh sống chỉ hơn 10 năm vừa qua – những ai vẫn còn ôm lòng thù hận người Việt Cộng Hoà

Tôi không đại diện cho tiếng nói của ai cả và tôi hy vọng sẽ có những người Việt từng sống trên quê hương thứ hai, hơn 30 năm như tôi sẽ chia sẻ quan điểm này.

Trước hết tôi muốn các bạn hiểu tôi không thù ghét hay kỳ thị người Việt dù các bạn từ đâu tới, được giáo dục dưới chế độ nào, miễn các bạn biết tôn trọng cái khác biệt giữa những người khác biệt với các bạn.

Và kế nữa, nếu các bạn chọn sống nơi cộng đồng người Việt chúng tôi cùng quây quần chung sống mấy mươi năm nay thì các bạn hãy nhớ cho một điều; thế hệ cha, chú, bác, ông, cô, bà của chúng tôi đã từng liều mình vượt biên, đánh cược với cái chết để tìm đường TỰ DO sau năm 1975 – sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam VN. Họ là những người thiết lập nên cộng đồng mà các bạn đang sống giữa nơi ấy.

Họ, những người vượt biển lánh nạn cộng sản không khác gì người Việt cổ khi hai Bà Trưng thua trận với Mã Viện, khi Lĩnh Nam rơi vào tay nhà Hán đã lánh nạn Hán nô. Các tướng lĩnh của hai Bà Trưng không chấp nhận bị đô hộ, họ đã chạy ra biển tìm đường TỰ DO… Những người Việt cổ này đã trở thành người Minang Kabau – một phần của dân tộc Indonesia bây giờ. Tôi muốn kể cho bạn biết, để bạn hiểu rằng muốn một cuộc sống TỰ DO là phải ĐÁNH ĐỔI hoặc phải TRÂN TRỌNG người đi trước.

Cộng đồng người Việt lánh nạn cộng sản đã bỏ đi, người CS đã cầm quyền đất nước mấy chục năm nay. Chúng tôi không đòi hỏi gì từ nhà cầm quyền ngoài đòi quyền TỰ DO/ NHÂN QUYỀN cho người trong nước. Chúng tôi không đòi điều gì từ những người lãnh đạo nước VN ngoài công việc giữ cho TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ LÃNH HẢI.

Chúng tôi đi chỉ mang theo cờ vàng ba sọc đỏ.

Cớ sao dưới sự lãnh đạo đại tài của chế độ cộng sản – một chế độ luôn miệng bôi xấu chế độ tư bản, các bạn phải qua các đất nước TƯ BẢN để du học hoặc tìm đường ở lại?

Chúng tôi đã trải qua những năm tháng dài không có nước mắm, không có rau muống, nói chi đến phở, bánh mì như bây giờ… Cộng đồng người Việt lánh nạn cộng sản dần dần lớn mạnh và hình thành những mảng Việt Nam khắp nơi trong các đất nước TƯ BẢN thì các bạn lại lục đục kéo qua đây sinh sống trong các khu vực của người Việt lánh nạn cộng sản.

Thử hỏi nếu không có chúng tôi đi trước thì cuộc sống của các bạn ở đây sẽ vất vả ra sao? Đương nhiên bạn sẽ không bao giờ nếm trải qua, vì có lẽ bạn sinh ra trong những gia đình cán bộ cộng sản khá giả, lớn lên trong quyền lực và khi qua đến chỗ của chúng tôi ở, thì cũng giống như các bạn ở trong một đất nước VN ngoài tổ quốc VN, với đầy đủ tiện nghi của kẻ đi sau.

Các bạn ôm lòng tôn thờ Hồ Chủ Tịch của các bạn và đã được dạy để căm thù chúng tôi – những người Việt Nam Cộng Hoà (không còn quê hương, chỉ còn lá cờ vàng ba sọc đỏ). Vậy tại sao các bạn còn chạy theo và biến thành nỗi ám ảnh cho chúng tôi? Nếu còn chọn sống trong cộng đồng của chúng tôi thì điều tối thiểu nhất các bạn cần phải hiểu rằng “họ là những người lánh nạn cộng sản, lánh loài quỷ đỏ, họ đã lánh xa được rồi! Đừng quấy rầy họ!”

Các bạn ạ! Ở VN các bạn có thể dùng quyền lực của cha ông để áp đảo, để chà đạp lên những gì bạn không thích, nhưng ở các nước TƯ BẢN, nơi có pháp luật đứng ngoài quyền lực chính trị, không ai ngồi xổm trên pháp luật được đâu!

Hãy học tôn trọng cái khác biệt của những người khác biệt với bạn. Bài học này khó khi bạn đã bị nhồi nhét quá lâu với lòng căm thù và lối suy nghĩ một chiều. Thôi thì hãy học tự chủ và học rằng ở ngoài này không cư xử kiểu rừng rú được đâu! Pháp luật ngoài này cũng không dễ mua bằng tiền. Ráng mà sống tốt để còn xin được ở lại nếu muốn.

* Tôi không thể nghĩ ra tại sao cháu trai trẻ này lại có lòng thù hận quá đáng sợ như vậy đối với lá cờ vàng ba sọc đỏ?

It’s really disturbing!

46 Năm Sau Cuộc Chiến Và Những Câu Hỏi Còn Bỏ Ngỏ

46 Năm Sau Cuộc Chiến Và Những Câu Hỏi Còn Bỏ Ngỏ –

Song Chi

Đã 46 năm kể từ khi chiến tranh VN kết thúc. Thời gian dài gần bằng hai thế hệ.

Người cộng sản luôn tự hào là họ đã kết thúc được cuộc chiến, thống nhất được đất nước! Cứ mỗi dịp này báo chí nhà nước ở VN lại chạy hết công suất để nhắc lại những “chiến công” lừng lẫy trong “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”…còn bên kia ở hải ngoại nhắc lại những nỗi đau của “tháng Tư đen”.

Chỉ vài năm gần đây, những cụm từ như “chế độ ngụy, tay sai bán nước” một thời thường được “bên thắng cuộc” dùng để nói đến chế độ VNCH cũ đã bớt đi, một số bài viết cũng khéo léo dùng chữ “mừng ngày thống nhất đất nước” hơn là “mừng ngày chiến thắng”

Ngược lại, theo thời gian ngôn từ căm hận trong những bài viết của “bên thua cuộc” cũng nhẹ bớt. Nhưng tôi thấy vẫn còn đó nỗi đau, sự tiếc nuối cho một chữ “nếu” của lịch sử trớ trêu.

Cùng với nỗi đau chung cho đất nước là nỗi đau về những mất mát riêng của từng cá nhân, từng gia đình khi một biến cố lịch sử ập đến, đã làm đổi thay bao nhiêu số phận.

Có cả những câu chuyện của những người thuộc phe chiến thắng nhưng cũng ẩn chứa những nỗi đau khác, có người ngay sau ngày tiếng súng vừa tắt, đã ngồi bên vệ đường Sài Gòn để khóc vì biết mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời tuổi trẻ để đi “giải phóng” một quốc gia tự do, nhân bản, văn minh, phồn thịnh hơn quốc gia nơi mình sinh ra và lớn lên, có người nhiều năm sau mới ngậm ngùi nhận ra mặt trái của tấm huân chương…

Cuộc đời của mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam tự nó đã là một cuốn sách, một bộ phim, qua đó người ta có thể hình dung được một phần bức tranh của dân tộc và nếu chỉ cần kể lại một cách trung thực, thì rất nhiều cuộc đời đó còn chân thực hơn gấp bao nhiêu lần những cuốn sách, bộ phim, của người Mỹ hay của người Việt, đã viết, đã thực hiện, về Chiến tranh Việt Nam.

Cũng như bao nhiêu gia đình người Việt khác, gia đình họ hàng tôi có cả hai phe Nam – Bắc và cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi theo chiều ngược nhau sau 30/04.

Sự ly tán đã có trong thời chiến, thời hậu chiến gặp lại nhau, không ai bảo ai nhưng có một chủ đề chung đều muốn né tránh là chuyện chính trị, chuyện chiến tranh. Họ hàng thì vẫn là họ hàng, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng quan điểm chính trị chẳng phải lúc nào cũng đồng thuận, trong một dòng họ đã như thế, nói gì giữa nhà cầm quyền với người dân.

Rồi hàng chục năm sau, họ hàng tôi lại tiếp tục ly tán, quê hương không còn là nơi đất lành chim đậu nên nhiều người phải bỏ nước ra đi, tản mác khắp bốn phương trời. Nhưng dù đã là công dân của nước khác, đa số người Việt vẫn đau đáu chuyện quê nhà, thì giờ dành để theo dõi, vui buồn theo từng biến cố ở VN nhiều hơn dành cho những sự kiện ở quê hương thứ hai.

– Vì sao không quên được quá khứ?

Chỉ có thế hệ trẻ như con gái tôi, rời nước khi còn ở tuổi thiếu niên, hay những bạn trẻ sinh ra ở nước ngoài là không quan tâm bao nhiêu tới VN, và không hiểu nổi tại sao người Việt không thể quên?

Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều người, rằng tại sao người Việt, ở cả hai phe, cứ luôn nhắc hoài về quá khứ? Sao không bỏ qua, cùng nhau nhìn về phía trước để xây dựng đất nước? Tại sao 40, 42, rồi 46 năm trôi qua nhưng hàng chục triệu người Việt, dù có dính líu trực tiếp đến cuộc chiến hay không, vẫn không thể bình an, thậm chí như một nhà thơ từng nói, là bị hội chứng PTSD (post-traumatic stress disorder)?

Câu trả lời thật ra rất đơn giản. Nếu sau chừng ấy năm, Đảng Cộng sản làm cho đất nước trở nên giàu mạnh, bảo vệ được chủ quyền trọn vẹn về lãnh thổ lãnh hải, người dân thực sự được sống trong một xã hội tự do, dân chủ, nhân bản, tiến bộ, Việt Nam có vị thế của mình trên thế giới, thì vết thương của cuộc chiến tranh đã qua, dẫu có tàn nhẫn đến đâu, cũng sẽ tự lành. Cả dân tộc sẽ khép lại quá khứ, chấp nhận thực tại và hào hứng hướng về tương lai. Chính vì đảng cộng sản không làm được như vậy, thậm chí ngược lại, nên nỗi đau vẫn cứ còn mãi, thời gian càng lùi xa, càng đau…

Đẩy nhân dân vào cuộc chiến tương tàn vì lý tưởng XHCH nhưng sau đó Đảng Cộng sản đã phản bội lại chính những lý tưởng, học thuyết, mô hình thể chế chính trị mà họ từng mù quáng tin và bắt nhân dân phải tin theo. Họ đã phản bội lại hàng triệu người dân miền Bắc, trong đó có những người ngã xuống vì tin vào “cuộc chiến tranh thần thánh chống Mỹ, giải phóng miền Nam”, cho một tương lai tốt đẹp hơn! Tất cả những gì họ đã từng hô hào chống lại trước kia giờ đây họ lại làm theo, nhưng tồi tệ hơn!

Không biết cần bao nhiêu thời gian để phục hồi, xây dựng lại là sự tàn phá về thiên nhiên-môi trường, về văn hóa, đạo đức xã hội, và về nhân cách, khí chất, lòng tự tôn của một dân tộc?

ĐCSVN đã bỏ qua rất nhiều cơ hội “vàng” để hòa giải hòa hợp thực sự với bên thua trận, với nhân dân, và để chuyển hóa thành một thể chế dân chủ đa đảng, hội nhập với xu hướng tiến bộ chung của thế giới.

Nghiêm trọng nhất là mối quan hệ bất xứng, thiệt thòi và nguy hiểm cho độc lập dân tộc của VN giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam-Trung cộng trong suốt một thời gian dài, khiến Việt Nam phải liên tiếp trải qua hai cuộc chiến tranh khác là chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam, mất đảo, lãnh thổ, lãnh hải, phụ thuộc nặng nề về kinh tế, chính trị, và luôn luôn đứng trước nguy cơ hiểm họa bành trướng của Trung cộng.

Tất cả những điều đó đã làm cho nỗi đau tháng Tư vẫn không thể nguôi vơi trong lòng rất nhiều người dân Việt Nam như tôi.

Nhưng không thể cứ nhìn mãi về quá khứ, về những sai lầm, những cơ hội đã bị bỏ lỡ.

Một lần nữa, như một sự trớ trêu của lịch sử, Việt Nam lại nằm trong khu vực sẽ trở nên sôi động nhất, “nóng” nhất trong tương lai gần, với sự đối đầu giữa hai phe, một bên là Hoa Kỳ và các nước đồng minh, bên kia là Trung cộng vừa bắt tay với Nga, và có thể có thêm Iran, Bắc Hàn, cùng cạnh tranh khốc liệt để giành ảnh hưởng, vị trí trên toàn cầu.

Nhìn lại thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai phe tư bản-cộng sản, Việt Nam có học được bài học lịch sử để một lần nữa, không trở thành con tốt trên bàn cờ chính trị thế giới, hoặc lẻ loi đơn độc và cuối cùng buộc phải ngả vào sự kiềm tỏa của phe Trung-Nga, liệu có là câu hỏi chỉ dành riêng cho nhà cầm quyền, hay cho tất cả người dân?

Từ giữa thập niên 1970, thế giới đã chứng kiến làn sóng thứ ba của quá trình dân chủ hóa lần đầu tiên diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha, rồi một số quốc gia trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, ở Trung Âu và Đông Âu là những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đã làm sụp đổ cả khối XHCN cũ.

Sống ở châu Âu nhưng tôi vẫn nhận thấy thật rõ thời gian gần đây một số quốc gia Á Đông tiếp tục có những chuyển động giữa một bầu không khí đang nóng lên trong toàn khu vực. Người dân Thái Lan đã đứng lên biểu tình chống lại chính phủ hiện tại và yêu cầu cải cách chế độ quân chủ, người dân Myanmar đang đổ máu từng ngày để đòi lại nền dân chủ non trẻ vừa bị quân đội thực hiện đảo chính và có nguy cơ trở lại với chế độ độc tài quân phiệt. Nhiều người đã bắt đầu nói đến một làn sóng dân chủ thứ tư sắp đến.

Chỉ có Việt Nam dường như vẫn đứng ngoài mọi biến động. Điều đáng buồn là người Việt, vốn đã chia rẽ vì nguyên nhân lịch sử, mấy năm vừa qua lại thêm chia rẽ vì bất đồng quan điểm khi nhận định về chính trị Mỹ, cộng với sự đàn áp ngày càng hà khắc của công an Việt Nam, khiến những tiếng nói đối lập, những hành vi phản kháng gần như chìm lắng hẳn.

Mỗi thế hệ suy cho cùng cũng chỉ có thể chịu trách nhiệm về những gì xảy ra trong thời của mình. Làm sao để Việt Nam không tiếp tục chịu số phận đi sai đường và thường xuyên bị nhỡ tàu, mà có thể hội nhập với thế giới tự do, để mai này đất nước, con người Việt Nam được “giải phóng” khỏi mọi sự kìm hãm và phát triển hết mức có thể; làm sao để 5, 10 năm nữa người Việt có thể thanh thản khi nhìn lại những trang sử cũ, là trách nhiệm của thế hệ hôm nay.

Song Chi

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả Song Chi, ra đi từ Sài Gòn, tỵ nạn tại Na Uy và hiện sống ở Anh.

https://www.bbc.com

Quan niệm về “tội phạm nguy hiểm” của cộng sản Việt Nam

 Hoa Lys  is with 

Võ HongLy

02.05.2021

Đôi bàn tay của chị Phạm Đoan Trang chỉ biết cầm bút viết lên sự thật và đòi quyền sống chính đáng của con người thì lại bị còng bởi cái vòng số 8 oan nghiệt.

Còn đôi bàn tay của tên Cao Trọng Phú thì cầm súng và giết luôn hai mạng sống con người nhưng lại được thả tự do ung dung hút xì gà ngay trước ống kính của truyền thông.

Quan niệm về “tội phạm nguy hiểm” và sự “nhân văn” của cộng sản vì thế thật là “lạ”!

Sống trong chế độ xã nghĩa, điều gì có thể lan tỏa tình yêu thương, thẩm thấu chạm vào được tâm hồn yêu Tự Do và làm thức tỉnh lương tri của con người thì lại bị coi là “nguy hiểm”, là “xâm phạm an ninh quốc gia”. Thương chị Phạm Đoan Trang và những người đã luôn lên tiếng cho sự công chính.

May be an image of 4 people and text that says 'RFA'

THẾ GIỚI VÌ SAO CÓ CHIẾN TRANH?

THẾ GIỚI VÌ SAO CÓ CHIẾN TRANH?

Thế gian này có lẻ từ trong thâm tâm không một ai thích chiến tranh cả. Bởi chiến tranh có người chết,có đạn pháo, ly tan, có thảm sát…

Nhưng các công ty sản xuất vũ khí vẫn bán được súng, loài người vẫn quan tâm khi có một thứ vũ khí mới ra đời với các tính năng đặc biệt. Vũ khí hạt nhân vẫn được nhiều nước đua nhau sở hữu. Trên thế giới này vẫn chưa ngày nào dứt tiếng súng.

Đó là vì loài người chưa bao giờ nguôi ngoai được lòng tham được sở hữu quyền lực.

Nếu ai cũng như nước Mỹ chấp nhận lá phiếu của dân bầu, chấp nhận cạnh tranh sòng phẳng với đảng đối lập, ai cao phiếu kẻ đó nắm quyền ,không gian lận, không sử dụng các học thuyết để lừa dối dân nhằm khiến dân suy tôn mình thành Thánh để nắm quyền thì sẽ không cần chiến tranh.

Nhưng ngặt nỗi ai cũng muốn làm vua chứ không ai muốn làm dân.

Các chế độ quân chủ gây chiến tranh để thanh toán nhau nhằm tranh đoạt ngai vàng.

Các tôn giáo đánh nhau để chứng tỏ tôn giáo mình là chân lý , là duy nhất đúng.

Các quốc gia đánh nhau để bành trướng thành đại đế quốc, để phát huy tinh thần dân tộc mình là thượng đẳng là giống người cao quý nhất.

Và rất nhiều tầng lớp nhân dân dùng chiến tranh để tự vệ , để lập lại công bằng xã hội, để có luật pháp.

Ai cũng cho mình đúng, vậy thì ai sai ?

Kẻ sai chính là những kẻ đưa quyền hành về tay một cá nhân, gia đình , đảng phái.

Nhưng những kẻ này không bao giờ thừa nhận mình tham lam quyền lực. Họ lúc nào cũng bảo mình vì quốc gia dân tộc, vì nhân dân hy sinh, vì bình đẳng bác ái… để lừa dân đăng lính chết thế.

Bọn độc tài đảng trị chẳng coi chủ nghĩa cộng sản ra gì. Nhưng vì chủ nghĩa cộng sản lấy thuế lũy tiến đem lại phúc lợi xã hội cho người nghèo nên chúng dùng chủ nghĩa này để bịp dân, khiến dân theo chúng tạo nên hàng chục sư đoàn hùng hậu để tiến hành chiến tranh thâu tóm quyền lực.

Trump chẳng khoái gì chủ nghĩa thượng đẳng da trắng nhưng chủ nghĩa này có thể giúp Trump thuyết phục được tinh thần chủng tộc “good gen” của phần lớn dân da trắng châu Âu sang Mỹ định cư nên dùng nó để mong có nhiều phiếu cử tri để đè bẹp đảng dân chủ.

Trump biết rõ đảng Dân chủ không giống với bọn độc tài Lenin, Mao, Hồ, Castro nhưng thấy chủ trương lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo của đảng Dân chủ thoát thai từ CNCS nên tội gì không vu vạ cho đảng Dân chủ để tiến tới quy về chế độ một đảng để có thể cầm quyền trọn đời hay truyền ngai vàng cho Ivanka , cháu ngoại ,cháu nội.

Và chiến tranh xuất phát từ đây.

Quân đội Myanmar đảo chính để chiếm trọn quyền lực của dân nên dân Myanmar muốn sống công bằng phải đăng lính, phải tìm kiếm vũ khí từ Mỹ để chống lại.

Dân Syria cũng sợ chết nhưng khi lâm vào đường cùng cũng phải cầm vũ khí đứng lên với hơn 1000 nhóm nổi dậy.

Đa số đều cầm vũ khí đứng lên đúng chỉ có dân Việt bị lừa tham gia chiến tranh để chết thế cho một đảng cầm quyền. Pháp năm 1945 đã là những người Pháp dân chủ chống phát xít cai trị lên cầm quyền.Họ đã trả độc lập cho các nước Đông Nam Á nhưng vẫn bị đảng CS vu là quân xâm lược và dân Việt tin răm rắp. Mỹ đến Việt Nam để ngăn chặn độc tài cũng bị chụp mũ là quân cướp nước dù họ đang đóng quân để bảo vệ nền dân chủ cho cả thế giới. Chỉ có quân CSVN cướp đất Campuchia thiết lập chính quyền bù nhìn cai trị thì được dân Việt cho là làm nhiệm vụ quốc tế vô sản dù Liên Hiệp quốc chẳng hề trao cho Việt Nam cái quyền đó. Trung Quốc muốn dạy cho Việt một bài học để kéo Việt về dưới trướng cũng bị gán cho từ xâm lược dù chúng chưa chiếm tấc đất nào.

Và thế giới hôm nay ngày nào còn độc tài thì ngày đó vẫn còn nguy cơ nổ ra chiến tranh, bắn giết nhau vì cả chính nghĩa và phi nghĩa.

Tuy nhiên chiến tranh chỉ xấu khi đem quyền lực về cho cá nhân, gia đình, đảng phái. Nếu là một cuộc chiến tự vệ để khỏi phải diệt chủng thì nó vẫn vô cùng cần thiết.

DÂNG HY SINH VÀ ĐAU KHỔ

DÂNG HY SINH VÀ ĐAU KHỔ

Trầm Thiên Thu 

Cuộc đời ngắn ngủi của chúng ta trên trái đất có giá trị vô hạn.  Chúng ta có cả phẩm giá cao cả và số phận vĩnh cửu.  Phẩm giá của chúng ta là gì?  Chúng ta trở nên con cái của Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Tẩy.  Định mệnh của chúng ta là gì?  Tất cả chúng ta đều là khách lữ hành trên đường về quê hương vĩnh hằng là Thiên Đàng.

Sự đau khổ có giá trị vô cùng đối với con người trước mắt Thiên Chúa.  Tuy nhiên, nếu tách khỏi phương diện siêu nhiên thì tự bản chất đau khổ không có giá trị đích thực.  Nếu bạn thích: đau khổ làm chúng ta tốt lành hơn hoặc cay đắng hơn.

  1. THIÊN THẦN NHÌN CON NGƯỜI

Trong Nhật Ký, Thánh Faustina nói rằng các thiên thần nhìn con người với “lòng ghen tỵ” thánh thiện vì hai lý do.  Thứ nhất, con người nhận được Quà Tặng tuyệt diệu là Thánh Thể – Mình, Máu, Linh Hồn và Thần Tính của Chúa Giêsu – khi rước lễ.  Các thiên thần trên Thiên Đàng không bao giờ có đặc ân phi thường đó, và cũng không thể đau khổ.  Các thiên thần hiểu rằng nếu được nhìn nhận và chấp nhận một cách đúng đắn, đau khổ có giá trị vô hạn, và có thể làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất.  Thật vậy, Chúa Giêsu – Ngôi Lời Nhập Thể – đã chọn con đường đau khổ làm phương tiện để hoàn thành việc cứu độ thế gian.

  1. SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC MẸ FATIMA

Đức Mẹ Fatima bảo ba em Luxia, Phanxicô, và Giaxinta cầu nguyện và dâng hy sinh để cầu cho các tội nhân.  Đức Mẹ tỏ vẻ buồn cho biết rằng nhiều linh hồn bị hư mất vì không đủ những linh hồn quảng đại cầu nguyện và hy sinh để cứu rỗi các tội nhân đáng thương.  Một tên gọi khác của sự hy sinh là sẵn sàng chấp nhận một số hình thức đau khổ.  Sứ điệp này của Đức Mẹ Fatima có thể được áp dụng cho chính chúng ta trong tình trạng cụ thể của cuộc sống và những đau khổ của chính chúng ta.  Không ai trên thế gian này có thể tránh khỏi đau khổ.

III. DÂNG ĐAU KHỔ

Ba từ ngắn gọn này tóm tắt toàn bộ sứ điệp: dâng đau khổ.  Khi Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan vô hạn của Ngài, đến thăm bạn với dạng đau khổ nào đó, điều vô cùng quan trọng là chấp nhận những đau khổ được ban cho từ Bàn Tay yêu thương quan phòng của Thiên Chúa và dâng lên cho Ngài.  Hãy nhớ rằng, đau khổ có thể làm cho chúng ta tốt lành hơn hoặc cay đắng hơn.  Đau khổ có thể cứu linh hồn hoặc lãng phí!

Làm thế nào để giảm đau khổ?  Khi đau khổ, chúng ta hãy cố gắng kết hợp đau khổ của chúng ta với Thập Giá – với Cuộc Khổ Nạn, Cái Chết và Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu.  Chúng ta gọi đó là Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô.  Kết hiệp với Chúa Giêsu trong cuộc sống, hành động, và đặc biệt là những đau khổ của chúng ta, có giá trị vô hạn.

  1. KẾT HIỆP VỚI THÁNH LỄ

Chúa Giêsu đã chết một lần trên Thập Giá tại Canvê hơn 2000 năm trước.  Ngài không chết nữa.  Tuy nhiên, mỗi khi linh mục cử hành Thánh Lễ, tái diễn những gì đã xảy ra trên Canvê xưa.  Trong mỗi Thánh Lễ, Chúa Giêsu thực sự hiến dâng chính Ngài như một Nạn Nhân không tì vết cho Chúa Cha để cứu rỗi thế giới.  Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho biết thêm rằng trong mọi Thánh Lễ, cũng như trên Canvê, Đức Mẹ hiện diện một cách thần bí nhưng rất thực tế.

Vì vậy, chúng ta đừng lãng phí những cơ hội ngàn vàng mà Thiên Chúa ban cho chúng ta khi chúng ta trải qua bất kỳ hình thức đau khổ nào, và bắt đầu kết hiệp đau khổ của chúng ta với đau khổ của Chúa Giêsu trên Thập Giá.  Tốt hơn hết, khi kết hiệp với Mẹ Maria, hãy đặt đau khổ của bạn vào tay Mẹ Maria và Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ.  Sau đó, xin Mẹ ký thác những đau khổ này trên bàn thờ, nơi cử hành Thánh Lễ, để được kết hiệp với đau khổ của Chúa Kitô.  Sống theo cách sống này sẽ biến những đau khổ, dù là nhỏ nhất, của bạn thành một kho tàng ân sủng dồi dào vô hạn.

  1. DÂNG ĐAU KHỔ CHO CHÚA GIÊSU

Khi được các em hỏi nên dâng gì cho Chúa, Đức Mẹ Fatima đã trả lời là “dâng tất cả.”  Hãy biến cuộc sống của bạn thành lễ hy sinh sống động để chuộc tội, đền đáp và ngợi khen.  Đây là vài gợi ý cụ thể về những gì chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa qua Trái Tim Đức Mẹ:

  1. Thời Tiết Khắc Nghiệt

Tất cả chúng ta đều thích những ngày nắng đẹp với những giai điệu chim hót líu lo và hương thơm ngát của hoa nở rộ.  Nhưng không phải là luôn như vậy.  Cái lạnh buốt, mưa to và gió mạnh là đặc điểm của dự báo thời tiết thực tế trong nhiều ngày.  Thay vì phàn nàn về thời tiết thì hãy chấp nhận, sau đó tạ ơn Chúa và kết hiệp với Chúa Giêsu trên Thập Giá.

  1. Tình Trạng Sức Khỏe

Hậu quả của Nguyên Tội là tất cả nhân loại đều bị suy yếu về sức khỏe, ốm đau, đôi khi bệnh tật, cũng như lây nhiễm vi trùng.  Điều này không thể tránh khỏi!  Tại sao không kết hiệp tình trạng sức khỏe thể lý đau khổ của bạn với Chúa Giêsu trên Thập Giá?  Giá trị của tặng phẩm này là vô hạn!

  1. Đại Dịch

Đại dịch toàn thế giới như vậy là duy nhất trong lịch sử thế giới.  Thay vì lãng phí sự đau khổ hoàn vũ này, hãy kết hiệp với Thập Giá của Chúa Giêsu trên Canvê qua Hy Tế của Thánh lễ dâng lên Chúa Cha Vĩnh Hằng.  Ước gì đau khổ là của lễ đẹp lòng Thiên Chúa để cứu rỗi các linh hồn và chính mình!

  1. Đau Khổ Gia Đình

Nhiều cha mẹ nhiệt thành cầu nguyện đã đau đớn tột cùng khi nhìn thấy những đứa trẻ mà họ nuôi dạy là người Công giáo và lãnh nhận các bí tích, đã không may lạc lối và từ bỏ đức tin.  Bất chấp những lời mời gọi, khuyên bảo và những giọt nước mắt cay đắng của cha mẹ, những đứa trẻ vẫn sống không biết gì về Chúa, như thể Ngài không hiện hữu.  Trong trường hợp này, hơn bao giờ hết, cha mẹ không nên chán nản, tuyệt vọng, phải cố gắng hơn nhiều.

Ngược lại, cha mẹ nên đặt những đau khổ của họ và những đứa con lên bàn thờ của Thánh Lễ, nơi Chúa Giêsu dâng những vết thương của Ngài cho Chúa Cha Hằng Hữu, và Cha vui lòng.  Thánh Monica đã kiên trì cầu nguyện cho con trai Augustinô, và con trai đã hoán cải khi 31 tuổi.

  1. Khô Khan Tâm Linh

Bất cứ ai coi trọng đời sống tâm linh thì rồi sẽ gặp phải sự khô khan, cụ thể nhất là trong đời sống cầu nguyện.  Đây được gọi là trải nghiệm sa mạc khô hạn.  Thay vì từ bỏ đấu tranh, hãy cố gắng thinh lặng và cầu nguyện.  Điều này có thể dẫn đến sự đau khổ lớn lao, nhưng dâng đau khổ tâm linh rất hiệu quả và đẹp lòng Thiên Chúa.

Hãy kết hiệp tình trạng khô khan tâm linh của bạn với Chúa Giêsu trong cơn hấp hối nơi Vườn Dầu, và đặt nó lên bàn thờ của Hy Lễ Thánh.  Chúa Giêsu đã trải nghiệm sự cô độc.  Tuy nhiên, Ngài càng cầu nguyện càng mạnh mẽ và nhiệt thành hơn.  Ngài là mẫu gương của chúng ta.

  1. Cái Chết Của Thân Nhân

Khi đối mặt với cái chết của người thân, niềm tin và hy vọng của chúng ta có thể bị lung lay.  Trong thời điểm quan trọng này, việc đặt những người thân yêu của chúng ta – những người đã qua đời, lên bàn thờ và trên Thập Giá qua Thánh Lễ, là điều vô cùng quan trọng, và cầu xin cho họ được cứu rỗi đời đời.  Trong sách Gương Chúa Giêsu, tác giả Thomas Kempis nói: “Điều quan trọng không phải là sống lâu, mà là sống thánh thiện.”

Chấp nhận và tuân theo Thánh Ý quan phòng của Thiên Chúa là giải pháp chắc chắn duy nhất, chúng ta không nên đặt câu hỏi tại sao Chúa lại lấy mạng họ, nhưng chúng ta có thể làm điều gì đó trong hiện tại cho linh hồn họ, cũng như cho chính chúng ta.

  1. Đảo Ngược Kế Hoạch

Không ai trong chúng ta vui mừng vì những con người và hoàn cảnh làm gián đoạn lịch trình, kế hoạch và các dự án của chúng ta.  Tuy nhiên, dù muốn hay không, các kế hoạch và dự án của chúng ta sẽ thường xuyên bị gián đoạn.  Thay vì mất bình tĩnh và điềm tĩnh, tại sao không đơn giản chấp nhận những mâu thuẫn và kết hiệp với Thập Giá của Chúa Giêsu?  Hãy đặt những gián đoạn lên Thập Giá trên Canvê qua Thánh Lễ.  Làm vậy để công việc mà bạn không thể hoàn thành có thể cứu các linh hồn.

  1. KẾT LUẬN

Tóm lại, đau khổ là một thực tại của con người mà không ai có thể tránh khỏi.  Cho dù chúng ta là tín nhân hay vô tín ngưỡng, theo đạo Công giáo hay vô thần, nhà thần bí chiêm niệm vĩ đại hay nhà duy vật cốt lõi, đau khổ vẫn là một phần trong thân phận con người.  Nhưng hãy nhớ câu châm ngôn ngắn gọn này: “Đau khổ làm cho bạn tốt hơn hoặc cay đắng.”  Nếu một người đau khổ chỉ vì đau khổ thì thật là cay đắng!  Chỉ khi nào đau khổ của chúng ta được kết hiệp với đau khổ của Chúa Giêsu trên Thập Giá qua Thánh Lễ thì chúng ta mới được thánh hóa và tăng trưởng trong sự thánh thiện.

Do đó, bắt đầu từ hôm nay, hãy nhớ đến những đau khổ trong cuộc sống của bạn.  Hãy đặt những viên ngọc quý này trong tay và trái tim của Mẹ Maria.  Chính Đức Mẹ sẽ đặt chúng lên bàn thờ Thập Giá tại Canvê.  Sự đau khổ của bạn kết hiệp với sự đau khổ của Chúa Giêsu và Đức Mẹ sẽ thực sự có giá trị vô hạn đối với sự cứu rỗi các linh hồn kịp thời và vĩnh viễn!

Lm. Ed Broom, Omv

Trầm Thiên Thu 

(chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

Mùa Chay – 2021

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

LỜI CẦU NGUYỆN CHÂN THÀNH

LỜI CẦU NGUYỆN CHÂN THÀNH 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Gần đây, tôi có nhận được một lá thư của một phụ nữ có cuộc sống vạn phần đắng cay nuốt hết vào lòng.  Trong vài tháng, cô bị chồng ly dị, bị mất việc, bị buộc phải rời khỏi ngôi nhà cô đã sống lâu nay, bị kẹt trong chỗ ở mới vì lệnh phong tỏa Covid, và bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư nan y.  Thật quá sức chịu đựng.  Có lúc, cô đã sụp đổ, lòng đầy tức giận và chỉ muốn bỏ cuộc.  Cô hướng về Chúa Giêsu trong cay đắng: “Nếu Chúa có đó, dù chắc là không có đâu, thì Chúa biết những chuyện này chứ?  Chúa có bao giờ cô đơn như thế này đâu!”  Tôi nghĩ chúng ta ai cũng có những lúc như thế này.  Chúa có biết những cảnh này không?

    Nếu chúng ta tin vào Tin Mừng, thì Chúa Giêsu biết hết những cảnh này, không phải bởi ngài có ý thức thần thánh, nhưng bởi như người phụ nữ tôi vừa kể, Ngài biết ngay từ đầu cảnh phải đơn độc, bị gạt ra ngoài thế giới bình thường của nhân loại.

    Điều này đã rõ ràng ngay từ khi Ngài ra đời.  Tin Mừng nói rõ cho chúng ta biết, Mẹ Maria phải sinh Chúa Giêsu trong chuồng bò vì nhà trọ không còn chỗ.  Do người chủ trọ nhẫn tâm!   Tội nghiệp ông ta đã phải chịu chê trách hàng thế kỷ. Tuy nhiên, nghĩ như thế là bỏ sót điểm chính của câu chuyện và hiểu sai ý nghĩa của nó.  Bài học của câu chuyện này không phải là về sự tàn nhẫn vô lương tâm ngự trị thế gian, hay là thế giới quá bận tâm đến bản thân mà chẳng để ý thấy Chúa Giêsu giáng sinh, mặc dù những ý này cũng đúng.  Đúng ra, điểm mấu chốt là, Chúa Kitô, được sinh ra như một kẻ ngoài lề, một kẻ nghèo hèn, một người ngay từ đầu đã không được đặt vào guồng quay chính của xã hội.  Như tác giả Gil Bailie nói, Chúa Giêsu là người bị tất cả nhất trí loại trừ.  Sao có thể khác được chứ?

    Với con người của Chúa Giêsu, với thông điệp trọng tâm của Ngài là tin mừng cho người nghèo, và với việc Ngài đi vào cuộc sống nhân loại để trải nghiệm mọi điều trong đó, kể cả đau đớn và sỉ nhục, khi mà đáng ra Ngài có thể sinh ra trong cung điện, được nhiều hỗ trợ và tâm điểm của mọi chú ý yêu thương.  Khi đồng cảnh ngộ với người nghèo, Ngài đã phải sinh “ngoài thành phố” như cách nói của tu sĩ Merton, và nó mang một ý nghĩa ẩn dụ lớn lao.  Ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã biết nỗi đau và tủi nhục của người bị loại trừ, người chẳng có chỗ trong xu thế chủ đạo trần thế.

    Khi xem kỹ các Tin Mừng, chúng ta thấy, chẳng nỗi đau, về cảm xúc hay thể lý nào, mà Chúa Giêsu chưa trải qua.  Có thể nói, không một ai, bất chấp nỗi đau của chính mình, có thể nói vứi Chúa Giêsu rằng: Ngài đâu phải trải qua những gì con đã trải qua!  Chúa Giêsu đã trải qua hết rồi.

    Trong những năm mục vụ, Ngài đã đối diện với chối bỏ, chế nhạo và bị đe dọa liên tục, có lúc phải trốn đi như tội phạm lẩn trốn.  Ngài cũng cô độc, ngủ một mình, không có được những sự thân mật bình thường của con người, không có gia đình riêng của mình.   Rồi trong cuộc thương khó và cái chết, Ngài đã trải nghiệm những nỗi đau cảm xúc và thể lý cùng cực nhất. Về cảm xúc, Ngài đã “đổ mồ hôi máu”, và về thể lý, khi chịu đóng đinh, Ngài đã trải qua nỗi đau cùng cực, sỉ nhục cùng cực mà một con người có thể gánh chịu.

    Như chúng ta đã biết, đóng đinh thập giá được người La Mã dựng lên như hình phạt tử hình, nhưng họ còn nghĩ xa hơn thế nhiều.  Nó được dựng lên để tạo ra đau đớn và sỉ nhục nhiều nhất có thể cho người chịu nạn.  Chính vì thế mà thỉnh thoảng người ta cho người chịu đóng đinh dùng thuốc phiện, không phải để làm giảm cơn đau, nhưng để người đó không ngất đi và thoát khỏi cơn đau này.  Đóng đinh cũng được dùng để sự sỉ nhục lên đến cùng cực.  Và để làm thế, họ lột trần người bị đóng đinh, phơi bày bộ phận sinh dục, và trong cơn co thắt lâm tử, bộ ruột lỏng ra sẽ là sự tủi nhục cuối cùng.  Một vài học giả còn cho rằng trong đêm trước khi vác thập giá, có khi Ngài còn bị binh lính xâm hại tình dục.  Thật sự, không có nỗi đau hay sỉ nhục nào mà Ngài chưa gánh chịu.

     Theo Kinh viện, cầu nguyện được định nghĩa là nâng tâm trí và tâm hồn lên cùng Thiên Chúa.  Sẽ có những điểm chùng xuống trong cuộc đời chúng ta, khi hoàn cảnh buộc chúng ta phải nâng tâm trí và tâm hồn lên với Chúa theo một cách có vẻ đi ngược với cầu nguyện.  Có lúc, chúng ta sẽ tới điểm bùng nổ, khi mà trong sự sụp đổ, giận dữ, hổ thẹn và tuyệt vọng, chúng ta nghĩ không một ai, kể cả Thiên Chúa, quan tâm đến chúng ta, chúng ta cực kỳ cô độc, và thế là, dù có ý thức hay không, chúng ta sẽ đối đầu với Chúa Giêsu qua những lời này: “Chúa biết gì về chuyện này chứ!”  Và Chúa sẽ lắng nghe lời đó như một lời cầu nguyện, một tiếng kêu chân thành từ cõi lòng, hơn là một lời bất kính.

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

Nụ cười của người lái xe lúc đó rất đẹp và phóng khoáng…

Hoa Lys  

 01.05.2021

Trong hình là khoảnh khắc đẹp của người đàn ông đang phơi tấm lưng trần, kiếm sống bằng chiếc xe ba gác tự chế tại Sài Gòn với những dòng triết lý sâu sắc :

“Khi tôi chào đời với hai bàn tay trắng

Lúc tôi trở về với cát bụi lại cũng hai bàn trắng tay.

Hành trang duy nhất tôi mang theo là cái Ác và cái Thiện mà thôi !”

Những hình ảnh này được phóng viên Hải An của Zing.vn chụp trưa ngày 27/12/2016 tại Sài Gòn mà HL vẫn giữ trong điện thoại. Được biết người đàn ông trong hình tên là Nam, sống tại quận 3, Sài Gòn. Tác giả vô tình ghi được khoảng khắc này khi ông đạp xe ba gác từ đường Cách Mạng Tháng 8 qua đường Nguyễn Thượng Hiền thuộc quận 3.

Theo tác giả bức hình, nụ cười của người lái xe lúc đó rất đẹp và phóng khoáng. Đó là khoảnh khắc Sài Gòn xưa được sống lại, để những con người hiện tại có cơ hội dạo chơi trên chuyến xe lịch sử, trở ngược về quá khứ. Cuộc sống luôn có những giây phút thú vị, ý nghĩa…

Không biết cuộc sống hiện tại của ông lái xe ba gác ra sao nhưng triết lý sống của ông thì hơn hẳn rất nhiều những bậc tự xưng giáo sư, tiến sĩ thời xã nghĩa này…

Biden 100 ngày: Điều mà tất cả chúng ta nghĩ sai về Biden

Biden 100 ngày: Điều mà tất cả chúng ta nghĩ sai về Biden

Jon Sopel

North America editor

Đối với đội ngũ báo chí của Nhà Trắng, những người đã gắn bó suốt 4 năm với chương trình truyền hình mà Trump thủ vai chính, ba tháng qua là một thử thách.

Như tôi đã nhận xét, có lẽ không khôn ngoan, đối với khán giả quá trình chuyển đổi từ Trump sang Joe Biden giống như đang hút tẩu hàng ngày, chuyển sang uống một chai bia nhỏ nồng độ cồn thấp, mỗi tuần một lần.

Các cuộc họp giao ban hàng ngày của Nhà Trắng giờ đây vô cùng tẻ nhạt. Không có đánh nhau, không thóa mạ nhau.

Không có cơn bão Twitter lúc nửa đêm, không có tin về việc trả tiền cho các ngôi sao khiêu dâm, không có các cuộc biểu tình Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại (Make American Great Again).

Vì vậy, tất cả những điều này có nghĩa đây là một nhiệm kỳ tổng thống nhàm chán? Tuyệt đối không. Đây là một nhiệm kỳ tổng thống thú vị hơn rất nhiều – cho đến nay – hơn tôi nghĩ bất kỳ ai trong chúng ta đã tưởng tượng. Tôi muốn nói rằng nó rất rất hấp dẫn.

Điều đáng buồn, từ một quan điểm hoàn toàn ích kỷ, đây không phải là một chương trình trình diễn dành cho TV – thứ mà tôi đã xem trong suốt bốn năm qua.

Donald Trump luôn yêu chuộng hình ảnh và sự thái quá. Ông biết cách biến mình trở thành trung tâm của sự chú ý; Biden dường như lại thích thú với việc thiếu những màn kịch, và dường như ông nghĩ rằng điều quan trọng là mọi người tập trung vào những điều ông làm được, hơn là những gì ông nói. Thật lạ lùng.

Chúng tôi đã đưa ra nhận định rằng Joe Biden – với 78 tuổi đời – sẽ là một tổng thống chuyển tiếp. Ông nhậm chức chỉ để hạ độ nóng chính trị; tìm cách hàn gắn một quốc gia bị chia rẽ.

Loại bỏ việc chính trị hóa vô lý ra khỏi các cách phản ứng với dịch Covid. Cải thiện việc triển khai vaccine. Giải độc cho chính trị. Nhưng chỉ những điều này, không mang lại gì nhiều.

Ông đã bổ nhiệm một nội các chủ yếu là kỹ trị, có lẽ để thực hiện các chức năng quản lý. Có thể làm cho các con tàu chạy đúng giờ hơn một chút, nhưng không thể thay đổi toàn bộ đầu máy, chứ chưa nói đến việc thay năng lực vận hành của cả tuyến đường sắt.

Một tham vọng phù hợp cho Amtrak Joe.

Nhưng có lẽ tất cả chúng ta đã sai. Có thể nào còn hơn cả chuyển tiếp, ông Biden là một người mang lại sự ‘chuyển đổi’?

Và từ ‘chuyển đổi’ không mang hàm ý tích cực hay tiêu cực – nó chỉ đơn thuần là một tuyên bố dựa trên tham vọng về những gì chúng ta đã thấy cho đến nay. Những người bỏ phiếu sẽ sớm quyết định xem những chuyển đổi này tốt hơn hay tệ hại.

iểm nhấn của việc thông qua đạo luật khổng lồ này là gần như tất cả người Mỹ trưởng thành sẽ nhận được tấm séc trị giá 1.400 đôla để giúp họ đối phó với những khó khăn do đại dịch mang lại. Tấm séc này là tiền tiêu cần thiết cho rất nhiều người Mỹ và giành được sự tán thành lớn – từ các cử tri Đảng Dân chủ và Cộng hòa – mặc dù không một nhà lập pháp Đảng Cộng hòa nào ủng hộ đề xuất này.

Nhưng hãy nhìn xa hơn tựa những bài báo và nhìn vào bên trong chính sách này một chút. Có rất nhiều thứ cho ta thấy. Có lẽ quan trọng nhất là việc gia hạn các khoản tín dụng thuế trẻ em. Các gia đình nghèo có thể sớm nhận được tới 3.000 đôla mỗi trẻ em hàng năm. Người ta ước tính rằng biện pháp này sẽ giúp hàng triệu thanh niên thoát nghèo theo đúng nghĩa đen. Hiện giờ, biện pháp này chỉ áp dụng cho năm 2021 – nhưng trong nội bộ Nhà Trắng, rõ ràng Joe Biden muốn chính sách này trở nên vĩnh viễn.

Nó là một phần chính của chính sách xã hội. Nó là một điểm quan trọng.

Với việc thông qua gói kích thích kinh tế – hay còn gọi là Gói giải cứu Mỹ – Biden muốn sửa chữa điều gì đó mà ông cảm thấy Barack Obama đã hiểu sai khi lên nắm quyền và thừa hưởng hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009. Đúng, Obama đã thông qua nhiều biện pháp khác nhau – nhưng suy xét lại, những biện pháp này bị coi là quá thận trọng; không đủ tham vọng.

Kinh nghiệm sâu sắc mà Biden có được từ thời làm phó tổng thống cho vị tổng thống người Mỹ gốc Phi đầu tiên của Mỹ, là đừng để một cuộc khủng hoảng trở nên lãng phí. Sự cấp bách của đại dịch đã tạo cho Biden cái cớ mà ông cần để thúc đẩy một kế hoạch lớn. Và ông ấy đã thực hiện được kế hoạch đó.

Bây giờ hãy xem những dự định xây dựng lại cơ sở hạ tầng của Biden. Một lần nữa, chi phí sẽ là hàng nghìn tỷ. Một lần nữa, tham vọng sẽ rất lớn – đây không chỉ thuần túy là việc sửa chữa cầu và đường (dù đó là điều quan trọng và sống còn); đó là việc làm cho truy cập kỹ thuật số trở nên công bằng hơn. Nhưng tham vọng này còn rộng lớn hơn thế nữa. Lớn hơn nhiều.

“Nó không phải là một kế hoạch mày mò sửa chữa thử nghiệm,” tổng thống nói với người ủng hộ bên ngoài Pittsburgh. “Đó là khoản đầu tư vào nước Mỹ mỗi thế hệ chỉ có một lần.”

Với những người theo Đảng Cộng hòa, đó là kiểu quá tay điển hình của chính phủ và nó nhắm vào việc thay đổi cấu trúc xã hội hơn là động thái chữa dân sự thông thường như sửa đường sửa cống.

Những điều mong ước mà Biden hy vọng đạt được từ kế hoạch cơ sở hạ tầng này dài lê thê. Danh sách này thể hiện mong muốn tạo ra hàng triệu công ăn việc làm trong ngắn hạn và tăng năng lực cạnh tranh của Mỹ trong dài hạn. Nó hướng tới việc đạt thêm được bình đẳng chủng tộc. Việc tập trung vào các nguồn năng lượng mới, sạch hơn, hứa hẹn sẽ giúp quốc gia chống lại biến đổi khí hậu.

Về chủ đề này, hãy nhìn lại cả những mục tiêu đầy tham vọng liên quan đến biến đổi khí hậu mà ông đã đặt ra trong hội nghị thượng đỉnh qua mạng được tổ chức vào tuần trước ở Washington. Đây không phải là hành động của một tổng thống không muốn tạo sóng gió. Việc cắt giảm 52% lượng khí thải vào cuối thập kỷ là UYỆN LỚN.

Ai biết liệu ông ta có đạt được điều đó hay không – nó sẽ đòi hỏi người Mỹ thay đổi cách lái xe; cách sưởi ấm và làm mát ngôi nhà họ. Cách thức mà nền công nghiệp vận hành. Nhưng nếu tham vọng này nhằm tới sự phô trương tham vọng của Mỹ, thì quả thực là rất tham vọng.

Đương nhiên, rõ ràng là có yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản người dân nào cũng thích trong danh sách những cải tổ này. Và đề xuất này cần phải thông qua Quốc hội, và điều đó chưa xảy ra.

Và trong khi tôi đang nói dài dòng, hãy để tôi bổ sung thêm điều này…. và có điều gì đó hơi nực cười về trọng tâm của 100 ngày đầu tiên.

100 ngày đầu tiên thường là một tuyên bố về ý định, một khoản đặt cọc làm tin trước cho những gì bạn có thể làm với phần còn lại của nhiệm kỳ. Nhưng thiệt tình mà nói, ai thèm quan tâm nếu bạn có 100 ngày đầu tiên lấp lánh trong khi 1.360 ngày tiếp theo bốc mùi và chìm nghỉm?

Tất cả đều cho thấy, chương trình nghị sự đầy tham vọng, và đây là điều khiến Joe Biden già nua nhàm chán trở nên thú vị.

Đây là một chuyên mục blog chứ không phải một cuốn sách, nhưng ý tưởng chủ đạo trong chính trị Mỹ suốt 40 năm qua được cho là đánh thuế thấp, giảm bớt quy định về kinh tế, cân đối ngân sách, khuyến khích cạnh tranh, hạn chế công đoàn theo đường lối chính phủ nhỏ của Ronald Reagan.

Điều này cũng đúng với sức ảnh hưởng của chủ nghĩa Thatcher ở Anh – vâng, đã có 13 năm chính phủ đảng Lao động nắm quyền kể từ khi Maggie về vườn, cũng như ở đây đã có các nhiệm kỳ của Clinton và Obama kể từ thời Reagan. Nhưng có thể cho rằng chúng hoạt động trong khuôn khổ, và được xác định bởi, tính chính thống của các kinh tế gia theo chủ nghĩa tiền tệ, những người thống trị tri thức ở cả hai bờ Đại Tây Dương: Milton Friedman, trường phái Chicago, đường cong Laffer, Huân tước Alan Walters.

Reagan and Thatcher

Nếu gói giải cứu của Obama không đi xa được (như nhận định của Biden), thì rõ ràng là do Obama quan tâm tới sức mạnh gây đỗ vỡ và ngày càng trỗi dậy của phong trào bảo thủ mang tên Đảng Trà. Cả Clinton và Blair đều thấy con đường đưa tới thắng lợi của họ thông qua “cách thứ ba” mơ hồ: chủ nghĩa tự do kinh tế cấp tiến với nhiều quan tâm đến giới ít khá giả nhất.

Sau những thất bại gây mất tinh thần vào thập niên 1980 – với cả Đảng Lao động ở Anh và Đảng Dân chủ ở Mỹ – người ta càng đau đầu về những gì cần làm để đạt được thắng lợi. Cả Bill Clinton và Tony Blair đều tin chắc rằng việc tăng thuế và các cam kết về chính phủ lớn sẽ không đảo ngược xu hướng đó.

Nhưng Biden – dù tốt hơn hay tệ hơn – có vẻ đang dùng đại dịch và tình trạng tồi tệ của cơ sở hạ tầng nước Mỹ để sỗ sàng nói với dân Mỹ rằng “vâng, chính phủ lớn đã trở lại”. Đó là lãnh địa mà các đối thủ từ Đảng Cộng hòa – vẫn đang cố gắng xác định danh tính của mình thời hậu Trump – sẽ luôn sẵn sàng chống trả.

Cựu chuyên gia thăm dò dư luận của Joe Biden thậm chí còn quyết liệt hơn khi cho rằng tổng thống nên thẳng thắn hơn về sự cần thiết phải tăng thuế với những người giàu có nhất để chi trả cho tham vọng này.

Xin đừng nhầm lẫn: đây là một cú đột phá lớn và là một canh bạc lớn. Cho đến nay, tỉ lệ ủng hộ Biden xét trên các mặt trận mà ông chọn để chiến đấu – đối phó đại dịch corona, kích thích kinh tế, các kế hoạch về hạ tầng – đang thực sự khả quan.

Với những hỗn loạn ở biên giới miền nam thì không được như vậy; điều mà bây giờ tổng thống thừa nhận là một cuộc khủng hoảng. Và vấn đề kinh niên về kiểm soát súng đang dẫn đến rất nhiều tranh cãi, nhưng thật khó để đoán được những gì ông sẽ có thể đạt được thông qua lập pháp, xét trên cán cân đang ngang ngửa tại Thượng viện.

Joe Biden luôn bám chặt vào các quy tắc giãn cách xã hội và đeo khẩu trang, đánh dấu một sự khác biệt lớn so với tình trạng bừa bãi và siêu lây lan ở Nhà Trắng của người tiền nhiệm. Các cuộc họp của tổng thống đều theo tinh thần giãn cách xã hội; các quy định được tuân thủ nghiêm ngặt.

Nhưng giờ này tháng trước, một buổi họp thú vị đã diễn ra ở Phòng Đông.

Jon Meacham, sử gia chuyên nghiên cứu về tổng thống, đã mời một số đồng nghiệp nổi tiếng đến tham gia cuộc đối thoại mà Joe Biden rất nóng lòng tổ chức. Ngay trong giai đoạn này, mới chỉ khoảng 60 ngày sau khi nhậm chức, mà Biden đã suy nghĩ về di sản của mình và những gì ông cần phải làm; giới hạn về thẩm quyền của tổng thống là gì; những bài học mà ông có thể học được từ những người đi trước.

Một lần, ông ta đã quay sang Doris Kearns Goodwin, người có lẽ được tôn kính nhất trong số các học giả nghiên cứu về tổng thống, và nói “Tôi không phải FD, nhưng…”

Có lẽ Joe Biden đang coi đây là thời điểm để đưa ra Chính sách Kinh tế mới kiểu như Franklin Delano Roosevelt đã thực hiện sau Đại Suy thoái, hoặc cuộc chiến chống đói nghèo và chống bất bình đẳng chủng tộc được Lyndon B Johnson thúc đẩy vào thập niên 1960.

Điều mà Donald Trump chế nhạo trong chiến dịch tranh cử là Biden có thể đã tham gia chính trị hơn bốn thập niên, nhưng nào đã có được thành tựu nào để mà tự hào.

Có vẻ như khi lên nắm quyền, Biden đang tìm cách đưa ra câu trả lời hùng hồn và rõ ràng cho câu hỏi đó – ngay cả khi nó không là một màn biểu diễn đầy kịch tích.

– Joe Biden trên đường trở thành Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ

– Cầu đường ở Mỹ đang trong tình trạng thiếu thốn

– Biden gợi lại ký ức về FDR

https://www.bbc.com/news/world-us-canada-56903805

Chuyện Đổi Đời: Trình Diện Đi Tù

Chuyện Đổi Đời: Trình Diện Đi Tù

Tác giả: Phùng Văn Phụng
 

Tác giả định cư tại Houston từ 1993, sau hơn 20 năm làm nghề bán bảo hiểm nhân thọ, hiện đã về hưu. Năm 2007-2008, ông đã góp ba bài Viết Về Nước Mỹ: Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ; Làm Ông Ngoại rất thích thú; Và “Câu chuyện của ba người.” Bài viết mới của ông không viết về nước Mỹ, nhưng vẫn là một ký ưc chung của nhiều gia đình Việt trên đất Mỹ, về một thời cay đắng, khi bị phỉnh để tự mình nạp mạng, đi “trình diện học tập…”.

* * *
Trước năm 1975, tôi là giáo sư trường Trung học Lương văn Can, quận 8 Sài gòn.

Sau năm 1975, tôi bị đi cải tạo gần 8 năm. Chỉ là một giáo chức, không thuộc diện sĩ quan phải trình diện, vậy mà cũng vô trại Long Thành, Thủ Đức, rồi Lào Cai và Vĩnh Phú ngoài Bắc.

Thực sự, thì trước năm 1975, khi giáo sư Nguyễn Ngọc Huy còn làm phó chủ tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, tôi có tham gia đảng Tân Đại Việt của Giáo sư Huy nhưng chỉ với chức vụ phó Bí thư.

Giữa tháng 6 năm 1975, Ủy Ban Quân Quản Thành phố Sài gòn, ra lịnh tất cả quân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện học tập cải tạo. Tôi xin ba tôi mười ba ngàn đồng, bằng nửa tháng lương công chức hạng A của tôi (là hạng có mức lương khá lúc bấy giờ) để đi trình diện tại trường Lê văn Duyệt ở Gia Định.

Theo lời kêu gọi đăng trong báo chí và đài phát thanh lúc bấy giờ, “chính phủ cách mạng” yêu cầu chúng tôi mang mùng mền, thức ăn và tiền bạc để đóng tiền ăn trong một tháng. Trước đó, hạ sĩ quan quân đội cũ được yêu cầu đi học một tuần rồi về làm ăn. Vậy là mọi người đều đinh ninh rằng vậy là những người chịu trình diện, chịu đầu hàng, sẽ chỉ học tập chính trị trong vòng một tháng để hiểu biết đường lối, chính sách của chế độ mới, rồi chắc chắn sẽ được cho về làm ăn. Vì nếu không thả về sau khi học một tháng thì đóng tiền làm gì. Không lẽ nhà cầm quyền vừa thắng trận lại lường gạt kẻ bại trận sao?

Do đó, khi em tôi chở tôi đến trường nữ Trung học Lê văn Duyệt, thấy hai đầu đường có hai xe tăng chỉa họng súng về hai phía của đầu đường Lê văn Duyệt, tôi có cảm giác không yên, lòng xao xuyến khó tả. Sao kỳ quá vậy. Súng ống, xe tăng sắp hàng như đang chuẩn bị đánh trận.

Cũng ngây thơ như tôi, anh Trương chí Thiện là đoàn viên Phong Trào Quốc gia Cấp Tiến và là Tổng Thơ Ký của Liên Minh các đảng gồm Cấp Tiến, Công Nông… không nằm trong diện phải đi trình diện cải tạo. Từ cấp bậc Phó Chủ Tịch và Chủ Tịch cấp quận trở lên mới phải trình diện mà thôi. Nhưng anh Thiện làm ký giả báo Tàu, sau ngày 30 tháng 04, các báo đều bị đóng cửa, ngưng hoạt động, ở nhà cũng buồn, nên xin đi trình diện cùng với anh Trương Tấn Lộc là Chủ Tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến là cựu Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài gòn. Anh Thiện không thuộc diện này nhưng cũng nhất định xin đóng tiền để được học tập, hy vọng sau khi học xong sẽ có “giấy chứng nhận” đã học tập để dễ làm ăn sau này, không còn “bị làm khó dễ”.

Anh Thiện cũng lầm tưởng chỉ đi trong một tháng mà thôi.Sau đó anh ở tù hơn 7 năm, bị bịnh lao phổi, ho ra máu trong trại và anh được về trong bịnh hoạn, tức tối vì bị lường gạt.

Ở trường Lê văn Duyệt, chúng tôi được nhà hàng Bát Đạt đem cơm tới mỗi ngày, cho nên bữa ăn nào cũng thịnh soạn, ăn uống dư thừa, được cho ăn no và ngon nữa nên cứ nghĩ rằng nhà nước mới tử tế, chiêu đãi “trại viên” bằng thức ăn của nhà hàng sang trọng bậc nhất nhì của thành phố Sài gòn.

Sau vài ngày làm thủ tục ghi tên đóng tiền, nộp giấy căn cước, họ phân chúng tôi thành từng đội, tạm thời ở trong các phòng học của nhà trường.

Giữa đêm, đang ngủ ngon giấc, bỗng nhiều ánh đèn “pin” chiếu sáng vào mùng, gọi chúng tôi thức dậy gấp, thu dọn đồ đạc cho gọn nhẹ để di chuyển. Trong đầu óc anh em chúng tôi hết sức hoang mang, đi về đâu, đem ra biển Vũng Tàu thả xuống biển hay đi đâu mà lại lên xe hơi, kéo cửa xe xuống kín mít để không cho ai nhìn thấy và lại đi nửa đêm. Tới gần sáng, chúng tôi được chở vô làng cô nhi Long Thành. Chúng tôi được phân vào dãy bên trái của làng cô nhi. Khu vực này dành cho anh chị em đảng phái chính trị.

Họ phân ra 4 khối: khối một là khu dành cho các viên chức hành chánh từ cấp Chánh Sự Vụ trở lên, các Dân Biểu, Nghị sĩ của Việt Nam Cộng Hoà. Khối hai dành cho những người hoạt động trong đảng phái chịnh trị chống cộng. Khối ba là khối Tình báo đa số làm trong Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình báo. Khối bốn là các viên chức trong ngành Cảnh Sát quốc gia.

Chúng tôi, hoạt động đảng phái được xếp vào khối hai, ở dãy nhà bên tay trái của trại, phân ra nhiều đội. Trong số những viên chức lãnh đạo, tôi nhớ lúc bấy giờ có Luật sư Trần văn Tuyên, Ông Vũ Hồng Khanh, Cựu Nghị Sĩ Trần Trung Dung, Trong đội tôi có Nguyễn Ngọc Minh, anh có 6 người con, là Chủ Tịch đảng Tân Đại Việt quận 5, chủ nhà in. Anh nói với tôi là anh còn 40 triệu ở ngân hàng cho nên anh làm kế hoạch nuôi heo gởi lên cán bộ để hy vọng lấy được số tiền này ra. Đó là hy vọng của anh. Anh đang ở trong tù mà vẫn còn thơ ngây, tin tưởng họ sẽ trả lại cho anh số tiền 40 triệu đồng đó. trong khi ngoài kia, Cộng sản đang chuẩn bị đánh tư sản, cầm tù những người có tài sản mà anh lại còn hy vọng lấy được số tiền này nữa. Nhìn chung, những người quốc gia hoạt động chính trị của phía chúng tôi đa số đều ngây thơ như thế.

Trong tù tôi gặp lại giám đốc Nha Khảo Thí Nguyễn Kim Linh mà trước đây tôi có làm việc hai năm ở nha Khảo Thí. Tôi gặp lại thầy Hà Khải Hoàn, thầy dạy tôi môn Việt văn ở trường trung học Cần Giuộc năm 1957, 1958 nay là phó Giám Đốc Nha học chánh thuộc Bộ Giáo Dục.

Từ Thủ Đức đến trại Lào Cai

Cũng được gọi bất ngờ giữa đêm tối, yêu cầu sắp xếp đồ đạc gọn gàng, hai người chung một cái còng, từ trại Long Thành chúng tôi bị đưa về giam ở nhà tù Thủ Đức. Ở đây không có cuốc đất trồng khoai. Mỗi ngày đọc báo “nhân dân” tờ báo của đảng Cộng Sản. Tuy ở gần Sài gòn nhưng từ ngày trình diện giữa tháng 6 năm 1975 đến nay, đã hơn một năm trời, gia đình không biết chúng tôi còn sống hay đã chết và bị giam giữ ở đâu.?

Tháng 12 năm 1976 chúng tôi được kêu ra sân tập họp cũng hai người cùng chung một còng số 8 lên xe chạy trên xa lộ Biên hoà và đưa xuống bến sông Sài gòn giữa đêm khuya, để lên tàu chuyển ra Bắc.

Lần lượt chúng tôi xuống hầm tàu còn dấu vết than đá trên nền. Khi tàu chạy, họ đóng nắp hầm tàu lại, chúng tôi bị ngộp thở và đã la hét ôm sồm, nấp hầm mới được kéo ra để chúng tôi thở.

Trong chuyến đi này bạn tôi là Lê Như Ninh, người công giáo giới thiệu cho tôi biết Đức Phụ Tá Giám Mục Sài gòn, sau này là Hồng Y Nguyễn văn Thuận, cùng ra Bắc một chuyến với chúng tôi. Anh em đi vệ sinh bằng “sô” xách nước. Khi cái sô đầy phân và nước tiểu thì xách lên trên “boong” tàu để đổ xuống biển. Nhiều khi đang lên cầu thang bị sóng đánh, tàu nghiêng sô nước tiểu và phân người đổ vào đầu, vào cổ, vào áo quần anh em đang ngồi ở phía dưới. Anh em nào bị dính phân, nước tiểu vào người cũng phải chịu trận như vậy trong suốt mấy ngày tàu chạy lênh đên trên biển chứ đâu có được tắm rửa gì đâu?

Con tàu chở tù miền Nam đến cảng Hải phòng vào buổi sáng mùa đông năm 1976. Trời lạnh buốt. Vài chiếc tàu nhỏ đậu ở cảng giống như ở bến đò quê nào đó, chứ không thấy gì to lớn cả. Trời thì lạnh mà đa số anh em tù không có đủ áo quần ấm để mặc hầu có thể chống lại cái lạnh, cái rét của mùa đông miền Bắc. Năm đó có lúc lạnh tới 6 độ C lạnh gần đông đá.

Mùa đông năm 1976, trời quá lạnh, có khi nửa tháng tôi mới dám tắm một lần. Mỗi lần xối nước lên mình, nước bốc thành hơi, khói bay lên mù mịt. Khi nói chuyện, thấy hơi nước bay ra khỏi miệng. May mắn thay tôi có mang theo cái áo mưa lớn bằng “nylon” rộng thùng thình quá đầu gối. Nhờ nó, tôi chịu đựng được cái lạnh mùa đông năm 1976 và những mùa đông kế tiếp. Cái áo mưa này tôi vá đùm, vá chụp hơn chục miếng vá, đến nỗi “cán bộ quản giáo” tức cai tù nói: “Anh không còn cái áo nào khác sao mà anh cứ mặc cái áo này vậy”. Cái áo này vá tứ tung làm xấu hổ cán bộ cai tù chăng? thấy sự nghèo khổ tột cùng của tôi, không có cái áo lành lặn mà mặc?. Có những anh em khác còn may bao bố để mặc khi gia đình chưa có gởi áo quần vào, trông còn tệ hơn là cái áo vá đùm vá chụp của tôi nữa.

Xuống xe tại cổng trại trung ương số 1 Lào Cai, chúng tôi được dẫn vào khu nhà khá sạch sẽ. Được cho ăn bữa chè nóng hổi. Mấy ngày sau, ngày nào cũng ăn cơm trắng, thịt cá đầy đủ. Chúng tôi có cảm tưởng ở miền Bắc, công an tử tế hơn trong nam. Nhưng chỉ được vài ngày rồi thôi. Mỗi bửa ăn chỉ là một miếng bánh mì mỏng dính, xẹp lép chưa được nửa nắm tay. Ăn hết rồi vẫn còn thấy đói. Có khi trại phát bắp luộc, được vài ba trái. Ăn bắp trái, càng thấy đói hơn nữa vì ba trái bắp thì ăn được mấy hột. Có hôm, chúng tôi được phát bánh mì, nhưng trộn lẫn với than đá. Ăn vào đụng răng, nghe lộp cộp, không thể nhai được. Nhà bếp thu hồi lại, nấu thành cháo, phát cho một ít nước bánh mì để cầm hơi. Đói quá, không ngủ được, nhưng chúng tôi cũng phải chịu chớ có kêu ca được với ai bây giờ.

Lúc nào cán bộ cũng theo dõi chúng tôi xem chúng tôi có nói lời nào chống đối họ không?. Có tìm cách trốn trại không. Vậy mà năm 1976 cũng có mấy anh trốn ra khỏi trại, nhưng đều bị bắt lại ngay hôm đó vì không thể đi xa được. Đa số những người sinh sống ở vùng này là dân tộc thiểu số. Trong trại này, khi chúng tôi đến ở, đã thấy trên các tấm ván trên các hộc đựng đồ lĩnh kỉnh ở đầu chỗ nằm, có khắc tên người Mỹ đã từng bị giam ở đây. Sau này tôi mới biết trại này cũng từng giam tù binh Mỹ. Đó là trại Trung ương số 1 Lào Cai. Đây là trại kiểu mẫu giam tù chính trị.

Trại K3 và K4 Vĩnh Phú

Tôi ở trại K3 Vĩnh Phú ròng rã bốn năm trời. Trại này có nhiều kỹ niệm với tôi hơn hết. Một người tôi không bao giờ quên tên được, đó là đội trưởng đội hai, đội trồng bắp, trồng khoai lang, khoai mì. Sau đó, đương sự nhờ quá tích cực được cất nhắc lên làm thi đua toàn trại K3 Vĩnh Phú. Người đó là Phạm Đình Thanh.

Khi Trung Quốc chuẩn bị tấn công vào các tỉnh tiếp giáp với Việt Nam, Cộng Sản đưa chúng tôi xuôi về miền nam. Hai bạn tù bị còng tay với nhau, đẩy lên xe bít bùng. Trong khi di chuyển, bên ngoài trời mưa to, xe lắc lư dữ dội, khi chạy có lúc tôi cảm thấy chắc là sắp sa xuống thung lũng hay xuống hố sâu. Tôi ở phía trong xe, gần tài xế, khi xe ngả nghiêng, lôi kéo cả mấy chục người tù từ phía sau xe, chúi mũi dồn về phía trước, đè lên chúng tôi, tưởng đâu đã ngộp thở.Tôi nghĩ chắc mình sẽ chết vì ngộp thở, hay có thể chết vì xe lăn xuống hố và rồi gia đình vợ con, chẳng có ai biết được mình chết ở đâu?.

Mùa hè năm 1978, tôi bị đưa về trại K3 Vĩnh Phú, nơi có đền thờ vua Hùng Vương. K3 Vĩnh Phú nằm ở giữa thung lũng, núi đồi vây phủ xung quanh. Ở đây tôi gặp Cha Khoa tự Khải, Hiệu Trưởng trường trung học Đồng Tiến, Cha Thấy ở Mỹ Tho bị bắt vì trong xe có tiền bạc triệu lúc bấy giờ là số tiền lớn. (Lương công chức hạng A khoảng 30,000 hay 40,000 đồng một tháng).Tôi được phân chia vào đội trồng khoai lang, khoai mì. Mỗi sáng sau khi được phát cho một củ khai lang hay khoai mì nho nhỏ, vác cuốc ra rẫy, cuốc đất, lật từ vuông đất lên, rồi bừa cho nhuyễn để khi mưa xuống gieo hột bắp hay đặt các dây khoai lang. Không đủ trâu để cày, nên người tù chúng tôi phải thay trâu kéo cày.

Tôi ở chung với Luật sư Lê Như Ninh, sống ở Nha Trang, ở tù vì tham gia đảng Dân Chủ, và các anh Võ văn Bé, Phùng văn Chấn, Lê Tấn Hà… nhân viên Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình báo. Những tháng ngày dài lê thê sống ở K3 này công việc thường là cuốc đất, trong khi ngày ba bữa ăn toàn bo bo không xay. Sau khi ăn chừng năm mười phút thì tất cả bo bo đều được tống ra ngoài hết vì bao tử người không thể tiêu hoá bo bo không xay, bo bo còn nguyên vỏ được. Loại này dùng để cho ngựa hay trâu, bò ăn. Cho nên chúng tôi ăn bo bo được vài tháng, mọi người chỉ còn da bọc xương giống như những con khỉ ốm đói biết đi, những con ma đói đang cuốc đất. Mỗi lần phát cơm, phân chia cơm, mỗi người được một nắp bình thủy cơm, còn là bắp trái loại cứng ngắc nhai không được. Tù nhân chỉ được ăn loại bắp cứng dành cho trâu bò.

Đói mờ mắt. Đói triền miên. Đói dữ dội. Đói quá có nhiều anh em ăn bất cứ thứ gì anh em nghĩ là có thể ăn được, nên anh em thường nói: “cái gì nhúc nhích thì ta ních liền”. Ra ngoài đồng gặp rau má, rau tàu bay, bất cứ thứ rau gì tù nhân đều ngắt ăn sống. Có người khi đi ra đồng làm việc, ăn rau trừ bửa, hay gom ba phần của trại phát, sáng trưa và tối, ăn một lần buổi tối cho no. Anh em tù đa số đều bị bịnh phù thũng. Mùa đông năm 1978 là mùa đông khủng khiếp nhất trong đời tù của chúng tôi. Lần đầu tiên tôi mới biết thế nào là mưa phùn, gió bấc. Ở trong Nam chỉ có mưa nắng hai mùa chứ chưa bao giờ gặp cảnh mưa gió mà còn lạnh lẽo liên tục như thế.

Tôi còn nhớ anh Quế là Giáo sư ở Quảng Nam, Đà Nẳng, là Thanh tra của Sở Giáo dục. Anh bị tù vì tham gia đảng Dân Chủ. Vì quá ốm yếu nên làm việc chậm chạp, cuốc đất không đạt “chỉ tiêu trong ngày”, bị đội trưởng cự nự. Anh cố cuốc mạnh tay hơn, nhanh hơn, nhiều hơn. Tối hôm đó vào khoảng hai ba giờ khuya, anh em nằm gần bên anh Quế hô to lên:

“Anh Quế chết rồi ”.

Không ai biết anh Quế chết vì bịnh gì, nhưng chắc chắn anh đã chết vì bị thiếu ăn, bị bỏ đói lâu dài, bị kiệt sức mà thôi.

Mới mấy hôm trước trong đội tù cũng có người chết vì ăn cóc nướng ở lò rèn. Có lẽ vì anh nướng vội vã, không kịp làm sạch sẽ, nên khoảng vài giờ sau khi ăn thịt cóc, chừng nửa đêm, anh kêu đau bụng, không có thuốc và cũng không chở đi cấp cứu kịp và hôm sau thì anh chết.

Trong thời gian này khoảng cuối năm 1978 đầu năm 1979, cứ vài ngày là có vài người ra đi. Anh em liên tục đóng hòm chôn cất bạn tù. Vài người tù khiêng bạn mình ra bìa rừng, chôn vội vàng vùi dập. Không có ai được phép khóc thương. Vợ con ở nhà cũng chẳng hay một con người, một tù nhân đã chết.

Ở K3 Vĩnh Phú tôi có gặp Nguyễn Minh Diệu học cùng lớp trường Trung học Cần Giuộc 1955 – 1959. Gặp Phan tấn Ngưu ở K5, gặp Dương Bồng Quảng con chủ nhà máy xay lúa ở Chợ Trạm, bạn học chung ở trường Tấn Thành, Chợ Trạm 1954-1955.

Những tháng này là thời gian đói khát dữ dội nhất và cũng bị kềm kẹp, khống chế nhiều nhất. Một lời nói than van hay dèm pha nhà nước được báo cáo lên cán bộ là có thể bị cùm chân, cùm tay từ 14 ngày trở lên.

Một lần đang ở trong phòng nghe tiếng la thất thanh ở bên ngoài, tôi dòm qua cửa sổ phòng giam thấy 4 cán bộ đang đá một tù nhân như đá banh. Họ đá anh này từ trái sang phải, từ góc nầy sang góc kia, đá chán thấy mệt, họ mang anh vào phòng giam riêng.

Mùa hè năm 1982, tôi được chuyển sang K4 Vĩnh Phú và được đưa về đội 8, đội làm ruộng. Tôi được biết đây là nơi thường giam giữ những người tội nặng của miền Bắc. Vùng này có tên là Mai Côi, Thác Guồng. Đến Mai Côi, Thác Guồng này mà được trở về đời sống bình thường là chuyện hy hữu. Thông thường đã bị giam ở đây coi như sẽ chết.

Mỗi buổi sáng sớm chúng tôi vác cuốc ra ruộng, lội xuống nước sâu quá đầu gối. Ruộng này là vũng nước ao tù, là vùng tận cùng là chỗ trũng, nước từ các con suối ở thượng nguồn trong vùng rừng núi trên cao gôm về, cho nên chứa đủ tất cả các chất độc nhất do lá rừng, vi trùng, chất thối rửa của súc vật, côn trùng qui tụ về đây. Chúng tôi làm ruộng này chừng một tháng thì rụng hết lông chân và bị sốt vàng da. Loại sốt này rất đặc biệt, ai bị bịnh này không thể đứng được, tay chân rã rời, không ăn uống gì được, nếu ăn chút cháo cũng bị ói ra hết. Mỗi khi bị bịnh, không đi đứng được, phải nhờ bạn bè cõng.

Trong đội 8 của chúng tôi quá nửa đội bị bịnh sốt vàng da. Anh Minh cùng đội đã phải cỏng anh Đề lên trạm xá, vài ngày sau anh Đề lại cõng anh Minh lên trạm xá vì bịnh này. Tôi cũng bị bịnh này không ăn uống được hơn một tuần lễ. Nếu không có bác sĩ Thịnh biết cách điều trị bịnh này, chắc tôi cũng như nhiều anh em tù khác đã được chôn cất ở bìa rừng thuộc thung lũng Mai Côi, Thác Guồng của tỉnh Vĩnh Phú này.

Mai Côi, Thác Guồng là địa danh mà dân miền Bắc, Hà nội rất sợ, đó là nơi “đi dễ, khó về”. Một lần trong dịp Tết ta, anh em trong trại đang nấu nướng vì được nghỉ ngơi trong mấy ngày này. Vợ một anh lính gác, áo quần vá nhiều chỗ, ẩm đứa con, đi vào bên trong trại tìm xin thuốc uống cho con. Chị này đi hỏi anh em nào có thuốc cảm hay thuốc ho để cho cháu dùng. Tôi không hiểu tại sao chị không lên trạm xá của công an. Nhưng tôi thấy chị ăn mặc áo quần vá víu như thế, chứng tỏ chị cũng nghèo quá, khổ như chúng tôi mà thôi. Chúng tôi ở tù trong, thì chị ở tù ngoài.

Tôi còn nhớ có lần đi làm rẩy ở Vĩnh Phú, gặp dân chúng ngoài đường, họ nói: “Tôi tưởng mấy anh sẽ giải phóng chúng tôi chứ, tôi đâu có ngờ ngày hôm nay tôi gặp các anh ở đây”

Sau mấy năm thấy tù nhân chết quá nhiều, trại cho tổ chức nhận quà năm ký từ miền Nam, để cho vợ con của tù nuôi tù, đỡ gánh nặng nhà nước. Sau này, mới hiểu sở dĩ có vụ cho thăm nuôi là vì bắt đầu có thương thuyết vơi phía Mỹ về sô phận tù chính trị của miền Nam. Nếu để bọn tù chết hết, đâu còn thứ gì mang ra đổi chác với Mỹ được. Do vậy, nhiều khi gia đình gởi nhiều hơn năm ký mỗi ba tháng cũng được cho thông qua vì khi có quà cáp anh em cũng có biếu cán bộ như thuốc lá, đường, bánh trái, thuốc uống trị bịnh cảm, thuốc bổ, vitamin, thuốc sốt rét…

Trại Hà Nam Ninh

Cuối năm 1982, chúng tôi được chuyển đến trại Hà nam Ninh gần Hà nội. Đây cũng là lúc diễn ra nhiều thay đổi.

Một lần khám xét đồ đạc của tù, thấy mấy cuốn sách về Lê Nin, một cán bộ coi tù nói “giờ này mà còn đọc cuốn sách này”. Từ câu nói này, tôi thấy văn hóa miền Nam đã tác dụng ngược trở ra miền Bắc.

Khi tôi còn bị giam giữ ở K3 Vĩnh Phú cán bộ cấm chúng tôi hát nhạc vàng, gọi là “nhạc ngụy”, nhạc làm cho mất nước. Nếu có ai hát nhạc vàng bị báo cáo lên thì có thể bị cùm chân bị giam riêng. Cái nón có mũ lưỡi trai ở phía trước cũng bị chê là của Mỹ ngụy yêu cầu cắt bớt. Đội nón từ miền nam đem ra là bị phê bình, chỉ trích. Đi dép râu thì được. Nón cối thì được. Cái gì của miền nam đều là xấu cả.

Nhưng rồi một hôm tôi được phân công nhổ cỏ ở chung quanh khu nhà cán bộ ở vì lúc đó tôi bị bịnh quá không ra ngoài đồng cuốc đất được. Tôi nghe từ trong phòng của cán bộ đang hát nhạc vàng của miền nam. Tôi bắt đầu suy nghĩ, cấm tù nhân hát nhạc vàng mà cán bộ lại hát nhạc vàng. Như vậy văn minh, văn hoá miền nam đã ảnh hưởng ra miền Bắc bằng chứng là nhạc vàng bị cấm hát, nhưng họ lại thích nghe, say mê những bản nhạc vàng đó.

Bắt đầu ở đây anh em hát “nhạc vàng” thoải mái. Ban đêm, bên ngoài buồng giam có lính gác đi tuần kiểm soát, bên trong anh em hát “nhạc vàng” không còn bị phạt nữa. Trong trại lúc bấy giờ tôi nhớ có thầy Hòa là Đại Đức tuyên úy Phật giáo, thuộc hàng trăm bài hát “nhạc vàng”. Thầy Hoà có thể hát liên tục vài giờ cũng không hết nhạc. Đêm nào không hát, cán bộ ở bên ngoài còn yêu cầu anh em hát “nhạc vàng” cho vui. Cán bộ cộng sản đã mê “nhạc vàng” rồi.

Văn minh, văn hóa miền Nam Việt nam đã ảnh hưởng vào tâm tư, tình cảm của người cộng sản miền Bắc.

Sau ba mươi năm tất cả những điều gì trước đây họ chỉ trích, họ cấm đoán, họ bỏ tù ngày hôm nay họ cho thực hiện lại hết như buôn bán tự do, không còn ngăn sông cấm chợ nữa. Nhưng họ áp dụng chế độ tư bản theo luật rừng rú vì tất cả luật pháp cũ họ đều hủy bỏ mà luật lệ mới chưa thành hình. Khi chiếm miền nam xong, họ đóng cửa trường Luật, đóng cửa trường Đại học Văn khoa Sài gòn.

Sau khi thắng trận họ tưởng làm kinh tế như đánh đấm ngoài mặt trận. Bán cà phê vĩa hè, hớt tóc vĩa hè cũng phải vô hợp tác xã. Do đó mà toàn dân phải ăn độn bo bo, ăn gạo có nhiều bông cỏ, trước khi nấu phải mất rất nhiều thì giờ lượm bông cỏ ra.

Sự dối trá đã ăn sâu vào nhà cầm quyền lẫn dân chúng, phải lường gạt nhau để sống. Nhà cầm quyền lường gạt dân. Dân lường gạt nhà cầm quyền và lường gạt lẫn nhau. Lương tâm của con người đem dấu vào sọt rác.

Nếu sống đàng hoàng, mua bán đàng hoàng thì không sống nổi. Nên dân chúng phải lươn lẹo. Trong giai đoạn ngăn sông cấm chợ, muốn sống còn, phải dối trá, phải lươn lẹo, đi mua thịt lậu từ dưới quê lên để bán, mua đường, mua áo quần cũ, mua bán đồ phế thải. Chở ít gạo từ tỉnh này sang tỉnh kia để kiếm lời. Khi đi buôn bán nếu qua mặt được công an kinh tế thì sống, nếu bị bắt thì mất vốn. Nhưng không buôn bán thì lấy gì mà sống.

Hôm nay nhà cầm quyền thông báo nói không đổi tiền, sáng hôm sau, giới nghiêm, đổi tiền làm cho nhiều người sạt nghiệp. Thông cáo kêu gọi quân nhân, công chức, sĩ quan trình diện học tập trong một tháng, nhưng giam mãi không biết ngày về, không ra tòa kêu án, ngồi bốc lịch dài dài. Mỗi ba năm anh em gọi là một “cây gậy”. Không ai biết mình sẽ phải ở mấy “cây gậy” đây? Ba năm, sáu năm, chín năm, mười hai năm … Ở tù không biết ngày nào về với gia đình hay vĩnh viễn sống trong miền rừng núi Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh …Trung Quốc có Tân Cương. Nga sô có Tây Bá Lợi Á dành cho tù nhân vĩnh viễn định cư ở đó.

“Tù cải tạo” dành cho người miền Nam thua trận thực sự không hy vọng có ngày trở về với gia đình, nếu những lãnh tụ cộng sản không thình lình thấy là mạng sống của đám tù này bỗng là thứ có thể thương thuyết đổi chácvới phía Mỹ. Nhờ vậy mà trình trạng nhà tù bỗng thấy dễ thở hơn.

Thời gian sống tại trại Nam Hà là thời gian thoải mái nhất trong cuộc đời ở tù. Lúc này quà cáp thường xuyên gởi ra từ vợ con ở trong nam. Cán bộ đã cởi mở hơn. Họ đã nhìn thấy sĩ quan, công chức miền Nam không phải là những người ăn gan, uống máu. Họ đã hiểu phần nào về người bại trận.

Thân nhân của các tù nhân từ trong Nam gởi tiền ra cho chúng tôi, để chúng tôi mua thịt cá, trái cây. Nhiều khi cán bộ dễ dãi để chúng tôi nấu chè, nấu cơm, nấu canh chua trong phòng giam. Họ dễ dãi cho nấu nướng là để họ bán được hàng, để họ kiếm thêm tiền. Với cái lon Guigoz chúng tôi kho thịt, nấu cơm, nấu canh v.v…thật là tiện dụng. Cần giẻ rách, một ít dầu là chúng tôi có thể đun một nồi chè ở trong phòng giam.

Mỗi sáng chúng tôi đi ra đồng làm cỏ để cấy lúa. Tôi thấy nhiều người ra đồng quá trễ. Hơn 11 giờ mới cầm cuốc, lếch thếch kéo ra đồng làm việc.

Tôi hỏi họ: “Sao các anh đi làm trễ quá vậy?”

Họ trả lời: “Đi ra sớm mà làm gì. Làm cho hợp tác xã chứ có phải cho mình đâu. Làm nhiều, làm ít cũng chia chác như vậy mà thôi.”

Khi cuốc đất, họ khều khều vài lát cuốc như phủi bụi; một lát, họ đã kéo nhau về nghỉ. Tôi suy nghĩ dân miền Bắc làm việc như vậy hỏi rằng khá giả làm sao được. Vậy mà họ đã thắng miền nam. Thế mới lạ chứ.

Nếu “Trương Chi đẹp trai” đó là tựa bài viết của Dương Hùng Cường để mô tả dân miền nam nghe tiếng hát Trương Chi thì những người nhẹ dạ rất mê, rất thích nhưng trong thực tế thấy gương mặt của Trương Chi thì không còn có thể mê được nữa. Nghe Cộng Sản tuyên truyền thì đa số đều rất thích nhưng thực tế, họ làm ngược lại những điều họ nói, nên sau khi chiếm miền nam rồi thì “Nếu cái cột đèn biết đi nó cũng bỏ xứ mà đi”. Cho nên dân miền Nam không bao giờ quên được câu nói để đời của Cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”

Ba tôi có cảm tình với Việt Minh, Cộng sản vì bạn của ba tôi là ông tư Lê đã theo kháng chiến từ những năm 1945. Khoảng năm 1948, 1949 Việt Minh đánh đồn Chợ Núi, quận Cần Giuộc, Tư Lê có vào nhà ba tôi để trò chuyện. Ba tôi cho mượn ống quẹt để châm hút thuốc lá. Sau trận đánh đồn đó ba tôi bị ông Tổng Nhì và Pháp bắt, đánh để khai thác về Việt Minh (Cộng sản) và ba tôi đã bị bịnh nhiều, nằm điều trị ở nhà gần một năm.Từ đó ba tôi rất hận và ghét Pháp và có cảm tình với Việt Minh. Sau này dĩ nhiên ba tôi cũng không có cảm tình với người Mỹ và quân đội quốc gia. Khi tôi ra ứng cử Nghị viên Hội đồng đô thành Sài gòn, ba tôi đã nói: “Ẩm tao ngồi chức đó tao cũng nhảy xuống” có ý nói với tôi là “bỏ tiền ra ứng cử chi cho tốn kém, mất thì giờ” mà ba tôi cũng không ưa chức vụ đó nữa.

Khi di chuyển từ K4 Vĩnh Phú qua trại Hà nam Ninh, tôi được đưa về phân trại A. Tôi gặp đủ hết các anh em cùng bị giam chung với tôi ở Long Thành như Mai Kim Đỉnh cùng học chung ban Cao Học trường Chính Trị Kinh Doanh ở thương xá Tax, Sài gòn những năm 1972-1974, Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa chủ nhiệm của Ban Tuyên Huấn của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến và của đảng Tân Đại Việt. Gặp lại một số học trò cũ bị giam ở đây vì theo nhóm kháng chiến “phục quốc”, chống Cộng sau năm 1975.

Nhóm này cũng ở tù khá lâu, bảy, tám năm hay hơn nữa nhưng khi có chương trình HO để đi định cư tại Hoa Kỳ thì những người này không được xếp vào diện HO vì họ được xem là những thành phần chống đối sau năm 1975.

Sống ở phân trại A một thời gian ngắn, họ lại tách một số chúng tôi ra, di chuyển về phân trại C của trại Hà Nam Ninh.

Không khí tù đày đã dễ thở hơn so với những thời gian trước. Khi chúng tôi có quà cáp thăm nuôi đã đút lót cán bộ thuốc lá, bánh kẹo, thuốc uống từ trong Nam gởi ra. Chúng tôi được mua thức ăn do cán bộ tổ chức bán như thịt heo, thuốc lá. Ngay cả rượu chúng tôi cũng có thể mua được bằng cách liên hệ với người dân sống chung quanh trại.

Tôi đã ở tù lâu quá rồi, gần tám năm. Mang trong người đủ thứ bịnh, không chết là may mắn lắm rồi.

Sau khi ăn Tết trong trại Hà Nam Ninh chừng vài tháng, cán bộ gọi anh em tập họp lại, ngồi ngoài sân, gọi tên từng người sang ngồi một bên và yêu cầu đứng lên vào phòng thu dọn đồ đạt. Lúc đó, anh em mới biết mình sẽ được thả cho về.

Khi ra khỏi trại, tôi không muốn nhìn trở lại chỗ mà tôi đã bị giam cầm trong thời gian dài ở đó.

Xe hơi chở chúng tôi bỏ vào khu nhà ga xe lửa chờ có chuyến đi vào trong nam. Vài người trong chúng tôi đi tìm cà phê để uống. Phố xá tiêu điều. Thành phố Hà Nội lúc bấy giờ (đầu năm 1983) là thành phố chết, không có buôn bán gì. Uống cà phê cũng phải uống chui. Đi ra nhà sau của tiệm cà phê không có bảng hiệu gì cả, mua cà phê đen uống với đường đã là quí lắm rồi. Họ không có bán cà phê sửa vì đó là một xa xỉ phẩm.

Ngồi trên xe lửa xuôi về miền Nam, đến Quảng Ngãi chúng tôi còn mấy bộ áo quần cũ trên bảy năm, mùng mền mang theo lúc đi trình diện vậy mà tôi bán cũng được mấy chục đồng bạc lúc đó. Với số tiền này tôi mua được tô hủ tiếu để ăn uống dọc đường.

Khi đến ga Hàng Xanh trời vừa sáng. Tôi chỉ còn đủ tiền để kêu chiếc xe xích lô chở về bến xe Phạm thế Hiển. Leo lên xe Lam chạy dọc đường Phạm thế Hiển, tôi nhìn không ra được con đường cũ mà tôi đã đi qua lại thường xuyên trước năm 1975. Bây giờ, sau gần tám năm, cảnh vật thay đổi nhiều quá. Nhà cửa xây cất thêm lấn ra lề đường. Có những nhà mới cất tôi nhìn không ra. Về tới nhà lúc nào tôi cũng không hay.

Bước vào nhà của mình mà thấy quá xa lạ. Có mấy đứa trẻ con ngồi học ở trong nhà mà tôi đâu có biết đứa nào là con tôi đâu. Khi tôi đi “học tập cải tạo” con út tôi mới vừa tám tháng, khi về đứa út cũng đã 8 tuổi rồi, làm sao tôi biết nó cho được. Đứa con trai 9 tuổi chạy xuống nhà sau, lúc đó bà xã tôi đang nấu cơm. Nó nói: “Má ơi có ông nào vô nhà kìa.”

Tôi vừa bước vô nhà mình, đi thẳng ra phía sau nhà, gặp bà xã đang nấu cơm, gặp cậu bảy Bích, tự nhiên nước mắt tôi trào ra. Tôi đã khóc, không thể nào cầm giữ nước mắt cho được. Người ta khóc vì buồn rầu, đau khổ. Tôi khóc vì tưởng chừng như đã chết rồi mà được sống lại. Tôi đâu có ngờ tôi còn sống để được về với gia đình sau gần 8 năm trong các trại tù khắc nghiệt ở các miền thượng du, núi rừng âm u miền bắc.

Giấy ra trại ký ngày 28 tháng 02 năm 1983, ngày tôi về tới nhà trình diện công an phường là 9 tháng 3 năm 1983 ngót nghét còn ba tháng nữa là đủ 8 năm tù, vì cái tội duy nhất là tội tham gia đảng phái quốc gia.

Ngẫm lại, tôi thấy mình còn được ông trời thương, được sống sót về với gia đình, để cho các con của tôi có cha, cho tôi có cơ hội phụ giúp phần nào sinh kế cho gia đình vợ con. Và rồi sau cùng, có cơ hội đưa gia đình tới được nước Mỹ tự do để làm lại cuộc đời.

Xin tạ ơn trời, tạ ơn người, và biết ơn nước Mỹ.

Ngày 26 tháng 04 năm 2015

Phùng Văn Phụng