THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV-Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS
CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ 

CHƯƠNG V

NỀN VĂN HÓA QUYỀN LỰC VÀ NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG

  1.   Sau khi xem xét cách thức mà AI đang biến đổi một số khía cạnh của đời sống và xã hội, đặc biệt là những hệ lụy nghiêm trọng đối với phẩm giá con người, giờ đây chúng ta phải hướng sự chú ý đến một vấn đề còn bi thảm hơn nữa, đó là chiến tranh. Ở đây, câu hỏi không đơn thuần là hiệu suất của các công cụ mới, mà còn là nguy cơ công nghệ khi tách rời khỏi đạo đức và trách nhiệm sẽ làm cho các quyết định sinh tử trở nên nhanh chóng và phi nhân hơn, đồng thời biến việc sử dụng vũ lực thành một lựa chọn tức thì và khả thi. Trong một thế giới càng ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, hòa bình không chỉ đơn thuần là một vấn đề trong số những vấn đề khác, mà là điều kiện tiên quyết cho công ích phổ quát và thước đo sự trưởng thành về đạo đức của các dân tộc, đặc biệt là những người có trách nhiệm cai trị.
  2.   Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang thay đổi bản chất của các xung đột. Bên cạnh chiến tranh truyền thống, đã xuất hiện các hình thức hỗn hợp như tấn công mạng, thao túng thông tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và việc tự động hóa các quyết định chiến lược. AI đóng vai trò như một nhân tố thúc đẩy trong các tiến trình này, đặc biệt là trong bối cảnh mà nhiều công nghệ vốn mang tính lưỡng dụng (có thể dùng cho cả mục đích tốt lẫn xấu). Do đó, những gì được tạo ra để phòng thủ có thể nhanh chóng bị chuyển đổi công năng sang tấn công, và ranh giới mong manh giữa bảo vệ và xâm lược trở nên mờ nhạt. Dù AI có thể tăng cường khả năng phòng thủ và bảo vệ thường dân, nó cũng có thể hạ thấp ngưỡng cửa sử dụng vũ lực, che chắn con người khỏi trách nhiệm và dung dưỡng một nền văn hóa mà trong đó kẻ thù bị giảm xuống thành một con số thống kê, và nạn nhân trở thành “thiệt hại ngoài ý muốn”. Đối mặt với những biến đổi này, chúng ta phải nhắc nhớ các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội — nhân phẩm, công ích, mục tiêu phổ quát của của cải, tính bổ trợ, tính liên đới và công lý — vì đó là những tiêu chuẩn để phán đoán xem liệu công nghệ có đang thực sự phục vụ nhân loại hay đang khuất phục họ. Do đó, chúng ta nên coi các nguyên tắc này như những hướng dẫn cho việc đưa ra quyết định của mình.
  3.   Vì vậy, trong chương này, tôi sẽ so sánh hai cách tiếp cận đối lập nhau mà tôi đã gợi lên qua hình ảnh Thánh Kinh trong phần Mở đầu. Một bên là sự cám dỗ xây dựng Tháp Babel, dựa vào quyền lực và sự kiêu ngạo. Bên kia đòi hỏi sự kiên nhẫn để tái thiết Giêrusalem “từng viên gạch một”, như thời ngôn sứ Nehemia, bằng cách bảo vệ nhân loại và lợi ích chung.
  4.   Nếu xem xét các động lực toàn cầu, chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng hơn sự lan rộng của một nền văn hóa quyền lực có tính đặc trưng của sự phân cực và bạo lực. Tháp Babel hiện đại không chỉ được nhìn thấy trong mô hình kỹ trị toàn cầu hóa, mà còn trong cuộc đụng độ từ xa giữa các chủ nghĩa đế quốc đối lập, giữa các cường quốc muốn bảo tồn quyền tối thượng của mình và những thế lực khát khao giành lấy quyền tối thượng đó, dẫn đến vô số xung đột cục bộ. Hơn nữa, dường như không có giới hạn nào cho cuộc đua — vốn được thúc đẩy bởi một tham vọng phi nhân — nhằm phát triển các công nghệ càng ngày càng mạnh mẽ hơn hoặc nhằm đảm bảo quyền kiểm soát chúng. Tuy nhiên, bất chấp vòng xoáy đi xuống này, chúng ta vẫn có thể thoáng thấy một phần lớn nhân loại đang nỗ lực để giữ gìn nhân tính và làm việc để xây dựng thành thánh của sự chung sống và hòa bình. Trớ trêu thay, chúng ta thường là những thợ xây vô tình và những kiến trúc sư vụng về của thành đô này, có khả năng thực hiện những nghĩa cử hào phóng nhưng lại thiếu một tầm nhìn tổng thể. Dự án xây dựng này chậm hơn, ít dễ thấy hơn và ít hào nhoáng hơn, đang chờ đợi một sự thấu hiểu tốt hơn và sự phối hợp lớn hơn để có thể trở thành trách nhiệm có ý thức và rõ ràng của mọi cộng đồng, từ các gia đình cho đến các Quốc gia, và các mối quan hệ giữa các Quốc gia. Chính triển vọng dấn thân này, công trường xây dựng niềm hy vọng này, là điều chúng ta gọi là “nền văn minh tình thương”.

Nền văn minh tình thương trong kỷ nguyên kỹ thuật số

  1.   Khi Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đặt ra cụm từ “nền văn minh tình thương”[177], thế giới đang ở giữa thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chạy đua vũ trang và bất ổn kinh tế trầm trọng. Trong bối cảnh đó, Hội Thánh đã đề ra một con đường thay thế cho con đường đối đầu ý thức hệ giữa các hệ thống, và hình dung ra một trật tự xã hội trong đó công lý và bác ái đan quyện vào nhau, và tình thương trở thành nguyên tắc dẫn đường cho đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa. Ngày nay, chúng ta phải kiên quyết khôi phục tầm nhìn này, vì nền văn minh tình thương không phải là một điều không tưởng và ngây thơ, mà là một dự án đòi hỏi khắt khe, bao gồm việc chuyển hóa bác ái thành các cấu trúc của công lý, tạo hình thức thể chế cho tình huynh đệ và coi những người khác — dù là cá nhân hay các dân tộc — như những đồng minh cần thiết để xây dựng công ích. Như Thông điệp Fratelli Tutti đã nhắc nhở chúng ta, chỉ có tình yêu xã hội này mới có thể trở thành một nền văn hóa và một chuẩn mực, và từ đó mang lại một trật tự quốc tế ổn định, biến sự chung sống vũ trang đơn thuần tuý thành một cộng đồng với một tương lai chung.[178]
  2.   Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, nhận định này càng cho thấy ý nghĩa nền tảng của nó. Các mạng lưới kỹ thuật số, nền kinh tế toàn cầu hóa và sự phát triển của AI tạo ra các mối ràng buộc càng ngày càng chặt chẽ hơn, liên kết, theo thời gian thực, các quyết định được đưa ra ở một nơi với những hệ quả mà chúng tạo ra ở những nơi khác. Theo nghĩa này, những lời của Công đồng Vaticanô II về sự phụ thuộc lẫn nhau càng ngày càng gia tăng giữa các dân tộc vẫn mang tính thời sự, vì công ích đang có một chiều kích càng ngày càng phổ quát, với các quyền và nghĩa vụ liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại.[179] Do đó, dự án về một nền văn minh tình thương phải đảm nhận nhiệm vụ chuyển hóa sự phụ thuộc lẫn nhau có tính áp đặt này thành một sự liên đới có tính tự nguyện và được lựa chọn. Đây chính là nguyên tắc dẫn đường cho các tiến trình công nghệ. Trí tuệ nhân tạo giúp chúng ta hiệu quả hơn hoặc kết nối hơn thì chưa đủ; nó còn phải phục vụ cho việc xây dựng một gia đình nhân loại phổ quát, với các quyền và nghĩa vụ chung, trong đó sự gần gũi kỹ thuật số trở thành một cơ hội thực sự cho việc gặp gỡ và chăm sóc lẫn nhau.

Nền văn hóa quyền lực

  1.   Trong thời đại chúng ta, một nền văn hóa quyền lực đang ngự trị, trong đó sự sẵn có của các nguồn lực và khả năng thống trị có khuynh hướng áp đặt các chương trình nghị sự và tiêu chuẩn cho việc đưa ra quyết định. Bằng cách này, lợi ích chung của nhân loại bị đẩy lùi vào hậu trường và bi kịch cụ thể của các dân tộc trong chiến tranh bị hạ xuống thành một cân nhắc thứ yếu so với các lợi ích chiến lược. Nền văn hóa quyền lực này xâm nhập vào xã hội, thay đổi các mối quan hệ và hành vi, và lớn mạnh bằng cách bình thường hóa chiến tranh, theo đuổi sức mạnh quân sự càng ngày càng lớn hơn, tận dụng cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương và nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa hiện thực sai lầm, vốn khăng khăng rằng không có sự lựa chọn nào khác.

Sự bình thường hóa chiến tranh

  1.   Vào năm 1965, những lời của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã vang lên mạnh mẽ tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc: “Đừng bao giờ có chiến tranh nữa, đừng bao giờ có chiến tranh nữa!”[180] Chúng ta phải thừa nhận rằng, bất chấp những mong muốn và tuyên bố vì hòa bình, sáu mươi năm qua đã bị ghi dấu bởi các xung đột với sự tàn bạo đáng kinh ngạc, thường ảnh hưởng đến các thường dân trên một bình diện rộng lớn, dẫn đến cái chết của các nạn nhân vô tội, di dân hàng loạt, bất ổn xã hội và những vết thương lâu dài. Tuy nhiên, trên diễn ngôn công cộng, từng có một niềm tin phổ quát rằng chiến tranh chỉ nên là giải pháp cuối cùng, phải tuân theo các giới hạn đạo đức và pháp lý nghiêm ngặt, và luôn định hướng theo một tầm nhìn chính trị về hòa bình. Tiếp theo những bước phát triển trong giai đoạn ngay sau Đệ nhất Thế chiến, một bước ngoặt đã xảy ra sau Đệ nhị Thế chiến: hòa bình đã được đặt làm trọng tâm của trật tự quốc tế, như được chứng thực đặc biệt trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, với ý định “cứu thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh,”[181] Tương tự như vậy, hiến pháp của nhiều quốc gia đã hạn chế việc sử dụng vũ lực trong các hoàn cảnh cực đoan và bị giới hạn nghiêm ngặt. Ngay cả trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bất chấp sự tồn tại của các xung đột nghiêm trọng, ý thức rằng phải tránh một cuộc thế chiến mới bằng mọi giá vẫn luôn hiện hữu.
  2.   Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi mô thức thực sự trong các cuộc thảo luận công cộng và trong các quyết định liên quan đến việc tái vũ trang, với sự hồi sinh đáng lo ngại của chiến tranh như một công cụ của chính trị quốc tế, trong khi chính những nguyên tắc luân lý vốn trước đây đã từng giới hạn việc sử dụng chiến tranh lại đang bị suy giảm. Các xung đột khu vực kéo dài theo thời gian, căng thẳng leo thang và các sự đe dọa lẫn nhau đang trở thành chuyện gần như bình thường, và các hình thức xung đột được thúc đẩy bởi khát vọng bành trướng lãnh thổ, vốn được cho là đã thuộc về qua khứ, nay lại đang tái xuất hiện. Các tường thuật truyền thông có tính phân cực, thường được khuếch đại bởi các thuật toán ưu tiên cho xung đột và đối đầu, đang dần hình thành và điều kiện hóa dư luận quần chúng.
  3.   Chúng ta cũng đang chứng kiến một sự mất mát đáng lo ngại về ký ức lịch sử, khi những nhân chứng trực tiếp của nạn diệt chủng Holocaust và hai cuộc Thế chiến đang dần biến mất. Điều này dẫn đến việc viết lại quá khứ một cách có chọn lọc hoặc bóp méo, trong một bối cảnh mà các tin giả và sự thao túng các câu chuyện che mờ các bài học đã được rút ra. Không có một ký ức sống động về những nỗi kinh hoàng của chiến tranh, các quyết định chính trị có nguy cơ được đưa ra chỉ dựa trên quyền lực, mà không có bất kỳ sự cân nhắc nào cho những hậu quả lâu dài.
  4.   Đối với tất cả những điều này, các chiều kích truyền thông và kỹ thuật số đang thêm vào các yếu tố mới và có tính quyết định. Các mạng lưới truyền thông, các môi trường thông tin bị phân mảnh và các thuật toán vốn ưu tiên các nội dung gây xung đột có thể phóng đại sự phân cực và oán hận, gia tăng tuyên truyền và làm cho việc phân định chung trở nên khó khăn hơn. Do đó, chiến tranh không chỉ được chiến đấu bằng vũ lực, mà còn bị điều kiện hóa về mặt văn hóa qua các tường thuật đơn giản hóa, tâm lý bạn-hay-thù, thông tin sai lệch và sự sợ hãi. Khi ký ức lịch sử phai mờ và các nguyên tắc đạo đức bảo vệ thường dân cũng như những người dễ bị tổn thương nhất bị suy yếu, việc biện minh cho bạo lực là điều cần thiết, không thể tránh khỏi hoặc thậm chí là “đã được thanh lọc” trở nên dễ dàng hơn. Chính trong bối cảnh này, nhân loại đang trượt dài vào một nền văn hóa quyền lực bạo tàn, trong đó hòa bình không còn xuất hiện như một trách nhiệm phải gánh vác, mà là một cuộc đình chiến mong manh giữa các cuộc xung đột. Ngày nay, hơn bao giờ hết, mà không làm tổn hại đến quyền tự vệ theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, điều quan trọng là phải tái khẳng định rằng học thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn đã quá thường xuyên bị lạm dụng để biện minh cho bất kỳ loại chiến tranh nào, giờ đây đã lỗi thời[182]. Nhân loại sở hữu những công cụ hiệu quả và có khả năng hơn nhiều để thăng tiến sự sống con người và giải quyết xung đột, chẳng hạn như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ảnh một sự nghèo nàn trong mối quan hệ vốn luôn để lại những hệ lụy thảm khốc cho quần chúng thường dân.

Sức mạnh không giới hạn

  1.   Sự phát triển của tổ hợp công nghiệp-quân sự đã trở thành một đặc điểm định hình bối cảnh chính trị hiện nay và đã trở nên một ngành then chốt trong nền kinh tế của nhiều quốc gia khác nhau. Mối liên kết chặt chẽ giữa các lợi ích kinh tế, bộ máy quân sự và các quyết định chính trị tạo ra một “quốc gia vũ trang”, trong đó chiến tranh xuất hiện như một phần mở rộng tự nhiên của chính trị, và thị trường vũ khí trở thành một động lực tự trị đằng sau các quyết định quân sự. Chúng ta cũng không thể phớt lờ các lợi ích kinh tế khổng lồ đằng sau chiến tranh. Ngành công nghiệp vũ khí, và các quốc gia cung cấp vũ khí, thu lợi nhuận từ một thị trường phát triển rất mạnh chính nhờ vào các cuộc xung đột. Theo nghĩa này, cũng có những lợi ích tài chính góp phần thúc đẩy những căng thẳng ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
  2.   Các kho vũ khí quân sự đang nhận được sự chú ý trở lại. Trong quá khứ, việc nhận thức được mối đe dọa từ các loại vũ khí có khả năng hủy diệt toàn thể nhân loại đã thúc đẩy các con đường hướng tới giảm bớt căng thẳng và đàm phán  giải trừ quân bị . Tiếc thay, cách tiếp cận này đã bị bỏ lại phía sau, và sự tiến hóa của các kho vũ khí hạt nhân — bao gồm cả triển vọng sử dụng “chiến thuật” của nó — làm cho việc sử dụng các loại vũ khí như vậy có vẻ ít bất khả thi hơn trước. Trong bối cảnh này, Hiệp ước Cấm Vũ khí Hạt nhân, có hiệu lực vào năm 2021 với sự ủng hộ của hơn bảy mươi quốc gia, là một bước đi quan trọng. Tuy nhiên, nó có nguy cơ phần lớn chỉ có tính biểu tượng vì các cường quốc hạt nhân lớn đã không đồng ý tham gia. Điều này dẫn đến niềm tin sai lầm nhưng lan rộng rằng răn đe hạt nhân là một điều kiện tiên quyết không thể thiếu được cho sự an ninh. Điều này cũng góp phần vào một cuộc tranh đua vũ trang mới, vốn khó kiểm soát và đi kèm với việc dỡ bỏ dần các thỏa thuận cắt giảm hạt nhân, cũng như phát triển các vũ khí “thu nhỏ”, khiến việc sử dụng chúng dường như là một lựa chọn khả thi hơn.
  3.   Lý luận tương tự cũng áp dụng cho chiến tranh truyền thống. Lực lượng quân sự, các sáng kiến ngoại giao yếu ớt và sự phức tạp của các lợi ích liên quan góp phần vào các xung đột có khuynh hướng trở nên kéo dài, với chi phí cực kỳ cao về nhân lực và môi trường. Khởi đầu một cuộc chiến dễ dàng hơn nhiều so với việc chấm dứt nó, vậy mà, cuộc thảo luận về phòng ngừa xung đột vẫn có tính bên lề một cách bi thảm.
  4.   Tình hình càng trở nên bất ổn do sự hiện diện của các tác nhân vũ trang mới, chẳng hạn như các nhóm thánh chiến, dân quân tư nhân và các mạng lưới tội phạm đánh dấu sự chấm dứt quyền độc quyền sử dụng vũ lực của Chính quyền. Thường các nhóm này đan xen các động cơ ý thức hệ mơ hồ với các lợi ích kinh tế cụ thể, biến chiến tranh thành một “lối sống” cho cả thế hệ thanh thiếu niên và trẻ em. Ở đây, mục tiêu không còn là một chiến thắng dứt điểm, mà là sự kéo dài xung đột như một nguồn quyền lực và thu nhập.

Vũ khí và trí tuệ nhân tạo

  1.   Tình hình được đề cập ở trên gắn liền với sự phát triển không ngừng của các hệ thống vũ khí, đặc biệt là những hệ thống có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Trong thời gian gần đây, Tòa Thánh đã nhận định rằng việc triển khai các hệ thống vũ khí tự động càng ngày càng trở nên dễ dàng hơn đang làm cho chiến tranh có vẻ “dễ thực hiện” hơn, đồng thời càng ngày càng ít chịu sự kiểm soát trực tiếp của con người. Điều này vi phạm nguyên tắc rằng quân lực chỉ nên được sử dụng như một giải pháp cuối cùng trong các trường hợp tự vệ chính đáng.[183] Vì lý do này, việc phát triển và sử dụng AI trong chiến tranh phải chịu những ràng buộc đạo đức nghiêm ngặt nhất, để đảm bảo sự tôn trọng phẩm giá con người và tính thánh thiêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc đua phát triển các loại vũ khí như vậy.[184]
  2.   Đôi khi có người nói về “các tác nhân đạo đức nhân tạo”, như thể máy móc có khả năng phân biệt giữa đúng và sai một cách nhất quán hơn một con người. Tuy nhiên, phán đoán đạo đức không thể bị giảm xuống thành tính toán, vì nó liên quan đến lương tâm, trách nhiệm cá nhân và việc nhận ra người khác như một con người. Do đó, không được phép phó thác các quyết định chết người hoặc các quyết định gây ra những hậu quả không thể đảo ngược cho các hệ thống nhân tạo. Không thuật toán nào có thể làm cho chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt luân lý. AI không loại bỏ tính phi nhân vốn có của xung đột; thực ra nó chỉ có thể làm cho xung đột xảy ra nhanh hơn và ngày càng trở nên phi nhân hơn, hạ thấp ngưỡng cửa sử dụng bạo lực, biến phòng thủ thành dự đoán các mối đe dọa, và do đó hạ các nạn nhân xuống thành dữ liệu. Bằng cách này, nó sẽ tập cho chúng ta quen với ý nghĩ rằng bạo lực là điều không thể tránh khỏi và chỉ cần được tối ưu hóa. Điều đó không làm giảm bớt tầm quan trọng của việc truyền dẫn, trong mức độ có thể, các giá trị và phán đoán đúng đắn vào các hệ thống nhân tạo mà chúng ta xây dựng, để chúng có thể đóng góp vào một hệ sinh thái đạo đức, mà trong đó con người có khả năng lắng nghe lương tâm của chính họ tốt hơn, cũng như cho phép các mô hình AI thiết lập các ranh giới phù hợp.
  3.   Chỉ kêu gọi một loại đạo đức chung chung là chưa đủ. Các tiêu chuẩn cụ thể cho việc phân định phải được thiết lập. Tiêu chuẩn thứ nhất liên quan đến trách nhiệm cá nhân. Khi một quyết định tấn công trở nên tự động hóa hoặc mơ hồ, nguy cơ chối bỏ trách nhiệm sẽ tăng lên. Vì lý do này, chuỗi trách nhiệm phải có thể nhận diện và có thể kiểm chứng được; những người thiết kế, huấn luyện, cấp phép và sử dụng công nghệ phải chịu trách nhiệm về các quyết định của họ. Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến khung thời gian đạo đức để đưa ra phán đoán. Trong khi AI có khuynh hướng đẩy nhanh các tiến trình đưa ra quyết định, tốc độ và hiệu suất không bao giờ được là động lực tối cao cho các quyết định không thể đảo ngược được đưa ra trong bối cảnh chiến tranh. Tiêu chuẩn thứ ba là nhận diện và bảo vệ thường dân. Bất kỳ công nghệ nào tạo điều kiện cho các cuộc tấn công mà không nhìn thấy khuôn mặt của con người đều làm hạ thấp ngưỡng cửa đạo đức của xung đột. Việc lựa chọn mục tiêu và sử dụng vũ lực không được nhầm lẫn giữa binh lính và người không tham chiến, cũng như phải nghĩ đến tác động trên quần chúng không có khả năng tự vệ.
  4.   Các tiêu chuẩn này đưa đến một số đòi hỏi không thể thương lượng được. Thứ nhất, tất cả các hệ thống được sử dụng trong bối cảnh chiến tranh phải đảm bảo khả năng truy vết và tái dựng các tiến trình đưa ra quyết định, để trách nhiệm giải trình và lỗi lầm không bị đổ hoàn toàn cho “máy móc”. Thứ hai, quyết định sử dụng vũ lực gây chết người không thể được ủy quyền cho các tiến trình mơ hồ hoặc tự động hóa, mà phải nằm dưới sự kiểm soát hiệu quả, tự ý thức và có trách nhiệm của con người. Cuối cùng, điều cấp bách là phải thiết lập một khuôn khổ chung — cả ở cấp độ quốc tế — nhằm kiềm chế cuộc chạy đua vũ trang công nghệ và đảm bảo sự bảo vệ mạnh mẽ cho thường dân và các cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự sống còn của họ.

Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương

  1.   Nền văn hóa quyền lực cũng xuất phát từ cuộc khủng hoảng của hệ thống đa phương. Các thể chế được thành lập để bảo vệ khái niệm về một tương lai chung cho tất cả các dân tộc và một lợi ích chung toàn cầu dường như đã bị suy yếu. Điều này không chỉ do những giới hạn về cấu trúc, mà còn do sự thiếu vắng thường xuyên ý chí chung để hỗ trợ và cải cách chúng, hoặc để công nhận thẩm quyền đạo đức của chúng. Thay vì đạt được tiến bộ, chúng ta đang thụt lùi so với bước ngoặt quan trọng của thế kỷ thứ hai mươi. Sau năm 1989, sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở châu Âu được theo sau bởi một sự toàn cầu hóa chủ yếu về kinh tế, vốn thiếu một khuôn khổ chính trị đầy đủ có khả năng duy trì đối thoại và hòa bình. Một niềm tin gần như mù quáng đã được đặt vào khả năng của thị trường trong việc tạo ra sự thịnh vượng, dân chủ và ổn định. Trên thực tế, thay vì tự động tạo ra sự thống nhất và hòa bình, việc toàn cầu hóa đã kích động các phản ứng có tính cực đoan, dựa trên bản sắc và chủ nghĩa dân tộc. Kết quả hoàn toàn xa với là chủ nghĩa đa phương đích thực; thay vào đó, một tình trạng đa cực thiếu trật tự và đầy xung đột đã xuất hiện, trong đó tinh thần nghi kỵ đang chiếm ưu thế.
  2.   Đồng thời, một cám dỗ mới đã tái xuất hiện là bịa ra một căn tính tập thể dựa trên sự đối lập với kẻ thù, được thúc đẩy bởi những tường thuật trong đó mỗi bên tự coi mình là nạn nhân và do đó có quyền được bồi thường hoặc phạt báo oán (retribution). Việc giảm thiểu các vấn đề phức tạp thành các phạm trù đơn giản hóa — “tôi là trên hết”, “bạn hay thù”, “chúng ta hay họ” — tạo điều kiện cho các quyết định thường thiếu trách nhiệm và làm xói mòn lòng tin lẫn nhau giữa các quốc gia. Sức mạnh của luật pháp quốc tế do đó bị thay thế bởi tuyên bố rằng “lý kẻ mạnh là lý phải”. Hậu quả là, các tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các Quốc gia hoặc xử lý các tội ác chiến tranh thường bị suy yếu hoặc bị lờ đi, để lại những hệ lụy tàn phá đối với văn hóa chính trị và sự gắn kết xã hội.[185]
  3.   Trong bối cảnh này, việc xây dựng hòa bình đã bị đẩy xuống vai trò thứ yếu. Hợp tác vì sự phát triển, giải trừ quân bị, phòng ngừa xung đột và thiết lập lòng tin lẫn nhau bị bỏ bê nhân danh chính trị quyền lực. Những thành tựu của luật nhân đạo cũng đang bị tổn thương. Thực vậy, nguyên tắc tương xứng trong việc đáp trả hành vi xâm lược, việc bảo vệ quyền tiếp cận nguồn nước, thực phẩm và các nhu yếu phẩm, và sự tôn trọng mạng sống của thường dân, đặc biệt là trẻ em, lại bị coi là những tàn tích ngây thơ của quá khứ.

Một chủ nghĩa hiện thực chính trị giả định

  1.   Chúng ta đang sống trong một thời kỳ mù quáng đáng kể về tinh thần và văn hóa. Một thứ chủ nghĩa thực dụng sai lầm thôi thúc chúng ta cắt đứt cội nguồn lịch sử của mình, như thể có thể khai mào một loại “sáng tạo mới” tách rời khỏi quá khứ. Ngay cả những người viện dẫn các nguyên tắc đạo đức quan trọng cũng có thể rơi vào thứ chủ nghĩa hư vô lịch sử này, khi lầm tưởng rằng những sự tàn bạo của thế kỷ thứ hai mươi không bao giờ có thể xảy ra nữa. Tuy nhiên trong thực tế, chính những động lực đó đang trỗi dậy dưới những diện mạo mới. Ý tưởng cân bằng và răn đe vũ trang dường như đang tự tái khẳng định. Tuy nhiên ngày nay, trái ngược với động lực hai bên của Chiến tranh Lạnh, sự gia tăng của các gián điệp và chiến trường làm cho ý tưởng này càng ngày càng trở nên mong manh. Các xung đột leo thang dẫn đến các cuộc chiến tranh bất cân xứng và “hỗn hợp”, được chiến đấu không chỉ trên chiến trường mà còn trên các mặt trận kinh tế, tài chính và không gian mạng, nơi thông tin sai lệch và các chiến dịch nuôi dưỡng nỗi sợ hãi của con người được sử dụng để thao túng dư luận. Ở nhiều quốc gia, bao gồm cả những quốc gia ở Nam Bán cầu, việc gia tăng chi tiêu quân sự được trình bày như là đáp ứng duy nhất đối với một tương lai bất định hoặc các mối đe dọa được người ta cảm thấy. Trong khi đó, chi phí thực tế lại đè nặng lên những người nghèo nhất, những người thấy các nguồn lực dành cho y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội bị cắt giảm.
  2.   Cốt lõi của các vấn đề này là một chủ nghĩa hiện thực sai lầm, dựa không chỉ trên não trạng thống trị của vũ lực, mà còn trên niềm tin văn hóa và nhân chủng học rằng, chiến tranh là một phần không thể tránh được của bản tính con người. Người ta nói rằng mọi thứ luôn luôn như vậy, trừ những khoảng ngưng chiến tạm thời, và sẽ luôn luôn như vậy! Kết quả là, mối bận tâm không còn là việc tìm kiếm hòa bình — vốn đã bị mất đi như một điểm tham chiếu trên trường quốc tế — mà là làm thế nào và khi nào thì thực hiện hành động quân sự. Chính lập luận này duy trì quan điểm rằng, sẽ là vô trách nhiệm nếu không chuẩn bị cho xung đột. Tuy nhiên, tôi muốn lập luận rằng, điều thực sự vô trách nhiệm chính là Realpolitik, hình thức “chủ nghĩa hiện thực” chính trị gieo rắc vào lương tâm và xã hội một thái độ cam chịu trước tính không thể tránh được của chiến tranh, và bác bỏ hòa bình cũng như đối thoại như những lập trường không tưởng hoặc phi lý, vốn phớt lờ các rủi ro liên quan. Trên thực tế, hòa bình không phải là một niềm hy vọng ngây thơ, cũng không đơn thuần là sự vắng bóng chiến tranh; thay vào đó, nó luôn khả thi như là hoa quả của công lý và bác ái.
  3.   Trong một bầu không khí như vậy, chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thực dụng đan quyện vào nhau và cuối cùng bình thường hóa các sai lầm nghiêm trọng. Chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và sự cuồng tín dựa trên bản sắc liên minh với các chính sách kinh tế phi lý, trong khi chính trị thường quay về phía thông tin sai lệch và chế giễu đối thủ, đồng thời nuôi dưỡng các nỗi sợ hãi và oán hận một cách có hệ thống. Do đó, sự đa dạng càng ngày càng bị coi như một mối đe dọa, điều này thúc đẩy khát vọng chiếm hữu, ý muốn thống trị, các tham vọng bá quyền, lạm dụng quyền lực và một nỗi sợ hãi đối với những người khác mình, từ đó tạo ra một môi trường trong đó các xung đột mới có thể phát triển một cách gần như vô hình.[186]
  4.   Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho những cuộc chiến tranh mới, có lẽ còn nguy hiểm hơn những cuộc chiến trong quá khứ, vì chúng có khuynh hướng coi thường mọi giới hạn đạo đức. Những gì từng bị coi là không thể chấp nhận được, giờ đây có thể được thực hiện hầu như không chút do dự, trong khi phản ứng quốc tế càng ngày càng bị ảnh hưởng bởi lợi ích của từng Chính phủ riêng lẻ hơn là bởi mức độ nghiêm trọng khách quan của các tình huống. Các quyết định giờ đây dường như được thúc đẩy gần như duy nhất bởi các tính toán kinh tế, được biện minh qua các sự bóp méo về truyền thông, sự nhiệt tình được dàn dựng và những “giấc mơ” vốn chắc chắn sẽ tan vỡ, tạo ra sự thất vọng và bạo lực sâu sắc hơn. Khi con người tin rằng không có gì là thực sự chân thật và các nguyên tắc chỉ là những lời nói rỗng tuếch, thì ngòi nổ trong tim họ đã được thắp lên cho những đợt bùng phát mới của sự bất khoan dung và hung hãn.
  5.   Trong các tình cảnh này, vấn đề về các biện pháp bảo vệ cụ thể để ngăn ngừa bạo lực trong tương lai vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Khi một nền văn hóa bình thường hóa và biện minh cho xung đột, một con đường nguy hiểm mở ra, ở chỗ những gì dường như không thể tưởng tượng nổi ngày hôm nay có thể trở nên chấp nhận được ngày mai nhân danh sự hữu dụng hoặc an ninh. Ở các quốc gia bị đánh dấu bởi các căng thẳng xã hội nghiêm trọng, chúng ta không thể loại trừ khả năng một số nhà lãnh đạo có thể coi xung đột vũ trang như một cách hiệu quả để chuyển hướng sự chú ý khỏi các vấn đề nội bộ, và là một công cụ bất chấp đạo lý để quản lý các khó khăn.
  6.   Một trách nhiệm đặc biệt đè nặng lên vai những người làm việc trong lãnh vực nghiên cứu. Tất cả các bên đóng vai trò chính trong lãnh vực này — các khoa học gia, chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, các vị hữu trách trong lĩnh vực học thuật, chính trị gia và những người khác — phải làm việc với một đầu óc minh bạch và có trách nhiệm, đồng thời duy trì một nhận thức nhạy bén về bối cảnh rộng lớn hơn của các tiến bộ công nghệ mà họ góp phần nuôi dưỡng, bao gồm cả những tiến bộ liên quan đến AI. Khi con người tự giới hạn mình vào việc chỉ nhìn đến lãnh vực riêng của họ, họ có thể tự lừa dối mình khi tin rằng họ đang thực hiện các hành động trung lập về mặt đạo đức và né tránh các câu hỏi về những mục đích tối hậu dẫn dắt một số thử nghiệm. Bằng cách này, họ có nguy cơ hợp tác — có lẽ một cách vô tình — với các dự án đáng ngờ vốn thúc đẩy các hình thức bạo lực, thao túng và thống trị mới.

Xây dựng nền văn minh tình thương

  1.   Việc xây dựng một thế giới trong trạng thái xung đột vĩnh viễn là một sự dữ và phải được gọi đúng tên của nó. Cách miêu tả này về tình hình hiện tại của chúng ta có vẻ ảm đạm hoặc bi quan, nhưng tôi coi đó là điều cần thiết phải làm. Tuy nhiên, viễn cảnh Kitô giáo không giới hạn ở việc lên án sự dữ. Chúng ta nhìn nhận lịch sử dưới ánh sáng của Chúa Chịu Đóng đinh và Phục sinh, Đấng mà Chúa Cha đã ban cho “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Chúng ta không coi hiện tại như một số phận được định đoạt sẵn, mà là một cơ hội cho sự hoán cải cá nhân và tập thể. Hơn nữa, chúng ta tin quyền năng của Nước Trời, vốn lớn lên từ kích thước nhỏ bé của một hạt cải, một khi được gieo xuống, sẽ nảy mầm và lớn lên (x. Mc 4,26-32). Trong khi sự hỗn loạn của việc nhầm lẫn ở khắp chung quanh chúng ta, điều thiện vẫn âm thầm lớn lên từ lòng đất. Theo lời của ngôn sứ Isaiah: “Này, Ta sắp làm một việc mới, việc đó đang nảy chồi, các ngươi không nhận thấy sao?” (Is 43,19).
  2.   Một phân tích kỹ lưỡng hơn về lịch sử xác nhận điều này. Ngay cả trong những đêm tối tăm nhất, Chúa vẫn khơi dậy những người nam và người nữ không chịu bỏ cuộc, những người kiên trì làm điều thiện, những người bảo vệ kẻ dễ bị tổn thương và mở ra các con đường dẫn đến hòa giải. Ký ức về các vị thánh, những người công chính và những người xây dựng hòa bình thường bị lãng quên chỉ ra cho chúng ta thấy rằng ân sủng không loại bỏ xung đột một cách thần kỳ, nhưng thay vào đó, nó khơi nguồn cho sự kháng cự tích cực đối với sư dữ và một sự sáng tạo đáng kinh ngạc trong việc làm điều thiện. Các Kitô hữu nhìn thấy bóng tối và thừa nhận nó đúng như bản chất của nó, nhưng họ không chỉ nhìn chằm chằm vào nó một cách thụ động, vì họ biết ánh sáng và hiểu rằng bóng tối đã không thể thắng được ánh sáng và không thể đánh bại nó (x. Ga 1,5). Vì lý do này, ngay cả khi sự đau khổ dường như là điều quyết định, các Kitô hữu vẫn phục vụ điều thiện và được nâng đỡ bởi một niềm hy vọng thần học vốn mang lại cho thực tại cả ý nghĩa và phương hướng.

Tất cả chúng ta đều có thể góp phần

  1.   Tuy nhiên ở thời điểm này, một sự cám dỗ tinh vi có thể xuất hiện, cụ thể là suy nghĩ rằng các vấn đề quá lớn và chúng ta quá nhỏ bé, và do đó các lựa chọn của chúng ta không thể tạo ra sự khác biệt. Đây là một hình thức từ bỏ lịch sự, thường được ngụy trang dưới danh nghĩa là chủ nghĩa hiện thực. Chắc chắn, không phải ai cũng có cùng quyền lực để tạo ra sự khác biệt. Có những người quản trị, đưa ra quyết định đầu tư, lãnh đạo các thể chế, tiến hành nghiên cứu, giáo dục, sản xuất hoặc cung cấp thông tin, và rồi có những người dường như chỉ sống cuộc sống hàng ngày của họ. Tuy nhiên, không ai là không có trách nhiệm. Tất cả chúng ta đều có những lãnh vực hành động của riêng mình, và chính tại đó — chứ không phải nơi nào khác — chúng ta phải lựa chọn xem nên nuôi dưỡng não trạng vũ lực (ngay cả khi chỉ qua sự thờ ơ, hoài nghi, dối trá hoặc thù hận), hay gìn giữ tư duy hòa bình (bằng sự thật, điều độ, gần gũi và chăm sóc).
  2.   Tác giả Công giáo thế kỷ thứ hai mươi J.R.R. Tolkien, qua lời của một nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết của ông, đã mô tả trách nhiệm của chúng ta cách này: “Phần của chúng ta không phải là làm chủ tất cả các đợt thủy triều của thế giới, mà là làm những gì trong khả năng của mình để nâng đỡ thời đại mà Thiên Chúa đã đặt chúng ta vào, nhổ tận gốc sự dữ trên những cánh đồng mà chúng ta biết, ngõ hầu những người sống sau này có thể có đất sạch để cày cấy.”[187] Nền văn minh tình thương sẽ không trỗi dậy từ một nghĩa cử đơn lẻ hay hào nhoáng, mà từ tổng số những hành động trung tín nhỏ bé và kiên định vốn phục vụ như một bức tường thành chống lại sự phi nhân. Vì lý do này, thật xứng đáng để dừng lại suy ngẫm về một số khía cạnh của cách thức mà chúng ta, mỗi người theo cách riêng của mình, có thể hợp tác trong việc xây dựng nền văn minh tình thương. Mà không có ý định thâu tóm toàn bộ chủ đề này, tôi muốn đề nghị năm con đường hướng tới trách nhiệm hàng ngày và công cộng: nhu cầu giải giới ngôn từ, xây dựng hòa bình qua công lý, nhìn bằng quan điểm của các nạn nhân, nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh và hồi sinh đối thoại cũng như chủ nghĩa đa phương.

Nhu cầu giải giới ngôn từ

  1.   Đóng góp thứ nhất mà chúng ta có thể thực hiện để hướng đến một nền văn minh nhân đạo hơn là lưu tâm đến lời nói của mình. “Chúng ta hãy giải giới ngôn từ và chúng ta sẽ giúp giải trừ vũ khí của thế giới.”[188] Lời nói có sức mạnh to lớn, là một điều chúng ta kinh nghiệm trong các tương tác hàng ngày của mình; thí dụ, lời nói được thốt ra có thể thay đổi tâm trạng của chúng ta theo hướng tốt hơn hoặc xấu hơn. “Hòa bình bắt đầu với mỗi người trong chúng ta: trong cách chúng ta nhìn người khác, lắng nghe người khác và nói về người khác. Theo nghĩa này, cách chúng ta truyền thông có tầm quan trọng căn bản: chúng ta phải nói ‘không’ với cuộc chiến của ngôn từ và hình ảnh, chúng ta phải từ bỏ mô hình chiến tranh.”[189] Do đó, tất cả chúng ta phải xét mình về những lời nói mà chúng ta sử dụng, những định kiến chúng ta có và sự hung hãn rõ ràng hay ngầm ẩn tiềm bên trong chúng. Chúng ta có một cơ hội thực sự để đóng góp cho công ích mỗi khi chúng ta nói sự thật, đưa ra lời khuyên bảo khôn ngoan, nâng đỡ những người cần sự an ủi, lên án bất công và lên tiếng thay cho những người không có tiếng nói.

Xây dựng hòa bình qua công lý

  1.   Tất cả chúng ta, ở mọi cấp độ, đều có thể đóng góp vào việc xây dựng nền tảng của hòa bình, đó chính là công lý. Chúng ta không đơn thuần tìm kiếm bất kỳ loại hòa bình nào — chẳng hạn như sự vắng bóng xung đột bằng mọi giá — nhưng thay vào đó, một nền hòa bình đích thực phát sinh từ công lý. “Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa công lý của cá nhân và hòa bình của mọi người.”[190] Bình luận về câu thánh vịnh “công lý và hòa bình đã ôm hôn nhau” (Tv 84,11), Thánh Augustinô đã viết: “Không ai là không khao khát hòa bình, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng thi hành công lý… Nhưng hãy thực hiện các công việc của công lý, hãy nhớ rằng công lý và hòa bình đã ôm lấy nhau; chúng không mâu thuẫn với nhau. Tại sao bạn lại chống lại công lý? Ở đây, chẳng hạn, công lý bảo bạn không được trộm cắp, nhưng bạn không thèm để ý đến; không được ngoại tình, và bạn giả điếc làm ngơ; không được làm cho người khác những gì bạn không muốn người khác làm cho mình; không được nói về người lân cận những điều bạn không muốn người khác nói về mình… Vậy bạn có muốn đạt được hòa bình không? Thì hãy thực thi công lý!”[191] Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi trong việc tìm kiếm công lý!

Nhìn bằng quan điểm của các nạn nhân

  1.   Có những lúc, để vẫn còn là con người, chúng ta phải gạt bỏ các sự dè dặt của mình và bày tỏ lập trường. Trong một số xung đột, thật bất công khi giữ thái độ trung lập, và chỉ tuyên bố rằng chúng ta không đồng lõa là chưa đủ.[192] Khi chứng kiến việc ném bom vào thường dân, tấn công vào bệnh viện, trường học hoặc cơ sở hạ tầng thiết yếu, và bạo lực ảnh hưởng đến trẻ em, chúng ta đang đối diện với những việc xấu xa làm tổn thương chính nhân loại. Vì lý do này, chúng ta không thể tự giới hạn mình ở cấp độ phân tích trừu tượng. Đức Phanxicô đã khuyến khích chúng ta “chạm vào da thịt bị thương tổn”[193] của những người đau khổ, nhìn vào khuôn mặt của họ, lắng nghe câu chuyện của họ và thừa nhận những vết thương của họ. Các sự kiện đau thương đòi hỏi cả lịch sử lẫn ký ức, vế trước để kể lại các sự thật, vế sau để làm chứng cho các kinh nghiệm đã sống.
  2.   Việc dành chỗ cho các quan điểm và tiếng nói của các nạn nhân qua truyền thông và giáo dục giúp chúng ta nhận thức được vực thẳm của sự dữ vốn có trong chiến tranh, và nói chung trong mọi hình thức bạo lực. Nó giúp chúng ta từ chối sự bình thường hóa xung đột; không ngoành mặt đi khi phẩm giá con người bị vi phạm; và phục hồi cho các nạn nhân phẩm giá được công nhận và được lắng nghe.[194] Việc chú ý đến các tiếng nói này củng cố niềm tin rằng, ngoại trừ các nhóm thiểu số bạo lực, nhân loại không hề khao khát chiến tranh. Bằng một cách thế đặc biệt, Hội Thánh có thể là một nơi lưu giữ ký ức sống động cho các nạn nhân. Như Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã nhắc nhở, Hội Thánh cảm thấy mình phải biến tiếng nói của những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh quá khứ và tiếng nói của những người còn sống mà ngày nay vẫn mang vết thương thành của chính mình, để những tiếng kêu than của họ có thể trở nên một lời kêu gọi cho hòa bình và sự hòa hợp chứ không phải là khúc dạo đầu cho các xung đột mới.[195]

Nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh

  1.   Chúng ta đang cần một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh để tránh cả chủ nghĩa lý tưởng chính trị lẫn chủ nghĩa hoài nghi. Có một loại chủ nghĩa lý tưởng, để bảo tồn thế giới quan của riêng mình, có xu hướng lựa chọn các sự thật một cách có chọn lọc, bóp méo và tái đặt tên chúng. Những người ủng hộ chủ nghĩa này cuối cùng cư ngụ trong một thực tại được xây dựng để phù hợp với niềm tin của riêng họ. Ngược lại, cũng có một hình thức chủ nghĩa hiện thực hạ đẳng, vốn lẩm lẫn sự quan sát với sự cam chịu, lập luận rằng vì vũ lực ngự trị nên nó sẽ luôn luôn ngự trị. Chủ nghĩa hiện thực đích thực không từ bỏ việc thay đổi thế giới; thật vậy, chủ nghĩa này bắt đầu bằng việc nhận diện rõ ràng các lợi ích, các nỗi sợ hãi, các ràng buộc và các động lực quyền lực, chính là để xác định những gì có thể đạt được, và các biện pháp cần thiết để đạt được chúng. Nó không giản lược chính trị thành đạo đức; nó cũng không đầu hàng trước bạo lực. Thay vào đó, nó tìm kiếm các con đường khả thi để làm cho hòa bình trở nên nhiều hơn đơn thuần là một từ ngữ, qua các thể chế đáng tin cậy, các bảo chứng có thể kiểm chứng được, các cuộc đàm phán kiên nhẫn, phòng ngừa xung đột và bảo vệ thường dân.

Hồi sinh đối thoại

  1.   Để xây dựng nền văn minh tình thương, chúng ta cần phải dấn thân vào đối thoại, vì đây là phương tiện hàng đầu cho sự chung sống giữa con người và các quốc gia. Nó cũng là giải pháp thay thế cho xung đột công khai. Vào đêm trước của Thế Chiến Thứ hai, Đức Piô XII đã khẳng định rằng không có gì bị mất với hòa bình, trong khi với chiến tranh mọi sự đều có thể bị mất sạch. Ngài nhấn mạnh rằng con người phải quay lại nói chuyện với nhau, bởi vì một cuộc đối thoại chân thành và kiên trì luôn mở ra khả năng của một giải pháp danh dự.[196]
  2.   Thật vậy, đối thoại là một phần bình thường của đời sống con người và không chỉ liên quan đến các mối quan hệ giữa các Quốc gia. Nó bao gồm việc đạt được một thái độ tìm cách rèn đúc các mối dây nối kết tình huynh đệ được xây dựng trên sự lắng nghe, một phong thái cởi mở, dành thì giờ cho nhau và thậm chí là lãng phí thời gian cùng nhau. Vì nếu chúng ta trải nghiệm những cuộc gặp gỡ đích thực với tha nhân, với những người khác biệt, những người xa lạ và người di cư, thì việc thậm chí chỉ nghĩ đến chiến tranh thôi cũng trở nên khó khăn bội phần.
  3.   Ở cấp độ chính trị, có một nhu cầu cấp bách phải chuyển từ “nền văn hóa quyền lực” sang một “nền văn hóa thương lượng” chân chính, trong đó đối thoại và ngoại giao trở thành các phương tiện chuẩn mực để giải quyết xung đột. Giorgio La Pira đã bày tỏ hy vọng rằng “phương pháp chiến tranh được thay thế bằng phương pháp hòa bình, là phương pháp thương lượng, gặp gỡ, hội tụ, nghĩa là phương pháp đích thực của con người!”[197] Nhận thức rằng tất cả các dân tộc đều chia sẻ một tương lai chung đòi hỏi “nền văn hóa thương lượng” phải trở nên một cam kết chính trị và văn hóa càng ngày càng được chia sẻ rộng rãi, có khả năng từ từ dẫn dắt nhân loại thoát khỏi vòng xoáy của bạo lực.
  4.   Gửi đến những người có vinh dự và trách nhiệm quản trị, tôi muốn lặp lại những lời mà tôi đã nói vào lúc bắt đầu Triều đại Giáo hoàng của mình: “Các dân tộc trên thế giới của chúng ta khao khát hòa bình, và gửi đến các nhà lãnh đạo của họ, tôi kêu gọi với tất cả tâm can: Chúng ta hãy gặp gỡ, hãy nói chuyện, hãy thương lượng! Chiến tranh không bao giờ là không thể tránh khỏi. Vũ khí có thể và phải bị làm cho im tiếng, vì chúng không giải quyết được các vấn đề mà chỉ làm chúng gia tăng. Những người làm nên lịch sử là những người xây dựng hòa bình, chứ không phải những người gieo rắc hạt giống đau khổ. Những người lân cận của chúng ta trước hết không phải là kẻ thù của chúng ta, mà là đồng bào của chúng ta; không phải là tội phạm để bị thù ghét, mà là những người nam và người nữ khác mà chúng ta có thể trò chuyện cùng. Chúng ta hãy từ bỏ những quan niệm nhị nguyên kiểu tà giáo Mani (Manichean notions), vốn rất đặc trưng của não trạng bạo lực, chia thế giới thành những người tốt và những người xấu..”[198]
  5.   Trong việc từ bỏ thái độ bạo lực, đối thoại liên tôn đóng một vai trò quyết định, bởi vì ở trọng tâm của các con đường tinh thần lớn lao đều nằm một thông điệp hòa bình.[199] Trong khi những người dùng danh nghĩa Thiên Chúa để hợp thức hóa chủ nghĩa khủng bố, thì bạo lực hoặc chiến tranh phản bội bản tính chân thật của Ngài, vì chiến đấu nhân danh tôn giáo có nghĩa là tấn công chính tôn giáo.[200] “Tinh thần Assisi”, được gợi lên bởi Thánh Gioan Phaolô II và được tiếp nối bởi Đức Phanxicô — chẳng hạn như qua cuộc đối thoại của ngài với Đại Imam của Al-Azhar — cho thấy rằng các tín đồ có thể kín múc từ các nguồn mạch chân thật nhất của các truyền thống tinh thần đặc thù của họ, ở đó không có chỗ cho “sự thù hận được thánh hóa”.

Sự cần thiết của ngoại giao và chủ nghĩa đa phương

  1.   Trong các mối quan hệ quốc tế, đối thoại là một công cụ ngoại giao không thể thay thế được để phòng ngừa các xung đột và xây dựng lại các mối dây liên kết của lòng tin. Đối diện với các buổi phát sóng bốc đồng, những luận điệu hung hãn và chính trị quyền lực đặc trưng cho thời đại của chúng ta, “vị trí của ngoại giao là thúc đẩy đối thoại với tất cả các bên, bao gồm cả những bên đối thoại bị coi là kém ‘thuận tiện’ hoặc không được coi là hợp pháp để thương lượng.”[201] Do đó, chúng ta nên được sử dụng từng chút khiêm tốn và kiên nhẫn để nuôi dưỡng ngay cả những dấu chỉ thiện chí nhỏ nhoi nhất giữa các bên trong xung đột, nhằm thúc đẩy tiến trình hòa bình.
  2.   Không gian mạng (cyberspace) cũng đã trở thành một chiến trường. Các cuộc tấn công mạng (cyberattack), thao túng dữ liệu và các chiến dịch gây ảnh hưởng, được dàn dựng với sự trợ giúp của AI, có thể làm bất ổn toàn bộ các quốc gia ngay cả trước khi xung đột vũ trang công khai bùng nổ. Hơn nữa, trong lãnh vực này, việc quy trách nhiệm thường không chắc chắn. Khi không rõ ai đã thực hiện một cuộc tấn công, nguy cơ phản ứng không tương xứng, tính toán sai lầm và leo thang xung đột sẽ tăng lên. Vì thế, ngoại giao phải có khả năng hoạt động hữu hiệu trong môi trường mới này, bằng cách thương thảo các quy tắc chung cho việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số, nhằm bảo vệ thường dân và những người dễ bị tổn thương nhất khỏi các hình thức bạo lực “vô hình” nhưng có thật.
  3.   Các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, là các công cụ thiết yếu để cổ võ một nền văn minh tình thương, vì các tổ chức này có thể thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia và khuyến khích việc giải quyết các xung đột bằng con đường hòa bình, sự phát triển toàn diện của các dân tộc, sự bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, giải trừ quân bị và chăm sóc cho công trình tạo dựng. Qua những nỗ lực đó, cộng đồng quốc tế có thể góp phần giảm bớt sự bất bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người tị nạn và các nhóm thiểu số, chuyển các nguồn lực từ chi tiêu quân sự sang phát triển con người, đồng thời bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta. Tòa Thánh ủng hộ và đồng hành với các nỗ lực này, đồng thời cũng nhận ra rằng những yếu điểm hiện tại của Liên Hiệp Quốc và hệ thống chính trị quốc tế cho thấy cần phải có những cải tổ sâu rộng. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề điều chỉnh về mặt kỹ thuật, bởi vì cuộc khủng hoảng về niềm tin và các giá trị, vốn cũng ảnh hưởng đến những nền tảng luân lý của các quốc gia, đang làm cho việc định hướng chủ nghĩa đa phương vào công ích đích thực trở nên khó khăn hơn.[202]
  4.   Trong bối cảnh quốc tế, chính sách ngoại giao của Tòa Thánh chọn nguyên tắc lòng thương xót của Tin Mừng như một tiêu chuẩn cụ thể cho hành động chính trị. Đây là một trong những cách thức mà Tòa Thánh đặt mình vào việc phục vụ nhân loại, từ đó kêu gọi các lương tâm nhân danh đức ái và chân lý, bảo vệ phẩm giá của mọi người và lên tiếng thay cho người nghèo, người di cư và các nạn nhân của chiến tranh. Bằng cách này, nền ngoại giao của Giáo hoàng bày tỏ tính phổ quát của Hội Thánh và đóng góp vào việc xây dựng một nền văn minh tình thương, ở đó ngay cả các công nghệ mới cũng có thể được hướng về công ích.

Cầu nguyện và hy vọng

  1.   Các con đường thực thi trách nhiệm này được nâng đỡ bởi cầu nguyện, và đến phiên chúng lại nuôi dưỡng cầu nguyện. Thực ra, đối với mỗi người trong chúng ta, hòa bình trước hết đến “từ Thiên Chúa, Thiên Chúa Đấng yêu thương tất cả chúng ta, một cách vô điều kiện.”[203] Đó là một món quà được Chúa Giêsu ban cho các môn đệ của Người vào ngày Phục Sinh: “Bình an cho các con! Đó là sự bình an của Đức Kitô Phục sinh. Một sự bình an không vũ trang và giải trừ vũ khí, khiêm tốn và kiên trì.”[204] Với những lời này, tôi đã chào chúc Hội Thánh và thế giới vào ngày tôi được bầu vào Tòa thánh Phêrô. Tôi ước ao lặp lại chúng bây giờ, và kính mời mọi người cầu xin món quà này. Chúng ta hãy không bao giờ mệt mỏi cầu nguyện cho hòa bình và dấn thân đạt được nó trong các mối liên hệ của chúng ta và trong xã hội.

 From: NguyenNThu

 [177]   X. Thánh Phaolô VI, Kinh Truyền Tin (17 tháng 5, 1970): Insegnamenti di Paolo VI, vol.  VIII, 506.

[178]   X. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 183: AAS 112 (2020), 1033-1034.

[179]   X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[180]   Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 20 (4 tháng 10, 1965): AAS 57 (1965), 881.

[181]   Liên Hiệp Quốc, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, San Francisco (26 tháng 6, 1945), Preamble.

[182]   X. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 258: AAS 112 (2020), 1061: “Trong những thập niên gần đây, mọi cuộc chiến tranh đơn lẻ dường như đều được “biện minh” một cách bề nổi. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo có nói đến khả năng tự vệ chính đáng bằng lực lượng quân sự, điều này đòi hỏi phải chứng minh được rằng một số “điều kiện nghiêm ngặt về tính hợp pháp luân lý” đã được đáp ứng. Thế nhưng, người ta rất dễ rơi vào một cách giải thích quá rộng rãi về quyền tiềm năng này. Bằng cách đó, một số người cũng sẽ biện minh một cách sai lầm cho cả các cuộc tấn công “phòng ngừa” hoặc các hành vi chiến tranh mà khó có thể tránh khỏi việc kéo theo “những tác hại và hỗn loạn nghiêm trọng hơn chính sự dữ cần phải loại bỏ.’”

[183]   X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hoá và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et Nova (14 tháng 1, 2025), 99: AAS 117 (2025), 202-203.

[184]   X.  ibid., 103: AAS 117 (2025), 204.

[185]   X. Diễn từ dành cho các đại biểu tham dự Phiên họp toàn thể của “Hiệp hội các cơ quan viện trợ các Giáo hội Đông phương (ROACO)” (26 tháng 6, 2025): AAS 117 (2025), 847-849.

[186]   X. Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 53 (8 tháng 12, 2019): AAS 112 (2020), 54-61.

[187]   J.R.R. Tolkien, The Lord of the Rings. The Return of the King, Phần III, Sách 5, Chương IX, New York 1965, 190.

[188]   Diễn văn dành cho các đại diện truyền thông, (12 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 682.

[189]   Ibid.

[190]   Thánh Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 31, (1 tháng 1, 1998), 1: AAS 90 (1988), 147.

[191]   Thánh Augustine, Enarrationes in Psalmos, 84, 12: CCSL 39, Turnhout 1956, 1172-1173.

[192]   X. Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24 tháng 10, 2024), 22: AAS 116 (2024), 1375-1376.

[193]   Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 115: AAS 112 (2020), 1008-1009.

[194]   X. ibid., 261: AAS 112 (2020), 1062.

[195]   X. Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 20 (4 tháng 10, 1965): AAS 57 (1965), 878-879.

[196]   X. Piô XII, Sứ điệp truyền thanh: Giờ khắc nghiêm trọng (24 tháng 8, 1939): AAS 31 (1939), 334.

[197]   Giorgio La Pira, Riflessioni sul Concilio.  Bài nói chuyện của Giáo sư Giorgio La Pira, Thị trưởng Florence, với Phong trào Hướng đạo Nữ Công giáo Pháp “Guides de France”(Rome, 4 tháng 9, 1962), Florence 1962, 6.

[198]   Diễn từ dành cho các đại biểu tham dự Đại Năm Thánh các Giáo hội Đông phương (14 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 686.

[199]   X.  Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 271: AAS 112 (2020), 1066.

[200]   X. Phanxicô, Lời kêu gọi hòa bình tại Assisi nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình với chủ đề: ‘Khát khao Hòa bình: Đối thoại giữa các Tôn giáo và các Nền văn hóa” (20 tháng 9, 2016): AAS 108 (2016), 1124.

[201]   Phanxicô, Diễn văn dành cho các thành viên Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh (9 tháng 1, 2025): AAS 117 (2025), 110.

[202]   X. Phanxicô, Diễn văn dành cho các đại biểu tham dự Hội nghị lần thứ 38 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) (20 tháng 6, 2013): AAS 105 (2013), 616-617.

[203]   Phép lành “Urbi et Orbi” Lần Đầu (8 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 660.

[204]   Ibid.


 

Được xem 2 lần, bởi 2 Bạn Đọc trong ngày hôm nay