ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI CATARINA SIENA – Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Để tóm lược tiểu sử thánh Catarina Siena, tác giả xin chọn cuốn Vie de Sainte Catherine de Sienne, (Legenda Maior) của cha Raymond de Capoue, O.P.  Cha là linh hướng của Catarina từ năm 1374 cho đến ngày chị được Chúa gọi về năm 1380.  Vài năm sau cái chết của chị, cha Raymond đã có ý viết tiểu sử Catarina, vì thế, cha đã gặp gỡ bà Lapa, mẹ của Catarina xin tất cả những chi tiết liên quan đến thời thơ ấu của chị.  Do đó, tiểu sử thánh Catarina do cha Raymond de Capoue viết có phần đáng tin cậy.  Điều này muốn nói rằng tuy không chính xác hết mọi sự kiện, nhưng Vie de Sainte Catherine de Sienne cũng là một trong những tài liệu giúp chúng ta khám phá ra tiểu sử của một con người “không học mà làm tiến sĩ,” một con người sống trọn vẹn linh đạo Đa Minh “Nói với Chúa, nói về Chúa,” một con người sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần và trở thành khí cụ của Thiên Chúa cho Giáo hội và xã hội vào thế kỷ XIV. 

  1. Thời thơ ấu 

Catarina Benincasa sinh 25-03-1347 tại Siena, là con thứ 23 trong một gia đình 25 người con.  Thân phụ là ông Giacômô Benincasa, làm nghề thợ nhuộm.  Thân mẫu là bà Lapa.  Tuy đông con, nhưng cha mẹ Catarina còn nhận thêm một người con nuôi là Toma della Fonte, lớn hơn Catarina 10 tuổi, sau này Toma đi tu dòng Đa Minh và trở nên cha giải tội đầu tiên của Catarina.  Gia đình Catarina nằm trong giáo xứ do các cha Đa Minh phụ trách, vì thế Catarina thường đi lễ nhà thờ thánh Đa Minh và yêu mến các tu sĩ Đa Minh một cách đặc biệt.  Theo truyền thống kể lại, mỗi lần các tu sĩ Đa Minh đi ngang qua nhà, Catarina đã lén ra hôn những dấu chân sau khi họ đi qua.

Khi còn rất nhỏ, Catarina đã đọc kinh Ave Maria mỗi khi leo lên từng bậc cầu thang.  Điều này không gì lạ nơi các thánh.  Thánh Têrêxa Avila năm lên 6 tuổi đã ý thức rất rõ: “Tôi muốn gặp Thiên Chúa, và phải chết đi mới gặp Ngài.”  Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới 3 tuổi đã biết nói: “Con không chối Chúa điều gì.”  Thiên Chúa ban ơn cho những ai Ngài tuyển chọn.  Năm lên 6 tuổi, Catarina đã có một thị kiến đầu tiên, thị kiến này ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời Catarina.  Một ngày kia, Catarina cùng với anh Stephanô được sai tới nhà chị Bonaventura.  Trên đường về nhà, khi đi qua Fontebranda, Catarina nhìn lên nóc nhà thờ thánh Đa Minh trên ngọn đồi đối diện, thấy Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục và đội mũ Đức Giáo Hoàng ngự trên trời.  Chúa Giêsu mỉm cười và ban phép lành cho Catarina.  Bên cạnh Ngài là thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh sử Gioan. 

Đâu là ý nghĩa của thị kiến này?  Chúng ta có thể rút ra hai dấu chỉ: 

  1. Catarina đã thấy Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế làm người vì yêu thương nhân loại tội lỗi và đã chết trên Thập giá, Đấng đã hy sinh đến giọt máu cuối cùng để cứu rỗi nhân loại.  Điều này được thể hiện rõ nét trong các bức thư của Catarina, trong tác phẩm Đối Thoại, cũng như trong những lời cầu nguyện, Catarina có một cảm nghiệm sâu xa về Đức Giêsu Đấng cứu độ duy nhất, Ngài là chiếc cầu nối liền giữa trời và đất, là Đấng giao hòa giữa con người với Thiên Chúa.  Chính vì thế, năm lên 7 tuổi, Catarina khấn giữ mình đồng trinh để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Kitô, để hy sinh, hãm mình và cầu nguyện cho các linh hồn.
  1. Trong thị kiến, Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục của Đức Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo hội, thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô.  Chúa Giêsu hiện ra cùng với ba vị tông đồ: Phêrô, vị đại diện Chúa Kitô ở trần gian này, Phaolô, vị tông đồ rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, và Gioan là tác giả Tin Mừng mà Catarina trích dẫn rất nhiều trong tác phẩm của chị.
    Sau thị kiến này, Catarina bắt đầu tập sống nhân đức và đánh tội.  Catarina bỏ đi các trò chơi, dành nhiều giờ cho việc cầu nguyện, thích sống trong thinh lặng, cô tịch.  Cuộc sống của Catarina đã làm cho các bạn bè cùng lứa tuổi để ý và quy tụ chung quanh Catarina cùng nhau cầu nguyện và làm việc đền tội. 

Khi lên 12 tuổi, bà Lapa muốn con gái mình được trang điểm và lập gia đình như bao thiếu nữ khác, thế nhưng Catarina phản đối vì muốn dâng mình cho Chúa.  Trước sự cương quyết của Catarina, bà Lapa đã cùng với chị Bonaventura làm mọi cách để thuyết phục Catarina.  Vì rất quý mến chị Bonaventura, Catarina đã chiều theo ý mẹ mình, nhưng sau khi người chị qua đời, Catarina đã hoán cải và quyết lòng sống đời khiết tịnh.  Để chứng tỏ sự chọn lựa của mình, Catarina đã cắt đi mái tóc vàng xinh đẹp và đội trên đầu một chiếc mũ nhỏ.  Tuy nhiên gia đình đã gây áp lực, bắt Catarina làm việc từ sáng đến tối để không có giờ cầu nguyện.  Trước hoàn cảnh đó, Catarina đã biết làm cho mình một “căn phòng nội tâm,” để ở nơi đó, chị có thể tâm sự với Chúa Giêsu bất cứ lúc nào chị muốn, thời gian và không gian không thể nào chia cắt Catarina với Đấng dấu yêu. 

  1. Sống yêu thương

Năm 16 tuổi chị xin nhập Dòng ba Đa Minh, chị mặc áo dòng của các chị em dòng “đền tội” hay còn có một tên khác “Các bà mang áo choàng.”  Đây không phải là các đan sĩ theo nghĩa chặt, cũng không có một cấu trúc như chúng ta ngày hôm nay.  Các bà sống đời sống thánh thiện tại gia đình, làm việc đền tội, thăm viếng người nghèo, chăm sóc bệnh nhân.  Các bà giữ một lời khấn: nếu phụ nữ đã lập gia đình, họ chỉ làm lời khấn với sự đồng ý của chồng, nhưng nếu chồng qua đời họ không được lập gia đình lần nữa.  Đối với một thiếu nữ, họ tuyên bố từ bỏ hôn nhân một cách công khai như trường hợp của Catarina.  Tuy không sống đời sống cộng đoàn, nhưng thứ 6 hàng tuần, các chị em Dòng Áo choàng gặp nhau để cầu nguyện chung với nhau, dưới sự hướng dẫn của một anh em Dòng Đa Minh hoặc nghe chú giải lời Chúa.  Những sinh hoạt của chị em đều dưới quyền của Bề Trên Tổng Quyền hoặc một anh em nào đó được ủy quyền.

Từ ngày đó, Catarina càng gắn bó mật thiết với Chúa.  Chị sống một cuộc đời khổ chế, bớt ăn, bớt ngủ.  Khổ chế của Catarina xuất phát từ lòng yêu mến Chúa chứ không phải đi tìm niềm vui cho bản thân.  Cha Raymond đã dành một chương dài kể những việc khổ chế, hành xác của Catarina.  Giữa những khổ chế, những cực hình chịu đựng vì Chúa Giêsu, Catarina đã nhận được nhiều ơn lạ như thị kiến, an ủi nội tâm.  Năm lên 20 tuổi Catarina đã đính hôn thần bí với Chúa Giêsu, Ngài đã trao cho chị “một chiếc nhẫn gắn bốn viên ngọc và kim cương” để biểu hiện việc kết bạn thiêng liêng.  Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời Catarina, giai đoạn sống ẩn dật đã chấm dứt, từ hôm nay, Catarina lên đường phục vụ Giáo hội.  Sở dĩ Thiên Chúa liên kết với Catarina bằng chiếc nhẫn vô hình, là để thánh nữ cùng hiệp nhất với Ngài trong công cuộc xây dựng nước Chúa.

Chị Catarina rất thích một cuộc sống cô tịch và thinh lặng, để luôn luôn kết hợp với Chúa.  Thế nhưng đây không phải là điều Chúa muốn, Ngài muốn chị ra đi mang hòa bình cho Giáo hội, cho thế giới và đưa các linh hồn về với Ngài.  Một ngày kia, Chúa sai chị đến với tha nhân, nhưng chị sợ rằng những hoạt động bề ngoài sẽ khiến mình xa rời Thiên Chúa.  Chính trong do dự, hoang mang đó, Thiên Chúa đã nói với chị như sau: “Cha không cố ý làm bất cứ điều gì khiến con phải xa lìa Cha, nhưng hơn thế Cha muốn ràng buộc con lại với Cha cách chắc chắn bằng mối dây tình yêu của con đối với tha nhân. Hãy nhớ rằng Cha đã đặt ra hai giới răn tình yêu: tình yêu Cha và tình yêu tha nhân…  Bây giờ Cha muốn con thực thi hai giới răn này quả là chính đáng.  Con phải bước đi trên hai chân” (ĐT. 158).

Từ lúc đó, bằng việc cầu nguyện và hoạt động, chị Catarina bước đi vững vàng trên hai chân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, của chiêm niệm và hoạt động.  Lần đầu tiên khi chị Catarina ra hoạt động, chị tình nguyện làm những công việc bình thường.  Trong gia đình, chị giúp những việc nội trợ, ngoài xã hội, chị phục vụ người nghèo, viếng thăm bệnh nhân, những người tù, những tử tội để an ủi họ.  Những hoạt động của chị đã lan rộng khắp nơi từ Siena, một thị xã nhỏ bé, qua các tỉnh khác như Florence, Pisa.  Tiếng tăm của chị lan đi khắp nơi, nhiều người đã đến xin chị cầu nguyện, làm tư vấn.  Dù bận rộn với những công việc bác ái xã hội, chị Catarina vẫn dành giờ để tâm giao với Chúa.  Chính những giây phút đó, chị có được những ánh sáng mới để giúp tha nhân.  Chị được nhiều ơn lạ, tiên đoán tương lai, đọc được tâm tư của người khác.

Nói đến tiểu sử của chị Catarina, chúng ta cũng không quên biến cố trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, cũng như việc lãnh nhận các dấu tích của Chúa tử nạn ngày 01-04-1375 tại nhà thờ Santa Cristina ở Pisa.  Những sự kiện này nói lên chị được đồng hóa, nên một với Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. 

  1. Lòng yêu mến Giáo hội

Chính vì lòng yêu mến Chúa nồng nàn và yêu tha nhân như chính mình đã thúc đẩy chị Catarina đến những vấn đề đại sự của Giáo hội thời bấy giờ.  Trong những năm sau cùng của cuộc đời, chị đã hoạt động với ba công tác quan trọng như sau: giải phóng đất thánh, canh tân Giáo Hội và đưa Đức Giáo Hoàng từ Avignon về Roma.

Năm 25 tuổi, chị bắt đầu viết những bức thư gửi các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo.  Chị kêu gọi họ lên đường giải phóng đất thánh.  Ngoài ý định dành lại quyền tự do cho người Công giáo được lui tới viếng thăm thánh địa, chị Catarina còn mong mỏi các lực lượng Công giáo đoàn kết với nhau, để tránh những cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Mối bận tâm lớn của chị trong giai đoạn này là canh tân Giáo hội.  Bằng những bức thư, chị thúc giục các cấp lãnh đạo trong Giáo hội, hãy canh tân Giáo hội bằng việc trở về với tinh thần Phúc âm.  Việc canh tân là trách nhiệm của các vị chủ chăn, các tín hữu được mời gọi tham gia qua lời cầu nguyện, canh thức và sám hối.  Thực ra chương trình canh tân được thực hiện sau khi chị qua đời.

Vào năm 1376, theo yêu cầu của nhà cầm quyền Florence, chị Catarina đến Avignon nơi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XI đang cư trú, để hòa giải giữa dân thành Florence với Tòa Thánh.  Với lời khẩn nài của chị, Đức Giáo hoàng lên đường về Roma vào ngày 13-09-1376.  Tuy nhiên, nỗi vui của chị kéo dài không được bao lâu, ngày 27-03-1378 Đức Giáo hoàng Giêgôriô XI băng hà, Đức Urbanô VI được bầu kế vị.  Với tính tình cứng cỏi và nghiêm nghị, ngài đã làm tổn thương nhiều người, chúng ta biết được điều đó qua lá thư chị Catarina đã gởi cho Đức Giáo hoàng, chị viết như sau: “Xin cha hãy hành động với trái tim nhân từ và an bình, vì tình yêu Chúa Giêsu, hãy kiềm chế những phản ứng mau lẹ phát xuất từ bản tính tự nhiên.  Thiên Chúa đã ban cho cha một trái tim lớn lao; con nài xin cha hãy hành động để nó trở nên tràn đầy siêu nhiên, nhiệt thành với sự thánh thiện và cải tổ Giáo hội, cha cũng có thể có một trái tim mạnh mẽ, dựa trên sự khiêm tốn đích thực.”  Chính vì thế, chưa được sáu tháng, các Hồng Y người Pháp đã họp nhau bầu một Giáo hoàng khác tên là Clémentê VII người Pháp, trú tại Avignon.  Nhưng về phần mình, chị Catarina hết sức bảo vệ Đức Urbanô VI.  Đây là khởi điểm cho cuộc đại ly giáo đã phân đôi Giáo hội Tây phương và gây chia rẽ giữa các quốc gia, thành phố, giáo phận, dòng tu, và ngay cả trong gia đình.  Chị đau lòng vì cuộc ly giáo này và đã tìm mọi cách khôi phục sự hiệp nhất cho Giáo hội.  Kể từ giai đoạn này, các bức thư của chị là những sứ điệp tha thiết kêu gọi sự đoàn kết trong Kitô giáo. 

  1. Giai đoạn cuối đời

Sau những năm tháng làm việc không ngơi nghỉ vì lòng yêu mến Chúa và Giáo hội, chị Catarina đã trải qua những ngày tháng cuối cùng tại Roma.  Chị trải qua cơn hấp hối nhiệm mầu kéo dài gần ba tháng, có thể nói, đây là cuộc tử đạo mà chị hằng ước ao.  Trước khi lìa đời, chị đã có những lời huấn dụ với gia đình thiêng liêng của chị: “Các con hãy cầu nguyện không ngừng và sống khiêm tốn.  Hãy tránh đoán xét người khác hay thậm chí tranh luận về hành vi của họ.  Hãy luôn tin tưởng và cậy trông nơi Chúa, và yêu thương nhau, để các con có thể thực sự là con cái thân yêu của Giáo hội.  Trước mặt Chúa, các con hãy dâng hiến nước mắt và những lời cầu nguyện sốt sắng cho Giáo hội của Người.”  Còn đối với người mẹ dấu yêu, chị xin bà chúc lành, và theo ước muốn của bà, chị chúc lành lại cho bà.  Chị cũng cầu nguyện cho Giáo hội, cho tất cả mọi người.  Lời cầu nguyện cuối cùng của chị thật tràn đầy yêu thương: “Lạy Chúa hằng sống, xin đón nhận cuộc sống con như tấm bánh trong thân thể mầu nhiệm Ngài là Giáo hội.  Con không có gì để hiến dâng ngoài những gì Chúa ban cho con, vì thế, xin hãy nhận lấy trái tim con và in dấu nó trên gương mặt hiền thê của Ngài là Giáo hội.”

 Chị qua đời vào ngày 29-04-1380, tròn 33 tuổi.  Người ta mai táng và tôn kính thi hài chị tại bàn thờ chính của nhà thờ Santa Maria sopra Minerva, Roma.  Riêng đầu của chị Catarina được rước về Siena với sự hiện diện của bà Lapa.  Ngày 29-06-1461, Đức Piô II phong thánh cho chị Catarina Siena.  Ngày 13-04-1866, Đức Piô IX đặt chị làm bổn mạng của Roma.  Ngày 18-06-1939, Đức Piô XII tôn phong chị làm bổn mạng nước Ý cùng với thánh Phanxicô.  Ngày 04-10-1970, Đức Phaolô VI tặng tước hiệu “tiến sĩ Giáo hội” cho chị Catarina, một tuần sau thánh Têrêxa Avila.  Ngày 01-10-1999, Đức Gioan Phaolô II ban tự sắc tôn vinh Catarina cùng với thánh Brigida và thánh Têrêxa Bênêdicta Thánh Giá làm bổn mạng Âu Châu.  Trải qua 6 thế kỷ, chị Catarina vẫn được nhắc đến qua các tước hiệu trên, chứng minh điều Chúa hứa với Catarina “Nếu con không quên Ta thì Ta sẽ không bao giờ quên con” đã thành sự thật. 

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

From: Langthangchieutim


 

Thánh Mác-cô – Cha Vương

Chúc bạn và gia đình đầy tràn ơn sủng của Chúa. Hôm nay Giáo Hội mừng kính thánh Mác-cô, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.  Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 7: 25/04/2026.  (t3-23)

Thánh Mác-cô là cháu của thánh Bác-na-ba. Người đã đi theo thánh tông đồ Phao-lô trong hành trình truyền giáo lần thứ nhất, và theo đến tận Rô-ma. Người cũng là môn đệ của thánh Phê-rô và là thông ngôn của thánh Phê-rô, đã soạn lời giảng của thánh Phê-rô thành sách Tin Mừng. Truyền thống cho rằng người đã sáng lập giáo đoàn A-lê-xan-ri-a. (Nguồn: Kinh Phụng Vụ)

Những gì chúng ta biết về Thánh Mác-cô thì trực tiếp từ Tân Ước. Ngài thường được coi là nhân vật Mác-cô trong Tông Ðồ Công Vụ 12:12 (Khi Phêrô thoát khỏi ngục và đến nhà mẹ của Máccô).

Phao-lô và Bác-na-ba  muốn đưa Mác-cô đi trong chuyến truyền giáo đầu tiên, nhưng vì một vài lý do nào đó, Mác-cô đã ở lại Giêrusalem một mình. Trong cuộc hành trình thứ hai, Phaolô lại từ chối không muốn đem theo Mác-cô, bất kể sự nài nỉ của Bác-na-ba, điều đó chứng tỏ Mác-cô đã làm phật lòng Phao-lô. Sau này, Phao-lô yêu cầu Mác-cô đến thăm ngài khi ở trong ngục, điều đó cho thấy sự bất hòa giữa hai người không còn nữa.

Là Phúc Âm đầu tiên và ngắn nhất trong bốn Phúc Âm, Mác-cô nhấn mạnh đến việc Ðức Giêsu bị loài người tẩy chay trong khi chính Người là Thiên Chúa. Phúc Âm Thánh Mác-cô có lẽ được viết cho Dân Ngoại tòng giáo ở Rô-ma—sau cái chết của Thánh Phê-rô và Phao-lô khoảng giữa thập niên 60 và 70.

Cũng như các thánh sử khác, Mác-cô không phải là một trong 12 tông đồ. Chúng ta không rõ ngài có biết Ðức Kitô một cách cá biệt hay không. Một số sử gia cho rằng vị thánh sử này đã nói đến chính ngài trong đoạn Ðức Kitô bị bắt ở Giệtsimani: “Bấy giờ một người trẻ đi theo Người chỉ khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh, nhưng anh tuột tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng” (Máccô 14:51-52).

Tương truyền thì Mac-cô thành lập Giáo Hội Alexandria (Ai Cập) và chịu tử đạo tại đó năm 68 (bị kéo lê trên đường đá cho đến chết). Thánh tích của ngài được đưa về Venice năm 815. Thành phố Venice, nổi tiếng với quảng trường San Marco, một vương cung thánh đường vĩ đại ở đây được cho là nơi chôn cất thánh nhân. Thánh Mác-cô là quan thầy của thành phố Venice và còn là quan thầy của những người làm nghề gương và các lục sự.

Dấu hiệu của Thánh Mác-cô là con sư tử có cánh, do bởi đoạn Mác-cô diễn tả Gio-an Tẩy Giả như một “tiếng kêu trong hoang địa” (Máccô 1:3), mà các nghệ nhân so sánh tiếng kêu ấy như tiếng sư tử gầm. Ðôi cánh của sư tử là bởi áp dụng thị kiến của Êgiêkien về bốn con vật có cánh cho các thánh sử.

LỜI BÀN: Cuộc đời Thánh Mác-cô đã hoàn tất những gì mà mọi Kitô Hữu được mời gọi để thi hành: rao truyền Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Ðặc biệt, phương cách của Thánh Mác-cô là qua sự viết văn. Những người khác có thể loan truyền Tin Mừng qua âm nhạc, nghệ thuật sân khấu, thi văn hay giáo dục con em ngay trong gia đình.

LỜI TRÍCH: Hầu hết những gì Thánh Mác-cô viết đều có đề cập đến trong các Phúc Âm khác — chỉ trừ bốn đoạn. Sau đây là một đoạn: “… Chuyện nước trời cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Ðêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Ðất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa” (Máccô 4:26-29). 

(Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Do Dzung

***********************************

HÃY ĐẾN MÀ XEM _ St. Sr. KIM LONG 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo

Thao Teresa 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo, hoà bình và một tình yêu lớn dành cho người nghèo nằm trên đỉnh Serra da Formiga ở Riachuelo, Brazil .

Hẳn mọi người còn nhớ lời Kinh Hoà Bình được sáng tác theo linh đạo của Thánh Phanxico Assisi mà các bạn khác đạo vẫn gọi là Kinh Đòi Đất.

“Đem yêu thương vào nơi oán thù

Đem thứ thứ tha vào nơi lăng nhục

Đem an hoà vào nơi tranh chấp

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”


 

Lễ trọng thể kính Thánh Giuse- Cha Vương

Mến chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay 19/03 Giáo hội mừng lễ trọng thể kính Thánh Giuse, bạn Đức Trinh Nữ Maria. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 19/03/2026  (t7-22)

Thánh Giuse Bạn Ðức Trinh Nữ Maria, Phúc Âm đã ca ngợi Thánh Giuse là người “công chính”. Ý nghĩa của chữ “công chính” rất sâu xa. Khi Phúc  âm nói Thiên Chúa “công chính hóa” người nào, điều đó có nghĩa Thiên Chúa, là Ðấng cực thánh và “chính trực”, biến đổi người đó bằng cách cho họ được chia sẻ sự thánh thiện của Thiên Chúa, và bởi đó họ đáng được Thiên Chúa yêu mến. Khi nói Thánh Giuse “công chính”, Phúc Âm muốn nói rằng ngài hoàn toàn mở lòng cho tất cả những gì Thiên Chúa muốn làm cho ngài. Ngài trở nên thánh thiện vì tự mở lòng cho Thiên Chúa. Với những gì còn lại chúng ta dễ phỏng đoán. Hãy suy nghĩ về tình yêu mà ngài đã theo đuổi và dành được con tim của Ðức Maria, và sự sâu xa của tình yêu mà hai người đã chia sẻ cho nhau trong cuộc hôn nhân. Khi Thánh Giuse quyết định từ bỏ Ðức Maria khi thấy người có thai, điều này không trái với sự thánh thiện của Thánh Giuse. Phúc Âm có ghi lại một chữ quan trọng là ngài dự định thi hành việc này “cách âm thầm” vì ngài là “một người chính trực, nhưng không muốn tố giác bà để bị xấu hổ” (Mátthêu 1:19). Người công chính thì đơn sơ, vui vẻ, hết lòng vâng lời Thiên Chúa – khi kết hôn với Ðức Maria, khi đặt tên cho Hài Nhi Giêsu, khi săn sóc gia thất ở Ai Cập, khi đem gia thất về lại Nagiarét, khi sống âm thầm trong bao năm trường với đức tin và dũng cảm. Vì Thánh Giuse không xuất hiện trong cuộc đời rao giảng công khai của Ðức Giêsu, nhiều sử gia tin rằng có lẽ Thánh Giuse đã từ trần trước khi Ðức Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng.

Thánh Giuse là quan thầy của những người hấp hối, vì người ta cho rằng khi ngài từ trần có Ðức Giêsu và Ðức Maria ở bên cạnh, đó là điều mà tất cả chúng ta đều mong ước khi từ giã cõi đời.

Thánh Giuse còn là quan thầy của Giáo Hội hoàn vũ, của các người làm cha, các thợ mộc, và vấn đề công bằng xã hội. 

(Nguồn:  ns Người Tín Hữu online)

Kinh khấn Thánh Giuse Bảo trợ những vụ khó khăn

Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu, Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời, đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời, Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin.” Lạy Cha hiền, xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này, Cha đã từng là Cha Nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con chí thánh, nay xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó cho Cha vụ khó khăn này (kể ra…). Xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới vào bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng – vâng, chúng con tin tưởng, Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi những khổ cực u sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy, Cha không bỏ qua điều gì giúp ích cho những người sầu khổ kêu cầu Cha, chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con, và chúc lành cho chúng con – Amen.

From: Do Dzung

***********************

MỪNG KÍNH CHA THÁNH GIUSE | Thánh Giuse nâng đỡ người khốn cùng

TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Trong truyền thống Công giáo, Cotignac bên nước Pháp thường được nhắc đến như trường hợp hiện ra công khai duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách đặc biệt. Biến cố này gắn với đền thánh Thánh Giuse tại Bessillon, gần làng Cotignac, thuộc miền Provence ở Pháp. Trang chính thức của đền thánh xác nhận nơi đây kính nhớ cuộc hiện ra của Thánh Giuse vào ngày 7 tháng 6 năm 1660.

Cũng cần nói thêm một chi tiết quan trọng để tránh nhầm lẫn: nếu nhắc đến 150 năm ngày chân phước Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là Đấng Bảo Trợ Giáo hội hoàn vũ, thì mốc ấy là năm 2020, chứ không phải năm 2021, vì sắc lệnh Quemadmodum Deus được ban hành ngày 8 tháng 12 năm 1870. Chính Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse từ 8.12.2020 đến 8.12.2021 để kỷ niệm biến cố ấy.

Biến cố tại Cotignac xảy ra cách đây hơn ba thế kỷ rưỡi. Hôm ấy, vào ngày 7 tháng 6 năm 1660, một người chăn chiên trẻ tên là Gaspard Ricard đang chăn đàn vật trên sườn núi Bessillon, cách làng Cotignac không xa. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, anh khát khô cổ và kiệt sức. Theo truyền thuật được lưu giữ tại nơi hành hương, một người đàn ông cao lớn bất ngờ hiện ra, chỉ vào một tảng đá và nói với anh: “Ta là Giuse; hãy nhấc tảng đá ấy lên, rồi con sẽ uống nước.” Sự kiện này được các nguồn về Cotignac lặp lại với cùng các yếu tố chính: tên thị nhân là Gaspard Ricard, ngày xảy ra là 7.6.1660, và dấu lạ gắn với mạch nước phát sinh từ dưới tảng đá.

Điều làm người ta kinh ngạc là tảng đá ấy rất nặng, bình thường không thể một mình di chuyển được. Thế nhưng, sau lời của Thánh Giuse, người chăn chiên đã nhấc được tảng đá và uống nước từ một dòng suối trong lành bỗng xuất hiện. Từ đó, mạch nước này trở thành dấu chỉ gắn liền với đền thánh Thánh Giuse ở Bessillon, và nơi đây dần trở thành điểm hành hương của rất nhiều tín hữu. Chính trang chính thức của khu đền thánh tại Cotignac vẫn giới thiệu nơi này như địa điểm tưởng niệm cuộc hiện ra của Thánh Giuse ngày 7.6.1660.

Điểm đặc biệt của biến cố Cotignac là: trong các sách Tin Mừng, Thánh Giuse không để lại một lời nói nào. Ngài hiện diện âm thầm, vâng phục, công chính, bảo vệ Đức Maria và Chúa Giêsu bằng hành động hơn là bằng ngôn từ. Bởi thế, trong lòng đạo bình dân, lời nói gắn với cuộc hiện ra ở Cotignac thường được nhắc đến với lòng xúc động sâu xa, vì đó là lời duy nhất được truyền thống gán cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse tại một nơi hành hương được Giáo hội tôn kính. Tuy nhiên, cần diễn đạt cẩn trọng: đây là lời của Thánh Giuse trong biến cố hiện ra tại Cotignac, chứ không phải “lời duy nhất của Thánh Giuse” theo nghĩa tuyệt đối của toàn bộ truyền thống Kitô giáo.

Sau biến cố năm 1660, tại nơi xuất hiện mạch nước, người ta đã dựng một nhà nguyện để kính Thánh Giuse, rồi sau đó hình thành một trung tâm hành hương. Theo các nguồn lịch sử của khu vực này, việc xây dựng nhà nguyện đầu tiên bắt đầu ngay trong năm 1660, công trình lớn hơn được khởi sự năm 1661 và được cung hiến năm 1663. Đến thời Cách mạng Pháp, nơi đây bị bỏ hoang và rơi vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài.

Về sau, đời sống cầu nguyện được phục hồi tại nơi đây. Lịch sử của tu viện Thánh Giuse ở Bessillon cho biết một cộng đoàn nữ đan sĩ Biển Đức từ Médéa, Algeria, đã đến tiếp quản nơi này vào năm 1975. Từ năm 2019, cộng đoàn Mater Dei tiếp tục hiện diện và phục vụ khách hành hương. Nhờ vậy, đền thánh lại trở thành nơi cầu nguyện sống động, đón tiếp nhiều tín hữu tìm đến bên “suối Thánh Giuse” để khẩn cầu, tạ ơn và kín múc bình an.

Ngày nay, Cotignac vẫn là một địa điểm hành hương rất được yêu mến tại Pháp. Không chỉ vì nơi đây gắn với cuộc hiện ra của Đức Mẹ năm 1519, mà còn vì cuộc hiện ra của Thánh Giuse năm 1660, làm cho Cotignac được nhìn như một miền đất đặc biệt của Thánh Gia. Trang chính thức của đền thánh Đức Mẹ ở Cotignac cũng giới thiệu nơi này như vùng đất được Thánh Gia tuyển chọn để ban nhiều ơn lành cho dân Chúa.

Nếu Cotignac là nơi tiêu biểu cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse, thì ở một châu lục khác, có một nơi đặc biệt tôn vinh quyền năng chuyển cầu của ngài, đó là Đền thánh Thánh Giuse trên núi Mont-Royal ở Montréal, Canada, thường được gọi là Saint Joseph’s Oratory. Nơi đây gắn liền với Thánh André Bessette, vị tu huynh khiêm nhường của Dòng Thánh Giá, người đã hết lòng cổ võ lòng sùng kính Thánh Giuse và trở nên nổi tiếng vì đời sống cầu nguyện đơn sơ mà đầy quyền năng. Chính trang chính thức của Đền thánh xác nhận ngài là vị sáng lập công trình này.

Thánh André Bessette luôn quy hướng mọi vinh quang về cho Thánh Giuse. Tinh thần của ngài là không nhận công cho riêng mình, nhưng chỉ xem mình như người đầy tớ nhỏ bé phục vụ công trình của Thiên Chúa. Nhờ chứng tá đó, lòng sùng kính Thánh Giuse lan rộng mạnh mẽ, và từ một nhà nguyện nhỏ, nơi đây dần dần trở thành một trung tâm hành hương nổi tiếng khắp thế giới. Công trình đầu tiên được làm phép vào ngày 19 tháng 10 năm 1904. Sau đó, một nhà thờ hầm có sức chứa khoảng 1.000 chỗ được hoàn tất năm 1917.

Phần Vương cung thánh đường lớn của Đền thánh được khánh thành vào ngày 19 tháng 3 năm 1955; còn toàn bộ công trình đồ sộ hoàn thành vào năm 1967. Theo dữ liệu chính thức của Đền thánh, lòng nhà thờ dài 105 mét, rộng 37 mét ở gian chính và 65 mét nơi hai cánh ngang, cao 60 mét ở nội thất và khoảng 97 mét ở phần ngoài của mái vòm. Sức chứa chỗ ngồi là hơn 2.000 người, trong khi tổng sức chứa tối đa lên tới khoảng 10.000 người.

Đây là một trong những đền thánh nổi tiếng nhất tại Canada, thu hút hơn 2 triệu khách hành hương và du khách mỗi năm. Nhiều người tìm đến không chỉ để chiêm ngắm một công trình kiến trúc lớn lao, nhưng còn để cảm nhận bầu khí thinh lặng, cầu nguyện và đức tin mà Thánh André Bessette đã gieo vào nơi ấy bằng chính cuộc sống nghèo hèn và phó thác của mình.

Khi Thánh André Bessette qua đời năm 1937, lòng kính mến của dân Chúa dành cho ngài bộc lộ cách mạnh mẽ. Danh tiếng thánh thiện của ngài không phát xuất từ quyền lực hay học vấn, nhưng từ đời sống hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và lòng gắn bó đặc biệt với Thánh Giuse. Qua con người nhỏ bé ấy, thế giới nhận ra rằng Thánh Giuse không hề xa cách, nhưng vẫn luôn là người cha âm thầm bảo vệ, gìn giữ và chuyển cầu cho Hội Thánh.

Vì thế, khi nói về trường hợp hiện ra duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách nổi bật, người tín hữu thường nhớ đến Cotignac. Còn khi nói về nơi tôn vinh quyền năng chuyển cầu của Thánh Giuse cách hùng hồn nhất trong thời hiện đại, người ta nghĩ đến Đền thánh Thánh Giuse ở Montréal. Một nơi nhắc đến sự hiện ra, một nơi làm chứng cho sự chuyển cầu; cả hai đều dẫn chúng ta đến cùng một xác tín: Thánh Giuse vẫn luôn âm thầm hiện diện trong lịch sử cứu độ và trong đời sống của Giáo hội.

Lm. Anmai, CSsR


 

Thánh Phanxicô Assisi, vị thánh của người nghèo và sự hèn mọn

Thao Teresa

 Bức hình này là của các kênh Công giáo đưa tin: “Lần đầu tiên sau 800 năm, di hài thánh Phanxicô Assisi được trưng bày cho cộng đồng đến viếng và cầu nguyện, đợt đầu đã gần 400 ngàn người … nhiều người đã khóc nấc khi diện kiến di hài thánh nhân.”

————-

Ngay lúc này, tại một thị trấn cổ kính trên đỉnh đồi vùng Umbria, nước Ý, một dòng người rồng rắn đang nhích từng bước chân trong cái lạnh mờ sương. Gần nửa triệu con người từ khắp địa cầu đang kiên nhẫn đợi chờ, không phải để xem một kỳ quan, mà để đối diện với một bộ hài cốt tám trăm năm tuổi.

Thánh Phanxicô Assisi, vị thánh của người nghèo và sự hèn mọn. Sau tám thế kỷ nằm im lìm trong quan tài đá, ngài “trở lại” giữa nhân loại trong một hộp kính Plexiglas trong suốt.

Người Việt mình hay bảo: “Sống gửi thác về”. Một câu nói nhẹ tênh nhưng chứa đựng cả một bầu trời chiêm nghiệm về sự phù du. Nhưng khi đứng trước hài cốt của thánh Phanxicô, chúng ta chợt nhận ra có những cái “thác” không phải là về với hư vô, mà là một cuộc bùng cháy vĩ đại.

Tám trăm năm trước, thánh Phanxicô, vốn là gã công tử hào hoa bậc nhất thành Assisi nước Ý, đã làm một việc chấn động: Ngài ném trả lại cha mình tất cả quần áo, danh vọng để chọn lấy chiếc áo thô kệch của kẻ hành khất. Ngài đã chọn “chết” cho cái tôi ích kỷ của mình ngay khi còn đang thở. Chính vì dám buông bỏ tất cả, mà 800 năm sau, xương cốt ngài vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng làm rúng động cả những tâm hồn chai sạn nhất.

Đừng nhìn bằng mắt, hãy nhìn bằng linh hồn: Tại sao chúng ta lại run rẩy khi đứng trước lớp kính kia? Đó không phải là nỗi sợ hãi trước cái chết, mà là sự kinh ngạc trước một Nhân vị vẹn toàn. Sức mạnh của thánh Phanxicô không nằm ở đền đài nguy nga, mà nằm ở một người đã dám sống cuộc đời vì người khác. Ở đó, cái hữu hạn của xương cốt đã bị nuốt chửng bởi cái vô hạn của Tình Yêu.

Kinh Thánh vang vọng một chân lý: “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó” (Mt 16,25). Ngài đã liều, đã mất tất cả theo cách nhìn của người đời, để rồi tìm thấy sự bất tử trong lòng nhân thế. Ngài nằm đó không phải để được sùng bái, mà để thẩm vấn mỗi chúng ta: Bạn đang tích trữ tro bụi, hay đang xây dựng một giá trị vĩnh cửu cho tâm hồn?

Rồi một ngày, tôi và bạn cũng sẽ chỉ còn lại một nắm tro tàn. Câu hỏi đáng sợ nhất không phải là ta chết lúc nào, mà là liệu sau 80 năm, hay 800 năm nữa, có ai còn cảm thấy hơi ấm của Tình Yêu khi nhìn vào dấu vết ta để lại không?

Hôm nay, hãy thử sống như thánh Phanxicô: buông bỏ một chút cái “Tôi” để tìm thấy cái “Ta”. Tập cho đi để thấy mình thực sự giàu có. Bởi cuối cùng, chỉ có những gì ta trao đi bằng tình yêu mới là thứ duy nhất ta mang theo được vào cõi vĩnh hằng.

Chúng ta, hiệp ý cùng nhau, cầu nguyện xin ơn riêng, cho bản thân và cho gia đình, nhờ lời chuyển cầu của thánh Phanxicô Assisi. Dành một phút tĩnh lặng để hiệp ý cùng nhau. Mong cho thế giới này bớt đi sự lạnh lẽo và thêm vào đó chút hơi ấm của lòng trắc ẩn từ Thiên Chúa.

Ai muốn xem short-video sự kiện này thì xem ở đây: https://youtube.com/shorts/5ujnoVL1_38

#phailamgi #SaintFrancis #Assisi #SongVinhCuu #ThucTinhTamHon

May be an image of crowd, the Western Wall and text


 

Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543)-Cha Vương

Chúc Bạn một ngày bình an và tràn đầy hy vọng nhé. 

Cha Vương

Thư 3: 10/02/2026. (t5-22)

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Cô-lát-ti-ca (Scholastica), trinh nữ (480-543). Ngài là quan thầy của các nữ tu và là đấng cầu giúp cho những ai chống lại bão và sấm sét.

      Anh em sinh đôi thường giống nhau về tính nết và tư tưởng cũng như nhiệt huyết. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi Thánh Scholastica và người anh sinh đôi là Thánh Biển Ðức (Benedict), đều sáng lập các tu hội chỉ cách nhau có vài dặm.

       Sinh năm 480 trong một gia đình giầu có ở Norcia, Perugia, nước Ý. Scholastica và Benedict cùng lớn lên cho đến khi Benedict xa nhà đi học ở Rôma. Chúng ta không biết nhiều về thời niên thiếu của Thánh Scholastica. Sau này, ngài sáng lập dòng nữ tu ở Ý gần rặng Cassino, thuộc Plombariola, cách tu viện của anh ngài chỉ có năm dặm. Mỗi năm hai anh em chỉ gặp nhau có một lần, trong một nông trại, vì Scholastica không được phép vào tu viện. Cả hai dành thời giờ để thảo luận về các vấn đề tinh thần. Theo cuốn Ðối Thoại của Thánh Grêgôriô Cả, trong lần sau cùng hai anh em gặp nhau để cầu nguyện và truyện trò, Thánh Scholastica cảm thấy cái chết của mình gần kề nên nài xin anh Benedict ở với ngài cho đến ngày hôm sau. Thánh Benedict từ chối lời yêu cầu ấy vì ngài không muốn ở đêm bên ngoài tu viện, vì như thế chính ngài sẽ phá vỡ quy luật do ngài đặt ra. Thánh Scholastica xin Thiên Chúa cho phép anh mình ở lại, và một trận mưa lớn đổ xuống như thác khiến Benedict và các tu sĩ đi theo ngài không thể trở về tu viện. Thánh Benedict kêu lên, “Xin Chúa tha tội cho em. Em làm cái gì vậy?” Thánh Scholastica trả lời, “Em xin anh một ơn huệ và anh từ chối. Em xin Chúa, và Chúa nhận lời.” Ba ngày sau, ðang khi Thánh Benedict cầu nguyện trong tu viện thì ngài nhìn thấy linh hồn của em mình bay lên trời trong dạng chim bồ câu trắng. Thánh Benedict sai các tu sĩ đem xác của em mình về dòng và chôn trong chính ngôi mộ mà thánh nhân đã chuẩn bị cho mình. Thánh Scholastica từ trần vào khoảng năm 543, và sau đó không lâu Thánh Benedict cũng từ giã cõi đời. 

(Nguồn: Người Tín Hữu) 

Thánh Scholastica và Thánh Benedict đã giúp nhau đến gần Chúa hơn bằng cách họ đối xử với nhau. Theo gương các Ngài, những người thân yêu bạn hữu, thầy cô, v.v… của bạn đều có thể giúp Bạn trở nên gần với Chúa hơn mỗi ngày.

From Do Dzung

*****************************

Nên Thánh Giữa Đời – Xara Trần – (St: Sr Têrêsa)

Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé! Hôm nay 5/2, Giáo Hội mừng kính Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo. Đặc biệt là qua lời chuyển cầu của thánh nhân nhiều bệnh nhân bị ung thư vú đã được chữa lành. Vậy hôm nay mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cho những ai đang mắc bệnh liên quan đến vú.

Cha Vương

Thứ 5: 5/2/2026. (t6-21)

Cũng như trường hợp của Thánh Agnes, vị đồng trinh tử đạo thời Giáo Hội tiên khởi, chúng ta không có dữ kiện lịch sử chắc chắn về Thánh Agata, ngoại trừ sự kiện ngài chịu tử đạo ở Catania  trong thời kỳ cấm đạo của hoàng đế Rôma là Decius năm 251.

Theo truyền thuyết, ngài sinh trưởng năm 235 tại Catania, Sicily (nước Ý) trong một gia đình giầu có. Khi còn trẻ, ngài đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, và từ chối bất cứ lời cầu hôn nào. Một trong những người say mê ngài là Quintian, là người có địa vị cao trong xã hội nên nghĩ rằng có thể ép buộc thánh nữ. Biết ngài là Kitô Hữu nên ông ra lệnh bắt giữ và đưa ra xét xử – bởi chính ông. Hy vọng rằng vì sợ hãi sự tra tấn và cái chết, thánh nữ sẽ đành phải trao thân cho ông, nhưng ngài nhất quyết tin tưởng vào Thiên Chúa, và cầu nguyện rằng: “Lạy Ðức Kitô Giêsu, là Chúa mọi sự! Ngài đã thấy lòng con, Ngài biết con muốn gì. Xin hãy làm chủ toàn thể con người của con – chỉ mình Chúa mà thôi. Con là chiên của Ngài; xin giúp con vượt qua sự dữ một cách xứng đáng.”

Sau đó, Quintian tống Agata vào nhà gái điếm lấy cớ ngài là người Công Giáo với hy vọng ngài sẽ thay đổi ý định. Sau một tháng bị đánh đập và xỉ nhục, Quintian lại đưa ngài ra xét xử, nhưng Agatha vẫn không lay chuyển, vẫn can đảm tuyên xưng rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể ban cho ngài sự tự do. Quintian lại tống ngài vào ngục thay vì nhà gái điếm. Và khi ngài tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu, Quintian ra lệnh tra tấn. Ðể trả thù, bạo quan hạ lệnh nướng ngài trên giường sắt. Sau đó, người ta lại tống giam thánh nữ. Tương truyền thì trong đêm đó, thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành cho ngài. Dù bị quan trấn Quintian nhiều lần dụ dỗ, ngài vẫn một lòng trung kiên với đạo Chúa. Dù đau đớn lăn lộn trên than hồng và mảnh chai nhọn, ngài vẫn tin cậy vào Chúa, Ðấng sẽ cứu linh hồn ngài. Chính cử chỉ của thánh nữ khiến cả thành phố náo động, Quintian sợ dân nổi loạn nên truyền giam thánh nữ trong ngục. 

Ngài đã chết rũ tù ngày 25 tháng 2 năm 251 tại Catania, Sicily. Trước khi chết, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên con, Ngài đã gìn giữ con từ khi còn trong nôi. Bởi tình yêu thế gian Ngài đã dẫn dắt con và ban cho con sự kiên nhẫn để chịu đựng đau khổ. Xin hãy nhận lấy hồn con.” 

Thánh nữ đã làm nhiều phép lạ như che chở thành Catania khỏi hiểm họa núi lửa Etna. Ngay từ thời đó, người ta đã cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ. Ngài được coi là quan thầy của xứ Palermo và Catania, và được chọn làm quan thầy các bà vú nuôi và cũng được cầu khẩn khi bị tai nạn vì lửa và vì bệnh nhủ bộ. 

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saints và Santi-Beati-Testimoni)

Kinh cầu nguyện với Thánh Agata

“Ôi Thánh Agata, trinh nữ cao quý và vinh quang, đã làm tất cả các phép lạ giữa những đau đớn khủng khiếp nhất, được Chúa gởi Thánh Phêrô đến để chữa lành các vết thương. Từ trời cao, qua lời cầu bàu mãnh liệt của nữ thánh tử đạo, xin cho con cũng được lành như nữ thánh. Thánh Agata, niềm vinh dự của Chúa, bị quan thái thú, Quintien hung ác xẻo vú, xin Thánh Agata cầu bàu cùng Chúa và Đức Mẹ cho con, cho con khỏi các triệu chứng của căn bệnh này. Amen”.

Sau đó đọc ba lần câu: “Lạy Thánh Agata, xin cầu nguyện cho con và đọc thêm Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và Kinh Sáng Danh. 

From: Do Dzung

*************************

Xin Chúa Đoái Thương Chữa Lành Chúng Con

Thánh Blase (Biagio) – Cha Vương

Mến chào bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo hội mừng kính Thánh Blase (Biagio), mời Bạn suy niệm về đời sống nhân đức của Ngài.

Cha Vương

Thứ 3: 03/02/2026.(t2-25)

   

  Chúng ta biết nhiều về sự sùng kính của Kitô Hữu đối với Thánh Blase hơn là tiểu sử của ngài. Trong Giáo Hội Ðông Phương, ngày lễ kính ngài được coi là một ngày lễ lớn. Công Ðồng Oxford, vào năm 1222 đã cấm làm việc xác trong ngày lễ Thánh Blase (hay còn gọi là Thánh Biagio). Người Ðức và người Ðông   u rất kính trọng thánh nhân, và trong nhiều thập niên, người Công Giáo Hoa Kỳ thường chạy đến với thánh nhân để xin chữa bệnh đau cổ họng.

       Chúng ta được biết Ðức giám mục Blase chịu tử đạo năm 316 ngay trong giáo phận của ngài ở Sebaste, Armenia. Mãi cho đến 400 năm sau mới có huyền thoại viết về ngài. Theo đó, Thánh Blase là một giám mục tốt lành, làm việc vất vả để khuyến khích giáo dân sống lành mạnh về tinh thần cũng như thể xác. 

       Mặc dầu chỉ dụ Toleration, năm 311, đã cho phép tự do tôn giáo ở Ðế Quốc Rôma hơn năm năm, nhưng ở Armenia, việc bách hại vẫn còn dữ dội. Hiển nhiên là Thánh Blase buộc phải rời bỏ giáo phận và sống trong rừng núi. Ở đó ngài sống trong cô độc và cầu nguyện, làm bạn với thú rừng.

       Một ngày kia, có nhóm thợ săn đi tìm thú dữ để dùng trong đấu trường và tình cờ họ đã thấy hang động của Thánh Blase. Từ kinh ngạc cho đến sợ hãi, họ thấy vị giám mục đi lại giữa đám thú dữ một cách điềm tĩnh để chữa bệnh cho chúng. Nhận ra ngài là giám mục, họ bắt ngài về để xét xử. Trên đường đi, ngài ra lệnh cho một con sói phải thả con heo nó đang cắn giữ vì đó là của người đàn bà nghèo. Khi Thánh Blase bị giam trong tù và bị bỏ đói, người đàn bà này đã đền ơn ngài bằng cách lẻn vào tù cung cấp thức ăn cho thánh nhân.

       Ngoài ra, truyền thuyết còn kể rằng, một bà mẹ có đứa con trai bị hóc xương đã chạy đến ngài xin cứu giúp. Và sau lời truyền của Thánh Blase, đứa bé đã khạc được chiếc xương ra khỏi cổ.

       Agricolaus, Thủ Hiến xứ Cappadocia, tìm mọi cách để dụ dỗ Thánh Blase bỏ đạo mà thờ tà thần. Lần đầu tiên từ chối, ngài bị đánh đập. Lần kế tiếp, ngài bị treo trên cây và bị tra tấn bằng chiếc lược sắt cào vào thân thể. Sau cùng ngài bị chém đầu năm 316. Người được tôn kính như quan thầy các thợ chải len, những người bị đau cuống họng.

 (Nguồn: Người Tín Hữu online)

       Sau đây là Kinh cầu Thánh Blase được dùng để khẩn cầu cho những ai mang bệnh của cổ họng: “Qua lời cầu bầu của Thánh Blase, là giám mục và là vị tử đạo, xin Thiên Chúa chữa con khỏi bệnh tật của cổ họng và khỏi mọi sự dữ. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Kinh cầu Thánh Blase). Xin Thánh Blase, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

***************************

XIN CHÚA CHỮA LÀNH CON – ST: HUỲNH MINH KỲ – Trình bày: Triệu Ngọc Yến

Mở án phong thánh cho Adele Brice (1831–1896)

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Mở án phong thánh cho Adele Brice, người chứng kiến những cuộc hiện ra Đức Maria đầu tiên được chuẩn nhận tại Hoa Kỳ

Với sắc lệnh do một giám mục bang Wisconsin ban hành hôm thứ Sáu, Giáo Hội Công Giáo chính thức mở án phong thánh cho Adele Brice, một người nhập cư gốc Bỉ từng được thị kiến Đức Trinh Nữ Maria.

Adele Brice (1831–1896) không biết đọc viết, nhưng đã đi bộ khắp vùng nông thôn Wisconsin để dạy giáo lý cho trẻ em và các gia đình. Bà được biết đến nhiều nhất qua ba lần Đức Maria hiện ra—đây là những cuộc hiện ra duy nhất tại Hoa Kỳ được Giáo Hội chính thức chuẩn nhận.

Năm ngoái, hơn 200.000 khách hành hương đã đến kính viếng Đền Đức Mẹ Champion ở Wisconsin, theo cha Anthony Stephens, tu sĩ Dòng Linh mục Lòng Thương Xót và hiện là giám đốc đền thánh, cho biết với EWTN News.

Ngay từ lần rước lễ lần đầu khi còn nhỏ tại Bỉ, Adele đã cảm nhận tiếng gọi đời sống thánh hiến. Tuy nhiên, khi gia đình quyết định di cư sang Hoa Kỳ, bà đã đi theo, tin tưởng lời khuyên của cha xứ. Bà không bao giờ trở thành nữ tu, “nhưng vẫn trung thành với tiếng gọi nền tảng ấy,” theo David Ricken, Giám mục giáo phận Green Bay, người đã công bố sắc lệnh ngày 30/1.

Cha John Girotti, Tổng đại diện và Điều phối viên giáo triều giáo phận Green Bay, nhấn mạnh nơi Adele đức tính kiên trì: bà sang Hoa Kỳ khi ngoài 20 tuổi—không hẳn theo ý mình—nhưng vì lòng hiếu thảo. Bà còn bị mù một mắt do tai nạn thời thơ ấu. “Bà có đức tin, yêu mến Thiên Chúa và bền bỉ tiến bước,” cha Girotti nói. “Đức tin ấy giúp bà ‘dời núi’ như lời Chúa Giêsu.”

Trong các thị kiến, Đức Maria mời gọi Adele dạy giáo lý cho trẻ em; vì thế, bà hiến trọn đời cho ơn gọi giáo dục. Dù mặc tu phục, bà không khấn dòng; với tư cách giáo dân, bà tận hiến đời mình cho việc dạy đức tin Công giáo. “Từ giây phút nghe Đức Trinh Nữ nói với mình, cuộc đời bà được biến đổi hoàn toàn,” cha Girotti kể. Dù nghèo khó, hỏa hoạn, đói kém, bà vẫn không ngừng loan báo Tin Mừng, với đức tin lớn lao.

Sau khi xây dựng nhà nguyện và trường học tại nơi Đức Mẹ hiện ra, cộng đoàn đã trải qua một đêm mà cha Stephens ví như “Trận Giêricô”. Năm 1871, khi đám cháy vây quanh khu đất, Adele và cộng đoàn cầu nguyện dọc theo hàng rào. “Lửa cháy đến hàng rào rồi cháy vòng quanh, không thiêu rụi nhà nguyện; sáng hôm sau mưa đổ xuống,” cha Stephens kể. Ngài gọi đền thánh là “nơi của cầu nguyện”.

Khách hành hương đến đây rất đa dạng—từ người Công giáo sốt sắng, người ngoài Công giáo, đến những người đã xa rời Giáo Hội—và có nhiều lần xưng tội chân thành. Đền thánh cũng ghi nhận những chữa lành thể lý nhỏ và chữa lành luân lý, trong đó có trường hợp một phụ nữ khỏi chứng đau nửa đầu kéo dài 15 năm.

Một vị thánh người Mỹ

Khi Hoa Kỳ tiến gần kỷ niệm 250 năm lập quốc, cha Stephens nói thật phấn khởi khi một người Mỹ được tuyên phong Tôi tớ Chúa. “Căn tính Công giáo phải định hình cách chúng ta sống như người Mỹ—hai điều ấy hoàn toàn hòa hợp,” ngài nói, mời gọi các tín hữu noi gương nhân đức anh hùng của Adele.

Giám mục Ricken hy vọng đây là bước khởi đầu để khám phá thêm các vị thánh người Mỹ, nhớ lại lời mời gọi trước đây của Đức Bênêđictô XVI dành cho Giáo Hội tại Hoa Kỳ. Ngài cũng chia sẻ niềm vui khi thấy nhiều gia đình trẻ hiện diện trong buổi công bố án phong thánh: “Thật đẹp, nhất là vì Adele gắn bó trọn đời với trẻ em.”

“Đức Mẹ đã sai bà đi vào miền đất hoang dã để dạy trẻ em những điều cốt yếu của đức tin,” Đức Giám mục nói. “Và bà vẫn đang làm điều ấy, như chúng ta thấy tối nay, khi rất nhiều trẻ em và gia đình quy tụ.”

Nguồn: ACI Prensa / EWTN News (bài do Kate Quiñones thực hiện).


 

THÁNH TÔMA AQUINÔ, LINH MỤC TIẾN SĨ HỘI THÁNH

 

Tại vương quốc Naples, người vợ quí phái của lãnh chúa Aquinô được vị tu sĩ Thánh thiện cho biết, là bà sẽ rất đỗi vui mừng vì con trẻ bà mong đợi sẽ sáng chói với sự hiểu biết khôn sánh, Người con ấy là Tôma.  Ngài sẽ là một vị thánh trong hàng ngũ các thánh.  Tôma sinh tại lâu đài Roccasecca, gần Naples khoảng năm 1225.  Được sáu tuổi cha ngài dẫn tới tu viện Montê Cassinô.  Con trẻ được dâng hiến đã hỏi:
  – Thiên Chúa là gì? 

Và các tu sĩ ngạc nhiên vì thấy con trẻ chìm đắm trong các suy ngắm (quá sớm và sáng suốt) ấy. 

Lúc mười tuổi, Ngài được gửi tới đại học Naples.  Các giáo sư đã khám phá ra dưới dáng vẻ nhút nhát của Ngài, một trí khôn thượng thặng và một đời sống siêu nhiên sáng ngời với các đức tính hiền hòa, trong trắng và đức ái của Ngài.  Trong những kỳ nghỉ tại lâu đài cùng cha mẹ, Ngài gắng sức trợ giúp người nghèo.  Điều này làm cho chủ lâu đài phiền trách Ngài.  Tình yêu của Ngài đối với người mẹ thật bao la và đã tạo nên mối dày vò suốt đời. 

Khi chưa tốt nghiệp đại học, Ngài đã quyết định vào dòng Đaminh.  Lúc ấy dòng thành lập chưa được ba năm.  Gia đình Ngài rúng động với ý tưởng một con người quý phái như vậy lại trở thành một tu sĩ dòng ăn xin.  Ngoài ra họ còn mong mỏi rằng: một ngày kia, Ngài sẽ còn làm điều gì đó, để phục hồi vận mệnh của họ bằng việc trở lại làm tu viện trưởng Montê Cassinô.  Nghe được tin, các anh của Ngài đang là sĩ quan trong quân đội, đã giận dữ.  Họ bắt Ngài trên đường đi Rôma và giam Ngài dưới chân tháp của lâu đài.  Gia đình gắng công vô ích khi nài nỉ, đe dọa và quyến rũ Tôma đổi ý.  Các anh Ngài còn dùng tới một cô gái làng chơi để hại người nữa.  Nhưng cương quyết, Tôma đã dùng cây củi cháy để xua đuổi nàng, rồi dùng than củi này vẽ lên tường hình thánh giá.  Quỳ xuống trước hình thánh giá, Tôma với nhiệt tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết, lập lại lời hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa.  Được hai năm, các chị Ngài đã cảm động trước sư cương nghị và những khổ cực của Ngài, đã giúp Ngài trốn qua cửa sổ bằng một cái thúng.  Các tu sĩ Đaminh đợi Ngài dưới chân tháp.

 Tôma khấn dòng ở Naples, rồi đi bộ từ Rôma tới đại học Colonia.  Trong môi trường học thức ưu việt này, Ngài cố dấu kín các bước tiến khác thường của mình như Ngài đã che kín vinh dự gia đình.  Không khi nào Ngài để cho người ta ngờ rằng mình là cháu của hoàng đế Barberoussa và là bà con của vua Frêdêric II cả.  Khiêm tốn là bà hoàng của lòng Ngài.  Ngày kia một bạn học giảng bài cho Ngài.  Tôma phải là bậc thầy của anh, đã tiếp nhận bài học với lòng biết ơn.  Đó là thói câm lặng của Toma.  Vì bình dị nên Ngài bị coi là đần độn.  Người ta gọi chàng trai to con này là con bò câm.  Nhưng thầy Albertô đã coi Ngài như một thiên tài và tuyên bố:
  – Con bò nầy sẽ rống lớn, đến nỗi những tiếng rống của nó sẽ vang dội khắp thế giới. 

Người sinh viên tài ba này đã tỏ ra dễ dạy như một trẻ em.  Tại phòng ăn, vị chủ chăn lầm lẫn, bắt Ngài sửa lại cách phát âm đã chính xác.  Lập tức Tôma sửa lại liền.  Sau bữa ăn các bạn Ngài bày tỏ sự ngạc nhiên, nhưng thánh nhân trả lời:  – Điều quan trọng không phải là cách phát âm của một từ ngữ, nhưng là biết khiêm tốn vâng phục hay không.

 Lúc hai mươi tuổi, Tôma đã được gọi làm giáo sư tại Côlônia, Ngài xuất bản một tác phẩm danh tiếng, rồi đi Paris mở trường dạy triết học ở đường thánh Giacôbê và thụ phong linh mục.  Các nhà trí thức tới hỏi ý Ngài.  Vua Luy IX xin ý kiến Ngài trong những việc hệ trọng và mời Ngài đồng ban dự tiệc.  Nhưng không hoàn cảnh nào đã làm cho Tôma chia trí khỏi những suy tư sâu xa.  Chẳng hạn tại bàn ăn của nhà vua, người ta thấy Ngài bất chợt ra khỏi sự yên lặng của mình, đập mạnh lên bàn và kêu lên:
  – Đây rồi, một luận chứng quyết liệt chống lại những người theo phái Manicheô.

 Bối rối vì quên rằng mình đang ở trước mặt vua, Ngài muốn xin lỗi, nhưng vua thánh đã truyền cho Ngài đọc ngay cho thư ký chép lại những suy tư có giá trị siêu việt đó. 

Kinh nguyện, làm việc và ý chí là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Tôma, Ngài nói:
  – Ai không cầu nguyện thì cũng giống như người lính chiến đấu mà không có khí giới.
  – Ngài định nghĩa sự nhàn rỗi như là: Cái búa mà quân thù bửa xuống.

 Ngài trả lời cho bà chị hỏi làm sao để được cứu rỗi:  Phải muốn. 

Dầu bận việc rao giảng, dạy học và đi tới những nơi Đức Thánh Cha sai tới Thánh Tôma vẫn viết nhiều tác phẩm thành công rực rỡ.  Trong một lần hiện ra, Ngài nghe thấy thầy chí thánh nói với mình:

  – Hỡi con, con đã viết cách xứng đáng về ta, con muốn được thưởng gì?

Tôma trả lời:
  – Ôi lạy Chúa, con không muốn gì ngoài Chúa cả. 

Người ta quả quyết rằng: Ngài đã nói chuyện với Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh.  Và khi cầu nguyện tâm hồn Ngài như lìa khỏi xác.  Ngài còn được mệnh danh mãi là “Tiến sĩ thiên thần” Ngài có một tâm hồn vui tươi, nhã nhặn với anh em, đến nỗi có người nói:
  – Mỗi lần thấy và nói chuyện với Ngài, tôi thấy như tràn ngập niềm vui thiêng liêng. 

Thánh nhân đã qua mười năm tại Italia.  Một phần trong thời gian nầy ở trong giáo triều, Đức Thánh Cha Urbanô đã trao phó cho Ngài nhiều trọng trách, rõ ràng nhất là lo cải hóa người Do Thái.  Đức Thánh Cha còn muốn gọi Ngài lên chức giám mục nhưng Ngài đã từ chối.  Năm 1269 Ngài trở lại Paris để dạy thần học.  Năm 1272 Ngài được gọi về Naples để lo việc cho nhà mẹ dòng Đaminh.  Đến năm cuối đời Ngài cống hiến để hoàn tất một tác phẩm vĩ đại, bộ “Tổng luận thần học.”  Nhưng cuối năm 1273 đột nhiên Ngài ngừng viết.  Khi dâng thánh lễ, Ngài bỗng có linh nghiệm rằng mình không thể viết thêm được nữa.  Réginald, thư ký của Ngài thúc giục viết thêm, thánh nhân đã trả lời rằng: theo điều đã hiển hiện cho Ngài thì tất cả chẳng ra gì:
  –   “Vì mọi điều tôi đã viết đối với tôi chỉ là rơm rác so với điều đã được mạc khải cho tôi thấy.”

 Đức Thánh Cha Grêgôriô cho mời thầy dòng danh tiếng đến dự công đồng Lyon.  Dầu bệnh hoạn, thánh Tôma đã tuân phục và đi bộ với hai anh em để tới dự công đồng.  Đi đường lên cơn sốt.  Sức khỏe đã chận Người lại tu viện Fossa Nova.  Cảm thấy sắp chết, Ngài tuyên xưng đức tin và khi rước lễ, Ngài nói:
  –  Tôi tin vững rằng: Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật trong bí tích này, con thờ lạy Chúa, ôi Thiên Chúa, đấng cứu chuộc con”. 

Ngài qua đời năm 1274, khi mới 49 tuổi.  Ngài qua đời đơn sơ và dịu hiền của một trẻ em không ngừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa. 

Năm 1328, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.  Năm 1567, Ðức Piô V lại phong ngài làm tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu “Tiến Sĩ Thiên Thần.”  Ðến năm 1880, Ðức Lêô XIII đặt ngài làm quan thầy các trường Công Giáo. 

Nguồn: https://www.tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để mang chữ “NHÂN” vào những mảnh đời đang đau khổ. Hôm nay 27/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 27/01/2026. (t2-25)

Thánh nhân sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474  tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. An-giê-la  mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, An-giê-la Mê-ri-si (Angela Merici) từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng An-giê-la  biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.

    Ngài mới từ Ðất Thánh trở về. Khi trên đường đến đó ngài bị bệnh nặng và bị mù. Tuy nhiên, ngài nhất quyết tiếp tục cuộc hành hương và thăm viếng các thánh địa với tất cả lòng sùng kính hơn là muốn chiêm ngưỡng bằng cặp mắt. Trên đường về ngài được chữa lành và được sáng mắt. Ðiều ấy chắc chắn đã nhắc nhở ngài rằng không thể nhắm mắt trước nhu cầu của những người chung quanh, và đừng đóng cửa lòng trước lời mời của Thiên Chúa.

    Ở khắp nơi trong thành phố, đâu đâu ngài cũng thấy các em gái nghèo nàn, không có học vấn và cũng không có tương lai. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu của Thánh Angela, vấn đề giáo dục phụ nữ là dành cho người giầu và cho các nữ tu. An-giê-la là người có học thức. Cha mẹ ngài chết sớm khi ngài mới mười tuổi và sau đó ngài phải sống với người chú. Ngài thực sự bối rối khi thấy chị của ngài từ trần mà không được lãnh nhận các bí tích. Trong một thị kiến ngài được đảm bảo là chị của ngài được an toàn trong bàn tay Thiên Chúa — và cũng qua thị kiến ấy ngài tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.

    Khi chú ngài từ trần, trở về nhà ngài nhận thấy các em gái trong vùng không có một chút học vấn. Nhưng ai sẽ dạy các em? Thời ấy thật khác biệt. Phụ nữ không được phép làm nghề giáo và các cô chưa chồng thì không được tự ý đi ra ngoài — dù để phục vụ người khác. Nữ tu là các phụ nữ có kiến thức nhưng họ không được phép bước chân ra khỏi tu viện. Thời đó không có dòng nữ tu chuyên về giáo dục như ngày nay.

    Ðể giúp đỡ các em, An-giê-la nghĩ ra một phương cách mới. Ngài quy tụ một nhóm các cô thuộc dòng Ba Phanxicô, đi ra đường phố và tụ tập các em gái lại để dạy học cho các em. Các cô không có tiền cũng như không có quyền thế, họ chỉ có tấm lòng tận tụy cho việc giáo dục và cho Ðức Kitô. Sống trong chính nhà của mình, họ gặp gỡ để cầu nguyện và dạy học. Họ thành công đến nỗi An-giê-la được yêu cầu đưa sáng kiến ấy để thực hiện ở các thành phố khác, và đã làm nhiều người kinh ngạc, kể cả đức giáo hoàng.

    Mặc dù ngài từ chối đức giáo hoàng, nhưng có lẽ thỉnh cầu của đức giáo hoàng đã gợi ý cho ngài thấy rằng cần phải chính thức hóa tổ chức của ngài. Mặc dù chưa bao giờ là một nữ tu, Hội Thánh Ursula của An-giê-la  là nhóm nữ tu đầu tiên hoạt động ngoài khuôn khổ nhà dòng và là dòng nữ đầu tiên chuyên lo giáo dục.

     Thánh An-giê-la Mê-ri-si từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

    Thánh nữ được tôn phong Chân Phước năm 1768 do Đức Giáo Hoàng Clement XIII và đến ngày 27 tháng 5 năm 1807 Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ghi tên thánh nữ vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội.

 (Nguồn: Dòng Tên) Mời bạn suy niệm 3 câu nói của ngài hôm nay nhé:

1/ Chúng ta phải làm phúc bố thí. Đức bác ái chinh phục và lôi kéo các linh hồn đến với nhân đức.

2/ Hãy nhớ rằng ma quỷ không ngủ đâu nhưng luôn tìm đủ mọi cách để huỷ hoại chúng ta.

3/ Hãy làm ngay bây giờ những gì mà bạn ao ước làm khi giờ lâm tử của bạn đến.

Câu nào đánh động bạn nhất? Theo mình thì câu 3

Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã cho thánh An-giê-la trinh nữ nên gương bác ái và khôn ngoan; vì lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con cũng noi theo Người mà trung thành tuân giữ lời Chúa dậy, và tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hằng ngày.

(Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh nữ An-giê-la Mê-ri-si). 

From: Do Dzung

*************************

Nguyện cầu – Nguyễn Hồng Ân (Sáng tác Lm. Thành Tâm)