THÁNH TÊRÊSA AVILA

THÁNH TÊRÊSA AVILA

 Đây là nhà cải tổ vĩ đại dòng Cát Minh, người đã nỗ lực hết mình để hướng dẫn chị em sống đúng tin thần đan tu.  Thánh nữ là nhà thần bí vĩ đại, để lại rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu nhất là quyển “Lâu Đài Nội Tâm,” giải thích hành trình tâm linh của một Kitô hữu tiến tới sự hoàn thiện.  Đức Bênêđictô XVI dành buổi tiếp kiến chung ngày 02 tháng 02 năm 2011 để nói về cuộc đời và tư tưởng của thánh nữ.

 *****

Anh chị em thân mến,

Trong những bài giáo lý trước đây, tôi đã chia sẻ về các vị Giáo phụ trong Hội Thánh, những nhà thần học lớn và nhiều người nữ thời Trung Cổ.  Tôi đã có cơ hội để suy nghĩ thấu đáo hơn về những vị được tuyên phong là “Tiến Sĩ Hội Thánh,” dựa trên đạo lý trổi vượt của các ngài.  Hôm nay, tôi xin được tiếp tục trình bày chủ đề này.  Tôi sẽ giới thiệu một vị rất nổi bật về linh đạo Kitô giáo cho mọi thời – đó là thánh nữ Têrêsa Avila, cũng được biết đến với danh hiệu thánh Têrêsa Giêsu.

 Thánh Têrêsa, tên gọi đầy đủ là Têrêsa de Cepeda y Ahumada, sinh ở Avila, Tây Ban Nha, năm 1515.  Trong quyển tự truyện, thánh nữ có đề cập đến một vài chi tiết thời thơ ấu của ngài.  Ngài được sinh ra trong một đại gia đình lớn, cha mẹ là “những người sùng đạo và hết lòng kính sợ Thiên Chúa.”  Thánh nữ có 3 chị em gái và 9 anh em trai.

 Khi còn bé, chưa đủ chín tuổi, Têrêsa đã có cơ hội đọc về cuộc đời của các vị tử đạo, và điều này đã truyền cho cô bé một cảm hứng mãnh liệt, khát khao được phúc tử đạo, đến độ Têrêsa chạy nhanh ra khỏi nhà, muốn được chết như một chứng nhân tử đạo và tiến lên cõi trời (x. Vida, 1,4); cô bé nói với cha mẹ: “Con muốn nhìn ngắm Thiên Chúa.”

 Một vài năm sau, Têrêsa phải nói về việc đọc sách thời thơ ấu của mình, và ngài chia sẻ rằng, nhờ đọc sách, bản thân mới khám phá ra con đường chân lý, được gồm tóm trong hai nguyên tắc nền tảng. 

Một mặt, “tất cả mọi sự trên thế gian này sẽ qua đi,” trong khi, mặt khác, duy chỉ Thiên Chúa mới tồn tại “mãi muôn đời,” một chủ đề được lặp lại nhiều lần trong các bài thơ nổi tiếng nhất của Têrêsa:

 Đừng để sự gì làm bạn lo lắng,

Đừng để điều chi làm bạn hoảng sợ,
Tất cả mọi sự kìa đang qua đi:
Thiên Chúa vẫn không bao giờ thay đổi.
Kiên trì giúp ta đạt được tất cả.
Có Thiên Chúa, ta chẳng thiếu thốn gì;
Chỉ mình Người lấp đầy tâm hồn ta.

 Khi Têrêsa chừng mười hai tuổi, thì thân mẫu qua đời, và thánh nữ đã tha thiết nài xin Đức Maria Rất Thánh Đồng Trinh trở nên Mẹ của mình (x. Vida, 1,7).

 Vào thời niên thiếu, Têrêsa tìm đọc những sách phàm tục, dẫn đến mấy trò tiêu khiển vô bổ, nhưng tới lúc đi học ở trường Santa María de las Gracias de Ávila của các nữ tu dòng thánh Augustinô, Têrêsa đọc nhiều sách thiêng liêng, đặc biệt là tìm hiểu các tác phẩm kinh điển về linh đạo của thánh Phanxicô, từ đó tiến dần đến đời sống thanh tịnh và cầu nguyện.

 Được hai mươi tuổi, Têrêsa gia nhập đan viện Nhập Thể của dòng Cát Minh ở tại Avila.  Trong đời sống tu trì, ngài lấy danh hiệu là “Têrêsa Giêsu.”  Ba năm sau, người nữ tu trẻ đã ngã bệnh nặng đến nỗi hôn mê bất tỉnh bốn ngày, trông như thể đã qua đời (x. Vida, 5,9).

 Khi chiến đấu với bệnh tật thể xác, Têrêsa cũng nhận thấy một cuộc chiến chống lại sự yếu đuối muốn cưỡng lại lời mời gọi của Thiên Chúa trong nội tâm.  Thánh nhân viết: “Tôi đã ước mong được sống, nhưng tôi nhận thấy rõ ràng rằng, không phải mình đang sống, mà đúng hơn mình đang vật lộn với bóng dáng của tử thần; không một ai cho tôi sự sống, và tôi cũng không thể nắm giữ được sự sống.  Chính Đấng có thể cho tôi sự sống đã không đến trợ giúp tôi vì những lý do tốt lành; tôi biết, đã nhiều lần Thiên Chúa dẫn tôi trở về với Người, và tôi vẫn thường lìa xa Người” (Vida, 7,8).

 Vào năm 1543, Têrêsa mất đi những người thân thuộc, gần gũi với mình; cha của thánh nhân qua đời và tất cả các anh chị em ruột, từng người một, dần di cư đến châu Mỹ.  Mùa Chay năm 1554, lúc đó Têrêsa được ba mươi chín tuổi, đạt đến ngưỡng cao nhất của cuộc chiến chống lại những yếu đuối của bản thân.  Việc tình cờ tìm thấy bức tượng “Đức Kitô bị thương tích nặng nề” đã để lại dấu ấn sâu đậm trên cuộc đời thánh nhân (x. Vida, 9).

 Trong giai đoạn đó, Têrêsa đã cảm nhận sâu sắc tư tưởng và tâm tình của thánh Augustinô trong quyển “Tự Thuật,” thế rồi ngài mô tả về ngày hệ trọng với kinh nghiệm thần bí của mình: “…cảm nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa ập đến trên tôi thật bất ngờ, đến nỗi tôi không hồ nghi chút nào rằng, Thiên Chúa ở trong tôi, và tôi hoàn toàn chìm đắm trong Người” (Vida, 10,1).

 Song song với bước tiến triển trong nội tâm, Têrêsa bắt đầu ấp ủ ý tưởng thực hiện một cuộc cải tổ dòng Cát Minh: Năm 1562 ngài thiết lập Tu viện Cát Minh cải tổ đầu tiên ở Avila, với sự ủng hộ của Đức Giám Mục thành phố, Đức cha Don Alvaro de Mendoza, và không lâu sau đó cũng nhận được sự chấp thuận của cha Gioan Baotixita Rossi, Tổng quyền dòng Cát Minh lúc bấy giờ.

 Suốt những năm tiếp theo, Têrêsa tiếp tục thiết lập những Tu viện Cát Minh dành cho nữ, tất cả 17 Tu viện.  Cuộc gặp gỡ giữa Têrêsa với Gioan Thánh Giá mang tính nền tảng quyết định.  Cùng với thánh Gioan Thánh Giá, Têrêsa đã thiết lập Tu viện đầu tiên dành cho những anh em Cát Minh cải tổ ở Duruelo, cách Avila không xa.

 Năm 1580, Têrêsa nhận được sự chấp thuận của Tòa thánh, công nhận dòng Cát Minh cải tổ của ngài là một tỉnh dòng độc lập.  Đây là khởi điểm cho dòng Cát Minh không đi giày.

[1]

 Thật vậy, cuộc đời dương thế của Têrêsa kết thúc khi ngài đang ở giữa giai đoạn hoạt động cải tổ của mình.  Thánh nhân qua đời vào buổi tối ngày 15 tháng 10 năm 1582, ở Alba de Tormes, sau khi thiết lập nữ tu viện Cát Minh ở Burgos, lúc đang trên đường trở về Avila.  Mấy lời khiêm tốn cuối cùng thánh nhân thốt lên: “Sau tất cả mọi sự, tôi ra đi như một người con của Giáo Hội.”  Têrêsa tiếp tục thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Đức Lang Quân của con, thời điểm mà con hằng chờ đợi bấy lâu đã đến.  Đây chính là lúc con được gặp gỡ Ngài, lạy Chúa của con.”

 Têrêsa đã dâng hiến trọn cuộc đời cho Giáo Hội, dù rằng chỉ sống ở Tây Ban Nha.  Ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô V phong chân phước vào năm 1614 và được đức giáo hoàng Grêgôriô XV ghi danh vào sổ bộ các thánh vào năm 1622.  Và vị tôi tớ của Thiên Chúa, Đức chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên phong ngài là “Tiến Sĩ Hội Thánh” vào năm 1970.

 Tuy không nhận được một sự giáo dục mang tính hàn lâm, khoa bảng, nhưng Têrêsa Giêsu đã tiếp thu rất nhiều từ giáo huấn của các nhà thần học, các vị trí thức, và các thầy dạy tâm linh.  Là một văn sĩ, Têrêsa luôn trung thành viết những điều mà bản thân đã trải nghiệm hoặc đã nhìn thấy nơi kinh nghiệm của những người khác,

[2]

hay có thể nói rằng, Têrêsa viết trên những hiểu biết mà bản thân đã thủ đắc.

 Têrêsa có cơ hội thiết lập nhiều mối tương quan thân hữu thiêng liêng với nhiều vị thánh, và đặc biệt là với thánh Gioan Thánh Giá.  Đồng thời, ngài cũng nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng việc đọc sách về các vị Giáo phụ, như thánh Giêrônimô, thánh Grêgôriô Cả, và thánh Augustinô.

 Trong số các tác phẩm quan trọng nhất của thánh nhân, chúng ta nên đề cập trước tiên đến toàn bộ tự truyện của ngài, El libro de la vida, Têrêsa gọi đây là “Quyển Sách Về Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa” (Libro de las misericordias del Senor).  Tác phẩm này được Têrêsa viết trong tu viện Cát Minh tại Avila năm 1565, kể lại tiểu sử và mô tả hành trình tâm linh, từng bước dẫn đưa linh hồn thánh nhân đến sự phân định về một “bậc thầy của những điều thiêng liêng,” thánh Gioan Avila.  Mục đích của Têrêsa là nhấn mạnh đến sự hiện diện cũng như hành động của một Thiên Chúa đầy lòng xót thương trong cuộc đời ngài.  Bởi thế, tác phẩm này thường trích những lời Têrêsa đối thoại với Thiên Chúa trong phút giây cầu nguyện.  Điều này làm cho tác phẩm thêm lôi cuốn, bởi thánh nhân vừa kể lại chi tiết, vừa giải thích những kinh nghiệm sâu sắc về mối tương quan với Thiên Chúa.

 Năm 1566, Têrêsa viết tác phẩm “Đường Trọn Lành” (El Camino de Perfección).  Ngài đã gọi cuốn sách này là “Những Lời Hướng Dẫn Và Khuyên Nhủ Của Têrêsa Giêsu Dành Cho Các Nữ Tu” (Advertencias y consejos que da Teresa de Jésus a sus hermanas).  Cuốn sách này được soạn cho 12 tập sinh của tu viện Cát Minh, tước hiệu thánh Giuse, ở Avila.  Têrêsa đề nghị với các chị em một chương trình nghiêm ngặt sống đời chiêm niệm để phục vụ Giáo Hội, và cội nguồn của nếp sống ấy là các nhân đức và tinh thần cầu nguyện theo Tin Mừng.  Trong số các đoạn nổi bật nhất phải kể đến là phần “Chú Giải Kinh Lạy Cha,” như khuôn mẫu cho đời sống cầu nguyện.

 Tác phẩm thần bí nổi tiếng nhất của Têrêsa là “Lâu Đài Nội Tâm” (El Castillo interior).  Ngài viết tác phẩm này vào năm 1577 khi vẫn còn trẻ.  Tác phẩm là một lối giải thích khác về hành trình tâm linh của chính thánh nhân, đồng thời cũng là tập sách về các điều lệ mang đến khả năng phát triển tròn đầy đời sống Kitô hữu đến mức hoàn thiện, dưới sự tác động của Thánh Thần.

 Têrêsa quan tâm đến cấu trúc của một lâu đài với bảy căn phòng như hình ảnh của nội tâm con người.  Đồng thời, ngài đưa ra biểu tượng về sự lột xác của con tằm chuyển biến thành con bướm, nhằm nhấn mạnh sự chuyển biến từ tự nhiên đến siêu nhiên.

 Thánh nhân lấy cảm hứng từ Sách Thánh, cụ thể là Diễm Ca, để đi đến hình ảnh sau hết về vị “Hôn phu và Hôn thê,” có thể miêu tả ở căn phòng thứ bảy, bốn khía cạnh quan trọng nhất của đời sống Kitô hữu: thuộc về Ba Ngôi, thuộc về Đức Kitô, thuộc về con người, và thuộc về Giáo Hội.

 Thánh Têrêsa dành trọn tâm huyết cho quyển “Sách Các Nền Tảng” (Libro de la fundationes), viết vào giữa những năm 1573 và 1582, về các hoạt động của ngài như Đấng sáng lập dòng Cát Minh cải tổ.  Trong quyển sách này, ngài nói về đời sống của một cộng đoàn tu sĩ mới hình thành.  Quyển sách này, cũng như quyển tự truyện của thánh nhân, được viết để đặc biệt tôn vinh công trình và tác động của Thiên Chúa trong việc thiết lập những Tu viện mới.

 Không dễ tóm tắt đời sống tâm linh sâu sắc và nổi bật của thánh Têrêsa trong vài lời.  Tôi chỉ muốn đề cập mấy điểm trọng yếu.

 Thứ nhất, thánh Têrêsa nói đến các nhân đức Tin Mừng như là nền tảng cho mọi Kitô hữu và cho đời sống con người, cụ thể là thái độ từ bỏ chiếm hữu, khó nghèo Tin Mừng, và điều này liên hệ đến tất cả chúng ta; rồi đến đức ái dành cho tha nhân như một yếu tố quan trọng của đời sống cộng đoàn và đời sống xã hội; tiếp đó, đức khiêm nhường tựa như tình yêu dành cho chân lý; đức kiên nhẫn như hoa trái của lòng can đảm Kitô giáo; đức cậy, điều mà thánh nhân miêu tả là niềm khát khao nguồn nước hằng sống.  Chúng ta cũng không quên những đức tính nhân bản mà thánh nữ chỉ dạy: thái độ nhã nhặn, thành thật, khiêm hạ, lịch sự, luôn niềm nở và cư xử có văn hoá.

 Thứ hai, thánh Têrêsa cho thấy một sự hòa hợp thẳm sâu với những nhân vật vĩ đại trong Kinh Thánh và niềm khát khao lắng nghe Lời Chúa.  Trên tất cả, thánh nữ cảm nhận một sự tương đồng, gần gũi nào đó với vị hôn thê trong sách Diễm Ca, với thánh Phaolô Tông đồ, cũng như với Đức Giêsu trong Cuộc Khổ Nạn và với Đức Giêsu trong Nhiệm Tích Thánh Thể.  Thế rồi, thánh nhân nhấn mạnh việc cầu nguyện quan trọng đến mức nào.  Ngài nói: “Cầu nguyện có nghĩa là sống tình bằng hữu, thường xuyên chuyện trò thân mật với Thiên Chúa, Đấng chúng ta nhận biết và rất mực yêu thương chúng ta” (Vida 8,5).  Quan niệm của thánh Têrêsa tương đồng với câu định nghĩa của Thánh Tôma Aquinô về đức mến, là “amicitia quaedam hominis ad Deum,” tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa, Đấng chủ động đi bước trước, trở nên bạn hữu của con người; tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa luôn khởi đi từ phía Thiên Chúa, Đấng là nguyên uỷ vạn vật.

[3]

 Cầu nguyện là sự sống và nó tiến triển dần dần qua mỗi bước tăng trưởng của đời sống Kitô hữu.  Cầu nguyện ban đầu là khẩu nguyện, rồi nội tâm hóa bằng suy niệm, cho đến khi kết hợp trong tình yêu với Đức Kitô và với Ba Ngôi.  Hẳn nhiên, trong quá trình tiến triển, đỉnh cao của cầu nguyện không phải là loại bỏ đi các cách cầu nguyện trước đó, đúng hơn là dần đào sâu mối tương quan với Thiên Chúa, Đấng làm chủ toàn bộ đời sống con người.

 Hơn một đường lối sư phạm, giáo huấn của thánh Têrêsa là “cuộc khai mở” đích thực đời sống cầu nguyện: thánh nhân dạy cho những ai đọc các tác phẩm của ngài biết phải cầu nguyện thế nào, bằng việc cầu nguyện với những lời có trong sách ấy.  Thật vậy, ngài thường ngắt quãng sự đơn điệu, nhàm chán của những lời giải thích trong sách bằng vài lời cầu nguyện tự phát.

 Một chủ đề khác nữa mà thánh Têrêsa nói đến là vai trò quan trọng của nhân tính Đức Kitô.  Thực vậy, đối với Têrêsa, đời sống Kitô hữu chính là mối tương quan cá vị với Đức Giêsu vốn đạt đến cực điểm trong sự kết hiệp với Người nhờ ân sủng, lòng mến, và hoàn toàn bắt chước Người.  Vì tầm quan trọng của nhân tính Đức Kitô, thánh nhân hằng suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô gắn liền với bí tích Thánh Thể như là sự hiện diện của Đức Kitô trong Giáo Hội đối với đời sống của mọi tín hữu, và như là trung tâm điểm của Phụng vụ.  Thánh Têrêsa dành trọn tình yêu tuyệt đối cho Giáo Hội: trình bày một “Cảm thức Giáo Hội” (sensus Ecclesiae) rất sống động, mặc dầu thánh nhân đứng trước sự chia rẽ và mâu thuẫn rất lớn bên trong Giáo Hội vào thời đại của ngài.

 Thánh Têrêsa đã cải tổ dòng Cát Minh với ý định phục vụ và bảo vệ “Giáo Hội Công Giáo Rôma thánh thiện,” tự nguyện hiến dâng cuộc đời của mình cho Giáo Hội (x. Vida, 33,5).

 Một khía cạnh thiết yếu sau cùng về giáo huấn của thánh Têrêsa điều mà tôi muốn nhấn mạnh là sự trọn lành, như toàn bộ khát vọng và cùng đích của đời sống Kitô hữu.  Thánh nhân có một ý niệm rất rõ ràng về sự trọn hảo của Đức Kitô, được thực hiện qua các Kitô hữu.  Kết thúc của hành trình Lâu Đài Nội Tâm, trong “căn phòng” cuối cùng, Têrêsa mô tả về sự trọn hảo này, đạt đến việc cư ngụ của Chúa Ba Ngôi, trong sự hợp nhất với Đức Kitô, qua mầu nhiệmNhân Tính của Người.

 Anh chị em thân mến, thánh Têrêsa Giêsu là một thầy dạy thực thụ của đời sống Kitô hữu cho mọi người qua mọi thời.  Trong xã hội chúng ta, nhiều nơi thường thiếu vắng những giá trị tâm linh, thánh Têrêsa dạy chúng ta hãy trở thành những chứng nhân bất khuất của Thiên Chúa, về sự hiện diện và hành động của Người.  Thánh nhân dạy chúng ta hãy thực sự khát khao hướng về Thiên Chúa, Đấng hiện hữu nơi sâu thẳm trong tâm hồn, lòng khát khao này giúp chúng ta nhìn ngắm Thiên Chúa, tìm kiếm Thiên Chúa, đi vào cuộc trò chuyện với Người và trở nên bạn hữu của Người.

 Đây là tình bằng hữu mà tất cả chúng ta cần đến, điều mà chúng ta phải kiếm tìm lại mỗi ngày không ngơi nghỉ.  Cầu mong cho gương sáng của thánh Têrêsa, sự chiêm niệm thâm sâu và hoạt động có hiệu quả của thánh nhân, khích lệ chúng ta mỗi ngày biết dành ra một khoảng thời gian thích hợp để cầu nguyện, rộng mở tâm hồn cho Thiên Chúa, kiếm tìm Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa, khám phá tình bằng hữu của Thiên Chúa và đạt được sự sống đích thực; thật thế, nhiều người trong chúng ta vẫn tự nhủ: “Tôi không sống, tôi không sống thực sự, bởi vì tôi không thi hành những điều cốt yếu nhất trong cuộc đời tôi.”

 Vì thế, thời gian dành để cầu nguyện không phải là khoảng thời gian vô bổ, đó chính là khoảng thời gian cho con đường sự sống mở ra; con đường mở ra để học biết từ nơi Thiên Chúa một tình yêu mãnh liệt dành cho Người, dành cho Giáo Hội và quyết lòng thực thi đức ái với tha nhân.

 Trích ĐGH Bênêdictô XVI, 36 Thánh Tiến Sĩ (Tp. HCM: Nxb Phương Đông, 2017), tr. 377-389.

From: Langthangchieutim


 

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII (1881 – 1963): VỊ MỤC TỬ VỀ KINH MÂN CÔI

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII (1881 – 1963): VỊ MỤC TỬ VỀ KINH MÂN CÔI

 Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII chào đời ở vùng Lombardi, Italia và có 13 anh chị em.  Khi còn ở chủng viện, ngài đã là hội viên của Dòng Ba Phanxicô.  Kết thúc thời gian tu học, ngài phục vụ Tòa Thánh trong nhiều công tác ngoại giao, đặc biệt là được bổ nhiệm làm sứ thần Tòa Thánh ở Pháp.  Trong Thế Chiến II, khi còn là sứ thần, ngài đã cứu giúp nhiều người Do Thái khỏi những điều kinh khủng của nạn tàn sát người Do Thái thời Đức Quốc Xã.  Đắc cử giáo hoàng năm 1958, ngài được tuyển chọn để dẫn dắt Giáo Hội trong những năm đầu khủng hoảng của thập niên sáu mươi.  Nhận thức rằng có một sự thay đổi văn hóa đang diễn ra trong xã hội, ngài đã khai mở một công đồng lịch sử, Công đồng Vatican II vào tháng 10/1962.  Đức Gioan XXIII có thói quen âm thầm ra khỏi thành Vatican để bách bộ trên những con đường ở Rôma vào ban đêm, vì thế, người ta gán cho ngài biệt danh là “Johnny Walker.  Ngài thường ngài là “Vị giáo hoàng của thánh Giuse” bởi vì ngài đã làm nhiều việc để cổ võ lòng sùng kính thánh Giuse.

 Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII rất có khiếu hài hước.  Một lần, khi được hỏi có bao nhiêu người làm việc ở thành Vatican, ngài đã trả lời: “Khoảng một nửa người!”  Năm 1963, ngài qua đời vì căn bệnh ung thư dạ dày. 

Lòng Sùng Kính Đức Maria

 Từ lúc còn thiếu thời, Đức Gioan XXIII đã có tình yêu lớn lao đối với Đức Mẹ, nhất là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.  Khi là một linh mục, ngài thể hiện lòng quý mến đặc biệt đối với Đức Maria và thường xuyên viếng thăm các đền thờ được cung hiến cho Mẹ.  Ngài hành hương đến Fatima ở Bồ Đào Nha; Czestochowa ở Ba Lan, và Lộ Đức (đền thờ Đức Maria mà ngài yêu thích) ở Pháp.  Ngài đến Lộ Đức lần đầu tiên vào năm 1905, và tiếp sau đó là hàng loạt các cuộc hành hương đến thánh địa này trong vai trò là sứ thần.  Quãng thời gian làm Tổng giám mục Venice, với tư cách là đại diện Đức Thánh Cha, ngài đã thánh hiến Vương Cung Thánh Đường mới ở Lộ Đức.

 Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII tin rằng lòng sùng đạo hướng về Đức Trinh Nữ Rất Thánh là biểu hiện tâm hồn của một người Công Giáo đích thực.  Trong triều đại giáo hoàng, Đức Gioan XXIII đã nỗ lực cổ võ lòng sùng kính Đức Maria.  Trước khi khai mạc Công đồng Vatican II, ngài có cuộc hành hương đến Đền Thánh Loreto để cầu xin sự trợ giúp của Đức Maria cho Công đồng.  Ngài chịu trách nhiệm án tuyên thánh cho nhiều vị có lòng sùng kính Đức Maria, đặc biệt là các thánh Vinh Sơn Pallotti và Phêrô Julian Eymard.

 Chiến Sĩ Kinh Mân Côi

 Khi còn nhỏ, Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII yêu mến Kinh Mân Côi và cầu nguyện bằng lời kinh ấy mỗi buổi tối cùng với gia đình.  Ngài đem tình yêu Kinh Mân Côi vào trong đời linh mục của mình; khi là Tổng giám mục Venice, ngài đọc 15 chục Kinh Mân Côi mỗi ngày.  Sau khi được bầu làm giáo hoàng, thông điệp đầu tiên (26/09/1959) trong triều đại của ngài là về Kinh Mân Côi có tựa đề Grata Recordatio.  Trong đó, ngài nhắc lại và ca ngợi các thông điệp về Kinh Mân Côi của Đức Giáo hoàng Lêô XIII.  Qua đó, Đức Gioan XXIII khẳng định rằng Kinh Mân Côi là biện pháp xã hội nhằm khắc phục thời đại rối ren mà ngài được chọn để dẫn dắt Giáo Hội.

 Tình yêu Kinh Mân Côi của Đức Gioan XXIII lớn tới mức ngài thiết lập hẳn một lịch trình hằng ngày trong triều đại giáo hoàng cho phép ngài cầu nguyện hoàn toàn bằng Kinh Mân Côi.  Ngài đọc Năm Sự Vui vào buổi sáng, Năm Sự Thương vào buổi trưa, và lúc 7h30 mỗi buổi tối ngài đọc Năm Sự Mừng với các thành viên phục vụ điện giáo hoàng (thư ký, các nữ tu, quản gia).  Ngài đã viết hàng loạt bài suy niệm về các mầu nhiệm Kinh Mân Côi, và lưu ý rằng sau Thánh lễ và Các Giờ Kinh Phụng Vụ thì Kinh Mân Côi có vị trí cao quý trong số các hình thức đạo đức Kitô giáo.  Đức Gioan XXIII đặc biệt hỗ trợ tôi tớ Chúa, Patrick Peyton, trong những nỗ lực của Patrick để cổ võ các chiến dịch Kinh Mân Côi và gia đình Mân Côi, và khích lệ mọi người cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi.  Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII coi Kinh Mân Côi là hình thức cầu nguyện đơn giản và dễ dàng nhất.

 Trích từ

Donald H. Calloway, MIC

Champions of the Rosary, Marian Press, 2016

 Chuỗi ngọc Mân Côi

 Lời cầu nguyện này – Kinh Mân Côi rất thánh – là hình thức đơn giản và dễ dàng nhất đối với mọi Kitô hữu.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Khi cha mẹ và con cái quây quần bên nhau đọc Kinh Mân Côi vào lúc cuối ngày, họ cùng suy ngẫm về mẫu gương sáng chói của lao động, của sự vâng phục và lòng bác ái nơi gia đình Nadarét; họ cùng học hỏi nơi Mẹ Thiên Chúa để biết âm thầm chịu đựng, cao thượng và can đảm chấp nhận những khó khăn, biết phân định những biến cố trong cuộc sống hằng ngày.  Chắc chắn rằng họ sẽ đương đầu với những vấn đề của cuộc sống gia đình cách dễ dàng hơn.  Nhờ đó, gia đình sẽ được biến đổi thành nơi nương ẩn bình an.  Dòng nước ân huệ của Thiên Chúa sẽ chảy đến họ, ngay cả ân huệ vô giá của thiên chức linh mục hay ơn gọi tu trì.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Dù tình trạng tâm linh có thế nào đi chăng nữa, thì bất cứ ai, khi sốt sắng đọc Kinh Mân Côi, chắc chắn sẽ tìm thấy một lời mời gọi điều chỉnh cuộc sống theo đúng những nguyên tắc của Kitô giáo.  Thực vậy, họ sẽ tìm thấy nơi Kinh Mân Côi một dòng suối tràn trề ân sủng, giúp họ làm trọn bổn phận của mình trong cuộc sống.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Đọc Kinh Mân Côi cách sốt sắng là một tổng thể gồm ba yếu tố.  Vì mỗi chục kinh là một bức tranh, và mỗi bức tranh lại bao gồm một bộ ba yếu tố đan quyện vào nhau: chiêm ngắm huyền nhiệm, suy tư thâm sâu, và ý hướng tốt lành.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Kinh Mân Côi là một hình thức cầu nguyện và suy niệm rất đáng ngợi khen.  Đang khi đọc Kinh Mân Côi, chúng ta đan kết một vòng hoa huyền nhiệm gồm Kinh Kính Mừng, Kinh Lạy Cha và Kinh Sáng Danh.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Là một thực hành đạo đức Kitô giáo, Kinh Mân Côi xếp sau Thánh lễ và Kinh Nhật Tụng dành cho hàng giáo sĩ, và dành cho giáo dân sau khi tham dự các bí tích.  Đó là một hình thức đạo đức kết hiệp với Thiên Chúa và nâng tâm hồn lên tầm mức siêu nhiên.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII 

Nguyện xin Kinh Mân Côi đừng bao giờ rời khỏi bàn tay của bạn.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

Kinh Mân Côi là vinh quang của Giáo Hội Công Giáo.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 Ôi, Kinh Mân Côi đầy phúc lành và niềm vui!  Ôi, nơi dương thế cũng như trên các tầng trời vĩnh cửu được lắng nghe sự đảm bảo mà Kinh Mân Côi đem lại!

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII

 From: Langthangchieutim


 

–St. Francis of Assisi

Vu Chi Nguyen

“Hãy nhớ rằng khi rời khỏi thế gian này, bạn không thể mang theo bất cứ thứ gì bạn đã nhận được—bạn chỉ có thể mang theo những gì mà bạn đã cho đi: một trái tim trọn vẹn được vun đắp bởi sự phục vụ chân thành, tình yêu thương, sự hy sinh và lòng dũng cảm”

–St. Francis of Assisi

Có những người giàu nứt vách đổ tường, tiền ăn không biết tới bao nhiêu đời mới hết nhưng lúc còn sống vẫn thích làm chuyện xấu, chuyện ác để tích luỹ thêm cho sự giàu có của họ để rồi khi rời khỏi thế gian này, không mang theo được gì cả mà còn bị người đời nguyền rủa khi còn sống và khi đã chết 

Hôm nay, đúng 800 năm ngày mất của Thánh Francis thành Assisi mà người Việt Công Giáo gọi là Thánh Phaxicô.  Thánh Phanxicô lớn lên trong một gia đình rất giàu có, là con trai của Pietro di Bernardone, một thương gia buôn bán lụa và vải vóc rất thành công và thịnh vượng ở Ý vào thế kỷ 12.  Ngài từ bỏ cuộc sống nhung lụa, dấn thân giúp đở những người nghèo khổ bệnh hoạn

Chiếc áo tu nghèo khổ của Ngài vẫn được bảo quản cho tới ngày nay

Cá nhân tui có nhiều kỷ niệm với ngôi nhà thờ thuộc dòng Phanxicô ở khu Đa Kao, Sài Gòn


 

Mừng kính Thánh Maria Faustina sứ điệp của lòng thương xót Chúa – Cha Vương

Hôm nay 05/10, Giáo hội mừng kính Thánh Maria Faustina sứ điệp của lòng thương xót Chúa, ước mong bạn cảm nhận được tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Mừng quan thầy đến những ai chọn ngài làm bổn mạng nhé. Nhớ  nhau trong cầu nguyện cho thế giới luôn nhé

Cha Vương

Thứ 2: 05/10/2026   (t4-22)

Khi vị thánh nữ này cất tiếng khóc chào đời tại Ba Lan ngày 25 tháng Tám năm 1905, thì song thân thánh nữ đã đặt tên cho ngài là Helen. Trong cuộc đời ngắn ngủi tại thế, Helen đã thực hiện một sứ vụ quan trọng là dạy cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu. Ngay từ lúc lên 7, Helen đã muốn sống cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa như một nữ tu. Khi được 25 tuổi, Helen vào tu trong dòng Chị Em Con Đức Mẹ Thương Xót, và nhận tên là sơ Maria Faustina.

    Công việc của sơ Maria Faustina thật giản dị. Sơ nấu ăn, làm vườn và giữ cửa cho tu viện. Chỉ có sự tốt bụng, trầm lặng và hồi tâm là đáng lưu ý. Và ít có người biết được những chiều sâu đích thực về đời sống tâm linh của sơ Faustina. Thiên Chúa đã chúc lành cho sơ Faustina Maria bằng nhiều ân sủng đặc biệt, kể cả ơn thị kiến, ơn tiên tri và ơn được nhận năm Dấu Thánh cách vô hình.

    Trong một thị kiến mà sơ Maria Faustina nhận được, Chúa Giêsu đã hiện ra trong y phục màu trắng. Người giơ cao một tay để chúc lành và tay kia thì chạm vào Thánh Tâm Người. Có hai tia sáng phát ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một màu đỏ và một màu nhạt. Tia sáng đỏ tượng trưng cho Máu cứu chuộc của Chúa Kitô, còn tia xanh nhạt biểu trưng nước thanh tẩy trong bí tích Rửa tội. Chúa Giêsu nói: “Con hãy cho vẽ lại bức ảnh như con xem thấy Cha, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” Chúa Giêsu đã nói với sơ Maria Faustina rằng Chúa nhật sau lễ Chúa Phục Sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót.

     Sơ Maria Faustina đã viết nhật ký, chép lại mọi điều Chúa Giêsu muốn cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Người. Trong đó, Maria Faustina đã viết những lời cầu nguyện thật dễ thương, biểu lộ mối tương quan rất mực thân thiết đối với Đức Chúa Giêsu. Và Đức Chúa Giêsu nói với Maria Faustina rằng thánh nữ chính là thư ký nhỏ của Người. Chính công việc đặc biệt của thánh nữ Maria Faustina đã khích lệ nhiều người tin tưởng vào Lòng Thương Xót vô hạn lượng của Thiên Chúa.

    Chúa Giêsu hứa ban ơn tha thứ và ân sủng dư tràn cho bất cứ ai tôn sùng lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Tận hiến cho Lòng Thương Xót Chúa bao gồm tin tưởng vào lòng nhân hậu Chúa, yêu thương tha nhân, năng lãnh nhận bí tích Hòa giải để luôn ở trong tình trạng có ân sủng và rước lễ ngày Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa.

    Chỉ sau 13 năm sống trong bậc tu trì, sơ Maria Faustina Kowalska đã về trời vào ngày mùng 5 tháng Mười năm 1938 vì bệnh lao phổi, vừa tròn 33 tuổi.

    Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ Maria Faustina Kowalska: “Cha mong muốn con hãy luôn bày tỏ lòng thương xót ra khắp mọi nơi. Con không thể tự biện minh gì về điều này!” Phương thế tốt nhất để chứng tỏ chúng ta tin cậy vào Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu là biết tỏ bày lòng thương xót và luôn tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Chúng ta có sẵn lòng cùng nhau thực hiện như vậy không? Vậy hôm nay mời bạn dành thời gian lần chuỗi Lòng Thương Xót Chúa để đền tội mình và tội lỗi của toàn thế giới. Sau đây là câu nói của ngài:

(1) Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh! Bao nhiêu lần hít thở, bao nhiêu lần nhịp tim đập, bao nhiêu lần dòng máu luân chuyển trong cơ thể con là bấy nhiêu ngàn lần con muốn tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa. (Thánh Faustina)

(2) Chúa Thánh Thần không nói với một linh hồn chia trí và lắm lời. Chúa Thánh Thần nói qua những sôi động lặng lẽ của người với một linh hồn tịnh tâm, một linh hồn biết giữ thinh lặng. (Thánh Faustina)

Câu nào đánh động bạn nhất? 

From: Do Dzung

*****

Chúa Giàu Lòng Xót Thương – Thùy Loan 

Mừng kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su – Cha Vương

Nguyện xin bình an và xin ân sủng và bình an của Thiên Chúa ở cùng bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi. Hôm nay 1/10 Giáo Hội mừng kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới được bình an nữa nhé

Cha Vương

Thứ 5: 01/10/2022.    (t7-22)

Thánh Têrêxa là người con thứ năm của một gia đình Công giáo trung lưu thánh thiện và đạo đức. Mẹ của Bà qua đời khi Bà mới bốn tuổi, Bà cùng bốn người chị được người cha thánh thiện nuôi nấng dạy dổ. Cha của Bà là ông Martin và năm người con gái dọn về định cư tại Lisieux để được gần gủi với gia đình. Một thảm cảnh thứ hai lại xẩy đến với Bà là các chị Pauline và Maria mà Bà xem như người mẹ đều vào tu Dòng kín Carmel…

       Trong một đêm Noen, với một ân sủng lạ lùng và cao cả, Bà tìm lại được niềm vui cho tuổi trẻ và trong niềm hy vọng tràn trề với Tình Yêu Thiên Chúa mà Bà được nhận lảnh. Một cô bé nhút nhát yếu ớt trở nên bạo dạn và cương quyết, Bà cùng với cha mình đến Roma, trong buổi triều kiến ngày 9 tháng 4 năm 1888, Bà đã vượt qua mọi người và lính gác đến quì duới chân Đức Giáo Hoàng và xin phép được vào tu Dòng Carmel dù Bà mới 15 tuổi. Với lòng trung kiên tuyệt đối Bà tiến tới trên con đường nên thánh.

       Bà bị bệnh lao phổi trầm trọng và kinh niên, Bà phó thác mọi sự trong tay Chúa Kitô. Trong sự đau khổ triền miên, Bà hiến dâng lên Chúa để cầu xin cho những người tội lỗi trở lại với Đức Tin. Bà qua đời vào năm 1897 lúc mới 24 tuổi. Bà hứa sẽ làm “mưa hoa hồng” xuống trần thế và lên Thiên đàng bằng “con đường nhỏ”là làm những việc thiện dưới trần thế này.

       Chỉ vài năm sau khi Bà lìa đời, câu chuyện cuộc đời của Bà “Câu chuyện một linh hồn”, viết theo lệnh của Bề trên Dòng được phát hành và mọi tầng lớp dân chúng đã đón nhận nồng nhiệt. Nhiều người hành hương đến viếng tu viện Lisieux, họ đã nhận được những phép lạ và những ân sủng lạ lùng khi cầu xin cùng Thánh Têrêxa. Bà được phong hiển thánh năm 1928, và tuyên xưng là Đấng Bảo trợ các nhà truyền giáo. Đến năm 1997 thì Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II tấn phong Tiến sĩ Hội Thánh. 

(Phó Tế J.B. Huỳnh Mai Trác)

Sau đây là những câu nói của thánh nhân, mời bạn hãy lắng nghe coi ngài đang muốn nhắn nhủ bạn điều gì:

(1) Xin nhớ rằng không có điều gì là nhỏ bé dưới mắt Thiên Chúa. Hãy làm mọi việc với tình yêu.

(2) Vẻ rực rỡ của bông hồng và màu trắng của bông huệ không tước mất hương thơm của bông hoa tím hay lấy đi vẻ hấp dẫn mộc mạc của bông cúc dại. Nếu mỗi bông hoa nhỏ cứ muốn làm một bông hồng, mùa xuân hẳn sẽ mất vẻ yêu kiều.

(3) Hẳn là bạn cũng biết rằng Chúa chúng ta không quan tâm nhiều đến vẻ lớn lao hay sự khó khăn của các hành vi chúng ta làm, nhưng là tình yêu chúng ta có khi làm.

(4) Không có tình yêu, các hành vi, dù sáng chói nhất, cũng không đáng kể gì.

(5) Tin tưởng và chỉ tin tưởng mới dẫn chúng ta đến tình yêu.

(6) Không nên bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào mà không làm một hy sinh nhỏ, ở đây bằng gương mặt tươi cười, ở kia bằng một lời khả ái, luôn luôn làm việc đúng đắn dù nhỏ bé nhất và làm vì tình yêu.

(7) Đối với em, cầu nguyện là một sự trào dâng của con tim; cầu nguyện đơn giản là một cái nhìn hướng về trời, là một tiếng kêu nhận biết và yêu thương, ôm lấy cả thử thách lẫn niềm vui.

(8) Một lời nói hay một nụ cười thường cũng đủ để đưa sự sống tươi mát vào trong một tâm hồn thất vọng.

(9) Bây giờ em biết rằng bác ái chân thật hệ tại gánh lấy tất cả những khuyết điểm của người thân cận – không ngạc nhiên trước sự yếu đuối của họ, nhưng vui sướng về những nhân đức nhỏ nhất của họ.

(10) Con cầm lấy quyển Kinh Thánh. Thế là mọi sự dường như sáng ra với con; chỉ một chữ thôi cũng mở ra cho con những chân trời vô biên, sự hoàn thiện tỏ ra đơn giản với con.

(11) Điều duy nhất con thực sự ước muốn… là yêu cho đến chết vì yêu.

Câu nào đánh động bạn nhất?

Xin Thánh Têrêxa Hài Đồng Giê-su, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Yêu Người Như Chúa Yêu


 

KẺ BÉ NHỎ BẨY THẾ GIỚI –  Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời!”.

Archimède từng nói, “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng trái đất!”. Ông không bao giờ tìm được điểm tựa ấy; nhưng Têrêxa Hài Đồng Giêsu lại tìm thấy nó: cầu nguyện và yêu thương – một “đòn bẩy” đủ sức nâng cả thế giới đau khổ và tội lỗi.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến trẻ nhỏ. Và với Têrêxa, chính sự bé nhỏ mới là nơi Thiên Chúa đặt vào tay con người đòn bẩy lớn nhất – ‘kẻ bé nhỏ bẩy thế giới’.

Điểm độc đáo nơi Têrêxa không phải là làm những việc phi thường, nhưng là khám phá cách sống Tin Mừng ngay trong những việc nhỏ – la petite voie, “con đường thơ bé”. Trong một thế giới say mê những gì lớn lao, Têrêxa lại tin Thiên Chúa đặc biệt cúi xuống nơi những gì bé nhỏ, nghèo hèn và yếu đuối. Vì thế, “trẻ nhỏ” trong Tin Mừng không phải là sự non nớt, nhưng là thái độ tuyệt đối tín thác. Và đó là nghịch lý của Nước Trời: càng nhỏ bé, con người càng có chỗ cho quyền năng Thiên Chúa hoạt động. “Sự vĩ đại của Thiên Chúa xuất hiện nơi những ai biết dành chỗ cho Ngài!” – Hans Urs von Balthasar.

Vì thế, Têrêxa không xấu hổ vì yếu đuối hay bất toàn; trái lại, ví mình như cây cọ ba xu trong tay Thiên Chúa, một dụng cụ đơn sơ góp phần vào một kiệt tác. Và như trẻ con thường ngã mà không đau vì mình còn bé, Têrêxa hiểu rằng sự thánh thiện không khởi đi từ sức mạnh, nhưng từ một linh hồn đủ nhỏ để hoàn toàn nương tựa vào Chúa; vì có những ngày con người chỉ còn biết để Chúa nâng mình lên. Sự thánh thiện không phải là trèo lên đỉnh cao, mà là để Chúa cúi xuống nhấc bổng chúng ta lên! Đó là nghịch lý đẹp nhất của Tin Mừng.

Vậy mà bên dưới sự đơn sơ của Têrêxa lại là một linh hồn mang những khát vọng “ngông cuồng”. “Em muốn như các thánh, làm những chuyện ngông cuồng cho Chúa!”; “Cho con được tử đạo trong lòng hay nơi thân xác; tốt hơn, cả hai!”. Như một người tình say đắm, Têrêxa để tâm hồn mình bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của Đức Kitô đến mức “Khi tâm hồn bị cuốn hút bởi làn hương say đắm của Ngài, nó không chạy một mình; tất cả người nó yêu đều được cuốn theo!”. Và như thế, sự nhỏ bé nơi Têrêxa không thu mình, nhưng trở thành một ngọn lửa âm thầm lan xa khắp thế giới; để rồi, trước lúc nhắm mắt, Têrêxa hứa sẽ tiếp tục “mưa hoa hồng” xuống trần gian.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là “kẻ bé nhỏ” viên mãn đã “bẩy” thế giới. Ngài không cứu độ nhân loại bằng sức mạnh của đế quốc hay quyền lực áp đảo, nhưng bằng máng cỏ, thập giá và tấm bánh bẻ ra. Trong mắt thế gian, đó là thất bại; nhưng chính nơi sự tự hạ ấy, quyền năng Thiên Chúa đã nâng cả nhân loại lên. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là cố trở nên vĩ đại trước người đời, nhưng là dám sống hy sinh âm thầm với một tình yêu lớn. Linh hồn quá khổ sẽ không lọt qua được khe hẹp của Nước Trời! “Người bé nhỏ thu hút Đức Giêsu!” – Charles de Foucauld.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ nhỏ để Chúa làm những điều lớn; đủ yếu để biết con cần Chúa; và đủ yêu để âm thầm ‘bẩy’ thế giới bằng những việc rất nhỏ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

******

Lời Chúa Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Trinh Nữ, Tiến Sĩ Hội Thánh, 

01/10 -Thứ Năm Tuần XXVI Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/01.html

Nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 18, 1-5

1 Khi ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời ?” 2 Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông 3 và nói : “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

4 “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.


 

Mừng kính Thánh Giêronimô (Jerome) Linh mục Tiến sĩ, người Ý (340-420)- Cha Vương

Chúc bình an nhé! Hôm nay Ngày 30/09 Giáo Hội mừng kính Thánh Giêronimô (Jerome) Linh mục Tiến sĩ người Ý (340-420). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Đừng quên câu nguyện cho nhau và thể giới luôn được bình an nữa nhé

Cha Vương

Thứ 4: 30/09/2026.       (t6-22)

Thánh Giêronimô sinh quãng năm 340 tại Xơ-tri-đôn, Đan-ma-xi-a. Người đến Rô-ma học văn chương và đã lãnh bí tích Thánh Tẩy tại đó. Người sang Đông Phương và làm linh mục. Trở lại Rô-ma, người làm thư ký cho đức Giáo hoàng Đa-ma-xô. Thời gian này, người bắt đầu dịch Sách Thánh sang tiếng La-tinh và cổ võ nếp sống đan tu. Nhưng nhất là người đã sống ba mươi lăm năm cuối đời ở Bê-lem, gần cái hang nơi Đức Giê-su ra đời. Ở đây, người cầu nguyện hãm mình, chăm chỉ nghiên cứu, dịch và chú giải Kinh Thánh. Thánh Jerome qua đời tại Bethlehem ngày 30 tháng 9 năm 420. Xác thánh nhân được chôn cất kế bên hai người con thiêng liêng (Thánh Paola và Eustochium) dưới hầm mộ của thánh đường Giáng Sinh. Nhưng sau đó thánh tích của thánh Jerome được chuyển về La Mã. Thi hài của ngài hiện được chôn cất trong Ðền Ðức Bà Cả ở Rôma.

Đức Giáo Hoàng Boniface XIII đã tuyên xưng Thánh Jerome và Thánh Augustine là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 20 tháng 9 năm 1295

Thánh Giêrôme là một người thẳng tính, cương quyết. Ngài có nhân đức cũng như các tính xấu của một người ưa chỉ trích tất cả những vấn đề luân lý thường tình của con người. Như có người nhận xét, ngài là người không chấp nhận thái độ lưng chừng trong phẩm hạnh cũng như trong việc chống đối sự xấu xa. Ngài mau nóng, nhưng cũng mau hối hận, và rất nghiêm khắc với những khuyết điểm của chính mình. Người ta kể, khi nhìn thấy bức tranh vẽ Thánh Giêrôme đang cầm hòn đá đánh vào ngực, một giáo hoàng nói, “Ngài cầm hòn đá đó là phải, vì nếu không, Giáo Hội không bao giờ phong thánh cho ngài” (Ðời Sống Thánh Nhân của Butler)

Sau đây là những câu nói để đời của Thánh Nhân, bạn hãy bỏ ra mấy phút đọc và suy niệm coi thánh nhân đang muốn nhắn nhủ bạn điều gì để đến gần với Chúa hơn mỗi ngày qua việc đọc và suy niệm Lời Chúa.

(1) Tốt, tốt hơn, tốt nhất. Đừng bao giờ ngưng nghỉ cho tới khi cái tốt của bạn trở nên tốt hơn và cái tốt hơn trở nên tốt nhất. 

(2) Người phạm tội thì trong lòng không có Thiên Chúa, những việc họ yêu thích đều trở thành chúa của họ…. 

(3) Vừa khi bị nhục dục tấn công, chúng ta hãy than thở: “Lạy Chúa, xin cứu giúp con, xin đừng để con xúc phạm đến Chúa.” 

(4) Phần chúng ta là hiến dâng những gì chúng ta có thể, phần của Chúa là chu cấp những gì chúng ta không thể.

(5) Có bao nhiêu thương tích đau thương trên thân xác Chúa Giêsu, thì cũng có bấy nhiêu vết thương xé nát Trái Tim Mẹ. 

(6) Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô. (Thánh Giêronimô)

Câu nào đánh động bạn nhất. Đối với mình thì câu 1.

Thánh Giêronimô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

LẮNG NGHE LỜI CHÚA – HÀ THANH XUÂN

Mừng kính các vị tổng lãnh thiên thần—Mi-ca-en, Gáp-ri-en, và Ra-pha-en- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình một ngày bình an trong tay Thiên Chúa là tình yêu! Yêu là cho đi, là hy sinh… Chúc Bạn một ngày thật bận rộn với tình yêu, bận đến nỗi không có thời gian để giận dữ. Hãy cầu nguyện cho nhau và thê’ giới nhé.

Cha Vương

Thư 3: 29/09/2026 (t4-21)

Hôm nay ngày 29/9, Giáo Hội mừng kính các vị tổng lãnh thiên thần—Mi-ca-en, Gáp-ri-en, và Ra-pha-en, nhưng đồng thời cũng mừng tất cả các thiên sứ được nhắc tới từ sách Sáng thế cho tới sách Khải huyền. Các vị hiện diện cách vô hình để hướng dẫn dòng lịch sử cứu độ. Tuy các vị là những sứ giả của Chúa, nhưng chỉ có các thiên thần Mi-ca-en, Gáp-ri-en, và Ra-pha-en là có tên. Các vị có nhiệm vụ bộc lộ cho con người biết các kế hoạch của Chúa và mang tới lệnh Người truyền, nhưng trước hết các vị là cộng đoàn đông đảo những vị thờ lạy Thiên Chúa hằng sống. 

Có rất nhiều loại Thiên Thần khác nhau được đề cập đến trong Thánh Kinh theo từng cấp bậc, đó là: angels (Thiên Thần), archangels (các Tổng Lãnh Thiên Thần), cherubim (Tiểu Thiên Sứ), seraphim (Thiên Thần Tối Cao), thrones (các Thần Cung), choirs (các tập hợp Thiên Thần), dominions (các Quyền Chi Phối), principalities (các Chức Vương, Công Quốc), và powers (Các Quyền Bính).

THÁNH MI-CA-EN—danh từ Hebrew có nghĩa là “Ai bằng Thiên Chúa?” ám chỉ sự siêu việt của Thiên Chúa được nói đến trong sách Daniel (10, 13-21) thánh Mi-ca-en xuất hiện trong thị kiến của tiên tri Daniel như “hoàng tử vĩ đại” bảo vệ Israel chống lại quân thù và trong sách Khải Huyền của thánh Gioan (12-7) ngài dẫn đầu đạo binh Thiên Chúa chiến đấu với ma quỷ trong trận chiến vẻ vang sau cùng để bênh vực quyền tối cao của Thiên Chúa. Giáo Hội tôn kính người như Đấng Bảo Trợ và tin rằng Người vẫn dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên ngài tòa Chúa. Thánh Mi-ca-en là quan thầy của những người phải dùng đến lò nung như làm bánh. Thánh Mi-ca-en cũng là quan thầy đoàn lính dù. Nhiều thành phố mang tên Người. Thánh Mi-ca-en cũng được cầu khi giúp bệnh nhân sắp qua đời.

THÁNH GÁP-RI-EN—theo danh xưng Hebrew có nghĩa là “Uy lực của Thiên Chúa” cũng còn gọi là “Sứ Thần Truyền Tin”. Ngài luôn can thiệp vào những sứ mạng liên quan đến việc cứu rỗi loài người. Chính Ngài đã báo cho tiên tri Daniel (Dn 8, 16; 9, 21-27) thời đại xuất hiện của Đấng Cứu Thế với ông Zachariah.  Sự xuất hiện của Thánh Gáp-ri-en mà nhiều người biết đến là sứ giả được phái đến cùng trinh nữ Maria (Lc 1, 11-38; 8, 16-27; 9, 21-27) để loan báo ý định của Thiên Chúa, và cũng chính là người đã nhiều lần hiện ra với thánh Giuse. Năm 1951 Đức Giáo Hoàng Pius XII đặt Ngài làm quan thầy các chuyên viên truyền thông, truyền thanh và điện thoại.

THÁNH RA-PHA-EN—theo tiếng Hebrew có nghĩa là “Thiên Chúa chữa lành”. Chúng ta biết danh hiệu của vị Tổng Lãnh Thiên Thần này qua những trang sách Tobit thời Cựu Ước. Chính Ngài đã được Thiên Chúa sai đến giúp đỡ gia đình ông trong cơn hoạn nạn. Trong chuyện này ngài xuất hiện để dẫn dắt con ông Tobit là Tobia qua những cuộc mạo hiểm dị thường mà sau cùng dẫn đến một kết quả thật tốt đẹp: Tobia kết hôn với Sarah, ông Tobit được chữa khỏi mù mắt và tài sản của gia đình ông được hồi phục. Ngài cho hai cha con ông biết: “Ta là Ra-pha-en là một trong bảy khâm sai của Thiên Chúa, hằng ở bên cạnh Ngài trong huy hoàng của Ngài hiện diện”. Mục đích của câu chuyện này là để minh chứng sự Thiên Chúa quan phòng hằng hoạt động trong đời sống con người và hằng nghe lời cầu xin. Tổng lãnh Thiên Thần Raphael được cầu xin cho thể xác an khang và linh hồn khỏe mạnh. Ngài là quan thầy của người đi đường.

 (Tóm lược từ Nhóm Tinh Thần)

Lạy Chúa là Đấng thượng trí vô song, Chúa đã muốn cho thiên thần và người thế cộng tác vào chương trình cứu độ, xin cho các thiên thần đang phục vụ Chúa trên trời cũng luôn luôn phù hộ chúng con ở dưới đất. Chúng con cầu xin nhờ danh Chúa Ki-tô Chúa chúng con. Amen. (Lời nguyện đầu Lễ kính)

From: Do Dzung

*****

Bài Thánh Ca Hùng Tráng Tôn Vinh Thiên Chúa – Các Tổng Lãnh Thiên Thần 

 Mừng kính 2 thánh  Cót-ma và Ða-mi-a-nô ( 26/9)- Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay 26/9 Giáo hội mừng kính 2 thánh  Cót-ma và Ða-mi-a-nô, thế kỷ thứ 3. Các ngài được xem như là  bổn mạng bổn mạng các thầy thuốc và những y tá.

Thứ 7 cuối tuần rồi an bình! Thánh Anthony Mary Claret  nói: “Khi yêu mến và lần hạt Mân Côi, người ta sẽ thấy rằng Kinh Mân Côi làm cho họ trở nên tốt hơn.” Vậy trong tháng Mân Côi, mời Bạn đồng hành với Mẹ hãy hy sinh những đau đớn của mình cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thế giới luôn an bình nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 26/9/2026.     (t5-24)

Vào khoảng thế kỷ thứ III, tại miền Égée thuộc nước Ả Rập, có hai anh em sinh đôi tên là Cót-ma và Ða-mi-a-nô. Ngay quãng đầu đời, hai anh em đã gặp cảnh khó khăn, thử thách. Số là cha hai Ngài mất sớm, hai Ngài rơi vào cảnh mồ côi cha. Chúa vô cùng thương xót đã cho hai Ngài có bà mẹ đạo đức, thánh thiện, nhân ái. Hai Ngài đã được tình thương của mẹ ủ ấp, mẹ các Ngài đã giáo dục các Ngài theo đường hướng Giáo Hội và Chúa Kitô.  Hai Ngài đã được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản thật tốt, đã được trui luyện theo đường hướng Phúc Âm của Chúa. Ðược Chúa soi sáng, Thánh Thần tác động, hướng dẫn, hai Ngài lớn lên đã mau chóng đạt được bằng cấp y dược và trở thành những lương y lành nghề, đạo đức. Với y đức có được, với lòng đạo đức, tâm hồn hướng về Chúa, thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã hành nghề lương y mà không nhận một khoản tiền thù lao nào đối với bất cứ một ai. Chính vì thế, tiếng tăm đạo đức của hai Ngài vang dội khắp nơi.

   Giáo Hội của Chúa Kitô ít khi được an bình, con cái thế gian luôn tìm cách phá hại Hội Thánh của Chúa. Giáo Hội vào thời hai Ðấng lúc đó gặp cảnh cấm cách, bắt bớ của Hoàng đế Ðiôclêtianô và Maximianô, Cótma và Ðamianô bị bắt, bị dẫn giải tới quan Lydia. Thánh Cót-ma và Ðamianô không sợ sệt, không run sợ, không nhát đảm, các Ngài luôn tuyên xưng mình là Kitô hữu. Quan Lydia truyền đánh đòn hai Ngài một cách dã man, tàn ác, ra lệnh xích tay chân và quăng hai Ngài xuống biển. Chúa nhiệm mầu và quyền năng đã cứu hai Ngài khỏi chết. Tức giận vì phép lạ Chúa giải cứu hai Ngài khỏi chết, Lydia đã ra lệnh đốt một đống lửa cháy to và đẩy hai Ngài vào đống lửa đang cháy. Hai Ðấng vẫn ung dung, vừa đi vừa cầu nguyện giữa đống lửa đang bừng bừng cháy lớn. Phép lạ Chúa quả quá tỏ tường, nhiều người chứng kiến phép lạ lớn lao ấy đã được ơn quay trở lại.

   Như một con thú khát máu, Lydia đã ra lệnh khẩn cấp đem hai Ngài đi chém đầu. Hai thánh nhân trước khi để cho đao phủ chém đầu mình đã can đảm ngước mắt lên trời cầu xin Chúa thứ tha cho những kẻ làm hại các Ngài. 

Thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã được phúc tử vì đạo vào ngày 27/9/297. Chính đức tin sắt đá và lòng nhân từ của các Ngài đã giúp các Ngài được phúc lãnh nhận ơn chết vì đạo.

SỨ ÐIỆP: Hai anh em sinh đôi Cot-ma và Ða-mi-a-nô đã sống trung thành với giáo lý chân chính của chúa, của Giáo Hội. Các Ngài cảm nghiệm tình thương vô biên của Chúa. Tình thương đã tha thứ cho người trộm lành. Tình thương đã hoán cải con người Mađalêna và tình thương đã cải hóa ông Gia-kêu, người thu thuế. Ý thức sâu xa, con đường của Chúa đã đi, lời Chúa đã dậy, thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã nói lên cho nhân loại điều này: “Chỉ có tình thương tha thứ mới giải thoát được con người “.  Chúa đã yêu thương, tha thứ cho nhân loại tội lỗi, Chúa đã kê vai gánh tội cho nhân trần, tại sao nhân loại lại không thể cảm thông tha thứ cho nhau? Thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô đã nói lên chân lý này: “Thiên Chúa là tình yêu”. Con người nhận Chúa làm gia nghiệp phải sống tình yêu của Chúa. (Nguồn: Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

   Thánh Grégoire de Tours, thế kỷ VI, làm chứng lòng sùng kính hai vị tử đạo “chữa bệnh” này tại xứ Gaule: “Hai anh em y sĩ Cosma và Đamianô đã trở thành Kitô hữu; chỉ nhờ công phúc nhân đức và lời cầu nguyện của các ngài, nhiều bệnh tật đã được xua đuổi. Sau một số cực hình khác nhau, các ngài lại đoàn tụ với nhau trên trời và làm nhiều phép lạ. Nếu có một người bệnh đến mộ các ngài và tin tưởng cầu xin, người đó đã gặp thầy gặp thuốc. Người ta kể các ngài hiện đến với các bệnh nhân trong giấc mộng, cho họ toa thuốc, bệnh nhân cứ thế nghe theo và họ được chữa lành” (In. Glor.Mart 98).

   Lạy thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô xin chữa lành những bệnh tật mà chúng con đang có và xin cầu bầu cùng Chúa giúp chúng con biết yêu thương, tha thứ cho những người làm hại chúng con như hai thánh đã xin Chúa thứ tha cho những kẻ giết thân xác hai Ngài.

From: Do Dzung

*****

Tha Thứ Chữa Lành – Lm. Giuse Vũ Đức Hiệp

Mừng kính Thánh Piô 5 dấu (23/9)- Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay 23/09 Giáo Hội mừng kính Thánh Piô 5 dấu, linh mục dòng Phanxicô. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. Bài hôm nay hơi dài đó, cố gắng một tí nhé. Nhớ nhau trong cầu nguyện và cả thế giới được bình an  nhé

Cha Vương

Thứ 4: 23/09/2022.   (t6-22)

Người Italia (1887-1968) Cậu Phanxicô con ông bà Horace làm nghề nông nghèo khó, sinh tại Pietrelcina, tỉnh Benevento, miền nam nước Ý, ngày 25.05.1887. Ông bà có 8 con, chết 3 còn 5 (2 trai 3 gái). Vì không muốn Phanxicô vất vả nơi đồng áng, ông Horace đã sang New York, Hoa kỳ làm việc để kiếm tiền cho con đi học, đi tu. Ngày lễ Ba Vua năm 1903, Cậu vào Nhà Tập  Dòng Phanxicô nhánh Cappucins tại Morcone, nhận tên Dòng là Piô. Trong thời gian Tập, vì hãm mình quá, 3 tuần không ăn uống gì, nhà Dòng tưởng thầy sẽ chết, nên cho về nhà ba má bổ dưỡng, không bao lâu thầy phục sức.  Trở về nhà dòng học thần học, nhiều lần anh em gặp thầy Pio quì gối để học bài. Ngày 10.08.1910, (23 tuổi) thầy Piô được thụ phong linh mục trong nhà nguyện của nhà thờ chính tòa Benevento. Tháng 9 năm 1916, Cha Pio được thuyên chuyển về Tu Viện Ðức Mẹ Ban Ơn (Santa Maria delle grazie), ở San Giovanni Rotondo, trong giáo phận Foggia. 

Năm 31 tuổi (ngày 20.09.1918), sau khi Rước lễ, dấu thánh xuất hiện trên bàn tay của Cha. Cha đã chịu đau đớn mang 5 dấu thánh trong 50 năm. Sau khi cha tắt thở, các dấu thánh này biến mất, không để lại vết tích nào. Ngài qua đời năm 1968, được phong chân phước năm 1999 và hiển thánh năm 2002, lễ kính vào ngày 23/9, trùng vào ngày tạ thế. Ngày 23/5/1987, đức Gioan Phaolô II đã đến viếng thăm mộ của cha Piô, vị giải tội mà ngài đã từng gặp khi còn là một linh mục sinh viên ở Rôma 40 năm về trước. Đức Bênêđictô XVI là vị giáo hoàng thứ hai đến viếng thăm mồ của vị thánh linh mục hầu như suốt đời chỉ thi hành hai tác vụ là dâng Thánh lễ (đôi lúc kéo dài 3 giờ đồng hồ) và ban bí tích giải tội. (Nguồn:Vietcatholic).

   Cha Pio được mọi người biết đến qua hai việc: 

(1) Lòng tôn sùng Đức Mẹ triệt để. Ngài lần hạt suốt ngày. Có lần ngài nói với một người con thiêng liêng: “Luôn luôn nắm chặt lấy vũ khí của Đức Mẹ trong tay, nó sẽ giúp con chiến thắng kẻ thù”.

 (2) Giải tội cho người muôn phương—Ngài giải tội tùy theo tình trạng mỗi tâm hồn, chỉ cốt sao cho họ thành thực, được ơn tha thứ và cải thiện đời sống, nên nhiều khi ngài có những cư xử khác thường. Việc giải tội của ngài thường kéo dài 10 tiếng một ngày; người muốn xưng tội phải lấy số chờ đợi. Nhiều người nói rằng Cha Piô biết rõ các chi tiết cuộc đời của họ, mà chưa bao giờ họ tiết lộ.

   Sau đây là những lời nhắn nhủ của thánh Piô. Ước mong Bạn hãy dành thời gian để suy gẫm mà sống gần với Chúa hơn mỗi ngày nhé:

(1) CẦU NGUYỆN: “ Người ta tìm Chúa trong sách vở, nhưng gặp Chúa trong suy gẫm “Cầu nguyện là là chìa khóa để mở Trái Tim Chúa . “Hậu quả của cầu nguyện là bỏ cái “tôi”, sau đó Chúa sẽ nói chuyện với ta. “Chúa là tấm gương phản chiếu, ai biết suy gẫm, tâm trí hướng về Chúa, cũng sẽ nhận ra khuyết điểm của mình. “Trí óc không tập trung, thì lòng cũng không có tình mến Chúa “Tinh thần của Chúa là bình an, của quỉ là bực tức, nổi giận, lo lắng, nhưng ma quỉ như bị buộc giây, ta đứng xa thì không bao giờ bị cắn.

(2) KHIÊM TỐN: ” Biết mình không đáng, không tốt đẹp, có thể phạm nhiều tội ác… đó là ánh sáng Chúa chiếu vào linh hồn ta, cũng như vào linh hồn các thánh xưa để giúp tránh mọi tư tưởng kiêu ngạo, hư danh, và thêm lòng khiêm tốn”. “Biết làm cho linh hồn nên trống rỗng, Chúa sẽ làm cho nó nên giầu sang” “Người làm điều ác mà xấu hổ về việc đã làm, thì gần Chúa hơn là người tốt mà không dám làm việc lành”

(3) VANG PHỤC: “Không vâng phục thì không có nhân đức, không có nhân đức thì không có tốt lành, không có tốt lành thì không có yêu thương, không có yêu thương thì không có Thiên Chúa “

(4) THÁNH Ý CHÚA : “Mong được sống bình an đời đời  là điều chính đáng, thánh thiện, nhưng phải vâng theo ý Chúa . Vâng theo ý Chúa ở đời này còn quí hơn hưởng vinh phúc trên Thiên đàng. “Trong khi tùng phục, cảm thấy có phản loạn trong tâm hồn, thì đó là thử thách Chúa gửi đến, cần lý trí tùng phục, bản tính tự nhiên nổi dậy, mặc nó…

(5) BÁC ÁI: “Ai thương xót người nghèo là cho Thiên Chúa vay mượn.

“Chạm đến đức ái thì cũng như đâm vào con ngươi trong mắt Chúa “.

Yêu thương: ” Chúa không thể từ chối ban ơn, khi ta thật lòng muốn yêu mến Chúa “. “Chỉ có một hành động yêu thương của con người, chỉ có một hành động đức ái lớn lao trước mặt Thiên Chúa, đến nỗi cả thế giới này không đủ để thưởng công”.

(6) QUỶ CÁM DỖ VÀ Ý MUỐN: “Nhớ rằng quỉ chỉ có một cửa để vào linh hồn con, đó là ý muốn, không còn cửa nào khác. Không phải là tội, nếu không cố ý muốn phạm.

(7) ĐAU KHỔ: “Nhiều người xin tôi lấy đi thập giá của họ, nhưng rất ít người xin tôi cầu nguyện cho họ có sức mạnh để vác thập giá ấy. “Trần gian này là bể khổ, ta phải vác thánh giá. Không có hạnh phúc ở trần gian này. Học thức mà không nhắm vào Thiên Chúa Tự hữu thì có ích gì? Hãy gạt đi mọi hầm hố trần gian, hãy khiêm tốn, cầu nguyện, sẽ được bình an dưới đất và hạnh phúc trên trời. “Xác ta như con lừa, chúng cần roi vọt, nhưng không được quá tay, nếu nó ngã quị thì ai chở ta?

(8) SỐNG ĐẠO: “Hãy trở nên người công giáo tốt lành, nếu không, cuộc đời ta sẽ không có mục đích.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Câu thứ 6 đánh động mình nhất.

Thánh Pio, cầu cho chúng con!

From: Do Dzung

*****

Chúa Đau Cùng Con – Sáng tác: Sr. Quỳnh Thoại

Mừng kính Thánh Mát-thêu ( 21/09) – Cha Vương

Hôm nay 21/09, Giáo hội mừng kính Thánh Mát-thêu. Mừng bổn mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy nhé. Hãy thêm lời cầu nguyện cho những ai đang bị ảnh hưởng bởi tai ương, chiến tranh, bệnh tật khắp nơi. Cậ`u nguyện cho nhau nửa nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 21/09/2022.   (t4-22)

“Bỏ nơi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: “Anh hãy theo thôi! Ông đứng dậy đi theo Người.”

       Câu văn ngắn ngủi trên cho chúng ta biết về người môn đệ tên là Mát-thêu Thánh sử. Có phải thật Mát-thêu là người thu thuế như Thánh Marcô và Luca đã viết trong Tin Mừng không? Nếu đúng như vậy thì Mát-thêu chắc chắn bị những người Do thái khinh bỉ và ghét bỏ vì là người cộng tác với quân La Mã. Những người thu thuế là kẻ thù của nhân dân và là người tội lỗi mà họ oán trách Chúa Giêsu đã đi lại và dùng bữa với họ.

       Dù sao đi nữa thì Mát-thêu đã bỏ dĩ vãng lại trong quá khứ mà đi theo Chúa Giêsu. Nhiều học giả nghi ngờ là sách Tin Mừng Mát-thêu có thể là do một trong những môn đồ của Chúa Giêsu vào cuối thế kỷ đầu tiên vì dường như là sách Tin Mừng Mát-thêu được viết bởi một Kitô hữu Do thái thông thạo tiếng Hy lạp và quả quyết Chúa Giêsu là Đấng Messiah, Đấng đã hoàn tất những tiên báo trong Cựu Ước mang đến một luật lệ và một kỷ nguyên mới.

       Dường như thánh Mát-thêu viết sách Tin Mừng dành nhiều cho người Do Thái và người giàu có. Phúc  âm thánh Mát-thêu ca ngợi sự nghèo khó và thuyết phục người đọc là ơn cứu dộ tùy thuộc nhiều vào lòng thương xót những kẻ nghèo khó. Điều này nói lên lòng ăn năn hối cải của người thu thuế. Mát-thêu kể lại những lời giảng dạy của Chúa Kitô và tóm tắt điều căn bản trong Bài giảng trên Núi về các Mối Phúc Thật.

       Mát-thêu ghi lại dụ nguôn về cuộc Phán Xét Cuối Cùng khi “Đức Chúa Con trở lại trong vinh quang” để tách ra “chiên và dê”. Chúa phán với những người được Chúa ân thưởng: “Vì khi Ta đói các người đã cho ăn, Ta Khát các ngươi đã cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc, Ta đau ốm các ngươi đã thăm viếng, Ta ngồi tù các ngươi đã hỏi han.” 

Họ bèn hỏi: “Chúng tôi đã làm những việc ấy lúc nào? Chúa bèn phán: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

       Thánh Mát-thêu là đấng phù trợ các sứ vụ của Giáo Hội. Được ơn gọi đi theo Chúa Giêsu, thánh Mát-thêu kết thúc Tin Mừng lời thúc dục người theo Chúa như sau: “Vậy anh em hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, “và lời cuối cùng cho chúng ta và cho mọi thời đại: “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Nguồn: ViệtCatholic) 

   Xin bạn hãy tự trả lời những câu hỏi gợi ý suy niệm hôm nay, nếu được thì hãy chia sẻ với một người nào đó:

❦  Hôm nay, Thiên Chúa sai tôi đến với ai?

❦  Tôi đã và đang làm gì để mang Tin Mừng vào trong môi trường sống của tôi?

❦  Đâu là những lĩnh vực trong đời sống mà tôi có thể tận hiến cho Thiên Chúa? 

From: Do Dzung

*****

Tình Ngài Gọi Con Vol.6 – TÂM SỰ NGƯỜI THU THUẾ – Lm. Xuân Đường

Thánh Peter Claver, Linh Mục dòng Tên (1580-1654)-Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho những giọt mưa ở Houston. Chúc bạn và gia đình một cuối tuần an lành trong Tình Yêu của Thiên Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau  và thế giới sống trong tình yêu thương nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 09/09/2026.    (t7-23)

Hôm nay 09/09, Giáo hội mừng lễ nhớ Thánh Peter Claver, Linh Mục dòng Tên, truyền giáo tại nước Colombia, Nam Mỹ Tâybanha-Columbia (1580-1654). Sau khi  tốt nghiệp  tại đại học Barcelona nước Tâybanha, cậu quyết định theo ơn gọi Dòng Chúa Giêsu. Dưới sự giám hộ của thánh Alphonsô Rodriguez  cậu được huấn luyện làm chiến sĩ truyền giáo cho Nam Mỹ.

    Người Tâybanha truyền giáo tại Colombia: Khấn dòng rồi, thầy được gửi đi Cartagena nước Colombia năm 1610, được chịu chức linh mục năm 1615.   Làm việc truyền giáo tại một trung tâm mua bán người nô lệ da đen. Mỗi tháng có tới hàng ngàn nô lệ được đổi chác.

    Tự nhận mình là “nô lệ của những người nô lệ”, cha đã dành hầu cả cuộc đời mình (40 năm) để phục vụ người nô lệ.  Mỗi khi nghe có tàu  Au châu cập bến, cha đem quần áo,  thực phẩm, thuốc và nước uống cho họ,  vì thế mà cha chinh phục được nhiều người trở lại với Chúa.  Ngài đã rửa tội được 300,000 người nô lệ tại Cartagena.

    Cha Peter khi cầu nguyện, thường mở cuốn sách “Đời sống Chúa Giêsu “, nhìn vào hình ảnh Chúa trong đó mà cầu nguyện theo lối thánh Ignatio chỉ dạy.  Ngài mở nhiều đến nỗi sách rách và cũ mèn. Hình coi cũ nhất là hình Chúa Giêsu đau khổ cầu nguyện trong vườn Giêtsimani, Chúa bị đánh đòn, đội mũ gai, và chết trên thánh giá. Nhớ tới Chúa Giêsu tử nạn làm tăng sức cho cha Peter thương những người da đen cùng khổ.

    Nguyên tắc nên thánh: Cha Peter viết trong tập sổ tay 4 nguyên tắc hướng dẫn đời ngài, những nguyên tắc giúp ngài nên thánh: 

(1)Tìm Chúa trong mọi sự,

 (2) vâng lời các bề trên như vâng lời Chúa, 

(3) làm mọi sự cho vinh danh Chúa hơn, 

(4) vui lòng đón nhận bất cứ đau khổ nào, hoặc việc làm nào có thể cứu các linh hồn.

    Năm 1650, cha Peter bị bệnh dịch, mệt mỏi vì công việc, ngài nằm liệt giường 4 năm. Ngài chết tại Cartagena ngày lễ Sinh nhật Đức Mẹ  8 tháng 9 năm 1654.  Ngài được phong thánh năm 1888.  Năm 1896,  Đức Giáo Hoàng Lêô 13 đã tôn ngài làm quan thầy các xứ truyền giáo da đen.

 (Nguồn: Dân Chúa, Hạnh các thánh)

Sau đây là những câu nói của thánh nhân:

❦  Chúng ta phải nói với họ bằng đôi tay rộng lượng trước khi nói với họ bằng miệng lưỡi của chúng ta.

❦ Tìm kiếm Chúa trong mọi sự và bạn sẽ tìm thấy Chúa ở bên cạnh bạn. 

❦ Để làm theo ý muốn của Thiên Chúa, chúng ta phải từ bỏ chính mình: càng chết cho chính mình, thì càng sống cho Thiên Chúa. (Thánh Peter Claver)

Hôm nay mời Bạn hãy nói gương thánh nhân để nên thánh trong mọi hoàn cảnh của mình nhé. 

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=YjsmFxwgJwI

Sống cho tình yêu -tinmung.net