Reuters: ‘Việt Nam nằm trong số các chế độ kiểm soát chặt chẽ truyền thông xã hội nhất thế giới’
30/12/2022
Việt Nam gần đây thắt chặt các quy định xử lý nội dung mà chính quyền nói là “sai sự thật” trên các nền tảng truyền thông xã hội, bắt giữ và phạt tù nhiều nhà báo, blogger và những người chia sẻ thông tin đi ngược với ý muốn của chính quyền.
Tình trạng siết chặt kiểm soát internet, cùng với việc nhà chức trách bắt giữ hàng chục nhà báo và blogger, thậm chí cả một người bán phở có tiếng, với tội danh “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN” đang biến Việt Nam trở thành một trong những chế độ kiểm soát chặt chẽ nhất thế giới về truyền thông, ngôn luận và đối với các công ty truyền thông xã hội.
Dẫn câu chuyện của blogger Bùi Văn Thuận, người đã lên tiếng chỉ trích nhà nước Việt Nam về mô hình “bộ đội đi chợ” khi chính quyền giao cho quân đội đảm nhận việc cung ứng thực phẩm cho người dân trong thời gian bị phong toả vì đại dịch, và ông Thuận mới đây bị bị kết án 8 năm tù và 5 năm quản chế vì tội tuyên truyền, hãng tin Reuters trích lời các nhóm nhân quyền nói đây là một cáo buộc được Việt Nam ngày càng gia tăng áp dụng cho nội dung trực tuyến trong lúc nhà nước kiểm soát internet nhiều hơn.
“Chính phủ Việt Nam từ lâu đã kiểm soát các phương tiện truyền thông truyền thống trong nước. Giờ đây họ đang cố gắng kiểm soát không gian trực tuyến”, ông Phil Robertson, Phó giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) nói với Reuters.
Ông Robertson cho rằng Việt Nam đã thông qua một loạt luật để đạt được mục đích đó và đang triển khai bộ máy nhà nước để theo dõi mọi người trên mạng, ép buộc các nền tảng trực tuyến phải kiểm duyệt và xóa nhiều nội dung, kiểm soát truy cập internet…
Trong vài năm gần đây, bằng cáo buộc tội danh “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền”, nhà chức trách Việt Nam đã bắt giữ hàng chục nhà báo và blogger, những người chia sẻ thông tin đi ngược với ý muốn của chính quyền.
Theo Reuteurs, với việc thắt chặt các quy định xử lý nội dung mà chính quyền nói là “sai sự thật” trên các nền tảng truyền thông xã hội, trong đó có quy định buộc phải gỡ xuống trong vòng 24 giờ, đã khiến quốc gia Đông Nam Á trở thành một trong những chế độ kiểm soát chặt chẽ nhất thế giới đối với các công ty truyền thông xã hội.
Cách nhận biết Chúa – Ways to know God
Cách nhận biết Chúa – Ways to know God
Kính hai thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (329-379).
Chúc Bạn và gia đình một ngày thật an lành trong Chúa và Mẹ. Sau những ngày ăn uống linh đình, đừng quên vận động tay chân để đốt calories nhé! 🙂 Hôm nay Giáo Hội mừng kính hai thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (329-379). Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.
Cha Vương
Thứ 2: 02/01/2023
Ngay trong ca nhập lễ các thánh Giám mục đã có viết: “Ta sẽ kiểm điểm đoàn chiên của Ta và đặt một mục tử chăn dắt chúng. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng” (lời Chúa phán). Thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian là các vị mục tử tốt lành Chúa đã đặt lên để chăn dắt đoàn chiên của Ngài.
(1) TÌNH NGHĨA SÁNG NGỜI
Hai thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian đều được sinh ra tại Cappadoce (một khu vực lịch sử ở Trung Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ), thuộc hai gia đình quí phái, danh tiếng, có địa vị vững chắc trong xã hội lúc đó. Hai vị thánh đều học cùng trường tại Athènes Hy Lạp, thành đạt trong việc học, hai Ngài đều cùng về quê hương và sống với nhau trong một mái nhà tu viện. Dù rằng tính khí mỗi người khác nhau, nhưng hai vị thánh đã sống nghĩa thiết chan hòa, sống theo gương mục tử nhân hậu hiền lành noi theo Chúa Giêsu. Thánh Basiliô có tài lãnh đạo, có óc tổ chức, chỉ huy, điều khiển. Thánh Grêgôriô Nazian lại thích chiêm niêm, sống âm thầm và là một tu sĩ sáng ngời các nhân đức. Cả hai vị thánh đều được chọn làm Giám mục của hai Giáo phận. Thánh Basiliô được đặt làm Giám mục năm 370 tại Césarée de Cappadoce. Thánh Giám mục Basiliô là một mục tử can trường, đầy dũng khí, hiên ngang. Nhờ lòng dũng cảm: lời giảng dậy, chữ viết và nhờ tài khéo léo, can thiệp trực tiếp của Ngài với Chính quyền, Ngài đã đem lại cho Hội Thánh một chỗ đứng vững chắc, tách quyền Giáo Hội ra khỏi thế quyền. Ngài giúp cho những người nghèo lấy lại phẩm giá của mình và bảo vệ đức tin của đoàn chiên cách sâu xa, vững chắc. Thánh Grêgôriô Nazian được tấn phong Giám mục Sasime năm 371, và vào năm 380, thánh nhân được cử làm Giám mục Constantinople giữa sóng gió do bè rối Ariô gây nên. Ngài có tài hùng biện, mọi người đều theo Ngài. Thánh nhân được đặt cho một cái tên hết sức thân thương:” Cha của những kẻ khốn cùng”.
Thánh Basiliô qua đời ngày 01/1/379 và thánh Grêgôriô Nazian tạ thế ngày 25/1/390.
(2) GIÁO HỘI TUNG HÔ CÁC NGÀI
Cả hai vị thánh đã sống hiền lành, khiêm nhượng theo gương Chúa Giêsu Cứu Thế. Cuộc sống của các Ngài đã họa lại bộ mặt đầy yêu thương của Chúa. Thánh Grêgôriô đã để lại câu nói bất hủ:” Nếu vì tôi mà bão táp này( bè rối Ariô) nổi dậy, hãy ném tôi xuống biển, để anh em khỏi bị khổ sở “.
Giáo Hội Chính Thống đã đặt ba vị thánh Basiliô cả, Grêgôriô Nazian và Gioan Kim Khẩu lên hàng đầu giữa các bậc tiến sĩ trong Giáo Hội Chúa Kitô. Vì những công nghiệp, tài đức và nhân đức của các Ngài, Hội Thánh còn gọi các Ngài bằng tên rất đẹp, ấn tượng và thân thương:” đuốc thiêng của Hội Thánh “.
[Thánh Basiliô nói: “Thực phẩm mà bạn không dùng là thực phẩm của người đói; quần áo bạn treo trong tủ là quần áo của người trần truồng; giầy dép bạn không dùng là giầy dép của người chân không; tiền bạc bạn cất giữ là tiền bạc của người nghèo; hành động bác ái mà bạn không thi hành là những bất công mà bạn đã phạm.” Thánh Basiliô ơi, câu nói của ngài làm con hổ thẹn với lương tâm quá đi thôi…]
(3) LỜI NGUYỆN
” Lạy Chúa, Chúa đã làm cho Giáo Hội nên rạng rỡ nhờ gương sáng và lời giảng dậy của hai thánh Basiliô cả và Grêgôriô Nazian. Xin cho chúng con biết khiêm nhường tìm hiểu chân lý của Chúa và hết lòng yêu mến đem ra thực hành” (Lời nguyện ca nhập lễ, lễ thánh Basiliô cả và Grêgoriô Nazian).
(Nguồn: Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT, simonhoadalat)
From: Đỗ Dzũng
Tôn giáo của người đoạt giải Nobel giữa năm 1901 và 2000
Mời các bạn xem tỷ lệ những người đạt giải Nobel so với tôn giáo của họ từ năm 1901-2000 trong cuốn sách 100 năm Giải Nobel (100 years of Nobel Prizes) của tác giả Baruch A. Shalev.
Mặc dù luôn có những giai đoạn va/hoặc cá nhân đầy bảo thủ nhưng tự do & khai phóng là điều tôi cảm nhận rõ từ niềm tin Kito giáo của mình. Đó có thể là nền tảng cho những sáng tạo nhằm phục vụ con người và vinh danh Thiên Chúa
Tổng hợp truyền thông các nước về dịch COVID ở Trung Hoa hiện nay (Bài 5)
Tiếp theo Bài 1, Bài 2, Bài 3, Bài 4
Cơ quan chuyên nghiệp Airfinity– Anh Quốc tiếp tục dự báo tăng số tử vong vì COVID ở Trung Quốc
Dữ liệu được cập nhật lần cuối vào ngày 30 tháng 12 năm 2022
Airfinity dự báo số ca nhiễm COVID-19 sẽ đạt đỉnh đầu tiên ở Trung Quốc vào ngày 13 tháng 1 với 3,7 triệu ca mỗi ngày.
Số ca tử vong được ước tính sẽ đạt đỉnh vào 10 ngày sau đó với khoảng 25.000 ca mỗi ngày, vào giai đoạn đó tổng số ca tử vong là 584.000 ca kể từ khi vi-rút bắt đầu bùng phát trên toàn quốc vào tháng 12. Chúng tôi dự đoán 1,7 triệu người chết trên khắp Trung Quốc vào cuối tháng 4 năm 2023.
Mô hình của Airfinity dựa trên dữ liệu từ các tỉnh trong khu vực của Trung Quốc kết hợp với tốc độ tăng trường hợp từ các quốc gia trước đây là 0 ca nhiễm COVID khi họ dỡ bỏ các hạn chế như Hồng Kông và Nhật Bản.
Airfinity dự đoán các ca bệnh ở Bắc Kinh có thể đã đạt đến đỉnh điểm vào thời điểm hiện tại, với số ca nhập viện và tử vong có thể lên đến đỉnh điểm trong 1-2 tuần tới.
Mô hình của chúng tôi ước tính đỉnh thứ hai sẽ xảy ra vào ngày 3 tháng 3 năm 2023 (ở các tỉnh khác), nơi số ca mắc hàng ngày có khả năng đạt 4,2 triệu ca mỗi ngày. Dự kiến, các khu vực nông thôn sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn trong làn sóng thứ hai này.
Phan Sinh Trần
Di hài của Đức Biển Đức XVI đã được đặt trong đền thờ thánh Phêrô
Đức Biển Đức XVI | Ngày 2/1 – Di hài của Đức Biển Đức XVI đã được đặt trong đền thờ thánh Phêrô
Người sống lâu bị nhục nhiều – Hoàng Hải Thủy
Hoàng Hải Thủy
Người sống lâu bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục.”
***
Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.
Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ. Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.” Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm.” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.
Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này.
***
Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:
“Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”
Ông cầm tay tôi:
“Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”
Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.
Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao. Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.
Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.
***
Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.
Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.
Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào. Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.
Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.
Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội.
Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:
“Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa.”
Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến bồi thẩm đoàn, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.
Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng. Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.
Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời.
Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:
“Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.”
Ông nói: – “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.”
Vợ tôi nói: “Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”
Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được.
Ông kể: – “Vợ tôi nói: “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.”
Tôi nói lời cuối với vợ tôi:
“Em sẽ không cảm thấy đau.”
Và:
“Anh yêu em. Vĩnh biệt em”
Tôi nổ súng.”
Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói: – “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.”
Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể: – “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy… Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi, bố tôi là người tôi cảm phục nhất.”
Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:
“Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”
Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo.
Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói: – “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”
Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. Tù treo không bị cảnh sát kiểm soát.
***
Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi. Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.
Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói: – “Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”
Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.
Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ, Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.
Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gặp Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết: – “Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lúc phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.”
Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.
Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói: – “Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.
Bát đại khổ não ghi “8 Nỗi Khổ Lớn” của con người:
Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Ðó là những người không yêu ai cả.
Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ; đó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.
***
Mùa thu mây trắng xây thành.
Tình Em mây ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?
Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng, trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.
Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:
Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây.
Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”
Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:
“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”
***
12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạ Virginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.
Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói: – “Xin Thiên Chúa tha tội cho em.”
Tôi nói: – “Em có tội gì. Mà Em có tội gì, thì Thiên Chúa cũng tha cho Em rồi.”
Nàng chỉ bị dập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.
Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.
Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Ðức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Ðức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.
Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.
Một tháng sau nàng đi được.
***
Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Ðêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ: – “Tiếng thở này tắt là…”
Tôi cầu xin: – “Xin Đức Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”
Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.
Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.
Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói: – “Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên: “Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói: – “Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”
Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi: – “Ðau lắm không?”
Ðau thì tôi biết bạn tôi đau, nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào. Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói: – “Ðứt ruột, nát gan.”
Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi: – “Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”
Năm sau ông đi trước bà. Ðứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.
Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Ðể bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mắt ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.
***
Người đời chỉ nói “Good bye.”
“See You next week, next time” là cùng.
Ðôi ta ngọc nữ, tiên đồng,
Ðôi ta Từ Thức vợ chồng Giáng Hương.
Ngàn đời vẫn nhớ, còn thương:
Em yêu, đã đến cuối đường: “Good bye.
See You next Life./.
Hoàng Hải Thủy
From: Dương Phong
10 Lời hay ý đẹp của ĐTC Benedicto 16
- Rất nhanh thôi, tôi sẽ thấy mình đứng trước vị thẩm phán cuối cùng của cuộc đời mình. Mặc dù, khi nhìn lại cuộc đời dài của mình, tôi có thể có lý do rất lớn để sợ hãi và run rẩy, nhưng tôi vẫn vui mừng, vì tôi tin chắc rằng Chúa không chỉ là vị quan tòa công minh, mà còn là người bạn và người anh. Chính Ngài đã chịu khổ nạn vì những thiếu sót của tôi, và do đó cũng là người biện hộ cho tôi, ‘Đấng Bảo Trợ’ của tôi.
- Một Kitô hữu biết khi nào thì nói về Thiên Chúa và khi nào tốt hơn là không nói gì và để tình yêu nói một mình.
- Các bạn trẻ thân mến của tôi, tôi muốn mời các bạn hãy ‘dám yêu’. Đừng mong muốn điều gì kém hơn cho cuộc sống của bạn ngoài một tình yêu mạnh mẽ và đẹp đẽ và có khả năng biến toàn bộ cuộc sống của bạn thành một cam kết vui vẻ hiến thân. như một quà tặng cho Thiên Chúa và cho anh chị em của anh chị em, noi gương Đấng đã chiến thắng hận thù và sự chết mãi mãi nhờ tình yêu (x. Kh 5:13).
- khi nhìn bằng con mắt của Chúa Kitô, tôi có thể cho người khác nhiều hơn những nhu cầu bên ngoài của họ; Tôi có thể trao cho họ cái nhìn yêu thương mà họ khao khát.
- “Ý thức rằng, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã hiến mình cho chúng ta, thậm chí cho đến chết, phải thôi thúc chúng ta sống không còn cho mình nữa mà sống cho Người, và cùng với Người, sống cho người khác.
- Nếu bạn tuân theo ý muốn của Chúa, bạn biết rằng bất chấp tất cả những điều khủng khiếp xảy đến với bạn, bạn sẽ không bao giờ mất đi nơi nương tựa cuối cùng.
- Mẹ Maria là người phụ nữ của niềm hy vọng… Mẹ Maria là người phụ nữ của đức tin… Mẹ Maria là người phụ nữ yêu thương… Mẹ Maria đã thực sự trở thành Mẹ của mọi tín hữu. Những người nam nữ ở mọi lúc và mọi nơi đều trông cậy vào lòng nhân từ mẫu tử, sự trong trắng và ân sủng trinh nguyên của Mẹ, trong mọi nhu cầu và nguyện vọng, niềm vui và nỗi buồn, những lúc cô đơn và những nỗ lực chung của họ. Họ không ngừng cảm nghiệm món quà là sự tốt lành của Mẹ và tình yêu không bao giờ cạn mà Mẹ tuôn đổ từ sâu thẳm trái tim Mẹ.
- Hôn nhân, như một sự kết hợp của tình yêu trung thành và bất khả phân ly, dựa trên ân sủng đến từ Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng đã yêu chúng ta trong Chúa Kitô bằng một tình yêu chung thủy, thậm chí ngay cả trên Thập giá.
- Là Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn đạo đức hay một ý tưởng cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, mang đến cho cuộc đời một chân trời mới và một hướng đi dứt khoát.
- Sự thánh thiện không hệ tại ở việc không bao giờ sai lầm hay phạm tội. Sự thánh thiện gia tăng khả năng hoán cải, ăn năn, sẵn sàng bắt đầu lại và nhất là khả năng hòa giải và tha thứ.
Nếu Chúa Là – Mai Thiên Vân – Marian Days 2013
Nếu Chúa Là – Mai Thiên Vân – Marian Days 2013
Chúc thư tinh thần của Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI
Tôi cảm ơn cha mẹ, những người đã cho tôi sự sống trong một thời điểm khó khăn và bằng tình yêu thương, với sự hy sinh lớn lao, đã chuẩn bị cho tôi một ngôi nhà tuyệt vời, như luồng ánh sáng rực rỡ, đã tỏa sáng suốt những ngày đời tôi cho đến ngày hôm nay. Đức tin mạnh mẽ của cha tôi đã dạy anh chị em chúng tôi tin tưởng và đã đứng vững như kim chỉ nam giữa bao tri thức khoa học của tôi; lòng mộ đạo chân thành và lòng tốt bao la của mẹ tôi vẫn là một di sản mà tôi không thể cảm ơn bà cho đủ.
Phỏng vấn Lm. Giuse Cao Gia An, SJ – Tân Tiến sĩ chú giải Thánh Kinh từ viện Biblicum
Chuyên gia chú giải Kinh Thánh đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp từ viện Kinh Thánh của Tòa Thánh, viện Biblicum.
Biblicum, học viện Giáo hoàng là một cơ sở nghiên cứu và giảng dạy sau đại học chuyên về nghiên cứu Kinh thánh và Cận Đông cổ đại. Viện Biblicum trực thuộc Tòa Thánh và được ủy thác cho Dòng Tên điều hành.
Cha Giuse Cao Gia An, còn rất trẻ, và khiêm tốn. Cha thông thạo tiếng Ý, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Do Thái, Aram, Hy Lạp, cổ ngữ Hy Lạp, cổ ngữ La Tinh, các cổ ngữ khác … Cha đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ bằng 2 thứ tiếng Anh và Ý vì các giáo sư trong hội đồng khảo thí là người Canada, Ý, Tây Ban Nha, …
Cha đã học 9 năm tại viện Biblicum, 4 năm ở đại học Giáo Hoàng Gregrorian.
Ngợi khen lòng thương xót của Chúa cho dân tộc Việt Nam.
Hy vọng các linh mục trẻ và thánh thiện đang gia tăng số lượng, chất lượng xuất xứ từ Việt Nam không những là làn gió mới cho Giáo Hội Việt Nam mà cho cả Hội Thánh toàn cầu.
Nội dung phỏng vấn Cha Cao Gia An do đài Vatican News thực hiện.
0:00 Giới thiệu
0:48 Chú giải Kinh Thánh là gì?
3:37 Người Việt Nam đầu tiên có văn bằng Tiến sĩ chú giải Kinh Thánh tại Biblicum
6:07 Các ngôn ngữ cần học
10:48 Đề tài luận án tiến sĩ
16:47 Tính ứng dụng của luận án
21:26 Xuất bản luận án
23:56 Đóng góp cho Giáo hội Việt Nam
28:54 Nhắn gởi đến thế hệ trẻ
33:25 Các tác phẩm văn thơ và nghệ thuật khác
Không những giỏi về nghiên cứu, cha còn giảng tĩnh tâm cách thuyết phục, làm thơ hay được phổ thành nhạc và thổi sáo trúc khá thu hút.

















