NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THẬT SỰ YÊU NƯỚC – (Nguyễn Gia Kiểng)

Xuyên Sơn

NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THẬT SỰ YÊU NƯỚC

  BÀI 2: [YÊU NƯỚC]:

  Ta không có tự hào dân tộc, mà đã không có tự hào dân tộc thì không thể yêu nước.

Làm sao có thể yêu một cái gì mà ta coi thường? Cho nên lòng yêu nước của người Việt, mà mọi người quả quyết là mạnh, có thể chỉ là một sự hiểu lầm.

  • Người cộng sản có yêu nước không?

  Có một lập luận mà cả hai phe cộng sản và quốc gia đều đồng ý nhưng rất sai, là những người cộng sản đã chiến đấu dũng cảm vì lòng yêu nước chứ không phải vì chủ nghĩa cộng sản.

Lập luận này tiện cho cả đôi bên.

  Đảng cộng sản dĩ nhiên phải nói rằng họ tranh đấu vì lòng yêu nước, có như thế họ mới tranh thủ được sự hưởng ứng của những người chưa vào đảng cộng sản, mới có thể kết tội những đối thủ của họ là phản quốc, là bán nước, mới tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận các nước không cộng sản.

  Còn bên chống cộng dĩ nhiên cũng phải nói rằng đa số những người theo phe cộng sản đã chỉ theo vì lòng yêu nước mà thôi. Có như thế họ mới có thể buộc tội đảng cộng sản là đã lừa bịp những người yêu nước nhẹ dạ,

là tiếm đoạt hy sinh xương máu của nhân dân vì độc lập dân tộc; có như thế họ mới nói được chủ nghĩa cộng sản phi nhân bất nghĩa, chẳng ai theo nếu biết thực chất.

  Gần đây những người cộng sản ly khai cũng lại sử dụng lập luận này vì nó cũng tiện cho họ.

Họ đã đoạn tuyệt với đảng cộng sản, đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản rồi thì tự nhiên họ phải biện minh cho hoạt động trong quá khứ của mình bằng điều mà họ nghĩ mọi người chấp nhận, nghĩa là lòng yêu nước.

  Kết quả là một sự dối trá khổng lồ từ cả mọi phía.

Và cứ thế cuộc tranh cãi thiếu lương thiện này tiếp tục gây ngộ nhận trong đầu óc mọi người.

  Tôi đã nghiên cứu, quan sát, và tâm tình với rất nhiều người cộng sản ở mọi trình độ và đi tới kết luận quả quyết rằng đại đa số những đảng viên cộng sản đã theo đảng vì chủ nghĩa chứ không phải vì lòng yêu nước. Người cộng sản cũng yêu nước như mọi người Việt Nam khác, không kém nhưng cũng không hơn.

  Lòng yêu nước có thực nhưng chỉ đóng một vai trò rất thứ yếu trong chọn lựa của họ.

Nó đã chỉ được dùng làm một chiêu bài, nó không phải là động cơ.

  Vả lại lòng yêu nước làm sao có thể là động cơ được , nếu nó không mạnh?

Độc giả sẽ tự nhận ra nhưng tôi cần cảnh giác trước hết rằng tôi hoàn toàn không có ý định làm một cáo trạng đối với người cộng sản và đảng cộng sản.

Ở đây tôi chỉ muốn nhận diện đất nước, điều tôi muốn làm sáng tỏ là lòng yêu nước rất mờ nhạt trong lòng người Việt Nam, dù là cộng sản hay không cộng sản.

Đã đến lúc chấm dứt sự ngộ nhận này để đem lại cho cuộc thảo luận về đất nước sự nghiêm túc phải có.

  Chúng ta cần thắng một đặc tính rất kỳ lạ của người Việt là thường đặt nền tảng quan hệ và trao đổi trên một căn bản giả dối, không ai thực sự nghĩ nhưng mọi người đều muốn người khác tin là mình nghĩ.

Thí dụ các tổ chức chống cộng hải ngoại đều kêu gọi ngồi lại với nhau nhưng trong thâm tâm không ai thực sự muốn ngồi lại với nhau cả, mà chỉ muốn ngồi lên đầu nhau.

Kết quả tất nhiên là rất khó đồng ý với nhau. Tôi mong độc giả lưu ý cái dân tộc tính này trước khi đọc những dòng kế tiếp.

  Ai đã có dịp vào thăm Viện Bảo Tàng Cách Mạng đều có thể nhìn thấy lá cờ lịch sử của Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cái nôi tình cảm của đảng cộng sản Việt Nam.

Lá cờ màu đỏ này chỉ có tám chữ Vạn Tuế Sô Nga, Sô Nga Vạn Tuế, chỉ có thế.

(Chữ Sô viết bắt đầu bằng chữ S trên lá cờ).

Vả lại cái tên Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng đã đủ nói lên bản chất của phong trào.

  Cái gì đã thực sự làm nức lòng người, không phải là lòng yêu nước mà là giấc mơ cộng sản, giấc mơ được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột và chà đạp.

Giấc mơ ấy đã khiến những người nông dân cùng khổ miền Nghệ Tĩnh vùng lên, chấp nhận chết chứ không chấp nhận tiếp tục cuộc sống tôi đòi.

  Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đã thẳng tay tàn sát những kẻ thù của giai cấp vô sản, bất luận họ có yêu nước hay không yêu nước.

Nó đã bị đàn áp trong một biển máu, sau khi đã làm đổ ra một biển máu.

Sự dũng cảm của những con người của Phong Trào xô Viết Nghệ Tĩnh đã rất phi thường, nhưng nó hoàn toàn không do lòng yêu nước mà đã chỉ được thúc đẩy bởi giấc mơ một cuộc sống không còn áp bức.

  Tôi đã nói chuyện với vô số người cộng sản và cố gắng vượt qua cái vỏ bề ngoài của họ, tôi luôn luôn tìm thấy giấc mơ đó đằng sau cái bình phong yêu nước.

Đó mới chính là lý tưởng đã khiến họ chấp nhận mọi gian khổ, nếu cần hy sinh cả tính mạng.

  Tôi cũng đã quan sát và trao đổi với các trí thức cộng sản.

Điều tôi có thể quả quyết là không ai lầm lẫn cả.

Tất cả đều đã tán thành chủ nghĩa cộng sản, hay ít ra đã chấp nhận nó.

Không có một người nào đã theo phong trào cộng sản vì tưởng rằng nó không phải là cộng sản cả.

  Đảng cộng sản cũng không hề giấu mục tiêu của họ.

Họ sử dụng danh nghĩa giải phóng dân tộc song song với lý tưởng cộng sản chứ không phải thay cho lý tưởng cộng sản.

Lúc nào họ cũng đề cao đấu tranh giai cấp, ngay cả khi họ giải tán một cách tượng trưng Đảng cộng sản Đông Dương.

Vả lại, ngay cả cái tên Đảng cộng Sản Đông Dương cũng đủ để nói lên rằng yếu tố Việt Nam không hề có trong ưu tư của họ.

  Không thể nói là họ đã lường gạt. Sự bội ước này có thực, nhưng không phải ở chỗ họ đã đem áp dụng chủ nghĩa cộng sản, mà ở chỗ đảng cộng sản đã không thực hiện được lý tưởng công bằng xã hội mà chủ nghĩa cộng sản đã hứa hẹn,

thay vào đó là một chế độ đầy rẫy bất công và tham nhũng.

  Cũng có những người đã thất vọng vì nhận ra chủ nghĩa cộng sản là không tưởng.

Nhưng không có ai không biết ngay từ đầu rằng mục đích của mặt trận Việt Minh là để thiết lập một chế độ cộng sản cả.

Nói như vậy là không thành thực.

  Vả lại, năm 1976, sau khi chiến thắng, Đảng Lao Động được đổi tên thành đảng cộng sản và chế độ cộng sản được chính thức tuyên bố, tôi hoàn toàn không thấy ai ngạc nhiên hay phẫn nộ cả.

Tất cả nhưng người đã đóng góp cho thắng lợi của đảng cộng sản đều hân hoan, hay ít ra không thất vọng.

Thất vọng chỉ đến sau đó khi chế độ trở thành tham nhũng và đất nước bị suy thoái, đời sống nhân dân trở thành cơ cực.

  Tôi không lên án người cộng sản là không yêu nước, tôi chỉ muốn nói là lòng yêu nước của người Việt mình nói chung là rất yếu.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, có lẽ chỉ có Việt Nam Quốc Dân Đảng và một số hệ phái Đại Việt là thực sự chỉ lấy lòng yêu nước làm nền tảng.

  Nhưng Việt Nam Quốc Dân Đảng đã không mạnh lên được, một phần vì thiếu tổ chức, một phần bị mọi thế lực đánh phá, nhưng lý do căn bản, theo tôi, vẫn là vì lòng yêu nước, lý tưởng duy nhất của Việt Nam Quốc Dân Đảng, không đủ mạnh trong lòng người Việt Nam để có thể động viên được sự hy sinh của nhiều người, như lý tưởng cộng sản.

  • Những người Quốc gia có yêu nước?

  Để đối đầu với đảng cộng sản, các chính quyền quốc gia đều chủ yếu do những người không yêu nước cầm đầu.

Các chính quyền Bảo Đại, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, ngoại trừ một vài nhân vật của Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng xuất hiện ngắn ngủi trong một thỏa hiệp giai đoạn, gồm toàn bộ những người đã hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp.

  Nhưng họ đã thất bại vì tham ô, kém cỏi chứ không phải vì không được coi là những người yêu nước.

  Ông Ngô Đình Diệm xuất hiện đột ngột vào chính trường Việt Nam và cầm quyền.

Ông cũng không phải là một người yêu nước trái lại ông có một quá khứ dài hợp tác với người Pháp và đàn áp các phong trào yêu nước.

Nhưng ông đã suýt nữa thành công. Ông thất nhân tâm vì vụng về, thiển cận chứ không phải vì bị lên án là không yêu nước.

  Yêu nước chưa bao giờ là một yếu tố quyết định để tranh thủ lòng người tại Việt Nam.

  Người Việt Nam hoặc không yêu nước, hoặc chỉ yêu nước một cách rất tương đối.

Người cộng sản yêu chủ nghĩa của họ hơn đất nước.

Người Công Giáo coi trọng tôn giáo của họ hơn đất nước. Những người cầm quyền phe quốc gia đặt quyền lợi của họ trên đất nước.

Nhóm Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu để giành quyền lực và ảnh hưởng cho họ hơn là cho đất nước.

Quần chúng Việt Nam lo âu quyền lợi và sự yên ổn của mình hơn là cho tương lai đất nước.

  Tại sao và làm thế nào để khắc phục là những câu hỏi mà ta cần đặt ra. Nhưng ít nhất phải nhìn nhận sự thực đó, phải coi nó là một dữ kiện trong đầu đề của bài toán đất nước, để đừng tiếp tục cường điệu với nhau, đeo mặt nạ và nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của lưỡi gỗ.

  • Cần lắm một lòng yêu nước!

  Lòng yêu nước của người Việt Nam không phải là không có nhưng rất mờ nhạt.

Nó đã chỉ được thổi phồng lên do sự chia rẽ trầm trọng của dân tộc Việt Nam.

Nó không phải là một tình yêu vì người ta chỉ nhân danh tổ quốc để giết nhau chứ có bao giờ nhân danh tổ quốc để tha thứ và nhường nhịn nhau đâu.

(Nguyễn Gia Kiểng)


 

NGHỆ AN MƯA GIÓ BÃO BÙNG – NHIỀU NƠI THÀNH SÔNG!

Phi Long Nguyên 

Nhìn những hình ảnh từ Nghệ An lúc này mà xót xa…

Mưa lớn kéo dài, nước dâng nhanh, đường sá ngập sâu, cuộc sống của người dân lại một lần nữa bị đảo lộn.

Miền Trung năm nào cũng phải đối mặt với mưa bão, lũ lụt. Người dân đã quá quen với cảnh chạy lũ, kê đồ, di chuyển tài sản và thấp thỏm chờ nước rút. Nhưng điều đáng suy nghĩ là: chúng ta đã có những giải pháp dài hạn đủ hiệu quả để giảm thiểu cảnh ngập lụt tái diễn hay chưa?

Thiên tai không thể ngăn chặn hoàn toàn, nhưng hoàn toàn có thể chủ động hơn trong cảnh báo, thoát nước, tiêu lũ, quy hoạch và bảo vệ những khu dân cư thường xuyên chịu ảnh hưởng.

Mong rằng sau mỗi mùa mưa bão, những bài học không chỉ dừng lại ở việc khắc phục hậu quả, mà phải trở thành những giải pháp cụ thể để người dân miền Trung bớt khổ hơn trong những mùa lũ tiếp theo. 

Mong bà con Nghệ An bình an, hạn chế di chuyển qua vùng ngập sâu và luôn theo dõi cảnh báo của cơ quan chức năng.

#NghệAn #MưaLũ #MiềnTrung #NgậpLụt #ThiênTai #CầuMongBìnhAn

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: RƠI TỰ DO TỪ MÁY BAY F15 MÀ KHÔNG CHẾT

 
 
Video “Đó là một phép màu” – Phi công F-15 tiết lộ 50 giờ sinh tồn và chiến dịch giải cứu nghẹt thở (do SGP Thuyết Minh đăng tải, chuyển thể từ phóng sự của 60 Minutes của đài CBS) kể lại câu chuyện sinh tồn và được giải cứu của một phi công tiêm kích Không quân Hoa Kỳ sau khi bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương, Iran.
Hình minh họa

Tóm tắt về “Phép màu” rơi tự do mà không tử vong!

  • Cánh Dù  không bung: Sau khi phóng ghế khỏi máy bay bị trúng đạn, Đại tá Bravo phát hiện dù cứu hộ của mình đã bị hư hỏng nặng và không thể bung ra do sức ép vụ nổ  từ tên lửa vác vai của Iran, khiến ông rơi tự do xuống đất.

  • Va chạm cực mạnh: Dựa trên các chấn thương và mô tả hiện trường, các chuyên gia y học hàng không quân sự ước tính ông đã va chạm với mặt đất ở tốc độ 70 đến 100 dặm/giờ (113–161 km/h)—vận tốc va chạm thông thường luôn gây tử vong.

  • Sống sót thần kỳ: Dù mô tả cú va chạm “như bị một đoàn tàu băng băng lao vào và tông cho tan tác”, ông vẫn sống sót mà không bị tổn thương nội tạng gây tử vong hay bị liệt. Ông bị gãy cột sống, gãy tay, gãy xương vai, bong gân cổ chân và rách nhiều vị trí trên mặt.

  • Lẩn tránh & Được giải cứu: Vẫn giữ được ý thức, ông cầu nguyện và phát tin nhắn “God is good” (Chúa thật tốt lành) qua thiết bị định vị. Dù bị gãy nhiều xương, ông đã bò và leo lên dãy núi Zagros ở độ cao hơn 2.100m (7.000 feet) để lẩn tránh khoảng 1.500 quân địch đang truy quét, trước khi được Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ giải cứu sau 50 giờ.

Trong cuộc phỏng vấn với chương trình 60 Minutes của đài CBS, Đại tá Bravo chia sẻ rằng việc sống sót sau cú va chạm tốc độ cao và 50 giờ sinh tồn giữa vùng địch là một “phép màu thời hiện đại” nhờ  sự che chở đặc biệt của Thượng Đế.

“Lạy Chúa, xin cho ý Ngài được nên trọn, nhưng nếu con phải vượt qua tình cảnh này, xin cứu giúp con”  (Đại tá Bravo)

Truyện hy hữu nhưng có thật

 

    Một bé trai 15 tuổi bị bắt vì trộm từ một cửa hàng ở Mỹ. Khi cố gắng để trốn thoát, cậu bé cũng đã làm hư một cái kệ. Người chủ cửa hàng đã bắt giữ được cậu bé và kiện ra tòa án và phán quyết của tòa án Mỹ đã làm nhiều người rơi lệ

     Sau khi thẩm phán nghe được vụ án, ông ấy hỏi cậu bé:

– “Cháu có thật sự ăn cắp gì không?”

Cậu bé xấu hổ, cúi đầu xuống, trả lời:

– “Có ạ! Cháu đã ăn cắp bánh mì, phô mai và làm hư cái kệ.”.

Thẩm phán lại hỏi:

– “Tại sao cháu lại ăn cắp?”

Đứa bé trả lời:

– “Vì nó cần thiết.”

Thẩm phán lại hỏi:

– “Sao Cháu không mua mà ăn cắp nó.”

Cậu bé nói:

– “Cháu không có tiền.”

Thẩm phán nói:

– “Cháu có thể xin tiền Cha mẹ.”

Cậu bé nói:

– “Cháu chỉ có Mẹ, nhưng mẹ cháu đang bị bệnh và không đi làm việc được, nên cháu phải ăn cắp bánh mì, phô mai để cho Mẹ ăn.”

Thẩm phán hỏi:

– “Cháu không làm gì à? Cháu không có việc làm sao?”

Cậu bé trả lời:

– “Cháu làm việc ở tiệm rửa xe. Cháu phải nghỉ để chăm sóc cho mẹ nên đã bị đuổi việc.”

Thẩm phán nói:

– “Cháu không tìm kiếm việc gì khác để tiếp tục làm việc ở nơi khác sao?

– Dạ, mẹ cháu đang ốm nặng mà không có người chăm sóc, nên cháu không thể đi làm được.

     Thẩm phán cho người đi xác minh những gì cậu bé nói thì thấy tất cả đều là sự thật. Sau khi biết rõ ngọn ngành mọi chuyện. Thẩm phán ra tuyên bố phán quyết:

– “Tội ăn cắp, đặc biệt lại là ăn cắp bánh mì là MỘT TỘI ÁC thật đáng xấu hổ…! Và ở đây, tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm cho tội ác này…”

Cả phòng xử án đột ngột im lặng…

– “Tất cả mọi người trong phòng xử án hôm nay, trong đó có Tôi, đều phải chịu trách nhiệm cho tội ác này. Do đó, ai đang hiện diện tại đây đều phải bị phạt 10 Dollars, không ai được đi ra khỏi đây mà không bị phạt 10 Dollars.”

     Thẩm phán lấy tờ tiền 10 Dollars từ túi áo ông ấy, rồi lấy một cây bút và bắt đầu viết tên những người phải nộp phạt.

– “Ngoài ra, Tôi còn phạt 1000 Dollars Chủ cửa hàng bánh mỳ, vì giao một đứa trẻ đói bụng cho Cảnh sát. Nếu không đóng phạt trong vòng một giờ, cửa hàng sẽ bị đóng cửa.”

– “Mọi người ở đây đều nên xin lỗi cậu bé và nộp phạt 10 Dollars, để cậu bé có tiền chăm sóc mẹ. Chúng ta đã ích kỷ và thiếu quan tâm đến những cảnh đời kém may mắn hơn mình.”

     Sau những lời phán quyết của thẩm phán, cậu bé oà khóc và ôm lấy ông. Tất cả mọi người trong phòng xử án đều xúc động rơi nước mắt.

     Tôi tự hỏi liệu xã hội, hệ thống Tòa án của nước Pháp chúng ta có thể đưa ra một phán quyết giống như toà án Mỹ như vậy không?

Thẩm phán nói thêm:

– “Nếu một người bị bắt quả tang ăn cắp bánh mì do bị đói, tất cả thành viên của Cộng đồng, Xã hội và Đất nước này đều phải thấy xấu hổ.!”

*****

     Một tòa án  bên VN đã xử 1 người ăn cắp 1 con gà với hình phạt là 7 năm tù ở.  Nếu đem cái luật bây giờ “nộp tiền ăn cắp được, dù tiền muôn bạc tỷ, cũng sẽ được nhẹ tội (vụ án chuyến bay Covid). Nếu anh ăn cắp gà sẽ trả lại con gà. Các cụ đoán xem hình phạt của anh ta là bao nhiêu ??? 

From: KimBằngNguyễn  


 

THỂ HIỆN NGÀI HƠN LÀ NÓI VỀ NGÀI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người sai các ông đi”.

“Đây là cách người ta nên rao giảng: thể hiện Chúa Giêsu hơn là nói về Chúa Giêsu. Và chúng ta thể hiện Chúa Giêsu như thế nào? Bằng chứng ngôn của chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có thể nói rất đúng về Đức Giêsu mà vẫn làm Ngài khuất đi. Lời Chúa hôm nay cho thấy: ơn gọi của người môn đệ không phải để người ta nhớ đến mình, nhưng để họ nhận ra Đấng đã sai mình – ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’.

Trước hết, để rao giảng Nước Thiên Chúa, người môn đệ phải ở lại với Đấng khai mở Nước ấy. Luca cẩn thận ghi: “Đức Giêsu tập họp Nhóm Mười Hai lại”. Chuyển động đầu tiên của sứ vụ không phải là đi ra, nhưng là đi vào; không phải lên đường, nhưng là đến gần; không phải nói, nhưng là nhận. Ở lại với Đức Giêsu không nhằm có thêm những điều để nói, nhưng để nhận lấy cách nhìn, cách chạm và cách yêu. Chỉ lúc ấy, người môn đệ mới không trình bày một ý tưởng về Ngài, nhưng để dung mạo Ngài hiện ra nơi mình. “Hãy để ánh sáng của Đức Kitô chiếu toả trong đời sống các bạn!” – Gioan Phaolô II.

Tiếp đến, người môn đệ trở nên trong suốt trước Đấng Sai Đi. Họ ra đi không gậy, không bao bị, không bánh, không tiền. Chính sự nghèo khó của sứ giả thể hiện rõ quyền năng Thiên Chúa. Quyền năng ấy càng sáng tỏ vì những gì họ sở hữu không đủ sức giải thích; điều họ không mang bên ngoài trở thành chứng từ cho điều họ đã nhận bên trong. Trước khi cất lời về Nước Thiên Chúa, cách họ hiện diện đã bắt đầu loan báo Nước ấy. Vì thế, người ta có thể nhận ra Đức Giêsu nơi họ trước cả khi nghe họ nói về Ngài.

Và rồi, người môn đệ phải trung thành với Lời đã nhận. “Đừng thêm thắt chi vào lời Người phán dạy!” – bài đọc một. Cám dỗ của người rao giảng không chỉ là nói sai, nhưng còn là thêm mình vào Lời đến mức người ta nhớ người nói mà quên Đấng đã phán. Lời không cần tô điểm; Lời cần một đời sống. Thánh Vịnh đáp ca gọi “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước!”. Ngọn đèn ấy phải soi bước người môn đệ trước khi soi lối cho người khác. Khi đời sống bước theo Lời, chứng ngôn sẽ nói phần còn lại. “Công việc quan trọng hơn việc nói hay viết về công việc; chính qua những việc thương xót mà tình yêu được biểu lộ!” – Dorothy Day.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói Chúa Cha yêu con người; Ngài cho tình yêu ấy một gương mặt và một thân thể. Lời đã trở nên xác phàm; đôi tay chạm người hủi, đầu gối quỳ dưới chân môn đệ, thân mình trao trên thập giá. Khi lời nói lặng đi, cách Ngài chết lại nói về Chúa Cha rõ nhất. Phục Sinh không xoá dấu đinh; Ngài mang chúng vào vinh quang, thể hiện quyền năng của Chúa Cha: tình yêu có tiếng nói sau cùng. Vì thế, ‘thể hiện Ngài hơn là nói về Ngài’ không phải một kỹ thuật rao giảng, nhưng đi theo chính con đường của mầu nhiệm Nhập Thể: điều người môn đệ loan báo phải mang lấy hình hài Đức Kitô trước hết trong đời mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở lại với Chúa trước khi ra đi; sống điều con loan báo trước khi nói; và để dung mạo Ngài hiện ra qua đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

********

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/23….

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

1 Khi ấy, Đức Giê-su tập họp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật. 2 Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. 3 Người nói: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo. 4 Khi anh em vào bất cứ nhà nào, thì ở lại đó và cũng từ đó mà ra đi. 5 Hễ người ta không đón tiếp anh em, thì khi ra khỏi thành, anh em hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” 6 Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi.


 

KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

 KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

1.Kinh Kính Mừng

Kính mừng Maria đầy ơn phúc

Đó là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường xuyên đọc nhất là trong tháng Mười. Nhưng nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel khi chào kính Đức Maria lúc truyền tin (Lc1,28). Đức Maria là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần nói, vì có Thiên Chúa ở cùng. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận : ” Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc“. Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy được đầy ơn phúc. Đức Maria là người diễm phúc không chỉ Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, mà Mẹ còn cưu mang Thiên Chúa ngay trong lòng mình nữa.

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Ê-li-sa-bet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời Giáo hội thêm vào đó lời cầu khẩn Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời… và trong giờ lâm tử”.

Phụng vụ mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) lại dìu ta về với “Đức Maria đầy ơn phúc“. Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, và Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Thế nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này : “Kính mừng Maria đầy ơn phúc” để tôn vinh Mẹ Maria. Đức Maria là người hạnh phúc vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc, được tuyển chọn để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là Mẹ Thiên Chúa. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria cũng rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ : “Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi“. Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn.

  1. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng

Chính Mẹ đã dạy chân-phước Alanô : “Bất-cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết“.

Thánh Bênađô nói : “Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ“.

Còn thánh Bônaventura nói : “Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng“.

Theo thánh Montfort “Những người rối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị Kinh Kính Mừng, là những người có dấu bị trầm luân Hỏa-Ngục. Không có gì có hiệu-lực được lên Nước Thiên Chúa bằng đọc Kinh Mân Côi“.

Thánh Anphongsô “Nhờ Kinh Mân Côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng“.

Kinh Mân côi là kinh chính Ðức Trinh Nữ đã khuyến khích khi hiện ra với Cô Bernardette ở Lộ đức (1858) cũng như trong các lần hiện ra với ba em mục đồng Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức-Mẹ đều thúc-dục :Các con hãy tiếp tục đọc Kinh Mân Côi hằng ngày“. Và nhất là : “Các con hãy đọc kinh Mân côi để cầu nguyện cho hòa bình“.

  1. Lời kinh cầu cho hòa bình

Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, càng ngày càng gia tăng, khiến ngày mùng 07 tháng 9 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô phải mời gọi cả Hội Thánh ăn chay cầu nguyện cho hòa bình tại Syria và những nơi bạo lực đang hoành hành. Lời cầu của Hội Thánh đã được nhận lời, chiến tranh đe dọa Damacus đang qua đi, nhưng tại Trung Đông, Ai Cập, Triều Tiên và cả Thánh Địa xem ra Hòa Binh vẫn vắng bóng. Năm nay, năm 2014, Đức Thánh Cha đã kêu gọi thế giới nhiều lần cầu nguyện cho Irắc, không những kêu gọi cầu nguyện cho hòa bình tại Israel và Palestin mà còn tổ chức cầu nguyện với nguyên thủ quốc gia cả hai nước. Trong tình hình hiện nay, chỉ biết chạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin hòa bình cho thế giới và. Việc làm trong tháng này là hãy lần hát Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt  qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại. Chúng ta hướng về Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, và khẳng định rằng, nơi nào thiếu hòa bình, nơi nào con người tỏ ra bất lực hay không muốn dẹp đi mầm mống thù ghét và chết chóc, thì việc trợ giúp phải đến từ Trời. Chính Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, Ðấng đem chúng ta trở lại với Chúa Cha.

Trước những thế lực mạnh hơn, chúng ta thường cảm thấy bất lực. Khi nghĩ đến sức mạnh của những thế lực trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, chúng ta chỉ biết tin tưởng vào lời cầu nguyện mà thôi, chúng ta tin cậy vào một sức mạnh lớn hơn, là Thiên Chúa. Ðức Maria, như gương mẫu của sự phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa. Và với tình mẫu tử, Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô, theo dõi chúng ta trên đường đến với Chúa Cha, Ðấng có thể cải hóa và làm cho các tâm hồn con người tùng phục thánh ý của Người.

Vậy kinh Mân Côi càng có lý do hơn nữa để xúc tiến hòa bình, một hoà bình cho tới nay vẫn chưa trở lại. Với lời Mẹ Maria dạy và kinh nghiệm của các thánh về ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta hãy sốt sáng đọc kinh Mân Côi, để cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình, cho Giáo hội, cho quê hương và cho toàn thế giới.

Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.

Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

 

 Tại sao chúng ta tin người chết sẽ sống lại?- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình tràn đầy ơn lành và bình an của Thiên Chúa và Mẹ nhé. Không quên cậ`u nguyện cho nhau và thế giới  luôn nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 22/9/2026.    (t5-22)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta tin người chết sẽ sống lại? Chúng ta tin kẻ chết sẽ sống lại vì Chúa Giêsu đã phục sinh từ trong kẻ chết, Người sống luôn mãi, và Người làm cho chúng ta tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Người. (YouCat, số 152)

SUY NIỆM: Khi có ai qua đời, xác họ được chôn hoặc thiêu. Nhưng ta tin rằng họ có một đời sống sau khi chết. Chúa Giêsu phục sinh đã tỏ mình ra như Chúa của sự sống. Lời của Người đáng tin cậy: Tôi là sự sống lại. Ai tin Tôi dù có chết vẫn sẽ sống (Ga 11,25b).(YouCat, số 152 t.t.)

LẮNG NGHE: Sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại thì Đức Kitô đã không chỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. (1 Cr 15,12-14.19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “Nơi Người, niềm hy vọng sống lại vinh phúc đã chiếu toả trên chúng con, để những ai buồn sầu, vì số phận chắc chắn phải chết cũng được an ủi, vì Chúa đã hứa ban phúc trường sinh bất diệt sau này. Vì, lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian bị hủy diệt tiêu tan, thì lại được một chỗ ở vĩnh viễn trên trời.” (Kinh Tiền Tụng cầu cho tín hữu qua đời)

THỰC HÀNH: Đọc 10 Kinh Kính Mừng cầu cho các linh hồn trong luyện ngục.

From: Do Dzung

*****

Sự sống thay đổi mà không mất đi

CÁI CHẾT BÌNH AN VÀ HY VỌNG CỦA NGƯỜI CÓ ĐỨC TIN

Linh Mục Mi Trầm

CÁI CHẾT BÌNH AN VÀ HY VỌNG CỦA NGƯỜI CÓ ĐỨC TIN

Thương tiếc và tiễn biệt Cha Nhạc sĩ Ân Đức

Cái chết là điều không ai có thể tránh khỏi. Đối với nhiều người, cái chết gợi lên nỗi sợ hãi, buồn phiền và chia ly. Nhưng đối với người có đức tin, cái chết không phải là dấu chấm hết, mà là cánh cửa dẫn vào sự sống đời đời với Thiên Chúa.

Hôm nay, chúng ta tiễn biệt Cha Nhạc sĩ Ân Đức, một người đã dâng hiến cuộc đời để phục vụ Thiên Chúa và Giáo hội. Trong giây phút chia ly này, chúng ta cùng suy niệm về cái chết trong ánh sáng đức tin Kitô giáo, với niềm thương tiếc nhưng cũng tràn đầy hy vọng.

  1. Cái chết không phải là hết

Người Kitô hữu tin rằng con người được Thiên Chúa dựng nên để sống mãi với Ngài. Đức Giêsu đã phán:

“Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25)

Niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh giúp chúng ta nhìn cái chết bằng một ánh mắt khác. Thân xác trở về với bụi đất, nhưng sự sống của con người không chấm dứt. Chúng ta hy vọng được sống lại và hưởng hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa.

Vì thế, cái chết tuy là sự chia ly đau đớn, nhưng không thể dập tắt niềm hy vọng của người có đức tin.

  1. Bình an vì biết mình thuộc về Chúa

Người có đức tin không nhất thiết không sợ chết. Đau đớn, chia ly và những điều chưa hoàn tất vẫn có thể khiến chúng ta lo lắng. Tuy nhiên, giữa những thử thách ấy, người tín hữu có thể tìm được sự bình an khi phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa.

Thánh Phaolô nói:

“Dù sống hay chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.” (Rm 14,8)

Đó là nền tảng của sự bình an Kitô giáo. Chúng ta không thuộc về chính mình, nhưng thuộc về Chúa, Đấng yêu thương và cứu độ chúng ta.

Điều quan trọng nhất không phải là chúng ta đã sống được bao nhiêu năm, có bao nhiêu của cải hay đã đạt được những thành công nào, mà là chúng ta đã sống trong tình yêu Chúa và yêu thương tha nhân ra sao.

  1. Hy vọng vào lòng thương xót của Chúa

Không ai có thể tự mình trở nên xứng đáng trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta đặt hy vọng nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để cứu độ nhân loại.

Khi đứng trước sự chết, chúng ta phó thác người quá cố vào lòng thương xót của Chúa. Chúng ta cầu nguyện, xin Ngài tha thứ những thiếu sót, thanh luyện và đưa người đã qua đời vào hưởng hạnh phúc đời đời.

Đối với mỗi người chúng ta, cuộc sống hôm nay cũng là thời gian chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ Thiên Chúa:

  • Thành tâm sám hối và sống theo Tin Mừng.
  • Tha thứ cho người khác và xin được tha thứ.
  • Yêu thương, phục vụ và làm điều thiện.
  • Phó thác bản thân cùng những người thân yêu trong tay Chúa.

Chúng ta không biết giờ chết của mình, nhưng có thể chuẩn bị tâm hồn bằng một đời sống trung thành với Ngài mỗi ngày.

  1. Cái chết là cuộc trở về Nhà Cha

Đức Giêsu đã nói với các môn đệ:

“Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở.” (Ga 14,2)

Đối với người có đức tin, quê hương đích thực không chỉ là nơi mình sinh ra, mà còn là quê hương trên trời, nơi Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài.

Khi một người thân qua đời, chúng ta vẫn đau buồn vì tình yêu và sự chia ly. Nhưng đức tin giúp chúng ta không tuyệt vọng. Chúng ta cầu nguyện cho người đã qua đời và tin tưởng vào ngày được gặp lại nhau trong Chúa, nếu được Ngài thương ban ơn cứu độ.

Giờ đây, chúng ta thương tiếc Cha Nhạc sĩ Ân Đức. Cha đã hoàn tất hành trình dương thế và trao phó cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa.

Những lời ca, tiếng hát và công việc phục vụ Chúa của Cha đã trở thành những hạt giống đức tin gieo vào lòng bao thế hệ. Những gì Cha đã dâng hiến cho Giáo hội và cộng đoàn sẽ còn được ghi nhớ trong tâm tình biết ơn.

  1. Lời tiễn biệt và cầu chúc Cha Nhạc sĩ Ân Đức

Kính thưa Cha Nhạc sĩ Ân Đức,

Giờ đây, Cha đã hoàn tất hành trình dương thế và trở về trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Chúng con xin dâng lên Chúa lòng biết ơn về cuộc đời và sứ vụ của Cha. Cảm tạ Chúa vì đã ban cho Giáo hội một người con biết dùng tài năng âm nhạc để ca tụng Chúa, phục vụ Tin Mừng và nâng đỡ đời sống đức tin của cộng đoàn.

Trong giây phút chia ly, chúng con không chỉ khóc thương, mà còn đặt trọn niềm tin tưởng nơi Đức Kitô Phục Sinh. Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng Cha đã yêu mến và phục vụ suốt đời, đón nhận Cha vào hưởng niềm vui và bình an vĩnh cửu trong Nước Trời.

Xin chúc Cha an vui trong Chúa, mãi mãi sống trong tình yêu của Ngài, nơi không còn đau khổ, nước mắt và chia ly.

Xin cho những lời ca Cha đã dâng lên Thiên Chúa trên trần gian nay được tiếp nối bằng lời ca ngợi vĩnh cửu trên Thiên quốc.

Chúng con xin tiễn biệt Cha trong niềm tin, niềm hy vọng và lời cầu nguyện.

Hẹn gặp lại Cha trong Nhà Cha trên trời!

KẾT LUẬN

Người có đức tin không mong chết, nhưng không tuyệt vọng trước cái chết. Vì tin vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta sống bình an, chết trong phó thác và hy vọng được về với Chúa.

Điều quan trọng là mỗi ngày biết yêu thương, tha thứ và trung thành với Ngài, để khi giờ ra đi đến, chúng ta có thể thưa:

“Lạy Chúa, con xin phó thác linh hồn con trong tay Chúa.”

Lạy Chúa Giêsu, xin thương đón nhận linh hồn Cha Nhạc sĩ Ân Đức vào hưởng hạnh phúc muôn đời. Xin an ủi những người thân yêu và tất cả những ai đang thương tiếc Cha.

Lạy Chúa, xin cho linh hồn Cha Nhạc sĩ Ân Đức được nghỉ yên muôn đời.

Amen.

Một người bạn.


 

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Cang Huynh

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Hôm nay, trong lúc chờ đến lượt khám bệnh, tôi nhìn quanh phòng chờ.

Có những người ở độ tuổi 50, 60, 70, thậm chí 80. Một số người chờ gặp bác sĩ, một số chờ xét nghiệm, và những người khác chờ điều trị. Ai cũng dường như mang trong mình những lo lắng, đau nhức và những cuộc chiến thầm lặng.

Một người phụ nữ ngồi gần đó đang nói về việc già đi khó khăn như thế nào. Bà ấy nói về bệnh tật, đau đớn, thuốc men và tất cả những vấn đề dường như đi kèm với tuổi già.

Tôi lặng lẽ lắng nghe.

Rồi tôi nhìn qua cửa sổ.

Bên ngoài có một cụ bà không chờ gặp bác sĩ. Bà ấy không đến đó để xét nghiệm hay điều trị.

Bà ấy chỉ đơn giản hy vọng ai đó sẽ cho bà vài đồng xu để mua thuốc giảm đau.

Thế mà, bà ấy vẫn mỉm cười.

Khoảnh khắc đó vẫn còn đọng lại trong tôi.

Một số người trong chúng ta may mắn có bác sĩ để tham khảo ý kiến, các xét nghiệm mà chúng ta có đủ khả năng chi trả, thuốc men để uống và người thân chăm sóc. Những người khác lại phải vật lộn để có đủ tiền mua ngay cả những thứ đơn giản như giảm đau.

Và người phụ nữ ấy vẫn mỉm cười.

Điều đó khiến tôi nhận ra rằng có lẽ tuổi già không phải lúc nào cũng là điều khiến chúng ta nặng lòng.

Đôi khi, chính cách chúng ta nhìn nhận tuổi già mới là vấn đề.

Đúng vậy, tuổi già mang đến những thách thức. Hôm nay có thể là huyết áp cao, ngày mai là đường huyết, đầu gối đau nhức, xương khớp mỏi mệt, đau lưng, hoặc một vấn đề sức khỏe bất ngờ.

Đó là lý do tại sao chúng ta phải chăm sóc bản thân.

Đi khám bác sĩ khi cần thiết.

Uống thuốc khi cần.

Giữ cho cơ thể vận động.

Ăn uống lành mạnh hơn.

Nghỉ ngơi khi cần.

Và đừng bao giờ bỏ qua một vấn đề có thể điều trị được.

Nhưng trong khi chăm sóc cơ thể, chúng ta phải nhớ một điều quan trọng không kém:

HÃY CHĂM SÓC TÂM HỒN CỦA BẠN.

Bởi vì cơ thể có thể già đi nhưng trái tim vẫn có thể trẻ trung.

Có thể ta bước đi chậm hơn, nhưng ta vẫn có thể tận hưởng cuộc hành trình.

Tóc ta có thể bạc đi. Khuôn mặt ta có thể xuất hiện nếp nhăn. Cơ thể ta có thể có thêm vài cơn đau nhức.

Nhưng ta vẫn có thể cười.

Ta vẫn có thể thưởng thức một tách cà phê.

Nghe bài hát yêu thích của mình.

Ngồi bên những người ta yêu thương.

Ngắm hoàng hôn.

Tận hưởng một buổi sáng yên tĩnh.

Nắm tay ai đó.

Và biết ơn vì một ngày mới.

Già đi không có nghĩa là cuộc sống kết thúc.

Nó chỉ đơn giản có nghĩa là cuộc sống đã thay đổi.

Vì vậy, đừng coi tuổi già là một hình phạt.

Hãy coi đó là một chương mới – một chương xứng đáng được kiên nhẫn, chấp nhận, cười và biết ơn.

Hãy chăm sóc cơ thể mình.

Bảo vệ sự bình yên của bạn.

Nuôi dưỡng tâm hồn bạn.

Và hãy nhớ:

Chừng nào bạn còn sống, vẫn còn điều gì đó để biết ơn.

Và chừng nào bạn còn thở, bạn vẫn còn thời gian để sống một cuộc đời tươi đẹp. 

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

LẼ SỐNG – Truyen ngan HAY

Cang Huynh 

LẼ SỐNG – Truyen ngan HAY

Ở tuổi 40, đôi tay người phụ nữ này run rẩy dữ dội đến nỗi cô không thể cầm nổi tách cà phê mà không làm đổ. Tháng 6 năm 2001, chẩn đoán đến như một cú sốc: cô mắc một dạng bệnh Parkinson nặng và khởi phát sớm. Đối với nữ tu người Pháp thuộc dòng Nữ tu Nhỏ của Cộng đồng Mẹ Công giáo, vốn thuận tay trái từ khi sinh ra, việc mất khả năng sử dụng cánh tay trái đồng nghĩa với việc không còn viết được, không còn lái xe được, và phải dần dần từ bỏ tất cả công việc chăm sóc người bệnh.

Trong bốn năm, cuộc sống hàng ngày của Sơ Marie-Simon-Pierre chỉ toàn là đau đớn, cứng khớp và những đêm mất ngủ.

Cơ thể bà dần dần suy yếu.

Mùa xuân năm 2005, sau khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời – bản thân ngài cũng mắc căn bệnh tương tự – tình trạng của sơ trở nên tồi tệ hơn đáng kể. Sự cứng khớp lan rộng khắp bên trái cơ thể. Sự mệt mỏi trở nên không thể chịu đựng được.

Ngày 2 tháng 6 năm 2005, hoàn toàn kiệt sức, sơ đến văn phòng bề trên để xin được miễn nhiệm vĩnh viễn.

Mẹ bề trên lắng nghe một cách tử tế, cầm lấy một cây viết và yêu cầu sơ thử lần cuối: viết tên “John Paul II” lên một mảnh giấy.

Sơ Marie-Simon-Pierre làm theo, nhưng tay sơ không phản ứng. Trên trang giấy, cái tên chỉ là một nét nguệch ngoạc vô định hình, không thể đọc được.

Tối hôm đó, sơ trở về phòng, lòng nặng trĩu nhưng tràn đầy một linh cảm kỳ lạ.

Khoảng 9 giờ 30 tối, sau một lời cầu nguyện ngắn, một thôi thúc bên trong khiến sơ cầm bút lên lần nữa.

Sơ đặt ngòi viết lên giấy.

Cổ tay sơ không run.

Các ngón tay sơ khép lại mà không đau.

Sơ viết từng chữ một cách trôi chảy hoàn hảo.

Sáng hôm sau, ngày 3 tháng 6 năm 2005, nữ tu thức dậy khi bình minh ló dạng. Lần đầu tiên sau nhiều năm, chứng cứng khớp đã biến mất. Sơ bật dậy, cánh tay trái đung đưa tự nhiên bên hông, và cơn đau đã hoàn toàn biến mất.

Không nói ngay với ai, sơ quyết định ngừng tất cả các phương pháp điều trị y tế.

Vài ngày sau, khi đến gặp bác sĩ thần kinh để kiểm tra sức khỏe, bác sĩ đã vô cùng kinh ngạc: tất cả các triệu chứng lâm sàng của bệnh Parkinson đã hoàn toàn biến mất một cách khó hiểu.

Mười tháng sau, không cần dùng thuốc, Sơ Marie-Simon-Pierre đã trở lại cuộc sống hoàn toàn bình thường, đi bộ, viết lách và lái xe như thể căn bệnh chưa từng tồn tại. Hồ sơ bệnh án của sơ sau này trở thành một trong những tài liệu quan trọng được các chuyên gia xem xét trong quá trình phong chân phước cho Đức Giáo Hoàng Paul II.

Chúng ta thường nghĩ rằng khi mọi thứ dường như đã mất hết và y học đạt đến giới hạn của nó, thì không còn gì để hy vọng trong cuộc sống. Đôi khi chúng ta quên rằng ranh giới giữa tuyệt vọng và chữa lành có thể nằm ở một khoảnh khắc duy nhất của việc không chịu bỏ cuộc.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.


 

NHỮNG BƯỚC CHÂN – Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

 Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

 Nói đi vào hoặc đi ra là nói đến những bước chân.  Nhưng khi vào đời, tôi không vào đời bằng chân vì tôi chỉ là hài nhi không biết đi.  Ra khỏi cuộc đời, tôi cũng chẳng ra khỏi bằng chân vì tôi chết.  Như thế, vào đời hay ra khỏi cuộc đời là những bước chân thiêng liêng.  Đó là những bước chân liên quan đến hạnh phúc và ơn cứu độ.

 Trong khoảng thời gian từ lúc tôi mới sinh ra, không biết đi, đến khi tôi không thể đi vì tôi chết, là một hành trình thật dài.  Trong hành trình dằng dặc này của cuộc sống, tôi bước những bước chân.  Tôi đi.  Tôi đi rất nhiều.  Vì tôi vào đời đón sự sống bằng bước chân thiêng liêng.  Tôi từ giã cuộc đời, ra khỏi sự sống bằng vết chân thiêng liêng, nên những bước chân hàng ngày tôi đi trên mặt đất rất liên quan đến những ý nghĩa thiêng liêng.

 Hướng chân đi

 Đi, là đi đâu.  Đi không định hướng sẽ là cuộc đi thiếu năng lực.  Vì không có lí tưởng để tiến tới nên chân mỏi mệt lắm.  Rồi, cuộc đời là cuộc đi buồn bã.  Có bước chân ban sáng, có bước chân chiều tà.  Bước đi trong đời, ai cũng mang một trong hai bước chân đó.  Đức Kitô biết rõ những loại chân này, nên Ngài nói với các môn đệ: “Khi còn sáng ngày Ta phải làm việc của Cha Ta.  Đến tối không ai còn làm việc nữa” (Ga. 9:4).  Thời gian sẽ ngắn lại, bước chân ta chậm theo dòng đời.  Bình minh gọi, kẻ không bước đi sẽ muộn phiền hối tiếc khi chiều buông xuống.

 Có người đi ban đêm.  Có kẻ đi ban ngày.  Có người đi trên đường.  Có kẻ đi dưới rãnh.  Có nhiều thứ đi.  Có nhiều thứ bước chân.  Khi Đức Kitô bị bắt thì có những bước chân chạy trốn mà cũng có những bước chân đến gần.  Khi Đức Kitô gọi, thì có những bước chân theo mà cũng có bước chân chối từ.  Có bước chân đi phân vân và cũng có bước chân dứt khoát.  Từ khởi điểm của vào đời và ra khỏi đời là trăm ngàn ngõ bước, lối đi, những bước chân khác nhau.

 Điệu chân đi

 Nói đến đi thì cũng  nói tới bước chân đi và lối ngõ để bước chân đi trên đó.  Có những lối ngõ khác nhau và phải bước theo cách thế của mỗi lối đi.  Không thể bước trên đường sỏi đá giống như bước trên đồi cỏ.  Rồi ngay mỗi người cũng có nhiều đoạn đường khác nhau trong một lối đường.  Bởi đó, người ta phải học cách bước của mỗi đoạn đường.  Đoạn đường Maria đi thăm chị họ mình để báo tin vui là bước chân đon đả, không giống đoạn đường trốn sang Ai Cập.  Cách Đức Kitô bước vào dinh tổng trấn Philatô chắc không giống cách Người bước vào nhà người thu thuế.  Thích nghi với hoàn cảnh, văn hóa trong công cuộc rao giảng Tin Mừng chẳng những là sáng tạo mà còn là một định luật.  Chọn cho mình một lối đúng mà không bước đúng cách cũng chưa là đi đúng.

 Người ta nói: Bước vào yêu.  Thì nghe cũng như đúng vậy thôi.  Tình yêu ở đâu để mà bước vào?  Tình yêu tự nó không là thửa đất, không là cánh đồng.  Tình yêu không giống như một bản đồ vẽ sẵn.  Rồi ai nấy chọn một ngã.  Tình không chờ sẵn như căn nhà rồi ta vào ở.  Đức Kitô không bước vào yêu mà Ngài là Tình Yêu vào thế gian (Ga 3:16).  Như thế, bước vào yêu theo nghĩa đẹp nhất là tình yêu đưa ta bước tới.  Tình yêu nơi trái tim Đức Kitô đưa bước chân Ngài lên Núi Sọ.  Ngài không lên Núi Sọ tìm tình yêu mà là tinhd yêu thúc đẩy Đức Kitô gặp thập giá, để thập giá có tình yêu.

 Tình yêu và bước chân

 Trong cuộc đời sẽ có hai bước chân của hai lối đi khác nhau về tình yêu.  Một bước chân vào đời do tình yêu đưa lối.  Và một bước chân tìm lối đi của tình yêu trong đời.

 – Bước chân do tình yêu đưa lối thì có năng lực và không bao giờ bước sai. “Bỏ lại chín mươi chín con chiên đó mà đi tìm con chiên lạc” (Mt.18:12-13).  Những bước chân này đi tới đâu là rộn rã yêu thương tới đó.  “Vì Cha quá yêu thế gian nên đã sai Con Một vào thế gian” (Ga 3:16).  Không là chân đi tìm tình yêu mà là tình yêu đẩy chân đi tìm.

 – Còn lối bước thứ hai là bước chân đi tìm tình yêu.  Bước chân này rất dễ lầm đường lạc lối.  Tình yêu không co sẵn khơi khơi.  Bởi đó, làm sao tìm thấy tình yêu được.  Họ không thấy tình yêu mà chỉ  thấy cái họ thích yêu.

 Khi tôi gặp người tôi thương mến, điều ấy có nghĩa là tôi bắt gặp điều làm tôi yêu thích.  Tôi phải để tình yêu trong tôi lên tiếng thẩm định cho sự gặp gỡ này.  Rạo rực của con tim khi gặp người tôi mến thương thúc đẩy tôi phải ôm giữ.  Rồi, từ đó tôi ngỡ rằng đó là tình yêu và tôi đã gặp tình yêu.  Khi trong tim tôi không có tình yêu thì sự ôm giữ này trở thành cuồng phong, vì tôi lầm lẫn cho đó là tình yêu.  Nếu trái tim tôi có tình yêu thì tình yêu sẽ lên tiếng thẩm định và câu trả lời có thể là không cho phép tôi bước tới.  Nếu bước tới, bước chân đó sẽ sai vì không nghe tiếng tình yêu nói mà chỉ là tìm cái tôi thích yêu.

 Nếu nói gặp người tôi thương mến là gặp tình yêu thì làm sao có trung thành trong hôn nhân luôn luôn gặp những người yêu mới.

 Đức Kitô không bao giờ đi sai vì chân Ngài được tình yêu thúc đẩy.  Trước giờ chết, trước kẻ có quyền kết tội, Ngài không chối từ, không trốn tránh vì Ngài có tình yêu làm sức mạnh.  Trên đường đời có những quãng vắng khắc nghiệt vì sỏi đá.  Tình yêu sẽ đẩy chân bước tới.  Còn bước chân đi tìm tình yêu sẽ phân vân ngại ngùng tránh né.  Bởi đó, trong hôn nhân, và người tu sĩ cũng thế, không có lạc lối trong tình yêu mà chỉ là không có tình yêu nên mới lạc lối.

 Những bước chân riêng

 Mỗi người có một lối nên không thể lấy bước chân kẻ khác làm bước chân của mình.  Sự nghèo khó, lý tưởng, con cái, giáo dục, thân xác, hoàn cảnh của mỗi gia đình không giống nhau.  Áng màu nào cũng đẹp nhưng nó phải phù hợp với ơn gọi của nó.  Bước lẫn sang lối đi của người khác là lạc lối.  Vì lối đi của người khác đúng với họ mà thôi nên khi lấy cái đúng của họ làm của mình nó dễ trở thành cái sai.  Khó mà nhận ra cái lạc lối của mình khi mình đi trong lối đi của kẻ khác, bởi vì cứ nghĩ rằng nó đúng với tha nhân thì cũng đúng với mình.

 Những bước chân phải cùng nhau đi mà không đi cùng nhau là đi sai.  Những bước chân phải đi đơn lẻ mà cứ quyến luyến nhau cũng là đi không đúng.  Huyền nhiệm của những bước chân là thế.

 Có những bước chân âm thầm.  Có những bước chân trong chiều mưa.  Là những bước chân riêng, nhưng bước chân nào thì cũng biết mỏi.  Đường ở đâu hay ở đó, hôm nay hay ngày mai, ở đâu và thời gian nào thì đường cũng có thể làm chân ê ẩm, gây thương tích đau đớn.  Đường đời dài lắm.  Nhất là đường sám hối, đường muốn tập nhân đức.  Bởi vậy, chân cần nghỉ ngơi, cần xoa dịu.  Là những bước chân riêng, nhưng cùng một ơn cứu độ.  Có phải vậy mà đường chiều thập giá là Simon vác thập tự cho Đức Kitô đỡ té ngã.  Có phải thế mà hôn nhân cùng nhau đi.

  Lạy Chúa, khi biết mình sắp xa các môn đệ, Chúa đã rửa chân cho họ.  Nếu chỉ nhìn những bàn chân được rửa như một gương khiêm nhường Chúa đã làm thì con thấy chưa đủ.  Bỏ trời cao xuống trần chưa đủ là khiêm nhường sao.  Sinh ra trong nghèo khó đủ cho con thấy Chúa thế nào rồi.  Thái độ rửa chân cho chúng con là hình ảnh tuyệt vời ý nghĩ của những bước chân.  Cần thiết lắm.  Một ý nghĩ rất sâu của những bàn chân sẽ bước đi rất chơi vơi trong đời.  Sắp chết là Chúa sắp bước những bước chân vô cùng mầu nhiệm.  Ai có thể đi theo những bước chân gian nan khổ nạn ấy?  Phải là những bàn chân được Chúa rửa thì mới có năng lực bước theo Chúa vào khổ nạn được.  Rửa cho rơi đi những ươm hèn, gian dối, nhỏ nhen.  Bàn chân con phải được rửa bằng tình yêu của Chúa để bàn chân ấy có tình yêu thì con mới có thể bước đi trong đời mà không bước sai.

 Vì hệ trọng, nên khi bước, chân phải biết mình đang đi đâu và bước như thế nào.

 Chúa bảo chúng con rửa chân cho nhau.  Bởi, chân nào đi mà không mỏi.  Đường đời dài thăm thẳm.  Lối đi nào mà không nhiều lúc dẵm sang đời nhau.  Chúng con cần nâng đỡ cho đôi chân nghỉ ngơi, cần được nhắc nhở cho đôi chân tỉnh thức, cần thông cảm cho đôi chân khỏi chán nản.

  Lạy Chúa, con phải suy tư như thế nào về bước chân của mình và của người anh em?

 Những người nghèo là người phải đi bộ.  Và đi bộ thường phải đi bên lề đường.  Nếu họ đi bên lề đường chỉ vì nghèo để tránh rộng lối cho con đi, và nếu chỉ vì nghèo mà bước chân bên lề đường ấy làm họ phải bước bên lề cuộc đời thì con nghĩ sao về bước chân của mình.

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, sj.

From: Langthangchieutim


 

NỔI NÓNG VỚI NGƯỜI THÂN!

Xuyên Sơn 

NỔI NÓNG VỚI NGƯỜI THÂN!

TẠI SAO MỌI NGƯỜI CỨ NỔI NÓNG VỚI NGƯỜI THÂN?

Rất nhiều người thường hay nổi nóng với người thân. Khi sự việc qua đi cảm thấy rất khổ tâm nhưng sau đó vẫn lặp đi lặp lại cái vòng luẩn quẩn ấy.

Nguyên do vì sao?

Có lẽ, chính sự bao dung của người thân khiến chúng ta trở nên tùy tiện.

Giả sử chúng ta nổi nóng với người ngoài, ví như sếp, đồng nghiệp hay bè bạn, rất có thể điều đó sẽ hủy hoại mối quan hệ đôi bên.

Còn cha mẹ, anh em thân thích thì không thể vì vài lời nói nóng giận mà từ bỏ chúng ta, biết vậy nên nhiều người chẳng còn kiêng dè gì, gặp chuyện là nổi nóng, không thể nhẫn nại.

Chúng ta biết rằng, dẫu mình nói năng không đủ lễ phép, người thân cũng sẽ không so đo, không để bụng hay trách móc. Dẫu trút giận lên họ, chúng ta vẫn có thể có được sự khoan dung, thấu hiểu, nhẫn nại và vị tha.

Do vậy, khi trò chuyện chúng ta thường vô tình hay cố ý nói năng tùy tiện.

Khi chịu oan ức bên ngoài, chúng ta thường về nhà trút bực dọc cho hả giận.

Trong một môi trường có cảm giác an toàn như vậy, ta rất dễ quên đi cách nói năng cẩn thận, thậm chí còn dùng những lời châm biếm, bẻ cong, khoa trương, hạ thấp người thân.

Ngoài ra, chúng ta thực sự cũng đang kỳ vọng quá nhiều vào người nhà.

Nhiều người cảm thấy rằng “Người khác không hiểu mình thì thôi, sao người thân lại cũng không hiểu mình?“, quả thực là càng nghĩ càng thấy tức giận”.

Nhưng khi tùy tiện trút hết bực bội, ức chế lên đầu người bạn đời, ta có nhìn thấy sự quan tâm khi người ấy lặng lẽ mang tới một ly nước mát?

Khi thấy phiền toái và ngắt lời cha mẹ đang càm ràm vì lo lắng, ta có nhìn thấy bóng cha mẹ im lặng rời đi, một mình âm thầm chịu đựng sự tổn thương trong căn phòng cô liêu?

Cha mẹ không oán, không hận và cho phép ta làm tổn thương họ. Những giây phút quý giá bên những người thân quả thực quá ít ỏi.

Có người tính được rằng thời gian người ta thực sự ở bên chăm sóc cha mẹ bất quá chỉ là vài chục ngày mỗi năm.

Vậy mà có người chẳng hề trân quý nó, sẵn sàng giẫm đạp lên tình yêu thương vô điều kiện kia, dù đôi khi chỉ bằng những câu nói vô tình.

Nếu từng là một người không thể nhẫn nại với người thân như thế, bạn hãy thử dùng 3 cách này để cải thiện tình hình:

  1. Xem xét vấn đề từ một góc độ khác

Mọi người đều mong rằng lý lẽ của cá nhân là đúng và đối phương phải tiếp nhận ý kiến của mình.

Nhưng khi không thể lắng nghe người khác trước, làm sao bạn có thể mong họ lắng nghe mình?

Ngẫm lại, tất cả những lời cằn nhằn, càu nhàu của người thân đều có chung một điểm xuất phát tốt:

Lo lắng cho ta.

Nếu không lo, họ đã chẳng bao giờ phải nhọc lòng đến vậy, dẫu có thể cái cách mà họ lo lắng chưa thật hợp với ta.

Nếu có thể nhìn nhận vấn đề theo góc độ này, bạn sẽ nhẫn nại với người thân của mình hơn, chia sẻ nhiều hơn và giải thích cho họ hiểu rằng không nên quá lo lắng cho mình.

  1. Để cảm xúc qua đi rồi mới bắt đầu câu chuyện

Khi đang giận dữ chúng ta rất khó nói được lý lẽ rõ ràng.

Bởi vậy mà Parkinson, nhà lịch sử học nước Anh và Rustomji, nhà quản lý học, trong cuốn sách có nhan đề “Giỏi thấu hiểu người khác” có nói:

“Khi tranh cãi, hãy nhớ đừng cắt ngang lời người khác, hãy để họ nói xong.

Khiêm nhường, thành khẩn lắng nghe mới có thể dốc lòng với nhau, mới có thể nói được rõ ràng”.

Lại từng nghe:

“Gió yên thì sóng lặng, sóng lặng thì nước trong, nước trong thì có thể nhìn thấy cá bơi lội”.

Đợi khi trời yên biển lặng rồi, câu chuyện nói ra sẽ mới không làm tổn thương tới tình cảm đôi bên.

  1. Ba cách trấn tĩnh khi tức giận

Các nhà tâm lý học phát hiện ra rằng:

Khi tức giận, người ta sẽ xuất hiện hiện tượng “ý thức hẹp hòi”, chỉ nhìn chằm chằm vào những thông tin tiêu cực, không thể xét đoán được sự việc.

Nhưng đến khi sắp không thể khống chế tâm trạng của mình, bạn hãy thử dừng lại, không nói thêm gì nữa, hoặc rời khỏi nơi đó để có thể trấn tĩnh trở lại.

Nghĩa là bạn phải biết tạo cho mình một khoảng không, phải biết lùi bước để giữ lấy sự điềm tĩnh.

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, Lam Điền Hầu từng bị người ta đến nhà mắng nhiếc.

Ông chỉ đứng yên lặng, không nói một lời, mãi tới khi người ấy rời đi, ông mới lại trở vào tiếp tục trở vào làm việc. Như thế ông vừa giữ được tĩnh khí, lại tránh khỏi nóng giận, xích mích với người kia.

Sự nhẫn nhịn như thế quả thực là khó.

Nhà tâm lý học, giáo sư Ollie Ulysses người Mỹ đề xuất ra 3 biện pháp này giúp bạn khống chế cơn tức giận và trấn tĩnh lại:

Hạ thấp giọng xuống;

Nói chậm lại;

Ưỡn ngực đứng thẳng.

Tục ngữ cũng có câu:

“Nhẫn một lúc, tránh lo trăm ngày”, người biết nhẫn nhịn chuyện nhỏ thì mới có thể làm được việc lớn. Cớ sao với người ngoài ta còn có thể giữ được sự tôn trọng đến thế mà ngay người thân sống bên mình ta cứ muốn khiến mọi thứ thêm căng thẳng?

Hãy nhớ rằng, khi nhượng bộ người thân, bạn cũng sẽ không hề mất mặt.

Bởi vì điều đó xuất phát từ tình yêu mà bạn thực sự dành cho họ.

Vậy nên, đừng hay tức giận với người thân rồi lại hối hận và dằn vặt…

Hãy như câu nói rằng:

“Vì yêu thương nên nói năng càng phải cẩn trọng”.

(Nguồn sưu tầm)