Đôi dòng về tạp chí Đại học – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

06/08/2026

Đại học Huế được thành lập và khai giảng vào tháng 9, 1957. Việc thành lập đại học Huế là đáp ứng lại nguyện vọng của các nhân sĩ Huế muốn có một đại học riêng ở miền Trung. TT Ngô Đình Diệm đã nhận lời và mau chóng đáp ứng nguyện vọng ấy vào năm 1957.

Dưới mắt ông Ngô Đình Diệm, việc thành lập Đại học Huế ngay sát nách vùng ranh giới phân chia Nam Bắc qua con sông Bến Hải còn là một thách đố chính trị. Ông muốn chứng tỏ cho phía bên kia Bến Hải là:

Chúng tôi đang có mặt ở đây.

Đại học Huế vì thế sẽ là biểu tượng của miền Nam như một thể chế chính trị-văn hóa- độc lập và dân chủ.

Cái mặt ‘yếu’ của ông Ngô Đình Diệm là ông coi trường Võ Bị Sĩ quan Đà Lạt, Trường Quốc Gia Hành Chánh và trường Đại Học Huế là những con cưng của chế độ. Ông nhìn tương lai chế độ qua ba cách đào tạo đó. Trường Võ bị cung cấp những sĩ quan trẻ, có trình độ văn hóa đại học cho một quân đội hùng mạnh. Trường Hành Chánh đào tạo một lớp cán bộ quản lý, thay chế độ hành chánh phong kiến, quan liêu- một chế độ hành chánh hữu hiệu theo lối Mỹ và trường Đại Học Huế sẽ cung cấp những người trí thức xuất thân từ Huế về đủ các ngành như Đại học sư phạm, luật khoa, văn khoa và y khoa. Người ta thấy được rõ ràng cái điểm yếu của TT Ngô Đình Diệm với sự tự hào và niềm vui sướng rạng rỡ trên khuôn mặt tròn trĩnh của ông trong mỗi dịp chủ tọa lễ tốt nghiệp. Vì thế, ra Huế là ông rẽ sang Đại học xem ông cha Luận mần ăn thế nào.

Niềm tự hào và hoài bão của ông Diệm sau này cả ba đều đạt được như ý nguyện của ông.

Nhưng theo tôi, hơn hết tất cả Đại học Huế đáp ứng khát vọng sâu xa và thầm kín của người dân miền Trung- một phần đất với những người con dân Huế cần cù- hiếu học- và cũng đầy mặc cảm đủ loại với niềm tự hào của ít lắm 100 năm triều Nguyễn.

Mặc cảm ấy đã bị dầy xéo bằng nhiếu cách, nhưng nhục nhã nhất vẫn là việc bôi nhọ Nguyễn Ánh Gia Long.

Về đại học Huế, có lẽ xin mời mọi người đọc bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Trường: Huế -Viện Đại Học, Cha Luận và chúng tôi… trên Khoahoc.net. Một bài viết của một người dân xứ Nam Kỳ, nhận làm con của xứ Huế với những phân tích trung thực với đầy lòng tự hào và cảm mến cha Luận, đại học Huế người dân xứ Huế..rồi cuối cùng cũng đành bỏ Huế mà đi..như chính người dân Huế.
Viện trưởng lúc bấy giờ là một ông linh mục- một sự chọn lựa éo le, khó xử cho dân Huế vốn đa phần theo Phật giáo-.

Tuy nhiên, vị viện trưởng này đã làm chuyện mà giả sử vào tay người khác- một thứ viện trưởng công chức- thì vị tất đã được như vậy.

Khả năng chính của cha Luận là thu hút được nhân tài từ nhiều nguồn, nhiều phia, từ trong nước đến ngoại quốc về giúp giảng dạy ở đại học Huế.

Cha Cao Văn Luận đã sống trải qua những thời vinh quang và thử thách và cuối cùng cũng  đành bỏ ra đi.. Trách ai bây giờ. Và trách để làm gì.

Ông là người ngay từ trước khi đại học Huế được thành lập đã có kế hoạch trồng người bằng cách gửi các sinh viên ưu tú đi du học. Nay là lúc ông kéo về đoàn tụ dưới mái trường đại học Huế.

Việc thiết lập đại học Huế, tuy vậy, đã bị các thành phần trí thức giảng dậy ở Sài Gòn phản đối dữ dội, chê bai đủ thứ..Đặc biệt là trường Y Khoa Saigon.. Vì họ cho rằng Huế không có đủ khả năng chuyên môn, giáo sư không đủ học vị và nhất là giảng dạy bằng tiếng Việt..

Trong tất cả sự phản đối ấy đều đúng hết chứ không phải sai, nhưng người ta vẫn còn có thể cho thấy lé loi đằng sau các phản đối ấy sự hẹp hòi, sự đố kỵ và sự khinh miệt.

Nhưng giáo dục là đường dài, liệu cơm gắm mắm, có ai hoàn hảo từ lúc khởi đầu. Tự nó đại học Huế được chứng minh cho thấy sau này nó phát triển và trưởng thành về mọi mặt.

Trong số những  người từ Sài gòn ra giảng dậy lúc bấy giờ chính thức tại Huế chỉ có hai người. Nguyễn Văn Trung phụ trách môn Triết. Và Nguyễn Văn Trường, dạy toán. Họ đều là những người trẻ thiếu đủ mọi thứ kinh nghiệm mà học vị cũng như khả năng chuyên môn chẳng có thể so sánh với ai, trừ so sánh với chính họ.

Và cứ như thế mà họ lớn lên cùng với đại học Huế.

Sau đó, theo lời giáo sư Trung cho biết, ông đã đề nghị cha Luận cho xuất bản tờ Đại Học- một tờ tập san duy nhất mà ngay ở Sài Gòn cũng chưa có được-.
Cha Luận đồng ý ngay. Khoán trắng theo nghĩa muốn làm gì thì làm, miễn là đem lại lợi ích và danh thơm cho đại học Huế. Và thế là tờ Đại Học ra đời, xuất bản hàng tháng. Tờ báo Đại Học Huế có thể nói mang tầm vóc đại Học Huế trang trải ra khắp nơi.

Chữ Đại học ở đây không mang ý nghĩa một tập san chuyên môn của một chuyên khoa đại học. Nó chỉ có ý nghĩa là một tập san do một viện đại học xuất bản và trong đó có đủ mọi lãnh vực. Nó đã gây được sự chú ý và tiếng vang và chỉ vài tháng sau thì đã có đủ số độc giả để tự túc về tái chánh..Sau này, ông đại sứ Ngô Đình Luyện đã tặng Đai học Huế một máy in và từ đó không còn phải in ở nhà in Nam Sơn Sài gòn nữa.

Tôi đã đọc tỉ mỉ danh sách các vị độc giả ở Huế mua báo dài hạn. Một lần cám ơn các độc giả ấy mà không tiện nêu ra danh tánh ở đây
Mục đích của tờ Đại Học là một sứ mệnh văn hóa.

Tờ Đại Học muốn chứng tỏ cho mọi người thấy đại học không phải là một môi trường khép kín. Tự trị đại học không có nghĩa đóng cửa. Nhưng tự trị về mặt quản lý còn những mặt khác mở tung cửa ra cho mọi thành phần. Đại học là môi trường thuận tiện cho mọi khuynh hướng, mọi ý kiến, mọi quan điểm có quyền phát biểu trình bầy và bảo vệ quan điểm của mình.

Đó là một nền văn hóa mang tính đại chúng!!

Và để thực hiện được điều ấy tờ Đại học cổ súy việc dùng tiếng Việt trong việc giảng dạy bất kể những khó khăn ban đầu về danh từ.

Tờ Đại học ra đời là nhằm đạt các mục tiêu vừa nêu trên.. Trong suốt  6 năm trời, tờ Đại học đã đồng hành và phát triển cùng với sự phát triển của đại học. Tờ báo với số báo đầu tiên, tháng 2-1958 và chấm dứt khi chế độ đệ nhất cộng hòa miền Nam sụp đổ sau vài tháng.

Có tất cả hơn 300 bài viết nghiên cứu về triết học, sử học, địa lý, luật học, ngôn ngữ học, ngữ pháp học, văn học và cả  ngành y khoa.. trong khoảng 4000 trang tài liệu.

Số phận của nó liên quan đến số phận chính trị miền Nam những năm đó..Thật rất tiếc sứ mệnh văn hóa đã bị đánh đồng với số phận chính trị.

Trong suốt những năm tháng ấy, có hai đời chủ bút. Từ 1958 đến 1962 do gs Nguyễn Văn Trung chủ trương. Vì những lý do chính trị, gs Nguyễn Văn Trung bắt buộc phải rời bỏ Huế vào Sài gòn dạy Văn Khoa Sài Gòn theo lệnh của Bộ trưởng giáo dục Sài Gòn. Sau đó được giáo sư Trần Văn Toàn tiếp tục công việc cho đến lúc tình hình chính trị miền Trung sôi động, bất ổn vào tháng sáu, năm 1964..

Tờ báo tự đóng cửa một cách thầm lặng, không một lời chia tay độc giả. Như một sản phẩm dư thừa của nền đệ nhất cộng hòa.

Thôi thì nó cũng đã làm tròn nhiệm vụ, là tiếng nói của một thời kỳ của một miền Nam thân yêu.

Ngày hôm nay, thay mặt giáo sư Nguyễn Văn Trung vì lý do sức khỏe đã mong tôi tôi đứng ra phục hoạt lại các số báo đại học cũ nay đang rơi vào tình trạng có nguy cơ mục nát, mối mọt sau hơn nửa thế kỷ. Nói đúng ra vừa tròn 56 năm kể từ số đầu tiên. Nhiều trang báo nay phải chụp lại bằng tay từng trang một vì tình trạng mục nát của nó. Nếu cứ để tình trạng này trong một thời gian nửa có nguy cơ tiêu tán hết.

Nghĩ tới những trang báo Nam Phong, Tập san sử địa, Tri Tân, BAVH và Phong Hóa đã được phục hoạt mà tôi làm công việc này.

Tôi cũng nghĩ tới số phận những đứa con rơi như Đông Dương tạp Chí không người trách nhiệm, không có con cháu, không hậu duệ, không cơ quan tài trợ mà ngày nay chúng ta không được cái may mắn tìm đọc học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Đọc Phạm Quỳnh mà không đọc Nguyễn Văn Vĩnh là thiếu một nửa.

Và trong nay mai, sẽ có cuộc Hội Thảo Văn Học miền Nam tại Nam Cali, người ta sẽ nói gì về Huế nếu thiếu cái mảng văn học của tạp chí Đại Học. Sẽ lại xảy ra cái nạn con yêu, con rơi, con ghét..Hy vọng Huế không rơi vào số phận văn hóa miệt vườn trước đây.

Nhưng muốn được người ta nói đến thì phải có hàng. Ít là như vậy.

Tôi nghĩ đây chẳng những là một gia tài của viện Đại hoc Huế, của người dân xứ Huế mà còn là một di sản tinh thần, vốn văn hóa của cả miền Nam thần yêu của chúng ta. Tôi cũng nghĩ đây là dịp để các cựu sinh viên đại học Huế đủ các phân khoa tìm về kỷ niệm thời đi học của mình qua tờ Đại Học và để tạo dịp ngồi lại với nhau

Nó không là của ai cả. Nó là của cả miền Nam!!

Thay mặt giáo sư Nguyễn Văn Trung, giáo sư Trần Văn Toàn, tôi làm công việc này.

Và một cách nào đó, tưởng niệm và tri ân cha viện trưởng Cao Văn Luận.

Tôi vẫn tự hỏi, nếu không có cha Luận thì viện đại học Huế sẽ như thế nào. Lớp bụi thời gian, lịch sử Huế với nhiều biến động nay đã phải là lúc người ta cần ngồi lại với nhau để nhìn nhận ra chính mình.

Cũng nhân tiện đây, tôi xin nêu tên một số tác giả đã cộng tác với tờ Đai Học mà nay hầu hết đã qua đời..như giáo sư Nguyễn Phương, giáo sư Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa), gs Hoàng Xuân Hãn, gs Bửu Hội, gs Bửu Kế, Olov R.T Janse, gsNguyễn Khắc Hoạch, gsLê Tôn Nghiêm, gs Cung Giữ Nguyên, bs Lê Khắc Quyến và Dương Đăng Bảng,gs Nguyễn Toại, R.P Rietsch ,gs Lê Ngọc Trụ,  linh mục Lê Văn Lý, linh mục Cao Văn Luận, bsNguyễn Văn Thọ, gsNguyễn Đăng Thục, ls Lê Tài Triển, gs Bùi Quang Tung, gs Nguyễn Bạt Tụy, lm Thanh Lãng, giáo sư Nguyễn Nam Châu, lm Nguyễn Văn Thích, lm Đỗ Minh Vọng, giáo sư dược khoa Đặng Vũ Biền, học giả Trương văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, giáo sư Trần Thái Đỉnh, giáo sư P. Đỗ Đình, giáo sư Bửu Dưỡng, lm Nguyễn Huy Lịch, giáo sư Phạm Việt Tuyền..

Còn một số các vị giáo sư khác cộng tác mà chúng tôi không được biết sự sống chết hiện nay như thế nào nên không tiện nêu tên.

Và cũng nhân tiện đây tri ân những vị có thể đang còn tại thế gian này như Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, giáo sư Tôn Thất Hanh, Donoghue, giáo sư Huỳnh Văn Lang, gs Trương Bửu Lâm, giáo sư Lê Tuyên, giáo sư Vũ Quốc Thúc, giáo sư Lý Chánh Trung, giáo sư Trần Văn Toàn và cuối cùng là giáo sư Nguyễn Văn Trường.

Chúng tôi sẽ nhân một cơ hội thuận tiện và thực tế sau khi biên soạn và thuê tiệm in phục hoạt lại các trang báo cũ, tôi đã mau chóng đưa lên mạng dcvonline.net để bất cứ ai muốn tim đọc, in chép, nghiên cứu, sao chụp đều có thể dễ dáng truy cập..

Người trách nhiệm phục hoạt tờ Đại Học.


 

BÀI THI CỦA BÀ GIÁO O’NEILL-Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Các Kitô hữu có bổn phận giúp đỡ anh chị em mình làm điều thiện.”

 Một phụ nữ làm việc ở nhà hàng tiếng tăm nọ từng tuyên bố không theo tôn giáo nào cả, bà nói với một vị linh mục: “Thưa cha, tôi không muốn làm cha thất vọng, nhưng trong số kẻ bê bối nhất tôi từng gặp trong nghề nghiệp của tôi lại có những Kitô hữu rất siêng năng đi nhà thờ.”

Linh mục đáp lại: “Ðúng vậy, trong số các Kitô hữu, không may vẫn có những người tồi tệ, không khác gì trong số những người ngoài cũng có những người tồi tệ như vậy.”

 Người phụ nữ đáp lời: “Thưa cha, thế thì không phải các Kitô hữu vẫn được xem là đặc biệt hơn sao?”

 Vị linh mục buồn bã nhìn bà ta nói: “Ðúng thế, đúng thế, họ được xem là phải sống tốt hơn!”

 Cuộc đàm thoại trên hẳn khiến anh chị em ngạc nhiên.  Các Kitô hữu thường xuyên đi nhà thờ hẳn khác hơn những kẻ không đi nhà thờ chứ?  Chúng ta hãy xem xét ba trường hợp sau:

 Một người bán vé xe đưa đón ở phi trường nói với một ông bố: “Thưa ông, con trai ông có vẻ trẻ hơn tuổi của nó: ông nên mua nửa vé thôi.  Nếu tài xế có hỏi, ông cứ nói là thằng bé dưới 12 tuổi.  Như thế ông sẽ đỡ tốn vài đola!”  Giả sử anh chị em là ông bố ấy, anh chị em sẽ trả lời người bán vé thế nào? 

 Rồi một trường hợp khác.  Một bà mẹ bắt gặp đứa con gái 5 tuổi của mình cầm một cây kẹo mà nó ăn cắp sau khi từ siêu thị đi ra.  Giả sử anh chị em là bà mẹ ấy, anh chị em sẽ làm gì?

 Và đây trường hợp sau cùng.  Giả sử bạn nghe đứa bạn thân nhất của con bạn nói với nó: “Nếu mày cần hỏi bất cứ câu gì trong kỳ thi toán, mày cứ ra dấu cho tao.”  Ðặt trường hợp thằng bé ấy là con của anh chị em, thì anh chị em sẽ cứ tiếp tục đọc báo hay sẽ đặt báo xuống và nói chuyện với cả hai cậu bé?

 Tôi không biết anh chị em sẽ xử lý thế nào trong những trường hợp như thế, nhưng tôi biết rõ Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào.  Câu trả lời ấy được tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.  Cả ba bài đều tập trung vào bổn phận hỗ tương của người Kitô hữu phải có đối với nhau.  Các Kitô hữu không chỉ phải làm điều thiện mà còn phải giúp đỡ kẻ khác làm điều thiện nữa.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Các con là muối đất… các con là ánh sáng thế gian…  Ánh sáng các con phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ” (Mt 5 : 13-16).

 Chúng ta hãy trở lại với ba trường hợp trên.  Câu trả lời của người Kitô hữu đối với từng trường hợp trên như thế nào?  Một kẻ theo Chúa Giêsu sẽ nói gì với người bán vé xe là kẻ đã nói với ông bố nọ: “Ông cứ nói với tài xế xe là thằng bé con ông dưới 12 tuổi?”  Trường hợp này thực sự đã xảy ra ở Chicago.  Ông bố ấy đã trả lời làm sao?  Ông ta bảo với người bán “Tôi rất trân trọng hảo ý của ông, nhưng tôi muốn con tôi thành thật dù điều đó gây bất lợi cho nó.”  Còn bà mẹ bắt gặp đứa con gái của mình ăn cắp cây kẹo đã xử lý như thế nào?  Ðây cũng là một câu chuyện có thực đã xảy ra.  Tác giả bài viết trong tờ báo Dallas Morning News (Tin tức Dallas buổi sáng) khi thuật lại câu chuyện trên đã nói rằng bà mẹ nọ đã bảo đứa bé trả lại cây kẹo cho vị quản đốc, và ông này nói: “Ôi đừng lo gì chuyện đó.  Nó có đáng gì đâu.  Mỗi ngày, đám nhân viên của tôi ăn cắp nhiều hơn thế nhiều!”

 Như tác giả bài viết kể lại, đây thực là một câu trả lời khó tin nổi.  Viên quản đốc đã gây cho cháu bé ấn tượng ăn cắp không quan trọng gì nếu chỉ là vật nhỏ mọn.  Thực sự dù là ăn cắp vật lớn hay nhỏ thế nào đi nữa thì ăn cắp vẫn luôn là điều xấu.

 Và cuối cùng hãy xét đến trường hợp thằng bạn của đứa con trai chúng ta đồng ý gian lận để giúp đỡ con mình trong bài thi toán.  Jerome Weidman, tác giả cuốn “Hand of the Hunter” (Tay người thợ săn) khi còn bé đã từng can dự vào một trường hợp như trên.  Ông kể lại cách đây 30 năm, ông vào học ở một trường công Nữu Ước.  Bà giáo dạy toán lớp ba của ông tên là bà O’ Neill.  Ngày nọ bà ra cho lớp một bài thi.  Khi chấm bài bà nhận ra 12 cậu trai đã trả lời sai một cách giống y như nhau đối với cùng một câu hỏi.  Qua ngày sau, bà yêu cầu 12 cậu bé ấy ở lại lớp sau khi tan học.  Sau đó, không hề kết tội đứa nào, bà chỉ viết lên trên bảng câu này: “Tính chân thực của một người được thể hiện trong những điều mà kẻ ấy sẽ làm dù biết rằng không bị ai bắt gặp.”  Ðoạn bà ghi tên tác giả câu nói trên: Thomas Babington Macaulay.  Weidman viết: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ có một đứa trong số đó là chính tôi, có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 Như thế chúng ta đã thấy ba mẫu người Kitô giáo xử lý như thế nào trong ba trường hợp khác nhau trên.  Ba Kitô hữu này đã lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu dạy phải giúp đỡ anh chị em sống cuộc sống Kitô hữu.  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp nhận lời Chúa Phán với Êdekien trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nếu… ngươi không răn dạy kẻ xấu thay đổi cách ăn ở của nó thì Ta sẽ qui trách nhiệm cho ngươi.”  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời thánh Phaolô gởi tín hữu Roma trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Nếu anh em yêu mến kẻ nào, anh em sẽ không bao giờ làm hại kẻ ấy.”  Và cuối cùng, ba Kitô hữu nầy cũng đã nghiêm chỉnh tuân theo lời Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay: “Nếu anh em ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đến gặp nó và chỉ cho nó biết lỗi lầm của nó.  Tuy nhiên phải làm điều ấy một cách âm thầm giữa ngươi và nó thôi.” 

Như thế ba Kitô hữu nêu trên đã gây ấn tượng như thế nào cho những người nghe họ nói?  Tôi xin được lập lại điều Jerome Weidman đã nói: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ biết một đứa trong số đó là chính tôi, thì tôi có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 Edmund Burke nói: “Chỉ cần những người tốt cứ giữ yên lặng, là điều xấu sẽ phát triển ngay.”

 Trong những trường hợp trên, ba Kitô hữu nọ đã không giữ yên lặng.  Họ mời gọi chúng ta noi gương họ.

 Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

 Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con ghi lòng tạc dạ những lời Chúa kêu gọi chúng con đi theo làm môn đệ Ngài:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được.  Nó chẳng còn ích gì chỉ đáng quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp lên đó.  Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được.  Không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn để soi cho mọi người trong nhà.  Cũng thế, ánh sáng các con phải toả chiếu trước mặt mọi người để họ trông thấy việc các con làm mà ngợi khen Cha các con, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 5: 13-16).

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC CẢ – BỎ CẢ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người!”.

“Trời là của tôi, đất là của tôi; mọi sự là của tôi, vì Đức Kitô là của tôi và hoàn toàn cho tôi!” – Gioan Thánh Giá.

Kính thưa Anh Chị em,

Khi Đức Kitô là của mình và hoàn toàn cho mình, người ta không còn sợ mất điều gì. Phêrô vừa được cả một mẻ cá, lại bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu – ‘được cả, bỏ cả’.

Sau một đêm trắng tay, Phêrô vừa có mẻ cá lớn nhất đời mình: lưới gần rách, thuyền gần chìm, bạn chài phải đến trợ giúp. Vậy mà khi vào bờ, họ “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Bản Hy Lạp viết panta – “tất cả”. Chính lúc có nhiều để giữ, chữ “tất cả” mới cho thấy sức nặng của nó. Họ không bỏ một đêm thất bại, nhưng bỏ buổi sáng thành công nhất; không rời thuyền rỗng, nhưng rời thuyền đầy. Hoá ra, lưới trống thử lòng tin; lưới đầy thử tự do.

Điều gì khiến Phêrô có thể bỏ như thế? Trước mẻ cá, ông gọi Chúa Giêsu là “Thầy”; sau mẻ cá, ông quỳ xuống thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Cá nhiều không làm Phêrô mờ mắt; nó làm mắt ông sáng ra để nhận biết Đấng đang ở trong thuyền. Mẻ cá đầy thuyền vẫn quý; Đấng làm đầy đời ông còn quý hơn. “Ai có Thiên Chúa thì chẳng thiếu gì; một mình Thiên Chúa là đủ!” – Têrêxa Avila.

Chữ “tất cả” trở lại trong thư Phaolô: “Tất cả đều thuộc về anh em”, từ thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại đến tương lai. Nhưng đỉnh cao không nằm ở chỗ chúng ta có tất cả, mà ở chỗ “anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa”. Thánh Vịnh đáp ca đưa trật tự ấy về tận nguồn: “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài!”. Khi biết mình thuộc về Đức Kitô, chúng ta có thể nhận mà không chiếm giữ, sử dụng mà không lệ thuộc, trao lại mà không thấy mình nghèo đi. Phêrô bỏ điều thuộc về ông để đi theo Đấng mà chính ông thuộc về.

Phần chúng ta, thường xin Chúa cho lưới đầy, nhưng ít khi xin đủ tự do trước một mẻ cá lớn. Không phải ai cũng được gọi bỏ nghề, rời nhà hay trao lại công việc; nhưng ai cũng được gọi sống sao để những gì đang có không trở thành sợi dây buộc mình. Tự do không phải là không có gì trong tay; tự do là có thể mở tay khi Chúa gọi.

Anh Chị em,

Nghe Phêrô thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”, Chúa Giêsu làm điều ngược lại. Ngài đến gần và trao cho ông một tương lai: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta!”. Trên thập giá, Đức Kitô đến gần nhân loại hơn bao giờ hết, không để kể tội, nhưng để tha tội và thu phục lòng người. Phục Sinh cho thấy Ngài không lấy đi tất cả, nhưng trao chính mình cho từng người. “Không dại gì khi trao điều không thể giữ để nhận điều không thể mất!” – Jim Elliot. Phêrô bỏ lại tất cả không phải để trắng tay, nhưng để bước theo Đấng sẽ trở thành Tất Cả cho đời mình – ‘được cả, bỏ cả’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi lưới con trống, cho con biết tin; khi lưới con đầy, cho con tự do; và khi Chúa gọi, cho con dám bỏ cả mà theo Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

HẬU QUẢ CỦA LÒNG THAM VÀ SỰ KIÊU NGẠO!

Tran Quang

HẬU QUẢ CỦA LÒNG THAM VÀ SỰ KIÊU NGẠO!

Manisha-chan được moi lên từ đống đổ nát của trận lũ khủng khiếp do băng vỡ tại Nepal sau 60 giờ kể từ khi thảm họa xảy ra. Đó là một điều kỳ diệu, nhưng cũng thể hiện những đổ vỡ ở tận bên trong thẳm sâu của tâm hồn người dân nơi đây, chỉ khi bạn nhìn vào ánh mắt trong veo của cô bé giữa bùn lầy. Các nền văn hóa và kinh tế ở vùng núi cao, ví dụ như thuộc dãy Alps của Châu Âu, ven dãy Himalayas, vùng cao nguyên Andes… đang gánh chịu nhiều hậu quả lớn lao, cả về mặt thảm họa lẫn tình trạng cạn kiệt nguồn nước từ hiện tượng băng tan.

Thiên nhiên đã mất hàng trăm nghìn đến hàng triệu năm để thiết lập các chu trình luân chuyển của nước cân bằng, mà loài người được hưởng lợi và phát triển nền văn minh của mình dễ dàng trong vài trăm năm qua.

Nhưng với lòng tham và sự kiêu ngạo, chính con người đã phá vỡ chu trình thủy văn đó. Họ xả thải, nâng nền nhiệt trung bình toàn cầu lên những mức sốt nóng hơn. Họ phá rừng, triệt tiêu lực cản dòng lũ, cũng như khả năng thẩm thấu và bơm nước vào bầu trời từ lớp thực bì rừng nguyên sinh. Họ chặn dòng nước bằng các thủy điện khổng lồ, chỉnh dòng, đào sông, lấp biển, mừng rỡ ra mặt vì những thành tựu ấy. Họ tự úp lên đầu mình những lớp khí nhà kính đến từ nền công nghiệp sản xuất hàng hóa xa xỉ và lối sống tiêu thụ hàng loạt, gây ra các đợt hầm nóng từ vòm nhiệt.

Thế rồi, các sông băng vĩ đại trên vùng núi cao có từ hàng nghìn năm trước cũng phải buông mình chịu thua trước nền nhiệt ngày càng tăng cao. Mùa đông tuyết rơi cũng giảm đi nhiều hơn trước. Mạch dẫn của chu trình nước từ trời kết thành băng tuyết không còn như xưa nữa. Băng vĩnh cửu đang không còn có thể tồn tại mãi mãi được nữa. Chúng bị đứt gãy, rạn nứt, bị đục rỗng ruột vì nước ấm, rồi sụp đổ bất ngờ. Các trận mưa ở cả vùng cực và vành đai ôn đới cận cực cũng nhiều hơn trước.

Bầu khí quyển ấm hơn nên tích nhiều hơi ẩm hơn trước, đưa nhiệt ẩm đi xa hơn về hai cực. Đó là điều đương nhiên, vì nền nhiệt càng ấm trên một hành tinh nước sẽ đưa đến tình trạng ẩm và nóng hầm kéo dài và lan xa hơn bình thường. Không chỉ khu vực nhiệt đới phải đối mặt với những trận mưa xối xả, mà ngay cả những nơi như Châu Âu, Nga, Hoa Kỳ, Canada… đã bắt đầu chứng kiến lượng mưa đột biến. Thiên nhiên đang lập lại thế cân bằng mới về nước, thay thế các chu trình ngày xưa bằng một thời kỳ mới, nơi băng giá, mực nước biển, lượng mưa thủy văn, phạm vi tác động trên các vĩ độ và độ cao địa hình hoàn toàn khác trước.

Nhưng loài người không hiểu điều đó. Người ta gọi đó là sự hỗn loạn của thời tiết và khí hậu “biến đổi”. Chỉ những nhà khoa học về khí tượng và môi trường như chúng tôi mới hiểu được nguyên nhân từ đâu và có tầm nhìn lớn về toàn cảnh vấn đề, cũng như điều cuối cùng mà chủng loài người sẽ gánh chịu.

Trời đất này sao không biến đổi được, khi mà lòng người và tâm địa con người đã biến đổi trước từ rất lâu. Những gì đang xảy ra trên thế giới này đều là phản ánh chính xác từ trong lòng con người mà ra, từ mánh mung chứng khoán, tham vọng chinh phục vũ trụ, các siêu đô thị chọc trời, tỷ phú nghìn tỷ đô la, cho đến những bãi rác khổng lồ, các chuyến bay bị rung lắc vì nhiễu động khí quyển, các cuộc chiến tranh, rừng cháy, nóc nhà thế giới Himalaya bắt đầu rung chuyển, lũ quét lịch sử, mưa bão lũ dồn dập.

Thiên nhiên luôn biết phản ứng và cân bằng cho đúng và phù hợp với những thứ loài người đang tạo ra, như một quy luật của TẠO NHÂN và TRẢ NGHIỆP. Và đó là một quy luật CÔNG BẰNG đối với những gì con người đã gây ra cho hành tinh Trái Đất – cái nôi duy nhất sinh ra giống loài “thông minh và khôn lỏi đột biến” này.

Vâng, đối với Trái Đất và hệ sinh thái sự sống của nó – bao gồm chu trình luân chuyển của Nước, đây là sự công bằng và là chu trình tái thiết lập các điều kiện sống cân bằng mới. Nhưng khi nhìn sâu vào từ quốc gia, dân tộc, vùng dân cư sinh sống, điều bất công đang nổi lên rõ mồn một.

Nepal là một đất nước chỉ đóng góp khoảng 0,1% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, vì là một trong những quốc gia kém phát triển nhất thế giới, với khoảng một phần tư dân số sống dưới mức nghèo khổ. Gần 46% diện tích đất nước Nepal được rừng che phủ. Khoảng 94% công suất điện lắp đặt của Nepal đến từ thủy điện, chứ không phải nhiệt điện than đá. Nepal có tiềm năng đáng kể trong việc khai thác thủy điện, với công suất khả thi thương mại ước tính 42.000 MW.

Nepal và Ấn Độ đã ký các hiệp định thương mại và đầu tư vào năm 2014 nhằm gia tăng tiềm năng thủy điện của Nepal, nhưng bất ổn chính trị và môi trường kinh doanh khó khăn đã cản trở đầu tư nước ngoài. Nepal phụ thuộc nặng nề vào kiều hối, lên tới khoảng 30% GDP. Nông nghiệp là trụ cột của nền kinh tế, tạo sinh kế cho gần hai phần ba dân số nhưng chỉ chiếm một phần ba GDP. Hoạt động công nghiệp chủ yếu liên quan đến chế biến nông sản, bao gồm các loại đậu, đay, mía, thuốc lá và ngũ cốc.

Một phần nền kinh tế nhỏ bé của Nepal cũng đến từ nguồn khách du lịch leo núi chinh phục đỉnh Everest theo các Shepa địa phương dẫn đường – mà qua đó cũng xả rác đầy trên đỉnh núi này (chúng tôi thấy có nhiều bạn leo núi khoe rằng đã chinh phục nóc nhà của thế giới qua các tấm ảnh selfie, nhưng giá như họ nhận ra cái giá phải trả cho chặng đường chứng tỏ cái tôi ngạo mạn của con người lượng rác và xác chết bị bỏ lại tại vùng núi này trong quá trình chinh phục Everest).

Du lịch là nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của Nepal. Du lịch đóng góp khoảng 6,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước này. Năm 2025, Nepal đã đón 11.584.589 lượt khách du lịch, xếp thứ 147 toàn cầu về số lượng khách du lịch. Là nơi có tám trong số mười ngọn núi cao nhất thế giới, Nepal trở thành điểm đến của những người leo núi, những người leo vách đá và những bạn ưa mạo hiểm.

Vậy mà ngày hôm nay, người dân Nepal đang bới bùn, lần tìm dưới sông và chờ đợi bên điện thoại để nghe tên của những người thân yêu được điểm danh còn sống hay đã chết. Người dân tụ tập bên ngoài khu khám nghiệm tử thi của Học viện Y khoa Maharajgunj khi các tấm áp phích ghi thông tin các nạn nhân lũ lụt được dán tại nhà xác bệnh viện.

Các gia đình vẫn đang tiếp tục tìm kiếm người thân sau trận lũ tàn khốc, khiến khung cảnh bên ngoài bệnh viện càng trở nên đau đớn và xót xa vô cùng. Chính phủ Nepal đã bắt đầu chôn cất nạn nhân của trận lũ tuần trước tại các khu mộ tập thể sau khi những nhà xác hết chỗ để lưu giữ những thi thể đang phân hủy. Nhiệt độ ẩm ướt đang đẩy nhanh quá trình phân hủy, chính quyền địa phương cho biết họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chôn cất các thi thể trước khi được nhận dạng.

Hiện đã biết được hơn 919 người thiệt mạng và 4.793 người còn mất tích ở cả hai bên biên giới Nepal – Tây Tạng/Trung Quốc. Tại Tây Tạng, Tân Hoa Xã Trung Quốc báo cáo 16 người thiệt mạng và 546 người mất tích. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất điện độc lập Nepal, 934 công nhân vẫn chưa rõ tung tích tại 11 dự án thủy điện trong vùng lũ. 361 người đã được giải cứu cho đến nay. Các đội cứu hộ đang bơm không khí vào một đường hầm bị chôn vùi tại dự án thủy điện Trishuli-3A và khoan các lỗ khoan, hy vọng tiếp cận được bất kỳ ai còn mắc kẹt bên trong. Những hình ảnh kinh hoàng từ biên giới Ấn Độ – Nepal cho thấy người dân địa phương gần sông Gandak kể lại rằng thi thể các nạn nhân lũ lụt Nepal hiện đang bị dòng nước hung dữ cuốn trôi sang Ấn Độ. Một số người dân đã chứng kiến 50–100 thi thể trôi trên sông mỗi giờ. Hãy tưởng tượng nỗi kinh hoàng: nhiều người trong số những cái chết này có thể sẽ không bao giờ được tính vào con số chính thức, và vô số gia đình có thể không bao giờ biết được tung tích người thân của mình.

Trận lũ quét Bhote Koshi đã cho chúng ta thấy ý nghĩa của việc sống bên dưới một tầng băng quyển đang thay đổi nhanh chóng. Các sông băng đang lùi dần, những ngọn núi băng giá của dãy Himalayas ngày càng trở nên bất ổn, và những dòng sông tạo ra nguồn điện sạch cho Nepal cũng có thể mang theo sự hủy diệt ập xuống các cộng đồng ở phía dưới thung lũng. Sự rung chuyển và đổ vỡ đang dần tạo ra nhiều bất ổn mới.

Vì vậy, giờ đây từ dãy Himalaya, chúng ta nên tự hỏi: bao nhiêu thi thể trên dãy Himalaya nữa mới là đủ? Bao nhiêu người mẹ phải chờ đợi những đứa con không bao giờ trở về? Bao nhiêu ngôi làng phải biến mất trước khi “công lý khí hậu” trở thành điều gì đó thực tế hơn là một bài phát biểu đãi bôi tại một hội nghị về biến đổi khí hậu khác tại Liên Hợp Quốc? Có lẽ chỉ vài tháng nữa, bạn sẽ quên mất ánh mắt của cô bé Manisha-chan này, khi vui vẻ bước lên một chuyến bay du lịch vi vu đi khắp thế giới. Bạn sẽ lao vào các phi vụ xây cất, đầu tư siêu đô thị lấn biển. Bạn sẽ vui mừng thốt lên khi một cánh rừng bị chặt bỏ để lập khu du lịch và kiếm được nhiều việc làm cho dân địa phương. Bạn sẽ điên cuồng đua theo các chỉ số chứng khoán, lượng tăng trưởng hàng hóa và các mức lợi nhuận thu được. Nhưng rồi một ngày nào đó, tai họa sẽ ập đến theo kiểu đột ngột và khủng khiếp vì những việc bạn (và hàng tỷ người khác) đã làm sẽ tạo ra tiếng vang và áp lực dội ngược vào thế giới tự nhiên, qua siêu bão, hạn hán, mưa xối xả, sốc nóng, mực nước biển dâng…

Từ hàng trăm năm trước, người Nepal trước đây cũng nghĩ rằng, việc họ sinh ra và được sống dưới chân dãy Himalayas là một đặc ân, không phải là bản án tử hình. Họ có nguồn nước dồi dào từ các mùa băng tan đều đặn, có địa hình dốc đứng để khai thác thủy điện. Họ chào đón các chuyến bay đưa khách du lịch leo núi đến để phục vụ và làm thỏa mãn ước vọng chinh phục nóc nhà thế giới. Ai cũng vui vẻ khi đón khách nước ngoài. Ai cũng nghĩ hy sinh thế giới tự nhiên này một chút cũng chẳng gây ra vấn đề gì… cho đến khi những đợt sóng băng bùn đổ xuống từ trời.

Chúng tôi nghĩ sẽ cần thêm nhiều thảm họa khác, nhiều nạn nhân mới, nhiều biến cố kinh thiên động địa khác xảy ra trên toàn cầu, thì con người mới hiểu được hậu quả của lòng tham và sự kiêu ngạo. Nhưng khi đó thì đã trễ rồi. Người ta sẽ chỉ biết xót thương khi đếm các tử thi, chứng kiến các hậu quả thảm khốc, và thở dài.

#hanhtinhtitanic 

NGÔ THUỴ MIÊN Và bóng hồng trong ca khúc.

Xuyên Sơn

 NGÔ THUỴ MIÊN

Và bóng hồng trong ca khúc.

https://youtu.be/xXPbU91lPKQ

Âm nhạc của Ngô Thụy Miên không còn xa lạ với công chúng, nhưng cuộc đời của Ngô Thụy Miên lại chẳng mấy người yêu nhạc tường tận.

Có lẽ bởi vì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên ít hứng thú với đám đông.

Vì vậy, cũng ít ai biết được, nguồn cảm hứng lớn nhất trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Thụy Miên chính là người vợ thủy chung

Đoàn Thanh Vân!

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh năm 1948 tại Hải Phòng.

Khi được 6 tuổi, cả gia đình Ngô Thụy Miên chuyển vào Sài Gòn định cư.

Hiệu sách Thanh Bình của người cha, đã khơi dậy và nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật đối với Ngô Thụy Miên.

Sau một thời gian theo học nhạc với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt và nhạc sĩ Hùng Lân, chàng trai Ngô Quang Bình dùng bút danh Đông Quân để tập tành sáng tác.

Sau một thời gian, bút danh Đông Quân được đổi thành bút danh Ngô Thụy Miên.

Cơ duyên nào để Ngô Thụy Miên viết tình ca?

Đó là bóng hồng Đoàn Thanh Vân, mà Ngô Thụy Miên hạnh ngộ ở

Trường Âm nhạc Sài Gòn.

Người đẹp Đoàn Thanh Vân là con gái của tài tử Đoàn Châu Mậu nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn thập niên 1960.

Hình ảnh Đoàn Thanh Vân đã khiến trái tim Ngô Thụy Miên rung động, và chàng trai 17 tuổi đã viết ca khúc đầu tay “Chiều Nay Không Có Em” thay cho lời tỏ tình:

“Không có em đời mình, sao vắng vui

Cuộc tình như lá khô mộng mơ cơn mê chiều

Không có em đôi mắt buồn nào đợi chờ/

Xin cho nhau lời vỗ về, sao đành quên đi ngày tháng đó”.

Bắt đầu hẹn hò với Đoàn Thanh Vân, Ngô Thụy Miên viết tiếp ca khúc

“Mùa Thu Cho Em”

rạo rực:

“Nắng úa dệt mi em

Và mây xanh thay tóc rối

Nhạt môi môi em thơm nồng

Tình yêu vương vương má hồng

Sẽ hát bài cho em, và ru em yên giấc tối

Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi

Chờ em, anh nghe mùa thu tới”.

Ngô Thụy Miên rất hâm mộ dòng nhạc tiền chiến, nên những ca khúc khởi nghiệp của Ngô Thụy Miên có màu sắc tương đối giống lớp nhạc sĩ tiền bối.

Tuy nhiên, sau một loạt ca khúc phổ thơ Nguyên Sa như

“Áo Lụa Hà Đông”,

“Paris Có Gì Lạ Không Em”

hoặc

“Tuổi Mười Ba”

thì Ngô Thụy Miên định hình phong cách riêng.

Nếu như việc phổ nhạc cho thơ

Nguyên Sa là mối duyên thơ – nhạc, thì cuộc tình với Đoàn Thanh Vân là mối duyên đời – nhạc của Ngô Thụy Miên.

Những xao xuyến lứa đôi đã làm thăng hoa âm nhạc Ngô Thụy Miên,

mà ca khúc “Mắt biếc” ông viết tặng người yêu được đón nhận nồng nhiệt ngay từ khi ra đời.

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, Ngô Thụy Miên trở thành một hiện tượng được giới trẻ đô thị hâm mộ.

Năm 1973, Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân đính hôn.

Đám cưới của họ dự định sẽ tổ chức sau khi Đoàn Thanh Vân tốt nghiệp đại học.

Thế nhưng, sự kiện 30/4/1975 đã thay đổi nhiều điều.

Đoàn Thanh Vân theo cha mẹ di cư sang Mỹ, mà không kịp nói lời giã biệt vị hôn thê.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thổ lộ:

“Một sáng tác mà tôi rất yêu quí, có mang một chút hình ảnh thời sự, đó là bài

“Em Còn Nhớ Mùa Xuân”.

Đó là tình khúc duy nhất tôi đã viết ở Sài Gòn sau tháng 4/1975 trong nỗi nhớ một người bạn gái đã ra đi, và giữa những biến chuyển xẩy ra quanh mình trong những ngày tháng đó.

Bản nhạc nhắc đến những kỷ niệm đẹp của chúng tôi trong bối cảnh của một thời thơ mộng”.

Ca khúc

“Em Còn Nhớ Mùa Xuân” được nhiều ca sĩ trình diễn ở hải ngoại, rồi sau đó lại tiếp tục chinh phục người yêu nhạc trong nước:

“Những thành phố em sẽ đi qua

Đây Paris, đây Luân Đôn, đây Vienne

Nhưng có đâu bằng Sàigòn hôm qua

Nhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sau

Em có mơ ngày hát câu hồi hương”.

Khi chắc chắn người yêu đã không thể “hát câu hồi hương” như mình hy vọng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã vượt đại dương để đi tìm người phụ nữ đã cùng mình ước thề.

Ở nước Mỹ mênh mông, họ cũng đã tìm được nhau.

Năm 1979, Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân tổ chức lễ cưới tại bang California.

Trùng phùng hạnh phúc sau cách biệt bẽ bàng, Ngô Thụy Miên đã viết ca khúc “Em Về Mùa Thu” đánh dấu ngày nên duyên chồng vợ:

“Ô hay mùa thu lại về cho mình giăng hẹn hò

Gọi tên nhau khi chiều đến

Mây thu vấn vương đan ngập lối đi

Ái ân theo hồn vút cao

Vết mơ tình xõa tay mềm”.

Chuỗi ngày hòa nhập nơi đất khách cũng đầy gian nan.

Ngô Thụy Miên không muốn dính líu vào các hoạt động biểu diễn trên sân khấu, nên chọn cách đi làm công nhân như một người Việt bình thường mưu sinh xứ người.

Vợ chồng Ngô Thụy Miên dọn đến thành phố Olympia của bang Wasington để sinh sống với không ít muộn phiền và lo toan.

Tình yêu và âm nhạc đã níu giữ họ giữa nhiều xáo trộn bủa vây, mà ca khúc

“Bài Tình Ca Cho Em” là ví dụ tiêu biểu:

“Anh hát cho em bài tình ca thiết tha

Anh hát cho em dù lòng nghe xót xa

Một lần gặp gỡ đã là bao thương nhớ

Thương dáng em cười nhớ nụ mắt bờ môi…

Anh chúc cho em đời yên vui đắm say

Anh chúc cho em dù lòng nghe đắng cay

Một ngày nào đó dẫu tình ta đã lỡ

Một ngày nào đó ta vẫn yêu mãi người thôi”.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đứng ngoài thị phi showbiz.

Ông bộc bạch:

“Tôi đến với âm nhạc như một sự tự nhiên, không hề có tham vọng gì.

Những sáng tác của tôi đều được cẩn trọng, chăm sóc từ lời ca đến ý nhạc.

Những năm tháng học nhạc cổ điển

Tây phương đã giúp tôi rất nhiều trong việc sáng tạo, chọn lựa cũng như trau chuốt, làm đẹp câu nhạc.

Đã có những bài tôi để cả năm trời chỉ để viết đi, viết lại những giai điệu mà mình chưa vừa ý!

Nói về lời ca, thì có lẽ nhờ trưởng thành giữa văn thơ và sách vở tôi đã được đọc rất nhiều.

Đọc nhiều nó thấm vào người lúc nào không biết. Rồi khi trái tim rung động thì lời ca tự nhiên sẽ đến”.

Nhìn vào số lượng ca khúc của Ngô Thụy Miên phổ biến sâu rộng trong đời sống, ai cũng ngỡ ông sáng tác rất nhiều.

Thực tế, Ngô Thụy Miên sáng tác rất ít. Có khi vài ba năm ông mới có cảm hứng để viết một ca khúc.

Và quan trọng hơn là có nhiều ca khúc ra đời mà Ngô Thụy Miên cũng không có ý định công bố.

Chẳng hạn, ca khúc

“Riêng Một Góc Trời”

chỉ được Ngô Thụy Miên hát cho vợ suốt nhiều năm, sau đó ca sĩ Tuấn Ngọc mới đến tận nhà để xin được thu âm và lan tỏa cực nhanh vào công chúng:

“Tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên dòng suối mơ

Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề, xa rời chốn xưa

Tình như lá úa, rơi buồn, trong nỗi nhớ

Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi, hắt hiu tình tôi…”.

Tính toán chi li, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tự tổng kết ông viết được hơn 60 ca khúc.

Vì sao như vậy?

Ngô Thụy Miên cạn kiệt cảm hứng chăng?

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bảo ông không muốn viết những điều quá hiu hắt từ tâm trạng mình:

“Với tôi, âm nhạc cũng như đời sống đều thay đổi theo thời gian và không gian. Sống ở quê nhà với những thân yêu quanh mình, với những lụa là mưa nắng Sài Gòn, những quán hàng, những con đường quen thuộc từng dấu chân, từng buổi sáng, buổi chiều…

tất cả đã cho tôi những ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca thơ mộng, dịu dàng.

Ở Mỹ, người ta thật vội vã, thật xa lạ… Những thành phố, nhà cửa thật to lớn nhưng cũng thật lạnh lẽo.

Ngày tháng bên này đã để lại trong âm nhạc của tôi những dấu vết buồn bã của cuộc sống tạm dung, những muộn phiền cay đắng của những phần đời lặng lẽ quanh mình…”.

Ca khúc “Mưa Trên Cuộc Tình Tôi”

viết khi nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bước qua tuổi lục thập ít nhiều chứng minh điều ấy:

“Tôi vẫn ngồi lặng ngắm mây trôi

Mưa ngoài trời như bụi rơi

Chỉ là phù du những tháng ngày vui

Bên phím đàn tôi nghe hồn buông lơi”.

Bây giờ, ở tuổi 72, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên vẫn sống êm đềm bên người vợ thủy chung Đoàn Thanh Vân.

Họ hiếm muộn con cái,

nhưng đi đâu cũng có nhau.

Thỉnh thoảng họ cùng hát lại những

ca khúc một thời thanh xuân của mình để vỗ về cuộc tình trăm năm.

Vợ chồng nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên dành thời gian đi du lịch khắp nơi trên thế giới

Copied từ fb An Nam

  Nguồn: Tâm Huyền


 

 

BÀ CỤ MÀ TRẬN LŨ KHÔNG THỂ CUỐN TRÔI.

Cang Huynh

BÀ CỤ MÀ TRẬN LŨ KHÔNG THỂ CUỐN TRÔI.

Bà được tìm thấy dưới lớp bùn đã nhấn chìm mọi thứ khác.

Ngày 26 tháng 8 năm 2026, một bức tường nước khổng lồ ập xuống từ vụ sạt lở sông băng gần biên giới Nepal-Tibet, tàn phá Rasuwa, Nuwakot và các huyện lân cận chỉ trong vài phút. Mực nước sông dâng cao. Cầu cống biến mất. Toàn bộ làng mạc biến mất khi nước rút. Số người chết đã vượt quá 165, với hàng trăm người vẫn còn mất tích — con số này tiếp tục tăng lên khi các đội cứu hộ tiếp cận được những nơi bị lũ lụt cô lập với thế giới bên ngoài.

Tại Rasuwa, có một viện dưỡng lão nhỏ của chính phủ dành cho người già. Khi trận lũ ập đến, nó không chỉ làm hư hại tòa nhà. Nó đã xóa sổ tất cả — tường nhà, hồ sơ, mọi thứ, đều biến mất dưới lớp bùn và mảnh vỡ chôn vùi phần còn lại của thung lũng. Tất cả cư dân đều thiệt mạng, trừ một người.

Người đó là Gunakeshari Bohara. Bà 94 tuổi.

Lực lượng cứu hộ tìm thấy bà ở khu vực Tupche thuộc Nuwakot, bị vùi sâu trong đống đổ nát và bùn lầy đến nỗi chỉ có máy móc hạng nặng mới tiếp cận được. Một chiếc máy xúc đã cẩn thận đào bới đống đổ nát cho đến khi một người cứu hộ cuối cùng có thể nhấc bà ra bằng tay – bức ảnh ghi lại khoảnh khắc đó, toàn thân bà phủ đầy bùn khô từ đầu đến chân, đã được chia sẻ khắp thế giới như một trong những hình ảnh mang tính biểu tượng của thảm họa này.

Bà được đưa ngay đến Trung tâm Chấn thương Kathmandu. Và ở đó, câu chuyện trở nên khó khăn hơn chứ không hề dễ dàng hơn. Bà Gunakeshari mắc chứng mất trí nhớ nghiêm trọng. Trong cơn sốc vì những gì đã xảy ra, bà không thể nói được. Bà không thể nói tên mình cho các bác sĩ biết. Đối với một bà lão vừa sống sót sau một thảm họa không thể tưởng tượng nổi, không có cách nào để bà nói ra điều đó – không có từ ngữ nào để diễn tả những gì bà đã trải qua, không có cách nào để hỏi về những người bà quen biết. Cuối cùng, một người thân đã đứng ra nhận diện bà.

Các bác sĩ điều trị cho bà gọi sự sống sót của bà là một điều kỳ diệu thực sự. Một tòa nhà bị phá hủy. Tất cả mọi người trong đó đều thiệt mạng. Và bằng cách nào đó, trong bùn lầy, một người phụ nữ 94 tuổi vẫn bám trụ được.

Không có một kết thúc trọn vẹn nào ở đây, và sẽ thật sai lầm nếu giả vờ rằng có một kết thúc như vậy. Gunakeshari không có từ ngữ nào để kể cho chúng ta biết điều gì đã giúp bà ấy vượt qua những giờ phút khó khăn đó, và có lẽ bà ấy sẽ không bao giờ có thể. Ở đâu đó gần đó, các gia đình vẫn đang tìm kiếm những người mất tích trên bờ sông và những bãi đổ nát. Nepal và Tây Tạng vẫn đang thống kê những mất mát của mình.

Nhưng có điều này: một người bà cụ đã không bị dòng nước cuốn trôi. Một bức ảnh chụp một người cứu hộ đang bế bà ấy ra, cẩn thận và không vội vã, như thể bà ấy là điều duy nhất quan trọng trong thung lũng đó — bởi vì trong khoảnh khắc đó, đối với anh ấy, bà ấy chính là như vậy.

Chúng ta không được biết suy nghĩ của bà ấy. Chúng ta không được nghe một câu nói, một nụ cười, một cái tên mà bà ấy có thể tự đặt cho mình. Điều chúng ta nhận được nhỏ bé hơn, nhưng bằng cách nào đó, cũng mạnh mẽ không kém: bằng chứng cho thấy ngay cả khi một nơi bị xóa sổ, người ta vẫn có thể tìm thấy ai đó ở đó.

Cầu nguyện cho Nepal, cho Tây Tạng, và cho tất cả những người vẫn đang chờ đợi tin tức về người thân yêu của họ.

Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.

Thiên Chúa tỏ ra điều gì về chính Người khi gởi Con của Người đến với chúng ta?-Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, xin Chúa luôn đồng hành với bạn trên khắp nẻo đường hôm nay nhé. Hãy tiếp tục cầu nguyện cho nhau và thể’ giới cùng những linh hồn nạn nhân ở Nepal nhé

Cha Vương

Thư 4:02/09/2026.    (t5-21)

GIÁO LÝ: Thiên Chúa tỏ ra điều gì về chính Người khi gởi Con của Người đến với chúng ta? Trong Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta tình yêu thương xót thẳm sâu của Người. (YouCat, số 9)

SUY NIỆM: Nhờ Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa vô hình trở nên hữu hình. Người trở nên người như ta. Điều đó chứng tỏ tình yêu của Chúa đi tới chỗ Người đã nhận lấy trên mình tất cả những gì đè nặng lên ta: Người đi theo ta trên khắp các nẻo đường; Người có mặt trong nỗi cô đơn, nỗi đau khổ và nỗi âu lo của ta trước cái chết; Người hiện diện ở những nơi mà ta không thể đi xa hơn được để mở cửa sự sống cho ta (như người cha đón đứa con hoang đàng trong bước đường cùng của nó).

❦  Nhập thể là hành vi Thiên Chúa nhận lấy thân phận con người nơi Chúa Giêsu Kitô. Nhập thể là nền tảng của đức tin Kitô giáo và của niềm trông cậy nhân loại được cứu độ.

❦  Hạnh phúc mà bạn kiếm tìm, hạnh phúc mà bạn có quyền hưởng có một tên, một khuôn mặt: đó là Chúa Giêsu (Kitô ở Nadaret. Đức Bênêđictô XVI)

❦ Thiên Chúa đã nhận lấy vẻ bề ngoài là loài người nơi Chúa Giêsu Kitô và trở nên bạn hữu cũng như anh em với ta. (Đức Bênêđictô XVI)

LẮNG NGHE: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa… ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. (Ga 1:1,4)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, cuộc sống đích thực là sống trong Tình Yêu Thiên Chúa. Con đang bị giằng co giữa hai lối sống tinh thần và vật chất. Xin cho con biết từ bỏ khuynh hướng nghiêng theo thế gian và đam mê của nó để có thể sống đúng phong cách của người kitô hữu trong một thế giới đầy cam go thử thách này.

THỰC HÀNH: Nhìn ngắm tượng Chúa chịu đóng đinh, để cảm nghiệm tình yêu thương xót thẳm sâu của Người dành cho bạn hôm nay.

From: Do Dzung

*****

Thánh Ca: Chúa Luôn Đồng Hành – Sáng tác: Hoàng Peter

NHỮNG CÁNH ĐỒNG KHÁC -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”.

“Với tất cả những gì đã qua – tạ ơn; với tất cả những gì sẽ đến – xin vâng!” – Dag Hammarskjöld.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đã sống trọn hai tâm tình ấy. Ngài rời Capharnaum để đến ‘những cánh đồng khác’; không phải vì đã yêu nơi ấy đủ, nhưng vì tình yêu của Chúa Cha không dừng lại ở một nơi nào.

Đó là một buổi sáng rất dễ khiến người ta muốn ở lại. Chiều hôm trước, Ngài chữa nhạc mẫu Phêrô, rồi đặt tay chữa từng bệnh nhân. Sáng ra, dân chúng tìm đến, cố giữ Ngài lại. Vậy mà Ngài nói, “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa!”. Bản Hy Lạp viết dei – “phải”; trong Luca, đó là ý muốn của Chúa Cha đã trở thành khát vọng nung nấu tâm hồn Người Con. Cái “phải” ấy không cho phép Ngài dừng lại trong niềm vui của những gì đã qua; Ngài thưa “xin vâng” và cất bước về phía điều chưa biết. “Cuộc đời chỉ có thể được hiểu khi nhìn lại; nhưng phải được sống về phía trước!” – Søren Kierkegaard.

Đám đông nhìn thấy những nhu cầu tưởng như không cùng; Chúa Giêsu nhìn thấy những thành chưa được nghe Tin Mừng. Vì thế, trung thành với sứ mạng không hẳn là làm xong mọi việc tại một nơi, nhưng làm trọn phần được trao trong quãng đời Chúa muốn. ‘Những cánh đồng khác’ không gọi ai lìa bỏ tình yêu cũ; chúng gọi tình yêu ấy lớn lên, trương rộng.

Phaolô cũng dùng ngôn ngữ ấy để đưa Côrintô về sự hiệp nhất. Trước những người nói, “Tôi thuộc về Phaolô”, “Tôi thuộc về Apôllô”, ông tuyên bố, “Tôi trồng, anh Apôllô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên”, bởi “anh em là cánh đồng của Thiên Chúa”. Người trước đi, người sau đến; mỗi người làm phần được trao. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất niềm vui ấy: hạnh phúc của một dân không nằm ở người gieo hay người tưới, nhưng ở chỗ được Chúa ‘chọn làm gia nghiệp’.

Với chúng ta, đến đã khó, đi còn khó hơn. Bởi khi đến, chúng ta chỉ rời một nơi; khi đi, phải rời cả những con người và công trình đã thành một phần đời mình. Chính lòng biết ơn cánh đồng cũ cho chúng ta đủ tự do để thưa “xin vâng” và ra đi. Rời quê, trao việc, lùi lại cho con cái bước tới; ai cũng phải trao lại một cánh đồng. Với người linh mục, lời “Thưa con hứa!” ngày nào trở thành lời tuyên xưng đức tin: cánh đồng thuộc về Chúa – Đấng vẫn cho nó lớn lên cả khi mình không còn ở đó.

Anh Chị em,

Đức Giêsu không chỉ đến các thành khác; cuối cùng, Ngài trở thành hạt giống được gieo ngoài thành. Trên thập giá, mọi sự tưởng như dang dở: môn đệ tan tác, sứ mạng chưa vượt khỏi một miền đất nhỏ, Người Gieo lại bị chôn vùi. Nhưng Phục Sinh cho thấy công trình của Thiên Chúa không kết thúc tại nơi con người tưởng mọi sự đã mất. “Điều ta gọi là khởi đầu thường lại là kết thúc; và kết thúc cũng là bắt đầu!” – T. S. Eliot. Từ sự vùi lấp ấy, chính cuộc ra đi làm nảy sinh ‘những cánh đồng khác’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con tận tâm khi ở lại, tự do khi lên đường và thanh thản vì tin rằng chính Chúa sẽ cho ngày mùa bội thu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Tư Tuần XXII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

38 Khi ấy, Đức Giê-su rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Si-môn. Bấy giờ, bà mẹ vợ ông Si-môn đang bị sốt nặng. Họ xin Người chữa bà. 39 Đức Giê-su cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất: tức khắc bà trỗi dậy phục vụ các ngài.

40 Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. 41 Quỷ cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng: “Ông là Con Thiên Chúa!” Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Ki-tô.

42 Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi. 43 Nhưng Người nói với họ: “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.” 44 Và Người rao giảng trong các hội đường miền Giu-đê.


 

Thiên Chúa tỏ mình ra trong Cựu ước thế nào?- Cha Vương

Nguyện xin phúc lành và bình an của Thiên Chúa đến với bạn và tất cả mọi người trên trái đất này luôn đấ`y Hồng ân  trong lúc này nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 01/09/2026.    (t4-21)

GIÁO LÝ: Thiên Chúa tỏ mình ra trong Cựu ước thế nào? Thiên Chúa tỏ mình ra trong Cựu ước như là Đấng dựng nên thế giới này vì Tình yêu, và Người trung tín với loài người, cả sau khi họ sa ngã phạm tội xa cách Người. (Youcat, số 8)

SUY NIỆM: Thiên Chúa tự mặc khải trong lịch sử: Người đã ký giao ước với ông Nôê để cứu độ mọi loài sinh vật. Rồi kêu gọi ông Abraham để ông trở nên Cha của nhiều dân tộc (Kn 17,5) và Người qua ông mà chúc phúc cho muôn dân trên trái đất (Kn 12,3). Dân Israel, phát xuất từ Abraham trở nên sở hữu riêng của Người. Với ông Môsê Người tỏ cho ông Tên của Người. Tên rất huyền bí được ghi chép thường là dưới hình thức Yahvê, nghĩa là, “Ta là đấng hiện hữu”. Người giải thoát Israel khỏi nô lệ Ai Cập, ký với dân giao ước ở núi Sinai và ban cho dân Luật của Người qua ông Môsê. Thiên Chúa không ngừng sai đến với dân các tiên tri để kêu gọi họ ăn năn trở lại và đổi mới giao ước. Các tiên tri loan báo rằng Thiên Chúa sẽ ký kết một giao ước mới và vĩnh viễn để đem lại một sự đổi mới triệt để và sự cứu độ dứt khoát. Giao ước này sẽ ban cho cả nhân loại.

❦  Mặc khải là gì? Mặc khải là việc Thiên Chúa biểu lộ bằng cách tự cởi mở, tự bày tỏ và nói cho thế giới biết về sáng kiến riêng của Người.

LẮNG NGHE: Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. (Ga 1:14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con không thể nhận biết Tình Yêu mà Chúa đã dành cho con nếu Chúa không tỏ ra, và nếu con không quyết tâm tìm kiếm. Xin cho con không dừng lại ở những niềm vui hay an ủi mau qua nhưng luôn tìm kiếm và thi hành ý Chúa trong mọi sự để được sống với Chúa muôn đời.

THỰC HÀNH: Tin tưởng mình đã tìm ra đúng Đấng đáp ứng được mọi khát vọng của đời người, mời bạn dành thời gian để học hỏi, tìm hiểu về Đấng mà bạn tin qua việc đọc Kinh Thánh.

From: Do Dzung

*****
CON NHỚ…CHÚA ƠI !!! (Chúa ơi … con nhớ Nhà Thờ …) TB: NGỌC SƯƠNG – ST: LAM HOANG AN

KHI NÚI CAO CŨNG SỤP ĐỔ – Tạ Duy Tuyền

Tạ Duy Tuyền

KHI NÚI CAO CŨNG SỤP ĐỔ

Thảm họa xảy ra ngày 26/8 tại vùng biên giới Nepal – Tây Tạng khiến cả thế giới bàng hoàng.

Một khối băng đá khổng lồ bất ngờ đổ xuống từ dãy Himalaya, tạo thành dòng lũ bùn cuồn cuộn lao qua các thung lũng. Làng mạc bị vùi lấp, đường sá và cầu cống bị cuốn phăng, nhiều công trình chỉ trong chốc lát đã hóa thành đống đổ nát. Gần 600 người được xác nhận thiệt mạng, hàng ngàn người vẫn còn mất tích. Con số thương vong có thể còn tiếp tục tăng khi công cuộc tìm kiếm đang diễn ra trong vô vàn khó khăn.

Người ta gọi đó là một trận “sóng thần trên cạn”.

Nhưng phía sau những con số lạnh lùng là biết bao phận người vừa bị cắt ngang: một gia đình đang quây quần, một người mẹ vẫn ngóng con trở về, một người khách còn dang dở hành trình, một mái nhà buổi sáng còn tiếng nói cười, đến chiều chỉ còn lại bùn đất và nước mắt.

Trước một mất mát quá lớn, có lẽ điều cần thiết đầu tiên không phải là vội vàng kết tội, nhưng là cúi đầu trước nỗi đau của con người.

Nguyên nhân trực tiếp được xác định là sự sụp đổ của một khối băng và đá. Các nhà khoa học cũng cảnh báo rằng biến đổi khí hậu đang khiến những vùng núi băng trở nên mong manh và bất ổn hơn. Còn việc đào hầm, mở đường, khai khoáng hay xây dựng các công trình thủy điện có liên quan trực tiếp đến thảm họa lần này hay không, vẫn cần những cuộc điều tra khoa học độc lập và minh bạch.

Dẫu vậy, thảm họa vẫn là lời cảnh tỉnh nghiêm khắc dành cho nhân loại: thiên nhiên không phải là một kho tài nguyên vô tận để con người tùy tiện đào xới, cắt xẻ và khai thác đến kiệt cùng.

Tạo vật có những giới hạn và quy luật riêng. Khi con người vì lợi nhuận và tham vọng mà xem thường những giới hạn ấy, hậu quả không chỉ dừng lại nơi một công trình hay trong biên giới một quốc gia. Nó có thể tràn xuống những vùng đất xa xôi và đổ ập lên cuộc đời của biết bao người vô tội.

Con người có thể khoan xuyên núi, ngăn dòng sông và dựng nên những công trình khổng lồ. Nhưng con người không thể ra lệnh cho núi đừng sụp, cho băng đừng tan, cho nước đừng tràn.

Khoa học giúp chúng ta hiểu và sử dụng thiên nhiên. Nhưng chỉ có sự khôn ngoan mới dạy chúng ta biết kính trọng, gìn giữ và sống hài hòa với thiên nhiên. Tạo vật không phải là kẻ thù để con người chinh phục, nhưng là ngôi nhà chung mà Đấng Tạo Hóa trao cho chúng ta chăm sóc và gìn giữ cho các thế hệ mai sau.

Nhìn những ngôi nhà bị cuốn trôi, ta càng thấm thía sự mong manh của kiếp người.

Có những công trình tưởng sẽ đứng vững trăm năm, chỉ trong vài phút đã thành đống đổ nát. Có những dự tính dành cho ngày mai, chưa kịp thực hiện thì hôm nay đã khép lại. Núi cao còn có thể sụp xuống, huống chi đời người vốn chỉ như một thoáng mây bay.

Nhận ra đời mình chóng qua không phải để bi quan hay buông xuôi, nhưng để biết sống cho đúng hơn: bớt tham lam, bớt hơn thua, bớt làm tổn thương nhau; biết yêu thương khi còn có thể, biết nói lời cảm ơn và xin lỗi khi vẫn còn kịp; biết sử dụng của cải mà không tàn phá môi trường; biết cúi đầu trước Đấng Tạo Hóa và mở lòng trước nỗi đau của đồng loại.

Sau cùng, điều còn lại không phải là ta đã xây được những công trình lớn đến đâu hay nắm giữ bao nhiêu của cải, nhưng là trong quãng đời ngắn ngủi ấy, ta đã để lại cho người khác sự sống hay đổ nát, yêu thương hay khổ đau.

Kiếp người mau qua. Xin hãy sống sao để khi đi qua cuộc đời, ta không để lại phía sau một vùng hoang tàn, nhưng để lại một khoảng xanh cho đất, một chút bình an cho đời và một chút ấm áp trong lòng người.

Lm.Jos TDT 


 

NHÀM CHÁN – LỖI CỦA CHÍNH CHÚNG TA – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ.  Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó.  Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

 Nhưng không lâu sau khi bị trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân.  Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa.  Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

 Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạng giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó.  Ngày nay, khi có trong tay các thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao?  Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng.  Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta.  Tại sao lại không?  Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa.  Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

 Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó.  Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng.  Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác.  Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng.  Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

 Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày.  Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó.  Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lì, và thông lệ.  Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị.  Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó.  Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình.  Enstein đã nói thế đấy.

 Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

 Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.]  Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững.  Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị.  Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị.  Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

 Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

 Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự.  Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Thánh Faustina: Đêm Khởi Nguồn Thông Điệp: LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT.

Cang Huynh 

LẼ SỐNG.

Thánh Faustina: Đêm Khởi Nguồn Thông Điệp:

LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT.

Đó là đêm ngày 22 tháng 2 năm 1931, tại Płock, Ba Lan.

Sơ Faustina Kowalska đang ở trong phòng riêng thì, như sơ viết trong nhật ký của mình, sơ đã có một thị kiến ​​về Chúa Giêsu mặc áo trắng.

Một tay Ngài giơ lên ​​ban phước.

Tay kia chạm vào áo choàng của Ngài ngang ngực.

Và từ đó phát ra hai tia sáng lớn: một màu đỏ và một màu nhạt. Tòa Thánh Vatican công nhận sự kiện này là thời điểm quyết định trong sự khởi đầu sứ mệnh của bà liên quan đến Lòng Thương Xót Chúa.

Faustina tiếp tục chiêm nghiệm về Ngài.

Chính sơ đã mô tả cảm giác kính sợ và niềm vui vô bờ bến.

Sau đó, sơ nhận được chỉ thị phải vẽ lại những gì sơ đang chiêm nghiệm và đặt bên dưới bức tranh đó một vài lời mà cuối cùng sẽ lan truyền khắp thế giới:

“Chúa Giêsu, con tin tưởng vào Ngài.”

Faustina không phải là một người phụ nữ quyền lực.

Sơ chỉ được học hành chính quy vài năm và trong tu viện, sơ làm những công việc đơn giản như nấu ăn, làm vườn và gác cửa.

Và chính đến người nữ tu tưởng chừng như không quan trọng này mà một thông điệp đã được trao phó, một thông điệp sẽ đến với hàng triệu người:

Lời cuối cùng của Chúa dành cho người tội lỗi không phải là tuyệt vọng.

Mà là LÒNG THƯƠNG XÓT.

Nhiều năm sau, Thánh Gioan Phaolô II giải thích rằng hai tia sáng mà Faustina nhìn thấy tượng trưng cho máu và nước, liên hệ chúng với cạnh sườn mở của Chúa Kitô.

Có lẽ đó là lý do tại sao câu chuyện này lại có sức mạnh lớn lao đối với những người đang trải qua thời kỳ khó khăn ngày nay.

Hãy chỉ đơn giản nói:

CHÚA GIÊSU, CON TIN TƯỞNG NGÀI.

Khi bạn hiểu điều gì đang xảy ra…

và cả khi bạn hoàn toàn không hiểu gì cả.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.