Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
“Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta!”.
“Trong những thất bại của chúng ta, Thiên Chúa vẫn luôn tìm được những con đường mới cho tình yêu của Ngài!” – Bênêđictô XVI.
Kính thưa Anh Chị em,
Lễ Sinh nhật Trinh Nữ Maria cho chúng ta nghe một gia phả có cả trung thành, phản bội và lưu đày. Thiên Chúa không đứng ngoài để viết lại quá khứ; Ngài mở ngay trong đó một lối mới cho tình yêu. Từ đây, lịch sử con người mang tên ‘lịch sử Emmanuel’.
Suốt gia phả, động từ “sinh” đi từ người cha này sang người cha khác. Đến Giuse, nhịp bỗng đổi: “Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria; bà là mẹ Đức Giêsu”. Giuse không “sinh” Đức Giêsu, Đấng được Maria sinh ra. Một phả hệ do những người cha nối dài bất ngờ dừng trước một người mẹ. Đến đây, huyết thống chạm giới hạn; lời hứa nên xác phàm. Matthêu mở ra điều không dòng máu nào tự làm được: lịch sử không sinh ra Đấng Cứu Độ; lịch sử chỉ có thể đón nhận Ngài. “Vì tình yêu vô biên, Ngôi Lời đã trở nên điều chúng ta là, để làm cho chúng ta trở nên điều chính Ngài là!” – Irênê.
Ngôn sứ Mikha báo trước, “Đức Chúa sẽ bỏ mặc Israel cho đến thời người sản phụ sinh con” – bài đọc một. Lạ lùng thay, vận mệnh một dân tộc được nối với một biến cố rất nhỏ: một người nữ sinh con. Vì thế, ngày Đức Maria chào đời không chỉ là niềm vui của một gia đình; đó là lúc lời hứa bắt đầu mang một khuôn mặt. Mẹ được sinh ra trong Israel để Israel sinh ra Đấng Cứu Độ. Người nữ được sinh ra hôm nay, ngày kia sẽ sinh Đấng đã cho mình hiện hữu.
Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa!”. Niềm vui ấy không đến từ một quá khứ vô tì, nhưng từ việc Thiên Chúa không bỏ cuộc. Bất trung và lưu đày vẫn còn nguyên tên gọi, nhưng không còn quyền nói lời cuối cùng. Lịch sử cứu độ không phải là câu chuyện con người luôn trung thành với Chúa, nhưng là câu chuyện Chúa vẫn trung thành giữa những lần con người bỏ Ngài.
Không ai tự viết dòng đầu đời mình. Chúng ta nhận phúc lành lẫn thương tổn từ người đi trước, rồi thêm vào đó những chọn lựa không thể lấy lại. Nhưng Emmanuel không đòi một quá khứ khác; Ngài bước vào quá khứ không thể đổi như Thiên Chúa của tương lai. Những gì đã xảy ra vẫn còn đó, nhưng không còn quyền quyết định chúng ta sẽ thành ai. “Chúng ta không phải là tổng số những yếu đuối và thất bại của mình; chúng ta là tổng số tình yêu Chúa Cha dành cho chúng ta!” – Gioan Phaolô II.
Anh Chị em,
Đức Kitô nhận lấy tất cả trong thân thể Đức Maria trao, rồi mang nó đến tận thập giá. Ở đó, tội lỗi muốn viết câu cuối bằng cái chết; nhưng chính Phục Sinh viết tiếp. Khi sống lại, Ngài vẫn mang những dấu đinh: Thiên Chúa không xoá quá khứ, Ngài cứu nó. Emmanuel không có nghĩa là Chúa chỉ ở cùng những ngày trong sáng; Ngài ở cùng cả phần đời chúng ta muốn chôn kín. Từ đó, lịch sử không còn chỉ là những gì xảy đến cho con người, nhưng là nơi Thiên Chúa nhất định ở cùng con người – ‘lịch sử Emmanuel’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin bước vào quá khứ con không thể đổi; ở lại trong hiện tại con đang sống; và dẫn đời con về phía cứu độ!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
*****
Ngày 08 tháng 9
SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A
lễ kính
✠Khởi đầu Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham :
2 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác ; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; 3 Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron ; Khét-xơ-ron sinh A-ram; 4 A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son ; Nác-son sinh Xan-môn; 5 Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết ; Ô-vết sinh Gie-sê ; 6 ông Gie-sê sinh Đa-vít.
Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn; 7 Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa; 8 A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia; 9 Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia; 10 Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se ; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia ; 11 Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này ; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.
12 Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên ; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven; 13 Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút ; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do; 14 A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khi ; A-khin sinh Ê-li-hút; 15 Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; 16 Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 22 Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”







