Đời nào trị thủy lỏng lẻo, đời ấy mất nước

Hong Thai Hoang added a photo to the album: CHÍNH TRỊ KHAI PHÓNG 

Trong lịch sử Á Đông, không có tai họa nào mà vua chúa sợ hãi hơn nước lũ.

Không phải vì nước mạnh, mà vì nước vô tình.

Một con đê vỡ không chỉ cuốn trôi ruộng vườn mà còn cuốn trôi luôn cả thiên mệnh của một triều đại.

Vì vậy mà cổ nhân dạy:

“Trị thủy là gốc của trị quốc.”

Ai trị được nước thì trị được dân.

Ai không trị được nước thì sớm muộn cũng mất lòng dân

Câu chuyện Đại Vũ trị thủy – ba lần đi ngang nhà mà không dám bước vào – không phải chỉ là truyền thuyết.

Nó là tuyên ngôn chính trị đầu tiên của nhân loại:

Trị thủy phải đặt dân lên trước bản thân.

Trị thủy là trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo.

Ở Trung Hoa và Đại Việt, bất kỳ triều đại nào cũng xem việc chống lũ là chuyện của vua, không phải chuyện của trời, càng không phải chuyện của dân.

Đời nào trị thủy lỏng lẻo, đời ấy mất nước.

Lịch sử ghi đầy:

Nhà Tống suy yếu vì vỡ đê sông Hoài.

Nhà Minh nổi loạn vì Hoàng Hà dâng cuốn nửa triệu dân, quan lại giấu số liệu.

Nhà Lê lập chức “Hà Đê Sứ”, ai để vỡ đê thì tru di tam tộc.

Nhà Nguyễn đặt “Nha đê chính”, quan địa phương phải canh đê 24/24 vào mùa mưa.

Quan lại ngày xưa hiểu rằng:

Nước lên mà dân chết, đó là lỗi của quan – không phải lỗi của trời.

Không một triều đại nào dám đổ cho dân “không kịp ứng phó”, hoặc bảo rằng “thiên tai bất khả kháng”.

Vì đối với người xưa, thiên tai chỉ là phép thử, còn thất trách mới là tội lỗi.

Nhà Trần để lại một câu chuyện đẹp:

Khi nước sông Hồng dâng cao, Hưng Đạo Vương từng đích thân ra đắp đê.

Lệnh là:

“Thà hư của, không được để dân tử thương.”

Cổ nhân không có vệ tinh, không có radar, không có công nghệ, nhưng họ có một thứ duy nhất mà chúng ta ngày nay lại đang thiếu: văn hóa báo trước.

Họ lập trống báo lũ, sứ giả chạy ngựa, từng làng có người túc trực để truyền hiệu lệnh.

Không hề có chuyện: “đã báo mà xã không nhận được”, “đã gửi Zalo mà ai đó không xem”, “nước lên quá nhanh”.

Nếu dân không kịp chạy, thì quan không còn lý do để tồn tại.

Cổ nhân hiểu rằng: nước giống như dân – vừa tạo ra phồn thịnh, vừa có thể cuốn trôi cả một triều đại.

Tư Mã Quang viết:

“Lũ lớn mà dân không chết là do đức của vua.

Lũ nhỏ mà dân vẫn chết là lỗi của quan.”

Ở đây, nước chỉ là hình ảnh.

Cái mà các triết gia châu Á muốn nói chính là:

Quản trị tốt thì thiên tai thành thử thách.

Quản trị kém thì thử thách thành thảm họa.

Và cội nguồn của quản trị tốt không phải là xây thêm đê, thêm trạm – mà là minh bạch, cảnh báo, trách nhiệm cá nhân.

Đừng chờ nước dâng mới thông báo.

Đừng để dân chết rồi mới họp.

Đừng lấy thiên tai để che thiên chức.

Hôm nay: Nước có thể không khác xưa, nhưng cách đối xử với nước đã khác

‘Thời cổ đại, quan chống lũ để giữ nước.

Ngày nay, có khi người ta chống lũ bằng cách… giải thích.

Khi nước cuốn trôi nhà cửa, ruộng vườn, khi hàng trăm hộ dân ngập sâu, lý do thường được nghe nhất lại là:

“Mưa lớn bất thường”

“Nước lên quá nhanh”

“Xã không kịp nhận thông báo”

“Đã báo qua Zalo”

Những câu nói ấy, nếu trở về 500 năm trước, chắc chắn là tội lớn của quan trông đê.

Vì với cổ nhân:

Trị thủy không chỉ là chống lũ – mà là giữ đạo làm quan.

Không canh nước, không cảnh báo, không chịu trách nhiệm thì dù đê có cao đến đâu cũng vô nghĩa.

Điều cổ nhân để lại cho chúng ta hôm nay

Lịch sử không yêu cầu chúng ta phải đắp đê bằng tay hay chạy ngựa báo tin.

Nhưng lịch sử yêu cầu chúng ta phải giữ lấy tinh thần trị thủy:

Minh bạch thông tin là đạo đức trị quốc.

Không có minh bạch, thiên tai nào cũng biến thành thảm họa.

Cảnh báo sớm là quyền của dân.

Dân cần thời gian để chạy – đó là điều cổ nhân đã biết cách đây 2.000 năm.

Trách nhiệm là ngưỡng cuối của quyền lực.

Không ai có thể đứng trên thiên tai để đứng ngoài trách nhiệm.

Thiên tai không đáng sợ bằng sự vô trách nhiệm.

Cổ nhân từng nói:

“Nước vô tình, quan không được vô tâm.”

Một quốc gia có thể chịu nhiều đau thương.

Nhưng quốc gia ấy sẽ không bao giờ sụp đổ vì thiên tai.

Quốc gia chỉ suy tàn khi:

nỗi đau của dân bị xem như chuyện nhỏ,

sinh mạng con người bị lẫn vào số liệu,

và thiên tai trở thành lý do để né tránh trách nhiệm.

Cổ nhân để lại cho chúng ta một bài học giản dị mà thấm thía:

“Giữ đê là giữ dân. Giữ dân là giữ nước.”

Hong Thai Hoang

Bài viết được thực hiện suốt 4 tiếng khi cơ thể gần như mệt lả – nếu bạn muốn copy – hãy ghi nguồn.


 

Đu trụ điện 2 ngày, khi được cứu mới biết cha mẹ đã chết

Công Tú Nguyễn – Chuyện tuổi Xế Chiều

Căn nhà nhỏ của vợ chồng cụ ông Nguyễn Nghiệp (84 tuổi) và bà Nguyễn Thị Nhựt (80 tuổi, vợ ông Nhựt, ở thôn Phú Hữu, xã Hòa Thịnh) nằm lọt thỏm giữa cánh đồng đã không còn đẹp như mọi ngày. Vợ chồng ông gặp nạn trong cơn lũ và đã ra đi mãi…

Mấy năm trước, vợ chồng con trai út là ông Nguyễn Văn Hần (42 tuổi) xây căn nhà cấp bốn bên cạnh. Các anh chị gửi gắm hai cụ cho vợ chồng ông lui tới thăm hỏi, chăm sóc.

Mấy hôm trước, vợ ông Hần chuyển dạ nhập bệnh viện sinh con thứ ba. Vợ chồng nhờ chị họ đến trông coi hai cô con gái nhỏ để ông Hần có thời gian làm việc, lui tới bệnh viện.

Trước giờ lũ ập đến, chiều 18-11, ông Hần đưa đàn bò 17 con lên lán trại cách nhà mấy trăm mét tránh lũ.

“Đưa chúng vào chuồng xong thì tôi không còn đường về nhà, nước vây tứ phía, chảy cuồn cuộn. Lũ dâng từng phút, chẳng mấy chốc đàn bò bị cuốn trôi, tôi lên mái chuồng trú nhưng cũng ngập”, ông Hần kể.

Không còn đường thoát, ông mở dây buộc bò, buộc người vào trụ điện để giữ lấy mạng sống. Ông ôm trụ điện, kêu cứu thất thanh giữa dòng lũ dữ nhưng không một ai dám đến cứu.

“Hai ngày hai đêm, nước dâng tới đâu tôi buộc dây cao đến đó. Tôi biết chắc ở nhà đã ngập, ba mẹ già, hai con ở cùng người thân gặp nguy nhưng không có lựa chọn”, ông Hần nói.

Chống chọi với lũ dữ hai ngày. Nước rút dần, một thanh niên trong xóm bơi ghe ra kiểm tra xem ông còn bám ở trụ điện không ? “

Em nghĩ anh đi rồi !”, ông Hần thuật lại lời thanh niên nói với mình khi thấy anh còn sống.

Ông Hần hỏi lại : “Ba mẹ và con anh có ai cứu không ?”.

“Em biết ba mẹ anh đã mất, còn hai cháu trong nhà em gọi mà không thấy trả lời”…

Ông Hần lấy chút sức lực cuối cùng, chẳng còn quan tâm mọi thứ xung quanh, mặc kệ dòng nước chảy xiết, về nhà kiểm tra.

“Mở cửa không thấy hai con, tim tôi ngừng đập, đầu óc không còn suy nghĩ được gì nữa.

Tôi lội tìm khắp xóm mới biết các con được hàng xóm cứu”, ông Hần đau buồn.

Còn cha mẹ ông Hần đã ra đi mãi mãi…

Theo: THANH NHẬT, NGUYỄN YÊN – Pháp luật TP Hồ Chí Minh


 

 PHÉP LẠ CỦA NIỀM HY VỌNG-câu chuyện của Đức cha Phanxico Xavie

Nguyen Van Agostino is with Can Le 

 PHÉP LẠ CỦA NIỀM HY VỌNG

Mời bạn đọc tiếp câu chuyện của Đức cha Phanxico Xavie:

XXVI. Người có nụ cười hiền từ

“Đừng sợ, vì Ta đã cứu chuộc ngươi, Ta đã gọi ngươi bằng tên, ngươi là của Ta.”

(Is 43,1)

“Nếu ngươi làm nên những công trình vĩ đại, nhưng không vâng phục, ngươi sẽ không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa. Đối với Ngài, điều có giá trị chỉ là trái tim của ngươi: Ngài không cần đến công việc của ngươi. Ngài đã tạo dựng cả vũ trụ mà không cần sự trợ giúp của ngươi.”

(Ph. X. Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy vọng)

Đức cha Thuận sống trong một căn phòng nhỏ tại Foyer Phát Diệm (tên một giáo phận ở miền Bắc Việt Nam), ở số 45 đường Pineta Sacchetti, và tiếp tục đời sống tại Rôma như thể chưa bao giờ rời đi.

Khi đi dạo trên các con phố Rôma, ngài không còn ngoái lại phía sau để kiểm tra xem có ai theo dõi mình, như đã từng làm ở Hà Nội. Ngài thuộc về một thiểu số rất nhỏ những người, giống như ngài, đã trải qua nhiều năm tù đày và cảm nhận sâu sắc niềm vui của tự do đích thực, trong khi phần còn lại của dân chúng coi tự do là điều hiển nhiên.

Trong hai năm đầu lưu đày, đức cha Thuận tập trung vào việc chăm sóc mục vụ cho người Việt Nam rải rác khắp thế giới, và đôi khi, theo sự ủy nhiệm của Quốc vụ khanh Tòa Thánh và Bộ Truyền giáo, ngài đi đến các giáo phận và chủng viện ở châu Phi và châu Á như một vị khách thăm viếng tông tòa.

Thân sinh của ngài, ông Nguyễn Văn Ấm, qua đời vào tháng 6 năm 1993. Người con là tổng giám mục đã lập tức lên chuyến bay đầu tiên đến Sydney, nơi ngài gặp các em Hàm Tiếu, Ánh Tuyết, Thuỷ Tiên, Thu Hồng và người em trai tên Tuyên đang quây quần bên mẹ. Một lần nữa, bà Hiệp tỏ ra vô cùng can đảm. Trong thánh lễ an táng do ngài cùng hai giám mục khác đồng tế, bà đã đọc vài lời mà không rơi một giọt nước mắt. Theo truyền thống Á Đông, sau thánh lễ, đức cha Thuận phủ phục ba lần trước quan tài cha, cảm tạ ông vì đã ban cho mình sự sống và đã dẫn dắt bằng bàn tay mạnh mẽ.

Sau tang lễ, ngài ngồi hàng giờ hồi tưởng về cuộc đời hy sinh của cha và sự tha thứ chân thành của ông dành cho tất cả những ai đã cố tình làm hại ngài và gia đình. Việc gia đình bà Hiệp vươn lên danh vọng và quyền lực đã khiến ông Ấm sống trong cái bóng của vợ, nhưng điều đó không làm ông phiền lòng. Ông và bà Hiệp đã yêu thương nhau tha thiết. Khi bi kịch giáng xuống gia đình vợ, ông Ấm luôn ở bên cạnh để giúp bà gom góp những mảnh vỡ và xây dựng lại cuộc sống. Ông chưa bao giờ than phiền.

Đức cha Thuận nhớ lại sự lý lẽ chặt chẽ của người cha khi ông hoặc các em tìm cách biện hộ cho lỗi lầm của mình. Ông Ấm hiếm khi to tiếng, nhưng những lời quở trách của ông thì khó quên. Khi cha còn sống, đức cha Thuận chưa bao giờ nói với ông rằng con yêu cha. Ngài luôn mong muốn làm điều đó, nhưng phong tục Á Đông và sự rụt rè của bản thân đã khiến điều ấy không thể thực hiện. Giờ đây, ngài có thể cuối cùng thốt lên: “Hãy nghỉ yên trong vòng tay Thiên Chúa, nghỉ yên, cha ơi, con yêu cha.”

Sau tang lễ, đức cha Thuận ở lại Úc một thời gian. Một ngày nọ, khi đang ngồi viết bên bàn, cô Hàm Tiếu bất ngờ đề nghị: “Anh không nghĩ rằng mẹ có thể đi du lịch một chút bây giờ sao? Mẹ sẽ rất thích được thăm châu Âu và Bắc Mỹ.”

Đức cha Thuận buông cây bút xuống, quay lại và hỏi: “Em nghĩ mẹ thật sự có thể làm được sao? Mẹ đã 90 tuổi rồi, em quên sao?”

Nhưng cô Hàm Tiếu đã thuyết phục anh mình nói chuyện với mẹ về đề nghị ấy. Khi ngài hỏi, bà Hiệp đáp: “Còn quá sớm để nói về những chuyện này. Nhưng trong tương lai, mẹ muốn thăm Rôma và Lộ Đức, và mẹ muốn gặp các cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ để cảm ơn họ vì sự nâng đỡ.” Đức cha Thuận thử thách bà bằng câu hỏi: “Nâng đỡ nào cơ?”

Mẹ nhìn ngài và mỉm cười, bởi bà biết rằng ngài cũng đã tha thứ cho tất cả những người từng làm hại ông và gia đình: “Nhiều người đã chứng tỏ lòng trung thành với cậu Diệm của con – bà nhấn mạnh – và nhiều người khác thì tự hào về con.”

Ngài gật đầu. Làm sao mình có thể không biết ơn các cộng đồng người Việt, nơi ít nhất một số người đã trung thành với cậu Diệm cho đến cùng và đã bày tỏ tình bạn cũng như sự nâng đỡ dành cho ngài và gia đình? Ngài nhìn những chồng bưu thiếp, thư từ và các thông điệp email in ra đang nằm trên bàn, tất cả đều bày tỏ lời chia buồn về cái chết của người cha.

Đức cha Thuận đã cố gắng gửi thiệp cảm ơn đến tất cả những ai đã nghĩ đến ngài và gia đình trong suốt những năm qua. Ngài tự hỏi:

“Chừng đó chưa đủ để biện minh cho sự tha thứ của chúng ta đối với tất cả những xúc phạm trong quá khứ sao?” Và ngài cảm thấy bình an với chính mình hơn bao giờ hết.

Sau khi trở lại Rôma, một căn phòng nhỏ không còn đủ để chứa các ấn phẩm của ngài trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, nên ngài được cấp thêm hai phòng nữa. Ngài dành nhiều giờ làm việc với các dịch giả và nhà xuất bản cho sách của mình. Đường Hy vọng đã được xuất bản bằng hơn mười hai ngôn ngữ, và các tập sách khác cũng đều thành công rực rỡ.

Nhưng đức cha Thuận không dành toàn bộ thời gian cho việc viết. Ngài bắt đầu thăm viếng các cộng đồng người Việt ở nhiều quốc gia. Giới trẻ trong các cộng đồng ấy tìm đến ngài để xin lời khuyên và sự hướng dẫn. Họ muốn ngài nói chuyện trong các kỳ tĩnh tâm và hội họp của họ. Những cuộc tập hợp lớn của người Công giáo Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đều phải có ngài làm diễn giả chính, nếu không thì sẽ không được coi là thành công.

Chẳng bao lâu sau, khi ngày càng nhiều người đọc sách của ngài, cả các cộng đồng Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha cũng mời ngài đến nói chuyện trong các kỳ tĩnh tâm và đại hội của họ. Ngài đi đến nhiều nước để nói chuyện với các linh mục, tu sĩ và giáo dân, những người trân trọng quan điểm của ông về cuộc sống và đức tin. Họ kính trọng lời ngài nói như kết quả của một kinh nghiệm phong phú, và bởi vì ngài nói như một chứng nhân của niềm hy vọng. Kinh nghiệm cá nhân đã trao cho ngài thẩm quyền trong lời nói, và ngài thu hút những đám đông ngày càng đông đảo. Giới trẻ chen chúc trong các buổi gặp gỡ mỗi khi ngài nói chuyện.

Đức cha Thuận nhận thấy điều thiện có thể phát sinh từ những câu chuyện về cuộc khổ nạn dài của mình. Nhưng ngài tránh nói quá công khai, hoặc quá dài, về cách đối xử mà mình đã nhận từ những kẻ hành hạ và cai ngục. Ngài vẫn nuôi hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ được phép trở lại làm việc tại Việt Nam, và ngài không muốn làm nguy hiểm đến khả năng ấy bởi những gì mình nói ra.

Thật không may, khả năng trở về quê hương của đức cha Thuận ngày càng trở nên mong manh theo thời gian. Sau khi những nỗ lực lặp đi lặp lại của Tòa Thánh nhằm thương lượng với Hà Nội để cho phép ngài trở lại Việt Nam đều thất bại, vào tháng 4 năm 1994, Đức Gioan Phaolô II quyết định bổ nhiệm ngài làm Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình.

Hội đồng này được thành lập như một Ủy ban bởi Đức Phaolô VI vào ngày 6 tháng 1 năm 1967 với sắc lệnh Catholicam Christi Ecclesiam. Ban đầu, đây là một tổ chức thử nghiệm (ad experimentum), sau đó được tái cấu trúc và trở thành thường trực với sắc lệnh Justitiam et pacem ngày 10 tháng 12 năm 1976. Đức Gioan Phaolô II đã biến Ủy ban thành Hội đồng. Mục đích của Hội đồng là làm phong phú và phổ biến học thuyết xã hội của Giáo hội, đặc biệt liên quan đến công việc của con người. Hội đồng cũng hoạt động về các vấn đề công lý và hòa bình, sự tiến bộ của các quốc gia, những vi phạm nhân quyền và thúc đẩy các quyền này, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo.

Chương trình của Hội đồng có thể được xem như một bản tóm lược những khát vọng và nỗ lực trước đây của đức cha Thuận. Ngài cảm thấy tràn ngập bởi một làn sóng khiêm nhường khi biết rằng mình sẽ phục vụ trong một cơ quan của Giáo hoàng. Ngài đã trở thành một thành phần quan trọng của Giáo triều Rôma.

Năm 1994, đức cha Thuận bay sang Paris để đón mẹ đến Pháp và đưa bà đi Lộ Đức. Bà Hiệp đi cùng con gái Hàm Tiếu và cháu gái Tania, 14 tuổi.

Tại thủ đô nước Pháp, ngài cử hành Thánh lễ tại trụ sở Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris cùng với cha Etcharrel, bề trên của cộng đoàn. Sau đó, họ đến xem các hiện vật trưng bày trong phòng các vị tử đạo, nơi mọi người cúi đầu cầu nguyện cho sự trở lại của lòng khoan dung tôn giáo tại Việt Nam.

Bà Hiệp nóng lòng muốn đến Lộ Đức. Bà nói rằng bà muốn cảm tạ Đức Mẹ Vô Nhiễm vì tất cả những phúc lành mà gia đình đã nhận được, đặc biệt là nơi đức cha Thuận. Những lời này khiến người con hiểu rằng, trong khi ngài thường nghĩ đến những bi kịch lớn mà gia đình đã phải chịu đựng, thì mẹ ngài chỉ nhớ đến những phúc lành – và điều đó khiến ngài cảm thấy hổ thẹn.

Được hai người con, cháu gái và cha Văn – một linh mục Việt Nam – tháp tùng, bà Hiệp đi tàu đến Lộ Đức và ngắm nhìn phong cảnh dọc đường đi.

Sức chịu đựng thể chất của mẹ khiến đức cha Thuận ngạc nhiên. Bà đã 91 tuổi, nhưng vẫn quỳ gối hàng giờ trước hang đá Lộ Đức. Đức cha Thuận quỳ bên cạnh mẹ, nghĩ rằng với bao khoảnh khắc tuyệt vời trong đời, ngài phải tạ ơn cả người mẹ trần thế đang quỳ bên cạnh, lẫn Mẹ Thiên quốc mà cả hai đang hướng lời cầu nguyện.

Tại Lộ Đức, đức cha Thuận lại xúc động bởi ký ức về lần “gặp gỡ” đầu tiên với Đức Mẹ Vô Nhiễm. Ngài vẫn cảm thấy một niềm xúc động mạnh mẽ khi đọc lại dòng chữ đặt đúng nơi Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadette: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Ngài tự hỏi: “Có nhiều mầu nhiệm nào lớn hơn thế này không? Ngay trong giây phút được thụ thai, Maria đã bước vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.” Ngài lại nhớ đến lời Đức Mẹ nói với thánh Bernadette: “Ta không hứa sẽ làm cho con hạnh phúc ở thế gian này, nhưng ở thế giới khác.” Ngài nghĩ, không chút cay đắng: “Vâng, Mẹ, Mẹ đã giữ lời hứa.”

Ngài chỉ tự hỏi liệu mình có trung thành với lời hứa ấy như Bernadette hay không. Cô bé đã trở lại với Đức Bà bất kể người ta đối xử với cô thế nào. Đe dọa, nhục nhã và tù đày: cô đã chịu đựng tất cả những điều bất công ấy mà không hề than phiền. Khát vọng cháy bỏng của cô chỉ là được gặp Đức Mẹ Vô Nhiễm vào những ngày và giờ đã định.

“Cô ấy chỉ là một đứa trẻ – đức cha Thuận nghĩ với sự khâm phục – khi phải chịu đựng những điều ấy, trong khi tôi đã trải qua chúng khi đã là người trưởng thành.”

Bà Hiệp cùng hai người con và cháu gái Tania đến Rôma, và đức cha Thuận hạnh phúc khi thấy mẹ cảm nhận niềm vui trong việc thăm viếng Thành phố Vĩnh cửu. Bà Hiệp và cô Hàm Tiếu, được đức cha Thuận tháp tùng, đã được Đức Gioan Phaolô II tiếp kiến tại Castel Gandolfo, và khi Đức Giáo hoàng ban phép lành cho mẹ, người con đã thấy những giọt lệ trong mắt bà. Đức cha Thuận sống những ngày ấy trong trạng thái ngỡ ngàng. Ngài biết ơn vì mẹ cuối cùng đã chấp nhận một điều gì đó từ ngài để đổi lại tất cả những gì bà đã làm. Ngài thấy bà hạnh phúc khi được ở Rôma, chỉ đơn giản vì ngài đang ở bên cạnh bà.

Kết thúc chuyến thăm kéo dài một tháng của bà Hiệp, ngài buồn bã khi phải nói lời tạm biệt mẹ. Trước khi chia tay, bà Hiệp nhìn ngài một lúc rồi nói: “Rõ ràng là Thiên Chúa muốn con ở đây chứ không phải ở Việt Nam. Chính tại đây con sẽ sống và thực hiện các công việc của Ngài. Mẹ sẽ luôn ở cùng con.”

Do đó, ngày 24 tháng 11 năm 1994, đức cha Thuận đã xin từ chức khỏi chức vụ tổng giám mục phó của Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là một khoảnh khắc quyết định đối với ngài: Ngài sẽ ở lại Rôma để phục vụ trong Giáo triều suốt phần đời còn lại.

Tuy nhiên, đôi khi, liên quan đến kế hoạch của Thiên ý, ngài tự hỏi: “Sau bao thử thách gian nan, giờ đây con ở Rôma, nhưng vì sao? Thiên Chúa đã nghĩ gì khi đưa con đến Vatican và thế giới tự do?”

Có vẻ như Đức Giáo hoàng không đặt ra những câu hỏi như vậy. Việc bổ nhiệm đức cha Thuận vào Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình dường như là một hệ quả hợp lý và thích hợp của cuộc khổ nạn dài ở Việt Nam. Như Đức Gioan Phaolô II đã nói với ngài: “Đức cha đến từ một đất nước đã từng trải qua chiến tranh và đã bị giam cầm mười ba năm. Giờ đây đức cha có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình với những người ở nhiều quốc gia nơi có đau khổ và bất công, để chúng ta có thể thúc đẩy công lý và hòa bình và giúp mọi người nhận ra các quyền của họ.”

Đức cha Thuận đã nhận được câu trả lời mà mình tìm kiếm. Ngài sẽ quan tâm và dấn thân vào vấn đề chiến tranh và hòa bình, công lý và bất công trên thế giới. Ngài không vội vàng lao vào thế giới phức tạp của chính trị và công lý xã hội. Ngài còn nhiều điều phải học từ Quốc vụ khanh Tòa Thánh và từ Hồng y Roger Etchegaray, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình.

Đức Hồng y Etchegaray, sinh ra tại vùng Basque của Pháp, là một nhà thơ và nhà ngoại giao lão luyện. Khi còn là tổng giám mục Marseille, ngài đã từng là mục tử của một cộng đồng người Việt đông đảo. Ngài dành một tình cảm lớn cho dân tộc Việt Nam và yêu thích văn hóa cũng như ẩm thực của đất nước này. Trong căn hộ của ngài tại San Callisto, ngay phía trên văn phòng, ngài thường khiến khách ngạc nhiên khi đãi họ những món ăn Việt Nam ngon miệng. Đức cha Thuận rất gắn bó với hồng y Etchegaray và mối quan hệ công việc giữa họ không thể tốt đẹp hơn.

Đức cha Thuận cũng có một mối quan hệ công việc tuyệt vời với Đức ông Diarmuid Martin, người Ireland, thư ký của Hội đồng Giáo hoàng, người đã bắt đầu làm việc tại Vatican từ năm 1977 và là chuyên gia trong việc đối phó với những tình huống khó khăn phát sinh tại Liên Hiệp Quốc hoặc trên thế giới.

Đức cha Thuận là một người điềm tĩnh. Ngài làm việc nghiêm túc, xem xét các hồ sơ một cách cẩn trọng và dành nhiều giờ bên bàn làm việc. Hồng y Etchegaray không phải là một nhà lãnh đạo có tư duy hạn hẹp, ngài giao phần lớn công việc cho các cộng sự tài giỏi và biết ơn vì có thể tin tưởng họ. Ngài cũng là Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Cor Unum, mà đức cha Thuận đã từng biết rất rõ khi điều hành COREV tại Việt Nam.

Với tư cách là Phó Chủ tịch một Hội đồng Giáo hoàng, đức cha Thuận có đủ điều kiện để cư trú tại Vatican và ngài được cấp một căn hộ ở San Callisto. Ban đầu nơi ấy trông chẳng có gì đặc biệt, nhưng sau khi ngài xem lại các bản thiết kế cho những công việc tu sửa cần thiết và góp ý cho thợ xây, thợ mộc, nó đã trở thành một chỗ ở dễ chịu. Ngài dành thời gian trang trí nhà nguyện nhỏ với gu thẩm mỹ tinh tế, nhưng căn phòng ngủ nhỏ – theo thói quen khắc khổ của ngài – không khác gì những căn phòng ngài từng có ở Việt Nam. Nó trống trải và bất tiện như một xà lim, và ngài thích như thế, bởi ngài muốn tiếp tục sống như một người nghèo.

Đức cha Thuận tiếp khách gần như mỗi ngày sau giờ làm việc. Ngài thích gặp gỡ bạn bè cũ và những người quen mới, kể cả trò chuyện với các nhà báo, dù đôi khi một số người trong số họ đã trích dẫn sai lời ngài.

Ngài là một người học hỏi kiên nhẫn và nghiên cứu mọi thứ một cách cẩn trọng. Ngài đã nắm được cách cư xử trong Vatican và kết bạn với những người đến từ khắp nơi trên thế giới. Phần lớn các giám mục và giáo sĩ khi đến Vatican hoặc từ nhiều quốc gia khác nhau đều tìm đến thăm ngài và cảm thấy thoải mái trong sự đồng hành của ngài. Đức cha Thuận luôn trân trọng những cuộc viếng thăm này, bởi cơn khát muốn biết tình hình của Giáo hội trên thế giới nơi ngài gần như không bao giờ được thỏa mãn.

Gần như không thể tránh khỏi việc, sau một cuộc trò chuyện với đức cha Thuận, các vị khách kết thúc chuyến thăm bằng lời mời ngài đến đất nước hoặc giáo phận của họ, để nói chuyện trong một kỳ tĩnh tâm hoặc một sự kiện quan trọng nào đó. Những lời mời như thế trở nên quá nhiều đến mức ngài phải đưa ra những lựa chọn thận trọng về cách sử dụng thời gian tốt nhất.

Dần dần, ngài nắm bắt được những chi tiết liên quan đến các vấn đề nhân quyền, thương mại toàn cầu, toàn cầu hóa, các quốc gia đang phát triển và những hệ quả không ngừng của sự sụp đổ chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu cũng như sự tan rã của Liên Xô.

Đức cha Thuận cũng quan sát kỹ lưỡng tình hình tại quê hương, nơi mối quan hệ giữa chính phủ và Giáo hội vẫn không được cải thiện. Hết lần này đến lần khác, các sáng kiến do Quốc vụ khanh Vatican đề xuất đều thất bại.

Đức cha Thuận lấy làm tiếc rằng những cơ hội thực sự của giữa thập niên 1980 cho sự phục hồi kinh tế của Việt Nam đã biến mất vào cuối thập niên 1990, bởi sự quan liêu bất tài, sự thiếu chắc chắn của pháp luật và nạn tham nhũng ở mọi cấp độ trong đất nước.

Đời sống thiêng liêng vẫn tiếp tục hướng dẫn ngài, và ngài dành nhiều thời gian cầu nguyện cũng như chuẩn bị các bài diễn thuyết với sự chăm chút đầy yêu thương. Ngài hy vọng rằng bất cứ nơi nào mình được mời nói, đặc biệt là với giới trẻ, lời của ngài sẽ giúp thính giả tìm được con đường nhanh hơn để đến với tình yêu của Thiên Chúa và niềm hy vọng


 

Vui để đợi chết – Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

 Theo giai thoại của người Trung Hoa thì ngày xưa có một người tên là Vinh Khải Kỳ tỏ ra là một bậc tiên ông đạo cốt, mình mặc áo lông cừu, lưng thắt dây, ngày ngày giao du ở sơn thủy, vui thú cầm ca, chậm rãi rảo bước, tay đánh đàn, miệng ca hát không ngừng. Một hôm đức Khổng Tử đi dạo gặp Vinh Khải Kỳ, ngài mới hỏi ông: “ Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ, ca hát như thế?”.

 Khải Kỳ thưa: “ Trời sanh muôn vật, loài người cao quý nhất. Ta đã được làm người, đó là điều đáng vui. Người ta sinh ra có người đui què, có người non yếu… mà ta thì khỏe mạnh sống lâu, thế là hai điều đáng vui. Còn cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là hết sự đời. Ta nay biết vui với cảnh đời để đợi cái chết thì còn gì lo buồn nữa.?”

 Lạc quan, vui sống là đức tính cơ bản nhất của người Kitô. Người Kitô nhận ra phẩm giá cao cả của mình và tiếp nhận mọi sự xảy đến như một hồng ân của Chúa. Cây cỏ đồng nội, muôn thú trên rừng không nhọc công tích trữ mà còn được Chúa che chở nuôi nấng, huống chi con người là hình ảnh của Người… Mỗi ngày có niềm vui, nỗi khổ của nó. Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống từng phút giây như một ân ban của Chúa, đó là bí quyết để giúp ta được hạnh phúc ở đời này.

 Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài.

(VietCatholic News Nov 2004)

ĐỪNG ĐÁNH MẤT PHẨM CHẤT CAO ĐẸP CỦA MÌNH – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

(Suy niệm Chúa nhật I mùa Vọng năm A)

 Sứ điệp: Luôn tỉnh táo và canh phòng đừng để những đam mê thế tục cướp mất phẩm chất cao đẹp của mình.

***

Con người có giá trị rất cao

 Cách đây vài ba trăm năm việc buôn bán nô lệ xảy ra khá phổ biến tại Mỹ. Những người nô lệ bị xem như súc vật, như một thứ hàng hóa có thể mua đi bán lại dễ dàng. Họ không được xem như con người có danh dự hay phẩm giá. 

Và hôm nay, trong thời đại văn minh nầy, cũng còn đó những người bị mua đi bán lại và thậm chí có người tự bán thân mình để sắm nhà lầu xe hơi. Như vậy, còn đâu phẩm giá con người? 

Trong khi đó, Hội thánh dạy chúng ta biết rằng Ki-tô hữu là người có phẩm giá cao và rất đáng trân trọng. Thánh Lê-ô Cả giáo hoàng dạy như sau:  

 “Hỡi các Ki-tô hữu, hãy ý thức về phẩm giá của bạn. Giờ đây bạn đã được thông phần bản tính Thiên Chúa… Bạn hãy nhớ Chúa Giê-su là Đầu của bạn và bạn là chi thể của Ngài. Hãy nhớ rằng bạn đã được cứu thoát khỏi quyền lực tối tăm, đã được đưa vào trong ánh sáng và Nước Thiên Chúa.

 Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, bạn đã trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần (…..) được cứu chuộc bằng Máu Đức Ki-tô. ”

Ngoài ra, thánh Athanasiô và một số các giáo phụ khác đã mạnh mẽ khẳng định rằng: “Con Thiên Chúa nhập thể làm người để con người được trở nên Thiên Chúa” (GLHTCG 460). 

Chỉ có tội lỗi mới có thể huỷ hoại giá trị con người 

Dù có bị lũ lụt cuốn trôi hết sản nghiệp, dù có làm ăn thua lỗ, trở thành người trắng tay… thì phẩm chất con người vẫn còn nguyên vẹn.

Dù có bị mất mát tay chân vì tai nạn hay bệnh tật, thì danh giá người ta vẫn không vì thế mà bị sứt mẻ, hao mòn…Chỉ có tội lỗi và chỉ có tội lỗi mà thôi mới có thể huỷ hoại danh giá, cướp mất phẩm chất cao đẹp của con người.

 Xét về mặt tâm linh, khi phạm tội trọng, chúng ta bị cắt lìa khỏi Chúa Giê-su như cành nho lìa khỏi thân nho, như bàn tay bị cắt lìa cơ thể… Khi ấy chúng ta không còn là chi thể của Chúa Giê-su, không còn là đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa, mà chỉ còn là một chi thể chết, một cành héo khô. 

Hãy tỉnh thức, đừng đánh mất giá trị cao quý của mình

Bước vào mùa Vọng, Lời Chúa kêu mời chúng ta hãy tỉnh táo nhận ra giá trị cao quý của mình để bảo toàn nó bằng mọi giá. 

Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su dạy chúng ta hãy làm như người chủ khôn ngoan, canh chừng cẩn mật, không để cho kẻ trộm đào ngạch khoét vách nhà mình, lấy đi kho báu của mình, cướp mất phẩm giá cao quý của mình.

 Trong bài trích thư gửi tín hữu Rô-ma được chọn đọc hôm nay, thánh Phao-lô cũng thức tỉnh chúng ta đừng mê ngủ, đừng để những đam mê thế tục cướp mất phẩm chất cao đẹp của mình: “Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,12-14). 

Lạy Chúa Giê-su,

Vì yêu quý mỗi người chúng con, Chúa sẵn sàng hiến dâng mạng sống để cứu chuộc chúng con và nâng chúng con lên hàng con cái quý yêu của Chúa. Xin cho chúng con luôn trân trọng phẩm giá cao đẹp của mình và quyết tâm bảo vệ phẩm chất nầy bằng mọi giá. Amen. 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

From: ngocnga_12- NguyenNThu


 

Trump có cớ để siết chặt chính sách nhập cư

Ba’o Nguoi-Viet

November 28, 2025

Hiếu Chân/Người Việt

Vụ phục kích hai người lính Vệ Binh Quốc Gia (VBQG) ở thủ đô Washington DC là cái cớ hoàn hảo để chính quyền Trump đẩy mạnh việc siết chặt chính sách di trú, đặt ra nhiều hệ luỵ xấu cho các cộng đồng di dân ở Hoa Kỳ.

Những bó hoa để tại nơi hai binh sĩ Vệ Binh Quốc Gia bị một người Afghanistan từng làm việc với CIA bắn, trong đó có một người qua đời, gần trạm Farragut West Metro Station ở Washington DC hôm Thứ Sáu, 28 Tháng Mười Một. (Hình minh họa: Brendan Smialowski/AFP via Getty Images)

Đảo ngược chính sách di trú

Tổng Thống Donald Trump hết sức tức giận sau vụ hai binh sĩ VBQG West Virginia, Sarah Beckstrom 20 tuổi, và Andrew Wolfe 24 tuổi, bị phục kích chỉ cách Toà Bạch Ốc vài dãy phố. Cô Beckstrom qua đời vì vết thương quá nặng trong khi anh Wolfe đang rất nguy kịch.

Hung thủ được xác định là một người tị nạn từ Afghanistan, 29 tuổi. Ngay lập tức, trong một bài diễn văn ở Mar-a-Lago, nơi tổng thống đón Lễ Tạ Ơn cùng gia đình, ông Trump tuyên bố “chúng ta phải xem xét lại mọi người lạ đã vào nước này từ Afghanistan.”

Theo chỉ thị của ông, Sở Di Trú và Nhập Tịch (USCIS) sau đó thông báo tạm thời đình chỉ toàn bộ việc xem xét hồ sơ di trú của người Afghanistan, từ tị nạn, thị thực di dân, và không di dân đến việc cấp thẻ thường trú nhân (thẻ xanh). Trước đó, cơ quan này đã có kế hoạch xem xét lại trường hợp tất cả những người tị nạn được định cư thời chính quyền Biden, đóng băng việc cấp thẻ xanh cho họ, theo hãng tin Bloomberg.

Trong một loạt bài đăng trên Truth Social hai ngày qua, ông Trump thông báo điều động thêm 500 VBQG đến thủ đô, đổ lỗi cho chính quyền tiền nhiệm Joe Biden tiếp nhận người tị nạn từ Afghanistan, đảo ngược chính sách di trú hiện hành, đe dọa tước quốc tịch Mỹ của những người nhập cư “đang xói mòn sự thanh bình của nước Mỹ.” Ông đồng thời dọa sẽ cắt hết phúc lợi liên bang, trợ cấp liên bang của những người chưa phải là công dân và trục xuất tất cả những người nước ngoài tỏ ra “không phù hợp với văn minh Phương Tây!”

“Tôi sẽ tạm dừng vĩnh viễn việc di cư từ tất cả các nước Thế Giới Thứ Ba để cho phép khôi phục hoàn toàn hệ thống của Mỹ, chấm dứt hàng triệu trường hợp tiếp nhận bất hợp pháp của Biden, kể cả những trường hợp được ký bằng bút ‘tự động’ của Biden Ngủ Gục và trục xuất tất cả những ai không mang lại lợi ích cho nước Mỹ,” ông Trump viết trên mạng xã hội trước khi đăng bài đe doạ bãi bỏ toàn bộ các sắc lệnh hành pháp đã được Tổng Thống Joe Biden ban hành trước đây, viện cớ những sắc lệnh đó được ký tự động bằng bút “tự động.”

Những lời đe dọa này báo hiệu một bước leo thang mới trong chính sách nhập cư của chính quyền Trump. Ngay sau khi nhậm chức hồi Tháng Giêng, ông Trump đã đẩy mạnh việc truy tìm, bắt giam và trục xuất những di dân ở Mỹ không giấy tờ, ngăn chặn làn sóng vượt biên vào Mỹ bất hợp pháp, và bãi bỏ quy chế định cư tạm thời cho hàng trăm ngàn người từ các quốc gia bất ổn.

Tại sao Afghanistan?

Dù ai cũng đau xót trước cái chết vô cớ của người nữ VBQG mới 20 tuổi Sarah Beckstrom, dù ai cũng căm giận với hung thủ Rahmatullah Lakanwal, nhưng việc sử dụng vụ sát nhân làm cái cớ để trừng phạt cả một cộng đồng người Afghanistan là không hợp lẽ.

Khi rút quân khỏi Afghanistan hồi Tháng Tám, 2021, chính phủ Mỹ thời Biden mở chiến dịch “Operation Allies Welcome” (OAW), đưa sang Mỹ hàng ngàn người Afghanistan từng cộng tác với quân đội Mỹ trong thời gian chiến tranh chống khủng bố, lo sợ bị Taliban trả thù sau khi tổ chức khủng bố này chiếm được quyền kiểm soát Afghanistan. Chiến dịch này có phần giống với các chương trình tiếp nhận người Việt tị nạn Cộng Sản và tái định cư các sĩ quan VNCH sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975.

Hãng tin Reuters ghi nhận có 70,000 người Afghanistan được tiếp nhận theo chương trình OAW trong khi hãng tin Bloomberg nói có hơn 190,000 người Afghanistan được Mỹ tiếp nhận từ năm 2021. Còn theo tổ chức nghiên cứu Migration Policy Institute, đến năm 2022, có khoảng 200,000 di dân Afghanistan ở Mỹ, tập trung ở khu vực thủ đô Washington và tiểu bang California. Hầu hết những người này được ở Mỹ theo diện “Bảo Hộ Tạm Thời” (Temporary Protected Status for Afghanistan – TPS), một quy chế đã bị Bộ Trưởng Bộ Nội An (DHS) Kristi Noem bãi bỏ từ ngày 14 Tháng Bảy vì cho rằng ở Afghanistan tình hình an ninh đã được cải thiện, kinh tế ổn định để người di cư có thể quay về.

Hung thủ Rahmatullah Lakanwal là một trong những người Afghanistan được vào Mỹ năm 2021 theo chương trình OAW nêu trên. Theo giám đốc CIA, nghi can Lakanwal từng là thành viên đơn vị “Zero Unit,” được CIA thành lập, huấn luyện và bố trí hoạt động bí mật ở tỉnh Kandahar ở Afghanistan. Sau năm 2021, Lakanwal được sang Mỹ, tạm cư ở tiểu bang Washington cùng vợ và năm người con. Cuối năm 2024, anh ta nộp hồ sơ xin tị nạn (asylum), được Bộ Nội An thẩm vấn, được chấp thuận và được cấp quy chế tị nạn vào ngày 23 Tháng Tư, ba tháng sau ngày ông Trump nhậm chức. Vẫn chưa rõ Lakanwal có động cơ gì khi lái xe xuyên qua nước Mỹ đến thủ đô Washington DC phục kích các binh sĩ VBQG đang tuần tra gần Tòa Bạch Ốc. Hành động của Lakanwal thật ghê tởm, anh ta sẽ phải trả cái giá đắt nhất, có thể phải lãnh án tử hình.

Nhưng không thể vì tội lỗi của một cá nhân để trừng phạt cả một cộng đồng. “Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi,” lập luận của ông Trump rằng ngay cả những người nhập cư vào Mỹ một cách hợp pháp cũng đặt ra mối đe dọa an ninh cho người Mỹ để rồi ông ra lệnh xem xét lại toàn bộ chính sách nhập cư có điều gì đó phi lý không chấp nhận được. Nên để ý ông Trump đã phớt lờ chuyện hung thủ vào nước Mỹ một cách chính thức, được Bộ Nội An cấp quy chế tị nạn đúng luật, mà chỉ tập trung đổ lỗi cho chính quyền Biden tiền nhiệm.

Bước chuyển của chính sách di trú Mỹ

Và không chỉ dừng ở người Afghanistan, ông Trump mở rộng sang “tạm dừng vĩnh viễn việc di cư từ tất cả các nước Thế Giới Thứ Ba” (Third World Countries). Khi được hỏi “Thế Giới Thứ Ba” là những nước nào thì Bộ Nội An đưa ra danh sách 19 nước đã bị hạn chế nhập cảnh vào Mỹ theo một sắc lệnh của ông Trump hồi Tháng Sáu. Bộ Nội An xác nhận cơ quan này đang xem xét toàn bộ các hồ sơ xin tị nạn từ 19 quốc gia này đã được chấp nhận, thậm chí đã được cấp quy chế thường trú nhân (thẻ xanh), dưới thời chính quyền Joe Biden. Vụ sát hại các VBQG hôm Thứ Tư, 26 Tháng Mười Một, làm cho công việc xem xét lại đó càng trở nên cấp bách hơn nữa.

Những quốc gia này là Afghanistan, Miến Điện, Chad, Congo, Equatorial Guinea, Eritrea, Haiti, Iran, Libya, Somalia, Sudan, Yemen, Burundi, Cuba, Lào, Sierra Leone, Togo, Turkmenistan, và Venezuela. Đây phần lớn là những nước độc tài chuyên chế, đang có chiến tranh, bất ổn chính trị, kinh tế kiệt quệ, không bảo đảm quyền sống tối thiểu của người dân. Cánh cửa vào Mỹ đã đóng với hàng triệu công dân các nước này.

Phản ứng quá đáng của ông Trump sau vụ giết hại VBQG cho thấy người nhập cư vẫn là vấn đề trung tâm trong sinh hoạt chính trị nước Mỹ trước cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2026. Biến người nhập cư thành vật tế thần giúp chính quyền Trump hướng sự chú ý của công luận ra khỏi những đề tài gay gắt như vật giá leo thang, bảo hiểm y tế đắt đỏ, thậm chí vụ hồ sơ của tỷ phú ấu dâm Jeffrey Epstein đang gây chia rẽ trầm trọng trong hàng ngũ MAGA. Nó chuyển trọng tâm chính sách di trú của chính quyền Trump từ chỗ truy lùng, bắt giam, và trục xuất những di dân vi phạm pháp luật, rồi đến những di dân không vi phạm pháp luật nhưng sống ở Mỹ không có giấy tờ, chuyển sang nhắm vào những người tị nạn, di dân vào Mỹ hợp pháp, thậm chí đã có thẻ xanh hoặc đã nhập tịch Mỹ.

Ông Trump và đảng Cộng Hòa cũng hy vọng với chính sách di trú cứng rắn nhất, họ có thể tiếp tục thuyết phục cử tri rằng, mọi người nhập cư, dù hợp pháp hay bất hợp pháp, đều là mối đe dọa an ninh cho nước Mỹ, cho người Mỹ, và từ đó họ hy vọng sẽ giành được lá phiếu trong kỳ bầu cử sắp tới.

Sự dịch chuyển chính sách này là rất đáng lo ngại, không chỉ cho công dân của 19 quốc gia nêu trên mà cho các cộng đồng nhập cư ở Mỹ nói chung.

Trở ngại pháp lý

Chưa rõ ông Trump và chính quyền của ông có đủ thẩm quyền để ban hành và thực thi một chính sách di trú khắc nghiệt và rộng rãi như vậy hay không bởi vì thẩm quyền hoạch định chính sách di trú thuộc về Quốc Hội. Những biện pháp mới mà ông Trump chỉ đạo thực hiện có nguy cơ sẽ bị Quốc Hội bác bỏ, bị toà án liên bang ngăn chặn, và chắc chắn sẽ bị dẹp nếu tổng thống kế nhiệm vào năm 2028 là người của đảng đối lập.

Cộng đồng quốc tế khá bất ngờ với những tuyên bố chính sách mới của ông Trump. Bà Jasmin Lilian Diab, giám đốc Viện Nghiên Cứu Di Trú đại học Lebanese American University của Mỹ ở Lebanon, nói quyết định “ngừng xem xét việc di cư của hàng ngàn người tị nạn có thể phá hủy các gia đình, các cộng đồng địa phương, và xói mòn tính chất toàn vẹn của hệ thống di trú. “Trong khi sự kiện gần đây là rất bi thảm, việc dùng một sự kiện cá biệt để biện hộ cho chính sách đóng băng di trú hàng loạt không thích hợp với các bằng chứng cho thấy không có mối liên hệ giữa dòng người di cư và sự gia tăng tội phạm,” bà Dian nói với hãng tin Reuters. Rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phạm tội do người nhập cư gây ra luôn thấp hơn rất nhiều so với người bản địa, kể cả ở Hoa Kỳ.

Ông Farhan Haq, phát ngôn viên của tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, kêu gọi chính phủ Mỹ tiếp tục tiếp nhận người người di cư và tị nạn, tuân thủ các cam kết của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Người Di Cư năm 1951, 1953, và 1967 mà Quốc Hội Mỹ đã phê chuẩn. “Người di cư phải được bảo vệ theo luật pháp quốc tế và phải được xem xét theo pháp luật,” ông Jeremy Laurence, phát ngôn viên cơ quan nhân quyền Liên Hiệp Quốc, nói với báo chí tại Geneva, Thụy Sĩ, theo Reuters. [đ.d.]


 

LŨ LỤT MIỀN TRUNG VÀ NHỮNG KẺ MUỐN BỊT MIỆNG ANH JOHNNY TRÍ NGUYỄN.

Thao Teresa

Johnny Trí Nguyễn (tên thật Nguyễn Chánh Minh Trí, sinh 16/1/1974) là một diễn viên – võ sư Việt kiều Mỹ. Anh từng là cascadeur tại Hollywood trước khi quay về Việt Nam và nổi bật với dòng phim hành động – võ thuật.

Những phim tiêu biểu của anh gồm Dòng máu anh hùng, Bẫy rồng và Bụi đời Chợ Lớn, giúp anh trở thành gương mặt được yêu mến trong làng điện ảnh Việt.

Ngoài diễn xuất, anh còn mở võ đường riêng, tiếp tục đóng góp cho võ thuật và phát triển cộng đồng võ.

Anh là tiếng nói hiếm hoi trong giới điện ảnh, diễn viên về lũ lụt miền Trung. Một bài viết mang tên THỜ Ơ (xem theo link dưới phần bình luận) của anh đến thời điểm này có hơn 70.000 like, 7.400 bình luận, 11.000 lượt chia sẻ, lan tỏa mạnh trong cộng đồng.

Quan điểm chung của bài viết là:

“Lũ lụt miền Trung lặp lại suốt nhiều thập kỷ vì chúng ta chỉ cứu trợ mà không giải quyết gốc rễ.”

Anh nêu bốn nguyên nhân chính làm tình hình ngày càng nặng: rừng tự nhiên bị mất và thay bằng rừng kinh tế không giữ nước; thủy điện nhỏ dày đặc, hồ quá bé nên không thể cắt lũ; quy hoạch tùy tiện, xây dựng lấn vùng trũng và bóp dòng chảy; và “địa khí” miền Trung vốn nhạy cảm nên càng bị tổn thương khi tự nhiên bị can thiệp.

Anh kêu gọi chuyển từ cứu trợ sang các giải pháp dài hạn: phục hồi rừng, rà soát thủy điện nhỏ, quy hoạch theo luồng nước, ứng dụng khoa học để chấm dứt cảnh “năm nào cũng cứu”.

Không hẳn những điều anh viết đều đúng, đều chính xác, nhưng đó là một tiếng nói có trách nhiệm, một tiếng nói lương tâm của một nghệ sĩ.

Hầu hết độc giả đều ủng hộ, đồng tình với anh. Nhưng không thiếu những tiếng nói phản đối. Và nhiều tiếng nói phản đối được vận hành theo nguyên tắc bịt miệng, điển hình là bài viết của Xuancuong Bùi (xem hình chụp).

Không chỉ với Johnny Trí Nguyễn mà đó là cách họ làm với bất cứ ai lên tiếng có trách nhiệm, có lương tâm về lũ lụt miền Trung (và rộng ra các vấn đề xã hội).

Thủ thuật, xảo thuật của họ là:

  1. Công kích cá nhân

“Anh chỉ là diễn viên – võ sư, không đủ tư cách nói về thiên tai, quy hoạch, thủy điện, khí hậu.”

“Lấy hoạn nạn của dân làm bàn đạp đánh bóng tên tuổi.”

“Đứng ngoài cuộc mà phán xét, cảm tính, dân túy.”

“Mượn nỗi đau để dựng vai ‘người thức tỉnh’.”

“Không chuyên môn thì nên câm lặng, đừng dạy đời.”

2.Chiến thuật đánh tráo vấn đề

Biến thảo luận chính sách thành công kích động cơ.

Biến việc góp ý về quy hoạch – rừng – thủy điện – quản lý rủi ro thành “chê dân”, “xúc phạm quốc gia”.

Quy kết người nêu bất cập thành “gieo chia rẽ, gây hoài nghi”.

Đánh đồng việc nói “thờ ơ tập thể” với “chửi cả dân tộc, bôi nhọ bao thế hệ”.

III. Chiến thuật so sánh sai lệch

Lấy ví dụ nước ngoài để phủ nhận trách nhiệm quản lý:

“Nhật, Hàn, Mỹ, châu Âu cũng chết vì lũ — vậy Việt Nam có lũ là bình thường.”

“Họ quy hoạch tốt mà vẫn thiệt hại, vậy không thể nói ta sai.”

“Mưa cực đoan quá lớn, đến hồ Hòa Bình đặt vào cũng vô dụng.”

4. Chiến thuật tuyệt đối hóa thiên tai

“Thiên nhiên quá mạnh thì con người bó tay, đừng đòi hỏi gì.”

“Mưa 1,2–1,8m/3 ngày thì không nơi nào chống nổi.”

“Địa hình miền Trung như vậy thì xoay xở cũng vô ích.”

Cách nói này nhằm loại bỏ mọi khả năng cải thiện, xem tan hoang là điều “không thể tránh”.

5. Chiến thuật dùng tổ tiên để bác bỏ lý luận

“Tổ tiên cũng trị thủy, khai hoang, đâu trốn tránh vùng trũng.”

“Dân số tăng thì phải lan xuống vùng nguy hiểm, đó là điều hiển nhiên.”

“Nếu tổ tiên né nước dữ thì làm gì có đồng bằng sông Hồng ngày nay.”

Xem lịch sử như bằng chứng chống lại quy hoạch khoa học hiện đại.

 VI. Chiến thuật tuyệt đối hóa thủy điện

“Bỏ thủy điện nhỏ thì lấy gì dùng? Anh có dám cắt 30% điện không?”

“Hồ chứa bé do địa hình, chứ không phải lỗi quy hoạch.”

“Xem xét thủy điện nhỏ là ảo tưởng của kẻ đứng ngoài.”

Xóa bỏ mọi thảo luận về tác động thủy điện nhỏ – vốn là chủ đề khoa học đã được nêu từ 15 năm nay.

VII. Chiến thuật gán nhãn nguy hiểm

“Gieo bất mãn, gây hoài nghi về Nhà nước.”

“Làm nhiễu loạn dư luận.”

“Phán xét mơ hồ, đứng trên mà dạy đời.”

Tạo áp lực dư luận để bịt miệng tiếng nói phản biện.

Những kẻ dùng luận điểm bịt miệng này đa số là Facebook khóa trang, ẩn danh … cho phép chúng ta hiểu rằng họ là thế lực thù địch đang muốn chống lại sự tiến bộ, sự thay đổi của đất nước.

Cũng có thể chúng thuộc nhóm người đã gây nên nhân tai trong các thảm họa và đang tìm cách chống chế, chạy tội. Tất nhiên cũng có thể đó là một số bạn chưa nắm bắt vấn đề, chưa hiểu biết đầy đủ…

Vì vậy, nhắn gửi diễn viên Johnny Trí Nguyễn và các bạn đang lên tiếng về lũ lụt:

Các bạn không có gì phải sợ, phải e ngại trước những luận điểm này khi tâm các bạn sáng và mục đích các bạn tốt đẹp!

Và, nhất là khi tiếng nói của chúng ta phù hợp với chính sách của nhà nước. Mới nhất trong cuộc họp hôm qua, chính quyền cũng đã có những kết luận tương tự .

Nguồn : FB Đặng Chương Ngạn


 

CẦU NGUYỆN NHIỀU VẬY ĐỂ ĐƯỢC GÌ ?

CẦU NGUYỆN NHIỀU VẬY ĐỂ ĐƯỢC GÌ ?

Một người ngoại giáo hỏi tôi :

– Bạn “được” gì khi ngày nào cũng kiên trì cầu nguyện với Chúa như thế?

Tôi thành thật trả lời:

– Thường thì tôi chẳng giành được gì cả, mà thực ra “mất” đi nhiều thứ:

Tôi mất đi lòng tự cao

Tôi mất đi tính kiêu căng

Tôi mất đi sự tham lam

Tôi mất đi thói gian dối

Tôi mất đi tính nóng giận

Tôi mất đi tật xét đoán

Tôi mất đi sự hấp tấp

Tôi mất đi mong muốn phạm tội

Tôi mất đi lòng ghen ghét, hờn giận

Tôi mất đi sự chán nản, thất vọng và hèn nhát…

Đôi khi chúng ta cầu nguyện không phải là để giành được một điều gì đó, nhưng là để mất đi những thứ cản trở chúng ta trên con đường theo Chúa.

Cầu nguyện rèn giũa, thêm sức mạnh và chữa lành tâm hồn mỗi người.

Cầu nguyện là kênh nối kết chúng ta trực tiếp với Chúa.

Thánh Pio


 

THANH THOÁT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời!”.

“Cuộc sống tôi chỉ là tấm lụa dệt ‘giữa Chúa và tôi’. Tôi không thể chọn màu, Ngài thường dệt những nỗi buồn! Ngài nhìn phía trên; tôi nhìn phía dưới. Mãi cho đến khi khung dệt lặng yên, Ngài mở khung, giải thích. Các sợi xám thật cần thiết giữa sợi bạc, sợi vàng trong bàn tay khéo léo của Ngài!” – Benjamin Malachi Franklin.

Kính thưa Anh Chị em,

Thế giới vật chất luôn kéo chúng ta xuống, nhìn ‘phía dưới’ tấm lụa đời mình. Lời Chúa hôm nay nhắc bạn và tôi nhìn lên, bước ra khỏi những ngổn ngang “say sưa, lo lắng sự đời”, hầu có thể ‘thanh thoát’.

“Nặng nề vì chè chén say sưa” trước hết được hiểu ở cấp độ nghĩa đen; nhưng “say sưa” cần hiểu ở cấp độ tâm linh, khi chúng ta tìm kiếm một cảm giác an toàn, một sự thoát ly nhất thời, một thứ ‘an thần’. “Thực tại không làm tôi ấn tượng; tôi chỉ tin vào đam mê và khoái lạc – và khi đời thường trói buộc, tôi thoát đi bằng bất cứ cách nào!” – Anaïs Nin. Vậy mà mỗi khi thoả hiệp, tôi trở nên “nặng nề” hơn. Thứ đến, chúng ta có thể quá bận tâm với vật chất và lo lắng sự đời, vốn là nguồn gốc của sự quá tải; và khi quá tải, chúng ta tìm lối thoát. Thông thường, những ‘lối thoát’ ấy lại khiến chúng ta rũ liệt, đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, mất hết niềm vui và nhuệ khí. “Sự mệt mỏi thường không xuất phát từ công việc, mà từ lo lắng, thất vọng và oán trách!” – Dale Carnegie.

Đang khi cuộc sống là thời gian chuẩn bị, không chỉ cho tình bạn với Thiên Chúa mà còn cho ‘tấn công’ của ba thù và những ‘gian khổ’ dai dẳng. Cuộc chiến tâm linh có thật, dù nhận thức hay không, muốn hay không muốn! Chúng ta phải chiến đấu mỗi ngày, và trận chiến quan trọng nhất vẫn là trận chiến sâu thẳm trong trái tim. Chúa Giêsu muốn chúng ta chiến thắng bằng cầu nguyện và tỉnh thức, hầu có thể ‘thanh thoát’ và không trở nên bải hoải, chìm vào u mê. “Chiến thắng chính mình là khởi đầu của mọi chiến thắng; hãy thức tỉnh và cầu nguyện, vì linh hồn không thể chiến đấu khi đang ngủ mê!” – Augustinô.

Anh Chị em,

“Chớ để lòng mình ra nặng nề!”. Hôm nay, thứ Bảy cuối năm phụng vụ, bạn và tôi ngước nhìn Mẹ Maria, một con người ‘tòng thuộc’ Thiên Chúa. Giữa bao sóng gió, thử thách – những ‘sợi chỉ xám’ màu tối – không gì làm Mẹ dao động; không gì ngăn cản Mẹ cất cao lời kinh “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa”. Trái lại, Mẹ ‘thanh thoát’ vì đã giao ‘khung lụa đời mình’ cho Chúa, để Ngài tự do chọn màu, vẽ và thêu. Mẹ dâng mọi sự cho Chúa, Đấng đầy ắp Mẹ; trái tim Mẹ – được dẫn dắt bởi tình yêu – cho phép Mẹ luôn chọn điều tốt nhất và từ chối bất cứ điều gì có thể phương hại ‘bức tranh’ đời Mẹ. Hãy cầu xin và bắt chước các nhân đức của Mẹ! “Chìa khóa cho mọi điều là sự buông bỏ – thực sự đứng trước Chúa và nói: ‘Con xin ở đây bao lâu Chúa muốn’ hoặc ‘Lạy Chúa, con sẵn sàng đi bất cứ nơi nào trên trái đất này!’” – Francis Chan.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thôi tìm kiếm những ảo giác, giao mọi sự cho Chúa, hầu có thể ‘bay bổng!’” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 **************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXXIV Thường Niên, Năm Lẻ

Anh em hãy tỉnh thức, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 21,34-36

34 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, 35 vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. 36 Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.”


 

Chặng Đàng Thứ Mười Hai- Chúa Giêsu sinh thì trên Thập Giá – Cha Vương

Mến chào bình an! Nào ta tiếp tục tạ ơn Chúa vì Ngài đã hy sinh chịu chết cho nhân loại.

Cha Vương

Thứ 6: 28/11/2025 (n29-24)

Chặng Đàng Thứ Mười Hai- Chúa Giêsu sinh thì trên Thập Giá

* CĐTG do ĐGH Benedict XVI biên soạn, Lm. Gioan Trần Công Nghị dịch.

LỜI CHÚA: Trích Phúc Âm theo Thánh Gioan (Ga 19: 19-20)—Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.” Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp.

Trích Phúc Âm theo Thánh Matthêu (Mt 27:45-50, 54)—Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Hắn ta gọi ông Ê-li-a!” Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo: “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không!” Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”

SUY NGẮM: Bằng tiếng Hy Lạp và Latin là 2 ngôn ngữ quốc tế lúc bấy giờ, và tiếng Hipri là ngôn ngữ Con Người Chọn, một tấm biển trên Thập Giá Chúa Giêsu, chỉ cho thấy người đó là ai: Là Vua dân Do Thái, người Con Vua Đa Vít được hứa hẹn. Philatô, quan tòa bất công, tự trở thành một ngôn sứ bị coi thường. Vương quyền của Chúa Giêsu được công bố cho toàn thế giới. Chính Chúa Giêsu đã không nhận chức tước “Messiah”, bởi vì nó sẽ đưa ra một sự hiểu lầm, theo tư tưởng quyền lực và giải thoát của con người. Rồi giờ đây tước hiệu vẫn còn công khai được trưng trên Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh. Người thật sự là vua của thế gìới. Giờ này Người đã thật sự “được nâng lên”. Khi chìm xuống dưới vực thẳm sâu Ngài trổi vượt lên đến tột đỉnh. Bây giờ người hoàn tất một cách triệt để giới răn yêu thương, ngài đã hoàn toàn tự hiến và giờ này đây bằng cách này người là sự mặc khải của Thiên Chúa thật, Thiên Chúa là tình yêu. Giờ này chúng ta biết Thiên Chúa là ai. Giờ này chúng ta biết vương quyền thật sự là gì. Chúa Giêsu đã cầu nguyện theo lời Thánh Vịnh 22, bắt đầu bằng những lời “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (22:2). Ngài mang cho mình tất cả sự đau khổ của dân Israel, tất cả sự đau khổ của nhân loại, bi kịch đen tối của Thiên Chúa, và người làm cho Thiên Chúa hiện diện trong mọi chốn nơi nơi mà dường như người bị đánh bại và vắng bóng. Thập Giá Chúa Giêsu là một biến cố hoàn vũ. Thế giới bị đen tối, khi Con Thiên Chúa bi ruồng bỏ cho đến chết. Trái đất rung động. Và trên Thập Giá, Giáo Hội giữa những người lương dân chào đời. Viên đội trưởng Roma hiểu biết điều này và nhận thức ra rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Từ trên Thánh Giá, lại một lần nữa người đã chiến thắng.

LỜI NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu Kitô, trong giờ phút sinh thì của Chúa, mặt trời đã u ám. Chúa lại bị đóng đinh trên Thập Giá lần nữa. Trong giờ phút hiện tại của lịch sử, chúng con đang sống trong bóng tối của Thiên Chúa. Qua sự đau khổ cực độ của Chúa và sự độc ác của con người, dung mạo của Chúa, gương mặt của Chúa dường như bị che khuất, không còn nhận diện được. Và rồi, trên Thập Giá, Chúa đã tự tỏ mình ra. Chúa được tán dương, hoàn toàn là đấng chịu đau khổ và yêu thương. Từ trên Thập Giá trên cao, Chúa đã chiến thắng. Xin giúp chúng con nhận ra khuôn mặt của trong giờ phút đen tôi và khổ đau này. Xin giúp chúng con tin tưởng vào Chúa và bước theo Chúa trong giờ phút đen tối và cùng cực. Xin tỏ mình ra cho thế giới lần nữa trong giây phút này. Xin bộc lộ cho chúng con sự cứu chuộc của Chúa.

Lạy Chúa, vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời, và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy. Amen.

From: Do Dzung

*************************

TÌNH KHÚC TẠ ƠN || GIA ÂN OFFICIAL

Di tản khẩn cấp giữa biển lũ và đất sụt ở Đắk Lắk

Ba’o Dat Viet

November 27, 2025

Giữa những cơn mưa dầm dề và nỗi bất an dâng đầy trong lòng dân, hơn ba chục gia đình ở thôn Vĩnh Xuân, xã Tuy An Tây, tỉnh Đắk Lắk, lại một lần nữa phải rời bỏ mái nhà thân thuộc. Không còn là để tránh lũ, mà là để chạy trốn khỏi những vết nứt đang há miệng nuốt dần từng mảnh đất dưới chân họ.

Cơn mưa lớn đêm 19, rạng sáng 20 Tháng Mười Một đã khiến cả vùng đồi núi Vĩnh Xuân rung chuyển. Đường làng sạt lở, tường nhà nứt toác, đất nền trượt xuống từng mảng. “Nền đất yếu đi từng ngày, có chỗ đã lún sâu, tường nhà nứt và nghiêng hẳn,” ông Phan Quang Phi – chủ tịch xã Tuy An Tây – nói với báo VietNamNet. Cả xã buộc phải ra lệnh di tản khẩn cấp 35 hộ dân, tổng cộng 119 người, trước khi tai họa ập đến.

Không chỉ riêng Vĩnh Xuân, mưa lớn kéo dài suốt nửa tháng qua đã biến miền Trung và Tây Nguyên thành vùng thiên tai tang thương nhất trong nhiều thập niên. Theo số liệu từ Cục Quản Lý Đê Điều và Phòng Chống Thiên Tai, đợt mưa lũ “gần như chưa từng có trong hơn 50 năm quan trắc” từ ngày 16 đến 21 Tháng Mười Một đã khiến 108 người chết và mất tích.

Đắk Lắk là nơi chịu thiệt hại nặng nề nhất, với 71 người thiệt mạng hoặc mất tích. Khánh Hòa có 22 nạn nhân, Lâm Đồng năm người, Gia Lai và Đà Nẵng mỗi nơi ba người, Thừa Thiên Huế hai người, và Quảng Trị một người. Mỗi con số là một phận người, là một mái nhà bị cuốn trôi trong bùn đất.

Thiệt hại vật chất cũng khổng lồ: hơn 274,000 căn nhà bị ngập hoặc hư hỏng; gần 52,000 hécta lúa và hoa màu bị phá hủy; 39,000 hécta cây trồng khác thiệt hại nặng; hơn 920,000 con gia súc, gia cầm và 370 hécta thủy sản mất trắng. Hệ thống hạ tầng gãy gập theo dòng nước: quốc lộ 20 và 27C vẫn còn 12 điểm sạt lở nặng; hàng nghìn hộ dân mất điện, nhiều xã bị cô lập hoàn toàn vì mất kết nối thông tin. Thiệt hại kinh tế ban đầu được ước tính hơn 14,000 tỷ đồng, tương đương nửa tỷ Mỹ kim – con số mà người dân nghèo khó nơi đây phải trả bằng chính mồ hôi và nước mắt.

Trước thảm cảnh đó, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tuyên bố đã tiếp nhận hơn một triệu lượt quyên góp với tổng số tiền khoảng 2,088 tỷ đồng (gần 80 triệu Mỹ kim) tính đến ngày 25 Tháng Mười Một. Tuy nhiên, người dân trong vùng lại nói đến những đoàn cứu trợ nhỏ lẻ, tự phát – nhiều trong số đó là kiều bào và hội nhóm người Việt ở hải ngoại – đang âm thầm chuyển hàng cứu tế, tiền bạc và thuốc men trực tiếp đến tay người gặp nạn. Họ làm việc không cần “giấy phép,” không cần “chỉ đạo,” chỉ đơn giản vì lòng nhân ái.

Trong khi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam vẫn hối hả tổ chức các buổi “vận động cứu trợ” theo lối hành chính, thì hàng trăm người dân ở vùng núi Đắk Lắk vẫn đang sống tạm bợ trong trường học, nhà văn hóa, hay dưới những mái tôn dựng tạm. Họ không biết ngày mai ra sao, chỉ mong trời ngớt mưa để còn trở lại mảnh đất đã gắn bó cả đời.

Từ nỗi đau thiên tai, người ta lại nhìn thấy một sự thật chua chát: trong khi đất đá sụp xuống từng ngày, thì niềm tin vào bộ máy cứu trợ của nhà nước cũng đang sụp đổ theo cách âm thầm nhưng không kém phần dữ dội.


 

THỜ Ơ

Thánh Tăng

 Bài viết rất hay của một người Việt ở nước ngoài Johnny Trí Nguyễn.

THỜ Ơ

Từ khi tôi trở về nước tới nay đã hơn 20 năm.

Không năm nào tôi không nghe bà con kêu gọi cứu trợ miền Trung.

Năm nào cũng lũ.

Năm nào cũng ngập.

Năm nào cũng cảnh nhà cửa cuốn trôi, người dân mất mát, và cả nước lại gom tiền, gom mì gói để gửi ra.

Nhưng năm nay… thật sự quá kinh khủng.

Hàng trăm người chết và mất tích, hàng trăm nghìn căn nhà bị ngập, và hàng triệu gia súc gia cầm trôi theo dòng nước, những tài sản mà bà con chắt chiu cả năm, chỉ trong vài giờ đã mất sạch.

Và cũng tới lúc chúng ta cần nói thẳng với nhau một điều:

Nếu một chuyện cứ lặp lại hoài, mà mình vẫn tiếp tục xử lý y như cũ… thì đó không phải là lòng tốt nữa, mà là sự thờ ơ tập thể.

Cứu trợ là cần.

Nhưng cứu trợ không giải quyết được gốc rễ.

Miền Trung không cần thêm thùng mì.

Miền Trung cần thay đổi cách chúng ta đối xử với vùng đất này.

Những năm qua, tôi quan sát và tìm hiểu, thấy có bốn thứ thay đổi lớn. Những điều dưới đây nhiều chuyên gia đã chia sẻ rồi, nhưng thêm một giọng nói, thêm một người hưởng ứng, là thêm một cơ hội để mọi thứ được nhìn lại.

Rừng mất.

Miền Trung – Tây Nguyên mất khoảng 25.000 ha rừng tự nhiên mỗi năm. Rừng bị thay bằng rừng kinh tế rễ nông. Nước không giữ lại được, mưa xuống là tràn thẳng xuống hạ du.

Thủy điện nhỏ dày đặc.

Hàng trăm thủy điện nhỏ với hồ chứa quá bé, không có khả năng cắt lũ. Mưa lớn một cái là hồ đầy ngay. Không xả thì vỡ đập. Xả thì hạ lưu, vốn đã ngập vì mưa, càng ngập nặng hơn.

Quy hoạch thờ ơ.

Nhiều khu dân cư xây ngay trên vùng trũng cổ, nơi tổ tiên xưa chưa bao giờ dám dựng nhà. Sông bị bóp lại, kênh bị lấp, đồi bị xẻ, và bê tông hóa làm nước không còn đường thoát.

Địa khí miền Trung vốn mong manh.

Dải đất hẹp, dựa núi, đối biển. Lại là vùng đất Champa xưa, nơi mang ký ức hàng nghìn năm chiến tranh, mất mát, biến động. Khi phá rừng, đổi dòng chảy… vùng đất này phản ứng mạnh như bị kích vào vết thương chưa được chữa lành. Đó là quy luật tự nhiên cộng hưởng với lịch sử.

Vì vậy, mỗi năm trời mưa thì miền Trung không chỉ chịu thiên nhiên…mà còn chịu mọi tích lũy thờ ơ của chúng ta.

Xin được nói thẳng:

Cứu trợ là tình thương.

Nhưng giải pháp mới là trí tuệ.

Nền văn hóa trưởng thành không để nỗi đau lặp lại suốt nửa thế kỷ mà vẫn xử lý bằng đúng một công thức cũ. Chúng ta dư sức chấm dứt cảnh “mỗi năm cứu miền Trung” với những biện pháp như: khôi phục rừng tự nhiên, xem xét lại thủy điện nhỏ thiếu dung tích phòng lũ, quy hoạch lại khu dân cư theo luồng nước như Nhật và Hàn đã làm.

Thương lắm bà con đã luôn dang tay mỗi khi miền Trung hoạn nạn.

Nhưng đã đến lúc chúng ta dang tay theo cách có nghị lực hơn, để lần sau không còn phải dang tay cứu trợ nữa.

Miền Trung xứng đáng được nâng niu bằng khoa học và trí tuệ.

Không chỉ bằng sự thương xót và những thùng mì gói năm này qua năm khác.