Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh-Cha Vương

Mến chào “BÌNH AN!”. Chân phước George Matulaitis nói: “Mỗi Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng (trong Kinh Mân Côi) giống như lương thực từ trời, củng cố sức mạnh của chúng ta.” Vậy trong những ngày còn lại của Tháng Mân Côi, mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Maria sống vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Hãy nhớ cầu nguyện cho nhau và thế giới được bình an nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 24/10/2026   (n23-21)

NĂM SỰ VUI: Thứ năm thì ngắm—Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong đền thánh. Dù là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và đầy ân sủng, nhưng Mẹ Maria vẫn là một con người hữu hạn. Nghĩa là, Mẹ không phải là Đấng Toàn Năng. Mẹ không thể biết được mọi sự, làm được mọi thứ, hay siêu vượt hẳn không gian và thời gian. Nhưng Mẹ khiêm tốn nhìn nhận sự giới hạn của mình. Đồng thời, thay vì tự ti, mặc cảm, và đóng kín, Mẹ sống tâm tình tạ ơn và mở lòng cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi Mẹ. Mẹ cộng tác với ơn thánh (thời gian, sức lực, khả năng riêng, đức hạnh . . .) để công trình của Thiên Chúa được thành tựu.

 Hôm nay qua việc suy niệm 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy mở lòng để cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động nơi mình và xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi. (Luca 2:41-42) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết.(Luca 2:43) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm.(Luca 2:44-45) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. (Luca 2:46) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. (Luca 2:47) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Luca 2:48) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? ” (Luca 2:49) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói. (Luca 2:50) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. (Luca 2:51)Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.  (Luca 2:52) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay…

From: Do Dzung

*****

THÁNH CA || XIN CHÚA CHỮA LÀNH || N.S HOÀNG BỔN

GIÚP CHA MẸ VUI TUỔI GIÀ…-  Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nhung Nguyen

 Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Đợi cha mẹ già qua đời rồi mới báo hiếu, làm đàn tràng cầu siêu thiệt to, mua đất nghĩa trang thiệt rộng, xây mồ xây mả thiệt đẹp, hoặc đem tro cốt vào chùa, nhang khói mịt mù, đặt nắm tro tàn cha mẹ ở một vị trí thiệt tốt… không ngại tốn kém!

Đợi cha mẹ già vào bệnh viện, đặt ống nội khí quản giúp thở, truyền đạm truyền dịch chai dưới chai trên, bơm thức ăn qua ống thông dạ dày, dây nhợ chằng chịt khắp người theo dõi nhịp tim nhịp thở, thuốc men không ngại tốn kém… sẵn sàng bán nhà bán cửa chữa chạy, còn nước còn tát!

Thế nhưng khi cha mẹ già đang sờ sờ bên cạnh thì bận bịu trăm công ngàn việc, không có chút thì giờ để hỏi han, chăm sóc…

Một ông bố viết cho con:

“… Người già sợ nhất cảnh cô đơn nên nếu các con đã hiểu thì hãy thương cho tròn. Tình thương ấy không đánh đổi bằng tấm ngân phiếu kếch xù hay quà bánh đắt tiền mà chính là… thời gian. Một lúc nào đó trong ngày mà các con thấy trống vắng thừa thãi thì hãy mang đến tặng Bố giờ phút vô nghĩa ấy! Bản chất nó vô giá nhưng lại vô cùng quý báu nếu chia sẻ đúng đối tượng… Con dư biết, sáng chiều Bố lủi thủi hết ngồi lại nằm, cô đơn bên cạnh một người trả công chỉ biết im lặng canh chừng. Nếu con đến thăm, nhớ bỏ hết công việc và lo toan ở ngoài xe trước khi vào nhà, tránh cảnh thân tâm mỗi chỗ mỗi nơi để cha con sống thật những kỷ niệm cuối đời bên nhau. Người già như Bố đương nhiên ăn nói sẽ không còn mạch lạc hấp dẫn, xin con đừng nhăn nhó… Hãy nhẫn nại ngồi nghe như thuở nuôi con còn bé, Bố đã từng chăm chú theo dõi tiếng con bi bô học nói… lặp đi lặp lại nhiều lần một chữ từ ngày này qua ngày nọ liên hồi…”. (Internet).

Thiệt ra, không phải chỉ lỗi ở các con. Lỗi một phần ở cha mẹ! Có ai chịu là mình già bao giờ đâu! Cha mẹ thường nhìn các con 40, 50 tuổi đầu mà vẫn coi như một đứa con nít; còn con cái thì dù đã có tuổi vẫn luôn thấy cha mẹ mình là một người… còn trẻ, còn khỏe mạnh, chưa cần đến sự giúp đỡ!

Có một cách giúp biết khi nào cha mẹ đã… bước vào tuổi già ấy là “lén” quan sát họ có những dấu hiệu bất thường nào về tâm lý, về sức khỏe của lứa tuổi già chưa.  Nhưng biết là để quan tâm, chăm sóc, can thiệp kịp thời thôi chớ không phải để “dán nhãn” cho họ đã già nua, lỗi thời, rồi không để họ còn có chút độc lập tự do gì nữa thì rất không nên!

Họ có lơ là quá đáng chuyện ăn mặc không? Xưa áo quần thẳng thớm, nay xốc xếch, xộc xệch, đứt nút, rách bâu mặc kệ? Họ có lơ là quá đáng việc chăm sóc bản thân mình không? Chẳng buồn tắm rửa, hớt tóc cạo râu, tóc tai bù xù mặc kệ. Trí nhớ họ còn tốt không hay quên trước quên sau, lặp đi lặp lại hoài một chuyện? Họ có loay hoay tìm kiếng lão, dù đang đeo trên mắt hay tòng teng trên cổ không?

Họ có nghễnh ngãng nghiêng tai bên này bên kia để nghe cho rõ hoặc cứ hỏi đi hỏi lại một chữ không? Họ có kêu TV mờ, sách báo chữ nhỏ quá, màu sắc không rõ ràng như xưa không? Họ có bước đi từng bước chầm chậm, loạng choạng, lê chân trên mặt đất như chân đã mọc dài ra và dễ bị vấp, bị trượt, bị té ngã không? Họ có kêu đau lưng nhức mỏi thường xuyên không? Có bỏ quên chìa khóa, quên điện thoại nơi này nơi kia tìm kiếm vất vả không? Thỉnh thoảng có quên tắt lò gaz, quên khóa cửa nhà… không?

Để ý coi họ còn thèm ăn uống không, ăn uống có còn biết ngon lành không, hay sao cũng được? Họ có chê món này cứng món kia, khó nhai không? Ngủ có dễ không hay trằn trọc loay hoay suốt đêm? Có còn ham đi đây đi đó, cà phê cà pháo với bạn bè không? Có còn mê coi đá banh, tennis… như ngày xưa không hay chỉ thích ngồi im một chỗ lúc nào cũng như đang im lặng lắng nghe, nhớ nghĩ đâu đâu… hoặc ôm TV suốt ngày rồi nhầm tưởng cảnh tượng trong phim ảnh là sự thật ngoài đời?

Để ý coi họ có đã bắt đầu thở hổn hển nặng nhọc… khi leo cầu thang trong căn nhà quen thuộc của mình không? Họ có bắt đầu thức giấc tiểu đêm nhiều lần, có dễ bị dị ứng khi ăn một món  ăn quen thuộc? Có bị bón phải rặn hì hục vất vả không?…

Tóm lại, quan sát kỹ một chút sẽ thấy những thay đổi đó và tốc độ thay đổi ngày càng nhanh. Già thiệt rồi!

Một ông lão than thở: “Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi”. Ngậm ngùi quá đỗi! Vì đâu nên nỗi?

Bởi vì thế hệ trước kia sống trong nền văn hóa đề cao “đạo hiếu”, học Quốc văn giáo khoa thư, học Nhị thập tứ hiếu, gia đình “tứ đại đồng đường”, xóm làng gần gũi, dư luận buộc ràng,  nay thì đời sống đã khác: gia đình hạt nhân, nhiều cặp ly hôn ly dị, single mom, single dad v.v…, nhiều gia đình chỉ có một con duy nhất làm sao gánh nổi ông bà nội ngoại hai bên?  Rồi đây các thế hệ già sẽ được nuôi trong nhà dưỡng lão (nursing home), nên ngay bây giờ phải coi chuyện “con cái bỏ rơi” là chuyện bình thường, có hiếu thuận là thỉnh thoảng con cái nhớ mà đến thăm đôi khi.

Có nhiều cách để giúp cha mẹ già được vui:

Dành thời gian ngồi bên cha mẹ, nhắc những chuyện xưa, hỏi chuyện tuổi thơ của cha mẹ, chuyện học hành, chuyện chọn nghề, chuyện tình cảm của họ… để họ có cơ hội kể lại một cách hào hứng, nhiều khi lặp đi lặp lại cũng nên ân cần lắng nghe;

Nhắc những ngày còn thơ của mình, những khó khăn, gian khổ của gia đình như một cách tỏ lòng biết ơn, rằng nhờ họ mà mình có được ngày nay;

Sưu tầm những hình ảnh kỷ niệm của gia đình qua nhiều giai đoạn, những hình ảnh thuở còn thơ của con cháu, dán vào một album để cùng coi chung cả nhà hoặc làm một  “triển lãm bỏ túi” gợi nhớ những kỷ niệm: “ngày này năm xưa em còn bé tí teo”, “bé lên ba bé vô mẫu giáo”…;

Thỉnh thoảng dành thì giờ đưa cha mẹ đi thăm những nơi nhiều kỷ niệm của họ, mái trường xưa, căn nhà cũ dù đã đổi thay, những bà con lâu ngày chưa gặp nơi này nơi khác, những bạn bè thuở ấu thơ kẻ mất người còn…;

Thỉnh thoảng tổ chức những buổi họp mặt gia đình, đặc biệt những ngày Giỗ chạp, để con cháu được nghe ông bà kể chuyện xưa, kết nối bà con cô bác. Nếu có thể thì tổ chức họp mặt bạn bè cùng lứa của cha mẹ ở một nơi phù hợp, khoáng đãng, họ sẽ có cơ hội trò chuyện râm ran với nhau…;

Sưu tầm những bản nhạc xưa, phim cũ mà họ yêu thích, giúp họ được nghe lại, xem lại…

Kỹ thuật media bây giờ rất hiện đại, chịu khó giúp để tránh sự lọng cọng của cha mẹ già;

Sưu tầm các bài báo, hình ảnh… nếu có về thành tích của cha mẹ trong lãnh vực văn nghệ, thể thao, nghề nghiệp v.v… làm thành tập tư liệu để cùng xem với nhau, nhắc nhở những niềm hãnh diện xưa!

Giúp cha mẹ tham gia những buổi sinh hoạt của nhóm bạn già, câu lạc bộ, hội quán người cao tuổi, nhóm coi bóng đá, tennis, nhóm hát hò, ngâm thơ, thậm chí nhóm bạn chơi tứ sắc, mạc chược, cờ vua, cờ tướng…

Khuyến khích cha mẹ học một kỹ năng mới: ngoại ngữ, vi tính, chơi games, biết dùng smartphone để chuyện trò, nhắn tin, biết xài tablet (cái “quẹt quẹt” này giúp biết đủ thứ chuyện trên đời!)… Nhờ đó các tế bào não không bị rỉ sét, các nối kết thần kinh được hoạt hoá, sinh động. Ngày nay, người ta biết tế bào não rất nhu nhuyễn và có thể sinh sôi!

Khuyến khích cha mẹ gần gũi nhiều hơn với nhu cầu tâm linh, nói với cha mẹ về nhân quả, luân hồi, thiên đàng, địa ngục… Thường nhắc những việc làm tốt đẹp của họ trước đây để thấy thanh thản, an vui… Khuyên cha mẹ đi chùa, đi nhà thờ… Giao lưu bạn đạo, học tập điều thiện, miễn là không để rơi vào mê tín dị đoan…

Và còn nhiều nữa, nhiều nữa… không chỉ trong mùa Vu Lan!

BS Đỗ Hồng Ngọc


 

Ta cần nên ”chết thử” một lần…

Ta cần nên ”chết thử” một lần…

Chuyện mô tả một người giả vờ chết sau khi uống một ly nước lọc, mà người nhà tưởng ông đã uống thuốc độc để quyên sinh. Ðã hơn nửa thế kỷ qua, tôi không còn nhớ tác giả mô tả nhân vật chính trong vở kịch giả chết như thế nào và có sự phụ giúp của ai không, nhưng trong khi chờ tẩm liệm, ông được nghe và biết con cái, bà con và bạn bè của ông nói về ông và đối xử với ông như thế nào!

Bạn cứ thử tưởng tượng, khi đã nằm trong quan tài ở nhà quàn rồi, mà bạn có thể nghe những người đến viếng, bề ngoài thắp nén nhang kính cẩn viếng bạn, nhưng sau đó lại đàn đúm chê, khen bạn hết lời, hay đứa con bất hiếu đang toan tính chi ly chia phần phí tổn tang lễ sau này cho anh em ra sao, và lăm le để ý đến cái nhà, cái xe, trương mục trong ngân hàng của bạn và rồi đây sẽ gửi người vợ già của bạn vào nhà dưỡng lão nào?

Giá người ta có thể chết thử một lần rồi sống lại thì sướng biết mấy? Bạn sẽ biết có bao nhiêu trang báo chia buồn, sẽ có bao nhiêu tràng hoa viếng, bao nhiêu người tiễn chân bạn đến mộ phần. Sẽ có bao nhiêu người vui mừng khi nghe tin bạn qua đời, và sẽ có những ai thương yêu thật sự, bàng hoàng, tiếc nuối về sự ra đi của bạn. Thế giới này không còn sự hiện hữu của bạn có thay đổi gì không?

Nhưng người ta chỉ có thể chết một lần, nên mọi điều xẩy ra sau cái chết, vui buồn, xấu tốt, bạn không thể nào biết được, nếu chết là hết. Thôi như thế cũng hay! Nếu biết những gì xẩy ra sau cái chết của bạn, có hai điều xẩy ra, một là bạn muốn chết phứt đi cho xong, hai là lại yêu cuộc sống này hơn. Tôi nghĩ là bạn sẽ chọn điều thứ hai, vì dầu sao cuộc sống này cũng không đến nỗi nào đáng ghét.

– Một văn phòng dịch vụ ở Hán Thành, Nam Hàn có sáng kiến là sẽ tạo cơ hội cho khách hàng qua một lần chết thử, để thấy cảm giác nó ra sao, cũng như quan niệm về sự sống có gì thay đổi, khi bạn, coi như từ cõi chết, sống trở lại, dở nắp hòm ngồi dậy. Ông Ha Yu-soo, 62 tuổi là một người khách hàng của dịch vụ chết thử. Ông mặc một bộ quốc phục dành cho người chết khi tẩm liệm, nằm thẳng trong quan tài chiếc quan tài chật hẹp, ông không cảm thấy điều gì khác lạ thay đổi, cho đến khi nắp quan tài được đóng lại và nghe tiếng búa gõ trên nắp hòm. Trong bóng tối vây tỏa, lặng câm, ông cảm thấy sợ hãi vô cùng, tưởng như mình đã chết thật. Những giây phút trong bóng tối dày đặc đó, những ý nghĩ chết chóc ập đến, và bao nhiêu ý nghĩ hiện lên trong đầu óc ông. Nhưng may, ông đã trấn an mình: “Ðây chỉ là một sự chết giả mà thôi!” Lạy trời, đẹp đẽ biết bao khi ta vẫn còn sống! Từ “phút chết” trong bóng tối bước ra ngoài ánh sáng của sự sống, trong tâm hồn ông đã có một sự thay đổi lớn.

  Ban tổ chức khóa học chết thử, cho biết, kinh nghiệm về cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ, thuộc tầng lớp nào trong xã hội.

    Sau khi chết thử, những người này cảm thấy sự sống đáng quý hơn, những người chung quanh mình đáng yêu hơn, tha thứ mọi lỗi lầm của kẻ khác. Ðiều này cũng như sau khi thoát chết trong một tai nạn thảm khốc nào đó, con người trở nên hiền lương, bỏ mọi sự tham lam, cố chấp hẹp hòi, và mở rộng tấm lòng hơn đối với tha nhân.

    Nhiều người đã thay đổi sau khi họ thoát chết từ vụ tháp đôi ở New York hay từ vụ Tsunami mới đây của nước Nhật. Chúng ta sẽ ôm hôn mọi người, xem cái tôi từ nay là hạt cát, chúng ta sẽ không còn kẻ thù, không còn ai để ghét bỏ. Ngoài đường phố sáng nay sao thấy ai mặt mày cũng trung hậu, dễ thương, chúng ta muốn chào hỏi với cả thiên hạ, bắt tay mọi người và la lớn ở góc phố như một thằng điên: “Tôi vẫn còn sống! Tôi yêu thương hết thảy mọi người!”

    Khi nằm trong quan tài “chết thử” có thể người ta sẽ nghĩ đến những việc lâu nay chưa làm, những món tiền chưa tiêu hết, những điều chưa nói với ai đó. Trước khi chết, bạn sẽ viết thư cho ai, để lại chúc thư như thế nào, nói những lời trăn trối ra sao? Một người trước khi chết thử đã viết cho con: “Ngay cả khi cha không còn trên cõi đời này, mong các con hãy hòa thuận và đối xử với nhau tử tế hơn!” Một bệnh nhân ung thư đang ở vào thời kỳ cuối cùng, cho biết, việc trải nghiệm cái chết thử làm bà cảm thấy thương yêu hơn đối với những người xung quanh. Bà hứa “sẽ từ bỏ thói tham lam, ích kỷ với chồng và yêu con cái nhiều hơn”.

    Ðó chỉ mới là chuyện “chết thử!”. Còn như, bằng cách nào đó bạn biết rằng chỉ còn 24 giờ đồng hồ nữa thôi, bạn sẽ thở hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc đời đẹp đẽ này, thì bạn sẽ làm gì, suy nghĩ ra sao, đối xử với mọi người như thế nào? Trong trương mục ngân hàng, bạn có nửa triệu đồng chưa tiêu hết, bạn sẽ phân bố như thế nào, cho ai? Bạn chưa kịp nói với ai một lời xin lỗi, chưa kịp nói với ai một lời yêu thương. Trong sự hối hả của chút thời gian còn lại, bạn hối tiếc những gì, ân hận điều chi? Có những người trong gian trá, lừa lọc kiếm đồng tiền bất chính, để trở nên giàu có, có những kẻ đạp lên đầu người khác để tìm chỗ tiến thân cho mình, tiền của, danh vọng nào có thể mang theo?

    Không, cũng như những người chết khác, bạn sẽ ra đi tay không? Chỉ còn 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa thôi, dù có vội vàng, chúng ta cũng không làm kịp những điều chưa làm, sửa đổi kịp những điều lầm lỗi. Ðó là trường hợp chỉ một mình bạn ra đi. Những nhà tiên tri trên thế giới này loan báo về một ngày tận thế, dù đã sai nhiều lần và nói đi nói lại nhiều lần, đến nỗi những lời tiên tri đã trở thành một trò bịp nhảm nhí, nhưng phần tôi, tôi vẫn tin sẽ có ngày như thế.

    Chúng ta đã thấy cảnh tượng bình địa ở Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8-1945, khi hai quả bom nguyên tử rơi xuống đã giết khoảng 210, 000 người. Trận sóng thần tồi tệ nhất trong lịch sử được ghi nhận là tại Ấn Ðộ Ðương vào năm 2004 đã gây cảnh hoang tàn và giết chết 230,000 người ở 11 quốc gia. Tsunami ở Nhật năm 2011 làm thiệt mạng hơn 20,000 người và những quang cảnh chúng ta thấy ở miền Bắc nước Nhật không khác gì một bãi rác khổng lồ. Ðó chính là hình ảnh cho ta thấy trước những gì sẻ xẩy ra trong ngày tận thế.

    Ðến một ngày nào đó quả đất này sẽ nổ tung hay tất cả các băng sơn ở Bắc Băng Dương sẽ tan rã, nhận chìm địa cầu này dưới hai mươi thước nước. Sẽ không còn một sinh vật nào trên trái đất này nữa! Nếu có một ngày như thế sẽ đến ngay ngày mai đây thôi, liệu chúng ta có sống được một ngày tốt hơn, ngay thẳng hơn, tử tế với đồng loại của chúng ta hay không? Không cần phải chết thử, mỗi người chúng ta đều phải đến một ngày chết thật!

    Sáng sớm vào hộp thư nhận được một lá thư chứa câu truyện trên đây… chợt nhận ra bấy lâu mình sống quá cố chấp… luôn giữ lại những đối xử tệ của tha nhân đối với mình mà không bao giờ muốn “buông” dù chẳng biết để làm gì….đúng thật là niết bàn hay địa ngục cũng do chính mỗi người cảm vời ra rồi tự đày ải mình ngay khi còn sống….Biết thế nhưng sự tổn thương và vết thương vẫn còn đó và không lành lặn đôi khi làm mình yếu đuối…

    – Bây giờ giả thử chỉ còn một ngày để sống….tôi muốn nói với mọi người tôi đã từng yêu thương, đã từng bạn bè rồi sau đó không là bạn bè nữa….rằng tôi yêu những cái tốt đẹp từng có và tôi sẽ quên hết những gì còn lại….Tôi luôn cầu mong hạnh phúc đến với mọi người trong cuộc sống vốn vô cùng mong manh ngắn ngủi này, hãy tận hưởng tận hiến khi xây dựng nó…cuộc sống của các bạn ấy mà….

    – Hãy cứ là loài người không hiểu được ý nghĩa thật sự ngôn ngữ của loài chim…chỉ thấy mỗi giọng chim hót lên đều là những nốt nhạc, những bản nhạc yêu đời từ bình minh đến đêm tối…

NGỌN SÓNG MÙ

Biển ngàn năm sóng vỗ

Nước tìm về đại dương

Rồi quên mình, tha phương

Sóng vô thường, lãng đãng.

Đời rêu phong năm tháng

Mưa, nắng phủ quanh hồn

Sóng chưa lúc mỏi, chồn..

Trên lối về tay trắng.

Phút đi hoang dừng lặng

Ngắm biển chiều phôi pha,

Thấy dã tràng nho nhỏ

Chết khô vì.. thiết tha…

Mượn thân từ cát bụi

Xây mộng đời thiên thu.

Sóng tan thành giọt lệ

Bên cõi bờ thực, hư.

Chiều lao xao sóng vỗ

Hoát nhiên nghe sóng cười

Tử sinh loang từ độ

Với vọng tình rong chơi!

Như Nhiên – TT Tuệ


 

ÔNG QUYẾT ĐỊNH TỪ THIỆN HẾT KHỐI TÀI SẢN 600 TRIỆU ĐÔ LA CỦA MÌNH…

Quang Minh Phan

ÔNG QUYẾT ĐỊNH TỪ THIỆN HẾT KHỐI TÀI SẢN 600 TRIỆU ĐÔ LA CỦA MÌNH, VÀ CHỈ HỖ TRỢ TIỀN HỌC PHÍ ĐẠI HỌC CHO CON TRAI, ÔNG MUỐN CON TỰ ĐI TRÊN ĐÔI CHÂN CỦA MÌNH

Triệu phú Simon Cowell quyết định không để lại khối tài sản ước tính 600 triệu USD cho người con trai 11 tuổi, Eric, xuất phát từ niềm tin vững chắc rằng sự giàu có thừa kế từ thế hệ trước sẽ tước đi tính tự lập và mục đích sống thực sự của một cá nhân.

Ngoại trừ việc chi trả cho việc học đại học của Eric, Cowell dự định sẽ quyên góp toàn bộ tài sản cho các quỹ từ thiện hỗ trợ trẻ em và bảo vệ động vật – những mục đích ông đặc biệt tâm huyết như nhà nuôi dưỡng trẻ em và các tổ chức cứu hộ chó. Đối với Cowell, việc chuyển hướng các nguồn lực của mình đến các tổ chức này sẽ biến thành công tài chính thành một động lực vì cộng đồng, mang lại sự chăm sóc y tế, mái ấm và cơ hội sống cho những trẻ em yếu thế và động vật cần cứu giúp. Ông xem đây là việc làm cần thiết vì di sản thực sự không được đo bằng quy mô của quỹ thác nào dành cho gia đình, mà bằng số lượng người mà bạn có thể trao quyền và trao cơ hội để họ tự mình thành công.

Quyết định này truyền tải một bài học cuộc sống sâu sắc cho con trai ông về đạo đức làm việc, sự độc lập và tinh thần trách nhiệm. Trưởng thành từ công việc khiêm tốn ở phòng thư của một công ty thu âm, Cowell muốn Eric tự mình trải nghiệm niềm tự hào, sự kiên cường và cảm giác viên mãn đến từ việc gặt hái thành công bằng chính sự chăm chỉ và hoài bão của bản thân. Bằng cách cung cấp một nền tảng giáo dục vững chắc nhưng đòi hỏi Eric phải tự vạch ra con đường riêng, Cowell dạy con rằng giá trị thực sự nằm ở nhân cách và sự nỗ lực cá nhân, thay vì dựa dẫm vào đặc quyền thừa kế. Sau cùng, quyết định này củng cố nguyên tắc rằng sự giàu có nên được dùng làm đòn bẩy để giúp đỡ xã hội, thay vì là điểm tựa làm cản trở sự phát triển của một con người.

Theo: IndiaTimes, Simon Cowell/GQ, Esquire


 

DÀNH CHO NHỮNG AI CHO RẰNG MÌNH LÀ KHỔ NHẤT

DÀNH CHO NHỮNG AI CHO RẰNG MÌNH LÀ KHỔ NHẤT

Ta khóc lóc tưởng rằng mình bất hạnh

Nhưng ngoài kia còn cả tỷ nỗi buồn

Ta cứ ngỡ có mỗi mình cô quạnh

Nhưng cuộc đời đầy ắp cảnh đau thương.

Có người ước được một đôi chân nhỏ

Để bước đi trên thảm cỏ thật mềm

Có người ước sau đêm dài vò võ

Đôi mắt này họ sẽ thấy bình minh.

Những đứa trẻ chưa một lần gặp mẹ

Chỉ ước ao hai tiếng gọi: Gia Đình

Nếu ta chỉ có một ngày thật tệ

Thì đừng buồn mà hãy cố gắng lên!

Có đôi lúc ta cần ngưng giận dữ

Nhìn thoáng hơn để thấu rõ sự tình

Hãy giữ lấy niềm vui dù rất nhỏ

Giữa bão đời ta chọn sống tự tin.

ST

post by : Hoài Thu


 

DƯỜNG VÀO THIÊN QUỐC  – Linh mục  Inha-xi-ô Trần Ngà

 Linh mục  Inha-xi-ô Trần Ngà

 (Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (22, 34 – 40) Chúa nhật 30 thường niên năm A)

Tuyến đường sắt Bắc Nam có 2 đường ray chạy song song từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn. Các chuyến tàu bắc nam cứ bám theo 2 đường ray đó, chạy bon bon qua nhiều chặng đường dài.

 Bao lâu tàu đi đúng đường ray, nó sẽ di chuyển nhanh chóng, an toàn; nhưng nếu nó chạy trật đường ray, hậu quả khủng khiếp sẽ xảy ra.

 Mỗi người chúng ta tiến về Thiên quốc cũng tựa như tàu chạy trên đường ray, cứ bám lấy 2 đường ray mà tiến, chắc chắc sẽ được vào quê trời; nếu lìa bỏ 1 trong 2 đường ray, thế là trật đường ray, cuộc đời chúng ta sẽ kết thúc trong thảm họa.

 Qua trích đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su cho chúng ta biết 2 đường ray đó chính là giới luật mến Chúa và yêu người, được Ngài công bố như sau:

“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 37-39).

Ngoài ra, Chúa Giê-su gắn kết hai điều răn nầy thành một, khi dạy rằng ai yêu thương người thì kẻ ấy cũng đang yêu mến Thiên Chúa. Trong dụ ngôn Phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su nói: “Những gì các ngươi làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” và “Những gì các ngươi đã không làm cho những anh em bé mọn nầy là đã không làm cho Ta”(Mt 25,31-46)

 Ảo tưởng tai hại

Thế mà có một số người lầm tưởng rằng: Ta chỉ cần tỏ lòng mến Chúa qua việc tham dự các Thánh lễ ngày Chúa nhật, đọc kinh sáng tối… là đủ để được lên thiên đàng; còn chung quanh ta, ai đói mặc ai, ai khổ mặc ai… ta chẳng cần quan tâm giúp đỡ, đèn nhà ai nấy sáng, miễn là đừng làm hại người khác là được rồi!

 Đó là ảo tưởng tai hại. Chỉ biết thờ phượng Chúa trong nhà thờ mà không phục vụ Chúa nơi tha nhân cũng giống như tàu chỉ dựa vào một đường ray mà chạy, bất cần đường ray thứ hai. Sống như thế đúng là “trật đường ray” và sẽ rơi vào thảm họa.

 Trong dụ ngôn Phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su là Đấng phán xử mọi người sẽ nói với những người nầy rằng: “Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!” (Mt 25, 31-46). Và Chúa Giê-su cũng cho biết rằng khi ta từ chối cứu giúp người khác là không cứu giúp chính Ngài. Thảm họa phát sinh từ đó.

 Lạy Chúa Giê-su,

 Chúa ban cho con điều luật mến Chúa yêu người là con đường duy nhất đưa tới quê Trời. Xin giúp chúng con ghi tâm khắc cốt lời Chúa phán dạy và đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày để được hưởng hạnh phúc muôn đời. Amen.

 Linh mục  Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12- NguyenNThu


 

Học giả Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975

Phạm Thắng Vũ

Học giả Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975.

Việc đốt sách là một tội ác trước lịch sử. Nó không chỉ xảy ra dưới thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu mà đã xảy ra ngay trên đất nước ta sau 1975. Ngọn lửa phần thư ngày ấy cháy bùng trên các đường phố Sài Gòn.

Từng đoàn thanh niên nam nữ của chính quyền lùng sục vào các tiệm sách, nhà tư nhân thu hết sách đem tiêu hủy.

Học giả Nguyễn Hiến Lê một danh sĩ Miền Nam trong Hồi Ký của mình đã ghi lại hiện tượng đốt sách ngày ấy.

Đoạn văn dưới đây được trích từ chương Văn Hóa của cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê Tập III, từ trang 74 đến trang 80-Văn Nghệ xuất bản gợi cho người đọc bao nỗi khóc cười về một thời kỳ lịch sử.

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt.

Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý…

Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn (1). Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Oservateur (của khối cộng), số đó bị chặn lại.

Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết.

Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”.

Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có prospecties cho biết cách dùng, trị bệnh gì…mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành.

Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất hai tháng, có khi bốn tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến… mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại ba bốn giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi.

Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên.

Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền.

Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được.

Trái lại bộ Lê Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

Nguyễn Hiến Lê

(1) Tôi lầm. Giữa năm 1981 vì ở khắp các thành phố, thị xã, các sách đồi trụy, băng nhạc ngụy, cả phim đồi trụy nữa lại lưu hành, nên có vụ kiểm kê các quán cà phê, sách cũ, nhưng lần này các sách khảo cứu Việt miền Nam và các sách Anh Pháp không bị hốt.

https://m.facebook.com/…/permalink/3353579398121175/

Copy from NET –  PTV 

*****

Nguyễn Hiến Lê Nói Về Việc Đốt Sách Sau 1975


 

CHƯA CHẾT NHƯNG CHƯA SỐNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 “Để làm gì cho hại đất?”.

“Chúng ta chẳng bao giờ sống, nhưng luôn hy vọng sẽ sống!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh: có thể sống qua bao mùa mà vẫn chưa thực sự sống. Cây vả còn đó, nhưng chẳng sinh trái – ‘chưa chết nhưng chưa sống’. Tuy nhiên, còn sống, còn hy vọng!

Nghe kể về những người Galilê bị Philatô sát hại, Chúa Giêsu không chỉ cảnh báo về những cái chết bất ngờ, nhưng về một sự sống đang cạn dần vì kháng cự ân sủng. Càng gần Thiên Chúa, con người càng dồi dào ân sủng; càng xa Ngài, đời càng cằn cỗi. Trước cái chết, câu hỏi không phải tại sao họ ra đi, nhưng tại sao chưa phải là tôi. Người đã chết không tội lỗi hơn người còn sống; nhưng được sống thêm là được gọi để sống khác đi. “Không phải chúng ta có quá ít thời gian để sống, nhưng chúng ta đã phung phí quá nhiều!” – Seneca.

Chúa Giêsu còn đi xa hơn khi kể dụ ngôn cây vả. Ba năm không trái, cây vẫn sống nhờ đất và công chăm sóc. Điều đáng buồn không phải cây đã chết, mà là vẫn sống, vẫn nhận, nhưng chẳng cho gì. Đất không được trao cho cây chỉ để tốt lá; ân sủng cũng không được ban để chúng ta giữ riêng cho mình. Sống thêm một ngày là có thêm một cơ hội để yêu thương, phục vụ, làm cho người khác lớn lên. Có khi điều làm chúng ta xa Chúa không phải một tội lớn, mà là quá hài lòng với đời sống hiện tại, đến mức không thấy cần hoán cải. Không làm điều ác chưa có nghĩa là đã nên hoàn thiện.

Vì thế, Phaolô nhắc: “Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Kitô ban cho”; “kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ” – bài đọc một. Ân sủng không xoá đi những khác biệt, nhưng làm cho chúng ta cần đến nhau. Hội Thánh không phát triển chỉ vì có thêm người, nhưng vì mỗi người góp phần làm cho người khác lớn lên trong đức ái. Điều người này thiếu có thể là điều Chúa đã trao cho người kia. Có người hiểu biết nhiều, nhưng chẳng giúp ai hiểu Chúa hơn; có người đạo đức lâu năm, nhưng chẳng làm ai lại gần Chúa.

“Đời sống của bạn không tuỳ thuộc nhiều vào những gì cuộc đời mang đến, cho bằng thái độ bạn đem vào cuộc sống!” – Kahlil Gibran.

Anh Chị em,

Dù chỉ sống hơn ba mươi năm trên trần thế, Đức Kitô đã làm cho sự sống Ngài thành nguồn ơn cứu độ muôn người. Ngài không đợi con người tốt lành mới yêu thương, nhưng yêu thương từ đầu đến cuối để những cuộc đời cằn cỗi có thể hồi sinh. Trên thập giá, Ngài trao hiến mạng sống, mở ra nguồn sống không bao giờ cạn cho nhân loại. Phục Sinh, Ngài ban Thánh Thần, trao những ân huệ khác nhau để xây dựng Hội Thánh, Thân Thể mầu nhiệm. Cây vả được xin thêm một năm để sinh trái; Đức Kitô trao cả đời mình để đời chúng ta sinh ích. Còn thở mà chưa biết sống cho Chúa và cho nhau, thật ra là ‘chưa chết nhưng chưa sống!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để đời con chỉ tốt lá mà không tốt trái; cho con biết hoán cải khi còn thời gian; dạy con dùng những ân phúc đã nhận để nâng dậy anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/24.html

 Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.         Lc 13,1-9

1 Lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. 2 Đức Giê-su đáp lại rằng : “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác sao ? 3 Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu ; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. 4 Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao ? 5 Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu ; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.”

6 Rồi Đức Giê-su kể dụ ngôn này : “Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, 7 nên bảo người làm vườn : ‘Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất ?’ 8 Nhưng người làm vườn đáp : ‘Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. 9 May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi’.”


 

Cần lắng nghe các gia đình và những người trẻ còn do dự về việc kết hôn VATICAN CITY – 

Cần lắng nghe các gia đình và những người trẻ còn do dự về việc kết hôn VATICAN CITY – 

Kết thúc một cuộc họp tại Vatican nhân dịp kỷ niệm 10 năm văn kiện *Amoris Laetitia* của Đức Giáo hoàng Phanxicô, các giám mục đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thấu hiểu hơn những thách thức mà các gia đình đang đối mặt, hỗ trợ các cặp vợ chồng, đồng thời giải quyết tâm lý ngần ngại kết hôn ở giới trẻ. Sự kiện diễn ra từ ngày 7 đến 14 tháng 10 đã quy tụ 115 chủ tịch các hội đồng giám mục, trong đó có Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, các chuyên gia về mục vụ gia đình, những người đứng đầu các Giáo hội Công giáo Đông phương cùng các giáo dân, nhằm suy tư về phương thế mục vụ của Giáo hội đối với hôn nhân và đời sống gia đình, cũng như các bước cần thực hiện để loan báo Tin Mừng cho các gia đình trong thời đại ngày nay. Phát biểu tại một buổi họp báo ngày 14 tháng 10 – sự kiện khép lại cuộc họp kéo dài một tuần do Giáo hoàng triệu tập nhằm thảo luận về việc triển khai văn kiện “Amoris laetitia” (Niềm vui của tình yêu) năm 2016 của Đức Giáo hoàng Phanxicô tại các giáo hội địa phương – 

Đức Tổng Giám mục Charles Scicluna của Malta cùng những người tham dự khác khẳng định rằng văn kiện này vẫn còn nguyên giá trị như cách đây một thập kỷ, đặt ra thách thức cho Giáo hội: hãy lắng nghe các gia đình trước khi đưa ra phán xét, đồng thời hãy tiếp cận mọi người ngay tại hoàn cảnh thực tế mà họ đang trải qua. “Trong một thế giới ngày càng bị định hình bởi robot, sự ẩn danh và tình trạng cô lập, gia đình đóng một vai trò mang tính tiên tri – không chỉ đối với xã hội mà còn đối với tương lai của nhân loại,” Các nhà tổ chức cuộc họp đã mô tả một thế giới mà ở đó, những thách thức đối với các gia đình đã thay đổi đáng kể trong thập kỷ qua — từ tình trạng bất ổn kinh tế và niềm tin suy giảm vào sự bền vững của hôn nhân, cho đến vấn đề di cư, nghèo đói, sự chia ly và chiến tranh. Thay vì tìm kiếm những giải pháp mang tính phổ quát, “Amoris Laetitia” thúc giục các nhà lãnh đạo Giáo hội và các giáo xứ địa phương hãy thấu hiểu những trải nghiệm sống của các gia đình, từ đó xây dựng các phương thức mục vụ phù hợp với hoàn cảnh riêng biệt của họ. 

Trên hết, các cuộc thảo luận phản ánh mong muốn trung thành với Tin Mừng mà không coi lòng thương xót và chân lý là những nguyên tắc đối lập nhau – linh mục Dòng Tên Giacomo Costa, cố vấn cho Ban Thư ký Tổng quát của Thượng Hội đồng Giám mục, cho biết trong buổi họp báo tại văn phòng báo chí Vatican. Đức Tổng Giám mục Paul S. Coakley của Oklahoma City, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ, cho biết mặc dù văn kiện “Amoris Laetitia” thường gắn liền với những tranh cãi xoay quanh cách diễn giải, nhưng thông điệp bao quát hơn của văn kiện này đã thực sự thay đổi cách người Công giáo thảo luận về hôn nhân và đời sống gia đình. Ngài chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với Catholic News Service (CNS): “Hầu hết những người Công giáo có chút hiểu biết về ‘Amoris Laetitia’ đều biết đến văn kiện này thông qua các chú thích và những tranh cãi xoay quanh nó, nhưng văn kiện này còn chứa đựng nhiều điều hơn thế nữa.” Ngài cho biết, việc chú trọng vào sự lắng nghe và đồng hành đã trở thành một phần trong ngôn ngữ mục vụ thường ngày của Giáo hội. 

Về phần Đức Tổng Giám Giuse Nguyễn Năng, Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam, chia sẻ với Cha Gia An trong buổi phóng vấn trên Vatican Radio: Giáo hội Việt Nam chú trọng đặc biệt tới đời sống gia đình; có các tổ chức chuyên phục vụ hạnh phúc các gia đình, như Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình, Gia Đình Khôi Bình, v.v… Cần cổ võ phát huy cụ thể về ơn gọi hôn nhân gia đình, cách riêng quan tâm giúp các đôi vợ chồng trẻ tại các cộng đoàn giáo xứ địa phương.

 Đức Giám mục Daniel E. Flores thuộc giáo phận Brownsville, bang Texas, đồng thời là phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ, chia sẻ với hãng tin CNS rằng Giáo hội cần đặc biệt lưu tâm đến những lý do khiến người trẻ ngày càng ngần ngại kết hôn — dù là do áp lực kinh tế, sự bất an về tương lai, hay cảm giác chưa sẵn sàng cho một cam kết gắn bó suốt đời. 

Theo Đức Giám mục Flores, thách thức đối với các giáo hội địa phương là khơi dậy niềm tin mới vào khả năng có được một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, thay vì mặc định rằng cùng một phương thức mục vụ sẽ hiệu quả ở mọi nơi trên thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc đồng hành cùng các cặp đôi trong thời gian dài sau ngày cưới, đồng thời lưu ý rằng dù các chương trình chuẩn bị cho hôn nhân có toàn diện đến đâu, chúng cũng không thể giúp các cặp đôi chuẩn bị sẵn sàng cho mọi thử thách mà họ sẽ gặp phải. Các cặp đôi lớn tuổi hơn – bao gồm cả những người từng trải qua khó khăn trong chính cuộc hôn nhân của mình – có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các gia đình trẻ, giúp họ vượt qua những yêu cầu ngày càng thay đổi của đời sống hôn nhân. 

Đức Tổng Giám mục Coakley bày tỏ sự đồng tình với mối quan ngại đó, đồng thời lưu ý rằng các linh mục được kỳ vọng sẽ tiếp tục quá trình đào tạo sau khi thụ phong, trong khi việc chuẩn bị cho hôn nhân thường kết thúc ngay tại thời điểm cử hành hôn lễ. Ngài chia sẻ với CNS: “Thực tế luôn thay đổi, và Giáo hội cần tiếp tục đồng hành với những gia đình trẻ này cũng như các gia đình đã trưởng thành hơn.” Trong suốt cuộc họp kéo dài một tuần, các giám mục cũng xem xét vai trò của các tòa án hôn phối, khả năng tiếp cận các thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu, cùng nhu cầu đào tạo lương tâm cho những người chịu trách nhiệm đồng hành với các gia đình. Cuộc họp cũng nhấn mạnh mối liên hệ giữa văn kiện “Amoris Laetitia” và tinh thần hiệp hành, đặc biệt là nhu cầu để các gia đình tham gia tích cực vào đời sống và các quyết định của Giáo hội, thay vì chỉ là những người thụ hưởng thụ động các định hướng mục vụ. Trong Thánh lễ đánh dấu sự kết thúc của cuộc gặp gỡ, Đức Hồng y Luis Antonio Tagle đã đọc bài giảng do Đức Giáo hoàng Lêô XIV soạn thảo; trong đó, ngài kêu gọi người Công giáo hãy nhìn nhận gia đình là trường học đầu tiên của tình yêu, đồng thời hỗ trợ các cặp vợ chồng và các gia đình trong suốt cuộc đời họ. 

Đức Giáo hoàng khuyến khích các tín hữu xây dựng một Giáo hội như một “gia đình của các gia đình”, nơi các cặp đôi trẻ nhận được sự khích lệ, các bậc cha mẹ tìm thấy sự hỗ trợ, người cao tuổi được trân trọng vì sự khôn ngoan của họ, và những ai đang trải qua khủng hoảng được đón nhận bằng tình yêu thương thay vì sự phán xét. “Theo cách này, tình yêu trong gia đình — với những khoảnh khắc đấu tranh, sai lầm và thất bại, nhưng cũng đầy ắp những điều kỳ diệu từ cuộc sống thường nhật khó đoán trước — trở thành ngôi trường đầu tiên dạy về tình cảm con người, là bước khởi đầu quý giá và không gì thay thế được để học về ‘niềm vui của tình yêu’,” Đức Hồng y Tagle đọc lại bài giảng đã được Đức Giáo hoàng soạn sẵn. “Vì lý do đó, chúng ta cần ghi nhận và ủng hộ nỗ lực của biết bao gia đình đang sống trọn ơn gọi và sứ mệnh của mình mỗi ngày, một cách âm thầm không phô trương, nhưng đôi khi lại thể hiện lòng trung thành đầy anh hùng.”

Tuy nhiên, đối với một số người tham gia, cuộc họp vẫn chưa giải quyết được mọi vấn đề về cách thức Giáo hội nên ứng phó với những thực tế đang thay đổi trong đời sống gia đình. Cha Stanislaus Chu Ilo, đến từ Chicago, cho biết các cuộc thảo luận đã chứng minh rằng Giáo hội có thể thừa nhận những vấn đề chưa được giải quyết, đồng thời vẫn tiếp tục cùng nhau tiến về phía trước. Vị linh mục kiêm nhà thần học người Nigeria phát biểu tại buổi họp báo “Bạn có thể sống trong những sự phức tạp.

Mọi vấn đề luôn có hai mặt.” Ngài cho biết, cuộc gặp gỡ này mang đến niềm hy vọng rằng, bằng cách chú tâm hơn đến sự mong manh của đời sống gia đình, Giáo hội có thể nhận ra rõ hơn sự hiện diện của Thiên Chúa giữa những điều bất định đang định hình tương lai của chính mình. 

Giuse Đặng Văn Kiếm & Theresa Uyên Phương 

From: NguyenNThu


 

NHÀ KHOA HỌC CÓ CHỈ SỐ THÔNG MINH, IQ 276 VÀ CÂU HỎI LỚN NHẤT: THIÊN CHÚA CÓ THẬT HAY KHÔNG?

Bình luận của Phan Sinh Trần cùng với  sự tổng hợp cua AI Gemini và Copilot

Khi một người bình thường nói về Thiên Chúa, thì đó thường chỉ được xem là quan điểm cá nhân. Nhưng khi người đưa ra nhận định ấy là YoungHoon Kim, nhà khoa học Hàn Quốc được nhiều tổ chức ghi nhận là người có chỉ số IQ cao nhất thế giới hiện nay với IQ 276, câu chuyện lập tức thu hút sự chú ý trên toàn cầu. 

 
“Thiên Chúa có thật 100% và Chúa Giêsu là Thiên Chúa.”    

Kim Hoon Young

Ngoài thành tích đạt điểm tuyệt đối trong nhiều bài kiểm tra trí tuệ, Kim còn giữ nhiều vai trò trong các tổ chức quốc tế về trí nhớ, tư duy và trí tuệ nhân tạo. Ông cũng sở hữu bằng thần học của Yonsei University và từng gọi thần học là “ngành học tối hậu của mọi lĩnh vực nghiên cứu“.

Năm 2025, ông công khai tuyên bố, “God is real 100% and Jesus is God.” Ông còn tiếp tục khẳng định, “Christ is my logic –  Đức Kitô là luận lý của tôi”.

Điều đáng chú ý là Kim không xem đức tin như sự đối lập với khoa học. Trái lại, ông cho rằng chính hành trình tìm kiếm chân lý bằng khoa học đã đưa ông đến những câu hỏi vượt khỏi giới hạn của khoa học hiện tại.

Ý thức con người có kết thúc sau cái chết?

Theo ông, khoa học vẫn chưa giải thích đầy đủ bản chất của ý thức. Chúng ta có thể quan sát hoạt động của não bộ, nhưng vẫn chưa thực sự hiểu tại sao con người lại có trải nghiệm chủ quan, cảm xúc, nhận thức về bản thân và ý niệm về cái tôi.

“Ý thức không chỉ là hoạt động của não bộ mà còn là điều gì đó sâu sắc hơn”.

Dựa trên các khái niệm trong vật lý lượng tử và lý thuyết thông tin, Kim nêu giả thuyết rằng nếu thông tin không thực sự biến mất mà chỉ chuyển đổi trạng thái, thì ý thức có thể tiếp tục tồn tại theo một hình thức nào đó sau khi cơ thể vật lý chấm dứt.

“Cái chết không phải là sự hủy diệt mà là một sự chuyển tiếp.” 

DNA, sự sống và câu hỏi về Đấng Thiết Kế

Kim và nhiều người có đức tin không phủ nhận tiến hóa.

Họ chấp nhận rằng, có đột biến gene xảy ra, chọn lọc tự nhiên có thể đang diễn ra và Sinh vật luôn thích nghi với môi trường, sự sống thay đổi qua thời gian.

Đó đều là những quan sát khoa học đã được xác lập. Nhưng họ đặt thêm một câu hỏi khác:

Ai tạo ra hệ thống có khả năng tự vận hành kỳ diệu như vậy?

Nếu DNA là một hệ thống lưu trữ thông tin tinh vi bậc nhất mà con người từng biết đến, thì nguồn gốc của hệ thống đó do đâu?

Artificial Intelligence Catalyzes Gene Activation Research and Uncovers ...

Nếu DNA của mỗi con người là  độc nhất trong số hàng tỷ con người trên hành tinh, bộ óc siêu việt nào đã tạo ra một cơ chế có thể liên tục sáng tạo vô số biến thể khác nhau trong cùng một dạng sự sống?

Vẻ đẹp của vũ trụ có ý nghĩa gì?

Đối với người có đức tin, vẻ đẹp không chỉ là sản phẩm của vật chất mà còn là dấu vết để lại cho đời của một Đấng Sáng Thế vô cùng tài giỏi, một nghệ sĩ tạo tác vô cùng trác tuyệt.

 

 

Có người nhìn qua kính hiển vi và thấy phân tử.

Có người nhìn qua kính thiên văn và thấy các thiên hà.

Có người nghiên cứu DNA và thấy các chuỗi gene.

 

YoungHoon Kim, đặt ra vẫn là một câu hỏi sâu sắc nhất của nhân loại:

Nếu vũ trụ là một cỗ máy phi thường, liệu nó chỉ đơn thuần tự xuất hiện, hay đằng sau nó tồn tại một Đấng Sáng Tạo vượt ngoài hiểu biết hiện tại của chúng ta? 

 

 

 

TRỜI KHÔNG QUÊN , NGƯỜI KHÔNG NHỚ – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)  

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 “Dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong!”.

“Thiên Chúa hứa tha thứ cho người biết sám hối, nhưng không hứa cho người cứ trì hoãn!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt ra một nghịch lý: Thiên Chúa không mỏi mệt tha thứ, nhưng con người lại mỏi mệt sám hối. Trời vẫn kiên nhẫn đợi, người cứ hẹn rày hẹn mai – ‘trời không quên – người không nhớ’.

Người đương thời nhìn mây phía tây, biết sẽ mưa; thấy gió nồm, biết trời nóng. Chúa Giêsu không khen họ am hiểu thiên nhiên, nhưng trách họ không nhận ra thời Thiên Chúa viếng thăm. Họ biết tiết trời đổi thay mà không biết lòng mình cần đổi. Mưa đến, họ tìm chỗ trú; Chúa đến, họ xua Ngài khỏi lòng.

Ngay sau đó, Chúa Giêsu nói đến hai người đang trên đường ra toà: còn đi bên nhau là còn cơ hội. Chính quãng đường ấy có thể làm nên sự khác biệt: một lời nói có thể thay đổi kết cục; một bàn tay đưa ra có thể ngăn một cuộc đối đầu. Nhưng không chỉ dạy cách tránh một vụ kiện; Chúa Giêsu còn cảnh tỉnh về cuộc phán xét cuối cùng. Hôm nay, có thể xin tha thứ; ngày mai, biết đâu đã quá muộn. Lòng thương xót không làm cho thời gian nên vô hạn.

“Tại sao không phải hôm nay? Tại sao không phải ngay bây giờ?” – Augustinô.

Thiên Chúa chờ con người; con người lại không kiên nhẫn đợi nhau. Từ trong cảnh tù đày, Phaolô khẩn khoản mời gọi “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau!”

– bài đọc một. Người mất tự do lại lo cho những người tự do đừng mất nhau. Con người nhạy bén trước những biến động của thế giới, lại không nhận ra sự rạn nứt đang lớn dần ngay trong gia đình, cộng đoàn mình. Biết thời đại biến chuyển mà không biết một mối tương quan đang đi đến đổ vỡ, vẫn là chưa đọc đúng thời điểm.

Chúng ta cầu xin Chúa nhẫn nại với mình, nhưng dễ mất kiên nhẫn trước một lỗi lầm của người anh em. Chuyện cũ vẫn còn đó, nhưng chẳng ai mở lời để lời khép lại. Đôi lúc chỉ cần một lời hỏi thăm, một câu chào, mà lòng tự ái cứ đợi người kia đi trước. Điều đáng buồn không phải là không còn đường đi, nhưng cả hai vẫn còn trên đó mà chẳng ai chịu bước về phía nhau. “Tha thứ có nghĩa là hoà giải; tha thứ có nghĩa là xây dựng một mối tương quan mới!” – Martin Luther King Jr..

Anh Chị em,

Đức Kitô là Đấng đã đến mà người đương thời không nhận ra. Ngài đi trước để giao hoà nhân loại với Chúa Cha. Ngài không đợi con người biết nhận lỗi mới yêu thương; chính tình yêu ấy mở đường cho họ trở về. Đấng có quyền xét xử lại chọn chết cho những người đáng phải trả lẽ. Phục Sinh, Ngài trở về với những người từng bỏ Ngài, trao bình an thay vì trách cứ, mở lại cánh cửa họ tưởng đã khoá. Con người có thể quên tình yêu đã nhận; Thiên Chúa không quên con người Ngài đã yêu. Nhưng tình yêu ấy vẫn chờ một lời đáp. Đừng để đến cuối đường mới chợt nhận ra – ‘trời không quên – người không nhớ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa không quên con dù bao lần con quên Chúa; đừng để con vin vào lỗi người khác mà trì hoãn làm hoà; cho con thôi hẹn điều cần làm hôm nay!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/23.html

Cảnh sắc đất trời thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao lại không biết nhận xét ?

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.        Lc 12,54-59

54 Khi ấy, Đức Giê-su nói với đám đông rằng : “Khi các người thấy mây kéo lên ở phía tây, các người nói ngay : ‘Mưa đến nơi rồi’, và xảy ra đúng như vậy. 55 Khi thấy gió nồm thổi, các người nói : ‘Trời sẽ oi bức’, và xảy ra đúng như vậy. 56 Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét ?

57 “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải ? 58 Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục. 59 Tôi bảo cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng.”


 

 

Mừng kính Thánh Gioan Phaolô đệ nhị 22-10 – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 22/10 Giáo Hội mừng kính Thánh Gioan Phaolô đệ nhị, Giáo Hoàng. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. Luôn cầu nguyện cho nhau vả thế giới được bình an nhé. 

Cha Vương

Th5: 22/10/2026           (t6-21)

TÓM TẮT TIỂU SỬ: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tên thật là Karol Józef Wojtyła sinh vào ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan. Là con của một cựu sĩ quan trong quân đội Habsburg. Lúc nhỏ tuổi Ngài có tiếp xúc nhiều lần với nhóm người Do Thái tại Kraków. Trong thời Đức quốc xã chiếm Ba Lan trong Đệ nhị thế chiến, Ngài đã làm việc trong một mỏ đá và một nhà máy hóa học. Khi Ngài còn trẻ Ngài đã là một vận động viên, một diễn viên, một nhà soạn kịch, và một nhà ngôn ngữ học (Ngài biết đến 11 ngôn ngữ). Karol Wojtyła được phong chức linh mục vào ngày 1 tháng 11 năm 1946. Ngài dạy môn luân lý tại Đại học bách khoa Jagiellonian và sau này tại Đại học Công giáo Lublin. Vào năm 1958 Ngài được phong chức làm Giám mục Phụ tá Địa Phận Kraków và bốn năm sau Ngài làm Giám Quản Địa Phận (Vicar Capitular).

– Chịu Phép rửa tội ngày 20/6/1920. Ngài lớn lên với cha mẹ ngài ở Rynek. Sau đó gia đình dọn tới Krak Via Tyniecka.

– Ngài rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lãnh phép Thêm Sức lúc 18 tuổi.

– Thụ phong linh mục năm 1946 tại Krakow lúc 26 tuổi.

– Làm Giám mục năm 1958 tại nhà thờ chính tòa Wavel lúc 38 tuổi.

– Làm Tổng Giám mục Krakow năm 1964, lúc 46 tuổi

– Được phong làm Hồng Y do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào năm 1967, lúc 47 tuổi.

– Được bầu làm vị Giáo hoàng thứ 246 ngày 16/10/1978 lúc 5:15 chiều là vị thứ 263 kế vị Thánh Phêrô ở tuổi 58. -Ngài là vị giáo hoàng trị vì lâu thứ ba trong lịch sử Giáo Hội. (26 năm và 4 ngày)

❦ Phương châm Giáo Hoàng là: “Totus Tuus” (tất cả cho Chúa).

❦ “Câu nói bất hủ của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô Đệ Nhị trong lễ đăng quang đã đánh dấu cả triều đại của ngài: “Anh em đừng sợ !”. Câu nói đó đã vượt ra khỏi quảng trường Thánh Phêrô, ra khỏi Vatican để đến tận chân trời góc biển, đặc biệt là đến tận những nước còn bị thống trị bởi chủ nghĩa và các chế độ cộng sản, trong đó có quê hương Balan của ngài.”

❦ “Anh em đừng sợ! Hãy mở tung cánh cửa rộng ra cho Chúa Giêsu Kitô!“

❦ Ngày cuối đời của ngài, ngài nói: “Anh em hãy để tôi đi về nhà Cha.”

Câu nào đánh động bạn nhất?

Xin Thánh Gioan Phaolô đệ nhị cầu bầu cho người dân nước Việt được an cư lạc nghiệp và vui hưởng tự do.

From: Do Dzung

*****

NHẠC THÁNH CA VPV || CON ĐỪNG SỢ