KHÔNG LÀ SÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói!”.

“Khi chiến đấu với quái vật, hãy coi chừng kẻo chính mình cũng trở thành quái vật!” – Friedrich Nietzsche.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không nói đến cuộc chiến với quái vật, nhưng nói đến việc chiên được sai vào giữa sói. Và điều đáng sợ không chỉ là chiên bị sói xé, nhưng là chiên học cách gầm gừ như sói. Vì thế, giữa một thế giới đầy cạm bẫy, người môn đệ được mời gọi sống giữa sói mà ‘không là sói’.

Chúa Giêsu không bảo hãy ngây thơ trước sự dữ. Ngài dạy các môn đệ “khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”. Bản Hy Lạp viết phronimoi – không chỉ là khôn, nhưng còn biết “phân định và ứng xử” giữa những mưu mô của kẻ ác; akeraioi – không chỉ là đơn sơ, nhưng còn là “không pha trộn”, không để sự dữ làm mình biến chất. Người môn đệ phải hiểu sự dữ vận hành thế nào, nhưng không vận hành như nó; nhận ra nanh vuốt của sói, nhưng không mọc nanh vuốt như sói. “Hãy có sự khôn ngoan của rắn để không bị thương; và sự đơn sơ của bồ câu để không trả đũa khi bị tổn thương!” – Gioan Kim Khẩu.

Nhưng sống giữa sói lâu ngày, chiên có thể bị cám dỗ học cách của sói. Một chút cứng cỏi được gọi là bản lĩnh; một sự trấn áp được gọi là giữ kỷ cương; một cơn giận bộc phát được xem là cần thiết để khỏi bị tổn thương. Dần dần, chúng ta dùng chính sự ma mãnh của sói để chống lại sự dữ, và đánh mất mình trước khi kịp chiến thắng. Nhưng có những chiến thắng khiến chúng ta không còn nhận ra mình sau chiến thắng. Sói có thể làm người môn đệ bị thương; nhưng điều đáng sợ hơn là để vết thương ấy quyết định mình sẽ trở thành ai.

Hôsê chỉ cho chúng ta con đường để sống giữa sói mà không hoá sói: “Hỡi Israel, hãy trở về với Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi… mang theo lời cầu nguyện!”. Chỉ Thiên Chúa mới có thể chữa lành những gì đã bị tổn thương: “Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình!” – bài đọc một. Người môn đệ không thể giữ mình chỉ bằng sức riêng, nhưng bằng cách không ngừng trở về với Đấng đã gọi và sai mình. Khi lòng được chữa lành, môi miệng không còn gầm gừ, chúng ta cất lời ngợi khen: “Xin cho con cất tiếng ngợi khen Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô là Chiên ở giữa bầy sói. Bị vu khống, Ngài không đáp trả; bị làm nhục, Ngài không nguyền rủa; bị đóng đinh, Ngài vẫn tha thứ. Ngài không lấy bạo lực đáp lại bạo lực, nhưng lấy tình yêu và lòng thương xót mà hoán cải lòng người. Từ cạnh sườn bị đâm thâu, Ngài trở nên Mục Tử chữa lành những con chiên bị thương. Vì thế, theo Đức Kitô không chỉ là tránh làm điều dữ, nhưng còn là không để điều dữ làm mình biến dạng. Giữa một thế giới có thể làm chúng ta tổn thương, bạn và tôi vẫn yêu thương, tha thứ và ‘không là sói’. “Tôi sẽ không bao giờ để bất cứ ai kéo tôi xuống thấp đến mức khiến tôi phải ghét họ!” – Martin Luther King Jr..

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết khôn ngoan trước sự dữ; cho lòng con nguyên tuyền giữa bẫy chông; và dù bị tổn thương, vẫn không ngừng yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.        Mt 10,16-23

16 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các Tông Đồ rằng : “Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.

17 “Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. 18 Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho các dân ngoại. 19 Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì : 20 thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.

21 “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết, cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. 22 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

23 “Khi người ta bắt bớ anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật anh em : anh em chưa đi hết các thành của Ít-ra-en, thì Con Người đã đến.” 


 

Kính các vị tử đạo Trung Hoa – Cha Vương

Nguyện xin Chúa là sức mạnh và là nguồn an ủi đồng hành với bạn trong cơn bão táp của cuộc sống, luôn nhớ nhau trong lời nguyền cầu và cho thế giới lời cầu an bình nhé. Xin cảm tạ

Cha Vương

Thư 5: 9/7/2026.         (t4-25)

Hôm nay 9/7, Giáo hội cử hành thánh lễ tôn kính các vị tử đạo Trung Hoa. Các ngài là những người đã nêu gương anh dũng trong đời sống đức tin Kitô giáo dọc theo lịch sử của đất nước này. Thánh Augustinô Zhao Rong, đã anh dũng tử đạo để minh chứng đức tin, là một trong số 122 tín hữu Công giáo đã hy sinh suốt từ năm 1648 đến năm 1930.

   Vào năm 1815, một giám mục tên Gioan Gabriel Đufresse bị bắt. Lúc ấy, việc thực hành đạo Kitô bị coi là một hành vi chống lại luật lệ của đất nước Trung Hoa. Một anh lính Trung Hoa canh giữ đức giám mục rất đỗi khâm phục ngài bởi sự bình thản và lòng kiên nhẫn đối với cuộc bách hại. 

Sau khi giám mục Đufresse bị giết, người lính này đã xin gia nhập Giáo hội. Anh được chịu phép Thanh tẩy và nhận tên là Augustinô. Sau này, Augustinô gia nhập chủng viện và học làm linh mục.

Thụ phong linh mục chẳng bao lâu, Augustinô cũng bị bắt vì là Kitô hữu. Người ta đã tra tấn Augustinô dữ dội hầu làm cho ngài chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Thế nhưng, những đau khổ ấy lại chỉ giúp cho Augustinô Zhao Rong thêm can đảm và làm xác tín hơn niềm tin của ngài. Augustinô Zhao Rong bị lên án tử và tên ngài được ghi vào danh sách các tín hữu Trung Hoa anh dũng đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin của mình.

   Danh sách các vị anh hùng này bao gồm 76 giáo dân, một số em thiếu nhi thậm chí mới bảy tuổi, 8 chủng sinh, 24 linh mục và 6 giám mục. Trong số này, có 88 vị là người gốc Trung Hoa và 34 vị là các nhà truyền giáo đến từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng các vị đã nhận Trung Hoa là quê hương của mình. 

   Chúng ta hãy noi gương thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo Trung Hoa. Như các ngài, chúng ta hãy sống niềm tin của mình cách vui tươi. Chúng ta hãy can đảm sống cho sự thật dù đôi lúc đó không phải là điều dễ thực hiện.

 (Dịch giả: Đa Minh M Nguyễn Xuân Lộc, CMC)

From: Do Dzung

***********************************

HIỆP LỄ: BIỂN ĐỜI GIÔNG TỐ – Lm Thái Nguyên

Tuổi già được mất gì?

Khuong Nguyen

 Tuổi già được mất gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn thường cho rằng tuổi già là “tuổi xế chiều,” chỉ toàn thấy mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy cái gì cũng như đồng tiền, phải có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Cái mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp kêu lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa có thể bước hai bậc một lúc, bây giờ phải vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Cái mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước từng là cột trụ, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Khi họp mặt gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện cũ, chuyện xưa” nghe cho vui thôi…

Cái mất thứ ba là bạn bè. Mỗi năm thưa dần một vài chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo; danh bạ nhiều số không còn người nghe máy; “Điện thư” không có hồi âm hay bị gởi trả lại…

Cái mất sau cùng là thời gian. Biết chắc là quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn man mác, không tên.  Mỗi tờ lịch xé đi là một lần thấy giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta “được” những thứ mà tuổi trẻ không có…  Chẳng  hạn:

Ta được thảnh thơi với chính mình; không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn.” Ta được sống thật, nói thật, làm thật.  Mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục, phơi nắng; buổi chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Lúc trẻ thì hay chạy đua theo thiên hạ; lúc già rồi mới biết mình thích chén trà ngon, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: Nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ nhàng, thông thoáng. Tranh hơn thua làm gì nữa, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa Ba Mẹ cũng vậy.”  Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được.”  Bình thản đó phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Lúc trẻ thương bằng chiếm hữu, khi già thương bằng buông thả. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm cho kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò cột trụ, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu sự vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: Hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, người già đừng hỏi mình “Được gì? Mất gì?” Mà hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được hay không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: “Đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được ‘bình yên’ trong lòng.  Đó là cái ‘được’ lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.”

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất đậm nét.

FB Phạm Quốc Hùng 


 

BÌNH AN CÓ ĐÔI CHÂN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em”.

Một cô gái chào hàng bấm chuông nhiều nhà. Có nhà đóng sầm cửa. Cô mỉm cười bước sang nhà kế bên. Có người hỏi: “Cô không giận sao?”. Cô đáp: “Họ từ chối món quà của tôi; nhưng bình an vẫn ở với tôi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cô gái chào hàng ấy vừa kể một dụ ngôn Tin Mừng. Bình an Chúa Giêsu trao cho người môn đệ biết đi, biết đến, biết ở, rồi biết trở về – một bình an không chịu đứng yên. Lời Chúa hôm nay hé mở một hình ảnh thật đẹp: ‘bình an có đôi chân’.

Chúng ta thường nghĩ cứ đem Tin Mừng trao cho người khác thì sẽ được họ đón nhận. Nhưng không! Chúa Giêsu đã nói trước sẽ có những cánh cửa đóng kín, cũng có những cánh cửa mở ra. Điều lạ là bình an không bao giờ mắc kẹt trước những cửa đóng then cài của lòng người. Bản Hy Lạp viết elthetō – “sẽ đến”; và epistraphētō – “sẽ trở về”. Bình an luôn tìm đến và cũng biết trở về; điều quyết định là lòng người có mở hay không. Điều bị khước từ không phải là bình an, nhưng là cơ hội để bình an ở lại. “Nếu chính bạn bình an, thì thế giới này đã có thêm một phần bình an!” – Thomas Merton.

Phản ứng của chúng ta lúc bấy giờ sẽ thế nào? Phải chăng chỉ một cánh cửa khép lại cũng đủ làm lòng mình khép lại? Chỉ một lời từ chối cũng đủ làm mất bình an, vì chúng ta dễ để cách cư xử của người khác quyết định nội tâm mình. Nhưng người môn đệ không được sai đi để tìm sự đón nhận, mà để trao bình an. Họ có thể bị khước từ, nhưng không được đánh mất điều mình mang theo. “Một đời sống thiêng liêng đích thực luôn dẫn chúng ta từ khước từ đến hiếu khách!” – Henri Nouwen.

Hôsê cho thấy trái tim của Thiên Chúa cũng luôn bước trước đôi chân con người. “Ta đã tập đi cho Épraim… Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng” – bài đọc một. Người môn đệ chỉ thật sự mang bình an đến cho người khác khi chính họ bước đi trong ánh tôn nhan Thiên Chúa. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca cũng trở thành lời cầu của họ: “Lạy Chúa, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô không ngừng bước đến với con người, dù không ít lần bị khước từ. Vậy mà Ngài không đáp trả bằng oán hờn, nhưng bằng bình an; không dừng lại trước những cánh cửa khép kín, nhưng tiếp tục gõ cửa lòng người bằng tình yêu và lòng thương xót. Hôm nay, Ngài vẫn tiếp tục bước đến qua Hội Thánh và qua mỗi người môn đệ, mang theo bình an của Đấng Phục Sinh. Chỉ khi không để sự khước từ làm dừng bước tình yêu, chúng ta mới thật sự trở thành chứng nhân của bình an, một ‘bình an có đôi chân’. “Bóng tối không thể xua tan bóng tối; chỉ ánh sáng mới làm được. Hận thù không thể xua tan hận thù; chỉ tình yêu mới làm được!” – Martin Luther King Jr..

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để sự khước từ làm con chùn bước, đừng để tổn thương làm con khép lòng, nhưng cho con luôn mang bình an của Chúa đến với người thương lẫn kẻ ghét!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 10, 7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các Tông Đồ rằng : “Anh em hãy đi rao giảng : Nước Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. 9 Đừng kiếm vàng bạc hay tiền đồng để giắt lưng. 10 Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn.

11 “Khi anh em vào bất cứ thành nào hay làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 12 Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy. 13 Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em. 14 Nếu người ta không đón tiếp và không nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại. 15 Thầy bảo thật anh em, trong Ngày phán xét, đất Xơ-đôm và Gô-mô-ra còn được xử khoan hồng hơn thành đó.”


 

Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? – Cha Vương

Chúc bạn một thứ 4 vui vẻ hạnh phúc bên cạnh những người thân thương. Đừng quên cầu nguyện cho chiến tranh được chấm dứt trên thế giới  nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 08/07/2026.    (t6-22)

GIÁO LÝ: Các Kitô hữu “không Công giáo” có là anh chị em với chúng ta không? Tất cả những ai đã được Rửa tội đều thuộc về Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, những người đã được rửa tội, dù không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công giáo, họ cũng được gọi cách chính đáng là Kitô hữu, và do đó họ là anh chị em với chúng ta. (YouCat, số 130 )

SUY NIỆM: – Những đổ vỡ trong Hội Thánh duy nhất của Chúa Kitô đều xuất phát từ những bóp méo giáo huấn của Chúa Kitô, từ những lầm lỗi của con người và từ những thiếu sót trong ý muốn hòa giải, nhất là nơi các vị hữu trách trong Hội Thánh. Kitô hữu ngày nay không chịu trách nhiệm về những chia rẽ trong lịch sử Hội Thánh. Tuy nhiên vì muốn cả nhân loại được cứu rỗi, Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong các Hội thánh và các cộng đồng đã ly khai khỏi Hội Thánh công giáo. Tất cả những ân sủng sẵn có, như Kinh Thánh, các bí tích, đức tin, cậy, mến, và các đặc sủng khác đều do Chúa Kitô mà đến. Ở đâu có Thánh Thần Chúa Kitô, ở đó có một năng lực nội tại thúc đẩy phải “khôi phục lại sự hiệp nhất”, bởi vì ai thuộc về Thánh Thần đều khao khát tập họp lại với nhau.

❦  Các Hội Thánh và các cộng đồng Hội Thánh. Nhiều cộng đồng Kitô hữu khắp thế giới lấy tên là Hội Thánh. Đối với người Công giáo, chỉ là Hội Thánh khi trong cộng đồng đó các bí tích của Chúa Giêsu Kitô được duy trì nguyên vẹn. Điều này đúng với các cộng đồng Chính thống và các Hội Thánh Đông phương trước hết. Trong những cộng đồng Hội Thánh phát xuất từ cuộc cải cách của Tin lành, các bí tích không được duy trì nguyên vẹn. (YouCat, số 130 t.t.)

LẮNG NGHE: Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. (Ga 15:7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa luôn ao ước sự hiệp nhất Kitô giáo giữa những người tin vào Chúa Giêsu, xin giúp con vượt qua những gương xấu của sự chia rẽ, biết gạt sang một bên những ưu tiên riêng để thúc đẩy những gì mang lại sự hiệp nhất và công ích chung cho Giáo Hội.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Chúa Thánh Thần cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô giáo.

From: Do Dzung

*******************

Hiệp Nhất Yêu Thương – Tốp Ca (Sưu Tầm)

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống? – Tác giả: Tuấn Mai

 Tác giả: Tuấn Mai

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống?

 Đằng sau quyết định rời Việt Nam của nhiều người trẻ, có lẽ là những câu chuyện mà không phải ai cũng nhìn thấy.

“Trên chuyến bay trở về Việt Nam sau những ngày sang Mỹ thăm con, đúng vào dịp Quốc khánh nước Mỹ 4.7, tôi cứ nghĩ mãi về một câu hỏi đã theo mình suốt nhiều năm qua:

Điều gì khiến ngày càng nhiều người trẻ Việt Nam chọn sang Mỹ để học tập, làm việc và sinh sống? Có lẽ đây cũng là nỗi niềm canh cánh của rất nhiều bậc cha mẹ.

“Ở nhà đâu có khổ. Gia đình ổn định. Công việc cũng có sẵn. Vậy tại sao con vẫn muốn đi?”

Thú thật, đã có lúc tôi cũng nghĩ như vậy.

Trong ký ức của thế hệ chúng tôi, người Việt sang Mỹ chủ yếu để tìm một cuộc sống khá hơn về mặt kinh tế; đi vì miếng cơm manh áo, vì mong có thu nhập tốt hơn để thay đổi cuộc sống của cả gia đình.

Nhưng hơn hai mươi năm trở lại đây, khi chứng kiến con mình và con của nhiều bạn bè lần lượt sang Mỹ học tập, làm việc rồi ở lại, tôi nhận ra mình cần nhìn câu chuyện ấy theo một cách khác. Điều họ tìm kiếm dường như không còn chỉ nằm ở cán cân tài chính. Không ít bạn trẻ ra đi khi phía sau đã có một bệ đỡ rất vững vàng. Có người có công việc đáng mơ ước ở Việt Nam. Có người có sẵn doanh nghiệp gia đình để kế thừa. Nếu ở lại, cuộc sống của họ có lẽ sẽ nhẹ nhàng và êm ấm hơn rất nhiều.

Vậy mà họ vẫn chọn bắt đầu lại từ đầu. Chấp nhận học lại. Chấp nhận làm những công việc bình thường. Chấp nhận sự cô đơn. Chấp nhận những ngày bận rộn đến kiệt sức nơi đất khách.

Là cha mẹ, nhìn con “đầu tắt mặt tối” như vậy, ai chẳng xót. Nhiều lần tôi tự hỏi:

Nếu vẫn phải làm việc quần quật như thế, tại sao con vẫn thấy hạnh phúc?

Sau chuyến đi này, tôi dần hiểu rằng câu trả lời không nằm ở công việc, mà nằm ở cảm giác được tự mình làm chủ cuộc đời.

Có một điểm rất khác ở nhiều người trẻ hôm nay. Các con không chỉ mong có một cuộc sống tốt, mà còn muốn biết nếu một ngày không còn gia đình ở phía sau, mình có thể đi được bao xa bằng chính năng lực của bản thân. Đó không phải là sự nổi loạn. Càng không phải là phủ nhận những gì cha mẹ đã vun vén. Mà đơn giản là khát vọng được tự viết câu chuyện cuộc đời mình.

Ngày đầu tiên tự thuê nhà.

Ngày đầu tiên tự đóng học phí.

Ngày đầu tiên tự giải quyết một khủng hoảng mà không gọi điện về cầu cứu bố mẹ.

Những điều tưởng chừng rất bình thường ấy lại là những cột mốc trưởng thành vô cùng lớn. Một bạn trẻ từng nói với tôi câu nói mà tôi vẫn nhớ mãi:

“Ở VN, con không thiếu điều gì. Nhưng sang Mỹ, lần đầu tiên con thấy mình phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho cuộc đời của chính mình.”

Tôi nghĩ rất lâu về câu nói ấy. Không phải vì nước Mỹ có phép màu nào. Mà vì một môi trường sống khác có thể khiến con người nhận ra mình làm được nhiều hơn những gì trước đây từng nghĩ. Điều nhiều người trẻ tìm thấy không hẳn là sự giàu có. Đó là cảm giác mỗi thành quả mình có được, dù rất nhỏ, đều là kết quả của sự nỗ lực và tự lập. Cảm giác ấy mang lại một sự tự tin đến từ bên trong, không ai có thể cho, cũng chẳng ai dễ dàng lấy đi.

Dĩ nhiên, nước Mỹ không phải là thiên đường. Ai từng sống ở đó đều hiểu cuộc sống cũng đầy áp lực. Chi phí sinh hoạt đắt đỏ. Công việc căng thẳng. Xa gia đình. Cô đơn. Có những lúc chỉ một cơn ốm cũng đủ khiến người ta thấy mình nhỏ bé và lạc lõng giữa một đất nước rộng lớn. Không ít người từng khóc vì nhớ nhà. Không ít người từng muốn bỏ cuộc. Không có lựa chọn nào chỉ toàn màu hồng.

Nhưng điều khiến tôi suy nghĩ là, dù hiểu rất rõ những khó khăn ấy, rất nhiều người vẫn quyết định ở lại. Không phải vì họ bị nước Mỹ mê hoặc. Mà vì sau những năm tháng tự bươn chải, họ nhận ra mình đã trở thành một con người khác. Tự lập hơn. Điềm tĩnh hơn. Biết chịu trách nhiệm hơn. Và hiểu rõ mình muốn gì hơn. Có lẽ đó mới là điều họ trân trọng nhất.

Sống ở Mỹ một thời gian, tôi cũng hiểu vì sao nhiều người gắn bó với cuộc sống ấy. Không hẳn vì những điều lớn lao. Mà vì những điều rất nhỏ diễn ra mỗi ngày. Một môi trường mà việc đặt câu hỏi được xem là bình thường. Một người lao động chân chính, dù làm nghề gì, cũng cảm thấy mình được tôn trọng. Một cuộc sống mà người ta bớt quan tâm bạn đang sở hữu điều gì, và quan tâm nhiều hơn đến cách bạn đang sống. Những điều ấy nghe có vẻ rất nhỏ. Nhưng khi trở thành một phần của cuộc sống mỗi ngày, chúng lại tạo nên cảm giác bình yên mà nhiều người vẫn âm thầm đi tìm.

Là cha mẹ, điều khó khăn nhất không phải là nhìn con vất vả. Mà là chấp nhận rằng có những bài học con chỉ có thể tự mình trải qua. Chúng ta có thể cho con một nền tảng đủ đầy. Nhưng không thể sống thay cuộc đời của con. Đến một lúc nào đó, tình yêu thương không còn là giữ con ở thật gần. Mà là đủ tin tưởng để con bước đi trên con đường mình đã chọn.

Có thể một ngày nào đó con sẽ trở về.

Cũng có thể con sẽ ở lại.

Điều ấy không còn quan trọng bằng việc con được sống một cuộc đời mà sau này nhìn lại, con không phải tiếc nuối vì đã không dám dấn thân.

Thế hệ trước phần lớn ra đi vì hoàn cảnh. Thế hệ hôm nay, rất nhiều người ra đi vì một lựa chọn. Họ không rời Việt Nam vì ghét quê hương. Họ cũng không đến Mỹ vì tin đó là một miền đất hoàn hảo. Họ chỉ mong tìm được một môi trường phù hợp hơn với những giá trị mà mình theo đuổi; một nơi để thử sức, để trưởng thành và để chịu trách nhiệm với chính cuộc đời mình.

Có lẽ điều những người làm cha, làm mẹ cần nhất lúc này không phải là cố giữ con ở lại bằng mọi giá. Mà là cố gắng hiểu vì sao con muốn bước ra thế giới.

Có lẽ rồi mỗi đứa con sẽ có một lựa chọn khác nhau.Có người trở về. Có người ở lại.

Điều quan trọng không phải là con sống ở đâu. Mà là con có sống tử tế, sống có trách nhiệm và bình yên với lựa chọn của mình hay không.

Nếu câu trả lời là có, thì có lẽ những người làm cha, làm mẹ như chúng ta cũng thấy yên lòng.

Ps: Những người Việt sang các nước khác, chắc cũng vậy!”

Tác giả: Tuấn Mai

From: taberd- & NguyenNThu

SÁNG ĐÔI MẮT MÙ – Tác giả: Tràm Cà Mau- Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 SÁNG ĐÔI MẮT MÙ

https://youtu.be/zsptS3lRPIA

Con người cần điều gì  ?

– cần đôi mắt sáng, cần có ánh sáng. Đôi mắt và ánh sáng như là phương tiện cho cuộc sống mỗi con người.

Dạo đó, khi cả miền Nam đang bấn loạn lên, vì cuộc chiến tranh mấy mươi năm sắp đến hồi kết cuộc.

Bắc quân hồ hởi tiến mau như chẻ tre. Nam quân rút bỏ, tan rả mau chóng. Những người không am hiểu tình hình chính trị quốc tế thì ngỡ ngàng, ngạc nhiên, không tin được về sự thực đang xẫy ra trên đất nước nầy.

Dân miền Nam đua nhau bỏ chạy ra biển, chưa biết sẽ trôi nổi về đâu, cũng chưa biết sẽ đi nơi nào, làm gì mà sống, sống có được hay không.

Không cần biết. Cứ chạy trốn đã.

Những người nầy, đã có một ít hiểu biết hoặc kinh nghiệm sống với cộng sản, nên liều chết ra khơi.

Mấy cụ già miền Nam vuốt râu nói:

“Cộng sản cũng là người Việt Nam mình với nhau, việc chi mà sợ?

Cọp nó còn chưa ăn con, huống hồ chi họ với mình cùng tổ tiên, cùng giòng giống.

Miền Bắc hay miền Nam đều là anh em với nhau cả mà. Chạy đi đâu làm chi cho mệt.”

Những người trong chính quyền miền Bắc chắc cũng không hiểu nổi, tại sao nhân dân miền Nam sắp được “giải phóng”, sắp được sung sướng, sao mà lại bỏ chạy.

E rằng, họ bị Mỹ Ngụy tuyên truyền đầu độc, nên dại dột dong thuyền ra khơi. Họ cho rằng, những người bỏ trốn họ, là loại trây lười, sợ lao động, sợ khổ.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh sắp tàn.

Bạn của Tâm hối hả đến tận nhà lo lắng nói :

“Anh sửa soạn hai bộ áo quần. Đem theo một ít thức ăn khô, một chai nước. Tôi đã ghi danh cho anh được xuống xà lan ở Tân Cảng, và sẽ được kéo ra khơi hôm nay hoặc ngày mai.”

Tâm trầm ngâm:

“ Không đi đâu cả. Tôi sinh ra trên quê hương nầy, và sẽ sống và chết với quê hương.”

“Anh chấp nhận sống với cộng sản.?”

“Anh chưa hiểu ý tôi. Nếu phải chọn tự do và cộng sản, thì tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ một chính thể tự do.

Nhưng nếu phải chọn quê hương và một nơi vô định khác, thì tôi chọn quê hương.

Đất nước mình đã chịu chiến tranh tàn phá ba mươi năm nay. Tan tác, đổ vở quá nhiều.

Bây giờ là lúc toàn dân cần góp tay xậy dựng lại quê hương thân yêu của chúng ta. Tôi đã chuẩn bị tinh thần rồi.

Chấp nhận đi tù vài ba năm, nếu phải đi đập đá Trường Sơn, thì đá đó cũng để xây dựng đường sá và nhà cửa cho quê hương nầy.

Đi ra ngoài, dù có làm được gì, thì cũng là làm cho người ta. Tôi chấp nhận mọi gian khổ để đổi lấy cuộc sống còn có quê hương.”

Người bạn nhìn Tâm với ánh mắt u buồn:

“Tôi ước mong sao ý nghĩ của anh là đúng, và sau nầy không ân hận”

Tâm quả quyết:

“ Tôi sẽ không bao giờ ân hận với chọn lựa nầy. Tôi chọn quê hương.”

Nửa tháng sau ngày miền Bắc thắng trận, một ông chú của Tâm, là cán bộ có vai vế, từ Hà Nội vào tiếp thu Sài gòn. Ông  ghé lại nhà thăm.

Ông nầy đã hăng hái tham gia cuộc kháng chiến từ thời khởi đầu năm 1945.

Trong tình thân gia đình, ông bực bội hỏi:

“ Sao không bỏ chạy, mà giờ nầy còn ở đây? Thế thì khổ đời anh rồi.”

Tâm ngỡ ngàng, nhưng cũng quả quyết nói:

“ Cháu ở lại, để góp một tay xây dựng lại quê hương đổ vở. Chỉ mong làm một hạt cát nhỏ trong công cuộc tái thiết đất nước nầy”

Ông chú cười buồn mà nói:

“Ai cho anh xây dựng mà hòng?

Anh tưởng dễ lắm sao?”

“ Cháu không hiểu hết ý của chú.”

“ Rồi anh sẽ hiểu. Anh phải “kinh qua” mới thấm và hiểu. Chưa thực sự sống trong chế độ, thì dù cho có đọc ngàn cuốn sách, anh cũng còn mơ hồ và đầy ảo vọng.”

Tâm mạnh dạn nói mà không sợ ông chú buồn lòng:

“ Nếu cháu không lầm, thì chú cũng đang là một rường cột của chế độ nầy. Với cái vai vế của chú, thì chú cũng có thể tạo điều kiện cho những người yêu mến quê hương nầy có cơ hội phục vụ đất nước. Quê hương nầy là của chung, gia sản của tổ tiên nhiều đời gây dựng lại, không của riêng ai, không của riêng đảng phái nào.”

Ông chú cười, ánh mắt có vẻ thương xót người cháu, ông nói:

“Không. Anh nói vậy là chưa hiểu chi về xã hội chủ nghĩa cả. Chú cũng chỉ là một bánh xe trong guồng máy đang vận hành. Bánh xe nào không hoàn toàn ăn khớp, thì bị loại ra ngay.

Bị vứt bỏ không thương tiếc.

Bị chà đạp, bị hành hạ, sống không được, chết không xong.

Anh không có quyền yêu mến quê hương theo tâm ý của anh.

Phải yêu theo lối của người khác vạch ra, hoàn toàn đi trong đường lối đó, nếu anh muốn sống còn. 

Tôi xin anh, đừng có nói cái giọng điệu quê hương là gia sản chung cho ai khác nghe, mà không có lợi cho bản thân anh.”

Tâm thở dài.

Một lúc sau ông chú nói tiếp:

“Điều cần thiết nhất chú dặn anh, là đừng có dại mà thành thật khai báo lý lịch và tội lỗi của mình.  Anh đã ở miền Nam, thì dù anh có làm gì, hay không làm gì, cũng có tội với cách mạng cả.

Phải tự nhận là có tội, và chỉ nhận những tội khơi khơi thôi. 

Chuẩn bị một bản lý lịch cá nhân.

Cái gì không lợi thì đừng khai.

Cái gì giấu được thì giấu.

Viết càng ngắn, gọn, rõ ràng càng tốt. Khai cho y hệt nhau, đừng sai chạy. 

Đó, chú chỉ giúp anh được chừng ấy thôi, anh nhớ cứ làm theo, thì bớt được vận hạn khó khăn.”

Tâm chấp nhận đi tù cải tạo với sự bình tỉnh, không chút lo lắng buồn phiền.

Anh đã chuẩn bị trước, và đây là chuyện phải đến.

Tâm cũng không có ảo vọng đi “học tập” một tháng hay hai tuần như thông cáo do chính quyền phổ biến. Nhưng Tâm vẫn mong rằng, anh nghĩ sai. Anh đã chuẩn bị cho một cuộc đời tù tội lâu dài. Mang theo những vật dụng thật bền, chắc chắn.

Những tuần đầu trong trại cải tạo, Tâm thấy bạn bè xài phí những vật dụng mang theo, anh nói với các bạn trong một buổi họp tổ:

“Các anh nên tiêu xài tiết kiệm lại một chút. Đâu đã chắc một tháng là được về ngay !”

Các bạn anh nhao nhao phản đối :

“ Cánh mạng trước sau như một.

Anh không tin tưởng chính sách của cách mạng sao? Anh còn tư tưởng lạc hậu lắm. Cách mạng nói một tháng, là một tháng, không sai chậy đâu.”

Thấy tất cả bạn bè đều phản đối dữ dội, và nếu cán bộ quản giáo biết được,

hay có người báo cáo thì bất lợi cho bản  thân, Tâm vội vàng cười giả lả:

“ Thôi mà, tôi nói chơi cho vui, mà làm anh em sợ. Nói đùa , anh em bỏ qua đi.”

“Đùa làm đứng tim người ta.

Cách mạng không bao giờ nói sai cả.”

Tâm biết anh em sợ, không dám nghe nói sự thực. Muốn nuôi ảo tưởng là một tháng sẽ được tha về, nên phản đối lời khuyên của Tâm.

Sau ba tuần mà chưa thấy “bài vở và học tập” chi cả.

Đám tù lao nhao tiên đoán rằng, cách mạng sẽ khoan hồng cho về, mà không cần học tập lôi thôi.

Đoán rằng, họ sẽ phát tài liệu cho anh em đọc, vì ai cũng đã có trình độ học vấn khá, không cần phải giảng dạy.

Tâm chỉ cười, và mong sao cái mơ ước hão huyền của anh em đúng sự thực, chứ trong lòng Tâm, không hề có ảo tưởng nào.

Nhiều đêm, khi chín giờ, đèn điện tắt, có tiếng tắc kè kêu vang dội rất rõ trên đồi cao:

“ Tắc kè. Tắc kè.”

Anh em diễn dịch ra là có điềm tốt thông báo, nên tắc kè kêu là “ Sắp về. Sắp về.”

Có nhiều anh loan tin rằng, mấy đêm nay xem thiên văn, thấy nhiều sao chiếu đồng quy về hướng Sài gòn, bởi vậy, anh em cũng sắp được tha về nay mai.

Nhiều tháng sau vẫn chưa được tha về, mà thời gian tù không xác định.

Tiếng tắc kè được diễn dịch lại là “Đếch về. Đếch về.”

Một người bạn nói với Tâm:

“ Cán bộ luôn luôn nhắc nhở là “yên tâm cải tạo”, làm sao mà yên tâm, khi gia đình còn lắm việc bộn bề, vợ con không biết sinh sống ra làm sao, ngày ra trại chưa được xác định.

Thì làm sao mà yên tâm cải tạo được?”

Tâm cười và trả lời:

“Yên tâm cải tạo. Đúng. Mấy ông cán bộ nói đúng. Yên tâm đi, ngày về còn xa lắm lắm.  Đừng nôn nóng, vô ích.

Không yên tâm, thì cũng không được gì. Bận lòng thêm khổ. Chúng ta bị mắc bẩy rồi, cứ đừng hy vọng, đừng mong ước gì cả.

Yên lòng. Nếu có một ngày nào đó, được kêu tên cho ra về, thì sung sướng lắm. Nếu chưa được về, cũng đừng mong. Có mong là có bồn chồn, có khổ tâm.

Hãy yên tâm đi, yên tâm cải tạo”

Mấy người bạn Tâm bây giờ đã bớt ảo tưởng, nhưng vẫn chưa tắt niềm hy vọng. Họ thường tỏ vẻ bực bội khi nghe các bạn khác đọc các câu thơ: 

“Bao giờ cọc sắt nở hoa.

Bà Đen hết đá thì ta mới về”

hoặc

“Khi đi vợ mới mang bầu.

Ngày về con đã bạc đầu như cha.”

Nhờ lời khuyên của ông chú đã từng kinh qua dày dạn trong chế độ, là đừng dại dột thành thật khai báo, nên Tâm được tha tù, về nhà sớm hơn bạn bè cùng trang lứa, cũng mất hơn ba năm, gần với thời gian anh đã  tiên đoán và chấp nhận. 

Trong thời gian nầy, tình hình lương thực vô cùng khó khăn.

Cả nước đều đói vàng mắt, nhà nhà ăn độn khoai sắn, bo bo, mì sợi.

Bụng dạ mọi người khi nào cũng lưng lửng, nhột nhạt, có kiến bò.

Miệng thì luôn thòm thèm.

Đời sống thường ngày vô cùng khó khăn.

Ít còn ai đủ dại để tin tưởng vào tương lai tươi sáng hạnh phúc.

Không biết ai bày, mà bọn trẻ con hàng xóm thường ngêu ngao hát bài ca sửa lời:

“…tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá, kể từ giải phóng vô đây, ta ăn độn dài dài, kể từ giải phóng vô đây, ta ăn độn toàn khoai…”

Một lần nghe cuộc bàn cãi giữa hai ông cậu, ông cậu nhỏ là người đi tập kết ở miền Bắc về, nói với ông cậu lớn tuổi rằng:

“ Anh chưa ‘giác ngộ cánh mạng’ thì anh đừng nói, đừng bàn luận về xã hội chủ nghĩa. Phê bình mà chưa biết rõ bản chất, thì đừng nên nói, không có lợi cho anh và gia đình.”

Ông cậu lớn tức tối nói:

“ Làm sao mà tôi giác ngộ cách mạng của các người được? Còn bản chất của xã hội chủ nghĩa, không nói ra, ai cũng biết là cái gì rồi.”

“Anh có biết giác ngộ cách mạng là gì không?

Giác ngộ nghĩa là biết rõ, biết đến nơi đến chốn, không phải biết lơ mơ như các anh.

Biết cái gì?

Biết cách mạng vô cùng nghiêm khắc, tàn bạo, không khoan nhượng.

Nghĩa là biết sợ cách mạng trù dập, sợ bị thanh toán, thủ tiêu, sợ bị giam đói, bị bao vây kinh tế, bao vây tình cảm.

Tóm lại, giác ngộ cách mạng là biết sợ cách mạng, sợ vô cùng, không dám hó hé chi cả.

Cách mạng nói sao, mình  nghe vậy, nói theo y như vậy, đừng sai chạy mảy may, đừng để cái lý trí phán đoán sai đúng xen vào.

Người giác ngộ cách mạng sẽ dễ sống, dễ thở, và an toàn hơn trong cái xã hội chủ nghĩa.”

Ông cậu lớn nói với giọng chán nản:

“ Thế thì giác ngộ cách mạng là phải biết hèn nhát, nói như vẹt, mềm như bún. Không kể gì đến sĩ khí, nhân cách nữa sao?”

Ông cậu ‘cách mạng’ trả lời:

“Hừ, sĩ khí và nhân cách để làm gì nếu cái bao tử trống không, đói khát hành hạ, vợ con nheo nhóc, xóm giềng xa lánh, hất hủi mình vì sợ liên lụy?”

Ngừng một lát, ông nầy nói tiếp:

“ Thời nầy, tốt nhất là bịt tai, nhắm mắt mà sống. Đừng bao giờ nói ý nghĩ trung thực của mình cho ai nghe.

Có lẽ, tốt hơn hết là đừng có ý kiến chi khác với mọi người. Ai sao mình vậy. Đúng hay sai, thật hay giả, không cần biết đến làm chi. Đó là thái độ khôn ngoan nhất.”

Ông cậu lớn tuổi lắc đầu:

“ Không được. Phải can đảm nhìn thẳng vào sự thật, và đừng tự dối lòng để giả tin vào lời lừa mị láo khoét.

Nếu ai cũng dám nhìn thẳng vào sự thực, nói lên sự thực, thì bọn dối trá sẽ không còn đất sống, và không còn cơ hội ức hiếp, áp bức kẻ hiền lương.

Người miền Bắc và miền Trung khôn ngoan quá, cẩn trọng quá, nên gắng nhịn nhục để sống còn, bởi vậy nên bị ức chế, bị chà đạp, bị dày xéo,  không còn thể thống chi cả.

Chú ra ngoài chợ Sài gòn mà xem, hay chú lên xe đò mà nghe các bà chữi cho nát mặt, nát mày, có dám bỏ tù hết cả nhân dân miền Nam nầy không?

Ban đầu, các anh ‘cách mạng’ cũng hung hăng, doạ dẫm, định áp đặt chính sách cai trị hà khắc như cai trị dân miền Bắc lên vùng đất nầy.

Nhưng không ai sợ cả, không ai hùa theo lời nói láo khoét. Mấy anh bị hố. Dân miền Nam không hèn nhát đâu.”

Ông cậu ‘cách mạng’ hạ thấp giọng:

“Nhân dân miền Nam nầy ăn nói phản động, không có lợi lộc gì cả, mà lại hại đến bản thân, gia đình.

Nói lời phản động, để được cái gì chứ? Anh tưởng chúng tôi đều ngu muội, mù quáng cả, không nhìn thấy và phân biết được sự thực và dối trá sao?

Sống theo nếp sống mới thì phải biết ‘nói điều mình không tin, và tin điều mình không dám nói’

Đó là thái độ khôn ngoan, thức thời.”

Mỗi ngày từ sáng tinh mơ, loa đã oang oang kêu gọi dân chúng sống theo nếp sống văn minh.

Tâm không biết nếp sống văn minh của xã hội chủ nghĩa ra làm sao, đem hỏi ông một ông chú ‘cách mạng’ khác.

Ông hạ giọng thầm thì:

“Cái gì người ta thiếu, thì nói nhiều đến cái đó. Văn minh bây giờ là xe chạy bằng than cũi, ăn cơm độn khoai sắn, xới vườn hoa trồng rau khoai rau dền, nuôi heo trên tầng lầu chúng cư, áo quần xám xịt một màu, ăn nói một lời giống nhau y hệt. Văn minh mà nhà nước ta đang nhắm đến là làm sao cho miền Nam tiến kịp miền Bắc trong tiêu chuẩn … nghèo đói.”

Tâm cười:

“Các ông bà con đi tập kết về khuyên đừng ăn nói phản động. Thế mà lời của chú, nghe ra còn phản động hơn ai hết. Thế thì hai mươi mấy năm đi theo cách mạng, chú đã làm được công trạng gì trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa?”

Nét mặt ông chú có vẻ tức tối:

“Công trạng cái con khỉ. Vì chú không biết a dua, không hèn nhát nói theo lời lếu láo dối trá của bọn chúng, nên chú bị bao vây, bị cô lập, bị bỏ đói trong hai mươi năm tập kết ra Nghệ An. Chú kiếm sống bằng nghề ‘hớt tóc chui’.

Cả nước đã đói cho vàng mắt ra, gia đình chú còn đói hơn ai cả.

Con cái không được nhận vào trường, thất học cả đám. Chẳng bị tù rục xương là may mắn lắm rồi cháu à.”

“Thế thì xin chú cho cháu một lời khuyên, để sống còn trong xã hội mới nầy.”

Ông chú lắc đầu:

“Không còn cách nào để cho các thành phần như cháu sống còn cả.

Ngoại trừ… ngoại trừ bỏ nước ra đi.

Chỉ có con đường đó thôi.”

Một năm sau, Tâm đến được bến bờ tự do sau bao lần suýt bỏ mạng trên biển cả. /./.

Tác giả Tràm Cà Mau


 

HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

Cang Huynh

HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA TRONG ĐÊM… ĐIỀU HỌ THẤY TRONG ĐỐNG TRO TÀN LÀ KHÔNG THỂ TIN NỔI.

*Tên tôi là Cha Thomas. Tôi là linh mục của một nhà nguyện Công giáo nhỏ nằm trong một khu dân cư đa tôn giáo ở bắc Lebanon.

Trong nhiều năm, ngôi nguyện đường nhỏ dâng kính Đức Mẹ Maria là nơi bình yên cho tất cả người Kitô hữu và một vài người Hồi giáo bí mật ghé thăm. Tôi đặt một bức tượng Đức Mẹ Maria rất đẹp ở ngay chính giữa bàn thờ. Rất nhiều người đến để cầu nguyện, đặc biệt là các bà mẹ đến xin Đức Mẹ ban ơn cho con cái của họ.

Nhưng không phải ai cũng đồng cảm.

Một số người hàng xóm cực đoan đã xem ngôi nguyện đường nhỏ như một sự xúc phạm. Một đêm nọ, một nhóm người trong số họ đã phóng hỏa đốt nguyện đường. Họ đổ xăng và đứng nhìn ngọn lửa thiêu rụi tòa nhà gỗ nhỏ.

Sáng hôm sau tôi đến nơi chỉ còn thấy đống tro tàn. Trái tim tôi đã tan nát. Bức tượng mà tôi rất yêu đã biến mất. Tôi quỳ xuống giữa đống đổ nát và khóc.

Nhưng sau đó tôi thấy một điều không thể tin nổi.

Ngay giữa đống tro tàn, hoàn toàn không bị ngọn lửa chạm đến, bức tượng Đức Mẹ Maria hoàn toàn đứng vững nguyên vẹn – thậm chí không một vết cháy sém. Xung quanh bức tượng, những bông hồng tươi đã nở trong đống tro tàn, những cánh hoa không hề bị chạm đến bởi những ngọn lửa.

Tôi quỳ xuống, vì thật kinh ngạc và sùng kính.

Những người phóng hỏa đến xem chuyện gì đã xảy ra. Khi họ nhìn thấy bức tượng Mẹ Maria nguyên vẹn đang đứng giữa đống đổ nát bị thiêu rụi, nhiều người trong số họ bắt đầu khóc. Một vài người đã quỳ gối xuống ngay tại nơi đó.

Một trong những người đàn ông đã đốt lửa, một người  tên là Ahmed, đã thú nhận với những giọt nước mắt:

“Tôi đã châm lửa đốt. Nhưng bây giờ  nhận thấy rằng, tôi đã chống lại Thiên Chúa. Xin hãy tha thứ cho tôi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.


 

QUYỀN MÀ KHÔNG TOÀN QUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế”.

“Quyền bính trong Hội Thánh luôn là phục vụ, không bao giờ là thống trị!” – Lêô XIV.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ, ban cho các ông quyền trên các thần; nhưng ngay sau đó, Ngài lại giới hạn đường đi nước bước của họ. Tin Mừng hôm nay mặc khải một nghịch lý: ‘quyền mà không toàn quyền’.

Con người thường nghĩ quyền càng lớn, tự do càng nhiều. Với Chúa Giêsu thì khác! Ngài ban cho các môn đệ quyền trên các thần ô uế, nhưng không phải muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm: “Đừng đi tới vùng các dân ngoại; cũng đừng vào thành nào của người Samari. Hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel!”. Bản Hy Lạp viết edōken – “ban”. Quyền được ban vẫn luôn thuộc về Đấng đã ban; người môn đệ chỉ là người quản lý, không phải chủ sở hữu. Điều nguy hiểm không phải là không có quyền, nhưng là tưởng mình có toàn quyền. Quyền chỉ còn là quyền của Tin Mừng khi nó vẫn biết vâng phục.

Chúng ta dễ ngộ nhận, càng có quyền, mình càng lớn. Vì thế, không ít người dùng quyền để che giấu sự bất an; thích người khác cúi đầu hơn là ngẩng đầu; thích được sợ hơn là được tin; thích được khen hơn là được nghe sự thật. Nhưng Chúa Kitô không trao quyền theo cách ấy. Ngài trao quyền để các môn đệ giải thoát con người, chứ không trao quyền để họ thống trị con người. Quyền trong Tin Mừng không sinh ra những kẻ thống trị, nhưng sinh ra những con người phục vụ – “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em!”.

Nhưng quyền rất dễ trở thành cám dỗ khi người ta quên Đấng ban quyền. Hôsê đã nhìn thấy một Israel như thế. Càng được chúc phúc, họ càng dựng thêm bàn thờ cho các thần ngoại; càng mạnh, họ càng xa Thiên Chúa và gần các ngẫu tượng. Vì thế, ngôn sứ kêu gọi: “Hãy khai khẩn đất hoang; đây là thời kiếm tìm Đức Chúa!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng nhắc nhở: “Hãy không ngừng tìm kiếm Thánh Nhan!”. Chỉ ai không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa mới không đánh mất ý nghĩa của quyền mình đang có.

Ai trong chúng ta cũng có một thứ quyền nào đó: trong gia đình, ngoài xã hội hay trong Hội Thánh. Quyền ấy không được trao để người khác sợ, nhưng để người khác lớn lên trong tự do và phẩm giá. Vì thế, điều đáng hỏi không phải là: “Tôi có quyền gì?”, nhưng “Quyền của tôi đang giải thoát hay đang thống trị?”. “Việc thực thi quyền bính phải mang đặc tính phục vụ!” – Học thuyết Xã hội.

Anh Chị em,

“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy!”. Nhưng Đấng có mọi quyền lại chọn con đường thập giá. Quyền của Ngài luôn mang hình dáng của tình yêu, phục vụ và tự hiến. “Quyền bính trở thành phục vụ khi biết chia sẻ, lôi cuốn và giúp con người lớn lên!” – Phanxicô. Vì thế, ai càng thuộc về Đức Kitô, càng không dùng quyền để đứng trên con người, nhưng để cúi xuống vì con người. Đó mới là quyền của người môn đệ theo khuôn mẫu Tin Mừng: ‘quyền mà không toàn quyền’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết lớn lên bằng phục vụ, mạnh lên bằng yêu thương và trở thành chỗ dựa cho người khác, hơn là tìm chỗ đứng cho mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************
Lời Chúa Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 10,1-7

1 Khi ấy, Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ : đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; 3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; 4 ông Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người. 5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng :

“Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần.”


 

“Đừng”… và … “Nên”

Kimtrong Lam

“Đừng”… và … “Nên”

Đừng trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn

Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…Và…

người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận !

Đừng quyết định khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi

(tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

 

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm

Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm

Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có……..

Trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng,

tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t ..

ngơ ngác với giờ.. phút ..

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên

thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, 

 

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lắng nhiều quá về con cái vì con cái có phần số của chúng

chúng sẽ tự tìm cách sống riêng.

 

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ.

Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

Nên bạn hãy sống cho vui vẻ.

Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

 

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và coi ai thành đạt hơn,

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn

BẠN BÈ … nữa.. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

( Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn)


 

CÁCH SỐNG CỦA NGƯỜI BẮC ÂU

Nguyen Thi Chau

CÁCH SỐNG CỦA NGƯỜI BẮC ÂU

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.

Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp.

Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6h/ngày.

Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…

Điểm chung của các quốc gia này là gì? Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.

Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking. Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

– Tăng trưởng kinh tế cao,

– Chỉ số phát triển con người cao,

– Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?

Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.

Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc. Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:

– Không hề có nhà cao tầng,

– Người dân ăn mặc rất mộc mạc,

– Đi những chiếc xe cũ kỹ,

– Và ăn những món ăn đơn giản.

Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực con người.

Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là: “Chất lượng cuộc sống”.

Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn: “Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.

Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn: Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng. So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai. Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm chất”, chứ không phải là “Vật chất” trong cuộc sống.

“Nhanh một chút, nhanh một chút!”.

Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống: “Chậm một chút!”, nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.

Những con người “Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự: “Đơn giản”.

Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới. Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”.

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút, ví dụ:

– Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70 – 80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu. Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

– Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng. Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.

Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng. Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triền khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

Không cần phải khoe của. Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.

– Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.

– Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây! Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’.

– Về thời gian làm việc. Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy. Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách. Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.

Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.

“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu. Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự: “đau khổ, giày vò”. Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.

Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc. Nghe giống như đặc điểm của những kẻ: ‘lười nhưng thiên tài’ mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.

Đúng!

Và đấy là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.

Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho cho gia đình. Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ: “Gia đình”

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa, cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.

Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình. Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.

Điều cuối cùng, đối với người đàn ông Bắc Âu, gia đình và con cái không phải là nền tảng giúp người đàn ông tìm kiếm sự thành công nữa, mà chính là phần quan trọng nhất trong chất lượng cuộc sống của họ. Với họ, khoảnh khắc có lẽ là hạnh phúc nhất trong ngày chính là khi đứa trẻ của mình leo lên đầu, ôm lấy cổ bố chúng, hôn một cái và thủ thỉ nói:  “Chúc cha ngủ ngon nhé!”.

Đấy mới là cách đầu tư thông minh nhất nếu bạn muốn có cuộc sống hạnh phúc!

P/s: Người Bắc Âu đi xe đạp rất nhiều. 


 

Nguyễn Thành Nam, tác giả sách ‘hạ bệ’ Hồ Chí Minh, bị bắt giữ với cáo buộc ‘chống nhà nước’

Ba’o Nguoi -Viet

July 7, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tối 7 Tháng Bảy, Cơ Quan An Ninh Điều Tra Công An Thành Phố Hà Nội đã khởi tố, bắt giữ bị can Nguyễn Thành Nam, 65 tuổi, để điều tra về tội ”làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Cùng bị khởi tố với ông Nam về tội danh nêu trên còn có ông Trần Việt Anh, 33 tuổi, nhà sáng lập của Spiderum, một mạng xã hội được xây dựng với chức năng chia sẻ thông tin, quan điểm.

Ông Nguyễn Thành Nam tại cơ quan điều tra. (Hình: VnExpress)

Theo báo đài trong nước, vụ bắt giữ này liên quan đến cuốn sách ”Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” và nhiều video có nội dung bị cho là “vi phạm pháp luật.”

Cơ quan điều tra nhận định, hai bị can Nam-Anh sở hữu những tài liệu với nội dung “có tính chất xuyên tạc lịch sử các cuộc cách mạng, đường lối, chủ trương của đảng, nhà nước,” “xúc phạm Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và nhiều lãnh đạo đảng, nhà nước khác.”

Báo chí lề đảng dẫn lời cơ quan công an cho biết thêm, ông Nam đã thừa nhận nhiều nội dung trong cuốn sách là “không đúng sự thật,” bày tỏ sự hối hận và “gửi lời xin lỗi đến bạn đọc.”

Trong khi đó, ông Việt Anh được xác định là người xây dựng các nội dung liên quan nhằm “thu hút người xem, tăng tương tác và tối đa hóa lợi ích kinh tế trên các nền tảng số.”

Ông Nguyễn Thành Nam, cựu tổng giám đốc tập đoàn FPT, hiện làm giảng viên thỉnh giảng bộ môn “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” tại trường Đại Học VinUni thuộc sở hữu của tỷ phú Phạm Nhật Vượng.

Hôm 28 Tháng Sáu, một số nguồn tin khả tín về chính trường Việt Nam cho biết ông Nam bị bắt vào đêm 27 Tháng Sáu, trong lúc các báo trong nước chưa được phép công bố tin này vì “nhạy cảm.”

Trước đó, hôm 19 Tháng Sáu, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị xử phạt hành chính 100 triệu đồng ($3,800) và buộc tạm dừng hoạt động hai tháng, tiêu hủy toàn bộ 9,700 bản sách “Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” đã in với cáo buộc “viết sai sự thật nghiêm trọng” về Hồ Chí Minh.

Theo một bản tin của báo Tuổi Trẻ, Cục Xuất Bản, In và Phát Hành kết luận rằng, cuốn sách của ông Nam “có một số thông tin, nhận định không chính xác về một số nhân vật, sự kiện lịch sử” và “sử dụng ngôn ngữ thể hiện chưa phù hợp khi viết về Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của đảng CSVN.”

Cuốn sách bị nhà cầm quyền CSVN ra lệnh thu hồi và tiêu hủy hồi giữa Tháng Sáu. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Ngoài số tiền nộp phạt, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị yêu cầu “rà soát, chấn chỉnh toàn diện hoạt động chuyên môn” trong hai tháng bị tạm dừng hoạt động ấn hành sách và nộp lại hơn 423 triệu đồng ($16,089) tiền thu bất hợp pháp từ việc phát hành cuốn sách “Chuyện Với Thanh.”

Từ nhiều tuần trước khi cuốn sách bị thu hồi, giới dư luận viên đồng loạt lên án cách ông Nguyễn Thành Nam mô tả ông Hồ Chí Minh với những cụm từ như “điếu đóm,” “30 tuổi lang thang không nghề nghiệp, không có chỗ ở cố định,” “job phụ bếp,” “phượt”…

Theo lập luận của dư luận viên, việc sử dụng các cụm từ này để mô tả ông Hồ Chí Minh là “lật sử,” “xúc phạm,” “bôi bác, hạ bệ lãnh tụ”…

Điều éo le là ông Nguyễn Thành Nam từng nhận bằng khen từ ông Nguyễn Xuân Phúc, thời điểm còn làm thủ tướng Việt Nam vì “đã có thành tích tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2019.” (Tr.N)