SỐNG NIỀM HY VỌNG NGÀY CÁNH CHUNG – Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

 Vũ Quốc Thịnh

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

Sau khi giải tán đám đông, Chúa Giêsu trở về nhà. Chính trong không gian thân tình ấy, các môn đệ đến gần và xin Người giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng. Chúa không chỉ giải thích một câu chuyện, nhưng dẫn các ông đi sâu vào mầu nhiệm lịch sử cứu độ, vào cuộc chiến âm thầm nhưng quyết liệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa điều thiện và sự dữ, giữa công trình của Thiên Chúa và sự phá hoại của ma quỷ. Người nói rõ: “Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ” (Mt 13,37-39). Như thế, thế giới này không nằm ngoài bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Dẫu có những lúc sự dữ dường như lan tràn, bóng tối như bao phủ, gian ác như thắng thế, thì Thiên Chúa vẫn là Chủ của cánh đồng, là Đấng làm chủ mùa gặt và là Đấng định đoạt chung cuộc của lịch sử. Ma quỷ có thể gieo cỏ lùng, nhưng không thể cướp quyền làm chủ khỏi tay Thiên Chúa. Sự dữ có thể gây đau khổ, có thể làm con người hoang mang, có thể làm cho lúa tốt bị chen lấn, nhưng sự dữ không bao giờ có tiếng nói cuối cùng.

Dụ ngôn cỏ lùng mặc khải cho chúng ta mầu nhiệm Nước Trời vừa “đã hiện diện” nhưng vẫn “chưa hoàn tất”. Nước Thiên Chúa đã đến trong Đức Kitô, đã hiện diện qua lời giảng dạy, qua những phép lạ, qua thập giá và sự phục sinh của Người. Thế nhưng, Nước ấy chỉ được hoàn tất trọn vẹn trong ngày cánh chung, khi mọi quyền lực sự dữ bị tiêu diệt và Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự. Vì thế, giữa thời gian hiện tại, chúng ta vẫn phải sống trong một thế giới có lúa tốt lẫn cỏ lùng, có ánh sáng lẫn bóng tối, có thánh thiện lẫn tội lỗi, có yêu thương lẫn hận thù. Thiên Chúa không lập tức nhổ bỏ mọi sự dữ, không phải vì Người bất lực, cũng không phải vì Người dung túng cho tội lỗi, nhưng vì Người kiên nhẫn và giàu lòng thương xót. Người “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn mọi người ăn năn sám hối” (2 Pr 3,9). Sự chậm trễ của Thiên Chúa không phải là dấu hiệu Người quên lời hứa, nhưng là cơ hội để con người quay về. Hôm nay người ta còn là cỏ lùng, nhưng nhờ ân sủng, ngày mai họ có thể trở thành lúa tốt. Hôm nay một người còn yếu đuối, tội lỗi, lạc xa, nhưng ngày mai có thể trở nên chứng nhân của lòng thương xót. Vì thế, khi Thiên Chúa chưa khép lại lịch sử, con người cũng không có quyền khép lại tương lai của bất cứ ai.

Thánh Gioan Kim Khẩu đã nhận định rằng Thiên Chúa không nhổ cỏ lùng ngay vì lòng thương xót của Người luôn để ngỏ con đường hoán cải. Người không muốn tiêu diệt con người tội lỗi, nhưng muốn tiêu diệt tội lỗi trong con người. Người không muốn khép lại đời ai trong thất vọng, nhưng muốn mở ra cho họ một con đường trở về. Thánh Augustinô cũng nhấn mạnh rằng Hội Thánh tại thế luôn là một cánh đồng có người thánh thiện và người tội lỗi cùng hiện diện. Hội Thánh không phải là cộng đoàn của những người hoàn hảo, nhưng là cộng đoàn của những con người đang được chữa lành, đang được thanh luyện, đang trên đường trở nên thánh. Bởi vậy, chúng ta không được chiếm lấy quyền phán xét vốn chỉ thuộc về Thiên Chúa. Con người thường nhìn dáng vẻ bên ngoài, còn Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng. Ta có thể thấy nơi một người toàn khuyết điểm, nhưng Thiên Chúa lại thấy nơi họ một khả năng hoán cải. Ta có thể nhìn người khác bằng quá khứ của họ, còn Chúa nhìn họ bằng tương lai mà ân sủng có thể thực hiện. Ta có thể đóng khung một người trong lỗi lầm, còn Chúa vẫn mở cửa và chờ họ trở về.

Tuy nhiên, lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa không có nghĩa là ngày phán xét sẽ không đến. Chúa Giêsu nói rõ: “Mùa gặt là ngày tận thế” (Mt 13,39). Sẽ có một ngày lịch sử khép lại, mọi mặt nạ rơi xuống, mọi điều kín ẩn được phơi bày, mọi lựa chọn của con người được đặt trước ánh sáng của sự thật. Con Người sẽ sai các thiên thần thi hành cuộc phán xét chung. Những gì thuộc về sự dữ sẽ bị loại bỏ, còn “bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ” (Mt 13,43). Đây không phải là hình ảnh nhằm gieo sợ hãi, nhưng là lời khẳng định về công lý của Thiên Chúa. Những người sống ngay lành có thể bị thiệt thòi hôm nay, những người trung tín có thể âm thầm chịu đau khổ, những người bảo vệ sự thật có thể bị hiểu lầm, nhưng không một giọt nước mắt nào của họ bị quên lãng. Thiên Chúa sẽ trả lại công bằng cho những ai bị chà đạp, trả lại danh dự cho những ai bị vu khống, và làm cho những người trung tín được sáng chói trong Nước của Người. Ngày cánh chung vì thế không chỉ là ngày phán xét, nhưng còn là ngày của hy vọng, ngày sự thật chiến thắng, ngày tình yêu được hoàn tất, ngày mọi đau khổ của người công chính được biến thành vinh quang.

Sống niềm hy vọng ngày cánh chung không có nghĩa là chỉ ngồi chờ một tương lai xa xôi. Niềm hy vọng ấy phải biến đổi cách chúng ta sống hôm nay. Bởi ngày phán xét chưa đến nên hôm nay vẫn là thời gian của ân sủng. Hôm nay ta còn có thể trở về, còn có thể làm lại, còn có thể xin lỗi, tha thứ, chấm dứt một thói quen xấu, sửa chữa một bất công và bắt đầu một đời sống mới. Hôm nay ta còn có thể để cho Lời Chúa đi vào lòng và biến đổi mình. Chúa nói: “Ai có tai thì hãy nghe” (Mt 13,43). Nghe không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả trái tim. Nghe để nhận ra trong mình có những cỏ lùng nào đang mọc lên. Có thể đó là tính kiêu ngạo khiến ta luôn cho mình đúng; sự ganh ghét khiến ta không vui trước thành công của người khác; thói giả hình khiến ta bên ngoài đạo đức nhưng bên trong đầy toan tính; lòng ích kỷ khiến ta chỉ nghĩ đến bản thân; sự thỏa hiệp khiến ta biết điều sai mà vẫn làm vì lợi ích riêng. Những cỏ lùng ấy nếu không được nhận diện và loại bỏ sẽ dần bóp nghẹt hạt giống tốt mà Chúa đã gieo trong tâm hồn.

Bởi vậy, điều cần làm trước hết không phải là nhìn vào cánh đồng của người khác để tìm cỏ lùng, nhưng là cúi xuống cánh đồng lòng mình. Ta thường dễ dàng nhận ra khuyết điểm của người khác nhưng lại rất khó nhìn thấy bóng tối của bản thân. Ta có thể lên án người này nóng nảy nhưng không thấy mình cay nghiệt; trách người kia ích kỷ nhưng không nhận ra mình chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng; phê phán người khác giả hình nhưng quên rằng nhiều khi chính ta cũng sống hai mặt. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta phải thành thật với chính mình, khiêm tốn xin Chúa soi sáng và can đảm nhổ bỏ những gì không thuộc về Nước Trời. Công việc ấy không dễ dàng, vì cỏ lùng thường mọc rất sâu trong thói quen và bản tính. Nhưng với ân sủng Chúa, không có tội lỗi nào không thể vượt qua, không có vết thương nào không thể chữa lành, không có quá khứ nào không thể được đổi mới.

Đồng thời, dụ ngôn cũng dạy chúng ta phải kiên nhẫn trước những yếu đuối của tha nhân. Kiên nhẫn không phải là dung túng cho cái xấu, cũng không phải là im lặng trước bất công. Kiên nhẫn là biết phân biệt giữa con người và lỗi lầm của họ, là biết góp ý trong yêu thương, sửa dạy trong khiêm tốn và cầu nguyện trong hy vọng. Có những người thay đổi không phải vì bị kết án, nhưng vì được yêu thương. Có những tâm hồn trở về không phải vì bị xua đuổi, nhưng vì có người kiên nhẫn chờ đợi. Có những người bước ra khỏi bóng tối chỉ vì họ gặp được một ánh mắt không khinh miệt, một bàn tay không loại trừ và một lời nói không làm họ tuyệt vọng. Chúng ta không thể biến cỏ lùng thành lúa tốt bằng sự cay nghiệt, nhưng có thể cộng tác với ân sủng Chúa bằng lòng thương xót, lời cầu nguyện và một đời sống chứng tá.

Người Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không thuộc về tinh thần thế gian. Chúng ta vẫn sống trong cánh đồng có nhiều cỏ lùng, nhưng được mời gọi trở thành những bông lúa tốt. Lúa tốt không cần ồn ào, chỉ cần trung thành lớn lên, âm thầm hút lấy nhựa sống từ lòng đất và ánh sáng từ trời cao, rồi đến mùa sẽ trổ sinh bông hạt. Cũng vậy, người môn đệ của Chúa không cần chứng minh mình hơn người khác, nhưng cần trung thành sống yêu thương, công chính, khiêm nhường và phục vụ. Giữa một thế giới đầy gian dối, hãy sống chân thật. Giữa một xã hội đầy hận thù, hãy gieo bình an. Giữa một môi trường thích kết án, hãy sống lòng thương xót. Giữa những người chỉ biết nghĩ cho mình, hãy biết hy sinh. Mỗi việc tốt âm thầm hôm nay chính là một hạt giống cho mùa gặt mai sau.

Niềm hy vọng ngày cánh chung giúp chúng ta không thất vọng trước sự dữ và cũng không kiêu ngạo về sự thiện mình đang có. Ta không thất vọng vì biết sự dữ rồi sẽ bị đánh bại. Ta không kiêu ngạo vì biết mọi điều tốt lành nơi mình đều nhờ ân sủng. Ta không vội kết án vì biết quyền phán xét thuộc về Thiên Chúa. Ta không trì hoãn hoán cải vì biết mùa gặt sẽ đến vào giờ ta không ngờ. Hãy sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, nhưng cũng hãy yêu thương như thể ta còn cả một đời để làm điều tốt. Hãy để Lời Chúa thanh luyện ta, để khi mùa gặt đến, ta được tìm thấy không phải là một bông lúa trống rỗng, nhưng là bông lúa trĩu hạt của lòng tin, đức cậy và đức mến. Khi ấy, ta sẽ không sợ ngày cánh chung, nhưng sẽ đón ngày ấy như cuộc gặp gỡ với Đấng ta đã yêu mến và trung thành chờ đợi suốt cả cuộc đời.

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 


 

Michigan: Chồng bắn chết vợ, 6 con, đốt nhà rồi tự tử

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

GRAND HAVEN, Michigan (NV) – Một ông chồng ở Michigan bị cáo buộc bắn chết vợ và sáu đứa con, đốt nhà rồi tự tử, cảnh sát loan báo hôm Thứ Hai, 27 Tháng Bảy, theo ABC News.

Lính cứu hỏa tìm thấy thi thể sáu đứa con, từ 5 tới 15 tuổi, và cha mẹ sau khi tới dập tắt đám cháy tại căn ở Grand Haven Township hôm Thứ Sáu tuần trước, Sở Cảnh Sát Ottawa County (OCSO) cho hay.

Xe cảnh sát Ottawa County, Michigan. (Hình minh họa: Ottawa County Sheriff’s Office)

Cả tám người thiệt mạng vì vết đạn, OCSO cập nhật thông tin hôm Thứ Hai sau khi có kết quả giảo nghiệm tử thi.

Người chồng, ông Kristopher Karolkiewicz, 47 tuổi, chết do tự tử, còn người vợ, bà Amanda Karolkiewicz, 39 tuổi, và sáu đứa con bị sát hại, OCSO xác nhận.

Cảnh sát không nêu danh tánh sáu đứa con, chỉ cho biết bao gồm bốn con trai lần lượt từ 5, 11, 12 và 15 tuổi cùng hai con gái 11 tuổi. Trong đó có bốn đứa trẻ là con ruột, còn hai đứa kia là con nuôi, theo OCSO.

“Đây là bi kịch không thể diễn ra bằng lời mà có lẽ chúng tôi không bao giờ biết rõ chuyện gì xảy ra,” Đại Úy Jake Sparks của OCSO cho hay trong buổi họp báo hôm Thứ Hai. “Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức tìm ra câu trả lời và tưởng niệm các nạn nhân.”

Ban đầu, lính cứu hỏa tới khu vực này vào sáng Thứ Sáu sau khi nhận được tin báo có mùi khói, nhưng không thấy nhà nào bị cháy, ông Sparks cho biết.

Vài tiếng sau, lính cứu hỏa quay lại nơi đó sau khi nhận được tin báo có khói trắng bốc lên tại một căn nhà, và khi tiến vào trong để cố gắng dập tắt đám cháy, họ thấy thi thể tám người ở trong phòng ngủ khác nhau khắp nhà, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang điều tra nguyên nhân vụ cháy nhưng tin rằng đám cháy do cố ý đốt ở nhiều nơi khắp nhà và tầng hầm bị hư hại nặng nề, ông Sparks cho hay. Mấy con thú nuôi của gia đình này, gồm vài con chó và ít nhất một con mèo, cũng chết trong đám cháy, ông cho biết.

“Không còn nghi can nào khác và kết quả điều tra cho thấy đây là vụ giết người rồi tự tử, và phóng hỏa sau khi giết người,” ông Sparks xác nhận trong thông cáo báo chí của OCSO hôm Thứ Hai.

Ông Sparks nói ông tin rằng sự việc có lẽ bắt đầu vào đêm hôm trước. Khẩu súng được sử dụng trong vụ này là súng lục, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang tiếp tục điều tra vụ án này. (Th.Long) [kn]


 

KHÔNG PHẢI ĐIỀU GÌ, NHƯNG LÀ AI – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

“Chị có tin thế không?”; “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô!”.

Đức tin, về nhiều mặt, như chiếc xe cút kít. Cách đơn sơ, bạn phải thực sự đẩy nó để nó có thể hoạt động. Nếu không sống nó; bạn không tin nó!

Kính thưa Anh Chị em,

Có những điều chỉ thực sự hiện hữu khi chúng ta dám đặt sức nặng đời mình lên đó. Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đến cốt lõi của đức tin: ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

“Chị có tin thế không?”. Câu hỏi Chúa Giêsu dành cho Matta không khởi đi từ một giáo huấn cần ghi nhớ, nhưng từ một Ngôi Vị đang hiện diện. Thần học gọi đó là chuyển động từ fides quae – ‘điều chúng ta tin’, sang fides qua – ‘cách chúng ta tin’. Nói khác đi, đức tin không dừng ở những chân lý về Thiên Chúa, nhưng đưa chúng ta đến chính Ngài. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một ý tưởng, nhưng là cuộc gặp gỡ với một Ngôi Vị!” – Bênêđictô XVI.

Matta không trả lời câu hỏi bằng một công thức, nhưng bằng một lời tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Cô không biết điều gì sẽ xảy ra; nhưng cô nhận ra Đấng mình đang gặp là ai. Đức tin ấy được Gioan tóm tắt: “Ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa!” – bài đọc một. Vì thế, chân lý không còn là một khái niệm cần giải mã, nhưng là một con người để gắn bó. Tin, vì thế, không ở chỗ hiểu, nhưng ở chỗ thuộc về; ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

Với chúng ta cũng thế. Có thể chúng ta biết nhiều về Thiên Chúa mà vẫn chưa thật sự tin; có thể hiểu rất rõ về Ngài mà vẫn đứng ngoài tương quan với Chúa Kitô. Đức tin không được đo bằng điều chúng ta hiểu, nhưng bằng mức độ chúng ta sống thân tình với Chúa. Chỉ khi ấy, điều được biết mới thôi là một khái niệm, để trở thành một kinh nghiệm sống: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Tin Đức Giêsu là để Ngài sống đời sống của Ngài trong ta, làm nhà của Ngài nơi ta!” – Henri Nouwen.

Vấn đề của chúng ta không phải là thiếu hiểu biết, nhưng là biến đức tin thành một điều phải hiểu – hiểu rồi mới tin, nắm rồi mới bước, kiểm soát rồi mới phó mình. Khi đó, đức tin không còn là cuộc gặp gỡ với Chúa, nhưng chỉ còn là một đối tượng để nghiên cứu. Nỗi lầm lớn nhất là mải miết nắm giữ những điều mình biết về Thiên Chúa, nhưng lại không để Ngài bước vào đời mình. Karl Rahner từng cảnh báo: “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm về Thiên Chúa, hoặc sẽ không tồn tại!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để chúng ta biết về Chúa nhiều hơn, nhưng để đưa chúng ta vào chính sự sống của Ngài ngày càng mật thiết hơn. Ngài không trao thêm lời giải thích, nhưng trao chính mình để chúng ta tin. Từ đó, đức tin không còn là nỗ lực nắm bắt, nhưng là để mình được Thiên Chúa nắm lấy; không còn là chiếm hữu một điều gì, nhưng là được chính Thiên Chúa đón nhận.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thuộc về Chúa hơn là biết về Chúa; phó mình cho Chúa hơn là cậy sức mình; và luôn sống dưới ánh mắt Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

************

Lời Chúa 29/7 Thánh Matta, Maria và Lazarô, Thứ Tu Tuần XVII Thường Niên

Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.       Ga 11,19-27 

19 Khi ấy, nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô là La-da-rô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”


 

NGUY CƠ CỦA QUÁ AN TOÀN – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận!  Đừng mắc sai lầm!  Hãy thận trọng!  Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!”  Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.  Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết.  Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!”  Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết.  Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận!  Thận trọng!”  Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

 Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi.  Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc.  Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều.  Tôi biết ơn nó.  Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn.  Một món quà không phải là nhỏ. 

 Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi.  Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ.  Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắc vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật.  Đôi lúc một sự thận trọng được rèn giũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ.  Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi.  Nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình.  Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.

Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó.  Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn.  Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sự thật làm chúng ta bối rối.

 Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng?  Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không?  Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không?  Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không?  Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắc không?  Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào?  Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không?  Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

 Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa.  Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắc.  Đối với ai đó thì điều này có thể đúng.  Nhưng đối với Eric Liddell thì không.  Tại sao?  Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắc.  Anh được cuốn đi bởi tình yêu.  “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

 Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới?  Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

 Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa.  Thận trọng là điều hay.  Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm.  Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này.  Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh.  Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn.  An toàn cũng là một mối nguy cơ.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ — Lm Anmai CSsR 

Anmai CSsR 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ.

Có một ảo tưởng rất phổ biến trong đời sống này: càng nhiều thì càng tốt. Nhiều tiền hơn, nhiều mối quan hệ hơn, nhiều thành tựu hơn, nhiều lời khen hơn. Người ta chạy, và chạy mãi, như thể nếu dừng lại một chút thôi thì sẽ bị bỏ lại phía sau, như thể cuộc đời là một cuộc đua không có vạch đích.

Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, khi lòng đã mỏi, khi đôi vai đã nặng, người ta mới chợt nhận ra một điều giản dị đến đau lòng:

cuộc sống không cần quá đầy, chỉ cần đủ. “Đủ” là một từ rất nhỏ, nhưng lại là một đỉnh cao mà nhiều người không chạm tới.

Đủ không phải là ít. Đủ là khi bạn không còn bị đói khát bởi những thứ bên ngoài. Đủ là khi bạn có thể ngồi xuống, nhìn lại, và nói với chính mình: “Thế này… là được rồi.”

Có người có cả một căn nhà lớn, nhưng không có một góc nào để thật sự nghỉ ngơi.

Có người có hàng trăm mối quan hệ, nhưng không có nổi một người để gọi lúc nửa đêm.

Có người có rất nhiều tiền, nhưng không có một bữa ăn nào thật sự ngon miệng.

Vì họ không sống trong “đủ”, họ sống trong “chưa đủ”. Mà “chưa đủ” thì không có điểm dừng. Một bữa cơm đơn sơ, nếu ăn trong bình an, sẽ no lâu hơn một bàn tiệc thịnh soạn trong lo âu.

Một căn phòng nhỏ, nếu có tiếng cười, sẽ ấm hơn một biệt thự lạnh lẽo.

Một ngày sống chậm, sống sâu, sẽ đáng giá hơn cả trăm ngày vội vã mà rỗng không.

Đời sống không cần phải đầy tràn, chỉ cần vừa vặn với tâm hồn mình.

Rồi đến lòng người.

Người ta thường tự hào về một trái tim “rộng lớn”. Nhưng nhiều khi, cái gọi là rộng ấy lại chỉ là một sự dễ dãi, một sự mở cửa không chọn lọc, để rồi cuối cùng chính mình là người bị tổn thương. Lòng người không cần quá rộng, chỉ cần thật.

“Thật” không phải là nói hết, cũng không phải là cho hết.

“Thật” là khi bạn không giả vờ yêu thương.

“Thật” là khi bạn không mỉm cười chỉ vì lịch sự mà trong lòng lại lạnh tanh.

“Thật” là khi bạn dám im lặng trước những điều không thuộc về mình, và dám nói khi điều đó là cần thiết.

Một trái tim thật có thể không ôm được nhiều người, nhưng những ai ở lại sẽ là những người thật sự được yêu. Một sự quan tâm thật có thể không phô trương, nhưng lại bền bỉ và sâu sắc.

Một lời nói thật có thể không dễ nghe, nhưng lại cứu được một đời người khỏi ảo tưởng. Có những người sống cả đời để làm vừa lòng thiên hạ, để rồi cuối cùng đánh mất chính mình.

Có những người nói chuyện rất hay, rất khéo, nhưng khi cần thì không thấy đâu.

Có những mối quan hệ tưởng như rất rộng, nhưng lại rỗng.

Thà ít mà thật, còn hơn nhiều mà giả.

Thà sâu mà hẹp, còn hơn rộng mà nông.

Một trái tim thật, dù nhỏ, vẫn đủ để giữ ấm một cuộc đời.

Và rồi, chuyện của một đời người. Người ta sợ già, sợ chết, sợ thời gian trôi qua. Ai cũng muốn sống lâu, sống dài, sống thêm. Nhưng ít ai tự hỏi: “Mình đang sống như thế nào trong những ngày đã có?”

Một đời người không cần quá dài, chỉ cần sống trọn vẹn từng ngày.

“Trọn vẹn” không phải là làm được nhiều việc, mà là có mặt trong từng việc mình làm.

Ăn thì biết mình đang ăn.

Nói thì biết mình đang nói.

Yêu thì biết mình đang yêu.

Sống thì biết mình đang sống.

Có những người sống đến tám mươi năm, nhưng phần lớn thời gian là lo lắng, tiếc nuối và chờ đợi. Có những người chỉ sống vài chục năm, nhưng từng ngày của họ đều có ý nghĩa, có tình yêu, có sự dâng hiến. Chiều dài của đời người không nằm ở số năm, mà nằm ở độ sâu của từng khoảnh khắc.

Một cái nắm tay đúng lúc có thể quý hơn cả ngàn lời nói muộn màng. Một lần tha thứ có thể nhẹ hơn cả một đời ôm hận. Một ngày sống tử tế có thể đáng giá hơn cả một tháng sống hời hợt.

Sống trọn vẹn là khi tối đến, bạn không phải tự hỏi:

“Hôm nay mình đã sống chưa?”

Cuối cùng, tất cả lại quay về những điều rất đơn giản:

Không cần quá nhiều, chỉ cần đủ để bình an. Không cần quá rộng, chỉ cần thật để không cô đơn.

Không cần quá dài, chỉ cần sâu để không uổng phí. Cuộc đời, xét cho cùng, không phải là một bài toán để tối đa hóa, mà là một hành trình để hiểu thế nào là vừa vặn.

Và có lẽ, hạnh phúc không nằm ở chỗ bạn có bao nhiêu,

mà nằm ở chỗ bạn biết dừng lại ở đâu —

để mỉm cười và nói:

“Vậy là đủ.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

Vụ án sách Chuyện với Thanh: Tổ chức nhân quyền kêu gọi trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và những người liên quan (BBC)

BBC

22 tháng 7 2026

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) hôm 22/7 đã kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và bốn người liên quan đến việc xuất bản và quảng bá sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng.

“Chính quyền Việt Nam cần ngay lập tức hủy bỏ mọi cáo buộc đối với cả năm người và phóng thích họ vô điều kiện,” HRW viết trong thông cáo.

Vào ngày 7/7, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Thành Nam và ông Trần Việt Anh để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Ông Nam là tác giả sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng, còn ông Trần Việt Anh là nhà sáng lập của Spiderum – một mạng xã hội được quảng bá là nền tảng chia sẻ tri thức của người Việt Nam.

Sau khi bị bắt, ông Nam và ông Việt Anh đã xuất hiện trên sóng truyền hình VTV1, thú nhận hành vi của mình, tương tự như những gì mà đài này kết hợp với công an thường làm trong các vụ án được dư luận quan tâm khác.

Sau đó, công an tiếp tục bắt giữ ba lãnh đạo chủ chốt của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, gồm bà Nguyễn Thúy Hằng, ông Đào Bá Đoàn và ông Nguyễn Văn Yên, cũng với các cáo buộc tương tự.

Bà Elaine Pearson, Giám đốc khu vực châu Á của HRW, được trích lời trong thông cáo nêu trên: “Làn sóng bắt giữ vì một cuốn sách về Hồ Chí Minh gửi một thông điệp lạnh gáy đến toàn bộ giới nhà văn, nhà báo và xuất bản rằng tuyên ngôn về kỷ nguyên ‘vươn mình’ mới chỉ có nghĩa là gia tăng đàn áp.”

“Phản ứng cực đoan về cuốn sách thể hiện rằng ngay cả những nhân vật thành danh trong các lĩnh vực kinh doanh, xuất bản và báo chí cũng không được an toàn trước giới bảo thủ của Đảng Cộng sản,” bà Pearson nói thêm.


 

RỒI MÙA SẼ ĐẾN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời”.

“Mọi sự đều là một thời kỳ thai nghén, rồi mới đến lúc sinh nở!” – Rainer Maria Rilke.

Kính thưa Anh Chị em,

Không ai có thể đòi mùa gặt khi hạt giống vừa được gieo; cũng không ai mong ngày sinh nở khi thời kỳ thai nghén chưa trọn. Mọi sự đều cần thời gian. Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa không vội vàng, vì Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Và chính ở đó, Chúa Giêsu mặc khải một cái nhìn rất khác về thời gian. Bản Hy Lạp viết synauxanesthai – “cùng lớn lên”. Có những điều chỉ khi lớn lên mới biết mình là gì. Hạt lúa phải đợi đến khi trổ bông, cỏ lùng cũng phải đợi đến lúc kết hạt mới lộ nguyên hình. Chúa Giêsu vì thế không nhìn cánh đồng bằng con mắt của một khoảnh khắc, nhưng bằng cái nhìn của cả một vụ mùa. Con người chỉ nhìn thấy cánh đồng mới mọc; Thiên Chúa đã nhìn thấy mùa gặt. Đầy tớ sợ cỏ lùng; chủ ruộng tin vào lúa. Bởi Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Trong cái nhìn của Thiên Chúa, có những điều chỉ đến mùa mới sáng tỏ. Vì thế, Chúa Giêsu không vội phân định. Ngài để thời gian hoàn tất điều mà con mắt con người chưa nhìn thấy. Đến mùa, lúa không cần chứng minh mình là lúa; cỏ lùng cũng không thể tiếp tục giả làm lúa. “Dối trá không thể hoá thành chân lý, cho dù nó có lớn mạnh đến đâu!” – Rabindranath Tagore.

Điều lạ trong dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là sự bình thản của ông chủ. Giữa một cánh đồng đã bị gieo phá, ông không hốt hoảng. Ông hiểu rằng có những việc càng vội càng hỏng, càng nóng lòng càng mất. Chỉ mùa gặt mới có tiếng nói sau cùng. Điều kỳ diệu nhất trong dụ ngôn có lẽ không nằm ở mùa gặt, mà ở khả năng chờ đợi của Thiên Chúa. Chúng ta đo thời gian bằng đồng hồ; Thiên Chúa đếm thời gian bằng hy vọng. Bao lâu còn một hạt lúa có thể trổ bông, bấy lâu Ngài vẫn đợi.

Niềm hy vọng ấy cũng là niềm hy vọng của Giêrêmia. Giữa cảnh đất trời khô cằn và lòng người bội bạc, vị ngôn sứ vẫn không buông lời tuyệt vọng. Ông thú nhận tội lỗi của dân, nhưng đồng thời nài xin Thiên Chúa hành động vì danh Chúa và lòng trung tín của Ngài – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Với chúng ta, điều làm chúng ta mệt nhiều khi không phải là cỏ lùng, mà là cảm giác chẳng có gì đổi thay. Chúng ta sốt ruột với chính mình, với người khác, thậm chí với cả Thiên Chúa. Đừng bỏ cuộc quá sớm, vì biết bao mùa gặt đã chết ngay trong ngày người ta bỏ cuộc.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là bằng chứng Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ cánh đồng của mình. Khi con người tưởng mọi sự đã kết thúc trên thập giá, Ngài lại khởi đầu một mùa gặt mới bằng biến cố phục sinh. Với Đức Phanxicô, Chúa không mời chúng ta đi tìm cỏ lùng, Ngài mời chúng ta đi chăm lúa. Vì thế, theo Đức Kitô là dám ở lại với hy vọng, vì ‘rồi mùa sẽ đến’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con đừng thất vọng quá sớm về chính mình, về tha nhân, vì mùa của Chúa luôn đến đúng lúc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 13,36-43

36 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”


 

Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Đoàn Xuân Thu

 Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa và sự thống nhất đất nước dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng phía sau hình ảnh xe tăng do Trung Cộng cung cấp tiến vào Dinh Độc Lập, phía sau những buổi lễ chiến thắng và những lời tuyên bố về “giải phóng”, là một chương lịch sử đầy đau thương đối với hàng trăm ngàn con người bị đưa vào hệ thống trại được CS gọi là “học tập cải tạo”.

Hai chữ “cải tạo” nghe có vẻ nhẹ nhàng, thậm chí mang ý nghĩa giáo dục và sửa chữa sai lầm. Nhưng đối với hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức, trí thức và những người từng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đó lại là khởi đầu của những năm tháng mất tự do, đói khát, bệnh tật và tuyệt vọng.

Những tờ giấy triệu tập và lời hứa cuội “học tập vài ngày”

Sau tháng 4 năm 1975, chính quyền CS kêu gọi các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, công chức, cảnh sát, nhân viên hành chính ra trình diện để “học tập cải tạo”.

Nhiều người đã ngây thơ tin rằng đây chỉ là một khóa học chính trị ngắn hạn nhằm giúp họ hiểu đường lối mới. Có người mang theo vài bộ quần áo, một ít thức ăn, nghĩ rằng chỉ vài ngày hoặc vài tuần sẽ trở về với gia đình.

Nhưng thực tế hoàn toàn khác. Nhiều sĩ quan cấp cao, từ tướng lãnh đến sĩ quan cấp thiếu úy trở lên, cùng hàng loạt công chức các cấp, bị đưa đi giam giữ trong các trại nằm rải rác từ Nam ra Bắc. Một số người chỉ trở về sau vài tháng, nhưng nhiều người phải trải qua từ 5 năm, 10 năm, thậm chí hơn 15 năm trong cảnh bị CS tù đày.

Đặc biệt, nhiều sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị đưa ra các vùng rừng núi xa xôi như Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, hoặc các vùng rừng thiêng nước độc ở miền Trung và Tây Nguyên.

“Cải tạo” bằng lao động khổ sai.

Một trong những đặc điểm khắc nghiệt nhất của hệ thống trại cải tạo là việc sử dụng lao động nặng nhọc như một phương tiện “giáo dục”.

Những người từng là bác sĩ, giáo sư, kỹ sư, sĩ quan chỉ huy, công chức văn phòng bị buộc phải lao động chân tay: phá rừng, khai hoang, trồng trọt, làm đường, đào mương, chặt cây.

Đối với những người đã lớn tuổi, sức khỏe yếu hoặc từng bị thương trong chiến tranh, công việc này trở thành thử thách sinh tử.

Có những cựu quân nhân từng kể lại cảnh phải đi hàng chục cây số vào rừng đốn củi, đào đất trong điều kiện thiếu dụng cụ, thiếu thuốc men. Một tai nạn lao động nhỏ cũng có thể trở thành nguy hiểm vì trại giam cách xa bệnh viện và thiếu phương tiện chữa trị.

Cái đói – nỗi ám ảnh lớn nhất.

Trong ký ức của nhiều cựu tù nhân cải tạo, cái đói là một trong những nỗi ám ảnh sâu sắc nhất.

Khẩu phần ăn nghèo nàn thường chỉ gồm một ít cơm độn với khoai, sắn, bo bo hoặc rau rừng. Những người tù phải tìm kiếm thêm thức ăn trong tự nhiên như lá cây, củ rừng, hoặc trao đổi với người dân địa phương để tồn tại.

Nhiều người từ những gia đình khá giả, từng có địa vị xã hội, khi ra khỏi trại chỉ còn da bọc xương, sức khỏe suy kiệt.

Có người đã không sống sót để trở về với vợ con.

Những cái chết âm thầm trong rừng sâu.

Không có những bản án tử hình công khai, không có tiếng súng xử bắn trước pháp trường, nhưng nhiều người đã chết dần trong các trại cải tạo vì đói rét, bệnh tật và kiệt sức.

Những căn bệnh tưởng như có thể chữa trị trong điều kiện bình thường như sốt rét, kiết lỵ, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng cũng có thể trở thành nguyên nhân tử vong trong môi trường thiếu thuốc men.

Nhiều gia đình ở miền Nam trong nhiều năm không biết người thân của mình còn sống hay đã mất. Một số chỉ nhận được tin qua những người tù được thả về hoặc qua những nấm mộ đơn sơ nằm lại nơi rừng núi xa xôi.

Đằng sau mỗi cái tên là một gia đình tan nát: người vợ chờ chồng, người mẹ chờ con, những đứa trẻ lớn lên mà thiếu bóng cha.

Những người trí thức cũng trở thành tù nhân. Điều đặc biệt của hệ thống cải tạo sau 1975 là không chỉ giới hạn trong quân đội.

Nhiều giáo sư đại học, giáo viên, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, công chức dân sự cũng bị đưa đi cải tạo vì từng làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Một xã hội muốn tái thiết sau chiến tranh cần sự tham gia của mọi tầng lớp, nhưng thay vì tận dụng nguồn nhân lực trí thức, nhiều người trong số họ lại bị CS loại khỏi đời sống xã hội trong nhiều năm.

Hậu quả không chỉ là những mất mát cá nhân mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của đất nước.

Từ “hòa giải” đến những câu hỏi của lịch sử.

Sau nhiều thập niên, vấn đề trại cải tạo vẫn là một đề tài gây tranh luận.

Những người từng trải qua thời kỳ đó cho rằng họ đã chịu sự đối xử bất công, bị tước đoạt tự do mà không qua một phiên tòa độc lập, và phải trả giá cho một cuộc chiến mà họ không phải là người duy nhất quyết định.

Đối với nhiều người Việt hải ngoại, ký ức về trại cải tạo trở thành một phần quan trọng trong lịch sử di dân sau năm 1975. Chính những kinh nghiệm đau thương ấy đã khiến hàng trăm ngàn người tìm đường vượt biển, rời bỏ quê hương để tìm tự do.

Bài học về nhân quyền.

Lịch sử của các trại cải tạo sau năm 1975 nhắc nhở một điều căn bản: khi một chính quyền có quyền lực tuyệt đối nhưng thiếu cơ chế kiểm soát, con người rất dễ trở thành nạn nhân của những quyết định chính trị.

Chiến tranh có thể kết thúc trên chiến trường, nhưng hậu quả của chiến tranh vẫn tiếp tục trong số phận của con người.

Những người đã chết trong các trại cải tạo không chỉ là những con số thống kê. Họ là những người cha, người chồng, người con; họ có tên tuổi, gia đình, ước mơ và một cuộc đời đã bị thay đổi bởi lịch sử.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng câu chuyện về các trại cải tạo vẫn còn đó như một lời nhắc nhở rằng tự do, công lý và nhân phẩm của con người luôn cần được bảo vệ.

Bởi vì một dân tộc muốn bước tới tương lai không thể chỉ nhớ những chiến thắng, mà còn phải can đảm nhìn lại những nỗi đau của quá khứ.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập – Bích Lan

Duc Thong DO 

THƯƠNG THAY NHỮNG NGƯỜI VỢ HIỀN TẦN TẢO NUÔI CON VÀ THĂM NUÔI CHỒNG BỊ TÙ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC, MIỀN TRUNG VÀ MIỀN NAM.

***** 

1- THĂM CHỒNG BỊ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập

Bích Lan

“Thương anh mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”

Đường Saigon – Hà Nội dài hơn 1700 km, có mấy núi, mấy sông, ngàn vạn cái đèo cũng không ngăn được bước chân những chinh phụ đi tìm chinh phu trong ngục tù của VC.

Năm 1979, tôi từ Nam ra Bắc lần đầu tiên, xuống ga Hà Nội, tới bến xe Kim Liên để về Ninh Bình, quê chồng, nơi mà năm 1954 khi đình chiến anh mới được 12 tuổi mà đã một mình dám theo các cô chú họ hàng vào Nam, xa lìa cha mẹ anh em.

Hơn 20 năm sau, anh trở về quê hương đất Bắc tay trong cùm, chân mang xích. Tôi đến Ninh Bình để đón mẹ chồng cùng lên thăm chồng tôi ở trại Tân Lập, vì bố mẹ chồng tôi đã thăm anh mấy tháng trước và đã biết được trại tù này.

Thân gái dặm trường nên khi xuống ga Hà Nội, tôi nhìn quanh để tìm bạn đồng hành, tất cả lem luốc như có gì mặc nấy, thanh niên, thiếu nữ, ông già, bà lão v.v.. mặc giống nhau, cùng một mầu, mầu “bộ đội” với dép râu, nón cối, xe đạp.

Tôi thoáng trông thấy một chị y phục tươm tất nổi bật trong đám đông ấy và có lẽ chị cũng cùng tâm trạng, cùng hoàn cảnh như tôi khiến chúng tôi tiến gần lại nhau, và chúng tôi là những chinh phụ đi tìm chồng giữa chốn “hỗn quân”. Đám đông nhìn chúng tôi, người Hà Nội nhìn chúng tôi với thái độ vô cảm, họ chỉ trỏ, soi mói, thì thào với nhau, họ biết chúng tôi là người từ miền Nam, người Sài Gòn, “Vợ ngụy”. Chúng tôi đứng với nhau một lúc cảm thấy mình không lẻ loi; rồi chị bạn có thân nhân ở Hà Nội đón và tôi lại cô đơn, một mình.

Ở bến xe Kim Liên, những đứa nhỏ bằng tuổi con tôi, từ 7 tới 10 tuổi, chúng líu lo chen chúc quanh tôi nghe rất là dễ thương, tôi đã nép mình sang một bên đường và nhường lối cho chúng đi qua nhưng vẫn bị chen lấn. Mấy phút sau chúng tản mát đâu hết, tôi chưa kịp hỏi han các em lời nào. Thấy các em, tôi nhớ đến con tôi, mới đi có mấy ngày mà nhớ con quá, các con còn nhắc mẹ là nhớ hôn bố thay các con.

Tôi nhìn lại túi xách tay nhỏ, chết rồi! Tiền bạc và giấy tờ của tôi đã mất! Không lẽ những trẻ thơ chỉ bằng con mình đã lấy của mình rồi chăng? Nhưng ngoài các em ra, có ai chen lấn gì tôi đâu, nhưng tôi đã mất đồ thật rồi! Trong cảnh bơ vơ, lần đầu tiên về quê chồng nơi xứ Bắc này tôi phải làm gì đây?

Tôi vào đồn công an bến xe Kim Liên để khai báo. Mấy người công an tiếp tôi hờ hững như chẳng có chuyện gì quan trọng, như là chuyện thường ngày, một người đưa cho tôi tờ giấy và cây viết, cộc lốc:

– Khai đi.

Mấy phút sau, tôi nộp lại tờ khai mất giấy tờ, tiền bạc và quan trọng nhất là giấy xin thăm nuôi, tên công an vừa đưa tờ giấy và viết cho tôi trước đó 15 phút quát:

Tôi bảo chị mất cắp gì thì khai vào tờ giấy này, còn lôi thôi gì nữa không?

Tôi trả lời: “Tôi khai rồi đây này”.

Hắn cầm tờ giấy lật qua lật lại, nhìn tôi chầm chầm, mấy tên ngồi gần đó và cả mấy tên đứng quanh đó trố mắt nhìn tôi, một tên nào đó thốt lên:

– Nhanh thế!

Tôi không quan tâm tới gì họ nói, họ muốn “khai” bao nhiêu tôi “khai” cho họ là xong, nhưng trước mắt, không giấy tờ tiền bạc làm sao tôi về đến quê chồng, và còn vào trại tù thăm chồng trong lúc khó khăn này!

Tôi đứng chơ vơ lẻ loi trong đám đông hỗn độn và hỗn hào trong bến xe, cùng tắc biến, tôi hỏi thăm đại một người đường về quê chồng. Trời thương, may gặp được người cùng làng của cha mẹ chồng, vài lời thăm hỏi, và biết hoàn cảnh của tôi, bác đã nhận lời giúp trả tiền xe và đưa tôi về nhà cha mẹ chồng. Bác an ủi tôi, bác bảo:

– Bác là người cùng làng, cùng họ hàng nên cháu đừng sợ.

Tôi cảm thấy bớt cô đơn.

Ngồi trong cái xe cũ kỹ về Ninh Bình, đến một làng có ngôi thánh đường khá lớn, xa xa có dãy núi, trên đỉnh núi thật cao ấy có cây thánh giá sừng sững giữa trời. Làng của chồng tôi đây sao? Lấy chồng năm 20 tuổi tôi đã theo đạo của chồng. Trước khi vào nhà cha mẹ chồng, đi ngang qua ngôi Thánh đường, tôi đã cầu xin Chúa cho được gặp chồng và xin cho anh được bằng an.

Xuống xe đầu làng, thấy một thanh niên đi tới, không chờ họ nói mà tôi hỏi trước:

– Này, em có phải là em của anh Chiến không?

Cậu ta ngẩn người ra và hỏi lại tôi:

– Sao chị biết.

– Chị là chị Chiến đây, trông em giống anh ấy quá.

Chú ấy chở hai giỏ quà sau xe, tôi đi bộ theo, trên đường vào làng mọi người túa ra thăm hỏi, những đứa trẻ miệng trầm trồ, có đứa còn nói lời chào “Chào chị Chiến”. Trẻ con ở đây lễ phép hơn. Cha mẹ chồng tôi đã vào Nam thăm mẹ con tôi năm 1977 nên tôi cũng không xa lạ với ông bà, tôi được sống trong những giây phút ấm áp đó.

Qua một đêm ở nhà cha mẹ chồng, họ hàng, dân làng đến thăm hỏi, họ cũng muốn tìm hiểu đời sống của người miền Nam. Khách đầy nhà, một người nói rằng hồi nhỏ học cùng lớp với chồng tôi, thấy tôi người Huế, anh nói với tôi:

– Này chị Chiến, năm 1973 đơn vị tôi bao vây một cái đồn ở Huế, nghe tin Chiến ở trong đó nên tôi rút quân không đánh nữa.

Thoáng nghĩ: “Lại có mấy cái máy lạnh đặt ở công viên” nữa rồi, tôi trả lời anh:

– Ông xã tôi chỉ ở miền Nam, không có ở Huế.

Sáng hôm sau mẹ chồng tôi và tôi lại lên Hà Nội, đi xe lửa chợ từ Hà Nội lên Yên Bái, xuống ga Ấm Thượng, tầu chở người và súc vật chung, người và vật chen chúc hôi hám. Tôi và mẹ tôi không có chỗ ngồi vì phần đông là bộ đội, họ đã chiếm hết chỗ rồi, họ nói chuyện như cãi lộn, hò hét, chửi thề, văng tục, họ chẳng biết nhường chỗ cho người già và phụ nữ. Tôi và mẹ tôi phải vịn thanh sắt, chân kẹp chặt giữ mấy giỏ đồ, đứng liên tục 10 tiếng đồng hồ từ 5 giờ chiều tới 3 giờ sáng mới tới ga Ấm Thượng, trong khi đó họ ngồi, họ chiếm cả chỗ…

Trong toa tầu ánh đèn lờ mờ, con tàu lắc lư, một tên thừa cơ tranh sáng tranh tối, đưa tay sờ ngực tôi, mẹ tôi đứng cạnh tôi trông thấy bà la lên:

– Ấy, ấy, đó là con dâu tôi đấy, nó có chồng 3 con rồi đấy mấy chú ơi.

Mặc cho bà la, chúng cười nham nhở và còn bảo: “Thế à”! … cười nói khả ố…*

Tôi nói mẹ đừng la nữa, tầu sắp đến ga rồi, coi chừng mấy giỏ quà giúp con.

Mẹ con tôi xuống ga Ấm Thượng và phải nằm chờ tới sáng, ga trống vắng lạnh lẽo, lại phải ở chung với chó, lợn, gà. Trời đêm mưa phùn, gió rét, tôi nghe tin hôm qua có một anh tù cải tạo bị chết đuối.

Bàng hoàng, xúc động, tôi ôm mẹ và khóc, mẹ chồng tôi sau hơn ¼ thế kỷ mới gặp con, có biết bao điều để nói, nhưng với cái nhiễu nhương trước mắt mẹ cũng chỉ biết cầu xin.

– “Cầu cho tất cả được bình yên trở về, ngủ đi con, ngày mai còn phải đì đò rồi đi bộ mười mấy cây số vào trại, ngủ đi con.

Từ ga Ấm Thượng vào trại Tân Lập phảỉ đi đò ngang qua sông Hồng nước chảy xiết, con đò mong manh xuôi theo giây cáp, tròng trành như sắp bị cuốn trôi đi theo dòng nước. Lên đò lại phaỉ đi bộ hơn 20 cây số đường rừng, bùn đất gập gềnh, mẹ tôi thấy tôi đi không nổi nên cứ dành gánh những gói quà.

Vào tới trại thì đã xế chiều, trình giấy tờ, lại phải ngủ qua đêm trong khí hậu núi rừng lạnh thấu tim gan để qua ngày hôm sau mới được gặp anh! Lại một đêm trằn trọc, đêm đầy tiếng kẻng, mỗi lần nghe tiếng kẻng từ trong trại dội ra là tôi lại ôm mẹ, nghĩ tới anh qua hình ảnh các bạn anh mà tôi đã thấy trên đường vào trại, các anh cũng đã vui mừng khi nhìn thấy chúng tôi nhưng không còn vóc dáng ngày nào, an phận! Chịu đựng! Vậy là hết rồi sao!

Sau 15 phút ngồi đối diện với chồng, có mẹ chồng bên cạnh, tôi chẳng nói được gì với anh cả. Chúng tôi chỉ mới nói chuyện gia đình mạnh khỏe, con cái học hành là đã hết 15 phút! Chỉ muốn nắm tay anh mà cũng chẳng được vì tên cán bộ ngồi đầu bàn cứ chằm chặp nhắc nhở “Anh chị phải giữ nếp sống văn hóa”! Văn hóa gì đây hỡi trời?

Chồng tôi nhận quà, tôi chỉ dặn được vài câu anh cố gắng giữ sức khoẻ thế nào cũng có ngày đoàn tụ, còn chồng tôi thì nói em cố gắng lo cho các con, đừng lo cho anh.

Chồng tôi lại phải vào trại, anh đi được vài bước, quay lại, bước đi, ngoái cổ lại phía sau. Lòng tôi bối rối, đau như cắt, thình lình tôi gọi to:

– Anh!

Chồng tôi dừng lại, tôi chạy thật nhanh, ôm chầm lấy chồng và hôn anh, hôn lấy hôn để, tên cán bộ nhìn thấy thế, anh ta ú ớ:

– Ơ cái anh chị kia, nhớ giữ gìn nếp sống văn hóa chứ.

Mấy người tù trẻ, có lẽ là tù hình sự, đứng vỗ tay như là ở cái xã hội Bắc Kỳ này chuyện vợ chồng hôn nhau chỉ có trong phim. Mặc cái gì là văn hóa, cái gì là nội qui, nhớ chồng quá, ai nói gì mặc kệ, bao năm xa cách, đi từ Nam ra Bắc cũng chẳng được cầm tay mà chỉ ngồi nhìn nhau 15 phút thôi sao! Tình người và tình vợ chồng ở nơi đây cũng trở thành gỗ đá ư!

Cái hôn đầu tiên, ngày nào ấy năm 1968, anh đã ôm hôn tôi sau bánh xe Jeep, còn tôi chỉ biết chịu trận, run rẩy. Ngược lại, hôm nay trong hoàn cảnh éo le này, chồng tôi chỉ như khúc cây để cho tôi sờ mặt, hôn anh trong một phút bất thần vì nhớ nhung. Không biết khi vào trại anh có bị hình phạt gì không?

Sau này, những khi ôn lại chuyện thăm chồng, vợ chồng tôi đã đùa với nhau là hai cái hôn sấm sét. Anh có biết trải bao đoạn đường từ Nam ra Bắc mới được nhìn người yêu, mới được ôm vội vàng nửa phần đời trong tích tắc mà mấy tên cán bộ đang xỉ vả mình đây này.

Nhưng em quyết đi thăm anh, tìm anh, và em đã được gặp anh.

Dù vất vả, mọi gian nan đã xẩy ra trên đường đến thăm anh, dù đã vượt quá sức chịu đựng của em, nhưng em đã mãn nguyện là anh còn sống, và em đã được ôm và được hôn anh dù chỉ trong phút giây. Trên đường trở về, lâu lâu mẹ chồng tôi lại ôm vai tôi, nhìn tôi và mỉm cười.

Bích Lan

Nguồn : Bích Lan: Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập



 

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook.

  1. Facebook là không gian riêng của mỗi người.

Khi bạn truy cập vào Facebook của một người khác, bạn không phải đang ở trong nhà của mình mà là “vào nhà” của người khác.

Vì vậy, việc tôn trọng các quy tắc trong không gian ấy là rất quan trọng.

Nhận định về hành vi và ứng xử trên Facebook.

  1. Các vấn đề cần chú ý khi tương tác trên Facebook.

Trên Facebook, mỗi người đều có quyền bày tỏ ý kiến, chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ cá nhân.

Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm cần phải phù hợp và tôn trọng người khác, vì nó sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ cũng như bầu không khí chung.

Tại sao ta phải làm vậy?

  1. Tôn trọng ý kiến của người khác giúp xây dựng một cộng đồng lành mạnh.

Không gian mạng là nơi mà mỗi cá nhân có thể tự do thể hiện bản thân. Việc tuân thủ các nguyên tắc ứng xử giúp bảo vệ không gian ấy khỏi những tranh cãi vô nghĩa, đồng thời duy trì sự văn minh, tôn trọng trong mọi tương tác.

7 Nguyên tắc sử dụng Facebook.

  1. KHÔNG tranh cãi nếu không cùng quan điểm.

Lý do: Facebook không phải là nơi để tranh cãi, mà là nơi chia sẻ và kết nối.

Nếu không đồng tình với quan điểm của người khác, bạn có thể giữ im lặng hoặc chỉ bình luận khi được yêu cầu.

  1. KHÔNG tự động tư vấn khi chưa được yêu cầu

Lý do: Mỗi người có quyền lựa chọn chia sẻ hoặc không chia sẻ vấn đề cá nhân. Việc tự ý can thiệp, tư vấn mà không được yêu cầu có thể gây khó chịu và xâm phạm quyền riêng tư của người khác.

  1. Khen ngợi để vui, tránh chê bai.

Lý do Mỗi người đều có những cảm xúc và giá trị riêng. Khi bạn khen ngợi ai đó, bạn giúp tạo ra bầu không khí tích cực, trong khi lời chỉ trích có thể làm người khác buồn và khiến bạn trở nên vô duyên.

  1. Đừng phát biểu khi không biết rõ vấn đề.

Lý do: Việc phát biểu mà không hiểu biết có thể làm bạn trở nên thiếu hiểu biết và làm mất đi giá trị của cuộc trò chuyện.

  1. Đọc kỹ Status trước khi comment.

Lý do: Đọc kỹ thông tin trước khi bình luận giúp tránh những hiểu lầm và thể hiện sự tôn trọng đối với người chia sẻ nội dung đó.

  1. KHÔNG gây lộn trong nhà người khác

Lý do: Một cuộc tranh cãi không cần thiết sẽ làm không khí trở nên căng thẳng, không chỉ ảnh hưởng đến người khác mà còn có thể làm bạn mất đi sự tôn trọng từ cộng đồng.

  1. Tôn trọng quan điểm của chủ nhà.

Lý do: Khi ai đó chia sẻ quan điểm, nếu không được yêu cầu, bạn nên tôn trọng và không cần phải phô trương ý kiến của mình. Điều này thể hiện sự chín chắn và tôn trọng người khác.

Tóm tắt: “Biết điều” quan trọng hơn “biết nhiều”**

  1. Tầm quan trọng của sự tinh tế trong giao tiếp.

Không cần phải luôn tỏ ra là người hiểu biết, quan trọng là biết khi nào nên nói và khi nào nên im lặng, để thể hiện sự tôn trọng và xây dựng một cộng đồng Facebook lành mạnh.

Người có học và cư xử văn minh đều phải biết những quy tắc nầy.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

5 người trong vụ cháy quán ăn ở Sài Gòn đã thiệt mạng

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Dù được các bác sĩ bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, song năm trong sáu nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn ở phường Bình Thạnh, Sài Gòn, đã không qua khỏi.

Loan báo với truyền thông hôm 27 Tháng Bảy, đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết cả năm nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn trên đường Ngô Đức Kế, phường Bình Thạnh, vào tối 11 Tháng Bảy vừa qua đã không qua khỏi do “phỏng hô hấp, sốc phỏng, suy hô hấp, hôn mê, tiên lượng xấu.”

Các bệnh nhân trong vụ hỏa hoạn điều trị tại Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. (Hình: Thanh Niên)

Theo báo Lao Động, bệnh nhân mới nhất mới qua đời tối 26 Tháng Bảy là cô PTT, 30 tuổi, bị phỏng khoảng 60% diện tích cơ thể tập trung ở đầu, mặt, ngực, bụng và tứ chi, kèm phỏng hô hấp, sau hơn hai tuần điều trị tích cực.

Trước đó, bốn nạn nhân khác trong vụ tai nạn cùng nằm ở Khoa Bỏng-Tạo Hình của bệnh viện Chợ Rẫy là cô LNT, 44 tuổi, bị phỏng diện tích đến 98% cơ thể ở độ II-III; cô AKL, 48 tuổi, phỏng lửa độ II-III diện tích 60%; ông NTTh, 51 tuổi, bị phỏng tương đương và ông NQH, 56 tuổi, bị phỏng độ III diện tích 80% cơ thể, đều lần lượt qua đời sau nhiều ngày điều trị.

Như vậy, liên quan vụ cháy quán ăn trên, năm nạn nhân đã thiệt mạng, chỉ còn lại mỗi cô HTKT, 46 tuổi, may mắn bị phỏng khoảng 2% diện tích cơ thể, điều trị tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định được xuất viện hôm 14 Tháng Bảy.

Trước đó, khoảng 8 giờ 30 phút tối 11 Tháng Bảy, tại quán ăn gia đình số 56D Ngô Đức Kế bất ngờ cháy và phát nổ. Đám cháy sau đó lan sang vựa ve chai bên cạnh.

Do bên trong khu vực xảy ra hỏa hoạn chứa nhiều vật liệu dễ bắt lửa nên tạo ra cột khói đen bốc cao, lan rộng ra nhiều khu vực lân cận khiến người dân ở khoảng cách khá xa vẫn có thể thấy được.

Sau vụ hỏa hoạn, có sáu người gồm nhân viên và khách đang ngồi ăn gặp nạn được đưa vào bệnh viện Nhân Dân Gia Định cấp cứu trong tình trạng phỏng và ngạt khí nhiều mức độ.

Lực lượng hữu trách phong tỏa hiện trường vụ cháy. (Hình: Q.Hải/Dân Việt)

Sau khi hội chẩn liên viện, năm nạn nhân được chuyển về Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy để điều trị.

Đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, các bệnh nhân đều bị phỏng hô hấp – một trong những tổn thương nặng và nguy hiểm nhất ở nạn nhân hỏa hoạn. Bệnh nhân được điều trị chống sốc do phỏng, hỗ trợ thở máy, nhiều lần rửa phổi để làm sạch muội than bám trong khí quản và phế quản nhằm cải thiện hô hấp. Tuy nhiên, muội than bám vào niêm mạc đường hô hấp rất khó loại bỏ, dễ gây kích ứng, viêm, phù nề, khiến người bệnh suy hô hấp nặng đe dọa tính mạng.

Chủ quán ăn gia đình là bà MTAN, 24 tuổi, quê An Giang, đã xuất trình giấy phép kinh doanh hợp lệ. Căn nhà số 56D Ngô Đức Kế vừa ở, vừa kết hợp kinh doanh.

Hiện nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan hữu trách điều tra. (Tr.N)