‘Nghịch tử’ 19 tuổi ở Đà Nẵng giết cha ruột vì mâu thuẫn gia đình

Ba’o Nguoi-Viet

February 24, 2026

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) – Người dân sống ở phường An Hải, Đà Nẵng, rúng động khi phát hiện một ông 42 tuổi, quê phường Sơn Trà, thiệt mạng trong nhà do con trai sát hại.

Theo báo VietNamNet, hôm 24 Tháng Hai, Công An Thành Phố Đà Nẵng đã bắt giữ nghi can NTB, 19 tuổi, ở phường An Hải, để điều tra về tội “giết người.”

Gia đình tổ chức hậu sự cho nạn nhân NCT tại nhà riêng ở phường An Hải, Đà Nẵng. (Hình: Đ.C/VietNamNet)

Nghi can B. bị cáo buộc đã giết chết cha ruột của mình là ông NCT, 42 tuổi, quê phường Sơn Trà, ngay tại nhà trên đường Nguyễn Thiện Kế, phường An Hải, Đà Nẵng.

Bản tin cho biết, sáng sớm cùng ngày, người dân phát hiện ông T. thiệt mạng trong nhà với nhiều vết thương.

Nhận được tin báo, Công An Phường An Hải đến hiện trường khám nghiệm. Tại đây, công an phát hiện một chiếc chày và một chiếc búa được cho là hung khí bị vứt bên hông nhà.

Khi giới hữu trách đến hiện trường, nghi can B. đã rời khỏi nhà. Qua điều tra, công an xác định hung thủ là con trai của nạn nhân nên bắt giữ nghi can B.

Bước đầu, cơ quan hữu trách nhận định nguyên nhân sự việc xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình.

Các vụ “nghịch tử” gây án mạng xảy ra liên tiếp thời gian qua tại Việt Nam.

Theo báo Người Lao Động hôm 2 Tháng Mười Một, 2025, nghi can TCT, 29 tuổi, ở xã Tam Giang, tỉnh Đắk Lắk, thường đi làm thuê ở xa.

Cách đây hơn một tháng, nghi can T. về chịu tang bà ngoại ở cùng thôn. Trong những ngày anh ta ở nhà, trong gia đình xảy ra mâu thuẫn.

Nơi nghi can TCT, con trai ông TCG, treo cổ tự sát là mảnh rẫy của gia đình. (Hình: Công An Đắk Lắk)

Vào chiều 1 Tháng Mười Một, 2025, nghi can T. chở mẹ mình bị bệnh tâm thần về nhà người thân bên ngoại. Sau đó, anh ta quay về nhà, dùng dao sát hại cha mình là ông TCG, 50 tuổi.

Nhân chứng là hàng xóm cho biết nhìn thấy nghi can T. rời khỏi nhà bằng xe gắn máy ngay trước lúc họ phát giác ông G. nằm trước nhà với nhiều vết thương trên người, cạnh đó có một con dao dính máu. Hàng xóm đưa ông G. đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng, nạn nhân đã thiệt mạng.

Đến sáng hôm sau 2 Tháng Mười Một, 2025, lực lượng công an phát giác nghi can T. treo cổ chết ở mảnh rẫy của gia đình, cách nhà khoảng 400 mét. (Tr.N) [kn]


 

 Kỷ Nguyên Cắt Quần: Từ Sài Gòn 1975 Đến Viễn Cảnh “Bình Nhưỡng Hóa” Seoul

Nhật Ký Yêu Nước 

 Kỷ Nguyên Cắt Quần: Từ Sài Gòn 1975 Đến Viễn Cảnh “Bình Nhưỡng Hóa” Seoul

Khi những đôi dép lốp bước vào Sài Gòn năm 1975, họ mang theo một sứ mệnh thiêng liêng: Giải cứu người dân miền Nam khỏi sự “đồi trụy” của… cái quần ống loe và những bước nhảy Chachacha. Đối với những “anh bộ đội cụ Hồ” vốn chỉ quen với rừng thiêng nước độc và những bài hát hành khúc rập khuôn, việc thấy một thanh niên mặc quần ống rộng hay một cặp đôi dìu nhau theo điệu nhạc là một cú sốc văn hóa cực độ.

Cuộc cách mạng của những cây kéo

Trong mắt những người chiến thắng, văn hóa miền Nam là một “bãi rác” cần được dọn dẹp bằng kéo. Họ quy chụp rằng âm nhạc và khiêu vũ làm xói mòn đạo đức, trong khi thực chất họ chỉ đang che đậy sự lạ lẫm và nỗi sợ hãi trước những gì mình không hiểu.

Hình ảnh thanh niên bị mang ra đường bêu riếu, bị cắt quần ngay giữa phố phường không phải là một sự uốn nắn đạo đức, mà là một màn trình diễn của sự ức chế. Đó là sự lên ngôi của cái nghèo nàn áp đặt lên sự phong phú, cái đơn sắc áp đặt lên đa sắc. Họ biến một sở thích cá nhân thành một “tội ác chống lại nhân dân”.

May be an image of one or more people and text that says 'VATENNIWTAN ব MMAIWAETAWAN IM MC NHaY NaM Hình ảnh xua sau 1975, một thanh niên miền Nam bị CSVN bêu rếu trên đường vì tội biế "nhảy đầm" TRIỀU TIÊN Hh HÀN QUỐC H I F'

Liên tưởng kinh hoàng: Nếu Nam Hàn rơi vào tay Kim Jong-un

Hãy thử tưởng tượng, nếu một ngày “ánh sáng cách mạng” từ Bình Nhưỡng tràn xuống Seoul, kịch bản Việt Nam 1975 sẽ được tái hiện ở mức độ kinh dị hơn:

K-Pop biến thành K-Hành khúc: Thay vì Blackpink nhảy “How You Like That”, chúng ta sẽ có những đội thiếu nữ mặc quân phục đồng thanh hát ca ngợi lãnh tụ với gương mặt không cảm xúc. Mọi bước nhảy uốn lượn sẽ bị coi là “nọc độc tư bản”.

Cắt tóc và Cắt váy: Những chiếc váy ngắn tại khu Gangnam sẽ bị cắt vụn bởi các “đội tự quản văn hóa”. Mọi thanh niên sẽ phải để một kiểu tóc duy nhất được phê duyệt bởi trung ương Đảng.

Smartphone thành gạch: Những chiếc Samsung đời mới sẽ bị thu giữ vì chúng chứa đựng “văn hóa phản động” từ internet. Thay vào đó, mỗi người dân sẽ được cấp một chiếc radio chỉ thu được đài truyền thanh địa phương.

Sự bêu riếu hiện đại: Nếu ngày xưa người ta bêu riếu trên đường phố, thì ở Seoul “cộng sản hóa”, họ sẽ dùng màn hình led khổng lồ để công khai nhục mạ những người dám nhảy đầm hay trang điểm theo phong cách phương Tây.

Bi kịch của sự cào bằng

Tại sao họ lại sợ “nhảy đầm”? Vì khiêu vũ là sự tự do của cơ thể, là biểu hiện của cá nhân tính. Trong một chế độ độc tài toàn trị, cá nhân không được phép tồn tại, chỉ có “quần chúng” là một khối đặc nghẹt và vâng lời.

Khi nhìn lại hình ảnh những thanh niên bị làm nhục vì cái quần, cái áo, chúng ta thấy một sự thật trần trụi: Chế độ cộng sản sợ nhất là cái đẹp và sự tự do. Họ muốn mọi người phải xấu xí giống nhau, nghèo đói giống nhau và sợ hãi giống nhau. Một đất nước mà công an đi đầy đường để canh chừng cái ống quần của dân là một đất nước đang tự cắt đi đôi cánh của chính mình để mãi mãi quẩn quanh trong cái máng lợn của sự lạc hậu.

Hàn Quốc ngày nay rực rỡ là vì họ được “nhảy đầm” theo cách họ muốn. Việt Nam 1975 đã mất đi mấy thập kỷ chỉ để nhận ra rằng cái ống quần hay điệu nhảy chẳng làm chết ai, chỉ có sự độc tài và ngu dốt mới làm thối rữa một dân tộc. Nếu Seoul biến thành Bình Nhưỡng, thế giới sẽ mất đi một trung tâm sáng tạo để đổi lấy một cái nhà tù khổng lồ canh gác bởi những người… không biết nhảy.


 

VĂN HÓA CHỬI – TỪ BÀN PHÍM RA NGOÀI ĐỜI

Kim Dao Lam –  Fb Vi Tran 

VĂN HÓA CHỬI – TỪ BÀN PHÍM RA NGOÀI ĐỜI

Nhiều người tưởng “văn hoá chửi” của một bộ phận DLV, BĐ chỉ tồn tại trên mạng. Odin nói thật: nghĩ vậy là hơi ngây thơ.

May be an image of one or more people

Thứ ngôn ngữ đầy công kích, hạ nhục, ăn thua đủ đó không nằm trong điện thoại. Nó bước ra ngoài đời. Chỉ cần một va chạm giao thông, một mâu thuẫn nhỏ, là âm lượng tăng lên, lời lẽ nặng xuống. Ai từng xem những clip ẩu đả lan truyền trên mạng đều thấy: cách chửi không khác gì comment section.

Điều đáng nói là nó đang len vào giao tiếp thường ngày. Bạn bè nói chuyện với nhau cũng phải “gắt” mới vui. Người yêu, vợ chồng cãi nhau là phải lớn tiếng mới “đã”. Thậm chí cha mẹ với con cái cũng dùng ngôn từ thô ráp như một cách thể hiện quyền lực. Rồi quay lại, đăng lên mạng, coi như giải trí.

Đáng ngại hơn, có gia đình còn dạy con: ra đời phải hơn thua, phải đáp trả cho tới cùng. Tự ái thành danh dự. Lớn tiếng thành bản lĩnh.

Nếu một xã hội xem sự nhục mạ là bình thường, xem ồn ào là sức mạnh, thì dần dần nó không còn là hiện tượng nữa nó thành thói quen. Mà thói quen lâu ngày rất dễ biến thành “văn hoá”.

Odin không cực đoan. Nhưng nếu chúng ta không tự hỏi: vì sao phải nói chuyện với nhau bằng âm lượng và sự cay độc như thế  thì vài năm nữa, có khi con cháu mình sẽ nghĩ đó là cách giao tiếp mặc định.

Hình ảnh vụ “giành ghế” đang lan truyền chỉ là một ví dụ. Điều đáng bàn không phải cái ghế. Mà là cách người ta chọn đối xử với nhau.

@EchoOfTruthVN


 

BÀ CÁT HANH LONG (NGUYỄN THỊ NĂM)

Xuyên Sơn

BÀ CÁT HANH LONG (NGUYỄN THỊ NĂM)

Hôm nay là tròn 64 năm, ngày cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) bị xử tử.

Làm cách nào một người yêu nước, góp cho cách mạng 800 lạng vàng như cụ bà lại bị cách mạng xử tử?

Đó là những câu chuyện rất lạ của một thời lịch sử.

Bà Cát Hanh Long (tên hiệu trong buôn bán giao dịch của bà Năm)

sinh năm 1906, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, vốn là một người đàn bà giỏi làm ăn trên đất cảng Hải Phòng, từ nhiều nghề khác nhau trong đó có buôn bán tơ, sắt vụn, bà đã sớm thành đạt trên thương trường, xây nhà tậu ruộng…

Nhà giàu, được giác ngộ nên bà Năm trở thành nguồn cung cấp tài chính cho cách mạng thời từ trước tháng 9 năm 1945 mà bây giờ gia đình tập hợp lại thành một hồ sơ dày đặc từ việc góp 20.000 đồng bạc Đông Dương tương đương bẩy trăm lạng vàng đến thóc gạo, vải vóc, nhà cửa …

Dù đã đứng tuổi theo quan niệm đương thời, nhưng người phụ nữ 40 tuổi của thành phố cảng ấy đã phóng xe nhà treo cờ đỏ sao vàng từ Hải Phòng lên thẳng chiến khu qua thành phố Thái Nguyên, nơi quân Nhật còn chiếm đóng đến Đồng Bẩm, Đình Cả, Võ Nhai để báo cho con trai và các đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền.

Sau năm 1945, bà Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, và mua lại hai đồn điền lớn của “một ông Tây què” tại Thái Nguyên. Hai con trai bà đều đi theo kháng chiến.

Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức “Tuần lễ vàng”, bà đóng góp hơn 100 lạng vàng.

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ của tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc, trong đó có 3 năm làm Chủ tịch hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”,

bà đã cho san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên…

Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà.

Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị…

Khi Cuộc cải cách ruộng đất triển khai vào năm 1953, những hành động yêu nước của Nguyễn Thị Năm bị cho là “giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại.” và bà trở thành địa chủ đầu tiên bị đem ra “xử lý”.

Bà bị lên án với tội danh “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Trong bài viết “Địa chủ ác ghê” của C.B trên báo Nhân dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 có kể tội bà là

“Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân…”. Cũng theo đó, Nguyễn Thị Năm đã “thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến” và cũng theo đó thì Nguyễn Thị Năm “không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác”.

Sau những cuộc đấu tố với đủ các thứ tội ác được gán ghép bà đã bị đem ra xử bắn ở Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên lúc 8 giờ tối ngày 29 tháng Năm Âm lịch năm 1953. Khi bà vừa tuổi 47.

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.”

Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.”

Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng.

Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô:

“Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”

Hồi ký Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Ông Nguyễn Hanh, con trai bà Năm kể rằng khi mẹ ông bị xử bắn, ông đang cùng đơn vị ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Người ta giấu ông mọi tin tức từ trong nước.

Hai tháng sau, cuối tháng 6/1953 ông được đưa về nước, bị tống ngay vào trại giam ở Tuyên Quang vì là con của địa chủ gian ác.

Năm 1954 ông mới được nghe bà vợ ông đến trại để thăm nuôi kể rõ về sự kiện bi thảm này.

Em ruột ông Hanh là Nguyễn Cát, bí danh là Hoàng Công, cả 2 anh em đều hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa 1944 ở vùng Đình Cả, Vũ Nhai. Hoàng Công từng là trung đoàn trưởng của sư đoàn Quân Tiên Phong 308, cũng bị đưa vào trại cải tạo năm 1953, năm 1956 mới được tự do, đau ốm, đến năm 1989 chết thảm trong một tai nạn xe máy.

Năm 1993, sau 40 năm tìm kiếm rất kiên trì, gia đình ông Hanh mới tìm thấy di hài bà Năm cạnh một ao sen, ở bên gốc cây phượng hoa đỏ nhờ chiếc vòng ngọc bám chặt cổ tay và chiếc răng vàng cũng như 2 đầu đạn, bà Cúc vợ ông Hanh cho hay sở dĩ chiếc vòng ấy còn vì bà Năm đeo từ hồi trẻ nó thít chặt vào cườm tay, khi đấu tố có người đã cố rút ra nhưng không được.

Di hài bà Năm được đưa về nằm bên mộ chồng là làng Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội.

Cụ ông Nguyễn Hanh, người đảng viên Cộng sản khi mới 21 tuổi, người sĩ quan QĐND cấp trung đoàn khi mới 24 tuổi đã mất sạch mọi thứ, từ bà mẹ nhân hậu đảm đang bị 2 phát đạn oan khiên, đến nhà cửa, tiền bạc, công danh, nay thổ lộ rằng từ 1993 ông đã gửi hàng vài chục lá thư đề nghị các đời Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng… xét cho 2 điều: công nhận mẹ ông, bà Nguyễn Thị Năm là người có thành tích, có công đóng góp cho cách mạng, truy thưởng cho bà Huân chương Kháng chiến, và công nhận Bà là Liệt sĩ, nhưng không một ai trả lời.

Điều duy nhất ông nhận được đến nay là công văn tháng 6 năm 1987 của ban tổ chức tỉnh ủy Thái Nguyên, quy định lại thành phần giai cấp của bà mẹ là “Tư sản – địa chủ kháng chiến”.

Ông than thở:

“Mẹ tôi từng nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, nhiều người biết chuyện nhưng đã cao tuổi, nên sau khi họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng”.

Ảnh: Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953) lúc ngoài 40 tuổi.

Nguồn: http://antg.cand.com.vn/…/Chuyen-ve-nguoi-phu-nu-tung…/

Nguồn fb Thái Nguyễn


 

TẬP NGẠC NHIÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này!”.

“Quen thuộc và gần gũi không giống nhau! ‘Quen thuộc’ – điều không thể tránh – xảy ra gần như thường tình. ‘Gần gũi’ khó cảm nhận hơn; nó phải được tìm kiếm, mở ra và đáp trả. Bạn cần tập ngạc nhiên với những gì thân quen!” – Gordon Lester.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an image of child

Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một sự thật khó nuốt: chúng ta không mất Chúa vì thiếu dấu lạ, mà vì đã quá quen với dấu lạ. Giôna kêu gọi Ninivê hoán cải; Chúa Giêsu kêu gọi người đương thời hoán cải. Nhưng họ vẫn đòi thêm dấu lạ – như thể Thiên Chúa phải chứng minh mình cho những con tim đã thôi biết ‘tập ngạc nhiên’.

Vấn đề không nằm ở việc Chúa làm ít, nhưng ở việc chúng ta nhìn hời hợt. Phép lạ xảy ra, người què đi, kẻ chết sống, Lời đầy uy quyền – nhưng tất cả dần trở thành chuyện “đã nghe rồi”. Khi mầu nhiệm bị tiêu thụ như tin tức, trái tim sẽ không còn rung. “Người đương thời không hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng luôn mới mẻ; vì không hiểu điều này nên họ khép kín và đòi thêm dấu lạ!” – Phanxicô.

Cũng thế, với chúng ta. Thánh Lễ mỗi ngày, Thánh Thể mỗi ngày, Lời Chúa mỗi ngày – và chính vì “mỗi ngày”, chúng ta tưởng là bình thường. Chúng ta có thể thuộc kinh, thuộc nghi thức, thuộc Phúc Âm; nhưng thuộc lòng không có nghĩa là “thuộc về!”. Điều giết chết đức tin không phải là chống đối, mà là dửng dưng; không phải vô thần, mà là vô cảm.

Thật ra, dấu lạ lớn nhất đã được ban rồi: cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Không dấu lạ nào lớn hơn dấu lạ mồ trống. Nhưng nếu thập giá chỉ còn là biểu tượng treo tường, Phục Sinh chỉ còn là mùa phụng vụ, thì chúng ta sẽ tiếp tục đòi những điều giật gân hơn. “Đừng trì hoãn vì ngày mai có thể sẽ không bao giờ đến! Chúa hứa thứ tha nếu bạn quay lại; nhưng Ngài không hứa rằng bạn sẽ có ngày mai!” – Augustinô.

Hoán cải không bắt đầu bằng việc tìm điều phi thường, nhưng bằng việc nhìn lại điều quen thuộc với đôi mắt mới. Một mái nhà, một người thân, một trang Tin Mừng, một tấm bánh nhỏ – tất cả đều có thể là dấu lạ nếu trái tim chúng ta không chai cứng. Khi không còn biết ngạc nhiên, chúng ta sẽ không còn biết tạ ơn; khi không còn tạ ơn, chúng ta sẽ không còn nhận ra mình đang được cứu.

Anh Chị em,

“Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này!”. Dấu lạ ấy không ồn ào, nhưng đủ để cứu; không giật gân, nhưng đủ để đổi đời. Dấu lạ ấy không phải là một ý tưởng, nhưng là một Con Người bị treo lên. Nơi Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, Thiên Chúa không còn ở xa để chúng ta tìm thêm bằng chứng; Ngài ở gần đến mức có thể chạm, có thể đón, cũng có thể từ chối. Vấn đề là chúng ta có dám mở lòng cho Đấng đang tự hiến? Nếu hôm nay chúng ta còn biết quỳ trước Ngài, còn biết lắng nghe Ngài, còn biết để Ngài chạm đến, thì chính Đức Kitô vẫn là dấu lạ đang xảy ra giữa tôi và bạn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết dừng lại, biết cúi xuống, biết mở lòng. Để giữa những điều rất cũ, với đôi mắt trẻ thơ, con vẫn biết ngạc nhiên; giữa những điều rất gần, con vẫn gặp được Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần I Mùa Chay

Thế hệ gian ác này sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 11,29-32

29 Khi ấy, dân chúng tụ họp đông đảo, Đức Giê-su bắt đầu nói : “Thế hệ này là một thế hệ gian ác ; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na. 30 Quả thật, ông Giô-na đã là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-vê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy. 31 Trong cuộc Phán Xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với những người của thế hệ này và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn ; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa. 32 Trong cuộc Phán Xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng ; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa.”


 

CHẶNG THỨ 5: Ông Si-môn vác Thánh Giá đỡ Đức Giêsu-Cha Vương

Ước mong bạn cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong mỗi việc làm hôm nay nhé. Xin cáo lỗi mỗi thứ 4 trong mùa Chay mình phải giải tội vào lúc 7g sáng cho giáo dân cho nên sẽ gửi bài trễ. Ai muốn xưng tội thì mình sẵn sàng đón tiếp.  Cha Vương

Thứ 3: 24/02/2026 (n28-23)

CHẶNG THỨ 5: Ông Si-môn vác Thánh Giá đỡ Đức Giêsu

TIN MỪNG: Lúc ấy, có một người từ miền quê lên, đi ngang qua đó, tên là Si-môn, gốc Ky-rê-nê. Ông là thân phụ hai ông A-lê-xan-đê và Ru-phô. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Đức Giê-su. (Mc 15:21)

SUY NIỆM: Ông Si-môn BỊ BẮT vác thập giá đỡ thập giá chứ không phải ông ta tình nguyện hay sẵn sàng, điều đó cũng chẳng có gì ngạc nhiên cả bởi vì ông chỉ là người đi ngang qua, có thể ông biết chút ít về Đức Giê-su thôi. Bạn mới chính là người biết Chúa đó, vì bạn đã được rửa tội, hằng ngày bạn được nghe Lời Chúa và rước Chúa vào trong lòng mình. Bạn được nghe Chúa dạy về sự cần thiết của việc “vác thập giá mình” (Mc 8:34) và việc “mang gánh nặng cho nhau” (Gl 6:2), đáng lẽ ra bạn mới là người sẵn sàng và tình nguyện chứ!

XÉT MÌNH: Có bao giờ bạn tỏ thái độ lạnh nhạt hay coi thường người khác, hoặc vô cảm trước những mệt mỏi, chán nản, yếu đuối, và đau khổ của người khác không? Với những người trong gia đình, bạn có đối xử tàn tệ, lạm dụng, đay nghiến với cha mẹ, người phối ngẫu, con cái và họ hàng không? Với con cái, bạn có tích cực cộng tác với chồng, vợ, hoặc người có trách nhiện để chăm sóc những nhu cầu cần thiết cho chúng, không để chúng được học đạo hay lãnh nhận các Bí tích, thiếu sửa dạy chúng, làm gương xấu, dạy điều xấu hay xúi chúng làm việc xấu, hay không nhận chúng là con không? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa dạy con “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25:40), xin giúp con sửa đổi chính mình để con biết cảm thông, chia sẻ, hy sinh, và mang lấy gánh nặng cho nhau trong đời sống hằng ngày. Amen.

From: Do Dzung

**************************

Đồng hành với Chúa

CÂN BẰNG CUỘC SỐNG CÁCH NÀO? – BS Đỗ Hồng Ngọc

BS Đỗ Hồng Ngọc

”Cuộc sống” bây giờ rất lạ. Hồi xưa còn có ngày và đêm, còn có làm việc 8 tiếng ở cơ quan, sở làm, còn lại là thì giờ “của mình” để “tùy nghi”.

Bây giờ thì hết. Không thể vậy nữa. Điện thoại thông minh sẵn sàng réo gọi bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Không có sáng trưa chiều tối gì cả. Không có ở nhà ở sở gì cả. Không có nghỉ hè nghỉ lễ gì cả. Thế giới trong lòng tay. Tin thiệt tin giả hằm bà lằng. Đó là thời kỳ “Siêu hiện đại” (Metamodernism) khi đã có cái smatphone, cái laptop bên cạnh. Đêm là ngày. Quán càphê, quán nhậu là chỗ làm việc. Bãi biển là văn phòng… Thế là đầu tắt mặt tối. Thế là đỏ mặt tía tai. Thế là bầm gan tím ruột… (…)

Bây giờ không còn là thời của “Buồn nôn” (La Nausée, Jean Paul Sartre) sáng vác ô đi tối vác về nữa, mà quay cuồng, mà chóng mặt, là thời của hậu-hậu hiện đại, siêu hiện đại rồi. Đó là thời của chuyển động không ngừng, của xáo trộn, của nháo nhào (oscillation), giữa giễu nhại và trân trọng, giữa ngây thơ và uyên bác, giữa lạc quan và hoài nghi, giữa mẫu mực và phá cách…, có thể gọi là thời của “đảo điên mộng tưởng”, đưa đến những bệnh thời đại như SAD (stress căng thẳng, anxiety lo âu sợ hãi và depression trầm cảm). Cho nên ta không lạ khi ngày càng có nhiều người rời phố thị tìm về những vùng hoang vắng, sống nơi không wifi, không điện, không máy tính.

Gần đây những từ mới như workaholic, nghiện, say mê công việc, workmaniac, điên vì công việc, một dạng tâm thần ngày càng nhiều. Những người mắc chứng này dễ dẫn đến tự tử. Họ có rất nhiều tiền nhưng sẵn sàng tìm cái chết để giải thoát. Từ karoshi ở Nhật – chết khi đang làm việc – đã trở nên phổ biến. Hằng năm có cả chục ngàn ca như vậy.

Tôi vẫn thường nhận được những câu hỏi nhờ tư vấn, nói chỗ làm lương thì cao mà căng thẳng quá, chắc là phải đi tìm chỗ khác, không thể sống như vậy được nữa vì không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, không có thời gian cho bản thân, cho bạn bè, gia đình; áp lực công việc, áp lực deadline, đối tác… Có người nói thấy đầu óc như đang ở trên mây, không nhớ điều gì cả, trí óc quên đủ thứ và cuộc sống của họ bây giờ nó lôi thôi lắm, như Alzheimer dù tuổi hãy còn rất trẻ!

Lâu nay ta cứ nghĩ mình không có bệnh là mình khỏe nhưng điều đó là sai. Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being) về cả ba mặt thể chất, tâm thần và xã hội chớ không chỉ là không có bệnh hay tật. Nhiều khi ta trông thấy một người có thể chất rất chuẩn, đẹp trai, cao ráo nhưng anh ta có thể đang mắc bệnh tâm thần. Sức khỏe về mặt xã hội càng quan trọng: kẹt xe, ngập nước sao khỏe được. Các mối quan hệ xã hội, môi trường sống không an toàn, không an ninh, sao khỏe được.

Khi nghĩ rằng sức khỏe là chuyện của y tế là sai. Y tế chỉ có nghĩa “cứu tế về y khoa”, giúp đỡ những lúc ta ốm đau, bệnh hoạn còn sức khỏe là chuyện khác, sức khỏe là chuyện của mình. Có người nói rất đúng: “bác sĩ tốt nhất là chính mình”.

Một công ty quan tâm đến sức khỏe nhân viên không chỉ mở một phòng y tế, chờ khi nhân viên đau ốm thì vào cấp cứu, thuốc men. Trường học cũng vậy. Nhiều trường học hãnh diện có một phòng y tế trang bị thuốc men đầy đủ, có bác sĩ cho học sinh mỗi khi đau ốm hay tai nạn, nhưng rất thiếu sót. Bởi sức khỏe của học sinh chủ yếu là tâm sinh lý tuổi mới lớn, tuổi dậy thì, nên vấn đề của y tế học đường là tham vấn sức khỏe, giải quyết xung đột… Ngày nay nhiều trường đã tổ chức các lớp thiền, yoga cho học sinh. Anh quốc còn có chương trình đưa Thiền chánh niệm vào trường học: Mindfulness in School Project (MiSP) có hiệu quả tốt.

Phương pháp đơn giản để “Cân bằng cuộc sống” (Work-Life Balance) là vẽ một biểu đồ phân tích tình trạng sinh hoạt của mình để thấy chỗ nào đang bị lệch lạc như về công việc, tài chánh, học tập, giải trí, gia đình, bạn bè… Theo dõi biểu đồ đó từng thời gian, có thể thấy mình đang bị lệch về hướng nào, cần điều chỉnh ra sao.

Có một vài phương pháp cụ thể hơn để giải stress, ví dụ như yoga, thiền quán, thở bụng… Phương pháp thở bụng (Diaphragmatic breathing hay Abdominal breathing) đơn giản mà hiệu quả. Các bác sĩ nổi tiếng hiện nay như Dean Ornish hay Deepak Chopra (Mỹ) đang phát triển phương pháp này để chữa bệnh. Họ nghiên cứu trên hai nhóm bệnh nhân tim mạch, một nhóm uống thuốc bình thường, nhóm còn lại kết hợp thêm thở bụng thì thấy rõ ràng nhóm có thở bụng đạt kết quả tốt hơn (thống kê y học).

Ta biết khi stress kéo dài thì tuyến Pituitary ở não sẽ không tiết hormone tăng trưởng nên những trẻ bị căng thẳng quá trong học tập sẽ không lớn nổi. Stress làm Tuyến tụy tiết ra Glucagon làm giảm Insulin gây tiểu đường. Tuyến sinh dục cũng không phát triển được, không tiết DHEA bình thường. Đó là lý do tại sao đời sống tình dục ngày càng có vẻ yếu đi, yếu đến nỗi người ta phải dùng thuốc cường dương các thứ…

Một dấu hiệu quan trọng của stress nữa là giảm sút trí nhớ, luôn do dự, khó tập trung, suy nghĩ không logic, phán đoán sai, chỉ thấy mặt tiêu cực, mất định hướng, hoang mang, sợ hãi… hoặc buồn rầu, cô đơn, tâm tính bất thường…

Những dấu hiệu của stress về thể chất như nhức đầu, đau lưng, đau cột sống cổ… Đi bác sĩ đau đâu chích đó, hoặc can thiệp bằng mổ xẻ cũng không dứt hẳn. Vì gốc bệnh là do stress hoặc do tư thế ngồi làm việc, phải điều chỉnh.

Cần có một chế độ để nghỉ ngơi hợp lý. Nghỉ và ngơi là hai từ khác nhau. Ngơi là ngưng, ngưng hẳn. Nhiều khi nghỉ mà không ngơi. Cho nên, cần có nghỉ và ngơi thực sự. Chương trình đưa Thiền chánh niệm vào trường học (MiSP) nói trên có đề ra một công thức khá hay, mà tôi gọi là “Lá Bùa”, có thể dán bất cứ ở đâu để nhắc nhở mình. Đó là (.b).

Chấm (.) có nghĩa là Ngưng, Thôi, Dừng lại. Còn (b) là breath (thở chánh niệm) và hiện diện “ở đây và bây giờ”. Thực hiện được đã là rất tốt.

Giao tiếp rất quan trọng trong đời sống. Giao tiếp giữa người với người mà thành công sẽ tạo một môi trường lành mạnh cho sự phát triển cảm xúc và trí tuệ. Có 3 nguyên tắc chính: tôn trọng, chân thành và thấu cảm. Trong Bồ-tát thập hạnh, hạnh thứ 6 là “Thiện hiện”, đây chính là sự thấu cảm; hạnh thứ 8 là Tôn trọng và hạnh thứ 10 là chân thực. Nếu thực hành được ba hạnh này thì giao tiếp chắc chắn thành công.

Để có cuộc sống an lạc, tự tại, thì ta phải “từ bi” với mình, đừng cao vọng đòi hỏi xa xôi quá để bị hút vào, bị cuốn đi. Nhưng như vậy không có nghĩa là không phấn đấu để trở thành người hoàn thiện hơn. Trong thời đại người ta nói nhiều đến Siêu hiện đại như hiện nay, càng thấy rõ lời Phật dạy từ 2600 năm trước: vô thường, khổ, vô ngã… Phải vượt qua ái dục, chấp trước, phải “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”…, “viễn ly điên đảo mộng tưởng” thì mới có được cuộc sống an lạc, hạnh phúc.

BS Đỗ Hồng Ngọc


 

15 cách tích phúc đức không tốn một đồng nào, nhưng mang lại phúc đức cực nhiều cho gia chủ

Nhiềᴜ người cho ɾằng tích đức là bố thí một chút tiền tài hay giúp đỡ những người nghèo khổ miếng cơm, manh áo. Đó là một cách, ngoài ɾa còn có ɾất nhiềᴜ cách tích đức đơn giản, không tốn một đồng tiền mà lại mang về phúc báo miên miên cho người hành thiện. Ngay từ bây giờ, bạn hãy học cách tích đức, hành thiện, vừa là giúp người, vừa là giữ thêm cho mình phúc báo về sau. Dưới đây là những cách tích đức đơn giản, ai ai cũng làm được.

  1. Tích đức từ lời nói

Lời nói cần phải thể hiện sự khoan dᴜng, độ lượng đối với người khác. Nếᴜ lời qᴜá thẳng, hãy nói vòng, nói giảm, nói tɾánh” một chút. Nếᴜ lời lạnh như băng, hãy hâm nóng chúng lên tɾước khi tɾᴜyền cho người khác. Khi nói lời phê bình, khiển tɾách, hãy đảm bảo ɾằng lòng tự tôn của người nghe không bị tổn thương. Và bạn hãy lᴜôn nhớ ɾằng, một lời khen ngợi đúng lúc có giá còn hơn ngàn vàng.

  1. Tích đức từ đôi tay tán thưởng

Hãy học cách ca ngợi, vỗ tay tán thưởng người khác. Ai cũng đềᴜ cần nghe tiếng vỗ tay tán thưởng của người khác bởi đó chính là sự ủng hộ, khen ngợi, sự đồng tình, chia sẻ. Chẳng ai mᴜốn cô đơn, lạc lõng giữa thế gian này, ai cũng cần dù chỉ là một người tán đồng với mình, thấᴜ hiểᴜ mình.

  1. Tích đức từ giữ thể diện cho người khác

Ở một số tình hᴜống, việc “không nể mặt” chính là thái độ vô lễ lớn nhất. Người phương đông ɾất xem tɾọng thể diện vì vậy ở bất kỳ thời điểm nào cũng dành cho người khác một “lối thoát”, một đường lùi.

Nhìn thấy ɾõ một người cũng đừng nên chỉ thẳng ɾa, hãy lựa lúc mà nói. Đừng bao giờ làm tổn thương thể diện của người khác bởi hậᴜ qᴜả của nó là khôn lường.

  1. Tích đức từ việc tín nhiệm người khác

Người có tính đa nghi tɾời sinh thì khó có được bạn chân thành. Được người khác tin tưởng, tín nhiệm là một loại hạnh phúc. Người có bao nhiêᴜ tín nhiệm thì sẽ có bấy nhiêᴜ cơ hội thành ᴄôпg. Người xưa nói: “Đã nghi ngờ người thì không kết giao, đã kết giao thì không nên nghi ngờ người”.

  1. Tích đức từ việc cho người khác sự thᴜận lợi

Cho người khác được lợi cũng chính là làm lợi cho mình. Thời điểm người khác cần bạn nhất, hãy sẵn sàng cho họ một bờ vai để nương tựa. Sᴜy nghĩ cho người khác cũng chính là sᴜy nghĩ cho bản thân mình.

  1. Tích đức từ tính cách khiêm nhường

Người xưa nói, người kiêᴜ căng ngạo mạn, thích thể hiện tài năng thì đi đâᴜ cũng có kẻ địch. Hãy tɾánh khoe khoang tài năng của mình mọi lúc mọi nơi và học cách bᴜông bỏ kiêᴜ căng, giảm bớt tự kỷ.

Bạn cũng không nên ở tɾước mặt người đang thất ý mà đàm lᴜận về đắc ý của mình. Làm người, tɾước là đừng khoa tɾương tùy tiện, saᴜ đừng đắc ý, nên khiêm nhường một chút, mọi thứ sẽ sᴜôn sẻ hơn.

  1. Tích đức từ việc thấᴜ hiểu người khác

Ai cũng mong có người thấᴜ hiểᴜ, thừa nhận mình. Hiểᴜ người khác cũng chính là đem lại lợi ích cho họ, cho chính bản thân bạn. Khi đã hiểᴜ được tâm tình, tâm sự của đối phương, bạn sẽ biết cách mang đến hạnh phúc cho họ, cũng sẽ biết cách sống đẹp hơn, tᴜ sửa mình tốt hơn.

8.Tích đức từ việc tôn tɾọng người khác

Hãy lᴜôn đặt sự tự tôn của người khác ở vị trí cao nhất, thậm chí cao hơn chính bản thân mình. Sự tôn nghiêm của một người chính là phẩm giá và đạo đức, đôi khi là sinh mệnh của họ. Đừng bao giờ mạo phạm người khác nếᴜ không mᴜốn chính mình cũng bị mạo phạм. Đối với những kẻ yếᴜ hơn, lại càng phải tôn tɾọng, tɾân qᴜý họ.

Địa vị càng cao thì càng không thể khinh thường người khác. Làm được như vậy thì chính là bạn đã có phẩm chất của một người qᴜân tử. Người qᴜân tử chính là tôn tɾọng kẻ yếᴜ, không sợ kẻ mạnh, là nghĩ cho người tɾước, nghĩ đến mình sau.

  1. Tích đức từ việc giúp đỡ người khác

Ở vào thời khắc qᴜan tɾọng, ai mà không hy vọng có người tɾợ giúp mình?, “Vì người khác” sẽ lᴜôn lᴜôn ᴄhiếп thắng “vì mình”. Lòng tốt sẽ lᴜôn lᴜôn được người khác khắc sâᴜ, nhớ kỹ.

  1. Tích đức từ việc thành thật với mọi người

Ở đời, sự chân thành bao giờ cũng đáng qᴜý. Không thành thật sẽ khó mà tồn tại giữa nhân gian. Người giả dối sẽ không bao giờ có được người tɾi kỷ, người bạn chân thành. Sự thành tín chính là cái gốc làm người. Hãy giữ gìn chữ tín, lòng chân thật, bạn sẽ thᴜ phục được lòng người, sẽ tɾở thành người được yêᴜ mến, thành ᴄôпg.

Mất đi chữ tín, một đời người coi như cũng kết thúc sớm ɾồi. Bởi giữ được chữ tín thì có thể đi khắp thiên hạ, có thể kết giao khắp bốn bể, gầm tɾời.

  1. Tích đức từ việc biết cảm ơn người

Người có lòng cảm ơn sẽ lᴜôn lấy được thiện cảm từ người khác. Hãy tập nói lời cảm ơn dù chỉ từ những việc nhỏ nhặt nhất thường ngày. Nhưng đừng chỉ cảm ơn ân nhân của mình, hãy học cách cảm ơn ngay cả đối thủ của mình. Đó cũng chính là thể hiện của một người có chí khí, có bản lĩnh vậy.

  1. Tích đức từ việc mỉm người với người khác

Nụ cười chân thành còn có giá tɾị hơn cả ngàn vàng. Chẳng ai có thể cự tᴜyệt một nụ cười xᴜất pнát tự đáy lòng cả. Mỉm cười chính là cách để con người kết nối với nhaᴜ nhanh nhất và bền vững nhất. Hãy thử tưởng tượng xem, thế gian này nếᴜ ngày ngày tɾàn ngập tiếng cười, không còn thù hận, nếᴜ ai cũng coi người khác là bạn bè, người thân của mình, chẳng phải mọi đaᴜ khổ sẽ tan biến hết hay sao?

  1. Tích đức từ lòng khoan dᴜng

Khoan dᴜng là một tɾong những đức tính hàng đầᴜ của người qᴜân tử. Nếᴜ không thể khoan dᴜng người khác, chứng tỏ ɾằng tɾong bạn còn có nhiềᴜ mối hận, chứng tỏ lòng dạ của bạn vẫn chưa đủ ɾộng lượng, khoáng đạt.

Sức mạnh của lòng khoan dᴜng thật lớn. Nó có thể cải biến một con người lầm lỗi tɾở nên chân chính. Nó cũng có thể hoán cải một tâm hồn gỗ đá, chai sạn vì hận thù tɾở nên tươi đẹp, yêᴜ đời hơn.

Người có lòng khoan dᴜng không chỉ là biết nghĩ cho người khác, biết gia ân cho kẻ thù mà còn chính là biết nghĩ cho mình, biết cởi tɾói cho mình. Bởi hận thù chính là liềᴜ thᴜốc độc. Giữ hận thù tɾong người chính là ấp ủ thᴜốc độc, đầᴜ độc chính mình. Khoan dᴜng là dòng nước mát tưới tắm tâm hồn khổ đaᴜ, cũng là liềᴜ thᴜốc giải độc cho mọi oán thù tɾên cõi đời này.

  1. Tích đức từ lòng lương thiện, nhân ái của bản thân

Mỗi người đềᴜ nên tᴜ dưỡng lòng nhân ái tɾong mình. Bởi người có tấm lòng nhân ái lᴜôn sống nhẹ nhàng mà lại dễ dàng nhận được sự hợp tác từ người khác. Không có ai là không mᴜốn làm bạn, làm hàng xóm hay hợp tác với người có tấm lòng lương thiện. Người lương thiện có thể thᴜ phục người khác. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm.

  1. Tích đức từ sự biết lắng nghe

Người xưa có câᴜ: “Nhìn nhiềᴜ, nghe nhiềᴜ và nói ít”. Tɾước khi học nói, người ta đã phải biết lắng nghe. Đứa tɾẻ từ tɾong bụng mẹ đã có thể nghe thấy âm thanh của thế giới này nhưng saᴜ khi chào đời, thường phải 2 – 3 năm mới bập bẹ những tiếng đầᴜ tiên.

Biết lắng nghe chính là biết nghĩ cho người, biết nhường người, tôn tɾọng họ. Đủ lòng kiên nhẫn để lắng nghe người khác nói, bạn cũng sẽ đủ lòng kiên nhẫn để thấᴜ hiểᴜ, yêu thương họ.

Đôi khi có những lúc ta chỉ cần lắng nghe. Sự lắng nghe có thể đã là câᴜ tɾả lời tᴜyệt vời nhất cho những mâᴜ thᴜẫn, khổ đaᴜ, bᴜồn bực tɾong đời. Không thể lắng nghe chính là không thể nhẫn nại. Không thể nhẫn nại thì cũng chẳng thể nào làm được việc lớn. Từ xưa đến nay, người thông minh nhất chính là người biết lắng nghe nhiều nhất chứ không phải nói thật nhiềᴜ.

Từ nay hãy tɾở thành một người biết lắng nghe hơn bạn nhé!

Theo Cuocsongmoi

From: Phi Phuong nguyen


 

LỜI KHÔNG THẤT THU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc!”.

“Cuộc sống của con là lắng nghe, cuộc sống của Chúa là dạy bảo!… Vì thế, con phải lặng thinh!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an image of bird

Lời Chúa hôm nay cho thấy: mưa không rơi để rồi bay ngược lên trời. Lời Thiên Chúa cũng vậy. Ngài không nói để rồi rút lại; Ngài không gieo để rồi trắng tay. Lời Thiên Chúa không bao giờ thua lỗ – đó là ‘lời không thất thu’.

Lời Chúa như mưa tuyết không trở về trời nếu chưa làm mềm một thửa đất, chưa đánh thức một mầm sống. Và thửa đất ấy là cõi lòng chúng ta. Nếu đất cứng, không phải vì thiếu mưa, nhưng vì thiếu thinh lặng; thiếu một khoảng cho Lời thấm; thiếu một vết nứt để nước đi vào. Khi Lời chưa sinh hoa trái, không phải vì trời keo kiệt, nhưng vì đất khép kín. Một khi đất chịu ướt, chịu tan, Lời sẽ sinh sôi – bởi đó, ‘lời không thất thu’.

Lời Thiên Chúa luôn đạt kết quả – bài đọc một – không phải vì chúng ta giỏi đáp trả, nhưng vì Lời mang trong nó sức sống. Vấn đề không ở trời – mà ở đất. Đất có chịu mở ra không? Có dám ướt không? Có dám để cấu trúc khô cằn của mình rã không? Chúng ta sợ rã, nên giữ mình khô. Nhưng đất khô thì nứt nẻ; chỉ đất ướt mới sinh hoa trái. Và khi chúng ta dám mềm đi trước Lời, chúng ta sẽ thấy: Thiên Chúa không bao giờ đầu tư vào một tâm hồn mà không thu hoạch – ‘lời không thất thu’.

Trong Tin Mừng hôm nay, “Kinh Lạy Cha” Chúa Giêsu dạy không phải là một công thức đọc cho xong; đó là hoa trái của một mảnh ruộng linh hồn mà Lời đã thấm. Khi Lời đi vào lòng người, nó bật thành tiếng “Lạy Cha”. “Nó là ma trận của mọi lời cầu Kitô giáo… Thiên Chúa yêu tôi. Đó là một bảo đảm tuyệt vời!” – Phanxicô. Nhưng bảo đảm ấy chỉ thành kinh nghiệm khi chúng ta thôi nói nhiều để bắt đầu nghe nhiều. Không có thinh lặng, không có hoa trái – chỉ có tiếng động tôn giáo. Không có đất ướt, chỉ có nước chảy trôi. “Cầu nguyện là hoa trái thinh lặng!” – Mẹ Têrêxa.

Anh Chị em,

Lời không chỉ là âm thanh từ trời nhưng đã làm người nơi Đức Kitô. Ngài là Mưa Lời từ trời đổ xuống đất khô nhân loại. Ba mươi năm âm thầm ở Nazareth, ba năm rao giảng, ba giờ trên thập giá trần trụi – không một giây phút nào của Ngài là vô ích. Từng bước chân, từng giọt mồ hôi, từng vết thương… tất cả thấm vào đất cứng lòng người. Thập giá xem ra là thất bại; nhưng chính ở đó, ‘Lời không thất thu’, nhưng đạt kết quả trọn vẹn: đất đá vỡ ra, màn đền thờ xé đôi, một viên đại đội trưởng tuyên xưng. Nơi Ngài, Thiên Chúa không nói suông, nhưng nói bằng thịt máu, bằng vâng phục, bằng hiến mình. Nếu lòng còn khô, bạn hãy nhìn cạnh sườn bị đâm thâu; nếu sợ rã tan, hãy nhìn hạt lúa mục nát để sinh nhiều bông hạt. “Lời” không ồn ào, nhưng bền bỉ; không phô trương, nhưng thấm sâu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để kinh nguyện của con rộn ràng nhưng hời hợt, ồn ào nhưng vô hồn; dạy con để Lời thấm vào ‘đất lòng’ khi con ‘thực sự là con’ trước Chúa là Cha!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần I Mùa Chay

Anh em hãy cầu nguyện như thế này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10 triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11 Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12 xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13 xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”


 

Nhật ký một bạn tù! – Bác sĩ Phùng Văn Hạnh – Truyen ngan HAY

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Tôi quen biết cả hai vợ chồng anh Nam. Gia đình chị Nam là nạn nhân của cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn”. Cha chị, anh Khoa, là bạn học của tôi ở trưởng tiểu học xã. Lúc tôi làm việc ở Bệnh viện Đà-Nẵng, thì anh là xã trưởng xã Giao Hòa, gần quê tôi. Cha anh bị liệt vào hàng phú nông, đã bị du kích VC ở xã chôn sống, thời chống Pháp, chỉ vì ông chỉ trích biện pháp “tiêu thổ kháng chiến” trong đám giỗ gia đình ông. Người chỉ huy vụ thủ tiêu ông, là cháu kêu ông bằng bác, tên Cội. Cái “giỏi” của Cộng sản, là có thể khơi dậy ở người cháu lòng căm thù, để giết bác ruột. Khoa, lúc ấy, cũng là du kích, chứng kiến cái chết thê thảm của cha, mà không làm gì được. Sau đó, anh lẻn ra vùng Quốc Gia, và thề trả thù cho cha. Anh đã dẫn lính Bảo An, trong đêm tối phục kích tiểu đội du kích VC ở xã, và giết chết Cội. Thời Đệ nhị Cộng Hòa, xã Giao Hòa nằm trong vùng tranh chấp. Ban ngày, Khoa cùng Địa Phương Quân về đóng trong làng, ban đêm rút về quận. Con của Cội, lúc ấy, là “chủ tịch xã” (VC) ban đêm thường hay lẻn về đe dọa dân chúng, và thâu lúa gạo của dân.

Tết Mậu Thân, 1968, con của Cội cùng “bộ đội” miền Bắc đột nhập quận, bắt được Khoa. Chúng dẫn Khoa về làng Giao Hòa, họp dân chúng lại, mở “tòa án nhân dân” xử Khoa, chúng hành hạ Khoa rất tàn nhẫn trước khi giết chết. Chị Khoa, vận đồ tang, về làng xin xác chồng đem về chôn tại quận. Bọn Cộng sản đã không cho, lại giết chết luôn chị Khoa, chỉ vì quá uất hận, chị đã thốt lên những lời mỉa mai trong khi khóc lóc trước mộ chồng.

Hai vợ chồng Khoa chỉ có một cháu gái tên Thu, lúc ấy mới 10 tuổi. Thu bơ vơ được ông Quận trưởng Đại Lộc, Quảng Nam, nhận về nuôi cho đi học. Nam cùng quê với tôi. Cha chết sớm, vì ăn phải nấm độc, trong nạn đói thời “kháng chiến chống Pháp”. Mẹ Nam ở vậy nuôi con. Khi đồng quê mất an ninh, bà ra Đà-Nẵng giúp việc trong nhà cho tôi. Nam đậu Tú tài, vào học trường Nông Lâm Súc. Ra trường, thì bị động viên vào trường Võ Bị Thủ Đức. Nam được chọn đi học khóa Tâm Lý Chiến, rồi về phục vị tại sư đoàn 1. Ông quận trưởng, cha nuôi Thu nay là Đại tá Trung đoàn trưởng, cấp trên của Nam. Thấy Nam chăm chỉ, hiền lành, ông đã cố ý tạo cơ hội cho Nam và Thu gần nhau, hiểu nhau. Đám cưới hai người do tôi tổ chức vào cuối năm 1974. Hai vợ chồng ông Đại tá không có con, lại có căn nhà lớn ở Đà-Nẵng, nên đôi tân hôn sống chung với ông bà.

Cuối năm 1978, Sĩ quan trại tù Kỳ Sơn chuyển lên trại “cải tạo” Tiên Lãnh. Trước đó mấy ngày, tù chính trị và phần lớn các đội lưu động chuyển đi “trại thôn Năm”, để chỗ cho “trại viên” mới. Một chiều ảm đạm, các trại viên cũ đều bị nhốt lại trong phòng, cửa sổ đóng kín. Nghe tiếng máy nhiều xe cam nhông đổ lại trước cổng trại. Tôi lúc ấy làm y tế trại, được lệnh ra nhận thuốc Tây mà các vị Sĩ quan mang theo, để nhập vảo tủ thuốc ký gửi. Các “cán bộ” trại đang ráo riết lục soát “trại viên” mới. Từng đống áo quần treillis, giày da đi trận, xắc đeo lưng bị tịch thu. Đồng hồ, bút máy, nhẫn đeo tay, tiền giấy phải đem ký gửi. Mỗi người nhận lại hai bộ đồ vải màu xám với một ít dồ dùng cá nhân. Công an đã đánh phủ đầu bằng cách lột sạch di tích tù binh, và nhắc nhở một kỷ nguyên thường phạm khắc nghiệt bắt đầu. Tôi gặp lại Nam, nhìn nhau mà không dám nói một lời. Vài tháng sau, Nam được ra làm chăn nuôi, nhờ có bằng kỷ sư Nông lâm súc. Lúc đầu chỉ ra chăn nuôi ban ngày. Ban đêm phải trở về ngủ chung trong phòng giam. Nam vốn ít nói và hiền lành, lại cứu được nhiều gia súc trong một nạn dịch, nên được “quản giáo” chăn nuôi dần dần tín nhiệm, đưa ra ở hẳn trong trại chăn nuôi. Thường ngày Nam dẫn một đàn bò độ 30 con, đi ăn trên những đồng cỏ quanh trại. Tuy không có thăm nuôi, song Nam không thiếu thốn nhiều về ăn uống. Nhờ lang thang với bầy bò, Nam có dịp “cải thiện” bằng cách bẫy chim và thú rừng, đào sắn. Anh cũng trồng rau, bầu bí quanh khu chăn nuôi. Mỗi khi bò đẻ, Nam lấy nhau nấu ăn. Nam cũng hay cho tôi đồ “cải thiện” mỗi khi có dịp vào trại khám bệnh.

Một lần đi đỡ đẻ cho một sản phụ ở bệnh xá dân, tôi có dịp đi ngang qua gò đất mà Nam hay đem bò ra đó gặm cỏ. Đỉnh gò có một miếu hoang, tường gạch, mái ngói, song mang dấu tàn phá của thời gian. Miếu nằm trọn vẹn dưới bóng mát của một cây đa to lớn, có nhiều rễ phụ. Bên cạnh miếu có một nghĩa địa nhỏ. Nam cho biết là có quen một giáo viên chế độ cũ (VNCH), bị đày lên dạy ở trường tiểu học gần đó. Anh nầy thường gửi thư giúp Nam qua bưu điện, khỏi sự “kiểm duyệt” của trại. Nam dẫn tôi vào miếu và chỉ chỗ kín, để khi nào có dịp ghé qua, mà không có Nam, thì giấu thư vào đấy, và Nam sẽ gửi đi giúp. Tôi đã dùng lối nầy gửi thư về nhà vài lần cho đến khi Nam được phóng thích.

Nam ra trại được hai năm, thì bỗng một hôm, nghe nói có một “trại viên” cũ, treo cổ chết ở một cây đa ngoài trai. Lúc ấy, tôi không còn làm y tế nữa, không có dịp để kiểm chứng người chết là ai, song tôi vẫn ngờ ngợ người ấy là Nam. Cho đến khi tôi dược phóng thích. Tôi trở lại chỗ miếu hoang; vào chỗ kín mà trước kia tôi giấu thơ cho Nam gửi về nhà, xem thử. Nếu quả thật Nam đã trở lại đây tự tử, chắc Nam sẽ để lại cho tôi một lá thư tuyệt mệnh. Nam để lại cho tôi không những một lá thư, mà cả một tập nhật ký, viết trên những tờ giấy rời. Kể từ lúc Nam chết cho đến giờ đã năm năm rồi. Tập nhật ký bị mối mọt đục nhiều chỗ, phải dồn vào một bao nylon. Tôi trở ra, đứng dưới gốc cây đa, xem thử Nam đã treo cổ ở cành nào. Lá đa xanh nghít, xào xạc. Dưới chân đồi con sông lượn khúc, khói lam quyện vào mái tranh một căn nhà ven sông, vươn lên bầu trời xanh thẳm. Nam đã chọn chỗ để an giấc nghìn thu. Mộ Nam là một nấm đất nhỏ, cỏ mọc lưa thưa, trong nghĩa địa cạnh miếu. Một tấm bảng gỗ mang tên họ Nam cùng với ngày tháng chết cắm ở chân mộ. tôi quỳ xuống cầu nguyện cho Nam, mặc dù lúc sống, Nam là một Phật tử. Đang lúc suy tư, tôi nghe tiếng chân đạp trên lá sau lưng. Tôi quay lại, thì một trung niên bước tới giới thiệu. Hóa ra là ông giáo viên tiểu học, thường chuyển thư cho Nam ngày xưa. Ông với Nam đã thành bạn thân. Chính ông đã nhận là bà con với nam và xin với xã được chôn cất Nam trong nghĩa địa bên miếu. Ông kể là Nam đã ở lại nhà ông một đêm. Sáng ra Nam lên đồi và không trở lại nữa. Nam còn cẩn thận gửi cho ông giữ một số tiền vừa đủ để chôn cất Nam, trước khi ra đi. Ông cũng chôn theo Nam lon gô mà Nam đeo trên vai, bên ngoài có ghi: “tro của em yêu dấu”. Tôi cám ơn tấm thịnh tình của ông. Về Saigon, tôi giở nhật ký Nam ra xem:

“02-09-79. Hôm nay “quốc khánh XHCN”. Trước kia, miền Nam không có ngày lễ nầy, vì phe Quốc Gia mặc nhiên xem ngày đó là trò hề, khởi đầu cho “cách mạng vô sản quốc tế”, loại bỏ dần dần mọi tham gia của người yêu nước thuần tuý không Cộng Sản. Tất cả trại viên” đều được nghỉ lao động. Riêng chăn nuôi, thì phải dẫn bò đi ăn. Nằm dưới gốc cây đa, thấy những lá non gió đẩy đung đưa trên nền trời xanh, lại nhớ bài thơ:của Huy Cận

“Nằm im dưới gốc cây tơ,

Nhìn Xuân trải nhựa muôn tờ lá non:

Giữa trời hình lá con con,

Trời xa sắc biển lá thon mình thuyền.

Gió qua là gió triều lên,

Hây hây gió đẩy thuyền lên biển trời.

Chở hồn lên tận chơi vơi,

Muôn chèo của nhạc, muôn lời của thơ.

Bâng khuâng như thể bao giờ,

Lênh đênh nào biết bến bờ là đâu!”

“Cuộc đời có lắm buồn phiền, là bể khổ. Có những phút phiêu diêu như thế này, để quên thân phận tù đày. Vẫn nhớ Thu không nguôi. Lời bài hát “Nắng chiều” làm anh nhớ đến lúc chúng mình mới quen nhau: “Anh nhớ trước đây, dáng em gầy gầy, dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh”. Mẹ đã trở về làng cũ Túy La, sống với gia đình chú Chín, giúp chú làm tằm. mỗi năm mẹ thăm nuôi hai lần, cũng đơn sơ, đạm bạc. Mẹ cũng không có tin tức gì về Thu.

07-10-79. Gửi thư về cho Thu nhiều lần với địa chỉ nhà cũ ở Đà-nẵng, nhưng không có hồi âm. Không biết bây giờ, em trôi giạt về đâu. Chúng mình lạc nhau ngay ở bờ biển Sơn Chà (Sơn Trà) khi nhóm binh sĩ và sĩ quan Biệt động quân đứng thành vòng tròn, mỗi người trên tay một quả lựu đạn đã mở chốt. Khi họ la lên là “đồng bào hãy tránh xa”, anh và em mạnh ai nấy chạy. Nghe một loạt nổ chát chúa và hơi gió tạt từ sau đến. Họ tự tử tập thể, chắc là vì quá tuyệt vọng. Khi anh trở lại hiện trường, thấy cảnh người chết banh thây, mùi máu tanh tưởi, anh vội rời xa, vì nghĩ chắc là em đã thoát. Rất tiếc, là trong lúc hốt hoảng, anh quên không nắm tay em cùng chạy. Mặc dù lúc đó Việt cộng đang ở đèo Hải Vân bắt đầu pháo kích vào Sơn Chà, anh vẫn vừa chạy vừa ẩn núp, để tìm em. Tìm mãi em không được, anh trở về nhà cha nuôi em, song nhà vắng tanh. Anh ở lại đó, chờ em về. Song vẫn biệt tăm. Nghe lịnh “ủy ban quân quản” thành phố, anh ra trình diện, và bị tập trung vào Vĩnh Điện, rồi Kỳ Sơn…” (nhật ký bị rách nát nhiều trang không đọc được).

“… Xa em đã gần bốn năm. Chúng mình sống bên nhau chưa đầy sáu tháng. Những kỷ niệm thân thương không hề phai nhạt:

Bốn năm trời xa em,

Chúng ta mất biết bao ân ái mặn nồng.

Nhớ đến lúc bên nhau hai đứa trần truồng…

Khắn khít uyên ương, thiên đường nguyên thủy…

Anh quỳ bên em ngất ngây thờ lạy,

Vẻ mỹ miều của thân thể trinh nguyên,

Anh hôn lên vầng trán bình yên,

Lên đôi má hây hây say tình e thẹn.

Lên đôi môi nở hoa dâng hiến,

Ôi ngọt ngào là miệng lưỡi của em.

Hơi thở thơm tho, anh mãi mãi thèm…”

 (bài thơ lại bị mối đục thủng đoạn kế tiếp). Một mảnh giấy rời, có câu thơ còn đọc được. Bài thơ chắc dài, chỉ còn chục câu, gợi nhớ thương, lo lắng cho vợ lúc đi chăn bò.:

“Gió sớm mai mát rượi, như bàn tay yêu thương,

Biết bao giờ trở lại bên em, ôi cả một thiên đường!

Tiên Lãnh vào Thu, núi rừng đẹp lắm:

Trời lộng xanh cao, cỏ đồi dệt thảm,

Lấp lánh, lao xao, chạy theo nắng ấm,

Vẳng bên tai, chim gió, hát lưng trời.

Cảnh vật an bình, xao xuyến lòng người,

Ngồi dưới gốc cây đa, bên ngôi miếu cổ,

Nhìn đàn bò thong dong gặm cỏ,

Mà tâm hồn bay bổng, hướng về em.

Em ở nơi mô, cuộc sống có êm đềm!

Mà chẳng đến thăm anh tù đày khốn khó?

Lo cho em, chắc nhiều trắc trở,

Xin cầu Trời phù hộ cho em.

20-09-80. Được phóng thích ngày 28-08-80, nhân dịp “quốc khánh”. Trong giấy ra trại cho về nguyên quán làng Túy La. Hai mẹ con dựng một nhà tranh nhỏ, trên miếng đất ngày xưa, sớm chiều có nhau. Kỷ niệm thơ ấu, những ngày hồi cư đói khát, cha chết, không có vải làm khăn tang, trở lại trong giấc ngủ đầy ác mộng. Việc đầu tiên là tìm tông tích của Thu. Lên Giao Hòa hỏi thăm, chẳng có đầu mối gì, chỉ biết thêm là người giết cha mẹ Thu, đã vào tù vì tham nhũng, khi hắn ta làm “chủ tịch Hợp tác xã nông nghiệp quận”. Nghe nói, là hắn “có thể bị xử tử”.

09-10-80. Lo làm ăn, đầu tắt, mặt tối, mà chỉ đủ hai mẹ con, ngày hai bữa, ăn bắp, ghế cơm. Mẹ nhắc hồi nhỏ, mình nói ngọng, kêu bắp là bú, kêu gạo là gụ, và năn nỉ nấu “nửa bú, nửa gụ” cho dễ ăn. Nay hai mẹ con ăn “nửa bú, nửa gụ” thế là tốt rồi. Ra Đà-nẵng nhiều chuyến dò la tin tức Thu. Lúc nào cũng khấn thầm Trời Phật phù hộ tìm ra tông tích nàng. Mộng mị thấy nàng trong giấc ngủ thường xuyên. Tình cờ một hôm vào quán mì Quảng gần chợ Cồn, gặp lại Thúy, bạn học Thu, nay là giáo viên tiểu học. Thúy nói là rất mừng, gặp lại tôi, để thông báo là có thể Thu đã chết trong ngày chạy loạn ở Sơn Chà. Tôi bàng hoàng chết điếng. Em Thu! Em ra đi không một lời từ biệt! Thúy cho biết là cùng Thu chạy về mũi Sơn Chà, giữa rừng người hoảng hốt. Một quả đại bác rơi gần đó. Khi Thúy chổi dậy, thấy chung quang người chết nằm la liệt. Thu nằm bất động, rên khe khẻ, máu rỉ ra từ một vết thương trên trán. Thu thều thào nhờ Thúy báo tin cho Nam. Sau đó Thúy may mắn xuống một thuyền nhỏ ra tàu Mỹ đậu ngoài khơi, vào được Saigon. Lúc trở về Đà nẵng, thì chẳng biết tôi ở đâu để nhắn tin.

12-10-80. Có người mách là có thể đến bệnh viện Đà-nẵng xem danh sách những người bị thương và chết được xe cứu thương mang về đó trong những ngày cuối thắng 03-75. Tôi đến nhà xác bệnh viện. trong quyển sổ cũ, giấy đã vàng, tôi tìm được tên em. Phải lên nghĩa địa Hòa Khánh để tìm mộ. Song mộ lại dời đi Gò Cà trong đợt dời mộ năm 1976 do “lệnh chung của tỉnh”. Nghĩa địa Gò Cà mênh mông, bao trùm nhiều đồi trọc cát sỏi. Cũng may, là anh ra tù sớm. Mộ bia của em, một tấm gỗ nhỏ, đã ngã nằm ra đất, chữ viết bằng loại sơn xấu đã nhòe nhoẹt dưới nắng mưa. Anh bới mộ em lên. Không nhầm lẫn được: hàm răng dưới em có chiếc răng cời bên trái. Trán còn mang lỗ thủng mà chị Thúy có nhắc đến. Chiếc áo lụa em bận ngày chạy loạn chưa hư nát hết. Lượm từng cái xương của em, mà nước mắt tuôn ra không ngớt. Em nhìn anh bằng cặp mắt của hư vô. Bỏ xương vào một hủ sành, anh mang về Túy La.

11-11-80. Cái thằng thôn trưởng thật hắc ám. Mỗi tuần hắn bắt trình diện một lần và khai báo, mặc dù chẳng có gì lạ. Những tạp dịch trong thôn, hắn bắt mình “xung phong” làm. Ngay chuyện gỡ mìn quanh đồn bót cũ, cũng là mình. Lúc nào cũng coi mình là “thù địch”. Trồng dâu, hái dâu, làm cỏ, nuôi tằm, công việc xoay như chong chóng. Những ngày giữ bò còn “sướng” hơn bây giờ.

Đã đốt xương em, cho vào một lon gô, để ở đầu giường, để được gần gụi em. Tối tối, lại trò chuyện cùng em. Trong lòng anh chẳng ai thay thế được em. Có nhiều cô gái trong thôn tỏ tình, nhưng anh dửng dưng, nguội lạnh. Tâm hồn giống như một ông già. Những lúc cô đơn, hay làm việc một mình, tự nhiên lại thốt lên: “đời sao buồn quá” hoặc ngâm se sẽ: “buồn ơi xa vắng, mênh mông là buồn”. Bái hát của Từ Công Phụng nói về nỗi cô đơn, khi người yêu đã mất nghe thấm thía quá: “kể từ khi em đem cô đơn mọc lên phố vắng, khi em đem nụ cười khỏi đời, từng chiều rơi, ta nghe như cõi lòng tê tái. Nghe giữa đời còn gọi tên nhau”. Đoạn giữa của bài hát đúng như lúc chúng mình đứng ở bãi biển Sơn Chà, một đêm sao sáng đầy trời, em ngước mắt nhìn anh, chờ đón nụ hôn, trong khi bài tình ca du dương, từ một quán xa vọng tới: “ngày ấy cho nhau một lần, một lần tiếng hát đồng lõa, đưa anh vào vùng trời lấp lánh, bằng những ánh sao trời vào đôi mắt ngước trìu mến”. Anh muốn tìm lại ánh mắt của em ở thế giới bên kia!

06-12-80. Những bài học về tư tưởng yếm thế hay quanh quẩn trong đầu. Có một thi sĩ Tầu không nhớ tên, đã viết:

“Tích ngã vị sinh thì,

Minh minh vô khả tri.

Thiên công hốt sinh ngã.

Sinh ngã lục hà vi?

Vô y sử ngã hàn,

Vô phạn sử ngã cơ,

Hoàn nhỉ thiên sanh ngã,

Hoàn ngã vị sinh thì”.

Tạm dịch:

“Khi tôi chưa sinh ra,

Hỗn mang nào có biết.

Trời bỏ tôi ra đời,

Ôi số phận cay nghiệt,

Không áo để che thân

Không cơm đói muốn chết,

Trả lại Trời công sinh

Trả lại tôi thời chẳng biết”.

Cuộc đời bi thảm quá. Chỉ muốn trở về với hư vô, (nhật ký rách vụn nhiều trang). Mấy trang chót còn đọc được:

15-07-82. Mẹ đã ra đi một cách êm thắm. Thường ngày mẹ dậy rất sớm. Song hôm nay mặt trời đã lên cao mà mẹ vẫn chưa thấy dậy. Lại giường mẹ xem sao, thấy sắc mặt hơi tái, sờ tay thấy lạnh ngắt. Thì ra, mẹ đã ra đi trong giấc ngủ. Mẹ lúc nào cũng sống âm thầm như chiếc bóng. Lúc giã từ vĩnh viễn, mẹ cũng không muốn quấy rầy con. Thương mẹ, thương em quá chừng. Ma tang đơn giản. Chôn mẹ cạnh mộ cha sau vườn:

Bởi con nghèo, nên mẹ chết âm thầm,

Kẻ giàu có, thì linh đình ngày xuống huyệt.

Mẹ chết rồi, con không còn gì để ràng buộc với thế gian này nữa. Con muốn trở về gốc cây đa, mà con đã trải qua nhiều giờ phút suy tư về kiếp sống con người, và yên nghỉ cùng Thu. Ở một nghĩa địa cổ Hy Lạp, người ta phát giác một bia mộ ghi những lời sau đây: “hỡi những người qua đường, hãy nhẹ chân, vì đêm nay là đêm cuối cùng ta ngủ được ngon giấc”. Ông ta lúc sống chắc trải qua những khổ đau cùng cực, nên mất ngủ triền miên. Tôi thì không đến nỗi như ông, song giấc ngủ dài yên lặng của nấm mồ, tôi thầm mong ước được như thế”.

Thì ra, nhật ký không viết cho tôi. Mà chỉ là những gửi gắm riêng tư. Nam cũng không ngờ là tôi trở lại miếu hoang nầy. Chiến tranh, chết chóc, chia ly, thời thơ ấu thiếu thốn, đau buồn đã hằn lên tâm hồn Nam nhiều đau thương!

Cha chết sớm, chưa kịp dạy Nam yêu đời. Nếu Thu còn sống, chắc Nam cũng yêu đời như ai.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

(Trích trong: Tình Yêu Hiện Sinh Một Kiếp Người)


 

Tổng thống Mỹ Donald Trump đẩy mức thuế quan với toàn thế giới lên 15 %

RFI

Tổng thống Donald Trump thông báo hai mức thuế bổ sung trong hai ngày để khẳng định thẩm quyền trong cuộc đọ sức với Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ. Hôm 21/02/2026 ông thông báo nâng thuế bổ sung lên 15 % thay vì 10 % với toàn cầu, như sắc lệnh mà chính ông đã đặt bút ký một ngày trước đó. 

Đăng ngày: 22/02/2026 

Ảnh tư liệu: Tổng thống Donald Trump thống báo mức thuế đối ứng với các đối tác thương mại của Mỹ trên thế giới, ngày  02/04/2025, tại Nhà Trắng, Washington.
 

Ảnh tư liệu: Tổng thống Donald Trump thống báo mức thuế đối ứng với các đối tác thương mại của Mỹ trên thế giới, ngày 02/04/2025, tại Nhà Trắng, Washington. AP – Mark Schiefelbein

Thanh Hà

Đây là bước kế tiếp hai ngày sau phán quyết của Tối Cao Pháp Viện, bác bỏ phần lớn các mức thuế đối ứng « mang tính trừng phạt » đánh vào hàng nhập khẩu từ nhiều nước mà tổng thống Donald Trump đưa ra.

Washington không còn áp mức thuế bổ sung 10 % mà sẽ là 15 % nhắm vào hàng xuất khẩu của thế giới sang Hoa Kỳ. Hôm 21/02/2026, tổng thống Trump trên mạng xã hội viết : « Với cương vị tổng thống Hoa Kỳ, tôi tăng mức thuế hải quan đang từ 10 % lên thành 15 % ». Quyết định « có hiệu lực ngày lập tức ». Trở lại với phán quyết của Tối Cao Pháp Viện Mỹ cho rằng trên vấn đề thuế hải quan, Donald Trump đã « vượt quá quyền hạn » tổng thống, lãnh đạo Nhà Trắng đánh giá đây là một quyết định « lố bịch » và « cực kỳ » mâu thuẫn với những lợi ích của nước Mỹ.

Từ New York thông tín viên Loubna Anaki ghi nhận, phản ứng của ông Trump gây thêm hoang mang cho công luận Mỹ và thế giới:

« Việc Donald Trump quyết định nâng các mức thuế quan mới  từ 10% lên 15% chỉ trong vòng chưa đầy 24 giờ, rõ ràng là dấu hiệu cho thấy tổng thống Mỹ vẫn chưa nguôi giận sau vố đau Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã giáng cho ông.

Chiểu theo đạo luật mà ông căn cứ vào, 15% là mức thuế tối đa tổng thống Trump được phép áp đặt. Mức thuế này sẽ chỉ có hiệu lực trong 150 ngày tới. Từ nay đến đó, tổng thống Hoa Kỳ cam kết, “sử dụng mọi biện pháp pháp lý trong khả năng để áp đặt các mức thuế quan mới”.

Các diễn biến nói trên cho thấy một giai đoạn bất ổn kéo sẽ diễn ra cho dù hiện tại các thị trường tài chính đã phản ứng tích cực. Tuy nhiên, chính các doanh nghiệp nhỏ, vốn đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc chiến thương mại của ông Donald Trump, có nguy cơ gặp nhiều khó khăn nhất.

Một trong những câu hỏi lớn hiện nay liên quan đến khả năng hoàn trả tiền thuế. Vì các mức thuế quan của Donald Trump đã bị coi là không hợp lệ, về mặt kỹ thuật, chính quyền trên nguyên tắc phải hoàn trả các khoản tiền đã thu nhờ các biện pháp này. Hôm qua, khi được hỏi về vấn đề cụ thể nói trên Donald Trump đã gạt câu hỏi này sang một bên. Điều này dường như đang mở ra viễn cảnh một cuộc chiến pháp lý dài hơi ».

Một đại họa với kinh tế Mỹ

Chính sách của Donald Trump phần lớn dựa trên chiến lược tăng thuế quan. Tổng thống Mỹ hứa hẹn sẽ tạo ra nhiều việc làm tại các nhà máy và giúp giảm giá thực phẩm. Ngân sách Liên bang cũng dựa vào nguồn thu này để tài trợ cho việc cắt giảm thuế doanh nghiệp và giảm thuế cho những người Mỹ giàu nhất. Thuế quan chủ yếu nhằm mục đích giảm thâm hụt ngân sách của Mỹ, và về mặt lý thuyết, trong năm nay có thể mang lại nguồn thu lớn hơn cả thuế doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trên thực tế, theo các dự báo mới nhất từ ​​Văn phòng Ngân sách Quốc Hội Mỹ, ước tính các chính sách của Donald Trump sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách nhà nước thêm 1,4 nghìn tỷ đô la trong 10 năm (2026 – 2035). Việc điều chỉnh theo hướng giảm doanh thu thuế quan dự kiến, theo phán quyết của Tòa án Tối cao, ​​sẽ làm trầm trọng thêm xu hướng này, vốn đã dự kiến ở mức 6% GDP trong 10 năm nói trên.

Dấu hiệu xấu này có nhiều nguy cơ sẽ đẩy lãi suất lên cao. Đó là chưa kể đến các khoản trả nợ sẽ phải thực hiện sau khi giảm thuế quan, với tổng số tiền bồi hoàn có thể vượt quá 170 tỷ đô la. Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ cũng chỉ rõ, người tiêu dùng và doanh nghiệp Mỹ gánh chịu đến 95% tổng số tiền mà chính sách thuế quan của tổng thống Trump được cho là mang lại cho ngân sách Liên bang.