Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Joseph Phạm Nguyên

Phép lạ chấn động: Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Vào tháng 7 năm 2022, Valeria Valverde (21 tuổi) – một sinh viên đại học người Costa Rica đang du học tại Florence – đã bị ngã xe đạp và đập đầu xuống đất. Cú ngã khiến cô bị chấn thương sọ não nghiêm trọng và xuất huyết não diện rộng, rơi vào tình trạng hôn mê sâu. Các bác sĩ nói với bà Liliana, mẹ của Valeria, rằng cơ hội sống sót của cô gần như bằng không.

Trong niềm tuyệt vọng, bà Liliana đã thực hiện một cuộc hành hương đến mộ Chân phước Carlo Acutis tại Assisi. Bà đã dành nhiều giờ đồng hồ để cầu nguyện, tha thiết xin vị “tông đồ mạng” trẻ tuổi – người nổi tiếng với lòng sùng kính Bí tích Thánh Thể – chuyển cầu cho con gái mình.

Và điều xảy ra tiếp theo là một phép lạ đã được Giáo hội chứng thực!

Chỉ vài giờ sau lời cầu nguyện của người mẹ, Valeria bắt đầu tự thở được. Trong vòng 10 ngày, cô tỉnh lại sau cơn hôn mê, phục hồi hoàn toàn khả năng vận động thần kinh. Kết quả chụp phim cho thấy khối xuất huyết đại não đã hoàn toàn tan biến mà không để lại bất kỳ di chứng nào. Cô bình phục một cách thần kỳ và sau đó đã cùng mẹ trở lại Assisi để tạ ơn Thánh Carlo.

Phép lạ này đã được Vatican chính thức công nhận và là điều kiện quyết định dẫn đến việc phong Thánh cho Carlo Acutis. Trong Thánh lễ tuyên thánh, chính Valeria là người đã lên đọc lời nguyện tín hữu.

Bài học cho chúng ta:

Các Thánh vẫn luôn đồng hành: Các vị Thánh, ngay cả những vị trẻ tuổi như Carlo (qua đời khi mới 15 tuổi), vẫn luôn chuyển cầu một cách mạnh mẽ cho chúng ta từ Thiên đàng.

Sức mạnh của lời cầu nguyện: Lời cầu nguyện kiên trì của một người mẹ hòa quyện với niềm tín thác sâu xa thực sự có thể “lay chuyển cả núi non”.

Chúa vẫn đang hành động: Trên hết, Thiên Chúa vẫn đang thực hiện những phép lạ thời hiện đại để củng cố đức tin của chúng ta và nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài.

Lời Nguyện:

Lạy Thánh Carlo Acutis, vị tông đồ của Bí tích Thánh Thể, xin chuyển cầu cho tất cả những ai đang đau yếu hoặc tuyệt vọng. Lạy Chúa Giêsu, xin chữa lành chúng con qua lời cầu bầu của ngài. Amen.

Bạn hoặc người thân đã từng trải qua ơn chữa lành nào nhờ sự chuyển cầu của các Thánh chưa? Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn ở bên dưới nhé — lời chứng của bạn có thể truyền cảm hứng cho rất nhiều người đấy!

Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#PhepLa #CacThanh #ThanhCarloAcutis #DucTin #TinThacVaoChua #CongGia


 

Làm sao “vui để đợi chết” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Hắn cứ hay suy nghĩ vẫn vơ. Tới tuổi “bát thập” rồi, hắn luôn tạ ơn Chúa vì hắn còn sống, còn đi đứng được, còn ăn uống được, lại được sống ở nước Mỹ đầy đủ tiện nghi và tự do nhất thế giới. Dầu vậy, hắn cũng hiểu rằng, tới tuổi 80, 81 rồi hắn sẽ ngã bịnh nặng bất cứ lúc nào?

+ Sẽ bị bịnh gì chưa biết; cao máu, tiểu đường, cao mở, stroke rồi bị liệt, mất trí nhớ (Alzheimer)… Nếu khi bị Stroke hay Alzheimer hắn sẽ không thể nói cho con cháu nghe được nữa, nên hắn muốn viết trước vài suy nghĩ, đ lại cho con cháu.

Hắn viết:Sinh Lão Bịnh Tử đó là con đường ta phải trải qua trong cuộc sống nhân sinh này. Ta được sinh ra không được hỏi ý kiến vì ta chỉ là đứa trẻ nít, chưa biết gì. Khi già lão thì biết, sức khỏe càng ngày càng suy yếu, hay mệt nhọc, không còn làm việc nhiều được nữa. Chạy xe gần thì được. Chạy xe đi xa hơn 30 phút là thắm mệt. Đọc sách cũng không còn tha thiết như xưa nữa. 

Sáng thức dậy, cứ muốn ngủ thêm, dậy không nổi, không thấy khoẻ như trước của tuổi U70”.

1)Có một điều không dự đoán được là:

+Chắc chắn là sẽ bị bịnh gì đó rất nặng, sẽ nằm nhà thương hay nằm tại nhà bao lâu rồi mới ra đi. Rồi cũng phải chịu đựng tình trạng không tự lo cho mình được? Không tự đánh răng được, không mặc áo quần được, không tự ăn uống được, không thể đi lại được chỉ nằm chờ chết là bao lâu?

+Sẽ chết như thế nào? Chết ở nhà hay ở nhà thương?

+Khó khăn là ta phải đương đầu với bịnh tật. Khi bị bịnh nặng, ta sẽ buồn rầu chán nản, than thân, trách móc Chúa, gây gỗ với người chung quanh. Làm sao sống vui vẻ, không than thân, khóc lóc lúc bị bịnh nặng. Làm sao không gây sầu khổ, đau buồn, lo lắng cho con cháu, cho gia đình, cho người thân, bạn bè, bà con? Làm sao không gây lo lắng, khó khăn cho người chung quanh.Vô cùng khó.

Chỉ có thường suy nghĩ về sự bịnh hoạn, về sự đau đớn thể xác, sự đau khổ về tinh thần, sống dựa vào Chúa, nhờ ơn Chúa giúp sức, may ra mới chịu đựng được những đau đớn, khổ sở của bản thân mình?

2)Đối diện với đau khổ chúng ta phải có thái độ như thế nào?

+Để có thể chịu đựng được đau đớn thể xác và đau khổ về tinh thần? Làm sao chấp nhận những khó khăn, đau khổ đó ở đời này. Xem những đau khổ, khó khăn đó là món quà hy sinh, chịu đựng, dâng lên Chúa.

Ở Mỹ không có thiếu thốn về vật chất nhưng cũng không thoát khỏi sự đau khổ về tinh thần.

Ở Việt Nam nhiều người thiếu thốn về vật chất, gặp nhiều khó khăn, đau khổ. Còn những người giàu không thiếu thốn về vật chất, nhưng họ vẫn phải chịu đựng sự đau khổ về tinh thần, như con cái không chịu học hành, bỏ nhà đi bụi đời, chồng hoặc vợ ngoại tình, gia đình ly tán… 

Bịnh tật và sự chết không chừa một ai. Đó là quy luật sinh lão bịnh tử.

+Trước những vấn đề đau khổ đó thái độ của chúng ta như thế nào mới là quan trọng?

Trong bài: “Đối Diện Với Đau Khổ” (trích Bài học Kinh Thánh Hằng ngày)

“Khi đối diện với đau khổ, con người có khuynh hướng than thân trách phận, trách cả Đức Chúa Trời, thậm chí có người còn chối bỏ đức tin. Nhưng ông Gióp trong mọi đau khổ xảy đến vẫn không phạm tội và không hề nói lời nào trách móc hay phạm thượng với Chúa. Khi nhận biết sự tể trị của Chúa trên cuộc đời mình, chúng ta có thể sấp mình thờ phượng, cầu nguyện, và ngợi tôn Chúa ngay cả trong cơn khủng hoảng nhất xảy đến cho mình. Bạn từng đối diện với những đau khổ nào? Bạn đã phản ứng ra sao? Gương của ông Gióp nhắc nhở bạn điều gì?

Lạy Chúa, khi cuộc đời con chan đầy nước mắt, con vẫn tin rằng Chúa ngự trên cao, tình yêu Ngài vẫn phủ trùm mặt đất, và quyền năng Ngài vẫn tỏa vượt trăng sao”

https://www.facebook.com/BaiHocKinhThanhHangNgay/posts/1087260497958032/

 3)Tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau đớn, đau khổ.

Sống lạc quan, vui vẻ, tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (Tx 5, 18). Tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau đớn về thể xác, tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau khổ về tinh thần. Không biết có làm được không? 

Khi tâm hồn lạc quan, sống vui thì ngay lúc chết, sự vui vẻ lạc quan đó giúp cho linh hồn tràn ngập niềm vui để về với Chúa, hưởng phúc thiên đàng. 

Phùng Văn Phụng

 04 tháng giêng năm 2023

Xem thêm:

+Bài Học Tịnh Tâm

https://keditim.net/?p=124786

+Vui Để Đợi Chết

Vui để đợi chết.     

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ DIỄN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.

“Đừng cố tỏ ra là một vị thánh; hãy thành thật là một tội nhân!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những người sống cả đời để tỏ ra là một vị thánh; goá phụ trong Tin Mừng hôm nay thì khác. Dưới ánh mắt Chúa Giêsu, cô ‘không còn gì để diễn’.

Tin Mừng hôm nay mở ra như một sân khấu tôn giáo. Các kinh sư tìm danh dự; những người giàu tìm khoe khoang. Họ gây chú ý bằng những khoản dâng cúng lớn. Chúa Giêsu không quan sát số tiền hay vẻ bề ngoài; Ngài đọc điều ẩn phía sau. Trước Ngài, mọi vai diễn thánh thiện đều mờ nhạt, và sự thật tâm hồn được phơi bày. “Khiêm nhường là sống trong sự thật!” – Têrêxa Avila.

Một goá phụ xuất hiện. Cô không trình diễn lòng đạo đức. Chúa Giêsu nói cô đã “bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Bản Vulgata chỉ dùng một động từ rất đơn sơ: misit – “đã bỏ vào”. Nhưng dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, điều quyết định không phải là cái được bỏ vào, mà là cái không được bỏ vào: phần dư hay chính sự sống. Những người khác vẫn còn để giữ lại; cô thì không. Không còn khoảng cách nào giữa điều cô trao và chính con người cô. Trước mặt Thiên Chúa, cô ‘không còn gì để diễn’.

Điều đáng suy nghĩ là những vai diễn tôn giáo thường không khởi đi từ sự xấu xa, nhưng từ nỗi sợ. Sợ bị xem thường, sợ phải đối diện với sự nghèo nàn thật của bản thân. Vì thế, người ta dễ khoe mẽ, loè bằng cấp hay những biểu hiện đạo đức để che phủ những khoảng trống bên trong. Goá phụ này thì khác. Cô không còn gì để giữ ngoài niềm tín thác vào Chúa. Chính sự nghèo khó ấy làm nên tự do của cô, giải phóng cô khỏi nhu cầu phải chứng minh bất cứ điều gì với bất cứ ai.

Một trong những ngẫu tượng nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng là mê chính mình; người ta dễ nói về mình hơn là nói về Chúa, tìm kiếm sự chú ý hơn là tìm vinh quang Ngài. Vì thế, Phaolô nhắn nhủ: “Hãy tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh!”. Chỉ khi thoát khỏi sức hút của cái tôi, người môn đệ mới có thể “tường thuật ơn cứu độ Ngài ban” – Thánh Vịnh đáp ca. Đó là những môn đệ trưởng thành không còn bận trình bày bản thân, nhưng bận rộn với sứ vụ “lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Goá phụ hôm nay không chỉ là một tấm gương đạo đức; cô còn báo trước điều Đức Kitô sẽ thực hiện cách trọn vẹn. Cô dâng toàn bộ sự sống, Ngài trao chính sự sống; cô không còn gì để dâng, Ngài không còn gì để giữ. Trên đồi Sọ, mọi vinh quang bị tước bỏ, chỉ còn lại một tình yêu trao hiến đến cùng. Điều làm chúng ta sợ không phải là nghèo, nhưng là bị nhìn thấy đúng như mình là. Vậy mà chỉ khi không còn cố tỏ ra là một vị thánh, chúng ta mới dám nhìn nhận mình là một tội nhân ‘không còn gì để diễn’ trước Thiên Chúa. Và chính ở đó, ân sủng bắt đầu. “Ân sủng mặc lấy con người thật của chúng ta, chứ không phải con người chúng ta giả vờ là!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con thôi diễn, thôi chứng minh, thôi che giấu; để ân sủng Ngài tìm thấy con trong sự thật – một tội nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,38-44

38 Khi ấy, trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói với đám đông dân chúng rằng : “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. 39 Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. 40 Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.”

41 Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. 42 Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. 43 Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói : “Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. 44 Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.”


 

Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt…được tặng lại một căn nhà

Sự Thật Lề Đường (STLĐ)Hai Phan

 Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt (đang sống vô gia cư, phải ngủ trong tiệm), tặng bữa ăn miễn phí, vài tuần sau được tặng lại một căn nhà

Theo bản tin GMA và ABC News hôm 4/6/2026, bản tin của phóng viên Shafiq Najib, tựa đề “Vietnamese restaurant owner gave a free meal. Weeks later, her life changed” (Chủ nhà hàng người Việt tặng bữa ăn miễn phí; vài tuần sau, cuộc đời bà đã thay đổi).

Một cụ bà, chủ tiệm ăn người Việt 86 tuổi – người có lòng hào phóng từng lay động hàng triệu trái tim trên mạng – vừa nhận được món quà thay đổi cuộc đời mình, nhờ vào một chiến dịch gây quỹ lan truyền rộng rãi giúp bà có được một ngôi nhà mới.

Cụ bà Lieng Le, chủ quán Café Bích Nga ở Pinellas Park, tiểu bang Florida, đã trở thành hiện tượng mạng vào tháng 4/2026 vừa qua. Sự việc bắt đầu khi Julian Becerra, một nhà sáng tạo nội dung 24 tuổi, đăng tải video quay cảnh bà từ chối nhận tiền cho bữa ăn tại quán, dù anh là vị khách đầu tiên ghé đến sau nhiều giờ vắng vẻ.

Trong video, bà Lieng từ chối nhận tiền boa từ Becerra – người đã dành lời khen ngợi cho món ăn của bà.

“Sẽ thật tuyệt vời biết bao nếu quay lại đây sau một tuần nữa và thấy quán đông nghịt khách. Hãy cùng biến điều đó thành hiện thực nhé,” Becerra viết trong phần chú thích bài đăng.

Vài ngày sau, trong phần bình luận của một video tiếp theo về nhà hàng, Becerra chia sẻ rằng anh “vừa biết tin bà Lieng đã rơi vào cảnh vô gia cư suốt thời gian qua” và phải ngủ trên chiếc ghế xếp tại sảnh nhà hàng mỗi đêm sau khi làm việc vất vả cả ngày.

Becerra cho biết anh đã khởi xướng một chiến dịch gây quỹ “để giúp đỡ bà,” đồng thời kêu gọi mọi người cùng chia sẻ và quyên góp.

Theo Becerra, chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đã đạt gần 127.000 USD. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc 200.000 USD.

Vào ngày 1 tháng 6/2026, với sự hỗ trợ từ các tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp địa phương, Becerra đã trao tận tay bà Lieng tấm séc chứa số tiền quyên góp, cùng một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi chỉ cách Café Bích Nga vài phút di chuyển.

Cũng trong ngày hôm đó, Becerra đã thông báo cột mốc đáng nhớ này qua một bài đăng đầy xúc động trên mạng xã hội.

“Cộng đồng mạng ơi, chúng ta đã làm được rồi,” anh viết trên Instagram. “4 tuần trước, tôi đăng bài về một người phụ nữ sống ngay trong quán cà phê của mình mà không có bất cứ tài sản nào. Còn hôm nay, bà đã có một mái nhà.”

“Cả thế giới đã chung tay quyên góp đủ số tiền để bà Lieng không bao giờ phải lo lắng về các hóa đơn chi phí trong suốt phần đời còn lại của mình,” anh chia sẻ thêm. Chia sẻ với ABC News về sự bất ngờ này, bà Lieng gửi lời cảm ơn đến những người đã ủng hộ và quyên góp cho mình; bà bày tỏ niềm hạnh phúc, nói rằng mình “vui, thực sự rất vui”.

Cụ bà Lieng kể với ABC News rằng bà đã không có nơi ở ổn định trong nhiều năm sau khi gặp khó khăn tài chính do đại dịch COVID-19, khiến bà chật vật xoay xở tiền thuê nhà và các nhu yếu phẩm khác.

“Không có tiền trả hóa đơn, không có tiền trả tiền thuê nhà… không có tiền,” bà nói. “Cũng không có tiền mua thức ăn nữa.”

Ông Becerra chia sẻ với ABC News rằng sau khi dành thời gian trò chuyện với bà Lieng, ông biết được bà làm việc hơn 90 giờ mỗi tuần và hiếm khi nghỉ ngơi, ngay cả khi gặp vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả bệnh viêm phổi.

Bất chấp mọi khó khăn đó, ông cho biết bà Lieng vẫn luôn chú tâm vào việc giúp đỡ người khác.

“Bà Lieng là kiểu người sẵn sàng nhường cả chiếc áo đang mặc trên người cho người khác nếu cần thiết,” ông nói. “Lý do câu chuyện của bà chạm đến trái tim mọi người là vì xét về mặt vật chất, bà Lieng chẳng có gì nhiều cả. Tuy nhiên, điều duy nhất bà sở hữu chính là nụ cười. Mỗi ngày trôi qua, bà đều cảm thấy biết ơn vì mình vẫn đang sống.”

Chủ quán ăn này cho biết bà đã di cư đến Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam và điều hành quán Café Bích Nga từ năm 2009.

Khi được hỏi tại sao lại mời ông Becerra một bữa ăn miễn phí trong lần đầu gặp gỡ, bà Lieng đáp: “Tại sao lại không mang lại niềm vui chứ? Miễn là mọi người cảm thấy vui vẻ là được.”

Giờ đây khi đã ổn định cuộc sống tại ngôi nhà mới, bà Lieng cho biết bà vẫn vô cùng xúc động trước sự ủng hộ mà mình nhận được.

“Tôi xin cảm ơn tất cả mọi người,” bà nói. “Tôi xin cảm ơn.”

Đối với ông Becerra, câu chuyện này suy cho cùng là về lòng biết ơn.

“Mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn không có gì sai cả, nhưng điều đó không nên đánh đổi bằng sự hài lòng với những gì mình đang có ở hiện tại,” ông nói. “Tôi nghĩ đó mới chính là chìa khóa thực sự dẫn đến hạnh phúc.”

PHOTO: Cụ bà Liêng Lê và Becerra, người YouTuber phỏng vấn cụ bà. (Hình YouTube).

XEM TIẾP: https://vietbao.com/a325460/fl


 

Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo – Cha Vương

Mến chúc bạn và gia đình ngày thứ 6 đầu tháng zui zẻ, khoẻ mạnh, thật can đảm và mạnh mẽ trong đức tin-cậy-mến. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 5/6/2026.       (t5-25)

Thánh Boniface, vị tông đồ của người Ðức, là một đan sĩ người Anh thuộc Dòng Biển Ðức, đã hy sinh vinh dự khi được chọn làm đan viện trưởng để tận hiến cuộc đời trong việc hoán cải các sắc tộc ở Ðức. Ngài có hai đặc tính nổi bật: Kitô Giáo chính truyền và trung thành với đức giáo hoàng ở Rôma.

   Thánh Boniface, tên thật là Wilfrith, sinh ở Anh Quốc. Ngay khi còn nhỏ, hình ảnh cao quý của các đan sĩ truyền giáo đã in sâu trong tâm khảm của ngài, do đó, khi bảy tuổi ngài đã nài nỉ xin theo học trường dòng, dù rằng cha ngài mong muốn cho con một sự nghiệp ở ngoài đời.

   Lớn lên, ngài làm giám đốc một trường học ở Nursling, Winchester, tại đây ngài là người đầu tiên viết về văn phạm Latinh bằng tiếng Anh, cũng như sáng tác nhiều bài diễn giảng được nhiều người sao chép và phổ biến.

Năm ba mươi tuổi, ngài được thụ phong linh mục và đi rao giảng ở Friesland (thuộc Hòa Lan bây giờ), nhưng không bao lâu ngài phải trở về Nursling vì cuộc chiến giữa vua ngoại giáo của Friesland và Charles Martel của Pháp.

Sau cái chết của đan viện trưởng, các đan sĩ ở Nursling tìm cách giữ chân ngài bằng cách bầu ngài làm đan viện trưởng, nhưng ngài đã từ chối để tận hiến cho công cuộc truyền giáo.

   Năm 718, ngài đến Rôma để gặp Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô II, là người sai ngài đi truyền giáo cho người Ðức ở Hesse và Bavaria. Ở Hesse, trước sự hiện diện của đám đông người ngoại giáo rất tin dị đoan, ngài đã chặt cây Sồi Thần Linh ở Geismar to lớn và già nua, được dân ngoại dâng cúng cho thần Thor. Người ta kể chỉ sau vài nhát rìu, cây sồi đã lung lay và sụp đổ, tách ra làm bốn cho thấy sự mục nát bên trong. Ðó là khởi đầu của một công cuộc truyền giáo rất thành công của Thánh Boniface và cũng là hạt giống đức tin cho một giáo hội đầy sinh lực ở Ðức, mà sau này Thánh Boniface được tấn phong làm giám mục ở đây. Ngài xin các Kitô Hữu ở Anh hỗ trợ công cuộc truyền giáo của ngài và họ đã đáp ứng với tài chánh, sách vở, vật liệu, và nhất là thường xuyên cung cấp các đan sĩ để giúp đỡ ngài trong việc giảng dạy.

   Thánh Boniface không chỉ hạn chế hoạt động ở nước Ðức. Ngài còn giúp hình thành sự tương giao giữa Ðức Giáo Hoàng và các vua ở Ý cũng như ở Pháp. Ngài thúc giục các thái tử kế vị vua Charles của Pháp triệu tập công đồng để cải tổ giáo hội trong các phần đất của họ, là nơi chức giám mục được bán cho những người trả giá cao nhất.

       Ngài không bao giờ quên sự thất bại ở Friesland, do đó khi về già, ngài từ chức giám mục và trở về hoạt động ở đây với sự thành công đáng kể.

Vào một ngày trong tháng Sáu năm 754, khi ngài đang chuẩn bị cho người Friesland chịu phép Thêm Sức thì tất cả bị tấn công và bị giết chết bởi các chiến sĩ ngoại giáo.

LỜI BÀN: Thánh Boniface xác nhận một quy tắc của Kitô Giáo: Theo Ðức Kitô là theo con đường thập giá. Ðối với Thánh Boniface, con đường đó không chỉ là sự đau khổ phần xác hay cái chết, mà cả sự đau khổ vì bị sỉ nhục, vô ơn trong việc cải tổ Giáo Hội. Vinh dự của truyền giáo là đem người ngoại giáo trở về với Giáo Hội. Nhưng dường như, việc chấn chỉnh đức tin ngay trong lòng Giáo Hội, là một việc rất cần thiết, thì ít người lại cho đó là một vinh dự.

LỜI TRÍCH: Chúng ta phải bền vững trong những gì là chân lý và chuẩn bị linh hồn cho những thử thách… Ðừng là những con chó không dám sủa hay im lặng nhìn xem, và cũng đừng là người tôi tớ trốn chạy trước đàn sói. —Thánh Boniface.  

(Nguồn: dòng tên VN-hạnh các thánh)

From: Do Dzung

*****************************

Theo Dấu Chân Ngài – Sáng tác: Sr Trinh Nguyên – Trình bày: Sr Hạ Phương


 

CHÂN DUNG TƯỚNG MỸ “XÂM LƯỢC”

Thái Bá Tân Vt

CHÂN DUNG TƯỚNG MỸ “XÂM LƯỢC”

MacArthur đến Nhật vơi đôi bàn tay đẫm máu người Nhật, đã giết chết cả triệu quân Nhật, nhưng khi MacArthur rời Nhật về Mỹ, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật đứng hai bên đường đưa tiễn.

Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật: Đại nguyên soái! MacArthur được người Nhật vinh danh là 1 trong 12 danh nhân nước Nhật mọi thời đại.

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế người Nhật hận ông thấu xương.

Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.

Nhưng tướng MacArthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ.

Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi.

Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?

Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.

Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.

Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.

Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”.

Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định.

Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình.

Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.

Ảnh: Tướng MacArthur

Phạm Hải ( sưu tầm và biên tập ) 


 

 PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN CỦA IRS NHẮM VÀO NGÀNH NAIL HOA KỲ

Hoai Linh Ngoc Duong

 PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN CỦA IRS NHẮM VÀO NGÀNH NAIL HOA KỲ.

Vụ án của Vinh Ho và Lan Do không chỉ là một vụ án hình sự thuế vụ lớn, mà còn là một lời cảnh báo đối với toàn bộ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ.

Theo Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, hai chủ nhân của hệ thống hơn 60 tiệm nail trên toàn quốc đã thừa nhận vận hành một hệ thống trả lương tiền mặt ngoài sổ sách cho thợ nail từ năm 2016 đến 2024.

Tổng số tiền mặt không khai báo lên tới hơn 116 triệu USD, gây thiệt hại thuế ước tính ít nhất 32 triệu USD.  

Luật thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ quy định như thế nào?

Một nguyên tắc căn bản của luật thuế Hoa Kỳ là:

Mọi khoản thu nhập đều phải khai báo thuế, bất kể nhận bằng check, chuyển khoản hay tiền mặt.

Đối với một người thợ nail, các khoản sau đây đều là thu nhập chịu thuế:

  • Tiền lương nhận bằng check.
  • Tiền lương nhận bằng tiền mặt.
  • Tiền tip bằng tiền mặt.
  • Tiền tip qua thẻ tín dụng.
  • Tiền hoa hồng (commission).
  • Tiền thưởng.

Về mặt pháp lý, IRS không phân biệt 100 USD nhận bằng check hay 100 USD nhận bằng tiền mặt. Cả hai đều là thu nhập phải khai báo.

Đó là lý do người Mỹ thông thường không có khái niệm:

“Phần check thì khai thuế, phần cash thì không.”

Đối với IRS, đó là hành vi khai thiếu thu nhập.

Tập quán 70% check – 30% cash trong ngành nail Việt

Trong nhiều thập niên, một số tiệm nail Việt hình thành một tập quán không chính thức:

– Một phần lương trả bằng check.

-Một phần lương trả bằng tiền mặt.

Nhiều người cho rằng phần tiền mặt là “tiền riêng”, “tiền tip”, hoặc “không cần khai”.

Đây là một suy nghĩ rất nguy hiểm.

Nếu người thợ nhận:

– 35.000 USD bằng check

-15.000 USD bằng cash

thì thu nhập chịu thuế thực sự là:

50.000 USD

chứ không phải 35.000 USD.

Nếu chỉ khai 35.000 USD, về mặt pháp lý đó là khai thiếu thu nhập.

Vì sao chủ tiệm thường bị liên lụy?

Nhiều người nghĩ:

“Thợ không khai thì thợ chịu.”

Thực tế không đơn giản như vậy.

Khi một doanh nghiệp cố tình:

  • trả lương tiền mặt ngoài sổ sách,
  • lập Form 1099 hoặc W-2 không đúng,
  • che giấu hồ sơ lương,
  • hướng dẫn nhân viên không khai tiền mặt,

thì chủ tiệm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo hồ sơ của Bộ Tư pháp, các công tố viên cáo buộc Vinh Ho và Lan Do đã huấn luyện quản lý tiệm vận hành hệ thống trả lương tiền mặt ngoài sổ sách, lập các mẫu thuế không phản ánh đầy đủ thu nhập thực tế của thợ nail.  

Tại sao các tiệm lớn dễ gặp rủi ro hơn?

Một tiệm nhỏ có thể chỉ có:

  • 5 thợ
  • 10 thợ

Số tiền mặt không khai báo có thể tương đối nhỏ.

Nhưng khi một hệ thống có:

  • 20 tiệm
  • 40 tiệm
  • 60 tiệm

thì khoản tiền mặt được trả ngoài sổ sách có thể lên tới hàng chục triệu đô la.

Đó chính là điều xảy ra trong vụ Anthony Vince Nail Salon.

Càng nhiều tiệm, càng nhiều nhân viên, càng nhiều giao dịch tiền mặt thì rủi ro kiểm toán và điều tra càng lớn.  

IRS hiện nay kiểm tra bằng cách nào?

Nhiều chủ tiệm vẫn nghĩ:

“Tiền mặt không có dấu vết.”

Nhưng trên thực tế IRS ngày nay có nhiều công cụ:

  • Đối chiếu doanh thu thẻ tín dụng.
  • Đối chiếu tiền gửi ngân hàng.
  • Kiểm tra hóa đơn mua vật tư.
  • Kiểm tra tiền thuê mặt bằng.
  • Kiểm tra số ghế và lượng khách.
  • So sánh với các tiệm cùng quy mô.
  • Phỏng vấn nhân viên cũ.
  • Khuyến khích tố giác nội bộ.

Nhiều vụ án nail salon trong những năm gần đây bắt đầu từ lời khai của nhân viên hoặc quản lý cũ.  

Điều đáng lo nhất không phải là tiền phạt

Nhiều người nghĩ nếu bị phát hiện thì chỉ cần nộp lại thuế.

Không hẳn như vậy.

Nếu IRS cho rằng có yếu tố cố ý:

  • che giấu thu nhập,
  • làm sổ sách giả,
  • khai man hồ sơ thuế,
  • tổ chức hệ thống trả lương ngoài sổ sách,

thì vụ việc có thể chuyển từ dân sự sang hình sự.

Trong trường hợp đó có thể xuất hiện:

  • tiền phạt lớn,
  • truy thu nhiều năm,
  • tiền lãi chậm nộp,
  • án quản chế,
  • thậm chí án tù liên bang.

Nhiều chủ tiệm nail trên khắp nước Mỹ đã bị truy tố trong các vụ tương tự trong những năm gần đây.  

Bài học cho cộng đồng nail Việt

Ngành nail là một câu chuyện thành công đáng tự hào của người Việt tại Hoa Kỳ. Hàng trăm nghìn gia đình đã vươn lên từ hai bàn tay trắng nhờ nghề nail.

Nhưng chính vì ngành nail đã phát triển quá lớn nên những tập quán hình thành từ 20 hoặc 30 năm trước không còn phù hợp với môi trường pháp lý hiện nay.

Điều từng được xem là “chuyện bình thường ai cũng làm” có thể trở thành bằng chứng của hành vi trốn thuế trước tòa án liên bang.

Vụ Vinh Ho và Lan Do cho thấy một thực tế rất rõ ràng:

IRS không còn chỉ nhắm vào các tập đoàn lớn. Những ngành nghề sử dụng nhiều tiền mặt như nail salon, nhà hàng, tiệm tóc, tiệm giặt ủi hay sửa xe hiện đang nằm trong nhóm được chú ý đặc biệt.

Đối với chủ tiệm lẫn thợ nail, cách bảo vệ tốt nhất không phải là tìm cách che giấu tiền mặt, mà là khai báo đầy đủ mọi nguồn thu nhập. Tiền mặt không phải là “tiền miễn thuế”. Trong luật thuế Hoa Kỳ, đó vẫn là thu nhập chịu thuế giống như bất kỳ tờ check nào được nhận từ ngân hàng. 


 

MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO- (Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

Maria Mai Tâm

MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO

(Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

  1. Bệnh quá khứ cục bộ.

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: “Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Đức khâm sứ . Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Đức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Đức khâm sứ!”.

Ta không quên quá khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại !

Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở:

“Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt !”.

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được!

Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống.

Quá khứ không bao giờ trở lại.

Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói:

“Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn”.

Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ.

Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Đất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm – Nhìn tương lai với hy vọng.

  1. Bệnh tiêu cực bi quan

Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ !

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì “để xem đã”, hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu “không làm nổi đâu” !

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity).

Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện:

Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu ! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả !

Người tích cực thì lạc quan.

Kẻ tiêu cực bi quan.

Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói:

Đừng trách rằng tối;

tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi !

Đức Gioan Phaolô II kêu gọi: “Đừng sợ”, vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.

  1. Bệnh phô trương chiến thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng:

Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế …

Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về ! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.

  1. Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay: Người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy !

Biểu hiện của bệnh này:

Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ.

Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui:

Một số Hồng y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Đức Thánh Cha (ĐTC). Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ĐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ĐTC có thể nói cho chúng con nghe được không.

ĐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ĐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ĐTC mỉm cười trả lời: Đức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Đức Mẹ Lộ-Đức lại !

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Đức Mẹ Fatima sợ Đức Mẹ Lộ Đức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Đức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ.

– Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn.

Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Đức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi, tôi đi đường tôi, anh đi đường anh.

  1. Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Đụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Đến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát !

Chuyện kể:

Hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc.

Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng… Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: Tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ !

Để xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Đạo binh Đức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Đạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết.

Đấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!

  1. Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người công giáo kiểu đó thường hay trở thành công giáo tùy thời: Thịnh thì công giáo, suy thì chối.

Công giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn.

Công giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức.

Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt…mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái, tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo hội này, như tại các nước Tin lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận.

Chính phủ ra lệnh cho Giáo hội; Quốc hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai mục sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Đức Giáo hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Đức Giáo hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai.

Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo hội thương cảm, nhưng Giáo hội cần nói sự thật. Đức Thánh cha nói: “không cần ai bỏ phiếu cho sự thật” vì sự thật vẫn là sự thật.

  1. Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Đâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe.

– Chứ con xin điều gì ?

– Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi!

– Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây!

– Dạ Chúa đợi gì con đây?

– Thì Ta đang đợi bà mua vé số!

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn.

Ông gặp thánh Phêrô.

Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại:

– Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không ?

– Có.

– Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không?

– Có.

– Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không ?

– Có.

– Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông?

  1. Bệnh tùy hứng vô định

– Người không có lý tưởng rõ ràng.

– Đời vô định hướng.

– Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại.

Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Đây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không ? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài nhi và Mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được.

Nhưng phải định hướng cho trúng.

Truyện kể:

– Có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới.

– Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình.

– Đến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã!

  1. Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng:

Thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó.

Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, linh mục thì đổ cho giám mục, giám mục lại chỉ tay về Giáo hoàng. Như thế Giáo hoàng lại đổ cho Chúa à! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

  1. Bệnh bè phái chia rẽ

Đây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm, vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người.

Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học:

Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincoln điên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ – mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức.

Có nhiều người “phạm tội vì Chúa”: lấy lý do “vì Chúa” mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta.

Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh này nên có câu châm ngôn: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác”. Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn:

“Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con” (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin.

Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: “Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô”.

H.Y. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

—————————

(Bài nói chuyện của Tôi tớ Chúa là Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận khi còn làm Tổng Giám mục, với giới trẻ Việt Nam hải ngoại tại Strasbourg, Pháp, chiều ngày 12.9.1998) 


 

CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

Nguyen Thi Chau

  CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

   Khi con người tức giận, cơ thể thật sự sẽ sinh ra “khí”, nên cũng nói là hỏa khí bốc lên, có thể thiêu đốt năng lượng, khiến người ta sinh bệnh thậm chí vì tức mà chết. Cho nên muốn trường thọ nhất định tiết chế nóng giận…

  Có một vị phu nhân, thường vì những chuyện vặt vãnh mà sinh nóng giận. Có một ngày bà đi tìm một vị cao tăng thỉnh giáo. Cao tăng nghe xong, liền dẫn bà đến một gian thiền phòng, khóa cửa lại rồi rời đi.

     Vị phu nhân tức giận chửi mắng ầm ĩ một hồi, cao tăng cũng không để ý tới. Rồi bà lại bắt đầu cầu khẩn, cao tăng vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Vị phu nhân cuối cùng đành phải im lặng.

   Cao tăng ở bên ngoài cửa hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Tôi chỉ tức giận chính mình, sao lại đến cái nơi quỷ quái này để chịu tội khổ không biết!”.

   Cao tăng phẩy tay áo rời đi, nói vọng vào: “Người mà ngay cả chính mình cũng không chịu tha thứ, thì làm sao tâm có thể phẳng lặng như mặt nước được đây?”

  Một lát sau, cao tăng lại hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Hết rồi, tức giận để làm gì cơ chứ?”.

“Tức giận cũng có làm gì được đâu!”, cao tăng lại rời đi.

    Lúc cao tăng trở lại lần thứ ba, vị phu nhân nói với ông: “Tôi hết tức giận rồi, bởi vì không gì đáng để tức giận”. Cao tăng cười nói: “Bà còn biết nó có đáng hay không, xem ra trong nội tâm vẫn còn cái gốc rễ của khí”. Một hồi sau, đang lúc cao tăng đứng ở trước cửa ngắm trời chiều. Vị phu nhân hỏi: “Đại sư, khí là gì vậy?”. Cao tăng đổ nước trà vào trong tay làm rơi vãi khắp đất, vị phu nhân nhìn thật lâu chợt tỉnh ngộ, cảm tạ rồi rời đi.

     Sinh mệnh của chúng ta cũng giống như chén nước trà trong tay vị cao tăng kia, chỉ trong giây lát đã hòa vào trong đất. Năm tháng ngắn ngủi như thế, những việc nhỏ nhặt trong đời đâu có đáng giá để chúng ta uổng phí thời gian mà đi tức giận?

   Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta vì những việc nhỏ nhặt mà tức giận, đơn giản là vì tranh giành cao thấp, hơn thua mạnh yếu, nhưng cuối cùng đều không ai chiến thắng cả. Bạn có thể thắng ở việc này, nhưng có thể lại thua ở việc khác. Lúc bạn nhắm mắt từ giã thế gian này, dù có là ai thì cũng đều giống nhau, chỉ là hai bàn tay trắng.

    Đời người quan trọng nhất là làm được một chút việc gì đó mà bản thân cảm thấy có ý nghĩa, không nên tốn thời gian đi tranh danh đoạt lợi, không nên cứ lại hơn thua vì một câu nói mãi thế.

    Người có tu dưỡng chân chính sẽ biết nén cơn tức giận này xuống. Biết kiểm soát được nóng giận mới có thể khiến sự tình trở nên tốt hơn, mới có thể khỏe mạnh và trường thọ.

   Nếu để bạn mắc bệnh nhẹ một tuần, bạn sẽ phát hiện tiền tài không còn là quan trọng, chỉ có gia đình và thân thể mới là đáng quý.

   Nếu để bạn mắc bệnh nặng một tháng, bạn sẽ phát hiện tiền tài đặc biệt không hề quan trọng, thân thể và người nhà mới là trọng yếu.

   Nếu để bạn mắc bệnh nặng nửa năm, đoán chừng bạn sẽ sẵn lòng buông bỏ hết thảy tiền tài và danh lợi, chỉ có thân thể mới là thứ quan trọng nhất.

    Đời người ta nên bình thản mà sống, khỏe mạnh, hạnh phúc mới là quý giá nhất.

  Hoa do tưới nước quá nhiều mà chết, cá ăn bể bụng mà chết, người vì tức khí mà chết. Bạn kiểm soát được cơn nóng giận được bao nhiêu, thì sẽ có thể sống thọ được tới đó.

   Vừa không tức giận người khác, mà chính mình cũng không tức giận, gọi là chân nhân, thông thường có thể sống trăm tuổi hoặc hơn.

   Trăm bệnh đều từ tức khí mà sinh ra. Cho nên, muốn trường thọ phải biết tiết chế cơn nóng giận, cải biến quan niệm, cải biến tập quán sinh hoạt không tốt, quan tâm đến bản thân mình, hãy bắt đầu ngay từ hôm nay.

Sưu tầm


 

CÂU CHUYỆN ỨA NƯỚC MẮT VỀ NGHỀ BỊ CHO LÀ BẨN THỈU NHẤT THẾ GIỚI…!

Thu Hương

 CÂU CHUYỆN ỨA NƯỚC MẮT VỀ NGHỀ BỊ CHO LÀ BẨN THỈU NHẤT THẾ GIỚI…!

Người đàn ông trong bức ảnh “gây bão” mạng xã hội này là ông Idris, một người lao động nghèo ở Bangladesh. Ông làm nghề dọn cống để lo cho 4 đứa con ăn học.

Có thể nhiều người chưa biết, nghề dọn cống ở Bangladesh bị coi là công việc vất vả và bẩn thỉu nhất trên thế giới. Những người công nhân phải làm việc trong môi trường mất vệ sinh chính là những cái cống nước thải đen ngòm, bốc mùi khủng khiếp, dễ mắc bệnh truyền nhiễm mà lương thì ba cọc ba đồng.

Khó khăn, vất vả là vậy nhưng ông bố nghèo Idris ấy đã giấu nhẹm công việc của mình vì lo sợ nếu biết sự thật, các con sẽ cảm thấy xấu hổ trước bạn bè. Ông làm việc quần quật không một lời oán thán mong sao các con có thể yên tâm học hành. Để các con không nghi ngờ, mỗi ngày trước khi đi làm về, ông đều chui vào nhà tắm công cộng tắm rửa sạch sẽ để xua đi mùi hôi thối sau khi lặn ngụp dưới các ống cống.

Thế nhưng, một biến cố xảy ra đã khiến ông quyết định công khai sự thật cho các con biết. Nhiếp ảnh gia GMB Akash đã giúp ông giãi bày tâm sự trên mạng xã hội, nào ngờ lấy nước mắt của bao người.

Tôi chưa bao giờ nói với các con công việc của mình. Tôi không bao giờ muốn chúng cảm thấy xấu hổ vì tôi. Khi con bé út hỏi tôi làm nghề gì, tôi thường ngập ngừng rồi nói với con rằng tôi là một người lao động.

Trước khi về nhà mỗi ngày, tôi thường tắm sạch sẽ trong nhà vệ sinh công cộng nên chúng không biết tôi đang làm gì. Tôi muốn các con được đến trường học và hưởng sự giáo dục tốt nhất để chúng được ngẩng cao đầu trước bất kỳ ai. Tôi không bao giờ muốn người khác coi thường các con tôi như cách người đời vẫn nhìn tôi. Mọi người luôn khinh rẻ tôi.

Tôi dồn hết từng xu kiếm được cho các con ăn học. Tôi không dám mua một cái áo mới mà dùng tiền để mua sách cho chúng.

Một ngày trước ngày con gái út vào đại học, tôi không thể xoay xở đủ tiền phí nhập học cho con. Cả ngày hôm đó, tôi chẳng làm được việc gì. Tôi ngồi bên đống rác, cố giấu đi những giọt nước mắt buồn tủi. Những người công nhân làm cùng đều nhìn tôi nhưng không ai nói lời nào. Tôi cảm thấy thất bại và đau lòng lắm. Tôi không biết phải đối mặt với con gái mình như thế nào khi trở về nhà. Tôi sinh ra đã nghèo và giây phút đó tôi nghĩ rằng đã là người nghèo thì chẳng bao giờ được đón nhận điều tốt đẹp.

Sau giờ làm việc, những anh em làm cùng đến ngồi bên cạnh tôi và hỏi tôi có coi họ như anh em không. Tôi chưa kịp thốt nên lời thì mỗi người đã dúi vào tay tôi số tiền công một ngày của họ. Khi tôi cố gắng từ chối thì nhận được câu động viên: “Hôm nay không ăn thì chúng tôi cũng chẳng chết đói được, nhưng con gái anh phải được đi học đại học”. Cổ họng tôi nghẹn ứ lại.

Hôm đó tôi không tắm. Tôi trở về nhà trong bộ dạng nhem nhuốc, bẩn thỉu, bốc mùi hôi thối của một công nhân dọn cống đúng nghĩa. Tôi quyết định không giấu các con về nghề nghiệp của mình nữa.

Đó chính là ngày ông Idris nói cho các con biết nghề nghiệp của mình. Ông cũng kể chuyện mình không có đủ tiền cho con gái út đi học đại học nhưng các đồng nghiệp của ông đã hy sinh đồng lương ít ỏi của họ cho bố con ông….

(Lang thang trên mạng đọc,cảm xúc đem về mà không rổ nguồn)


 

PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Joseph Phạm Nguyên

 PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Vào đầu thế kỷ 20, một cô bé người Ý tên là Gemma Di Giorgi đã chào đời với một tình trạng hiếm gặp và nghiệt ngã — cô bé hoàn toàn không có con ngươi trong đôi mắt mình.

Ngay từ khi mới lọt lòng, Gemma đã bị mù vĩnh viễn. Khoa học y tế thời bấy giờ hoàn toàn bất lực; bởi không có con ngươi, ánh sáng không thể đi vào mắt để tạo nên thị lực. Các bác sĩ xác nhận rằng không có bất kỳ phương cách nào để cứu chữa.

Thế nhưng, đức tin đã viết nên một câu chuyện khác.

Khi Gemma còn nhỏ, gia đình đã đưa cô đến gặp vị linh mục dòng Capuchino thánh thiện — Thánh Padre Pio (Cha Pio) thành Pietrelcina. Với lòng nhân từ và sự thánh thiện vẹn toàn, Cha Pio đã nhìn cô bé mù với lòng trắc ẩn sâu sắc. Ngài đã làm phép trên đôi mắt và cầu nguyện cho cô.

Ngay khoảnh khắc ấy, một phép lạ đã xảy ra.

Thị lực của Gemma được phục hồi hoàn toàn. Cô có thể nhìn rõ mọi thứ — gương mặt mọi người, màu sắc và thế giới xung quanh — mặc dù đôi mắt vẫn hoàn toàn không có con ngươi. Sự chữa lành này đã thách thức mọi giải thích y khoa. Các chuyên gia kiểm tra cho cô sau đó đều phải kinh ngạc vì không thể giải thích nổi làm thế nào cô có thể nhìn thấy được.

Trường hợp của Gemma đã được ghi chép hồ sơ đầy đủ và sau đó được công nhận là một trong những phép lạ chính thức do sự chuyển cầu của Thánh Cha Pio.

Phép lạ đầy quyền năng này vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trên toàn thế giới. Nó nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi khoa học hay sự hiểu biết của con người. Những gì bác sĩ cho là không thể, đều có thể đối với Thiên Chúa.

Thánh Cha Pio, người mang trên mình các dấu thánh của Chúa Kitô và đã dành trọn đời mình để an ủi những người đau khổ, vẫn luôn là một đấng chuyển cầu mạnh mẽ. Cuộc đời và các phép lạ của ngài cho chúng ta thấy rằng sự chữa lành thực sự — cả thể xác lẫn tâm hồn — đều đến từ đức tin, lời cầu nguyện và sự phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.

Nguyện xin câu chuyện của Gemma củng cố tâm hồn bạn ngày hôm nay. Dù bạn đang đối mặt với tình huống “bất khả thi” nào, đừng bao giờ thấp kém hóa quyền năng của lời cầu nguyện.

Lạy Thánh Cha Pio, xin cầu cho chúng con!

#PadrePio #SaintPadrePio #CatholicMiracles #GemmaDiGiorgi #Faith #Miracle #PowerOfPrayer #CatholicFaith #PhepLa #ChaPio #CongGiao


 

Suy ngẫm về lời cầu xin

Lạy Chúa, con cầu xin ơn Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ.

Con cầu xin có sức khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con tàn tật để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành.

Con cầu xin được giàu sang để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan.

Con cầu xin được có uy quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết, con cần đến Chúa.

Con cầu xin có được tất cả để tận hưởng cuộc đời, Chúa lại cho con cả cuộc đời để được hưởng mọi sự.

Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn. Nhưng những điều con đáng phải mơ ước, mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu.

Lạy Chúa, hoá ra, con lại là người may mắn hơn hết trên cõi đời này bởi con đã nhận được ơn phúc Chúa vô vàn. Amen

(trích trong Lịch Phụng Vụ Ất Tỵ 2025 của Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ, tháng 06 trang 127)