TOM BROWN – Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Tom Brown’s School Days là một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Anh Quốc.  Tác phẩm này sau đó được dựng thành phim và trở thành một bộ phim ăn khách.

Tom Brown là một cậu bé được nhiều người yêu mến, theo học tại một trường nội trú ở nước Anh.  Cậu sống với khoảng một chục học sinh khác trong một phòng ngủ của trường.  Bất cứ điều gì Tom nói hay làm đều có ảnh hưởng lớn đến những gì các học sinh khác nói hoặc làm.

 Một ngày nọ, có một học sinh mới đến nhập học.  Tối hôm đó, khi đến giờ đi ngủ, cậu bé mới ngây thơ quỳ xuống bên cạnh giường để đọc kinh cầu nguyện.

 Một vài học sinh khác bắt đầu cười khúc khích.  Một số khác cười lớn và chế giễu.  Thậm chí có một đứa còn ném chiếc giày vào cậu bé đang quỳ cầu nguyện.

 Đêm đó, Tom không ngủ được.  Cậu nằm thao thức, suy nghĩ về những gì đã xảy ra với người bạn mới.  Cậu cũng bắt đầu nghĩ đến mẹ mình và những lời kinh bà đã dạy cậu đọc mỗi tối trước khi đi ngủ – những lời kinh mà cậu đã không còn đọc kể từ ngày đến trường nội trú.

 Tối hôm sau, nhiều cậu bé trong ký túc xá háo hức chờ đợi để tiếp tục chế giễu cậu học sinh mới.  Nhưng khi đến giờ đi ngủ, một điều hoàn toàn bất ngờ đã xảy ra.  Khi cậu học sinh mới quỳ xuống để đọc kinh tối, Tom cũng quỳ xuống theo. 

Khi các học sinh khác trong ký túc xá nhìn thấy Tom quỳ gối cầu nguyện, họ đã không thực hiện kế hoạch của mình.

 Câu chuyện nhỏ đơn sơ ấy trong Tom Brown’s School Days minh họa một cách cảm động và sâu sắc điều mà Chúa Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng hôm nay:

 Những ai công khai tuyên bố rằng họ thuộc về Thầy, thì Thầy cũng sẽ làm như vậy cho họ trước mặt Cha Thầy.  Còn ai công khai chối bỏ Thầy, Thầy cũng sẽ chối bỏ người ấy trước mặt Cha Thầy ở trên trời.”

 Câu chuyện ấy cũng cho thấy một trong những lý do khiến Chúa Giêsu nói như vậy.  Đó là vì việc làm chứng hay không làm chứng cho Cha trên trời có thể ảnh hưởng sâu sắc đến những người chung quanh chúng ta.

 Hãy nghĩ đến một lĩnh vực mà điều này đặc biệt đúng, đó là gia đình.  Cách cha mẹ làm chứng hoặc không làm chứng cho Cha trên trời của mình có ảnh hưởng rất lớn đến con cái.

 Tỉ như, gương sáng của mẹ Tom và chứng tá đức tin của bà chính là yếu tố quyết định khiến Tom can đảm làm chứng cho đức tin của mình trước mặt bạn bè đồng trang lứa.

 Có người đã nói rằng mỗi Kitô hữu đều đứng trên một bục giảng nào đó và giảng một bài giảng nào đó hàng ngày.  Điều này đặc biệt đúng đối với cha mẹ trong gia đình.

 Vào tháng 4 năm 1987, tạp chí Catholic Digest đăng một bài phỏng vấn cặp vợ chồng vừa kỷ niệm 25 năm ngày cưới.

 Trong cuộc phỏng vấn, họ chia sẻ rằng từ đêm tân hôn cho đến nay, họ luôn cầu nguyện với nhau mỗi tối.

 Lúc đầu, họ chỉ đọc những kinh quen thuộc như Kinh Lạy Cha hoặc Kinh Kính Mừng.

 Dần dần, họ bắt đầu cùng nhau đọc Kinh Thánh và chia sẻ những suy nghĩ về những gì họ đã đọc.  Một cách khác mà họ cầu nguyện với nhau là cầu nguyện bộc phát từ tận đáy lòng.  Đôi khi họ cùng xin Chúa giúp đỡ giải quyết những khó khăn mà cả hai đang đương đầu.

 Đôi vợ chồng này nhìn nhận rằng cầu nguyện theo cách này thì không dễ dàng khi mới khởi sự.  Nhưng họ cũng thú nhận rằng những lời cầu nguyện chân thành phát xuất từ trái tim đã trở thành một nguồn ân sủng lớn lao cho họ.

 Nhận xét về điều này, người chồng nói: “Đôi khi tôi không cầu nguyện bộc phát về một điều gì đó bởi vì tôi không muốn nói điều ấy với vợ.”  Ông cho biết, sau cùng, ông đã vượt qua được sự ngần ngại đó khi nhận ra rằng việc này không chỉ thiếu thành thật với Rita mà còn thiếu thành thật với chính Thiên Chúa.

 Khi ông vượt qua được sự e dè ấy, hình thức cầu nguyện này đã giúp họ rất nhiều trong việc vượt qua những giai đoạn khó khăn, đặc biệt là trong bảy năm đầu của đời sống hôn nhân.

 Hai vợ chồng cho biết họ có ý tưởng cầu nguyện chung với nhau nhờ gương sáng của cha mẹ bà Rita.  Bà kể:

 Khi tôi còn nhỏ, trong gia đình tôi chúng tôi ít khi đóng cửa phòng.  Tôi thường nghe cha mẹ mình cầu nguyện vào ban đêm.  Đó là một âm thanh thật bình an và ấm áp.  Đôi khi cha mẹ mời chúng tôi vào phòng, và cả nhà cùng ngồi trên giường của họ.  Cha mẹ đọc từ cuốn Kinh Thánh và từ cuốn sách có tên là The Upper Room.”

 Đó chính là loại chứng tá mà Chúa Giêsu đang nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay, đặc biệt là trong gia đình.

 Có lẽ đó không phải là loại chứng tá mà chúng ta quen thực hành.

 Tuy nhiên, đó chính là loại chứng tá mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thực hiện.

 Đó là loại chứng tá mà nếu chúng ta đem ra thực hành, nó có thể biến đổi các mối tương quan gia đình và cuộc sống của chúng ta một cách hết sức kỳ diệu.

 Vậy điều gì ngăn cản chúng ta làm chứng như thế? 

Chính Chúa Giêsu đã nhắc đến điều đó ba lần trong bài Tin Mừng: đó là sự sợ hãi.  Và đó là điều Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay: “Đừng sợ.” 

Đây là sứ điệp chứa đựng trong bài đọc Cựu Ước hôm nay và đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay. 

Đây là Tin Mừng mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta hôm nay, cũng như Người đã chia sẻ với các môn đệ khi còn sống giữa họ.

 Đây là Tin Mừng có thể thay đổi không chỉ cuộc sống của những người thân yêu của chúng ta, mà còn cuộc sống của tất cả những người mà họ tiếp xúc. 

Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện:

 Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, xin ban cho chúng con sự can đảm để làm chứng cho Ngài trong mọi lãnh vực của cuộc sống.   Xin giúp chúng con nhận ra rằng lĩnh vực quan trọng nhất để làm chứng chính là gia đình.  Nếu chúng con biết làm chứng trong gia đình mình, việc làm chứng trong những lãnh vực khác của cuộc sống sẽ tự nhiên được thực hiện.  Amen.

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Bí tích Thêm sức là gì? – Cha Vương 

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để làm chứng nhân cho tình yêu Chúa trong lời nói và việc làm. Chúc thành công! Xin hãy yêu tha nhân như chính mình xin một lời cầu nguyện cho nhau và cả thế giới được an bình nhe 

Cha Vương 

Thứ 5: 18/06/2026.    (n15-23)

GIÁO LÝ: Bí tích Thêm sức là gì? Thêm sức là bí tích hoàn tất bí tích Rửa tội. Nhờ Thêm sức, Đức Chúa Thánh Thần ban ơn xuống cho ta. Bất cứ ai tự ý quyết định sống như con cái Chúa và xin ơn Thánh Thần xuống qua sự đặt tay và xức dầu thánh sẽ nhận được sức mạnh để làm chứng nhân cho tình yêu Chúa trong lời nói và việc làm. Nhờ đó họ trở nên phần tử đã cam kết và có trách nhiệm đầy đủ của Hội thánh Công giáo. (YouCat, số 203)

SUY NIỆM: Khi một huấn luyện viên cho một cầu thủ nào vào trong sân, ông đặt tay trên vai và chỉ dẫn mấy lời. Điều này giúp ta có thể hiểu được bí tích Thêm sức: Có việc đặt tay, có việc đi vào trường đời. Nhờ Chúa Thánh Thần ta biết ta phải làm gì. Người động viên toàn bộ con người chúng ta và điều người đòi hỏi vang lên trong tai ta. Ta cảm thấy sự giúp đỡ của Người. Ta không làm Người mất tin tưởng và sẽ làm cho trận đấu có lợi cho Người. Chỉ cần ta muốn, và ta lắng nghe Người. 

❦  Bí tích Thêm sức: Cùng với bí tích Rửa tội và bí tích Thánh Thể, bí tích Thêm sức hợp thành “bộ ba bí tích khai tâm vào Kitô giáo”. Như Chúa Thánh Thần đã hiện xuống vào lễ Ngũ tuần trên các tông đồ đang tập hợp, Người cũng hiện xuống với mọi người đã được rửa tội đang xin Hội thánh ơn Chúa Thánh Thần. Bí tích Thêm sức củng cố họ và tăng sức để họ làm chứng cho Chúa Kitô.

❦  Dầu Thánh là dầu ôliu hợp với nhựa thơm. Đức Giám mục thánh hiến trong lễ Dầu của Tuần thánh để dùng trong bí tích Rửa tội, Thêm sức, Truyền chức Linh mục và Truyền chức Giám mục, trong lễ thánh hiến bàn thờ và chuông. Dầu tượng trưng cho niềm vui, sức mạnh và sức khỏe. Những ai được xức dầu thánh phải làm cho hương thơm của Chúa Kitô tỏa lan. (2 Cr 2:15)(YouCat, số t.t.)

LẮNG NGHE: Trong Đức Ki-tô, cả anh em nữa anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong Đức Ki-tô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa. (Ep 1:13-14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Thần Thiên Chúa, xin trợ giúp con để hạt giống đức tin mỗi ngày một triển nở trong tư tưởng, lời nói và việc làm của con hôm nay.

THỰC HÀNH: Thánh Phaolô nói: “hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an” (Rm 8:6). Mời bạn trở về hướng đi của Thần Khí nhé.

Nhạc Thần Khí Chúa Sai Đi 

From: Do Dzung

*****************************

Thần Khí Chúa Sai Đi (AI Cover) | Thánh Ca Cảm Động Nhất 2026 Về Ơn Gọi & Sứ Mệnh

CÀNG CHO, CÀNG CÒN – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời!”.

“Hãy cho người đói ăn; điều bạn cho đi sẽ trở thành của bạn, và còn trở về với bạn cùng lãi suất!” – Basiliô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta thường nghĩ càng nắm, càng chắc; càng tích, càng giàu. Nhưng Tin Mừng hôm nay mặc khải một nghịch lý: có những điều chỉ bắt đầu sinh lãi khi được trao đi – ‘càng cho, càng còn!’.

Chúa Giêsu không bảo đừng tích trữ. Trong nguyên ngữ, Ngài dùng động từ thēsaurízete – “hãy tích trữ”, “hãy cất giữ như một kho báu”. Ngài không phủ nhận nhu cầu tích luỹ; Ngài chỉ chuyển hướng nó. Vấn đề không phải là có tích trữ hay không, nhưng là tích trữ điều gì và ở đâu. Theo Đức Lêô XIV, kho tàng của chúng ta cuối cùng sẽ quyết định hướng đi đời mình. Bởi lẽ, trái tim không bao giờ ở trạng thái trung lập; nó luôn hướng về điều nó yêu mến nhất và dần trở nên giống điều nó hướng về. “Bạn sẽ trở nên điều bạn yêu mến!” – Augustinô.

Chúng ta quen nghĩ cho đi là ít đi, trao đi là thiệt thòi. Nhưng Chúa Giêsu bảo: “Anh em hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời!”. “Trên trời” không chỉ là phần thưởng mai sau, nhưng còn là một nơi cất giữ khác: nơi mọi điều được trao vì Chúa và cho tha nhân bước vào sự bền vững của chính Ngài. Vì thế, của cải giữ lại rồi sẽ hư hao; nhưng mọi điều được trao đi trong tình yêu lại không còn thuộc về mối mọt, trộm cắp hay cái chết. Điều nắm chặt trong tay rồi sẽ qua; điều ký thác cho Thiên Chúa và chia sẻ với người khác lại còn mãi.

Câu chuyện Cựu Ước hôm nay là một minh hoạ. Sau cái chết của con mình, Athangia đã ra tay tiêu diệt gần như toàn bộ hoàng tộc Giuđa và chiếm lấy vương quyền. Nhưng chính lúc dòng dõi Đavít tưởng như bị xoá sạch, Thiên Chúa lại âm thầm cất giấu Giôát trong Đền Thờ và gìn giữ tương lai của Israel – bài đọc một. Không phải điều chúng ta nắm giữ, nhưng Đấng nắm giữ chúng ta mới là bảo đảm cuối cùng của đời người. “Lạy Cha, con phó mình trong tay Cha; xin Cha cứ làm nơi con điều Cha muốn!” – Charles de Foucauld.

Athangia không chỉ là một nhân vật xa xưa; bà sống đâu đó trong mỗi người chúng ta. Ai cũng có một “ngai vàng” muốn bảo vệ: một thành công, một chỗ đứng, một cái tôi. Và càng vun quén, chúng ta càng co mình lại. Tin Mừng đề nghị một lối đi khác: không xây sự an toàn trên những gì mình kiểm soát, nhưng trên Đấng đang kiểm soát và gìn giữ mình.

Anh Chị em,

Đức Kitô là “kho tàng trên trời” đã tự làm mình nghèo đi để làm giàu cho nhân loại. Trên thập giá, Ngài bị tước sạch, chẳng còn gì để giữ; nhưng chính ở đó, Ngài trao ban tất cả và bước vào vinh quang phục sinh. Đó là con đường của người môn đệ – ‘càng cho, càng còn!’: không sợ cho đi, vì trong Thiên Chúa, không điều gì được trao trong tình yêu lại bị mất đi. “Tình yêu không bao giờ cạn; càng trao ban, người ta càng sở hữu nhiều hơn!” – Elisabeth of the Trinity.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi nỗi sợ mất mát; khỏi thói quen nắm giữ; dạy con tặng trao trong yêu thương, vì điều duy nhất con mang theo là những gì con đã cho đi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,19-23

19 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. 20 Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. 21 Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.

22 “Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh tốt, thì toàn thân anh sẽ sáng. 23 Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào !”


 

Chấp Nhận Cuộc Đời – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Làm sao vui vẻ chấp nhận cuộc đời nếu gặp: 

1-Sự bất như ý: 

Nhìn lại quãng đời đã qua của chúng ta, chắc chắn mỗi người trong chúng ta, đa số đều gặp những hoàn cảnh bất như ý:

* Làm nghề nghiệp mà mình không thích, không phải sở trường. Tốt nghiệp ngành này lại đi làm ngành nghề khác. Riêng tôi tốt nghiệp đại học luật khoa, không làm luật sư mà làm nghề dạy học. Rồi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lại đi tù cộng sản. Năm 1983 ở tù về, không được dạy học, phải làm nhiều nghề để sống: dạy kèm tư gia, giặt bao nylon, bán bia và nước ngọt. Qua Mỹ, làm chỗ sang băng nhạc, tiệm grocery, bán bảo hiểm.

* Nhiều người thất nghiệp, mất nhà, mất xe, không có tiền bạc, sống cơ cực, khổ sở.

* Nhiều người gặp gia đình đỗ vỡ, chia ly tan tác ngoài ý muốn, con cái thất học, nheo nhóc.

*Nhiều khi con cái không làm theo ý mình hoặc hư hỏng, không chịu học hành theo băng đảng, hút sách.

Nếu gặp sự bất như ý mà chúng ta không thể giải quyết được vì nó vượt ngoài tầm tay, sự hiểu biết, khả năng của chúng ta thì ta phải làm sao?

Chỉ có cách duy nhất là chịu đựng, không than van, và liên tục cầu nguyện. Cho nên nhà thờ, đoàn thể, các nhóm cầu nguyện rất cần thiết để chúng ta chia sẻ những khó khăn, những lo âu, chán nản mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống. Chẳng những cầu nguyện mà còn cần phải ca ngợi Chúa về những hoàn cảnh bất như ý mà ta đã gặp phải. (1)

Đời sống tâm linh rất quan trọng. Chúng ta thường xuyên đến nhà thờ, cầu nguyện với Thiên Chúa toàn năng, chắc chắn khi Chúa đóng cửa này sẽ mở cửa khác cho chúng ta. “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gỏ thì cửa sẽ mở cho.” (Mt 7, 7-12) 

2- Bịnh hoạn, Tật nguyền 

Nhà Phật có nói: Sinh Lão Bịnh Tử. Ai trong chúng ta cũng phải đi qua con đường này. Không thoát được. 

Bịnh tật là tất yếu phải xảy ra. Khi lớn tuổi, sức khoẻ suy yếu, sinh ra bịnh tật… tiểu đường, cao máu, cao mở, đau nhức… chưa kể có người bị các chứng bịnh nan y như ung thư, đau thận, đau gan, đau phổi, đau tim, mổ tim… Không phải chỉ có những người già cả mới bịnh hoạn, có khi còn trẻ cũng đã vướng nhiều bịnh nan y rồi. Vậy làm sao được bình an khi gặp trường hợp không may xảy ra như bịnh hoạn?

 Rất khó chấp nhận hoàn cảnh đau khổ, bịnh tật. Để được an ủi, để có thể chịu đựng những đau đớn về thể xác và về tinh thần, có thể học hỏi niềm tin, niềm cậy trông của thánh Gióp, niềm tin vào Chúa để chịu đựng khổ sở, khó khăn, chịu nhục hình như các thánh tử đạo Việt Nam. Học tập gương Thánh Giu se, gương Đức Mẹ, nhất là gương Chúa Giê su chịu đựng khổ hình, đau đớn nơi thập giá. Nhờ đó chúng ta có thể chịu đựng được những đau khổ, khó khăn của chính mình. (1) 

3- Đau khổ, cô đơn. 

Sự cô đơn, sống một mình, chịu đựng hoàn cảnh trống vắng, đơn độc.

Đến lúc nào đó, một trong hai vợ chồng phải ra đi sớm. Người còn lại phải chịu đựng sự cô đơn, mất mát vô cùng lớn lao không có gì bù đấp được. Vì gặp cảnh cô đơn chúng ta mới đến với Chúa, chúng ta cần Chúa nhiều hơn nữa. Xem cô đơn là một điều kỳ diệu! 

Làm sao khám phá niềm vui trong đau khổ? 

Trong đau khổ làm sao có niềm vui? Tìm thấy “thú đau thương” chăng?

Thánh Phaolô biểu lộ ước muốn của mình là biết “thông phần những đau khổ của Đức Kitô, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người.”

Thánh nhân đã nghe Chúa phán với mình: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.”

“Thầy ở trong Cha, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.”

Hàng ngày luôn luôn thức tỉnh, học tập, cố gắng thực hành yêu thương và tha thứ. “Yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em.” (Mt 5, 44) Nói thì dễ, nhưng làm rất khó. Với sức con người bình thường chúng ta không làm được, nhưng với ơn Chúa chúng ta có thể làm được. 

4- Sự chết:

 Dầu là dân thường hay vua chúa, quan quyền, đến lúc nào đó cũng phải ra đi. Sự chết là tất yếu của đời sống của con người. Ai ai cũng trúng số “độc đắc” một lần, đó là sự chết. Nhưng vẫn có rất nhiều người, nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ chết?

 Để cảm nghiệm về cái chết, ta nên thường xuyên đi đọc kinh nhà quàn, tham dự các thánh lễ an táng, tiễn đưa những người bạn bè, người thân quen, đã ra đi, để cảm nghiệm: “rồi chính mình cũng sẽ chết” cũng sẽ nằm im lặng, bất động trong quan tài giống như thế. 

Khi nhắm mắt rồi, cát bụi lại trở về với cát bụi hư vô: 

*Khi đôi mắt nhắm nghiền và đôi tay lạnh ngắt

Quả tim không chuyển nổi máu tươi hồng

Thì danh vọng phải trả về cho sắc sắc

Thì bạc tiền đành hoãn lại chốn không không…

Những ân ái, hận thù và mưu chước

Những thăng trầm vinh nhục cũng luôn trôi. (2) 

 

*Đời sống con nguời mong manh, mỏng dòn:

“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

Mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi.” (Thánh Vịnh 90,10) 

 

*“Con đừng sợ án chết.

Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con,

Và sẽ có những người theo sau.

Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm

Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?” (Sách huấn ca 41, 3-4)

Đối với người kitô hữu: 

Người chết là người đã vĩnh viễn hoàn tất đời mình. Là người Kitô hữu, chúng ta phải biết đón nhận sự hoàn tất đó với một tâm hồn bình an cao cả, vì mc khải Kitô giáo đã cho biết rằng cái chết như cánh cổng to lớn mở vào thánh điện an vui vĩnh hằng. Như thánh Phaolô đã xác định: vào ngày cuối cùng, cái hư hoại trong ta sẽ trở nên bất hoại, cái khả tử sẽ nên bất tử (x. 1Cor 15, 53)” (LM Thái Nguyên, bài “Suy gẫm về sự chết”, nguồn simonhoadalat.com). 

Đức Giê-su khi biết mình sẽ phải chết, đã nhắc đến cuộc ra đi vượt qua của Ngài để các môn đệ yên tâm và không hoảng sợ trước sự chết. Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14, 1-2). 

Trong thư Rô-ma, thánh Phao-lô đã khẳng định: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài” (Rm 6, 8).”

Với niềm tin tưởng vào Đức Kitô, niềm an ủi lớn lao là chết không phải là yên nghỉ mà là tiếp tục sống. Vì cái chết chính là ngưỡng cửa đi vào đời sống vĩnh cửu. Với người Ki-tô hữu, “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi).

 Quả thật, với một cái nhìn đầy lạc quan và hy vọng, một niềm tin về đời sống vĩnh cửu, có sự sống lại đời sau nên trong giờ phút lâm chung thi sĩ Tagore đã thốt lên: “Bởi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả sự chết”. (3)

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng nói: “Sự chết cũng là một bổn phận cuối cùng mà con làm cách sẵn sàng và đầy yêu mến”. (Sách Đường Hy Vọng và Dẫn Giải)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tháng 08 năm 2021 

(1) Sách Quyền Năng của Tâm Hồn biết ca ngợi LM Nguyễn Đức Mầu

(2) Trong bài Cảm Nghĩ tuổi già:

xem thêm: Đời Người Luôn Có: 2 Thứ Không Thể Sợ

(3) Trong bài “Kitô Hữu và Sự Chết” của Aug Trần Cao Khải

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

https://keditim.net/wp-content/uploads/2026/05/CHO-TRON-DUONG-TRAN-cuon-2-313-trang.pdf


 

Nước đun sôi, nước suối, nước tinh khiết, nước khoáng Loại nào tốt hơn – Phần I-Mai Thanh Truyết

Mai Thanh Truyết

Lời người viết: Sự gia tăng tiêu thụ nước đóng chai trên toàn cầu không chỉ phản ảnh những thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng, mà còn cho thấy một sự chuyển đổi sâu sắc trong mối quan hệ giữa cá nhân, cơ sở hạ tầng công cộng và sự bền vững môi trường. Bài viết này tái xem xét vấn đề nước uống, bao gồm nước đun sôi, nước tinh khiết, nước suối, và nước khoáng dưới lăng kính của sức khỏe con người, đồng thời lập luận rằng sự phụ thuộc vào nước đóng chai là dấu hiệu của một sự đổ vỡ mang tính cấu trúc về niềm tin đối với các hệ thống công cộng. Thông qua những phân tích so sánh từ bối cảnh của Hoa Kỳ và Việt Nam, bài viết cố gắng làm nổi bật cách thức mà các cung cách quản trị khác biệt lại dẫn đến những hệ quả tương đồng như sự thương mại hóa ngày càng gia tăng và những chi phí sinh thái ngày càng leo thang. Bài viết kêu gọi một sự chuyển hướng từ các giải pháp mang tính cá nhân hóa sang một mô hình quản trị nước mang tính hệ thống và dựa trên niềm tin của người tiêu dùng.

***

Câu hỏi này tưởng đơn giản nhưng thực ra liên quan đến sinh lý cơ thể, dinh dưỡng và cả an toàn môi trường. Không có một loại “tốt tuyệt đối”, mà tùy mục đích sử dụng và hoàn cảnh. Trong đời sống hiện đại, con người có thể tranh luận về thực phẩm hữu cơ, về thuốc men, về môi trường; nhưng có một điều tưởng chừng hiển nhiên mà lại ít được suy xét một cách đúng mức. Đó là, nước uống hằng ngày.

Câu hỏi “nước nào tốt hơn: nước đun sôi, nước tinh khiết hay nước khoáng?” thực chất không chỉ là vấn đề khoa học, mà còn phản ánh nhận thức, thói quen và cả niềm tin của xã hội đối với hệ thống cung cấp nước.

Muốn hiểu rõ vấn đề này, trước hết cần xem các loại nước trên khác nhau như thế nào?

1-    Nước sạch không phải là nước “hoàn hảo”

Một trong những ngộ nhận phổ biến hiện nay là:“Nước càng tinh khiết càng tốt.” Nước tinh khiết là nước không chứa tạp chất, lấy từ nguồn nước máy đạt tiêu chuẩn, sau đó được thanh lọc bằng các công nghệ như chưng cất, trao đổi ion, hay thẩm thấu ngược (reverse osmosis – RO). Nước tinh khiết tuy an toàn kỹ thuật tinh loc, nhưng không hoàn chỉnh sinh học. Nước tinh khiết, đặc biệt là nước qua hệ thống lọc RO, có ưu điểm vượt trội về khả năng loại bỏ tạp chất. Trong bối cảnh nguồn nước bị ô nhiễm bởi kim loại nặng, thuốc trừ sâu hoặc vi sinh, đây là một bước tiến quan trọng của khoa học.

Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi con người tuyệt đối hóa ưu điểm này. Ngược lại, vướng những nhược điểm là gần như không còn khoáng chất tự nhiên, và nếu uống lâu dài (nếu chỉ dùng duy nhất) có thể làm mất cân bằng điện giải nhẹ trong cơ thể. Có vị không tự nhiên, đôi khi làm cho … khó uống.

Một xã hội chỉ dựa vào nước tinh khiết để uống hằng ngày, mà không quan tâm đến chế độ dinh dưỡng tổng thể, có thể rơi vào tình trạng thiếu hụt khoáng vi lượng một cách âm thầm.

Tuy nhiên, nước tinh khiết gần như loại bỏ toàn bộ khoáng chất tự nhiên, trong khi cơ thể con người không chỉ cần nước để “giải khát”, mà còn cần các điện giải vi lượng như calcium, magnesium, potassium. Một loại nước hoàn toàn “trống rỗng” về khoáng chất, nếu sử dụng lâu dài mà không có chế độ ăn cân đối, có thể dẫn đến mất cân bằng sinh lý nhẹ.

Do đó, tiêu chuẩn của nước uống không phải là tối đa tinh khiết, mà là cân bằng giữa an toàn và sinh học.

2- Nước khoáng

Có hai loại nước khoáng: nước khoáng thiên nhiên và nước tinh khiết kết hợp thêm khoáng chất. Nước khoáng thiên nhiên gồm nước lấy từ những mạch nước, suối nguồn chứa những vi khoáng chất như Calcium, magnesium, kalium v.v… Còn nước tinh khiết được kết nạp thêm các khoáng chất trên và trên nhãn chai thường ghi rõ hàm lượng phụ gia. Về ưu điểm, nước có chứa khoáng chất tự nhiên: Ca, Mg, K…có thể hỗ trợ xương (calcium), tim mạch (magnesium), và dễ uống hơn.

Nước khoáng thiên nhiên thường được quảng bá như một lựa chọn “cao cấp” hơn, với hàm lượng khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Điều này không sai, nhưng cũng không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp. Một số loại nước khoáng có hàm lượng sodium hoặc calcium cao, không phù hợp với cho người bệnh thận, người  cao huyết áp, người cần ăn ít hạn chế, và nhứt là giá cao hơn, và thường có nguy cơ “marketing thổi phồng” phẩm chất.

Do đó, nước khoáng nên được xem là nguồn bổ túc, không phải nguồn thay thế hoàn toàn.

3- Nước đun sôi: giải pháp cổ điển nhưng chưa lỗi thời

Nước đun sôi là nước lấy trực tiếp từ vòi nước trong nhà, sau đó được đun sôi. Ưu điểm là diệt được vi khuẩn, virus cho nên an toàn về mặt vi sinh, rẻ, dễ tiếp cận, thích hợp sinh hoạt hằng ngày. Trong nhiều thập niên, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, nước đun sôi là phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo an toàn.

Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là khả năng tiêu diệt vi khuẩn và virus, những tác nhân gây bệnh trực tiếp và cấp tính. Tuy nhiên, nước đun sôi không loại bỏ được các chất hòa tan như kim loại nặng hoặc hóa chất công nghiệp như chì, arsenic, không có thêm khoáng chất (hoặc rất ít), và nếu đun nhiều lần có thể làm cô đặc tạp chất.

Điều này dẫn đến một thực tế cần nhìn nhận thẳng thắn, nước đun sôi chỉ an toàn khi nguồn nước ban đầu đã tương đối sạch. Nói cách khác, đây là giải pháp “gia cố” chứ không phải “cứu cánh”.

4- Lựa chọn hợp lý với suy nghĩ …cân bằng

Từ các phân tích trên, có thể rút ra một nguyên tắc thực tiễn:

  • Nước dùng hằng ngày: nước đun sôi hoặc nước lọc đạt tiêu chuẩn.
  • Nước bổ túc: nước khoáng với mức độ vừa phải.
  • Tránh cực đoan: không lệ thuộc hoàn toàn vào một loại nước nào cả.

Nhưng quan trọng hơn, con người cần quay lại với câu hỏi cốt lõi:“Nguồn nước của chúng ta có đáng tin cậy hay không?”

5- Những điều bổ túc cần biết

Nếu nghi ngờ nước có chứa vi khuẩn, virus, cần đun sôi.

Nếu nước chứa kim loại nặng (chì, arsenic), các kim loại nầy không mất đi khi đun, do đó, chỉ cần lọc→ cần lọc

“Nước càng tinh khiết càng tốt”: Sai, vì cơ thể cần khoáng chất.

“Nước khoáng luôn tốt hơn”: Sai, quá nhiều khoáng chất gây hại thận.

“Nước đun sôi là đủ”: Sai, vì nước trong vùng ô nhiễm chứa nhiều kim loại nặng.

Các dấu hiệu cho thấy nước không an toàn: có mùi lạ (kim loại, clo nặng) – đục, có cặn – uống lâu gây khó chịu tiêu hóa. Khi nghi ngờ, không nên dùng dù đã đun sôi.

Lời khuyên thực tế, trong một gia đình bình thường, nên dùng 70–80% nước đun sôi hay lọc, và 20–30% nước khoáng nhẹ. Đối với trẻ em và người già, nên tránh nước quá tinh khiết hoặc quá nhiều khoáng chất.

6- Kết luận – Văn hóa nước

Ở những quốc gia tiến bộ, người dân có thể uống nước trực tiếp từ vòi; vấn đề lựa chọn giữa các loại nước gần như không tồn tại. Ngược lại, tại những nơi mà người dân phải đun sôi, lọc, hoặc mua nước đóng chai, điều đó phản ánh một thực tế sâu xa hơn, niềm tin vào hệ thống công cộng của chính quyền chưa được bảo đảm. Do đó, câu chuyện nước uống không chỉ là câu chuyện của cá nhân, mà còn là một chỉ số niềm tin của việc quản trị quốc gia.

Nước uống tốt không phải là nước đắt tiền nhứt, mà là nước an toàn, phù hợp và bền vững với điều kiện sống lâu dài.”

Và sâu xa hơn nữa, một xã hội văn minh không phải là xã hội tiêu thụ nhiều nước đóng chai, mà là xã hội nơi con người không phải lo lắng khi uống một ly nước bình thường từ vòi nước trong nhà.

Nhiều người nghĩ:”“Nước càng tinh khiết càng tốt”. Điều này không hoàn toàn đúng. Cơ thể con người không cần nước “trống rỗng”, mà cần cân bằng giữa nước sạch và nước có khoáng. Ngược lại, cũng không nên rơi vào cực đoan:“Chỉ nước khoáng mới tốt”.

Trên thực tế, không có loại nào “tốt nhất tuyệt đối”. Lựa chọn hợp lý nhất vẫn là hằng ngày, dùng nước đun sôi hoặc nước lọc đạt chuẩn. Và thỉnh thoảng lấy nước khoáng để bổ túc cho việc cân bằng khoáng chất cho cơ thể.

Có một điều quan trọng hơn các loại nước kể trên là nguồn nước có sạch không, và bạn uống đủ nước không cho ngày hôm nay?

Mai Thanh Truyết

Houston – Tháng Tư – 2026 

 https://maithanhtruyet1.blogspot.com/

https://www.facebook.com/TruyetMaiUSA

 “We carry our Motherland within us; 

From: haiphuoc47 & NguyenNThu

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy!- Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày nữa để yêu và được yêu. Một ngày thật hạnh phúc bên Chúa và những người thân yêu nhé. Mình xin bạn một lời cầu nguyện khẩn thiết hoặc một hy sinh nhỏ cho đất nước mình đang sống  và cho thế giới nữa nhé

Cha Vương

Thư 4: 17/06/2026.   (n12-24)

TIN MỪNG: Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23)

SUY NIỆM: Con cần Cha, chứ Cha không cần gì con.—Không phải con đến thánh hóa Cha, nhưng Cha đến thánh hóa và làm cho con nên trọn hảo hơn. Con đến để được thánh hóa và hợp nhất với Cha, để Cha ban ơn và tăng thêm lòng hăng hái cải thiện đời sống. Đừng khinh thường ơn đó con ạ! Và hãy dọn lòng cho thật chu đáo, mà đón Bạn chí ái.

 (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:12 t.t.) 

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. 

(Lời kinh Tiền Tụng Chung IV) 

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm kinh Cám Ơn.

From: Do Dzung

*******************************

CON CẦN CHÚA …Bài thánh ca giúp bạn đứng lên khi gục ngã...

TRƯỚC KHI CON MỞ MIỆNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin”.

Một đứa trẻ tỉnh giấc giữa đêm vì cơn ác mộng. Chưa kịp gọi, nó đã thấy cha mình ngồi bên, tay đặt trên trán nó. Đứa bé ngạc nhiên: “Ba biết con sợ?”. Người cha mỉm cười: “Ba đã nghe tiếng con trở mình từ lâu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ một nghịch lý: chúng ta không cầu nguyện để được Thiên Chúa lắng nghe; chúng ta cầu nguyện vì Cha đã nghe cả tiếng trở mình của chúng ta từ trước. Bởi lẽ, Cha đã biết, đã yêu và đã chờ đợi – ‘trước khi con mở miệng’.

Chúng ta thường nghĩ cầu nguyện là chuyển thông tin từ đất lên trời. Nhưng Chúa Giêsu cho biết, không có điều gì nơi chúng ta là “tin mới” đối với Thiên Chúa. Động từ Hy Lạp oiden – “đã biết và vẫn đang biết” – diễn tả một sự hiểu biết đi trước mọi lời thưa gửi. Vì thế, cầu nguyện không nhằm mở mắt Thiên Chúa, nhưng mở lòng người.

Vậy nếu Cha đã biết, tại sao còn phải cầu nguyện? Bởi lẽ, lời cầu nguyện không nhằm thay đổi Thiên Chúa, nhưng biến đổi con người. Mỗi lần thưa “Lạy Cha”, chúng ta học bước ra khỏi cái tôi tự trị; mỗi lần nói “Xin cho ý Cha thể hiện”, chúng ta học trao lại quyền định đoạt cho Cha. Cầu nguyện không phải là kéo Thiên Chúa vào chương trình của chúng ta, nhưng là để chúng ta được đưa vào chương trình của Ngài. Thế nhưng, chúng ta vẫn khó tin điều đó. Chúng ta sợ bị bỏ quên, nên cứ muốn nói nhiều, xin nhiều và tự xoay xở. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bình an xác tín một sự thật: trước khi chúng ta biết mình cần gì, Cha trên trời đã biết.

Câu chuyện Cựu Ước hôm nay là một minh hoạ. Êlia là người đã để Thiên Chúa viết nên câu chuyện đời mình. Ông không sống theo dự tính riêng, nhưng theo ý định của Thiên Chúa; không nắm giữ, nhưng phó thác; không tìm vinh quang cho mình, nhưng làm rạng danh Ngài. Vì thế, ông bừng lên như ngọn lửa – bài đọc một. “Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Niềm vui chỉ nảy sinh nơi những ai không giằng co với Thiên Chúa, nhưng bình an ở trong tay Ngài. “Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng để điều gì làm con sợ hãi. Mọi sự đều qua đi; chỉ mình Thiên Chúa là không đổi thay!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu là Người Con đã sống trọn vẹn trong niềm tín thác vào Chúa Cha. Từ sa mạc đến núi Sọ, Ngài không ngừng trao mình cho Cha, để rồi cuối cùng phó dâng linh hồn trong tay Cha. Đó cũng là con đường của người môn đệ: càng cầu nguyện, chúng ta càng học bớt đòi Thiên Chúa theo ý mình. Cầu nguyện không phải để Thiên Chúa làm điều chúng ta muốn, nhưng để chúng ta trở thành điều Thiên Chúa muốn – biết trao đời mình cho Đấng luôn đi bước trước. Bởi lẽ, ‘trước khi con mở miệng’, Cha đã ở đó.

“Lý do chúng ta cầu nguyện là để được nên một với Thiên Chúa, Đấng chúng ta cầu khẩn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con; trước khi con gọi Cha, Cha đã biết con; trước khi con cất tiếng, Cha đã ở đó. Cho con biết sống và cầu nguyện như một người con!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”


 

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Phong Thanh Nguyen is with Phong Nguyen.

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Trước năm 1975, ở miền Nam có một câu nói dân gian nghe rất chua chát:

“Ai xấu quá thì bị nói: xấu như Việt cộng.”

Mới nghe tưởng là câu đùa ác miệng. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chữ “xấu” ở đây không chỉ nằm ở khuôn mặt, dáng vẻ hay áo quần. Cái xấu đáng sợ hơn là **cái xấu của một lối sống**, một thứ văn hóa chính trị nghèo nàn, thô bạo, luôn dị ứng với sự thanh lịch, tử tế, văn minh và tự do.

Người miền Nam trước 1975 không hoàn hảo. Không xã hội nào hoàn hảo. Nhưng miền Nam có một nếp sống đô thị, một tinh thần cởi mở, một không gian văn hóa tương đối tự do. Người ta đọc sách, nghe nhạc, xem phim, mặc đẹp, nói chuyện lịch sự, tranh luận, yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp. Một cô gái có thể uốn tóc, sơn móng tay, mặc áo dài, dùng son phấn. Một người đàn ông có thể mặc vest, đeo kính, nói năng từ tốn, đọc sách Tây phương, nghe nhạc tiền chiến, bàn chuyện văn chương, triết học, chính trị.

Những điều đó vốn rất bình thường trong một xã hội văn minh. Nhưng dưới con mắt của người cộng sản, cái đẹp ấy lại trở thành “tiểu tư sản”, “ủy mị”, “đồi trụy”, “phản động”, “mất lập trường”. Họ không chỉ muốn chiếm chính quyền. Họ còn muốn chiếm luôn cách ăn mặc, cách nói năng, cách suy nghĩ, cách yêu cái đẹp của con người.

Sau tháng Tư năm 1975, cái xấu ấy không còn là lời đồn. Nó bước thẳng vào đời sống miền Nam bằng dép râu, nón cối, lý lịch, hộ khẩu, công an khu vực, tổ dân phố, kiểm điểm, học tập cải tạo và những buổi đấu tố tinh thần kéo dài từ nhà ra phố.

Những cô gái, những quý bà từng thanh lịch phải tự làm thẳng mái tóc uốn cong. Móng tay từng được chăm chút phải cắt ngắn. Sơn móng tay phải bôi đi. Son phấn phải giấu. Đồ trang sức, quần áo đẹp, sách vở, băng nhạc, tranh ảnh, tiểu thuyết — tất cả trở thành thứ có thể gây nguy hiểm cho chủ nhân.

Không ai ra lệnh bằng văn bản rằng người miền Nam phải xấu đi. Nhưng ai cũng hiểu: muốn sống yên, phải tự làm mình bớt nổi bật. Muốn khỏi bị soi, phải ăn mặc nghèo đi. Muốn khỏi bị nghi ngờ, phải nói ít đi. Muốn khỏi bị chụp mũ, phải giấu sách, giấu nhạc, giấu cả quá khứ.

Thế là những chiếc áo đẹp bị cất vào đáy tủ. Những cuốn sách bị đốt trước khi bị quy là “văn hóa đồi trụy”. Những bản nhạc bị im tiếng. Những câu nói lịch sự bị thay bằng khẩu hiệu. Những con người có giáo dục phải học cách cúi đầu trước những kẻ nhân danh “giai cấp” nhưng cư xử rất thiếu văn hóa.

Cái xấu của cộng sản không chỉ là nghèo. Nghèo chưa chắc xấu. Người nghèo vẫn có thể rất đẹp nếu biết trọng nhân phẩm, trọng lẽ phải, trọng tình nghĩa. Cái xấu của cộng sản nằm ở chỗ họ **biến cái nghèo thành tiêu chuẩn đạo đức**, biến sự thô kệch thành “lập trường”, biến sự ganh ghét cái đẹp thành “đấu tranh giai cấp”.

Họ không nâng người nghèo lên cho đẹp hơn, văn minh hơn, tự do hơn. Họ kéo người khác xuống cho giống cái khuôn nghèo nàn của họ. Ai thanh lịch quá thì bị nghi. Ai học nhiều quá thì bị soi. Ai nói năng mạch lạc quá thì bị ghét. Ai có phong thái đàng hoàng quá thì bị xem là “không giống quần chúng”.

Trong trại cải tạo, nhiều người kể lại rằng những sĩ quan VNCH nào trắng trẻo, trí thức, đeo kính, ăn nói nhã nhặn, có vẻ học thức, thường bị “chiếu cố” nhiều hơn. Vì trong mắt kẻ cai trị bằng hận thù, sự lịch lãm của người tù cũng là một lời tố cáo. Nó làm lộ ra khoảng cách giữa một bên là văn hóa và một bên là bạo lực nhân danh cách mạng.

Cái đẹp làm họ khó chịu.

Cái lịch sự làm họ bất an.

Cái trí thức làm họ nghi ngờ.

Cái tự do làm họ sợ hãi.

Cái sang trọng làm họ căm ghét.

Bởi vì một chế độ được xây trên kiểm soát luôn sợ những con người có nội lực. Người có văn hóa thì khó bị nhồi sọ. Người có nhân phẩm thì khó bị khuất phục. Người biết yêu cái đẹp thì khó chấp nhận sự thô bỉ. Người biết sự thật thì khó cúi đầu trước tuyên truyền.

Vì vậy, trong xã hội cộng sản, “xấu” dần dần trở thành một thứ tiêu chuẩn ngầm.

Không ai viết thành nghị quyết: phải xấu mới là phe ta.

Không ai ban hành nghị định: phải thô kệch mới dễ thăng tiến.

Không ai công khai tuyên bố: ai đẹp, ai sang, ai lịch sự thì khó được tin dùng.

Nhưng trong thực tế, người ta hiểu rất nhanh.

Muốn tiến thân trong guồng máy ấy, nhiều khi không cần tài năng lớn, không cần nhân cách lớn, không cần tư tưởng lớn. Chỉ cần biết cúi đúng chỗ, nói đúng khẩu hiệu, ghét đúng đối tượng, im đúng lúc và tỏ ra đủ “lập trường”. Còn nếu đẹp quá, văn minh quá, độc lập quá, lịch sự quá, có tri thức quá, thì tự nhiên trở thành cái gai.

Nhìn vào chính trường cộng sản cũng thấy một điều lạ: người có phong thái sáng sủa, có khả năng nói chuyện mạch lạc, có vẻ văn minh, thường rất khó sống lâu trong guồng máy. Họ hoặc phải tự làm mình xấu đi, hoặc bị đẩy ra ngoài. Còn những khuôn mặt càng khô cứng, càng giáo điều, càng vô cảm, càng nói như đọc văn bản, càng dễ được xem là “an toàn”.

Đó không phải chuyện ngoại hình đơn giản. Đó là chuyện **khí chất của một hệ thống**.

Một hệ thống đẹp sẽ sinh ra con người biết tôn trọng cái đẹp.

Một hệ thống tự do sẽ không sợ người dân ăn mặc đẹp, đọc sách hay, nói chuyện lịch sự.

Một hệ thống văn minh sẽ không xem son phấn, sách vở, âm nhạc, nghệ thuật là kẻ thù.

Một hệ thống tự tin sẽ không cần bắt người dân phải giống nhau từ quần áo đến suy nghĩ.

Chỉ có một hệ thống mặc cảm mới ghét cái đẹp.

Chỉ có một hệ thống dối trá mới sợ sự thật.

Chỉ có một hệ thống thấp kém mới muốn kéo mọi người xuống thấp.

Chỉ có một hệ thống cai trị bằng hận thù mới xem văn minh là nguy hiểm.

Cho nên chữ “xấu” ở đây phải hiểu cho đúng.

Không phải ai nghèo cũng xấu.

Không phải ai mặc áo bà ba cũng xấu.

Không phải ai xuất thân từ nông thôn cũng xấu.

Không phải ngoại hình quyết định nhân phẩm con người.

Cái xấu cần nói đến là cái xấu của một thứ quyền lực đã làm cho con người phải che giấu vẻ đẹp của mình để được sống yên. Cái xấu của một chế độ khiến người dân phải đốt sách, giấu nhạc, cất áo đẹp, bôi son đi, cắt tóc ngắn lại, đổi giọng nói, đổi cách sống, đổi cả con người thật của mình.

Đó là cái xấu của sự sợ hãi.

Cái xấu của ganh ghét.

Cái xấu của kiểm soát.

Cái xấu của tuyên truyền.

Cái xấu của một nền chính trị không dung nổi sự thanh lịch.

Và bi kịch lớn nhất là: sau nhiều chục năm, cái xấu ấy vẫn chưa biến mất. Nó chỉ thay áo. Ngày xưa là dép râu, nón cối, biên bản, loa phường. Hôm nay là dư luận viên, an ninh mạng, truyền thông định hướng, hội đồng đấu tố trên mạng xã hội. Hình thức có thể khác, nhưng bản chất vẫn là một: ghét người tự do, sợ người có tri thức, dị ứng với tiếng nói độc lập và luôn tìm cách bôi xấu những gì mình không kiểm soát được.

Nếu bạn là một người đàn ông có phong thái đàng hoàng, ăn nói từ tốn, biết suy nghĩ độc lập, có tri thức lịch sử khách quan, không quen cúi đầu trước điều sai; hoặc nếu bạn là một người phụ nữ có vẻ đẹp, có khí chất, có giáo dục, có lòng tự trọng và không chấp nhận sống bằng khẩu hiệu — thì có lẽ bạn thật sự “không đủ điều kiện” để tiến thân trong guồng máy ấy.

Bạn có thể chạy xe ôm.

Bạn có thể bán cà phê.

Bạn có thể làm móng tay.

Bạn có thể cắt tóc, buôn bán nhỏ, lao động bình thường.

Thu nhập có thể không cao. Đời sống có thể vất vả. Nhưng ít nhất bạn còn giữ được một thứ mà nhiều kẻ trong guồng máy đã đánh mất: **nhân phẩm**.

Vì sau cùng, cái đẹp thật sự không nằm ở khuôn mặt. Nó nằm ở cách một con người sống, nói, nghĩ và đối xử với sự thật.

Còn cái xấu thật sự cũng không nằm ở làn da, mái tóc hay áo quần. Nó nằm ở một tâm hồn căm ghét tự do, một bộ máy sợ văn minh, và một ý thức hệ muốn biến cả xã hội thành một hàng người cúi đầu giống nhau.

Cái xấu ấy mới là cái xấu đáng sợ nhất.


 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…- TG Văn Chương

Bình Yên LNChuyện tuổi Xế Chiều 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…

Mà là học cách sống tiếp khi không còn họ bên cạnh.

Là nhìn vào chỗ trống mà họ từng ngồi, từng cười, và cảm thấy tim mình hụt đi một mảnh.

Nỗi đau mất mát không có thời hạn.

Không có ngày nào đó mà bạn bỗng dưng “hết buồn”.

Có hôm bạn thấy mình ổn, đi làm, cười nói như thường.

Nhưng rồi có hôm, chỉ cần một câu hát, một mùi hương quen, hay ánh sáng ban chiều giống như hôm ấy… là bạn lại vỡ òa.

Và chuyện đó hoàn toàn bình thường.

Bạn không yếu đuối – bạn chỉ đang thương thật lòng.

Tình yêu bạn đã trao cho họ – và những gì họ từng dành cho bạn – không biến mất khi họ ra đi.

Nó vẫn còn ở đó, chỉ là đổi hình dạng thôi.

Thành một ký ức khiến bạn cười vu vơ.

Thành một giấc mơ khiến bạn thức dậy rồi nghẹn ngào.

Thành một giọt nước mắt không cần lý do.

Có thể bạn sẽ thấy áy náy khi mình vui, khi mình vẫn sống tiếp, khi mình bắt đầu lại điều gì đó mới.

Nhưng sống không có nghĩa là quên.

Sống – chính là một cách để biết ơn.

Là tiếp tục bước đi, mang theo tình thương họ để lại trong tim bạn.

Hãy cứ nhớ họ.

Cứ nói về họ nếu bạn muốn.

Cứ khóc khi thấy lòng mình đau.

Nhưng cũng hãy cho phép mình được bình yên lại – từng chút một.

Vì dù câu chuyện giữa bạn và họ không còn như xưa, nhưng nó chưa bao giờ thực sự kết thúc.

Bạn vẫn đang viết tiếp, mỗi ngày.

Hãy sống sao cho, nếu họ đang dõi theo ở đâu đó – họ sẽ mỉm cười và tự hào vì bạn đã mạnh mẽ đến thế.

Và nếu một ngày nào đó bạn thấy không thể gượng dậy nổi,

hãy ngẩng đầu lên.

Vì ngay giữa những ngày buồn nhất… vẫn có ánh sáng.

TG Văn Chương


 

MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI

 Phong Thanh Nguyen 

**MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI**

Con ruột của người được gọi là “cha già dân tộc” vừa qua đời ở tuổi 70. Nhưng điều trớ trêu và cay đắng nhất là: cả một đời người ấy, điều ông mong mỏi không phải vinh hoa, chức quyền, tiền bạc hay quân hàm. Điều ông mong chỉ là một sự thật rất nhỏ, rất người, rất căn bản: được gọi đúng một tiếng — **con**.

Theo câu chuyện đã được nhiều nguồn ngoài luồng nhắc lại trong nhiều năm, ông Nguyễn Tất Trung được cho là con của Hồ Chí Minh và bà Nông Thị Xuân, một phụ nữ trẻ người miền núi, từng được đưa về phục vụ trong hệ thống quanh Phủ Chủ tịch. Nếu câu chuyện ấy là sự thật, thì đây không chỉ là một chuyện tình bị giấu kín. Đây là bi kịch của một con người bị xóa tên khỏi lịch sử để bảo vệ một huyền thoại chính trị.

Một người mẹ trẻ, mới ngoài hai mươi tuổi, bước vào vòng xoáy quyền lực mà mình không có khả năng tự vệ. Một đứa trẻ sinh ra không được sống như một đứa trẻ bình thường. Một thân phận bị đổi tên, gửi đi, che giấu, né tránh, như thể sự tồn tại của nó là một lỗi kỹ thuật trong bản tuyên truyền về “lãnh tụ đạo đức sáng ngời”.

Cay đắng nằm ở chỗ đó.

Người ta có thể dựng tượng, viết sách, treo khẩu hiệu, bắt học sinh học thuộc từng lời dạy. Người ta có thể gọi một lãnh tụ là “cha già dân tộc” suốt mấy thế hệ. Nhưng nếu ngay cả một đứa con ruột — máu mủ của chính mình — cũng không được công khai thừa nhận, thì chữ “cha” ấy còn lại bao nhiêu phần sự thật?

Làm cha không phải là đứng trên lễ đài để nhận hoa.

Làm cha không phải là để hàng triệu người gọi mình bằng danh xưng thiêng liêng.

Làm cha trước hết là dám nhận trách nhiệm với sinh mạng do chính mình tạo ra.

Một người đàn ông bình thường, dù nghèo, dù thất học, dù không có quyền lực, vẫn biết rằng đứa con cần một danh phận. Nó cần biết mình từ đâu đến. Nó cần một người cha không quay mặt đi khi sự thật trở nên bất tiện.

Nhưng trong một chế độ toàn trị, sự thật không được đối xử như sự thật. Sự thật bị đo bằng lợi ích chính trị. Con người bị đo bằng giá trị tuyên truyền. Một người mẹ có thể bị xóa khỏi ký ức công cộng. Một đứa con có thể bị biến thành cái bóng. Một đời người có thể bị đặt sau nhu cầu giữ cho tượng đài luôn trắng sạch, luôn “vĩ đại”, luôn không tì vết.

Đó là bi kịch lớn hơn cả bi kịch gia đình. Đó là bi kịch của một xã hội bị buộc phải yêu một hình tượng hơn yêu con người thật. Người ta không được phép nhìn lãnh tụ như một con người có dục vọng, sai lầm, trách nhiệm và hệ quả. Người ta phải nhìn ông như một thánh nhân thế tục. Và để bảo vệ thứ “thánh nhân” ấy, người thật phải biến mất.

Bà Nông Thị Xuân, nếu đúng như các lời kể, không chỉ là một phụ nữ bị phụ bạc. Bà là biểu tượng cho những thân phận nhỏ bé bị nghiền nát dưới bánh xe quyền lực. Bà không có diễn đàn để tự biện hộ. Không có báo chí độc lập để đặt câu hỏi. Không có tòa án công minh để bảo vệ. Không có lịch sử chính thức để ghi nhận. Bà chỉ còn lại trong những lời kể rời rạc, trong những ký ức bị truy đuổi, trong những câu chuyện bị xem là “nhạy cảm”.

Còn Nguyễn Tất Trung, nếu đúng là người con bị che giấu ấy, thì số phận của ông là một bản cáo trạng lặng lẽ. Ông không cần ngai vàng. Không cần đặc quyền. Không cần được đưa vào sách giáo khoa. Ông chỉ cần điều mà bất cứ đứa trẻ nào sinh ra trên đời cũng có quyền được biết: **tôi là con của ai?**

Một đời người đi qua, cuối cùng vẫn chỉ còn một câu hỏi: tại sao sự thật đơn giản ấy lại đáng sợ đến vậy?

Nếu Hồ Chí Minh thật sự là “cha già dân tộc”, thì tại sao một người con lại phải sống trong bóng tối? Nếu ông là biểu tượng đạo đức tuyệt đối, thì tại sao lịch sử lại phải bị khóa miệng trước những câu hỏi về đời tư, trách nhiệm và nhân phẩm? Nếu chế độ tin vào sự trong sạch của lãnh tụ, tại sao không mở hồ sơ, công khai tài liệu, cho hậu thế đối diện với sự thật?

Vì sự thật, một khi được nói ra, có thể làm nứt tượng đài.

Mà tượng đài trong chế độ toàn trị không được xây bằng đá. Nó được xây bằng kiểm duyệt, sợ hãi, im lặng và những câu chuyện bị cấm kể. Nó đứng được không phải vì nó vững chắc, mà vì người ta bị bắt phải quỳ xuống nhìn lên.

Cái chết của một người đàn ông 71 tuổi, vì vậy, không chỉ là sự khép lại của một đời người. Nó mở lại một câu hỏi lớn hơn: một dân tộc có thể trưởng thành không, nếu lịch sử của nó vẫn bị viết bằng những khoảng trắng bắt buộc?

Không ai đòi lịch sử phải hoàn hảo. Không lãnh tụ nào là thiên thần. Nhưng một xã hội văn minh phải có can đảm gọi sự thật bằng đúng tên của nó. Sai thì nói sai. Có thì nói có. Con thì phải được gọi là con. Người mẹ thì phải được trả lại nhân phẩm. Người chết thì phải được trả lại tiếng nói. Và dân tộc thì phải được trả lại quyền biết sự thật.

Bởi một dân tộc không thể sống mãi bằng huyền thoại.

Một thế hệ không thể trưởng thành bằng sự che giấu.

Và một tượng đài, dù được sơn son thếp vàng đến đâu, cũng không thể thay thế cho lương tâm.

Câu hỏi cuối cùng vẫn còn đó, lạnh và đau:

**Một người được gọi là “cha già dân tộc” mà ngay cả con ruột còn không dám nhận, thì dân tộc ấy đã được thương bằng tình thương nào — hay chỉ được dùng như phông nền cho một huyền thoại chính trị?**


 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Animal Stories 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Đó là Atlas.

Một chú Golden Retriever làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn.

Nhưng đến những giờ phút cuối cùng…

Atlas không còn đơn thuần là đang tìm kiếm.

Cậu đang chiến đấu.

Chiến đấu với những khối bê tông khổng lồ.

Với sự kiệt sức.

Với chính cơ thể đã vượt quá giới hạn.

Bởi vì đâu đó dưới hàng nghìn tấn đổ nát…

Atlas tin rằng vẫn còn một người đang sống.

Và cậu nhất quyết không bỏ cuộc.

Sau trận động đất kinh hoàng xảy ra ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, đội cứu hộ từ nhiều quốc gia đã nhanh chóng có mặt.

Trong số đó có lính cứu hỏa Lukas Hartmann cùng người đồng đội bốn chân mang tên Atlas.

Atlas không phải chú chó nhanh nhất.

Cũng không phải khỏe nhất.

Nhưng ai từng làm việc với cậu đều biết một điều:

Một khi Atlas tin rằng còn người sống… sẽ không gì khiến cậu từ bỏ.

Chỉ trong vòng 20 phút đầu tiên tại hiện trường, Atlas phát hiện một cậu bé tuổi teen còn mắc kẹt.

Cậu bé được cứu sống.

Sau đó là một người mẹ và con gái nhỏ.

Rồi một cụ ông.

Hai công nhân xây dựng.

Hết người này đến người khác…

Atlas liên tục dẫn đội cứu hộ đến những khoảng không nhỏ bé giữa biển bê tông.

Đến cuối ngày đầu tiên, cậu đã giúp tìm thấy 12 người còn sống.

Sáng hôm sau, thêm 4 người nữa.

Rồi 17.

Rồi 18.

Tin tức về chú chó cứu hộ phi thường nhanh chóng lan rộng.

Nhưng Atlas vẫn chưa dừng lại.

Ở một góc nguy hiểm của tòa nhà sụp đổ, cậu liên tục sủa, cào bới rồi nhất quyết không chịu rời đi.

Máy quét nhiệt không phát hiện gì.

Thiết bị thu âm cũng chỉ là im lặng.

Nhiều người đề nghị chuyển sang khu vực khác.

Chỉ riêng Lukas lắc đầu.

“Nếu Atlas nói còn người ở đó…

thì chắc chắn còn người.”

Đội cứu hộ tiếp tục đào.

Hàng giờ trôi qua.

Cho đến khi…

Ba tiếng gõ yếu ớt vang lên từ sâu bên dưới.

Một người phụ nữ vẫn còn sống.

Mọi người lập tức tăng tốc đào bới.

Còn Atlas?

Cậu không chịu nghỉ.

Không ăn.

Không uống.

Dù được kéo đi nhiều lần, cậu vẫn quay lại đúng vị trí ấy.

Như thể muốn chắc chắn rằng người bên dưới sẽ được đưa ra an toàn.

Đến khoảng 4 giờ sáng…

Atlas bất ngờ gục xuống.

Các bác sĩ thú y xác định cậu bị kiệt sức nghiêm trọng, mất nước và gặp biến chứng nội tạng do làm việc quá sức.

Trong khi đội cứu hộ vẫn tiếp tục giải cứu người phụ nữ, Lukas quỳ xuống bên Atlas và khẽ nói:

“Con đã tìm thấy họ rồi.

Mười tám người…

và cả người thứ mười chín nữa.”

Vài giờ sau, người phụ nữ cuối cùng cũng được đưa ra ngoài.

Còn sống.

Việc đầu tiên Lukas làm là mang tin vui đến cho Atlas.

“Con làm được rồi.

Cô ấy an toàn rồi.”

Những người có mặt kể lại rằng…

chiếc đuôi của Atlas khẽ đập xuống mặt đất hai lần.

Như thể cậu đã hiểu.

Chiều hôm ấy, Atlas lặng lẽ ra đi trong vòng tay của cả đội cứu hộ.

Nhưng câu chuyện về cậu thì vẫn còn ở lại.

Những người sống sót vẫn trở về nơi dựng tượng Atlas mỗi năm.

Có người mang theo hoa.

Có người mang theo ảnh gia đình.

Có người dắt theo những đứa trẻ mà họ từng nghĩ sẽ không bao giờ còn được gặp lại.

Bởi một chú chó Golden Retriever…

đã từ chối bỏ đi khi vẫn còn một người cần được cứu.

#AnimalStories – #RescueDog – #HeroDog – #SearchAndRescue – #GoldenRetriever – #DogHero – #InspiringStory – #Heartwarming#NeverGiveUp – #HopeLives – #DogLover – #FeelGoodStory-RescueMission – #LoyalCompanion – #TrueHero 


 

MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Khám Phá Tri Thức

 MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Có những cuộc đời sinh ra để định nghĩa lại hai từ “Tình yêu”. Mẹ Teresa chính là một biểu tượng vĩ đại như thế. Cả cuộc đời bà là một hành trình không mệt mỏi vì những con người bần cùng nhất thế giới.

Ước mơ tuổi thơ

Mẹ Teresa sinh ngày 26/08/1910 tại Skopje (nay là thủ đô của Bắc Macedonia), trong một gia đình gốc Albania sùng đạo. Năm 12 tuổi, cô bé Agnes (tên khai sinh của bà) đã nuôi dưỡng ước mơ trở thành một nữ tu truyền giáo. Đến năm 18 tuổi, bà chính thức rời bỏ quê hương, chọn cuộc sống thanh bần để dấn thân vào hành trình bác ái.

Người mẹ của những mảnh đời bị bỏ rơi

Suốt hơn nửa thế kỷ phục vụ tại Ấn Độ và toàn cầu, bà và Dòng Thừa sai Bác ái đã dang tay nuôi sống hàng triệu trẻ em mồ côi, khuyết tật và chữa trị cho những bệnh nhân phong cùi, HIV/AIDS bị xã hội ruồng bỏ. Với bà, mỗi đứa trẻ đều xứng đáng được yêu thương và có một mái nhà.

Giải Nobel Hòa bình và chiếc áo Sari 1 Đô-la

Năm 1979, Mẹ Teresa được trao giải Nobel Hòa bình ở tuổi 69. Xuất hiện trước các nguyên thủ quốc gia, bà vẫn mặc chiếc áo sari vải thô giá 1 USD và đi đôi dép sờn cũ. Bà từ chối bữa tiệc chiêu đãi hoàng gia trang trọng, yêu cầu quyên góp toàn bộ chi phí và tiền thưởng (192.000 USD) để xây nhà tình thương cho người nghèo.

Bất tử với danh hiệu Cao quý

Mẹ Teresa trút hơi thở cuối cùng vào năm 1997, hưởng thọ 87 tuổi. Để vinh danh những phép lạ và cuộc đời thánh thiện của bà, năm 2016, Tòa thánh Vatican đã chính thức tổ chức đại lễ phong Thánh, tôn vinh bà là Thánh Teresa thành Calcutta.

 “Nếu bạn không thể nuôi sống một trăm người, thì hãy chỉ nuôi sống một người thôi.” — Câu nói kinh điển của Mẹ vẫn luôn là kim chỉ nam nhắc nhở chúng ta về lòng trắc ẩn trong cuộc sống hiện đại.

Hãy cùng chia sẻ câu chuyện này để lan tỏa những giá trị tốt đẹp của tình yêu thương không biên giới!