CÂU CHUYỆN CỦA MỘT BỨC ẢNH

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CỦA MỘT BỨC ẢNH.

Đây là một trong những bức ảnh đau lòng nhất trong lịch sử nhân loại. Nhìn  nó thôi cũng đã thấy xót xa.

Tháng 4 năm 1980, tại Uganda. Vùng Karamoja đang trải qua nạn đói, vấp phải sự thờ ơ hoàn toàn từ phần còn lại của thế giới. Hơn 20% dân số sẽ chết, chủ yếu là trẻ em.

Ngày hôm đó, nhiếp ảnh gia Mike Wells đang đi bộ cùng một nhà truyền giáo Công giáo, Cha Ali Facey. Bất chợt, một cậu bé bốn tuổi tiến đến. Cậu bé không xin gì cả. Cậu chỉ đơn giản đặt tay mình vào tay vị linh mục.

Mike Wells chụp một bức ảnh.

Ngay lập tức, ông đã ghi lại được sự tương phản đen tối nhất trong thế giới của chúng ta: bàn tay gầy gò, yếu ớt của một đứa trẻ, lạc lõng trong lòng bàn tay của một người lớn tượng trưng cho sức mạnh và sự sung túc.

Ban đầu, nhiếp ảnh gia cảm thấy xấu hổ khi chụp bức ảnh này. Ông thậm chí không muốn nó được công bố. Ông thậm chí còn từ chối ăn mừng giải thưởng quốc tế lớn mà ông đã giành được cho bức ảnh, nói rằng ông buồn khi trở nên nổi tiếng vì hoàn cảnh khốn khổ của một đứa trẻ đang hấp hối.

Ban đầu, các tạp chí lớn từ chối đăng tải bức ảnh. Họ cho rằng nó quá gây sốc. Nhưng một khi được chia sẻ rộng rãi, nó đã trở thành biểu tượng toàn cầu về nạn đói và bất bình đẳng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Paris Match.


 

TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC HẠNH PHÚC ..! Truyen ngan HAY

Chi NguyenNhững Câu Chuyện Thú Vị

– Nếu mày không bỏ thằng đó thì bước ra khỏi nhà ngay

– Con xin bố mẹ,bố mẹ bắt con gì cũng được nhưng đừng chia lìa chúng con,con yêu anh ấy

– Thằng nghèo kiết xác này liệu có nuôi nổi mày không? Mày quen sống trong nhung lụa rồi làm sao mà chịu khổ theo nó được?

– Bây giờ anh ấy nghèo nhưng không có nghĩa là cả đời anh ấy nghèo,rồi sẽ có ngày anh ấy có được 1 sự nghiệp rực rỡ,con tin vào năng lực của anh ấy

– Thế thì mày xách đồ theo nó luôn đi!

– Bố,mẹ!

– Xem như tao không có đứa con gái như mày

Cô lững thững xách va li ra khỏi nhà,đưa ánh mắt van nài nhìn bố mẹ lần cuối nhưng đáp lại ánh mắt của cô là sự lạnh lùng đến đáng sợ. Bố mẹ cô là vậy,họ đã nói là làm,họ không chấp nhận 1 chàng rể nghèo. Họ đã cố tình gán ghép cô với những anh chàng giàu có lắm tiền nhưng cô không yêu ai trong số họ.

Cô yêu anh,yêu từ cái tính thật thà chất phác tới sự chăm chỉ cần cù không biết ngại khổ. Nhưng bố mẹ cô không cần những điều đó,với họ,chàng rể môn đăng hộ đối mới là nhất. Cô cắn chặt môi nhìn căn nhà mình sinh ra và lớn lên cùng bố mẹ lần cuối rồi cùng anh bước đi.

Anh ở trong 1 khu trọ khá xa trung tâm thành phố. Đó là 1 phòng trọ nhỏ,tính ra còn chẳng to bằng phòng ăn nhà cô,nhưng có điều rất gọn gàng và ngăn nắp. Cô đặt va li xuống rồi xắn tay vào sắp xếp đồ đạc.

Ngày hôm sau,cô và anh rong ruổi trên chiếc xe máy cũ của anh. Cô cần tìm cho mình 1 công việc. Trước giờ cô chỉ lo ăn học,học đại học xong thì phụ giúp cho công ty của bố. Bây giờ,cô cần đi làm để cùng anh lo cho cuộc sống của cả 2.

Cô được nhận vào làm ở 1 shop thời trang. Sáng sáng,cô và anh dậy sớm,ăn sáng rồi anh đưa cô đi làm sau đó tới công ty. Chiều tan làm,anh đón cô rồi về nhà cùng nấu nướng ăn tối. Vốn sinh ra và lớn lên trong gia đình giàu có nên mới đầu cô hơi khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống mới,bố mẹ cô thi thoảng vẫn hay điện thoại kêu cô trở về nhưng cô cương quyết ở lại bên anh. Cô hạnh phúc khi ở bên anh,cuộc sống tuy vất vả nhưng luôn tràn ngập tiếng cười,niềm vui và hạnh phúc.

Anh luôn làm việc hết sức mình và không ngừng cố gắng,anh luôn muốn kiếm thật nhiều tiền để cô được sống trong sung sướng như trước kia. Dần dần,anh được cất nhắc lên những vị trí cao hơn,việc làm ăn liên tục phất lên như diều gặp gió. Sau 3 năm,anh tự mở cho mình 1 công ty và mua nhà ở trung tâm thành phố để sinh sống.

Anh không cho cô đi làm nữa,để cô ở nhà chăm lo cho gia đình và dành thời gian nghỉ ngơi thư giãn.

Thế nhưng,từ ngày có công ti riêng,anh bận rộn hơn rất nhiều,cả ngày có khi không về nhà cùng vợ ăn 1 bữa cơm. Anh liên tục nhận điện thoại và đi khỏi nhà bất cứ lúc nào. Anh đi sớm về khuya,thường xuyên về nhà trong trạng thái say xỉn. Anh quên ngày sinh nhật của vợ,quên ngày kỉ niệm của cả 2,dần dần cô có cảm giác căn nhà như cái nhà trọ để anh trú chân lúc nhát,còn nhà thật sự của anh có lẽ là công ty ,là nhà hàng,là khách sạn,là quán cà phê,là bàn nhậu,bàn tiếp khách… anh có mặt ở những chỗ đó nhiều hơn có mặt ở nhà. Căn nhà lúc nào cũng chỉ có 1 mình cô đi ra đi vào sớm trưa chiều tối. Cô nói với anh rằng cô rất cô đơn,cô muốn anh bớt công việc lại để dành thời gian cho cô,nhưng lúc nào anh cũng nói : “Anh muốn em có cuộc sống sung túc đầy đủ,anh không muốn em phải khổ,mà muốn vậy thì phải có tiền chứ,anh đi kiếm tiền chứ có làm gì có lỗi với em đâu”.

Ngày hôm đó là sinh nhật cô,anh hứa về sớm cùng cô ăn tối. Cô đợi anh,8h,9h,rồi 1h,2h,gọi điện thoại thì anh không nhắc máy,nhắn tin không trả lời. Tới 3h,anh trở về trong men say nồng nặc. Mở cửa cho anh vào,nước mắt cô chảy dài,bao kìm nén bỗng chốc vỡ òa:

– Anh đã hứa sẽ về sớm ăn tối với em kia mà? Đã bao lâu rồi mình không cùng ăn với nhau 1 bữa cơm anh biết không? Anh có biết em đã kì công chuẩn bị bao nhiêu món anh thích và chờ anh bao lâu không?

– Anh xin lỗi,có 1 bản hợp đồng đáng giá mấy tỉ cần ký gấp,sau đó anh cùng đối tác đi ăn

– Sao anh không nghe điện thoại?

– Điện thoại?…. Thôi chết anh đưa cho thư kí cầm rồi,anh có dặn trong lúc anh bàn chuyện với khách thì để chế độ im lặng

– Mấy bản hợp đồng đó quan trọng thế cơ à? Chậm 1 buổi tối thì sao chứ? Nó quan trọng hơn em nhiều phải không? – cô nói trong nước mắt

– Anh xin lỗi em,nhưng em nghĩ mà xem,bỏ lỡ bản hợp đồng đó anh sẽ mất mấy tỉ đó

– Tiền,tiền,lúc nào cũng tiền,bắt đầu từ bao giờ anh yêu tiền hơn vợ thế?

– Em nói gì lạ thế,anh yêu tiền hơn vợ lúc nào? Anh rất yêu em,nhưng tiền rất quan trọng,không có tiền làm sao có nhà sang cho em ở,xe đẹp cho em đi,quần áo trang sức hàng hiệu cho em?

– Em không cần,không cần những thứ đó,em thà thuê cái nhà trọ nhỏ xíu để ở,đi làm cực nhọc từ sáng tới tối như trước kia nhưng hàng ngày được cùng anh ăn cơm với nhau,được anh đưa đi đón về,được cùng anh trò chuyện mỗi tối

– Anh không muốn em khổ như thế,anh muốn em sống trong sung túc như trước kia khi em còn ở với gia đình em

– Như thế em thấy rất vui,rất hạnh phúc chứ không hề khổ.Em bỏ nhà đi,cãi lại lời bố mẹ mà theo anh không phải vì mong muốn 1 ngày nào đó anh sẽ cho em cuộc sống như bố mẹ em cho em mà là vì em yêu anh và muốn cùng anh sống hạnh phúc,tiền không mua được hạnh phúc anh hiểu không?

Trút hết bao bức bối trong lòng,cô lao ra khỏi nhà với khuôn mặt ướt đẫm nước mắt,nhưng vừa ra khỏi cửa được vài bước chân bỗng chốc cô ngã quỵ xuống,ngất lịm. Nghe tiếng “uỵch” như thể có gì rớt xuống,anh vội chạy ra ngoài xem. Anh như tỉnh hết men say khi thấy cô nằm bất động dưới sàn,mặt tái xanh,tay chân lạnh ngắt. Anh vội đưa cô tới bệnh viện,cô nằm trong phòng cấp cứu suốt 3 tiếng đồng hồ bác sĩ mới hớt hải chạy ra. Anh vội níu tay bác sĩ lại hỏi:

– Bác sĩ,vợ tôi thế nào rồi?

– Anh làm chồng cái kiểu gì mà để bệnh tình của vợ ra tới nông nỗi này? Suy hô hấp nặng,đang rất nguy kịch

Nói rồi bác sĩ lại chạy vụt đi. Anh như chết lặng,vợ anh bị suy hô hấp ư? Lại còn nặng nữa? Cô bị bệnh này từ bao giờ anh hoàn toàn không hề hay biết. Lâu nay quá mải mê với ông việc mà anh đã không quan tâm tới sức khỏe của vợ mình mất rồi…

Vị bác sĩ trở lại cùng 3 4 vị bác sĩ nữa,ai nấy đều hớt hải,bất giác anh thấy sợ. Cảm giác tội lỗi lấn át tâm trí anh,hình như đã quá lâu rồi anh không còn đưa cô đi khám sức khỏe định kì,đi sớm về khuya anh cũng chẳng biết cô khỏe hay đang đau ốm,cũng lâu lắm rồi anh và cô không cùng ngồi trò chuyện,cùng ngồi ăn chung 1 bữa cơm. Đã quá lâu rồi anh để tiền thay mình lo cho vợ. Anh ôm đầu tự dằn vặt mình,anh chỉ mong vợ mình không sao,để anh có cơ hội bù đắp cho cô.

Thêm 3 tiếng nữa,các vị bác sĩ trở ra,nhưng ai nấy đều mặt buồn rười rượi. Anh chạy tới bên chỗ các bác sĩ nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Anh lao vào phòng cấp cứu,cô nằm bất động,ống thở đã rút,máy điện tâm đồ hiện lên chỉ là 1 đường ngang lạnh lùng. Anh chạy tới nắm lấy bàn tay cô,lạnh ngắt như đá,khuôn mặt cô trắng nhợt,anh quỳ xuống bên cô mà khóc,là tại anh,tại anh không chăm sóc lo lắng cho cô để rồi chính anh trao tay vợ mình cho thần chết. Nếu như căn bệnh của cô được phát hiện và điều trị sớm thì cô sẽ không chết,chắc chắn thế,thế nhưng anh đã để cô chịu đựng quá nhiều,cả căn bệnh quái ác kia và cả những uất ức buồn tủi do anh mang lại. Quá muộn rồi,anh chẳng thể chuộc lại lỗi lầm được nữa.

Ngày hôm nay mưa phùn nhẹ,mây đen phủ đầy trời,anh đứng lặng nhìn trân trân vào tấm di hình của vợ trên tấm bia đá xám ngắt. Tim anh se lại,chắc có lẽ cả quãng đời còn lại anh sẽ chẳng thể thoát khỏi dằn vặt và đau thương.

Thế đấy,tiền không phải là tất cả,nó là 1 phần không thể thiếu của cuộc sống nhưng chẳng thể mang lại hạnh phúc toàn vẹn. Hạnh phúc thật sự phải do con người tự tay tạo nên bằng tình yêu và trái tim cũng ngập tràn yêu thương. Đừng để tiền làm bạn quên đi những giá trị đích thực của cuộc sống và rồi có ngày phải thấy hối tiếc.!

TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC HẠNH PHÚC ..!

Bài & ảnh sưu tầm


 

“TÔI TỪNG LÀ MỘT BÁC SĨ”.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

“TÔI TỪNG LÀ MỘT BÁC SĨ”.

Bác sĩ Álvaro Salguero nổi tiếng khắp San José, Costa Rica. Là một bác sĩ phẫu thuật danh tiếng, ông lái xe sang trọng, đeo đồng hồ đắt tiền và có trí thông minh sắc sảo. Ông giúp đỡ nhiều người, nhưng không quên thể hiện rõ ai mới là người nắm quyền. Một buổi chiều nọ, khi đang rời khỏi bệnh viện tư nhân nơi ông làm việc, ông gặp một người đàn ông bẩn thỉu, chân trần và lưng còng ngồi trên vỉa hè.

“Thưa ông,” người ăn xin nói, “ông có thể cho tôi chút gì ăn được không?”

Álvaro nhìn ông ta với vẻ khinh bỉ, không hề chậm lại.

“Kiếm việc làm đi, như mọi người khác.”

“Tôi bị ốm,” người đàn ông thì thầm đáp. “Tôi bị sốt mấy ngày rồi và hầu như không đi nổi.”

Vị bác sĩ im lặng vài giây.

“Đó không phải vấn đề của tôi. Đến Caja, bệnh viện công đi.”

Và ông bỏ đi.

Nhưng đêm đó, có điều gì đó làm ông băn khoăn. Ông mơ thấy mình nằm trên đường, đói khát, và mọi người cứ thế đi ngang qua mà không hề liếc nhìn.

Sáng hôm sau, anh quyết định mang cho người đàn ông một túi thức ăn. Không phải vì lòng tốt, mà để xoa dịu cảm giác tội lỗi của mình.

“Đây,” anh nói mà không nhìn người ăn xin. “Tôi không có thói quen làm điều này, nhưng…”

Người ăn xin run rẩy nhận lấy túi thức ăn và mỉm cười.

“Cảm ơn bác sĩ. Mong cuộc sống sẽ đền đáp bác sĩ gấp bội.”

“Làm sao anh biết tôi là bác sĩ?”

“Qua cách anh đi. Những người nghĩ mình là cứu tinh của thế giới luôn đi như vậy, đầu ngẩng cao hơn cả trái tim.”

Álvaro cảm thấy nhói lòng.

“Và anh biết gì về chuyện đó?”

“Đủ rồi. Tôi cũng từng là bác sĩ. Bác sĩ nội khoa. Tôi mất tất cả sau một bi kịch mà tôi không muốn nhớ lại. Đôi khi bạn nghĩ bằng cấp của mình là áo giáp. Nhưng hóa ra nó chỉ là một lớp ngụy trang mà cuộc sống có thể xé toạc chỉ trong một đêm tồi tệ.”

Lần đầu tiên, vị bác sĩ nhìn anh chăm chú. Khuôn mặt ông, dù hằn sâu những nếp nhăn, vẫn toát lên vẻ thông minh, kiên định.

“Ông từng là bác sĩ mà cuối cùng lại lang thang trên đường phố?”

“Vâng. Không phải lúc nào cũng chỉ dựa vào trí thông minh hay nỗ lực. Đôi khi, cuộc sống có những kế hoạch mà mình không hiểu. Điều đó đã xảy ra với tôi. Ngày mai nó cũng có thể xảy ra với anh. Và khi điều đó xảy ra, anh sẽ nhận ra rằng người ta không đánh giá anh dựa trên những gì anh biết, mà dựa trên những gì anh khoác lên mình khi tất cả những chiếc mặt nạ rơi xuống.”

Álvaro không nói gì. Anh để lại chiếc túi và bỏ đi.

Nhiều ngày trôi qua. Mỗi buổi chiều, anh đều mang thức ăn cho ông, đôi khi là quần áo. Họ bắt đầu nói chuyện nhiều hơn. Người ăn xin—tên là Rogelio—chia sẻ những câu chuyện y khoa mà chỉ một bác sĩ thực thụ mới biết.

Một ngày nọ, Rogelio không còn ở bên cạnh anh nữa.

Khi anh hỏi thăm xung quanh khu vực, một người bán trái cây nói với anh:

“Họ đưa ông ấy đi bằng xe cứu thương. Ông ấy bị nhiễm trùng rất nặng. Ông ấy đang nằm viện.”

Álvaro đến thăm ông. Ông tìm thấy Rogelio một mình trong phòng chung, sốt cao và yếu ớt.

“Tôi không nghĩ anh sẽ đến,” Rogelio nói với một nụ cười.

“Anh đã dạy tôi nhiều điều trong vài tuần qua hơn nhiều đồng nghiệp của tôi đã dạy trong nhiều năm.”

“Anh đã học được gì?”

“Rằng phẩm giá không phải lúc nào cũng đến từ chiếc áo khoác trắng. Rằng lòng bác ái thực sự không được ban phát từ trên cao. Và đôi khi, những người có ít nhất lại cho đi nhiều nhất.”

“Vậy thì tôi đã không lãng phí thời gian trên vỉa hè này,” Rogelio nói, nhắm mắt lại với một vẻ bình tĩnh kỳ lạ. “Dù sao thì tôi cũng đã đào tạo được một học trò cuối cùng.”

Rogelio qua đời vài ngày sau đó.

Álvaro đã lo liệu tang lễ cho ông. Và trên bia mộ của ông, ông đã khắc một câu nói sẽ theo ông suốt phần đời còn lại:

“Người đã nuôi dưỡng tâm hồn của một bác sĩ.”

Từ đó trở đi, bất cứ khi nào có ai đó đến gần ông trên đường phố để xin điều gì đó, Álvaro không còn vội vã bước đi nữa. Ông nhớ rằng có một ngày, không mặc áo khoác phòng thí nghiệm hay có chức danh gì, ông chỉ là một người ăn xin.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie. 


 

NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ.

Mình nhớ năm 1983, mình đi xích lô từ bến xe về nhà, qua vài câu trao đổi và nhìn gương mặt của bác xích lô, mình dè dặt hỏi:

-“Dạ cho con hỏi bác có phải cải tạo về?”.

Bác ngạc nhiên:

-“Sao cô biết”.

Mình trả lời:

-“Dạ tại con thấy bác giống ba con”.

Thật sự những ngày đó, người đi cải tạo về hầu như chọn chiếc xích lô hay xe đạp để làm kế sinh nhai. Nhìn họ, mình đều nhận ra điểm chung là nét nhẫn nhục, buồn buồn trên gương mặt và một điểm khiến họ khác với những người cùng hành nghề như mình là ăn nói nhỏ nhẹ và lịch sự ngay từ câu mời khách lên xe.

Còn có một điểm mà mình không thể diễn đạt nổi mà mình nghĩ đó là phong thái và cốt cách của người trí thức:

từ tốn, điềm tĩnh.

Họ cứ lẳng lặng đứng từ xa để ai đến hỏi thì đi chứ không bao giờ lao vào giành giật khách mỗi khi xe đến bến.

Khánh Đặng

ÔNG GIÀ ĐẠP XÍCH LÔ.

Đó là dịp tết năm 1995.

Lần đầu tiên tôi về thăm quê hương.

Người đàn ông đạp xích lô, gầy guộc và khắc khổ.

Nhìn ông già hơn tuổi.

Có lẽ cuộc sống đầy khó khăn, nên sự lo âu, buồn buồn, hiện rõ trên nét mặt của ông.

Lúc đó, cũng có dăm ba người mời tôi đi xe của họ.

Nhìn qua nhìn lại, tôi chọn đi xe của ông.

Tôi nghĩ, ông già yếu hơn mấy anh kia, nên có thể ông ít được khách mời ông đi.

Tôi muốn ông có thêm thu nhập, nên đồng ý lời mời của ông.

Hôm đó tôi bao xe đi nguyên ngày, đi vòng quanh Vũng Tàu,

ngắm lại phong cảnh quê hương, sau 5 năm xa cách.

Khi biết ý muốn của tôi, ông mừng vui lắm.

Nét mặt rạng rỡ hẵn ra.

Trước khi lên xe, tôi nghe mấy anh kia còn nói.

“Trúng mánh nhe ông già.

Gặp Việt kiều là ngon rồi.”

Ông đạp xe chở tôi đi.

Hai ông cháu nói chuyện rất thân thiện.

Qua câu chuyện, tôi biết ông đi tù cải tạo về.

Trãi qua bao tháng ngày cực khổ trong chốn lao tù, hình như sức lực của ông cũng hao mòn, yếu dần đi.

Cuộc sống vốn dĩ khó khăn, nay về nuôi thêm mẹ già,

nên càng khó khăn hơn. Khi biết tôi qua Mỹ theo diện HO, ông trầm ngâm:

– Bác giờ cũng đã già.

Với lại đang nuôi mẹ già.

Giờ bác đi cũng được.

Nhưng mẹ bác để cho ai coi đây.

Bao nhiêu năm đi tù xa cách mẹ già, giờ bỏ đi nữa thì mang tội bất hiếu.

Rồi bác nói không biết bây giờ qua Mỹ bác sẽ làm gì.

Bạn bè của bác đã đi gần hết.

Họ nói họ đi vì tương lai của con cháu. Chứ bác đâu còn gia đình gì đâu nữa mà đi.

Tôi hỏi bác vậy vợ con của bác đâu rồi. Bác im lặng một hồi.

Tôi quay lại, ngước mắt lên nhìn bác. Bác vẫn đạp xe, nhưng hình như bác buồn lắm.

Mắt bác đỏ hoe.

Như đoán được chuyện gì, tôi chỉ im lặng nhìn theo hướng phía trước.

Chừng 5 phút sau, bác mới nói được:

– Bác có 3 đứa con. Chúng nó đi vượt biên, khi bác còn ở trong tù.

– Giờ mấy anh chị đang ở nước nào hả bác.

Bác lại im lặng…một hồi…rồi nói tiếp.

– Chuyến đi đó mất tích luôn.

Không một ai có tin tức gì hết.

Tôi lặng điếng người.

Thật không ngờ, kiếp người sao khổ vậy trời.

Tôi cũng khổ nhiều, nhưng so với ông, nỗi khổ kia chẳng thấm vào đâu.

Lòng tôi cảm thấy thương bác nhiều hơn. Không biết là tình thương đồng loại, hay thương vì tội nghiệp cho những bất hạnh của ông.

– Vậy bác gái đâu rồi bác.

– Ngày xưa thời VNCH, một mình bác làm nuôi cả nhà.

Sau năm 1975 bác bị đi tù, bác gái phải tần tảo mà cũng không nuôi nổi mấy đứa con.

Rồi có người giúp đỡ…

Nói đến đó bác không nói nữa.

Tự nhiên tôi thấy mình hơi tàn nhẫn khi vô tình khơi lại vết thương đau của bác.

Bác chở tôi đi về từ theo đường bãi Dâu, bãi Dứa.

Con đường này, cách đây 20 năm, vẫn một bên là núi, một bên là vực sâu của biển.

Có đoạn lên dốc, có đoạn xuống dốc rất khó đi. Nhưng vì muốn tôi ngắm cảnh đẹp của đất trời, mênh mông của biển cả, bác chọn hướng đi này.

Những đoạn lên dốc, tôi nhảy xuống, vì sợ bác mệt đuối sức, nhưng ông nhất định không chịu.

Bác thấy chân tôi bị yếu đi cà quẹo, bác càng không để tôi bước xuống.

Chỗ nào bác đạp không nổi, bác nhảy xuống đẩy hay kéo xe.

Thật lòng những lúc đó, tôi cảm thấy khó chịu quá trời.

Thế rồi chuyện đời cũng lắm cái ngờ. Trong khi đang xuống dốc, chiếc xe chạy nhanh hơn, rồi nhanh hơn nữa, hơn nữa.

Tôi nghe bác hốt hoảng la lên.

– Chết rồi, thắng xe bị tuôn.

Xe càng chạy nhanh hơn.

Tôi quá sợ hãi.

Trong đầu lúc đó, tôi chỉ nghĩ mình sẽ bị lao xuống vực sâu.

Bác vội nhảy xuống, dùng hết sức lực kéo chiếc xe lại, nhưng chiếc xe chỉ khựng lại tí xíu rồi vẫn chạy nhanh.

Tôi nhắm mắt lại và nghĩ đến Gia đình. Cũng lúc đó, một tiếng đùng vang lên. Cả xe và tôi ngã nghiêng về vách núi và dừng lại.

Sau khi bình tĩnh trở lại, tôi thấy bác máu ra nhiều ở 2 bàn chân.

Vì khi bác cố gắng kéo chiếc xe lại.

Sức mạnh của chiếc xe đã kéo đôi chân của bác chà xát trên mặt đường,

và bây giờ nhìn vào đôi chân ấy, chỉ thấy toàn là máu.

Trong lúc xảy ra tình huống giữa chết và sống, bác lanh trí bẻ tay lái cho xe tông vào núi. Dù có bị gì đi nữa, còn hơn rơi xuống vực sâu.

Về đến nhà, bác không lấy tiền xe vì tai nạn xảy ra.

Bác tha thiết năn nỉ tôi đừng bắt đền cái máy chụp hình, vì bác không có tiền.

Thật sự lúc đó tôi thấy bác thật tội nghiệp và đáng thương.

Tôi nói bác đừng lo gì cả, rồi tôi tặng cho bác 100 đô.

Bác ngỡ ngàng nói đây là tờ 100 đô chứ không phải tờ 10 đô.

Tôi nói tôi biết.

Bác nói như vui mừng lắm.

– Con cho bác 2 chỉ vàng hả con.

Đáng lý ra tôi không nên kể chuyện tặng bác tiền. Nhưng tôi nghĩ, nếu như những ai trong trường hợp của tôi lúc đó, tôi tin cũng đều làm như vậy.

Trước khi chia tay, tôi đã ôm bác thật lâu.

Lúc đó tôi vẫn còn nhớ là có mùi

khen khét từ làn da cháy nắng của bác.

Sau này tôi có dịp về thăm quê hương và có hỏi thăm bác.

Người ta nói bác đã đi Mỹ theo diện HO rồi.

(sưu tầm)

Nguồn fb Cong Pham 


 

Đôi dòng về tạp chí Đại học – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

06/08/2026

Đại học Huế được thành lập và khai giảng vào tháng 9, 1957. Việc thành lập đại học Huế là đáp ứng lại nguyện vọng của các nhân sĩ Huế muốn có một đại học riêng ở miền Trung. TT Ngô Đình Diệm đã nhận lời và mau chóng đáp ứng nguyện vọng ấy vào năm 1957.

Dưới mắt ông Ngô Đình Diệm, việc thành lập Đại học Huế ngay sát nách vùng ranh giới phân chia Nam Bắc qua con sông Bến Hải còn là một thách đố chính trị. Ông muốn chứng tỏ cho phía bên kia Bến Hải là:

Chúng tôi đang có mặt ở đây.

Đại học Huế vì thế sẽ là biểu tượng của miền Nam như một thể chế chính trị-văn hóa- độc lập và dân chủ.

Cái mặt ‘yếu’ của ông Ngô Đình Diệm là ông coi trường Võ Bị Sĩ quan Đà Lạt, Trường Quốc Gia Hành Chánh và trường Đại Học Huế là những con cưng của chế độ. Ông nhìn tương lai chế độ qua ba cách đào tạo đó. Trường Võ bị cung cấp những sĩ quan trẻ, có trình độ văn hóa đại học cho một quân đội hùng mạnh. Trường Hành Chánh đào tạo một lớp cán bộ quản lý, thay chế độ hành chánh phong kiến, quan liêu- một chế độ hành chánh hữu hiệu theo lối Mỹ và trường Đại Học Huế sẽ cung cấp những người trí thức xuất thân từ Huế về đủ các ngành như Đại học sư phạm, luật khoa, văn khoa và y khoa. Người ta thấy được rõ ràng cái điểm yếu của TT Ngô Đình Diệm với sự tự hào và niềm vui sướng rạng rỡ trên khuôn mặt tròn trĩnh của ông trong mỗi dịp chủ tọa lễ tốt nghiệp. Vì thế, ra Huế là ông rẽ sang Đại học xem ông cha Luận mần ăn thế nào.

Niềm tự hào và hoài bão của ông Diệm sau này cả ba đều đạt được như ý nguyện của ông.

Nhưng theo tôi, hơn hết tất cả Đại học Huế đáp ứng khát vọng sâu xa và thầm kín của người dân miền Trung- một phần đất với những người con dân Huế cần cù- hiếu học- và cũng đầy mặc cảm đủ loại với niềm tự hào của ít lắm 100 năm triều Nguyễn.

Mặc cảm ấy đã bị dầy xéo bằng nhiếu cách, nhưng nhục nhã nhất vẫn là việc bôi nhọ Nguyễn Ánh Gia Long.

Về đại học Huế, có lẽ xin mời mọi người đọc bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Trường: Huế -Viện Đại Học, Cha Luận và chúng tôi… trên Khoahoc.net. Một bài viết của một người dân xứ Nam Kỳ, nhận làm con của xứ Huế với những phân tích trung thực với đầy lòng tự hào và cảm mến cha Luận, đại học Huế người dân xứ Huế..rồi cuối cùng cũng đành bỏ Huế mà đi..như chính người dân Huế.
Viện trưởng lúc bấy giờ là một ông linh mục- một sự chọn lựa éo le, khó xử cho dân Huế vốn đa phần theo Phật giáo-.

Tuy nhiên, vị viện trưởng này đã làm chuyện mà giả sử vào tay người khác- một thứ viện trưởng công chức- thì vị tất đã được như vậy.

Khả năng chính của cha Luận là thu hút được nhân tài từ nhiều nguồn, nhiều phia, từ trong nước đến ngoại quốc về giúp giảng dạy ở đại học Huế.

Cha Cao Văn Luận đã sống trải qua những thời vinh quang và thử thách và cuối cùng cũng  đành bỏ ra đi.. Trách ai bây giờ. Và trách để làm gì.

Ông là người ngay từ trước khi đại học Huế được thành lập đã có kế hoạch trồng người bằng cách gửi các sinh viên ưu tú đi du học. Nay là lúc ông kéo về đoàn tụ dưới mái trường đại học Huế.

Việc thiết lập đại học Huế, tuy vậy, đã bị các thành phần trí thức giảng dậy ở Sài Gòn phản đối dữ dội, chê bai đủ thứ..Đặc biệt là trường Y Khoa Saigon.. Vì họ cho rằng Huế không có đủ khả năng chuyên môn, giáo sư không đủ học vị và nhất là giảng dạy bằng tiếng Việt..

Trong tất cả sự phản đối ấy đều đúng hết chứ không phải sai, nhưng người ta vẫn còn có thể cho thấy lé loi đằng sau các phản đối ấy sự hẹp hòi, sự đố kỵ và sự khinh miệt.

Nhưng giáo dục là đường dài, liệu cơm gắm mắm, có ai hoàn hảo từ lúc khởi đầu. Tự nó đại học Huế được chứng minh cho thấy sau này nó phát triển và trưởng thành về mọi mặt.

Trong số những  người từ Sài gòn ra giảng dậy lúc bấy giờ chính thức tại Huế chỉ có hai người. Nguyễn Văn Trung phụ trách môn Triết. Và Nguyễn Văn Trường, dạy toán. Họ đều là những người trẻ thiếu đủ mọi thứ kinh nghiệm mà học vị cũng như khả năng chuyên môn chẳng có thể so sánh với ai, trừ so sánh với chính họ.

Và cứ như thế mà họ lớn lên cùng với đại học Huế.

Sau đó, theo lời giáo sư Trung cho biết, ông đã đề nghị cha Luận cho xuất bản tờ Đại Học- một tờ tập san duy nhất mà ngay ở Sài Gòn cũng chưa có được-.
Cha Luận đồng ý ngay. Khoán trắng theo nghĩa muốn làm gì thì làm, miễn là đem lại lợi ích và danh thơm cho đại học Huế. Và thế là tờ Đại Học ra đời, xuất bản hàng tháng. Tờ báo Đại Học Huế có thể nói mang tầm vóc đại Học Huế trang trải ra khắp nơi.

Chữ Đại học ở đây không mang ý nghĩa một tập san chuyên môn của một chuyên khoa đại học. Nó chỉ có ý nghĩa là một tập san do một viện đại học xuất bản và trong đó có đủ mọi lãnh vực. Nó đã gây được sự chú ý và tiếng vang và chỉ vài tháng sau thì đã có đủ số độc giả để tự túc về tái chánh..Sau này, ông đại sứ Ngô Đình Luyện đã tặng Đai học Huế một máy in và từ đó không còn phải in ở nhà in Nam Sơn Sài gòn nữa.

Tôi đã đọc tỉ mỉ danh sách các vị độc giả ở Huế mua báo dài hạn. Một lần cám ơn các độc giả ấy mà không tiện nêu ra danh tánh ở đây
Mục đích của tờ Đại Học là một sứ mệnh văn hóa.

Tờ Đại Học muốn chứng tỏ cho mọi người thấy đại học không phải là một môi trường khép kín. Tự trị đại học không có nghĩa đóng cửa. Nhưng tự trị về mặt quản lý còn những mặt khác mở tung cửa ra cho mọi thành phần. Đại học là môi trường thuận tiện cho mọi khuynh hướng, mọi ý kiến, mọi quan điểm có quyền phát biểu trình bầy và bảo vệ quan điểm của mình.

Đó là một nền văn hóa mang tính đại chúng!!

Và để thực hiện được điều ấy tờ Đại học cổ súy việc dùng tiếng Việt trong việc giảng dạy bất kể những khó khăn ban đầu về danh từ.

Tờ Đại học ra đời là nhằm đạt các mục tiêu vừa nêu trên.. Trong suốt  6 năm trời, tờ Đại học đã đồng hành và phát triển cùng với sự phát triển của đại học. Tờ báo với số báo đầu tiên, tháng 2-1958 và chấm dứt khi chế độ đệ nhất cộng hòa miền Nam sụp đổ sau vài tháng.

Có tất cả hơn 300 bài viết nghiên cứu về triết học, sử học, địa lý, luật học, ngôn ngữ học, ngữ pháp học, văn học và cả  ngành y khoa.. trong khoảng 4000 trang tài liệu.

Số phận của nó liên quan đến số phận chính trị miền Nam những năm đó..Thật rất tiếc sứ mệnh văn hóa đã bị đánh đồng với số phận chính trị.

Trong suốt những năm tháng ấy, có hai đời chủ bút. Từ 1958 đến 1962 do gs Nguyễn Văn Trung chủ trương. Vì những lý do chính trị, gs Nguyễn Văn Trung bắt buộc phải rời bỏ Huế vào Sài gòn dạy Văn Khoa Sài Gòn theo lệnh của Bộ trưởng giáo dục Sài Gòn. Sau đó được giáo sư Trần Văn Toàn tiếp tục công việc cho đến lúc tình hình chính trị miền Trung sôi động, bất ổn vào tháng sáu, năm 1964..

Tờ báo tự đóng cửa một cách thầm lặng, không một lời chia tay độc giả. Như một sản phẩm dư thừa của nền đệ nhất cộng hòa.

Thôi thì nó cũng đã làm tròn nhiệm vụ, là tiếng nói của một thời kỳ của một miền Nam thân yêu.

Ngày hôm nay, thay mặt giáo sư Nguyễn Văn Trung vì lý do sức khỏe đã mong tôi tôi đứng ra phục hoạt lại các số báo đại học cũ nay đang rơi vào tình trạng có nguy cơ mục nát, mối mọt sau hơn nửa thế kỷ. Nói đúng ra vừa tròn 56 năm kể từ số đầu tiên. Nhiều trang báo nay phải chụp lại bằng tay từng trang một vì tình trạng mục nát của nó. Nếu cứ để tình trạng này trong một thời gian nửa có nguy cơ tiêu tán hết.

Nghĩ tới những trang báo Nam Phong, Tập san sử địa, Tri Tân, BAVH và Phong Hóa đã được phục hoạt mà tôi làm công việc này.

Tôi cũng nghĩ tới số phận những đứa con rơi như Đông Dương tạp Chí không người trách nhiệm, không có con cháu, không hậu duệ, không cơ quan tài trợ mà ngày nay chúng ta không được cái may mắn tìm đọc học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Đọc Phạm Quỳnh mà không đọc Nguyễn Văn Vĩnh là thiếu một nửa.

Và trong nay mai, sẽ có cuộc Hội Thảo Văn Học miền Nam tại Nam Cali, người ta sẽ nói gì về Huế nếu thiếu cái mảng văn học của tạp chí Đại Học. Sẽ lại xảy ra cái nạn con yêu, con rơi, con ghét..Hy vọng Huế không rơi vào số phận văn hóa miệt vườn trước đây.

Nhưng muốn được người ta nói đến thì phải có hàng. Ít là như vậy.

Tôi nghĩ đây chẳng những là một gia tài của viện Đại hoc Huế, của người dân xứ Huế mà còn là một di sản tinh thần, vốn văn hóa của cả miền Nam thần yêu của chúng ta. Tôi cũng nghĩ đây là dịp để các cựu sinh viên đại học Huế đủ các phân khoa tìm về kỷ niệm thời đi học của mình qua tờ Đại Học và để tạo dịp ngồi lại với nhau

Nó không là của ai cả. Nó là của cả miền Nam!!

Thay mặt giáo sư Nguyễn Văn Trung, giáo sư Trần Văn Toàn, tôi làm công việc này.

Và một cách nào đó, tưởng niệm và tri ân cha viện trưởng Cao Văn Luận.

Tôi vẫn tự hỏi, nếu không có cha Luận thì viện đại học Huế sẽ như thế nào. Lớp bụi thời gian, lịch sử Huế với nhiều biến động nay đã phải là lúc người ta cần ngồi lại với nhau để nhìn nhận ra chính mình.

Cũng nhân tiện đây, tôi xin nêu tên một số tác giả đã cộng tác với tờ Đai Học mà nay hầu hết đã qua đời..như giáo sư Nguyễn Phương, giáo sư Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa), gs Hoàng Xuân Hãn, gs Bửu Hội, gs Bửu Kế, Olov R.T Janse, gsNguyễn Khắc Hoạch, gsLê Tôn Nghiêm, gs Cung Giữ Nguyên, bs Lê Khắc Quyến và Dương Đăng Bảng,gs Nguyễn Toại, R.P Rietsch ,gs Lê Ngọc Trụ,  linh mục Lê Văn Lý, linh mục Cao Văn Luận, bsNguyễn Văn Thọ, gsNguyễn Đăng Thục, ls Lê Tài Triển, gs Bùi Quang Tung, gs Nguyễn Bạt Tụy, lm Thanh Lãng, giáo sư Nguyễn Nam Châu, lm Nguyễn Văn Thích, lm Đỗ Minh Vọng, giáo sư dược khoa Đặng Vũ Biền, học giả Trương văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, giáo sư Trần Thái Đỉnh, giáo sư P. Đỗ Đình, giáo sư Bửu Dưỡng, lm Nguyễn Huy Lịch, giáo sư Phạm Việt Tuyền..

Còn một số các vị giáo sư khác cộng tác mà chúng tôi không được biết sự sống chết hiện nay như thế nào nên không tiện nêu tên.

Và cũng nhân tiện đây tri ân những vị có thể đang còn tại thế gian này như Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, giáo sư Tôn Thất Hanh, Donoghue, giáo sư Huỳnh Văn Lang, gs Trương Bửu Lâm, giáo sư Lê Tuyên, giáo sư Vũ Quốc Thúc, giáo sư Lý Chánh Trung, giáo sư Trần Văn Toàn và cuối cùng là giáo sư Nguyễn Văn Trường.

Chúng tôi sẽ nhân một cơ hội thuận tiện và thực tế sau khi biên soạn và thuê tiệm in phục hoạt lại các trang báo cũ, tôi đã mau chóng đưa lên mạng dcvonline.net để bất cứ ai muốn tim đọc, in chép, nghiên cứu, sao chụp đều có thể dễ dáng truy cập..

Người trách nhiệm phục hoạt tờ Đại Học.


 

BÀI THI CỦA BÀ GIÁO O’NEILL-Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Các Kitô hữu có bổn phận giúp đỡ anh chị em mình làm điều thiện.”

 Một phụ nữ làm việc ở nhà hàng tiếng tăm nọ từng tuyên bố không theo tôn giáo nào cả, bà nói với một vị linh mục: “Thưa cha, tôi không muốn làm cha thất vọng, nhưng trong số kẻ bê bối nhất tôi từng gặp trong nghề nghiệp của tôi lại có những Kitô hữu rất siêng năng đi nhà thờ.”

Linh mục đáp lại: “Ðúng vậy, trong số các Kitô hữu, không may vẫn có những người tồi tệ, không khác gì trong số những người ngoài cũng có những người tồi tệ như vậy.”

 Người phụ nữ đáp lời: “Thưa cha, thế thì không phải các Kitô hữu vẫn được xem là đặc biệt hơn sao?”

 Vị linh mục buồn bã nhìn bà ta nói: “Ðúng thế, đúng thế, họ được xem là phải sống tốt hơn!”

 Cuộc đàm thoại trên hẳn khiến anh chị em ngạc nhiên.  Các Kitô hữu thường xuyên đi nhà thờ hẳn khác hơn những kẻ không đi nhà thờ chứ?  Chúng ta hãy xem xét ba trường hợp sau:

 Một người bán vé xe đưa đón ở phi trường nói với một ông bố: “Thưa ông, con trai ông có vẻ trẻ hơn tuổi của nó: ông nên mua nửa vé thôi.  Nếu tài xế có hỏi, ông cứ nói là thằng bé dưới 12 tuổi.  Như thế ông sẽ đỡ tốn vài đola!”  Giả sử anh chị em là ông bố ấy, anh chị em sẽ trả lời người bán vé thế nào? 

 Rồi một trường hợp khác.  Một bà mẹ bắt gặp đứa con gái 5 tuổi của mình cầm một cây kẹo mà nó ăn cắp sau khi từ siêu thị đi ra.  Giả sử anh chị em là bà mẹ ấy, anh chị em sẽ làm gì?

 Và đây trường hợp sau cùng.  Giả sử bạn nghe đứa bạn thân nhất của con bạn nói với nó: “Nếu mày cần hỏi bất cứ câu gì trong kỳ thi toán, mày cứ ra dấu cho tao.”  Ðặt trường hợp thằng bé ấy là con của anh chị em, thì anh chị em sẽ cứ tiếp tục đọc báo hay sẽ đặt báo xuống và nói chuyện với cả hai cậu bé?

 Tôi không biết anh chị em sẽ xử lý thế nào trong những trường hợp như thế, nhưng tôi biết rõ Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào.  Câu trả lời ấy được tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.  Cả ba bài đều tập trung vào bổn phận hỗ tương của người Kitô hữu phải có đối với nhau.  Các Kitô hữu không chỉ phải làm điều thiện mà còn phải giúp đỡ kẻ khác làm điều thiện nữa.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Các con là muối đất… các con là ánh sáng thế gian…  Ánh sáng các con phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ” (Mt 5 : 13-16).

 Chúng ta hãy trở lại với ba trường hợp trên.  Câu trả lời của người Kitô hữu đối với từng trường hợp trên như thế nào?  Một kẻ theo Chúa Giêsu sẽ nói gì với người bán vé xe là kẻ đã nói với ông bố nọ: “Ông cứ nói với tài xế xe là thằng bé con ông dưới 12 tuổi?”  Trường hợp này thực sự đã xảy ra ở Chicago.  Ông bố ấy đã trả lời làm sao?  Ông ta bảo với người bán “Tôi rất trân trọng hảo ý của ông, nhưng tôi muốn con tôi thành thật dù điều đó gây bất lợi cho nó.”  Còn bà mẹ bắt gặp đứa con gái của mình ăn cắp cây kẹo đã xử lý như thế nào?  Ðây cũng là một câu chuyện có thực đã xảy ra.  Tác giả bài viết trong tờ báo Dallas Morning News (Tin tức Dallas buổi sáng) khi thuật lại câu chuyện trên đã nói rằng bà mẹ nọ đã bảo đứa bé trả lại cây kẹo cho vị quản đốc, và ông này nói: “Ôi đừng lo gì chuyện đó.  Nó có đáng gì đâu.  Mỗi ngày, đám nhân viên của tôi ăn cắp nhiều hơn thế nhiều!”

 Như tác giả bài viết kể lại, đây thực là một câu trả lời khó tin nổi.  Viên quản đốc đã gây cho cháu bé ấn tượng ăn cắp không quan trọng gì nếu chỉ là vật nhỏ mọn.  Thực sự dù là ăn cắp vật lớn hay nhỏ thế nào đi nữa thì ăn cắp vẫn luôn là điều xấu.

 Và cuối cùng hãy xét đến trường hợp thằng bạn của đứa con trai chúng ta đồng ý gian lận để giúp đỡ con mình trong bài thi toán.  Jerome Weidman, tác giả cuốn “Hand of the Hunter” (Tay người thợ săn) khi còn bé đã từng can dự vào một trường hợp như trên.  Ông kể lại cách đây 30 năm, ông vào học ở một trường công Nữu Ước.  Bà giáo dạy toán lớp ba của ông tên là bà O’ Neill.  Ngày nọ bà ra cho lớp một bài thi.  Khi chấm bài bà nhận ra 12 cậu trai đã trả lời sai một cách giống y như nhau đối với cùng một câu hỏi.  Qua ngày sau, bà yêu cầu 12 cậu bé ấy ở lại lớp sau khi tan học.  Sau đó, không hề kết tội đứa nào, bà chỉ viết lên trên bảng câu này: “Tính chân thực của một người được thể hiện trong những điều mà kẻ ấy sẽ làm dù biết rằng không bị ai bắt gặp.”  Ðoạn bà ghi tên tác giả câu nói trên: Thomas Babington Macaulay.  Weidman viết: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ có một đứa trong số đó là chính tôi, có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 Như thế chúng ta đã thấy ba mẫu người Kitô giáo xử lý như thế nào trong ba trường hợp khác nhau trên.  Ba Kitô hữu này đã lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu dạy phải giúp đỡ anh chị em sống cuộc sống Kitô hữu.  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp nhận lời Chúa Phán với Êdekien trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nếu… ngươi không răn dạy kẻ xấu thay đổi cách ăn ở của nó thì Ta sẽ qui trách nhiệm cho ngươi.”  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời thánh Phaolô gởi tín hữu Roma trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Nếu anh em yêu mến kẻ nào, anh em sẽ không bao giờ làm hại kẻ ấy.”  Và cuối cùng, ba Kitô hữu nầy cũng đã nghiêm chỉnh tuân theo lời Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay: “Nếu anh em ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đến gặp nó và chỉ cho nó biết lỗi lầm của nó.  Tuy nhiên phải làm điều ấy một cách âm thầm giữa ngươi và nó thôi.” 

Như thế ba Kitô hữu nêu trên đã gây ấn tượng như thế nào cho những người nghe họ nói?  Tôi xin được lập lại điều Jerome Weidman đã nói: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ biết một đứa trong số đó là chính tôi, thì tôi có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 Edmund Burke nói: “Chỉ cần những người tốt cứ giữ yên lặng, là điều xấu sẽ phát triển ngay.”

 Trong những trường hợp trên, ba Kitô hữu nọ đã không giữ yên lặng.  Họ mời gọi chúng ta noi gương họ.

 Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

 Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con ghi lòng tạc dạ những lời Chúa kêu gọi chúng con đi theo làm môn đệ Ngài:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được.  Nó chẳng còn ích gì chỉ đáng quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp lên đó.  Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được.  Không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn để soi cho mọi người trong nhà.  Cũng thế, ánh sáng các con phải toả chiếu trước mặt mọi người để họ trông thấy việc các con làm mà ngợi khen Cha các con, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 5: 13-16).

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC CẢ – BỎ CẢ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người!”.

“Trời là của tôi, đất là của tôi; mọi sự là của tôi, vì Đức Kitô là của tôi và hoàn toàn cho tôi!” – Gioan Thánh Giá.

Kính thưa Anh Chị em,

Khi Đức Kitô là của mình và hoàn toàn cho mình, người ta không còn sợ mất điều gì. Phêrô vừa được cả một mẻ cá, lại bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu – ‘được cả, bỏ cả’.

Sau một đêm trắng tay, Phêrô vừa có mẻ cá lớn nhất đời mình: lưới gần rách, thuyền gần chìm, bạn chài phải đến trợ giúp. Vậy mà khi vào bờ, họ “bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Bản Hy Lạp viết panta – “tất cả”. Chính lúc có nhiều để giữ, chữ “tất cả” mới cho thấy sức nặng của nó. Họ không bỏ một đêm thất bại, nhưng bỏ buổi sáng thành công nhất; không rời thuyền rỗng, nhưng rời thuyền đầy. Hoá ra, lưới trống thử lòng tin; lưới đầy thử tự do.

Điều gì khiến Phêrô có thể bỏ như thế? Trước mẻ cá, ông gọi Chúa Giêsu là “Thầy”; sau mẻ cá, ông quỳ xuống thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Cá nhiều không làm Phêrô mờ mắt; nó làm mắt ông sáng ra để nhận biết Đấng đang ở trong thuyền. Mẻ cá đầy thuyền vẫn quý; Đấng làm đầy đời ông còn quý hơn. “Ai có Thiên Chúa thì chẳng thiếu gì; một mình Thiên Chúa là đủ!” – Têrêxa Avila.

Chữ “tất cả” trở lại trong thư Phaolô: “Tất cả đều thuộc về anh em”, từ thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại đến tương lai. Nhưng đỉnh cao không nằm ở chỗ chúng ta có tất cả, mà ở chỗ “anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa”. Thánh Vịnh đáp ca đưa trật tự ấy về tận nguồn: “Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài!”. Khi biết mình thuộc về Đức Kitô, chúng ta có thể nhận mà không chiếm giữ, sử dụng mà không lệ thuộc, trao lại mà không thấy mình nghèo đi. Phêrô bỏ điều thuộc về ông để đi theo Đấng mà chính ông thuộc về.

Phần chúng ta, thường xin Chúa cho lưới đầy, nhưng ít khi xin đủ tự do trước một mẻ cá lớn. Không phải ai cũng được gọi bỏ nghề, rời nhà hay trao lại công việc; nhưng ai cũng được gọi sống sao để những gì đang có không trở thành sợi dây buộc mình. Tự do không phải là không có gì trong tay; tự do là có thể mở tay khi Chúa gọi.

Anh Chị em,

Nghe Phêrô thưa, “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”, Chúa Giêsu làm điều ngược lại. Ngài đến gần và trao cho ông một tương lai: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta!”. Trên thập giá, Đức Kitô đến gần nhân loại hơn bao giờ hết, không để kể tội, nhưng để tha tội và thu phục lòng người. Phục Sinh cho thấy Ngài không lấy đi tất cả, nhưng trao chính mình cho từng người. “Không dại gì khi trao điều không thể giữ để nhận điều không thể mất!” – Jim Elliot. Phêrô bỏ lại tất cả không phải để trắng tay, nhưng để bước theo Đấng sẽ trở thành Tất Cả cho đời mình – ‘được cả, bỏ cả’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi lưới con trống, cho con biết tin; khi lưới con đầy, cho con tự do; và khi Chúa gọi, cho con dám bỏ cả mà theo Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

HẬU QUẢ CỦA LÒNG THAM VÀ SỰ KIÊU NGẠO!

Tran Quang

HẬU QUẢ CỦA LÒNG THAM VÀ SỰ KIÊU NGẠO!

Manisha-chan được moi lên từ đống đổ nát của trận lũ khủng khiếp do băng vỡ tại Nepal sau 60 giờ kể từ khi thảm họa xảy ra. Đó là một điều kỳ diệu, nhưng cũng thể hiện những đổ vỡ ở tận bên trong thẳm sâu của tâm hồn người dân nơi đây, chỉ khi bạn nhìn vào ánh mắt trong veo của cô bé giữa bùn lầy. Các nền văn hóa và kinh tế ở vùng núi cao, ví dụ như thuộc dãy Alps của Châu Âu, ven dãy Himalayas, vùng cao nguyên Andes… đang gánh chịu nhiều hậu quả lớn lao, cả về mặt thảm họa lẫn tình trạng cạn kiệt nguồn nước từ hiện tượng băng tan.

Thiên nhiên đã mất hàng trăm nghìn đến hàng triệu năm để thiết lập các chu trình luân chuyển của nước cân bằng, mà loài người được hưởng lợi và phát triển nền văn minh của mình dễ dàng trong vài trăm năm qua.

Nhưng với lòng tham và sự kiêu ngạo, chính con người đã phá vỡ chu trình thủy văn đó. Họ xả thải, nâng nền nhiệt trung bình toàn cầu lên những mức sốt nóng hơn. Họ phá rừng, triệt tiêu lực cản dòng lũ, cũng như khả năng thẩm thấu và bơm nước vào bầu trời từ lớp thực bì rừng nguyên sinh. Họ chặn dòng nước bằng các thủy điện khổng lồ, chỉnh dòng, đào sông, lấp biển, mừng rỡ ra mặt vì những thành tựu ấy. Họ tự úp lên đầu mình những lớp khí nhà kính đến từ nền công nghiệp sản xuất hàng hóa xa xỉ và lối sống tiêu thụ hàng loạt, gây ra các đợt hầm nóng từ vòm nhiệt.

Thế rồi, các sông băng vĩ đại trên vùng núi cao có từ hàng nghìn năm trước cũng phải buông mình chịu thua trước nền nhiệt ngày càng tăng cao. Mùa đông tuyết rơi cũng giảm đi nhiều hơn trước. Mạch dẫn của chu trình nước từ trời kết thành băng tuyết không còn như xưa nữa. Băng vĩnh cửu đang không còn có thể tồn tại mãi mãi được nữa. Chúng bị đứt gãy, rạn nứt, bị đục rỗng ruột vì nước ấm, rồi sụp đổ bất ngờ. Các trận mưa ở cả vùng cực và vành đai ôn đới cận cực cũng nhiều hơn trước.

Bầu khí quyển ấm hơn nên tích nhiều hơi ẩm hơn trước, đưa nhiệt ẩm đi xa hơn về hai cực. Đó là điều đương nhiên, vì nền nhiệt càng ấm trên một hành tinh nước sẽ đưa đến tình trạng ẩm và nóng hầm kéo dài và lan xa hơn bình thường. Không chỉ khu vực nhiệt đới phải đối mặt với những trận mưa xối xả, mà ngay cả những nơi như Châu Âu, Nga, Hoa Kỳ, Canada… đã bắt đầu chứng kiến lượng mưa đột biến. Thiên nhiên đang lập lại thế cân bằng mới về nước, thay thế các chu trình ngày xưa bằng một thời kỳ mới, nơi băng giá, mực nước biển, lượng mưa thủy văn, phạm vi tác động trên các vĩ độ và độ cao địa hình hoàn toàn khác trước.

Nhưng loài người không hiểu điều đó. Người ta gọi đó là sự hỗn loạn của thời tiết và khí hậu “biến đổi”. Chỉ những nhà khoa học về khí tượng và môi trường như chúng tôi mới hiểu được nguyên nhân từ đâu và có tầm nhìn lớn về toàn cảnh vấn đề, cũng như điều cuối cùng mà chủng loài người sẽ gánh chịu.

Trời đất này sao không biến đổi được, khi mà lòng người và tâm địa con người đã biến đổi trước từ rất lâu. Những gì đang xảy ra trên thế giới này đều là phản ánh chính xác từ trong lòng con người mà ra, từ mánh mung chứng khoán, tham vọng chinh phục vũ trụ, các siêu đô thị chọc trời, tỷ phú nghìn tỷ đô la, cho đến những bãi rác khổng lồ, các chuyến bay bị rung lắc vì nhiễu động khí quyển, các cuộc chiến tranh, rừng cháy, nóc nhà thế giới Himalaya bắt đầu rung chuyển, lũ quét lịch sử, mưa bão lũ dồn dập.

Thiên nhiên luôn biết phản ứng và cân bằng cho đúng và phù hợp với những thứ loài người đang tạo ra, như một quy luật của TẠO NHÂN và TRẢ NGHIỆP. Và đó là một quy luật CÔNG BẰNG đối với những gì con người đã gây ra cho hành tinh Trái Đất – cái nôi duy nhất sinh ra giống loài “thông minh và khôn lỏi đột biến” này.

Vâng, đối với Trái Đất và hệ sinh thái sự sống của nó – bao gồm chu trình luân chuyển của Nước, đây là sự công bằng và là chu trình tái thiết lập các điều kiện sống cân bằng mới. Nhưng khi nhìn sâu vào từ quốc gia, dân tộc, vùng dân cư sinh sống, điều bất công đang nổi lên rõ mồn một.

Nepal là một đất nước chỉ đóng góp khoảng 0,1% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, vì là một trong những quốc gia kém phát triển nhất thế giới, với khoảng một phần tư dân số sống dưới mức nghèo khổ. Gần 46% diện tích đất nước Nepal được rừng che phủ. Khoảng 94% công suất điện lắp đặt của Nepal đến từ thủy điện, chứ không phải nhiệt điện than đá. Nepal có tiềm năng đáng kể trong việc khai thác thủy điện, với công suất khả thi thương mại ước tính 42.000 MW.

Nepal và Ấn Độ đã ký các hiệp định thương mại và đầu tư vào năm 2014 nhằm gia tăng tiềm năng thủy điện của Nepal, nhưng bất ổn chính trị và môi trường kinh doanh khó khăn đã cản trở đầu tư nước ngoài. Nepal phụ thuộc nặng nề vào kiều hối, lên tới khoảng 30% GDP. Nông nghiệp là trụ cột của nền kinh tế, tạo sinh kế cho gần hai phần ba dân số nhưng chỉ chiếm một phần ba GDP. Hoạt động công nghiệp chủ yếu liên quan đến chế biến nông sản, bao gồm các loại đậu, đay, mía, thuốc lá và ngũ cốc.

Một phần nền kinh tế nhỏ bé của Nepal cũng đến từ nguồn khách du lịch leo núi chinh phục đỉnh Everest theo các Shepa địa phương dẫn đường – mà qua đó cũng xả rác đầy trên đỉnh núi này (chúng tôi thấy có nhiều bạn leo núi khoe rằng đã chinh phục nóc nhà của thế giới qua các tấm ảnh selfie, nhưng giá như họ nhận ra cái giá phải trả cho chặng đường chứng tỏ cái tôi ngạo mạn của con người lượng rác và xác chết bị bỏ lại tại vùng núi này trong quá trình chinh phục Everest).

Du lịch là nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của Nepal. Du lịch đóng góp khoảng 6,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước này. Năm 2025, Nepal đã đón 11.584.589 lượt khách du lịch, xếp thứ 147 toàn cầu về số lượng khách du lịch. Là nơi có tám trong số mười ngọn núi cao nhất thế giới, Nepal trở thành điểm đến của những người leo núi, những người leo vách đá và những bạn ưa mạo hiểm.

Vậy mà ngày hôm nay, người dân Nepal đang bới bùn, lần tìm dưới sông và chờ đợi bên điện thoại để nghe tên của những người thân yêu được điểm danh còn sống hay đã chết. Người dân tụ tập bên ngoài khu khám nghiệm tử thi của Học viện Y khoa Maharajgunj khi các tấm áp phích ghi thông tin các nạn nhân lũ lụt được dán tại nhà xác bệnh viện.

Các gia đình vẫn đang tiếp tục tìm kiếm người thân sau trận lũ tàn khốc, khiến khung cảnh bên ngoài bệnh viện càng trở nên đau đớn và xót xa vô cùng. Chính phủ Nepal đã bắt đầu chôn cất nạn nhân của trận lũ tuần trước tại các khu mộ tập thể sau khi những nhà xác hết chỗ để lưu giữ những thi thể đang phân hủy. Nhiệt độ ẩm ướt đang đẩy nhanh quá trình phân hủy, chính quyền địa phương cho biết họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chôn cất các thi thể trước khi được nhận dạng.

Hiện đã biết được hơn 919 người thiệt mạng và 4.793 người còn mất tích ở cả hai bên biên giới Nepal – Tây Tạng/Trung Quốc. Tại Tây Tạng, Tân Hoa Xã Trung Quốc báo cáo 16 người thiệt mạng và 546 người mất tích. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất điện độc lập Nepal, 934 công nhân vẫn chưa rõ tung tích tại 11 dự án thủy điện trong vùng lũ. 361 người đã được giải cứu cho đến nay. Các đội cứu hộ đang bơm không khí vào một đường hầm bị chôn vùi tại dự án thủy điện Trishuli-3A và khoan các lỗ khoan, hy vọng tiếp cận được bất kỳ ai còn mắc kẹt bên trong. Những hình ảnh kinh hoàng từ biên giới Ấn Độ – Nepal cho thấy người dân địa phương gần sông Gandak kể lại rằng thi thể các nạn nhân lũ lụt Nepal hiện đang bị dòng nước hung dữ cuốn trôi sang Ấn Độ. Một số người dân đã chứng kiến 50–100 thi thể trôi trên sông mỗi giờ. Hãy tưởng tượng nỗi kinh hoàng: nhiều người trong số những cái chết này có thể sẽ không bao giờ được tính vào con số chính thức, và vô số gia đình có thể không bao giờ biết được tung tích người thân của mình.

Trận lũ quét Bhote Koshi đã cho chúng ta thấy ý nghĩa của việc sống bên dưới một tầng băng quyển đang thay đổi nhanh chóng. Các sông băng đang lùi dần, những ngọn núi băng giá của dãy Himalayas ngày càng trở nên bất ổn, và những dòng sông tạo ra nguồn điện sạch cho Nepal cũng có thể mang theo sự hủy diệt ập xuống các cộng đồng ở phía dưới thung lũng. Sự rung chuyển và đổ vỡ đang dần tạo ra nhiều bất ổn mới.

Vì vậy, giờ đây từ dãy Himalaya, chúng ta nên tự hỏi: bao nhiêu thi thể trên dãy Himalaya nữa mới là đủ? Bao nhiêu người mẹ phải chờ đợi những đứa con không bao giờ trở về? Bao nhiêu ngôi làng phải biến mất trước khi “công lý khí hậu” trở thành điều gì đó thực tế hơn là một bài phát biểu đãi bôi tại một hội nghị về biến đổi khí hậu khác tại Liên Hợp Quốc? Có lẽ chỉ vài tháng nữa, bạn sẽ quên mất ánh mắt của cô bé Manisha-chan này, khi vui vẻ bước lên một chuyến bay du lịch vi vu đi khắp thế giới. Bạn sẽ lao vào các phi vụ xây cất, đầu tư siêu đô thị lấn biển. Bạn sẽ vui mừng thốt lên khi một cánh rừng bị chặt bỏ để lập khu du lịch và kiếm được nhiều việc làm cho dân địa phương. Bạn sẽ điên cuồng đua theo các chỉ số chứng khoán, lượng tăng trưởng hàng hóa và các mức lợi nhuận thu được. Nhưng rồi một ngày nào đó, tai họa sẽ ập đến theo kiểu đột ngột và khủng khiếp vì những việc bạn (và hàng tỷ người khác) đã làm sẽ tạo ra tiếng vang và áp lực dội ngược vào thế giới tự nhiên, qua siêu bão, hạn hán, mưa xối xả, sốc nóng, mực nước biển dâng…

Từ hàng trăm năm trước, người Nepal trước đây cũng nghĩ rằng, việc họ sinh ra và được sống dưới chân dãy Himalayas là một đặc ân, không phải là bản án tử hình. Họ có nguồn nước dồi dào từ các mùa băng tan đều đặn, có địa hình dốc đứng để khai thác thủy điện. Họ chào đón các chuyến bay đưa khách du lịch leo núi đến để phục vụ và làm thỏa mãn ước vọng chinh phục nóc nhà thế giới. Ai cũng vui vẻ khi đón khách nước ngoài. Ai cũng nghĩ hy sinh thế giới tự nhiên này một chút cũng chẳng gây ra vấn đề gì… cho đến khi những đợt sóng băng bùn đổ xuống từ trời.

Chúng tôi nghĩ sẽ cần thêm nhiều thảm họa khác, nhiều nạn nhân mới, nhiều biến cố kinh thiên động địa khác xảy ra trên toàn cầu, thì con người mới hiểu được hậu quả của lòng tham và sự kiêu ngạo. Nhưng khi đó thì đã trễ rồi. Người ta sẽ chỉ biết xót thương khi đếm các tử thi, chứng kiến các hậu quả thảm khốc, và thở dài.

#hanhtinhtitanic 

NGÔ THUỴ MIÊN Và bóng hồng trong ca khúc.

Xuyên Sơn

 NGÔ THUỴ MIÊN

Và bóng hồng trong ca khúc.

https://youtu.be/xXPbU91lPKQ

Âm nhạc của Ngô Thụy Miên không còn xa lạ với công chúng, nhưng cuộc đời của Ngô Thụy Miên lại chẳng mấy người yêu nhạc tường tận.

Có lẽ bởi vì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên ít hứng thú với đám đông.

Vì vậy, cũng ít ai biết được, nguồn cảm hứng lớn nhất trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Thụy Miên chính là người vợ thủy chung

Đoàn Thanh Vân!

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh năm 1948 tại Hải Phòng.

Khi được 6 tuổi, cả gia đình Ngô Thụy Miên chuyển vào Sài Gòn định cư.

Hiệu sách Thanh Bình của người cha, đã khơi dậy và nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật đối với Ngô Thụy Miên.

Sau một thời gian theo học nhạc với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt và nhạc sĩ Hùng Lân, chàng trai Ngô Quang Bình dùng bút danh Đông Quân để tập tành sáng tác.

Sau một thời gian, bút danh Đông Quân được đổi thành bút danh Ngô Thụy Miên.

Cơ duyên nào để Ngô Thụy Miên viết tình ca?

Đó là bóng hồng Đoàn Thanh Vân, mà Ngô Thụy Miên hạnh ngộ ở

Trường Âm nhạc Sài Gòn.

Người đẹp Đoàn Thanh Vân là con gái của tài tử Đoàn Châu Mậu nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn thập niên 1960.

Hình ảnh Đoàn Thanh Vân đã khiến trái tim Ngô Thụy Miên rung động, và chàng trai 17 tuổi đã viết ca khúc đầu tay “Chiều Nay Không Có Em” thay cho lời tỏ tình:

“Không có em đời mình, sao vắng vui

Cuộc tình như lá khô mộng mơ cơn mê chiều

Không có em đôi mắt buồn nào đợi chờ/

Xin cho nhau lời vỗ về, sao đành quên đi ngày tháng đó”.

Bắt đầu hẹn hò với Đoàn Thanh Vân, Ngô Thụy Miên viết tiếp ca khúc

“Mùa Thu Cho Em”

rạo rực:

“Nắng úa dệt mi em

Và mây xanh thay tóc rối

Nhạt môi môi em thơm nồng

Tình yêu vương vương má hồng

Sẽ hát bài cho em, và ru em yên giấc tối

Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi

Chờ em, anh nghe mùa thu tới”.

Ngô Thụy Miên rất hâm mộ dòng nhạc tiền chiến, nên những ca khúc khởi nghiệp của Ngô Thụy Miên có màu sắc tương đối giống lớp nhạc sĩ tiền bối.

Tuy nhiên, sau một loạt ca khúc phổ thơ Nguyên Sa như

“Áo Lụa Hà Đông”,

“Paris Có Gì Lạ Không Em”

hoặc

“Tuổi Mười Ba”

thì Ngô Thụy Miên định hình phong cách riêng.

Nếu như việc phổ nhạc cho thơ

Nguyên Sa là mối duyên thơ – nhạc, thì cuộc tình với Đoàn Thanh Vân là mối duyên đời – nhạc của Ngô Thụy Miên.

Những xao xuyến lứa đôi đã làm thăng hoa âm nhạc Ngô Thụy Miên,

mà ca khúc “Mắt biếc” ông viết tặng người yêu được đón nhận nồng nhiệt ngay từ khi ra đời.

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, Ngô Thụy Miên trở thành một hiện tượng được giới trẻ đô thị hâm mộ.

Năm 1973, Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân đính hôn.

Đám cưới của họ dự định sẽ tổ chức sau khi Đoàn Thanh Vân tốt nghiệp đại học.

Thế nhưng, sự kiện 30/4/1975 đã thay đổi nhiều điều.

Đoàn Thanh Vân theo cha mẹ di cư sang Mỹ, mà không kịp nói lời giã biệt vị hôn thê.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thổ lộ:

“Một sáng tác mà tôi rất yêu quí, có mang một chút hình ảnh thời sự, đó là bài

“Em Còn Nhớ Mùa Xuân”.

Đó là tình khúc duy nhất tôi đã viết ở Sài Gòn sau tháng 4/1975 trong nỗi nhớ một người bạn gái đã ra đi, và giữa những biến chuyển xẩy ra quanh mình trong những ngày tháng đó.

Bản nhạc nhắc đến những kỷ niệm đẹp của chúng tôi trong bối cảnh của một thời thơ mộng”.

Ca khúc

“Em Còn Nhớ Mùa Xuân” được nhiều ca sĩ trình diễn ở hải ngoại, rồi sau đó lại tiếp tục chinh phục người yêu nhạc trong nước:

“Những thành phố em sẽ đi qua

Đây Paris, đây Luân Đôn, đây Vienne

Nhưng có đâu bằng Sàigòn hôm qua

Nhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sau

Em có mơ ngày hát câu hồi hương”.

Khi chắc chắn người yêu đã không thể “hát câu hồi hương” như mình hy vọng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã vượt đại dương để đi tìm người phụ nữ đã cùng mình ước thề.

Ở nước Mỹ mênh mông, họ cũng đã tìm được nhau.

Năm 1979, Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân tổ chức lễ cưới tại bang California.

Trùng phùng hạnh phúc sau cách biệt bẽ bàng, Ngô Thụy Miên đã viết ca khúc “Em Về Mùa Thu” đánh dấu ngày nên duyên chồng vợ:

“Ô hay mùa thu lại về cho mình giăng hẹn hò

Gọi tên nhau khi chiều đến

Mây thu vấn vương đan ngập lối đi

Ái ân theo hồn vút cao

Vết mơ tình xõa tay mềm”.

Chuỗi ngày hòa nhập nơi đất khách cũng đầy gian nan.

Ngô Thụy Miên không muốn dính líu vào các hoạt động biểu diễn trên sân khấu, nên chọn cách đi làm công nhân như một người Việt bình thường mưu sinh xứ người.

Vợ chồng Ngô Thụy Miên dọn đến thành phố Olympia của bang Wasington để sinh sống với không ít muộn phiền và lo toan.

Tình yêu và âm nhạc đã níu giữ họ giữa nhiều xáo trộn bủa vây, mà ca khúc

“Bài Tình Ca Cho Em” là ví dụ tiêu biểu:

“Anh hát cho em bài tình ca thiết tha

Anh hát cho em dù lòng nghe xót xa

Một lần gặp gỡ đã là bao thương nhớ

Thương dáng em cười nhớ nụ mắt bờ môi…

Anh chúc cho em đời yên vui đắm say

Anh chúc cho em dù lòng nghe đắng cay

Một ngày nào đó dẫu tình ta đã lỡ

Một ngày nào đó ta vẫn yêu mãi người thôi”.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đứng ngoài thị phi showbiz.

Ông bộc bạch:

“Tôi đến với âm nhạc như một sự tự nhiên, không hề có tham vọng gì.

Những sáng tác của tôi đều được cẩn trọng, chăm sóc từ lời ca đến ý nhạc.

Những năm tháng học nhạc cổ điển

Tây phương đã giúp tôi rất nhiều trong việc sáng tạo, chọn lựa cũng như trau chuốt, làm đẹp câu nhạc.

Đã có những bài tôi để cả năm trời chỉ để viết đi, viết lại những giai điệu mà mình chưa vừa ý!

Nói về lời ca, thì có lẽ nhờ trưởng thành giữa văn thơ và sách vở tôi đã được đọc rất nhiều.

Đọc nhiều nó thấm vào người lúc nào không biết. Rồi khi trái tim rung động thì lời ca tự nhiên sẽ đến”.

Nhìn vào số lượng ca khúc của Ngô Thụy Miên phổ biến sâu rộng trong đời sống, ai cũng ngỡ ông sáng tác rất nhiều.

Thực tế, Ngô Thụy Miên sáng tác rất ít. Có khi vài ba năm ông mới có cảm hứng để viết một ca khúc.

Và quan trọng hơn là có nhiều ca khúc ra đời mà Ngô Thụy Miên cũng không có ý định công bố.

Chẳng hạn, ca khúc

“Riêng Một Góc Trời”

chỉ được Ngô Thụy Miên hát cho vợ suốt nhiều năm, sau đó ca sĩ Tuấn Ngọc mới đến tận nhà để xin được thu âm và lan tỏa cực nhanh vào công chúng:

“Tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên dòng suối mơ

Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề, xa rời chốn xưa

Tình như lá úa, rơi buồn, trong nỗi nhớ

Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi, hắt hiu tình tôi…”.

Tính toán chi li, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tự tổng kết ông viết được hơn 60 ca khúc.

Vì sao như vậy?

Ngô Thụy Miên cạn kiệt cảm hứng chăng?

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bảo ông không muốn viết những điều quá hiu hắt từ tâm trạng mình:

“Với tôi, âm nhạc cũng như đời sống đều thay đổi theo thời gian và không gian. Sống ở quê nhà với những thân yêu quanh mình, với những lụa là mưa nắng Sài Gòn, những quán hàng, những con đường quen thuộc từng dấu chân, từng buổi sáng, buổi chiều…

tất cả đã cho tôi những ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca thơ mộng, dịu dàng.

Ở Mỹ, người ta thật vội vã, thật xa lạ… Những thành phố, nhà cửa thật to lớn nhưng cũng thật lạnh lẽo.

Ngày tháng bên này đã để lại trong âm nhạc của tôi những dấu vết buồn bã của cuộc sống tạm dung, những muộn phiền cay đắng của những phần đời lặng lẽ quanh mình…”.

Ca khúc “Mưa Trên Cuộc Tình Tôi”

viết khi nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bước qua tuổi lục thập ít nhiều chứng minh điều ấy:

“Tôi vẫn ngồi lặng ngắm mây trôi

Mưa ngoài trời như bụi rơi

Chỉ là phù du những tháng ngày vui

Bên phím đàn tôi nghe hồn buông lơi”.

Bây giờ, ở tuổi 72, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên vẫn sống êm đềm bên người vợ thủy chung Đoàn Thanh Vân.

Họ hiếm muộn con cái,

nhưng đi đâu cũng có nhau.

Thỉnh thoảng họ cùng hát lại những

ca khúc một thời thanh xuân của mình để vỗ về cuộc tình trăm năm.

Vợ chồng nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên dành thời gian đi du lịch khắp nơi trên thế giới

Copied từ fb An Nam

  Nguồn: Tâm Huyền


 

 

BÀ CỤ MÀ TRẬN LŨ KHÔNG THỂ CUỐN TRÔI.

Cang Huynh

BÀ CỤ MÀ TRẬN LŨ KHÔNG THỂ CUỐN TRÔI.

Bà được tìm thấy dưới lớp bùn đã nhấn chìm mọi thứ khác.

Ngày 26 tháng 8 năm 2026, một bức tường nước khổng lồ ập xuống từ vụ sạt lở sông băng gần biên giới Nepal-Tibet, tàn phá Rasuwa, Nuwakot và các huyện lân cận chỉ trong vài phút. Mực nước sông dâng cao. Cầu cống biến mất. Toàn bộ làng mạc biến mất khi nước rút. Số người chết đã vượt quá 165, với hàng trăm người vẫn còn mất tích — con số này tiếp tục tăng lên khi các đội cứu hộ tiếp cận được những nơi bị lũ lụt cô lập với thế giới bên ngoài.

Tại Rasuwa, có một viện dưỡng lão nhỏ của chính phủ dành cho người già. Khi trận lũ ập đến, nó không chỉ làm hư hại tòa nhà. Nó đã xóa sổ tất cả — tường nhà, hồ sơ, mọi thứ, đều biến mất dưới lớp bùn và mảnh vỡ chôn vùi phần còn lại của thung lũng. Tất cả cư dân đều thiệt mạng, trừ một người.

Người đó là Gunakeshari Bohara. Bà 94 tuổi.

Lực lượng cứu hộ tìm thấy bà ở khu vực Tupche thuộc Nuwakot, bị vùi sâu trong đống đổ nát và bùn lầy đến nỗi chỉ có máy móc hạng nặng mới tiếp cận được. Một chiếc máy xúc đã cẩn thận đào bới đống đổ nát cho đến khi một người cứu hộ cuối cùng có thể nhấc bà ra bằng tay – bức ảnh ghi lại khoảnh khắc đó, toàn thân bà phủ đầy bùn khô từ đầu đến chân, đã được chia sẻ khắp thế giới như một trong những hình ảnh mang tính biểu tượng của thảm họa này.

Bà được đưa ngay đến Trung tâm Chấn thương Kathmandu. Và ở đó, câu chuyện trở nên khó khăn hơn chứ không hề dễ dàng hơn. Bà Gunakeshari mắc chứng mất trí nhớ nghiêm trọng. Trong cơn sốc vì những gì đã xảy ra, bà không thể nói được. Bà không thể nói tên mình cho các bác sĩ biết. Đối với một bà lão vừa sống sót sau một thảm họa không thể tưởng tượng nổi, không có cách nào để bà nói ra điều đó – không có từ ngữ nào để diễn tả những gì bà đã trải qua, không có cách nào để hỏi về những người bà quen biết. Cuối cùng, một người thân đã đứng ra nhận diện bà.

Các bác sĩ điều trị cho bà gọi sự sống sót của bà là một điều kỳ diệu thực sự. Một tòa nhà bị phá hủy. Tất cả mọi người trong đó đều thiệt mạng. Và bằng cách nào đó, trong bùn lầy, một người phụ nữ 94 tuổi vẫn bám trụ được.

Không có một kết thúc trọn vẹn nào ở đây, và sẽ thật sai lầm nếu giả vờ rằng có một kết thúc như vậy. Gunakeshari không có từ ngữ nào để kể cho chúng ta biết điều gì đã giúp bà ấy vượt qua những giờ phút khó khăn đó, và có lẽ bà ấy sẽ không bao giờ có thể. Ở đâu đó gần đó, các gia đình vẫn đang tìm kiếm những người mất tích trên bờ sông và những bãi đổ nát. Nepal và Tây Tạng vẫn đang thống kê những mất mát của mình.

Nhưng có điều này: một người bà cụ đã không bị dòng nước cuốn trôi. Một bức ảnh chụp một người cứu hộ đang bế bà ấy ra, cẩn thận và không vội vã, như thể bà ấy là điều duy nhất quan trọng trong thung lũng đó — bởi vì trong khoảnh khắc đó, đối với anh ấy, bà ấy chính là như vậy.

Chúng ta không được biết suy nghĩ của bà ấy. Chúng ta không được nghe một câu nói, một nụ cười, một cái tên mà bà ấy có thể tự đặt cho mình. Điều chúng ta nhận được nhỏ bé hơn, nhưng bằng cách nào đó, cũng mạnh mẽ không kém: bằng chứng cho thấy ngay cả khi một nơi bị xóa sổ, người ta vẫn có thể tìm thấy ai đó ở đó.

Cầu nguyện cho Nepal, cho Tây Tạng, và cho tất cả những người vẫn đang chờ đợi tin tức về người thân yêu của họ.

Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.

Thiên Chúa tỏ ra điều gì về chính Người khi gởi Con của Người đến với chúng ta?-Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, xin Chúa luôn đồng hành với bạn trên khắp nẻo đường hôm nay nhé. Hãy tiếp tục cầu nguyện cho nhau và thể’ giới cùng những linh hồn nạn nhân ở Nepal nhé

Cha Vương

Thư 4:02/09/2026.    (t5-21)

GIÁO LÝ: Thiên Chúa tỏ ra điều gì về chính Người khi gởi Con của Người đến với chúng ta? Trong Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta tình yêu thương xót thẳm sâu của Người. (YouCat, số 9)

SUY NIỆM: Nhờ Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa vô hình trở nên hữu hình. Người trở nên người như ta. Điều đó chứng tỏ tình yêu của Chúa đi tới chỗ Người đã nhận lấy trên mình tất cả những gì đè nặng lên ta: Người đi theo ta trên khắp các nẻo đường; Người có mặt trong nỗi cô đơn, nỗi đau khổ và nỗi âu lo của ta trước cái chết; Người hiện diện ở những nơi mà ta không thể đi xa hơn được để mở cửa sự sống cho ta (như người cha đón đứa con hoang đàng trong bước đường cùng của nó).

❦  Nhập thể là hành vi Thiên Chúa nhận lấy thân phận con người nơi Chúa Giêsu Kitô. Nhập thể là nền tảng của đức tin Kitô giáo và của niềm trông cậy nhân loại được cứu độ.

❦  Hạnh phúc mà bạn kiếm tìm, hạnh phúc mà bạn có quyền hưởng có một tên, một khuôn mặt: đó là Chúa Giêsu (Kitô ở Nadaret. Đức Bênêđictô XVI)

❦ Thiên Chúa đã nhận lấy vẻ bề ngoài là loài người nơi Chúa Giêsu Kitô và trở nên bạn hữu cũng như anh em với ta. (Đức Bênêđictô XVI)

LẮNG NGHE: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa… ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. (Ga 1:1,4)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, cuộc sống đích thực là sống trong Tình Yêu Thiên Chúa. Con đang bị giằng co giữa hai lối sống tinh thần và vật chất. Xin cho con biết từ bỏ khuynh hướng nghiêng theo thế gian và đam mê của nó để có thể sống đúng phong cách của người kitô hữu trong một thế giới đầy cam go thử thách này.

THỰC HÀNH: Nhìn ngắm tượng Chúa chịu đóng đinh, để cảm nghiệm tình yêu thương xót thẳm sâu của Người dành cho bạn hôm nay.

From: Do Dzung

*****

Thánh Ca: Chúa Luôn Đồng Hành – Sáng tác: Hoàng Peter