Hóa ra người nghèo không tham lam – Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)

Ba’o Nguoi-Viet

October 13, 2026

Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)

TOWNSEND, Washington (NV) – Có những người phải đến ngân hàng thực phẩm để xin từng bữa ăn, nhưng lại sợ mình nhận quá nhiều khiến người khác không còn phần.

Một quân nhân Mỹ đứng xếp hàng cùng những người trong cộng đồng quân đội để nhận thực phẩm miễn phí khi chính phủ liên bang đóng cửa hồi Tháng Mười, 2025. (Hình minh họa: Sandy Huffaker/AFP via Getty Images)

Câu chuyện của một tình nguyện viên ở tiểu bang Washington không chỉ làm thay đổi cách ông nhìn người nghèo, mà còn đặt ra câu hỏi lớn cho xã hội Mỹ: Vì sao chúng ta thường nghi ngờ những người cần giúp đỡ, và liệu chính sách an sinh có đang được xây dựng trên những định kiến sai lầm về họ?

Câu chuyện này do ký giả Maggie Penman tường thuật trên nhật báo The Washington Post hôm Thứ Ba, 6 Tháng Mười, thu hút hàng chục ngàn lượt thích và hơn 800 bình luận.

Một khám phá bất ngờ tại trung tâm phân phát thực phẩm từ thiện

Tháng Tư vừa qua, ông Michael Jensen bắt đầu công việc tình nguyện tại một ngân hàng thực phẩm ở thành phố Port Townsend, Washington, với một tâm trạng khá lo lắng khi hình dung việc mình sẽ thường xuyên phải từ chối những người xin thêm thức ăn.

Nhưng ông chứng kiến điều hoàn toàn ngược lại.

Nhiều người đến nhận thực phẩm không những không đòi thêm mà còn ngần ngại hỏi lại các tình nguyện viên liệu có đủ thức ăn cho những người đến sau hay không. Ông Jensen thật bất ngờ khi chứng kiến cảnh những người rõ ràng đang thiếu ăn, nhưng vẫn nghĩ đến những người khác.

Ông kể lại kinh nghiệm trên Reddit và thừa nhận rằng những suy nghĩ trước đây của mình thật sai lầm. Ông nhận được một bài học về sự khiêm nhường và niềm tin vào lòng tốt của con người.

Một người kể về mẹ mình, vốn sống trong hoàn cảnh khó khăn, thường phải đến ngân hàng thực phẩm nhận thức ăn. Nhưng mỗi lần mang một thùng về, bà chỉ giữ lại chưa đến một phần tư cho hai vợ chồng. Phần còn lại được chia thành những gói nhỏ mang đến cho những người cao niên khác không thể ra khỏi nhà.

Một người khác kể rằng khi đi quyên góp từ thiện, những người lái xe cũ kỹ thường đóng góp hào phóng, thậm chí còn xin lỗi vì không thể cho nhiều hơn.

Bài đăng của ông Jensen còn được khoảng $3,000 tiền quyên góp cho tổ chức cứu trợ địa phương, phần lớn từ những khoản đóng góp nhỏ.

Khoa học từng phát hiện người có ít vẫn sẵn lòng chia sẻ

Năm 2010, Giáo Sư Paul Piff, chuyên khoa Tâm Lý Học, cùng các đồng nghiệp tại đại học UC Berkeley, công bố nghiên cứu “Having Less, Giving More,” tạm dịch là “Có ít hơn, cho đi nhiều hơn.”

Qua bốn nghiên cứu, nhóm khoa học gia tìm hiểu mối quan hệ giữa địa vị kinh tế, xã hội, và lòng hào phóng. Họ nhận thấy rằng những người thuộc tầng lớp kinh tế thấp có xu hướng chia sẻ nhiều hơn.

Những thí nghiệm khác cũng ghi nhận người thuộc tầng lớp thấp thể hiện lòng từ thiện, sự tin tưởng, và tinh thần giúp đỡ cao hơn những người có địa vị cao.

Các tác giả cho rằng vì cuộc sống thiếu thốn khiến con người phải phụ thuộc nhiều hơn vào sự tương trợ, họ có thể phát triển lòng trắc ẩn và ý thức bình đẳng mạnh hơn.

Năm 2015, hai nhà nghiên cứu Stephane Cote và Julian House thuộc đại học University of Toronto, Canada, phối hợp với nhà xã hội học Robb Willer thuộc đại học Stanford University, thực hiện nghiên cứu nhằm tìm hiểu liệu khoảng cách giàu nghèo có ảnh hưởng đến lòng hào phóng của con người hay không.

Công trình này, công bố ngày 23 Tháng Mười Một, 2015, trên tạp chí khoa học Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS), phát hiện trong những môi trường có khoảng cách giàu nghèo lớn, người có thu nhập cao thường ít hào phóng hơn người có thu nhập thấp.

Nhưng tại những môi trường có mức độ bất bình đẳng thấp, kết quả không giống như vậy.

Điều này gợi ý rằng không chỉ số tiền một người sở hữu, mà cả môi trường kinh tế và cách xã hội phân chia của cải cũng có thể ảnh hưởng đến thái độ đối với người khác.

Tuy nhiên, khoa học không dừng lại ở đó.

Năm 2020, hai thí nghiệm tái lập không tìm thấy bằng chứng xác nhận kết quả ban đầu của Giáo Sư Piff. Đến năm 2025, một phân tích tổng hợp 471 nghiên cứu, với hơn 2.34 triệu người tham gia tại 60 xã hội, lại cho thấy người thuộc tầng lớp kinh tế cao có xu hướng thể hiện hành vi giúp đỡ nhỉnh hơn, nhưng mức chênh lệch rất nhỏ.

Những kết quả khác nhau này nhắc chúng ta một điều quan trọng: Không thể kết luận tất cả người nghèo đều hào phóng hơn người giàu. Nhưng cũng không có cơ sở để mặc nhiên xem người nghèo là tham lam, ích kỷ hoặc chỉ biết nhận mà không biết cho.

Vì sao người thiếu thốn vẫn nghĩ đến người khác?

Về mặt tâm lý, một người từng trải qua cảnh thiếu ăn có thể hiểu giá trị của một bữa ăn rõ hơn người chưa bao giờ phải lo lắng về chuyện đó.

Sự thiếu thốn có thể khiến con người trở nên lo lắng, nhưng cũng có thể giúp họ nhận ra nỗi khổ của những người cùng hoàn cảnh.

Còn một yếu tố khác: Sự tồn tại của cộng đồng.

Những gia đình thu nhập thấp thường phải dựa vào mạng lưới tương trợ. Hôm nay một người hàng xóm cho mượn ít tiền, ngày mai một gia đình khác giúp đưa người bệnh đến bệnh viện. Sự giúp đỡ không nhất thiết được tính toán thành tiền, mà dựa vào niềm tin rằng khi mình gặp hoạn nạn, sẽ có người giúp.

Tuy nhiên, không nên lãng mạn hóa sự nghèo khó. Thiếu tiền không tự động tạo ra lòng nhân ái. Nghèo đói kéo dài còn có thể gây căng thẳng, làm suy giảm sức khỏe, và làm con người kiệt quệ.

Bài học thứ nhất: Đừng xây dựng chính sách an sinh trên sự nghi ngờ

Tại Mỹ, mỗi khi tranh luận về trợ cấp thực phẩm SNAP (Food Stamps), bảo hiểm Medicaid, hoặc những chương trình hỗ trợ người có thu nhập thấp, câu hỏi về gian lận và lợi dụng trợ cấp thường được nhắc đến.

Việc kiểm soát gian lận là cần thiết, bởi vì tiền trợ cấp xuất phát từ ngân sách công và phải được sử dụng đúng mục đích.

Nhưng có sự khác biệt rất lớn giữa kiểm soát hợp lý và mặc nhiên nghi ngờ những người xin trợ giúp.

Một hệ thống an sinh tốt phải có khả năng phát hiện gian lận, nhưng đồng thời không biến mọi người nghèo thành đối tượng bị tình nghi.

Nhà nước phải ngăn chặn người không đủ điều kiện lấy tiền trợ cấp, nhưng cũng phải bảo đảm người đủ điều kiện không bị bỏ rơi vì những rào cản hành chính.

Bài học thứ hai: Chính sách chống nghèo phải bảo vệ phẩm giá con người

Trong nhiều chương trình từ thiện, người nhận phải xếp hàng, trình bày hoàn cảnh, và đôi khi phải chứng minh mình đủ nghèo để được giúp đỡ.

Tất nhiên, tổ chức cứu trợ cần xác định đúng đối tượng. Nhưng điều đó không có nghĩa người xin trợ giúp phải đánh đổi lòng tự trọng.

Một người mẹ đơn thân cần thực phẩm cho con không nên bị xem là gánh nặng xã hội. Một người cao niên nhận trợ cấp sau nhiều thập niên làm việc không nên cảm thấy xấu hổ vì nghèo khó.

Khi người nghèo được đối xử với sự tôn trọng, họ không chỉ nhận được nguồn lực vật chất, mà còn giữ được niềm tin rằng mình vẫn là một thành viên có giá trị trong xã hội.

Bài học thứ ba: Từ thiện không thể thay thế trách nhiệm của nhà nước

Câu chuyện về người phụ nữ giữ lại chưa đến một phần tư số thực phẩm được cứu trợ rồi mang phần còn lại giúp những người cao niên khác thật cảm động.

Nhưng nếu suy nghĩ sâu hơn, chúng ta phải đặt câu hỏi: Tại sao một người đang thiếu ăn lại phải gánh thêm trách nhiệm chăm lo cho những người cũng đang thiếu ăn?

Một quốc gia có nền kinh tế lớn không thể chỉ trông chờ vào những người nghèo chia nhau từng thùng thực phẩm để giải quyết tình trạng đói nghèo.

Vai trò của chính phủ không chỉ là phân phát trợ cấp mà còn phải giải quyết những nguyên nhân đẩy người dân vào hoàn cảnh đó, ví dụ như vì sao tiền lương không theo kịp giá sinh hoạt, nhà ở quá đắt đỏ, chi phí y tế cao, và sự thiếu ổn định của việc làm.

Bài học thứ tư: Người nghèo cần có tiếng nói trong chính sách dành cho họ

Một chi tiết đáng chú ý trong bài báo là nhiều người làm tình nguyện tại các ngân hàng thực phẩm ở Jefferson County cũng chính là những người từng nhận thực phẩm cứu trợ.

Họ không chỉ là người thụ hưởng. Họ còn đóng góp công sức để giúp hệ thống hoạt động.

Điều này cho thấy một nguyên tắc quan trọng trong quản trị xã hội: Chính sách dành cho người nghèo cần được xây dựng với sự tham gia của chính người nghèo.

Không phải vì người nghèo luôn đúng, nhưng những người thường xuyên phải lựa chọn giữa tiền thuê nhà, tiền thuốc, và tiền mua thực phẩm hiểu rõ những trở ngại mà giới hoạch định chính sách có thể chưa từng trải qua.

Kết luận: Đừng nhầm sự nghèo khó với kém cỏi đạo đức

Câu chuyện của ông Jensen không nói rằng người nghèo tốt hơn người giàu nhưng chứng minh rằng lòng tốt không phải đặc quyền của bất cứ tầng lớp kinh tế nào.

Một chính phủ có trách nhiệm không nên xây dựng hệ thống an sinh trên giả định rằng người nghèo chỉ biết đòi hỏi, cũng không nên dựa vào lòng tốt của họ để trốn tránh nghĩa vụ bảo vệ những người yếu thế.

Xã hội cần luật lệ để ngăn chặn gian lận, nhưng cũng cần chính sách đủ nhân đạo để không trừng phạt những người thực sự khó khăn.

Sau cùng, điều đáng xấu hổ không phải là một người nghèo phải đến xin thực phẩm. Điều đáng suy nghĩ hơn là trong một xã hội giàu có, vẫn để người nghèo phải nhường cả phần ăn cần thiết của mình cho người nghèo khác thì có lẽ cần xét lại không chỉ lòng hào phóng của người dân, mà cả trách nhiệm của những người đang điều hành đất nước.

Điều đáng trân trọng trong câu chuyện của ông Jensen không phải là người nghèo tốt hơn người giàu, mà là sự thiếu thốn không làm mất đi phẩm giá và khả năng quan tâm đến người khác của họ. [đ.d.]


 

NHIỀU VIỆC – ÍT LÒNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ!”.

“Bác ái không vội; bác ái gõ cửa, nhưng không phá cửa!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Những lời trách của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay chạm đến một điều đáng ngại: chúng ta có thể giữ kỹ nhiều điều mà vẫn bỏ quên công bình và bác ái. Việc đạo đức vẫn đầy đủ, nhưng lòng yêu mến chưa lớn theo – ‘nhiều việc – ít lòng’.

Người Pharisêu nộp thuế thập phân đến cả bạc hà, vân hương và các thứ rau. Không một phần nhỏ nào nằm ngoài sự cẩn thận của họ; vậy mà họ lại xao lãng điều hệ trọng hơn. Chúa Giêsu nói: “Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ!”. Họ dành cho Chúa một phần mười mọi thứ rau, nhưng chưa để Ngài sửa lại trọn lòng mình. Sự tỉ mỉ ấy chưa khiến họ biết ghé vai trước nỗi nhọc của người khác. “Cốt lõi đường lối của Đức Giêsu là sẵn lòng mang gánh nặng của người khác!” – Robert Barron.

Chúa Giêsu còn trách họ thích chỗ danh dự và những lời chào kính trọng. Họ muốn người khác nhận ra mình là người đạo đức, nhưng chưa nhận ra người khác đang cần gì. Với giới thông luật, Ngài chỉ rõ: họ chất gánh nặng lên người khác mà không buồn động một ngón tay để giúp. Họ biết điều người khác phải làm, nhưng ít biết điều người khác phải chịu. Động một ngón tay còn là chịu nghe, chịu đợi. Có những điều đã nói rõ, nhưng người nghe cần thời gian. Lòng yêu mến phải giữ người hướng dẫn ở lại với người bên cạnh.

Để có thể lắng nghe, đợi chờ như thế, họ cần để Thần Khí dẫn dắt. Nhờ đó, đời họ có thể sinh hoa trái: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” – bài đọc một. Nhẫn nhục giúp chúng ta chờ; hiền hoà giúp chúng ta không làm tổn thương; tiết độ giúp chúng ta biết dừng trước một lời thúc ép. Vậy mà bất hoà, nóng giận, chia rẽ vẫn có thể chen vào khi chúng ta muốn người khác mau nên tốt. Người được hướng dẫn cần đổi thay; nhưng người hướng dẫn cũng cần hoán cải. Thánh Vịnh đáp ca soi sáng cả hai: “Lạy Chúa, ai theo Ngài, sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống!”.

Có những ngày chúng ta làm bao việc cho gia đình, giáo xứ, nhưng người gần nhất lại thấy chúng ta luôn vội, dễ cáu gắt. Những việc đạo đức cần đi đến tận cung cách chúng ta đối xử với người khác, cả khi họ chậm thay đổi ở điều khiến chúng ta phiền lòng.

“Đức ái trọn hảo là chịu đựng những lỗi lầm của tha nhân, không ngạc nhiên trước những yếu đuối của họ!” – Têrêxa Lisieux.

Anh Chị em,

Đức Kitô hết lòng với Chúa Cha, và cũng hết lòng với những ai tìm đến Ngài. Giữa đám đông chen lấn, Ngài nghe người phụ nữ vừa chạm áo Ngài nói hết sự thật; trên đường đi, Ngài dừng lại trước tiếng kêu của anh mù Bartimê. Trên thập giá, giữa đau đớn, Ngài vẫn nghe lời thưa của anh trộm lành và tặng anh thiên đàng. Chiêm ngắm Ngài, chúng ta xin cho những việc đạo, việc đời mỗi ngày giúp mình biết thương người hơn, để thôi ‘nhiều việc – ít lòng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng bao giờ để con coi công việc hơn con người; cho con biết dừng lại khi một người cần con; và đừng để ai ngại đến gần vì con quá vội!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXVIII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/14.html

Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 11,42-46

42 Khi ấy, Đức Giê-su nói : “Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ. 43 Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng. 44 Khốn cho các người ! Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay.”

45 Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói : “Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa !” 46 Đức Giê-su nói : “Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật ! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào.”


 

NGƯỜI BỊ ĐUỔI KHỎI TỔNG Y VIỆN CỘNG HOÀ NGÀY 30 THÁNG 04, 1975 ĐÃ QUA ĐỜI…

 
Nhân vật trong bức ảnh lịch sử ngày 30 Tháng Tư 1975 đã qua đời.
Tin từ Bình Phước cho hay, cựu Quân nhân VNCH Võ Phùng Dương đã qua đời do tuổi già sức yếu, một phần vì những di chứng chiến tranh đi kèm lao động nặng nhọc suốt một thời gian dài.
Ông Võ Phùng Dương là nhân vật trong bức ảnh lịch sử về người thương binh VNCH đang chữa trị ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, Sài Gòn, đã phải chống nạng và dìu đồng đội thương tật nặng hơn mình bước ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hoà sau khi VC tràn vào, đuổi hết mọi người ra ngoài, kể cả những người đang mổ giữa chừng.
Đôi mắt buồn và ngơ ngác trước sự thật quá phũ phàng của người quân nhân Võ Phùng Dương trong bức ảnh, được sử dụng nhiều trên các tờ báo nước ngoài về cuộc ngừng bắn vào buổi trưa ngày 30 Tháng Tư 1975. (Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên).
Thương phế binh Võ Phùng Dương, Số quân: 74/145 811, KBC: 3506, Tiểu Đoàn 52, Liên Đoàn 3, Biệt Động Quân, tạ thế vào 23g45, ngày 3 Tháng Ba 2023, (hưởng thọ 69 tuổi).
Linh cữu của ông được quàn tại nhà ở thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, Bình Phước – vốn là một miếng đất của Ông chủ vườn… đã thuê mướn ông từ giai đoạn “kinh tế mới”, thương tình cho… để cất nhà.
Từ năm 1979 ông sống ở đó, trồng rau nuôi gà để mưu sinh.
Trong một phóng sự đi tìm nhân vật chứng nhân lịch sử với bức ảnh nổi tiếng, chúng tôi đã tìm đến nhà Ông và thăm hỏi, chia sẻ và thương mến một Công dân VNCH không khuất phục thời thế và cuộc đời của mình.
(Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên)
Lúc đó, nhắc về nguyên cớ của việc có bức hình này… Ông Dương kể với giọng buồn buồn: “Người chụp tấm hình đó, là bạn của chú, cũng bị đuổi từ Tổng Y Viện ra, ảnh tên Lài.
Sẵn tay đang cầm cái máy Kodak, ảnh kêu tên chú rồi chụp luôn.
Không ngờ tấm hình đó sống dai vậy” !
Ông Dương nói rằng giờ cũng không biết Lài ở đâu, còn sống hay đã chết với những ngày tháng cam go không thua gì như cuộc chiến, sau cái Tháng Tư đó”.
Sau năm 1975, khi có các phái đoàn quốc tế đến tìm hiểu cách ứng xử với các cựu quân nhân VNCH sau ngày 30 Tháng Tư 1975, nhiều nhân chứng có kể về việc họ bị đẩy ra khỏi giường bệnh, bị đuổi ra đường không có thuốc men chuẩn bị cho các ngày kế.
Nhưng không ai có mang giá trị lịch sử đầy sức nặng như ông Võ Phùng Dương, vì ông là người chứng kiến, là nạn nhân trực tiếp, và hình ảnh xuất hiện trên khắp thế giới.
Nhắc lại giờ phút đó, ông Võ Phùng Dương nói, suýt bật thành tiếng chửi thề:
“Họ nói giọng Bắc, kêu đ*t mẹ chúng mày, cút ra hết”.
Tất cả phải lặng lẽ kéo nhau ra bằng Cổng sau, vì phía quân Bắc Việt không muốn bị dân chúng nhìn thấy cảnh tàn nhẫn này.
Ông Võ Phùng Dương là Thương phế binh VNCH, nhưng chưa một lần ghé đến được Chương trình Tri ân TPB VNCH của các Cha Dòng Chúa Cứu Thế vì quá xa xôi và đi đứng bất tiện.
Ông nói mình chỉ muốn gặp anh em là chính, chứ đời sống thì có thể tự lo toan được.
Quà hỗ trợ, ông nói là để nhường cho anh em khó khăn hơn.
Sự ra đi của ông Dương cũng là điều buồn và tiếc nuối của những người có lòng với di sản VNCH và khát khao ghi lại những chứng tích lịch sử, mà chưa có cơ hội để thực hiện.
Y Nguyên
(Sài Gòn trong tôi/ SàiGònNhỏ)

KHI KHÔNG GẶP ĐƯỢC LINH MỤC LÚC HẤP HỐI , LÚC NGUY TỬ …THÌ PHẢI LÀM GÌ?

TỔNG HỘI RẤT THÁNH ĐỨC MẸ MÂN CÔI TRỰC THUỘC VÙNG ORANGE – HOA MAI

 KHI KHÔNG GẶP ĐƯỢC LINH MỤC LÚC HẤP HỐI , LÚC NGUY TỬ …THÌ PHẢI LÀM GÌ?

Muốn  cứu rỗi phần Linh hồn thì chúng ta phải làm những việc này khi còn sống  ..nếu đã chết rồi là mọi sự đã hết ..  Nghĩa là khi chúng ta chết rồi . thì cho dù gặp 100 Linh Mục . 100 Giám Mục .. Hay gặp Đức Giáo Hoàng  đi chăng nữa ..thì cũng không thể giúp đỡ được gì cho Linh hồn của ta nữa   .. Cho nên khi đối diện với sự chết chúng ta phải làm ngay không thể trì hoãn được nữa  … Và chúng ta phải có trách nhiệm nói cho mọi người cùng biết . hay những lúc nguy tử chúng ta phải giúp họ làm việc này để được cứu rỗi phần Linh hồn … Nếu không chính chúng ta cũng mắc lỗi trong chuyện này ..

Để giải quyết vấn đề cứu rỗi phần Linh hồn cho con cái của mình …. Giáo Hội , Mẹ Hiền , đã giải quyết làm sao ? Xin thưa dễ lắm .. Có 2 việc phải làm  ….

1) ĂN NĂN TỘI CÁCH TRỌN

để xin CHÚA  thứ tha mọi tội. Cách dễ nhất để ăn năn tội “cách trọn” là đọc kinh “Ăn năn tội” :

“Lạy CHÚA , CHÚA là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, CHÚA  đã dựng nên con, và cho Con CHÚA  ra đời, chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng CHÚA , thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự ; con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn CHÚA  thì con sẽ lánh xa dịp tội, cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen”

Nếu không thuộc kinh này, hoặc không kịp giờ, thì một câu vắn tắt này cũng đủ : “Lạy CHÚA , con yêu mến CHÚA , xin CHÚA  tha thứ tội lỗi cho con” hoặc những câu tương tự : “Lạy CHÚA  xin thương xót con là kẻ tội lỗi”…

Người nhà có thể cùng đọc với người hấp hối hoặc đọc lớn cho họ nghe và hiệp thông.

“Ăn năn tội cách trọn là chìa khoá VÀNG vào cửa Thiên Đàng”

2) LÃNH ƠN ĐẠI XÁ NGUY TỬ 

Ăn năn tội cách trọn là CHÚA  tha các TỘI ta thống hối. Rồi ƠN ĐẠI XÁ “sẽ đến” tha các HÌNH PHẠT bởi tội đã được tha trên đây (do ăn năn tội cách trọn ta vừa làm), và như thế, ta thẳng cánh bay tới Thiên Cung.

Giáo lý về Ân xá là : có Tội là có Hình phạt đi kèm. [ Tội được tha do lòng thống hối. Hình phạt do các tội đã được tha đó, sẽ được xoá nhờ Ân xá (và nhiều cách thế “đền tội” khác ) ] :

    ~ “Số 18 : Các tín hữu nguy tử mà linh mục không thể cho họ lãnh các Bí tích cuối cùng cũng như ƠN ĐẠI XÁ  giờ lâm chung theo giáo luật,  thì Hội Thánh, Mẹ Hiền, ban ĐẠI XÁ lâm chung cho họ, nếu trong đời sống họ vẫn thường quen đọc ít kinh (cầu nguyện); và lúc này, thật đáng khuyến khích là cho họ cầm tượng CHÚA  Chịu Nạn (Thánh giá có tượng CHÚA đóng đinh) hay Thánh giá (không tượng CHÚA ) và giục họ ước ao lãnh đại xá (toàn xá) này.

   ~ “Đại xá giờ lâm chung này được ban cho tín hữu, dù ngày hôm đó họ đã lãnh đại xá khác rồi.” (trích Tông hiến về Ân Xá ngày 1-1-1967 của ĐGH Phaolô 6, Normae số 18)

~ Như thế, để lãnh ơn đại xá giờ lâm chung, điều kiện duy nhất là, trong cuộc sống họ có thói quen ĐỌC ÍT KINH… ” ví dụ “. đọc ba kinh kính mừng trước khi ngủ, đọc kinh trước khi ăn cơm… Cực kỳ đơn giản !

~ Cầm THÁNH GIÁ là để họ tin chắc họ “cầm” họ “nắm” được ơn cứu độ. Chứ không có cũng chẳng sao…

~ Miễn chuẩn ..( nghĩa là không phải làm) 3 điều kiện thường nghe : xưng tội, rước lễ, cầu theo ý Đức Giáo Hoàng trong trường hợp lãnh ƠN ĐẠI XÁ  nguy tử này.

~  Thế là quý vị và các bạn đã an tâm chưa.

Xin chia sẻ cho mọi người cùng biết ..xin cảm ơn ..

( Theo . Lm An Phong sô Nguyễn Công Vinh ..)


 

ĐIỀU KỲ DIỆU – Truyen ngan HAY

ĐIỀU KỲ DIỆU.

Một người phụ nữ trở lại khu bảo tồn động vật hoang dã sau 35 năm, không ngờ rằng mình sẽ còn được nhận ra từ con khỉ đột mà bà đã cứu khỏi những kẻ săn trộm.

Ba mươi năm trước, Sarah tham gia một đội cứu hộ tại một trại săn bắn sâu trong Congo. Trong số những động vật họ tìm thấy có một con khỉ đột con, sợ hãi và yếu ớt đến nỗi khó mà đứng vững.

Khi bà cúi xuống bên cạnh nó, nó bám chặt lấy chân bà và không chịu buông ra. Sarah nhẹ nhàng bế nó lên, quấn nó trong một chiếc chăn và cho nó uống nước trong khi đội cứu hộ chuẩn bị rời đi.

Nó hồi phục tại một khu bảo tồn động vật hoang dã, nơi Sarah đến thăm bất cứ khi nào công việc cho phép. Nhưng những nhiệm vụ cứu hộ khác cuối cùng đã đưa bà đi, và nhiều năm trôi qua trước khi bà có thể trở lại.

Đến lúc đó, con khỉ đột mồ côi đã lớn lên thành một con khỉ đột khổng lồ. Sarah hy vọng sẽ gặp lại nó, nhưng bà không bao giờ ngờ rằng nó vẫn còn nhớ bà.

Khi nhìn thấy bà, nó vội vã chạy băng qua khu vườn, những người xung quanh im lặng như thể bà đang chờ đợi, bà khẽ gọi tên nó mà bà đã đặt cho nó.

Ba mươi năm trước, bà đã kéo nó ra khỏi một nơi mà nó chỉ biết đến nỗi sợ hãi. Giờ đây, bà ngồi trong vòng tay nó, xúc động vì nó vẫn còn nhớ đến bà.

– Cang Huỳnh lược dịch từ National Géographie . 


 

THÁNH TÊRÊSA AVILA

THÁNH TÊRÊSA AVILA

 Đây là nhà cải tổ vĩ đại dòng Cát Minh, người đã nỗ lực hết mình để hướng dẫn chị em sống đúng tin thần đan tu.  Thánh nữ là nhà thần bí vĩ đại, để lại rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu nhất là quyển “Lâu Đài Nội Tâm,” giải thích hành trình tâm linh của một Kitô hữu tiến tới sự hoàn thiện.  Đức Bênêđictô XVI dành buổi tiếp kiến chung ngày 02 tháng 02 năm 2011 để nói về cuộc đời và tư tưởng của thánh nữ.

 *****

Anh chị em thân mến,

Trong những bài giáo lý trước đây, tôi đã chia sẻ về các vị Giáo phụ trong Hội Thánh, những nhà thần học lớn và nhiều người nữ thời Trung Cổ.  Tôi đã có cơ hội để suy nghĩ thấu đáo hơn về những vị được tuyên phong là “Tiến Sĩ Hội Thánh,” dựa trên đạo lý trổi vượt của các ngài.  Hôm nay, tôi xin được tiếp tục trình bày chủ đề này.  Tôi sẽ giới thiệu một vị rất nổi bật về linh đạo Kitô giáo cho mọi thời – đó là thánh nữ Têrêsa Avila, cũng được biết đến với danh hiệu thánh Têrêsa Giêsu.

 Thánh Têrêsa, tên gọi đầy đủ là Têrêsa de Cepeda y Ahumada, sinh ở Avila, Tây Ban Nha, năm 1515.  Trong quyển tự truyện, thánh nữ có đề cập đến một vài chi tiết thời thơ ấu của ngài.  Ngài được sinh ra trong một đại gia đình lớn, cha mẹ là “những người sùng đạo và hết lòng kính sợ Thiên Chúa.”  Thánh nữ có 3 chị em gái và 9 anh em trai.

 Khi còn bé, chưa đủ chín tuổi, Têrêsa đã có cơ hội đọc về cuộc đời của các vị tử đạo, và điều này đã truyền cho cô bé một cảm hứng mãnh liệt, khát khao được phúc tử đạo, đến độ Têrêsa chạy nhanh ra khỏi nhà, muốn được chết như một chứng nhân tử đạo và tiến lên cõi trời (x. Vida, 1,4); cô bé nói với cha mẹ: “Con muốn nhìn ngắm Thiên Chúa.”

 Một vài năm sau, Têrêsa phải nói về việc đọc sách thời thơ ấu của mình, và ngài chia sẻ rằng, nhờ đọc sách, bản thân mới khám phá ra con đường chân lý, được gồm tóm trong hai nguyên tắc nền tảng. 

Một mặt, “tất cả mọi sự trên thế gian này sẽ qua đi,” trong khi, mặt khác, duy chỉ Thiên Chúa mới tồn tại “mãi muôn đời,” một chủ đề được lặp lại nhiều lần trong các bài thơ nổi tiếng nhất của Têrêsa:

 Đừng để sự gì làm bạn lo lắng,

Đừng để điều chi làm bạn hoảng sợ,
Tất cả mọi sự kìa đang qua đi:
Thiên Chúa vẫn không bao giờ thay đổi.
Kiên trì giúp ta đạt được tất cả.
Có Thiên Chúa, ta chẳng thiếu thốn gì;
Chỉ mình Người lấp đầy tâm hồn ta.

 Khi Têrêsa chừng mười hai tuổi, thì thân mẫu qua đời, và thánh nữ đã tha thiết nài xin Đức Maria Rất Thánh Đồng Trinh trở nên Mẹ của mình (x. Vida, 1,7).

 Vào thời niên thiếu, Têrêsa tìm đọc những sách phàm tục, dẫn đến mấy trò tiêu khiển vô bổ, nhưng tới lúc đi học ở trường Santa María de las Gracias de Ávila của các nữ tu dòng thánh Augustinô, Têrêsa đọc nhiều sách thiêng liêng, đặc biệt là tìm hiểu các tác phẩm kinh điển về linh đạo của thánh Phanxicô, từ đó tiến dần đến đời sống thanh tịnh và cầu nguyện.

 Được hai mươi tuổi, Têrêsa gia nhập đan viện Nhập Thể của dòng Cát Minh ở tại Avila.  Trong đời sống tu trì, ngài lấy danh hiệu là “Têrêsa Giêsu.”  Ba năm sau, người nữ tu trẻ đã ngã bệnh nặng đến nỗi hôn mê bất tỉnh bốn ngày, trông như thể đã qua đời (x. Vida, 5,9).

 Khi chiến đấu với bệnh tật thể xác, Têrêsa cũng nhận thấy một cuộc chiến chống lại sự yếu đuối muốn cưỡng lại lời mời gọi của Thiên Chúa trong nội tâm.  Thánh nhân viết: “Tôi đã ước mong được sống, nhưng tôi nhận thấy rõ ràng rằng, không phải mình đang sống, mà đúng hơn mình đang vật lộn với bóng dáng của tử thần; không một ai cho tôi sự sống, và tôi cũng không thể nắm giữ được sự sống.  Chính Đấng có thể cho tôi sự sống đã không đến trợ giúp tôi vì những lý do tốt lành; tôi biết, đã nhiều lần Thiên Chúa dẫn tôi trở về với Người, và tôi vẫn thường lìa xa Người” (Vida, 7,8).

 Vào năm 1543, Têrêsa mất đi những người thân thuộc, gần gũi với mình; cha của thánh nhân qua đời và tất cả các anh chị em ruột, từng người một, dần di cư đến châu Mỹ.  Mùa Chay năm 1554, lúc đó Têrêsa được ba mươi chín tuổi, đạt đến ngưỡng cao nhất của cuộc chiến chống lại những yếu đuối của bản thân.  Việc tình cờ tìm thấy bức tượng “Đức Kitô bị thương tích nặng nề” đã để lại dấu ấn sâu đậm trên cuộc đời thánh nhân (x. Vida, 9).

 Trong giai đoạn đó, Têrêsa đã cảm nhận sâu sắc tư tưởng và tâm tình của thánh Augustinô trong quyển “Tự Thuật,” thế rồi ngài mô tả về ngày hệ trọng với kinh nghiệm thần bí của mình: “…cảm nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa ập đến trên tôi thật bất ngờ, đến nỗi tôi không hồ nghi chút nào rằng, Thiên Chúa ở trong tôi, và tôi hoàn toàn chìm đắm trong Người” (Vida, 10,1).

 Song song với bước tiến triển trong nội tâm, Têrêsa bắt đầu ấp ủ ý tưởng thực hiện một cuộc cải tổ dòng Cát Minh: Năm 1562 ngài thiết lập Tu viện Cát Minh cải tổ đầu tiên ở Avila, với sự ủng hộ của Đức Giám Mục thành phố, Đức cha Don Alvaro de Mendoza, và không lâu sau đó cũng nhận được sự chấp thuận của cha Gioan Baotixita Rossi, Tổng quyền dòng Cát Minh lúc bấy giờ.

 Suốt những năm tiếp theo, Têrêsa tiếp tục thiết lập những Tu viện Cát Minh dành cho nữ, tất cả 17 Tu viện.  Cuộc gặp gỡ giữa Têrêsa với Gioan Thánh Giá mang tính nền tảng quyết định.  Cùng với thánh Gioan Thánh Giá, Têrêsa đã thiết lập Tu viện đầu tiên dành cho những anh em Cát Minh cải tổ ở Duruelo, cách Avila không xa.

 Năm 1580, Têrêsa nhận được sự chấp thuận của Tòa thánh, công nhận dòng Cát Minh cải tổ của ngài là một tỉnh dòng độc lập.  Đây là khởi điểm cho dòng Cát Minh không đi giày.

[1]

 Thật vậy, cuộc đời dương thế của Têrêsa kết thúc khi ngài đang ở giữa giai đoạn hoạt động cải tổ của mình.  Thánh nhân qua đời vào buổi tối ngày 15 tháng 10 năm 1582, ở Alba de Tormes, sau khi thiết lập nữ tu viện Cát Minh ở Burgos, lúc đang trên đường trở về Avila.  Mấy lời khiêm tốn cuối cùng thánh nhân thốt lên: “Sau tất cả mọi sự, tôi ra đi như một người con của Giáo Hội.”  Têrêsa tiếp tục thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Đức Lang Quân của con, thời điểm mà con hằng chờ đợi bấy lâu đã đến.  Đây chính là lúc con được gặp gỡ Ngài, lạy Chúa của con.”

 Têrêsa đã dâng hiến trọn cuộc đời cho Giáo Hội, dù rằng chỉ sống ở Tây Ban Nha.  Ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô V phong chân phước vào năm 1614 và được đức giáo hoàng Grêgôriô XV ghi danh vào sổ bộ các thánh vào năm 1622.  Và vị tôi tớ của Thiên Chúa, Đức chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên phong ngài là “Tiến Sĩ Hội Thánh” vào năm 1970.

 Tuy không nhận được một sự giáo dục mang tính hàn lâm, khoa bảng, nhưng Têrêsa Giêsu đã tiếp thu rất nhiều từ giáo huấn của các nhà thần học, các vị trí thức, và các thầy dạy tâm linh.  Là một văn sĩ, Têrêsa luôn trung thành viết những điều mà bản thân đã trải nghiệm hoặc đã nhìn thấy nơi kinh nghiệm của những người khác,

[2]

hay có thể nói rằng, Têrêsa viết trên những hiểu biết mà bản thân đã thủ đắc.

 Têrêsa có cơ hội thiết lập nhiều mối tương quan thân hữu thiêng liêng với nhiều vị thánh, và đặc biệt là với thánh Gioan Thánh Giá.  Đồng thời, ngài cũng nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng việc đọc sách về các vị Giáo phụ, như thánh Giêrônimô, thánh Grêgôriô Cả, và thánh Augustinô.

 Trong số các tác phẩm quan trọng nhất của thánh nhân, chúng ta nên đề cập trước tiên đến toàn bộ tự truyện của ngài, El libro de la vida, Têrêsa gọi đây là “Quyển Sách Về Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa” (Libro de las misericordias del Senor).  Tác phẩm này được Têrêsa viết trong tu viện Cát Minh tại Avila năm 1565, kể lại tiểu sử và mô tả hành trình tâm linh, từng bước dẫn đưa linh hồn thánh nhân đến sự phân định về một “bậc thầy của những điều thiêng liêng,” thánh Gioan Avila.  Mục đích của Têrêsa là nhấn mạnh đến sự hiện diện cũng như hành động của một Thiên Chúa đầy lòng xót thương trong cuộc đời ngài.  Bởi thế, tác phẩm này thường trích những lời Têrêsa đối thoại với Thiên Chúa trong phút giây cầu nguyện.  Điều này làm cho tác phẩm thêm lôi cuốn, bởi thánh nhân vừa kể lại chi tiết, vừa giải thích những kinh nghiệm sâu sắc về mối tương quan với Thiên Chúa.

 Năm 1566, Têrêsa viết tác phẩm “Đường Trọn Lành” (El Camino de Perfección).  Ngài đã gọi cuốn sách này là “Những Lời Hướng Dẫn Và Khuyên Nhủ Của Têrêsa Giêsu Dành Cho Các Nữ Tu” (Advertencias y consejos que da Teresa de Jésus a sus hermanas).  Cuốn sách này được soạn cho 12 tập sinh của tu viện Cát Minh, tước hiệu thánh Giuse, ở Avila.  Têrêsa đề nghị với các chị em một chương trình nghiêm ngặt sống đời chiêm niệm để phục vụ Giáo Hội, và cội nguồn của nếp sống ấy là các nhân đức và tinh thần cầu nguyện theo Tin Mừng.  Trong số các đoạn nổi bật nhất phải kể đến là phần “Chú Giải Kinh Lạy Cha,” như khuôn mẫu cho đời sống cầu nguyện.

 Tác phẩm thần bí nổi tiếng nhất của Têrêsa là “Lâu Đài Nội Tâm” (El Castillo interior).  Ngài viết tác phẩm này vào năm 1577 khi vẫn còn trẻ.  Tác phẩm là một lối giải thích khác về hành trình tâm linh của chính thánh nhân, đồng thời cũng là tập sách về các điều lệ mang đến khả năng phát triển tròn đầy đời sống Kitô hữu đến mức hoàn thiện, dưới sự tác động của Thánh Thần.

 Têrêsa quan tâm đến cấu trúc của một lâu đài với bảy căn phòng như hình ảnh của nội tâm con người.  Đồng thời, ngài đưa ra biểu tượng về sự lột xác của con tằm chuyển biến thành con bướm, nhằm nhấn mạnh sự chuyển biến từ tự nhiên đến siêu nhiên.

 Thánh nhân lấy cảm hứng từ Sách Thánh, cụ thể là Diễm Ca, để đi đến hình ảnh sau hết về vị “Hôn phu và Hôn thê,” có thể miêu tả ở căn phòng thứ bảy, bốn khía cạnh quan trọng nhất của đời sống Kitô hữu: thuộc về Ba Ngôi, thuộc về Đức Kitô, thuộc về con người, và thuộc về Giáo Hội.

 Thánh Têrêsa dành trọn tâm huyết cho quyển “Sách Các Nền Tảng” (Libro de la fundationes), viết vào giữa những năm 1573 và 1582, về các hoạt động của ngài như Đấng sáng lập dòng Cát Minh cải tổ.  Trong quyển sách này, ngài nói về đời sống của một cộng đoàn tu sĩ mới hình thành.  Quyển sách này, cũng như quyển tự truyện của thánh nhân, được viết để đặc biệt tôn vinh công trình và tác động của Thiên Chúa trong việc thiết lập những Tu viện mới.

 Không dễ tóm tắt đời sống tâm linh sâu sắc và nổi bật của thánh Têrêsa trong vài lời.  Tôi chỉ muốn đề cập mấy điểm trọng yếu.

 Thứ nhất, thánh Têrêsa nói đến các nhân đức Tin Mừng như là nền tảng cho mọi Kitô hữu và cho đời sống con người, cụ thể là thái độ từ bỏ chiếm hữu, khó nghèo Tin Mừng, và điều này liên hệ đến tất cả chúng ta; rồi đến đức ái dành cho tha nhân như một yếu tố quan trọng của đời sống cộng đoàn và đời sống xã hội; tiếp đó, đức khiêm nhường tựa như tình yêu dành cho chân lý; đức kiên nhẫn như hoa trái của lòng can đảm Kitô giáo; đức cậy, điều mà thánh nhân miêu tả là niềm khát khao nguồn nước hằng sống.  Chúng ta cũng không quên những đức tính nhân bản mà thánh nữ chỉ dạy: thái độ nhã nhặn, thành thật, khiêm hạ, lịch sự, luôn niềm nở và cư xử có văn hoá.

 Thứ hai, thánh Têrêsa cho thấy một sự hòa hợp thẳm sâu với những nhân vật vĩ đại trong Kinh Thánh và niềm khát khao lắng nghe Lời Chúa.  Trên tất cả, thánh nữ cảm nhận một sự tương đồng, gần gũi nào đó với vị hôn thê trong sách Diễm Ca, với thánh Phaolô Tông đồ, cũng như với Đức Giêsu trong Cuộc Khổ Nạn và với Đức Giêsu trong Nhiệm Tích Thánh Thể.  Thế rồi, thánh nhân nhấn mạnh việc cầu nguyện quan trọng đến mức nào.  Ngài nói: “Cầu nguyện có nghĩa là sống tình bằng hữu, thường xuyên chuyện trò thân mật với Thiên Chúa, Đấng chúng ta nhận biết và rất mực yêu thương chúng ta” (Vida 8,5).  Quan niệm của thánh Têrêsa tương đồng với câu định nghĩa của Thánh Tôma Aquinô về đức mến, là “amicitia quaedam hominis ad Deum,” tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa, Đấng chủ động đi bước trước, trở nên bạn hữu của con người; tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa luôn khởi đi từ phía Thiên Chúa, Đấng là nguyên uỷ vạn vật.

[3]

 Cầu nguyện là sự sống và nó tiến triển dần dần qua mỗi bước tăng trưởng của đời sống Kitô hữu.  Cầu nguyện ban đầu là khẩu nguyện, rồi nội tâm hóa bằng suy niệm, cho đến khi kết hợp trong tình yêu với Đức Kitô và với Ba Ngôi.  Hẳn nhiên, trong quá trình tiến triển, đỉnh cao của cầu nguyện không phải là loại bỏ đi các cách cầu nguyện trước đó, đúng hơn là dần đào sâu mối tương quan với Thiên Chúa, Đấng làm chủ toàn bộ đời sống con người.

 Hơn một đường lối sư phạm, giáo huấn của thánh Têrêsa là “cuộc khai mở” đích thực đời sống cầu nguyện: thánh nhân dạy cho những ai đọc các tác phẩm của ngài biết phải cầu nguyện thế nào, bằng việc cầu nguyện với những lời có trong sách ấy.  Thật vậy, ngài thường ngắt quãng sự đơn điệu, nhàm chán của những lời giải thích trong sách bằng vài lời cầu nguyện tự phát.

 Một chủ đề khác nữa mà thánh Têrêsa nói đến là vai trò quan trọng của nhân tính Đức Kitô.  Thực vậy, đối với Têrêsa, đời sống Kitô hữu chính là mối tương quan cá vị với Đức Giêsu vốn đạt đến cực điểm trong sự kết hiệp với Người nhờ ân sủng, lòng mến, và hoàn toàn bắt chước Người.  Vì tầm quan trọng của nhân tính Đức Kitô, thánh nhân hằng suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô gắn liền với bí tích Thánh Thể như là sự hiện diện của Đức Kitô trong Giáo Hội đối với đời sống của mọi tín hữu, và như là trung tâm điểm của Phụng vụ.  Thánh Têrêsa dành trọn tình yêu tuyệt đối cho Giáo Hội: trình bày một “Cảm thức Giáo Hội” (sensus Ecclesiae) rất sống động, mặc dầu thánh nhân đứng trước sự chia rẽ và mâu thuẫn rất lớn bên trong Giáo Hội vào thời đại của ngài.

 Thánh Têrêsa đã cải tổ dòng Cát Minh với ý định phục vụ và bảo vệ “Giáo Hội Công Giáo Rôma thánh thiện,” tự nguyện hiến dâng cuộc đời của mình cho Giáo Hội (x. Vida, 33,5).

 Một khía cạnh thiết yếu sau cùng về giáo huấn của thánh Têrêsa điều mà tôi muốn nhấn mạnh là sự trọn lành, như toàn bộ khát vọng và cùng đích của đời sống Kitô hữu.  Thánh nhân có một ý niệm rất rõ ràng về sự trọn hảo của Đức Kitô, được thực hiện qua các Kitô hữu.  Kết thúc của hành trình Lâu Đài Nội Tâm, trong “căn phòng” cuối cùng, Têrêsa mô tả về sự trọn hảo này, đạt đến việc cư ngụ của Chúa Ba Ngôi, trong sự hợp nhất với Đức Kitô, qua mầu nhiệmNhân Tính của Người.

 Anh chị em thân mến, thánh Têrêsa Giêsu là một thầy dạy thực thụ của đời sống Kitô hữu cho mọi người qua mọi thời.  Trong xã hội chúng ta, nhiều nơi thường thiếu vắng những giá trị tâm linh, thánh Têrêsa dạy chúng ta hãy trở thành những chứng nhân bất khuất của Thiên Chúa, về sự hiện diện và hành động của Người.  Thánh nhân dạy chúng ta hãy thực sự khát khao hướng về Thiên Chúa, Đấng hiện hữu nơi sâu thẳm trong tâm hồn, lòng khát khao này giúp chúng ta nhìn ngắm Thiên Chúa, tìm kiếm Thiên Chúa, đi vào cuộc trò chuyện với Người và trở nên bạn hữu của Người.

 Đây là tình bằng hữu mà tất cả chúng ta cần đến, điều mà chúng ta phải kiếm tìm lại mỗi ngày không ngơi nghỉ.  Cầu mong cho gương sáng của thánh Têrêsa, sự chiêm niệm thâm sâu và hoạt động có hiệu quả của thánh nhân, khích lệ chúng ta mỗi ngày biết dành ra một khoảng thời gian thích hợp để cầu nguyện, rộng mở tâm hồn cho Thiên Chúa, kiếm tìm Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa, khám phá tình bằng hữu của Thiên Chúa và đạt được sự sống đích thực; thật thế, nhiều người trong chúng ta vẫn tự nhủ: “Tôi không sống, tôi không sống thực sự, bởi vì tôi không thi hành những điều cốt yếu nhất trong cuộc đời tôi.”

 Vì thế, thời gian dành để cầu nguyện không phải là khoảng thời gian vô bổ, đó chính là khoảng thời gian cho con đường sự sống mở ra; con đường mở ra để học biết từ nơi Thiên Chúa một tình yêu mãnh liệt dành cho Người, dành cho Giáo Hội và quyết lòng thực thi đức ái với tha nhân.

 Trích ĐGH Bênêdictô XVI, 36 Thánh Tiến Sĩ (Tp. HCM: Nxb Phương Đông, 2017), tr. 377-389.

From: Langthangchieutim


 

TĂNG MINH PHỤNG: NHÂN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI

Xuyên Sơn 

TĂNG MINH PHỤNG: NHÂN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI

Một ngày đầu năm, tôi bước vào phòng bệnh viện chăm sóc người nhà. Vừa mới ngồi xuống giường thì một bà cụ tầm trạc hơn tám mươi ngồi ở giường đối diện phía trong nhìn tôi chằm chằm, đoạn bà buột miệng bằng một giọng quê Quảng Nam đã pha ít nhiều tiếng Sài gòn:

“Tao nhìn mày có gương mặt hao hao thằng Minh Phụng hồi trẻ, hè!”.

Tôi cứ tưởng bà bảo tôi giống nghệ sĩ Minh Phụng, nào ngờ bà chẹp miệng:

– Tội nghiệp thằng có tài mà vắn số,

nó chết oan thay cho mấy ổng…

– Ẹc ẹc (lúc này tôi đã mường tượng ra Minh Phụng nào  rồi)…

Hồi đó tôi có nghe đến vụ án Minh Phụng – Epco rúng động cả Việt Nam thời bấy giờ.

Báo chí còn thêu dệt nên một tay chơi Minh Phụng có tiếng khi sáng ăn sáng ở Singapore, chiều uống cà phê ở Hongkong đọc báo về bất động sản. Sau này trên đường run rủi, tình cờ tôi gặp nhiều người ngày trước mang ơn ông, những công nhân của ông,

tôi mới biết đó là những điều hoàn toàn bịa đặt.

– Tội nghiệp thằng nhỏ, từ một tay giao hàng dầu ăn đã thành một ông chủ lớn nhưng vẫn lễ phép với người lớn mỗi khi về nhà. Nhà nó ở ngay sau nhà tao, ở đường Hoàng Diệu 2 nè

– giọng bà lão chùng xuống

– hôm người ta bắn nó là đem đi chôn luôn, không ai được đến gần…

Vừa lúc đó, chị con gái út bà bước vào. Bà lại bảo

– Nè, Trinh..nhìn nó giống thằng Minh Phụng he!

Cô con gái nhìn một hồi, lắc đầu:

– Hông giống!

– Trời, cái thằng Minh Phụng ở gần nhà mình đó mậy!

– Ờ, vậy mà con tưởng Minh Phụng nghệ sĩ!

Hic, bị quê xệ lần 2

……

Sở dĩ cho đến bây giờ tôi mới nhắc lại vụ này vì còn phải tìm đọc nhiều tài liệu liên quan, càng đọc tôi càng ngậm ngùi cho một người tài hoa nhưng bạc mệnh.

Nhưng không, cho dù là Bill Gates đi chăng nữa thì ở cơ chế này cũng không thoát khỏi kết cục như Minh Phụng.

Lỗi của Minh Phụng là dám lớn, lớn hơn cái áo cơ chế, lớn hơn sự hiểu biết về kinh tế của các quan chức ở đất nước này

– nơi mà pháp luật chỉ mang tính hợp thức hóa cho mục đích của một số người mà thôi.

Đành rằng việc Minh Phụng mất khả năng chi trả bằng tiền mặt cho Ngân hàng do khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới năm 1997, nhưng việc cho vay và thế chấp tài sản tương ứng để được vay là hoàn toàn hợp pháp.

Nếu có sai, thì trách nhiệm phải thuộc về phía thẩm định tài sản do Ngân hàng trước khi cho vay, tại sao lại quy trách nhiệm cho người vay?

Hơn nữa với khối tài sản gồm có “169 biệt thự, nhà ở, văn phòng các loại. Hệ thống nhà xưởng, kho hàng tại các khu công nghiệp có 78 cái với tổng diện tích hơn 1,2 triệu m2.

Đất chuyên dùng hơn 2,6 triệu m2. Nhà đất của Minh Phụng và Liên Khui Thìn có mặt khắp nơi, từ TPHCM đến các tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu…”

thì nếu như định đúng giá thị trường, Minh Phụng hoàn toàn thừa khả năng chi trả các khoản nợ đã vay sau khi phát mãi; bằng chứng là với tài sản gồm biệt thự, văn phòng, nhà xưởng tại khu vực TP Hồ Chí Minh, phần lớn giá bán thực tế đều cao hơn rất nhiều so với giá Tòa án định khi xét xử.

Riêng đối với các lô đất mà Minh Phụng đã lập các dự án tại khu vực Thủ Đức trước đây (nay thuộc quận 2), theo quy hoạch của TP Hồ Chí Minh, hầu hết số này nằm ở các vị trí rất đắc địa, lợi nhuận chắc chắn sẽ rất lớn.

Do vậy, có ngân hàng được Tòa án giao cho một số lô đất tại khu vực quận 2, chưa cần phải triển khai xây dựng dự án, cũng không cần đầu tư hạ tầng, qua phiên đấu giá một lô thôi đã thu đủ toàn bộ số nợ trên 15 triệu USD, ngoài ra đơn vị này còn dư ra được số tiền và tài sản trị giá cả chục triệu USD.

Thực tế khi xử lý tài sản thế chấp sau này cho thấy, các danh mục tài sản thế chấp là nhà xưởng, kho tàng tại các khu công nghiệp đều có giá khá cao, với thời gian thuê khoảng 40-50 năm, chỉ tính riêng tiền khai thác có ngân hàng đã thu được hàng trăm tỷ đồng.

Nhưng trong phiên xét xử, vị luật sư bào chữa cho bị cáo đã phải ngậm ngùi thốt lên:

“mỗi m2 đất được Tòa định giá bằng ba cây kem Tràng Tiền”!

…

Vậy thì mọi người có quyền đặt câu hỏi:

phải chăng Minh Phụng phải chết để không còn ai kiện cáo số tài sản trên, để nó được “toàn dân sở hữu”?

Mấy hôm trước, đọc thông tin về tập đoàn Quốc Cường Gia Lai, thú thật tôi không thích gì ông công tử này, cũng như bênh vực các cách thức làm ăn của họ, nhưng việc Nhà nước thu hồi phần BĐS đã bán cho họ thì một lần nữa cho thấy Nhà nước ta làm ăn theo kiểu ..con nít, thích bán là bán, thích lấy lại là lấy lại!

Mặc dầu trước đây họ có gian dối hay hối lộ để quan chức bán cho họ với giá rẻ mạt đi chăng nữa thì với quy luật thị trường, khi anh đồng ý bán thì không có quyền gì tố người khác lừa gạt,

có chăng là cái tội ngu và tham của cán bộ cần phải xử lý mà thôi!

Muốn xử lý doanh nghiệp trên thì Nhà nước chỉ có thể xử lý tội hối lộ (nếu có).

Chợt nhớ vụ bầu Kiên cũng vậy, trách nhiệm thuộc về Ngân hàng, họ có quyền thẩm định giá tài sản để cho vay hay không thì lại quy tội cho kẻ đi vay, ai ép anh?

Nếu muốn bắt thì căn cứ vào việc có thu hồi được nợ để buộc tội người ta, kiểu thiếu nợ thì ở tù chứ sao lại can tội chiếm đoạt tài sản?

Thế mới biết, kẻ cầm cương nảy mực còn không biết Pháp luật là gì, làm sao có thể hô hào người dân “sống và làm việc theo pháp luật”?

Suy cho cùng, Nhà nước ta chỉ thua lỗ khi làm ăn với nước ngoài thôi, còn làm ăn với dân thì đến bao giờ mới lỗ?

Luật hả?

Hãy điền vào chỗ trống …. những câu thích hợp! Dễ thôi mà…

Tác giả: Nhật Huỳnh 


 

NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT giúp NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT muốn VỀ HƯU ở NƯỚC NGOÀI. – Pham Thanh Giao

– Pham Thanh Giao

 (Bài viết này không áp dụng cho người đi du lịch.)

Ở đây, tôi chỉ chia sẻ kinh nghiệm cá nhân sau hơn 12 năm trời tìm tòi và nghiên cứu về việc về hưu vĩnh viễn ở bên ngoài nước Mỹ. Thế nhưng, sự chọn lựa sống hưu ở đâu, hoàn toàn là quyết định riêng tư của mỗi người.)

Trước tiên, việc nghỉ hưu ở nước ngoài đòi hỏi bạn phải đáp ứng các điều kiện để được cấp Thị Thực Cư Trú Dài Hạn (Long-Term Visa), thường là từ 1 năm, đến 5 năm và 10 năm. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có luật riêng của họ dành cho “ngoại kiều,” những người muốn được thường trú vì không mang quốc tịch của đất nước mà họ muốn đến ở dài hạn. Tất cả những điều kiện và đòi hỏi luôn khá gắt gao nhưng đều quy tụ ở vài điểm chính bắt buộc phải có:

1- Nguồn thu nhập đầy đủ, vững chắc và phải có chứng minh, để được phép sống ở đất nước họ dài hạn.

Số tiền đòi hỏi phải có hàng tháng này, thì mỗi quốc gia mỗi khác. Đơn giản là họ không muốn những người “ngoại kiều xin nhập cư”, nhất là người già, một ngày nào đó trở thành gánh nặng tài chánh cho quốc gia của họ. Bên cạnh đó, không một quốc gia nào, chịu cấp Thị Thực Cư Trú Dài Hạn của họ cho “ngoại kiều” mà không bắt buộc họ phải lòi ra một số tiền phải nói là rất lớn để thế chấp.

Vào năm 2025, chính quyền Campuchia tung ra chương trình gọi là

Make Cambodia My 2nd Home

(CM2H) với giá từ vài chục đến vài trăm ngàn đô, giá rẻ nhất trong vùng, do bắt chước chương trình

Make Malaysia My 2nd Home

(MM2H) của Malaysia với giá 1 triệu đô. Những khoản tiền khổng lồ này, được chính quyền nước sở tại, kêu gọi “ngoại kiều” muốn có Thị Thực Cư Trú Dài Hạn phải đầu tư vào ngân hàng hoặc cổ phiếu của chính phủ. Chủ yếu là họ nhằm moi tiền đầu tư từ “ngoại kiều”. Thái Lan cũng không khác, muốn có cái Thị Thực Cư Trú Dài Hạn thì cũng không hề rẻ. Chỉ có Việt Nam là vẫn chưa có bất kỳ chương trình về hưu dài hạn nào cho người nước ngoài cả.

2- Đủ khả năng tài chánh để tự lo liệu cho vấn đề chăm sóc sức khỏe

(do bảo hiểm y tế Medicare của Mỹ không được áp dụng và sử dụng ở nước ngoài). Nhiều quốc gia đòi hỏi “ngoại kiều” phải có bảo hiểm y tế, ít nhất cũng đủ trả cho viện phí, từ 50 ngàn đô cho việc chạy chữa ngoại trú và nếu phải ở lại qua đêm thì bắt buộc phải có đủ 100 ngàn đô thế chấp. Theo bản báo cáo tài chính của chính phủ, thì trung bình mỗi năm, Thái Lan phải gánh khoản nợ y tế “chưa được thanh toán” trị giá khoảng 7 tỷ baht Thái (tương đương 200 triệu USD) từ các bệnh nhân “ngoại kiều – người nước ngoài”.

3- Không có tiền án.

*****

Quyết định nghỉ hưu ở nước ngoài kéo theo hàng loạt các vấn đề lớn nhỏ cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, thế nhưng, vấn đề quan trọng hơn cả vẫn là ngôn ngữ. Nếu người Mỹ gốc Việt về hưu cho rằng cuộc sống ở Mỹ của họ cô đơn và buồn chán, mà lại chọn 1 quốc gia nào đó ở Á Châu như Mã Lai, Thái Lan và Campuchia để sống nốt cuộc đời còn lại, mà không biết nói ngôn ngữ của họ, thì … về hưu chỉ có ngồi trong nhà nhìn ra đường … chờ ngày đi về nơi rất xa.

Không ít Việt kiều Mỹ ngây thơ và nhẹ dạ rơi vào những cái bẫy, qua các hình ảnh thiên đường nơi trần thế ở các quốc gia nhắm vào túi tiền của “ngoại kiều” có ý định về hưu ở đất nước họ. Trên thực tế, các quốc gia có giá cả sinh hoạt thấp ở Nam Mỹ như Mexico, Costa Rica hay Panama, hoặc các quốc gia bên Đông Nam Á như Mã Lai, Thái Lan và gần đây nhất là Cambodia chẳng hạn, thì trong con mắt của người bản xứ, những “ngoại kiều” này, được xem như một loại dịch vụ thương mại có khả năng mang đến một nguồn thu nhập khá đáng kể hàng năm. (Việt Nam chưa thấy quảng cáo những chương trình về hưu như ở thiên đường kiểu này)

Tuy vậy, nếu có lầm lỡ tin vào những quảng cáo hấp dẫn tung ra đầy trên YouTube thì cũng chẳng sao, chỉ tốn ít tiền vé máy bay đến rồi lại đi và chi phí cho một vài tuần lễ du lịch tiêu tiền trên đất nước họ rồi … ngỡ ngàng bỏ chạy thì cũng là một trải nghiệm đầy … thú vị mà thôi.

Đó cũng chính là lý do chúng tôi chọn về hưu và chết già ở quê hương Việt Nam là vậy. Thứ nhất, chính quyền Việt Nam KHÔNG HỀ ĐÒI HỎI “Việt Kiều” phải cung ứng điểm 1 và điểm 2 vô cùng quan trọng kể trên, nghĩa là không phải ứng ra trước một khoản tiền khổng lồ để thế chân, mà không biết số tiền đó của mình, mai này sẽ được mình thu hồi lại bằng cách nào và ra sao. Thứ hai, chỉ cần tốn vài chục đô là người Mỹ gốc Việt sẽ có được cái visa 5 năm tha hồ đi lại mà không bị đòi hỏi phải A, B, C, D gì ráo. Không cần tiền thế chân. Không cần chứng minh tiền thu nhập hàng tháng và cũng không cần phải có bảo hiểm y tế. Nếu cần và nếu muốn, thì việc xin lại quốc tịch Việt Nam giờ cũng không quá khó khăn. Cần phải vào viện dưỡng lão, cũng dễ dàng. Sau này, có chết trên quê hương, thì việc đưa vào nhà thờ làm phép xác hoặc đưa lên chùa ma chay rồi thiêu hay chôn, cũng không có gì là khó khăn cả.

Việc từ bỏ Mỹ, ra nước ngoài sinh sống của người về hưu là điều hoàn toàn có thể thực hiện được khá dễ dàng, nhưng có những việc cụ thể cần phải chuẩn bị trước và nên thực hiện khi mình vẫn còn đang có mặt ở Mỹ, bằng không thì sẽ khá mất công sau này.

1) Hãy giữ lại một địa chỉ thật (Physical Address) để nhận các thư từ quan trọng từ Sở Thuế Vụ (IRS), từ Sở An Sinh Xã Hội (SSA), từ các tổ chức tài chánh, như tiền để dành trong quỹ hưu trí IRAs, quỹ 401(k) và quỹ tiết kiệm chẳng hạn. Địa chỉ này cũng hữu ích cho các văn bản chính thức khác đến từ chính phủ Mỹ. Bạn cũng có thể sử dụng các Dịch Vụ Hộp Thư Ảo (Virtual Mailbox) cung cấp cho bạn một địa chỉ nhận thư tại Mỹ.

Hiện nay, có rất nhiều dịch vụ ảo này, cho phép bạn nhận, quét nội dung và chuyển tiếp thư từ khi đang ở nước ngoài. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ một điểm quan trọng: Hộp Thư Ảo thường là địa chỉ của các đại lý nhận thư thương mại (Commercial Mail Receiving Agency). Đây là địa chỉ nhận thư chứ không phải địa chỉ cư trú. Do đó, dù giải quyết được vấn đề nhận thư, nó thường không thay thế được địa chỉ cư trú thực tế, mà Sở Thuế hoặc Sở An Sinh Xã Hội hay ngân hàng yêu cầu. Vì lý do đó, chúng tôi không sử dụng những dịch vụ hộp thư ảo mà có một địa chỉ thật.

2) Hãy duy trì ít là 1 tài khoản ngân hàng tại Mỹ, cần nhất là có hỗ trợ truy cập trực tuyến (online). Một số ngân hàng có thể sẽ đóng các tài khoản của bạn khi bạn liên kết với họ qua địa chỉ ở nước ngoài. Dù bạn có sống ở bất cứ đâu, việc giữ lại tài khoản ngân hàng tại Mỹ sẽ giúp cuộc sống của bạn thuận tiện hơn nhiều. Nó bao gồm các khoản thu nhập tại Mỹ như lương hưu (pensions), tiền hưu trí từ quỹ An sinh xã hội (SSA), hoặc các nghĩa vụ về tài chính như hóa đơn, thuế má, thẻ tín dụng, vân vân.

Ngoài ra, việc duy trì tài khoản ngân hàng còn giúp cho mình sự linh hoạt trong việc nhận và chuyển tiền đô từ Mỹ về nơi bạn đang sống ở nước ngoài. Một điểm quan trọng cần lưu ý là: ngân hàng tại Mỹ thường yêu cầu địa chỉ cư trú thực tế (địa chỉ nhà ở), chứ không chấp nhận hộp thư bưu điện (PO Box) hay địa chỉ chuyển tiếp thư từ. Vì vậy, trước khi chuyển ra về hưu ở nước ngoài, hãy chuẩn bị để có một địa chỉ cư trú hợp lệ tại Mỹ, trước hết là đăng ký với ngân hàng, sau đó có thể cung cấp giấy tờ chứng minh “khi bị các cơ quan của chính phủ yêu cầu”.

3) Hãy mở ít nhất 1 thẻ tín dụng (Credit Card) của Mỹ không tính phí khi giao dịch ở nước ngoài. Nếu bạn về hưu ở nước ngoài, việc sở hữu thẻ tín dụng Mỹ sẽ rất hữu ích. Nó mang lại phương thức thanh toán thuận tiện cho các chi phí khi cần đến, như chi trả cho các gói đăng ký dịch vụ, chi phí du lịch hoặc mua sắm trên mạng ở quốc gia nơi bạn đang cư ngụ, đồng thời giúp bạn duy trì lịch sử tín dụng vẫn còn hoạt động đều đặn tại Mỹ, nghĩa là bạn vẫn … còn sống chứ chưa chết. Điều này rất quan trọng trong mắt của Sở An Sinh Xã Hội trong việc trả tiền hưu cho bạn hàng tháng.

4) Hãy xác nhận tiểu bang nơi bạn cư trú chính thức (Domicile State) trước khi chuyển ra nước ngoài. Về mặt pháp lý, đây được coi là nơi ở cố định của bạn và yếu tố này trở nên đặc biệt quan trọng khi bạn sống ở nước ngoài. Hai tiểu bang Florida và Texas không có thuế thu nhập cá nhân (State Income Tax), nhưng bạn cần thiết lập nơi cư trú hợp lệ và đáp ứng các yêu cầu của tiểu bang, chẳng hạn như bằng lái xe hoặc thẻ căn cước do tiểu bang cấp (State ID), hoặc đăng ký cử tri để bỏ phiếu. Mục tiêu là tạo ra một hệ thống hồ sơ thể hiện rõ rệt nơi cư trú chính thức của bạn tại Mỹ, thay vì để tình trạng cư trú trở nên mơ hồ sau khi bạn đã ra nước ngoài sống.

5) Hãy đăng ký cử tri bỏ phiếu (Register to Vote) nếu chưa hoặc cập nhật thông tin ở tiểu bang mà bạn cư trú chính thức. Sau khi đã xác định tiểu bang nào là nơi cư trú chính thức tại Mỹ, hãy lên mạng đăng ký cử tri của mình. Điều này góp phần chứng minh rằng bạn vẫn còn sống cho Sở An sinh Xã hội.

Một khi đã chọn về hưu ở nước ngoài, một số quy trình có thể đòi hỏi thêm các giấy tờ chứng minh khác hoặc yêu cầu bạn phải có mặt trực tiếp ở Mỹ, những vấn đề tuy nhìn có vẻ rất đơn giản lại trở nên vô cùng phức tạp và phiền hà nếu không chuẩn bị trước.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp được những người Mỹ gốc Việt về hưu, đang muốn tìm cho mình một mái ấm để chuẩn bị cho những tháng ngày cuối cùng của cuộc đời.

From: taberd & NguyenNThu


 

TRAO BÊN NGOÀI – SẠCH BÊN TRONG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người!”.

“Ích kỷ đặt mình làm trung tâm; vị tha và bác ái đặt người bên cạnh làm trung tâm!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Giúp người thiếu thốn là để họ có một chỗ nơi trung tâm lòng mình. Chúa Giêsu tiết lộ: khi lòng dám mở ra, việc cho đi trở thành một lối thanh tẩy – ‘trao bên ngoài – sạch bên trong’.

Người Pharisêu đã mời Chúa Giêsu dùng bữa ngạc nhiên vì Ngài không rửa tay theo nghi thức trước khi ăn. Ngài đưa ông từ bàn tay đến trái tim: “Bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà!”. Điều làm lòng ô uế là ham muốn chiếm lấy cho mình, ngay cả phần thuộc về người khác. Bởi thế, lời mời bố thí của Chúa Giêsu chạm đúng khối u ấy. Những gì từng gom vào nay cần trao ra; những ai từng đứng ngoài mối bận tâm của chúng ta nay cần được đoái đến.

Chúa Giêsu không chỉ nói hãy bố thí, nhưng hãy bố thí ta enónta – “những gì ở bên trong”. Lời ấy mời chúng ta trao sâu hơn: bàn tay trao của cải; lòng buông điều nó nắm. Của đã trao, lòng có thể vẫn giữ: giữ công, đòi biết ơn, muốn người nhận làm theo mình. Người ấy nhận món quà, nhưng chưa chắc được tự do trước người cho. Lời Chúa Giêsu chạm đến cả điều ấy: cho đi còn là thôi dùng điều đã trao để giữ lấy một người.

Phaolô gọi đó là “đức tin hành động nhờ đức ái” – bài đọc một. Đức Kitô đã giải thoát chúng ta; thế mà chúng ta vẫn có thể tìm chỗ dựa nơi những việc đạo đức mình làm, như thể nhờ đó chúng ta có quyền đòi Chúa thưởng. Khi ấy, việc lành trở thành số vốn chúng ta giữ cho mình. “Lạy Chúa, xin cho con được hưởng tình thương Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca đưa chúng ta về tư thế người đón nhận. Chúng ta trao vì đã được Chúa thương; điều đã nhận nhưng không, nay có thể trao mà không tính sổ.

Một người từng nhận sự giúp đỡ nay gặp chúng ta mà chẳng chào. Chút buồn ấy có thể cho chúng ta biết mình đã âm thầm chờ điều gì. Không cần chối nỗi buồn ấy; chỉ cần chúng ta đừng để nó quyết định người kia còn đáng được giúp hay không. Một lần vẫn giúp mà không nhắc công có thể là bước đầu để lòng được thanh tẩy.

“Yêu là cho đi tất cả và trao chính mình!” – Têrêxa Lisieux.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã trao trọn chính mình cho chúng ta, cả khi chúng ta không biết ơn Ngài. Trên thập giá, Ngài vẫn xin Cha tha thứ cho những người không biết việc họ làm; sự vô ơn của họ không khiến Ngài rút lại tình yêu. Trong Thánh Thể, Ngài vẫn nuôi chúng ta bằng chính mình, cả sau những lần chúng ta sống như chưa từng nhận. Đón nhận Ngài, chúng ta học thương như Ngài thương, trao mà không buộc người nhận phải mang ơn. “Yêu mến Thiên Chúa, bạn cảm được những gì Thiên Chúa cảm!” – Robert Barron. Nhờ ân sủng Ngài, mỗi lần cho đi cũng có thể là một lần lòng chúng ta được thanh tẩy – ‘trao bên ngoài – sạch bên trong’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thôi đặt mình làm trung tâm; thôi lấy ơn nghĩa mà giữ người con giúp; và vui khi họ lớn lên mà không nhớ đến con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXVIII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/13.html

Hãy bố thí thì mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 11,37-41

37 Khi ấy, Đức Giê-su đang nói, thì có một ông Pha-ri-sêu mời Người đến nhà dùng bữa. Tới nơi, Người liền vào bàn ăn. 38 Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu lấy làm lạ vì Người không rửa tay trước bữa ăn. 39 Nhưng Chúa nói với ông ấy rằng : “Này, nhóm Pha-ri-sêu các người, bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà. 40 Thật là ngốc ! Đấng làm ra cái bên ngoài lại đã không làm ra cái bên trong sao ? 41 Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.”


 

Tự giải thoát hay là ảo giác, ảo tưởng và ảo vọng

Bài của Gemini AI

Ảo tưởng mình có thể tự giải thoát  bằng cách buông bỏ hết, thực ra, đó là tính cách kiêu ngạo ẩn danh khi “cái tôi” khinh chê, đi trốn và tự tách ra khỏi xã hội

Sự tự tôn vinh bản thân giống như một làn mây mù: nó tạo ra ảo ảnh rằng ta đang ở trên đỉnh núi, nhưng thực chất chỉ đang làm ta mất phương hướng trong thung lũng. Ranh giới giữa sự vĩ đại thật sự và sự ảo tưởng chính là lòng khiêm nhường.

 

Chỉ khi biết hạ mình xuống, nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân để đón nhận Ơn Cứu Chuộc và mở lòng kết nối bình đẳng với mọi người, con người mới tìm lại được sự minh triết trong tâm trí, sự bình an trong tâm hồn và niềm vui sống giữa cộng đồng.

Như lời mời gọi của Đức Kitô : “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”.

 

Trong hành trình định hình bản thân, ranh giới giữa lòng tự trọng lành mạnh và sự tự tôn vinh thái quá (kiêu ngạo, tự đôn mình lên cao) thường rất mong manh. Khi một cá nhân tự đặt mình lên vị trí cao hơn người khác—dù về trí tuệ, đạo đức hay địa vị—họ vô tình rơi vào một cạm bẫy tâm lý nguy hại. Sự tự tôn vinh bản thân không mang lại tầm vóc thực sự; trái lại, nó tạo ra những ảo tưởng sai lệch, dẫn đến sự mơ hồ trong tư duy và cuối cùng đẩy con người ta rời xa, xa lánh khỏi các hoạt động xã hội.

1. Ảo Tưởng Tự Tạo Và Sự Mất Kết Nối Với Thực Tai

Tự tôn vinh bản thân sinh ra từ mong muốn khẳng định giá trị, nhưng khi vượt quá giới hạn, nó trở thành một cơ chế phòng vệ lệch Lạc. Người sống trong sự tự tôn vinh bắt đầu xây dựng một ảo tưởng về sự ưu việt: họ tin rằng mình đặc biệt hơn, sáng suốt hơn hoặc phải gánh vác những sứ mệnh mà người thường không hiểu nổi.

Can meditation Give you Superpowers: Harnessing the Power of ...

Ảo tưởng này bóp méo nhận thức của họ về thực tế. Họ từ chối tiếp nhận các phản hồi mang tính xây dựng vì coi đó là sự xúc phạm; họ phủ nhận những sai sót của bản thân để bảo vệ bức tượng đài hoàn hảo tự dựng lên. Khi không còn nhìn nhận bản thân và thế giới bằng sự khách quan, con người ta dần sống trong một “tháp ngà” khái niệm, nơi sự thật bị thay thế bởi những suy tưởng tự thổi phồng.

2. Sự Mơ Hồ Và Căng Thẳng Trong Nội Tâm

Sống sau một lớp vỏ kiêu ngạo luôn đi kèm với một cái giá rất đắt về tâm lý. Sự tự tôn vinh tạo ra xung đột gay gắt giữa bản chất thật (với đầy đủ sự tổn thương, giới hạn của một con người) và hình mẫu ảo tưởng mà họ phải cố gồng gánh.

Chính khoảng cách này gieo rắc sự mơ hồ và hoang mang trong tâm trí:

  • Họ luôn lo sợ bị bóc trần hoặc bị đánh giá không đúng với “tầm vóc” họ tự nhận.

  • Sự mơ hồ khiến họ khó phân biệt đâu là tình cảm chân thành, đâu là sự vuốt ve ego (cái tôi).

  • Nhận thức bị mất gốc (unrounded) khiến họ dễ rơi vào trạng thái hoài nghi, mất phương hướng và hoang tưởng rằng thế giới xung quanh không đủ thấu hiểu hoặc đang chống lại mình.

3. Sự Xa Lánh Xã Hội: Từ “Độc Hành” Đến Cô Lập

Hệ quả tàn nhẫn nhất của sự tự tôn vinh bản thân chính là sự rút lui và rời xa các hoạt động xã hội. Khi một người tự coi mình ở một tầng bậc khác, họ bắt đầu nhìn nhận các mối quan hệ xã hội thông thường là “tầm thường” hoặc “tốn thời gian”.

Sự xa lánh này diễn ra qua hai cấp độ:

  • Chủ động rút lui: Họ từ bỏ các sinh hoạt cộng đồng, tránh né việc giao lưu với bạn bè hay đồng nghiệp vì cho rằng không ai cùng “tầng tần số” với mình. Họ nhầm lẫn sự cô lập này với sự tĩnh lặng của bậc hiền triết, nhưng thực chất đó là sự trốn chạy thực tại.

MINSHUKU KINJO - Reviews (Zamami-son, Japan - Okinawa Prefecture)

  • Bị xã hội đẩy ra: Mối quan hệ con người bền vững dựa trên sự bình đẳng và lắng nghe. Sự coi thường, trịch thượng xuất phát từ kẻ tự tôn vinh sẽ dần đẩy những người xung quanh ra xa. Không ai muốn ở cạnh một người luôn tìm cách dìm người khác xuống để nâng mình lên.

Cuối cùng, sự “độc hành” mà họ tự hào lại trở thành một nhà tù cô đơn, nơi họ tự giam mình trong sự ruồng bỏ xã hội và mất đi nguồn nâng đỡ tinh thần từ cộng đồng.

Kết luận:

Đạo Công Giáo đặt căn bản trên lòng tin vào ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa độc nhất, toàn năng, nhân từ chứ không phải từ bất cứ một thế lực, nhân lực, thần lực nào khác.

Thiên đàng là gì? (theo sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo)

Thiên đàng là gì? (theo sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo)

Câu 1023

Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa Chúa và đã hoàn toàn được thanh tẩy sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa vì họ thấy Ngài “đúng như Ngài là” (1Ga 3,2), “mặt giáp mặt”

Câu 1025

Sống trên thiên đàng là “ở với Chúa Kitô”. Những người được chọn thì sống “trong Ngài”, nhưng họ vẫn giữ được, hay nói đúng hơn, họ tìm thấy ở đó bản sắc đích thực của mình tên gọi riêng của mình.

Câu 1026

Nhờ sự chết và sự Sống lại của mình, Chúa Giêsu Kitô đã “mở cửa thiên đàng” cho chúng ta.

… Thiên đàng là cộng đoàn diễm phúc nhất của tất cả những người đã sáp nhập vào Thân Thể của Ngài…

Thánh kinh nói về Thiên đàng qua những hình ảnh; sự sống, ánh sáng, bình an, bữa tiệc cưới, rượu của nước Trời, nhà Cha, thành Giêrusalem trên trời, thiên đàng: mắt chưa từng xem thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài (1Cr 2,9)

Câu 1028

Do tính siêu việt của Ngài, Thiên Chúa chỉ có thể được nhìn thấy ‘đúng như Ngài là”, khi Ngài mở mầu nhiệm của Ngài cho sự chiêm ngưỡng trực tiếp của con người và ban cho con người có khả năng đó. Sự chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong vinh quang trên trời được Giáo Hội gọi là “thị kiến mang lại hiển phúc”

 Vinh quang và hạnh phúc của bạn sẽ lớn lao chừng nào được nhận vào để nhìn thấy Thiên Chúa, được hân hạnh tham dự vào những niềm vui của ơn cứu độ và của ánh sáng vĩnh cửu, cùng với Chúa Kitô là Đức Chúa và là Thiên Chúa của bạn… được hưởng những niềm vui của phúc bất tử đã thủ đắc, trên nước Trời, cùng với các người công chính và các bạn hữu của Thiên Chúa.