Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 17 năm đi kiện đòi lại căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn nhờ một người bạn đứng tên, khi chuẩn bị được nhận lại nhà, ông Việt kiều Mỹ bất ngờ bị “đánh úp” vào phút chót.

Theo báo VnExpress hôm 21 Tháng Giêng, Viện Kiểm Sát Tối Cao vừa chấp nhận đề nghị của bà Huỳnh Thị Minh Thư và ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa Án TP.HCM về việc tuyên buộc bà Lê Thị Vựng và các con (trong đó có bà Thư) giao trả lại căn biệt thự số 10A Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, nay là phường Tân Sơn Hòa, cho ông Huỳnh Larry Hưng, còn gọi là Huỳnh Hưng Lợi, 74 tuổi, Việt kiều Mỹ.

Ông Huỳnh Larry Hưng đứng trước căn biệt thự mua 20 năm trước, chờ cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn giao cho mình, nhưng bất ngờ buổi làm việc bị tạm hoãn. (Hình: Hải Duyên/VnExpress)

Viện Kiểm Sát Tối Cao đề nghị Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao hủy bản án của Tòa Án TP.HCM, giao hồ sơ cho Tòa Án Khu Vực 4 thụ lý xét xử lại.

Trong kháng nghị lần này, Viện Kiểm Sát Tối Cao tiếp tục xác định “tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hưng, buộc bị đơn phải giao trả nhà là có căn cứ,” song quá trình giải quyết vụ án “có vi phạm tố tụng.”

Cụ thể, “tòa án các cấp không đưa Ủy Ban Nhân Dân có thẩm quyền tham gia tố tụng về tranh chấp đất được công nhận chủ quyền; không xem xét yêu cầu của bị đơn về việc “tính công sức, bảo quản gìn giữ tài sản…”

“Tòa chưa làm rõ diện tích đất khuôn viên có nhiều thay đổi qua các thời kỳ, dẫn đến phán quyết thiếu cơ sở và khó thi hành án,” kháng nghị nêu.

Đây là lần thứ ba vụ án bị kháng nghị “đúng vào phút chót” khi Cơ Quan Thi Hành Án TP.HCM chuẩn bị cưỡng chế để bàn giao cho ông Huỳnh Larry Hưng căn biệt thự ước trị giá gần trăm tỷ đồng.

Như vậy, vụ án ông Hưng 17 năm mòn mỏi đòi nhà nhờ bạn thân đứng tên với sáu bản án sơ thẩm, phúc thẩm và hai quyết định giám đốc thẩm, có nguy cơ quay về vạch xuất phát, mặc cho các bản án trước đó đều xác định ông Hưng là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà và buộc bà Vựng, vợ của người đứng tên giúp (người này hiện đã chết) và các con phải trả lại.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, hồi năm 1995, khi còn đang định cư Mỹ, ông Hưng bỏ tiền mua căn nhà trên rồi nhờ một người bạn đứng tên và trông coi giùm. Đến khi ông trở về Việt Nam, muốn lấy lại nhà thì vợ của người bạn này (bà Vựng) từ chối trả nhà, thời điểm đó bạn ông đã qua đời.

Năm 2009, ông Hưng bắt đầu hành trình gian nan đi kiện để đòi nhà.

“Nhà đất này được mua bằng tiền mà tôi tích lũy được sau những năm tháng lao động chân tay với đủ nghề nơi xứ người, chỉ mong có được chốn an cư khi trở về Việt Nam dưỡng già. Tuy nhiên, gần 20 năm qua, tôi phải đi ở nhờ để theo đuổi vụ kiện đòi lại nhà mình. Nay đã 74 tuổi, sức yếu, tôi không biết còn sống được bao lâu, chỉ mong lúc nhắm mắt xuôi tay được ở trong căn nhà của mình,” ông Hưng nói.

Ông Hưng cũng cho hay, trong suốt quá trình giải quyết vụ án qua nhiều lần xét xử, bà Vựng và gia đình không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về công sức đối với tài sản đứng tên giúp.

Hồi năm 2024, phán quyết của Tòa Án TP.HCM tuyên, tài sản thi hành án là toàn bộ căn nhà và đất tọa lạc tại 10A Cửu Long, nằm trên khu đất rộng 466.61 mét vuông. Tuy vậy, kết quả xác minh thực tế thì căn nhà và đất nêu trên rộng đến 716.6 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà Vựng không hợp tác cho tòa án vào đo vẽ, nên tòa phải sử dụng các bản vẽ do gia đình bà Vựng đã đo vẽ được kiểm tra nội nghiệp để giải quyết vụ án.

Ông Huỳnh Larry Hưng mất 17 năm đi kiện đòi nhà. (Hình: An Bình/Pháp Luật TP.HCM)

Hôm 18 Tháng Mười Hai, 2025, Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự TP.HCM đã lên kế hoạch cưỡng chế bàn giao căn nhà cho ông Hưng, song phải dừng vào phút chót để “xem xét yêu cầu kháng nghị của người liên quan.”

“Tôi kiệt sức vì phải theo đuổi vụ án suốt 17 năm qua. Nếu Tòa Án Tối Cao chấp nhận kháng nghị lần này, tôi có thể không chờ được đến ngày nhận lại ngôi nhà của mình nữa,” ông Hưng ngao ngán nói. (Tr.N) [kn]


 

Cha Tuyên úy Thủy quân Lục Chiến hy sinh tại chiến trường Việt Nam đang trên tiến trình tuyên thánh.

Nguyễn Lai is with Thái Lai Anna.

#GNsP – Đó là cha Vicent Capodanno, Hoa Kỳ. Cậu bé Capodanno sinh năm 1929 gần thành phố New York, trong một gia đình đạo hạnh. Là con út trong một gia đình mười anh chị em có gốc Ý di cư đến Hoa Kỳ. Cha mẹ cậu là dân lạo động. Hằng ngày phải thức khuya dậy sớm để nuôi bầy con đông đúc. Cha là thợ đóng tàu, mẹ buôn bán tạp hóa. Tuy nhiên sau một ngày lao động vất vả, cả gia đình quây quần đọc kinh tạ ơn Chúa.

Cha từng nói rằng, “gia đình chúng tôi  rất thân thiện, gần gũi, và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Chúng tôi luôn làm việc chung với nhau. Bữa ăn tối là trọng tâm của gia đình tôi. Chúng tôi không bao giờ ăn cho đến khi mọi người ngồi vào bàn, ngay cả chú chó cũng quẩn quanh gần bàn!”

Ông James, người anh trai của cha vẫn còn sống và kể lại rằng, cha Vincent thưở bé “rất bình dị và bình thường, nhưng em có một niềm tin vững mạnh và lòng đạo đức tốt lành. Em luôn hăng say trong những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ, nhiệt tâm trong các công tác đoàn thể.”

Năm 1949, vào học kỳ I tại Đại học Fordham, chàng sinh viên trẻ Vicent Capodanno tâm sự với một người bạn thân rằng, chàng muốn trở thành một linh mục chứ không muốn làm bác sĩ, như chàng nghĩ trước đây.

Cùng năm đó, Capodanno xin vào dòng Truyền giáo Maryknoll, vì bị thu hút bởi sứ mệnh truyền bá Tin mừng cho những người đặc biệt nơi các vùng đất xa xôi. Khi trở thành tu sĩ Dòng Maryknoll, thầy Capodanno rất ngưỡng mộ Đức Giám mục Phanxicô Xavier Ford, vị Giám mục chết rũ tù Cộng sản tại Hoa Lục năm 1950, với khẩu hiệu Giám mục của ngài là “cùng chịu đau khổ với Chúa”. Người thứ hai mà thầy Capodanno ngưỡng mộ nữa là Đức Giám Mục Patrick Byrne, vị Giám mục bị Cộng sản Bắc Hàn bắt bỏ tù. Đức cha Patrick Byrne đã từng nói rằng “nếu tôi bị xử bắn, tôi sẽ vui chịu để thông hiệp với những thương đau của anh em tôi.”

Những lời ấy của vị Giám mục luôn ghi khắc trong tim thầy. Khi chịu chức linh mục, vào năm 1958 cha Capodanno đã tình nguyện xin đến phục vụ cho những người Hakka ở Đài Loan. Sau 7 năm làm việc ở Đài Loan, cha Capodanno được thuyên chuyển về trường trung học ở Hồng Kông. Cha không vui lắm trước sự hoán chuyển này! Vì là một nhà truyền giáo Maryknoll, cha thích đi ra truyền giáo hơn là ở một chỗ dạy học.

Sau đó cha Capodanno xin được làm cha Tuyên úy cho Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam. Cha đã được Bề trên chấp thuận lời xin này vào năm 1965. Gần 1 năm sau, tức vào Tuần Thánh năm 1966 cha được gửi về Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 7, đóng ở phía Nam Đà Nẵng, một thành phố ở miền Đông Nam Việt Nam. Ngài là một Tuyên úy Công giáo duy nhất trong vùng, nên trách vụ của Ngài thật nặng nề.

Những người lính Thủy Quân Lục Chiến nhanh chóng đặt cho cha Capodanno biệt danh “kẻ phục dịch”, vì ngài chia sẻ mọi sự cho họ. Bất cứ khi nào họ cần tới cha, cha dường như đang ở đó – cầu nguyện với người bị thương, an ủi người đang hấp hối, và khuyến khích những người đi chiến đấu. Điều đáng trân quí nhất mà tất cả mọi người lính đều nhìn nhận cha Capodanno là một người trong số họ, cha không phải là kẻ xa lạ hay giai cấp, mặc dầu cha không bao giờ mang vũ khí, ngoại trừ khi có nghĩa vụ phải làm như vậy! Vũ khí của cha là tình yêu và tinh thần.

Cha Capodanno là người đồng hành với trung đoàn trên mọi chiến trường, liều mạng vì quân binh của mình. Trong một trận đánh bị Việt cộng tấn công bằng lựu đạn, khiến nhiều binh sĩ thương vong,  cha đã trực tiếp băng bó cho các binh sĩ. Lần khác cha đã cõng một người lính bị thương băng qua đám cháy để cứu sống anh. Trong các trận địa, cha làm người tải thương, cha cầu nguyện chúc lành, xức dầu bệnh nhân cho các binh sĩ trong cơn nguy tử… Cha chẳng màng tới sự an toàn cho sinh mạng mình, mặc dù cha đã từng thừa nhận mình cũng là người “rất sợ chết.” Cha Capodanno làm việc không ngưng nghỉ, mỗi ngày cha dâng lễ, ngồi tòa giải tội và luôn sẵn sàng để hướng dẫn tâm linh cho binh lính. Lúc rảnh rỗi cha thường đi bộ và lắng nghe những người lính tâm sự.

Thiếu tá Ray Harton nhớ lại một trong những cuộc gặp mặt đầu tiên của ông với cha Capadanno khi ông đang chuẩn bị cho một chiến dịch tấn công địch. “Cha ấy chỉ đi lướt qua và dừng lại một thoáng, nhưng ánh mắt của ngài như có một thần lực thu hút tôi… làm cho tâm hồn tôi dâng trào thổn thức!”

Vào sáng ngày 4 tháng 9 năm 1967, cha Capodanno tình nguyện đi tác chiến với đơn vị Thủy Quân Lục Chiến để giải cứu một đơn vị khác đang bị Việt Cộng tấn công ở Quế Sơn. Biết rằng đây là cuộc chiến đầy khốc nghiệt, ngài đã dành nhiều giờ trong đêm để cầu nguyện cho những người lính đã hy sinh và đang nguy tử. Không bao lâu sau máy bay chở cha Capadanno hạ cánh, đơn vị của cha bị một lực lượng gần hai ngàn quân Cộng Bắc Việt bao vây. Khi đội quân Thủy Lục Chiến của cha vượt qua đỉnh đồi, thì bị trọng pháo và đại liên bắn liên hồi… Người lính truyền tin vừa điện cho hay “Quân binh của chúng ta đang bị càn quét!”. Và rồi một tin nhắn khác “Có nhiều người bị thương và hấp hối…”

Nghe tin ấy cha Vincent quyết tâm đến với anh em binh lính của cha. Cha đã chạy như con thoi đến với các binh sĩ bị thương và ban bí tích cuối cùng cho những người hấp hối. Mặc dù bị bắn hai lần – một lần vào mặt và một lần vào tay phải – cha vẫn tiếp tục tìm kiếm người bị thương, nói với họ, “Chúa Giêsu nói: con hãy vững tin. Chúa là sự thật và là sự sống”.

Nhìn thấy một quân nhân khác bị thương, rên lên đau đớn, cha Capodanno đã quên thân mình chạy ùa đến với anh. Khi cha vừa quỳ xuống bên anh, một loạt liên thanh nổ rền giết chết cả hai người ngay lập tức. Vài giờ sau, một trong những người lính lấy xác cha Capodanno cho hay, khắp thân thể cha bị nát nhừ với 27 viên đạn, nhưng gương mặt “Cha như đang mỉm cười, và mắt cha khép lại như đang ngủ hay đang cầu nguyện.”

Cha Vincent Capodanno đã được Hoa Kỳ trao tặng Huân chương danh dự cao quí nhất của Quốc hội vì lòng dũng cảm của cha.

Tin tức về cái chết của cha Capodanno làm rung động toàn thể Thủy Quân Lục Chiến trên khắp miền Nam Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cha đã gây nhiều âm hưởng cho cuộc sống của anh em binh lính một cách sâu xa. Một năm sau, nhiều anh em Thủy quân Lục Chiến đã thốt lên “Cha Capadanno đã dâng hiến mạng sống của cha, không ai trên trần thế này có thể làm được gì nữa ngoại trừ Đức Kitô… Nhiều anh em Thủy quân lục chiến và binh lính đã trở lại đạo Công giáo nhờ tấm gương hy sinh của cha. Họ nói “đối với tôi, cha ấy là một vị thánh.”

Cha Capodanno đã sống và chết như một vị tử đạo phục vụ cho những binh sĩ trong một cuộc chiến chính nghĩa. Qua cái chết, Cha Capodanno đã truyền cảm hứng về lòng quả cảm và hy vọng cho tha nhân. Nhiều người đã đến khấn xin ngài và đã nhận được những ơn chữa lành qua lời bầu cử của ngài. Trong số đó có một nữ tu Việt Nam được chữa lành khỏi bệnh ung thư. Một trường hợp khác là ông Ernest, một bác sĩ thú y Việt Nam đang thất vọng và muốn tự vẫn, tình cờ ông ta mở chiếc ví ra thấy một tờ giấy của mẹ ông viết lại lời cầu nguyện với cha Capadanno. Ông đã đọc những lời nguyện ấy và nhờ lời cầu nguyện của cha Capodanno, Ernest đã vượt qua được giờ phút khủng khoảng. Ông Ernest vẫn còn sống cho tới ngày nay. Một cậu bé khác bị ung thư máu đã được cha mình đưa đến mộ của cha Capodanno trên đảo State cầu nguyện xin ơn chữa lành và cậu bé đã được khỏi bệnh cách kỳ diệu đến các bác sĩ phải hết sức kinh ngạc.

Ngày 21 tháng 5 năm 2006, Đức Thánh Cha Benêdictô XVI đã tôn vinh cha Capodanno lên hàng “Tôi Tớ Chúa”. Và với ba trường hợp lành bệnh cách mầu nhiệm trên cùng những hy sinh trên chiến trường Việt Nam, cha đang được điều tra để tiến đến việc tuyên phong Hiển Thánh.

(NguồnTin Mừng cho Người Nghèo do LM Vũ Hoàng Trương biên soạn dựa trên bài viết của Thanh Quảng 2017)


 

Chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

My Lan Pham

Trong suốt bốn năm dài, một người phụ nữ ngồi lặng lẽ trong một bảo tàng ở Paris, trong khi phát xít Đức cướp bóc hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật ngay xung quanh bà.

Chúng không bao giờ ngờ rằng bà hiểu từng lời chúng nói.

Tháng 10 năm 1940. Bảo tàng Jeu de Paume vừa bị chiếm đóng và biến thành trung tâm đầu não của mạng lưới buôn bán nghệ thuật bị cướp bóc: tại đây, những kiệt tác bị tước đoạt từ các gia đình Do Thái được phân loại trước khi chuyển về Đức.

Và người phụ nữ tưởng chừng tầm thường vẫn tiếp tục làm việc giữa những bức tường ấy là ai?

Đối với chúng, bà vô hình. Chỉ là một nhân viên quèn. Im lặng. Vô hại.

Nhưng chúng đã nhầm.

Bà tên là Rose Valland. Khi đó bà 42 tuổi, được đào tạo tinh hoa tại Sorbonne và École du Louvre, nhưng lúc ấy chỉ mang danh một tình nguyện viên không lương — ít nhất là bề ngoài.

Thực chất, bà đã chấp nhận một sứ mệnh có thể khiến mình mất mạng: ở lại, quan sát và ghi chép mọi tội ác.

Trong khi phát xít đóng gói tranh của Cézanne, Monet, Renoir như những món hàng vô tri, bà âm thầm ghi chép.

Ngày qua ngày, Hermann Göring — cánh tay phải của Hitler — đã đến bảo tàng 21 lần để chọn những tác phẩm treo trong lâu đài của hắn. Rose luôn ở đó. Trông có vẻ phục tùng, nhưng thực chất là tỉnh táo và quan sát từng chi tiết.

Bà nói tiếng Đức hoàn hảo. Nhưng không ai biết điều đó.

Bà ghi lại số toa tàu, tuyến đường sắt, tên người, từng chi tiết nhỏ. Ban đêm, bà viết tất cả vào những cuốn sổ bí mật. Nếu bị phát hiện, bà sẽ bị xử bắn như một gián điệp.

Thế nhưng, bà chưa từng dừng lại. Bà chuyển thông tin cho lực lượng Kháng chiến, cứu được nhiều đoàn tàu và những kho báu vô giá khỏi bị hủy hoại.

Tháng 7 năm 1943, bà chứng kiến điều không tưởng: 500 bức tranh của Picasso, Miró, Klee bị phát xít thiêu rụi trên mái bảo tàng, bị gán nhãn là “nghệ thuật suy đồi”.

Rose không thể làm gì. Nhưng bà không quay mặt đi. Bà ghi nhận mất mát ấy và tiếp tục bước tiếp.

Năm 1944, khi phát xít tìm cách tháo chạy cùng chiến lợi phẩm, Rose biết mọi thứ: số thùng, điểm đến, giờ tàu chạy. Bà cung cấp toàn bộ cho Kháng chiến. Đoàn tàu bị chặn lại. Nghệ thuật được cứu.

Thế nhưng sau khi Paris được giải phóng, bà lại bị bắt: có nghi ngờ đối với những ai từng làm việc dưới thời chiếm đóng.

Rồi sự thật được phơi bày — và gây chấn động.

Rose sở hữu một hồ sơ tỉ mỉ: hơn 20.000 tác phẩm được ghi lại với ngày tháng, địa điểm và lộ trình. Một bản đồ kho báu để thu hồi những gì đã bị cướp đoạt.

Năm 1945, bà được phong hàm trung úy quân đội Pháp.

Bà từ chối mọi đặc quyền. Bà trực tiếp tham gia các nhiệm vụ thu hồi cùng nhóm Monuments Men. Nhờ bà, các kho cất giấu bí mật trong lâu đài, mỏ đá và boongke đã được phát hiện.

Năm 1946, tại các phiên tòa Nürnberg, Rose đứng lên đối diện Hermann Göring.

Chính người đàn ông đã phớt lờ bà suốt nhiều năm. Và bà đánh gục hắn bằng những bằng chứng chi tiết.

Cuối cùng, bà đóng vai trò then chốt trong việc thu hồi 60.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đó 45.000 được trả lại cho chủ nhân hợp pháp.

Rose Valland chưa từng cầm súng.

Không đặt bom.

Không có hành động phô trương.

Sự kháng cự của bà là sự im lặng.

Nhưng mỗi dòng ghi chép là một hành động phản kháng.

Mỗi ánh nhìn là một nhát dao vào trái tim của chế độ.

Và chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

Chia sẻ từ Magazine Fanpage

My Lan Phạm


 

CON SẼ LÀ KÝ ỨC CỦA CHA: CÂU CHUYỆN VỀ CĂN BỆNH ALZHEIMER Ở TUỔI 53

Trầm Mặc Huơng Lai

Tôi đã đọc câu chuyện này và không thể cầm được nước mắt…

Tôi tên là Eduardo, 53 tuổi. Cách đây 6 tháng, tôi được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer khởi phát sớm. Vâng, nó thực sự tồn tại. Dù mọi người thường nghĩ đây là bệnh của người già, nhưng nó có thể xuất hiện ngay từ tuổi 40. Với tôi, nó ập đến ở tuổi 52.

Bác sĩ nói đây là do di truyền. Mẹ tôi mất vì Alzheimer năm 60 tuổi, ông nội tôi cũng vậy. Tôi biết mình có nguy cơ, nhưng chưa bao giờ nghĩ nó lại đến sớm thế này.

Mọi chuyện bắt đầu từ một năm trước: tôi quên sạch những cuộc trò chuyện, bị lạc đường khi lái xe ở những nơi vốn rất quen thuộc, hay đột nhiên không tìm được từ ngữ để nói… Lúc đầu, tôi chỉ nghĩ là do áp lực công việc. Nhưng cái ngày mà tôi quên mất tên con gái mình trong vài giây, tôi biết mọi chuyện đã thực sự tồi tệ.

Con gái tôi là Carolina, 25 tuổi. Con bé sống với tôi từ khi mẹ nó bỏ đi nhiều năm trước. Con bé là cả thế giới của tôi. Khi nghe tin, Carolina đã tự nhốt mình trong phòng khóc hàng giờ liền. Tôi cũng khóc ở phía bên kia cánh cửa.

Nhưng sáng hôm sau, con bé bước vào phòng tôi với một cuốn sổ lớn và nói: — “Cha à, chúng ta sẽ cùng viết lại cuộc đời cha. Tất cả những gì cha không muốn quên, chúng ta sẽ làm cùng nhau.”

Kể từ đó, mỗi tối chúng tôi lại ngồi ở phòng khách. Con bé hỏi, còn tôi kể: Chuyện tôi gặp mẹ nó như thế nào. Ngày Carolina chào đời và tôi chính thức trở thành cha. Ngôi nhà đầu tiên. Những từ đầu đời của con. Ngày con tập đi xe đạp. Lễ tốt nghiệp của con… Tất cả mọi thứ.

Chúng tôi cũng viết cả những điều giản đơn nhất: món ăn tôi thích (chilaquiles xanh), những bài hát tôi yêu, những câu đùa tôi hay kể, tên bạn bè, công việc giáo viên tiểu học tôi đã gắn bó suốt 30 năm, và điều gì khiến tôi hạnh phúc (như một ly cà phê với bánh mì ngọt vào buổi sáng).

Có một tối, Carolina nói một câu khiến tôi bật khóc: — “Cha ơi, ngày mà cha không còn nhớ con là ai nữa, con sẽ đọc cuốn sổ này cho cha nghe mỗi ngày. Con sẽ nhắc cho cha nhớ cha đã từng là ai, cha là người thế nào. Và con vẫn sẽ yêu cha như thế.”

Sáu tháng trôi qua, bắt đầu có những ngày tồi tệ. Có những ngày tôi quên chỗ để chìa khóa, hỏi đi hỏi lại một câu năm lần, hay không nhớ mình đã ăn sáng chưa. Carolina chưa bao giờ nổi nóng. Con bé chỉ mỉm cười và trả lời tôi với một sự kiên nhẫn vô hạn.

Hôm qua, tôi bị một cơn kích động mạnh. Tôi tỉnh dậy mà không biết mình đang ở đâu. Tôi hoảng loạn, không nhận ra chính ngôi nhà của mình và bắt đầu gào thét vì sợ hãi. Carolina chạy vào phòng, ôm chặt lấy tôi và đọc một đoạn trong cuốn sổ: — “Tên cha là Eduardo. Cha 53 tuổi. Cha là cha của con và là người đàn ông dũng cảm nhất con từng biết. Cha đã làm thầy giáo 30 năm. Cha thích cà phê và bánh mì ngọt. Bài hát yêu thích của cha là ‘Bésame Mucho’. Còn con là Carolina, con gái của cha, và con sẽ không bao giờ để cha cô đơn.”

Từng chút một, tôi tỉnh táo lại. Con bé đã kéo tôi về thực tại bằng chính lời nói và câu chuyện của cuộc đời tôi. Tôi khóc nức nở trong vòng tay con như một đứa trẻ: — “Thứ lỗi cho cha, con gái ơi, xin lỗi con vì tất cả chuyện này.” — “Không cha ơi, cha không có lỗi gì cả. Đây không phải lỗi của cha.”

Hôm nay, Carolina cho tôi xem một thứ khiến tôi nghẹn lòng. Con bé đã bí mật quay phim những cuộc trò chuyện buổi tối. Con bé có hàng giờ video cảnh tôi đang kể chuyện, cười đùa, hát hò… là chính mình. — “Sao con lại quay lại tất cả những thứ này?” — “Để đến ngày cha không thể nói được nữa, con sẽ mở những đoạn phim này lên. Để cha được nghe lại giọng nói của chính mình. Để cha biết cha đã từng là ai. Để cha thấy mình tuyệt vời thế nào khi cha vẫn còn là cha.”

Tôi hoàn toàn gục ngã. Tôi nắm lấy tay con: — “Con không cần phải làm thế. Con còn trẻ, tương lai còn ở phía trước. Con phải ra ngoài, yêu đương, sống cuộc đời của mình… Con không cần phải ở đây để chôn vùi tuổi xuân chăm sóc cha.”

Con bé nổi giận. Đây là lần đầu tiên tôi thấy nó giận dữ như vậy kể từ khi tôi đổ bệnh: — “Cha à, khi mẹ bỏ đi, cha hoàn toàn có thể gửi con cho mẹ. Cha có thể làm lại cuộc đời mà không có một đứa trẻ vướng chân. Nhưng cha đã không làm thế.” Giọng con bé nghẹn lại: — “Cha đã ở lại với con. Cha làm việc gấp đôi để con không thiếu thốn thứ gì. Cha vừa là mẹ, vừa là cha. Cha có mặt trong mọi buổi lễ tốt nghiệp, mọi buổi hòa nhạc, mọi sự kiện của đời con. Chưa bao giờ, CHƯA BAO GIỜ cha để con cảm thấy mình là gánh nặng.”

Nước mắt giàn dụa trên mặt con: — “Bây giờ đến lượt con, cha ạ. Cha đã bảo vệ con khi con yếu ớt. Con sẽ bảo vệ cha khi cha không còn tự chủ được nữa. Vì đó mới là gia đình. Đó là những gì cha đã dạy con.”

Chúng tôi ôm nhau khóc. — “Con sẽ không hối hận chứ con gái? Kể cả khi cha không biết con là ai?” — “Không bao giờ cha ạ. Bởi vì ngay cả khi cha không nhớ con là ai, thì CON vẫn luôn biết cha là ai. Cha là người hùng của con. Và người ta không bao giờ bỏ rơi người hùng của mình.”

Tôi không biết mình còn bao nhiêu thời gian trước khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng. Nhưng tôi biết rằng, khi ngày đó đến, tôi sẽ không cô đơn. Tôi có Carolina. Con bé sẽ nhắc cho tôi nhớ tôi là ai. Con bé sẽ đọc cho tôi nghe câu chuyện đời mình. Con bé sẽ yêu tôi ngay cả khi tôi không còn nhớ nổi tên con.

Điều đó cho tôi sự bình yên.

Sáng nay thức dậy, trong giây lát tôi không nhớ nổi hôm nay là thứ mấy. Nhưng tôi nhìn thấy cuốn sổ trên bàn cạnh giường. Tôi mở trang đầu tiên ra, Carolina đã viết những dòng chữ lớn: “CHA LÀ EDUARDO. CHA CÓ MỘT ĐỨA CON GÁI YÊU CHA BẰNG CẢ TRÁI TIM. MỌI CHUYỆN SẼ ỔN THÔI.”

Alzheimer có thể đánh cắp ký ức của tôi. Nó sẽ tắt dần tâm trí tôi. Nó sẽ lấy đi tất cả. Nhưng có một thứ nó không bao giờ lấy đi được: đó là tình yêu. Tình yêu vẫn ở đó. Nó mạnh mẽ hơn bất kỳ căn bệnh nào.

TG Văn Chương


 

110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay.

Make Christianity Great As Always

110 bạn sinh viên tại Đại học Bang Kansas sẽ được rửa tội vào Đêm Vọng Phục Sinh năm nay. Một số trường Đại học Mỹ đang chứng kiến nhiều sinh viên trẻ quyết định trở thành con Chúa sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng về Đức Tin Công giáo. Mong sao các bạn luôn trung tín với con đường mình đã chọn (Theo St. Isidore’s Catholic Student Center – Trung tâm Mục vụ Sinh viên của trường)

CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM”

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ

Hai bên hông thánh đường nhà thờ Hạnh Thông Tây nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động.

Từ ngoài vào, phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau.

Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài…

Tượng trông như người thật khiến tôi ngẩn ngơ. “Anh có biết pho tượng này là ai không?”. Tôi quay người nhìn lại, đó là một cụ già.

Cụ cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An – người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối.

Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chấp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện.

Người đàn ông ấy là ông Lê Phát An và người trong nấm mộ chính là vợ ông, bà Trần Thị Thơ. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.

Tác giả của 2 ngôi mộ và 2 pho tượng này là hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing. Hai ông đã thể hiện đầy đủ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà Lê Phát An.

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ đã nói lên tình cảm của 2 người lúc sinh thời. Trước mộ ông Lê Phát An có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà Trần Thị Thơ thì có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà.

Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng. Qua những dòng chữ khắc trên bia mộ chúng ta có thể nhẩm tính ra ông hơn bà 4 tuổi nhưng lại mất sau bà đến 14 năm.

*GẢ CHÁU GÁI CHO VUA*

Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của 4 người giàu nhất trong câu “Nhất Sĩ ( Sỹ) , Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”.

Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình.

Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.

Theo nhiều tài liệu còn ghi lại, trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace. Đặc biệt trong buổi dạ tiệc này có vua Bảo Đại tham dự.

Cháu gái ông – Nguyễn Hữu Thị Lan – không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo bình thường bằng lụa đen đến dự tiệc.

Nhờ được học qua các lễ nghi, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua chào lại. Cũng vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên. Vua mời cô cùng nhảy. Mối quan hệ bắt đầu nẩy nở từ đó cho đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.

Ngày cưới – cậu của hoàng hậu – ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng.

Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An.

Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc quận Gò Vấp, .

Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao.

Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây trong 3 năm mới hoàn thành. Ngày 18/1/1932 bà Trần Thị Thơ mất. Sau 14 năm , ngày 17/9/1946, ông Lê Phát An qua đời.

Để ghi lại công ơn của đôi vợ chồng trong việc xây dựng ngôi nhà thờ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường với những pho tượng tuyệt đẹp…

Bích Hải Trần.


 

ĐỂ THẤT BẠI-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”.

“Điều Thiên Chúa chữa lành – khi chúng ta thất vọng – là bảo đảm rằng mục đích của Ngài không thể thất bại!” – A. W. Pink.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở đầu khá lặng, “Đức Giêsu lên núi và gọi những kẻ Người muốn”. Không điều kiện, chỉ một lời gọi và các ông bước tới. Ngài biết những con người này – rồi đây – sẽ tan tác, và Ngài sẽ bị họ bỏ rơi. Có thể nói, Ngài gọi họ… ‘để thất bại!’.

Trong đời sống đức tin, chúng ta mong một ơn gọi luôn ổn định, được ghi nhận, được bảo đảm. Muốn trung thành, nhưng chúng ta cũng muốn an toàn; sẵn sàng theo Chúa, miễn là con đường ấy đừng quá chông chênh, đừng đòi trả giá quá nhiều. Nhưng sự thật lại khác! Nhiều lúc, Chúa không gọi chúng ta để thành công, mà gọi bạn và tôi ‘để thất bại’, hầu mọi chỗ dựa quen thuộc lần lượt rơi khỏi tay, và mỗi người đứng trơ trọi trước một chọn lựa: tôi yêu Chúa vì Chúa, hay chỉ vì những gì Ngài từng ban? “Thất bại là một phần môi trường của Thiên Chúa để hình thành nhân cách chúng ta!” – Erwin McManus.

Chính trong những thất bại ấy, Thiên Chúa gỡ từng chiếc mặt nạ, để mỗi người gặp lại sự thật đáng thương của mình – yếu hơn, ít trung tín hơn, và ít quảng đại hơn chúng ta vẫn tưởng. Vậy mà đó cũng là thời điểm ơn gọi được tinh luyện! Không còn dựa vào hình ảnh tốt đẹp bản thân, chúng ta bám vào lòng thương xót Chúa; không còn tự tin vào sức riêng, chúng ta hiểu thế nào là cần đến ân sủng; và không còn đủ kiêu hãnh để đứng một mình, chúng ta học quỳ xuống. Có những lúc, Chúa để chúng ta thất bại trong cả những điều thánh nhất, để hiểu rằng, ơn cứu độ không đi qua sức riêng, mà đi qua sự tự hiến của Đức Kitô trong mỗi người.

Hãy nhìn Chúa Giêsu! Với con mắt thế gian, cuộc đời Ngài kết thúc trong thất bại; nhưng chính ở đó, Chúa Cha hoàn tất công trình cứu độ. Con đường cứu thế không hề dễ, nhưng đi qua lối tự hiến đến cùng. Có thể nói, Chúa Cha đã để Con Một Ngài học bài học đầu tiên – đến ‘để thất bại’ – nhưng từ trong thất bại ấy, sự sống mới được sinh ra. “Nhìn ra ngoài, con xao động; nhìn vào trong, con đau buồn; nhìn lên Chúa Giêsu, con an nghỉ!” – Corrie Ten Boom.

Anh Chị em,

Nhìn lên Chúa Kitô, chúng ta hiểu, những đổ vỡ của mình không nằm ngoài nhịp sóng của Ngài. Khi thấy mình thua cuộc, bất thành, bất lực trước những yếu đuối lặp đi lặp lại, rất có thể, bạn và tôi đang được mời gọi đi vào cùng một mầu nhiệm mà Chúa Kitô đã đi – mầu nhiệm của một tình yêu không bỏ cuộc, cả khi mọi sự xem ra đã mất. Vì thế, điều đáng sợ không phải là thất bại, mà là khép lòng trong thất bại; không phải là ngã, mà là không còn tin mình vẫn được gọi, được yêu, và vẫn được dắt đi cả trên những đoạn đường tối nhất. “Chúa Giêsu không đến để biến người xấu thành tốt; nhưng để biến kẻ chết thành người sống!” – Ravi Zacharias.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những tan tác, cho con tin: chương trình Chúa vẫn lớn lên; giữa bao đổ vỡ, mầm sống Ngài gieo vẫn trổ sinh. Giữ con ở lại trên con đường chưa xong ấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su gọi những kẻ Người muốn, để các ông ở với Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,13-19

13 Khi ấy, Đức Giê-su lên núi và gọi những kẻ Người muốn. Các ông đến với Người. 14 Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng, 15 với quyền trừ quỷ. 16 Người lập Nhóm Mười Hai gồm có : ông Si-môn -Người đặt tên là Phê-rô-, 17 ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê, và ông Gio-an em ông Gia-cô-bê -Người đặt tên cho hai ông là Bô-a-nê-ghê, nghĩa là con của thiên lôi-, 18 rồi đến các ông An-rê, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Ta-đê-ô, Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, 19 và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.


 

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn…

My Lan Pham

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn, rồi sau đó trở thành người phụ nữ khiến cả thế giới phải dừng lại và lắng nghe.

Trước khi là Waris Dirie, cô chỉ là một bé gái du mục trong sa mạc Somalia, một trong mười hai người con sinh ra trong một gia đình sống nay đây mai đó cùng lạc đà và dê, tồn tại nhờ sữa và sức chịu đựng. Khi mới năm tuổi, mẹ cô giữ chặt cô lại trong khi một người phụ nữ khác dùng dao lam thực hiện cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Không có thuốc mê. Không có bệnh viện. Chỉ có nỗi đau không thể tưởng tượng nổi ,  nỗi đau sẽ ám ảnh cơ thể cô suốt cả đời.

Năm mười ba tuổi, cha cô thông báo rằng cô sẽ bị gả cho một người đàn ông sáu mươi tuổi để đổi lấy năm con lạc đà. Waris đã đưa ra một lựa chọn lẽ ra có thể giết chết cô: cô bỏ trốn, một mình, băng qua sa mạc Somalia vào ban đêm. Cô đi bộ suốt nhiều tuần lễ không thức ăn, không nước uống, không bản đồ. Cô bị sư tử rượt đuổi. Suýt chết vì mất nước. Nhưng cô vẫn tiếp tục bước đi, được thúc đẩy bởi thứ mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ ,sự từ chối chấp nhận cuộc đời mà người khác đã áp đặt lên mình.

Cuối cùng, cô đến được Mogadishu, rồi sang London, nơi cô sống cùng những người họ hàng xa và làm giúp việc nhà. Cô không biết tiếng Anh. Không có học vấn. Ban ngày cô lau dọn nhà cửa, ban đêm tự học đọc chữ. Và rồi, trong một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể có thật, cô được một nhiếp ảnh gia thời trang phát hiện khi đang làm việc tại McDonald’s vào năm 1987.

Chỉ trong vài tháng, Waris Dirie trở thành siêu mẫu quốc tế, xuất hiện trên trang bìa của Vogue, Elle và Glamour. Cô sải bước trên các sàn diễn ở Paris, Milan và New York. Cô xuất hiện trong một bộ phim James Bond. Thế giới thời trang tôn vinh vẻ đẹp lạ lẫm của cô, những đường nét sắc sảo, và sự “lột xác” ngoạn mục từ vô danh thành nổi tiếng toàn cầu.

Nhưng Waris mang trong mình một bí mật mà cô chưa từng kể với bất kỳ ai trong cuộc sống mới ấy. Những vết sẹo thể xác và tinh thần từ nạn cắt xén sinh dục nữ vẫn còn đó. Chấn thương luôn hiện diện, ẩn dưới những bộ váy hàng hiệu và ánh đèn máy ảnh. Và cô không thể ngừng nghĩ đến hàng triệu bé gái khác đang phải chịu đựng điều mà cô đã sống sót.

Năm 1997, ở đỉnh cao sự nghiệp người mẫu, Waris đã làm một việc khiến cả ngành thời trang chấn động: cô công khai nói về nạn cắt xén sinh dục nữ trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Marie Claire. Cô kể với cả thế giới chính xác những gì đã xảy ra với mình khi mới năm tuổi. Cô mô tả nỗi đau, những biến chứng y tế kéo dài suốt đời, và tổn thương tâm lý. Cô gọi tên một tập tục đã được che giấu trong im lặng văn hóa suốt nhiều thế kỷ.

Phản ứng từ công chúng là cực kỳ dữ dội. Người quản lý của cô cảnh báo rằng sự nghiệp của cô sẽ kết thúc. Một số người trong cộng đồng của cô cáo buộc cô phản bội văn hóa Somalia. Nhưng cũng có một điều khác xảy ra: phụ nữ trên khắp thế giới bắt đầu lên tiếng. Những người sống sót bắt đầu chia sẻ câu chuyện của họ. Tập tục vốn được bảo vệ bởi sự xấu hổ và im lặng bỗng dưng bị đưa vào ánh sáng toàn cầu.

Waris không dừng lại. Năm 1997, cô trở thành Đại sứ Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về việc loại bỏ nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Cô viết tự truyện Desert Flower, trở thành bestseller quốc tế và sau đó được chuyển thể thành phim. Năm 2002, cô thành lập Quỹ Desert Flower, dành riêng cho việc loại bỏ FGM và giúp những người sống sót tiếp cận chăm sóc y tế và tâm lý.

Hoạt động vận động của cô đã góp phần thay đổi luật pháp. Nhiều quốc gia châu Âu tăng cường luật chống FGM. Các quốc gia châu Phi lâu nay phớt lờ vấn đề bắt đầu ban hành lệnh cấm. Liên Hợp Quốc cũng đã công bố ngày 6 tháng 2 là Ngày Quốc tế “Không khoan nhượng” đối với nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ, một phần nhờ vào chiến dịch không mệt mỏi của cô.

Bạn có thể tưởng tượng đứng trên sàn diễn thời trang, nơi mọi người tôn vinh cơ thể bạn, trong khi bạn mang trong mình nỗi biết rằng thứ gì đó đã bị tước đoạt một cách bạo lực? Bạn có thể tưởng tượng đánh đổi tất cả những gì bạn đã xây dựng để nói ra một sự thật khiến người ta cảm thấy khó chịu?

Những con số chỉ phản ánh một phần câu chuyện: ước tính có khoảng 200 triệu bé gái và phụ nữ hiện đang sống đã trải qua FGM. Nhưng nhờ Waris và phong trào mà cô giúp khởi xướng, tỷ lệ này đang giảm. Ở một số quốc gia, tập tục này đã giảm hơn một nửa chỉ trong một thế hệ.

Waris Dirie không chỉ sống sót qua chấn thương ,cô đã biến nó thành một phong trào toàn cầu. Cô biến nỗi đau vốn định im lặng thành tiếng nói cho hàng triệu người. Cô chứng minh rằng đôi khi điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là từ chối giữ bí mật xấu hổ của người khác.

Ngày nay, cô tiếp tục công việc vận động, chia thời gian giữa châu Âu và châu Phi. Cô không còn là cô bé mười ba tuổi sợ hãi chạy qua sa mạc. Cô cũng không chỉ là siêu mẫu rời bỏ danh vọng. Cô là người phụ nữ đã nhìn thẳng vào hàng thế kỷ bạo lực được bình thường hóa và nói: “Chuyện này kết thúc ở thế hệ của tôi.”

Cô từng bị bán với giá năm con lạc đà. Rồi cô trở thành vô giá.

Chia sẻ từ trang Virgins

My Lan Phạm


 

CẦN KHOẢNG CÁCH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các môn đệ dành cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn”.

“Khoảng lặng là lò luyện biến đổi. Không có khoảng lặng, chúng ta vẫn là nạn nhân của xã hội!” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết, giữa biển người náo nhiệt, Chúa Giêsu chọn “một chiếc thuyền nhỏ”; không để tránh con người, nhưng để không đánh mất “hướng đi cứu độ” dành cho con người – nói cách khác, Ngài ‘cần khoảng cách!’.

Đám đông không hề xấu. Đến với Chúa Giêsu, họ mang theo bệnh tật, khổ đau và những mong chờ rất thật và rất người. Nhưng những nhu cầu chính đáng ấy lại có sức cuốn khốc liệt! Nếu để bị dẫn dắt bởi những con sóng của đám đông, Chúa Giêsu sẽ không còn là Đấng được sai đến, mà chỉ còn là người đáp ứng những nhu cầu. Bấy giờ, đường thập giá dễ bị thay bằng con đường của thành công nhanh. “Chiếc thuyền nhỏ”, vì thế, là dấu chỉ của sự “tự do nội tâm”: không sống theo thị hiếu; không bước theo tiếng vỗ tay; nhưng trung thành với điều Chúa Cha muốn, cả khi điều ấy kéo Ngài vào con đường khó chịu nhất – đường thập giá! “Người vĩ đại là người – ngay giữa đám đông – vẫn giữ được sự độc lập của thinh lặng với một sự dịu dàng trọn vẹn!” – Ralph Emerson.

Tin Mừng còn cho thấy một nghịch lý khác: các thần ô uế nói đúng về Chúa Giêsu, nhưng Ngài lại cấm chúng nói. Vì không phải lời đúng nào cũng dẫn người ta đến gặp Chúa; có những lời chỉ làm đám đông sôi sục mà lòng người thì “không đổi!”. “Hãy dè chừng sự cằn cỗi của một cuộc đời bận rộn!” – Socrates. Chúa Giêsu không chọn con đường của bận rộn, nhưng của biến đổi. Ngài chọn con đường chậm, âm thầm – con đường của gặp gỡ và đổi mới từ bên trong. Với chúng ta, nguy cơ lớn không hẳn là làm điều xấu, mà là làm rất nhiều điều tốt nhưng không còn “đi ra từ trung tâm” – Giêsu – của ơn gọi. Chúng ta có thể bị cuốn phăng bởi lịch trình, bởi trách nhiệm, đến mức mọi quyết định chỉ còn là “bị đẩy đi” một cách vô hồn, chứ không còn là bước theo một Ai đó. Khi ấy, dù vẫn phục vụ, bạn và tôi lại dễ đánh mất bình an và niềm vui thuở ban đầu.

Anh Chị em,

Cao điểm của chọn lựa “một chiếc thuyền nhỏ” được Marcô kể ở một chỗ khác, “Sáng sớm, khi trời còn tối, Người đi ra nơi thanh vắng mà cầu nguyện”. Trước khi để cho ngày mới tràn vào bằng bao nhiêu tiếng gọi, Ngài lui về với nguồn mạch – tương quan với Chúa Cha. Từ nơi thinh không ấy, Ngài lại đi ra, tiếp tục chữa lành, tiếp tục giảng dạy, nhưng với một hướng đi không bị áp lực chung quanh chi phối. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta tự hỏi: điều gì đang quyết định nhịp sống của tôi? Lời Chúa, hay sức ép của hoàn cảnh? Sứ mạng, hay những đòi hỏi không bao giờ vơi? Có thể, để yêu đúng và đi đúng, tôi cũng ‘cần khoảng cách?’. “Không phải sự gia tăng hằng ngày mà là sự giảm bớt hằng ngày. Hãy cắt bỏ những điều không thiết yếu!” – Bruce Lee.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa ồn ào, xin cho con ‘còn lặng’; giữa tiếng vỗ tay, xin cho con ‘còn thật’; và giữa thành công, xin cho con ‘còn thuộc về’ Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Các thần ô uế kêu lên : Ông là Con Thiên Chúa. Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,7-12

7 Khi ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ lui về phía Biển Hồ. Từ miền Ga-li-lê, người ta lũ lượt đi theo Người. Và từ miền Giu-đê, 8 từ Giê-ru-sa-lem, từ xứ I-đu-mê, từ vùng bên kia sông Gio-đan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xi-đôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm. 9 Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn. 10 Quả thế, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, khiến tất cả những ai có bệnh cũng đổ xô đến để sờ vào Người. 11 Còn các thần ô uế, hễ thấy Đức Giê-su, thì phủ phục trước mặt Người và kêu lên : “Ông là Con Thiên Chúa !” 12 Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai.


 

Không nóng giận là phẩm chất của người đại trí tuệ – Thiên Cầm

Thiên Cầm

Chỉ những người có tu dưỡng mới có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân, không hề nóng giận trước bất kể sự việc gì. Cũng bởi vì không nóng giận nên mọi việc người đó làm đều là lý tính, có thể tỉnh táo đánh giá tình hình và đưa ra phương án sáng suốt. Điều này phải là bậc đại trí tuệ mới có thể làm được.

Trong sách Trang Tử có kể câu chuyện ngụ ngôn sâu sắc như sau:

Tề Tuyên Vương sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà chọi. Được mười hôm, vua hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được. Gà còn hăng, mới thấy bóng gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Mười hôm sau, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Được rồi. Gà bây giờ nghe thấy tiếng gà khác cũng không cho vào đầu. Trông thì tựa như gà gỗ, mà thực ra thì đủ các ngón hay. Gà khác coi thấy cũng đủ sợ, phải lùi chạy.”

Gà chọi nóng nảy, ham khiêu chiến sẽ thích gây gổ, đấu đá chẳng ngưng. Nhưng con gà chọi thiện chiến thực sự lại trông “tựa như gà gỗ” nhưng có thể trầm tĩnh thi triển “các ngón hay” của mình. Kỳ thực Trang Tử muốn thông qua câu chuyện ngụ ngôn này để nói lên một đạo lý rằng có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân thì mới có thể làm việc lớn.

Gia Cát Lượng nói: “Lười nhác thì không thể tinh thâm, nóng nảy mạo hiểm thì không thể lý tính”. Khi lửa giận bốc lên sẽ che mờ lý trí của con người. Khi ấy con người thường sẽ mắc sai lầm mà chuốc lấy bại vong. Chỉ có buông bỏ tư tâm, trong lòng mới không bất bình oán hận, cơn nóng giận mới bị tiêu trừ từ trong trứng nước.

Có một câu chuyện về nhà Nho nổi tiếng Vương Dương Minh thế này. Vào năm Minh Chính Đức, Ninh Vương tạo phản, chỉ trong vòng một tháng Vương Dương Minh đã nhanh chóng bình định quân phiến loạn, giúp quốc gia tránh được tổn thất to lớn.

Nhưng ở triều đình, Vương Dương Minh bị kẻ khác sinh lòng đố kỵ, vu khống ông câu kết với Ninh Vương, vì việc chẳng thành, nên mới bán đứng Ninh Vương để bảo toàn tính mệnh. Chính Đức hoàng đế nghe theo lời dối trá của thuộc hạ, yêu cầu Vương Dương Minh thả Ninh Vương, định rằng sẽ thân chinh ngự giá.

Dẹp yên quân phản loạn là công lao lớn, nhưng Vương Dương Minh không những không được ghi nhận còn bị vu khống hãm hại. Đối mặt với tình cảnh này, Vương Dương Minh không hề nóng giận. Ông tới tìm Trương Vĩnh, giao phó toàn bộ công lao cho ông ta, để ông ta trừ bỏ đám hoạn quan kết bè kết đảng. Sau đó ông tự mình vào triều, bày tỏ tâm nguyện không tranh với đời, hoá giải đại hoạ một cách êm đẹp.

Vậy nên, khi bình phẩm về Vương Dương Minh, hậu thế mới có câu: “Vào lúc nguy cấp, vẫn dự liệu như thần, trí tuệ không hề lay chuyển.”

Có câu, “Nước sâu chảy chậm, người tôn quý ăn nói từ tốn”, người không nóng giận không phải kẻ đần mà là bậc đại trí giả. Một người khi không để tâm tới vật ngoại thân, được mất tuỳ duyên mới có thể giữ được sự an định trong nội tâm, không vui vì vật ngoại thân, không buồn vì được mất cá nhân của mình.

Thiên Cầm biên tập

From: Tu-Phung


 

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ

Debora Viet Kieu

Khi Titanic chìm xuống lòng đại dương, trên con tàu ấy có mặt John Jacob Astor IV — một trong những người giàu nhất nước Mỹ thời bấy giờ. Khối tài sản trong ngân hàng của ông đủ để xây dựng tới 30 con tàu Titanic.

Thế nhưng, vào khoảnh khắc đối diện với cái chết, ông đã chọn điều mà mình tin là đúng đắn về mặt đạo đức: nhường chỗ trên thuyền cứu hộ cho hai đứa trẻ đang hoảng loạn.

Cũng trên chuyến tàu định mệnh ấy có Isidor Straus, đồng sở hữu chuỗi bách hóa lớn nhất nước Mỹ — Macy’s. Khi được mời lên thuyền cứu sinh, ông bình thản nói:

“Tôi sẽ không bao giờ lên thuyền khi vẫn còn phụ nữ và trẻ em trên tàu.”

Vợ ông, bà Ida Straus, cũng từ chối rời đi. Bà nhường chỗ của mình cho cô hầu gái mới, Ellen Bird, rồi lựa chọn ở lại bên chồng trong những giây phút cuối cùng.

Bà nói khẽ nhưng kiên định:

“Chúng ta đã sống bên nhau suốt bao năm. Nơi nào anh đi, em sẽ đi cùng.”

Những con người ấy — giàu có, quyền lực, có thể mua gần như mọi thứ — đã từ bỏ tài sản, thậm chí cả sinh mạng, để giữ trọn phẩm giá và nguyên tắc sống.

Chính lựa chọn đó đã khiến họ trở nên vĩ đại hơn mọi khối tài sản họ từng sở hữu.

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ, và đó chính là biểu tượng cao đẹp nhất của văn minh và bản chất con người.


 

Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

Cuộc Sống Hằng Ngày

 Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

95 triệu dân Việt Nam đang chờ đợi vụ án này. Hàng chục năm lặng im, không ai giúp đỡ Hồ Duy Hải…

Bỗng nhiên Đinh Văn Nơi xuất hiện, bằng chứng được gửi tận tay Chủ tịch nước Lương Cường, khiến Nguyên H. Bình đứng ngồi không yên. Đinh Văn Nơi tiếp nhận và đưa ra, khiến dư luận đặc biệt chú ý!

Vụ án kéo dài hàng chục năm nay đang đứng trước những tình tiết có thể thay đổi cục diện.

Người dân kỳ vọng sự thật được soi chiếu đầy đủ, công lý không bị bỏ quên.

Với một con người, 20 năm tuổi xuân đã mất là không gì bù đắp được…

#HoDuyHai #CongLy #KieuOan #DinhVanNoi