CÓ PHẢI LÀ BI QUAN KHI NÓI ĐẾN CÁI CHẾT LÚC TUỔI GIÀ?-  Norris Le LPN

Norris Le LPN

Một vài bạn FB có ý kiến cho rằng ai rồi cũng chết. Khi nào chết sẽ hay. Đâu cần chi phải bận lòng?

Thật tình, tôi không nghĩ thế. Vẫn biết ai rồi cũng chết, nhưng chết như thế nào ? Một chuyến đi chơi vài ngày cũng cần chuẩn bị chu đáo, hà huống gì một việc quan trọng của đời người như “cái chết” lại không cần chuẩn bị ? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Lúc còn khỏe mạnh, mình tưởng như mọi việc sẽ xãy ra êm thắm, ngay cả cái chết, tắt thở là hết! Đơn giản vậy sao ? Tôi đã biết nhiều người lăn lộn, khổ sở trong thời gian cuối cùng của cuộc đời. Lúc cơ thể suy tàn, ngoài sự đau nhức, còn biết bao sự hành hạ về thể xác lẫn tinh thần…

Ỉa, đái trong quần lúc nào không biết. Ho, hen, khạc nhổ suốt ngày. Tất cả đều phải nhờ vào sự giúp đỡ, chăm sóc của người khác. Tính khí mỗi ngày càng khó khăn, bực dọc, cáu kỉnh, than phiền, trách móc. Ai dám chắc rằng mình sẽ không như thế? Ai mà chịu nổi? Ngay cả những người được thuê để chăm sóc người già nhiều khi cũng phải bỏ việc vì không chịu nổi cái khó tính của người già sắp chết, dù họ rất cần một việc làm để nuôi thân và gia đình. – Đó là một thực tế.

– – – Vậy thì mình phải tính cách nào để đối phó với thực tế đó?

Nếu là người có niềm tin tôn giáo, thì ngay từ lâu trước khi già yếu, đã phải thành tâm học đạo, chấp nhận sự quan phòng hay thử thách của Ơn Trên, chấp nhận Nghiệp báo, Nhân Quả, chẳng riêng của đời này hay của nhiều đời trước. Niềm tin vững chắc này sẽ giúp người tin đạo quyết tâm chịu đựng những khó khăn khi nó xãy đến. Tất nhiên Quả Lành cũng đến với những người được ra đi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng. Từ niềm tin tôn giáo này, mình sẽ phải cố gắng thay đổi cách sống, làm điều thiện, tránh điều ác.

Bên cạnh đó, tài chánh cũng là một phương tiện cần thiết, giúp ích cho mình rất nhiều trong những lúc phải cần đến dịch vụ chăm sóc. Tiền nào, của đó. Thực tế bạn ơi! Ở đâu cũng thế. Trong lúc đang làm việc, mỗi tháng, hay mỗi kỳ lương, chịu khó để riêng một chút tiết kiệm cho quỹ tuổi già. Đừng mong đợi gì vào con cháu, vì chúng nó cũng phải lo cho bản thân và gia đình chúng nó, luôn cả tuổi già của chúng nó sau này!

Tất cả những chuẩn bị này thường nên chia sẻ với con cháu, mình muốn gì khi sắp nhắm mắt lìa đời, để tất cả người thân trong gia đình cùng hiểu, và sẽ không ai tranh cãi điều gì khi chuyện đó xãy ra. Một ông bạn già của tôi quyết định rút ống thở cho bà Mẹ già trên 100 tuổi để bà khỏi phải cứ nằm đó mà không còn biết gì, vì bộ não đã chết. Người em út nhào tới cào, xé , la hét, bảo anh “giết Mẹ”.

Việc tang lễ cũng thế. Việc này không phải chỉ làm hoàn toàn theo ý kiến của mình, mà đôi lúc cũng phải nghĩ tới tâm trạng của thân nhân, con cháu nữa. Nếu mình bảo: “tao chết thì cứ đem thiêu, rồi rãi tro xuống sông, xuống biển là xong, đừng lễ lạc gì hết! “ . Con cháu mình có đứa nào đành lòng như thế ? Chúng cũng muốn đội khăn tang cho Bố Mẹ, cũng muốn đọc kinh cầu siêu, cầu hồn, quỳ lạy tiễn đưa trong niềm thương nhớ, để nước mắt giúp xoa dịu niềm đau chia lìa, âm dương từ nay cách trở. Chỉ mong chúng hãy làm trong giản dị, trong phạm vi gia đình, hay bạn bè thân thuộc, không nên đình đám, phô trương, tiêu phí một cách vô ích, có thể trở thành gánh nặng cho con cháu sau này. Và nếu có thể, mình chuẩn bị trước một “quỹ tang chế” cho chính mình, thì sẽ nhẹ cho con cháu lắm.

Có thể bạn có cách chọn lựa khác. Mình chỉ nói lên ý nghĩ của mình, để, không những con chau biết, mà cũng để thân nhân, bè bạn xa gần cũng biết,- đây là ý nguyện của mình. Có gì thiếu sót trong tang lễ của mình thì xin thứ lỗi, vì đó là lỗi của mình, tại mình muốn thế, không phải của người ở lại.

Tuổi 80+ rồi. Trải qua bao gian khổ của tuổi thơ, trong thời chiến tranh ly loạn, tản cư, chạy giặc, đi lính, đi tù, vượt biên, tị nạn, làm lại cuộc đời …

Rồi, về hưu tại xứ sở tự do này đã non 20 năm, trong an bình, no ấm.

Mỗi ngày thức dậy, cảm tạ Ơn Trên, còn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc uống khi đau yếu, còn lo lắng được cho chính mình, còn có bạn bè thương mến, hàng xóm tử tế, còn có vườn rau nho nhỏ để mỗi ngày ra vào chăm sóc , và đám con, cháu tốt lành, hiếu để … Lòng Tri Ân vô hạn !

Nhưng biết còn được bao lâu, và khi nào bác sĩ sẽ lắc đầu bảo rằng : “ NO MORE QUALITY OF LIFE” ?

Mình không bi quan đâu bạn. Người ta bỏ cả đời người để lo lắng, chuẩn bị cho những cái KHÔNG HỀ CHẮC CHẮN: của cải, tài sản, danh vọng, tiền bạc, sức khỏe, kể cả thân xác này.

Nhưng cái CHẾT là chắc chắn. Mình chỉ cố gắng một chút để chuẩn bị cho cái chắc chắn đó thôi, vì chắc chắn nó sẽ xãy đến với mình trong một ngày không xa.

Xin chúc bình an đến mọi nhà.

Norris Le LPN

Houston, TX 2 tháng Tư, 2022.

=== Đình kèm bài của một bác sĩ về giai đoạn cuối đời = = = =

TẠI SAO MỘT SỐ BÁC SĨ TỪ CHỐI ĐIỀU TRỊ CỨU SỐNG BẢN THÂN

(Nguồn: luomtrennet. )

Câu hỏi:

Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa:

” Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ ) thường từ chối khi mục đích duy nhất của những phương pháp điều trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi. Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp , họ kiệt sức, ốm yếu , cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác. Điều này, về cơ bản là điều trị để chết.

Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày , nó cực kỳ vô nhân đạo. Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

Gia đình tôi biết điều này, tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

Hãy để tôi kể chuyện này:

Tôi đã có một đồng nghiệp, anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học. Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất và còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút.

Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm : ” Đi biển ” .

Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu, anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vị. Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon. Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó. Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện , và anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan.

Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính. Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó xãy ra cho bản thân mình.

Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

Với tất cả sự bình yên. /.


 

KHÁT KHAO KHÔNG KHỞI ĐẦU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Làm sao Ngài lại biết tôi?”.

“Hãy an tâm; con đã chẳng tìm Ta, nếu con đã không gặp Ta!” – Blaise Pascal.

Không phải con người khởi sự đi tìm Thiên Chúa; chính Thiên Chúa đã có mặt nơi tâm điểm khát khao của con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Nathanael đi tìm Chúa Giêsu; gặp Ngài, ông ngỡ ngàng vì đã được Ngài biết từ trước. Con người khát khao Thiên Chúa – một ‘khát khao không khởi đầu’ – bởi Thiên Chúa đã đi trước trong chuyển động ấy.

Được Philipphê giới thiệu, Nathanael dửng dưng, “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?”. Nhưng ông vẫn đến. Và chính nơi cuộc gặp ấy, ông bị chặn lại bởi một lời không ngờ: “Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối!”. Nathanael nghẹt thở, “Làm sao Ngài lại biết tôi?”. Trước khi Nathanael kịp hiểu, Chúa Giêsu nói thêm: “Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh còn ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi”. Không phải ông được biết sau cuộc gặp, nhưng đã được biết từ trước.

Một lời như sấm rền khiến Nathanael ngẩn ngơ. Toàn bộ hữu thể ông như tan chảy trước một cái nhìn đã đọc đến tận cùng; những dè dặt, hoài nghi bỗng rơi xuống, để phần thật nhất nơi ông lộ ra như vàng ròng. Nhưng lạ thay, bị nhìn thấu, ông không thấy mình bị kết án; trái lại, ông nhận ra mình đã được chờ đợi từ lâu. Điều ông tưởng là khát khao thực ra đã được chạm tới từ trước. Có lúc chúng ta tưởng mình bắt đầu; nhưng hoá ra, đó chỉ là một ‘khát khao không khởi đầu’, vì đã có một khởi đầu khác đi trước.

Người vừa hỏi Nazareth nào có gì hay, cuối cùng lại được ghi tên trong thành thánh: “Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên” – bài đọc một. Chúa Giêsu không chỉ thấy Nathanael đang là ai, nhưng còn thấy ông sẽ trở thành ai: một kẻ hoài nghi thành tông đồ, một người đứng ngoài nên nền móng.

Để trở thành con người Chúa đã thấy trước, Nathanael đã dám ở lại dưới cái nhìn ấy. Không phải ai cũng dám như ông; nhiều khi, chúng ta lại tìm cách lẩn tránh. Bởi được biết không chỉ là được hiểu, nhưng là để ánh sáng chạm tới tận đáy lòng và xuyên qua mọi lớp che phủ. “Được biết mà không được yêu là nỗi sợ sâu nhất của con người; nhưng được biết trọn vẹn và được yêu thật sự, đó là điều con người khao khát nhất!” – Timothy Keller.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cái nhìn thấu suốt không kết án, nhưng cứu độ. Trên thập giá, Ngài thấy hết sự phản bội, hèn nhát và tội lỗi của con người; vậy mà vẫn mở rộng vòng tay. Đức Kitô không yêu chúng ta vì Ngài chưa biết hết; Ngài biết hết mà vẫn yêu. Điều khiến người đời bớt yêu lại khiến Ngài yêu nhiều hơn. Bởi thế, cuộc trở về của chúng ta vẫn là một ‘khát khao không khởi đầu’: trước khi chúng ta khao khát được cứu, Chúa đã khao khát cứu chúng ta. Không ai còn bị đóng đinh vào con người cũ; mỗi người được gọi về với con người Thiên Chúa đã thấy từ đời đời. “Không phải tội lỗi của chúng ta lớn, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không góc khuất nào trong con nằm ngoài ánh mắt Chúa; xin đừng để con trốn chạy khi được nhìn thấu; nhưng dám ở lại với Đấng khát khao con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa KÍNH THÁNH BARTHÔLÔMÊÔ TÔNG ĐỒ. 

24/8, Thứ Hai, Tuần XXI TN: 

https://bom.so/TRzsCt

Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 1,45-51

45 Khi ấy, ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói : “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp : đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.” 46 Ông Na-tha-na-en liền bảo : “Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được ?” Ông Phi-líp-phê trả lời : “Cứ đến mà xem !” 47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng : “Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.” 48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người : “Làm sao Ngài lại biết tôi ?” Đức Giê-su trả lời : “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” 49 Ông Na-tha-na-en nói : “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en !” 50 Đức Giê-su đáp : “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin ! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” 51 Người lại nói : “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”


 

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Nghệ Lâm Hồng

Jocelyn Minh Tue

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Năm 11 tuổi, khi một chân đã teo liệt, không thể tự đi lại, bà Nguyễn Thị Thủy được người cậu chở đến khu vực bắc Mỹ Thuận. Người cậu mua cho bà một ổ bánh mì rồi nói sẽ đi mua đồ Tết và quay lại đón.

Nhưng ông không trở lại.

Đứa trẻ mồ côi cha mẹ, không thể tự đi tìm người thân, chỉ biết ngồi một chỗ chờ đợi rồi bật khóc. Đến khi những người xung quanh nói rằng bà đã bị người thân bỏ lại, cô bé mới hiểu chuyến đi ấy không phải để mua quần áo Tết.

Đó là ngày bà mất đi mái nhà của mình.

MỘT Ổ BÁNH MÌ VÀ CUỘC ĐỜI BỊ BỎ LẠI

Bà Thủy quê Vĩnh Long, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sống nhờ bà cố. Từ bé, bà bị suy dinh dưỡng, một bên chân teo nhỏ, gần như không thể đứng và đi lại bình thường.

Sau khi bà cố qua đời, bà sống cùng cậu mợ. Nhưng theo lời kể của bà, vì không muốn tiếp tục chăm sóc một đứa trẻ khuyết tật, người thân đã tìm cách đưa bà đi.

Tại khu vực bắc Mỹ Thuận, người cậu để bà lại với một ổ bánh mì và lời hứa sẽ quay lại.

Bà chờ từ sáng đến gần trưa.

Nhưng người cậu không bao giờ quay lại nữa.

May mắn, một người chạy xe lam nhìn thấy cô bé đang khóc đã dừng lại. Ông nghe câu chuyện rồi đưa bà về bến phà, nhờ những người làm việc ở đó giúp đỡ.

Từ đó, cuộc đời cô bé 11 tuổi bắt đầu gắn với những bến phà, vỉa hè và những mái hiên tạm bợ.

KHÔNG CÙNG MÁU MỦ NHƯNG KHÔNG AI BỎ RƠI

Ban ngày, bà ngồi với chiếc nón lá trước mặt để xin tiền ăn. Người cho vài đồng, người cho hộp cơm, người cho quần áo.

Đêm xuống, bà tìm một góc gần phòng vé hoặc vỉa hè để ngủ.

Những người làm việc tại bến phà thương hoàn cảnh của cô bé nên góp tiền đưa bà đi chữa chân. Bà được tập vật lý trị liệu, nẹp chân và tập đứng.

Từ một đứa trẻ chỉ có thể lết trên nền đất, bà dần bước được những bước đầu tiên.

“Nhờ người dưng hết đó con. Không có người ta chắc cô đâu có đi được tới giờ.”

Sau này, bà có một người đàn ông thương hoàn cảnh và hai người nương tựa nhau sống dưới gầm cầu Chợ Mới. Nhưng khi ông bị tai biến và được con cái đón về chăm sóc, bà lại trở về cuộc sống một mình.

HƠN 20 NĂM DƯỚI GẦM CẦU

Ở tuổi 65, bà Thủy vẫn sống trong một khoảng trống sát mố cầu.

Một chiếc giường gỗ, vài chiếc nồi, thùng nước, quần áo và những món đồ được người khác cho là gần như toàn bộ tài sản của bà.

Mỗi ngày, nếu chân còn đỡ đau, bà chống chân ra chợ. Người bán hàng quanh khu vực đã quen với cô Ba Thủy. Người cho rau, người cho trái cây, người để lại phần thức ăn.

Có ngày bà xin được vài chục nghìn đồng. Có ngày trời mưa hoặc chân đau, bà chỉ ở lại dưới gầm cầu.

“Có gì ăn đó. Có tương thì ăn tương, có rau thì luộc rau.”

Giờ đây, đôi mắt bà đã mờ đến mức người đứng trước mặt chỉ còn là một bóng hình. Hai chân thường xuyên sưng đau, việc đi lại ngày càng khó khăn.

Thế nhưng bà vẫn cố tự giặt quần áo, nấu ăn và sắp xếp mọi thứ quanh mình.

“HẬN LÀM CHI CON ƠI…”

Hơn 50 năm đã trôi qua, khi được hỏi có còn giận người cậu đã bỏ mình hay không, bà chỉ lắc đầu.

“Hận làm chi con ơi. Cuộc đời mình số phận nó như vậy rồi, hận cũng đâu đổi lại được gì đâu.”

Nếu một ngày gặp lại, bà nói mình cũng không muốn trách móc.

“Gặp thì mừng, rồi bỏ qua hết.”

Ở tuổi 65, bà không mong nhà cao cửa rộng, cũng chẳng mong một cuộc sống sung túc.

Điều bà mong chỉ là mỗi ngày có hai bữa cơm, dành dụm được một ít tiền để khi chân đau còn có tiền mua thuốc.

Và bà đã nghĩ đến ngày cuối đời:

“Chừng nào cô mãn phần, chỉ nhờ bà con chòm xóm ở đây chôn cất giùm, hoặc đem đi thiêu. Cô không dám phiền ai.”

Phía trên đầu, xe cộ vẫn ngày ngày chạy qua cầu.

Còn phía dưới, người ta vẫn thấy một bà cụ 65 tuổi với đôi mắt đã mờ, đôi chân đau nhức, sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của những người xa lạ.

Hơn 50 năm trước, bà là một cô bé 11 tuổi bị bỏ lại bên bắc Mỹ Thuận với một ổ bánh mì.

Hơn nửa thế kỷ sau, thứ giữ bà ở lại với cuộc đời không phải là người thân ruột thịt, mà chính là lòng tốt của những người xa lạ.


 

“Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37)-Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Đức Ma-ri-a Nữ Vương. Xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng con đang vất vả trên đường lữ hành tiến về quê trời.

Với Đức Maria tâm hồn hướng về mầu nhiệm Chúa Giêsu.” Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 22/08/2026.    (t5-24)

TIN MỪNG: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37)

SUY NIỆM: Có người đặt câu hỏi để gài bẫy thánh Bernadette khi còn là một thiếu nữ : “Con thích gì hơn, rước lễ hay thấy Đức Mẹ hiện ra ở hang đá?” Vị thánh nhỏ suy nghĩ một phút rồi trả lời: “Đúng là một câu hỏi kỳ lạ! Chúa Giê-su và Đức Mẹ không thể tách riêng ra. Cả hai lúc nào cũng phải đi với nhau.” Từ giây phút thụ thai trong lòng Đức Mẹ, Đức Giê-su và Mẹ của Ngài luôn nối kết với nhau. Không lạ gì Con về trời thì Mẹ cũng phải được lên trời cả hồn lẫn xác. Đức Mẹ được đưa lên trời để được tôn phong là Nữ vương thiên đàng, Nữ vương vũ trụ. Mẹ thi hành tước vị Nữ vương ấy trong tư thế của một người mẹ, người mẹ của tất cả nhân loại, và là mẹ của từng người. Trong lịch sử Giáo Hội, Mẹ đã nhiều lần hiện ra để cứu giúp con cái gặp cảnh gian nguy, cảnh tỉnh con cái sửa đổi đời sống, nhắn nhủ con cái sống đúng tư cách môn đệ Chúa Ki-tô. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI dạy rằng: “Đức Ma-ri-a là người đầu tiên đi ‘con đường’ vào Nước Trời mà Đức Ki-tô đã mở, một con đường chỉ đạt được dành cho những người khiêm tốn, tin tưởng nơi Lời Chúa và nỗ lực đem ra thực hành” (Đức Bê-nê-đi-tô 16). Mời bạn hãy đi con đường Đức Mẹ đã đi, để cũng được phần thưởng cao quý là hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa như Mẹ.

LẮNG NGHE: Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” (Lc 1:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Ma-ri-a là Nữ vương vũ hoàn, và là Mẹ con, con cảm tạ Mẹ luôn đồng hành với con trong mọi nẻo đường con đi, mọi khoảnh khắc quãng đời con sống. Xin cho con cũng biết noi gương Mẹ, đi con đường vào Nước Trời mơ ước. Amen.

THỰC HÀNH: Mỗi tối tôi đọc chậm rãi, sốt sắng ba kinh Kính Mừng kính Đức Mẹ, xin ngài nâng đỡ bạn sống xứng đáng con cái Thiên Chúa mọi ngày.

From: Do Dzung

*****

MARIA NỮ VƯƠNG | Phạm Đức Huyến – Vũ Đình Ân

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 năm 1916 – 6 tháng 9 năm 1976) là một nhà thơ người Việt Nam, với văn phong được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông Phương. Ông được xưng tụng là “thi bá Việt Nam” và cũng là một trong 100 tác giả trên thế giới được Ủy ban Nobel văn học chọn lọc để đề cử cho giải Nobel văn học năm 1972.

Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.

Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.

Năm 1941, ông rời Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.

Vũ hoàng Chương với Tố Hữu là bạn nhưng Vũ Hoàng Chương lớn hơn Tố Hữu vài tuổi. Năm 1946 Huy Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ kháng chiến, dần lên chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ Hoàng Chương không theo kháng chiến, sau hiệp định Genève năm 1954 di cư vào Saigon tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Năm 1976, Huy Cận được cử vào Sài Gòn cùng với một phái đoàn gồm có Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Vũ Đình Liên, …, với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Phái đoàn được Thanh Nghị ký giả (một cộng sản nằm vùng) tiếp đón và tổ chức một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ Hoàng Chương đã được mời và ông đã tham dự.

Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu đã làm để khóc Stalin chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp với Tố Hữu:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười”.

Hoài Thanh mời Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ của Miền Nam góp ý. Vũ Hoàng Chương đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái “sáng giá” của đêm họp “văn nghệ đặc biệt” này. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương:

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao… Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép…

Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việt Nam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việt Nam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca. Nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việt Nam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việt Nam nào, kể cả Bà Tố Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm. Đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtn Nam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm”.

Lời phê bình của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ Hoàng Chương, có người đã yêu cầu ông nói về thơ và sự thực mà ông đã đưa ra để chê Tố Hữu và cùng nghĩ rằng Vũ Hoàng Chương khó lòng mà đưa ra một luận cứ vững vàng được, nhưng ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống”.

Tố Hữu không ngờ bị Vũ Hoàng Chương chê bai là nịnh hót Stalin nên bực tức. Sau đêm đó, Vũ Hoàng Chương đã bị công an nửa đêm ngày 3/4/1976, tràn vào nhà bắt giam tại khám Chí Hoà nhốt chung với bác sỹ (cựu Thủ Tướng VNCH).

Trong nhà tù bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn, bệnh không có thuốc uống nên ông kiệt sức, đến khi quá tiều tụy thì được thả về. Chỉ vài ngày sau đó, ngày 6/9/1976 thì ông qua đời… Việt Nam đã mất đi một thi nhân tài hoa, bởi bàn tay sắt máu của một ai đó mà chúng ta rất khó tìm ra chứng cứ trực tiếp.

(Quê Mẹ số 63/64)

 


 

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

 Chân Trời Mới Media

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

Ở cái xứ sở nơi khẩu hiệu mọi người bình đẳng trước pháp luật được treo khắp nơi như tờ giấy lau bàn, công lý thực chất chỉ là một món hàng phân cấp rõ ràng theo thẻ đảng và ghế ngồi.

Ngọc Trinh lái mô tô sai tư thế trong khu nội bộ Thủ Thiêm. Không tông ai, không bỏ chạy, không làm đổ một giọt máu. Thế mà bị quy cố ý, đề nghị 2–7 năm tù, cuối cùng được “khoan hồng” một năm treo, hai năm thử thách. Tòa án nghiêm khắc lắm. Luật là luật. Không ai được đứng trên pháp luật.

Còn ông nghị Cương? Lái ô tô sai làn ngay trung tâm Hà Nội, tông chết một người đi xe máy. Kết quả là miễn trách nhiệm hình sự. Không án, không treo, không thử thách. Chỉ cần là ông nghị, là đồng chí, là người của hệ thống thì mạng người cũng chỉ là chi phí giao thông. Tòa án lúc này bỗng nhiên trở nên nhân văn, xem xét hoàn cảnh, cân nhắc đóng góp.

Thật là một hệ thống đầy tính đảng. Người không có ghế thì bị soi đến tư thế ngồi xe. Người có ghế thì được miễn đến cả tội giết người vì bất cẩn. Đây không còn là bất công thông thường nữa. Đây là bất công được thiết kế, được vận hành, được bảo vệ bằng chính bộ máy nhà nước.

Luật pháp Việt Nam không phải là công cụ bảo vệ công lý. Nó là công cụ bảo vệ quyền lực. Nó là cái roi để răn đe những kẻ không biết điều, và là cái dù để che cho những kẻ biết đứng đúng hàng ngũ. Ngọc Trinh không biết đứng đúng hàng nên phải nhận án. Ông nghị biết đứng đúng hàng nên được tha.

Và cái hay nhất là sau mỗi vụ việc như thế này, người ta vẫn cứ lớn tiếng hô không ai đứng trên pháp luật. Thật ra thì có. Rất nhiều người đang đứng trên pháp luật. Họ đứng trên nó mỗi ngày, ngồi trên nó mỗi khi lái xe, và thỉnh thoảng còn dùng nó để đè những kẻ phía dưới xuống.

Đó chính là công lý kiểu Việt Nam, công lý có tầng, có hạng, có thẻ. Và tầng dưới thì đừng bao giờ ảo tưởng rằng luật là để bảo vệ mình.

#luatphap #ngoctrinh #nguyensycuong #congly #chantroimoi 


 

TRỜI LUÔN ĐI TRƯỚC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.

“Chúng ta không thể bước nổi một bước về phía trời; Thiên Chúa băng qua vũ trụ để đến với chúng ta!” – Simone Weil.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Phêrô tưởng mình đang trả lời một câu hỏi dưới đất; Chúa Giêsu cho biết điều ông nói đến từ trời. Khi con người chưa kịp bước, ‘Trời luôn đi trước’.

“Người ta nói Con Người là ai?”; “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Đám đông chỉ gọi Chúa Giêsu bằng những cái tên đã biết. Phêrô không đặt Ngài vào hàng bất cứ ai: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Khoảng cách giữa hai câu trả lời nằm ở nguồn phát sinh: một bên đi lên từ ký ức của đất, một bên đi xuống từ mặc khải của Trời. Mặc khải không đến như phần thưởng của trí tuệ, nhưng đi trước để lời tuyên xưng có thể cất lên. Trước khi miệng người mở ra để nói về Chúa, Trời đã băng qua vũ trụ để xuống tận lòng người.

Chỉ sau khi xác nhận nguồn của lời tuyên xưng, Chúa Giêsu mới nói: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá”; “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời”. Đức tin đi trước quyền bính. Phêrô là đá, nhưng Đấng xây Hội Thánh vẫn là Chúa Kitô; ông giữ chìa khoá, nhưng không phải để buộc trời theo ý đất, mà để đất không đi lạc ý trời. Chìa khoá chỉ mở đúng cửa trong tay người biết vâng phục.

Chìa khoá ấy đã được báo trước. “Ta sẽ gọi tôi tớ Ta là Engiakim”; “Chìa khoá nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó” – bài đọc một. Trước khi mở một cánh cửa, trách nhiệm đã được đặt lên vai người nhận. Người giữ khoá có thể thay, nhưng quyền vẫn đến từ Đấng trao. Phaolô đưa mọi sự về nguồn: “Muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người” – bài đọc hai. Mặc khải do Trời, lời tuyên xưng nhờ Trời, quyền bính quy về Trời. “Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang!” – Thánh Vịnh đáp ca. Con người cầm chìa khoá, nhưng chỉ Thiên Chúa mới hoàn tất công trình.

Chúng ta thường muốn đóng mở đời người khác trước khi hỏi ý Chúa. Nhiều tổn thương gia đình, cộng đoàn không bắt đầu từ ác ý, nhưng từ những người thiện chí đi trước Trời. Đức tin không chỉ hỏi, “Tôi có thể làm gì?”, nhưng còn hỏi, “Chúa đã đi trước tôi thế nào?”. “Để bản sắc Kitô hữu không bị thu hẹp thành một tàn tích của quá khứ, chúng ta phải vượt qua một đức tin mệt mỏi và trì trệ!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Trời không chỉ gửi xuống một mặc khải; Trời đến bằng một khuôn mặt. Phêrô được trao chìa khoá, nhưng Đức Kitô là Cửa; Phêrô được gọi là đá, nhưng Đức Kitô vẫn là đá góc tường. Ngài bước vào nơi không ai muốn bước – cô độc, khổ đau và sự chết – để mở lối không ai có thể mở. Vì thế, cả khi chúng ta vác thập giá, con đường trước mặt đã có dấu chân và dấu máu của Ngài. ‘Trời luôn đi trước’ để gánh lấy điều đang đợi chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết lắng nghe trước khi lên tiếng; tìm ý Chúa trước khi khoá một ai; và theo dấu chân Chúa trước khi dẫn người khác về với Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN, NĂM A

: https://bom.so/VQwNn8

Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 16,13-20

13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.


 

Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 Đầu của cô đã bị cạo trọc. Máy chém đang chờ sẵn. Rồi một người đàn ông xuất hiện và cứu mạng cô, bằng cách giao cho cô công việc đáng sợ nhất ở Paris.

Cô sẽ sống sót. Và cô sẽ xây dựng cả một đế chế từ chính điều đó.

Bạn biết tên cô. Madame Tussaud.

Cô sinh ra với tên Anna Maria Grosholtz vào năm 1761, tại thành phố Strasbourg của Pháp, chỉ hai tháng sau khi cha cô tử trận. Người mẹ góa bụa của cô nhận công việc quản gia tại Bern, Thụy Sĩ, trong ngôi nhà của một bác sĩ người Thụy Sĩ trầm lặng và lập dị tên Philippe Curtius, người có một niềm ám ảnh kỳ lạ và ngày càng lớn dần.

Ông tạc tượng bằng sáp.

Ban đầu, ông tạo hình giải phẫu cho sinh viên y khoa. Sau đó, ông bắt đầu tạo khuôn mặt của người chết. Và rồi, cả khuôn mặt của người sống. Ông làm chân dung bằng sáp của các công tước, nữ công tước, triết gia và những người cách mạng, những tác phẩm sống động đến mức đám đông tụ tập tại triển lãm ở Paris chỉ để đứng nhìn.

Curtius coi cô bé Marie như con gái và dạy cô mọi thứ ông biết.

Đến năm 16 tuổi, cô đã tạo tác phẩm đầu tiên, một tượng bán thân bằng sáp của Voltaire, nhà triết học nổi tiếng nhất châu Âu lúc bấy giờ.

Khi mới ngoài hai mươi, Marie Grosholtz đã tài năng đến mức em gái của vua Louis XVI, công chúa Élisabeth of France, đã mời cô đến Versailles làm giáo viên nghệ thuật riêng và người tâm sự. Marie sống nhiều năm trong cung điện hoàng gia Pháp, giữa lụa là, bạc vàng và những lời thì thầm về cách mạng.

Rồi năm 1789, thế giới mà cô biết bốc cháy.

Ngục Bastille sụp đổ. Nhà vua bị bắt. Đường phố Paris ngập tràn đám đông và máu. Và những người cách mạng, truy tìm bất cứ ai có liên hệ với hoàng gia, đã tìm đến cô.

Cô bị tống vào một nhà tù ở Paris.

Đầu cô bị cạo.

Cô chỉ còn vài ngày trước khi lên máy chém, số phận giống hàng ngàn người khác, thì Curtius bằng cách nào đó biết được việc cô bị bắt. Ông vội vàng đến gặp những người cách mạng. Ông cho họ xem các tác phẩm của cô, chân dung Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Benjamin Franklin, và cầu xin rằng cô là một nghệ sĩ của tự do, không phải người ủng hộ hoàng gia.

Điều đó đã có hiệu quả.

Marie được thả.

Nhưng chính quyền cách mạng đưa ra một điều kiện. Để chứng minh lòng trung thành, cô phải làm một công việc mà gần như không ai dám làm.

Cô sẽ tạo mặt nạ tử thần cho mọi nhân vật nổi tiếng bị xử bằng máy chém.

Cô bắt đầu với những người mà cô từng quen biết.

Cô làm mặt nạ tử thần của vua Louis XVI, người từng chào đón cô vào cung điện.

Cô làm mặt nạ của Marie Antoinette, người từng bước qua cô trong hành lang Versailles.

Cô làm mặt nạ của công chúa Élisabeth of France, người mà cô từng dạy dỗ và yêu quý.

Khi nhà báo cấp tiến Jean-Paul Marat bị Charlotte Corday đâm chết trong bồn tắm, Marie được gọi đến nhanh đến mức, như bà viết trong hồi ký, “cơ thể ông vẫn còn ấm”. Bà làm mặt nạ tử thần ngay tại đó, trong làn nước nhuốm máu.

Khi Maximilien Robespierre, kiến trúc sư của Thời kỳ Khủng bố, bị xử tử, bà cũng làm mặt nạ của ông. Khuôn mặt ông bị biến dạng vì đã tự bắn mình trước đó một ngày, và bà tái hiện đúng như những gì bà thấy.

Trong hồi ký, bà kể lại một điều gần như quá u tối để tưởng tượng. Sau các cuộc hành quyết, bà viết rằng mình ngồi “trên bậc thềm của triển lãm, với những chiếc đầu đẫm máu đặt trên đầu gối, lấy khuôn khuôn mặt của họ.”

Đó là công việc đáng sợ, nguy hiểm và gần gũi với cái chết đến mức không thể tưởng tượng. Và bà đã làm điều đó suốt nhiều năm, bởi vì lựa chọn còn lại là lưỡi dao.

Khi Curtius qua đời năm 1794, ông để lại cho bà toàn bộ bộ sưu tập sáp và hai bảo tàng. Marie trở thành người sở hữu duy nhất của một trong những ghi chép sống động nhất về Cách mạng Pháp, chính là khuôn mặt thật của những người đã tạo nên và chết trong cuộc cách mạng ấy.

Năm 1802, Marie rời Paris mãi mãi.

Bà đưa con trai nhỏ và các tượng sáp vượt qua eo biển Manche đến Anh và không bao giờ gặp lại chồng nữa. Trong suốt 33 năm, bà đi khắp vùng quê Anh bằng xe ngựa, từ thị trấn này sang thị trấn khác, tổ chức triển lãm trong những hội trường thuê đầy bụi, bán vé với giá một shilling. Những khán giả chưa từng đến Paris giờ có thể tận mắt nhìn thấy mặt nạ tử thần thật của Marie Antoinette, chỉ cách họ vài bước.

Năm 1835, ở tuổi 74, khi nhiều phụ nữ cùng thời đã nghỉ ngơi từ lâu, Marie Tussaud định cư tại London, trên phố Baker, và mở bảo tàng sáp cố định đầu tiên trên thế giới.

Bà là một người mẹ đơn thân đã sống sót qua cuộc cách mạng đẫm máu nhất thời hiện đại. Bà xây dựng đế chế của mình từ những cái đầu bị chặt và ý chí sinh tồn, một mình, tại một đất nước mà bà gần như không nói được ngôn ngữ.

Năm 1842, ở tuổi 81, bà tạo tác phẩm sáp cuối cùng, một bức chân dung tự họa. Một người phụ nữ lớn tuổi với ánh mắt sắc sảo, đội mũ trắng, bình thản nhìn những vị khách.

Bức tượng đó vẫn đứng ở lối vào bảo tàng Madame Tussauds tại London cho đến ngày nay.

Bà “nhìn” từng vị khách, trong suốt 183 năm.

Bà qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào ngày 16 tháng 4 năm 1850, ở tuổi 88.

Lần tới khi bạn chụp ảnh cùng một tượng sáp người nổi tiếng, hãy nhớ rằng cả một ngành công nghiệp bắt đầu từ một người phụ nữ trẻ đáng lẽ đã phải chết, ngồi trên bậc thềm ở Paris, với những chiếc đầu của các vị vua trên đầu gối, làm công việc duy nhất có thể giữ bà sống sót.

Có những con người được lịch sử tạo nên.

Còn Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử.


 

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

Xuyên Sơn

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC XUỐNG CẤP, VONG THÂN, KHÔNG CHÍNH DANH, KHÔNG TRUNG THỰC, THIẾU TRI THỨC VÀ KHÔNG CÓ TẦNG LỚP TRÍ THỨC

“Trí thức là cục phân” ( Trích thư Lê Nin gửi Goocky, Mao Trạch Đông nhắc lại câu này ).

Mao Trạch Đông nói : “Súng bầu (đẻ) ra chính quyền”.

Mao phản lại Marx : ” Chính trị là thống soái”

Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Mạnh Hảo từ rừng vào Sài Gòn và ở hẳn thành phố này cho đến nay. Cuối năm 1975, qua anh Trịnh Công Sơn, anh Nguyễn Mộng Giác, bạn Bửu Chỉ và một số bạn bè khác như

họa sĩ, nhà văn Khánh Trường, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, nhà văn Ngụy Ngữ, nhạc sĩ Trương Quốc Khánh… chúng tôi bắt đầu giao du với tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ ( mặc dù phần lớn tầng lớp ưu tú nhất này của Việt Nam cộng hòa đã di tản, đã vượt biên hoặc còn trong trại tù cải tạo).

Các bạn kể trên nhiều người đã qua đại học, có người mới đậu tú tài ngang tôi hết cấp 3 ngoài Bắc, mà sao các bạn giỏi thế, uyên bác thế, lại biết Pháp ngữ, Anh ngữ.

Tôi có dẫn vài ba bạn ngoài Bắc vào đã học ở Liên Xô, có học vị phó tiến sĩ hẳn hoi, đến giao du với các bạn đồng lứa Sài Gòn được nền giáo dục VNCH đào tạo, thì than ôi chúng tôi quả là mới i tờ rít…

Trong khi chế độ mới ( CS) luôn vỗ ngực khoe khoang chế độ ta ưu việt nhất từ chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục…

Trong lòng mình, tôi mặc cảm tự ti với các bạn Sài Gòn mà không dám nói ra vì xấu hổ.

Rằng thế hệ chúng tôi ngoài Bắc dốt hơn, được giáo dục sai lệch và sơ sài hơn các bạn được “chế độ Mỹ-ngụy” đào tạo….

Ai thắng ai không phải so về chém giết, súng đạn, mà phải so găng bằng tri thức, bằng học vấn…

May mà kho sách dịch Sài Gòn cũ đã dạy tôi thoát nạn mù tri thức,

cho tôi có đủ kiến thức có thể ngồi phản biện ngon ơ tất cả luận án tiến sĩ văn học, triết học, luật học, văn hóa học, sử học, mỹ học, ngôn ngữ học…

Nhắc lại điều này, lòng tôi cũng chẳng vui vẻ gì cho cam, nhưng trước sự thật, tôi không thể tảng lờ, câm miệng.

Nền giáo dục của Việt Nam cộng hòa trước 1975 nhân bản theo cách giáo dục của người Pháp, nên nó chính là nền giáo dục đúng nghĩa.

Còn nền giáo dục của “phe thắng trận” chúng ta là một nền giáo dục bị vong thân, nền giáo dục phục vụ chính trị, bị chính trị hóa.

Mà chính trị là gì, là thủ đoạn.

Còn GIÁO DỤC, VĂN HÓA VĂN NGHỆ… không lấy cái lợi, cái thủ đoạn làm mục đích, mà nó lấy CHÂN THIỆN MỸ LÀM MỤC ĐÍCH vậy.

Khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930 và Đảng Lao Động Việt Nam từ năm 1951 vẫn cứ là “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”

Chao ôi, từ cổ đại đến nay, có nhà nước nào, chế độ nào diệt trí thức hay không, hay chỉ có ĐẢNG TA mới dám làm như thế ?

Cho đến nay, chúng tôi chưa hề thấy ĐẢNG TA công khai thừa nhận

KHẨU HIỆU DIỆT TRÍ THỨC kia là ấu trĩ, là sai lầm tả khuynh, cứ “làm thinh Việt Minh đồng ý”.

Đã chủ trương diệt trí thức thì làm sao tạo ra xã hội có học vấn, có văn minh ?

Chẳng lẽ nền giáo dục của chúng ta chủ trương diệt trí thức chỉ tạo ra các thế hệ thiếu tri thức làm công cụ cho chính trị mà thôi hay sao?

Thời chúng tôi học cấp 3, có một thầy giáo dạy văn rất hay, lại đẹp trai, nho nhã có nhiều bạn nữ khá nhan sắc muốn chọn thầy làm chồng tương lai, mới điều tra lý lịch thầy, biết cha thầy là ông quan huyện, lại là trí thức học trường hậu bổ do Tây đào tạo, bèn giật thót người không dám tiến tới nữa; vì thầy là thành phần xấu, con ông quan huyện là xấu, bố lại là trí thức còn xấu nữa, than ôi !

Thời chúng tôi đi học, hầu hết bọn con địa chủ, con tư sản …đều học giỏi và đều không được đi đại học.

Con bần cố nông dù dốt đặc cán mai cũng được cử đi đại học bên Liên Xô, Đông Đức…

HỌC TÀI THI LÝ LỊCH là vậy đó..

Một chế độ diệt người giỏi từ trong trứng nước, ưu tiên người dốt,

DỐT NÁT MUÔN NĂM, HỒNG HƠN CHUYÊN MUÔN NĂM…

thì giáo dục ơi, ta chào mi, vì mi lấy cái dốt, cái ngu làm mục đích…

Sau năm 1954, trong khoa học xã hội nhân văn, các giáo sư giỏi nhất như Cao Xuân Huy, Trương Tửu – Nguyễn Bách Khoa, Trần Đức Thảo,

Đào Duy Anh…sau này là Cao Xuân Hạo…đều bị cấm lên bục giảng đại học, cho đi chăn bò hay ngồi dịch sách.

Từ đó, người giỏi bị loại ra ngoài cơ chế xã hội, tôn trọng người dốt nát ngu đần thì giáo dục ơi mi còn sinh ra làm gì nữa.

Do vậy, mấy chục năm qua hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì, hầu hết học hàm PGS, GS là học hàm phong bì…

Một xã hội mua bằng cấp, mua học vị học hàm, mua quan bán chức công khai như ngày nay, thì giáo dục ơi, coi như em đã chết, sự thật đã chết, chân lý đã chết…

Do nền giáo dục lấy bần cố nông làm gốc lâu dài quá nên dân tộc Việt Nam hôm nay hầu như không còn đời sống tinh thần mang tính chân thiện mỹ nữa, tất cả phải nói dối lẫn nhau để tồn tại…

Than ôi, họa mất nước ở đây chứ đâu.,.

Sài Gòn ngày 19-8-2021

T.M.H.

Nguồn fb Trần Mạnh Hảo


 

THƯƠNG YÊU LÀ TRUNG THÀNH- Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Tình yêu vô hình, không nhìn thấy.  Nhưng tình yêu lại hiện hữu trong những gì hữu hình.  Gạt bỏ những gì hữu hình thì tình yêu cũng không còn chỗ đứng.  Tôi không thể yêu bông hoa nếu không có bông hoa.  Nhớ người nào là đã gặp người đó.  Thương là thương ai.  Vì thế, tình yêu là tổng hợp của cả tinh thần và thể xác.

 Yêu bằng ý nghĩ mà thôi là tình yêu không có thật.  Không ai có thể chỉ yêu bằng tư tưởng và cũng không ai cần tình yêu chỉ bằng câu ca dao.  Chúa Kitô cũng chối từ thứ tình yêu ấy: “Ðừng yêu Ta bằng lời” (Mt 7,21).  Ðã yêu là có rung động của con tim, có bâng khuâng của toàn vẹn con người, có tình cảm cao thượng của hy sinh.  Ðấy là tình yêu một lần Chúa đã nói: “Ta sẵn lòng chết vì chiên của Ta” (Gn 10,12).  Có thổn thức của xác thân dạt dào, Chúa cũng cảm thấy tâm hồn chất ngất buồn thương (Mt 26,38).  Và, trong cái rung động của toàn vẹn con người ấy cũng có thao thức đòi đáp trả: “Con có yêu Ta không?”  Chúa đã không hỏi Phêrô một nhưng đến ba lần (Gn 21,15-17).  Tất cả xúc cảm đó làm nên cung điệu yêu đương của đời người.

 Bông hoa đang khoe sắc ngoài kia nên tôi mới yêu được.  Như thế, làm sao tôi có thể chỉ yêu tinh thần của bông hoa mà lại không có xác thân?  Có con tim nên tôi mới biết thương mến.  Bởi đó, làm sao tôi có thể chỉ yêu bằng tinh thần thôi mà lại không có rung cảm của môi, mắt?  Yêu là có cả hai; linh hồn và thân xác.  Chỉ yêu bằng thân xác là tình yêu tật nguyền.  Chỉ yêu bằng tinh thần là tình yêu đánh lừa.  Cái dạt dào của thân xác là một yếu tố sáng tạo.  Sáng tạo ấy đưa đến nhiều chân trời tươi đẹp.  Khả năng rạo rực của con tim là ngôn ngữ của yêu thương.  Ánh nhìn.  Một khuôn mặt xinh.  Ngôn ngữ của thân xác là ngôn ngữ tuyệt vời của tình yêu, nó là dòng suối tươi mát cho cánh đồng.  Gạt bỏ dòng suối đó cỏ cây sẽ héo úa.

 Thân xác là ngôn ngữ của tình yêu nhưng không là tất cả tình yêu.

 Nó chỉ là một nốt nhạc mà thôi.  Nếu chỉ dùng một ngôn ngữ đó cho một hòa âm thì cung đàn không còn là cung điệu hòa hợp nữa, nó chỉ là tiếng re ré của một đơn điệu nhạt thếch.  Dòng suối phải được chảy theo nhánh nhỏ tưới cho cánh đồng.  Nếu suối tụ lại thì tình yêu sẽ chết vì dòng suối thay vì tưới mát sẽ làm lụt lội dâng đầy bùn phù sa.

 Không có gì buồn tẻ bằng bức họa chỉ có một mầu.  Ðấy không phải là tác phẩm nghệ thuật và tác giả không là nghệ sĩ.

 Thân xác là ngôn ngữ diễn tả và tiếp nhận tình yêu.  Nhưng một đốm lửa thì là ánh đèn cần thiết cho đêm đen, nếu cả đêm đen là lửa thì đấy không còn là đèn nữa mà là hỏa ngục bừng bừng.  Những ánh mắt, mùi thơm của hương tóc cũng vậy.

 Qua đối tượng hữu hình, tình yêu như cánh vườn mở ngõ, mời vào.  Tuy nhiên, lý trí thẩm định, hướng dẫn và ban tặng cho tình yêu giá trị.  Trí tuệ con người có lúc bừng sáng, trong như hạt nước mưa, nhưng cũng không vắng những ngày đục mù sương.  Rung cảm của thân xác có những lúc rì rào như lúa chiều gợn sóng, ên đềm.  Có ngày nức nở níu kéo, ì ầm sóng vỗ.  Vì tội lỗi nên bản đàn đã lệch cung, sai giọng.  Ði tìm một trật tự để nối chắp lại, gạn lọc, để so cho bằng, để giữ đúng nhịp là một vất vả gian truân.  Dù cố gắng đến đâu người nghệ sĩ cũng có lúc vẩy sai nét mực, tô đậm một mầu.

 Trung thành là mọi người phải đi con đường của mình.  Khi nói mọi người phải đi con đường của mình, không có nghĩa là họ không nhìn thấy những lối rẽ ngang.  Kẻ cho thập giá như lời mời gọi, chẳng có nghĩa là họ không nghe thấy tiếng gọi của một giọng nói dịu dàng bên nương dâu, bờ trúc.  Kẻ nhìn thập giá như trời cao để bước tới không có nghĩa là họ không thấy bờ tóc bay như một ngôn ngữ rất nôn nao.  Trong hôn nhân có ai tuyệt đối thương yêu bạn đời của mình đến nỗi không bao giờ có một ngăn nhỏ nghĩ đến những bóng hình lãng mạn khác?

 Lối rẽ bên đường đi có làm tôi âu lo.  Ðôi lúc tình cảm dịu dàng có làm tôi bâng khuâng.  Nhưng không vì thế mà lý tưởng của tôi hao mòn.  Lối rẽ bên đường, tình cảm dịu dàng ấy làm tăng khả năng tự do lựa chọn của người trong cuộc.  Nếu không có những ngã rẽ, những ánh nhìn khác thì tình yêu trong hôn nhân cũng như lý tưởng của người tu sĩ không còn cố gắng nữa, vì còn gì lựa chọn nữa để mà tiếp tục chọn lựa.  Có những ngã rẽ nên tôi phải dừng lại hỏi lòng mình, tôi phải cố gắng giữ gìn con đường của tôi, tôi phải phấn đấu trung thành.  Lúc hỏi lại lòng, lúc phấn đấu là lúc tình yêu dành cho người yêu, dành cho lý tưởng sâu đậm hơn.

 Người bạn đời trong hôn nhân là những con đường của nhau đi.  Nếu người bạn đời hoàn hảo thì con đường hoàn hảo.  Chẳng ai muốn rẽ sang một lối mòn nếu con đường đang đi đẹp ngát hương về lối mộng.  Nhưng vì tội lỗi nên người yêu không hoàn hảo, rồi, do vậy, đường đi của họ có gai.  Ðây là lý do không trung thành.  Nếu người tu sĩ bước trên đường lý tưởng toàn những ngọt ngào thì làm gì có lỗi lời thề.  Nhưng thập giá là lý tưởng chỉ đủ hé ánh sáng cho họ bước và giữ lại bóng tối để họ phải tin.  Trầm luân và vinh quang của họ nằm ở đó.

 Người yêu tôi không hoàn hảo nên đường tôi đi gập ghềnh.  Có thể vì đường đi gập ghềnh, không toại nguyện, tôi cắt bỏ lời cam kết để đi tìm một con đường hạnh phúc khác hoàn hảo hơn?  Nếu tôi hủy bỏ lời thủy chung để tìm một người có khả năng làm tôi thỏa mãn thì tôi trả lời làm sao cho vấn nạn: Tôi không hoàn hảo.  Chính tôi cũng không là con đường thẳng cho tôi đi.  Tôi không thỏa mãn được tôi.  Tôi muốn giàu mà thực tại tôi cứ nghèo.  Tôi muốn có nhan sắc mà thực tại tôi cứ tầm thường.  Tôi muốn người khác phải để ý đến tôi mà thực tại tôi cứ khổ sở vì thương nhớ người ta.  Khi chính tôi không thỏa mãn tôi được thì tôi có thể từ giã mình để đi tìm cái tôi khác được không?  Tôi có thể xây dựng cho đời tôi thêm phong phú chứ không chối từ được chính mình.

 Không chối từ được chính mình thì làm sao có thể biện minh vì bất toàn của người bạn đời mà đi tìm người yêu mới?  Mỗi người có một khả năng khác biệt, khi nào thì tôi có thể đi tìm được có tất cả khả năng để thỏa mãn tôi hoàn toàn?

 Kiếm tìm là tự thú rõ ràng tôi là người thiếu thốn, vì nếu hoàn hảo thì làm gì phải cậy nhờ đến ai.  Mà tôi có khuyết điểm thì tôi cũng chẳng thể đem hạnh phúc vô bờ cho người tôi đang sống.  Tôi cũng là nguyên nhân khổ đau, là gai nhọn trên đường đi của người yêu tôi.

 Hạnh phúc hệ tại luôn luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người?

 Cuộc sống chỉ là tương đối.  Tôi không thể làm người bạn đời trọn vẹn hạnh phúc.  Người bạn đời cũng chẳng thể cho tôi mọi ước mơ.  Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lỗi lầm, cả hai không là thiên thần mà là người.  Là người nên tôi không thể làm thỏa mãn người được.  Không làm thỏa mãn người được cũng có nghĩa là người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.  Như thế, hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của con họa mi.  Cùng chịu gió lạnh của mưa.  Chịu khổ của bão.  Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ.  Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.

 Cái chua của chanh, cái ngọt của đường làm nên ly nước mát chứ không riêng có đường, không hẳn chỉ là chanh.

** *

Chúa biết rằng cứ để con trong thế gian thì tốt cho con hơn là đem con khỏi thế gian.  Chúa chỉ xin Chúa Cha đừng để con thuộc về thế gian mà thôi.

 Lạy Chúa, nếu vậy, con không xin Chúa cắt mọi ngã rẽ trên đường con đi.  Vì như thế, con đường của con sẽ nhạt nhẽo.  Con cũng không xin cho con trở thành vô cảm trước những vẻ đẹp mà Chúa đã tạo dựng.  Con chỉ xin ơn can đảm để ngắm bông hoa trên đồi nhưng thương bông hoa trong vườn.  Con không sợ hãi những giọt chanh chua vì con biết Chúa cũng cho con những muỗng đường.  Con chỉ xin được khôn ngoan để biết hòa hợp sao cho đúng hương vị ly nước mát mà Chúa đã ban tặng con trong trưa hè oi nóng.

** *

Phêrô ra sức rủa mình mà thề: “Tôi không hề biết người các ông nói đó là ai” (Mc 14,71).  Như thế, tình yêu của Phêrô là tình phản bội.

 Chúa quay lại nhìn Phêrô, và Phêrô nhớ lại lời Chúa khi Ngài bảo ông: “Hôm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.  Và ra ngoài, ông khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61-62).  Như thế, lỗi lời thề lại trở nên yêu thương sâu đậm.  Lỗi lời thề lại trở nên trung thành, gắn bó thiết tha.

** *

Trung thành là cố gắng gìn giữ mối giây liên hệ, là không cắt đứt.  Nhưng nếu làm đứt mà tha thiết nối chắp lại thì đấy mới càng chứng tỏ ý nghĩa sâu xa của trung thành.  Nếu không gặp thử thách thì sao quả quyết được là không bao giờ vấp ngã?  Nếu tôi không dám chắc tôi không bao giờ vấp ngã thì tôi làm gì có quyền bắt kẻ khác hoàn hảo?

 Trung thành không hẳn chỉ có nghĩa là không bao giờ lỗi phạm, mà là từ lỗi phạm, tôi trở về với người tôi yêu, với kẻ yêu tôi.

** *

Có hai thứ trung thành.  Trung thành bằng tình yêu và trung thành bằng sợ hãi.  Trung thành trong hôn nhân, trung thành của đời tu cũng vậy.

 Sợ hãi cũng có trung thành, nhưng trong trung thành có mầm phản loạn, vì trung thành của sợ hãi là nô lệ.  Kẻ đòi buộc trung thành bằng sự sợ hãi thì trả thù kẻ bội phản.  Người lấy tình yêu làm sợi giây trung thành thì tha thứ cho kẻ phản bội.  Chúa Kitô đã chọn con đường thứ hai.

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

(Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc)

 From: Langthangchieutim


 

Bí quyết để yêu cùng một người phụ nữ suốt cả cuộc đời là gì?

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG.

Tôi từng hỏi ông nội tôi, người đã kết hôn hơn 60 năm:

“Bí quyết để yêu cùng một người phụ nữ suốt cả cuộc đời là gì?”

Tôi nghĩ ông sẽ nói điều gì đó như giao tiếp, tin tưởng, hay tha thứ.

Thay vào đó, ông nhìn sang bà nội tôi và nói:

“Con không thể yêu cùng một người phụ nữ suốt cả cuộc đời.”

Câu trả lời đó khiến tôi bất ngờ.

Rồi ông tiếp tục:

“Cô ấy thay đổi sau mỗi vài năm. Và nếu con không học cách yêu người mà cô ấy đang trở thành, cuối cùng con sẽ mất cô ấy.”

“Người phụ nữ tôi cưới khi còn trẻ không hoàn toàn giống người phụ nữ tôi trở thành khi ba mươi tuổi. Làm mẹ đã thay đổi cô ấy. Những khó khăn trong cuộc sống đã thay đổi cô ấy. Cuộc sống đã thay đổi cô ấy. Thời gian đã thay đổi cô ấy.”

Ông dừng lại một lát.

“Ở tuổi bốn mươi, cô ấy cần sự tôn trọng hơn là những cử chỉ lãng mạn lớn lao. Ở tuổi năm mươi, cô ấy cần sự hỗ trợ hơn là đam mê. Ở tuổi sáu mươi, cô ấy cần sự hiện diện của tôi hơn là những lời hứa.”

Rồi ông nói một điều khiến tôi nhớ mãi:

“Mỗi lần cô ấy thay đổi, tôi lại phải chọn cô ấy một lần nữa.”

Con có thể phàn nàn rằng cô ấy không còn là người phụ nữ trẻ trung mà con đã yêu cách đây hàng chục năm.

Hoặc con có thể yêu người phụ nữ mà cô ấy đang trở thành.

Và đó, ông nói với tôi, là điều mà nhiều cặp đôi mắc sai lầm.

“Mọi người mắc sai lầm khi tin rằng tình yêu phải mãi mãi không thay đổi. Họ yêu nhau một lần và rồi cho rằng mối quan hệ bằng cách nào đó sẽ tự lo liệu.”

Nhưng tình yêu trọn đời không phải là việc giữ nguyên hai người ở độ tuổi họ gặp nhau lần đầu. Con người thay đổi. Cơ thể họ thay đổi. Ưu tiên của họ thay đổi. Sự nghiệp, con cái, nỗi đau buồn, thành công, thất vọng, bệnh tật, tuổi già và cuộc sống thường nhật định hình họ theo những cách mà cả hai người đều không thể lường trước được lúc ban đầu.

Người bên cạnh bạn ở tuổi 50 có thể cần từ bạn những điều hoàn toàn khác so với những gì họ cần ở tuổi 25.

Điều đó không nhất thiết có nghĩa là tình yêu đang biến mất.

Đôi khi, điều đó có nghĩa là tình yêu cũng phải trưởng thành.

Ông tôi nhìn bà tôi lần nữa và nói:

“Nếu muốn yêu ai đó suốt đời, hãy luôn tò mò về họ.”

Hãy tiếp tục tìm hiểu về họ.

Hãy tiếp tục hỏi điều gì quan trọng với họ bây giờ—chứ không phải điều gì quan trọng với họ hai mươi năm trước.

Hãy tiếp tục để ý những thay đổi nhỏ.

Hãy tiếp tục lắng nghe.

Hãy tiếp tục tìm kiếm những lý do mới để ngưỡng mộ họ.

Và trên hết, hãy tiếp tục lựa chọn họ—không chỉ vì con người họ khi bạn yêu lần đầu, mà còn vì con người họ đang trở thành.

Bởi vì một mối quan hệ bền vững không được xây dựng trên tình yêu chỉ một lần.

Nó được xây dựng trên việc yêu từng phiên bản mới của người bên cạnh bạn, hết lần này đến lần khác.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle.


 

Mừng Kính Thánh Pi-ô X, giáo hoàng (1835-1914) – Cha Vương

Một tuần mới, một ngày mới, một giây phút mới… một cơ hội để sống yêu thương hơn… Hôm nay Giáo Hội mừng Kính Thánh Pi-ô X, giáo hoàng (1835-1914). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới nữa nhé

Cha Vương

Thứ 6: 21/08/2026.     (t2-23)

Thánh nhân sinh năm 1835 tại Ri-ê-sê, nước Ý. Sau khi làm linh mục, người dấn thân thi hành việc mục vụ. Người làm giám mục Man-tô-va, rồi làm thượng phụ giáo chủ Vê-nê-xi-a và cuối cùng, năm 1903, được chọn làm giáo hoàng. Người chu toàn bổn phận của mình theo khẩu hiệu người đã chọn: “Canh tân mọi sự trong Chúa Ki-tô” với lòng đơn sơ, đời sống thanh bần và can đảm. Cùng với những đức tính ấy, người đã giúp các tín hữu sống đạo nhiệt thành và đối phó với những sai lầm đang lan tràn trong Hội Thánh. Khi Đại Thế Chiến thứ nhất bùng nổ, thánh giáo hoàng Piô X đã phải đau khổ nhiều. Ngài biết nhiều người sẽ bị giết chết. Thánh Piô X nói: “Cha sẽ vui mừng dâng hiến mạng sống cha để cứu những em nhỏ đáng thương khỏi nỗi đau kinh khủng này!” Về cuối đời, thánh nhân cũng nói: “Cha đã sống nghèo, và cha ao ước cũng được chết nghèo!” Piô X chẳng bao giờ giữ lại cho mình bất cứ của gì cho tới ngày về gặp Thiên Chúa. Người qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1914.

Ngài là vị giáo hoàng của bí tích Thánh Thể, đã khuyến khích mọi người hãy rước Chúa Giêsu Thánh Thể cách thường xuyên. Ngài cũng hạ thấp mức tuổi cho trẻ em để chúng được phép rước Chúa Giêsu vào lòng sớm hơn.

Truyền thuyết ghi rằng ngài có một cuộc sống tình nghĩa rất nặng với gia đình nhất là với mẹ của ngài. Đức Giáo Hoàng Piô X khi còn là cậu bé ở làng Riese mỗi ngày phải đi bộ 7 cây số để đến trường, sáng đi 7 chiều về 7. Bà mẹ, bà Magarita dù nghèo song cũng ráng mua cho con một đôi giày cho con đỡ đau chân. Đứa con tốt lành này cũng rất thương cha mẹ cho nên sáng ra khỏi nhà thì mang giày vào chân kẻo mẹ rày, sau khi xa nhà thì cởi giấy quảy trên vai cho tới khi tới trường mới mang vào để chúng bạn khỏi cười chê. Ra khỏi trường lại cởi ra, về gần tới mới xỏ vào sợ mẹ buồn. Cậu bé Sartô làm như thế vì sợ mòn đôi giày và tốn kém cho cha mẹ.

Khi được được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Mantua, một hôm, ngài về thăm mẹ. Mẹ con ngồi nói chuyện khá lâu, ngài tếu táo khoe với mẹ chiếc nhẫn Giám mục của mình: “Mẹ xem này, chiếc nhẫn Giám mục mới của con đây”. Mẹ ngài mỉm cười chìa bàn tay thô cộc cho thấy chiếc nhẫn cưới bình dị của mình và nói: “Không có chiếc nhẫn cưới nghèo nàn này của mẹ đây thì chẳng có chiếc nhẫn ấy đâu.”

Noi gương thánh nhân mời bạn hôm nay hãy làm mọi công việc của mình một cách vui vẻ trong Chúa Ki-tô nhé.

Thánh Pi-ô X, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Sống Trong Niềm Vui | Hà Thanh Xuân | OFFICIAL