Nguyen Van Agostino is with Can Le
PHÉP LẠ CỦA NIỀM HY VỌNG
Mời bạn đọc tiếp câu chuyện của Đức cha Phanxico Xavie:

XXVI. Người có nụ cười hiền từ
“Đừng sợ, vì Ta đã cứu chuộc ngươi, Ta đã gọi ngươi bằng tên, ngươi là của Ta.”
(Is 43,1)
“Nếu ngươi làm nên những công trình vĩ đại, nhưng không vâng phục, ngươi sẽ không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa. Đối với Ngài, điều có giá trị chỉ là trái tim của ngươi: Ngài không cần đến công việc của ngươi. Ngài đã tạo dựng cả vũ trụ mà không cần sự trợ giúp của ngươi.”
(Ph. X. Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy vọng)
Đức cha Thuận sống trong một căn phòng nhỏ tại Foyer Phát Diệm (tên một giáo phận ở miền Bắc Việt Nam), ở số 45 đường Pineta Sacchetti, và tiếp tục đời sống tại Rôma như thể chưa bao giờ rời đi.
Khi đi dạo trên các con phố Rôma, ngài không còn ngoái lại phía sau để kiểm tra xem có ai theo dõi mình, như đã từng làm ở Hà Nội. Ngài thuộc về một thiểu số rất nhỏ những người, giống như ngài, đã trải qua nhiều năm tù đày và cảm nhận sâu sắc niềm vui của tự do đích thực, trong khi phần còn lại của dân chúng coi tự do là điều hiển nhiên.
Trong hai năm đầu lưu đày, đức cha Thuận tập trung vào việc chăm sóc mục vụ cho người Việt Nam rải rác khắp thế giới, và đôi khi, theo sự ủy nhiệm của Quốc vụ khanh Tòa Thánh và Bộ Truyền giáo, ngài đi đến các giáo phận và chủng viện ở châu Phi và châu Á như một vị khách thăm viếng tông tòa.
Thân sinh của ngài, ông Nguyễn Văn Ấm, qua đời vào tháng 6 năm 1993. Người con là tổng giám mục đã lập tức lên chuyến bay đầu tiên đến Sydney, nơi ngài gặp các em Hàm Tiếu, Ánh Tuyết, Thuỷ Tiên, Thu Hồng và người em trai tên Tuyên đang quây quần bên mẹ. Một lần nữa, bà Hiệp tỏ ra vô cùng can đảm. Trong thánh lễ an táng do ngài cùng hai giám mục khác đồng tế, bà đã đọc vài lời mà không rơi một giọt nước mắt. Theo truyền thống Á Đông, sau thánh lễ, đức cha Thuận phủ phục ba lần trước quan tài cha, cảm tạ ông vì đã ban cho mình sự sống và đã dẫn dắt bằng bàn tay mạnh mẽ.
Sau tang lễ, ngài ngồi hàng giờ hồi tưởng về cuộc đời hy sinh của cha và sự tha thứ chân thành của ông dành cho tất cả những ai đã cố tình làm hại ngài và gia đình. Việc gia đình bà Hiệp vươn lên danh vọng và quyền lực đã khiến ông Ấm sống trong cái bóng của vợ, nhưng điều đó không làm ông phiền lòng. Ông và bà Hiệp đã yêu thương nhau tha thiết. Khi bi kịch giáng xuống gia đình vợ, ông Ấm luôn ở bên cạnh để giúp bà gom góp những mảnh vỡ và xây dựng lại cuộc sống. Ông chưa bao giờ than phiền.
Đức cha Thuận nhớ lại sự lý lẽ chặt chẽ của người cha khi ông hoặc các em tìm cách biện hộ cho lỗi lầm của mình. Ông Ấm hiếm khi to tiếng, nhưng những lời quở trách của ông thì khó quên. Khi cha còn sống, đức cha Thuận chưa bao giờ nói với ông rằng con yêu cha. Ngài luôn mong muốn làm điều đó, nhưng phong tục Á Đông và sự rụt rè của bản thân đã khiến điều ấy không thể thực hiện. Giờ đây, ngài có thể cuối cùng thốt lên: “Hãy nghỉ yên trong vòng tay Thiên Chúa, nghỉ yên, cha ơi, con yêu cha.”
Sau tang lễ, đức cha Thuận ở lại Úc một thời gian. Một ngày nọ, khi đang ngồi viết bên bàn, cô Hàm Tiếu bất ngờ đề nghị: “Anh không nghĩ rằng mẹ có thể đi du lịch một chút bây giờ sao? Mẹ sẽ rất thích được thăm châu Âu và Bắc Mỹ.”
Đức cha Thuận buông cây bút xuống, quay lại và hỏi: “Em nghĩ mẹ thật sự có thể làm được sao? Mẹ đã 90 tuổi rồi, em quên sao?”
Nhưng cô Hàm Tiếu đã thuyết phục anh mình nói chuyện với mẹ về đề nghị ấy. Khi ngài hỏi, bà Hiệp đáp: “Còn quá sớm để nói về những chuyện này. Nhưng trong tương lai, mẹ muốn thăm Rôma và Lộ Đức, và mẹ muốn gặp các cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ để cảm ơn họ vì sự nâng đỡ.” Đức cha Thuận thử thách bà bằng câu hỏi: “Nâng đỡ nào cơ?”
Mẹ nhìn ngài và mỉm cười, bởi bà biết rằng ngài cũng đã tha thứ cho tất cả những người từng làm hại ông và gia đình: “Nhiều người đã chứng tỏ lòng trung thành với cậu Diệm của con – bà nhấn mạnh – và nhiều người khác thì tự hào về con.”
Ngài gật đầu. Làm sao mình có thể không biết ơn các cộng đồng người Việt, nơi ít nhất một số người đã trung thành với cậu Diệm cho đến cùng và đã bày tỏ tình bạn cũng như sự nâng đỡ dành cho ngài và gia đình? Ngài nhìn những chồng bưu thiếp, thư từ và các thông điệp email in ra đang nằm trên bàn, tất cả đều bày tỏ lời chia buồn về cái chết của người cha.
Đức cha Thuận đã cố gắng gửi thiệp cảm ơn đến tất cả những ai đã nghĩ đến ngài và gia đình trong suốt những năm qua. Ngài tự hỏi:
“Chừng đó chưa đủ để biện minh cho sự tha thứ của chúng ta đối với tất cả những xúc phạm trong quá khứ sao?” Và ngài cảm thấy bình an với chính mình hơn bao giờ hết.
Sau khi trở lại Rôma, một căn phòng nhỏ không còn đủ để chứa các ấn phẩm của ngài trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, nên ngài được cấp thêm hai phòng nữa. Ngài dành nhiều giờ làm việc với các dịch giả và nhà xuất bản cho sách của mình. Đường Hy vọng đã được xuất bản bằng hơn mười hai ngôn ngữ, và các tập sách khác cũng đều thành công rực rỡ.
Nhưng đức cha Thuận không dành toàn bộ thời gian cho việc viết. Ngài bắt đầu thăm viếng các cộng đồng người Việt ở nhiều quốc gia. Giới trẻ trong các cộng đồng ấy tìm đến ngài để xin lời khuyên và sự hướng dẫn. Họ muốn ngài nói chuyện trong các kỳ tĩnh tâm và hội họp của họ. Những cuộc tập hợp lớn của người Công giáo Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đều phải có ngài làm diễn giả chính, nếu không thì sẽ không được coi là thành công.
Chẳng bao lâu sau, khi ngày càng nhiều người đọc sách của ngài, cả các cộng đồng Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha cũng mời ngài đến nói chuyện trong các kỳ tĩnh tâm và đại hội của họ. Ngài đi đến nhiều nước để nói chuyện với các linh mục, tu sĩ và giáo dân, những người trân trọng quan điểm của ông về cuộc sống và đức tin. Họ kính trọng lời ngài nói như kết quả của một kinh nghiệm phong phú, và bởi vì ngài nói như một chứng nhân của niềm hy vọng. Kinh nghiệm cá nhân đã trao cho ngài thẩm quyền trong lời nói, và ngài thu hút những đám đông ngày càng đông đảo. Giới trẻ chen chúc trong các buổi gặp gỡ mỗi khi ngài nói chuyện.
Đức cha Thuận nhận thấy điều thiện có thể phát sinh từ những câu chuyện về cuộc khổ nạn dài của mình. Nhưng ngài tránh nói quá công khai, hoặc quá dài, về cách đối xử mà mình đã nhận từ những kẻ hành hạ và cai ngục. Ngài vẫn nuôi hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ được phép trở lại làm việc tại Việt Nam, và ngài không muốn làm nguy hiểm đến khả năng ấy bởi những gì mình nói ra.
Thật không may, khả năng trở về quê hương của đức cha Thuận ngày càng trở nên mong manh theo thời gian. Sau khi những nỗ lực lặp đi lặp lại của Tòa Thánh nhằm thương lượng với Hà Nội để cho phép ngài trở lại Việt Nam đều thất bại, vào tháng 4 năm 1994, Đức Gioan Phaolô II quyết định bổ nhiệm ngài làm Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình.
Hội đồng này được thành lập như một Ủy ban bởi Đức Phaolô VI vào ngày 6 tháng 1 năm 1967 với sắc lệnh Catholicam Christi Ecclesiam. Ban đầu, đây là một tổ chức thử nghiệm (ad experimentum), sau đó được tái cấu trúc và trở thành thường trực với sắc lệnh Justitiam et pacem ngày 10 tháng 12 năm 1976. Đức Gioan Phaolô II đã biến Ủy ban thành Hội đồng. Mục đích của Hội đồng là làm phong phú và phổ biến học thuyết xã hội của Giáo hội, đặc biệt liên quan đến công việc của con người. Hội đồng cũng hoạt động về các vấn đề công lý và hòa bình, sự tiến bộ của các quốc gia, những vi phạm nhân quyền và thúc đẩy các quyền này, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo.
Chương trình của Hội đồng có thể được xem như một bản tóm lược những khát vọng và nỗ lực trước đây của đức cha Thuận. Ngài cảm thấy tràn ngập bởi một làn sóng khiêm nhường khi biết rằng mình sẽ phục vụ trong một cơ quan của Giáo hoàng. Ngài đã trở thành một thành phần quan trọng của Giáo triều Rôma.
Năm 1994, đức cha Thuận bay sang Paris để đón mẹ đến Pháp và đưa bà đi Lộ Đức. Bà Hiệp đi cùng con gái Hàm Tiếu và cháu gái Tania, 14 tuổi.
Tại thủ đô nước Pháp, ngài cử hành Thánh lễ tại trụ sở Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris cùng với cha Etcharrel, bề trên của cộng đoàn. Sau đó, họ đến xem các hiện vật trưng bày trong phòng các vị tử đạo, nơi mọi người cúi đầu cầu nguyện cho sự trở lại của lòng khoan dung tôn giáo tại Việt Nam.
Bà Hiệp nóng lòng muốn đến Lộ Đức. Bà nói rằng bà muốn cảm tạ Đức Mẹ Vô Nhiễm vì tất cả những phúc lành mà gia đình đã nhận được, đặc biệt là nơi đức cha Thuận. Những lời này khiến người con hiểu rằng, trong khi ngài thường nghĩ đến những bi kịch lớn mà gia đình đã phải chịu đựng, thì mẹ ngài chỉ nhớ đến những phúc lành – và điều đó khiến ngài cảm thấy hổ thẹn.
Được hai người con, cháu gái và cha Văn – một linh mục Việt Nam – tháp tùng, bà Hiệp đi tàu đến Lộ Đức và ngắm nhìn phong cảnh dọc đường đi.
Sức chịu đựng thể chất của mẹ khiến đức cha Thuận ngạc nhiên. Bà đã 91 tuổi, nhưng vẫn quỳ gối hàng giờ trước hang đá Lộ Đức. Đức cha Thuận quỳ bên cạnh mẹ, nghĩ rằng với bao khoảnh khắc tuyệt vời trong đời, ngài phải tạ ơn cả người mẹ trần thế đang quỳ bên cạnh, lẫn Mẹ Thiên quốc mà cả hai đang hướng lời cầu nguyện.
Tại Lộ Đức, đức cha Thuận lại xúc động bởi ký ức về lần “gặp gỡ” đầu tiên với Đức Mẹ Vô Nhiễm. Ngài vẫn cảm thấy một niềm xúc động mạnh mẽ khi đọc lại dòng chữ đặt đúng nơi Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadette: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Ngài tự hỏi: “Có nhiều mầu nhiệm nào lớn hơn thế này không? Ngay trong giây phút được thụ thai, Maria đã bước vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.” Ngài lại nhớ đến lời Đức Mẹ nói với thánh Bernadette: “Ta không hứa sẽ làm cho con hạnh phúc ở thế gian này, nhưng ở thế giới khác.” Ngài nghĩ, không chút cay đắng: “Vâng, Mẹ, Mẹ đã giữ lời hứa.”
Ngài chỉ tự hỏi liệu mình có trung thành với lời hứa ấy như Bernadette hay không. Cô bé đã trở lại với Đức Bà bất kể người ta đối xử với cô thế nào. Đe dọa, nhục nhã và tù đày: cô đã chịu đựng tất cả những điều bất công ấy mà không hề than phiền. Khát vọng cháy bỏng của cô chỉ là được gặp Đức Mẹ Vô Nhiễm vào những ngày và giờ đã định.
“Cô ấy chỉ là một đứa trẻ – đức cha Thuận nghĩ với sự khâm phục – khi phải chịu đựng những điều ấy, trong khi tôi đã trải qua chúng khi đã là người trưởng thành.”
Bà Hiệp cùng hai người con và cháu gái Tania đến Rôma, và đức cha Thuận hạnh phúc khi thấy mẹ cảm nhận niềm vui trong việc thăm viếng Thành phố Vĩnh cửu. Bà Hiệp và cô Hàm Tiếu, được đức cha Thuận tháp tùng, đã được Đức Gioan Phaolô II tiếp kiến tại Castel Gandolfo, và khi Đức Giáo hoàng ban phép lành cho mẹ, người con đã thấy những giọt lệ trong mắt bà. Đức cha Thuận sống những ngày ấy trong trạng thái ngỡ ngàng. Ngài biết ơn vì mẹ cuối cùng đã chấp nhận một điều gì đó từ ngài để đổi lại tất cả những gì bà đã làm. Ngài thấy bà hạnh phúc khi được ở Rôma, chỉ đơn giản vì ngài đang ở bên cạnh bà.
Kết thúc chuyến thăm kéo dài một tháng của bà Hiệp, ngài buồn bã khi phải nói lời tạm biệt mẹ. Trước khi chia tay, bà Hiệp nhìn ngài một lúc rồi nói: “Rõ ràng là Thiên Chúa muốn con ở đây chứ không phải ở Việt Nam. Chính tại đây con sẽ sống và thực hiện các công việc của Ngài. Mẹ sẽ luôn ở cùng con.”
Do đó, ngày 24 tháng 11 năm 1994, đức cha Thuận đã xin từ chức khỏi chức vụ tổng giám mục phó của Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là một khoảnh khắc quyết định đối với ngài: Ngài sẽ ở lại Rôma để phục vụ trong Giáo triều suốt phần đời còn lại.
Tuy nhiên, đôi khi, liên quan đến kế hoạch của Thiên ý, ngài tự hỏi: “Sau bao thử thách gian nan, giờ đây con ở Rôma, nhưng vì sao? Thiên Chúa đã nghĩ gì khi đưa con đến Vatican và thế giới tự do?”
Có vẻ như Đức Giáo hoàng không đặt ra những câu hỏi như vậy. Việc bổ nhiệm đức cha Thuận vào Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình dường như là một hệ quả hợp lý và thích hợp của cuộc khổ nạn dài ở Việt Nam. Như Đức Gioan Phaolô II đã nói với ngài: “Đức cha đến từ một đất nước đã từng trải qua chiến tranh và đã bị giam cầm mười ba năm. Giờ đây đức cha có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình với những người ở nhiều quốc gia nơi có đau khổ và bất công, để chúng ta có thể thúc đẩy công lý và hòa bình và giúp mọi người nhận ra các quyền của họ.”
Đức cha Thuận đã nhận được câu trả lời mà mình tìm kiếm. Ngài sẽ quan tâm và dấn thân vào vấn đề chiến tranh và hòa bình, công lý và bất công trên thế giới. Ngài không vội vàng lao vào thế giới phức tạp của chính trị và công lý xã hội. Ngài còn nhiều điều phải học từ Quốc vụ khanh Tòa Thánh và từ Hồng y Roger Etchegaray, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình.
Đức Hồng y Etchegaray, sinh ra tại vùng Basque của Pháp, là một nhà thơ và nhà ngoại giao lão luyện. Khi còn là tổng giám mục Marseille, ngài đã từng là mục tử của một cộng đồng người Việt đông đảo. Ngài dành một tình cảm lớn cho dân tộc Việt Nam và yêu thích văn hóa cũng như ẩm thực của đất nước này. Trong căn hộ của ngài tại San Callisto, ngay phía trên văn phòng, ngài thường khiến khách ngạc nhiên khi đãi họ những món ăn Việt Nam ngon miệng. Đức cha Thuận rất gắn bó với hồng y Etchegaray và mối quan hệ công việc giữa họ không thể tốt đẹp hơn.
Đức cha Thuận cũng có một mối quan hệ công việc tuyệt vời với Đức ông Diarmuid Martin, người Ireland, thư ký của Hội đồng Giáo hoàng, người đã bắt đầu làm việc tại Vatican từ năm 1977 và là chuyên gia trong việc đối phó với những tình huống khó khăn phát sinh tại Liên Hiệp Quốc hoặc trên thế giới.
Đức cha Thuận là một người điềm tĩnh. Ngài làm việc nghiêm túc, xem xét các hồ sơ một cách cẩn trọng và dành nhiều giờ bên bàn làm việc. Hồng y Etchegaray không phải là một nhà lãnh đạo có tư duy hạn hẹp, ngài giao phần lớn công việc cho các cộng sự tài giỏi và biết ơn vì có thể tin tưởng họ. Ngài cũng là Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Cor Unum, mà đức cha Thuận đã từng biết rất rõ khi điều hành COREV tại Việt Nam.
Với tư cách là Phó Chủ tịch một Hội đồng Giáo hoàng, đức cha Thuận có đủ điều kiện để cư trú tại Vatican và ngài được cấp một căn hộ ở San Callisto. Ban đầu nơi ấy trông chẳng có gì đặc biệt, nhưng sau khi ngài xem lại các bản thiết kế cho những công việc tu sửa cần thiết và góp ý cho thợ xây, thợ mộc, nó đã trở thành một chỗ ở dễ chịu. Ngài dành thời gian trang trí nhà nguyện nhỏ với gu thẩm mỹ tinh tế, nhưng căn phòng ngủ nhỏ – theo thói quen khắc khổ của ngài – không khác gì những căn phòng ngài từng có ở Việt Nam. Nó trống trải và bất tiện như một xà lim, và ngài thích như thế, bởi ngài muốn tiếp tục sống như một người nghèo.
Đức cha Thuận tiếp khách gần như mỗi ngày sau giờ làm việc. Ngài thích gặp gỡ bạn bè cũ và những người quen mới, kể cả trò chuyện với các nhà báo, dù đôi khi một số người trong số họ đã trích dẫn sai lời ngài.
Ngài là một người học hỏi kiên nhẫn và nghiên cứu mọi thứ một cách cẩn trọng. Ngài đã nắm được cách cư xử trong Vatican và kết bạn với những người đến từ khắp nơi trên thế giới. Phần lớn các giám mục và giáo sĩ khi đến Vatican hoặc từ nhiều quốc gia khác nhau đều tìm đến thăm ngài và cảm thấy thoải mái trong sự đồng hành của ngài. Đức cha Thuận luôn trân trọng những cuộc viếng thăm này, bởi cơn khát muốn biết tình hình của Giáo hội trên thế giới nơi ngài gần như không bao giờ được thỏa mãn.
Gần như không thể tránh khỏi việc, sau một cuộc trò chuyện với đức cha Thuận, các vị khách kết thúc chuyến thăm bằng lời mời ngài đến đất nước hoặc giáo phận của họ, để nói chuyện trong một kỳ tĩnh tâm hoặc một sự kiện quan trọng nào đó. Những lời mời như thế trở nên quá nhiều đến mức ngài phải đưa ra những lựa chọn thận trọng về cách sử dụng thời gian tốt nhất.
Dần dần, ngài nắm bắt được những chi tiết liên quan đến các vấn đề nhân quyền, thương mại toàn cầu, toàn cầu hóa, các quốc gia đang phát triển và những hệ quả không ngừng của sự sụp đổ chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu cũng như sự tan rã của Liên Xô.
Đức cha Thuận cũng quan sát kỹ lưỡng tình hình tại quê hương, nơi mối quan hệ giữa chính phủ và Giáo hội vẫn không được cải thiện. Hết lần này đến lần khác, các sáng kiến do Quốc vụ khanh Vatican đề xuất đều thất bại.
Đức cha Thuận lấy làm tiếc rằng những cơ hội thực sự của giữa thập niên 1980 cho sự phục hồi kinh tế của Việt Nam đã biến mất vào cuối thập niên 1990, bởi sự quan liêu bất tài, sự thiếu chắc chắn của pháp luật và nạn tham nhũng ở mọi cấp độ trong đất nước.
Đời sống thiêng liêng vẫn tiếp tục hướng dẫn ngài, và ngài dành nhiều thời gian cầu nguyện cũng như chuẩn bị các bài diễn thuyết với sự chăm chút đầy yêu thương. Ngài hy vọng rằng bất cứ nơi nào mình được mời nói, đặc biệt là với giới trẻ, lời của ngài sẽ giúp thính giả tìm được con đường nhanh hơn để đến với tình yêu của Thiên Chúa và niềm hy vọng