KHÔNG SỢ LÂY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy”.

“Đức Giêsu đã gánh lấy gánh nặng tội lỗi của toàn thể nhân loại; mang nó xuống tận đáy sông Giorđan. Cử chỉ khai mạc sứ vụ của Ngài là một tiên báo thập giá!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúa Giêsu đã bước xuống dòng nước Giorđan, đứng vào hàng ngũ các tội nhân; đó là cử chỉ khai mạc sứ vụ, tiên báo thập giá. Hôm nay, Ngài chạm vào một phụ nữ băng huyết và cầm tay một bé gái vừa qua đời. Ngài là hiện thân của một Thiên Chúa ‘không sợ lây’.

Với người Do Thái, máu làm người ta ô uế; xác chết cũng làm người ta ô uế. Vì thế, người ta tránh xa; còn Chúa Giêsu thì bước tới. Bản Hy Lạp viết ekratēsen; Vulgata dịch tenuit manum eius – “Ngài nắm lấy tay nó”. Ngài cầm lấy tay một bé gái vừa chết; rồi để người phụ nữ băng huyết chạm vào mình. Ngài không sợ điều gì lây sang mình, vì Ngài biết điều lây từ Ngài sang họ mạnh hơn gấp bội. Kể từ đây, điều lây lan không còn là ô uế, nhưng là sự sống. Mỗi khi Chúa Giêsu chạm đến, sự sống bắt đầu lây lan. Nhưng không phải mọi cái chạm đều mở ra sự sống.

Đám đông hôm ấy chen lấn quanh Chúa Giêsu, nhưng chỉ một người chạm đến Ngài. “Đám đông chen lấn, đức tin chạm đến!” – Augustinô. Chúng ta không còn sợ ô uế như người Do Thái xưa, nhưng vẫn sợ nhiều điều khác lây sang mình. Có thể ở rất gần Chúa mà lòng lại rất xa; chúng ta đi lễ, đọc kinh, sinh hoạt đạo đức, nhưng trái tim lại ở một nơi khác. Chúng ta giữ cho mình “sạch”, nhưng nhiều khi cũng giữ mình xa luôn cả lòng thương xót; đang khi “lòng trắc ẩn mời gọi chúng ta bước đến nơi đang đau!” – Henri Nouwen.

Việc Chúa Giêsu ‘không sợ lây’ không phải là một hành động nhất thời, nhưng là dung mạo muôn đời của Thiên Chúa. Israel đã ngoại tình với các thần ngoại, phản bội giao ước; thế nhưng, Ngài không sợ lây sự nhơ nhớp của dân bất trung. Tình yêu của Thiên Chúa luôn mạnh hơn sự phản bội của con người. Qua ngôn sứ Hôsê, Ngài vẫn ngỏ lời: “Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu” – bài đọc một. Lòng thương xót của Thiên Chúa luôn đi tìm, đón nhận, phục hồi và tái tạo. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca mới reo lên: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!”.

Anh Chị em,

Tất cả những cử chỉ của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đều hướng về thập giá; ở đó, Ngài mang lấy tội lỗi của cả nhân loại. Cử chỉ khai mạc sứ vụ ngày nào không còn tiên báo thập giá; nhưng chính là thập giá – nơi Ngài chạm đến sự ô uế tận cùng của con người mà không hề bị ô uế khuất phục. Và từ cạnh sườn bị đâm thâu, sự sống và ơn cứu độ tuôn trào cho muôn người. Bởi thế, người môn đệ của Đức Kitô không khép mình vì sợ liên luỵ, nhưng biết chạm tới những ai đang đau khổ, vì chỉ tình yêu dám chạm tới mới làm cho sự sống tiếp tục lây lan. “Điều gì không được đón nhận thì không được cứu độ!” – Grêgôriô Nazian.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành con; biến con thành sự chữa lành cho tha nhân; và để sự sống ấy cứ lây lan từ người này sang người khác, cho đến khi cả thế giới được chữa lành!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 9,18-26

18 Khi ấy, Đức Giê-su còn đang nói với các môn đệ ông Gio-an, thì bỗng một vị thủ lãnh đến gần bái lạy Người và nói : “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.” 19 Đức Giê-su đứng dậy đi theo ông ấy, và các môn đệ cũng đi với Người.

20 Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo choàng của Người, 21 vì bà nghĩ bụng : “Tôi chỉ cần sờ được vào áo choàng của Người thôi là sẽ được cứu chữa !” 22 Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói : “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.” Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa.

23 Đức Giê-su đến nhà viên thủ lãnh ; thấy phường kèn và đám đông ồn ào. 24 Người nói : “Lui ra ! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” Nhưng họ chế nhạo Người. 25 Khi đám đông bị đuổi ra rồi, thì Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy. 26 Và tin ấy đồn ra khắp cả vùng.


 

Vụ cựu cán bộ thuế bị bắn chết: Đắk Lắk phạt vạ hơn chục người đưa tin

Ba’o Nguoi-Viet

July 5, 2026 

ĐẮK LẮK, Việt Nam (NV) – Ít nhất hơn chục người bị Công An Đắk Lắk triệu tập, phạt vạ với cáo buộc “đưa tin sai sự thật” về vụ một cựu cán bộ thuế chết do bị bắn năm phát đạn vào đầu ở phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Theo báo Dân Việt hôm 5 Tháng Bảy, có 13 chủ danh khoản Facebook và TikTok phải lên đồn do bị công an quy chụp về hành vi “đăng tải, chia sẻ, bình luận thông tin sai sự thật” liên quan vụ án mạng nêu trên.

Trang Facebook Viện Kiểm Sát Nhân Dân Khu Vực 7-Đắk Lắk đăng lại bản tin giễu nhại của Facebooker Hoàng Dũng về việc bắt giữ nghi can là chính ông ta. (Hình: Chụp qua màn hình)

Tất cả các trường hợp này đều phải thừa nhận mình “thiếu hiểu biết, làm theo tâm lý đám đông nên đăng tải, chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng” và “tự nguyện gỡ bỏ bài viết, bình luận vi phạm, viết cam kết không tái phạm.”

Công An Đắk Lắk đe dọa củng cố hồ sơ để xử lý nghiêm đối với một số người mà họ cho rằng “đăng bài trên mạng xã hội với mục đích chống phá.”

Bản tin không dám làm rõ chi tiết 13 người nêu trên đã đăng tải những gì trên trang cá nhân.

Tuy vậy, không khó để nhận ra đây là những người chia sẻ bản tin giễu nhại của Facebooker Hoàng Dũng về việc bắt giữ nghi can là chính ông ta.

Ông Hoàng Dũng, hiện đang ở Mỹ, đăng hình mình cởi trần, hai tay bị cột bằng dây thừng, nhìn thẳng vào ống kính cùng với chú thích: “Nghi phạm mặc áo Grab nổ súng giết ông Hải [Hứa Hồng Hải, 47 tuổi, ở xã Ea Knốp, cựu cán bộ thuế], xác định đã tính toán đường tẩu thoát. Tuy nhiên, sau 72 giờ lẩn trốn, y đã bị bắt giữ.”

Bài đăng của ông Hoàng Dũng chế giễu rằng ông Mai Hoàng, giám đốc Công An TP.HCM chỉ đạo 3,000 công an truy bắt nghi can và “rút kinh nghiệm” từ vụ bắt hai sát thủ người Samoa hồi tháng trước.

Facebooker này cũng chế lời ông Mai Hoàng cho biết: “Tổng chiều dài biên giới trên bộ của Việt Nam là 4,600 cây số, chúng tôi huy động 3,000 quân, vị chi mỗi đồng chí đảm trách 1.5 cây số. Chạy đâu cho thoát!”

Bài đăng vừa gợi lại vụ bắt hai sát thủ người Samoa và vụ tấn công võ trang ở làng Đồng Tâm, Hà Nội, hồi đầu năm 2020.

Tuy bài đăng của ông Hoàng Dũng có chủ đích để chế giễu ông Mai Hoàng và Công An Đắk Lắk sau ba ngày vẫn chưa bắt được nghi can, nhưng nhiều người tưởng là thật, nên chia sẻ bài về trang cá nhân để tâng bốc “chiến tích tài tình của công an.”

Ông ĐĐB (phải), ở xã Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, bị triệu tập vì đưa tin vụ cựu cán bộ thuế bị bắn chết. (Hình: Công An Đắk Lắk)

Đáng nói, trong số đó có cả trang Facebook Viện Kiểm Sát Nhân Dân Khu Vực 7-Đắk Lắk, với bài đăng hình ông Hoàng Dũng và chú thích: “Đã bắt được đối tượng nguy hiểm.”

Trong vụ nổ súng xảy ra vào lúc 7 giờ tối 2 Tháng Bảy, ông Hứa Hồng Hải, đang ngồi trên vỉa hè trước một quán cà phê ở đường Trần Nhật Duật, phường Buôn Ma Thuột thì một nam thanh niên, mặc áo Grab, chạy xe gắn máy màu trắng và đỏ tiến đến gần.

Nghi can bước xuống xe, đi bộ tiến đến gần ông Hải, rút súng bắn năm phát vào đầu nạn nhân khiến ông này chết tại chỗ. Thời điểm đó, ông Hải đang ngồi cùng một phụ nữ mặc áo đen.

Sau khi nổ súng, nghi can bình thản quay lại lấy xe gắn máy bỏ trốn tại hiện trường trong lúc người phụ nữ hoảng loạn.

Do không lần được tung tích sát thủ, Công An Đắk Lắk kêu gọi toàn dân truy bắt nghi can và đe dọa “xử lý hình sự” đối với những ai tiếp tay cho người này bỏ trốn. (N.H.K)


 

Đó không phải kỹ năng. Đó là lòng dũng cảm. Truyen ngan HAY

Annie Mỹ AnhSự Thật Lề Đường (STLĐ)

 Ngày 21 tháng 8 năm 2015, chuyến tàu cao tốc Thalys chở 554 hành khách đang chạy từ Amsterdam đến Paris thì một người đàn ông bước ra từ nhà vệ sinh trong tình trạng cởi trần, mang theo súng trường tấn công, súng ngắn, dao rọc giấy và 270 viên đạn.

Con tàu đang lao đi với tốc độ gần 320 km mỗi giờ. Tất cả các cửa đều đóng kín. Không ai có thể chạy trốn.

Một hành khách người Pháp là người đầu tiên lao vào ngăn cản tên tấn công và ngay lập tức bị bắn xuyên qua cổ.

Chỉ vài giây sau, một thanh niên Mỹ 23 tuổi tên Spencer Stone, khi đó còn đang ngái ngủ trên ghế, bật dậy và chạy thẳng về phía kẻ có súng.

Stone không phải một khách du lịch bình thường. Anh là quân nhân của Không quân Hoa Kỳ, được đào tạo như một nhân viên quân y. Anh đang du lịch châu Âu cùng hai người bạn thân từ thuở nhỏ ở Sacramento là Alek Skarlatos, một quân nhân Vệ binh Quốc gia bang Oregon vừa trở về từ Afghanistan, và Anthony Sadler, một sinh viên đại học. Không ai trong số họ ngờ rằng chỉ ít giây nữa họ sẽ phải đối mặt với thử thách sinh tử.

Mọi chuyện diễn ra trong tích tắc.

Một hành khách người Pháp đã cố khống chế tên tấn công nhưng bị hất văng. Sau đó, Mark Moogalian, một giáo sư người Pháp gốc Mỹ 51 tuổi, đã giằng được khẩu súng trường khỏi tay hắn. Khi ông quay lại che chắn cho vợ mình, tên tấn công rút súng ngắn và bắn ông từ phía sau. Viên đạn xuyên qua phổi rồi thoát ra ở cổ. Moogalian gục xuống và giả chết.

Đó là lúc Spencer Stone lao tới.

Không một chút do dự, anh xông thẳng vào kẻ khủng bố. Alek Skarlatos lập tức theo sau. Anthony Sadler cũng tham gia. Rồi đến Chris Norman, một doanh nhân người Anh 62 tuổi chưa từng gặp họ trước đó.

Bản năng của con người là bỏ chạy khi đối mặt với hiểm nguy chết người.

Nhưng bốn người đàn ông ấy lại chạy thẳng về phía nó.

Stone là người tiếp cận đầu tiên. Anh khóa cổ tên tấn công và quật hắn xuống sàn tàu. Trong khoảng 90 giây tiếp theo, một cuộc vật lộn dữ dội diễn ra trong lối đi hẹp.

Tên tấn công rút dao rọc giấy và chém Stone một nhát sâu ở cổ, gần như cắt lìa ngón tay cái của anh.

Stone vẫn không buông tay.

Bốn người đàn ông cuối cùng đã khống chế được tên tấn công, đánh hắn bất tỉnh và trói lại trước khi hắn có thể tiếp cận hàng trăm hành khách còn lại.

Nhưng điều phi thường nhất vẫn còn ở phía sau.

Chỉ cách đó vài mét, Mark Moogalian, người duy nhất bị bắn, đang nằm trên sàn trong vũng máu, còn vợ ông liên tục kêu cứu.

Dù chính mình cũng bị thương rất nặng, Spencer Stone vẫn bò đến bên ông.

Một tay giữ chặt vết thương ở cổ của mình, tay còn lại thực hiện các thao tác sơ cứu cho Moogalian. Với kỹ năng của một quân y, anh đã giữ cho ông sống sót cho đến khi đoàn tàu dừng khẩn cấp và các nhân viên y tế đến nơi.

Các bác sĩ sau này cho biết vết thương ở cổ của Stone chỉ lệch vài milimét nữa là có thể cướp đi mạng sống của anh.

Cả hai người đều sống sót.

Khi tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, câu hỏi đầu tiên Spencer Stone hỏi không phải là tình trạng của bản thân.

Anh chỉ hỏi:

“Có ai khác bị thương không?”

Câu trả lời là không.

Không còn ai thiệt mạng.

Ba ngày sau, Tổng thống Pháp François Hollande đã trao cho Spencer Stone, Alek Skarlatos, Anthony Sadler và Chris Norman Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, phần thưởng cao quý nhất của nước Pháp.

Sau đó, Tổng thống Barack Obama cũng đón tiếp họ tại Nhà Trắng.

Dù được cả thế giới ca ngợi, Spencer Stone vẫn luôn nói rằng anh chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng sẽ làm.

Có lẽ chỉ có một điều trong câu nói ấy là không đúng.

Các nghiên cứu về hành vi con người trong những tình huống bạo lực cho thấy phần lớn mọi người sẽ đứng sững lại, bỏ chạy hoặc tìm nơi ẩn nấp.

Việc lao thẳng vào một kẻ cầm súng chỉ với hai bàn tay không không phải điều mà ai cũng làm được.

Đó là điều chỉ rất ít người có đủ can đảm để lựa chọn.

Quá trình huấn luyện quân đội giúp Stone biết cách chiến đấu, biết cách xử lý tình huống và cứu chữa người bị thương.

Nhưng nó không thể giải thích vì sao anh lại tự nguyện lao vào nơi gần như chắc chắn sẽ mất mạng.

Đó không phải kỹ năng.

Đó là lòng dũng cảm.

Có lẽ cách ngắn gọn nhất để hiểu những gì Spencer Stone đã làm là thế này:

Người đàn ông chấm dứt vụ tấn công cũng chính là người đã cứu sống nạn nhân duy nhất bị bắn.

Anh vừa ngăn chặn thảm sát, vừa cứu một mạng người, trong khi bản thân cũng đang bị thương nghiêm trọng.

Việc 554 hành khách đều có thể trở về nhà ngày hôm đó là nhờ một vài con người đã chấp nhận đối mặt với cái chết để bảo vệ những người xa lạ.

Món quà lớn nhất mà họ dành cho tất cả hành khách trên chuyến tàu ấy là điều này:

Họ sẽ không bao giờ phải biết chuyện gì đáng sợ đã có thể xảy ra.

https://www.facebook.com/share/p/1bk7A2coi3/?mibextid=wwXIfr 


 

Hoa Kỳ 250 năm : Cuộc thử nghiệm vẫn chưa kết thúc (RFI)

(RFI)

Hai trăm năm mươi năm sau ngày lập quốc, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường số một thế giới nhưng cũng đứng trước những chia rẽ sâu sắc về chính trị, xã hội và vai trò quốc tế. Giữa những lo ngại về sự suy yếu của nền dân chủ và sức mạnh công nghệ chưa từng có, báo chí nhìn lại cuộc thử nghiệm mang tên nước Mỹ – một hành trình chưa bao giờ ngừng tự chất vấn và tự đổi mới. Các tuần báo cũng nhận thấy « gió đã đổi chiều » trên chiến trường Ukraina.

 05/07/2026 

Một chiếc tàu của Sở Cứu hỏa New York phun vòi rồng tại cảng New York để chào mừng sự kiện Sail250 – cuộc tập hợp các tàu buồm cỡ lớn và tàu quân sự nhằm kỷ niệm 250 năm thành lập nước Mỹ, ngày thứ Bảy 04/07/2026. (Ảnh AP/Frank Franklin II) AP Photo/Frank Franklin II – Frank Franklin II

Thụy My

Nền cộng hòa Mỹ ra đời : Ngọn hải đăng của thế giới tự do

Hôm nay đúng vào ngày Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm lập quốc, nước Mỹ là mối quan tâm chính của các báo ra cuối tuần. Le Figaro cánh hữu chạy tít trang nhất « Hoa Kỳ 250 năm : Một lễ hội dưới dấu ấn Trump ». Libération thiên tả cho rằng « Trump tước đoạt lịch sử ». Trang bìa The Economist đăng hình một chiếc bánh sinh nhật lớn mang màu cờ Mỹ, nhận định « Nước Mỹ đầy ắp nỗi âu lo, nhưng sở hữu sức mạnh phi thường ».

Ngay từ khi mới thành lập cách đây 250 năm, các nhà lập quốc Mỹ đã tin rằng nền cộng hòa của họ sẽ tỏa sáng như một tấm gương cho toàn nhân loại. Tuy nhiên đây cũng là một cuộc thử nghiệm, họ lo ngại có thể sớm sụp đổ trong hỗn loạn hoặc rơi vào ách thống trị độc tài. Đó chính là những thăng trầm xuyên suốt lịch sử độc đáo của nước Mỹ. Chế độ nô lệ và tâm lý bài ngoại, nạn tham nhũng và sự lộng hành của giới tư bản thao túng, nội chiến và các trận đại chiến thế giới – tất cả đều từng làm chao đảo nền cộng hòa, ngay cả khi nước Mỹ vươn mình trở thành ngọn hải đăng của thế giới tự do.

Vào ngày 04/07, người dân Mỹ kỷ niệm dấu mốc 250 năm thành lập đất nước. Sự trường tồn ấy đã bác bỏ những nỗi lo âu của các nhà lập quốc năm xưa. Thay vì gục ngã trước độc tài, nước Mỹ đã ba lần giải cứu thế giới khỏi ách thống trị của những kẻ bạo tàn. Sự năng động đã tạo nên nguồn năng lượng mạnh mẽ, duy trì vị thế siêu cường của nước Mỹ và trong suốt thời gian dài, Hoa Kỳ vẫn luôn đề cao các giá trị cộng hòa.

Tuy nhiên, cột mốc kỷ niệm này lại diễn ra vào một thời điểm đầy lo âu khác trong lịch sử nước Mỹ. Các giá trị đạo đức đang bị đe dọa và người ta nói về khả năng suy tàn, đất nước chia rẽ sâu sắc. Nước Mỹ đang phá bỏ trật tự thế giới mà chính họ đã thiết lập sau khi đánh bại chủ nghĩa phát xít vào năm 1945.

Khi « giấc mơ Mỹ » phủ bóng âu lo

Nhiều người Mỹ ngày nay đang chia sẻ những nỗi lo sợ giống như các nhà lập quốc thuở nào. Họ lo ngại rằng cơ chế phân quyền đang dần biến thành một hệ thống mà Nhà Trắng thâu tóm mọi quyền lực. Quốc hội, cột trụ của chính phủ đang chia rẽ đảng phái gay gắt, « phe ta » luôn đúng còn « phe bên kia » luôn xấu. Tối cao Pháp viện cũng đang góp phần gia tăng quyền lực cho nhánh hành pháp.

Là quốc gia của những người nhập cư, Hoa Kỳ luôn coi di dân luôn đổ xô vào là nguồn sinh lực và là minh chứng cho « giấc mơ Mỹ ». Trung Quốc cũng có « giấc mơ Trung Hoa », nhưng người nước ngoài lại bị gạt ra ngoài lề. Ngược lại, bất kỳ ai, dù thuộc chủng tộc hay tôn giáo nào, cũng có thể trở thành người Mỹ, trở nên thành đạt nhờ nỗ lực của chính mình.

Tuy nhiên, giấc mơ Mỹ đang dần trở nên u ám. Một bộ phận trong phong trào MAGA muốn chấm dứt luôn nhập cư hợp pháp chứ không chỉ di dân bất hợp pháp. Năm nay, con số này có thể bằng không. Khi tỉ lệ người Mỹ tự nhận là « người da trắng » giảm xuống gần mức 50 %, một số người cánh hữu muốn dành quy chế đặc biệt cho những « người Mỹ gốc » có tổ tiên đã sinh sống qua nhiều thế hệ. Đây là sự quay lại rất đáng tiếc của nạn phân biệt chủng tộc.

Trên trường quốc tế, nước Mỹ cũng đang quay lưng lại với các giá trị của chính mình. Donald Trump đang muốn đập tan các định chế và liên minh mà thế hệ hậu chiến đã thiết lập để bảo vệ thế giới khỏi ách chuyên chế. Nước Mỹ đang hành xử, giống như bất kỳ quốc gia nào khác mải mê theo đuổi sự giàu có và quyền lực. Tự do và dân chủ cho người nước ngoài không còn được quan tâm. Thương mại từng là hệ thống mang lại lợi ích chung, nay đã trở thành công cụ để ép buộc đối phương nhượng bộ. Những giá trị chung từng gắn kết nước Mỹ với các đồng minh, thì nay đồng minh lại bị coi là những kẻ lệ thuộc.

Đừng vội viết cáo phó cho nước Mỹ

Nhiều người kết luận rằng nước Mỹ đang suy tàn, nhưng theo The Economist đó là sai lầm nghiêm trọng. Sức mạnh của nước Mỹ vẫn vô cùng to lớn, và thậm chí có thể sẽ tăng trưởng mạnh mẽ đến mức khó có thể hình dung nổi. Các công ty trí thông minh nhân tạo (AI) của Mỹ đã nhanh chóng huy động hàng trăm tỉ đô la để tài trợ cho cuộc đua giành vị thế dẫn đầu về công nghệ Mỹ cùng hệ sinh thái AI của mình có thể sẽ nắm quyền thống trị tuyệt đối, it nhất là trong một khoảng thời gian. Trong khi đó, các đồng minh của Mỹ đối mặt với một lựa chọn nghiệt ngã : hoặc phục tùng Washington, hoặc đứng về phía Bắc Kinh độc tài.

Song song với việc Mỹ tích lũy quyền lực to lớn, cuộc thử nghiệm vĩ đại này cũng có nguy cơ dẫn đến thảm họa. Ông Trump đã làm vẩn đục đời sống công chúng bằng thái độ hoài nghi đầy ác ý, luôn nhìn nhận mặt xấu xa nhất ở mọi người. Quyền lực hành pháp có thể trở nên quá mức kiểm soát. Sự tập trung của cải và quyền lực chính trị có thể nuôi dưỡng một tầng lớp tinh hoa trục lợi. Các chính trị gia có thể sẽ bất lực trước những biến động kinh tế và xã hội đang chực chờ phía trước.

Hãy hình dung viễn cảnh Mỹ vĩnh viễn từ bỏ sứ mệnh xúc tiến tự do. Các quốc gia khác sẽ theo chân, những nhà lãnh đạo đầy tham vọng được tiếp thêm sức mạnh để xâm lược hoặc cưỡng bức các nước láng giềng. Thế giới sẽ rơi vào hỗn loạn. Tuy nhiên, như các nhà lập quốc từng khẳng định, tương lai đen tối đó khó có khả năng xảy ra. Những biến cố từng kìm hãm nước Mỹ như Trân Châu Cảng, sự kiện Sputnik hay vụ Watergate lại chính là động lực thúc đẩy quốc gia này vực dậy và bứt phá mạnh mẽ hơn. The Economist tin rằng bằng cách này hay cách khác, sự thay đổi chắc chắn sẽ đến với nước Mỹ.

Putin : Người tù của chính cuộc chiến mình phát động

Courrier International dùng màu cờ Nga làm nền trang bìa, chạy tít « Putin, tù nhân trong cuộc chiến của chính mình ». Tại Nga, những dấu hiệu bất bình trước chính quyền ngày càng chồng chất, khế ước giữa Kremlin và xã hội có vẻ đã lỗi thời. Hình ảnh của tổng thống Nga đã xấu đi hẳn, theo nhà chính trị học Nga lưu vong Alexandre Baounov trên tờ Meduza, được Courrier International trích dịch.

Tác giả nhận thấy ba thay đổi. Trước hết là thái độ đối với tổng thống, thứ hai là sự lạc quan về kinh tế đã bay biến, và cuối cùng người ta ý thức được rằng có thể không thắng nổi. Ngưỡng mang tính biểu tượng 1.418 ngày đã vượt qua – rất tai hại cho Kremlin. Khi coi đối thủ là phát-xít mới, đánh đồng những lính đánh thuê với các chiến sĩ Hồng quân, chế độ đã tự rơi vào chiếc bẫy của việc so sánh với thời Đệ nhị Thế chiến.

Bộ máy Nhà nước, truyền thông, chính phủ, Quốc hội, Giáo hội, FSB, tất cả theo đuổi cùng một mục đích là che giấu sai lầm mà Putin đã phạm phải năm 2022. Nhưng sức ảnh hưởng của Putin đang tan dần. Tổng thống Nga vẫn nắm quyền tối cao, nhưng phép mầu đã biến mất. Bộ mặt thật của nhà lãnh đạo đang dần lộ diện : Đó là một ông già còng lưng, bồn chồn, khá yếu đuối, hoàn toàn khác với Putin thời trước chiến tranh ngực trần cỡi trên lưng con hắc mã. Những phát biểu đầy đe dọa nay rối rắm, dài dòng. Vladimir Putin không còn là siêu anh hùng, ông ta sợ hãi drone và internet cũng như những người được cho là bảo vệ mình, giới tinh hoa không còn tin tưởng vào tổng thống.

Khi chiến tranh gõ cửa từng gia đình Nga

Khi xua quân xâm lược Ukraina, khế ước xã hội trước đây đã bị phá vỡ, thay thế bằng một khế ước mới : Đừng chống chiến tranh, sẽ có được cách sống gần như trước. Nhưng mùa xuân 2026, chế độ đã vi phạm tất cả các điều khoản. Khi áp đặt ứng dụng Max để liên lạc, xâm nhập giới hạn cuối cùng của cuộc sống riêng tư tại một quốc gia phi tự do. Nhà nước đã khởi động một « chiến dịch quân sự đặc biệt » trong nội bộ. Thu nhập cao nhờ chiến tranh không còn nữa, năm 2026 khởi đầu bằng việc cắt giảm ngân sách đầu tiên kể từ một thập niên. Những cột khói bốc lên trên bầu trời nước Nga tạo ra hình ảnh một sự trừng phạt, và người chịu trách nhiệm về sự thay đổi tâm trạng ở Nga không ai khác hơn là quân đội Ukraina. Kremlin giờ đây như một chiếc xe đang cố thoát khỏi vũng lầy.

The Atlantic nhấn mạnh, giờ đây drone Ukraina đêm nào cũng tấn công vào các mục tiêu kỹ nghệ Nga, làm tê liệt các nhà máy lọc dầu, hậu càn và vận chuyển hàng không. Courrier International nhận xét « Nga đối mặt với một cuộc khủng hoảng xăng dầu ». Tờ báo độc lập Novaia Gazetta ghi nhận, một quốc gia được mệnh danh là « trạm xăng » nay lại đang thiếu xăng, đề tài « khủng hoảng nhiên liệu » đang là trung tâm các trang viết trên báo chí Nga hiện nay.

Việc bán phân phối theo định mức đã diễn ra khắp nơi, đến tận vùng Viễn Đông. Vận chuyển đường bộ rối loạn, một số công ty hàng không van nài bộ Năng lượng giúp đỡ. Tờ Nezavissimaia Gazeta cho biết chính quyền sẵn sàng trợ giá xăng nhập từ Ấn Độ và Kazakhstan. Những dấu hiện rạn nứt đầu tiên đã xuất hiện ở Kremlin. Bloomberg cho biết đầu tháng Sáu, nhiều quan chức cao cấp đã cảnh báo Vladimir Putin về cái giá của chiến tranh. Bộ Tài chánh và Ngân hàng Trung ương đánh giá mức độ chi quốc phòng hiện nay có thể khiến thâm hụt ngân sách càng lớn hơn một cách nguy hiểm.

Từ « điều không tưởng » đến viễn cảnh chiến thắng của Ukraina

Triết gia kiêm đạo diễn Pháp Bernard-Henri Lévy trên Le Point nhắc nhở rằng từ bốn năm qua ông luôn khẳng định Ukraina sẽ chiến thắng, vì chỉ có cuộc kháng chiến kiên cường của những người công dân bình thường nước này mới thắng được sự hiếu chiến điên rồ của Vladimir Putin. Và phải chăng hồi kết đang đến ?

Ông đã viết các bài xã luận, đã nói trong những bộ phim, phát biểu trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, trước Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội Pháp và khắp các nơi. Ukraina sẽ thắng, tất nhiên là cần có thời gian, có những nỗi đau phải gánh chịu, những thành phố bị hủy diệt, những cuộc đời tan vỡ, những cái chết. Nhưng cuối cùng đất nước của Volodymyr Zelensky sẽ ca khúc khải hoàn trước những kẻ chỉ muốn xóa sổ họ khỏi bản đồ và trong lịch sử. Nhưng người ta nhìn ông như một kẻ mơ mộng hoặc tâm thần. Những quân nhân, các nhà chiến lược thậm chí còn không coi đó là một khả năng.

Bernard-Henri Lévy đã chứng kiến nơi tiền tuyến sự gan dạ, bất khuất của những chiến binh ở những thành phố đã chết như Chasiv Yar hay Toretsk, đối mặt với đội quân lính đánh thuê hay những kẻ đáng thương bị quăng vào lò xay thịt. Khả năng sáng tạo phi thường của người Ukraina đã thuyết phục ông. Trong bốn năm qua, Bernard-Henri Lévy đã thấy dân tộc của các thi sĩ và những người đam mê công nghệ lắp ráp các drone đầu tiên với một máy in 3D, nơi một chiếc lều nằm sâu trong rừng Klichtchiivka. Rồi trong các xưởng ở Kharkiv, họ mổ xẻ các drone của Nga hay Trung Quốc để tìm ra các bí mật. Và ngày nay mỗi năm có hàng triệu con chim sắt tinh vi made in Ukraina.

Trong những đêm dài ở Bakhmut, Kupiansk, Sumy, ông nghiền ngẫm những tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh trong quá khứ. Ông ghi hình, chia sẻ một phần cuộc sống những chiến binh Ukraina. Dù kiệt sức, dù bị đồng minh thờ ơ, dù có những người ngã xuống, họ vẫn trụ lại.

Liệu hồi kết của Putin đã bắt đầu ?

Giờ đây vẫn chưa ai biết được còn bao nhiêu tháng nữa, bao nhiêu thành phố phải giành từng con đường một, bao nhiêu gia đình phải chạy loạn, bao nhiêu người trẻ phải hy sinh mạng sống. Cuộc tàn sát sẽ còn tiếp diễn trước khi người lính Nga cuối cùng rời khỏi đất Ukraina. Nhưng chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới, giấc mơ tưởng chừng hão huyền đã trở thành hiện thực.

Ở mặt trận phía nam, tại căn cứ Otchakiv nơi Nadia chỉ huy, mỗi đêm cô đều dạy con trai đang ở miền bắc học qua FaceTime, một đơn vị tinh nhuệ vừa cắm cờ lên bán đảo Kinbourn, chốt chặn cửa ngõ sông Dniepr. Tại mặt trận Zaporijia, lực lượng Ukraina tiến từng mét một về hướng Melitopol. Ở Crimée, các phi trường bị oanh kích, kho xăng bị đốt cháy, các đường tiếp tế bị đe dọa. Bán đảo được Kremlin coi là hàng không mẫu hạm trên Hắc Hải đã trở thành pháo đài bị vây hãm. Và ở phía đông, nhà thơ nữ Oksana Rubaniak nay là chiến binh điều khiển drone đang quyết liệt bảo vệ Pokrovsk.

Kostiantynivka, Lyman, Chasiv Yar, những thành phố bị tàn phá mà Kremlin nói rằng đã chiếm được, vẫn đứng vững. Rốt cuộc quân đội Ukraina nhỏ bé đã trở thành quân đội mạnh nhất châu Âu, từ những căn cứ bí mật tấn công được những địa điểm quân sự nhạy cảm nhất sâu trong lãnh thổ Nga. Quân đội Sa hoàng năm 1917 bị kiệt lực sau ba năm thất bại đã phải đầu hàng dù tình trạng chưa đến nỗi như vậy. Chế độ Xô Viết, suy yếu bởi cuộc chiến không hồi kết ở Afghanistan, cũng không trụ được lâu. Điều gì sẽ xảy ra nếu Vladimir Putin đã sức cùng lực kiệt ?

Việt Nam : Khi tiếng rao nhường chỗ cho những cú nhấp màn hình

Tại một đất nước từ lâu không còn chiến tranh là Việt Nam, Mekong Riview ở Úc được Courrier International dịch lại, lấy làm tiếc cho « Những tiếng rao của người bán hàng trên đường phố đang dần lịm tắt ». Trước đây, một ngày mới ở Hà Nội được bắt đầu với những tiếng rao « Xôi xéo đây ! », « Bánh giò nóng đây ! », thành phố thức giấc cùng với những chiếc xe hàng rong trên đường phố. Ở Sài Gòn là « Bánh mì đây », « Bắp luộc nóng đây ».

Nhưng những người bán hàng rong nay có đối thủ mới là các siêu thị mini mở 24/24, các ứng dụng đặt hàng. Quảng cáo trên TikTok thay cho âm thanh đường phố. Để mua hàng, những cuộc đối thoại giữa người với người dần được thay bằng những cú chạm trên màn hình điện thoại. Có không nhiều thành phố như Hà Nội và Sài Gòn, hoạt động hết sức đa dạng với những người bán hàng ăn, mua ve chai, sửa chữa…Nhưng những tiếng rao đang tắt dần.


 

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Nguyen Thi Chau

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Khổng Tử đáp: “Không phải khi họ mất tiền. Cũng không phải khi họ mất địa vị.”

Tử Hạ hỏi: “Vậy là khi nào?”

Khổng Tử cầm một viên ngọc và thả xuống bùn. Ông hỏi: “Viên ngọc có vì nằm trong bùn mà thành đá không?”

Tử Hạ đáp: “Không. Nó vẫn là ngọc.”

Khổng Tử gật đầu: “Đúng vậy. Nghèo khó không làm con kém giá trị. Thất bại cũng không làm con tầm thường.”

Tử Hạ lại hỏi: “Vậy điều gì mới làm con người mất giá?”

Khổng Tử chậm rãi đáp: “Là khi vì tiền mà đánh mất lương tâm. Vì quyền mà đánh mất chính nghĩa. Vì lợi ích mà đánh mất chữ tín.”

Tử Hạ cúi đầu hành lễ.

Khổng Tử mỉm cười: “Giá trị của một con người không nằm ở những gì họ có. Mà nằm ở những điều họ nhất quyết không đánh đổi.”

Từ fb Narissa Loan


 

“SUM VẦY BÊN CON CHÁU LÚC VỀ GIÀ” – LÀ GIẤC MƠ ĐẸP, HAY CHỈ LÀ MỘT THOÁNG MỘNG TƯỞNG DIỆU VỜI?

Những Câu Chuyện Thú VịAnh Bui Thi Thuy

 “SUM VẦY BÊN CON CHÁU LÚC VỀ GIÀ” – LÀ GIẤC MƠ ĐẸP, HAY CHỈ LÀ MỘT THOÁNG MỘNG TƯỞNG DIỆU VỜI?

Ở tuổi 60, khi đã đi qua gần hết những khúc quanh và thăng trầm của một kiếp nhân sinh, tôi chợt nhận ra khoảnh khắc bình yên nhất không phải là thời tuổi trẻ nồng nhiệt, đầy khát vọng, mà lại chính là những ngày tháng hoàng hôn tĩnh lặng này. Đó là những chuỗi ngày tôi học được cách sống tự tại, an nhiên bước đi, bất chấp những cơn đau âm ỉ của bệnh tật thể xác bắt đầu gõ cửa.

Tôi viết những dòng này từ căn phòng nhỏ ngập tràn ánh nắng chiều, không phải với tư cách của một nhà tâm lý học lỗi lạc, mà chỉ như một người bộ hành đã thấm mệt sau chặng đường dài vượt thung lũng cuộc đời. Tôi muốn gửi lại vài lời tâm sự da diết cho các đồng niên, và cho cả những ai vẫn đang ôm giữ một niềm hy vọng mong manh từ bao đời nay: Rằng tuổi già hạnh phúc nhất thiết phải là sự an nhàn, là bức tranh viên mãn bên con cháu quây quần.

Nhưng, liệu đó có phải là một sự thật, hay chỉ là một cú lừa ngọt ngào của thời gian?

MẢNH VỠ CỦA GIẤC MƠ VÀ SỰ THẬT PHŨ PHÀNG NƠI CỬA TRƯỚC

Chúng ta – những người làm cha, làm mẹ – thường tự dệt nên một viễn cảnh xế chiều thật thơ mộng: ngày ngày ngắm hoa, thưởng trà, vui vầy bên tiếng cười con trẻ và tựa đầu vào sự phụng dưỡng hiếu thảo của các con. Thế nhưng, cuộc sống vốn có những quy luật chuyển động nghiệt ngã của riêng nó. Tuổi già có một đặc tính rất “khốn nạn” – nó không báo trước, nó âm thầm đến và luôn giáng những đòn chí mạng vào chính những nơi ta gửi gắm nhiều kỳ vọng nhất.

Hãy dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, con cái chúng ta một khi đủ lông đủ cánh, chúng rồi cũng sẽ bay đi để tìm kiếm vùng trời và định mệnh của riêng mình:

  • Vợ chồng con trai lớn và các cháu của tôi đã chọn định cư nơi đất Úc xa xôi. Giấc mơ về những bữa cơm gia đình ba thế hệ đành gửi lại nơi đại dương mênh mông, căn nhà cũ cứ ngày một thưa vắng tiếng cười trẻ thơ.
  • Con gái út của tôi tuy ở gần ngay bên cạnh, nhưng tổ ấm nhỏ của nó cũng đang oằn mình trong vòng xoáy khốc liệt của cơm áo gạo tiền. Nó còn bận mưu sinh, bận lo học phí, bận nuôi nấng những đứa con thơ… Những áp lực đè nặng lên vai khiến những cuộc gặp gỡ, thăm nom giữa hai thế hệ cứ thế thưa thớt dần, chỉ còn là những cuộc gọi vội vã lúc nửa đêm.

Quan sát những người quanh mình ở độ tuổi ngoài 55, tôi đã rút ra một kết luận đắng cay: Nỗi thất vọng lớn nhất của đời người lúc xế chiều, hóa ra lại thường bắt nguồn từ chính con cái.

Chúng ta sinh con ra, dành trọn 100% tài nguyên, dốc cạn kiệt thanh xuân, thậm chí vay mượn ngược xuôi để đầu tư tất cả vào chúng. Để rồi khi tóc bạc da mồi, ta lại ngồi bên hiên cửa, khắc khoải chờ đợi chúng trở thành chỗ dựa vững chắc, thành “cái nạng” chống đỡ cho tuổi già của mình.

Nhưng bạn ơi, đó chỉ là điều viển vông! Con cái không cứu nổi bạn khỏi sự cô đơn tột cùng của tuổi già, và suy cho cùng, chúng chẳng cứu ta khỏi bất cứ điều gì của quy luật sinh lão bệnh tử. Nghiệt ngã hơn, nếu ta cứ cố chấp đòi hỏi, níu giữ chúng bên mình để tìm cảm giác an toàn, ta vô tình trở thành người “hút cạn” nhựa sống và những năm tháng thanh xuân tràn trề của các con. Tôi từng chứng kiến những người con gái gầy mòn, kiệt quệ vì phải gánh trên vai cả cuộc đời già nua của cha mẹ.

Đừng để bản thân mình trở thành gánh nặng nhân danh tình thương!

Hãy tỉnh mộng đi: Con cái hoàn toàn tự do và chúng không nợ nần gì chúng ta cả!

HAI ĐIỂM TỰA VỮNG CHẮC NHẤT KHI BÊN KIA SƯỜN DỐC CUỘC ĐỜI

Con cái là niềm vui, là lý do để ta mỉm cười khi lật giở lại những trang ký ức, nhưng tuyệt đối không phải là “tấm khiên bảo hiểm” cho một cái kết đột ngột của đời người.

Sự quan tâm của con cái suy cho cùng chỉ là một món quà bonus (phần thưởng) mà cuộc sống ban tặng, có thì hạnh phúc, không có cũng là lẽ thường. Đòi hỏi chúng phải kề cận, lo lắng liên tục chính là sự ích kỷ thuần túy của tuổi già, thứ biến ta thành một đứa trẻ hay hờn dỗi, trách móc.

Vậy khi rèm nhung cuộc đời dần khép lại, thứ duy nhất chạm vào được, tiêu hao được và đáng tin nhất là gì?

Đó chính là: SỨC KHỎE và TIỀN BẠC. không phải là các mối quan hệ xã giao, cũng không phải là bảng thành tích lẫy lừng trong quá khứ.

Từ cuốn nhật ký ở tuổi 60, tôi đã ghi lại 4 quy luật bất biến cho chính mình:

Tiền bạc đáng tin hơn con cái: Nghe thì phũ phàng và sặc mùi vật chất, nhưng đó là thực tế của cuộc đời. Tiền của bạn là quyền tự do, là sự tự tin và lòng tự trọng tối thiểu của bạn. Tiền của con cái là của con cái. Hãy tự làm chủ nguồn lực của chính mình thay vì đi tước đoạt hay phụ thuộc vào tài nguyên của các con.

Sức khỏe là mối quan tâm tối thượng: Từ năm 60 tuổi, cơ thể cần một chế độ đãi ngộ đặc biệt. Nếu bạn không đủ sức để tự đứng dậy trên đôi chân mình, không thể tự súc bình trà hay đi dạo, thì mọi danh vọng, tiền tài hay ngay cả tình thương của con cháu cũng đều trở nên vô nghĩa.

Tuyệt đối ngừng mong đợi và kỳ vọng: Cuộc sống của bạn, ngày vui của bạn, hãy tự mình thắp lửa và tự tổ chức ăn mừng. Họ đến thăm thì vui, không đến cũng chẳng sao cả. Hãy học cách trò chuyện với sự cô độc và tìm thấy niềm vui trong những điều giản đơn nhất.

Sống trọn vẹn cho từng phút giây hiện tại: Thời trẻ ta sống vì tương lai, vì những cái đích xa xôi. Nhưng sau tuổi 60, quỹ thời gian của ta làm gì còn dài rộng nữa để mà chờ đợi hay tích lũy? Cha mẹ chúng ta ra đi, đã để lại bài học lớn nhất về cái kết của một kiếp người. Phải sống cho kịp, yêu thương cho kịp, tiêu những đồng tiền mình làm ra cho kịp, đó mới là sáng suốt.

HOÀNG HÔN TỰ TẠI CỦA NGƯỜI CHIẾN THẮNG

Tuổi già thực chất là một kỳ thi bài bản nhất về sự trưởng thành, một giải đấu vô địch mà mỗi chúng ta đều phải tự mình đăng ký tham gia. Đó là một trò chơi “roulette” đầy may rủi, nơi con đường dẫn về phía hoàng hôn chỉ có một lối đi duy nhất, và bạn sẽ phải bước đi một mình qua những ngày giông bão của ốm đau, yếu ớt, lú lẫn và bất lực.

Không một ai, kể cả đứa con bạn yêu quý nhất, có thể thi hộ bạn kỳ thi này.

Nếu con cái hiếu thảo, luôn hướng về bạn? Tuyệt vời, hãy đón nhận nó như những giọt sương mai thanh mát bên đời, trân trọng nhưng đừng coi đó là nền tảng vững chắc nhất để bấu víu.

Lựa chọn của chúng ta ở tuổi 60 rất đơn giản: Hoặc là ngồi im cam chịu, khóc lóc oán hận và chờ đợi một phép màu từ con cháu không bao giờ đến; Hoặc là dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, tự xây dựng và làm chủ một kịch bản kiêu hãnh, tự tại cho những năm tháng cuối đời của chính mình. Chấp nhận quy luật tự nhiên không phải là yếu đuối, đó là lòng dũng cảm tối cao.

Khi bạn dám mỉm cười chấp nhận sự cô độc bước đi, tự tay thắp lên ngọn đèn bình yên trong tim bằng sức khỏe và khoản tiền tiết kiệm của chính mình… Lúc đó, bạn đã chính là người chiến thắng vinh quang nhất trong cuộc đời này rồi!

Sài Gòn ngày 01/7/2026

Thuy Anh


 

Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (BBC)

 (BBC)

Một người cha chở con trên xe máy tại Sài Gòn vào tháng 5 năm 1970

Tác giả, Bùi Văn Phú

Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California

4 tháng 7 2026

Chiều 29/4/1975, tôi rời quê hương bằng tàu. Sáng hôm sau, xe tăng, bộ đội cộng sản tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng.

Năm sau, Sài Gòn chính thức đổi tên, mà như Phạm Duy viết trong ca khúc 1954, 1975, thành phố “phải mang tên xác người“, hay Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên” trong Sài Gòn niềm nhớ không tên.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Thầy u tôi rời quê Nam Định di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954 và một năm sau tôi ra đời ở xứ Nghĩa Hòa, một xứ đạo tân lập trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, nơi có mấy vạn người Công giáo Bắc di cư ở.

Nói tôi sinh ra ở Sài Gòn thì không đúng, vì giấy khai sinh ghi nơi sinh là xã Tân Sơn Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nhưng Ngã ba Ông Tạ nằm sát bên thủ đô. Từ đây theo đường Phạm Hồng Thái nối dài tới Lê Văn Duyệt, tính ra từ Gia Định chỉ đi ba trăm mét, qua đường Bắc Hải là vào quận 3 của Sài Gòn. Sau năm 1975, khu vực Ngã ba Ông Tạ mới thuộc về Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày còn bé chẳng mấy khi được vào trung tâm thủ đô, chỉ nhớ có lần thầy tôi đưa các con đi chơi Sở thú, tức là Thảo Cầm Viên, xem voi ăn mía, khỉ ăn chuối. Có năm thầy đưa lên Bến Bạch Đằng xem bắn pháo bông dịp Quốc khánh 26 tháng 10, pháo nổ trên bầu trời tỏa hình Ngô tổng thống, hình khóm trúc.

Mấy lần ông chú dẫn đi xe ngựa, xe lam 3 bánh lên trung tâm thủ đô dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc hận 20/7 chia đôi đất nước hay tham gia biểu tình phản đối chính phủ quân phiệt.

Cấp 1 tôi học trường Nghĩa Hòa, cấp 2 trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Năm lớp 10 vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, từ đó Sài Gòn trở nên thân quen. Là năm đầu tiên đi học trong thành phố, lại là năm chuyển tiếp không có thi tú tài nên nhiều hôm tôi đã trốn học đi chơi, không còn học giỏi như những năm ở trường Thánh Tâm mỗi tháng xếp hạng nhất, nhì hay ba về học lực và được lãnh bảng danh dự. Giờ tôi chỉ xếp hạng trung bình trong số 50 bạn học.

Tôi hay trốn học đi coi xi-nê ở rạp Cao Thắng, Nam Quang hay đạp xe quanh trung tâm thủ đô nên những con đường Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, Cao Thắng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn trở nên thân quen. Chợ Bến Thành, nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Tòa soạn Báo Tuổi Hoa trên đường Kỳ Đồng tôi hay vào đọc sách báo. Trước Bưu điện thành phố có xe bò bía, có mấy sạp bán tem thư mà tôi hay ghé mua phong bì khi có phát hành tem thư ngày đầu tiên. Qua đường Hai Bà Trưng, gần đến chợ Tân Định quẹo phải đường Trần Văn Thạch ghé tiệm tạp hóa của một ông gốc Hoa mua tem sưu tầm, là sở thích.

  Ở trung tâm thủ đô, tôi nhiều lần chứng kiến biểu tình của sinh viên học sinh quanh bùng binh Quách Thị Trang hay trước trụ sở quốc hội để phản đối chính sách của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống lại sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến.

Hết năm lớp 10, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua Nguyễn Bá Tòng Gia Định học lớp 11 và 12. Phạm Văn Thiêm là người bạn thật tốt học chung lớp 10, ngày nào cũng từ Hòa Hưng ghé qua nhà chở tôi đi học. Có những ngày sau giờ tan học chúng tôi đi vào trung tâm thủ đô qua Cầu Bông tràn ngập áo dài trắng tung bay của nữ sinh trường Lê Văn Duyệt.

Sài Gòn điêu tàn sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Cuối năm lớp 11, chiến tranh bùng nổ ở nhiều tỉnh. Mùa hè đỏ lửa 1972, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng là Đại úy Không quân Trần Thế Vinh, người được vinh danh là anh hùng diệt xe tăng, đã hy sinh trong một phi vụ chiến đấu.

Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.

Không như Mậu Thân khi du kích đánh vào tỉnh thành, lần này bộ đội cộng sản đem xe tăng, đại pháo tấn công vào nhiều nơi từ Quảng Trị địa đầu giới tuyến, Kontum trên cao nguyên đất đỏ vào đến An Lộc không xa thủ đô.

Chính phủ ban hành lệnh đôn quân. Tôi đã bước vào tuổi lính, lo học, lo cho tương lai và có nhiều ưu tư về cuộc chiến. Nhiều buổi chiều vào quán cà phê nghe nhạc vừa lãng mạn, tình tứ vừa buồn lo cho quê hương, thân phận con người.

Theo em xuống phố trưa nay

Đang còn ngất ngất cơn say

Theo em bước xuống cơn đau

Bên ngoài nắng đã lên mau…

(Lê Uyên Phương)

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm

Bom rung từng liếp cửa…

(Trịnh Công Sơn)

Thi đậu Tú tài I, tôi tiếp tục được hoãn dịch để học lớp 12. Trở lại trường mới biết bạn cùng lớp ai đã nhập ngũ. Học Anh văn với thầy Hoàng Định, thấy học trò lo lắng thầy trấn an: “Nixon đã đi Tầu, rồi sẽ đi Nga. Cuộc cờ đã ngã ngũ. Chiến tranh sẽ chấm dứt thôi.” Nhìn cây phượng nơi sân trường nở rộ hoa đỏ, thầy nói: “Năm nay phượng nở nhiều, các anh chị cũng sẽ thi đỗ nhiều để được học tiếp lên, có cơ hội góp phần xây dựng đất nước.” Hết niên học thầy được qua Mỹ tu nghiệp.

Gần nhà tôi có khu quân sự Mỹ trên đường Nguyễn Văn Thoại và quanh đó là những quán bar. Một chiều nghe tiếng nổ lớn, tôi chạy ra xem thấy xác người chết xám vì chất nổ TNT của Việt Cộng cài vào xe đạp. Một chị gần nhà, trên đường đi học về, đã chết hôm đó. Đêm đêm nghe bà mẹ khóc than thảm thiết: “Con ơi, ở đời măng khóc tre chứ ai ngờ mẹ lại phải khóc con.”

Ở trường tôi thích giờ giảng văn của thầy Trần Bằng Phong, phục khí phách Nguyễn Công Trứ có lúc làm quan và có lúc bị đày mà không nản chí. Với sự hướng dẫn của thầy, năm đó tôi làm bích báo cho lớp.

Trong giờ công dân giáo dục, thầy Nguyễn Văn Tiếu cho chúng tôi thảo luận về những vấn đề liên quan đến quốc gia. Tôi nêu chuyện tham nhũng, vì đọc báo có tin dân biểu đi công tác nước ngoài mang lậu nước hoa, mỹ phẩm, quần lót, lịch Playboy về bán; có dân biểu ăn cắp tượng cổ ở bảo tàng đem ra nước ngoài được báo chí đặt tên là “Dân biểu tượng Chàm”, nhưng sao không ai bị bắt giam. Thầy nói dân biểu nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm nên cảnh sát không thể bắt họ.

Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc đưa ra chính sách thuế trị giá gia tăng bị phê phán, chế giễu là “Tổng Ngốc”. Có bạn bày tỏ sự căm ghét “Vua đi đêm Kissinger” vì Hòa đàm Ba Lê kéo dài nhiều năm mà hòa bình đâu chưa thấy. Những dân biểu Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức đòi Mỹ rút và Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, có bạn hỏi tại sao không đòi Cộng sản Bắc Việt thôi xâm lược miền Nam.

Đường phố Sài Gòn năm 1969

Đầu năm 1973, Hiệp định Ba Lê được ký kết. Tôi vui mừng vì chiến tranh chấm dứt, từ nay người Việt thôi bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt mang khăn áo lành

Tôi chào đất nước tôi nay thái bình…

(Phạm Duy)

Sáng ngày hiệp định có hiệu lực, tôi và mấy bạn rủ nhau lên trung tâm thủ đô, vào một quán cà phê trên đường Nguyễn Du, nghe vang vang lời ca, như mơ ước đã có từ lâu:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

Mọi người ra phố mời rao nụ cười

(Trịnh Công Sơn)

Để chào mừng chiến tranh chấm dứt, tôi vẽ mẫu làm hai cánh cổng sắt trước nhà, mỗi bên có dấu hiệu hòa bình ở giữa. Sau khi cổng hoàn tất, một hôm có cảnh sát đến nhà nói với thầy tôi đó là dấu hiệu phản chiến và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi không đồng ý, chỉ cắt hai miếng thiếc che dấu hiệu, từ ngoài đường nhìn vào không còn trông thấy nữa. Ít lâu sau, kẻ trộm lấy mất một cánh cổng. Thầy tôi nghi cảnh sát đã lấy đi một cánh để nhà phải làm lại hai cánh mới. Tôi cũng nghĩ thế.

Bùi Văn Phú

Biểu tượng hòa bình vẫn còn trên cánh cổng khi tác giả trở lại ngôi nhà xưa vào năm 1997

Ở trường tôi hăng say sinh hoạt hiệu đoàn nên cuối niên học được hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ trao cho phần thưởng hạnh kiểm. Đến hè, tôi thi đậu Tú tài II.

Thi vào trường Kiến trúc, vì có hoa tay và thích vẽ, nhưng không đậu nên ghi danh vào trường Luật Sài Gòn là chính, Văn khoa là phụ.

Bạn cùng lớp 12 có Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý cũng ghi danh học luật. Võ Quang Thịnh, quen thân từ những năm ở trường Thánh Tâm, học Petrus Ký, đậu hạng bình. Tú tài I bạn đậu ưu, xin đi du học không được, ghi danh vào khoa Hóa, Đại học Minh Đức. Nguyễn Công Bình nhà ở Tân Chí Linh, đậu bình cả hai kỳ thi Tú tài, gia đình có anh tử trận nên được chính phủ cấp học bổng du học Mỹ. Hoàng Đức Hòa ghi danh chứng chỉ MPC bên Đại học Khoa học.

Sinh viên trường Luật năm đầu đi học ở rạp Thống Nhất. Giáo sư Vũ Văn Mẫu dạy cổ luật, giáo sư Trần Văn Liêm, dân luật; giáo sư Nguyễn Cao Hách, kinh tế; giáo sư Lê Đình Chân, luật hiến pháp.

Chương trình học có 7 môn, cuối năm bốc thăm hai môn chính thi viết luận văn, còn các môn khác là các câu hỏi ngắn. Một trong hai môn thi chính năm đó là luật hiến pháp mà tôi rất thích nghe Giáo sư Lê Đình Chân, người giảng rất lôi cuốn về quyền của dân, về các tổ chức công quyền là hành pháp, quốc hội, tối cao pháp viện, giám sát viện.

Đề tài thi là về luật bầu cử năm 1971 yêu cầu một ứng cử viên phải có sự đề cử của 60 dân biểu, nghị sĩ quốc hội hay 120 nghị viên hội đồng tỉnh. Điều đó có vi hiến hay không? Tôi đưa ra lập luận là không vi hiến, dẫn chứng là ở Mỹ, Pháp các ứng cử viên tổng thống đều phải có các đảng đề cử mới được ra tranh cử. Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa xác nhận sinh hoạt chính trị đa đảng và khuyến khích tiến tới lưỡng đảng thì việc ứng cử viên phải có sự đề cử là sinh hoạt dân chủ đa đảng. Đậu thi viết, tôi thi phần hai. Kết quả tôi hoàn tất chứng chỉ luật năm thứ nhất, được tiếp tục hoãn dịch để học năm thứ hai.

Nữ sinh Sài Gòn năm 1970 (trái) và năm 1972

Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hòa bình vì vẫn còn súng nổ trên chiến trường. Chuẩn úy Nguyễn Đức Tuyển, trưởng lớp ở Thánh Tâm, bị phục kích chết, mẹ của bạn trở nên điên dại khi nhận xác con về. Duy Nam, giọng hát truyền cảm trong các buổi văn nghệ và là học trò của ca sĩ Duy Khánh, tử trận. Phạm Văn Thông học chung lớp ở Thánh Tâm, bút hiệu Mai Thông, tử nạn khi trực thăng rớt. Anh Lâm cùng xóm là sĩ quan chiến tranh chính trị tử trận. Chuẩn úy Lê Minh Châu học chung lớp 11 chết mất xác.

Vào đại học, tôi thường ở nhà ông bác ngoài đường Thánh Mẫu, gần nhà thờ Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Anh cả của bác là Thẩm phán Trần An Bài, ngoài việc tại tòa án anh còn dạy ở Học viện Cảnh sát Quốc gia, Đại học Vạn Hạnh và thường viết cho báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm. Sau luật 7/72 bóp nghẹt tự do báo chí, tờ Xây Dựng phải đóng cửa. Nhà anh có báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc hay bị Bộ Dân vận Chiêu hồi ra lệnh tịch thu sau khi phát hành. Gần anh, tôi được học thêm nhiều về hệ thống luật của Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1974, anh trình luận án tiến sĩ luật, tiêu đề “Những bảo đảm của nghi can trong giai đoạn điều tra sơ vấn”.

 Khi ông Thiệu vận động quốc hội sửa hiến pháp, tăng nhiệm kỳ tổng thống lên 5 năm và cho ông quyền tái ứng cử sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt năm 1975, cho thấy ông muốn làm tổng thống suốt đời, nên tôi tham gia các hoạt động chống chính quyền độc tài vì tin rằng chỉ có dân chủ mới thắng được cộng sản.

Tôi và bạn Hoàng Đức Hòa bên Khoa học bàn với nhau là lên năm thứ hai hay thứ ba chúng tôi sẽ ra ứng cử ban đại diện sinh viên của khoa để hoạt động rộng hơn. Tôi thích làm báo nên sẽ tranh chức trưởng ban báo chí Luật khoa, dù biết là dấn thân hoạt động sẽ có nhiều nguy hiểm, như anh Lê Khắc Sinh Nhựt đã bị Việt Cộng ám sát chết ngay trong sân trường Luật.

Mấy năm trước, trong một buổi văn nghệ ở Văn khoa, anh Ngô Vương Toại đã bị cán bộ nội thành lên giựt mi-crô, nã đạn vào người và may thoát chết. Trong khuôn viên trường Luật thỉnh thoảng cũng có rải truyền đơn chống chính phủ. Sinh viên học sinh tranh đấu như Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi xuống đường biểu tình chống Thiệu, chống Mỹ bị bắt rồi được thả vì áp lực quốc tế can thiệp.

Hỏi ý anh Trần An Bài, anh nói muốn ứng cử vào ban đại diện sinh viên thì phải dứt khoát là người quốc gia, chống cộng và có một đảng ủng hộ ra tranh cử.

Tôi là người quốc gia, chống cộng nhưng không ủng hộ chính sách của ông Thiệu. Sinh hoạt chính trường miền Nam từ lâu đã có Đảng Đại Việt, có Quốc dân Đảng, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, Lực lượng Đại Đoàn kết mà tôi biết. Những năm qua có Đảng Dân chủ do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập ra. Trong bầu cử tổng thống 1971, liên danh Nguyễn Cao Kỳ bị loại và liên danh Dương Văn Minh rút lui để liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương độc diễn và thắng đến 94% cho thấy chủ trương độc tài của ông.

Một hôm trên báo Chính Luận có đăng quảng cáo của Đảng Quốc tiến mới được thành lập với người lãnh đạo là cựu Thượng nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ, từng là ứng cử viên phó tổng thống của tướng Nguyễn Cao Kỳ, nên tôi muốn gia nhập đảng này.

Bùi Văn Phú

Thẩm phán Trần An Bài bảo vệ luận án tiến sĩ luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1974. Tác giả bên bìa phải

Đầu năm 1975, tôi và Hòa đến một căn nhà bên hông Đại học Vạn Hạnh, gặp ông Ngọc, tổng thư ký Đảng Quốc tiến. Sau khi giới thiệu về mình và trò chuyện với ông về những vấn đề liên quan đến hiện tình đất nước, ông Ngọc cho biết chủ trương của đảng là đối lập với Đảng Dân chủ của ông Thiệu. Muốn vào đảng, mỗi người chúng tôi cần hai người giới thiệu. Tôi sẽ nhờ Thẩm phán Trần An Bài và Nghị viên Nguyễn Duy Bảo, người mà tôi từng tham gia vận động bầu cử cho, giới thiệu và tôi sẽ ra tranh cử vào ban đại diện sinh viên trường Luật.

Tại địa phương, tôi tham dự nhiều buổi thảo luận của Linh mục Trần Hữu Thanh về chính sách hay các dự luật tại quốc hội, làm sao vận động ủng hộ hay ngăn cản không cho thông qua. Cha Thanh đặt bản doanh của Phong trào Nhân dân chống tham nhũng tại xứ Tân Chí Linh nên khu Ông Tạ thường có biểu tình chống chính phủ. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ, tấm khiên, ba ton tới bao vây, bắn lựu đạn cay để giải tán.

Bạn bè tụ họp ở nhà Võ Quang Thịnh sau nhà dòng Mai Khôi đàn hát và đọc “Bản Cáo trạng số 1” của Phong trào vào băng cát-sét để lưu lại vì các báo đăng cáo trạng đã bị tịch thu.

Gần nhà có anh Nguyễn Tiến, tốt nghiệp văn khoa, tham gia chính trường, đắc cử nghị viên hội đồng xã Tân Sơn Hòa. Tiếp xúc với anh, tôi hiểu hơn về khu vực nơi mình sống tinh thần chống cộng cao, nhưng cũng có bạn trẻ ngả theo “cách mạng” vì cạnh bên là khu dệt Quảng Nam có nhiều người theo “Mặt trận”. Anh cho biết sự việc tôi gắn dấu hiệu hòa bình trên cổng và tham gia phong trào chống tham nhũng khiến có người nghi ngờ tôi theo cách mạng.

Cựu học sinh Thánh Tâm cũng đã có những buổi họp mặt tại trường, do anh Phạm Văn Sơn, sinh viên năm thứ ba khoa học đứng ra tổ chức. Chúng tôi thảo luận về hướng đi cho thanh niên sinh viên trong tình hình hiện tại, phải vững tinh thần quốc gia, không nghe tuyên truyền của cộng sản kêu gọi xuống đường, bãi khóa.

Năm 1974, trường Thánh Tâm đã bị “cách mạng” chiếm đóng cả tuần. Ban đêm, từ nóc trên tầng bốn họ cho phát thanh những bài viết chống chính phủ mà từ nhà tôi nghe rõ. Mấy lần cảnh sát tiến vào trường thì bàn ghế từ lầu cao được ném xuống, nên phải rút lui. Cho đến khi Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn xuống chỉ huy cả trăm cảnh sát tiến vào mới bắt được mấy thanh niên thiếu nữ theo Việt Cộng.

Hiệu trưởng trường Thánh Tâm là sư huynh Nguyễn Văn Ngươn, em của Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện, nên ngôi trường đã trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị cho khu vực Ông Tạ, từ vận động bầu cử đến đấu tranh.

Đầu năm 1975, cộng sản tấn công chiếm Phước Long, rồi Ban Mê Thuột. Như vết dầu loang, các tỉnh phía bắc dần dần bị mất kiểm soát. Dân miền Trung di tản vào Sài Gòn trong khi người thủ đô tìm cách rời nước ra đi.

Tướng Dương Văn Minh kêu gọi các bên ngưng bắn để hòa giải dân tộc. Tôi đã có bài viết trên báo Tiền Tuyến của quân đội vào đầu tháng Tư phản bác lại, vì theo tinh thần Hiệp định Ba Lê, bên gây chiến là bộ đội cộng sản, yêu cầu họ rút về miền Bắc thì mới có thể nói chuyện hòa giải, hòa hợp.

bùi văn phú

Sinh viên biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân tị nạn, Sproul Plaza, U.C. Berkeley 1979

Sáng 29/4/1975, sau khi nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên đài phát thanh yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh Bài quyết định đưa gia đình và các em ra đi, có tôi đi theo. Hai bác ở lại coi nhà vì có mấy người bà con từ Biên Hòa chạy đến tạm trú.

Qua các trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines; Guam và Camp Pendleton ở miền nam California, tôi có tìm kiếm bạn học cũ nhưng không ai đi thoát được. Nhiều lúc tôi tự hỏi đất nước đã hết chiến tranh, sao tôi không ở lại để theo đuổi ước mơ và góp tay xây dựng đất nước!

Mùa thu 1977, tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley, nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Hoạt động trong trường của thành phần ủng hộ Hà Nội vẫn còn, qua những buổi chiếu phim “79 Mùa xuân của Bác Hồ”, “Chiến thắng năm Mão”, sau đó đã bị người Việt tị nạn từ Oakland, San Francisco, San Jose kéo lên dẹp tan.

Cùng các bạn mới quen trong trường, chúng tôi thấy cần lập hội để giúp đỡ nhau và nêu cao tinh thần quốc gia của sinh viên tị nạn. Một số anh em họp bàn, soạn thảo nội quy và ngày 20/1/1979 tại ký túc xá Spens Black Hall, với 50 sinh viên Việt có mặt, nội qui hội được biểu quyết chấp thuận. Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học U.C. Berkeley chính thức được thành lập với mục đích giúp nhau học tập, bảo tồn phát huy văn hóa Việt và tương trợ lẫn nhau.

Cơ hội ứng cử ban đại diện sinh viên đến với tôi, không ở trường Luật Sài Gòn mà tại một đại học danh tiếng, chiếc nôi của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Tôi ra tranh chức trưởng ban văn hóa, phụ trách báo chí và văn nghệ, vì hợp với khả năng và sở thích. Ban chấp hành đầu tiên được bầu ra và tôi làm trưởng Ban Văn hóa.

Bản tin chính thức của hội phát hành số đầu tiên vào đúng dịp Tết Kỷ Mùi 1979. Ban chấp hành bắt tay ngay vào việc tổ chức pic-nic, thể thao, họp mặt ca hát, tưởng niệm 30/4, cứu giúp thuyền nhân, phát hành đặc san. Nội san Nối Vòng Tay ra đời. Tôi lại ôm đàn ghi ta, xướng lên những bài hát cộng đồng. Sân trường Đại học U.C. Berkeley vang những lời ca:

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

(Nguyễn Đức Quang)

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

(Trịnh Công Sơn)

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi

(Phạm Duy)

Bùi Văn Phú

Đại hội thể thao văn nghệ liên trường Bắc California tổ chức tại U.C. Berkeley năm 1988

Hai mươi năm sau, tôi trở về thành phố thân yêu cũ và không thấy đường phố nhà cửa có thay đổi nhiều, chỉ cũ đi và phai bạc mầu. Khu nhà tôi lúc bấy giờ nhiều người bán hàng bên lề. Nhưng tên đường giờ đã khác: Cách Mạng Tháng 8, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi hay Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Bành Văn Trân là những ai, nghe xa lạ quá.

Trường cũ cũng đã đổi tên. Nghĩa Hòa thành Chi Lăng, Thánh Tâm là Tân Bình, Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn thành Bùi Thị Xuân, Nguyễn Bá Tòng Gia Định thành Hoàng Hoa Thám và Đại học Luật khoa không còn mà trở thành Đại học Kinh tế. Bạn cũ nói kinh tế xã hội chủ nghĩa không ứng dụng gì được nên bỏ học ra đời chạy tắc xi hay làm nghề tự do.

Năm mươi năm qua, tôi theo dõi sinh hoạt chính trị và nhân quyền quê nhà. Năm mươi năm Sài Gòn đổi tên, Thành phố Hồ Chí đã mở rộng ra đến vùng biển, phường Sài Gòn giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi trên phố, nhưng ở mặt khác của cuộc sống, đến nay câu đồng dao mà người Sài Gòn từ lâu truyền khẩu cho nhau vẫn còn là hiện thực: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

ÁCH VỪA VẶN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi!”.

“Hãy trả lại cho con chim sức nặng của đôi cánh, và bạn sẽ thấy nó bay lên!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đôi cánh cũng là một sức nặng; nhưng chính sức nặng ấy lại làm con chim cất cánh. Cũng vậy, Lời Chúa hôm nay cho thấy: chiếc ‘ách vừa vặn’ của Đức Kitô không đè bẹp con người, nhưng nâng con người lên.

Chúa Giêsu nói, “Ách tôi êm ái”. Bản Hy Lạp viết chrēstos. Từ này không chỉ có nghĩa là êm ái, nhưng còn là tốt lành, thích hợp, vừa vặn với người mang. Một chiếc ách tốt không phải vì được làm từ gỗ tốt, nhưng vì nó được đẽo đúng kích cỡ: không làm trầy cổ, không làm con vật gục xuống, trái lại giúp nó kéo đi đúng hướng. Chúa Giêsu không hứa một cuộc đời không gánh nặng; Ngài hứa một chiếc ách được đo bằng tình yêu, vừa vai mỗi người và đủ sức nâng chúng ta lên. “Tình yêu không cảm thấy gánh nặng; không kể đến nhọc nhằn; và làm được nhiều hơn điều tưởng mình có thể làm!” – Thomas à Kempis.

Vậy mà chiếc ách ấy chỉ vừa với một hạng người: những ai biết mình bé nhỏ – “Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”. Bản Hy Lạp dùng từ nēpioi, không chỉ những trẻ thơ về năm tháng, nhưng những con người biết mình không đủ, không thể tự cứu mình và hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa. Chính sự bé nhỏ ấy mở ra điều mà người khôn ngoan lại khép kín. Đức tin không bắt đầu khi chúng ta biết nhiều hơn, nhưng khi chúng ta thôi nghĩ mình đủ. Chỉ ai dám để Chúa mang lấy cuộc đời mình mới khám phá ách của Ngài thật êm ái.

Đó cũng là cách Thiên Chúa hành động trong suốt lịch sử. Zacharia loan báo một vị Vua không cưỡi chiến mã, nhưng khiêm tốn ngồi trên lưng lừa – bài đọc một. Ách Ngài trao không phải là ách của bạo lực, nhưng là ách của tình yêu. Phaolô đi xa hơn: chúng ta mang được ách ấy không nhờ sức riêng, nhưng nhờ Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại – bài đọc hai. Vì thế, ách không hề nhẹ hơn, nhưng người mang đã mạnh hơn. Đó cũng là lý do Hội Thánh hân hoan cất tiếng: “Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con, xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ trao cho chúng ta một chiếc ‘ách vừa vặn’; chính Ngài đã mang nó. Vì thế, khi nhìn lên Đấng đã mang mọi sự vì yêu, những lời than phiền của chúng ta dần lặng xuống. Ngài không cất khỏi vai chúng ta chiếc ách tưởng là nặng, nhưng biến nó thành đôi cánh. Thập giá vẫn là thập giá; nhưng khi được mang với Đức Kitô, nó không còn đè bẹp con người, mà nâng con người lên. Đó là chiếc ách êm ái của Tin Mừng: không làm cuộc đời bớt nặng, nhưng làm trái tim đủ mạnh để mang mọi gánh nặng trong tình yêu. “Ở chiều tối của cuộc đời, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không xin cất khỏi con mọi gánh nặng; nhưng xin cho con một trái tim đủ yêu để mang lấy ách của Chúa, hầu những gì tưởng kéo con xuống lại trở thành đôi cánh nâng con lên!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIV TN, NĂM A

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 11,25-30

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”

28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”


 

Kỷ niệm 250 năm ngày thành lập nước Mỹ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV kêu gọi bảo vệ người nhập cư

Ba’o Nguoi-Viet

July 4, 2026

LAMPEDUSA, Ý (NV) – Kỷ niệm 250 năm ngày độc lập của Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV gửi lời kêu gọi người dân Mỹ chào đón và bảo vệ người nhập cư. Thông điệp này được gửi về quê hương giữa lúc ngài đang có chuyến viếng thăm tới Lampedusa, hòn đảo tuyến đầu về di cư của Ý, trong ngày Thứ Bảy, 4 Tháng Bảy, theo NBC News.

Năm ngoái, Đức Giáo Hoàng Leo XIV từng khiến Tổng Thống Donald Trump giận dữ sau khi gọi các chính sách chống nhập cư cứng rắn của nhà lãnh đạo Mỹ này là “vô nhân đạo.” Trong thông điệp lần này, ngài cũng kêu gọi thế giới trở nên “nhân văn hơn” và giúp đỡ những người đang chạy trốn khỏi chiến tranh và nghèo đói.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV gặp một gia đình di dân tại khung vòm Cửa Ngõ Châu Âu, do nghệ sĩ người Ý là Mimmo Paladino thực hiện, tại đảo Lampedusa hôm Thứ Bảy. (Hình: Tiziana FABI/AFP via Getty Images)

Trong chuyến thăm tới Lampedusa, cửa ngõ của những người di cư chấp nhận rủi ro vượt Địa Trung Hải đầy nguy hiểm để từ châu Phi vào Châu Âu, Đức Giáo Hoàng Leo XIV thúc giục các nhà lãnh đạo Châu Âu cần nỗ lực hơn nữa để hỗ trợ những người mới đến, khi con số này đã vượt quá 7,000 người trong năm nay.

Trong một lời kêu gọi riêng biệt được gửi tới Mỹ nhân cột mốc kỷ niệm lịch sử, Đức Giáo Hoàng tuyên bố rằng giá trị Công Giáo trong việc bảo vệ sự sống bao gồm cả việc “chào đón, bảo vệ và hỗ trợ người nhập cư.” Ngài nhắn nhủ tới nước Mỹ: “Đón nhận (người nhập cư) với lòng trắc ẩn và sự rộng lượng không chỉ là một hành động bác ái, mà còn là sự công nhận phẩm giá vốn có của mỗi con người.”

Nằm giữa Tunisia, Malta và Sicily, đảo Lampedusa tọa lạc trên một trong những tuyến đường di cư nguy hiểm nhất thế giới. Nhiều người di dân đặt chân đến đây sau khi vượt Địa Trung Hải trên những chiếc thuyền quá tải và phương tiện thô sơ.

Chuyến đi này gợi nhắc lại hành trình của cố Đức Giáo Hoàng Francis, người từng chọn Lampedusa làm điểm đến cho chuyến công du đầu tiên bên ngoài Rome sau khi đắc cử chức vụ Giáo Hoàng vào năm 2013.

Trong số những người tập trung gần cảng cực nam của Ý để đón vị Giáo Hoàng có cả những người di dân mới đến, các viên chức tìm kiếm cứu nạn thuộc Lực Lượng Cảnh Sát Biển Ý và các nhóm viện trợ. Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói với họ rằng ngài đến đây để chứng minh rằng vị chủ chăn giáo hội Công Giáo “vẫn tiếp tục đồng hành, hỗ trợ và khích lệ các con chiên.”

Đức Giáo Hoàng Leo XIV cũng kêu gọi các giới chức lãnh đạo Châu Âu giải quyết vấn đề di cư “một cách toàn diện, lồng ghép các nỗ lực cứu trợ khẩn cấp vào một kế hoạch chiến lược dài hạn có khả năng tiếp nhận, bảo vệ, hỗ trợ và tái hòa nhập người di cư.” Ngài đồng thời thúc giục họ giúp cải thiện điều kiện sống tại quê hương của người di cư để giảm bớt số người buộc phải ra đi.

Ông Kandeh Abdourahman, một di dân đến Lampedusa vào năm 2015 sau khi đi qua năm quốc gia Châu Phi, sa mạc Sahara và Địa Trung Hải, chia sẻ với Reuters: “Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng có ý nghĩa với mỗi chúng tôi. Đó là lời nhắc nhở rằng câu chuyện của chúng tôi được lắng nghe, và sự chào đón không chỉ là một từ ngữ suông mà là một hành động nhân văn.” Hiện tại, ông Abdourahman đang là điều phối viên văn hóa của Ủy Ban Cứu Trợ Quốc Tế (IRC).

Theo dữ liệu từ Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cung cấp cho Reuters, tính đến thời điểm hiện tại trong năm nay, tổng cộng có 14,464 người di cư đã đến Ý bằng đường biển, với hơn một nửa đặt chân lên Lampedusa. Con số này thậm chí vượt quá dân số thường trú của hòn đảo (khoảng 6,000 người).

Theo Tổ Chức Di Cư Quốc Tế (IOM) của Liên Hiệp Quốc, hơn 1,400 người đã thiệt mạng hoặc mất tích khi cố vượt Địa Trung Hải trong năm nay, trong đó có 28 trẻ em.

Kể từ khi trở thành nhà lãnh đạo Vatican vào Tháng Năm, 2025, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đưa việc hỗ trợ người di dân trở thành chủ đề trọng tâm trong triều đại của mình. Tháng trước, ngài từng cảnh báo rằng lịch sử sẽ phán xét nghiêm khắc những giới chức lãnh đạo ngược đãi người nhập cư.

Trong bài phát biểu lớn đầu tiên gửi tới nước Mỹ vào Thứ Sáu, ngài tán dương lịch sử đón nhận người nhập cư của quốc gia và thúc giục người dân Mỹ giữ vững các lý tưởng được đề ra trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

Đặt chân đến Lampedusa vào khoảng trước 9 giờ sáng Thứ Bảy, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đặt hoa tại một nghĩa trang địa phương trên phần mộ của những người di cư thiệt mạng khi cố vượt Địa Trung Hải. Ngài cũng đến thăm “Cửa Ngõ Châu Âu” (Door of Europe), một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt nằm trên bãi biển cực Nam nước Ý dành riêng cho người di cư, và đi bộ qua cấu trúc này hướng về phía Địa Trung Hải giữa những cơn gió mạnh.

Các giới chức Vatican cho biết Đức Giáo Hoàng Leo XIV muốn nhấn mạnh thông điệp hỗ trợ người di cư và cố ý chọn thời điểm chuyến thăm trùng với ngày nghỉ Lễ Độc Lập Mỹ 4 Tháng Bảy. (MPL) [dt]


 

Mừng kính Thánh Tô-ma tông đồ – Cha Vương

Hôm nay 03/07 Giáo hội mừng kính Thánh Tô-ma tông đồ, ông Thánh Hồ nghi,  mừng lễ bổn mạng đến những ai chọn Ngài làm quan thầy. Xin cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 03/07/2026.     (t5-25)

Thánh Thomas Tông Đồ được mô tả như một con người sáng suốt, thực tế và quả cảm theo Phúc  m của Gioan. Ông có biệt danh là Didymô nghĩa là song sanh. Thomas đoán chắc những việc lớn lao sẽ diễn ra ở Jérusalem dịp lễ Vượt Qua “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Người” (Gn 11, 6)

Thật tội nghiệp cho Thánh Tôma! Chỉ có một câu nói của ngài mà bị gán cho cái tên “Tôma Hồ Nghi” trong suốt 20 thế kỷ. Nhưng nếu ngài nghi ngờ thì ngài cũng đã tin. Lời ngài tuyên xưng đã trở thành một phát biểu đức tin trong Tân Ước: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” (x. Gioan 20:24-28), và lời ấy đã trở thành lời cầu nguyện được đọc cho đến tận thế. Cũng nhờ ngài mà Kitô Hữu chúng ta có được lời nhận định của Ðức Giêsu: “Anh tin là vì anh đã thấy Thầy. Phúc cho những người không thấy mà tin” (Gioan 20:29).

  Thánh Tôma cũng nổi tiếng vì sự can đảm của ngài. Có thể điều ngài nói là do bốc đồng—vì ngài cũng bỏ chạy như các tông đồ khác khi Ðức Giêsu bị bắt bớ— nhưng chắc chắn ngài đã không giả dối khi nói lên ý muốn cùng chết với Ðức Giêsu. Ðó là khi Ðức Giêsu đề nghị đến Bêtania sau khi Lagiarô từ trần. Vì Bêtania rất gần với Giêrusalem, điều đó có nghĩa phải đi bộ ngang qua phần đất của kẻ thù và rất có thể sẽ bị giết chết. Nhận biết sự kiện này, Thánh Tôma nói với các tông đồ khác, “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Thầy” (Gioan 11:16b).

  Thánh Tôma còn được nhắc đến khi Ðức Giêsu hiện ra sau Phục Sinh, tại Hồ Tibêria khi bắt được nhiều cá một cách lạ lùng. Truyền thống nói rằng, sau biến cố Hiện Xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần, các Tông Ðồ đi rao giảng khắp nơi, và Thánh Tôma đã loan truyền Tin Mừng cho người Parthia, Medes  và Persia (Ba Tư); sau cùng ngài đến Ấn Ðộ, đem Ðức Tin cho dân chúng ở vùng ven biển Malaba, mà giáo đoàn đông đảo ấy tự nhận họ là “Kitô Hữu của Thánh Tôma” theo lễ điển Malabar còn làm chứng tá cho tương truyền ấy. Ngài đã chấm dứt cuộc đời qua sự đổ máu cho Thầy mình, đã bị đâm bằng giáo cho đến chết năm 72 ở nơi gọi là Calamine.

  Trong các hình của thánh nhân tay cầm một cây thước thợ nề mà theo tương truyền thánh nhân đã xây cung điện cho vua Guduphara ở Ấn Độ. Lễ kính thánh nhân ngày 03 tháng 7 là ngày chuyển dời thánh tích của thánh nhân về Edessa ở Mesopotamia.

 (Nguồn: “Điển Ngữ Các Thánh” của cố linh mục Hồng Phúc, CSsR)

❦  Trong ngày hôm nay hay mỗi khi Bạn cảm thấy mệt mỏi và bất lực về một vấn đề nào đó, mời Bạn, nếu có thể, hãy nhắm mắt lại và thốt lên lời tuyên xưng đức tin của Thánh Tô-ma: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Bạn có thể coi câu này như là lời chân thật từ đáy lòng của mình và lập đi lập lại nhiều lần để đón nhận sự bình an của Chúa.

From: Do Dzung

*********************************

Thánh Ca | Tôi Tin

CHA WILFRID STINISSEN GIẢI THÍCH VỀ ĐÊM TỐI THIÊNG LIÊNG

CHA WILFRID STINISSEN GIẢI THÍCH VỀ ĐÊM TỐI THIÊNG LIÊNG

Mỗi tháng trong Năm Cầu Nguyện 2024 này, thầy Baptiste de l’Assomption giúp chúng ta khám phá thông điệp về một nhân vật tâm linh ít được biết đến của thế kỷ 20.  Thầy bắt đầu với cha Wilfrid Stinissen, dòng Cát Minh, một chuyên gia lớn về Thánh Gioan Thánh Giá, người cho chúng ta thấy “đêm tối” là một giai đoạn của đời sống thiêng liêng chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.

 “Điều đó sẽ mang lại cho bạn bớt ở luyện ngục hơn!”  Đây là cách diễn đạt mà đôi khi chúng ta nghe thấy trên môi miệng các Kitô hữu!  Chúng ta có thể giải thích nó theo cách chủ bại: “Trong mọi trường hợp, đau khổ là cần thiết… dù phải có nó, nhưng càng phải sống với nó ngay bây giờ!”  Chúng ta cũng có thể hiểu nó như là một tin tuyệt vời!  Người ta có thể sống, từ trái đất này, sự chuẩn bị tuyệt vời này cho cuộc sống trên thiên đàng và thấy trước, ngay cả trước khi chết, những niềm vui trên Thiên Đàng!  Đây là một trong những học thuyết truyền thống nhất được tìm thấy trong học thuyết về đêm tối của Thánh Gioan Thánh Giá.  Theo ngài, đêm tối không gì khác hơn là một luyện ngục được trải nghiệm trên trái đất, vốn chuẩn bị cho sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa ở trung tâm tâm hồn.  Nhưng thực sự ngài đang nói về điều gì?  Hãy để cha Wilfrid Stinissen (1927-2013) nói cho chúng ta về điều này: vị tu sĩ Cát Minh người Bỉ này đã trở thành bề trên tu viện của mình ở Thụy Điển và được công nhận là một trong những chuyên gia giỏi nhất về Thánh Gioan Thánh Giá vào cuối thế kỷ 20. 

Vào thời điểm nào của đời sống thiêng liêng?

 Nơi các Kitô hữu, có nhiều giai đoạn của đời sống thiêng liêng: giai đoạn mà chúng ta bắt đầu bước theo Chúa Kitô một cách cương quyết hơn; giai đoạn mà cuộc sống với Ngài trở nên giống như hơi thở tự nhiên.  Nhưng cuộc hành trình vẫn chưa kết thúc.  Như cha Wilfrid giải thích: “Chúng ta bị cám dỗ để tin – đặc biệt khi đọc các sách thần bí – rằng chúng ta đã tìm ra con đường, và bây giờ vấn đề là phải tiếp tục con đường này cho đến hết đời, sự nghỉ ngơi sẽ trở nên sâu xa hơn bao giờ hết, sự thỏa mãn càng lớn hơn” (La nuit comme le jour illumine, trang 18).

 Trên thực tế, mọi thứ chỉ mới bắt đầu.  Sau khi đã trải nghiệm đủ lâu một cuộc sống gần gũi với Thiên Chúa, cảm nghiệm được sự hiện diện của Ngài ở trung tâm tâm hồn, giờ đây linh hồn đã sẵn sàng, nó đủ gắn bó với ý muốn của Ngài, để trải qua một cảm nghiệm đau đớn hơn, một cuộc thanh tẩy sâu sắc hơn vốn có hai khía cạnh, “khía cạnh luân lý và khía cạnh hữu thể học” (tr. 19).

 Sự thanh tẩy luân lý 

Khía cạnh luân lý của đêm tối gắn liền với sự thánh thiện quá vĩ đại của Thiên Chúa.  Khi Chúa đến gần một linh hồn, ánh sáng rất tinh tuyền của Ngài làm nổi bật những vùng tối tăm ẩn giấu nhất.  Lúc đó, linh hồn trải qua một trải nghiệm khó có thể chịu đựng được.  Tội lỗi và nỗi khốn cùng của nó được đưa ra ánh sáng, không phải để nó tuyệt vọng, nhưng để nó hiến thân, với sự nhỏ bé và yếu đuối của mình, cho ngọn lửa thiêu đốt của Lòng Thương Xót của Chúa.  Cha Wilfrid nói: “Điều hết sức quan trọng là phải hiểu rằng nỗi đau khổ trong đêm tối không phải do sự vắng mặt của Chúa gây ra.  Ngược lại, chính sự hiện diện của Thiên Chúa – một sự hiện diện theo một cách nào đó quá mãnh liệt và vượt quá khả năng của linh hồn – là nguyên nhân của mọi nỗi buồn của đêm tối.  Thánh Gioan Thánh Giá không ngừng lặp lại rằng đêm tối xuất phát từ tình yêu “quá vĩ đại” của Thiên Chúa” (tr. 20).

 Sự biến đổi hữu thể học

 Nhưng đêm tối không chỉ là “sự thanh lọc.”  Nó cũng là một “sự biến đổi” để những lời của Thánh Phaolô được thể hiện trong linh hồn: “Với Chúa Kitô, tôi bị đóng đinh.  Không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Ga 2,19-20).  Người nào đã nhìn thế giới và các sinh vật theo cách của con người, giờ đây sẽ nhìn chúng bằng con mắt của Chúa.  “Hoa hồng” không còn là một loài cây kỳ diệu nói với họ về vẻ đẹp của Thiên Chúa nữa: nó trở thành một lời của Chúa Cha mặc khải cho họ tất cả vẻ đẹp của Lời Ngài, trong Người Ngài đã tạo dựng nên mọi sự.  Họ không còn yêu thương anh em mình bằng sức lực con người nữa, nhưng bằng tình yêu của chính Chúa Thánh Thần.  Không còn là họ phải “chịu đựng” một đồng nghiệp khó quản lý: chính Chúa Giêsu đã yêu người đó qua họ, bằng chính Trái Tim của Người.  Nhưng trước khi đạt được trạng thái hạnh phúc này, cần phải ưng thuận trải qua một quá trình chuyển đổi đau đớn:

 Sức mạnh của linh hồn không ngay lập tức chấp nhận rằng họ không còn có thể hành động theo cách thông thường nữa.  Phải mất thời gian trước khi họ hoàn toàn buông mình cho Thiên Chúa và học cách lắng nghe những tín hiệu đến từ bên trong, thay vì chiếm lấy đối tượng của họ một cách tàn nhẫn.  Phải mất thời gian trước khi móng vuốt phát triển thành những ăng-ten nhạy cảm.  Trong khi chờ đợi sự biến đổi này, chúng ta lơ lửng giữa trời và đất (NO II 6, 5).  Chúng tôi không còn có thể hành động như trước nữa, chúng tôi cảm nghiệm sự hoàn toàn bất lực của mình” (tr. 23).

 Bằng lòng đi vào mầu nhiệm thập giá 

Tóm lại: do đó rất có thể sống “luyện ngục” này trên trái đất.  Đó là sự triển nở của tâm hồn, vốn cho phép nó sống từ trần thế này trong niềm vui của cuộc sống thiên đường.  Nhưng để làm được điều này, cần phải ưng thuận đi sâu vào mầu nhiệm Thập Giá một cách trọn vẹn.  “Luyện ngục” này thường xảy ra nơi những người Kitô hữu sau một thời gian dài thân mật với Thiên Chúa.  Nó mang hình thức một cuộc thanh tẩy những cội rễ sâu xa nhất của tội lỗi và một sự biến đổi tâm hồn.  Mặc dù trải nghiệm đó rất đau đớn – nó có thể có hàng ngàn hình thức! – nhưng đây có lẽ là ân sủng đẹp nhất mà Thiên Chúa có thể ban cho con người trên trái đất này.  Đêm tối này, như Thánh Gioan Thánh Giá đã nói, là một đêm tối thực sự hạnh phúc vì nó dẫn chúng ta đến sự kết hợp sâu sắc với Đấng đã yêu thương chúng ta biết bao.

 Baptiste de l’Assomption o.c.d. 

Tý Linh Chuyển ngữ từ: fraleteia.org (20.01.2024)
Nguồn: xuanbichvietnam.net


 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Xuân Hồng 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Thấy có một số bạn kết án TT Ngô Đình Diệm đã ” ép” Nhất Linh chết. Mọi thứ đều có nguồn cơn

Văn nhân kiêm chánh trị gia Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sanh ngày 25-7-1905 tại Cẩm Giàng, Hải Dương

Ông là học sinh trường Bưởi Hà Nội. Năm 1923 đậu tiểu học, năm 1924 học y và mỹ thuật ở Hà Nội, nhưng sau đó bỏ ngang hông

Năm 1926, vào Nam Kỳ, qua Miên

Năm 1927, sang Pháp, nghiên cứu nghề báo và xuất bản. Năm 1930, tốt nghiệp cử nhơn khoa học giáo khoa chuyên ngành lý hoá tại Pháp

Trở về nước, Nguyễn Tường Tam dạy học tại trường Thăng Long và Gia Long Hà Nội.

Năm 1932, làm giám đốc báo Phong Hoá.

Năm 1933, thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Nhất Linh là cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn

Hồi năm 1939 Nhất Linh hoạt động chánh trị, lập đảng chống Pháp lấy tên là Hưng Việt sau đổi thành Đại Việt Dân Chính

Năm 1942, Nguyễn Tường Tam sang Trung Quốc hoạt động trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội với Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh

Sau đó, ông về Việt Nam Quốc Dân Đảng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (Đại Việt Dân chính đảng hợp nhứt với Việt Nam Quốc dân đảng và Đại Việt Quốc dân đảng)

Năm 1945 Nguyễn  Tường Tam tham gia Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất  làm Phó chủ tịch, Nguyễn Hải Thần Chủ tịch, và là đối lập với Việt Minh

Sau dưới áp lực của Tưởng Giới Thạch, Nguyễn Tường Tam giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chánh phủ Liên hiệp Kháng chiến của ông Hồ Chí Minh

Ngày 5-3-1946, Nguyễn Tường Tam từ chức bộ trưởng ngoại giao và tháng 12-1946 bỏ qua Tàu cùng với cựu hoàng Bảo Đại

Năm 1949, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chánh trị nữa 

Năm 1953, ông lên Đà Lạt ở ẩn, 1958 trở về Sài Gòn hoạt động văn nghệ

Năm 1960 thời VNCH của TT Ngô Đình Diệm, Nhất Linh tham gia thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông đảo chánh tấn công dinh Độc Lập nhằm lật đổ TT Ngô Đình Diệm vào ngày 11/11/1960

Vụ đảo chánh bất thành

Những người cầm đầu như Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thuỵ, Nguyễn Chánh Thi chạy thoát sang Cam Bốt

Những chính khách ở lại đều bị bắt gồm: Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Chữ, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương, Trương Bảo Sơn, luật sư Lê Ngọc Chấn và …..Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

TT Ngô Đình Diệm đã nương tay với Nhất Linh

Tội “xâm phạm an ninh quốc gia” tham gia đảo chánh là tội nặng phải bắt nhốt vô tù, nếu tại ngoại bị giam lỏng thì 3 ngày trước khi xét xử phải bị giam, nhưng riêng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam thì không bị giam ngày nào

Nguyễn Tường Tam bị điều tra sơ khởi tại Nha Cảnh Sát, nha an ninh quân đội và thẩm tòa án quân sự đặc biệt

Ông khai ông không biết gì đảo chánh

TT Diệm cho bắt giam hết các nhân sĩ và lãnh tụ đảng phái và giáo phái khác, không trừ một ai,nhưng trừ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi ông này vẫn ở nhà chung cư chợ An Đông, tất nhiên bị an ninh canh chừng

Phiên tòa sẽ xét xử ngày 08/07/1963

Chủ tọa phiên tòa “viết thơ mời” Nguyễn Tường Tam chứ không phải ra trát đòi yêu cầu ông ngày đó nhớ đi hầu tòa.

Ai dè ngày  7-7-1963 Nguyễn Tường Tam tự sát bằng thuốc

Ra tòa đặng làm sáng tỏ, cũng là thể hiện bản lãnh người làm chánh trị, nhưng ông không ra tòa, ông tự sát

Chúng ta thắc mắc, vậy rốt cuộc Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh TT Ngô Đình Diệm hay không?

Trong một bài viết,con trai ông là Nguyễn Tường Thiết viết:

“Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi: “Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài, anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.”

Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh

Ông Thiết viết và lý giải vì sao cha ông là ông Nguyễn Tường Tam được tự do ở nhà trong khi đồng sự, đàn em bị bắt tạm giam hết

(Trích)

” Sự việc không bắt cha tôi, ngoài lý do không có bằng cớ, tôi cho còn là một sự tính toán cân nhắc lợi hại của chính quyền họ Ngô chứ chưa hẳn do cảm tình riêng của ông Diệm đối với ông cụ tôi như nhiều người nghĩ.

Thứ nhất không bắt ông cụ để ông cụ vô can tức là chứng tỏ cho dân chúng biết Nhất Linh không hề bất mãn và phản đối chế độ ông Diệm.

Thứ hai họ nghĩ rằng chặt hết tay chân của ông cụ tôi thì ông cụ tôi còn làm gì được nữa?

Nhưng không bắt bớ không có nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do.

Trong cuốn “Nhất Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: “Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa) ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.” (Hết trích)

Nhất Linh chọn ngày song thất 7 tháng 7 năm 1963 tự tử chết là trù và rủa ông Diệm vì ông lên làm Tổng Thống cũng vào ngày song thất

Nhất Linh để lại di ngôn 71 chữ :

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do,Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.7-7-1963”

Ông  noi gương ông  Thích Quảng Đức

Có ba nhận định về cái chết của Nhất Linh

Chúng ta hậu thế đọc đủ 3 dòng này

– Ông Nguyễn Văn Lục viết sách nói Nhất Linh “tự tử vì căn bệnh tâm thần” từ trước, tức có chứng bịnh suy nhược thần kinh và ông đã muốn chết từ trước 

-Lê Nguyên Phu nói Nhất Linh chết  “tự tử để tránh khỏi phải ra tòa đối chất với thuộc hạ”

Và thứ ba là của những người chống đối TT Diệm và của gia đình Nhất Linh nói Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử chết để phản đối  sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ TT Ngô Đình Diệm Ngô, chống lại gia đình trị độc tài

Ai hiểu sao cứ hiểu

Trong lịch sử, từ xưa đã có nhiều trí thức tự chọn cách tự tử một cách tiêu cực để rủ bỏ nợ trần ai

Khuất Nguyên là bậc đại trí thức thời kì chiến quốc, ông ôm giữ tấm lòng tận trung báo quốc với tài năng, đức độ và sự chánh trực của mình.

Thế nhưng có lẽ ông chỉ là một ngọn đuốc lẻ loi, một kỵ binh đơn thương độc mã, cuối cùng Khuất Nguyên ôm bọc đá nhảy xuống sông Mịch La tự trầm

“Tránh điều lỗi, mặc đời xoi mói!

Nén chí xưa, cam nỗi xót xa.

Thánh hiền xưa cũng như ta,

Thẳng ngay mà chết, ấy là chết trong”

(Ly tao-Khuất Nguyên)

Đời Hậu Trần, vua tôi Trùng Quang Đế,Đặng Dung, Nguyễn Súy khi rơi vào tay quân Minh đều tự vẫn, đó là tấm gương trung liệt cho đời

“Đầu bạc giang san thù chửa trả,

Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi”

(Đặng Dung-Cảm hoài)

Quan Phan Thanh Giản sau khi giao thành trì cũng tự vẫn để giữ tròn khí tiết

Chúng ta không ca ngợi và đề cao cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhưng cũng không dám phê phán nó, làm chánh trị mà hở chút …tự tử chết thì hao người lắm. Nhưng cũng tôn trọng sự lựa chọn của ông

Chánh trị kiểu ông Thích Quảng Đức cũng là tạo sự kiện chánh trị thôi

Vũ Hoàng Chương có viết bài văn tế Nhất Linh, lấy hai câu kết bài

“Than ôi! Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái, ngẩng đầu lên sấm sét vẫn chưa nguôi;

Việc văn chương một tấc để ngàn thu, ngoảnh mặt lại đá vàng sao khỏi thẹn.”

Chúng ta hậu thế, phải đọc và hiểu rõ nguồn gốc, ngọn ngành để tránh bị dẫn đường như người mù trong bóng tối.

Theo FB Nguyễn gia Việt