TRỜI LUÔN ĐI TRƯỚC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.

“Chúng ta không thể bước nổi một bước về phía trời; Thiên Chúa băng qua vũ trụ để đến với chúng ta!” – Simone Weil.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Phêrô tưởng mình đang trả lời một câu hỏi dưới đất; Chúa Giêsu cho biết điều ông nói đến từ trời. Khi con người chưa kịp bước, ‘Trời luôn đi trước’.

“Người ta nói Con Người là ai?”; “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Đám đông chỉ gọi Chúa Giêsu bằng những cái tên đã biết. Phêrô không đặt Ngài vào hàng bất cứ ai: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Khoảng cách giữa hai câu trả lời nằm ở nguồn phát sinh: một bên đi lên từ ký ức của đất, một bên đi xuống từ mặc khải của Trời. Mặc khải không đến như phần thưởng của trí tuệ, nhưng đi trước để lời tuyên xưng có thể cất lên. Trước khi miệng người mở ra để nói về Chúa, Trời đã băng qua vũ trụ để xuống tận lòng người.

Chỉ sau khi xác nhận nguồn của lời tuyên xưng, Chúa Giêsu mới nói: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá”; “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời”. Đức tin đi trước quyền bính. Phêrô là đá, nhưng Đấng xây Hội Thánh vẫn là Chúa Kitô; ông giữ chìa khoá, nhưng không phải để buộc trời theo ý đất, mà để đất không đi lạc ý trời. Chìa khoá chỉ mở đúng cửa trong tay người biết vâng phục.

Chìa khoá ấy đã được báo trước. “Ta sẽ gọi tôi tớ Ta là Engiakim”; “Chìa khoá nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó” – bài đọc một. Trước khi mở một cánh cửa, trách nhiệm đã được đặt lên vai người nhận. Người giữ khoá có thể thay, nhưng quyền vẫn đến từ Đấng trao. Phaolô đưa mọi sự về nguồn: “Muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người” – bài đọc hai. Mặc khải do Trời, lời tuyên xưng nhờ Trời, quyền bính quy về Trời. “Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang!” – Thánh Vịnh đáp ca. Con người cầm chìa khoá, nhưng chỉ Thiên Chúa mới hoàn tất công trình.

Chúng ta thường muốn đóng mở đời người khác trước khi hỏi ý Chúa. Nhiều tổn thương gia đình, cộng đoàn không bắt đầu từ ác ý, nhưng từ những người thiện chí đi trước Trời. Đức tin không chỉ hỏi, “Tôi có thể làm gì?”, nhưng còn hỏi, “Chúa đã đi trước tôi thế nào?”. “Để bản sắc Kitô hữu không bị thu hẹp thành một tàn tích của quá khứ, chúng ta phải vượt qua một đức tin mệt mỏi và trì trệ!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Trời không chỉ gửi xuống một mặc khải; Trời đến bằng một khuôn mặt. Phêrô được trao chìa khoá, nhưng Đức Kitô là Cửa; Phêrô được gọi là đá, nhưng Đức Kitô vẫn là đá góc tường. Ngài bước vào nơi không ai muốn bước – cô độc, khổ đau và sự chết – để mở lối không ai có thể mở. Vì thế, cả khi chúng ta vác thập giá, con đường trước mặt đã có dấu chân và dấu máu của Ngài. ‘Trời luôn đi trước’ để gánh lấy điều đang đợi chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết lắng nghe trước khi lên tiếng; tìm ý Chúa trước khi khoá một ai; và theo dấu chân Chúa trước khi dẫn người khác về với Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN, NĂM A

: https://bom.so/VQwNn8

Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 16,13-20

13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.


 

Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 Đầu của cô đã bị cạo trọc. Máy chém đang chờ sẵn. Rồi một người đàn ông xuất hiện và cứu mạng cô, bằng cách giao cho cô công việc đáng sợ nhất ở Paris.

Cô sẽ sống sót. Và cô sẽ xây dựng cả một đế chế từ chính điều đó.

Bạn biết tên cô. Madame Tussaud.

Cô sinh ra với tên Anna Maria Grosholtz vào năm 1761, tại thành phố Strasbourg của Pháp, chỉ hai tháng sau khi cha cô tử trận. Người mẹ góa bụa của cô nhận công việc quản gia tại Bern, Thụy Sĩ, trong ngôi nhà của một bác sĩ người Thụy Sĩ trầm lặng và lập dị tên Philippe Curtius, người có một niềm ám ảnh kỳ lạ và ngày càng lớn dần.

Ông tạc tượng bằng sáp.

Ban đầu, ông tạo hình giải phẫu cho sinh viên y khoa. Sau đó, ông bắt đầu tạo khuôn mặt của người chết. Và rồi, cả khuôn mặt của người sống. Ông làm chân dung bằng sáp của các công tước, nữ công tước, triết gia và những người cách mạng, những tác phẩm sống động đến mức đám đông tụ tập tại triển lãm ở Paris chỉ để đứng nhìn.

Curtius coi cô bé Marie như con gái và dạy cô mọi thứ ông biết.

Đến năm 16 tuổi, cô đã tạo tác phẩm đầu tiên, một tượng bán thân bằng sáp của Voltaire, nhà triết học nổi tiếng nhất châu Âu lúc bấy giờ.

Khi mới ngoài hai mươi, Marie Grosholtz đã tài năng đến mức em gái của vua Louis XVI, công chúa Élisabeth of France, đã mời cô đến Versailles làm giáo viên nghệ thuật riêng và người tâm sự. Marie sống nhiều năm trong cung điện hoàng gia Pháp, giữa lụa là, bạc vàng và những lời thì thầm về cách mạng.

Rồi năm 1789, thế giới mà cô biết bốc cháy.

Ngục Bastille sụp đổ. Nhà vua bị bắt. Đường phố Paris ngập tràn đám đông và máu. Và những người cách mạng, truy tìm bất cứ ai có liên hệ với hoàng gia, đã tìm đến cô.

Cô bị tống vào một nhà tù ở Paris.

Đầu cô bị cạo.

Cô chỉ còn vài ngày trước khi lên máy chém, số phận giống hàng ngàn người khác, thì Curtius bằng cách nào đó biết được việc cô bị bắt. Ông vội vàng đến gặp những người cách mạng. Ông cho họ xem các tác phẩm của cô, chân dung Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Benjamin Franklin, và cầu xin rằng cô là một nghệ sĩ của tự do, không phải người ủng hộ hoàng gia.

Điều đó đã có hiệu quả.

Marie được thả.

Nhưng chính quyền cách mạng đưa ra một điều kiện. Để chứng minh lòng trung thành, cô phải làm một công việc mà gần như không ai dám làm.

Cô sẽ tạo mặt nạ tử thần cho mọi nhân vật nổi tiếng bị xử bằng máy chém.

Cô bắt đầu với những người mà cô từng quen biết.

Cô làm mặt nạ tử thần của vua Louis XVI, người từng chào đón cô vào cung điện.

Cô làm mặt nạ của Marie Antoinette, người từng bước qua cô trong hành lang Versailles.

Cô làm mặt nạ của công chúa Élisabeth of France, người mà cô từng dạy dỗ và yêu quý.

Khi nhà báo cấp tiến Jean-Paul Marat bị Charlotte Corday đâm chết trong bồn tắm, Marie được gọi đến nhanh đến mức, như bà viết trong hồi ký, “cơ thể ông vẫn còn ấm”. Bà làm mặt nạ tử thần ngay tại đó, trong làn nước nhuốm máu.

Khi Maximilien Robespierre, kiến trúc sư của Thời kỳ Khủng bố, bị xử tử, bà cũng làm mặt nạ của ông. Khuôn mặt ông bị biến dạng vì đã tự bắn mình trước đó một ngày, và bà tái hiện đúng như những gì bà thấy.

Trong hồi ký, bà kể lại một điều gần như quá u tối để tưởng tượng. Sau các cuộc hành quyết, bà viết rằng mình ngồi “trên bậc thềm của triển lãm, với những chiếc đầu đẫm máu đặt trên đầu gối, lấy khuôn khuôn mặt của họ.”

Đó là công việc đáng sợ, nguy hiểm và gần gũi với cái chết đến mức không thể tưởng tượng. Và bà đã làm điều đó suốt nhiều năm, bởi vì lựa chọn còn lại là lưỡi dao.

Khi Curtius qua đời năm 1794, ông để lại cho bà toàn bộ bộ sưu tập sáp và hai bảo tàng. Marie trở thành người sở hữu duy nhất của một trong những ghi chép sống động nhất về Cách mạng Pháp, chính là khuôn mặt thật của những người đã tạo nên và chết trong cuộc cách mạng ấy.

Năm 1802, Marie rời Paris mãi mãi.

Bà đưa con trai nhỏ và các tượng sáp vượt qua eo biển Manche đến Anh và không bao giờ gặp lại chồng nữa. Trong suốt 33 năm, bà đi khắp vùng quê Anh bằng xe ngựa, từ thị trấn này sang thị trấn khác, tổ chức triển lãm trong những hội trường thuê đầy bụi, bán vé với giá một shilling. Những khán giả chưa từng đến Paris giờ có thể tận mắt nhìn thấy mặt nạ tử thần thật của Marie Antoinette, chỉ cách họ vài bước.

Năm 1835, ở tuổi 74, khi nhiều phụ nữ cùng thời đã nghỉ ngơi từ lâu, Marie Tussaud định cư tại London, trên phố Baker, và mở bảo tàng sáp cố định đầu tiên trên thế giới.

Bà là một người mẹ đơn thân đã sống sót qua cuộc cách mạng đẫm máu nhất thời hiện đại. Bà xây dựng đế chế của mình từ những cái đầu bị chặt và ý chí sinh tồn, một mình, tại một đất nước mà bà gần như không nói được ngôn ngữ.

Năm 1842, ở tuổi 81, bà tạo tác phẩm sáp cuối cùng, một bức chân dung tự họa. Một người phụ nữ lớn tuổi với ánh mắt sắc sảo, đội mũ trắng, bình thản nhìn những vị khách.

Bức tượng đó vẫn đứng ở lối vào bảo tàng Madame Tussauds tại London cho đến ngày nay.

Bà “nhìn” từng vị khách, trong suốt 183 năm.

Bà qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào ngày 16 tháng 4 năm 1850, ở tuổi 88.

Lần tới khi bạn chụp ảnh cùng một tượng sáp người nổi tiếng, hãy nhớ rằng cả một ngành công nghiệp bắt đầu từ một người phụ nữ trẻ đáng lẽ đã phải chết, ngồi trên bậc thềm ở Paris, với những chiếc đầu của các vị vua trên đầu gối, làm công việc duy nhất có thể giữ bà sống sót.

Có những con người được lịch sử tạo nên.

Còn Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử.


 

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

Xuyên Sơn

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC XUỐNG CẤP, VONG THÂN, KHÔNG CHÍNH DANH, KHÔNG TRUNG THỰC, THIẾU TRI THỨC VÀ KHÔNG CÓ TẦNG LỚP TRÍ THỨC

“Trí thức là cục phân” ( Trích thư Lê Nin gửi Goocky, Mao Trạch Đông nhắc lại câu này ).

Mao Trạch Đông nói : “Súng bầu (đẻ) ra chính quyền”.

Mao phản lại Marx : ” Chính trị là thống soái”

Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Mạnh Hảo từ rừng vào Sài Gòn và ở hẳn thành phố này cho đến nay. Cuối năm 1975, qua anh Trịnh Công Sơn, anh Nguyễn Mộng Giác, bạn Bửu Chỉ và một số bạn bè khác như

họa sĩ, nhà văn Khánh Trường, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, nhà văn Ngụy Ngữ, nhạc sĩ Trương Quốc Khánh… chúng tôi bắt đầu giao du với tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ ( mặc dù phần lớn tầng lớp ưu tú nhất này của Việt Nam cộng hòa đã di tản, đã vượt biên hoặc còn trong trại tù cải tạo).

Các bạn kể trên nhiều người đã qua đại học, có người mới đậu tú tài ngang tôi hết cấp 3 ngoài Bắc, mà sao các bạn giỏi thế, uyên bác thế, lại biết Pháp ngữ, Anh ngữ.

Tôi có dẫn vài ba bạn ngoài Bắc vào đã học ở Liên Xô, có học vị phó tiến sĩ hẳn hoi, đến giao du với các bạn đồng lứa Sài Gòn được nền giáo dục VNCH đào tạo, thì than ôi chúng tôi quả là mới i tờ rít…

Trong khi chế độ mới ( CS) luôn vỗ ngực khoe khoang chế độ ta ưu việt nhất từ chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục…

Trong lòng mình, tôi mặc cảm tự ti với các bạn Sài Gòn mà không dám nói ra vì xấu hổ.

Rằng thế hệ chúng tôi ngoài Bắc dốt hơn, được giáo dục sai lệch và sơ sài hơn các bạn được “chế độ Mỹ-ngụy” đào tạo….

Ai thắng ai không phải so về chém giết, súng đạn, mà phải so găng bằng tri thức, bằng học vấn…

May mà kho sách dịch Sài Gòn cũ đã dạy tôi thoát nạn mù tri thức,

cho tôi có đủ kiến thức có thể ngồi phản biện ngon ơ tất cả luận án tiến sĩ văn học, triết học, luật học, văn hóa học, sử học, mỹ học, ngôn ngữ học…

Nhắc lại điều này, lòng tôi cũng chẳng vui vẻ gì cho cam, nhưng trước sự thật, tôi không thể tảng lờ, câm miệng.

Nền giáo dục của Việt Nam cộng hòa trước 1975 nhân bản theo cách giáo dục của người Pháp, nên nó chính là nền giáo dục đúng nghĩa.

Còn nền giáo dục của “phe thắng trận” chúng ta là một nền giáo dục bị vong thân, nền giáo dục phục vụ chính trị, bị chính trị hóa.

Mà chính trị là gì, là thủ đoạn.

Còn GIÁO DỤC, VĂN HÓA VĂN NGHỆ… không lấy cái lợi, cái thủ đoạn làm mục đích, mà nó lấy CHÂN THIỆN MỸ LÀM MỤC ĐÍCH vậy.

Khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930 và Đảng Lao Động Việt Nam từ năm 1951 vẫn cứ là “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”

Chao ôi, từ cổ đại đến nay, có nhà nước nào, chế độ nào diệt trí thức hay không, hay chỉ có ĐẢNG TA mới dám làm như thế ?

Cho đến nay, chúng tôi chưa hề thấy ĐẢNG TA công khai thừa nhận

KHẨU HIỆU DIỆT TRÍ THỨC kia là ấu trĩ, là sai lầm tả khuynh, cứ “làm thinh Việt Minh đồng ý”.

Đã chủ trương diệt trí thức thì làm sao tạo ra xã hội có học vấn, có văn minh ?

Chẳng lẽ nền giáo dục của chúng ta chủ trương diệt trí thức chỉ tạo ra các thế hệ thiếu tri thức làm công cụ cho chính trị mà thôi hay sao?

Thời chúng tôi học cấp 3, có một thầy giáo dạy văn rất hay, lại đẹp trai, nho nhã có nhiều bạn nữ khá nhan sắc muốn chọn thầy làm chồng tương lai, mới điều tra lý lịch thầy, biết cha thầy là ông quan huyện, lại là trí thức học trường hậu bổ do Tây đào tạo, bèn giật thót người không dám tiến tới nữa; vì thầy là thành phần xấu, con ông quan huyện là xấu, bố lại là trí thức còn xấu nữa, than ôi !

Thời chúng tôi đi học, hầu hết bọn con địa chủ, con tư sản …đều học giỏi và đều không được đi đại học.

Con bần cố nông dù dốt đặc cán mai cũng được cử đi đại học bên Liên Xô, Đông Đức…

HỌC TÀI THI LÝ LỊCH là vậy đó..

Một chế độ diệt người giỏi từ trong trứng nước, ưu tiên người dốt,

DỐT NÁT MUÔN NĂM, HỒNG HƠN CHUYÊN MUÔN NĂM…

thì giáo dục ơi, ta chào mi, vì mi lấy cái dốt, cái ngu làm mục đích…

Sau năm 1954, trong khoa học xã hội nhân văn, các giáo sư giỏi nhất như Cao Xuân Huy, Trương Tửu – Nguyễn Bách Khoa, Trần Đức Thảo,

Đào Duy Anh…sau này là Cao Xuân Hạo…đều bị cấm lên bục giảng đại học, cho đi chăn bò hay ngồi dịch sách.

Từ đó, người giỏi bị loại ra ngoài cơ chế xã hội, tôn trọng người dốt nát ngu đần thì giáo dục ơi mi còn sinh ra làm gì nữa.

Do vậy, mấy chục năm qua hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì, hầu hết học hàm PGS, GS là học hàm phong bì…

Một xã hội mua bằng cấp, mua học vị học hàm, mua quan bán chức công khai như ngày nay, thì giáo dục ơi, coi như em đã chết, sự thật đã chết, chân lý đã chết…

Do nền giáo dục lấy bần cố nông làm gốc lâu dài quá nên dân tộc Việt Nam hôm nay hầu như không còn đời sống tinh thần mang tính chân thiện mỹ nữa, tất cả phải nói dối lẫn nhau để tồn tại…

Than ôi, họa mất nước ở đây chứ đâu.,.

Sài Gòn ngày 19-8-2021

T.M.H.

Nguồn fb Trần Mạnh Hảo


 

THƯƠNG YÊU LÀ TRUNG THÀNH- Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Tình yêu vô hình, không nhìn thấy.  Nhưng tình yêu lại hiện hữu trong những gì hữu hình.  Gạt bỏ những gì hữu hình thì tình yêu cũng không còn chỗ đứng.  Tôi không thể yêu bông hoa nếu không có bông hoa.  Nhớ người nào là đã gặp người đó.  Thương là thương ai.  Vì thế, tình yêu là tổng hợp của cả tinh thần và thể xác.

 Yêu bằng ý nghĩ mà thôi là tình yêu không có thật.  Không ai có thể chỉ yêu bằng tư tưởng và cũng không ai cần tình yêu chỉ bằng câu ca dao.  Chúa Kitô cũng chối từ thứ tình yêu ấy: “Ðừng yêu Ta bằng lời” (Mt 7,21).  Ðã yêu là có rung động của con tim, có bâng khuâng của toàn vẹn con người, có tình cảm cao thượng của hy sinh.  Ðấy là tình yêu một lần Chúa đã nói: “Ta sẵn lòng chết vì chiên của Ta” (Gn 10,12).  Có thổn thức của xác thân dạt dào, Chúa cũng cảm thấy tâm hồn chất ngất buồn thương (Mt 26,38).  Và, trong cái rung động của toàn vẹn con người ấy cũng có thao thức đòi đáp trả: “Con có yêu Ta không?”  Chúa đã không hỏi Phêrô một nhưng đến ba lần (Gn 21,15-17).  Tất cả xúc cảm đó làm nên cung điệu yêu đương của đời người.

 Bông hoa đang khoe sắc ngoài kia nên tôi mới yêu được.  Như thế, làm sao tôi có thể chỉ yêu tinh thần của bông hoa mà lại không có xác thân?  Có con tim nên tôi mới biết thương mến.  Bởi đó, làm sao tôi có thể chỉ yêu bằng tinh thần thôi mà lại không có rung cảm của môi, mắt?  Yêu là có cả hai; linh hồn và thân xác.  Chỉ yêu bằng thân xác là tình yêu tật nguyền.  Chỉ yêu bằng tinh thần là tình yêu đánh lừa.  Cái dạt dào của thân xác là một yếu tố sáng tạo.  Sáng tạo ấy đưa đến nhiều chân trời tươi đẹp.  Khả năng rạo rực của con tim là ngôn ngữ của yêu thương.  Ánh nhìn.  Một khuôn mặt xinh.  Ngôn ngữ của thân xác là ngôn ngữ tuyệt vời của tình yêu, nó là dòng suối tươi mát cho cánh đồng.  Gạt bỏ dòng suối đó cỏ cây sẽ héo úa.

 Thân xác là ngôn ngữ của tình yêu nhưng không là tất cả tình yêu.

 Nó chỉ là một nốt nhạc mà thôi.  Nếu chỉ dùng một ngôn ngữ đó cho một hòa âm thì cung đàn không còn là cung điệu hòa hợp nữa, nó chỉ là tiếng re ré của một đơn điệu nhạt thếch.  Dòng suối phải được chảy theo nhánh nhỏ tưới cho cánh đồng.  Nếu suối tụ lại thì tình yêu sẽ chết vì dòng suối thay vì tưới mát sẽ làm lụt lội dâng đầy bùn phù sa.

 Không có gì buồn tẻ bằng bức họa chỉ có một mầu.  Ðấy không phải là tác phẩm nghệ thuật và tác giả không là nghệ sĩ.

 Thân xác là ngôn ngữ diễn tả và tiếp nhận tình yêu.  Nhưng một đốm lửa thì là ánh đèn cần thiết cho đêm đen, nếu cả đêm đen là lửa thì đấy không còn là đèn nữa mà là hỏa ngục bừng bừng.  Những ánh mắt, mùi thơm của hương tóc cũng vậy.

 Qua đối tượng hữu hình, tình yêu như cánh vườn mở ngõ, mời vào.  Tuy nhiên, lý trí thẩm định, hướng dẫn và ban tặng cho tình yêu giá trị.  Trí tuệ con người có lúc bừng sáng, trong như hạt nước mưa, nhưng cũng không vắng những ngày đục mù sương.  Rung cảm của thân xác có những lúc rì rào như lúa chiều gợn sóng, ên đềm.  Có ngày nức nở níu kéo, ì ầm sóng vỗ.  Vì tội lỗi nên bản đàn đã lệch cung, sai giọng.  Ði tìm một trật tự để nối chắp lại, gạn lọc, để so cho bằng, để giữ đúng nhịp là một vất vả gian truân.  Dù cố gắng đến đâu người nghệ sĩ cũng có lúc vẩy sai nét mực, tô đậm một mầu.

 Trung thành là mọi người phải đi con đường của mình.  Khi nói mọi người phải đi con đường của mình, không có nghĩa là họ không nhìn thấy những lối rẽ ngang.  Kẻ cho thập giá như lời mời gọi, chẳng có nghĩa là họ không nghe thấy tiếng gọi của một giọng nói dịu dàng bên nương dâu, bờ trúc.  Kẻ nhìn thập giá như trời cao để bước tới không có nghĩa là họ không thấy bờ tóc bay như một ngôn ngữ rất nôn nao.  Trong hôn nhân có ai tuyệt đối thương yêu bạn đời của mình đến nỗi không bao giờ có một ngăn nhỏ nghĩ đến những bóng hình lãng mạn khác?

 Lối rẽ bên đường đi có làm tôi âu lo.  Ðôi lúc tình cảm dịu dàng có làm tôi bâng khuâng.  Nhưng không vì thế mà lý tưởng của tôi hao mòn.  Lối rẽ bên đường, tình cảm dịu dàng ấy làm tăng khả năng tự do lựa chọn của người trong cuộc.  Nếu không có những ngã rẽ, những ánh nhìn khác thì tình yêu trong hôn nhân cũng như lý tưởng của người tu sĩ không còn cố gắng nữa, vì còn gì lựa chọn nữa để mà tiếp tục chọn lựa.  Có những ngã rẽ nên tôi phải dừng lại hỏi lòng mình, tôi phải cố gắng giữ gìn con đường của tôi, tôi phải phấn đấu trung thành.  Lúc hỏi lại lòng, lúc phấn đấu là lúc tình yêu dành cho người yêu, dành cho lý tưởng sâu đậm hơn.

 Người bạn đời trong hôn nhân là những con đường của nhau đi.  Nếu người bạn đời hoàn hảo thì con đường hoàn hảo.  Chẳng ai muốn rẽ sang một lối mòn nếu con đường đang đi đẹp ngát hương về lối mộng.  Nhưng vì tội lỗi nên người yêu không hoàn hảo, rồi, do vậy, đường đi của họ có gai.  Ðây là lý do không trung thành.  Nếu người tu sĩ bước trên đường lý tưởng toàn những ngọt ngào thì làm gì có lỗi lời thề.  Nhưng thập giá là lý tưởng chỉ đủ hé ánh sáng cho họ bước và giữ lại bóng tối để họ phải tin.  Trầm luân và vinh quang của họ nằm ở đó.

 Người yêu tôi không hoàn hảo nên đường tôi đi gập ghềnh.  Có thể vì đường đi gập ghềnh, không toại nguyện, tôi cắt bỏ lời cam kết để đi tìm một con đường hạnh phúc khác hoàn hảo hơn?  Nếu tôi hủy bỏ lời thủy chung để tìm một người có khả năng làm tôi thỏa mãn thì tôi trả lời làm sao cho vấn nạn: Tôi không hoàn hảo.  Chính tôi cũng không là con đường thẳng cho tôi đi.  Tôi không thỏa mãn được tôi.  Tôi muốn giàu mà thực tại tôi cứ nghèo.  Tôi muốn có nhan sắc mà thực tại tôi cứ tầm thường.  Tôi muốn người khác phải để ý đến tôi mà thực tại tôi cứ khổ sở vì thương nhớ người ta.  Khi chính tôi không thỏa mãn tôi được thì tôi có thể từ giã mình để đi tìm cái tôi khác được không?  Tôi có thể xây dựng cho đời tôi thêm phong phú chứ không chối từ được chính mình.

 Không chối từ được chính mình thì làm sao có thể biện minh vì bất toàn của người bạn đời mà đi tìm người yêu mới?  Mỗi người có một khả năng khác biệt, khi nào thì tôi có thể đi tìm được có tất cả khả năng để thỏa mãn tôi hoàn toàn?

 Kiếm tìm là tự thú rõ ràng tôi là người thiếu thốn, vì nếu hoàn hảo thì làm gì phải cậy nhờ đến ai.  Mà tôi có khuyết điểm thì tôi cũng chẳng thể đem hạnh phúc vô bờ cho người tôi đang sống.  Tôi cũng là nguyên nhân khổ đau, là gai nhọn trên đường đi của người yêu tôi.

 Hạnh phúc hệ tại luôn luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người?

 Cuộc sống chỉ là tương đối.  Tôi không thể làm người bạn đời trọn vẹn hạnh phúc.  Người bạn đời cũng chẳng thể cho tôi mọi ước mơ.  Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lỗi lầm, cả hai không là thiên thần mà là người.  Là người nên tôi không thể làm thỏa mãn người được.  Không làm thỏa mãn người được cũng có nghĩa là người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.  Như thế, hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của con họa mi.  Cùng chịu gió lạnh của mưa.  Chịu khổ của bão.  Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ.  Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.

 Cái chua của chanh, cái ngọt của đường làm nên ly nước mát chứ không riêng có đường, không hẳn chỉ là chanh.

** *

Chúa biết rằng cứ để con trong thế gian thì tốt cho con hơn là đem con khỏi thế gian.  Chúa chỉ xin Chúa Cha đừng để con thuộc về thế gian mà thôi.

 Lạy Chúa, nếu vậy, con không xin Chúa cắt mọi ngã rẽ trên đường con đi.  Vì như thế, con đường của con sẽ nhạt nhẽo.  Con cũng không xin cho con trở thành vô cảm trước những vẻ đẹp mà Chúa đã tạo dựng.  Con chỉ xin ơn can đảm để ngắm bông hoa trên đồi nhưng thương bông hoa trong vườn.  Con không sợ hãi những giọt chanh chua vì con biết Chúa cũng cho con những muỗng đường.  Con chỉ xin được khôn ngoan để biết hòa hợp sao cho đúng hương vị ly nước mát mà Chúa đã ban tặng con trong trưa hè oi nóng.

** *

Phêrô ra sức rủa mình mà thề: “Tôi không hề biết người các ông nói đó là ai” (Mc 14,71).  Như thế, tình yêu của Phêrô là tình phản bội.

 Chúa quay lại nhìn Phêrô, và Phêrô nhớ lại lời Chúa khi Ngài bảo ông: “Hôm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.  Và ra ngoài, ông khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61-62).  Như thế, lỗi lời thề lại trở nên yêu thương sâu đậm.  Lỗi lời thề lại trở nên trung thành, gắn bó thiết tha.

** *

Trung thành là cố gắng gìn giữ mối giây liên hệ, là không cắt đứt.  Nhưng nếu làm đứt mà tha thiết nối chắp lại thì đấy mới càng chứng tỏ ý nghĩa sâu xa của trung thành.  Nếu không gặp thử thách thì sao quả quyết được là không bao giờ vấp ngã?  Nếu tôi không dám chắc tôi không bao giờ vấp ngã thì tôi làm gì có quyền bắt kẻ khác hoàn hảo?

 Trung thành không hẳn chỉ có nghĩa là không bao giờ lỗi phạm, mà là từ lỗi phạm, tôi trở về với người tôi yêu, với kẻ yêu tôi.

** *

Có hai thứ trung thành.  Trung thành bằng tình yêu và trung thành bằng sợ hãi.  Trung thành trong hôn nhân, trung thành của đời tu cũng vậy.

 Sợ hãi cũng có trung thành, nhưng trong trung thành có mầm phản loạn, vì trung thành của sợ hãi là nô lệ.  Kẻ đòi buộc trung thành bằng sự sợ hãi thì trả thù kẻ bội phản.  Người lấy tình yêu làm sợi giây trung thành thì tha thứ cho kẻ phản bội.  Chúa Kitô đã chọn con đường thứ hai.

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

(Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc)

 From: Langthangchieutim


 

Bí quyết để yêu cùng một người phụ nữ suốt cả cuộc đời là gì?

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG.

Tôi từng hỏi ông nội tôi, người đã kết hôn hơn 60 năm:

“Bí quyết để yêu cùng một người phụ nữ suốt cả cuộc đời là gì?”

Tôi nghĩ ông sẽ nói điều gì đó như giao tiếp, tin tưởng, hay tha thứ.

Thay vào đó, ông nhìn sang bà nội tôi và nói:

“Con không thể yêu cùng một người phụ nữ suốt cả cuộc đời.”

Câu trả lời đó khiến tôi bất ngờ.

Rồi ông tiếp tục:

“Cô ấy thay đổi sau mỗi vài năm. Và nếu con không học cách yêu người mà cô ấy đang trở thành, cuối cùng con sẽ mất cô ấy.”

“Người phụ nữ tôi cưới khi còn trẻ không hoàn toàn giống người phụ nữ tôi trở thành khi ba mươi tuổi. Làm mẹ đã thay đổi cô ấy. Những khó khăn trong cuộc sống đã thay đổi cô ấy. Cuộc sống đã thay đổi cô ấy. Thời gian đã thay đổi cô ấy.”

Ông dừng lại một lát.

“Ở tuổi bốn mươi, cô ấy cần sự tôn trọng hơn là những cử chỉ lãng mạn lớn lao. Ở tuổi năm mươi, cô ấy cần sự hỗ trợ hơn là đam mê. Ở tuổi sáu mươi, cô ấy cần sự hiện diện của tôi hơn là những lời hứa.”

Rồi ông nói một điều khiến tôi nhớ mãi:

“Mỗi lần cô ấy thay đổi, tôi lại phải chọn cô ấy một lần nữa.”

Con có thể phàn nàn rằng cô ấy không còn là người phụ nữ trẻ trung mà con đã yêu cách đây hàng chục năm.

Hoặc con có thể yêu người phụ nữ mà cô ấy đang trở thành.

Và đó, ông nói với tôi, là điều mà nhiều cặp đôi mắc sai lầm.

“Mọi người mắc sai lầm khi tin rằng tình yêu phải mãi mãi không thay đổi. Họ yêu nhau một lần và rồi cho rằng mối quan hệ bằng cách nào đó sẽ tự lo liệu.”

Nhưng tình yêu trọn đời không phải là việc giữ nguyên hai người ở độ tuổi họ gặp nhau lần đầu. Con người thay đổi. Cơ thể họ thay đổi. Ưu tiên của họ thay đổi. Sự nghiệp, con cái, nỗi đau buồn, thành công, thất vọng, bệnh tật, tuổi già và cuộc sống thường nhật định hình họ theo những cách mà cả hai người đều không thể lường trước được lúc ban đầu.

Người bên cạnh bạn ở tuổi 50 có thể cần từ bạn những điều hoàn toàn khác so với những gì họ cần ở tuổi 25.

Điều đó không nhất thiết có nghĩa là tình yêu đang biến mất.

Đôi khi, điều đó có nghĩa là tình yêu cũng phải trưởng thành.

Ông tôi nhìn bà tôi lần nữa và nói:

“Nếu muốn yêu ai đó suốt đời, hãy luôn tò mò về họ.”

Hãy tiếp tục tìm hiểu về họ.

Hãy tiếp tục hỏi điều gì quan trọng với họ bây giờ—chứ không phải điều gì quan trọng với họ hai mươi năm trước.

Hãy tiếp tục để ý những thay đổi nhỏ.

Hãy tiếp tục lắng nghe.

Hãy tiếp tục tìm kiếm những lý do mới để ngưỡng mộ họ.

Và trên hết, hãy tiếp tục lựa chọn họ—không chỉ vì con người họ khi bạn yêu lần đầu, mà còn vì con người họ đang trở thành.

Bởi vì một mối quan hệ bền vững không được xây dựng trên tình yêu chỉ một lần.

Nó được xây dựng trên việc yêu từng phiên bản mới của người bên cạnh bạn, hết lần này đến lần khác.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle.


 

Mừng Kính Thánh Pi-ô X, giáo hoàng (1835-1914) – Cha Vương

Một tuần mới, một ngày mới, một giây phút mới… một cơ hội để sống yêu thương hơn… Hôm nay Giáo Hội mừng Kính Thánh Pi-ô X, giáo hoàng (1835-1914). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới nữa nhé

Cha Vương

Thứ 6: 21/08/2026.     (t2-23)

Thánh nhân sinh năm 1835 tại Ri-ê-sê, nước Ý. Sau khi làm linh mục, người dấn thân thi hành việc mục vụ. Người làm giám mục Man-tô-va, rồi làm thượng phụ giáo chủ Vê-nê-xi-a và cuối cùng, năm 1903, được chọn làm giáo hoàng. Người chu toàn bổn phận của mình theo khẩu hiệu người đã chọn: “Canh tân mọi sự trong Chúa Ki-tô” với lòng đơn sơ, đời sống thanh bần và can đảm. Cùng với những đức tính ấy, người đã giúp các tín hữu sống đạo nhiệt thành và đối phó với những sai lầm đang lan tràn trong Hội Thánh. Khi Đại Thế Chiến thứ nhất bùng nổ, thánh giáo hoàng Piô X đã phải đau khổ nhiều. Ngài biết nhiều người sẽ bị giết chết. Thánh Piô X nói: “Cha sẽ vui mừng dâng hiến mạng sống cha để cứu những em nhỏ đáng thương khỏi nỗi đau kinh khủng này!” Về cuối đời, thánh nhân cũng nói: “Cha đã sống nghèo, và cha ao ước cũng được chết nghèo!” Piô X chẳng bao giờ giữ lại cho mình bất cứ của gì cho tới ngày về gặp Thiên Chúa. Người qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1914.

Ngài là vị giáo hoàng của bí tích Thánh Thể, đã khuyến khích mọi người hãy rước Chúa Giêsu Thánh Thể cách thường xuyên. Ngài cũng hạ thấp mức tuổi cho trẻ em để chúng được phép rước Chúa Giêsu vào lòng sớm hơn.

Truyền thuyết ghi rằng ngài có một cuộc sống tình nghĩa rất nặng với gia đình nhất là với mẹ của ngài. Đức Giáo Hoàng Piô X khi còn là cậu bé ở làng Riese mỗi ngày phải đi bộ 7 cây số để đến trường, sáng đi 7 chiều về 7. Bà mẹ, bà Magarita dù nghèo song cũng ráng mua cho con một đôi giày cho con đỡ đau chân. Đứa con tốt lành này cũng rất thương cha mẹ cho nên sáng ra khỏi nhà thì mang giày vào chân kẻo mẹ rày, sau khi xa nhà thì cởi giấy quảy trên vai cho tới khi tới trường mới mang vào để chúng bạn khỏi cười chê. Ra khỏi trường lại cởi ra, về gần tới mới xỏ vào sợ mẹ buồn. Cậu bé Sartô làm như thế vì sợ mòn đôi giày và tốn kém cho cha mẹ.

Khi được được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Mantua, một hôm, ngài về thăm mẹ. Mẹ con ngồi nói chuyện khá lâu, ngài tếu táo khoe với mẹ chiếc nhẫn Giám mục của mình: “Mẹ xem này, chiếc nhẫn Giám mục mới của con đây”. Mẹ ngài mỉm cười chìa bàn tay thô cộc cho thấy chiếc nhẫn cưới bình dị của mình và nói: “Không có chiếc nhẫn cưới nghèo nàn này của mẹ đây thì chẳng có chiếc nhẫn ấy đâu.”

Noi gương thánh nhân mời bạn hôm nay hãy làm mọi công việc của mình một cách vui vẻ trong Chúa Ki-tô nhé.

Thánh Pi-ô X, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Sống Trong Niềm Vui | Hà Thanh Xuân | OFFICIAL

NỮ VƯƠNG VÌ LÀ NỮ TỲ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Triều đại Người sẽ vô cùng vô tận!”.

Trong Kinh Cầu Đức Bà, Hội Thánh gọi Mẹ là “Toà Đấng Khôn Ngoan”. Toà ấy không làm bằng vàng, nhưng bằng thân xác và tiếng “xin vâng” của một nữ tỳ. Đức Vua của triều đại vô tận đã chọn ngai đầu tiên của Ngài ngay dưới trái tim của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không kể chuyện Cô bé Lọ Lem được đổi phận. Maria không thôi là nữ tỳ để trở thành Nữ Vương, nhưng là ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Tin Mừng đặt cạnh nhau hai ngôn ngữ tưởng như trái ngược. Sứ thần nói về “ngai vàng vua Đavít”, “trị vì”, “triều đại của Người vô cùng vô tận”; Maria lại chỉ nói về sự thuộc về: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Bản Hy Lạp viết doulē – “nữ tỳ”: không chỉ phục vụ, mà còn hoàn toàn thuộc quyền chủ. Vì thế, “xin vâng” không chỉ là một lời đáp khiêm nhường, nhưng là hành vi trao thân xác, dự định và tương lai của mình để Đức Vua bắt đầu trị vì. Vương quyền của Mẹ không khởi đầu trong ngày đội triều thiên, nhưng trong ngày Mẹ để Chúa toàn quyền trên đời mình. Ở Maria, chính thân phận nữ tỳ mang hình dáng vương quyền.

Hội Thánh chiêm ngắm Maria như Nữ Hoàng bên hữu Đức Vua. Nhưng bên hữu ấy không khiến Mẹ thôi phục vụ; đó là nơi sự phục vụ mang tầm vóc vương giả. Mọi vinh quang của Mẹ đều nhận từ Con, mọi quyền thế của Mẹ đều trở thành chuyển cầu. Nữ tỳ nay ngự bên Đức Vua, vẫn chỉ muốn đưa con người đến gần Ngài. Tại Cana, một hành vi “vương giả” của Mẹ chỉ là nhận ra một thiếu thốn không ai nói thành lời: “Họ hết rượu rồi!”. Càng ở gần Chúa, chúng ta càng khó bình thản trước niềm vui đang cạn dần của người bên cạnh. Ngai của Nữ Hoàng không tách Mẹ khỏi chúng ta; đó là nơi Mẹ ở gần Đức Vua để không ai phải ở xa lòng thương xót.

Isaia hé mở nguồn mạch vương quyền của Mẹ: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta”; “Người gánh vác quyền bính trên vai” – bài đọc một. Mẹ bồng Con Trẻ, Đấng gánh vác quyền bính. Mẹ chỉ trao Đức Vua cho thế giới và trao thế giới cho Ngài. Triều thiên của Mẹ không giữ lại ánh sáng cho mình, nhưng làm cho vinh quang của Con rạng rỡ. Thánh Vịnh đáp ca hoàn tất chuyển động ấy: “Chúc tụng danh thánh Chúa, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!”. Nữ Hoàng không giữ lời ca tụng nơi mình; Mẹ hướng tất cả về danh thánh Đấng Toàn Năng.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngai là thập giá, triều thiên là vòng gai; vương quyền của Ngài là cúi xuống. Càng được nâng cao bên Đức Vua, Maria càng cúi xuống bên những con người bé nhỏ. “Đừng tưởng tượng Đức Maria như một bức tượng sáp bất động; nơi Mẹ, chúng ta thấy một người chị với đôi dép mòn!” – Phanxicô. Triều thiên không làm Mẹ cởi đôi dép của nữ tỳ. Câu nói hóm hỉnh của Fulton Sheen lại chạm đến một sự thật rất ấm: “Khi đến trước mặt Chúa, bạn sẽ nghe Ngài nói: ‘Ta đã nghe Mẹ Ta nói về con!’”. Đó là nét gần gũi nhất của một ‘Nữ Vương vì là nữ tỳ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, cho con càng được nâng lên, càng biết cúi xuống; càng gần Chúa, càng gần người bé nhỏ; càng được yêu, càng biết chuyển cầu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa 22/8 MARIA NỮ VƯƠNG Thứ Bảy, Tuần XX Thường Niên, 

https://bom.so/TZcKoT

Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 1,26-38

26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”

35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.


 

Rousseau – Nhà triết học Khai sáng vĩ đại… hay một “kẻ phản động”?-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng –

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

04/08/2026

Ngày còn học đại học, tôi từng nghĩ triết học là môn học khô khan và khó hiểu nhất. Đó là vì chúng tôi chỉ được học triết học Mác – Lênin. Mãi nhiều năm sau, khi đọc Jean-Jacques Rousseau, tôi mới nhận ra rằng triết học cũng có thể rất giản dị. Có những nhà triết học chỉ cần một câu đã khiến người đọc phải suy nghĩ cả đời: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích.”

Jean-Jacques Rousseau được xem là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của thời đại Khai sáng và là một trong những người đặt nền móng cho tư tưởng chính trị hiện đại. Ảnh hưởng của ông vượt xa phạm vi triết học, lan sang giáo dục, đạo đức, chính trị và cả cuộc Cách mạng Pháp. Cho đến hôm nay, những khái niệm như chủ quyền nhân dân, quyền công dân, tự do và bình đẳng vẫn mang đậm dấu ấn tư tưởng của Rousseau.

Cái khác biệt của Rousseau là ông không bắt đầu từ nhà nước hay quyền lực, mà bắt đầu từ con người.

Theo Rousseau, con người trong trạng thái tự nhiên vốn lương thiện. Họ sống giản dị, tự do, biết thương người và chưa bị lòng tham hay sự ganh đua chi phối. Chính xã hội, cùng với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân, bất bình đẳng và cuộc chạy đua vì quyền lực, mới làm cho con người dần trở nên ích kỷ, giả tạo và tha hóa.

Câu nói nổi tiếng của Rousseau vừa có sức gợi hình rất mạnh, vừa có chiều sâu triết học. Ông mượn hình ảnh chiếc xiềng sắt để nói về những chiếc xiềng vô hình còn phổ biến hơn nhiều. Đó là lý do câu nói này trở thành một trong những câu mở đầu nổi tiếng nhất trong lịch sử triết học: “Con người sinh ra vốn tự do, nhưng ở khắp nơi lại bị xiềng xích”. Câu nói này không chỉ là lời than thở về số phận con người, mà còn là câu hỏi lớn của triết học chính trị: làm thế nào con người có thể sống trong xã hội mà vẫn giữ được tự do?

Đó chính là mục đích của tác phẩm Khế ước xã hội (Du Contrat social).

Rousseau cho rằng con người cần từ bỏ một phần tự do tự nhiên để xây dựng một cộng đồng chính trị. Nhưng sự từ bỏ ấy không phải để phục tùng một ông vua hay một tầng lớp thống trị. Mỗi cá nhân trao quyền của mình cho toàn thể cộng đồng, và đổi lại, họ trở thành một phần của chủ quyền chung.

Từ đó, Rousseau đưa ra một tư tưởng mang tính cách mạng: chủ quyền hoàn toàn thuộc về nhân dân,không phải của nhà vua, không phải của quý tộc, lại càng không phải của bất kỳ đảng phái hay tầng lớp nào tự cho mình quyền cai trị nhân dân.

Theo Rousseau, luật pháp chỉ có giá trị khi phản ánh ý chí chung (volonté générale, tôi đã nói ở bài trước), tức là lợi ích chung của toàn xã hội chứ không phải lợi ích của một nhóm người. Chính phủ chỉ là cơ quan thi hành ý chí của nhân dân, chứ không phải chủ nhân của quyền lực.

Đối với Rousseau, tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Tự do đích thực là được sống dưới những đạo luật mà chính mình, với tư cách một công dân, đã tham gia xây dựng và tự nguyện chấp nhận. Đó là nền tảng của khái niệm tự do công dân trong các nền dân chủ hiện đại.

Chính những tư tưởng ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến Cách mạng Pháp, đến Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, và sau đó là hầu hết các nền dân chủ trên thế giới.

Đọc Rousseau ngày nay, hầu như ai cũng thừa nhận ông là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại.

Nhưng hãy thử làm một phép so sánh nhỏ và quay trở về đời sống của chúng ta hiện nay.

Nếu chủ quyền thực sự thuộc về nhân dân, thì nhân dân có quyền tự do lựa chọn người cầm quyền hay không? Nếu luật pháp phải phản ánh ý chí của nhân dân, thì nhân dân có quyền tranh luận, phản biện và chỉ trích chính quyền hay không?

Nếu không một cá nhân hay tổ chức nào được đứng trên chủ quyền của nhân dân, thì liệu có ai có quyền tự nhận mình là lực lượng duy nhất đại diện cho nhân dân hay không?

Đó đều là những câu hỏi mà Rousseau đã đặt ra từ hơn hai thế kỷ trước.

Và cũng chính vì những câu hỏi ấy, nếu đem tư tưởng của Rousseau đối chiếu với cách sử dụng khái niệm “phản động” ở một số nơi ngày nay, thì nghịch lý xuất hiện.

Ông phủ nhận quyền lực tuyệt đối, trao chủ quyền cho nhân dân, đòi hỏi quyền lực phải chịu sự kiểm soát của nhân dân, không chấp nhận bất kỳ quyền lực nào tự đặt mình cao hơn nhân dân.

Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa Rousseau là kẻ phản động nguy hiểm nhất mọi thời đại hay nói theo ngôn ngữ bây giờ ông là « Tổ sư phản động », sinh 1712 – tử 1778

Rousseau không chống lại nhân dân. Trái lại, ông là một trong những người đầu tiên trong lịch sử đặt nhân dân vào vị trí tối cao của quyền lực chính trị.

Và có lẽ chính đó mới là điều hài hước nhất của lịch sử:

Một trong những nhà triết học Khai sáng vĩ đại nhất của nhân loại, người đặt nền móng cho dân chủ hiện đại, nếu bị chính quyền ngày nay mang ra xét xử, chắc chắn sẽ bị quy kết là… một “kẻ phản động”


 

ICE từng âm thầm hợp tác với Iran trục xuất người Iran về nước

Ba’o Nguoi-Viet

August 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Giới chức di trú Mỹ âm thầm hợp tác với Iran để trục xuất người Iran về nước vào cuối năm 2025 và đầu năm 2026, theo hàng trăm email mới được công bố, CBS đưa tin hôm Thứ Năm, 20 Tháng Tám.

Những email này được giới chức di trú Mỹ gửi cho nhau. Hội Đồng Quốc Gia Người Mỹ Gốc Iran (NIAC) lấy được những email này và công bố hôm Thứ Ba.

Đặc vụ di trú liên bang thi hành lệnh bắt giữ thành viên băng đảng ở Boston, Massachusetts hôm 9 Tháng Sáu. (Hình: ICE)

Theo những email này, hai bên hợp tác với nhau trục xuất hơn 100 người Iran bằng ba chuyến bay khác nhau vào Tháng Chín và Tháng Mười Hai, 2025 và Tháng Giêng, 2026.

Những email này cho thấy giới chức Iran cũng có tiếng nói trong việc trục xuất người Iran nào về nước, và có vẻ Cảnh Sát Di Trú Mỹ (ICE) làm theo một số điểm thay đổi vào phút chót trong danh sách trục xuất mà Iran yêu cầu.

“Theo Tòa Đại Sứ Iran yêu cầu, tôi đưa thêm vài trường hợp vào,” một giới chức ICE, không được nêu tên, viết trong email cuối Tháng Tám năm ngoái, một tháng trước chuyến bay trục xuất đầu tiên. Hơn một tuần sau, người nào đó cùng chức vụ lại điều chỉnh danh sách trục xuất sau khi cho hay họ vừa gặp “Giám đốc tại Tòa Đại Sứ Iran.”

“Iran vừa yêu cầu tôi sửa lại danh sách trước và đẩy nhanh thủ tục trục xuất,” giới chức này viết.

Hợp tác thực hiện những chuyến bay này vẫn là điều ưu tiên hàng đầu bất chấp giới chức ICE thừa nhận trong nội bộ rằng người Iran đang bỏ chạy khỏi đất nước giữa cuộc chiến 12 ngày của Mỹ và Israel với Iran hồi Tháng Sáu, 2025, theo những email này. Chuyến bay đầu tiên cất cánh chỉ vài tháng sau khi Mỹ và Israel đạt thỏa thuận ngưng bắn với Iran.

Sự hợp tác này đi ngược lại thông lệ hàng chục năm của Mỹ là sẵn sàng đón người bất đồng chính kiến, người lưu vong và nhiều người khác từ Iran kể từ khi Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo Năm 1979 buộc rất nhiều người Iran bỏ nước ra đi.

Các tổ chức nhân quyền từng kịch liệt lên án trục xuất người Iran về quốc gia mà chính phủ có xu hướng bạo hành phụ nữ, nhóm tôn giáo thiểu số và người bất đồng chính kiến.

Tháng Chín, 2025, giới chức Iran thừa nhận có thể có tới 400 người Iran sẽ bị trục xuất theo thỏa thuận với chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Giới chức Iran cho hay hầu hết những người đó vượt biên bất hợp pháp từ Mexico vào Mỹ và một số người đang gặp vấn đề di trú.

Bộ Nội An (DHS), cơ quan giám sát ICE, chưa trả lời thư của CBS News yêu cầu nhận xét về thông tin này. (Th.Long) [kn]


 

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU – Truyen ngan HAY

Nguyen Quốc

 BÔNG HOA LÀI CẮM BÃI CỨT TRÂU

Khi giấc mơ đổi đời biến hôn nhân thành một canh bạc

Trong dân gian từng có câu:

“Bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.”

Một cách ví von cay nghiệt, thô ráp nhưng thường được dùng để nói về một người con gái xinh đẹp, hiền lành lại trao đời mình cho một người đàn ông không xứng đáng.

Ngày nay, câu nói ấy đôi khi xuất hiện trong những cuộc hôn nhân vượt biên giới: một cô gái trẻ chấp nhận lấy một người đàn ông từ Mỹ trở về, dù chưa hiểu rõ tính tình, quá khứ và hoàn cảnh của người ấy. Chỉ cần nghe hai chữ “Việt kiều”, thấy tấm hộ chiếu Hoa Kỳ hoặc viễn cảnh được bảo lãnh sang Mỹ, nhiều người đã vội tưởng cánh cửa hạnh phúc đang mở ra.

Nhưng không phải con đường nào dẫn đến nước Mỹ cũng dẫn đến thiên đường. Và không phải người nào sống ở Mỹ cũng là người tử tế.

Tấm hộ chiếu không phải giấy chứng nhận nhân cách

Một trong những ngộ nhận nguy hiểm nhất là lấy nơi cư trú để đo phẩm giá con người.

Người sống tại Mỹ có thể thành đạt, lương thiện và có trách nhiệm. Nhưng cũng có thể là người thất nghiệp, nghiện ngập, cờ bạc, bạo hành, mang nợ hoặc đã trải qua nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ. Quốc tịch chỉ xác định quan hệ pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia; nó không chứng minh người ấy biết yêu thương, chung thủy hay tôn trọng phụ nữ.

Tấm hộ chiếu có thể giúp người ta bước qua cửa khẩu, nhưng không thể bảo đảm người cầm nó có một trái tim tử tế.

Thẻ xanh có thể cho một người quyền cư trú, nhưng không thể trao cho họ phẩm hạnh.

Ngôi nhà ở Mỹ có thể rộng hơn căn nhà ở quê, nhưng nếu bên trong là sự kiểm soát, nhục mạ và bạo hành thì đó vẫn chỉ là một nhà tù được trang trí đẹp đẽ.

Bởi vậy, lấy chồng chỉ vì người ấy “có quốc tịch Mỹ” là đặt cả cuộc đời vào một canh bạc mà phần thua thường thuộc về người phụ nữ.

Khi hôn nhân bị biến thành con đường xuất cảnh

Không thể phủ nhận rằng có những phụ nữ mong muốn kết hôn với Việt kiều để tìm một tương lai ổn định hơn. Đằng sau lựa chọn ấy có thể là hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trách nhiệm với cha mẹ, mong muốn giúp đỡ gia đình hoặc khát vọng thoát khỏi một môi trường sống bế tắc.

Chúng ta có thể hiểu ước mơ ấy. Nhưng hiểu không có nghĩa là phải tô hồng nó.

Khi mục tiêu “đi Mỹ” trở nên lớn hơn mục tiêu tìm một người chồng tốt, hôn nhân rất dễ biến thành một cuộc trao đổi: một bên trao tuổi trẻ và tình cảm; bên kia trao lời hứa bảo lãnh cùng viễn cảnh định cư.

Trong cuộc đổi chác ấy, cả hai có thể bắt đầu bằng sự tính toán. Nhưng người phụ nữ thường là người chịu nhiều rủi ro hơn. Cô phải rời gia đình, bỏ lại bạn bè, bước vào một xã hội xa lạ và phụ thuộc vào người chồng về ngôn ngữ, tiền bạc, phương tiện đi lại cũng như thủ tục pháp lý.

Nếu gặp người tử tế, đó có thể là khởi đầu của một gia đình hạnh phúc. Nếu gặp kẻ lợi dụng, cô gần như bị đặt vào thế cô lập giữa một đất nước rộng lớn mà không biết phải cầu cứu ai.

Cái giá của một quyết định vội vàng khi ấy không chỉ là một cuộc ly hôn. Nó có thể là những năm tháng bị kiểm soát, đánh đập, xúc phạm, cưỡng ép, cô lập hoặc đe dọa bằng hồ sơ di trú.

Hào quang Việt kiều và những chiếc mặt nạ

Có người ở nước ngoài trở về quê với quần áo sang trọng, thuê xe đẹp, tổ chức những bữa tiệc lớn và kể về một cuộc sống giàu có. Nhưng vài tuần xuất hiện ở Việt Nam không đủ để chứng minh cuộc sống thật của họ ở Mỹ.

Chiếc xe có thể là xe thuê. Tiền tiêu trong chuyến về quê có thể là tiền vay. Ngôi nhà trong ảnh có thể không thuộc về họ. Công việc được giới thiệu là “kỹ sư”, “doanh nhân” hoặc “chủ hãng” đôi khi chỉ là câu chuyện được dựng lên để gây ấn tượng.

Đáng sợ hơn, có người cố tình tìm một cô gái trẻ, ít kinh nghiệm và yếu tiếng Anh vì họ biết cô sẽ dễ phụ thuộc, khó phản kháng và ít hiểu quyền lợi của mình.

Đó không còn là tình yêu. Đó là việc sử dụng ưu thế quốc tịch và kinh tế để thiết lập quyền kiểm soát.

Tình yêu chân thành không sợ sự kiểm chứng. Một người đàn ông nghiêm túc sẽ không ngăn người phụ nữ tìm hiểu về công việc, tình trạng hôn nhân, tài chính và quá khứ của mình. Anh ta cũng không thúc ép cưới gấp, không dùng lời hứa bảo lãnh để buộc cô phải phục tùng và không xem số tiền gửi về cho gia đình cô như giá mua quyền sở hữu cuộc đời cô.

Nhưng đừng biến người phụ nữ thành bị cáo

Khi một cuộc hôn nhân như thế đổ vỡ, xã hội thường rất nhanh miệng:

“Ham đi Mỹ thì chịu.”

“Tham giàu nên mới khổ.”

“Biết người ta lớn tuổi vẫn lấy.”

Những lời ấy dễ nói, nhưng đôi khi tàn nhẫn hơn chính hoàn cảnh mà người phụ nữ đang phải chịu đựng.

Đúng là mỗi người phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Nhưng không phải mọi lựa chọn đều được thực hiện trong điều kiện bình đẳng. Có người thiếu thông tin. Có người bị lừa dối. Có người chịu áp lực từ gia đình. Có người lớn lên trong nghèo khó nên nhìn thấy một lối thoát mà không nhận ra chiếc bẫy nằm phía sau.

Một quyết định thiếu sáng suốt không trao cho bất kỳ người chồng nào quyền đánh đập, sỉ nhục, cưỡng ép hoặc giam cầm vợ mình.

Không ai đáng bị bạo hành chỉ vì từng mơ ước đổi đời.

Không ai mất quyền được bảo vệ chỉ vì đã lựa chọn sai một người.

Và một người phụ nữ từng đặt niềm tin nhầm chỗ không vì thế mà mất đi phẩm giá.

“Bông hoa lài” vẫn là bông hoa lài. Nơi nó từng bị đặt xuống không quyết định giá trị và hương thơm của nó.

Nỗi đau của những người mẹ

Trong nhiều gia đình, chính cha mẹ cũng góp phần thúc đẩy con gái lấy chồng Việt kiều. Họ nghĩ rằng con sang Mỹ sẽ có cuộc sống sung túc rồi gửi tiền về giúp gia đình. Đám cưới đôi khi được xem như ngày cả nhà đổi vận.

Nhưng cha mẹ cần tự hỏi: mình đang gả con cho một con người hay gửi con theo một tấm vé xuất cảnh?

Một người đàn ông có nhà, có xe và có quốc tịch chưa chắc đã đem lại hạnh phúc cho con gái mình. Điều cần tìm hiểu không chỉ là anh ta kiếm được bao nhiêu tiền, mà là anh ta đối xử với cha mẹ, người vợ cũ, con riêng, đồng nghiệp và những người yếu thế như thế nào.

Đừng vì mong con đổi đời mà đẩy con vào một cuộc đời không lối thoát.

Tiền con gửi về không thể bù được những đêm con khóc một mình nơi đất khách. Căn nhà mới xây ở quê không thể che lấp những vết thương trên thân thể và tâm hồn của con. Niềm tự hào “có con lấy chồng Mỹ” cũng không đáng giá bằng sự bình an của chính người con gái ấy.

Muốn lấy chồng xa, càng phải tỉnh táo

Tình yêu xuyên biên giới không có gì đáng lên án. Rất nhiều gia đình Việt–Mỹ được xây dựng bằng tình yêu chân thành, sự hy sinh và lòng tôn trọng. Điều cần phê phán không phải là việc lấy chồng Việt kiều, mà là tâm lý lấy chồng bằng mọi giá chỉ để được đi Mỹ.

Trước hôn nhân, người phụ nữ cần có quyền và trách nhiệm tìm hiểu:

* Tình trạng hôn nhân thực tế của người ấy.

* Công việc, thu nhập, nơi ở và trách nhiệm tài chính.

* Tiền án, tiền sự hoặc lịch sử bạo hành nếu có.

* Quan hệ với vợ cũ và con riêng.

* Thái độ đối với phụ nữ, tiền bạc và quyền tự do cá nhân.

* Kế hoạch học tập, làm việc và hội nhập của người vợ sau khi sang Mỹ.

* Khả năng tự lập nếu cuộc hôn nhân không diễn ra như mong đợi.

Quan trọng nhất, đừng giao toàn bộ giấy tờ, tiền bạc và tương lai cho người phối ngẫu. Hãy học tiếng Anh, tìm hiểu pháp luật, duy trì liên lạc với gia đình và xây dựng khả năng tự đứng trên đôi chân của mình.

Một tình yêu bắt buộc người phụ nữ phải mù quáng không phải là tình yêu lành mạnh.

Một người đàn ông phản đối việc người vợ tìm hiểu quyền lợi của mình thường không tìm kiếm một người bạn đời; anh ta đang tìm kiếm một người lệ thuộc.

Hạnh phúc không mang quốc tịch

Người phụ nữ Việt Nam không cần một người chồng giàu nhất, sang trọng nhất hay sở hữu tấm hộ chiếu quyền lực nhất. Điều cô cần là một người biết tôn trọng, biết giữ lời, biết chia sẻ trách nhiệm và không dùng tiền bạc để định giá vợ mình.

Thà sống giản dị bên một người tử tế còn hơn sống trong căn nhà lớn với một kẻ xem vợ như tài sản.

Thà tự mình bước đi chậm rãi còn hơn ngồi trên chiếc xe hào nhoáng chạy thẳng vào bất hạnh.

Thà ở lại quê nhà trong phẩm giá còn hơn sang Mỹ bằng một cuộc hôn nhân khiến mình đánh mất tự do và lòng tự trọng.

Nước Mỹ không có lỗi. Ước mơ đi Mỹ cũng không có lỗi. Nhưng biến hôn nhân thành phương tiện xuất cảnh là một lựa chọn chứa đầy nguy hiểm. Bởi khi người ta bước vào hôn nhân vì một đất nước thay vì một con người, đến lúc giấc mơ địa lý phai màu, họ có thể phải đối diện với sự thật rằng mình chưa từng biết người nằm bên cạnh là ai.

Lời kết: Đừng lấy một tấm hộ chiếu

Xin đừng hỏi người đàn ông ấy có thể đưa con gái mình đến quốc gia nào. Hãy hỏi anh ta có thể đưa cô ấy đến một cuộc đời như thế nào.

Xin đừng nhìn chiếc xe anh ta lái khi về Việt Nam. Hãy nhìn cách anh ta đối xử với người phục vụ, với cha mẹ, với vợ cũ và với những người không thể đem lại lợi ích cho anh ta.

Xin đừng nghe anh ta hứa sẽ cho cô gái những gì. Hãy quan sát những điều anh ta sẵn sàng hy sinh và chịu trách nhiệm.

Và xin nhắn với những cô gái đang đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân:

Đừng lấy nước Mỹ.

Đừng lấy thẻ xanh.

Đừng lấy những bức ảnh hào nhoáng.

Đừng lấy lời hứa đổi đời.

Hãy lấy một con người có nhân cách.

Bởi hôn nhân không phải chuyến bay một chiều đi tìm miền đất hứa. Đó là hành trình dài giữa hai con người bình đẳng. Nếu không có tình yêu, sự hiểu biết và lòng tôn trọng, dù điểm đến là Hoa Kỳ, cuối con đường vẫn có thể chỉ là cô đơn.

Đừng để một bông hoa lài phải sống cả đời trong nơi không xứng đáng với hương thơm của nó.

Nhưng nếu chẳng may đã đặt nhầm niềm tin, xin cũng đừng cúi đầu chịu đựng. Một bông hoa bị vùi xuống bùn vẫn có quyền vươn lên tìm ánh sáng.

Phẩm giá của người phụ nữ không nằm trong tay người đàn ông đã cưới cô. Phẩm giá ấy thuộc về chính cô và không một cuộc hôn nhân, một tấm hộ chiếu hay một giấc mơ dang dở nào có quyền tước đoạt.

Nói cho cùng, thường thì những thanh niên thành công và ngon lành ở Mỹ thì không rãnh để về Việt Nam cưới vợ đâu… hầu hết là dạng cà lơ phất phơ ở Mỹ.

Còn những đàn ông lớn tuổi thì đa số là bị vợ bỏ nên mới về Việt Nam lấy vợ đưa qua Mỹ rồi bị vợ bỏ tiếp…

Quốc Nguyên

(Người về từ lòng đại dương) 


 

ĐẠI HỒNG PHÚC CHO NGƯỜI NHẬN BIẾT CHÚA – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (Mt 16,13-20) Chúa nhật 21 TN năm A)

 “Khi Chúa Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Ngài hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.”  

 Như vậy, vào thời điểm đó, chẳng có ai biết Chúa Giê-su là ai.

 Thế rồi, Chúa Giê-su quay sang hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”  

 Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 

Khi nghe thánh Phê-rô đáp như vậy, Chúa Giê-su tỏ ra vui mừng hân hoan vì Phê-rô đã nhận biết căn tính của Ngài. Ngài nói: 

 “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16, 13-17). 

Diễm phúc được nhận biết Chúa  

Nếu hôm nay, Chúa Giê-su đặt lại câu hỏi đó với mỗi người chúng ta: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” thì chúng ta có thể trả lời trúng phóc: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

 Bấy giờ, chắc chắn Chúa Giê-su cũng xác nhận chúng ta là người có phúc, vì không phải do khà năng tự nhiên, nhưng là nhờ Thiên Chúa Cha mặc khải cho, chúng ta mới biết mầu nhiệm cao trọng nầy.

 Thế thì chúng ta cũng là người được diễm phúc như thánh Phê-rô năm xưa.

Tại sao vậy?

 Trong số 100 triệu người Việt Nam, chỉ có gần tám triệu người Công giáo.  Chúng ta may mắn được liệt vào cộng đồng tuy ít ỏi nhưng đầy diễm phúc nầy. 

Điều mà các vị ngôn sứ tầm cỡ như Ê-li-a, I-sai-a, Mô-sê… ngày xưa và ngay cả các nhà hiền triết, các bậc khôn ngoan thông thái… chưa từng được nghe, chưa được thấy, chưa từng biết… thì Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta là những người bé mọn. Chính Chúa Giê-su cũng nhìn nhận đây là đại phúc. Ngài nói: 

“Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13, 16-17).

 Tiếc thay, mặc dù đa số chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa từ tấm bé, nhưng dường như chúng ta chưa hề cảm nhận được niềm vui được làm con Chúa.

Đây là hạnh phúc vô cùng cao quý, đến mức Chúa Giê-su cảm thấy hoan lạc dâng cao trong tâm hồn, nên Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha thay cho chúng ta: “Lạy Cha là Chúa Tể Trời Đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11, 25).

Đúng thế, chúng ta diễm phúc vì trong khi nhiều nhà khoa học, nhiều người thông thái, các bậc khôn ngoan ở đời… còn chưa nhận biết gì về Thiên Chúa; thì chúng ta được mặc khải cho biết:

 Thiên Chúa là Đấng tạo dựng Trời Đất muôn vật muôn loài, Ngài là Vua Hoàn Vũ;

– Ngài cũng là Người Cha yêu quý đã tác tạo nên mọi người trên Trái Đất; 

– Ngài nâng chúng ta lên làm con chí ái của Ngài, thế là chúng ta trở thành những hoàng tử, những công chúa yêu dấu của Vua Trời. 

Và Chúa Giê-su cũng dạy chúng ta thay vì thưa với Chúa Cha là: Muôn tâu Thánh thượng hoặc: Tâu Phụ vương như thói đời, thì hãy thân thưa với Ngài cách thân mật là: Abba!, Bố yêu ơi!

Đây là hồng ân đặc biệt, là diễm phúc tuyệt vời mang lại hạnh phúc cho chúng ta đời nầy và cuộc sống vĩnh cửu mai sau.

 Lạy Thiên Chúa toàn năng,

Chúng con hết lòng chúc tụng tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con diễm phúc nhận biết, yêu mến và tôn thờ Chúa từ lúc mới có trí khôn. Xin cho chúng con cố gắng giới thiệu Chúa cho nhiều người chưa nhận biết Chúa, để họ cũng được phúc làm con Cha như chúng con. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

 *****

Tin mừng Mát-thêu, 16, 13-20

13 Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.      


 

Thánh Bê-na-đô (Bernard) ở Clairvaux, 1091-1153, viện phụ, Tiến Sĩ Hội Thánh- Cha Vương

Ngày Thứ 5 tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa nhé. Nếu bạn bước theo chân các Thánh, thế nào bạn cũng sẽ gặp Chúa Kitô và Đức Maria Mẹ Ngài. Hôm nay ngày 20/08, Giáo Hội mừng kính thánh Thánh Bê-na-đô (Bernard) ở Clairvaux, 1091-1153, viện phụ, Tiến Sĩ Hội Thánh. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy, và mời bạn hãy noi gương ngài để đến gần với Chúa và Mẹ hơn. Cầu  nguyện cho nhau và thể giới nhé

Cha Vương

Thứ 5: 20/08/2026   (t4-25)

Bê-na-đô sinh năm 1090 tại Fontaines-les-Dijon, Burgundy, nước Pháp trong một gia đình quý tộc. Khi 20 tuổi, Bê-na-đô từ giã quê nhà ở Burgundy để gia nhập cộng đồng đan sĩ ở Citeaux. Năm người anh em, hai người chú của ngài và khoảng 30 người bạn theo ngài vào đan viện. Trong vòng bốn năm, một cộng đoàn đang tàn lụi đã phục hồi sinh lực đủ để khai sinh một đan viện mới trong thung lũng Wormwoods gần đó, với Bê-na-đô làm đan viện trưởng. Nhiệt huyết của người thanh niên trẻ tuổi này là một đòi hỏi thật khắt khe, nhưng đối với chính ngài hơn là người khác. Một cơn bệnh nặng đã khiến ngài kiên nhẫn hơn và thông cảm hơn. Không bao lâu, thung lũng này được gọi là Clairvaux, thung lũng ánh sáng. Ngài có tài phân xử và cố vấn. Do đó, càng ngày ngài càng phải xa đan viện để giải quyết các tranh chấp đã có từ lâu trong Giáo Hội. Thánh Bê-na-đô là người đã can thiệp vào một vụ li giáo đang bùng nổ mạnh và đã đứng về phía đức giáo hoàng ở Rôma để chống với phe ngụy giáo hoàng.

    Theo truyền tụng, những lời than thở “Ôi khoan thay, nhân thay, diệu thay, Trinh Nữ Maria!” đã được thánh Bê-na-đô ứng khẩu thêm vào cuối câu kinh Chào Kính Nữ Vương. Thánh nhân đã có công phổ biến thánh thi ấy trong các cộng đoàn tu trì và các đền thánh. Năm 1220, dòng Citeaux đã quyết định buộc mọi phần tử trong dòng phải đọc thánh thi ấy hàng ngày. Kinh Hãy Nhớ, một bản kinh Thánh Mẫu rất được yêu chuộng cũng được cho là của thánh Bê-na-đô ở Claiveaux, mặc dù xác quyết này thỉnh thoảng cũng bị phản đối.

  Thánh Nhân qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1153 tại đan viện Clairvaux. Thánh Bê-na-đô ở Clairvaux được Đức Giáo Hoàng Alexander III tôn phong hiển thánh năm 1170. Đức Giáo Hoàng Pius VIII đã tuyên xưng Thánh Bê-na-đô ở Clairvaux là Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1830. 

(Tóm tắt từ Nguồn: Người Tín Hữu)

Sau đây là những lời nói của Thánh Bê-na-đô:

(1) Khi Thiên Chúa yêu, thì Người không muốn điều gì khác hơn là được yêu: Thật vậy, Thiên Chúa yêu, thì Người không nhằm điều gì khác ngoài được yêu lại, vì Người biết ai yêu mến Người thì sẽ được hạnh phúc nhờ chính tình yêu đó.

(2) “Đấng chiếm đoạt những con tim” là tước hiệu mà thánh Bê-na-đô đã yêu tặng Mẹ.

(3) Ơn chiêm niệm chỉ được ban cho khát vọng thao thức và nài nẵng. 

(4) Cầu nguyện là thứ rượu làm vui thỏa tâm hồn con người.

(5) Tôi biết các binh lính phải khổ sở rất nhiều và phải chịu đựng trong âm thầm. Giả như mỗi sáng khi thức giấc, họ chịu khó thân thưa với Thiên Chúa lời than thở đơn sơ này: “Lạy Thiên Chúa của con, con ước ao làm và chịu đựng mọi sự trong ngày hôm nay vì yêu mến Chúa.” Họ sẽ tích lũy được nhiều vinh quang muôn đời.

(6) Khi hiểm nguy, khi do dự, khi khó khăn, hãy nghĩ đến Ðức Maria, hãy kêu cầu Ðức Maria. Liên lỉ kêu cầu danh ngài, hễ có đau khổ thì hãy chấp nhận trong lòng vì danh ngài. Có như thế, bạn mới chắc chắn được sự trợ giúp của lời ngài cầu bầu, đừng sao nhãng theo bước chân ngài. Với sự dẫn dắt của ngài, bạn sẽ không bao giờ lạc lối; khi cầu khẩn ngài, bạn sẽ không bao giờ nhát đảm; một khi có ngài trong tâm trí, bạn sẽ không bị lừa dối; khi được ngài nắm tay, bạn sẽ không thể vấp ngã; với sự phù trì của ngài, bạn không còn gì để sợ hãi; nếu theo ngài, bạn sẽ không mệt mỏi; nếu được ngài ưu đãi, bạn sẽ đạt được mục đích.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Đối với mình thì câu số 5 đánh động mình nhất.

Thánh Bê-na-đô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trên Con Đường Về Quê (Nguyễn Khắc Xuyên) – Hoàng Oanh