BẤT HẠNH – Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

BẤT HẠNH

1.

Tôi chưa nghe ai nói Úc là một quốc gia anh hùng. Họ chỉ tự nhận là một quốc gia may mắn (Lucky Country). Nếu được lựa chọn, tôi thích sinh ra và sống trong một quốc gia thanh bình hơn là một quốc gia anh hùng. Trong lịch sử, dân tộc anh hùng nào cũng là một dân tộc bất hạnh: Sự anh hùng nở hoa từ máu.

2.

Bất hạnh lớn nhất của Việt Nam hiện nay không phải là đất nước bị cai trị bởi một đảng độc quyền. Bất hạnh lớn nhất là cái đảng độc quyền ấy lại bị cai trị bởi một nhóm người hoàn toàn bất tài và bất lực. Hơn nữa, vô tâm: Họ chỉ lo cho quyền lợi của họ.

3.

Người có tài nhưng không được trọng dụng là một bất hạnh đối với cá nhân người ấy; người không có tài mà lại được trọng dụng, hơn nữa, nắm những vị trí lãnh đạo tối cao, là một bất hạnh cho cả một dân tộc. Trong hiện tại và trong cả tương lai.


 

ĐỪNG LO LẮNG GÌ CẢ (Mc 6, 25-34) – Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu

 Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu

 Ngày Tết báo hiệu một năm cũ đã qua và một năm mới đang đến.  Chúng ta cần nhìn lại một năm qua với cái nhìn của Chúa để thấy tất cả là hồng ân, kể cả những gì người đời coi là xui xẻo, bất hạnh.  Chúa đã cho chúng ta sống thêm một thời gian, thêm một năm trên đời.  Chúng ta nhận ra thời gian một ngày nhờ mặt trời mọc lên rồi lặn xuống.  Nhà nông nhận ra thời gian một tháng nhờ mặt trăng tròn rồi lại khuyết.  Tạ ơn Chúa vì hai nguồn sáng quý báu như vậy trên bầu trời.

Thời gian theo Kitô giáo không đi theo đường xoắn ốc, nhưng theo đường thẳng.  Thời điểm nào cũng là duy nhất, đi rồi không trở lại, nên rất đáng quý.  Con Thiên Chúa làm người đã đắm mình trong dòng thời gian như ta.  Nhờ Ngài, dòng thời gian này sẽ đưa ta vào vĩnh cửu của Thiên Chúa.

 Ngày Tết người ta thường hay chúc nhau.  Chúc sức khỏe, chúc làm ăn phát đạt, chúc mọi sự như ý…

Chúng ta có thể học được một cách chúc rất đẹp trong sách Dân Số (6, 22-27).  Đức Chúa chỉ dạy cho ông Môsê để ông này chỉ lại cho ông tư tế Aaron biết cách chúc lành cho dân.

 Có ba lời chúc, mỗi lời đều bắt đầu bằng chủ từ là Đức Chúa:

“Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em.

Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em.

Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn anh em và ban bình an cho anh em.”

 Ơn bình an là ơn bao gồm mọi ơn về sức khỏe, sống lâu, an ninh, thịnh vượng…  Rốt cuộc chính Đức Chúa mới là Đấng chúc lành cho dân Israel (c. 27).  Chính Đức Chúa đóng ấn Danh của Ngài trên họ để bảo trợ họ.  Và hôm nay chính Ngài cũng ban muôn ơn cho ta nhờ Danh Đức Giêsu.

 Trước thềm Năm Mới, con người không tránh khỏi nỗi lo về tương lai.  Có nhiều nỗi lo rất hữu lý, vì khó khăn trước mắt là có thật.  Có nhiều nỗi lo âu chỉ vì con người thấy mình quá đỗi mong manh.  Nỗi lo quấn lấy con người và làm tâm con người không yên. 

 Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu bốn lần nhắc chúng ta “Đừng lo.”  Nếu Kitô hữu không bị quay quắt vì lo âu thì không phải vì họ là người vô lo, hay vì họ tự tin, giỏi giang hơn người khác.  Đơn giản chỉ vì họ có một Người Cha quan tâm đến mọi nhu cầu của họ.  Kitô hữu tận tụy hết mình cho công việc, nhưng lại không bất an, lo âu.  Tín thác như một đứa con ngồi trong lòng cha, họ đặt vinh quang Thiên Chúa lên trên hết, và tin mọi sự khác sẽ được Ngài lo liệu.

 *****

Lạy Cha, Cha đã cho chúng con sống thêm một năm,

đi thêm một đoạn đường đời.

Nhìn lại đoạn đường đã qua,

chúng con chỉ biết nói lên lời tạ ơn chân thành,

vì Cha vẫn cho chúng con sống,

và sống trong tình yêu.

Mọi biến cố vui buồn của năm qua

đều là những lời mời gọi kín đáo của Cha để thức tỉnh, nâng đỡ và đưa chúng con lên cao.

Tạ ơn Cha

vì những gì cuộc đời đã làm cho chúng con,

và những gì chúng con đã làm được cho cuộc đời.

Xin cho chúng con sống những ngày Tết dân tộc

trong tinh thần vui tươi hoà nhã,

và không quên những ai nghèo khổ, cô đơn.

Ước gì những lời chúng con chúc cho nhau

là những lời chúc lành

xuất phát từ trái tim yêu thương.

và lạy Cha, năm mới đã đến,

Trái đất lại xoay một vòng mới quanh mặt trời,

chúng con cũng muốn

ở lại trong quỹ đạo của Cha,

nhận Cha là trung tâm cuộc sống,

và nhận mọi người là anh em. Amen.

 Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu


 

NGƯỜI THỢ GẶT TRONG ĐỒNG TRUYỀN GIÁO- Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

NGƯỜI THỢ GẶT TRONG ĐỒNG TRUYỀN GIÁO

(Suy niệm Tin mừng Matthêu (Mt 9, 36 – 10, – Chúa nhật XI thường niên năm A)

Sứ điêp: Trước khi tiến vào những cánh đồng rộng lớn bao la, mỗi Ki-tô hữu được sai đến những cánh đồng kế cận.

***

Lúa chín đầy đồng

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy một hình ảnh rất đẹp về Chúa Giêsu. Ngài rảo bước khắp nơi rao giảng, chữa lành và nhất là “chạnh lòng thương” dân chúng lầm than vất vưởng như đàn chiên không người chăn dắt.

Trước tình cảnh nầy, Chúa Giê-su kêu mời chúng ta cầu xin Thiên Chúa Cha sai nhiều người thiện chí đến chăm sóc nâng đỡ họ, như chủ ruộng sai thợ đến chăm sóc đồng lúa. Ngài nói: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa.”

Ai là thợ gặt?

Mỗi người chúng ta đều được mời gọi làm thợ gặt cho Chúa. Hội đồng Giám mục Việt Nam qua thư chung gửi cộng đồng dân Chúa năm 2025 – 2026 nhắc nhở chúng ta nhớ rằng: “Mỗi Ki-tô hữu là một môn đệ thừa sai”, nghĩa là một người thợ được Chúa sai đến làm việc trên đồng lúa của Ngài. 

Người cha, người mẹ, ông bà trong gia đình, người công nhân, người giáo viên… đều phải là những môn đệ thừa sai, thành sứ giả loan Tin mừng của Chúa bằng chính đời sống hằng ngày.

Đây là trách nhiệm chủ yếu của các tín hữu, không loại trừ ai; vì bí tích Rửa tội đã làm cho mỗi Ki-tô hữu nên chi thể của Chúa Giê-su nên phải loan Tin mừng với Chúa Giê-su.

Cánh đồng ở đâu?

Trước khi tiến vào những cánh đồng rộng lớn bao la, Ki-tô hữu được sai đến những cánh đồng kế cận. Đó là những địa bàn gần gũi bên ta như trong gia đình, trong làng xóm, khu phố, trong xứ đạo của chúng ta…

Làm thợ gặt thế nào?

Chúng ta không cần làm những việc lớn lao. Chúa không hỏi chúng ta đã làm được bao nhiêu việc lớn lao, nhưng hỏi chúng ta đã quan tâm, yêu thương, phục vụ được bao nhiêu người mà Ngài đã gửi đến bên ta.

Ở tuổi nào, hoàn cảnh nào, chúng ta cũng có thể là “thợ gặt” trong cánh đồng của Chúa qua hành vi cụ thể như:

  • Một lời khuyên chân thành cho con cháu;
  • Một lời động viên người đang chán nản;
  • Một cuộc điện thoại thăm hỏi người đau ốm;
  • Một sự cảm thông với người đang đau khổ;
  • Một lời cầu nguyện cho những người gặp thử thách…

Nhiều khi những việc nhỏ bé ấy lại là những hạt giống Tin mừng âm thầm nhưng rất hiệu quả.

Chúng ta không thể làm cho cả thế giới tốt đẹp hơn trong một ngày, nhưng chúng ta có thể làm cho cuộc sống của một người nào đó tốt đẹp hơn ngay hôm nay.

Lạy Chúa Giê-su, 

Xin Chúa mở mắt cho chúng con nhìn thấy những “cánh đồng lúa chín” ngay bên cạnh mình; mở rộng trái tim để biết cảm thương như Chúa; và ban cho chúng con lòng quảng đại để trở thành những người thợ gặt nhiệt thành trong cánh đồng của Chúa. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

**********************

Tin mừng Thánh Matthêu (Mt 9, 36 – 10, 8)

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng xót thương họ: vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.

Và Người liền triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Đây là tên của mười hai tông đồ: trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em ông; Giacôbê con của Giêbêđê và Gioan em ông; Philipphê và Bartôlômêô; Tôma và Matthêu người thu thế; Giacôbê con của Alphê và Tađêô; Simon người Cananêô và Giuđa Iscariốt, kẻ nộp Người. Chúa Giêsu sai mười hai ông này đi và truyền lệnh cho các ông rằng:

“Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng vào thành các người Samaritanô. Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: ‘Nước Trời đã đến gần’. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không.”

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Đức Thánh Cha Lêô 14 trả lời những câu hỏi khó về ích kỷ, tự tử và tha thứ

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha Lêô 14 trả lời những câu hỏi khó về ích kỷ, tự tử và tha thứ

Trong buổi canh thức cầu nguyện với giới trẻ tại Sân vận động Olympic Lluís Companys ở Barcelona tối ngày 9 tháng 6, Đức Thánh Cha Pope Leo XIV đã đối thoại trực tiếp với ba bạn trẻ, trả lời những câu hỏi sâu sắc về ơn gọi, đau khổ, trầm cảm, tự tử và tha thứ.

Chúng ta được dựng nên cho sự vô biên

Người đầu tiên là Ferrán, một thanh niên vừa lãnh nhận Bí tích Rửa tội trong đêm Vọng Phục Sinh năm nay. Anh chia sẻ rằng xã hội ngày nay luôn thúc đẩy con người chỉ quan tâm đến bản thân mình và đặt câu hỏi làm thế nào để khám phá ơn gọi giữa một thế giới đầy ích kỷ.

Đáp lại, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng nhiều người trẻ đang tìm lại đức tin Kitô giáo vì họ nhận ra rằng khát vọng chân lý và hạnh phúc của con người cần một chân trời rộng lớn hơn.

Ngài nói:

“Chúng ta được dựng nên cho sự vô biên. Vì thế, không một thành công hay thành tựu hữu hạn nào có thể làm cho trái tim con người hoàn toàn thỏa mãn.”

Đức Thánh Cha cảnh báo rằng việc chạy theo lợi nhuận, thành tích và hình ảnh cá nhân chỉ là những thứ gây tê liệt lương tâm. Ngài mời gọi người trẻ dành thời gian cho sự thinh lặng, đọc Tin Mừng mỗi ngày, cầu nguyện và đồng hành với những người có đời sống đức tin trưởng thành để khám phá tiếng Chúa trong cuộc đời mình.

Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta trong đau khổ

Người thứ hai là Carmina, một nữ giáo viên từng trải qua giai đoạn trầm cảm nặng nề đến mức đã cố gắng tự kết liễu đời mình.

Cô nghẹn ngào hỏi:

“Khi bóng tối bao phủ tất cả và chúng ta không còn sức để bước tiếp, Thiên Chúa ở đâu?”

Sau vài giây thinh lặng, Đức Thánh Cha cảm ơn sự can đảm của cô khi chia sẻ kinh nghiệm đau thương ấy.

Ngài nhận định rằng sức khỏe tâm thần đang bị đe dọa nghiêm trọng ngay cả tại những xã hội được xem là phát triển, cho thấy có điều gì đó đang thực sự bất ổn trong đời sống con người hôm nay.

Đức Thánh Cha hướng mọi người nhìn lên thập giá Chúa Kitô và nói:

“Thập giá của Chúa Giêsu cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta. Người ở lại cùng chúng ta trong những giây phút đau đớn và cô đơn nhất.”

Ngài khuyến khích những người đang đau khổ hãy tìm đến những người có thể lắng nghe, đồng hành và cầu nguyện với họ.

Đồng thời, Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng không được đơn giản hóa đau khổ bằng cách cho rằng đó chỉ là “ý muốn của Thiên Chúa”.

Thiên Chúa không muốn đau khổ. Người mang lấy đau khổ cùng với chúng ta và mời gọi chúng ta tiếp tục tín thác nơi Người.”

Làm sao tha thứ cho người cha đã hủy hoại gia đình tôi?

Người thứ ba là Desirée. Cô kể lại tuổi thơ đầy bi kịch khi cha cô từng tìm cách sát hại mẹ mình. Biến cố ấy khiến mẹ cô rơi vào nghiện ngập, còn bản thân cô phải sống trong trung tâm giáo dưỡng dành cho thanh thiếu niên phạm pháp.

Sau này, nhờ một khóa tĩnh tâm, cô gặp gỡ Chúa và được lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

Với đôi mắt đẫm lệ, cô hỏi Đức Thánh Cha:

“Con phải làm sao để tha thứ cho cha mình? Và làm sao để thực sự hòa giải với Thiên Chúa?”

Đức Thánh Cha cho rằng thay vì trách móc Thiên Chúa, con người cần nhìn vào chính mình và xã hội để nhận ra nguồn gốc của bạo lực, ích kỷ và sự dữ.

Ngài lên án mọi hình thức lạm dụng, áp bức và đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ.

“Chúng ta không thể quy trách nhiệm cho Thiên Chúa về những điều đã được trao cho tự do và trách nhiệm của con người.”

Nói về sự tha thứ, Đức Thánh Cha giải thích rằng tha thứ là một hành trình chứ không phải một hành động diễn ra trong chốc lát.

Ngài khuyên trước hết hãy xin Chúa tha thứ cho chính mình, để Người chữa lành những vết thương trong tâm hồn và từng bước biến đổi sự cay đắng thành lòng thương xót.

“Trong việc tha thứ, chúng ta tiến bước từng bước nhỏ.”

Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng tha thứ không nhất thiết có nghĩa là phải quay trở lại mối tương quan như trước đây, đặc biệt trong những trường hợp có bạo lực hoặc tổn thương nghiêm trọng.

Tuy nhiên, người tín hữu vẫn có thể từ bỏ hận thù và ý muốn trả thù, giữ một tấm lòng thiện chí đối với người đã làm tổn thương mình và cầu nguyện cho họ.

Kết thúc cuộc đối thoại, Đức Thánh Cha Lêô 14 một lần nữa mời gọi người trẻ đừng sợ những thao thức sâu xa trong tâm hồn, đừng tuyệt vọng trước đau khổ và đừng nản lòng trên con đường tha thứ, bởi Thiên Chúa luôn hiện diện, đồng hành và chữa lành con người bằng tình yêu của Người.

Nguồn: EWTN News


 

TRÁI TIM KHÔNG PHÒNG THỦ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thiên Chúa là Tình Yêu!” – bài đọc hai.  

“Những kẻ chinh phục hùng mạnh với quân đội và vũ khí khủng khiếp đã tìm cách khuất phục thế giới một cách vô vọng. Đức Kitô chinh phục muôn triệu con tim chỉ bằng tình yêu, một tình yêu không phòng thủ, không giữ lại điều gì!” – Anthony Fortosis.

Kính thưa Anh Chị em,

“Đức Kitô chinh phục muôn triệu con tim bằng tình yêu!”. Ngài không chinh phục bằng sức mạnh, nhưng bằng sự mong manh. Mừng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta chiêm ngắm một ‘trái tim không phòng thủ’.

“Thiên Chúa là Tình Yêu!”. Toàn bộ thần học Kitô giáo có lẽ cũng chỉ là nỗ lực để đi vào chiều sâu của định nghĩa ngắn ngủi ấy. Điều đáng ngạc nhiên là khi chứng minh điều đó, Gioan không đưa ra một lý thuyết, nhưng kể một câu chuyện: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”. Thiên Chúa không gửi một sứ điệp; Ngài gửi chính Người Con. Vì thế, tình yêu không còn là một ý niệm để suy nghĩ, nhưng là một con người để gặp gỡ. “Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ, một câu chuyện tình yêu; đó là một biến cố!” – Bênêđictô XVI.

Đó cũng là tình yêu Ngài dành cho Israel từ thuở xa xưa. Qua miệng Môsê, Ngài nhắc dân, họ được chọn không phải vì đông hơn hay tốt hơn các dân tộc khác; họ được chọn chỉ vì được yêu thương – bài đọc một. Trái tim của Thiên Chúa luôn đi trước: yêu trước, rồi mới biến đổi. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Ân tình Chúa thiên thu vạn đại, Chúa dành cho ai kính sợ Người!”.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ: “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con”. Chỉ mình Ngài mới biết trọn vẹn trái tim Chúa Cha; vì thế, chỉ mình Ngài mới có thể mở trái tim của Cha cho nhân loại. Nhưng Ngài không dừng lại ở việc mặc khải Chúa Cha, Ngài còn mời gọi chúng ta đến với Cha: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng!”.

Phần chúng ta, chúng ta thường sống bằng những phòng tuyến. Chúng ta phòng thủ trước người khác, phòng thủ trước chính mình, và đôi khi, phòng thủ trước cả tình yêu của Thiên Chúa. Từ địa đàng, con người đã quen trốn chạy; Thiên Chúa thì không. Lời mời “Hãy đến cùng tôi!” cho thấy một điều kỳ diệu: Thiên Chúa không đáp lại sự khép kín của con người bằng một sự khép kín lớn hơn. Ngài mở ra!

Anh Chị em,

Nơi nào chúng ta thấy rõ nhất một ‘trái tim không phòng thủ?’. Nơi cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô trên thập giá! Ở đó, Thiên Chúa không giữ lại điều gì. Máu và nước tuôn trào như dấu chỉ của một tình yêu trao hiến đến tận cùng. Trong Đức Kitô chịu đóng đinh, Thiên Chúa từ bỏ mọi phòng tuyến cuối cùng giữa Ngài và con người. Cạnh sườn mở ra ấy không chỉ là một vết thương, nhưng là một cánh cửa. Thiên Chúa không chỉ mở cửa Nước Trời; Ngài mở chính trái tim mình. Qua Đức Kitô, người mệt mỏi tìm được nghỉ ngơi, người tội lỗi tìm được thứ tha và người lạc lối tìm được đường về. “Không có người tội lỗi nào quá xa để không thể trở về với Thiên Chúa!” – Fulton Sheen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho trái tim con bớt phòng ngự trước Chúa; bớt khép kín trước anh em; và mỗi ngày nhu mì hơn như trái tim Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************

LỜI CHÚA LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU, NĂM A, THỨ SÁU tuần X, TN:

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 11,25-30

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”


 

 Thánh Barnabas tông đồ – Cha Vương 

 Chúc bình an, hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Barnabas tông đồ, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy luôn nhớ nhau trong kinh nguyện không quên cầu nguyện cho thế giới được bình an nhé.

Cha Vương 

Thứ 5: 11/06/2026      (t7-22)

“Vị thánh này có phúc, vì đáng được kể thêm vào số các Tông Đồ: Người thật là tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin”( Cv 11, 24 ). Thánh Barnabê là một trong 72 môn đệ đầu tiên đã nghe Chúa Giêsu giảng dậy và đã trở thành môn đệ của Ngài

Thánh Barnabê môn đệ của Chúa Giêsu: Đã có lần, có dịp nghe Chúa Giêsu giảng dậy và đã chứng kiến Chúa Giêsu làm phép lạ, thánh Barnabê đã trở thành một trong 72 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Vì Chúa Giêsu đã nói: “ Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái…” ( Ga 15, 16 ).Chính Chúa Giêsu đã chọn Barnabê để  thánh nhân làm chứng cho tình yêu của Chúa và giới thiệu Chúa Giêsu cho nhiều người. Sau biến cố Chúa Giêsu lên trời, các tông đồ sai Barnabê đi truyền giáo ở Antiokia, một miền trù phú và thịnh vượng, phồn vinh nhất lúc bấy giờ. Và như lời Chúa nói:”… hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân dành Thầy thì Thầy ban cho anh em”( Ga 15, 16 ). Thánh Barnabê luôn có Chúa Thánh Thần tràn đầy và nhờ tài giảng thuyết, Ngài đã đưa được biết bao nhiêu người trở về với Chúa. Thánh nhân đã mời thánh Phaolô về ở với mình và cùng giảng dậy, loan báo Tin Mừng ở Antiokia. Sau đó, thánh nhân mang món tiền mà Ngài đã quyên góp được về Giêrusalem gặp các vị kỳ mục và các tông đồ khác. Đường lối và ý nhiệm mầu của Chúa lại khác, Barnabê và Phaolô lại được trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, nên các Ngài lại trẩy đi Séleucie và Chypre. Dân bản xứ và các người ngoại giáo, đón tiếp các Ngài một cách nhiệt tình, họ tin theo các Ngài. Tuy nhiên cũng có những người Do Thái có óc thủ cựu, hẹp hòi đã tìm cách gièm pha, chế diễu và nói nhiều lời ngạo mạn đối với các Ngài, họ xúi giục những thành phần bất hảo ngược đãi và trục xuất các Ngài ( Cv 13, 50 ). 

Chúa cho các Ngài làm nhiều phép lạ: xua trừ ma quỉ, chữa bệnh, làm cho kẻ chết sống lại để củng cố niềm tin của các tân tòng.

Chúa thưởng công cho Thánh Barnabê: Thánh Barnabê và thánh Marcô tiếp tục rao giảng ở đảo Chypre. Chúa đã  yêu thương cho thánh Barnabê được lãnh triều thiên qua cái chết tử đạo của Ngài:” Hạt lúa mì rơi xuống đất không thúi đi, thì nó sẽ không sinh nhiều bông hạt…”.  Người Do Thái ở Syria đã xúi giục dân chúng ném đá và xử tử thánh Barnabê. Đời Hoàng Đế Zénon, vào năm 488, người ta đã tìm thấy xác của thánh Barnabê tại Salamine thuộc đảo Chypre, Hy Lạp.

Lạy Chúa, Chúa đã truyền phải dành riêng thánh Barnabê là một người đầy lòng tin và Thánh Thần, để thánh nhân đưa dân ngoại về với Chúa. Xin cho mọi tín hữu biết dùng lời nói và việc làm để trung thành loan báo Tin Mừng Đức Kitô như thánh nhân đã can đảm rao truyền (ca nhập lễ, lễ thánh Barnabê, tông đồ ). 

 (Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

From: Do Dzung

**********************

Đường con theo Chúa -tinmung.net

 SỐ PHẬN BI THẢM CỦA NỮ MINH TINH MÀN BẠC XÔ VIẾT DÁM TỪ CHỐI CẢ STALIN LẪN BERIA

Lê Thọ Bình

 SỐ PHẬN BI THẢM CỦA NỮ MINH TINH MÀN BẠC XÔ VIẾT DÁM TỪ CHỐI CẢ STALIN LẪN BERIA

Moskva, năm 1946. Trên phố Gorky sầm uất, một người phụ nữ đang sải bước khiến bất kỳ ai đi qua cũng không thể rời mắt. Dáng người cao ráo, quý phái, gương mặt với những đường nét thanh tú như tạc và đôi mắt mang sắc mật ong đậm sâu thẳm.

Người qua đường ngoái lại nhìn, có vài cô gái trẻ khúc khích thì thầm vào tai nhau với ánh mắt đầy ngưỡng mộ. Đó chính là Tatyana Okunevskaya, ngôi sao sáng chói của điện ảnh Xô Viết, người sở hữu gương mặt mà từ góc phố nhỏ đến những quảng trường lớn của toàn liên bang không ai là không biết.

Năm ấy bà ba mươi hai tuổi. Phía sau bà là những vai diễn để đời mang lại danh tiếng lẫy lừng, là ánh hào quang đỉnh cao mà mọi nghệ sĩ đều khao khát. Phía trước bà, như một lẽ tự nhiên, đáng lẽ phải là hàng thập kỷ tỏa sáng rực rỡ hơn nữa trên sân khấu và màn ảnh.

Thế nhưng, vòng xoáy của quyền lực và những âm mưu đen tối nơi hậu trường chính trị đã viết sẵn cho bà một kịch bản khác, một kịch bản tàn khốc, đẫm máu và nước mắt, vượt xa bất kỳ bộ phim chính kịch nào từng được công chiếu.

1- Tuổi Thơ Mang Bóng Ma Thời Đại Và Sự Thăng Hoa Của Nhan Sắc

Tatyana Kirillovna Okunevskaya sinh năm 1914 tại Moskva trong một gia đình cựu quý tộc Tsar. Sau cuộc Cách mạng, để thích nghi với chế độ mới và bảo vệ gia đình, cha bà phải giấu đi nguồn gốc hoàng tộc, chấp nhận làm một kế toán viên bình thường với mức lương khiêm tốn.

Tuổi thơ của Tatyana trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt của sự hoài nghi và sợ hãi. Bóng ma của những cuộc thanh trừng thể chế đã gõ cửa nhà bà khi Tanya mới là một cô bé vị thành niên: cha bà bị bắt giữ vì lý do chính trị.

Cú sốc mất mát và cảm giác bất an từ ngày ấy đã để lại một vết sẹo sâu sắc, định hình nên một Tatyana kiên cường, bướng bỉnh và có phần bất cần đời sau này.

Nhưng số phận đã ban tặng cho Tatyana một vũ khí tối thượng: nhan sắc và tài năng thiên bẩm. Ngay từ nhỏ, cô gái ấy đã bị ánh đèn sân khấu cuốn hút một cách kỳ lạ.

Ở tuổi 16: Tatyana đã đứng trên sân khấu nhà hát, làm chủ không gian bằng đài từ cuốn hút.

Tuổi 21: Bà chạm ngõ điện ảnh với bộ phim đầu tay và ngay lập tức lọt vào mắt xanh của các đạo diễn hàng đầu.

Ống kính máy quay như thể “phải lòng” Tatyana.

Các nhà quay phim thời đó thường truyền tai nhau một lời khẳng định mang tính huyền thoại: Thật bất khả thi nếu muốn tìm một góc quay xấu của Okunevskaya. Bất kỳ góc độ nào, bất kỳ thứ ánh sáng phức tạp nào khi chiếu lên gương mặt bà cũng chỉ làm tôn lên vẻ đẹp kỳ lạ, mang tính ma mị và đầy nam châm quyến rũ.

Đến những năm 1940, Tatyana Okunevskaya đã bước lên hàng ngũ những biểu tượng nhan sắc quốc gia. Những bộ phim như “Pyshka” (Viên mỡ), “Chuyện xảy ra ở Donbass”, “Đêm trên bầu trời Belgrade”… tạo nên những cơn sốt phòng vé, các rạp chiếu luôn trong tình trạng chật kín khán giả.

Sau chiến tranh, sự nổi tiếng của bà đạt đến đỉnh cao tuyệt đối. Những buổi tiệc chiêu đãi ngoại giao, những bó hoa rực rỡ từ người hâm mộ, những ánh nhìn sùng bái từ công chúng… Cuộc sống đối với người đàn bà tuổi băm ấy dường như vô cùng hào phóng, ngọt ngào và kéo dài bất tận.

2- Cuộc Đối Đầu Ngầm Với “Người Cha Già” Stalin

Sự nổi tiếng và nhan sắc rực rỡ của Tatyana Okunevskaya không chỉ thu hút công chúng mà còn lọt vào tầm ngắm của những bộ óc quyền lực nhất Điện Kremlin. Người đầu tiên chú ý đến bà không ai khác chính là Joseph Stalin.

Trong một buổi tiệc sang trọng được tổ chức tại Điện Kremlin nhằm vinh danh các nghệ sĩ có công trạng trong thời chiến, Tatyana xuất hiện như một nữ thần. Chiếc đầm nhung đen đơn giản nhưng cắt cúp tinh tế càng làm nổi bật nước da trắng ngần và đôi mắt màu mật ong của bà.

Stalin, lúc bấy giờ là lãnh tụ tối cao với quyền sinh quyền sát trong tay, đã bước đến gần bà. Với điếu tẩu trên tay và ánh mắt sắc lẹm, Stalin nhìn xoáy vào Tatyana, đưa ra những lời khen ngợi mang đầy tính gợi mở và hàm ý về một sự “nâng đỡ đặc biệt” nếu bà biết cách làm vui lòng lãnh tụ.

Bất kỳ một nữ diễn viên nào khác trong hoàn cảnh đó có lẽ đã run rẩy vì sợ hãi hoặc quỳ rạp trước cơ hội đổi đời. Nhưng dòng máu quý tộc kiêu hãnh và tính cách bướng bỉnh trong Tatyana đã trỗi dậy.

Bà không giả vờ ngây thơ, cũng không vồn vã đón nhận. Tatyana đáp lại bằng một nụ cười xã giao lạnh lùng, giữ một khoảng cách tôn kính nhưng đầy xa cách. Khi Stalin đưa ly rượu vang mời bà, bà đã khéo léo từ chối với lý do sức khỏe và nhanh chóng lùi về phía sau, lẫn vào đám đông các nghệ sĩ khác.

Hành vi khước từ khôn khéo nhưng kiên quyết này của Tatyana là một cú đánh trực diện vào cái tôi vĩ đại của Stalin. Dù lãnh tụ không ra tay trừng phạt bà ngay lập tức để giữ thể diện, nhưng cái tên Tatyana Okunevskaya đã bị đánh dấu đỏ trong danh sách những kẻ “thiếu lòng thành kính”.

Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất đối với bà không đến từ Stalin, mà đến từ kẻ đứng sau bóng tối của Stalin: Lavrentiy Beria.

3- Cái Bẫy Của Con Quỷ Dữ: Âm Mưu Tàn Độc Của Beria

Lavrentiy Beria, người đứng đầu Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), lực lượng cảnh sát mật khét tiếng, là một trong những nhân vật đáng sợ nhất trong lịch sử Xô Viết. Đằng sau cặp kính cận trí thức và nụ cười hòa nhã là một kẻ tàn bạo, một tên bạo chúa tình dục đích thực.

Beria khét tiếng với sở thích săn lùng các phụ nữ đẹp tại Moskva. Đó không phải là tin đồn vô căn cứ, mà là sự thật được chứng minh bằng hàng chục tập hồ sơ, lời khai và tài liệu giải mật sau này.

Xe của Beria thường lượn lờ khắp các con phố, và bất kỳ cô gái nào, dù là nữ sinh, ca sĩ hay minh tinh điện ảnh lọt vào mắt gã, đều sẽ bị mật vụ áp giải về dinh thự riêng. Với Beria, một lời khước từ không chỉ là sự từ chối tình cảm, mà là một tội ác chống lại quyền lực tối cao của gã.

Beria đã tơ tưởng đến Tatyana từ lâu. Gã không chỉ muốn chiếm đoạt thể xác của bà, mà còn muốn bẻ gãy sự kiêu hãnh của biểu tượng nhan sắc số một liên bang. Một kế hoạch tinh vi và tàn nhẫn đã được gã vạch sẵn.

Một buổi tối cuối năm 1946, sau khi kết thúc buổi biểu diễn tại nhà hát, Tatyana bước ra đường để bắt xe về nhà. Bất chợt, một chiếc ô tô hạng sang màu đen (chiếc ZIS huyền thoại của giới chức cấp cao) với cửa sổ kéo rèm kín mít trờ tới.

Hai gã đàn ông mặc măng-tô dài bước xuống, không một lời giải thích, chúng đưa ra chiếc huy hiệu NKVD lạnh lẽo. “Đồng chí Okunevskaya, đồng chí Beria muốn mời đồng chí tham gia một cuộc họp quan trọng về tương lai điện ảnh,”một tên nói với giọng điệu không thể thỏa hiệp.

Tatyana hiểu rằng bà không có lựa chọn. Chiếc xe lao đi trong đêm đông Moskva lạnh giá, hướng thẳng về phía dinh thự riêng của Beria trên phố Malaya Nikitskaya.

Khi bước qua ngưỡng cửa, không có cuộc họp nào cả. Tatyana được dẫn vào một căn phòng lớn, nơi một bàn tiệc xa hoa đã được bày sẵn dưới ánh đèn chùm lộng lẫy: những chiếc ly pha lê lấp lánh, bộ dao nĩa bằng bạc nặng trịch, những đĩa trứng cá tầm đắt đỏ và hương thơm quyến rũ của rượu vang Gruzia hảo hạng. Mọi thứ trông thật tinh tế, nhưng đối với Tatyana, nó chẳng khác nào một pháp trường được trang hoàng lộng lẫy.

Beria bước ra với chiếc áo khoác tháo cúc, nụ cười nham hiểm hiện rõ trên khuôn mặt. Gã rót rượu, buông những lời tán tỉnh trơ trẽn và bắt đầu dùng quyền lực để ra điều kiện. Beria hứa hẹn sẽ đưa Tatyana lên tầm ngôi sao quốc tế, cấp cho bà biệt thự, xe riêng và bảo hộ cho gia đình bà mãi mãi. Đổi lại, bà phải trở thành người tình bí mật của gã.

Khi thấy Tatyana kiên quyết im lặng, ánh mắt hiện rõ sự ghê tởm, Beria thay đổi chiến thuật. Gã lật bài ngửa, giọng nói trở nên lạnh lùng như băng: Gã nhắc lại quá khứ của cha bà, nhắc đến những người bạn của bà đã “biến mất” không dấu vết, và ám chỉ rằng số phận của bà hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay gã.

“Tatyana thân mến, cô nghĩ mình là ai? Một ngôi sao? Tôi có thể biến cô thành một huyền thoại, nhưng tôi cũng có thể biến cô thành cát bụi trong một cái búng tay,” Beria thì thầm bên tai bà.

Đỉnh điểm của đêm kinh hoàng đó là khi Beria lao vào cưỡng bức bà. Tatyana đã phản kháng dữ dội bằng tất cả sức bình sinh, bà tát thẳng vào mặt gã bạo chúa và buông lời nguyền rủa. Sự chống cự của bà chỉ làm kích động thêm sự tàn bạo của Beria.

Đêm hôm đó, nhan sắc kiêu hãnh của điện ảnh Liên Xô đã bị chà đạp thô bạo ngay trong hang ổ của con quỷ dữ. Khi bà bị tống ra khỏi dinh thự vào rạng sáng, Beria nhìn theo với ánh mắt hằn học: “Cô sẽ phải cầu xin tôi, Okunevskaya.”

4- Bản Án Nghiệt Ngã Và Địa Ngục Gulag

Sự trả thù của Beria đến không ồn ào nhưng vô cùng tàn nhẫn và chuẩn xác. Gã không bắt bà ngay lập tức mà bắt đầu cô lập bà. Các đạo diễn đột ngột từ chối giao vai cho Tatyana mà không rõ lý do. Tên bà bị gạch khỏi các sự kiện lớn. Hào quang quanh bà tắt dần trong sự ngỡ ngàng của công chúng.

Và rồi, điều gì đến cũng phải đến. Vào một đêm muộn năm 1948, các đặc vụ NKVD đập cửa nhà Tatyana Okunevskaya. Bà bị bắt giữ với tội danh ngụy tạo: “Tuyên truyền phản động chống Liên bang Xô Viết và gián điệp cho nước ngoài”.

Không có một phiên tòa công khai nào, không có luật sư bào chữa. Dựa trên những bằng chứng giả mạo do chính tay Beria phê duyệt, Tatyana bị kết án 10 năm tù lao động khổ sai.

Từ một nữ minh tinh sống trong nhung lụa, Tatyana bị tống lên một chuyến tàu chở súc vật, hướng thẳng về các trại tập trung Gulag khét tiếng ở vùng Siberia lạnh giá.

Trại Gulag là nơi biến con người thành những bộ xương di động. Tại đây, Tatyana phải đối mặt với:

Thời tiết khắc nghiệt: Mùa đông xuống dưới âm 40 độ C, da thịt đóng băng.

Lao dịch khổ sai: Bà phải chặt cây, đào đất, làm những công việc chân tay nặng nhọc với khẩu phần ăn chỉ là một mẩu bánh mì đen ẩm mốc và bát súp loãng cặn rau hoai.

Sự hành hạ về tinh thần: Các quản giáo trại giam biết bà từng là một ngôi sao, chúng cố tình sỉ nhục, bắt bà phải quỳ lạy hoặc làm những việc nhục nhã nhất để tiêu diệt chút tự trọng cuối cùng của bà.

Mái tóc màu mật ong rực rỡ ngày nào bị cạo trọc để phòng chấy rận. Đôi bàn tay mềm mại từng nhận hàng ngàn bó hoa của người hâm mộ giờ đây chằng chịt những vết sẹo, chai sạn và rớm máu vì lạnh giá. Nhiều đêm nằm trên sạp gỗ buốt giá, nghe tiếng sói hú ngoài bình nguyên Siberia, Tatyana đã nghĩ đến cái chết. Nhưng lòng kiêu hãnh và ý chí sinh tồn mãnh liệt đã giữ bà ở lại. Bà tự nhủ: Phải sống để chứng kiến ngày tàn của những kẻ đã hãm hại mình.

5- Sự Hồi Sinh Từ Tro Tàn

Năm 1953, một bước ngoặt lịch sử vĩ đại diễn ra: Joseph Stalin qua đời. Không lâu sau đó, Lavrentiy Beria bị lật đổ bởi các đồng chí của mình, bị kết tội phản quốc và bị xử bắn ngay sau đó.

Năm 1954, Tatyana Okunevskaya được trả tự do và được phục hồi danh dự sau hơn 5 năm chịu đựng địa ngục trần gian. Khi bước ra khỏi cổng trại giam, bà chỉ còn là một người đàn bà gầy gò, ốm yếu, nhưng đôi mắt màu mật ong ấy vẫn sáng rực một ý chí bất khuất.

Bà trở về Moskva, nhưng thế giới cũ đã thay đổi. Điện ảnh đã bước sang một trang mới, và khán giả trẻ không còn nhớ đến cái tên Okunevskaya. Thế nhưng, Tatyana không đầu hàng số phận.

Bà quay lại với thánh đường sân khấu, chấp nhận đóng những vai phụ, vai nhỏ, từ từ nhặt nhạnh lại những mảnh vỡ của cuộc đời mình. Bà viết hồi ký, phơi bày những sự thật trần trụi về thời kỳ đen tối ấy, trở thành một nhân chứng sống cho một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch.

Tatyana Okunevskaya sống một cuộc đời dài, kiêu hãnh cho đến tận năm 2002, khi bà qua đời ở tuổi 88. Người đàn bà ấy đã đi qua cả một thế kỷ đầy biến động, đã dám nói “Không” trước những kẻ quyền lực nhất thế giới, chịu đựng sự trừng phạt tàn khốc nhất nhưng chưa bao giờ để tâm hồn mình bị khuất phục.

Cuộc đời bà là một minh chứng hùng hồn rằng: Nhỏ bé trước cường quyền nhưng kiên cường trước số phận, cái đẹp chân chính và lòng tự trọng của con người sẽ luôn là thứ chiến thắng cuối cùng trước mọi bạo chúa.

(Lược dịch từ báo Nga)


 

Lễ Khánh Thành Bảng Tên Nguyễn Thị Hạnh Nhơn trên xa lộ 405

Ba’o Nguoi-Viet

June 9, 2026

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Nhiều quan khách và cư dân đến dự Lễ Khánh Thành Bảng Tên cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, do Giám Sát Viên Janet Nguyễn (Địa Hạt 1) tổ chức sáng Chủ Nhật, 7 Tháng Sáu, tại Freedom Hall trong công viên Mile Square Regional Park, Fountain Valley.

Từ trái, Nghị Viên Cindy Ngọc Trần (Garden Grove), bà Nguyễn Thanh Thủy (Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH), Nghị Viên Ted Bùi (Fountain Valley), Giám Sát Viên Janet Nguyễn, ông Phát Bùi, và Thị Trưởng Stephanie Klopfenstein (Garden Grove) khánh thành tấm bảng có tên cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Tấm bảng “Lt. Colonel Nguyen Thi Hanh Nhon’s Disabled Veterans Memorial Highway” đã được đặt trên hai hướng North và South của xa lộ 405, giữa đường Magnolia và đường Brookhurst, thuộc Fountain Valley, một trong bốn thành phố của vùng Little Saigon.

Giám Sát Viên Janet Nguyễn nói: “Hôm nay, chúng ta không chỉ tham dự buổi lễ để tỏ lòng tri ân, tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người phụ nữ đáng kính. Câu chuyện của bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn là biểu tượng của lòng can đảm, sự hy sinh và ý chí kiên cường. Những đóng góp và tấm lòng của bà để lại dấu ấn sâu đậm cho các cựu quân nhân QLVNCH, và tiếp tục truyền lại cho các thế hệ trẻ hiện giờ và mai sau. Hành trình ghi nhận công lao của bà trải qua nhiều năm, với Nghị Quyết SCR 60 của tiểu bang California, được tôi đề xuất và thông qua để vinh danh bà vào năm 2017, và mãi đến hôm nay, chúng ta được chứng kiến sự công nhận chính thức này.”

Trong số quan khách đến dự, bà Nguyễn Thanh Thủy, hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, cho hay: “Khi cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn qua đời vào 2017, có khoảng 10,000 chữ ký của đồng hương trong kiến nghị xin California đặt bảng tên bà trên xa lộ 405. Kiến nghị này được chính quyền California chấp thuận theo Nghị Quyết SCR 60, do bà Janet Nguyễn, khi đó là thượng nghị sĩ tiểu bang, đề nghị. Nhưng lúc đó xa lộ này đang được chỉnh sửa, nên chưa thực hiện được.”

Tấm bảng có tên “Lt. Colonel Nguyen Thi Hanh Nhon’s Disabled Veterans Memorial Highway” được chuẩn bị gắn ở xa lộ 405. (Hình: Caltrans)

“Sau khi xa lộ 405 sửa xong, chúng tôi vẫn vận động để thực hiện bảng tên này. Trong năm 2017, tiền chi phí để thực hiện bảng tên này trên một hướng của xa lộ 405 chỉ có $5,000, và số tiền này do gia đình bà Hạnh Nhơn đóng góp. Nhưng sau đó Giám Sát Viên Janet Nguyễn cũng như đồng hương muốn đặt bảng tên này trên cả hai hướng North và South, nên số tiền lên đến $17,000,” bà Thủy kể tiếp.

Bà thêm: “Đây là niềm hãnh diện cho cộng đồng người Việt hải ngoại, vì ai cũng muốn được thấy bảng tên của một cựu nữ quân nhân VNCH, khi đi trên xa lộ 405 để đến Little Saigon. Số tiền để thực hiện bảng tên này là do các cư dân đóng góp. Người giúp chúng tôi nhiều nhất về thủ tục để thực hiện việc làm này là Giám Sát Viên Janet Nguyễn.”

Nhân viên Caltrans hoàn tất dựng bảng “Lt. Colonel Nguyen Thi Hanh Nhon’s Disabled Veterans Memorial Highway” trên xa lộ 405. (Hình: Caltrans)

Ông Phát Bùi, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, cựu nghị viên Garden Grove, nói: “Bà Hạnh Nhơn là cựu sĩ quan Quân Chủng Không Quân VNCH. Khi ra hải ngoại, bà vẫn nhớ đến những chiến hữu thương phế binh còn đang sống trong cảnh nghèo khó trong nước. Theo tôi biết, Giám Sát Viên Janet Nguyễn cũng là con cháu của các chiến sĩ trong QLVNCH. Bà lúc nào cũng chú tâm đến nhiều sinh hoạt của đồng hương và những hội đoàn trong cộng đồng người Việt tại Little Saigon. Vì thế, chúng ta mới có buổi họp mặt hôm nay, nhằm vinh danh cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Đó là bảng tên của bà đã được đặt tại xa lộ 405.”

Ông Richard Bùi Đẹp, trung tâm trưởng Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ, nói: “Dự án này thể hiện sự duy trì tinh thần đoàn kết của cộng đồng người Việt tại Little Saigon.”

Quang cảnh Lễ Khánh Thành Bảng Tên Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông Đinh Quang Truật, cựu chiến sĩ Hải Quân VNCH, nói: “Khi tôi nghe tin Giám Sát Viên Janet Nguyễn vận động đặt bảng tên cho cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn thì tôi rất vui mừng và hãnh diện cho tập thể cựu chiến sĩ VNCH tại hại ngoại. Bà Hạnh Nhơn là cánh chim đầu đàn của Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH. Công ơn của bà đối với những cựu quân nhân như chúng tôi, nhất là đối với các anh chị em thương phế binh VNCH đang còn sống tại quê nhà, là rất lớn lao. Qua nghĩa cử cao đẹp ấy, tên của bà rất xứng đáng được gắn trên xa lộ 405 trong khu vực Little Saigon.”

Quan khách đến dự còn có Nghị Viên Ted Bùi của Fountain Valley, Thị Trưởng Stephanie Klopfenstein và Nghị Viên Cindy Ngọc Trần của Garden Grove, và một số vị khác. [đ.d.]


 

THỢ GẶT THÌ ÍT – Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Thợ gặt thì ít bởi vì chúng ta không làm hết tất cả sức mình để lưu tâm đến vấn đề.”

Khi được phái đi giảng dạy ở các xứ thừa sai thường các tu sĩ buộc phải gởi bản tường trình đều đặn về cho bề trên dòng tu của mình.  Bản tường trình này không chỉ liên quan đến diễn tiến công việc mà còn cả cuộc sống riêng tư của họ nữa.

 Ðây là một đoạn trích từ một bản tường trình viết ra cách đây bốn trăm năm do Thánh Phanxicô từ Ấn Ðộ gởi cho thánh Ignatio Loyola ở Âu Châu.  Sau khi tường trình về sự nghèo đói thê thảm của đám dân, Thánh Phanxicô viết tiếp: “Nhiều người ở đây không được trở thành Kitô hữu chỉ vì không có ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ…  Con thường cảm thấy bị thôi thúc muốn đi đến các trường đại học Âu Châu đặc biệt là đại học Sorbonne ở Balê để la lên như một gã điên cho những kẻ giàu trí thức hơn là thiện chí.  Yêu cầu họ xử dụng trí thức của họ làm sao cho lợi ích… phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ qua tài năng Người đã ban cho họ!  Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động… thốt lên: “Lạy Chúa này con đây.  Chúa muốn bảo con làm gì?”” (trích trong phụ chương Dòng Tên gởi cho Thánh Bộ – trang 96-99). 

Lá thư trên nhắc lại những lời Chúa Giêsu trong Phúc âm hôm nay: “Mùa màng thì nhiều mà thợ gặt thì ít.  Các con hãy cầu xin chủ ruộng sai thợ đến gặt mùa màng của mình” (Mt 9: 37-38).

 Và điều xác thực vào thời Chúa Giêsu cũng như thời thánh Phanxicô Xavier thì càng xác thực gấp đôi trong thời buổi hôm nay: “Mùa màng thì nhiều mà thợ gặt thì ít.”  Ðiều này nêu lên một vấn nạn: “Tại sao ngày nay có ít thợ đến gặt hơn trước đây?”  Tuy nhiên, trước khi trả lời cho vấn nạn trên, có lẽ chúng ta nên trả lời cho câu hỏi này trước: Mùa gặt Chúa Giêsu đề cập đến là gì?  Và ai là thợ gặt mà Chúa Giêsu muốn nói đến?

 Trước hết, Chúa Giêsu nói đến mùa gặt nào?  Ðó là số thiên hạ đông đúc không chỉ ở các xứ truyền giáo mà còn ở ngay trong đất nước chúng ta, những người hiện đang tìm kiếm chân lý, hiện đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.  Họ là những người giống cậu bé tốt nghiệp trung học nọ mà báo chí trong nước từng nêu lên khi ta nói: “Cuộc đời còn có những cái quý hơn tiền bạc, tivi, tiệc tùng và danh vọng.”

 Còn những người thợ mà Chúa Giêsu đề cập đến là ai? 

Họ không chỉ là những học sinh tốt nghiệp trung học vào những năm vừa qua thường đi tu hàng đám, mà còn có cả những sinh viên tốt nghiệp đại học nữa.  Theo ghi nhận, hiện có nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học đi tu hơn là những học sinh tốt nghiệp trung học, cho dù lớp người tốt nghiệp trung học đông hơn lớp trước rất nhiều.

 Và cuối cùng, đám thợ Chúa Giêsu đề cập tới là tất cả chúng ta đây.  Mỗi người ở đây đều có thể làm một điều gì để đến với mùa gặt.

 Ðiều này dẫn chúng ta trở lại vấn nạn ban đầu: “Tại sao ngày nay có ít thợ “đến với mùa gặt” hơn là trước đây?”

 Chỉ cần xét ba lý do sau đây thì sẽ rõ.

 Thứ nhất, sở dĩ thế là vì chúng ta không thực hành điều Chúa Giêsu truyền bảo chúng ta “Hãy cầu xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.”  Chúa Giêsu đã đặt trong tay chúng ta mọi thứ chúng ta cần để “dấn thân vào mùa gặt” nhưng chúng ta đã không sử dụng nguồn mạch nền tảng nhất tức là lời cầu nguyện.  Chẳng hạn, có bao nhiêu người trong chúng ta đây thường xuyên cầu xin Chúa thôi thúc tâm hồn các bạn trẻ để họ nghiêm chỉnh đáp lại ơn gọi làm tu sĩ hoặc linh mục?  Có bao nhiêu người trong chúng ta đây thường xuyên cầu xin Chúa thôi thúc tâm hồn những người đã lập gia đình để họ nghiêm chỉnh dấn thân vào mùa gặt bằng lời cầu nguyện, sự giúp đỡ tài chính hoặc bằng bất cứ việc gì?  Và cụ thể hơn, hãy xét xem lần sau cùng mà chúng ta cầu xin “Chủ ruộng sai thợ gặt” là lúc nào?

 Tuy nhiên, còn có lý do thứ hai khiến ngày nay có ít thợ dấn thân vào mùa gặt hơn trước kia.  Lý do này liên quan đến các gia đình.  Gia đình không còn là vườn ươm ơn kêu gọi đi tu.  Một lần nữa, nói cho cụ thể, lần sau cùng chúng ta nói cho con em mình về việc lựa chọn đời sống tu từ phục vụ là lúc nào?

 Cuối cùng là lý do thứ ba.  Lý do này liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta.  Chúng ta hãy suy nghĩ về điều này như sau: Giả sử chúng ta là một thanh niên, liệu có bao giờ chúng ta mở lòng dâng hiến cho Chúa trong cuộc sống tu sĩ không?  Hoặc chúng ta lại thuộc về một trong những kẻ mà Thánh Phanxicô từng nói: “Phải chi trong khi nghiên cứu về các môn nhân văn, họ cũng biết nghiên cứu đến sổ kế toán về những gì mà Chúa sẽ đòi hỏi qua tài năng Người đã ban cho họ.”

 Và giả sử chúng ta là người lớn tuổi, chúng ta có bao giờ nghiêm chỉnh tự vấn xem mình có thể làm gì để “dấn thân vào mùa gặt” không?  Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phải làm một điều gì đó trực tiếp giúp cho chủ ruộng trong vấn đề gặt, chẳng hạn bằng lời cầu nguyện, sự giúp đỡ tài chính hoặc một sự dấn thân cá nhân thực sự nào đó không?

 Bài Phúc âm hôm nay đặt ra trước mỗi người chúng ta một sự thách thức.  Chúng ta sẽ đương đầu với nó như thế nào?

 Bước tối thiểu đầu tiên các gia đình phải làm là tăng thêm một lời nguyện cho ơn gọi vào giờ kinh trong các bữa ăn và giờ kinh tối. Ðiều này có tác dụng như một lời nhắc nhở tế nhị cho con em chúng ta để chúng nó có thể cân nhắc ơn gọi đi tu.

 Tương tự thế, những kẻ không sống trong cơ cấu gia đình cũng nên gia tăng một lời cầu trong kinh nguyện hằng ngày với cùng một ý hướng như trên.

 Ðể kết thúc, chúng ta hãy nghe lại lần nữa một đoạn văn trích từ lá thư thánh Phaxicô Xavier gởi cho thánh Ignatiô Loyola:

 ”Con thường cảm thấy bị thôi thúc muốn đi đến các đại học Âu Châu đặc bịêt là đại học Sorbonne ở Balê và la lên như một gã điên cho những kẻ giàu tri thức hơn là thiện chí để yêu cầu họ sử dụng tri thức của họ sao cho có lợi ích…  Phải chăng trong khi nghiên cứu về các nhân văn họ cũng đồng thời nghiên cứu sổ kế toán mà Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ về tài năng Người đã ban cho họ!  Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động thốt lên: “Lạy Chúa, này con đây.  Chúa muốn bảo con làm gì?””

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Muhammad Mashali… ông là “Bác sĩ của người nghèo”

My Lan Pham  

Ông chưa từng sở hữu một chiếc ô tô. Ông cũng chưa từng sử dụng điện thoại thông minh hiện đại. Cả cuộc đời ông sống trong một căn hộ nhỏ chật hẹp, mặc những bộ quần áo đã sờn cũ năm nay qua năm khác .Thế nhưng, chỉ riêng người đàn ông này đã cứu sống nhiều người hơn cả những bệnh viện lớn cộng lại.

Tên ông là Muhammad Mashali, nhưng hàng triệu người ở Ai Cập và trên khắp thế giới chỉ đơn giản gọi ông là “Bác sĩ của người nghèo”. Trong hơn năm mươi năm, ông là một phép màu sống giữa những con phố bụi bặm của thành phố Tanta thuộc vùng đồng bằng sông Nile. Tiền bạc và vật chất chưa bao giờ là điều ông theo đuổi, bởi trái tim ông hoàn toàn dành cho việc phụng sự con người.

Mỗi buổi sáng, ông đi bộ đến phòng khám khiêm tốn của mình. Mỗi ngày, ông thường khám cho tới năm mươi bệnh nhân, làm việc hơn mười giờ liên tục mà hầu như không nghỉ ngơi. Với những người có khả năng chi trả, phí khám bệnh chỉ dưới một đô la Mỹ. Còn với những người không có tiền, việc khám chữa bệnh hoàn toàn miễn phí. Và khi y học không thể chữa lành hoàn toàn, ông xoa dịu nỗi đau của họ bằng lòng tốt chân thành cùng sự cảm thông sâu sắc.

Hành trình phi thường ấy bắt đầu từ một lời hứa thiêng liêng. Sau khi tốt nghiệp ngành y với thành tích xuất sắc vào năm 1967, ông luôn ghi nhớ những hy sinh của người cha đã dành cả cuộc đời, thậm chí bỏ bê sức khỏe và sự thoải mái của bản thân, để cho con trai được ăn học thành tài.

Sau khi cha qua đời, vị bác sĩ trẻ đã lập một lời thề với Chúa.

Ông nguyện sẽ không bao giờ nhận một đồng nào từ những người nghèo khi họ đến khám bệnh. Và ông đã giữ trọn lời hứa đó cho đến hơi thở cuối cùng.

Lòng nhân ái của ông dần lan xa vượt khỏi biên giới Ai Cập. Một doanh nhân giàu có đến từ vùng Vịnh nghe được câu chuyện về ông và muốn bày tỏ lòng biết ơn. Người này tặng ông một căn hộ sang trọng, một chiếc xe hơi mới cùng 20.000 đô la tiền mặt.

Vị bác sĩ nhìn những món quà giá trị ấy, mỉm cười nhẹ nhàng rồi từ chối mọi tiện nghi dành cho cá nhân mình. Ông chỉ nhận khoản hỗ trợ tài chính để ngay lập tức bán các tài sản được tặng. Toàn bộ số tiền thu được được dùng để mua các thiết bị y tế hiện đại cho phòng khám và cấp phát thuốc miễn phí cho những bệnh nhân nghèo nhất.

Khi được hỏi vì sao từ chối một cuộc sống sung túc hơn, ông chỉ trả lời đơn giản:

“Tôi không cần xe hơi hay quần áo đẹp. Tôi là bác sĩ, và nhiệm vụ của tôi là phục vụ những người không có gì cả.”

Địa vị xã hội hay tôn giáo cũng không có ý nghĩa đối với ông. Người Hồi giáo và các tín đồ Kitô giáo Coptic cùng đứng xếp hàng trước phòng khám của ông. Ông không chữa trị cho một tôn giáo nào; ông chữa trị cho những con người đang đau khổ.

Lòng hào hiệp của ông dường như không có giới hạn.

Ông cho đi thời gian, sức lực và cả khoản thu nhập ít ỏi của mình. Mỗi khi nhận thấy một bệnh nhân quá nghèo để mua thuốc, bác sĩ Mashali thường lặng lẽ nhét tiền vào túi họ trước khi họ ra về, để họ có thể đến thẳng hiệu thuốc mua thuốc điều trị.

Bác sĩ Muhammad Mashali qua đời vào năm 2020 ở tuổi 76. Ông không để lại khối tài sản khổng lồ, biệt thự xa hoa hay những danh hiệu hào nhoáng. Thứ ông để lại còn quý giá hơn rất nhiều: một di sản vĩnh cửu về lòng trắc ẩn, sự hy sinh và tình yêu thương vô điều kiện.


 

Dành cho các Bạn trên 60 tuổi

Dành cho các Bạn trên 60 tuổi

Già đi có 5 đặc điểm, chứng tỏ bạn mệnh tốt đến mức không thể tốt hơn! Chỉ cần chiếm được một cái cũng đủ vui thầm!

 Bạn có phải cũng nghĩ rằng, khi già đi, trong tay có tiền, danh nghĩa có nhà, đó chính là phúc khí lớn nhất?

 Nhưng dữ liệu mới nhất lại cho chúng ta một câu trả lời hoàn toàn khác. Báo cáo cuối năm 2025 của Hiệp hội Người cao tuổi Trung Quốc cho thấy, trong cuộc khảo sát hơn 20.000 người trên 60 tuổi trên toàn quốc, chỉ có 12,7% người coi “tài chính dồi dào” là cốt lõi của hạnh phúc. 

Hơn tám thành người cao tuổi, câu trả lời về hạnh phúc của họ lại hướng đến những thứ giản dị và ấm áp hơn.

 Hóa ra, “mệnh tốt” chân chính chưa bao giờ là con số trên thẻ ngân hàng, mà nằm ẩn trong những ngày thường bình dị. Nếu bạn hoặc người già trong nhà có những đặc điểm dưới đây, thì đúng là có phúc rồi, cứ vui thầm đi! 

Có người luôn nhớ đến 

 Người già sợ nhất không phải nghèo, mà là lòng trống rỗng. Cảm giác “có người nhớ đến” vững chãi ấy, bao nhiêu tiền cũng không mua được.

 Khảo sát cho biết, 59,6% người cao tuổi cho rằng “gia đình hòa thuận, con cháu hiếu thảo” là chìa khóa của hạnh phúc. Sự nhớ nhung này không nhất thiết phải ở bên cạnh mỗi ngày. Có thể là một cuộc gọi video của con cái sau giờ tan sở, là ly nước ấm người bạn đời đưa tới, là ván cờ thỉnh thoảng hẹn nhau với bạn cũ.

 Nghiên cứu cũng xác nhận rằng sự hỗ trợ giữa các thế hệ, đặc biệt là kết nối tình cảm, ảnh hưởng rất lớn đến mức độ hài lòng trong cuộc sống của người cao tuổi. Ngay cả những cụ ở viện dưỡng lão, tần suất con cái chủ động gọi điện hoặc video trò chuyện càng cao, mức độ hài lòng trong cuộc sống của họ càng cao.

 Ngược lại, người cao tuổi sống cô đơn hoặc gia đình hay mâu thuẫn, cảm giác hạnh phúc thấp hơn 41,5% so với những gia đình đoàn tụ. Nỗi cô đơn và bất lực ấy chính là cái lạnh sâu thẳm nhất của tuổi già. Vì vậy, trong nhà có ngọn đèn sáng vì bạn, có người nhớ đến sở thích của bạn, sự gắn kết ấm áp này chính là nền tảng đầu tiên của một cuộc đời mệnh tốt. 

 Thân thể khỏe mạnh  

Khi còn trẻ, chúng ta cho sức khỏe là điều đương nhiên. Đến khi già mới biết, không bệnh tật chính là món xa xỉ phẩm cao cấp nhất. 

Dữ liệu nói rất rõ: 68,3% người cao tuổi xếp “tự chăm sóc được bản thân, cơ thể không đau ốm” ở vị trí hàng đầu về hạnh phúc, cao hơn hẳn các lựa chọn khác. Những cụ hưu trí lương không cao, nhưng vẫn tự đi chợ nấu cơm, dạo bước đi dạo, chỉ số hạnh phúc lên tới 89,2 điểm.

 Trong khi đó, không ít người nhà giàu có, nhưng bị bệnh mãn tính hành hạ, phải依赖 người chăm sóc và thuốc men, chỉ số hạnh phúc chỉ còn 22,8 điểm. Sự đối lập này quá rõ ràng. Người già, thể diện lớn nhất chính là không làm gánh nặng cho con cháu; phúc khí lớn nhất chính là trên người không có bệnh tật.

 Một nghiên cứu về người cao tuổi ở các cơ sở dưỡng lão cũng phát hiện, khả năng tự chăm sóc sinh hoạt hàng ngày có mối tương quan tích cực rõ rệt với hạnh phúc chủ quan. Khả năng tự chăm sóc càng mạnh, hạnh phúc càng cao. Có thể tự phơi chăn, ngửi mùi nắng ấm, tự đi chợ chọn bó hành tươi, cảm giác làm chủ cuộc sống này chính là một loại hạnh phúc.

  Có sở thích riêng 

 Có người tuổi chưa già nhưng giữa lông mày đã đầy gió sương; có người tóc bạc trắng nhưng trong mắt vẫn còn ánh sáng. Sự khác biệt nằm ở tâm thái.

 Nghiên cứu phát hiện, người cao tuổi có sở thích cố định, tỷ lệ có xu hướng trầm cảm chỉ 7,7%, thấp xa so với 32,4% ở người không có sở thích. Trồng hoa, luyện chữ, nhảy múa quảng trường, hoặc chỉ đơn giản là yên tĩnh đọc một cuốn sách – những sở thích này không phải để giết thời gian, mà là chỗ dựa tinh thần. 

Giáo sư Trịnh Hiểu Biên của Đại học Sư phạm Hoa Trung đề xuất, để thực hiện “lão hóa tích cực” cần có “năm tâm”, trong đó “tâm tin” là phẩm chất tâm lý quan trọng nhất. Niềm tin này là chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân, từ bỏ những theo đuổi không thực tế, tập trung vào từng việc nhỏ có thể hưởng thụ ngay lúc này.

 Thí nghiệm nổi tiếng “Nhà dưỡng lão Arden” trên tâm lý học cũng chứng minh rằng, khi người cao tuổi được trao quyền lựa chọn và trách nhiệm với cuộc sống của chính mình, họ sẽ trở nên vui vẻ và tràn đầy sức sống hơn. Không bận tâm tiếc nuối quá khứ, không sợ hãi vô thường tương lai, sống trọn vẹn từng ngày hiện tại – sự thấu suốt này chính là mật ngọt mà năm tháng ủ thành.

 Luôn mang lòng biết ơn 

 Luôn nhìn vào những thứ mình không có, ngày nào cũng đắng cay; có thể thấy những gì mình đang sở hữu, lòng sẽ ngọt ngào. Biết ơn là một khả năng có thể rèn luyện. 

Một nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của lòng biết ơn đến hạnh phúc chủ quan của người cao tuổi cho thấy: những người có mức độ biết ơn đặc trưng cao thì hạnh phúc chủ quan cũng cao hơn rõ rệt. Quan trọng hơn, lòng biết ơn còn đóng vai trò điều tiết giữa sự hỗ trợ xã hội và cảm giác hạnh phúc.

 Nói đơn giản, người cao tuổi biết ơn sẽ dễ dàng cảm nhận và phóng đại hạnh phúc từ sự quan tâm của gia đình và bạn bè. Một nghiên cứu khác về bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh mãn tính thậm chí chỉ ra rằng, lòng biết ơn và xu hướng tha thứ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao “hạnh phúc trưởng thành” của họ. 

Mỗi ngày ghi lại ba việc nhỏ khiến mình vui vẻ hoặc biết ơn, thay câu “Ta già rồi không làm được gì nữa” bằng “Ta có kinh nghiệm phong phú, có thể hưởng thụ hiện tại” — những chuyển đổi tư duy tích cực này chính là bài tập về lòng biết ơn. Có thể hài lòng với một bát mì thanh đạm, vui mừng vì một ngày nắng đẹp, những người cao tuổi như vậy, mệnh chắc chắn không tệ. 

 Khả năng sống cuộc sống giản dị  

Khảo sát về dưỡng lão cư dân thành thị chỉ ra rằng, hệ thống dưỡng lão của nước ta đang chuyển đổi từ “lão hữu sở dưỡng” sang “lão hữu hạnh phúc”. Hạnh phúc này, phần lớn là cảm nhận chủ quan và sự sáng tạo.

 Nó không phải là những chuyện ầm ĩ, mà là mùi thức ăn còn đọng lại trong bếp, là vài chậu hoa nở trước cửa, là tiếng sột soạt lật trang sách cũ vào đêm hè. Nghiên cứu cho thấy, so với lao động nhà cửa kiểu nhiệm vụ, thì sự tham gia xã hội và tham gia giải trí càng giúp nâng cao mức độ hài lòng trong cuộc sống của người cao tuổi.

 Gọi điện than vãn vài câu chuyện vặt với bạn cũ, đá vài quả cầu lông cùng cháu, làm tình nguyện viên một lần trong hoạt động cộng đồng… Những hoạt động tưởng chừng bình thường này giúp người cao tuổi giữ kết nối với xã hội, tìm lại vai trò và giá trị của bản thân. 

Nói cho cùng, tuổi già mệnh tốt là một trải nghiệm về “giàu có nội tâm” chứ không phải “giàu có vật chất”. Sức khỏe là nền móng, sự là cột trụ, tâm thái tốt là mái ngói che mưa chắn gió, lòng biết ơn là ánh sáng chiếu vào nhà, còn khả năng sống cuộc đời thành thơ chính là làn khói bếp ấm áp dâng lên trong nhà, khiến lòng người an yên.

 Vandieuhay

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng – Bs Nguyễn Bảo Trung-Truyen ngan HAY

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

Đôi Tay Nhân Gian Chưa Từng Độ Lượng Bs Nguyễn Bảo Trung

Một lần nọ tôi đi khám bệnh từ thiện cho những đứa trẻ mồ côi tật nguyền ở Thủ Đức. Thật ra tôi không muốn đi, vì đó là Chủ Nhật, ngày để nghỉ ngơi. Ngày mà tôi có thể nằm dài trên sofa vừa uống bia vừa xem trận bóng ngoại hạng, thi thoảng gào lên tức tối, cứ y như là cả cuộc đời chỉ có mỗi chuyện đá bóng vào gôn là có ý nghĩa.

Tôi khám qua quýt cho xong. Lúc ra về tôi lướt qua những ma sơ chăm sóc trẻ. Họ chẳng có gì đặc biệt, không phấn son với những chiếc áo dòng màu xanh. Nhưng khi gần tới cổng, tôi thấy một ma sơ dáng người nhỏ thó, chiếc lưng còng xuống, vẻ như đang gánh một vật gì đó quá lớn trên vai. Cam chịu. Cô chỉ có một cánh tay trái, cánh tay phải đã cụt.

Khi bước qua, tôi cúi đầu chào theo phép lịch sự tối thiểu của một bác sĩ. Nhưng lúc cúi xuống, vô tình tôi cảm nhận được một mùi hương thanh thoát tỏa lan nhẹ nhàng từ cánh tay đang kéo chiếc cổng sắt nặng nề.

Tại sao ma sơ tật nguyền này lại có đôi tay thơm tho đến thế?

Câu hỏi đó theo tôi suốt chặng đường về. Để rồi từng đêm từng đêm tôi bị mùi hương đó ám ảnh. Tôi nói với đồng nghiệp, Mọi người đều bật cười và trêu: Mày nên đi khám tâm thần, bị ảo khứu, nguy hiểm lắm. Ha ha… sau những nụ cười vui vẻ ấy tôi đâm hoang mang. Không lẽ mình bị tâm thần? Không lẽ đôi tay xấu xí, tật nguyền ấy lại có thể ám mình? Tôi có rất nhiều đôi tay để ám cơ mà? Những đôi tay hồng hào, mềm mát như gió của bạn tình, những đôi tay đầy ma lực từng ngón như rắn lên xuống, làm tôi kiệt sức bao lần.

Quyết không để mình bị tâm thần lãng như vậy, tôi đi Thủ Đức một chuyến nữa. Vẫn người ma sơ có đôi tay gớm ghiếc ấy mở cổng và vẫn mùi hương thanh khiết bay, váng vất như hương hoa hồ điệp. Người ma sơ tên Thị Mây bối rối cúi xuống trả lời khi nghe tôi hỏi: Dạ… tại sơ bị tai nạn giao thông. Chỉ vậy thôi, đúng chỉ vậy thôi, tai nạn giao thông nghiền nát cánh tay phải của ma sơ. Như vậy đó, ừ thì cũng như bao người cụt chân, cụt tay khác bị tai nạn. Thế thôi. Có gì mà vướng bận?

Tôi quay về Sài Gòn, nhủ lòng mình rảnh và vớ vẩn quá. Lo công việc đi, còn bao nhiêu thú để ăn chơi, còn bao nhiêu bàn tay đẹp để nắm, để sờ mò những khi bản năng thôi thúc, đúng không? Nhưng tất cả vẫn như cũ. Hết ngày rồi lại đêm mùi hương cánh tay đó vẫn thoang thoảng quanh tôi. Khi thì dịu dàng như mùi hoa chanh, khi thì nồng nàn như mùi hoa nguyệt quế. Tôi sợ đến nỗi, tưởng mình đã điên. Sao kỳ lạ đến như vậy? Một ma sơ có đôi tay cụt vì tai nạn thì có gì là bất thường? Tôi điện thoại cho thằng bạn thân, thạc sĩ chuyên khoa tâm thần, nó cười hú hú lên rồi phán: Mày bị con nhỏ “viêm cánh “ bỏ bùa rồi, ha ha ha, mày có gu với mùi hôi đó, cưới đi, để tối tối hít hít ngửi ngửi cho sướng, ha ha ha. Tôi cũng ha ha ha trong ngượng ngùng.

Nhân dịp có chuyên gia tâm lý bên Mỹ qua dự hội nghị Chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân tai biến mạch máu não. Tôi liên lạc xin một cuộc hẹn để tư vấn. Thật khó, vì bà ta không có ý định là qua Việt Nam khám chữa bệnh. Người nước ngoài rất rõ ràng trong công việc. Sau khi hỏi hết mọi chuyện, bà Rose, chuyên gia tâm lý Mỹ, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi dừng ở khoảng giữa. Tôi hơi ngượng một chút với cái nhìn soi mói ấy.

– Lần cuối cậu quan hệ tình dục khi nào?

Tôi quan hệ tình dục thì liên quan gì đến vụ ám ảnh cánh tay cụt, tôi suy nghĩ như thế, nhưng vẫn trả lời: “Cách đây ba tháng”.

– Tại sao lâu thế? Tôi nghĩ vấn đề của cậu là thiếu thốn trong việc quan hệ, hay không thỏa mãn trong vấn đề chăn gối nên mới như vậy. Trời… Sao người nước ngoài hay liên kết mọi sự rắc rối cuộc sống vào trong tình dục thế kia? Hay họ xem việc đó cũng giống như ăn, ngủ, cầu nguyện?

Bó tay. Tôi hay dùng nhiều từ “thông dụng” như thế. Chứ còn biết làm gì? Nhiều khi ngủ tôi mở bung hết cửa sổ xịt nước hoa khắp phòng mà không thể đuổi được mùi hương đó.

Tôi đành quấy quả trở xuống Thủ Đức. Vẫn người ma sơ có cái tên quê mùa Thị Mây ấy mở cổng. Và vẫn lời đáp nhẹ như bấc, sơ bị tai nạn giao thông. Nhưng ánh mắt ma sơ nhìn tôi rất khó hiểu.

Lần này tôi không về vội, tôi đi lang thang trong khuôn viên ngôi nhà dòng dưới hàng cây bàng xanh thẳm lá. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá. Không gian thật thoáng đãng và thanh bình. Bầu trời rất trong và mây trắng trôi nhởn nhơ. Tôi giật mình tự hỏi, sao tháng ngày qua tôi cuống cuồng hết đi rồi chạy, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng để được gì? Tôi chưa bao giờ chịu dừng lại ngồi xuống bên một tách trà thơm để ngắm nhìn cuộc sống, hay đơn giản hơn để đọc một trang sách.

Vô tình tôi nhìn vào căn phòng đối diện. Tiếng cười the thé của lũ trẻ tật nguyền vọng ra, có một ma sơ già ngồi giữa chúng. Bà ta vỗ tay nhè nhẹ vào nhau, hết nghiêng nhìn đứa này ríu rít cười, đến nghiêng nhìn đứa kia nheo mắt. Cả căn phòng như bừng sáng. Thứ ánh sáng trong trẻo thánh thiện. Nụ cười móm mém không có son môi, không có phấn má, mà sao đẹp đến thế. Lũ trẻ bu quanh chạy tới chạy lui ríu rít. Tiếng ú ớ vỡ ra thành hàng ngàn tiếng leng keng reo lên trong gió. Tôi như chết lặng, sững sờ trước hình ảnh ấy. Đẹp quá, thật quá, lộng lẫy quá. Nắng chan hoà, gió cũng chan hoà. Không biết bao lâu tôi mới choàng tỉnh. Bối rối nhận ra có một linh mục già ngồi kế bên. Khuôn mặt ông ta toát lên một vẻ hiền từ bình an. Ánh mắt như chờ đợi tôi trút nỗi lòng. Tôi hỏi, sao cánh tay ma sơ Mây bị cụt. Trầm ngâm một chút ông kể:

“Năm 16 tuổi, thay vì như những cô gái khác, ngây thơ vui đùa cùng bạn bè, Mây cùng mẹ Mây đến nhà dòng này xin khấn trọn đời. Lúc đó Mẹ bề trên nhìn Mây ái ngại, vì Mây là con một, gia đình lại giàu có. Mẹ ruột của Mây rưng rưng nước mắt, nhưng trong giọt nước mắt ấy có một tình yêu, một niềm tự hào.

Năm 18 tuổi, Mây ra dáng một thiếu nữ mơn mởn, tóc dài đen nhánh, đôi tay xinh đẹp mềm mại, rất khéo nấu ăn, thêu thùa. Nhưng lúc nào Mây cũng giấu mình trong chiếc áo dòng tu kín đáo.

Có một đêm cô gõ cửa Mẹ bề trên, xin cho được ra làng mồ côi, chăm nuôi mấy em nhỏ. Mẹ bề trên ưng thuận. Thế là đôi tay đẹp kia hằng ngày mớm cơm đút cháo cho mấy em. Có khi các em sốt, Mây thức trắng đưa bàn tay mình đặt lên trán chúng, xem nhiệt độ thế nào, rồi nhúng khăn lau tới lau lui. Bàn tay búp măng mũm mĩm không còn nữa, mà thay vào đó là bàn tay không ngần ngại hốt phân dãi của các em đi đổ. Nhiều đêm, thấy đôi tay ấy chắp lại trước ngực cầu nguyện. Cầu nguyện điều gì không ai biết. Chỉ biết rằng đôi tay đó không còn như xưa…

Hôm kia, có một bé chạy tung tăng trong sân, cổng để mở, bé băng ra đường. Xe tải dìu dập trên xa lộ lớn. Em bé ấy quá nhỏ, và lao ra quá nhanh, nên không ai kịp trở tay. Rầm, khi tất cả các sơ chạy ra thì tiếng em bé khóc lên thất thanh thật to. Bên cạnh em, Mây nằm nhắm nghiền mắt. Cánh tay phải bị bánh xe nghiền nát. Máu chảy lênh láng.

Khi tỉnh dậy cô kể: Lúc đó, con đang đứng trên dải phân cách chờ băng qua đường thì thấy nó lao ra giữa xa lộ, con sợ quá, chạy ào đến, ôm nó, lăn vội vào. Tội nghiệp nó lắm, nó sợ quá, khóc thét lên. Nghe Mây kể, mọi người chưa hết bàng hoàng. Sao cô kể chuyện hồn nhiên đến thế? Liều cả mạng mình mà không tiếc chỉ để cứu một đứa bé tật nguyền, rồi còn tội nghiệp vì nó sợ khóc thét lên. Có lẽ Mây bị khùng mất rồi. Không khùng ai làm thế ? Từ đó cô lại xin Mẹ bề trên đứng gác cổng ra vào, cô sợ các em tật nguyền kia, không ý thức lại lao ra giữa dòng xe. Cô nói cuộc sống đáng quý lắm.

– Con xin lỗi mẹ, vì con cứ đòi hỏi mẹ hết lần này đến lần khác. Mẹ bề trên bật khóc: Con đâu có gì phải xin lỗi. Con luôn đòi hỏi để phụng sự người khác.

Thế là từ đó, Mây thành người gác cổng. Khi được hỏi tại sao cô bị cụt tay, cô đáp nhẹ như bấc, bị tai nạn giao thông.

Tôi không dám hỏi, cô có tiếc vì mất cánh tay không. Vì hỏi như vậy là thừa. Ngay cả mạng mình cô còn không tiếc.

Vị linh mục già kết thúc câu chuyện. Nắng chiều rải rác xuống thềm như một tràng hoa rực rỡ. Chỉ có hoa nắng mới kết vừa vương miện cho những con người ở đây. Tất cả loài hoa thế gian, tất cả kim cương, ngọc bảo thế gian khi đính vào vương miện chỉ làm cho nó trần tục hơn, vật chất hơn mà thôi.

Bây giờ tôi mới biết, vì sao đôi tay của Mây có hương thơm kỳ lạ. Và bây giờ tôi mới biết tại sao nụ cười và ánh mắt những người ở đây luôn ẩn chứa một trời long lanh nắng sớm.

Bởi vì như linh mục Nguyễn Tầm Thường đã viết: Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại.

Tôi về thành phố, thấy lòng mình bỗng chật. Những gì trước đây tôi cho là đúng, bây giờ tôi đâm nghi ngờ. Những gì trước đây tôi luôn theo đuổi, giành giật để có, bây giờ thấy chẳng còn quan trọng nữa.

Những tay thét ra lửa, những tay sừng sỏ mà tôi từng kính nể, bỗng dưng tôi thấy họ bình thường. Họ cố gắng dùng đôi bàn tay chứng tỏ mình, khuếch trương mình, những cái họ có được chỉ là thứ trơ trẽn. Họ không bình yên trên vật chất họ có được. Họ khoác những chiếc áo sang trọng, tay đeo đầy những kim cương, xịt toàn nước hoa hảo hạng, nhưng không bao giờ có mùi hương thanh tao, dịu ngọt, tỏa lan khắp bầu trời.

Tôi bị ám ảnh, vì trong tôi hoài thai một lối sống. Tôi muốn thoát khỏi bàn tay của chính mình. Tôi là người tìm kiếm bàn tay đẹp.

Bàn tay biết dang ra, biết sẻ chia là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nắm lấy tay người bất hạnh hơn mình để cùng bước là bàn tay đẹp. Bàn tay biết nâng niu, gìn giữ cái đẹp, cái chân, cái thiện, là bàn tay đẹp. Và hàng ngàn định nghĩa về bàn tay đẹp khác.

Có bàn tay cầm nắm rất nhiều, có thể điều khiển người khác. Có bàn tay xoè ra ăn xin từng đồng lẻ bố thí. Có bàn tay khéo léo làm nên những tuyệt tác nghệ thuật. Có bàn tay vụng về chỉ làm đổ vỡ mọi thứ khi chạm vào. Có bàn tay cho đi. Có bàn tay giữ lại. Nhưng khi về với đất, bàn tay nào cũng rỗng. Rỗng tuyệt đối.

Vậy sao không ướp hương cho đôi tay mình, tôi tự hỏi lòng như thế. Có hàng ngàn cách ướp hương. Như masơ Mây, ướp hương thánh thiện, âm thầm, khiêm cung, bé nhỏ, mà hương thơm lại bay vượt mọi không gian. Có bao giờ Mây kể lể với Giêsu về mình không? Chắc không, vì Mây không có thời gian cho mình, chỉ biết lo cho mọi người thôi.

Khi sinh ra, tay tôi nắm chặt. Khi chết đi tay tôi buông thõng. Từ nắm chặt đến buông thõng, một hành trình dài đầy nụ cười hạnh phúc và nước mắt đau thương.

Bs Nguyễn Bảo Trung