TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ RICHARD SCOLYER: SỰ HY SINH VĨ ĐẠI CỦA “BỆNH NHÂN SỐ 0”

Ngân LộcSắc Màu Cuộc Sống  

 TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ RICHARD SCOLYER: SỰ HY SINH VĨ ĐẠI CỦA “BỆNH NHÂN SỐ 0”

Cả nhà ơi, hôm nay Vân muốn chia sẻ một câu chuyện y học, khiến cho bất cứ ai biết về chuyện của Ông..cũng phải nghẹn ngào! Đó là hành trình của Giáo sư Richard Scolyer – chuyên gia ung thư hàng đầu thế giới. Có những con người vĩ đại đến mức, ngay cả khi đứng trước bờ vực của cái chết, họ vẫn chọn cách cống hiến trọn vẹn cho sự sống của nhân loại. Hôm nay, giới y khoa toàn cầu nghiêng mình từ biệt một huyền thoại như thế – Giáo Sư Richard Scolyer nhà nghiên cứu ung thư lỗi lạc toàn cầu, người từng được vinh danh là “Người Australia của năm 2024”. Ông qua đời ở tuổi 59 vào ngày 07/06/2026

Bản án tử hình ở đỉnh cao sự nghiệp. Giáo Sư Richard Scolyer từng là một trong những khối óc lỗi lạc nhất thế giới về bệnh lý học ung thư hắc tố da. Cùng với các cộng sự tại Viện Melanoma (Úc), Ông đã cứu sống hàng ngàn người. Nhưng nghịch cảnh ập đến tàn nhẫn khi vào tháng 5/2023, Ông được chẩn đoán mắc Glioblastoma – căn bệnh ung thư não ác tính và tàn khốc bậc nhất, với tiên lượng sống vô cùng ảm đạm.

“KHI ĐỐI MẶT VỚI CÁI CHẾT, ÔNG CHỌN CÁCH ĐỂ LẠI SỰ SỐNG CHO NHÂN LOẠI “

Quyết định lịch sử: “Bệnh nhân số 0”

Thay vì chọn phác đồ điều trị tiêu chuẩn để kéo dài chuỗi ngày an toàn ngắn ngủi, Giáo sư Scolyer đã đưa ra một quyết định chấn động. Cùng với người đồng nghiệp thân thiết là Giáo sư Georgina Long, Ông quyết định biến chính cơ thể mình thành một “phòng thí nghiệm sống”.

Ông tự nguyện trở thành “Bệnh nhân số 0”, áp dụng phương pháp liệu pháp miễn dịch chưa từng có tiền lệ – vốn được dùng cho ung thư da – trực tiếp lên khối u não của mình ngay trước khi lên bàn mổ. Đây là một ván cược khổng lồ với sinh mạng, nơi Ông chấp nhận đối mặt với những rủi ro và tác dụng phụ chưa từng được ghi nhận.

DI SẢN BẤT TỬ ĐỂ LẠI CHO ĐỜI

Giáo Sư hiểu rằng, phương pháp này có thể không cứu được Ông, nhưng Ông muốn để lại một “tấm bản đồ” cho thế hệ sau. Nhờ sự hy sinh quả cảm đó, khối dữ liệu vô giá từ quá trình điều trị của Ông đã giúp các nhà khoa học, giải mã được cách hệ miễn dịch chống lại ung thư não. Chuyến đi của Ông đã mở ra cánh cửa hy vọng rực rỡ, đưa chúng ta tiến một bước dài, tới ngày chữa dứt điểm căn bệnh quái ác này.

Cuộc đời cống hiến vĩ đại thay đổi số phận hàng triệu người

Trước khi qua đời, GS Richard Scolyer đã kịp để lại cho nền y học thế giới những di sản khổng lồ:

Hơn 1.000 công trình nghiên cứu: Ông là một trong những chuyên gia giải phẫu bệnh u.t hắc tố có ảnh hưởng nhất hành tinh, sở hữu ngân hàng sinh học u.t hắc tố lớn nhất thế giới.

Đảo ngược tỷ lệ t.ử v.o.n.g: Nhờ các nghiên cứu của ông và cộng sự, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân u.t hắc tố di căn đã tăng ngoạn mục từ dưới 5% lên tới 55%, mở ra cơ hội sống cho hàng triệu người.

Di sản bất tử ở lại với nhân loại

Điều khiến vị Giáo sư hạnh phúc nhất trong những tháng ngày cuối đời là được nhìn thấy liệu pháp thử nghiệm trên chính cơ thể mình đã chính thức được đưa vào thử nghiệm lâm sàng vào tháng 2/2026 để điều trị cho các bệnh nhân khác.

Ông đã ra đi, nhưng ngọn lửa hy vọng mà Ông thắp lên bằng chính sinh mạng mình sẽ còn cháy mãi. “Xin Tri Ân Và Cúi Đầu Trước Một Nhân Cách Lớn, Một Trái Tim Cống Hiến Đến Nhịp Đập Cuối Cùng!

Cả nhà cùng dành một phút để đọc và cảm nhận về câu chuyện phi thường này nhé

Nguồn ST tồng hợp

Screenshot

 

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

My Lan Pham

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

Khi Vicente Cañas lần đầu tiên tìm thấy họ, chỉ còn 97 người.

Một dân tộc hoàn chỉnh. Một quốc gia với ngôn ngữ riêng, những bài hát riêng và các vị thần riêng của mình. Chỉ còn lại 97 con người.

Họ gần như đã biến mất mãi mãi.

Rừng mưa Amazon, Brazil, năm 1974.

Vicente nhìn những con người ấy và quyết định dành phần đời còn lại để bảo đảm họ được sống sót.

Đây là câu chuyện về ông.

Vicente Cañas sinh năm 1939 tại Tây Ban Nha. Ông gia nhập Dòng Tên (Jesuit), không phải với tư cách linh mục mà là một tu huynh ,một người hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa qua sự phục vụ.

Năm 1966, ông được cử đến Brazil làm nhà truyền giáo.

Tại đó, ông chứng kiến một điều khiến trái tim mình tan vỡ.

Các dân tộc bản địa Amazon đang chết dần. Họ bị quét sạch bởi những căn bệnh do người ngoài mang đến. Họ bị đẩy khỏi đất đai bởi các chủ trang trại và những người khai thác gỗ. Cả những bộ tộc biến mất khỏi mặt đất.

Vicente nhìn thấy điều đó và từ chối đứng ngoài cuộc.

Sâu trong rừng có một dân tộc mang tên Enawenê-Nawê. Trong phần lớn lịch sử của họ, chưa từng có người ngoài nào tiếp xúc được với họ. Họ thuộc nhóm mà thế giới gọi là “bộ tộc chưa tiếp xúc”.

Đến khi thế giới bên ngoài tiến đủ gần để thống kê dân số của họ, chỉ còn 97 người sống sót.

Năm 1974, Vicente đã tiếp xúc hòa bình với họ.

Và rồi ông làm một điều mà rất ít người làm được.

Ông không nghiên cứu họ rồi rời đi.

Ông không ghé thăm rồi trở về nhà.

Ông chuyển đến sống cùng họ.

Vicente sống với người Enawenê-Nawê hơn mười năm.

Ông học ngôn ngữ của họ. Học phong tục của họ. Chấp nhận lối sống của họ. Từ bỏ đất nước, nền văn hóa, sự tiện nghi và thậm chí cả tên gọi của chính mình.

Đối với người Enawenê-Nawê, ông trở thành Kiwxi.

Một người trong số họ.

Một người anh em.

Dần dần, ông kéo họ trở lại từ bờ vực diệt vong.

Ông mang đến sự chăm sóc y tế cho một cộng đồng hoàn toàn không có khả năng chống lại những căn bệnh từ thế giới bên ngoài. Ông chiến đấu với những dịch bệnh đang giết chết họ.

Và cái chết bắt đầu dừng lại.

Dân số của họ từ 97 người bắt đầu tăng lên.

100 người.

200 người.

Rồi hơn 400 người.

Một dân tộc từng đứng bên bờ biến mất khỏi thế giới đang hồi sinh.

Tất cả bắt đầu từ một người đàn ông quyết định sống cùng họ.

Có một chi tiết về Vicente cho thấy ông là người như thế nào.

Ông hiểu rằng chính mình cũng có thể là mối nguy hiểm đối với họ.

Ông thường xuyên đi lại giữa thế giới bên ngoài và bộ tộc, trong khi thế giới bên ngoài đầy rẫy những căn bệnh mà cơ thể họ chưa từng học cách chống lại.

Vì vậy, ông dựng một túp lều nhỏ bên bờ sông, cách xa ngôi làng nhiều cây số.

Mỗi khi trở về từ bên ngoài, ông sẽ sống một mình trong túp lều đó.

Tự cách ly.

Cho đến khi chắc chắn mình không mang theo bất kỳ mầm bệnh nào có thể gây hại cho họ.

Ông chấp nhận cô độc vì tình yêu thương.

Ông thà sống một mình giữa rừng còn hơn vô tình mang cái chết đến cho những con người mà ông đã dốc lòng bảo vệ.

Nhưng Vicente còn hiểu một điều sâu sắc hơn.

Thuốc men có thể cứu họ khỏi bệnh tật.

Nhưng chỉ có đất đai mới cứu họ về lâu dài.

Người Enawenê-Nawê cần lãnh thổ của mình. Nếu mất đất, họ sẽ bị phân tán và hủy diệt, dù có khỏe mạnh đến đâu.

Đất đai chính là sự sống của họ.

Vì thế, Vicente đứng lên đấu tranh cho quyền sở hữu lãnh thổ của họ. Ông làm việc không mệt mỏi suốt nhiều năm để bảo vệ vùng đất ấy.

Và chính điều đó đã khiến ông bị sát hại.

Bởi vì có những người khác cũng muốn vùng đất đó.

Những chủ trang trại chăn nuôi.

Những người khai thác gỗ.

Những kẻ đốt phá Amazon để trồng đậu nành và mở rộng đồng cỏ.

Đối với họ, khu rừng là tiền bạc.

Còn bộ tộc cùng người truyền giáo đang bảo vệ họ là vật cản.

Chừng nào Kiwxi còn sống, họ sẽ không thể chiếm được vùng đất ấy.

Vì vậy, họ quyết định loại bỏ ông.

Vicente liên tục nhận được những lời đe dọa giết chết.

Ông vẫn tiếp tục công việc của mình.

Tháng 4 năm 1987, ông gửi một thông điệp vô tuyến cho các đồng nghiệp, báo rằng mình đang rời túp lều để đến làng Enawenê-Nawê.

Ông không bao giờ tới nơi.

Những kẻ sát nhân đã tìm đến túp lều bên sông và đâm ông đến chết.

Rồi bỏ mặc thi thể ông giữa khu rừng mà ông đã hiến dâng cả cuộc đời mình để bảo vệ.

Suốt 40 ngày, không ai biết chuyện gì đã xảy ra.

Khi các đồng nghiệp tìm kiếm, họ phát hiện chiếc thuyền của ông bên bờ sông, chất đầy đồ đạc như thể chuẩn bị cho một chuyến đi nhưng đã chìm một nửa xuống nước.

Trong khoảng sân trước túp lều, họ tìm thấy thi thể của Vicente.

Không bị thú rừng xâm hại.

Được bảo quản bởi không khí khô.

Gần như đã trở thành xác ướp.

Ông qua đời ở tuổi 47.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó.

Trong số những kẻ đứng sau vụ sát hại có cả cảnh sát trưởng địa phương.

Cuộc điều tra bị bóp méo bởi tham nhũng.

Trong nhiều năm, không ai phải chịu trách nhiệm.

Phải mất 38 năm, công lý mới được thực thi.

Kẻ chủ mưu cuối cùng cũng bị kết án khi hắn đã già yếu và bệnh tật.

Và còn một chi tiết cuối cùng khiến người ta nghẹn lòng.

Khi vụ án được đưa ra xét xử, chính người Enawenê-Nawê không thể ra tòa kể về Vicente.

Văn hóa của họ cấm nhắc đến tên người đã khuất.

Vì vậy, một dân tộc láng giềng đã đứng ra thay họ làm chứng.

Họ kể lại câu chuyện của người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất.

Vicente Cañas đã từ bỏ quê hương.

Từ bỏ ngôn ngữ.

Từ bỏ tên gọi.

Từ bỏ sự an toàn.

Và cuối cùng là từ bỏ cả mạng sống của mình.

Ông làm điều đó vì 97 con người xa lạ trong một khu rừng sâu, những người đang đứng bên bờ tuyệt chủng.

Những kẻ giết ông muốn dân tộc ấy biến mất.

Nhưng dân tộc ấy vẫn còn tồn tại.

#VicenteCanas #Kiwxi #Amazon #EnaweneNawe #LichSu #NhanVatLichSu #BaoVeRung #MyLanPham #VanHoaBanDia #CauChuyenCoThat 


 

Chủ nghĩa xã hội có gì ưu việt mà ông Tô Lâm quyết xây dựng? (BBC)

 (BBC)

2 tháng 6 2026

Khi Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Hà Nội xây dựng thí điểm một xã hay phường “xã hội chủ nghĩa”, đó không phải là một câu nói bâng quơ mà là một chỉ thị, và là chính sách.

Thủ đô Hà Nội quyết định chọn hai phường và Lào Cai, một tỉnh miền núi, cũng chọn hai đơn vị cấp cơ sở để thí điểm.

Hải Phòng không chọn một địa phương cụ thể, mà thực hiện với quy mô rộng hơn, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa.

“Phải từ phạm vi cấp xã làm điểm, để rồi mới nhân rộng, làm tiếp và thậm chí khi phát triển ở mức cao hơn thì có những tỉnh hoặc thành phố xã hội chủ nghĩa,” Ủy viên Bộ Chính trị Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nói trong phát biểu kết luận hội thảo “Xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” diễn ra vào ngày 21/5.

Kể từ Đổi mới 1986, tư duy kinh tế thị trường, vốn là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đã phát triển khá sâu và rộng ở Việt Nam, đưa đất nước từng gắn với chiến tranh trở thành một nền kinh tế năng động của khu vực.

Thế nhưng, xuyên suốt gần bốn thập niên đó là một “sợi chỉ đỏ”: định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn Đổi mới 2.0, Tổng Bí thư Tô Lâm dường như quyết tâm biến chủ nghĩa xã hội từ một hệ tư tưởng thành một chương trình hành động.

Vậy điều gì khiến một mô hình mà phần lớn thế giới xa lánh vẫn tiếp tục được theo đuổi?

Từ ‘tiến nhanh, tiến mạnh’ đến ‘quá độ’

Đường phố Hà Nội vào tháng 4/1986

Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trong cuộc đua để thực hiện điều mà các nhà lý luận của Đảng cho rằng “theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Quy luật này đã được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 – một văn kiện xác lập con đường đi của Việt Nam vào thời điểm hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ.

Các nhà lãnh đạo của Việt Nam vẫn cho rằng việc đi lên chủ nghĩa xã hội “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”, nhưng phải cần một thời kỳ quá độ.

Trong thời kỳ đó, Đảng cho phép kinh tế thị trường – vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản – nhưng để không chệch hướng nên cần có “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Trong một chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo, mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa dường như là lựa chọn tất yếu.

Sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam đã đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào tháng 7/1976.

Đảng Cộng sản tổ chức Đại hội lần thứ 4 vào tháng 12/1976, với khẩu hiệu: “Cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.

Để bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính quyền đã thực hiện một loạt các cuộc cải tạo công thương nghiệp, bắt đầu từ giới tư bản người Hoa rồi mở rộng ra các doanh nghiệp khác.

Hệ quả là nền kinh tế thị trường ở miền Nam đã hoàn toàn bị xóa bỏ và kinh tế kế hoạch, đặc trưng của xã hội chủ nghĩa, chiếm lĩnh.

Cho đến Đại hội 5 diễn ra vào năm 1982, khẩu hiệu vẫn thể hiện quyết tâm: “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Nhưng điều đó đã gây ra khủng hoảng.

Nhưng hàng loạt sai lầm trong quản lý kinh tế đã tạo nên các cuộc khủng hoảng. Sản xuất đình đốn vì thiếu nguyên liệu cũng như thiếu thị trường trong khi đó lạm lạm phát tăng phi mã.

Năm 1985 và 1986 là hai năm Việt Nam chứng kiến rơi vào vòng xoáy siêu lạm phát.

IMF tính toán lạm phát Việt Nam năm 1986 là 453%, trong khi Ngân hàng Thế giới đưa ra con số 398%.

Ở trong nước, các chuyên gia tính được lạm phát năm 1986 là 774%.

Điều đó đã đặt Đảng Cộng sản vào tình thế phải đánh giá lại chính sách.

Sau cái chết của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Đảng đã đề ra chính sách Đổi mới. Kinh tế thị trường đã được đề cập đến, dù vẫn phải có “định hướng xã hội chủ nghĩa” – cụm từ hài hòa để tránh làm mếch lòng các nhà bảo thủ.

Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội dường như đã gặp phải thách thức lớn nhất: hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990.

Sự kiện này đã đặt các nhà lãnh đạo Việt Nam trước những do dự về con đường phía trước.

Nhưng rồi, làn sóng đổi mới cấp tiến nhanh chóng bị chặn lại, và những người đưa ra chủ trương này đã bị truất phế, như Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách.

Kinh tế thị trường và nỗi lo ‘chệch hướng’

Đảng Cộng sản tổ chức Đại hội 7 vào tháng 6/1991 và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thay vì “tiến nhanh, tiến mạnh”.

Bản cương lĩnh đưa ra 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, gồm: do nhân dân làm chủ; nền kinh tế phát triển cao; văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; không có áp bức, bất công; làm theo năng lực, hưởng theo lao động; và có quan hệ hữu nghị và hợp tác với quốc tế…

Thời điểm này, các chủ trương về Đổi mới mới được bắt đầu thực thi và khái niệm kinh tế thị trường được áp dụng trong thực tế trong khi lệnh cấm vận từ Mỹ vẫn chưa được gỡ bỏ.

Cho dù thừa nhận kinh tế tư nhân, Đảng vẫn xác lập kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo.

Từ Đổi mới 1986 đến Cương lĩnh 1991 là một thời kỳ mà giới lý luận ở Việt Nam “tranh cãi liên miên”, giữa kinh tế thị trường và nỗi sợ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo Huy Đức, tác giả của bộ sách Bên thắng cuộc.

Đại hội 7 cũng đã bầu ông Đỗ Mười làm tổng bí thư.

Ông Đỗ Mười, từng là vị chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã thành công trong việc đẩy lùi nạn siêu lạm phát trong thập niên 1980, là người được miêu tả luôn lo ngại về nguy cơ “chệch hướng”.

Văn kiện của Đại hội 7 ban đầu có tên “Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000” đã được thêm “đuôi” để trở thành: “Xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Huy Đức dẫn lời Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết thời đó kể rằng, trước việc mở cửa làm ăn với các nước tư bản, tại một số hội nghị, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã lên tiếng cảnh báo: “Coi chừng mất định hướng, mất chủ nghĩa xã hội.”

Nhưng dân chúng đã chứng kiến những sự thay đổi trong đời sống khi nền kinh tế được cởi trói và mở cửa làm ăn với nước ngoài, đặc biệt sau khi Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1995.

Đầu tư nước ngoài gia tăng, số doanh nghiệp tư nhân thành lập trong nước cũng tăng theo.

Chủ nghĩa tư bản đã không còn bị hắt hủi, còn giới lý luận của Đảng bàn nhau chuyện “kế thừa cái gì và bỏ qua cái gì”.

Đã có rất nhiều thay đổi trong các thể chế kinh tế, tạo ra nhiều thay đổi trong xã hội.

Đến đại hội 11, Đảng Cộng sản đã bổ sung Cương lĩnh 1991 thêm hai đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, gồm “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và “có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.

Lãnh đạo Đảng thời điểm này là ông Nguyễn Phú Trọng, một nhà lý luận chính trị, và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục được khẳng định là “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

‘Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm’

Năm 2013, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được mời đến Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói chuyện trước đông đảo người nghe là lãnh đạo của các địa phương.

Một câu hỏi được cử tọa đưa ra: Thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?

Ông Vinh đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm.”

Nhưng sự thừa nhận của ông Vinh không khiến cho giới lãnh đạo Việt Nam bớt đi nhiệt huyết và khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

VGP/BBC

Nhà lý luận Nguyễn Phú Trọng bày tỏ khát khao hoàn thiện mô hình xã hội chủ nghĩa riêng của Việt Nam.

Cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã được ông Trọng nhắc lại vào năm 2021 là “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Ðảng ta”.

Theo ông, kinh tế thị trường là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

“Đột phá sáng tạo” này dường như là cách Đảng muốn tạo ra sự khác biệt so với mô hình kiểu Trung Quốc.

Trung Quốc, kể từ sau khi lãnh tụ Mao Trạch Đông qua đời, từ cuối thập niên 1970, đầu 1980 đã chuyển đổi mô hình từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường – được gọi là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.

Trung Quốc đã chứng kiến sự phát triển thần kỳ và đang nổi lên thành một cường quốc đối trọng với Mỹ.

Trong ba quốc gia cộng sản còn lại, Cuba gặp khó khăn từ sức ép của chính quyền Mỹ, trong khi Triều Tiên mang dáng dấp của một quốc gia phong kiến cha truyền con nối, còn Lào thì bị coi là chịu ảnh hưởng nặng nề từ Trung Quốc và Việt Nam.

Ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản?

Việt Nam hiện vẫn là quốc gia có mức thu nhập trung bình cao và đang có hoài vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Đó là năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Đó cũng là năm được xác định là “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và kết thúc thời kỳ quá độ.

Phần lớn những khát vọng xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, hay nhà nước pháp quyền, cũng là những giá trị phổ quát mà các quốc gia tư bản chủ nghĩa từ châu Âu, châu Mỹ đến châu Á đã thực sự xây dựng được và làm tốt hơn Việt Nam.

Vậy điều gì khiến cho mô hình xã hội chủ nghĩa trở nên “ưu việt” hơn, mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn theo đuổi?

Xung đột ý thức hệ tư bản – cộng sản dường như không được đề cập đến nhiều, nhưng các nhà lý luận Việt Nam vẫn đề cập đến các “vấn đề của chủ nghĩa tư bản hiện đại”: phát triển nhưng không bền vững, “tự do, bình đẳng” nhưng không thực chất, chỉ là hình thức, và mâu thuẫn giữa lao động và tư bản ngày càng sâu sắc.

Ở chiều ngược lại, theo các nhà lý luận của Đảng, chủ nghĩa xã hội có những giá trị tốt đẹp cho con người, phát triển bền vững cả kinh tế, xã hội và môi trường, không chỉ hiện tại mà còn cả tương lai.

Ở trong chế độ đó, xã hội nhân ái, đoàn kết, hướng đến các giá trị tiến bộ, nhân văn, còn về chính trị thì quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, theo bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của ông Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 5/2021.

“Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi,” ông Trọng đặt vấn đề.

Các nhà lý luận của Đảng Cộng sản dường như đang muốn giải quyết những mâu thuẫn của chủ nghĩa xã hội và thị trường, một mặt nhấn mạnh đến tăng trưởng kinh tế (dân giàu, nước mạnh), mặt khác chú trọng đến “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Ông Nguyễn Phú Trọng là nhà lý luận trong khi ông Tô Lâm thiên về hành động

Nhưng ông Trọng vẫn chỉ dừng lại ở phần lý luận. Chưa có một kế hoạch hành động hay một mô hình nào được đưa ra thí điểm, cho đến thời điểm ông mất vào tháng 7/2024.

Kể từ khi ông Tô Lâm trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng vào tháng 8/2024, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình” đã ra đời và được nhắc đến thường xuyên, trở thành một chủ đề trong Đại hội 14.

Mục tiêu phú cường dường như đã trở thành một ưu tiên quan trọng nhất trong chương trình nghị sự của ông Tô Lâm, thể hiện qua việc yêu cầu phát triển kinh tế với tốc độ hàng năm từ 10% trở lên.

Và, được đánh giá là con người thiên về hành động, ông cũng đã gợi ý Hà Nội lên kế hoạch xây dựng thí điểm xã, phường xã hội chủ nghĩa.

Phát kiến của Việt Nam

Ông Tô Lâm, trong buổi nói chuyện về việc triển khai nghị quyết phát triển kinh tế nhà nước vào tháng 2/2026, đã một vài lần nhắc đến cuộc tranh luận trước đây của ông với “các giáo sư ở Đại học Harvard” về “làm gì có thị trường tự do” để nhấn mạnh ý phải có sự can thiệp của nhà nước.

Ông kể mình đã “nói với các giáo sư” rằng mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là “phát kiến” của Việt Nam.

“Nhưng mà chúng tôi còn bận quá nhiều việc và thực tiễn, thành ra chưa nghiên cứu trở thành một luận thuyết về kinh tế của thế giới,” ông Tô Lâm nói, cho biết thêm rằng “các giáo sư của Harvard cũng rất đồng tình, sẵn sàng để thảo luận về những vấn đề này”.

Sự can thiệp của nhà nước vào thị trường chính là đặc trưng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Điều đó có nghĩa là Việt Nam từ bỏ mô hình cổ điển kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nhưng cũng không để thị trường tự do điều tiết hoàn toàn mà nhấn mạnh đến sự can thiệp của nhà nước.

Chính quyền Việt Nam trong thời gian qua đã đề cập đến khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state), vốn là mô hình đã tạo ra những thành công cho các nền minh tế Đông Á như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan…

Suốt thời gian điều hành chính phủ từ năm 2016-2021, “chính phủ kiến tạo” là cụm từ được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ưa dùng, cứ nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

Đến khi ông Phạm Minh Chính làm thủ tướng, cụm từ này đã hầu như bị quên lãng, thay vào đó là các chỉ thị, mệnh lệnh có vần có điệu, từ “vượt nắng, thắng mưa” đến “ba ca, bốn kíp”…

Nhưng “nhà nước kiến tạo” đã xuất hiện trở lại, đặc biệt là khi ông Tô Lâm đưa ra nghị bộ tứ nghị quyết, là các chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế.

Trong nhiệm kỳ 2026-2031, Đảng Cộng sản sẽ tổng kết 40 năm Đổi mới và 40 năm thực hiện Cương lĩnh 1991.

“Kỷ nguyên vươn mình” của ông Tô Lâm, với hàng loạt cải cách bộ máy nhà nước và chính quyền địa phương, được các định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới gọi là cuộc Đổi mới 2.0.

Việc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội từ cấp phường, xã dường như là bước khởi đầu để đến năm 2045 – như tuyên bố của ông Tô Lâm – kết thúc giai đoạn quá độ, để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Theo lý luận của Karl Marx, chủ nghĩa xã hội chỉ là hình thái giai đoạn thấp và sẽ tiến lên hình thái cao hơn là chủ nghĩa cộng sản.


 

Con Người Cần Bao Nhiêu Đất

Phu Da News 

Con Người Cần Bao Nhiêu Đất

Con người từ ngàn đời vẫn luôn bị cám dỗ bởi khát vọng sở hữu nhiều hơn: nhiều đất đai hơn, nhiều tiền bạc hơn, nhiều của cải hơn, nhiều quyền lực hơn. Nhưng trong cuộc mải miết chạy theo những giá trị chóng qua của thế gian, người ta thường quên mất điều quan trọng nhất: linh hồn mình và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa.

Một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng, được gợi hứng từ tác phẩm của Lev Tolstoy, kể về một người nông dân tên là Pakhôm. Ông nghe tin rằng tại một vùng đất xa xôi có một địa chủ đưa ra một đề nghị hết sức đặc biệt: chỉ với một nghìn rúp, bất cứ ai cũng có thể sở hữu tất cả phần đất mà mình đi vòng quanh được trong một ngày, với điều kiện phải trở về đúng điểm xuất phát trước khi mặt trời lặn.

Pakhôm vô cùng phấn khởi. Ông nghĩ rằng đây chính là cơ hội lớn nhất trong đời mình. Sau khi nộp đủ số tiền, từ lúc bình minh vừa ló rạng, ông bắt đầu lên đường.

Ban đầu, ông bước đi thong thả. Nhưng khi nhìn thấy những cánh đồng rộng lớn trải dài trước mắt, lòng tham dần len lỏi vào tâm hồn ông:

“Đi thêm một chút nữa thôi! Mảnh đất này cũng có thể là của mình. Vẫn còn nhiều thời gian mà.”

Thế là ông tiếp tục đi.

Rồi lại đi thêm một đoạn nữa.

Và thêm một đoạn nữa.

Mỗi lần như thế, ông đều tự nhủ rằng mình vẫn còn đủ thời gian để quay về.

Cho đến khi ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, ông chợt nhận ra mặt trời đã ngả dần về phía chân trời. Nỗi sợ hãi lập tức tràn ngập tâm trí. Ông quay đầu và dốc hết sức lực để chạy trở lại.

Ông chạy không ngừng.

Tim đập dồn dập.

Hơi thở ngày càng nặng nhọc.

Cả thân xác rã rời vì kiệt sức.

Cuối cùng, chỉ vài khoảnh khắc trước khi mặt trời lặn, ông đã về đến điểm xuất phát và đưa tay chạm vào nơi đã được quy định.

Ông đã thành công.

Nhưng cũng chính trong giây phút ấy, trái tim ông ngừng đập. Ông ngã xuống và chết ngay tại chỗ.

Nhìn thi thể bất động của ông, người địa chủ nói với những người hầu:

“Hãy đào cho ông ấy một cái huyệt dài hai mét, rộng một mét. Thật ra, đó là tất cả phần đất mà một con người cần.”

Câu chuyện ấy là tấm gương phản chiếu cho mỗi chúng ta.

Đất đai không xấu. Của cải vật chất cũng không phải là điều tội lỗi. Vấn đề chỉ xuất hiện khi chúng trở nên quan trọng hơn Thiên Chúa, hơn gia đình, hơn tình yêu thương và phần rỗi linh hồn.

Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta trong Tin Mừng:

“Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì?” (Mc 8,36)

Biết bao người đã dành cả cuộc đời để theo đuổi của cải vật chất mà quên mất cách sống thật sự. Họ quên trân trọng những người thân yêu. Quên tạ ơn Thiên Chúa. Quên rằng thời gian của mình trên trần gian này là hữu hạn.

Đến cuối cuộc đời, không ai có thể mang theo nhà cửa, ruộng đất, tiền bạc hay những tài sản đã tích góp. Điều còn lại trước mặt Thiên Chúa chính là đức tin, những việc lành phúc đức và tình yêu thương mà ta đã trao ban cho tha nhân.

Sự giàu có đích thực không được đo bằng số đất đai ta sở hữu, nhưng bằng sự bình an trong tâm hồn. Không nằm ở những gì ta tích trữ cho riêng mình, nhưng ở những gì ta biết quảng đại trao tặng cho người khác.

Vì thế, đừng dành cả cuộc đời để chạy theo những điều sẽ ở lại thế gian này. Hãy chăm lo cho linh hồn mình, bởi đó là kho tàng duy nhất sẽ đồng hành với chúng ta bước vào cõi vĩnh hằng.

Sau cùng, con người chỉ cần một khoảng đất rất nhỏ cho thân xác khi nhắm mắt xuôi tay, nhưng lại cần vô cùng nhiều Thiên Chúa để linh hồn được sống đời đời.

Lạy Chúa, xin gìn giữ tâm hồn chúng con khỏi lòng tham và sự quyến luyến quá mức đối với của cải đời này. Xin dạy chúng con biết tìm kiếm Nước Chúa trước hết, biết sử dụng những gì Chúa ban để yêu thương và phục vụ tha nhân, hầu khi kết thúc hành trình trần thế, chúng con được trở về trong vòng tay yêu thương của Chúa muôn đời. Amen.


 

Tesla không chết trong lãng quên-Tg văn chương 

 Trầm Mặc Huơng Lai

 Ngày 7 tháng 1 năm 1943, Nikola Tesla qua đời một mình trong căn phòng số 3327 của khách sạn New Yorker. Ông 86 tuổi. Hai ngày sau, một nhân viên mới phát hiện thi thể ông, sau cánh cửa vẫn treo tấm bảng nhỏ: “Xin đừng làm phiền.”

Nguyên nhân chính thức là một cơn huyết khối động mạch vành. Nhưng nếu phải nói thật, cái giết chết ông không là do bệnh tim. Đó là nhiều năm sống trong cô độc. Là những tháng ngày nghèo khổ. Là cảm giác bị thế giới bỏ lại phía sau — chính thế giới mà ông đã giúp thắp sáng.

Chính Nikola Tesla là người biến dòng điện xoay chiều thành hệ thống cung cấp năng lượng cho toàn bộ nhân loại. Dòng điện đó vẫn đang chạy trong từng bức tường, từng bóng đèn, từng căn bếp của chúng ta hôm nay. Ông là người tiên phong trong công nghệ vô tuyến, động cơ điện, truyền năng lượng không dây. Ông nắm giữ hàng trăm bằng sáng chế. Và ông đã hình dung ra Internet, năng lượng tái tạo, và truyền thông toàn cầu… từ rất lâu trước khi thế giới sẵn sàng hiểu được những điều đó.

Nhưng thiên tài không phải lúc nào cũng đi cùng với sự giàu có.

Ở những năm cuối đời, cuộc sống của Tesla vô cùng giản dị. Ông ăn chủ yếu bánh mì, mật ong, sữa và nước ép rau. Mỗi ngày, ông đi bộ ra công viên để cho chim bồ câu ăn. Trong số đó, có một con bồ câu trắng mà ông yêu quý đặc biệt. Ông từng nói rằng ông yêu nó như một người đàn ông yêu một người phụ nữ.

Và khi con chim ấy chết, một phần nào đó trong ông cũng chết theo.

Ít ai biết rằng đã có một thời, Tesla là ngôi sao của New York. Ông khiến bóng đèn sáng lên chỉ bằng cách chạm tay. Ông tạo ra những tia sét nhân tạo trong phòng thí nghiệm. Ông biến khoa học thành thứ gì đó vừa đáng kính, vừa giống phép thuật.

Giới đầu tư từng tin ông. Đám đông từng ngưỡng mộ ông.

Nhưng rồi, khi ông bắt đầu nói về việc cung cấp điện miễn phí cho toàn thế giới — không dây, không giới hạn — những người tài trợ bắt đầu rút lui. Không phải vì ông sai. Mà vì giấc mơ của ông quá lớn. Và thế giới, như thường lệ, luôn nghi ngờ những người đi trước thời đại của mình.

Ông dần bị xem là một kẻ lập dị.

Ông chết trong một căn phòng khách sạn, không tiền, không gia đình bên cạnh. Trong khi bên ngoài, hàng triệu bóng đèn vẫn sáng — nhờ chính ông.

Nhưng cái chết không thể làm ông biến mất.

Đám tang của ông có hàng ngàn người tham dự. Các nhà khoa học, kỹ sư, và những người hiểu được giá trị thật của ông đã đến để nói lời tạm biệt. Nhiều năm sau, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ chính thức công nhận Tesla là người đặt nền móng cho công nghệ radio.

Lịch sử, cuối cùng, đã sửa lại sai lầm của mình.

Ngày nay, tên ông không chỉ tồn tại trong sách khoa học. Nó còn tồn tại trong công nghệ, trong tương lai, và thậm chí trong tên của những công ty đang thay đổi thế giới hiện đại.

Tesla không chết trong lãng quên.

Ông chết sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của mình.

Có những người sống lâu nhưng không để lại dấu vết.

Và có những người ra đi trong cô độc… nhưng ánh sáng của họ thì ở lại mãi mãi.

Nikola Tesla là một trong những người như thế.

Ông ra đi trong thinh lặng.

Nhưng thế giới ông thắp sáng… vẫn chưa bao giờ tắt.

#NikolaTesla #ThiênTài #LịchSử #KhoaHọc #DiSản #ÁnhSáng #TruyềnCảmHứng #fbLifestyle

Tg văn chương 


 

QUYỀN KHÔNG CÒN ĐÚNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đừng chống cự người ác!”.

Sau 27 năm tù, khi trở thành Tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela có đủ quyền lực để trả thù những người từng giam cầm mình. Nhưng ông đã chọn một con đường khác: mời chính viên cai ngục của ông đến dự lễ nhậm chức. Cả thế giới sững sờ.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta thường đồng hoá quyền lực với chân lý; nói cách khác, với điều đúng. Lời Chúa hôm nay đặt ra một nghịch lý: có những lúc quyền vẫn còn đó, nhưng điều đúng lại nằm ở việc không sử dụng nó. Đó là lúc ‘quyền không còn đúng’.

Khi nói “Đừng chống cự người ác!”, Chúa Giêsu không cổ võ sự hèn nhát, cũng không chấp nhận sự bất công. Động từ Hy Lạp ở đây, mē antistēnai, hàm ý: đừng đáp trả sự dữ bằng chính logic của sự dữ. Người môn đệ vẫn đứng về phía điều đúng, nhưng không để điều ác quyết định cách mình hành động. Bởi lẽ, đáp trả điều ác bằng cùng một thứ vũ khí chỉ làm điều ác nhân đôi. Nói cách khác, người môn đệ không để mình xuống cùng một cấp độ với kẻ tấn công mình.

Điều khó nhất không phải là chiến thắng một cuộc xung đột, nhưng là giữ cho tâm hồn mình không bị biến dạng bởi nó. Đó là một chiến thắng khó hơn nhiều so với việc đánh bại đối phương. “Lấy hận thù đáp trả hận thù chỉ làm hận thù gia tăng, thêm bóng tối vào một đêm vốn đã không còn sao!” – Martin Luther King Jr..

Vậy điều gì xảy ra khi con người đồng hoá quyền lực với điều đúng? Akháp muốn vườn nho của Navốt; hoàng hậu dùng quyền lực để đạt điều ấy – bài đọc một. Một người vô tội bị giết, và điều sai được khoác lên dáng vẻ của công lý. Điều đáng sợ không phải là có quyền, nhưng là tin rằng mình đúng chỉ vì mình có quyền. Thế nhưng, không phải mọi điều tôi có quyền làm đều là điều tôi nên làm. Đó là lúc ‘quyền không còn đúng’.

Vậy mà câu chuyện vườn nho không hề là một câu chuyện xa xưa. Nó vẫn xuất hiện trong những phản ứng rất thường ngày của chúng ta. Khi bị tổn thương, chúng ta nghĩ mình có quyền trả miếng; khi bị hiểu lầm, chúng ta nghĩ mình có quyền làm tổn thương lại; khi nắm phần đúng, chúng ta nghĩ mình có quyền chiến thắng bằng mọi giá. Không! Chính ở đó, Tin Mừng đặt ra một câu hỏi khó hơn nhiều: điều tôi sắp làm có chữa lành vết thương này, hay chỉ làm nó sâu thêm? “Điều đúng không trở nên đúng hơn vì nhiều người tin; điều sai không trở nên đúng hơn vì nhiều người làm!” – G. K. Chesterton.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu đã sống điều Ngài dạy. Khi bị vả mặt trong dinh thượng tế, Ngài hỏi: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, tại sao anh lại đánh tôi?”. Ngài không trả đũa, cũng không thoả hiệp với điều sai. Ngài vẫn đứng về phía chân lý mà không dùng phương thế của sự dữ. Trên thập giá, điều thế gian gọi là thua lại trở thành chiến thắng của tình yêu. Có những lúc, chiến thắng thật sự bắt đầu khi chúng ta từ bỏ quyền trả đũa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết chọn điều đúng theo cách của Chúa; giữ tâm hồn con khỏi bị biến dạng bởi điều ác; và xin hiểu thấu điều con thầm thĩ nguyện xin!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,18-27

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !”


 

QUÍ ‘ BÔ LÃO’ TỪ 80 NÊN BIẾT

QUÍ ‘ BÔ LÃO’ TỪ 80 NÊN BIẾT

Vì sao nhiều người qua đời không lâu sau khi bước qua tuổi 80?

Bạn có bao giờ tự hỏi vì sao rất nhiều người dường như qua đời không lâu sau khi tròn 80 tuổi?

Đây là một câu hỏi khiến nhiều người băn khoăn — và có lý do chính đáng.

Sự thật là, vượt qua ngưỡng tuổi 80 không chỉ đơn giản là “già đi”.

Nó còn liên quan đến cách ta chăm sóc bản thân, cách cơ thể phản ứng với tuổi tác, và những thói quen hàng ngày — thứ có thể bảo vệ ta hoặc ngược lại, khiến cơ thể yếu đi.

Trong khi có người vẫn sống khỏe mạnh tới tận 90 tuổi, thì những người khác lại cảm thấy sức khỏe sa sút nhanh hơn họ tưởng.

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu 6 nguyên nhân quan trọng khiến nhiều người cao tuổi có tuổi thọ ngắn hơn sau 80.

Những điều này không phải là suy đoán ngẫu nhiên, mà là những mẫu hình và thực tế lặp đi lặp lại trong đời sống của người già trên khắp thế giới.

Mỗi nguyên nhân sẽ giúp bạn hiểu điều gì đang rút ngắn tuổi thọ — và quan trọng hơn, làm sao để ngăn chặn nó.

Hãy ở lại đến cuối, vì nguyên nhân cuối cùng có thể là điều bạn chưa từng nghĩ đến, nhưng lại tạo nên khác biệt rất lớn trong cách bạn đối mặt với tuổi già.

  1. Suy giảm cơ bắp và khả năng vận động

Một trong những yếu tố quan trọng nhất rút ngắn tuổi thọ sau 80 là sự suy giảm sức mạnh cơ bắp và khả năng di chuyển.

Khi thời gian trôi qua, quá trình mất cơ tự nhiên — gọi là sarcopenia — trở nên rõ rệt hơn.

Ngay cả khi bạn từng năng động khi còn trẻ, khả năng duy trì khối cơ sẽ giảm đi trừ khi bạn chủ động tập luyện để giữ lại.

Khi cơ yếu đi, thăng bằng và phối hợp vận động cũng giảm, khiến nguy cơ té ngã tăng cao.

Với người trên 80 tuổi, một cú ngã nghiêm trọng có thể làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống — dẫn đến nằm viện lâu ngày, mất khả năng tự lập, và sự suy giảm sức khỏe khó đảo ngược.

Khi khả năng vận động giảm, mức độ hoạt động chung cũng giảm theo.

Điều này tạo thành vòng luẩn quẩn: ít vận động → cơ yếu hơn → càng khó di chuyển → lại càng ít hoạt động.

Những việc đơn giản như leo cầu thang, đứng lên khỏi ghế hay mang đồ cũng trở nên nặng nề.

Và khi các hoạt động thường ngày trở nên mệt mỏi, nhiều người bắt đầu né tránh — từ đó đẩy nhanh quá trình mất cơ.

Theo thời gian, ít vận động còn ảnh hưởng đến tim và phổi, làm giảm sức bền và khả năng chống chịu bệnh tật.

Sự mất sức này không chỉ là vấn đề thể chất mà còn ảnh hưởng đến tâm lý — khiến người già dễ nản, tự ti, hoặc thu mình khỏi các hoạt động xã hội.

Cô đơn và căng thẳng kéo dài lại làm yếu thêm hệ miễn dịch, khiến cơ thể dễ mắc bệnh hơn.

Một ví dụ thực tế: ông Harold, 84 tuổi, từng rất thích làm vườn.

Nhưng một mùa đông lạnh, ông ngừng đi dạo hằng ngày.

Chỉ sau vài tháng, ông nhận ra mình nhanh mệt hơn, đôi chân yếu đi, và khi mùa xuân tới, việc cúi xuống trồng hoa cũng trở nên khó khăn.

Sự thay đổi diễn ra nhanh hơn ông tưởng.

Tin tốt là: ngay cả ở tuổi 80 trở lên, vẫn có thể làm chậm quá trình này.

Tập thể dục nhẹ như đi bộ, tập kháng nhẹ, hoặc các bài tập trên ghế đều giúp duy trì sức mạnh và sự dẻo dai — điều quan trọng là sự đều đặn.

Giữ cơ thể vận động hằng ngày chính là cách bảo vệ khả năng tự lập và chất lượng cuộc sống.

  1. Dinh dưỡng kém và ăn uống không đủ năng lượng

Một nguyên nhân lớn khác khiến nhiều người không sống lâu sau 80 là chế độ dinh dưỡng nghèo nàn hoặc ăn quá ít.

Ở tuổi này, cảm giác thèm ăn tự nhiên thường giảm — do ít vận động, thay đổi vị giác, hoặc tác dụng phụ của thuốc.

Kết quả là cơ thể không nhận đủ năng lượng và dưỡng chất để duy trì sức khỏe.

Theo thời gian, việc ăn uống kém khiến hệ miễn dịch yếu, cơ teo, và phục hồi sau bệnh chậm.

Nhiều người lớn tuổi gặp khó khi nhai hoặc nuốt, nhất là khi răng yếu, nên tránh ăn rau, thịt nạc hay các loại hạt — những thực phẩm vốn rất giàu dinh dưỡng.

Thay vào đó, họ chọn đồ chế biến sẵn, dễ nhai nhưng lại thiếu protein, vitamin và khoáng chất.

Đặc biệt, thiếu protein khiến cơ thể nhanh yếu, mất sức và dễ ngã.

Một số người thậm chí bỏ bữa vì cảm thấy nấu nướng quá mệt, nhất là khi sống một mình.

Ăn uống lành mạnh sau 80 không phải là ăn nhiều, mà là ăn đúng — chọn rau quả tươi nhiều màu, thịt nạc, ngũ cốc nguyên hạt và chất béo lành mạnh.

  1. Bệnh mạn tính không được kiểm soát

Khi bước sang tuổi 80, phần lớn mọi người đều sống chung với ít nhất một bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường, viêm khớp hoặc bệnh phổi.

Vấn đề là những bệnh này cần theo dõi sát sao để không trở nặng.

Đáng tiếc, nhiều người hoặc xem nhẹ việc chăm sóc hằng ngày, hoặc gặp khó khăn trong việc duy trì thói quen điều trị.

Việc bỏ khám định kỳ, quên thuốc, hoặc xem nhẹ triệu chứng sớm khiến bệnh tiến triển mà không được phát hiện.

Những dấu hiệu như mệt mỏi, khó thở hay phù chân có thể bị cho là “già yếu thôi”, trong khi thật ra là dấu hiệu của biến chứng tim hoặc thận.

Dù bệnh mạn tính không thể chữa dứt điểm, nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát bằng việc tuân thủ điều trị, tái khám đều, và trao đổi cởi mở với bác sĩ.

  1. Cô đơn và thiếu gắn kết xã hội

Sau 80 tuổi, thiếu kết nối xã hội là yếu tố cực kỳ quan trọng nhưng hay bị bỏ qua.

Bạn bè, người thân có thể qua đời hoặc sống xa, còn cơ hội giao tiếp thường ngày cũng ít dần.

Khi cô đơn kéo dài, cả tinh thần lẫn thể chất đều suy yếu.

Cô đơn không chỉ là cảm giác — nó có tác động sinh học rõ ràng: làm tăng huyết áp, gây viêm mạn tính và suy giảm miễn dịch.

Về tâm lý, nó dễ dẫn đến trầm cảm, khiến người già mất động lực ăn uống, vận động, hay tuân thủ thuốc men.

Giữ mối quan hệ xã hội sau 80 cần chủ động — tham gia câu lạc bộ, tình nguyện, đi lễ, hoặc đơn giản là thường xuyên gặp gỡ con cháu, bạn bè.

Kết nối xã hội không phải là xa xỉ — nó là nhu cầu sinh tồn.

  1. Sức đề kháng yếu và dễ nhiễm bệnh

Sau 80 tuổi, hệ miễn dịch suy yếu tự nhiên (gọi là immunosenescence).

Những bệnh tưởng như nhẹ — cảm cúm, viêm phổi, nhiễm trùng tiểu — có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều.

Cơ thể sản xuất ít tế bào miễn dịch hơn, vết thương lâu lành, và khi mắc bệnh, khả năng hồi phục cũng chậm hơn.

Những người mắc bệnh mạn tính (như tiểu đường, tim mạch) càng dễ bị nhiễm trùng nặng.

Phòng bệnh là then chốt — tiêm chủng đầy đủ (cúm, viêm phổi, COVID, zona), giữ vệ sinh, chăm sóc răng miệng, ăn uống lành mạnh và đi khám sớm khi có dấu hiệu bất thường.

  1. Lối sống ít vận động

Một thói quen gây hại nhất sau 80 là ngồi quá nhiều và ít di chuyển.

Hoạt động thể chất giúp tim khỏe, giữ cơ bắp, bảo vệ xương và cải thiện thăng bằng.

Nhiều người lớn tuổi giảm vận động vì đau khớp, mệt mỏi hay sợ té ngã.

Nhưng càng ít hoạt động, cơ càng yếu, trí nhớ càng kém, và cơ thể càng nhanh suy kiệt.

Ngay cả những hoạt động nhẹ như duỗi người, đi bộ ngắn, làm vườn hoặc tập trên ghế cũng mang lại lợi ích lớn.

Điều quan trọng không phải là cường độ — mà là duy trì sự vận động đều đặn.

Kết luận

Chúng ta vừa cùng điểm qua 6 nguyên nhân phổ biến khiến tuổi thọ sau 80 bị rút ngắn:

Suy giảm cơ và vận động

Dinh dưỡng kém

Bệnh mạn tính không kiểm soát

Cô đơn

Hệ miễn dịch yếu

Lối sống tĩnh tại

Mỗi yếu tố trên đều có thể được cải thiện.

Những thay đổi nhỏ — như đi bộ mỗi ngày, ăn uống cân bằng, duy trì giao tiếp xã hội và tuân thủ điều trị — có thể tạo ra khác biệt lớn.

Cuộc sống sau 80 vẫn có thể tràn đầy ý nghĩa, niềm vui và sức sống — nếu ta chủ động bảo vệ sức khỏe và giữ kết nối với thế giới quanh mình.

Người dịch : HCD: Bên trên là transcript (dịch từ Anh ngữ) lời của xướng ngôn viên, tôi check lại thì thấy đúng gần hết (dưới) nên gởi các bạn tham khảo may ra có ich phần nào

From: NguuyenNThu


 

Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Nguoi-Viet

 Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Mấy ngày qua, cõi mạng trong nước lẫn hải ngoại râm ran, xầm xì vụ ông giám đốc một đại lý xe ôtô VinFast lớn ở Hải Phòng thả mình xuống sông Cấm từ cầu Bến Bính. Chuyện một người đang ở đỉnh cao danh vọng, tiền tài, nắm trong tay cơ sở kinh doanh hoành tráng mà bỗng chốc chọn cách buông xuôi, ném mình vào dòng nước lạnh, hỏi sao thiên hạ không giật mình cho được.

Báo chí trong nước khi đưa tin về vụ việc xảy ra hôm 8 Tháng Sáu, ban đầu còn ngập ngừng, né né chữ “VinFast”, chỉ dám gọi chung chung là “giám đốc đại lý xe ôtô”. Nhưng rồi người ta cũng tìm ra danh tính, tìm ra những dòng trạng thái đầy u uẩn, bế tắc của người đàn ông xấu số trước giờ phút định mệnh.

Nhìn từ góc độ thế sự, cái chết của vị giám đốc này không đơn thuần là câu chuyện quẫn trí cá nhân. Nó là một lát cắt, một tiếng chuông cảnh tỉnh đầy chát chúa về cái gọi là “áp lực cộng sinh” trong hệ sinh thái kinh doanh hiện đại tại Việt Nam.

Nhiều doanh nghiệp khi bắt tay với các tập đoàn lớn, cứ ngỡ mình đang vịn vào một chiếc phao cứu sinh khổng lồ để ra khơi lớn. Nhưng họ quên mất rằng, khi chiếc phao đó lao đi với tốc độ chóng mặt để đạt những tham vọng toàn cầu, những mắt xích nhỏ hơn ở bên dưới phải gồng mình chịu một lực kéo khủng khiếp. Khi dòng vốn ngưng trệ, sức mua xã hội sụt giảm, mà các điều khoản hợp đồng và chỉ tiêu doanh số vẫn lạnh lùng ép xuống, chiếc phao cứu sinh ấy lập tức biến thành hòn đá tảng, kéo ghì người ta xuống đáy sâu bế tắc.

Cái chết ở bến Bính để lại nỗi đau thắt lòng cho gia đình, và một khoảng lặng đáng sợ cho những ai đang lao vào vòng xoáy kinh doanh bất chấp sức chịu đựng của bản thân. Suy cho cùng, danh vọng, tiền tài hay cái danh hiệu “đại lý xuất sắc” cũng chẳng thể linh thiêng bằng mạng sống của một con người. Giấc mơ bay cao, bay xa của thương hiệu thì đẹp thật đó, nhưng nếu cái giá phải trả là sự kiệt quệ và những bi kịch nhảy cầu thế này, thì liệu có đáng hay không?

Sau cái chết thương tâm của vị giám đốc đại lý, theo quý vị, liệu các tập đoàn lớn có nên xem xét lại chính sách ép doanh số để chia sẻ bớt gánh nặng và áp lực sinh tử với các đối tác nhỏ hơn trong giai đoạn kinh tế khó khăn này?

Bấm vào link ở comment đầu tiên để đọc toàn văn bản tin chi tiết về vụ việc trên báo Người Việt. 


 

BẮT ĐẦU TỪ CHỖ HỎNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel!”.

Francis Thompson ví Thiên Chúa như một người thợ săn không bỏ cuộc. Trong bài thơ “The Hound of Heaven”, ông tưởng mình đang chạy trốn Thiên Chúa, nhưng thật ra Thiên Chúa mới là Đấng đang đuổi theo ông, một con người đang lạc lối.

Kính thưa Anh Chị em,

Kinh nghiệm ấy giúp chúng ta hiểu câu Tin Mừng dễ gây bối rối hôm nay: “Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel”. Thật lạ lùng, Israel được ưu tiên không vì họ tốt hơn các dân khác; nhưng vì họ đang lạc. Thì ra, Thiên Chúa thường ‘bắt đầu từ chỗ hỏng’.

Chúa Giêsu không nói “chỉ đến”, nhưng nói “tốt hơn là hãy đến”. Đó là một thứ tự, không phải là một sự loại trừ. Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa luôn khởi đi từ nơi cần được cứu nhất. Israel có ưu thế không vì công trạng, nhưng vì tình trạng. Thiên Chúa thường bắt đầu từ nơi vết thương đang rỉ máu. Khi gọi Israel là “sở hữu riêng”, “vương quốc tư tế” và “dân thánh” – bài đọc một, Ngài không nói với một dân tộc hùng mạnh, nhưng với một đoàn người thốc thếch từ sa mạc – chưa có đất hứa, chưa có đền thờ, chưa có một tương lai rõ ràng. Vậy mà chính từ một lịch sử hỏng hóc và thô ráp như thế, Thiên Chúa lại khởi sự gầy dựng dân riêng của Ngài.

Phaolô còn đi xa hơn – Đức Kitô không chết cho người công chính, nhưng cho “hạng vô đạo”, những “người tội lỗi” chống lại Thiên Chúa – bài đọc hai. Đó là một trong những nghịch lý lớn nhất của Kitô giáo: tình yêu Thiên Chúa không xuất hiện ở cuối hành trình hoán cải như một phần thưởng, nhưng ở đầu hành trình như một ân ban. Vì thế, đừng che giấu rạn nứt của mình, vì đó là cánh cửa để Thiên Chúa bước vào và chữa lành. “Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta tốt lành; chúng ta trở nên tốt lành vì Ngài yêu chúng ta!” – C. S. Lewis.

Với Chúa Giêsu, Ngài không sai các môn đệ đi tìm những người đạo đức nhất. Sứ mạng Ngài trao đều hướng về những gì đang đổ vỡ: bệnh tật, ô uế, chết chóc và quyền lực của sự dữ. Nói cách khác, các môn đệ được sai đến không phải với phần mạnh nhất của thế giới, nhưng với phần đau nhất của nó. Họ được sai đi để tiếp nối chính cách hành động của Thiên Chúa: tìm đến phần bị tổn thương nhất của thế giới.

Anh Chị em,

Như vậy, Thiên Chúa không đứng ngoài những đổ vỡ của con người để chỉ đường từ xa. Trong Đức Kitô, Ngài bước vào chính lịch sử ấy – sinh ra giữa một dân tộc đang mong chờ ơn giải thoát; sống giữa những người thu thuế, tội nhân và bệnh tật; rồi chết trên thập giá như một kẻ bị loại trừ. Nhưng chính nơi tưởng như thất bại nhất ấy, Thiên Chúa lại khởi sự công trình cứu độ cho toàn thế giới. Thì ra, đó luôn là cách Ngài hành động: không bắt đầu từ chỗ mạnh nhất, nhưng từ chỗ hỏng nhất. Thập giá cho thấy điều đó rõ hơn bất cứ nơi nào khác. “Ơn Chúa không tìm thấy con người xứng đáng, nhưng tạo nên họ!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đợi mình hoàn hảo mới đến với Chúa; cho con can đảm nhìn nhận những chỗ hỏng của mình; và để Chúa bắt đầu lại từ những rạn nứt ấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XI TN, NĂM A

Sau khi gọi mười hai môn đệ, Đức Giê-su đã sai các ông đi truyền giáo.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 9,36 – 10,8

9 36 Khi ấy, Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. 37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng : “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

10 1 Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ : đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; 3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; 4 ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người. 5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng :

“Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.”


 

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng ! – Truyen ngan. Xuân Hương

Nguyen Thi Chau

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng !

Cô bạn làm chủ ghe , cho tui đi vượt biên theo , chỉ với 1/2 giá. Ngồi chung cyclo với cổ ra bến xe Chợ lớn xuống Mỹ Tho ..tui hỏi “ Ê mầy , lỡ bị bắt tao phải khai làm sao ? “ Chèn ơi , cổ véo tui một cái đau điếng rồi mắng “Mầy thiệt vô diên, miệng ăn mắm ăn muối nói chuyện xui rủi“ .

Mà xui thiệt. Ghe lớn ra cửa Vàm Láng không bao xa , thì bị túm gọn . Vô trại tạm giam , ông cán bộ răng dzàng đập bàn xong , rồi hậm hức chỉ tay vào tui ( đang ngồi sắp lớp hàng đầu ) hỏi “ai là chủ ghe ?” Theo phản xạ ..ba trợn , tự dưng tui đứng phắt dậy mắt dáo dát tìm nhỏ bạn .

May ..mà định thần kịp, ngồi xuống liền. Ông răng dzàng túm áo tui, hầm hè hỏi lần nữa “ ai là chủ ghe ? “ Chợt thấy tên du kích áo đen hồi nãy lăng xăng nạt nộ những người bị bắt , tui chỉ đại vào hắn . Cả đám người ngồi đó cười rần . Tui ăn một bạt tay trời giáng , bể mịa một cái tròng kính cận ( May ..không bị rớt ..răng ).

Nhưng vàng , nhân sâm đeo trong mình bị lột sạch . Chỉ ký tên vô sổ ngang cái dòng : Trại có giữ 5 miếng kim loại màu vàng , thôi!

Chuyển trại giam lớn Mỹ Tho. Người nhà tui chạy tiền liền -để tui về cho kịp -sợ bị mất chỗ làm việc . Cán bộ đọc tên từng người trao giấy thả tù . ổng đọc đi đọc lại Nguyễn Thị Hương , tui cứ ngồi im lặng ..xa vắng mãi . Bị tên công an trong phe cánh đá nhẹ một cái nói “ Bà đó bà ! “ Tui đứng lên nhận giấy còn càm ràm“ Tên tui sao thiếu chữ xuân “ Ông cán bộ trao giấy nói nhỏ “ Vậy chứ hồi bị bắt , má khai tên gì vậy má ?

“ Thế là tui nhớ trực vụ khai tên , năm sanh- địa chỉ công việc …xạo sự của mình liền. Hú vía , may mà được tha .

Ra khỏi trại 2 giờ trưa , áo quần rách bươm -cặp mắt kính lọt mất một tròng – dép cũng mất luôn. Quan trọng nhất là trại giam lờ tít chuyện trả lại cho tui 5 miếng kim loại màu vàng- vậy  tui còn gì để bán mà kiếm tiền về xe đây, chẳng lẽ lội bộ từ Mỹ Thơ dìa Sài Gòn sao ? Tui đọc kinh khấn hết Chúa đến Đức Mẹ cứu giúp ..lội bộ một đoạn đường xa , mà chân bỏng rát .

Cuối cùng tui bấm gan vẫy đại một chiếc xe ôm , chìa giấy thả tù , tui nói “Cháu vượt biên được thả , giờ không tiền , nhưng nhà cháu ở Sài Gòn thì có tiền trả. Chú giúp dùm cháu phương tiện đi về nhà được không. Cháu thiệt đội ơn chú “ Ông xe ôm trông hơi đứng tuổi -người khắc khổ mặt nám đen còn đeo mắt kính đen thiệt ngầu, nhưng giọng thì hiền khô hỏi “ Vậy cháu có dám ngồi xe ôm, dang nắng về Sài Gòn không ?”

Nghỉ sao mà con nhỏ chột mắt kiếng, quần áo rách bươm không dép như tui lúc đó, lại có thể giở giọng tiểu thư ngại nắng ăn lắc đầu ..được.

Tui trèo lên xe liền, không thèm hỏi giá , nói xong địa chỉ là ôm cái eo ổng …ngủ gục miết . ( Bị trại giam chật chỗ ngủ ngồi) tui lại bị nhét ngồi gần cầu tiêu .. Mùi nồng nặc xông lên ..mắt trợn trừng đau khổ, ngủ gì nỗi mấy đêm nay , hở trời ?

Xe chạy gần qua Chợ Bến Thành , ổng mới kêu lớn cho tui thức dậy để hỏi kỹ đường về quận 4 nhà tui . Chắc ổng nghe bụng tui kêu rột rột hay sao đó …mà nói “ Chắc cháu đói bụng dữ rồi phải không , chú cũng chưa ăn gì . Thôi chú chở cháu ăn bậy tô mì dằn bụng , rồi chở cháu về “ Chèn ơi , buồn ngủ mà gặp chiếu manh , tui gật đầu liền ..Coi như gần cả tuần nay từ chỗ ém quân chờ ra cá lớn -đến khi bị bắt nhốt -tui chưa được ăn đúng nghĩa bao giờ .

Tui ăn hỗn hào , ào ào một lúc hai tô mì và ly trà đá bự tổ chảng .

Trong khi chú xe ôm chạy cực khổ đường trường , ăn nhỏ nhẹ có một tô mì và ly cafe đen nhỏ xíu thôi. Trời xế chiều nhưng còn sáng . Tui ngần ngại nói chú ấy có thể chờ sụp tối một chút rồi chở tui về nhà , vì tui ngại hàng xóm và công an khu vực thấy quần áo và bộ dạng của tui như vầy, sẽ biết tình cảnh vượt biên của tui liền. Như vậy dễ di hại cho tui về sau.

Chú Hiền ( Tui biết tên chú sau đó ) cũng gật đầu chịu . Hai chú cháu ngồi quán cốc lề đường , uống trà đá chuyện trò rôm rã . Chú nói chú mới ra trại cải tạo , nhà ở Sài Gòn. Nhưng không nhập được hộ khẩu ở Sài Gòn , bị chỉ định về quê . Để sinh sống , chú chạy xe ôm. Hôm nay nhân dịp chở tui về Sài Gòn , chú sẽ ghé qua nhà thăm ba má chú luôn . Chú nói ngó bộ dạng của tui , là chú tin tưởng con nhà đàng hoàng , sa cơ bị bắt vượt biên. Nên chở tui đường xa , không ngại bị lường gạt quịt tiền .

Sụp tối tui về được đến nhà , cả nhà mừng húm. Trả tiền công chú Hiền hậu hỉ và còn ghi lại địa chỉ nhà chú ở Sài Gòn để liên lạc thăm viếng sau nầy .Chị tui nói , chạy cho tui dzìa mất một cây vàng , nhưng họ nói đến ngày mai mới thả . Đâu dè họ thả sớm một ngày như vậy ?

Sáng mai tỉnh táo dọn bộ vó đi làm . Vô sở , mọi người trợn trừng mắt ngạc nhiên, coi như tui vắng mặt không xin phép đã 3 ngày , trừ đi hai ngày lễ 30 / 4 và 1/5 cùng ngày Chúa nhật . Hú vía , gần cả tuần chứ đâu phải chơi . Tui bèn đi một đường kể khổ ..bị té bong gân sưng chân nằm một chỗ . Bố tui già cả không biết sở tui ở đâu để xin phép.

Nhưng ngó cái mặt ăn nắng đen thui của tui , là họ thừa biết tui nói láo liền. Có lẽ Chúa thương phù hộ cho công trình tui đang quản lý tới lúc nghiệm thu ..Vắng tui , ai lên giá thành thanh quyết toán. Tui ở lại làm nốt công việc , với cái án treo lơ lững . Họ chờ dịp trừng phạt tui. Tui thì chờ kỳ vượt biên mới, nhất định là mình phải vượt thoát khỏi Việt Nam.

…. Cô bạn tui , nhà cổ cũng lo chạy chọt , nên cổ ra tù sau tui vài ngày .Năm sau cũng vào dịp 30/4, mùa gió êm . Nhà cổ tổ chức thêm một chuyến vượt biên mới , nhưng cổ không rủ tui đi tiếp . Chắc cổ nghỉ tui là con nhỏ ba trợn tào lao ăn nói vô duyên khiến cổ dễ bị xui xẻo chắc ? Nhưng ghe của cổ ra cửa lớn , chỉ chung chi công an bến bãi , mà qua mặt không chung công an biên phòng . Họ rượt theo bắn chìm ghe cổ , chết tan tác mấy chục nhân mạng luôn . Mạng tui lớn hay nhỏ xíu , khi không theo chuyến vượt biên đó ? Còn cô bạn tui, cổ không hên mà xui xẻo mất mạng .

Mấy chục năm trôi qua , mà tui vẫn nhớ hoài cái véo tay đau điếng của cô ấy. Nghỉ đến rồi thương cổ , và thương cho những người Việt Nam đã bỏ mạng trên biển đông ..khi bỏ phiếu đi tìm tự do bằng đôi chân của mình .

Xuân Hương 


 

TÂM THƯ CUỐI CÙNG CỦA STEVE JOBS

Công Giáo Rôma – Patrick Lew Hayashi – PLB

TÂM THƯ CUỐI CÙNG CỦA STEVE JOBS

***

(Trong mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công….

Nhưng ngoài công việc, tôi có rất ít niềm vui...

Giờ đây, nằm trên giường bệnh, nhớ lại cả cuộc đời mình, tôi nhận ra rằng những lời khen ngợi và tài sản mà tôi từng rất tự hào, đã trở nên vô nghĩa trước cái chết đang cận kề)

***

Trên mạng xã hội, rất nhiều người đang chia sẻ cái tên của Ông Steve Jobs. Ông là cha đẻ của Apple đã qua đời vào năm 2011 vì căn bệnh ung thư tuyến tụy khi ông 56 tuổi, Ông đã viết 1 bức Tâm Thư cuối cùng. Nội dung Tâm Thư khiến rất nhiều người suy ngẫm: Không khoe tài sản, không khoe thành công, mà ông chỉ nói về tài sản mà ông cho là quý giá nhất đời người.

“Tôi đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt của người khác, cuộc sống của tôi là một mẫu mực của sự thành công.

Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi có rất ít niềm vui. Tại thời điểm này, nằm trên giường bệnh và nhớ lại toàn bộ cuộc sống của tôi, tôi nhận ra rằng tất cả các công nhận và sự giàu có mà tôi từng tự hào, đã trở nên vô nghĩa khi đối mặt với cái chết sắp xảy ra

Bạn có thể thuê ai đó làm người lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn, nhưng bạn không thể có một người nào đó phải chịu bệnh tật cho bạn. Vật chất bị mất có thể được tìm thấy. Nhưng có một điều mà không bao giờ có thể được tìm thấy khi nó bị mất – CUỘC ĐỜI BẠN.

Khi chúng ta già đi, chúng ta sẽ nhận ra:

– Một chiếc đồng hồ 300 USD hay 30 USD thì suy cho cùng, cũng chỉ cùng một thời gian.

– Một chiếc xe 150.000 USD hay 30.000 USD thì suy cho cùng, con đường và đích đến đều giống nhau.

– Một ngôi nhà 300m² hay 3.000m² thì suy cho cùng, nỗi cô đơn vẫn cứ tồn tại.

Hạnh phúc thực sự không đến từ vật chất

Vì vậy, tôi hi vọng bạn nhận ra khi nào bạn còn có bạn bè, người thân bên cạnh để cùng trò chuyện, nói cười, vui vẻ đàn hát với nhau, tám đủ thứ trên trời dưới biển… thì lúc ấy là lúc hạnh phúc thực sự.

 Sự thật bắt buộc phải chấp nhận trong cuộc sống:

– Đừng giáo dục con trẻ phải trở nên giàu có trong tương lai. Hãy dạy chúng cách để luôn hạnh phúc. Như vậy, khi lớn lên, chúng sẽ biết được giá trị thật của từng thứ không phải dựa trên mệnh giá đồng tiền.

– Đừng nhịn ăn. Hãy ăn như thể đó là thứ thuốc quý giá nhất dành cho cơ thể bạn. Nếu không, bạn sẽ thật sự phải “ăn” thuốc như ăn thức ăn vậy.

– Người thực sự yêu thương bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn dù ở bất kì hoàn cảnh nào hay dù bạn có nói 100 lý do để họ từ bỏ bạn đến thế nào đi chăng nữa.

Khác biệt giữa con người và làm người là rất lớn. Nhưng không phải ai cũng hiểu được.

– Khi bạn sinh ra, chắc chắn bạn nhận được tình yêu thương. Khi bạn chết đi, có thể bạn sẽ nhận được tình yêu thương. Giữa khoảng thời gian đó, bạn phải biết cách xoay sở làm sao để biết cách sống.

Bác sĩ tốt nhất trên thế giới:

– Ánh nắng

– Nghỉ ngơi

– Tập thể dục

– Chế độ ăn

– Tự tin

– Bạn bè

Hãy ghi nhớ những điều này thật kĩ để có một cuộc sống tốt hơn.

Cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến với bạn”.