ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN – Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Thông thường người Công giáo là người được sinh ra trong gia đình mà cha mẹ, ông bà là người có đạo nên được rửa tội từ thuở nhỏ và lớn lên mỗi Chúa nhật đều đi nhà thờ, tham dự thánh lễ là một chuyện tự nhiên, bình thường. Hoặc khi lấy vợ, lấy chồng là người Công giáo, rồi học đạo, làm lễ ở nhà thờ cũng trở thành người Công giáo. Còn số người lớn cảm nhận về đạo Công giáo thấy yêu mến đạo, yêu mến Chúa Kitiô và Đức Mẹ Maria, rồi theo đạo cũng không phải là ít. Thường những người lớn tuổi này đến với nhà thờ Công giáo, đến với Chúa Giê-su và Đức Mẹ thông qua nhiều nguyên nhân thường do ảnh hưởng từ bạn bè là những người Công giáo sống đức tin, đạo hạnh hay ảnh hưởng từ gương sống của các Thầy cô dạy ở trung học hay Đại học hay gương lành của các tu sĩ, Linh mục hay các Sơ đã hy sinh đời mình phục vụ cho tha nhân, nhất là phục vụ cho những người kém may mắn như những người bị bịnh phong cùi, người tàn tật đui mù, bịnh sida v.v…hoặc có được ơn riêng, Thiên Chúa đánh động họ để họ tìm về cội nguồn yêu thương là Thiên Chúa tình yêu. 

Khoảng năm 1533, đạo Thiên Chúa truyền bá sang nước ta cho đến ngày hôm nay, đã trải qua nhiều sự thăng trầm. Những lúc đạo Chúa bị bách hại dữ dội nhất lại thường nuôi dưởng và phát triển tinh thần bác ái, yêu thương và sản sinh ra nhiều vị Thánh tử đạo…  

Bài này chỉ nói đến một vài nhân vật đã đến với Đạo Chúa như sự kiện bình thường nhưng ẩn tàng bên trong là một sự chuyển biến lâu dài về tâm lý, tình cảm, lý trí rất phức tạp của con người để đến hay nói đúng hơn trở về nguồn tình yêu vô biên của Thiên Chúa toàn năng. 

Minh Đức Vương Thái Phi: (1558-1649) 

Bà là vợ thứ 10 của Chúa Nguyễn Hoàng. Lúc sinh Hoàng Khê bà mới 21 tuổi, chúa Nguyễn Hoàng 64 tuổi. Bà được lảnh bí tích Rửa tội vào năm 1625 (lúc ấy bà chừng 51, 52 tuổi) tên thánh là Maria Ma-da-Lê-Na, tại Phước Yên do Cha Francesco di Pina, Dòng Tên người Ý.  

Theo cha Đắc Lộ, người có mặt Lễ Rửa tội của bà Minh Đức, thì trước kia bà là người rất sùng đạo Phật. Khi đã theo Công giáo bà lại đem hết mình phụng sự đức tin mà còn sốt sắng hơn trước nữa. Cha Đắc Lộ đã là nhân chứng về đời sống đạo của Bà: 

“Trong Dinh của bà, bà lập ra một ngôi nhà nguyện rất đẹp, mà bà vẫn cố duy trì trong cơn cấm đạo ngặt nghèo. Bà mở rộng cửa cho các giáo hữu của tỉnh đến cầu nguyện…Bà đã dùng các lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người rất sùng Phật trong nước trở lại với Đức tin Công giáo trong số đó có cả những người họ hàng với nhà chúa. 

Trong thời gian này, ngày 26-7-1644 thầy giảng An rê chịu tử đạo làm bà Minh Đức rất là đau đớn. Nhưng nỗi đau đớn nhất là con bà, ông Hoàng Khê, để lấy lòng chúa Thượng, đã cho phá nhà nguyện của mẹ ngày 20-2-1645. Năm sau, ngày 22-8-1646 ông Hoàng Khê qua đời không được rửa tội. Cái chết chưa được rửa tội của con càng làm cho bà Minh Đức đau đớn vô cùng. 

Theo các tài liệu bà Minh Đức chết vào khoảng cuối năm 1648 hay đầu năm 1649 như vậy bà thọ ngoài 80 tuổi.  

nguồn:  http://www.dongcong.net/DoiSongKH/GuongTruyenGiao/14.htm    

 Thi sĩ Nguyên Sa – Giuse Trần Bích Lan:(1932  – 1988) 

Nguyên Sa là nhà thơ lớn, nhà giáo nổi tiếng dạy triết học tại trường trung học Chu văn An và mở những lớp Triết riêng để luyện thi Tú tài 2. Ông dạy rất nhiều trường tư thục lớn ở Sài gòn. Tôi đã say mê Nguyên Sa từ những bài thơ trong tạp chí Hiện Đại khoảng năm 1961, 1962. Những câu thơ như: 

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông …

 Hôm nay Nga buồn như con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chẳng là nước biển.

 Hay: 

Tôi đã gặp em từ bao giờ

Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya

Kể từ gió thổi trong vừng tóc

Hay lúc thu về cánh nhạn kia.

Có phải em mang trên áo bay

Hai phần gió thổi một phần mây

Hay là em gói mây trong áo

Rồi thở cho làn áo trắng bay…  

đã như đi sâu vào tâm hồn của đa số người dân miền Nam yêu thơ thời đó nhất là người Sài gòn thích thơ trong đó có tôi. 

Trong bài “Vài kỹ niệm với nhà thơ”, nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc viết: “Câu chuyện lan man đi qua vấn đề tôn giáo. Nguyên Sa nói: “Nhân tiện có anh và anh Q.T. là người theo đạo Công giáo. Tôi hỏi các anh, nếu tôi muốn theo đạo thì phải làm sao?” 

Tác giả viết: “Tôi nói: Dễ thôi. Anh Q.T. hoặc tôi sẽ giới thiệu anh đến một vị Linh Mục, vị này là linh hướng cho anh….Vị Linh Mục sẽ giải thích những lẽ chính trong Đạo và đưa anh một cuốn sách nhỏ dặn anh về đọc và ghi nhớ. Rồi vị Linh Mục hỏi xem anh có nhập tâm và tin – nhất là tin – những điều đó không? Sau khi đã qua những chặng chuẩn bị tâm hồn anh được chịu phép Rửa tội và được rước Chúa vào tâm hồn. Có 10 điều răn của Đức Chúa Trời và 6 điều răn của giáo hội, anh cứ theo như thế, tức là trở thành tín hữu tốt. Ngày thi sĩ Nguyên Sa chịu phép Rửa tội, anh có viết thiệp báo tin cho tôi. ..” 

Tác giả viết tiếp: “Tôi biết anh đã ra đi yên ổn vì anh có tâm sự với tôi lúc còn sống anh chỉ ước ao được chết Lành như một tín hữu Công giáo. Năm đó là năm 1998, anh thọ được 66 tuổi”. 

nguồn:  http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=294&ia=9417    

Ca sĩ Duy Khánh: (1936- 2003) (Micae Nguyễn văn Diệp). 

Trong báo: “Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” số 200, tháng 3 năm 2003, Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng có viết bài: “Ca Sĩ Duy Khánh & Cuộc trở lại Đạo cuối đời” cho biết Duy Khánh tên là Nguyễn văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh của Duy Khánh là Cụ Nguyễn văn Triển, Dân Biểu Hạ Nghị Viện VNCH, pháp nhiệm 1 (1967-1971). 

 Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng viết: “Buổi tối ngày lễ Giáng sinh 25-12-2002 anh Văn Đức Thạnh đã gọi điện thoại cho tôi biết “Duy Khánh muốn gặp một Linh Mục”.Vì là ngày lễ lớn nên các nhà thờ đều bận rộn… mãi đến sáng hôm sau, ngày 26-12-2002 tôi mới liên lạc được với Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ, Quản nhiệm cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại nhà thờ Anaheim. 

Khoảng 9 giờ sáng hôm đó, anh Văn Đức Thạnh đã lái xe đưa Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ đến tại bịnh viện Fountain Valley, phòng số 110 để gặp Duy Khánh. Tôi cùng bà Thơm đi theo xe của anh Thạnh đến thăm Duy Khánh luôn. Bên cạnh Duy Khánh lúc đó chỉ có người con gái của anh (cô Tiên) và chúng tôi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp mặt và trực tiếp nói chuyện với Duy Khánh. Anh Thạnh giới thiệu Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ là người đồng hương đến thăm. 

Linh Mục đã hỏi Duy Khánh:

-“Có phải anh muốn gặp Linh Mục người Việt nam hay không?”

Anh Duy Khánh trả lời:

-“Đúng như vậy, tôi muốn gặp một Linh Mục Việt Nam để xin theo đạo Công giáo”. 

Linh Mục nói chuyện với anh khoảng 15 phút xác nhận lúc đó anh còn tỉnh táo và còn sáng suốt để trả lời những câu hỏi của Linh Mục. Sau đó Linh Mục cử hành nghi thức “Rửa tội” cho anh Nguyễn văn Diệp tức ca nhạc sĩ Duy Khánh. Người đỡ đầu là anh Văn Đức Thạnh.Tên Thánh được chọn cho Duy Khánh là Micae (Michael) cũng là tên Thánh của anh Thạnh… 

Nghe tin anh đã theo đạo Công giáo, một người bạn đến thăm và hỏi anh: 

-“Bây giờ anh có hối hận gì về quyết định xin theo đạo và chịu phép Rửa tội hay không?”

Anh đã trả lời: 

-“Tôi không hối hận gì.” 

Mấy ngày sau đó, sức khỏe của anh khả quan hơn trước nhiều. 

Ngày mùng Một Tết Nguyên Đán (Quý Mùi), Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ và một số bạn bè đến thăm, thấy sức khỏe của anh bình thường. Nhưng kể từ ngày mồng hai Tết trở đi, sức khỏe của anh ngày càng xấu đi. 

Lúc 12 giờ 05 trưa thứ tư, 12 tháng 02 năm 2003, Anh Micae Nguyễn văn Diệp tức Ca Nhạc Sĩ Duy Khánh đã từ giả mọi người để vĩnh viễn ra đi qua bên kia thế giới. 

GS Nguyễn Lý Tưởng viết: “Hơn hai mươi năm trước, khi nhạc sĩ Vũ Thành An trở lại Đạo Công giáo ở trong nhà tù Cộng sản tại Hà Tây (miền Bắc Việt nam), tôi có nói rằng người nghệ sỹ chân chính luôn khao khát Chân, Thiện, Mỹ và họ sẽ được gặp Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa hay Thượng Đế hay ông Trời là nguồn của Chân, Thiện, Mỹ. Tôi nghĩ rằng Duy Khánh cũng ở trong trường hợp đó. 

Tang lễ của anh được cử hành tại cộng đoàn tam biên (nhà thờ Sait Callitus) lúc 9:30 sáng thứ bảy 22-2-2003. 

Cựu hoàng Bảo Đại: (1913 – 1997).

Trong bài “Bất trắc và bất ngờ trong lịch sử ” đăng trên báo Dấn Thân, bộ 5 số 12 tác giả Linh Mục Nguyễn Thái Hợp có viết: “Sau khi bị truất phế qua cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 10 năm 1955 ông sống lưu vong tại Pháp.  

Vào giai đoạn cuối đời ông sống đạm bạc ở Paris trong một căn hộ thuộc chung cư ở đường Fresnel, quận 16. Chung cư này nằm cạnh khu đồi của công viên Trocadero. Những ngày đẹp trời ông thường đi dạo chung quanh khu công viên Trocadero. Thỉnh thoảng cũng ghé vào nhà thờ Saint Pierre de Chaillot nằm gần đấy để thăm Linh Mục Argomathe, chánh xứ Chaillot, một chuyên gia về lịch sử, khởi đi từ những câu chuyện văn hóa và thời sự vô thưởng vô phạt. Cùng với thời gian, cuộc đàm đạo càng ngày càng đi sâu vào lảnh vực tư tưởng và tâm linh, đặc biệt về Kitô giáo. Cựu hoàng tìm gặp nơi niềm tin Kitô giáo ý nghĩa, niềm vui và lẽ sống ở đời. Chính vì vậy bất chấp ý kiến không đồng thuận của một số người, ông nhất quyết xin gia nhập Đạo Chúa. Ngày 17 tháng 4 năm 1988 ông chịu phép thanh tẩy tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot với tên Thánh là Jean Robert. Liền theo đó, ông chịu phép thêm sức và cử hành lễ hôn phối với bà Monique Baudot.  

Năm 1995 chính cựu hoàng Bảo Đại với tư cách là vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn và đồng thời là người Công Giáo đã xin yết kiến Đức Giáo hoàng Gioan Phao lô II đã chính thức thay mặt nhà Nguyễn nói lên lời xin lỗi Chúa và Giáo hội.Trong lá thư đề ngày 31 tháng 03 năm 1995 gởi cho Giáo hoàng Gioan Phaolô II để xin yết kiến, cựu hoàng đã viết: “Đây là dịp hạnh phúc cho chúng tôi được quỳ bên cạnh Đấng kế vị thánh Phêrô để cầu nguyện cho Việt nam và Giáo hội đang chịu đau khổ ở đó. Và qua sự kiện chúng tôi đã chịu phép thanh tẩy đem lại cho đồng bào chúng tôi niềm xác tín vào tình thương vô biên của Thiên Chúa qua Đức GiêSu Kitô, Đấng an ủi những người đau khổ. Ngày 24-6-1995 ông và phu nhân được Đức Gioan Phaolô II tiếp kiến riêng tại Vatican… 

Linh mục chánh xứ Chaillot cho biết sau khi gia nhập đạo cựu hoàng Bảo Đại rất ngoan đạo. Ông thường đến nhà thờ cầu nguyện và đặc biệt sùng kính Đức Mẹ Maria. 

Cuối tháng 6 năm 1997 cựu hoàng Bảo Đại được đưa vào Quân Y Viện Val De Grace ở Paris. Ông từ trần lúc 5 giờ sáng ngày 31- 7- 1997 hưởng thọ 84 tuổi.  

Thánh lễ an táng được cử hành tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot ngày 5 -8-1997 với sự chủ sự của Linh Mục Guyard, đại diện Hồng Y Giám Mục Paris.  Bài “Magnificat” mà ông thích nhất một lần nữa đã trang trọng ngân vang trong thánh đường theo đúng ý nguyện của người quá cố. 

Chủ tịch nước Việt nam ông Hồ Chí Minh cũng đã có Rửa tội?

Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng viết trong bài “Đi gặp Mác – Ănghen hay lên Thiên đàng?” như sau: 

“Có lời đồn Bác đã chịu phép rửa tội Công giáo khi bị bắt ở Hồng Kông, lời đồn đó có thể đúng, vì những người cộng sản họ có kiêng nể gì đâu. Họ khai thác triệt để câu châm ngôn “Mục đích biện minh cho phương tiện”. Có thể làm bất cứ cái gì, chịu phép rửa tội đôi ba lần cũng được, miễn là đạt mục đích mong muốn. Chịu phép rửa tội để ra khỏi tù chứ đâu là trở nên tín hữu công giáo.”… 

  “Vào năm 1986 có cuộc họp của Ban Thường Vụ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Không hiểu sao cha Huấn cũng có mặt ở Hà nội. Cha già Huấn là người già lão, đã trăm tuổi, mặc dầu rất tinh khôn, nhưng người ta vẫn cho Ngài là lẩm cẩm, lẩn thẩn. Ngài lại hay đi sâu vào các vấn đề huyển bí. Những người đến hỏi số phận người nhà đã qua đời lên Thiên đàng hay ở luyện ngục thì Ngài trả lời ngay lập tức: thường là đang ở luyện ngục…. Hỏi về người đi vắng, như bộ đội còn sống hay chết: Ngài cũng chỉ cho họ biết người đó đang ở đâu, sắp về v.v. Rất nhiều người đến xin khấn để tìm thấy của đã mất. Ngài cho biết hiện của lạc mất đang ở đâu. 

Cha Huấn kể việc Bác lên Thiên đàng: “Một hôm con làm lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, (nơi ngài đang ở, vừa làm việc, vừa hưu) chợt thấy bác Hồ hiện ra nét mặt ủ rủ nói với con: Cụ quên tôi à? Tôi là Hồ Chí Minh, tôi đã được rửa tội. Cụ không cầu nguyện cho tôi à?. Sáng hôm sau, tôi làm lễ cho người. Lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, lại thấy Bác Hồ hiện ra, mặt mày vui vẻ người sáng láng cám ơn con, rồi lên thiên đàng.” 

Câu chuyện cha Huấn làm lễ cho Bác là vì Bác yêu cầu. Bây giờ Bác ở đâu? Bác ở lăng có thật không?. Còn linh hồn ở với Mác- Ănghen hay ở trên Thiên đàng? Chỉ có Chúa biết. Nếu ở trên Thiên đàng thì phục vụ cho dân tộc Việt nam nếu ở với Mác- Ănghen thì là tai họa cho dân tộc khổ sở này, đem những thái quá của Mác-Ănghen đến gây muôn vàn tai họa cho Việt nam.” 

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=73862  

Linh Mục Sảng Đình Nguyễn văn Thích: (1891-1978). 

Nữ tu Mai Thành viết: “Linh mục Nguyễn văn Thích là con thứ hai của cụ Lô Giang Tiểu Cao Nguyễn văn Mại. Cụ Mại đỗ thủ khoa thi Hương, rồi phó bảng khoa Kỷ Sửu (1889) Thừa Thiên, được bổ dụng Tri phủ An Nhơn, Bình Định, làm quan đến chức Thượng thư. Cụ bà là Thân thị Vỹ làng Nguyệt Biều, tỉnh Thừa Thiên một dòng họ danh tiếng với các bậc khoa bảng như cụ Thân Trọng Huề, Thượng Thư dưới triều Đồng Khánh, Khải Định.

Từ 4 tuổi cậu ấm Thích đã được thân phụ dạy chữ Hán, rồi lớn lên vác lều chổng đi thi Hương, cậu Thích cũng học chữ Pháp và chữ quốc ngữ rồi vào trường Pelerin gọi là trường dòng do các sư huynh Lasan điều khiển và giảng dạy. Trường này thành lập năm 1904 và học sinh Nguyễn văn Thích được học cả đạo lẫn đời. Nơi đây cậu ấm được học hỏi trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về giáo lý Kitô giáo. 

Trong thời gian học tại Pelerin, học sinh Thích lại có những liên hệ ngày càng mật thiết với Linh Mục tuyên úy Léculier hay cố Lựu nên đức tin vào Đức Giê Su Kitô đấng Cứu thế con Thiên Chúa làm người được thấu hiểu ngày càng thấm đậm trong tâm thức và trí tuệ của chàng thư sinh khao khát Chân, Thiện, Mỹ. 

Với bằng Cao Đẳng tiểu học và một năm sư phạm, thầy Thích được bổ làm trợ giáo tỉnh Khánh Hoà tháng 02 năm 1911. Bốn tháng sau ngày 29 tháng 6, thầy nhận bí tích rửa tội để trở nên con cái Chúa với tên thánh là Giuse Maria tại nhà thờ Bình Cang, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang do Linh mục Charles Eugène Saulcoy tên Việt là Cố Ngoan. 

Được tin sét đánh này cụ Thượng cầm roi đánh nhừ tử “đứa con bất hiếu”. Sau đó cụ Thượng nghĩ đến việc lập gia đình cho con trai đã 26 tuổi. Cụ mời Đức Cha Lý (Cố Allys) đến nhà xin Đức Cha can thiệp làm mai mối với con gái cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài để con mình yên số phận. Nào ngờ đâu khi được “hung tin” này, môn đệ của Đức GiêSu lấy quyết định từ giả gia đình quí tộc. Một đêm thanh vắng thầy Giuse Maria hóa trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi sáng sớm tháng 9 năm 1917, trực chỉ đến tiểu chủng viện An Ninh tại cửa Tùng, tỉnh Quảng trị. Tiểu chủng viện chỉ nhận từ 12 đến 14 tuổi mà thầy Thích đã 26 tuổi thì phải làm sao đây? May mắn là Giám mục Lý (Allys) nắm rõ hoàn cảnh nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo này, vừa học tiếng Latinh và chương trình đào tạo Linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh. Sau đó thầy được gởi vào Đại chủng viện Phú Xuân Huế, 6 năm sau được thụ phong Linh mục ngày 18 tháng 12 năm 1926. 

Cha là nhà giáo từ lúc 20 tuổi. Cha dạy các Thiếu nhi Tiểu học ở Khánh Hoà, dạy các tu sĩ dòng Thánh Tâm Huế, tiểu chủng viện An ninh, Quảng trị, Trung học Khải Định.  

Trong thời gian làm Cha xứ họ Đạo Kim Long Huế, Cha dạy trường Quốc học và các trường tư thục Công giáo Huế. Từ năm 1958 Cha dạy Hán văn các trường Đại học Đà lạt, Huế Sài gòn. Năm 1959 dạy Triết Đông tại viện Hán học. Cha có sáng tác nhiều bài thơ phổ biến trong “Sảng Đình thi tập”. 

Nữ tu Mai Thành viết:“ Ngày 10 tháng 12 năm 1978 Linh mục Giuse Maria Nguyễn văn Thích với tuổi hạc 87, giã từ trần thế để về cõi trường sinh, hội ngộ cùng Đấng Chân- Thiện- Mỹ mà Linh mục đã hiến thân phục vụ đến trọn đời, trọn tình, trọn nghĩa. Phút lâm chung Ngài còn vui vẻ hát ca. Chắc hẳn là những ngày, những giây phút chuẩn bị cuộc ra đi, ngài đã ngắm nhìn bức tranh Đức Maria mà chính tay Ngài đã kính cẩn họa ra với lời ca Ngài đã sáng tác:

                        Bao giờ tôi được lên Trời,

                        Ở cùng Đức Mẹ thì tôi phỉ nguyền. 

Nguon: http://www.chungnhanduckito.net/tacgia/Mai%20Thanh/lm.nguyenvanthich.htm  

 Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn.(1930- 2009) 

Trong quyển “Đất nước tôi”, Hồi ký chính trị của Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đuợc biết ông sinh tại Cần Thơ năm 1930, năm 1951 động viên khóa 1 sinh viên Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức.1953 trúng tuyển khóa 1 Học viện Quốc Gia Hành Chánh. 1957 tốt nghiệp Thủ khoa khóa 1 Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

1958 Quận Trưởng Cái Bè, Định Tường.

1959 -1967 Phó Tỉnh Trưởng Định Tường, Phước Tuy và Long An.

1967-1971 Dân biểu Hạ Nghị Viện.

1971-1975 Chủ tịch Hạ Nghị Viên.

1975 Thủ tướng VNCH. 

Ký giả Hạnh Dương viết: “Trong cuộc phỏng vấn cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã cho hay rằng dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lúc ông làm Quận trưởng Cái Bè, Phó Tỉnh Trưởng Định Tường và Phó Tỉnh trưởng Phước Tuy, ông đã nhiều lần được đảng Cần lao yêu cầu ông trở lại đạo Công giáo, ông đã quyết liệt từ chối. Nhưng khi đến định cư tại Hoa Kỳ, sau khi con gái của ông tử thương vì tai nạn, ông đã buồn, khóc rất nhiều và mắt của ông gần như bị mù. Nghe nói Đức Mẹ Lộ Đức (Lourdes) tại Pháp là nơi linh thiêng và nhiều người khấn xin, đuợc Đức Mẹ chửa lành, nên phu nhân của ông đã đưa ông qua Pháp để đến cầu nguyện tại nơi Đức Mẹ hiện ra với chị Bernadette từ ngày 11-2-1858 đến ngày 16-7-1858 trong 18 lần khác nhau. … 

 Cho đến nay sau ba lần khai mở hầm mộ của nữ tu này để khám nghiệm, làm thủ tục phong Thánh thì điều rất ngạc nhiên xác của nữ tu Marie Bernard này vẫn nguyên vẹn và mềm mại như người đang ngủ. Hiện nay thi thể của nữ tu được bỏ trong quan tài bằng kính trong suốt và để trong nhà nguyện cho mọi người đến kính viếng cầu nguyện. 

Cựu Thủ Tướng nói rằng ông chỉ đi theo đề nghị của vợ ông mà thôi chứ chẳng có tin tưởng gì. Nhưng sau khi thấy những điều kỳ diệu như thế nên ông đã cầu nguyện và không ngờ là sáng hôm sau, sau khi thức dậy, hai mắt ông bừng sáng như chưa hề bịnh tật gì. Và từ đó ông đã xin theo đạo Công giáo và được  thanh tẩy tại Lộ Đức ở Pháp và trở lại Hoa Kỳ đi nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, rất sùng đạo, sống bình dị cho đến giờ phút ông vĩnh biệt gia đình và cộng đồng người Việt tự do tại Hoa Kỳ và Hải ngoại. 

Ông mất ngày thứ tư 20-5-2009. 

Thánh lễ cầu hồn cho linh hồn Phêrô tại nhà thờ Maria Goretti lúc 10 giờ ngày thứ tư 27 tháng 5 -2009,  hạ huyệt tại nghĩa trang Oak Hill, San José. 

nguồn: http://ngothelinh.tripod.com/Nguyen_Ba_Can.html 

Giáo Sư Nguyễn Khắc Dương.  

Nguyên là Giáo sư viện Đại Học Đà Lạt năm 1965-1976. Sinh ngày 24-9-1925 tại Vinh, nguyên quán Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tỉnh.

Là bào đệ của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện một đảng viên nồng cốt của đảng Cộng sản Việt nam, thân phụ là Nguyễn khắc Niêm, nguyên Án Sát tỉnh Nghệ an vào năm 1930, về hưu  năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng Thư. 

Năm 1938 đậu tiểu học, theo học chương trình Pháp tại trường Thiên Hựu, trường tư thục có giá trị nhất thời đó. Tác giả viết: “Cái quyết định của mẹ tôi là do sự xếp đặt của Thiên Chúa, có vậy mới biết đến Chúa Giêsu, mới là tín hữu của Ngài”. 

Sau tú tài II tác giả từ giả Huế về quê với tâm niệm mình là một Phật tử với ý nguyện sẽ xuất gia khi gặp dịp thuận tiện. Trên đuờng về quê tác giả ghé thăm anh Vương đình Lương, lúc ấy làm Hiệu trưởng trường tư thục Đậu Quang Lĩnh Anh Lương mời cộng tác. “Thế là tôi lại trở vế với môi trường tư thục Công giáo. Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu Huế. Tôi như một cây héo rũ bỗng được hồi sinh. Ngoài các sinh hoạt chức nghiệp, tôi thường liên lạc với các linh mục, các đại chủng sinh giúp nhà xứ Nghĩa Yên. Dần dần tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công giáo mới hợp với con người tôi”. 

Vào năm 1948 tác giả quyết định gia nhập đại gia đình Công giáo. Trong tâm tư thì vậy nhưng đi đến thực hiện quả là còn cách núi ngăn sông. Trước hết là những khó khăn trong tâm tư của chính mình nhất là cảm tưởng phải xa lìa tất cả, xa lìa gia đình, bạn bè, hàng xóm rồi cả mấy mươi năm truyền thống văn hóa.” Trở ngại khách quan khác lớn lao hơn nhiều:  “Đối với nhà nho cỡ lớn ở đất Nghệ Tỉnh có đứa con theo đạo là sự sĩ nhục… thằng con trai  đã bỏ truyền thống của cha ông để đi theo “Tây Dương Tả Đạo” nhất là tôi là con là cháu được khen là hiếu thuận.”   

Vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 1948, tôi đến Đức Thọ  thăm gia đình anh Vương Đình Lương. Ngày hôm sau được Linh mục Vương Đình Ái mời dự bửa cơm mừng lễ với các giáo viên dạy trường Đậu Quang Lĩnh. Sau bữa cơm tôi thưa với Cha Ái về ý muốn lảnh nhận bí tích rửa tội.  

Và ngày Rửa tội là ngày 9 tháng 1 năm 1949, Linh mục rửa tội là Linh mục Nguyễn ngọc Bang  cha xứ Nghĩa Yên. Cha đỡ đầu là Linh Mục Vương đình Ái. 

Nguyễn Khắc Dương vào dòng Phanxicô sống đời dự tu đầu tiên khóa 1949-1950. Tháng 04 năm 1954 rời khỏi nhà dòng vì bị động viên vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trong thời gian này thân phụ bị đấu tố, kết án 20 năm tù và đi cải tạo vài hôm thì từ trần.  

Sau hơn hai năm quân vụ, tháng 10 năm 1956 được tu viện Phanxicô cho sang Pháp học thần học tại Paris (1956-1957). Ra khỏi dòng, học Sarbonne 1957-1960, tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Thử tu tại dòng Biển Đức ở Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ (1961-1963) nhưng không thành vì lý do sức khỏe. Từ năm 1963 đến 1965 dạy học ở nhiều trường trung học Công giáo ở Paris. 

 Cuối năm 1965 Nguyễn Khắc Dương trở về Miền Nam Việt nam. Năm 1966 Linh Mục Nguyễn văn Lập Viện trưởng Viện Đại Học Đà Lạt mời ông lên dạy triết tại đó. 

Khi cộng sản tiếp thu Viện Đại học Đà lạt ông cũng bị đi học tập cải tạo 16 tháng. 

Năm 1975 đến 1986 đổi cư trú trên 10 lần, không nhà, không cửa, không tài sản, không vị trí gì cả trong Giáo hội cũng như trong gia đình và ngoài xã hội.  

http://www.conggiaovietnam.info/index.php?m=module3&v=chapter&ib=46&ict=578 

http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=197&ict=1409  

Nhạc sĩ Vũ Thành An: 

Theo ký giả Hạnh Dương cho biết Nhạc sĩ Vũ thành An kể rằng: “Từ khi có trí khôn tôi vẫn thao thức với câu hỏi: Mình ở cuộc đời này để làm gì?” 

Vũ Thành An kể: “Tôi đã khốn đốn trong các trại giam tại Bắc Việt. Một trong những khốn khổ mà tôi phải chịu là chứng mất ngủ. Từng đêm dài tôi đã thức trắng, sức khỏe dần yếu đi, không có thuốc để chữa chạy. Tình trạng này kéo dài cả năm từ đầu năm 1980 đến 1981. Một tối kia đa số anh em trong phòng đã say ngủ tôi nghe hai anh nói chuyện với nhau chỉ cách chỗ tôi nằm chừng hai thước. Tôi nghe anh Nguyễn văn Lai nói: “Khi nào tôi khó ngủ tôi chỉ cầu nguyện bằng cách chỉ đọc vài Kinh Kính Mừng là ngủ được ngay.” 

Nhạc sĩ Vũ Thành An kể tiếp mặc dầu anh chưa có đạo nhưng Kinh Kính Mừng thì tôi đã biết. Năm 17 tuổi tôi có người bạn gái, lúc đó sự liên lạc của chúng tôi là những trang thư và những buổi hẹn hò trong sân nhà thờ. Gặp chỉ để nói với nhau đôi câu. Một hôm đôi tay rất đẹp trinh trắng của Uyên đã trao tôi trang giấy có ghi bài Kinh Kính Mừng với nét chữ thật nắn nót. Uyên bảo tôi học thuộc đi và tôi đã thuộc. … Cho đến bây giờ tôi cũng không biết Uyên ở đâu, nhưng Kinh Kính Mừng thì ở lại.”   và trong cơn tuyệt vọng ở trại tù Bắc việt, anh đã nhẩm đọc Kinh Kính Mừng và đêm đó anh đã ngủ ngon.giấc. Và sau đó tôi đã ngủ khoảng một tuần lễ liên tiếp. Một buổi sáng thức dậy nhìn qua cửa sổ phòng giam thấy nắng xuân vàng ấm chiếu trên luống rau cải xanh do các bạn tù trồng ngoài sân tự nhiên tôi nói với bố Vũ công Định nằm bên cạnh:” Bố Định ơi, chắc là con theo đạo Chúa quá. Bố Định là một tù nhân không có đạo, ít nói, nghe vậy bố chỉ cười. Bố Định bảo Vũ Thành An đến gặp Thượng Nghị Sĩ Nguyễn văn Mân cùng ở chung phòng 1 tại trại giam Hà Tây để hỏi vì cụ Mân là người Công giáo. 

Vũ Thành An kể tiếp: “món quà đầu tiên sau khi tôi cầu cứu Đức Mẹ là bịnh mất ngủ đã không còn hành hạ tôi nữa.” 

Sau đó anh em đạo Thiên Chúa đã cho tôi tình thân ái mà trước đó tôi không có.và đã hướng dẫn cho tôi chờ ngày Rửa tôi. Nhưng đến ngày ấn định tôi xin ngưng lại. Tôi chưa sẳn sàng về tâm lý và sợ… Nhưng bắt đầu sáng tác thánh ca như “Cha là Ngôi Trời có thật”  “Mẹ ơi cứu con ra khỏi nơi này”  “Hãy nhìn lên Trời cao”. Sau hơn một tháng suy nghĩ, tôi đã xin anh em trong tù định ngày rửa tội cho tôi là ngày 19-3-1981. 

Buổi lễ diễn ra nghiêm trang dường như cả phòng đều biết nên đã giữ yên lặng khác thường. Khi bác Nguyễn thành Tiên vừa dội nước vừa đọc “Tôi rửa anh  nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” thì chừng một hai giây sau đèn điện chớp hai lần rồi bật sáng hẳn.  

Sau buổi lễ rửa tội đó, cán bộ trại đã gọi anh lên thẩm vấn anh lý do anh “gia nhập “đạo Công giáo. Tìm xem Linh mục nào dám rửa tội trong trại vì nếu truyền giáo và hành đạo ở trong trại sẽ bị cùm giam vào sà lim. 

Nhạc sĩ Vũ Thành An qua định cư tại Portland, Oregan theo diện HO. Anh đã xin đi tu và được tòa Giám Mục Portland cho theo khóa Đại học thần học và được Đức Tổng giám Mục John G. Vlazny chủ tế lễ truyền chức Thánh Phó tế vĩnh viễn ngày thứ bảy 23-11-2002.  

Hiện nay Phó tế Vũ Thành An sáng lập và phụ trách Quỹ từ thiện Têrêsa đang trợ cấp cho trên 2000 cụ già ở Việt nam. Nếu tiếp tay cho Quỹ từ thiện xin gởi về: TÊRÊSA P.O.Box 13237 Portland, OR 97213 

nguồn: www.vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=65627 

Linh Mục Nguyễn Viết Chung: 

 Một ngày vào năm 1973 các tờ báo ở Sài gòn đồng loạt đưa tin vế cái chết của Jean Cassaigne một giám Mục Công giáo người Pháp, nguyên làm Giám Mục Sài gòn nhưng lại qua đời tại một trại phong ở Di Linh, một nơi đèo heo hút gió trên đường từ Sài gòn đi Đà Lạt. Nguyễn Viết Chung đọc tiểu sử của vị cố Giám Mục trên báo và không hiểu do đâu anh lại mong muốn được nên giống Ngài ở chỗ phục vụ người cùng khổ cho đến hơi thở cuối cùng. Anh chẳng biết gì về Đạo Công giáo thế mà Đức Cha Cassaigne lại là thần tượng của anh. 

Năm 1974. Chung học Y Khoa Đại Học Đường Sài gòn. Tại đây anh gặp người công giáo đầu tiên trong đời anh là giáo sư bác sĩ Lichtenberger, người Bỉ, dạy môn Mô phôi học. Chung ngưởng mộ sự uyên bác khoa học vô song của ông. Các bài giảng vô cùng sinh động và phong phú của nhà khoa học uyên thâm một cách lạ lùng làm cho Chung mê mẫn. Chung kinh ngạc khám phá vị Giáo sư khả kính này là một Linh Mục dòng tên. Anh thường cùng các bạn trường Y đến nhà thờ để xem Giáo sư Lichtenberger dâng lễ…. 

Những năm học Y khoa không phải là dễ dàng đối với Nguyễn Viết Chung anh phải làm thêm nhiều việc nặng nhọc kể cả đạp xích lô để kiếm tiền ăn học và phụ giúp gia đình.  

Năm 1984, bác sĩ Chung khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên trại phong Di Linh  để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng thủ tục hành chánh thì anh phải trình diện và chịu sự điều động của Sở Y tế Lâm Đồng.  

Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:  

-“Anh có điên không hay là anh bị cùi?”.

-“Nếu tôi cùi thì bà đã thấỳ rồi.Còn có điên hay không thì tôi không biết nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.” 

Từ ngày 01-7-1986 anh về làm việc tại phòng chống sốt rét của tỉnh Đồng Nai cho tới năm 1989. Từ năm 1990-1992 đổi về làm tại phòng xét nghiệm của bịnh viện da liễu Sài gòn. Ở đây anh xin học thêm chuyên khoa da liễu vì anh không bao giờ anh quên mộng ước của mình. 

Năm 1993 Bác sĩ Chung tình nguyện lên công tác tại trại Phong Bến Sắn, Bình Dương. Tại đây anh làm việc hăng say như để đạt được tâm nguyện của mình giống như Đức Giám Mục Cassaigne trong việc phục vụ bịnh phong cùi. Anh hết sức tận tụy không nề hà. Nhưng dù như thế anh vẫn thấy mình thua xa các nữ tu nữ Tử Bác ái trong việc yêu thương phục vụ người bịnh. Các nữ tu luôn nhẫn nại lắng nghe phục vụ người bịnh hết lòng, không bao giờ làm họ buồn tủi. Tinh thần hy sinh, quảng đại đó khiến cho anh cảm phục. Anh cho rằng muốn có được tinh thần yêu thương người nghèo khổ như thế anh phải trở thành một người giống như các nữ tu. Anh chưa phải là người công giáo nên anh không thể hiểu được tinh thần làm việc của các Sơ.  Anh cũng muốn được phục vụ với tinh thần giống như các Sơ.  

Ngày 28-8-1993 bác sĩ Chung đến gặp Cha Hoàng văn Đoàn, dòng tên, tại Bình Dương xin học giáo lý tân tòng. Ngày 15 tháng 5 năm 1994 bác sĩ Chung được cha chính xứ Bến Sắn, Linh mục Trần Thế Thuận làm lễ rửa tội cho anh tại nhà nguyện trại phong Bến Sắn. Nhưng bác sĩ Chung chưa hài lòng khi chưa được trở nên giống các Sơ để có thể yêu thương phục vụ người nghèo. Ở tuổi tứ tuần theo đuổi ơn gọi tu sĩ là một điều quá khó khăn.  

Ngày 15.9.1994 bác sĩ Chung trở thành tập sinh lớn tuổi nhất của dòng Vinh Sơn nam số 40 đườngTrần Phú, Đà Lạt. Ngày lễ truyền tin 25.3.2003 Giáo hội trao tác vụ Linh mục cho thầy Augustinô Nguyễn Viết Chung qua lễ đặt tay của Giám mục Giuse Vũ Duy Thống tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài gòn. 

 Ngày  3.4.2003, Linh Mục Nguyễn Viết Chung quay về trại phong Bến sắn dâng Thánh lễ tạ ơn trong sự hân hoan của các bịnh nhân phong với sự hiện diện của cha sở Bến sắn, người mà 9 năm trước đây đã làm lễ rửa tội cho cha. Vẫn thái độ khiêm nhường, yêu thương và cung kính với các người bịnh vẫn xưng mình là “con” khi nói chuyện với các bịnh nhân lớn tuổi. 

Tháng 3 năm 2009 tôi có về Sài gòn có dẫn người cháu đến thăm Linh mục Nguyễn Viết Chung, cha dong dõng cao, hơi ốm, nói năng nhỏ nhẹ: “ “con” cũng chỉ là cái máng để hứng lấy tình yêu thương của mọi người để mang đến cho những người kém may mắn”.   

Nhà văn Hương Vĩnh có viết: “Ba vị đã tác động mạnh mẻ trên ơn gọi của cha Chung là Giám mục Jean Cassaigne, Linh mục Lichetenberger và Dì hai Loan ( phục vụ trại phong Bến Sắn 17 năm, chết vì bịnh ung thư ở tại trại này). Cả ba cùng có mẫu số chung – như lời cha Chung – đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói. 

nguồn:  http://www.chungnhanduckito.net/chungnhan/saubathapnien.htm 

Trong bài “Nguyễn Viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ” cố Giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết trong đoạn kết của bài này như sau:  

“Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian. Nguyễn Viết Chung biết chắc lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan.. đấy là chưa kể đến nhiều người khác trong đó có thân mẫu của mình một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi Cha Lichtenberger vì tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa. Và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bịnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, bác sĩ Nguyễn Viêt Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bịnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chiụ đóng đinh trong những con người bất hạnh. Và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành Linh Mục của Chúa vào tuổi 48.” 

http://www.tiengnoigiaodan.net/lcht/lcht_098.html                     

                             Linh mục Nguyễn Viết Chung

                              479/15 Nguyễn Kiệm

                             Phường 9, Quận Phú Nhuận (Sài Gòn) 

 Tạ Phong Tần:  

Tạ Phong Tần là cựu Đại Úy? ngành Công an của nhà nước cộng sản Việt nam. Đã rời khỏi cơ quan nhà nước và làm việc văn phòng luật sư Lê Trần Luật. Bà đã được Rửa tội ngày 14 -6-2009 tại Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 38 đường Kỳ Đồng Quận 3, Sài gòn, lúc bà 41 tuổi. Bà đã viết nhiều bài báo về thực trạng xã hội Việt nam trong “ Blog Công lý và Sự Thật” mà bà đang chủ trương. 

http://conglysuthat.blogspot.com/2009/07/thanh-le-rua-toi-cho-maria-ta-phong-tan.html   

Nhiều trường hợp gia nhập đạo với nhiều lý do khác nhau như Bác sĩ, Nghị sĩ Đặng văn Sung, Chủ nhiệm báo Chính Luận trước năm 1975, ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh, ca sĩ Thanh Lan (chịu phép thánh tẩy tại Vatican vào năm 2003)… Ở trong nước còn nhiều người nữa như Học giả Cao Xuân Huy, Nhạc sĩ Văn Cao…  

Theo Vietcatholic news (18 Oct 2009) Giáo phận Xuân Lộc đón nhận 1114 tân tòng và hơn 2000 người là thân nhân, họ hàng, bạn bè của các tân tòng. Chủ sự Thánh lễ, Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh chủ chăn của giáo phận Xuân Lộc cùng đồng tế có Đức cha Micaen Hoàng Đức Oanh Giám mục giáo phận Kon tum  v.v.… và hơn 50 cha trong giáo phận.

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=72201 

Ở mỗi giáo xứ hay mỗi nhà thờ hàng năm đều có làm lễ “Rửa tội” cho người lớn thông thường con số cũng vài chục người. Trong số những người nhận Bí tích thanh tẩy, con số không nhỏ là những người trí thức.

  Con đường đến với Thiên Chúa tình yêu, đến với Hội Thánh Chúa bằng nhiều cách khác nhau. Tất cả đều được Thiên Chúa yêu thương mời gọi tìm về suối nguồn tình yêu là Thiên Chúa toàn năng, để được an ủi, để được hạnh phúc đời này lẫn hạnh phúc vĩnh cữu đời sau, sau khi mất. 

Phùng văn Phụng

mùa Giáng Sinh 2009

(27 tháng 12)

(tri’ch Sách: “Tâm Tình Gởi lại” cùng tác giả)


 

Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?… Chính Thầy đây mà !” (Lc 24:38)-Cha Vương

 Chúc bạn và gia đình ngày Chúa Nhật tràn đầy bình an và sức sống 

Xin Chúa mở tâm trí bạn để có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục Sinh đang sống trong những người bạn gặp gỡ hôm nay. Nhớ cầu nguyện cho nhau và toàn thể giới nhé.

Cha Vương

CN: 19/04/2026    (n23-23)

TIN MỪNG: Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?… Chính Thầy đây mà !” (Lc 24:38)

SUY NIỆM: Người chết sống lại là một biến cố thực sự gây hốt hoảng, khó tin. Khi Chúa hiện đến, các tông đồ đã kinh hồn bạt vía vì tưởng là ma. Chúa Giê-su đã trấn an các tông đồ và minh chứng cho việc phục sinh trước hết bằng các thương tích trên thân xác và ăn uống trước mặt các ông. Con người không phải là thiên thần và càng không là ma quỉ để làm cho người khác phải hốt hoảng ngờ vực về những việc khác thường. Nhiều khi con người lầm tưởng phải là siêu nhân mới có thể làm được những việc siêu nhiên. Con Thiên Chúa đã hoàn tất chương trình cứu độ bằng chính cuộc sống như con người bình thường như bạn vậy. Thân phận con người yếu đuối của bạn đã được Con Thiên Chúa vực dậy bằng cách đóng đinh nó vào thánh giá và phục sinh nó trong địa vị người con của Thiên Chúa. Vững tin vào tình yêu của Đấng Phục Sinh, bạn sẽ bước đi từng bước vững vàng. Do đó khi bạn sống cuộc đời thường nhưng sống thật hoàn hảo theo tinh thần Tin Mừng, trong niềm tin vào Đức Ki-tô phục sinh, tức là bạn đã bước vào lãnh vực siêu nhiên, đã có thể cùng Chúa Giê-su mang ơn cứu độ đến cho thế giới. 

LẮNG NGHE: Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán. (1 Cr 2:14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã phục sinh để dạy con sống thật tốt cuộc sống Chúa đã trao ban hôm nay. Xin giúp con chu toàn cùng với Ơn Thánh Chúa ban.

THỰC HÀNH: Tình nguyện làm việc người khác không muốn làm.

From: Do Dzung

***************************

TRÊN ĐƯỜNG EM-MAU – sáng tác: Lm Thành Tâm / tiếng hát: Ý Hiền-Phạm Phương

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Nhật Ký Yêu Nước

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Lịch sử loài người hiếm khi cung cấp một phòng thí nghiệm hoàn hảo để thử nghiệm các học thuyết chính trị như bán đảo Triều Tiên sau năm 1945. Cùng một dân tộc, cùng một dòng máu, cùng một nền văn hóa ngàn năm, nhưng bị xẻ làm đôi chỉ vì một đường kẻ vô tri trên bản đồ — vĩ tuyến 38. Bảy mươi năm sau, đường kẻ ấy không chỉ phân chia lãnh thổ, mà nó phân chia giữa thiên đàng và địa ngục, giữa ánh sáng văn minh và bóng tối của thời trung cổ hoang dã.

Một Dân Tộc, Hai Số Phận: Vở Kịch Hài Hước Của Ý Thức Hệ

Cả Bắc Triều Tiên và Nam Hàn đều khởi đầu từ đống tro tàn của chiến tranh, với xuất phát điểm nghèo khó như nhau. Nhưng “phép màu” đã xảy ra nhờ vào sự lựa chọn ý thức hệ.

Tại Nam Hàn: Họ chọn con đường “tư bản giãy chết”. Và kết quả thật thảm hại! Họ bị buộc phải sống trong một xã hội tự do dân chủ, văn minh và giàu có đến mức… phát ngấy. Chẳng có gì vui vẻ khi chỉ sau 40 năm, họ bị biến thành một con rồng châu Á, sở hữu các tập đoàn toàn cầu như Samsung, Hyundai, làm chủ công nghệ cao và có mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp 10 lần người Việt Nam. Thật là một cuộc sống “mất gốc” nhạt nhẽo!

Trong khi đó, tại Bắc Triều Tiên: Họ chọn con đường “thiên đường cộng sản” rực rỡ. Tại đây, người dân được tận hưởng sự bình đẳng tuyệt đối trong nghèo nàn và lạc hậu. Họ được giải thoát khỏi gánh nặng của tự do ngôn luận, tự do đi lại và ngay cả tự do… ăn no. Mỗi ngày, họ được đắm mình trong ánh hào quang của vị “Lãnh tụ kính yêu”, người luôn lo lắng cho họ đến mức phải bắn tên lửa ra biển để… dọa cá, trong khi người dân lặng lẽ gặm rễ cây để sinh tồn. Đó mới chính là đỉnh cao của sự “bền vững”!

Sự mỉa mai nằm ở chỗ, cộng sản Bắc Hàn luôn rêu rao về việc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ. Nhìn vào sự đối lập này, người ta chỉ biết cười ra nước mắt cho cái định nghĩa “giải phóng” của họ. Nó giống như một người sống trong hang động cầm đuốc muốn “giải phóng” một người đang sống trong căn hộ thông minh có điện lưới quốc gia.

Ẩn Số 30-4 Và Cú Lừa Của Lịch Sử Việt Nam

Nhìn sang Việt Nam, nỗi đau 30-4-1975 lại càng nhói lên sắc lạnh. Chúng ta cũng có một kịch bản tương tự: Cộng sản miền Bắc xua quân “giải phóng” miền Nam khỏi đế quốc Mỹ và chính phủ “bù nhìn”. Sự khác biệt duy nhất là Việt Nam không có một phòng tuyến vĩ tuyến 17 vững chắc như vĩ tuyến 38 của Triều Tiên. Chúng ta đã “thắng” cuộc chiến, để rồi… thua trong hòa bình.

Hậu quả của chiến thắng ấy là gì? Là ngày nay, hàng triệu người Việt Nam phải ngậm ngùi xếp hàng xin visa đi xuất khẩu lao động, làm cu li, làm nô công cho chính người Nam Hàn — những người suýt chút nữa cũng bị “giải phóng” giống như chúng ta. Là những người con gái Việt Nam xinh đẹp phải ngậm đắng nuốt cay sang lấy chồng Nam Hàn, mong đổi đời, mong thoát khỏi cái nghèo đói của “quê hương anh hùng”.

Giả Thuyết Chấn Động: Nếu Bắc Hàn Giải Phóng Nam Hàn Thành Công?

Hãy tưởng tượng một kịch bản chấn động: Nếu năm 1950, quân cộng sản Bắc Hàn đánh đuổi được quân Đồng Minh xuống biển, và ngày hôm nay toàn bộ bán đảo Triều Tiên là một quốc gia cộng sản dưới sự lãnh đạo của gia tộc Kim.

Nếu điều đó xảy ra, lịch sử sẽ được viết lại theo một cách đầy châm biếm:

Lao Động Xuất Khẩu: Sẽ không có chuyện hàng vạn người Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc. Ngược lại, chính người dân Nam Hàn — sau khi được “giải phóng” thành công — sẽ phải xếp hàng nườm nượp tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bình Nhưỡng để xin visa đi… xuất khẩu lao động tại Việt Nam. Họ sẽ đến Bình Dương, Đồng Nai để làm công nhân may mặc, giày da với mức lương chết đói, trong khi quê hương họ đang say sưa với các thành tựu… sản xuất máy cày chạy bằng than đá.

Lấy Chồng Nước Ngoài: Sẽ không có những câu chuyện buồn về cô dâu Việt lấy chồng Hàn. Thay vào đó, những chàng trai Việt Nam — nhờ lợi thế kinh tế gấp 10 lần — sẽ là đối tượng săn đón của các cô gái Nam Hàn. Họ sẽ mơ ước được gả về một vùng quê nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long để được… ăn cơm no ba bữa và thoát khỏi sự kiểm soát gắt gao của tổ dân phố tại Seoul.

May Mắn Thay Cho Hàn Quốc, Và Đau Đớn Thay Cho Việt Nam

Sự đối lập giữa Bắc và Nam Triều Tiên là một bản án đanh thép, không thể chối cãi dành cho ý thức hệ cộng sản. Cùng một dân tộc, ý thức hệ tư bản đã tạo nên một kỳ tích, còn ý thức hệ cộng sản đã tạo nên một thảm kịch.

Nhờ sự kiên cường của quân đội Nam Hàn và sự hỗ trợ kịp thời của Đồng Minh, họ đã giữ vững được tiền đồn tự do dân chủ tại vĩ tuyến 38. Nhờ không bị “giải phóng”, họ đã không phải trải qua những năm tháng bao cấp đói nghèo, không phải đi “học tập cải tạo”, và quan trọng nhất là không phải biến thành một quốc gia xuất khẩu nô công như Việt Nam.

Nhìn ngày 30-4, người Việt Nam chỉ có thể cay đắng nhận ra một điều: Chúng ta đã thua một cuộc chiến với quân cộng sản để rồi ngày nay dân tộc ta phải cúi đầu làm chư hầu lao động cho chính những kẻ mà chúng ta từng suýt chút nữa đã… vượt xa về kinh tế. Đó chính là bi kịch lớn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại, một cú lừa của ý thức hệ mà chúng ta vẫn đang phải trả giá mỗi ngày.


 

Giá xăng tăng vọt, hàng trăm tài xế Uber, Lyft ở California bỏ nghề

Ba’o Nguoi – Viet

April 18, 2026 FacebookTwitterEmailPrint

LOS ANGELES, California (NV) – Cuộc chiến Iran đẩy giá xăng tăng vọt tại California, mức cao nhất toàn quốc, đang đẩy hàng trăm ngàn tài xế Uber và Lyft vào tình thế khó khăn, buộc nhiều người phải giảm giờ làm hoặc bỏ việc, theo bản tin của Los Angeles Times ngày Thứ Bảy, 18 Tháng Tư.

Dữ liệu từ American Automobile Assn., giá xăng trung bình tại California hiện gần $6 mỗi gallon, trong khi mức trung bình toàn quốc chỉ hơn $4. Một số trạm xăng tại Los Angeles thậm chí có giá hơn $8 cho mỗi gallon. 

Xăng trên $8/gallon ở Los Angeles, California, từ đầu Tháng Tư. (Hình: Mario Tama/Getty Images)

Giá xăng tăng vọt này diễn ra trong bối cảnh chiến tranh tại Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung cấp năng lượng toàn cầu, khiến chi phí nhiên liệu leo thang nhanh chóng, ảnh hưởng trực tiếp vào hoạt động làm việc của các tài xế trong dạng hành nghề tự do “gig” mà họ phải tự gánh chi phí vận hành. 

Ông John Mejia, một tài xế Lyft tại San Francisco Bay Area, cho biết thu nhập của ông giảm mạnh. Trước đây, ông có thể kiếm $400 chỉ trong ba giờ, nhưng hiện nay ông phải “cày” suốt 12 giờ mà chỉ được $200.

“Đó là bài toán kinh tế giữa việc trả ít cho tài xế và giá xăng,” ông Mejia nói. “Điều đó khiến mọi người phải bò nghề.” 

Không chỉ ông Mejia, nhiều tài xế khác cũng chia sẻ tình trạng tương tự. Bà Margarita Penalosa, tài xế toàn thời gian tại Los Angeles, cho biết trước đây bà có thể kiếm $300 trong tám giờ làm việc. Hiện nay, bà chỉ đạt khoảng $250 dù làm đến 14 giờ mỗi ngày.

“Trừ chi phí xăng, hao mòn xe và bảo trì, coi như tôi chỉ còn lại khoảng 11 đồng mỗi giờ,” bà nói. 

Trước áp lực chi phí, các tài xế buộc phải thay đổi cách làm việc. Nhiều người chọn lọc kỹ chuyến xe, tránh khu vực kẹt xe nặng, hoặc chờ những cuốc xe có giá cao hơn. Một số tài xế đang tính đến chuyện chuyển sang xe điện hoặc tìm nguồn thu nhập khác.

California hiện có hơn 800,000 tài xế làm việc theo dạng công nghệ, theo California Gig Workers Union. Với quy mô lớn như vậy, bất kỳ biến động nào về chi phí nhiên liệu đều có thể tạo ra ảnh hưởng lan rộng đến thị trường lao động và dịch vụ vận chuyển.

Các công ty như Uber và Lyft cho biết họ đã đưa ra một số biện pháp hỗ trợ, bao gồm hoàn tiền khi đổ xăng hoặc giảm giá thông qua các chương trình liên kết. Tuy nhiên, nhiều tài xế cho rằng các chương trình này có quá nhiều điều kiện, khiến lợi ích thực tế không đáng kể.

“Nếu tính toán kỹ, rất vô lý,” ông Mejia nói. “Họ không giúp gì cho chúng tôi cả.” 

Các chuyên gia kinh tế cảnh báo ngay cả khi nguồn cung dầu ổn định trở lại, giá xăng cũng khó giảm nhanh. Ông Mark Zandi, kinh tế gia trưởng tại công ty phân tích thị trường Moody’s Analytics, nhận định giá nhiên liệu thường “tăng như hỏa tiễn nhưng giảm như lông chim rơi,” ám chỉ quá trình giảm giá sẽ diễn ra chậm.

Trong bối cảnh đó, ngành dịch vụ gọi xe công nghệ có thể đối mặt với những thay đổi đáng kể. Nếu nhiều tài xế tiếp tục rời bỏ, các công ty có thể buộc phải tăng giá cước để giữ chân lực lượng lao động, càng thúc đẩy chi phí sinh hoạt tăng cao hơn nữa.

Sự việc phản ánh một vòng xoáy kinh tế quen thuộc đó là giá nhiên liệu tăng không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn trực tiếp tác động đến những người lao động ở mọi tầng lớp. (MPL) [dt]


 

Biến chứng tiểu đường : Bạn có thể làm gì ?        

 (Diabetes Complications : What You Can Do)

          SUSAN BERNSTEIN

Khi bệnh tiểu đường trở nên mất kiểm soát, nó có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể. Lượng đường trong máu quá cao có thể làm tổn thương dây thần kinh và mạch máu, dẫn đến nhiều vấn đề khác nhau.

Nhưng những biến chứng đó không phải là điều chắc chắn sẽ xảy ra với tất cả những người mắc bệnh tiểu đường – có rất nhiều điều bạn có thể làm để tránh chúng. Cùng với điều trị, thói quen sống lành mạnh có thể giúp bạn kiểm soát bệnh và ngăn ngừa các vấn đề khác.

   BỆNH TIỂU ĐƯỜNG CÓ THỂ GÂY RA NHỮNG GÌ ?

Lượng đường trong máu cao có thể ảnh hưởng đến nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể :

   MẮT

Bệnh tiểu đường làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề về thị lực, bao gồm cả mù lòa. Nó có thể gây ra:

  • Đục thủy tinh thể : Thủy tinh thể của mắt bị mờ đục.
  • Bệnh tăng nhãn áp : Bệnh này có thể làm tổn thương dây thần kinh nối mắt với não và khiến bạn nhìn kém.
  • Bệnh võng mạc : Bệnh này liên quan đến những thay đổi ở võng mạc phía sau mắt.

   TIM MẠCH

Nhiều năm đường huyết cao có thể làm tổn thương các mạch máu và dây thần kinh chăm sóc tim. Điều đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Nó có thể gây suy tim sớmđau tim hoặc đột quỵ về sau. Huyết áp cao và cholesterol cao càng làm tăng khả năng xảy ra các vấn đề này.

      THẬN

Bệnh tiểu đường cũng có thể ảnh hưởng đến các mạch máu trong thận, khiến chúng hoạt động không tốt. Sau nhiều năm gặp vấn đề, chúng có thể ngừng hoạt động.

        BÀN CHÂN

Lượng đường trong máu cao có thể làm suy giảm lưu thông máu và tổn thương dây thần kinh, dẫn đến các vết cắt, trầy xước hoặc vết loét khó lành. Bạn có thể bị mất cảm giác ở bàn chân, khiến bạn không nhận ra các vết thương có thể bị nhiễm trùng. Nếu nhiễm trùng trở nên nghiêm trọng, bạn có thể cần phải cắt bỏ một bàn chân.

     HỆ THẦN KINH

Nếu lượng đường trong máu cao làm tổn thương các dây thần kinh, gọi là bệnh thần kinh do tiểu đường, bạn có thể cảm thấy đau, tê hoặc ngứa ran, đặc biệt là ở bàn chân.

           DA 

Bệnh tiểu đường có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nấm men, ngứa ngáy, hoặc xuất hiện các mảng da nâu hoặc có vảy.                                           

  RỐI LOẠN CƯƠNG DƯƠNG

Nam giới mắc bệnh tiểu đường có thể có nguy cơ gặp các vấn đề về tình dục, vì lượng đường trong máu cao có thể làm giảm lưu lượng máu và làm tổn thương các dây thần kinh cần thiết cho cơ thể để đạt được và duy trì sự cương cứng.

                                       CÁCH GIẢM THIỂU RỦI RO

Những thói quen tốt đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các vấn đề sức khỏe khác mà bệnh tiểu đường có thể gây ra. Hãy biến những lời khuyên này thành một phần trong thói quen chăm sóc sức khỏe thường xuyên của bạn:

Kiểm soát chặt chẽ lượng đường trong máu.  Đó là cách tốt nhất để tránh các biến chứng của bệnh tiểu đường. Mức đường huyết của bạn nên duy trì ở mức khỏe mạnh như sau :

  • Từ 70 đến 130 mg/dL trước bữa ăn
  • Dưới 180 mg/dL 2 giờ sau khi bắt đầu bữa ăn
  • Mức hemoglobin glycated hoặc chỉ số A1C dưới 7%

Hãy theo dõi huyết áp và cholesterol của bạn.  Nếu chúng quá cao, bạn sẽ dễ mắc các vấn đề sức khỏe khác như bệnh tim. Cố gắng giữ huyết áp dưới 140/90 và tổng lượng cholesterol ở mức 200 hoặc thấp hơn. Bác sĩ có thể kê đơn thuốc để giúp bạn đạt được điều đó.

Hãy đi khám sức khỏe định kỳ.  Bác sĩ có thể kiểm tra máu, nước tiểu và thực hiện các xét nghiệm khác để phát hiện bất kỳ vấn đề nào. Những lần khám này đặc biệt quan trọng, vì nhiều biến chứng của bệnh tiểu đường không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng.

Đừng hút thuốc.  Hút thuốc làm tổn hại đến lưu thông máu và làm tăng huyết áp. Nếu bạn cần giúp đỡ để bỏ thuốc, bác sĩ có thể đề xuất các phương pháp điều trị phù hợp với bạn.

Hãy bảo vệ đôi mắt của bạn.  Khám mắt định kỳ mỗi năm một lần. Bác sĩ có thể kiểm tra xem mắt có bị tổn thương hoặc mắc bệnh gì không.

Kiểm tra bàn chân mỗi ngày.  Tìm xem có vết cắt, vết loét, vết trầy xước, mụn nước, móng chân mọc ngược, vết đỏ hoặc sưng tấy nào không. Rửa và lau khô chân cẩn thận mỗi ngày. Sử dụng kem dưỡng ẩm để tránh da khô hoặc nứt gót chân. Mang giày khi đi trên vỉa hè nóng hoặc trên bãi biển, và mang tất và giày khi trời lạnh. Kiểm tra nước tắm trước khi vào để tránh bị bỏng chân. Cắt tỉa và giũa móng chân thẳng.

Hãy chăm sóc da của bạn.  Giữ cho da sạch sẽ và khô ráo. Sử dụng phấn rôm ở những vùng da dễ bị cọ xát, như nách. Tránh tắm nước quá nóng hoặc sử dụng xà phòng hay sữa tắm làm khô da. Dưỡng ẩm da bằng kem dưỡng thể và kem dưỡng tay. Giữ ấm trong những tháng mùa đông lạnh giá. Sử dụng máy tạo độ ẩm trong phòng ngủ nếu cảm thấy quá khô.

SOURCES :

American Diabetes Association.

Cleveland Clinic.

International Diabetes Federation.

Virginia Mason Hospital Benaroya Diabetes Center.

National Institute of Diabetes and Digestive and Kidney Diseases.

American Heart Association.


 

ĐÓI CHO ĐẾN KHI NO – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn!”.

Allen Gardiner, nhà truyền giáo tại cực nam Nam Mỹ, qua đời năm 1851 trong đói khát và cô đơn. Bên cạnh thi thể ông là cuốn nhật ký; dòng cuối run rẩy: “Tôi choáng ngợp vì sự tốt lành của Thiên Chúa, và đó là điều duy nhất có thể thoả mãn một linh hồn đói!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy cơn đói đích thực của linh hồn: sự tốt lành của Thiên Chúa – chính Ngài. Càng có Ngài, linh hồn càng choáng ngợp; nhưng cũng càng đói hơn – ‘đói cho đến khi no’.

Trong Gioan, “lương thực thường tồn” không còn là vật chất, nhưng là cibus permanens – lương thực ở lại. Chúa Giêsu không phủ nhận cơn đói thể lý; nhưng Ngài mở ra một chiều kích khác: con người không chỉ đói bánh, nhưng đói chính Thiên Chúa. Vì thế, vấn đề không còn là có ăn, nhưng ăn gì; không phải lấp đầy, nhưng là được nuôi sống. Và chỉ nơi Ngài, cơn đói ấy mới chạm đến điều nó thực sự tìm kiếm; vì “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa; và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa!” – Augustinô.

Chúa Giêsu coi trọng “lương thực mau hư nát”; Ngài không chịu cảnh hàng ngàn người đói giữa đồng vắng, bởi lẽ cơm bánh dù chóng qua vẫn luôn có sức hấp dẫn. Nhưng con người dễ nuôi mình bằng của ăn, tiền bạc, thành công, quyền lực; và càng tích luỹ, càng tưởng mình đã no. Vậy mà tận sâu thẳm, cơn đói vẫn còn đó; không biến mất, chỉ bị che lấp. Vì những gì mau qua không thể trở thành lương thực ở lại. Vì thế, con người tiếp tục tìm, tiếp tục lấp đầy, tiếp tục đói – ‘đói cho đến khi no’.

Chúa Giêsu không chỉ nói về một thứ lương thực; Ngài tự đặt mình như lương thực ấy: panis vitae – bánh sự sống. Vì thế, tin vào Ngài không chỉ là một chọn lựa, nhưng là một cách sống: sống trong Ngài, sống nhờ Ngài và sống cho Ngài. Têphanô là người đã đi đến tận cùng cơn đói ấy. Khi bị ném đá, ông không tìm một lối thoát, nhưng ngước nhìn: “Kìa, tôi thấy trời mở ra!”. Không còn là lương thực, nhưng là thị kiến; không còn là thiếu thốn, nhưng là no thoả. Ở đó, ‘linh hồn đói’ không còn bị che lấp, nhưng được chạm đến tận căn; và chính khi đối diện cái chết, ông no thoả. “Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cơn đói đạt đến chiều sâu cuối cùng: Ngài đói Chúa Cha và được no thoả trong Cha; cũng chính vì thế, Ngài mang lấy cơn đói của Cha – đói các linh hồn. “Ngài khao khát!” – Mẹ Têrêxa. Nơi Ngài, cơn đói không còn là thiếu thốn, nhưng là một tình yêu đi tìm, cách riêng các tội nhân; không còn là khoảng trống, nhưng là hiệp thông được mở ra. Và ai ở trong Ngài, không chỉ được no thoả, nhưng còn bắt đầu chia sẻ với Ngài chính cơn đói ấy – ‘đói cho đến khi no’; vì “được hiệp thông với Đức Kitô là được tham dự vào chính ước muốn của Ngài!” – Von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con chưa biết đói Chúa; xin cho con được no trong Ngài, và biết đói điều Ngài đang đói: linh hồn con và bao linh hồn!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần III Phục Sinh

Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,22-29

22 Sau khi Đức Giê-su cho năm ngàn người ăn no nê, các môn đệ thấy Người đi trên mặt Biển Hồ. Hôm sau, đám đông dân chúng còn đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền và Đức Giê-su lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông đi mà thôi. 23 Tuy nhiên, có những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn. 24 Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. 25 Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói : “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy ?” 26 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. 27 Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” 28 Họ liền hỏi Người : “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.” 


 

Thứ ba thì ngắm—Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống – Cha Vương

Mến chào bình an trong Chúa và Mẹ! Trong những bận rộn của ngày cuối tuần, hy vọng Bạn đừng quên món quà cao quý của Chúa Thánh Thần. Hãy bắt chước Đức Mẹ Maria tại cửa nhà của Elizabeth, hãy mang niềm vui sướng của Chúa Thánh Thần đến cho những người mình gặp hôm nay. Nhớ cầu nguyện cho nhau và cho thế giới nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 18/04/2026.   (n20-24)

NĂM SỰ MỪNG: Thứ ba thì ngắm—Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trước tâm trạng buồn sầu, chán nản của các tông đồ sau khi nghe Chúa Giêsu báo trước về việc Ngài sẽ bị bắt, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá (x. Ga 13; Mt 20: 17-19). Đặc biệt, trong lời tâm sự với các tông đồ trong bữa Tiệc Ly trước khi chịu chết để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu trấn an họ và hứa sẽ xin Chúa Cha gửi Chúa Thánh Thần đến ở với họ mãi mãi, và Ngài gọi Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo trợ, Đấng Bào Chữa (Ga 14:16;16:7). Vậy mỗi khi buồn sầu, chán nản, yếu đuối, bối rối, hoặc gặp thử thách, Bạn hãy xin ơn Chúa Thánh Thần để Ngài truyền sức mạnh, soi sáng và hướng dẫn Bạn sống Đức Tin của mình mỗi ngày. 

Hôm nay qua việc suy gẫm 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy xin cho được lòng đầy rẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi. (Cvtđ 2:1) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. (Cvtđ 2:2) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. (Cvtđ 2:3) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho. (Cvtđ 2:4) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. (Cvtđ 2:5) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Bấy giờ, ông Phê-rô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói. (Cvtđ 2:14) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. (Cvtđ 2:38) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo. (Cvtđ 2:41) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến, và xin canh tân bộ mặt trái đất (Tv 103:30). Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Lạy Chúa Thánh Thần, xin xuống tràn ngập tâm hồn các tín hữu Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong lòng họ. Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay… 

From: Do Dzung

***********************

THÁNH THẦN XIN HÃY ĐẾN || Sáng Tác: Lm. Thành Tâm || Ca Sỹ: Phi Nguyễn – Diệu Hiền

NHẬN RA ĐẤNG BIẾN MẤT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất”.

“Đấng Phục Sinh được nhận ra trong việc bẻ bánh!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, hai môn đệ Emmaus đi với Chúa Giêsu mà không nhận ra Ngài; đến khi nhận ra, Ngài lại biến mất. Không phải họ chưa từng thấy Ngài, nhưng chỉ khi mất đi, họ mới thực sự ‘nhận ra Đấng biến mất’.

Vậy điều gì đã xảy ra? Tin Mừng nói rõ: “mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Ngài”; một passivum divinum, thể bị động thần linh, như thể chính Thiên Chúa trì hoãn việc nhận ra. Không phải họ chưa thấy, nhưng cái thấy chưa trở thành nhận biết. Họ đi với Đấng Phục Sinh, nghe Ngài, mà vẫn không nhận ra; cũng như chúng ta nhiều khi nghe, hiểu, mà vẫn không chạm tới Ngài. Và chính trong những lúc như thế, khi chúng ta tưởng mọi sự đã tắt, niềm hy vọng chỉ còn tro tàn; bên dưới lớp tro nguội vẫn còn một đốm than hồng, chỉ chờ được thổi bùng. Chỉ khi mọi sự đã qua, lúc mọi sự đã lắng xuống, chúng ta mới thực sự ‘nhận ra Đấng biến mất’, như Đức Phanxicô nói: “Chỉ sau biến cố, các môn đệ mới hiểu điều họ đã trải qua!”.

Chính trong hành vi bẻ bánh, mọi sự bắt đầu thay đổi. Không phải trong lúc đi đường hay nghe giải thích, nhưng trong một cử chỉ quen thuộc, mắt họ mở ra. Truyền thống gọi đó là một nhận biết mang tính bí tích: recognitio in fractione panis, “sự nhận ra trong việc bẻ bánh”. Ngài không được nhận ra bằng cái thấy, nhưng trong một hành vi trao ban chính mình. Vì thế, việc nhận ra không đến từ nỗ lực hiểu biết, nhưng từ một hành vi được cử hành; cũng như trong đời sống chúng ta, chính những điều quen thuộc lại là nơi Ngài ẩn mình. “Có một điều thánh thiêng, một điều thần linh, ẩn giấu trong những hoàn cảnh bình thường nhất!” – Josemaría Escrivá.

Điều đã xảy ra trên đường Emmaus tiếp tục trong chính cấu trúc đời sống của Hội Thánh. Khi Lời được công bố, Ngài mở trí để hiểu; khi bánh được bẻ ra, Ngài được nhận ra. Không phải một ký ức, nhưng là một hiện tại đang diễn ra; Hội Thánh lắng nghe, tuyên xưng, và rao giảng cho muôn dân “biết đường về cõi sống” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính Phêrô đã nói: “Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại” – bài đọc một; và chúng ta được cứu chuộc “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô” – bài đọc hai. Vậy mà ngay giữa những điều được cử hành mỗi ngày, nhiều khi chúng ta vẫn chưa nhận ra Ngài ngay trong chính đời sống mình.

Anh Chị em,

Và tất cả quy về Chúa Kitô. Ngài đang sống với Chúa Cha nhưng vẫn hiện diện giữa Hội Thánh, giữa lòng thế giới; Ngài tỏ mình cho từng người, nâng dậy những tâm hồn mỏi mệt, những ai đang thất vọng ‘đi về hướng tây’, quay lưng và không còn muốn trở lại. Qua các chứng nhân phục sinh, Ngài đang nhen lên ngọn lửa đã tắt, đưa họ trở về Giêrusalem, ‘hướng mặt trời mọc’, nơi họ từng không còn muốn quay về. “Đức tin là một ngọn lửa phải luôn được nhen lại!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bỏ đi, xin kéo con về; khi con tắt lửa, xin đốt lại tim con; và khi con không thấy, cho con nhận ra Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*****************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III PHỤC SINH – NĂM A

Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 24,13-35

13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”

25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”

33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.


 

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo –  Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo

 Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11:29)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Trong bảy mối tội đầu thì

 1)Thứ nhất là khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29).

Trong một thế giới đề cao “cái tôi” và cách sống đầy ích kỷ như ngày nay, sống khiêm nhường là một thách đố lớn. Thế nên, chúng ta lại càng phải cố gắng tập sống khiêm nhường. Càng khó càng phải cố. Hãy bắt chước tác giả Thánh Vịnh mà luôn tự nhủ:

 Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. (Tv 131:1-2) 

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con có thể sống khiêm nhường theo đúng Thánh ý của Chúa. 

2-“Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhường” 

Đức khiêm nhường là gì? Thưa là nhân đức nền tảng của đời sống đạo đức. Nhờ khiêm nhường, người môn đệ của Chúa có thể dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa và gặp được Ngài trong cuộc đời của mình. Nhờ khiêm nhường mà chúng ta thấy cuộc đời của mình vui tươi, hạnh phúc.

 Chuyện kể:

 Đầu tháng bảy năm 1870, một phái đoàn người Pháp đến chầu Đức giáo hoàng Piô IX tại Roma. Sau khi trưởng phái đoàn đã đọc bài chào mừng, Đức giáo hoàng đã nói chuyện thân mật với từng người và ai nấy đều xin ơn nọ ơn kia. Nhưng khi nhìn thấy một thanh niên có vẻ khô khan lạnh nhạt, Đức giáo hoàng đã hiền từ hỏi:

– Còn con, con không xin ơn gì sao?

Chàng thanh niên lạnh lùng đáp:

– Thưa không.

Đức giáo hoàng hỏi thêm:

– Cha con còn sống không?

Chàng thanh niên lửng khửng đáp:

– Thưa còn.

Đức giáo hoàng lại hỏi:

– Còn mẹ con thì sao?

Chàng thanh niên chậm chạp lí nhì đáp lại

– Mẹ con chết lâu rồi.

Bấy giờ Đức giáo hoàng cầm tay anh thanh niên mà nói với giọng cảm động rằng:

– Con không xin ơn gì với cha; còn cha, cha xin con một điều, là con hãy cùng cha quì gối xuống đất, đọc một kinh lạy cha, một kinh kính mừng, một kinh sáng danh, cầu nguyện cho mẹ con được lên thiên đàng, và khi được hưởng mặt Chúa. Mẹ con sẽ xin cùng Chúa cho con được sốt sắng giữ đạo để sau này con cũng được lên thiên đàng với mẹ con. Nói xong Đức giáo hoàng quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn lên trời, đọc kinh rất sốt sắng, làm cho chàng thanh niên phát cảm động phải khóc nức nở. 

Đức Giáo Hoàng quì xuống trước mặt mọi người. Ngài có làm gì lạ lùng không. Không. Ngài chỉ cùng đọc với mọi người những lời kinh đơn sơ nhất”.

Chúng ta hãy nhìn vào đó mà bắt chước để cuộc sống của mỗi người chúng ta xứng đáng với Chúa hơn. Amen.

 3-Kiêu ngạo là gì? 5 dấu hiệu giúp bạn nhận biết người kiêu ngạo.

 Kiêu ngạo khác với khiêm nhường vì người kiêu ngạo:

 a)Luôn khẳng định mình đúng

Kiêu ngạo là gì? Một dấu hiệu dễ thấy nhất của sự kiêu ngạo đó là luôn cho rằng mình đúng trong mọi trường hợp bất kể đúng sai và chẳng bao giờ tiếp thu lời khuyên, ý kiến của người khác.

 b)Luôn xem mình là trung tâm

Những người kiêu ngạo luôn cho rằng bản thân mình là trung tâm của mọi người. Khi người kiêu ngạo đạt được một thành công nào đó, họ thích khoe khoang về những thành công của mình hơn là cảm ơn sự giúp đỡ của người khác. 

c)Luôn coi thường những người xung quanh

Tính kiêu ngạo sẽ làm bạn luôn coi thường những người xung quanh. Họ luôn cho rằng mình giỏi hơn người khác. Họ thường xem thường đồng nghiệp và có thái độ khó chịu, chê bai người xung quanh. 

d)Không biết lắng nghe

Những người kiêu căng sẽ không bao giờ dành thời gian để lắng nghe và chia sẻ với những người xung quanh. 

e)Không muốn nhận lỗi và thay đổi

Đây là một điều tồi tệ mà những người kiêu căng thường mắc phải. Nhận lỗi và thay đổi là một việc làm rất khó khăn đối với họ. Họ là người luôn đỗ lỗi cho người khác. 

Kiểu người này có cái tôi rất cao, vì thế họ sẽ không bao giờ chấp nhận được việc bị người khác phê bình và dùng mọi lý lẽ để biện hộ cho những sai lầm và rắc rối mà mình đã gây ra. 

Thái độ kiêu ngạo làm cho mọi người sẽ dần dần xa lánh họ, họ sẽ là người rất cô đơn vì không có ai là bạn, không có ai dám tiếp xúc, nói chuyện với họ. 

4-Nguyên nhân kiêu ngạo.

 Thông thường những ai nếu thành công đôi chút như làm ăn khá giả, trả hết nợ nầng xe cộ, nhà cửa, có mức sống cao, dễ bắt đầu sự kiêu ngạo. Chỉ một mình ta là người giỏi hơn hết mọi người khác. Nếu có ai chạm tự ái họ, họ sẽ nỗi “khùng” lên, nặng lời, mắng chửi người khác không còn nể mặt, e dè. 

Bản chất kiêu ngạo của con người là do tổ tiên chúng ta, ông Adam và Eve truyền lại, đã không tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm ở vườn điạ đàng, cũng như xây tháp Ba-ben để lên tận trời cao. 

Nếu con người không học tập, suy nghiệm, cầu nguyện, nhờ ơn trên giúp sức khó từ bỏ được tính kiêu ngạo.

 5-Hiện tượng kiêu ngạo: 

*Trong gia đình nếu gặp phải người kiêu ngạo, gia trưởng, bắt mọi người trong gia đình phải làm theo ý mình, không được trái ý, thì vợ con sẽ sống rất khổ sở vì không được tự do. Người kiêu ngạo thường hay lãi nhãi, la lối, cự nự, nếu có ai trong gia đình làm trái ý mình; đôi khi dùng cả bạo lực để khống chế người khác. Do đó, họ thường chịu cảnh cô đơn, hiu quạnh, vì không ai muốn nói chuyện, đến gần. 

* Anh Nguyễn luôn chỉ trích người khác, người nào càng nổi tiếng trong cộng đồng là thế nào anh cũng chỉ trích nói xấu. 

Một lần tôi nói: “Anh A. siêng năng, viết sách hay, súc tích”.

Anh Nguyễn trả lời liền: “Cái thằng A. lăng xăng, lúc nào cũng vội vã. Có gì mà hay đâu”.

 Tôi nói: “Anh H. chịu khó sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng”.

Anh Nguyễn trả lời ngay: “Cái thằng bợ đỡ, mặt mập, bịnh hậu…” 

Khi nhắc đến bất cứ ai thì anh Nguyễn cũng có câu nói dè biểu, chê bai, nói ra ngay những khuyết điểm của người đó. Đó là cái tật của anh Nguyễn.

 *Anh Trần đã có nhà. Có hai chiếc xe. Nên anh rất tự cao tự đại. Anh cho mình hơn người, không ai bằng anh. Anh có nghề nghiệp vững chắc, có tiền. Anh chỉ chiếc xe BMW và nói với tôi dẫn tôi đến bên xe của anh và nói: “Chú xem xe mới đẹp không? mới mua đó.”

 Anh chồng lúc nào cũng cho rằng mình đúng, vợ không được cãi. “Tao là nhất nhà rồi vì tao có tiền, tao có xe, tao có nhà đã trả hết, tao qua Mỹ chỉ cần 30 năm, tao đã thành công”.

 *Trong môt quốc gia nếu nhà cầm quyền kiêu ngạo, quá khích, khư khư giữ quan điểm của mình, không biết lắng nghe người khác. 

Hậu quả của “kiêu ngạo cộng sản” là sau khi chiếm được miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975, cộng sản Việt Nam đã cắt đứt liên lạc ngoại giao với các nước Tây Phương, áp dụng chính sách tự cung tự cấp, chỉ dựa vào sự viện trợ của Liên sô mà thôi.

 Trong nước, cộng sản đã tịch thu tài sản của các nhà tư bản miền Nam, đầy họ đi vùng kinh tế mới, thành lập các hợp tác xã, đã làm cho toàn thể đất nước Việt Nam đi vào con đường đói kém, sản xuất ngưng trệ, kinh tế suy sụp, xã hội hỗn loạn. Nếu không có thay đổi từ năm 1986 trở về nền kinh tế tự do, (mà miền Nam đã áp dụng từ lâu), thì tình trạng đói kém, rối loạn xã hội không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Nền kinh tế đang phát triển bị đẩy lùi hàng chục năm cho đến ngày nay (2020) vẫn còn thua kém so với các nước Đông Nam Á khác. Cũng vì kiêu ngạo không thèm thấy cái hay của Việt Nam Cộng Hòa đem ra áp dụng, mà phá bỏ tất cả, hậu quả giáo dục chậm tiến, văn hóa xã hội suy đồi, chính trị độc quyền, độc tài, không tôn trọng ý kiến khác biệt, nhân quyền không có. 

Kết: Bịnh kiêu ngạo làm cho gia đình rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau, ganh ghét nhau, xung đột nhau, không có hạnh phúc, bình an. 

Bịnh kiêu ngạo làm cho nhà cầm quyền tưởng mình là “thánh”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, không bao giờ chấp nhận sai lầm, khiến cho toàn thể dân tộc chịu điêu đứng vì quyết định sai lầm của mình. Ai dám nói ngược với ý của nhà cầm quyền thì bị chụp mũ phản động, “thế lực thù địch”, tìm cách bỏ tù dài hạn. 

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

Ngày 29- 06-2020


 

Iran đóng lại eo biển Hormuz để đáp trả lệnh phong tỏa của Mỹ (RFI)

(RFI)

Hôm nay 18/04/2026, Iran tuyên bố khôi phục “kiểm soát chặt chẽ” eo biển Hormuz để đáp trả việc Mỹ tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa các cảng của Iran, qua đó đảo ngược quyết định đưa ra hôm trước về việc mở lại tuyến hàng hải chiến lược này.

Ảnh tư liệu : Chủ tịch Quốc Hội Iran Mohammad Bagher Qalibaf chủ trì một phiên họp tại Teheran, Iran, ngày 01/02/2026. AFP – – 


 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo

Thao Teresa 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo, hoà bình và một tình yêu lớn dành cho người nghèo nằm trên đỉnh Serra da Formiga ở Riachuelo, Brazil .

Hẳn mọi người còn nhớ lời Kinh Hoà Bình được sáng tác theo linh đạo của Thánh Phanxico Assisi mà các bạn khác đạo vẫn gọi là Kinh Đòi Đất.

“Đem yêu thương vào nơi oán thù

Đem thứ thứ tha vào nơi lăng nhục

Đem an hoà vào nơi tranh chấp

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always