SÁNG ĐÔI MẮT MÙ – Tác giả: Tràm Cà Mau

Xuyên Sơn

 SÁNG ĐÔI MẮT MÙ

https://youtu.be/zsptS3lRPIA

Con người cần điều gì  ?

– cần đôi mắt sáng, cần có ánh sáng. Đôi mắt và ánh sáng như là phương tiện cho cuộc sống mỗi con người.

Dạo đó, khi cả miền Nam đang bấn loạn lên, vì cuộc chiến tranh mấy mươi năm sắp đến hồi kết cuộc.

Bắc quân hồ hởi tiến mau như chẻ tre. Nam quân rút bỏ, tan rả mau chóng. Những người không am hiểu tình hình chính trị quốc tế thì ngỡ ngàng,

ngạc nhiên, không tin được về sự thực đang xẫy ra trên đất nước nầy.

Dân miền Nam đua nhau bỏ chạy ra biển, chưa biết sẽ trôi nổi về đâu,

cũng chưa biết sẽ đi nơi nào, làm gì mà sống, sống có được hay không.

Không cần biết. Cứ chạy trốn đã.

Những người nầy, đã có một ít hiểu biết hoặc kinh nghiệm sống với cộng sản, nên liều chết ra khơi.

Mấy cụ già miền Nam vuốt râu nói:

“Cộng sản cũng là người Việt Nam mình với nhau, việc chi mà sợ?

Cọp nó còn chưa ăn con, huống hồ chi họ với mình cùng tổ tiên, cùng giòng giống.

Miền Bắc hay miền Nam đều là anh em với nhau cả mà. Chạy đi đâu làm chi cho mệt.”

Những người trong chính quyền miền Bắc chắc cũng không hiểu nổi,

tại sao nhân dân miền Nam sắp được “giải phóng”, sắp được sung sướng,

sao mà lại bỏ chạy.

E rằng, họ bị Mỹ Ngụy tuyên truyền đầu độc, nên dại dột dong thuyền ra khơi. Họ cho rằng, những người bỏ trốn họ,

là loại trây lười, sợ lao động, sợ khổ.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh sắp tàn.

Bạn của Tâm hối hả đến tận nhà lo lắng nói :

“Anh sửa soạn hai bộ áo quần.

Đem theo một ít thức ăn khô, một chai nước. Tôi đã ghi danh cho anh được xuống xà lan ở Tân Cảng, và sẽ được kéo ra khơi hôm nay hoặc ngày mai.”

Tâm trầm ngâm:

“ Không đi đâu cả. Tôi sinh ra trên quê hương nầy, và sẽ sống và chết với quê hương.”

“Anh chấp nhận sống với cộng sản.?”

“Anh chưa hiểu ý tôi. Nếu phải chọn tự do và cộng sản, thì tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ một chính thể tự do.

Nhưng nếu phải chọn quê hương và một nơi vô định khác, thì tôi chọn quê hương.

Đất nước mình đã chịu chiến tranh tàn phá ba mươi năm nay. Tan tác, đổ vở quá nhiều.

Bây giờ là lúc toàn dân cần góp tay xậy dựng lại quê hương thân yêu của chúng ta. Tôi đã chuẩn bị tinh thần rồi.

Chấp nhận đi tù vài ba năm, nếu phải đi đập đá Trường Sơn, thì đá đó cũng để xây dựng đường sá và nhà cửa cho quê hương nầy.

Đi ra ngoài, dù có làm được gì, thì cũng là làm cho người ta. Tôi chấp nhận mọi gian khổ để đổi lấy cuộc sống còn có quê hương.”

Người bạn nhìn Tâm với ánh mắt u buồn:

“Tôi ước mong sao ý nghĩ của anh là đúng, và sau nầy không ân hận”

Tâm quả quyết:

“ Tôi sẽ không bao giờ ân hận với chọn lựa nầy. Tôi chọn quê hương.”

Nửa tháng sau ngày miền Bắc thắng trận, một ông chú của Tâm, là cán bộ có vai vế, từ Hà Nội vào tiếp thu Sài gòn. Ông  ghé lại nhà thăm.

Ông nầy đã hăng hái tham gia cuộc kháng chiến từ thời khởi đầu năm 1945.

Trong tình thân gia đình, ông bực bội hỏi:

“ Sao không bỏ chạy, mà giờ nầy còn ở đây? Thế thì khổ đời anh rồi.”

Tâm ngỡ ngàng, nhưng cũng quả quyết nói:

“ Cháu ở lại, để góp một tay xây dựng lại quê hương đổ vở. Chỉ mong làm một hạt cát nhỏ trong công cuộc tái thiết đất nước nầy”

Ông chú cười buồn mà nói:

“Ai cho anh xây dựng mà hòng?

Anh tưởng dễ lắm sao?”

“ Cháu không hiểu hết ý của chú.”

“ Rồi anh sẽ hiểu. Anh phải “kinh qua” mới thấm và hiểu. Chưa thực sự sống trong chế độ, thì dù cho có đọc ngàn cuốn sách, anh cũng còn mơ hồ và đầy ảo vọng.”

Tâm mạnh dạn nói mà không sợ ông chú buồn lòng:

“ Nếu cháu không lầm, thì chú cũng đang là một rường cột của chế độ nầy. Với cái vai vế của chú, thì chú cũng có thể tạo điều kiện cho những người yêu mến quê hương nầy có cơ hội phục vụ đất nước. Quê hương nầy là của chung, gia sản của tổ tiên nhiều đời gây dựng lại, không của riêng ai, không của riêng đảng phái nào.”

Ông chú cười, ánh mắt có vẻ thương xót người cháu, ông nói:

“Không. Anh nói vậy là chưa hiểu chi về xã hội chủ nghĩa cả. Chú cũng chỉ là một bánh xe trong guồng máy đang vận hành. Bánh xe nào không hoàn toàn ăn khớp, thì bị loại ra ngay.

Bị vứt bỏ không thương tiếc.

Bị chà đạp, bị hành hạ, sống không được, chết không xong.

Anh không có quyền yêu mến quê hương theo tâm ý của anh.

Phải yêu theo lối của người khác vạch ra, hoàn toàn đi trong đường lối đó,

nếu anh muốn sống còn. 

Tôi xin anh, đừng có nói cái giọng điệu quê hương là gia sản chung cho ai khác nghe, mà không có lợi cho bản thân anh.”

Tâm thở dài.

Một lúc sau ông chú nói tiếp:

“Điều cần thiết nhất chú dặn anh, là đừng có dại mà thành thật khai báo lý lịch và tội lỗi của mình.  Anh đã ở miền Nam, thì dù anh có làm gì, hay không làm gì, cũng có tội với cách mạng cả.

Phải tự nhận là có tội, và chỉ nhận những tội khơi khơi thôi. 

Chuẩn bị một bản lý lịch cá nhân.

Cái gì không lợi thì đừng khai.

Cái gì giấu được thì giấu.

Viết càng ngắn, gọn, rõ ràng càng tốt. Khai cho y hệt nhau, đừng sai chạy. 

Đó, chú chỉ giúp anh được chừng ấy thôi, anh nhớ cứ làm theo, thì bớt được vận hạn khó khăn.”

Tâm chấp nhận đi tù cải tạo với sự bình tỉnh, không chút lo lắng buồn phiền.

Anh đã chuẩn bị trước, và đây là chuyện phải đến.

Tâm cũng không có ảo vọng đi

“học tập” một tháng hay hai tuần như thông cáo do chính quyền phổ biến. Nhưng Tâm vẫn mong rằng, anh nghĩ sai. Anh đã chuẩn bị cho một cuộc đời tù tội lâu dài. Mang theo những vật dụng thật bền, chắc chắn.

Những tuần đầu trong trại cải tạo,

Tâm thấy bạn bè xài phí những vật dụng mang theo, anh nói với các bạn trong một buổi họp tổ:

“Các anh nên tiêu xài tiết kiệm lại một chút. Đâu đã chắc một tháng là được về ngay !”

Các bạn anh nhao nhao phản đối :

“ Cánh mạng trước sau như một.

Anh không tin tưởng chính sách của cách mạng sao? Anh còn tư tưởng lạc hậu lắm. Cách mạng nói một tháng,

là một tháng, không sai chậy đâu.”

Thấy tất cả bạn bè đều phản đối dữ dội, và nếu cán bộ quản giáo biết được,

hay có người báo cáo thì bất lợi cho bản  thân, Tâm vội vàng cười giả lả:

“ Thôi mà, tôi nói chơi cho vui, mà làm anh em sợ. Nói đùa , anh em bỏ qua đi.”

“Đùa làm đứng tim người ta.

Cách mạng không bao giờ nói sai cả.”

Tâm biết anh em sợ, không dám nghe nói sự thực. Muốn nuôi ảo tưởng là một tháng sẽ được tha về, nên phản đối lời khuyên của Tâm.

Sau ba tuần mà chưa thấy

“bài vở và học tập” chi cả.

Đám tù lao nhao tiên đoán rằng,

cách mạng sẽ khoan hồng cho về,

mà không cần học tập lôi thôi.

Đoán rằng, họ sẽ phát tài liệu cho anh em đọc, vì ai cũng đã có trình độ học vấn khá, không cần phải giảng dạy.

Tâm chỉ cười, và mong sao cái mơ ước hão huyền của anh em đúng sự thực, chứ trong lòng Tâm, không hề có ảo tưởng nào.

Nhiều đêm, khi chín giờ, đèn điện tắt,

có tiếng tắc kè kêu vang dội rất rõ trên đồi cao:

“ Tắc kè. Tắc kè.”

Anh em diễn dịch ra là có điềm tốt thông báo, nên tắc kè kêu là

“ Sắp về. Sắp về.”

Có nhiều anh loan tin rằng,

mấy đêm nay xem thiên văn, thấy nhiều sao chiếu đồng quy về hướng Sài gòn, bởi vậy, anh em cũng sắp được tha về nay mai.

Nhiều tháng sau vẫn chưa được tha về, mà thời gian tù không xác định.

Tiếng tắc kè được diễn dịch lại là 

“Đếch về. Đếch về.”

Một người bạn nói với Tâm:

“ Cán bộ luôn luôn nhắc nhở là

“yên tâm cải tạo”,

làm sao mà yên tâm, khi gia đình còn lắm việc bộn bề,

vợ con không biết sinh sống ra làm sao, ngày ra trại chưa được xác định.

Thì làm sao mà yên tâm cải tạo được?”

Tâm cười và trả lời:

“Yên tâm cải tạo. Đúng. Mấy ông cán bộ nói đúng. Yên tâm đi, ngày về còn xa lắm lắm.  Đừng nôn nóng, vô ích.

Không yên tâm, thì cũng không được gì. Bận lòng thêm khổ. Chúng ta bị mắc bẩy rồi, cứ đừng hy vọng,

đừng mong ước gì cả.

Yên lòng. Nếu có một ngày nào đó,

được kêu tên cho ra về, thì sung sướng lắm. Nếu chưa được về, cũng đừng mong. Có mong là có bồn chồn,

có khổ tâm.

Hãy yên tâm đi, yên tâm cải tạo”

Mấy người bạn Tâm bây giờ đã bớt ảo tưởng, nhưng vẫn chưa tắt niềm hy vọng. Họ thường tỏ vẻ bực bội khi nghe các bạn khác đọc các câu thơ: 

“Bao giờ cọc sắt nở hoa.

Bà Đen hết đá thì ta mới về”

hoặc

“Khi đi vợ mới mang bầu.

Ngày về con đã bạc đầu như cha.”

Nhờ lời khuyên của ông chú đã từng kinh qua dày dạn trong chế độ,

là đừng dại dột thành thật khai báo,

nên Tâm được tha tù, về nhà sớm hơn bạn bè cùng trang lứa, cũng mất hơn ba năm, gần với thời gian anh đã  tiên đoán và chấp nhận. 

Trong thời gian nầy, tình hình lương thực vô cùng khó khăn.

Cả nước đều đói vàng mắt,

nhà nhà ăn độn khoai sắn, bo bo, mì sợi.

Bụng dạ mọi người khi nào cũng lưng lửng, nhột nhạt, có kiến bò.

Miệng thì luôn thòm thèm.

Đời sống thường ngày vô cùng khó khăn.

Ít còn ai đủ dại để tin tưởng vào tương lai tươi sáng hạnh phúc.

Không biết ai bày, mà bọn trẻ con hàng xóm thường ngêu ngao hát bài ca sửa lời:

“…tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá,

kể từ giải phóng vô đây, ta ăn độn dài dài, kể từ giải phóng vô đây, ta ăn độn toàn khoai…”

Một lần nghe cuộc bàn cãi giữa hai ông cậu, ông cậu nhỏ là người đi tập kết ở miền Bắc về, nói với ông cậu lớn tuổi rằng:

“ Anh chưa ‘giác ngộ cánh mạng’

thì anh đừng nói, đừng bàn luận về xã hội chủ nghĩa. Phê bình mà chưa biết rõ bản chất, thì đừng nên nói,

không có lợi cho anh và gia đình.”

Ông cậu lớn tức tối nói:

“ Làm sao mà tôi giác ngộ cách mạng của các người được? Còn bản chất của xã hội chủ nghĩa, không nói ra,

ai cũng biết là cái gì rồi.”

“Anh có biết giác ngộ cách mạng là gì không?

Giác ngộ nghĩa là biết rõ, biết đến nơi đến chốn, không phải biết lơ mơ như các anh.

Biết cái gì?

Biết cách mạng vô cùng nghiêm khắc, tàn bạo, không khoan nhượng.

Nghĩa là biết sợ cách mạng trù dập,

sợ bị thanh toán, thủ tiêu, sợ bị giam đói, bị bao vây kinh tế, bao vây tình cảm.

Tóm lại, giác ngộ cách mạng là biết sợ cách mạng, sợ vô cùng, không dám hó hé chi cả.

Cách mạng nói sao, mình  nghe vậy,

nói theo y như vậy, đừng sai chạy mảy may, đừng để cái lý trí phán đoán sai đúng xen vào.

Người giác ngộ cách mạng sẽ dễ sống, dễ thở, và an toàn hơn trong cái xã hội chủ nghĩa.”

Ông cậu lớn nói với giọng chán nản:

“ Thế thì giác ngộ cách mạng là phải biết hèn nhát, nói như vẹt, mềm như bún. Không kể gì đến sĩ khí, nhân cách nữa sao?”

Ông cậu ‘cách mạng’ trả lời:

“Hừ, sĩ khí và nhân cách để làm gì nếu cái bao tử trống không, đói khát hành hạ, vợ con nheo nhóc, xóm giềng xa lánh, hất hủi mình vì sợ liên lụy?”

Ngừng một lát, ông nầy nói tiếp:

“ Thời nầy, tốt nhất là bịt tai, nhắm mắt mà sống. Đừng bao giờ nói ý nghĩ trung thực của mình cho ai nghe.

Có lẽ, tốt hơn hết là đừng có ý kiến chi khác với mọi người. Ai sao mình vậy. Đúng hay sai, thật hay giả, không cần biết đến làm chi. Đó là thái độ khôn ngoan nhất.”

Ông cậu lớn tuổi lắc đầu:

“ Không được. Phải can đảm nhìn thẳng vào sự thật, và đừng tự dối lòng để giả tin vào lời lừa mị láo khoét.

Nếu ai cũng dám nhìn thẳng vào sự thực, nói lên sự thực, thì bọn dối trá sẽ không còn đất sống, và không còn cơ hội ức hiếp, áp bức kẻ hiền lương.

Người miền Bắc và miền Trung khôn ngoan quá, cẩn trọng quá, nên gắng nhịn nhục để sống còn, bởi vậy nên bị ức chế, bị chà đạp, bị dày xéo,

không còn thể thống chi cả.

Chú ra ngoài chợ Sài gòn mà xem,

hay chú lên xe đò mà nghe các bà chữi cho nát mặt, nát mày, có dám bỏ tù hết cả nhân dân miền Nam nầy không?

Ban đầu, các anh ‘cách mạng’ cũng hung hăng, doạ dẫm, định áp đặt chính sách cai trị hà khắc như cai trị dân miền Bắc lên vùng đất nầy.

Nhưng không ai sợ cả, không ai hùa theo lời nói láo khoét. Mấy anh bị hố. Dân miền Nam không hèn nhát đâu.”

Ông cậu ‘cách mạng’ hạ thấp giọng:

“Nhân dân miền Nam nầy ăn nói phản động, không có lợi lộc gì cả, mà lại hại đến bản thân, gia đình.

Nói lời phản động, để được cái gì chứ? Anh tưởng chúng tôi đều ngu muội,

mù quáng cả, không nhìn thấy và phân biết được sự thực và dối trá sao?

Sống theo nếp sống mới thì phải biết ‘nói điều mình không tin, và tin điều mình không dám nói’

Đó là thái độ khôn ngoan, thức thời.”

Mỗi ngày từ sáng tinh mơ,

loa đã oang oang kêu gọi dân chúng sống theo nếp sống văn minh.

Tâm không biết nếp sống văn minh của xã hội chủ nghĩa ra làm sao,

đem hỏi ông một ông chú ‘cách mạng’ khác.

Ông hạ giọng thầm thì:

“Cái gì người ta thiếu, thì nói nhiều đến cái đó. Văn minh bây giờ là xe chạy bằng than cũi, ăn cơm độn khoai sắn,

xới vườn hoa trồng rau khoai rau dền, nuôi heo trên tầng lầu chúng cư,

áo quần xám xịt một màu, ăn nói một lời giống nhau y hệt. Văn minh mà nhà nước ta đang nhắm đến là làm sao cho miền Nam tiến kịp miền Bắc trong tiêu chuẩn … nghèo đói.”

Tâm cười:

“Các ông bà con đi tập kết về khuyên đừng ăn nói phản động. Thế mà lời của chú, nghe ra còn phản động hơn ai hết. Thế thì hai mươi mấy năm đi theo cách mạng, chú đã làm được công trạng gì trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa?”

Nét mặt ông chú có vẻ tức tối:

“Công trạng cái con khỉ. Vì chú không biết a dua, không hèn nhát nói theo lời lếu láo dối trá của bọn chúng,

nên chú bị bao vây, bị cô lập, bị bỏ đói trong hai mươi năm tập kết ra Nghệ An. Chú kiếm sống bằng nghề

‘hớt tóc chui’.

Cả nước đã đói cho vàng mắt ra,

gia đình chú còn đói hơn ai cả.

Con cái không được nhận vào trường, thất học cả đám. Chẳng bị tù rục xương là may mắn lắm rồi cháu à.”

“Thế thì xin chú cho cháu một lời khuyên, để sống còn trong xã hội mới nầy.”

Ông chú lắc đầu:

“Không còn cách nào để cho các thành phần như cháu sống còn cả.

Ngoại trừ… ngoại trừ bỏ nước ra đi.

Chỉ có con đường đó thôi.”

Một năm sau,

Tâm đến được bến bờ tự do sau bao lần suýt bỏ mạng trên biển cả. /./.

Tác giả Tràm Cà Mau

 


 

HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

Cang Huynh

HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA TRONG ĐÊM… ĐIỀU HỌ THẤY TRONG ĐỐNG TRO TÀN LÀ KHÔNG THỂ TIN NỔI.

*Tên tôi là Cha Thomas. Tôi là linh mục của một nhà nguyện Công giáo nhỏ nằm trong một khu dân cư đa tôn giáo ở bắc Lebanon.

Trong nhiều năm, ngôi nguyện đường nhỏ dâng kính Đức Mẹ Maria là nơi bình yên cho tất cả người Kitô hữu và một vài người Hồi giáo bí mật ghé thăm. Tôi đặt một bức tượng Đức Mẹ Maria rất đẹp ở ngay chính giữa bàn thờ. Rất nhiều người đến để cầu nguyện, đặc biệt là các bà mẹ đến xin Đức Mẹ ban ơn cho con cái của họ.

Nhưng không phải ai cũng đồng cảm.

Một số người hàng xóm cực đoan đã xem ngôi nguyện đường nhỏ như một sự xúc phạm. Một đêm nọ, một nhóm người trong số họ đã phóng hỏa đốt nguyện đường. Họ đổ xăng và đứng nhìn ngọn lửa thiêu rụi tòa nhà gỗ nhỏ.

Sáng hôm sau tôi đến nơi chỉ còn thấy đống tro tàn. Trái tim tôi đã tan nát. Bức tượng mà tôi rất yêu đã biến mất. Tôi quỳ xuống giữa đống đổ nát và khóc.

Nhưng sau đó tôi thấy một điều không thể tin nổi.

Ngay giữa đống tro tàn, hoàn toàn không bị ngọn lửa chạm đến, bức tượng Đức Mẹ Maria hoàn toàn đứng vững nguyên vẹn – thậm chí không một vết cháy sém. Xung quanh bức tượng, những bông hồng tươi đã nở trong đống tro tàn, những cánh hoa không hề bị chạm đến bởi những ngọn lửa.

Tôi quỳ xuống, vì thật kinh ngạc và sùng kính.

Những người phóng hỏa đến xem chuyện gì đã xảy ra. Khi họ nhìn thấy bức tượng Mẹ Maria nguyên vẹn đang đứng giữa đống đổ nát bị thiêu rụi, nhiều người trong số họ bắt đầu khóc. Một vài người đã quỳ gối xuống ngay tại nơi đó.

Một trong những người đàn ông đã đốt lửa, một người  tên là Ahmed, đã thú nhận với những giọt nước mắt:

“Tôi đã châm lửa đốt. Nhưng bây giờ  nhận thấy rằng, tôi đã chống lại Thiên Chúa. Xin hãy tha thứ cho tôi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.


 

QUYỀN MÀ KHÔNG TOÀN QUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế”.

“Quyền bính trong Hội Thánh luôn là phục vụ, không bao giờ là thống trị!” – Lêô XIV.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ, ban cho các ông quyền trên các thần; nhưng ngay sau đó, Ngài lại giới hạn đường đi nước bước của họ. Tin Mừng hôm nay mặc khải một nghịch lý: ‘quyền mà không toàn quyền’.

Con người thường nghĩ quyền càng lớn, tự do càng nhiều. Với Chúa Giêsu thì khác! Ngài ban cho các môn đệ quyền trên các thần ô uế, nhưng không phải muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm: “Đừng đi tới vùng các dân ngoại; cũng đừng vào thành nào của người Samari. Hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel!”. Bản Hy Lạp viết edōken – “ban”. Quyền được ban vẫn luôn thuộc về Đấng đã ban; người môn đệ chỉ là người quản lý, không phải chủ sở hữu. Điều nguy hiểm không phải là không có quyền, nhưng là tưởng mình có toàn quyền. Quyền chỉ còn là quyền của Tin Mừng khi nó vẫn biết vâng phục.

Chúng ta dễ ngộ nhận, càng có quyền, mình càng lớn. Vì thế, không ít người dùng quyền để che giấu sự bất an; thích người khác cúi đầu hơn là ngẩng đầu; thích được sợ hơn là được tin; thích được khen hơn là được nghe sự thật. Nhưng Chúa Kitô không trao quyền theo cách ấy. Ngài trao quyền để các môn đệ giải thoát con người, chứ không trao quyền để họ thống trị con người. Quyền trong Tin Mừng không sinh ra những kẻ thống trị, nhưng sinh ra những con người phục vụ – “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em!”.

Nhưng quyền rất dễ trở thành cám dỗ khi người ta quên Đấng ban quyền. Hôsê đã nhìn thấy một Israel như thế. Càng được chúc phúc, họ càng dựng thêm bàn thờ cho các thần ngoại; càng mạnh, họ càng xa Thiên Chúa và gần các ngẫu tượng. Vì thế, ngôn sứ kêu gọi: “Hãy khai khẩn đất hoang; đây là thời kiếm tìm Đức Chúa!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng nhắc nhở: “Hãy không ngừng tìm kiếm Thánh Nhan!”. Chỉ ai không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa mới không đánh mất ý nghĩa của quyền mình đang có.

Ai trong chúng ta cũng có một thứ quyền nào đó: trong gia đình, ngoài xã hội hay trong Hội Thánh. Quyền ấy không được trao để người khác sợ, nhưng để người khác lớn lên trong tự do và phẩm giá. Vì thế, điều đáng hỏi không phải là: “Tôi có quyền gì?”, nhưng “Quyền của tôi đang giải thoát hay đang thống trị?”. “Việc thực thi quyền bính phải mang đặc tính phục vụ!” – Học thuyết Xã hội.

Anh Chị em,

“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy!”. Nhưng Đấng có mọi quyền lại chọn con đường thập giá. Quyền của Ngài luôn mang hình dáng của tình yêu, phục vụ và tự hiến. “Quyền bính trở thành phục vụ khi biết chia sẻ, lôi cuốn và giúp con người lớn lên!” – Phanxicô. Vì thế, ai càng thuộc về Đức Kitô, càng không dùng quyền để đứng trên con người, nhưng để cúi xuống vì con người. Đó mới là quyền của người môn đệ theo khuôn mẫu Tin Mừng: ‘quyền mà không toàn quyền’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết lớn lên bằng phục vụ, mạnh lên bằng yêu thương và trở thành chỗ dựa cho người khác, hơn là tìm chỗ đứng cho mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************
Lời Chúa Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 10,1-7

1 Khi ấy, Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ : đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; 3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; 4 ông Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người. 5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng :

“Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần.”


 

“Đừng”… và … “Nên”

Kimtrong Lam

“Đừng”… và … “Nên”

Đừng trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn

Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…Và…

người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận !

Đừng quyết định khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi

(tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

 

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm

Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm

Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có……..

Trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng,

tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t ..

ngơ ngác với giờ.. phút ..

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên

thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, 

 

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lắng nhiều quá về con cái vì con cái có phần số của chúng

chúng sẽ tự tìm cách sống riêng.

 

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ.

Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

Nên bạn hãy sống cho vui vẻ.

Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

 

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và coi ai thành đạt hơn,

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn

BẠN BÈ … nữa.. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

( Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn)


 

CÁCH SỐNG CỦA NGƯỜI BẮC ÂU

Nguyen Thi Chau

CÁCH SỐNG CỦA NGƯỜI BẮC ÂU

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.

Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp.

Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6h/ngày.

Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…

Điểm chung của các quốc gia này là gì? Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.

Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking. Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

– Tăng trưởng kinh tế cao,

– Chỉ số phát triển con người cao,

– Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?

Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.

Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc. Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:

– Không hề có nhà cao tầng,

– Người dân ăn mặc rất mộc mạc,

– Đi những chiếc xe cũ kỹ,

– Và ăn những món ăn đơn giản.

Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực con người.

Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là: “Chất lượng cuộc sống”.

Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn: “Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.

Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn: Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng. So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai. Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm chất”, chứ không phải là “Vật chất” trong cuộc sống.

“Nhanh một chút, nhanh một chút!”.

Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống: “Chậm một chút!”, nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.

Những con người “Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự: “Đơn giản”.

Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới. Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”.

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút, ví dụ:

– Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70 – 80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu. Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

– Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng. Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.

Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng. Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triền khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

Không cần phải khoe của. Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.

– Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.

– Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây! Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’.

– Về thời gian làm việc. Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy. Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách. Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.

Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.

“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu. Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự: “đau khổ, giày vò”. Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.

Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc. Nghe giống như đặc điểm của những kẻ: ‘lười nhưng thiên tài’ mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.

Đúng!

Và đấy là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.

Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho cho gia đình. Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ: “Gia đình”

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa, cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.

Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình. Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.

Điều cuối cùng, đối với người đàn ông Bắc Âu, gia đình và con cái không phải là nền tảng giúp người đàn ông tìm kiếm sự thành công nữa, mà chính là phần quan trọng nhất trong chất lượng cuộc sống của họ. Với họ, khoảnh khắc có lẽ là hạnh phúc nhất trong ngày chính là khi đứa trẻ của mình leo lên đầu, ôm lấy cổ bố chúng, hôn một cái và thủ thỉ nói:  “Chúc cha ngủ ngon nhé!”.

Đấy mới là cách đầu tư thông minh nhất nếu bạn muốn có cuộc sống hạnh phúc!

P/s: Người Bắc Âu đi xe đạp rất nhiều. 


 

Nguyễn Thành Nam, tác giả sách ‘hạ bệ’ Hồ Chí Minh, bị bắt giữ với cáo buộc ‘chống nhà nước’

Ba’o Nguoi -Viet

July 7, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tối 7 Tháng Bảy, Cơ Quan An Ninh Điều Tra Công An Thành Phố Hà Nội đã khởi tố, bắt giữ bị can Nguyễn Thành Nam, 65 tuổi, để điều tra về tội ”làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Cùng bị khởi tố với ông Nam về tội danh nêu trên còn có ông Trần Việt Anh, 33 tuổi, nhà sáng lập của Spiderum, một mạng xã hội được xây dựng với chức năng chia sẻ thông tin, quan điểm.

Ông Nguyễn Thành Nam tại cơ quan điều tra. (Hình: VnExpress)

Theo báo đài trong nước, vụ bắt giữ này liên quan đến cuốn sách ”Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” và nhiều video có nội dung bị cho là “vi phạm pháp luật.”

Cơ quan điều tra nhận định, hai bị can Nam-Anh sở hữu những tài liệu với nội dung “có tính chất xuyên tạc lịch sử các cuộc cách mạng, đường lối, chủ trương của đảng, nhà nước,” “xúc phạm Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và nhiều lãnh đạo đảng, nhà nước khác.”

Báo chí lề đảng dẫn lời cơ quan công an cho biết thêm, ông Nam đã thừa nhận nhiều nội dung trong cuốn sách là “không đúng sự thật,” bày tỏ sự hối hận và “gửi lời xin lỗi đến bạn đọc.”

Trong khi đó, ông Việt Anh được xác định là người xây dựng các nội dung liên quan nhằm “thu hút người xem, tăng tương tác và tối đa hóa lợi ích kinh tế trên các nền tảng số.”

Ông Nguyễn Thành Nam, cựu tổng giám đốc tập đoàn FPT, hiện làm giảng viên thỉnh giảng bộ môn “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” tại trường Đại Học VinUni thuộc sở hữu của tỷ phú Phạm Nhật Vượng.

Hôm 28 Tháng Sáu, một số nguồn tin khả tín về chính trường Việt Nam cho biết ông Nam bị bắt vào đêm 27 Tháng Sáu, trong lúc các báo trong nước chưa được phép công bố tin này vì “nhạy cảm.”

Trước đó, hôm 19 Tháng Sáu, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị xử phạt hành chính 100 triệu đồng ($3,800) và buộc tạm dừng hoạt động hai tháng, tiêu hủy toàn bộ 9,700 bản sách “Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” đã in với cáo buộc “viết sai sự thật nghiêm trọng” về Hồ Chí Minh.

Theo một bản tin của báo Tuổi Trẻ, Cục Xuất Bản, In và Phát Hành kết luận rằng, cuốn sách của ông Nam “có một số thông tin, nhận định không chính xác về một số nhân vật, sự kiện lịch sử” và “sử dụng ngôn ngữ thể hiện chưa phù hợp khi viết về Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của đảng CSVN.”

Cuốn sách bị nhà cầm quyền CSVN ra lệnh thu hồi và tiêu hủy hồi giữa Tháng Sáu. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Ngoài số tiền nộp phạt, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị yêu cầu “rà soát, chấn chỉnh toàn diện hoạt động chuyên môn” trong hai tháng bị tạm dừng hoạt động ấn hành sách và nộp lại hơn 423 triệu đồng ($16,089) tiền thu bất hợp pháp từ việc phát hành cuốn sách “Chuyện Với Thanh.”

Từ nhiều tuần trước khi cuốn sách bị thu hồi, giới dư luận viên đồng loạt lên án cách ông Nguyễn Thành Nam mô tả ông Hồ Chí Minh với những cụm từ như “điếu đóm,” “30 tuổi lang thang không nghề nghiệp, không có chỗ ở cố định,” “job phụ bếp,” “phượt”…

Theo lập luận của dư luận viên, việc sử dụng các cụm từ này để mô tả ông Hồ Chí Minh là “lật sử,” “xúc phạm,” “bôi bác, hạ bệ lãnh tụ”…

Điều éo le là ông Nguyễn Thành Nam từng nhận bằng khen từ ông Nguyễn Xuân Phúc, thời điểm còn làm thủ tướng Việt Nam vì “đã có thành tích tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2019.” (Tr.N)


 

Hãy kính sợ ĐỨC CHÚA và tránh xa sự dữ. (Cn 3:5-6)-Cha Vương

Ước mong bạn và gia đình luôn bình yên và mạnh khoẻ, cảm ơn bạn rất nhiều đã đồng hành với mình trong suốt thời gian qua. Hy vọng những hàng gợi ý suy niệm dựa trên Lời Chúa và quyển sách Gương Chúa Giê-su, quyển sách gối đầu của nhiều vị thánh, đưa bạn đến gần với Chúa hơn mỗi ngày. Quyển sách nào cũng có trang cuối. Bài suy niệm hôm nay là trang cuối của cuốn sách quý giá này. Xin bạn một lời cầu nguyện để mình có đủ sáng suốt để tiếp tục công việc nhỏ bé này mỗi ngày nhé. Xin thành thật đa tạ!

Cha Vương

Thư 3: 07/07/2026.     (t4-21)

TIN MỪNG: Mà không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người. (Dt 11:6) am 

SUY NIỆM: Đức Tin ân ái—Nhiều người phải chịu thử thách gắt gao về Đức Tin, về mầu nhiệm Thánh Thể. Nhưng điều đó không do họ mà do thù địch của họ. Con đừng lo lắng, đừng thắc mắc về những điều con tưởng nghĩ, cũng đừng trả lời những nghi hoặc ma quỉ xui nên. Con cứ tin lời Chúa, lời các Thánh và các ngôn sứ, như thế tà thần sẽ phải rút lui ngay. Với tôi tớ Chúa, chịu thử thách như vậy thường lại rất có lợi. Vì ma quỉ có cám dỗ người vô tín ngưỡng và tội lỗi đâu, trái lại nó tấn công kịch liệt và tìm mọi cách để cám dỗ người đạo đức thánh thiện. Vậy con hãy đi, đi với một Đức Tin đơn sơ nhưng sắt đá, và hãy khiêm nhượng cung kính đến rước lấy Thánh Thể. Và những gì con không hiểu được, con hãy phú thác cho Chúa toàn năng. Chúa không bao giờ lừa dối ai, nhưng ai quá tự tin, người ấy tự lừa dối mình. Chúa đến với những người đơn sơ, tỏ mình cho những người khiêm nhượng, ban trí hiểu cho người thấp bé và giấu ân sủng với người tò mò, kiêu căng. Lý trí nhân loại yếu đuối và có thể sai lầm, nhưng Đức Tin không thể lầm được. Mọi lý luận, mọi sáng kiến tự nhiên, phải rập theo Đức Tin, không được đi trước hay đả phá Đức Tin, vì Đức Tin và Đức Ái ở đây phải giữ địa vị ưu tiên và phải hành động cách nhiệm mầu trong Bí tích cực cao cực đại này. Chúa hằng sống, vô biên và toàn năng đã làm những điều cao cả và bất khả thấu đạt trên trời, dưới đất, và những tác phẩm kỳ lạ của Ngài không tạo vật nào thăm dò nổi. Nếu những kỳ công của Chúa mà lý trí nhân loại lại hiểu thấu được dễ dàng, như thế còn gì là kỳ lạ, là khôn tả. (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:18 t.t., HẾT) 

LẮNG NGHE: Hãy hết lòng tin tưởng vào ĐỨC CHÚA, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi. Đừng tự coi mình là khôn ngoan, hãy kính sợ ĐỨC CHÚA và tránh xa sự dữ. (Cn 3:5-6)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu lân ái, xưa Chúa đã cầu nguyện cho Thánh Phêrô trưởng đoàn tông đồ của Chúa được vững Đức Tin. Xin Chúa gia tăng Đức Tin cho con để con tin Chúa ngự thật trong Thánh Thể. Lạy Mẹ Maria, Mẹ được cao vinh nhiều chỉ vì Mẹ đã yêu nhiều, xin Mẹ giúp con được yêu mến và đầy sùng ái đến rước Chúa Giêsu Thánh Thể.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tin Kính

From: Do Dzung

*******************

Thánh Ca | Tôi Tin

BÀI HỌC TỪ TRONG NỖI CÔ ĐƠN – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Nhiều năm trước, tôi có khuyên một thanh niên, anh có cuộc đấu tranh chống lại nỗi cô đơn gần như ngược đời.  Thay vì cố gắng thoát ra, anh lại sợ mất nó.  Anh khoảng hơn hai mươi tuổi, yêu một cô gái trẻ tuyệt vời, nhưng cảm thấy bị giằng xé về việc cưới cô ấy, vì anh sợ hôn nhân gây trở ngại cho sự cô đơn của anh, và theo lời anh, nó sẽ làm cho anh trở thành “người hời hợt hơn và mất đi những gì có thể dâng tặng Chúa và thế giới này.”

“Tôi bước vào một căn phòng,” anh nói, và “một cách phản xạ, tôi nhìn quanh để tìm một gương mặt buồn rầu, tìm một người nào đó có dáng vẻ gợi cho thấy cuộc sống có nhiều điều hơn là tiệc tùng và những tin tức nóng hổi về những người nổi tiếng.”  Sẽ nguy hiểm nếu ngắn gọn xem trạng thái nặng nề là biểu hiệu của sâu sắc, nhưng trong trường hợp của anh thì điều đó không đúng. 

“Có hai hình ảnh đôi co trong lòng tôi,” anh nói. “Cha tôi mất khi tôi mười lăm tuổi.  Gia đình tôi sống ở miền quê, ông bị lên cơn đau tim.  Chúng tôi vội vàng đưa ông lên xe, mẹ tôi ngồi ôm ông ở băng ghế sau, còn tôi lái xe, mới mười lăm tuổi, và sợ run lên.  Cha tôi mất trên đường tới bệnh viện, nhưng ông chết trong vòng tay mẹ tôi.  Mặc dù chuyện đó rất buồn, nhưng có một cái gì đó rất đẹp.  Lúc nào tôi cũng muốn chết theo kiểu đó, được người tôi yêu ôm trong vòng tay.  Dù hình ảnh đó hút tôi một cách mạnh mẽ về phía hôn nhân, nhưng tôi cũng nhìn hình ảnh Chúa Giê-su chết đơn độc, bị ruồng bỏ, chẳng trong vòng tay của ai, chỉ trong vòng một điều gì đó cao hơn, và tôi cũng bị thu hút về hướng đó.  Hình ảnh đó có một vẻ thanh cao mà tôi không muốn từ bỏ.  Đó cũng là một cách chết hay.

 Anh sợ sẽ mất đi sự cô đơn của mình dù anh khao khát một cách lành mạnh tình cảm thân mật.  Anh không thể nào lý giải được trọn vẹn tại sao anh bị thu hút trước sự cô đơn của Chúa Giê-su trên thập giá, trừ việc cảm thấy rằng điều này cách nào đó là một điều cao đẹp, một điều sâu sắc, và là điều sẽ đem lại cho anh chiều sâu và thanh cao.

 Trước anh, cũng có nhiều người khác có kinh nghiệm này, kể cả Chúa Giê-su.  Chẳng hạn triết gia Soren Kierkegaard, khi còn trẻ, cũng với lý do lo sợ như người bạn trẻ của tôi, ông từ chối hôn nhân.  Dù đúng dù sai, anh cảm thấy những gì anh có để mang tặng cho thế giới này bắt rễ sâu thẳm trong nỗi đau cô đơn của mình, và chỉ có thể tỏa ra từ cốt lõi đó mà thôi, và, nếu anh bớt cô đơn, thì anh cũng sẽ bớt đi những gì có thể trao tặng.  Liệu anh có đúng không?

 Hoa trái của đời một người, ví dụ những người như cha Henri Nouwen, rút ra sức mạnh và khả năng hồi phục từ những tác phẩm của họ, xác nhận cho sự thật của trực giác của họ.  Nhìn hoa trái của họ, bạn sẽ hiểu họ.  Kierkegaard là vị thánh bảo trợ cho những người cô đơn.  Nhưng, như anh bạn trẻ của tôi, ông cũng bị giằng xé bởi những gì điều đó gây ra cho ông.  Quá ít người hiểu được, và điều này dìm ông vào “nỗi buồn của việc đã hiểu ra một điều gì đó chân thực – và rồi thấy mình bị hiểu lầm.”  Ông cũng tự nhận là ông sống trong lời thề “không bao giờ cho phép ai đi vào sâu thẳm trong nội tâm và kết hợp nội tâm sâu sắc với tôi.”  Thomas Merton, khi bàn về vấn đề này, đã nói rằng sự thiếu vắng tình cảm thân mật của đời sống hôn nhân trong đời ông đã tạo thành “một khiếm khuyết trong sự khiết tịnh của tôi.”  Loại sâu sắc này có được cũng bắt nguồn từ một cái giá nào đó.

 Tại sao, bất chấp bất lợi rõ ràng như vậy, mà cô đơn vẫn thu hút nhiều người như Kierkegaard của thế giới chúng ta, với niềm tin rằng đó là chìa khóa dẫn tới sự sâu sắc, lòng lân mẫn, và minh triết?  Cô đơn làm gì cho chúng ta?

Điều mà cô đơn làm cho chúng ta, đặc biệt nỗi cô đơn tột cùng, là lay chuyển bản ngã và khiến bản ngã mong manh đến mức không thể duy trì chúng ta theo cách thông thường được nữa.  Những gì xảy ra sau đó là chúng ta bắt đầu buông bỏ, cảm thấy chúng ta trở nên không còn vướng mắc, hiểu ra sự nhỏ bé của mình, và biết từ trong sâu xa của bản thể rằng chúng ta cần phải kết liên với một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình thì mới sống sót.  Nhưng đó là một trải nghiệm rất đau đớn, và chúng ta có khuynh hướng trốn chạy khỏi nó.

 Tuy nhiên, và đây chính là nghịch lý to lớn, trải nghiệm nỗi cô đơn tột cùng này là một trong những đặc cách để tìm ra câu trả lời sâu thẳm cho cuộc đi tìm bản thể và ý nghĩa của chúng ta.  Bởi vì nó lay chuyển bản ngã và khiến chúng ta mất phương hướng, nỗi cô đơn khiến chúng ta chạm đến những gì nằm bên dưới bản ngã, đó là tâm hồn, bản thể sâu sắc nhất của chúng ta.  Hình ảnh Chúa và sự tương đồng với Chúa nằm ở đó, cũng như năng lượng thanh cao nhất và thiêng liêng nhất của chúng ta cũng ở đó.  Đó chính là sự thật trong niềm tin rằng trong nỗi cô đơn có chiều sâu.

 Và như thế, bài học là, dù lập gia đình hay không: đừng chạy trốn cô đơn.  Đừng coi đó là kẻ thù.  Đừng tìm kiếm  ai khác để chữa chạy nỗi cô đơn của mình.  Hãy coi nỗi cô đơn là đặc cách dẫn tới chiều sâu và lòng lân mẫn. 

Đây là lời khuyên của Hafiz, một nhà thơ Ba-tư xưa: 

Đừng hàng phục nỗi cô đơn
Nhanh đến vậy
Hãy để nó cứa sâu hơn
Để nó ủ men và thêm hương vị
Vì rất ít người phàm
Và ngay cả hương vị thần thánh làm được
Điều trái tim tôi thiếu vắng đêm nay
Đã làm đôi mắt tôi thêm dịu dàng
Giọng nói tôi
thêm trìu mến,
Nhu cầu có Chúa của tôi
Tuyệt đối
Rõ ràng. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA ĐỜI NGƯỜI…

 Pham Kỳlam

 NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA ĐỜI NGƯỜI…

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, ta lang thang trong khuôn viên mái trường, vui cười vô tư và bây giờ đã 50-60-70… năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già!

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Qua một ngày, ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến ta vui một ngày. Vui một ngày… rồi không biết sẽ còn vui được bao nhiêu ngày nữa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống hằng ngày.

Hạnh phúc chỉ là những gì hiện đang ở chung quanh ta, trong tầm tay ta.

Về tiền bạc, ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có mang nó đến, và khi ra đi ta cũng không thể mang nó theo.

Đồng tiền giúp ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú.

Không trách móc ai làm gì nữa. Họ làm sai với ta thì họ cũng đã bị lương tâm cắn rứt, và theo thời gian họ cũng sẽ biết ăn năn, hối hận.

Vào trong internet , fb. để gửi thư cho bạn bè; để chia sẻ một tin mới, một chuyện vui, một bản nhạc hay, một bài viết có giá trị; hay “chat” với người quen biết. Ta cần trau dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.

Hơn nửa đời, ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cữ thì không đủ chất bổ dưỡng. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ. Quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có bạn bè. Gặp bạn tri kỷ, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh trầm cảm stress v. v…

Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa!”.

Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu hay người tình của ta. Hãy luôn trân trọng họ.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu dùng  những gì ta cần vì sẽ có lúc ta để lại cho người khác xài.

Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch.

Ăn được ngủ được là tiên.

Ăn và ngủ đi đôi với nhau.

Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưỡng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.

Khi về già, ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện xưa. Thế nhưng sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời rồi.

Hẹn nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ… mà vui cười thích thú.

Ta phải làm thế nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là liều thuốc bổ quí nhất.

Ta cần tránh đi những sự cãi vã, tranh giành hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.

Chính những lúc cãi vã, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong cuộc sống, không thích hợp trong tuổi của ta, nhất là những người đang đau yếu. Ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan, tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để bác sĩ chăm sóc, luôn luôn giữ bình an trong tâm hồn.

Ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt, chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống ít kiêng cữ khi vào tuổi hoàng hôn.

Thiên đàng không phải đi tìm đâu cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc. Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý  trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh… Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp. Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung.

Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là quy luật ở đời, không ai chống lại được. Khi Tử thần gọi đến thì vui vẻ mà đi. Cốt sao sống thanh thản, không hổ thẹn với lương tâm…

Và cuối cùng  cuộc đời  của một người chỉ là một số không to lớn!!!

 ST fb Nhưng Nguyễn

Bài sưu tầm cũ đăng lại


 

Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

John Nguyễn

 Hành trình từ một Phật tử trở thành Giám mục Công giáo

Ngài sinh ngày 11/6/1916 tại Bangkok, Thái Lan, trong một gia đình Phật tử. Năm 1969, ngài được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Ratchaburi. Đến năm 1972, ngài được Hội đồng Giám mục Thái Lan chọn làm đại diện tham dự Thượng Hội đồng Giám mục tại Rôma.

Giám mục Ratna là tác giả của hơn 20 cuốn sách viết bằng tiếng Thái. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngài chọn tên thánh là Robert.

Sau đây là tự truyện của ngài, kể lại hành trình cuộc đời từ thuở thiếu thời cho đến khi lãnh chức linh mục năm 1949.

“Có đời nào thằng Ratna lại chịu phép Rửa để theo đạo!”

Đó là lời nhận xét của một số bạn bè sau những năm cùng học với tôi tại Học viện Wan Yan, do các cha Dòng Tên phụ trách.

Trong suốt ba năm học tại đây, tôi bị xem là một học sinh rất lạnh nhạt với đạo Công giáo. Tôi không bao giờ bước vào nhà nguyện, cũng chẳng bao giờ bàn luận về chuyện đạo nghĩa. Dù vẫn phải học các giờ Giáo lý theo chương trình bắt buộc của nhà trường, nhưng đối với tôi, môn Giáo lý chẳng khác gì môn Toán hay môn Sử, thậm chí còn kém hấp dẫn hơn.

Nếu lúc ấy tôi tỏ ra chống đối đạo, có lẽ các bạn Công giáo đã đến tranh luận với tôi về vấn đề tôn giáo. Nhưng không, tôi chỉ dửng dưng, lạnh nhạt với đạo như một khúc xương khô giữa sa mạc.

Lời nhận xét ấy được nói với tôi vào buổi tối cuối cùng trước khi chúng tôi rời Học viện Wan Yan để vào Đại học Hồng Kông, sau khi vừa tốt nghiệp trung học.

Thế nhưng, một điều lạ lùng đã xảy ra. Chỉ ít ngày sau khi rời Học viện Wan Yan, trong một buổi lễ rất âm thầm tại nhà nguyện Ricci, người lãnh nhận Bí tích Rửa tội lại chính là tôi.

– Tại sao tôi trở thành người Công giáo?

Có một điều tôi có thể khẳng định: tôi theo đạo không phải vì bị lôi cuốn bởi chân lý đức tin, cũng không phải vì bị thuyết phục bởi những lập luận hợp lý của đạo Công giáo.

Giờ đây, khi nhìn lại quá khứ, tôi nhận ra một vài biến cố đã âm thầm chuẩn bị tâm hồn tôi, từ thời thơ ấu, qua chín năm tiểu học tại trường Mông Triệu, tức Assumption College, do các thầy Dòng Thánh Gabriel phụ trách tại Bangkok, rồi ba năm tại Học viện Wan Yan ở Hồng Kông, do các cha Dòng Tên điều hành.

Tôi không nhớ có giây phút nào mình từng được soi sáng đặc biệt bởi chân lý Kitô giáo. Tôi cũng không nhớ có cuộc tranh luận nào khiến tôi bị thuyết phục đến mức phải tự nhủ: “Đây là chân lý, tôi phải chấp nhận và phải theo đạo.”

– Mọi sự đã diễn ra như sau.

Tôi được rửa tội năm 1937, khi vừa 21 tuổi. Đó là buổi tối trước ngày khai giảng năm học tại Đại học Hồng Kông. Ở tuổi ấy, một thanh niên có trình độ đại học như tôi có đủ lý do để tự hào. Hơn nữa, tôi lại có năng khiếu tranh luận. Tôi từng là thành viên của nhóm tranh luận tại Học viện Wan Yan và thường tham gia tranh luận về đủ mọi vấn đề, ngoại trừ vấn đề tôn giáo.

Ngay từ nơi cha tôi, một Phật tử đạo hạnh, tôi nhận ra rằng chính ông đã âm thầm gieo vào tâm hồn tôi những hạt giống đầu tiên của giáo huấn Công giáo, dù ông không hề biết điều đó.

Cuộc sống tự nhiên của cha tôi toát lên nhiều nhân đức đáng kính. Ông không hút thuốc, không uống rượu. Trong công việc, ông cần mẫn và chăm chỉ. Trong giao tiếp, ông chân thật. Với bạn bè, hàng xóm, ông nhân ái và rộng rãi. Ông có lòng kính trọng tôn giáo và không bao giờ nuôi lòng thù oán ai. Mọi người đều kính trọng ông.

Cha tôi cũng không hề có ác cảm với Công giáo. Khi một người bạn Công giáo qua đời, ông còn nhiệt thành giúp đỡ trong các nghi thức tôn giáo. Dù không ai gọi ông là thánh, nhưng ai cũng kính trọng ông vì đời sống đạo đức và lương thiện.

Mỗi buổi sáng, ông thường ngồi ở cổng nhà để phân phát thức ăn cho các vị sư đi khất thực. Ông giữ thói quen ấy cho đến khi tuổi già, sức khỏe suy yếu, nhất là sau khi bị liệt một phần cơ thể.

Trong việc giáo dục con cái, cha tôi rất nghiêm khắc và luôn đặt nặng lễ nghĩa. Ông dạy chúng tôi phải chăm chỉ, cẩn thận, dù làm việc nhỏ hay việc lớn. Nhờ lối giáo dục ấy, tôi không hút thuốc, không uống rượu, và trong túi lúc nào cũng chỉ giữ một ít tiền. Tôi cũng thường được sai làm việc chung với người giúp việc trong nhà. Khi nhà có khách, tôi luôn đóng vai trò hầu bàn. Tất cả những điều đó về sau đã trở thành thói quen trong đời sống tôi.

Bà nội là người dạy tôi học Kinh Phật và chỉ cho tôi cách phân phát thức ăn cho các vị sư khất thực. Dù cha tôi cầu nguyện mỗi ngày, ông không bao giờ bắt các con phải làm giống mình. Chỉ vào dịp Tết Nguyên đán, ông muốn mọi nghi thức trong gia đình phải được thực hiện cách nghiêm chỉnh.

Có thể nói, tôi lớn lên trong một gia đình Phật tử trung lưu, sống bằng nghề buôn bán.

Năm lên bảy tuổi, theo chân các anh, tôi được gửi vào trường Mông Triệu do các thầy Dòng người Pháp điều hành. Tôi học ở đó suốt chín năm. Trong ngần ấy thời gian, tôi chưa bao giờ cảm thấy bị lôi cuốn hay quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Tôi nghĩ Công giáo cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo khác. Ngoài một vài lần tham dự lễ an táng, tôi hầu như không bước chân vào nhà thờ.

Tuy nhiên, tôi vẫn nhớ có hai sự việc đã xảy ra trong thời gian ấy.

Một buổi sáng, khi tôi đang chơi đùa với các bạn trong sân trường, thầy Giám đốc Martin de Tour bất ngờ đến gặp và nói với tôi về giáo lý. Tôi lắng nghe rất nghiêm chỉnh, nhưng sau đó lại chạy đi chơi tiếp, trong lòng không hề có một chút xúc động nào trước những điều thầy vừa nói.

Lần thứ hai xảy ra vào những năm cuối ở trường Mông Triệu. Khi ấy, chúng tôi học về triết lý Công giáo. Thầy dạy môn này đã dùng lý luận khoa học để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi có nghe, nhưng không chú ý. Tôi không từ chối, cũng không chấp nhận. Trong đầu tôi chẳng có tư tưởng nào hướng về Công giáo. Tôi không tin, cũng không phản bác. Tôi chỉ hoàn toàn lạnh nhạt và thờ ơ.

Năm 1932, tôi rời trường Mông Triệu, mang theo nhiều kỷ niệm, lòng thán phục đối với lối giáo dục của nhà trường, cùng sự kính mến dành cho các thầy dòng và các giáo sư nơi đây.

Vài tháng sau, tôi lên đường sang Hồng Kông để nhập học tại Học viện Wan Yan, nơi anh tôi đã bắt đầu học trước đó một năm.

Tại Học viện Wan Yan, thái độ dửng dưng của tôi đối với đạo Công giáo vẫn không thay đổi. Dĩ nhiên, tôi vẫn phải học môn Giáo lý, nhưng chỉ vì đó là một phần trong chương trình học. Thế thôi. Giáo lý Công giáo không tạo nơi tôi chút chú ý nào.

Có một lần, vào dịp lễ Giáng Sinh, tôi vào nhà nguyện của trường để nghe cha Giám đốc Gallagher giảng. Mọi sự đối với tôi vẫn hoàn toàn xa lạ. Tôi vào nhà nguyện chỉ vì anh tôi muốn tôi vào.

Sau một năm học chung trường với tôi, anh tôi trở về nhà.

Tại Học viện Wan Yan, tôi rất thích đọc sách truyện. Cha Bourke thường đưa sách cho tôi đọc. Tôi rất kính mến và biết ơn ngài, nhưng chưa bao giờ để cha có dịp nói chuyện với tôi về tôn giáo.

Cha Ryan cũng vậy. Ngài muốn tôi cộng tác với tờ báo The Rock của ngài trong phần thiết kế các bản đồ. Một ngày kia, cha Ryan đến phòng tôi nhờ vẽ một bản đồ. Bất chợt, ngài hỏi:

“Ratna, con có bao giờ quan tâm đến tôn giáo không?”

Tôi trả lời rất ngắn gọn, khô khan, chấm dứt câu chuyện cũng bất ngờ như cách nó bắt đầu:

“Thưa cha, không.”

Cha giáo sư Martin thì mỗi tuần thường dẫn chúng tôi ra bãi biển hoặc đi thăm các đồi núi. Tôi rất yêu cảnh đẹp của Hồng Kông và tận hưởng những giây phút thoải mái ấy. Nhưng tôi không bao giờ nói với ngài về tôn giáo. Tôi tham gia gần như mọi sinh hoạt của trường, ngoại trừ các sinh hoạt đạo đức.

Rồi chuyện ấy đã xảy ra.

Vào năm cuối tại Học viện Wan Yan, khi chúng tôi chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học, cha Donnelly tổ chức một kỳ cấm phòng cho học sinh.

Cha nói:

“Trước khi rời trường, cha nghĩ các con nên có một buổi cấm phòng.”

Các học sinh Công giáo cũng như không Công giáo đều tỏ ra vui thích trước kỳ cấm phòng này. Riêng tôi, vì không muốn bị bầu khí sôi động của lớp học chi phối quyết định, nên lúc đầu không bày tỏ ý kiến gì. Sau đó, tôi cũng quyết định tham dự, nhưng với một ý nghĩ rất đơn giản: đi thử xem cấm phòng là gì.

Kỳ cấm phòng được tổ chức tại một ngôi trường cũ ở vùng Kowloon. Nơi ấy thật yên tĩnh, có nhiều phòng và phía sau là một khu vườn để đi dạo. Trong suốt kỳ cấm phòng, mọi người làm gì thì tôi làm theo như vậy.

Điều duy nhất tôi còn nhớ rõ là trong những ngày ấy, tôi đã tự kềm chế và giữ im lặng một cách rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, không có thị kiến nào xảy đến với tôi. Cũng chẳng có tia sáng lạ lùng nào chiếu soi tâm hồn tôi.

Theo chương trình đã định, trong kỳ cấm phòng, cha Donnelly gặp riêng từng người tham dự. Ngài cũng gặp tôi.

Ngài hỏi:

“Ratna, con thấy kỳ cấm phòng thế nào?”

Tôi đáp:

“Thưa cha, tốt lắm.”

Ngài hỏi tiếp:

“Con nghĩ gì về đạo Công giáo?”

Tôi trả lời rằng tôi có vài điểm nghi ngờ về Thiên Chúa. Ngài giải thích cho tôi. Tôi gật đầu rồi ra về, không hề bận tâm gì thêm.

Cho đến lúc ấy, tôi vẫn cảm thấy mình thờ ơ và lạnh nhạt như trước. Không có một động lực nhỏ bé nào khiến tôi nghĩ rằng mình đang muốn gia nhập đạo Công giáo.

Thế rồi tôi thay đổi.

Sau kỳ cấm phòng, một người bạn gặp tôi và nói rằng có vài người nhận thấy cách sống của tôi đã thay đổi nhiều. Tôi suy nghĩ về điều ấy và quả thật, tôi nhận ra trong lòng mình có một niềm vui, một tia sáng nào đó phát xuất từ tận đáy tâm hồn, điều mà trước kia tôi chưa từng cảm nghiệm.

Tôi cười, và cười thật lớn, với một niềm hạnh phúc như tràn đầy trong tâm hồn. Tôi ý thức rằng có một ân sủng thiêng liêng đang bao phủ mình. Không lạ gì khi một vài người bạn tinh ý đã nhận ra điều đó.

Một nguồn ân sủng thiêng liêng đã tràn đến, cuốn đi sự lạnh nhạt và thờ ơ trong lòng tôi. Nguồn ân sủng ấy làm sống dậy khát vọng tìm kiếm chân lý và hạnh phúc tự nhiên trong đời sống. Những sắc màu tươi mới bắt đầu xuất hiện trên vùng đất héo úa của linh hồn tôi. Mảnh xương khô giữa sa mạc nay đã có dấu hiệu của sự sống.

Tất cả những điều ấy nảy sinh và kết tụ trong linh hồn tôi cách lặng lẽ, âm thầm, đến nỗi chính tôi cũng không hay biết.

Như được cuốn hút bởi một sức mạnh ân sủng không thể cưỡng lại, con tàu linh hồn tôi đang chuẩn bị thả neo tại một bến cảng thánh thiện: Giáo hội Công giáo. Đêm tối đã rút lui để nhường chỗ cho ánh sáng ban ngày. Sương mù tan biến, để con mắt linh hồn tôi bắt đầu chiêm ngưỡng thế giới thiêng liêng. Bàn tay thần linh đã chạm đến trái tim tôi, và sự chạm đến ấy đem lại ánh sáng cùng lẽ sống cho linh hồn.

Giờ đây chỉ còn chờ một cơ hội thuận tiện để nguồn ánh sáng âm thầm và kỳ diệu ấy được tỏ lộ, không chỉ cho tôi, mà còn cho những người chung quanh.

Sau kỳ cấm phòng, xét theo phong cách bên ngoài, tôi vẫn sống như trước. Nhưng bên trong, tôi đã đổi khác rất nhiều.

Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi trở lại Học viện Wan Yan và tạm trú tại hội trường Ricci. Tôi đến gặp cha Bourke, Giám đốc nhà trường, để chào ngài lần cuối và thanh toán số học phí còn thiếu. Cha Bourke có vẻ buồn, vì suốt ba năm được ngài chăm sóc và hướng dẫn, nơi tôi chẳng có dấu hiệu nào cho thấy tôi đã thấm nhuần đạo giáo.

Ngài nói:

“Ratna, cha nghĩ có lẽ con sẽ khá hơn nhiều nếu con là người Công giáo.”

Tôi đáp:

“Thưa cha, con cũng nghĩ như vậy.”

Rồi tôi kể cho ngài nghe những gì đã xảy ra trong lòng mình.

Có lẽ cha Bourke chưa từng ngạc nhiên đến thế trong đời.

Sự quy phục thoát ra từ tiềm thức tôi như dòng nước lũ cuồn cuộn phá vỡ bờ đê của tình trạng thờ ơ lạnh nhạt, rồi cuốn trôi tất cả. Một gánh nặng nào đó từ lâu đè nén trong lồng ngực như vừa được cất bỏ. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và thanh thản.

Vài ngày sau, tôi được rửa tội tại hội trường Ricci. Cha Ryan chủ sự, còn ông Chevalier J.M. Alves là cha đỡ đầu của tôi.

Tôi không xứng đáng được gia nhập Giáo hội Công giáo. Tất cả chỉ là hồng ân Chúa đã dẫn tôi đến với Ngài: “Gratia Dei ego sum id quod sum” – “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr 15,10). Tôi đã từ chối mọi cố gắng thuyết phục của con người, nhưng cuối cùng lại đầu hàng trước ân sủng của Thiên Chúa.

Giờ đây, tôi thấy rất rõ rằng sự tận tâm trong việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện của các thầy Dòng Thánh Gabriel và các cha Dòng Tên đã âm thầm chuẩn bị mảnh vườn tâm hồn tôi, để hạt giống đức tin có thể nảy mầm.

Đối với tôi lúc ấy, điều quan trọng không còn là “làm sao” hay “bằng cách nào” tôi theo đạo, nhưng là “làm sao” và “bằng cách nào” để tôi giữ đạo. Tôi biết có một vài người bạn, sau khi được rửa tội một thời gian, đã không còn sống đức tin nữa. Tôi cũng hiểu những khó khăn khiến họ không tiếp tục. Nhưng trong thâm tâm, tôi tự nhủ sẽ gìn giữ đức tin và sống đạo cho đến hết đời.

Những suy nghĩ ấy đã làm cho đời sống tôi thay đổi sau ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

Từ một người lạnh nhạt, thờ ơ, giờ đây tôi trở nên nóng lòng muốn tìm hiểu mọi điều về Giáo hội. Tôi không muốn trong đầu mình còn một nghi ngờ dù nhỏ bé. Tôi không muốn còn một thắc mắc nào vương lại trong trí. Tôi dồn hết cố gắng để hiểu các giáo huấn của Giáo hội. Tôi muốn đức tin của mình được xây dựng vững chắc trên nền tảng suy tư và lý luận.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần các cuốn Apologetics, Radio Replies của Sheehan và Ripley. Tôi học Ethics của Ignatius dưới sự hướng dẫn của cha Byrne. Các tác giả như Chesterton, Belloc và Maurice Baring cuốn hút tôi. Những cuốn sách tôi đọc lúc bấy giờ hầu như hoàn toàn là sách tôn giáo: Chúa Kitô, Lẽ Sống của Linh Hồn của Marmion; Một Tâm Hồn của Thánh nữ Têrêsa; Những Vị Thánh Cho Kẻ Tội Lỗi của Goodier; Người Phong Cùi Tên Damien của John Farrow. Những tác phẩm ấy trở thành sách tu đức của tôi.

Tôi gia nhập Phong trào Hộ Giáo, và năm 1941, nhóm chúng tôi đoạt giải trong một cuộc tranh luận với Hội Thánh Joan of Arc.

Càng tìm hiểu về Giáo hội, tôi càng cảm phục sự hoàn hảo trong cách Giáo hội giải đáp các vấn nạn của đời sống. Đối với tôi, giáo lý Công giáo là nguồn mạch soi sáng cho mọi lãnh vực tri thức. Tôi vui mừng nhận ra sự hài hòa giữa khoa học và Giáo hội. Tôi kinh ngạc khám phá rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra lịch sử nhân loại. Tôi thán phục cách Giáo hội góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Tôi cũng ngưỡng mộ cách Giáo hội bảo vệ luân lý và sự thanh khiết.

Càng tìm hiểu những chống đối nhắm vào Giáo hội, tôi càng nhận ra vẻ toàn bích và toàn mỹ của Giáo hội hơn nữa. Nếu giáo huấn của Giáo hội có khiếm khuyết theo cách nào đó mà tôi có thể nhận ra, có lẽ tôi đã không giữ đạo cho đến hôm nay.

Tôi tham dự Thánh lễ và rước lễ mỗi ngày. Tháng 5 năm 1938, tôi gia nhập Hiệp hội Thiếu niên Thánh nữ Maria. Tôi giúp lễ và cảm thấy hạnh phúc khi được đến với Mẹ Maria vào mỗi tháng Năm. Tôi cũng trở thành hội viên Hội Thánh Vincent de Paul, đi xin quần áo cũ cho người nghèo. Tôi xúc động trước đời sống của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và cố gắng noi theo con đường bé nhỏ của thánh nữ.

Thật kỳ diệu khi nhìn lại sự biến đổi nơi tôi: từ một người lạnh nhạt, thờ ơ với Giáo hội suốt mười hai năm dài, dù đã sống trong chiếc nôi của Giáo hội, nay lại được ân sủng tràn ngập cách dồi dào.

Tôi báo cho cha tôi biết việc tôi đã được rửa tội. Ông không phản đối. Có lẽ ông cũng không biết đời sống đạo của tôi lúc ấy đã trở nên mạnh mẽ đến mức nào.

Tháng 5 năm 1941, tôi tốt nghiệp Đại học Hồng Kông. Tương lai mở ra trước mắt tôi với rất nhiều hứa hẹn thành công. Nhưng tôi đã quyết định đi tu để trở thành linh mục.

Tôi trở về nhà với hy vọng cha tôi sẽ đồng ý cho tôi đi tu. Nhưng trái lại, ông không những không đồng ý mà còn tìm cách làm cho tôi bỏ đạo. Ông ngạc nhiên, rồi từ ngạc nhiên chuyển sang giận dữ khi thấy tôi sùng đạo đến như vậy.

Thời gian ấy, chiến tranh Pháp tại vùng Đông Dương cùng những biến động xã hội khiến cả đời sống Giáo hội cũng trải qua nhiều khó khăn. Cha tôi vin vào đó để cho rằng việc tôi vào đạo và sống đạo đã đem lại những rủi ro cho gia đình. Ông không hiểu rằng người Công giáo rất “cứng cổ” trong việc tin đạo và sống đạo.

Tôi cũng nhận ra rằng đời sống đạo của mình đang trở thành nguyên nhân gây xáo trộn trong gia đình. Tôi không biết phải làm sao để mọi người hiểu được. Tôi buộc phải đối diện với những biến động của đời sống và phải chọn một trong hai: Thiên Chúa hay thế gian.

Được thêm sức bởi Bí tích Thánh Thể mà tôi lãnh nhận trong một Thánh lễ tại Dòng Carmelite, vào một buổi sáng, tôi quyết định rời gia đình. Tôi không báo cho ai biết, cũng không để lại địa chỉ hay lời từ biệt nào. Tôi vào chủng viện tại Bank Nok Khuek, Ratburi, ngay trước khi chiến tranh thật sự bùng nổ tại vùng Viễn Á.

Trong khi chiến tranh lan rộng khắp nơi, tại một góc nhỏ yên tĩnh giữa khu vườn dừa rậm rạp, thỉnh thoảng vang vọng vài tiếng bom nổ từ xa, một nhóm chủng sinh, trong đó có tôi, âm thầm trau dồi các môn Triết học và Thần học.

Tôi được thụ phong linh mục vào lễ Thánh Gioan Bosco, ngày 31/1/1949. 


 

ĐÔI MẮT CÓ TIM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng”.

Có người hỏi Mẹ Têrêxa, làm sao Mẹ có thể nhận ra Đức Kitô? Mẹ trả lời: “Tôi nhìn từng người như Chúa Giêsu cải trang. Mỗi người nghèo là Đức Kitô trong hình dạng đau khổ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Mẹ Têrêxa học được cách nhận ra Chúa Giêsu cải trang nơi người nghèo. Có những đôi mắt nhìn rất rõ mà không thấy con người; nhìn rất xa mà không nhìn sâu. Lời Chúa hôm nay cho thấy Chúa Giêsu nhìn thấu con người và nỗi đau của từng người bằng một ‘đôi mắt có tim’.

Thấy đám đông lầm than vất vưởng, Chúa Giêsu không thấy một đám người vô danh; Ngài thấy từng cuộc đời. Bản Hy Lạp viết eskylmenoi kai errimmenoi – “bị xâu xé và quăng xuống”. Đó là những con người bị cuộc đời làm cho tơi tả, bị bỏ mặc như chiên không người chăn. Ngài thấy những vết thương ẩn sau mỗi khuôn mặt; thấy nỗi mệt mỏi ẩn sau những bước chân; thấy những tiếng kêu không ai nghe.

Vậy mà ánh mắt của Ngài không dừng ở lòng trắc ẩn; nó luôn hoá thành một bước chân. Vì thế, Ngài bước đến chữa lành, giải thoát, rồi nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít!”. Ai nhìn bằng một ‘đôi mắt có tim’ sẽ không thể đứng yên trước những cánh đồng đang chờ người gặt. Lòng thương xót đích thực không kết thúc bằng giọt nước mắt, nhưng khởi đầu bằng một đôi chân biết lên đường. “Điều tình yêu nhìn thấy, đôi chân phải tìm đến!” – Madeleine Delbrêl.

Hôsê cũng hé lộ một Thiên Chúa biết đau vì dân Ngài. Israel đã tự lập vua mà không cần Ngài, lấy bạc vàng đúc nên ngẫu tượng và dựng lên những bàn thờ của riêng mình – bài đọc một. Nhưng Thiên Chúa không vì thế mà thôi nhìn họ bằng mắt xót thương. Giữa một dân nhiều lần phản bội, Thánh Vịnh đáp ca vẫn tha thiết: “Nhà Israel, hãy tin cậy Chúa!”. Điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải là thêm những bàn thờ, nhưng là những trái tim biết trở về.

Nhưng trở về với Chúa không dừng lại ở cảm xúc đạo đức. Chúng ta thương, rồi quên; xót xa, rồi bước tiếp; thích bàn về truyền giáo hơn là trở thành người truyền giáo; thích lập kế hoạch hơn là quỳ xuống cầu nguyện. Điều lạ là trước khi sai các môn đệ lên đường, Chúa Giêsu lại bảo họ cầu xin Chủ mùa gặt. Truyền giáo không bắt đầu từ những chương trình lớn, nhưng từ những con người biết ở lại với Chúa. “Chúng ta không cần quá nhiều ý tưởng lý thuyết về kế hoạch mục vụ. Điều cần là cầu nguyện với Chủ mùa gặt!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Đức Kitô là dung mạo hữu hình của lòng thương xót Chúa Cha. Nơi Ngài, Thiên Chúa không chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con người, nhưng bước vào chính nỗi khổ ấy. Trên thập giá, Ngài mang lấy mọi vết thương và mọi phận người bị bỏ rơi để trao ban sự sống mới. Từ đó, không một ai còn nằm ngoài ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa. Theo Đức Kitô là để chúng ta cũng biết nhìn bằng một ‘đôi mắt có tim’, nhận ra nơi mỗi con người một người anh em được Thiên Chúa yêu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đổi ánh nhìn của con trước khi đổi công việc; để mỗi người con gặp không còn chỉ là một khuôn mặt, nhưng là một người anh em được Chúa yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 9,32-38

32 Khi ấy, người ta đem đến cho Đức Giê-su một người câm bị quỷ ám. 33 Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng : “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ !” 34 Nhưng người Pha-ri-sêu lại bảo : “Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.”

35 Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

36 Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. 37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng : “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”


 

Chris Yên, đạo diễn gốc Việt từ chối $1 triệu của Hollywood-Kalynh Ngô/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

July 6, 2026

Kalynh Ngô/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) – Với một người có tư duy sáng tạo, thì thật khó để nói chính xác một ý tưởng thường bắt nguồn từ đâu, bởi vì đôi khi nó bất ngờ như từ trên trời rơi xuống. Tuy nhiên, một khi ý tưởng đã hình thành, họ nhìn lại, hiểu ra nguồn gốc cũng như điểm khởi đầu của nó, thì họ quyết tâm bảo vệ bản chất nguyên thủy của ý tưởng đó bằng mọi giá. Cho dù đó là lời mời hấp dẫn trị giá $1 triệu của Hollywood để mang kịch bản phim lên màn ảnh rộng.

“Bầu, Cua, Tôm Cá là của người Việt”

“Nếu muốn bàn về chuyện tiền bạc, chính sản phẩm có phẩm chất cao nhất mới là thứ mang lại giá trị tài chính. Vậy đâu là sản phẩm có phẩm chất cao nhất? Đó chính là sản phẩm chân thực nhất và giàu ý nghĩa nhất,” anh Chris Yên, đạo diễn gốc Việt sinh năm 2000, giải thích về lý do anh từ chối số tiền mà nhà đầu tư muốn đặt vào bộ phim đầu tay của anh – “Bầu, Cua, Tôm Cá” (Fish, Prawn, Crab).

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên, cũng là diễn viên chính trong bộ phim Bầu, Cua, Tôm Cá. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Phần giới thiệu (trailer) dài khoảng hai phút của “Bầu, Cua, Tôm Cá” cho thấy một nhóm “băng đảng” trẻ tuổi gồm hai thanh niên da đen và một thanh niên Châu Á, do Chris thủ vai, đi vào một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Họ diễn một vở kịch để anh thanh niên Châu Á thừa cơ hội trộm hết tiền trong két sắt của ông chủ. Khi ra cửa, tên trộm còn nhớ lấy theo vài cái bánh để “mừng chiến thắng” với “đồng đội.” Ông chủ, cũng gốc Châu Á, vác cây súng trường chạy ra. Tiếng súng vang lên…

Chris nói, anh đặt một trò chơi dân gian trong ngày Tết của người Việt trong bối cảnh của cuốn phim về tội phạm vì nhân vật chính là một người lớn lên trong nghèo khó, chật vật mưu sinh để chăm sóc em gái của mình.

“Và, điều đó cho thấy rằng ngay cả trong những giai đoạn sóng gió hay khó khăn nhất của cuộc đời, bạn vẫn có thể tận hưởng khoảng thời gian bên gia đình.”

Theo lời anh, rất nhiều nhà biên kịch có tiếng nói trong ngành đã đọc qua kịch bản này và họ đánh giá rất cao.

“Chúng tôi liên tục họp bàn với nhiều hãng phim, từ các hãng lớn cho đến những đơn vị nhỏ hơn. Trong số đó, có một hãng phim lớn ở Hollywood tỏ ra rất hào hứng với kịch bản và muốn bỏ vốn sản xuất. Khi bàn đến phần sáng tạo, họ hoàn toàn ủng hộ chúng tôi,” đạo diễn Chris Yên kể lại trong cuộc nói chuyện qua Zoom.

Thế nhưng, mọi chuyện lại trở nên khác đi khi chuyển sang quảng cáo. Nhóm đầu tư bắt đầu muốn thay đổi mọi thứ theo góc nhìn thuần túy về lợi nhuận. Có nhiều điều vô lý theo cách nhìn của một đạo diễn sáng tạo như Chris, nhưng hoàn toàn hợp lý vì “hợp túi tiền” theo góc nhìn của người đầu tư.

“Chẳng hạn, họ bàn về thời lượng phim, dự trù ​​ban đầu là 2 tiếng 15 phút, nhưng họ lại muốn cắt bỏ tới 45 phút để rút ngắn xuống còn 1 tiếng 30 phút. Lý do là họ tin rằng phim ngắn hơn sẽ thu hút nhiều khán giả hơn và dễ dàng xếp lịch chiếu tại các rạp hơn. Họ không quan tâm đến phẩm chất nghệ thuật,” Chris nói.

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên (giữa,) cũng là diễn viên chính trong bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá.” (Hình: Chris Yên cung cấp)

Nhưng đó chỉ là một việc nhỏ. Điều làm cho chàng đạo diễn gốc Việt này “tức giận” – theo lời anh – là câu hỏi “liệu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc có giống nhau hay có thể thay thế cho nhau hay không?”

Công ty này hiểu Tết Việt Nam và Tết Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng. Vì vậy, họ đã đặt câu hỏi liệu câu chuyện có thể chuyển đổi qua lại giữa hai nền văn hóa hay không. Sau đó họ nói Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ. Hiện tại, quy mô của nó thậm chí còn lớn hơn cả Bollywood của Ấn Độ. Thêm nữa là họ muốn có những tên tuổi lớn, những diễn viên nổi tiếng tham gia bộ phim.

“Do đó, vì không có sẵn những tên tuổi lớn của Việt Nam, họ thà chuyển hướng sang bối cảnh Trung Quốc để có thể đưa các ngôi sao Trung Quốc vào phim,” Chris nói, giọng nói đầy chất điện ảnh của chàng trai gốc Việt vẫn chưa nguôi cơn tức giận.

Chris nói anh là “một người Việt Nam đang kể câu chuyện về dân tộc mình,” và điều đó chính là điều làm nên phẩm chất cao nhất của bộ phim.

Khi nhà đầu tư muốn nhân vật chính là người Trung Quốc và đưa các yếu tố Trung Quốc vào khắp mọi nơi trong kịch bản gốc, anh Chris trả lời không cần suy nghĩ: “Không!”

“Là một người Mỹ gốc Việt đại diện cho văn hóa và cộng đồng của mình, thật vô lý khi làm một bộ phim về người Trung Quốc. Tôi tin rằng rất nhiều người có những tài năng tiềm ẩn. Kỹ năng có thể được đào tạo và kinh nghiệm có thể được tích lũy, thì niềm đam mê lại là thứ bẩm sinh. Có rất nhiều người Việt đang khao khát những cơ hội như thế này, và tôi muốn mang đến cho họ cơ hội đó.”

Số tiền $1 triệu cho một dự án phim dài đầu tay đối với một đạo diễn trẻ như Chris Yên không phải là con số nhỏ. Phim ngắn đầu tiên của anh, “Suburban Story” thực hiện với chi phí chỉ $10,000 và đoạt 15 giải thưởng. Nhưng Chris nói, mục tiêu của anh là đại diện cho người Việt, kể những câu chuyện của mình. Anh không muốn trở thành kẻ bán rẻ lý tưởng của chính mình, “nếu kiên định giữ vững lập trường ngay từ đầu, mọi người sẽ hiểu rằng tôi ở đây là để kể câu chuyện của chính tôi và dân tộc mình.”

Những vùng xám đạo đức

Không phải ngẫu nhiên mà Chris lấy tên là Chris Yên. Tên thật của anh là Chris Nguyễn. Nhưng Chris thích chữ “Yên” nghĩa là “Peace.” An yên, bình yên, đó là điều mà chàng trai gốc Việt sinh năm 2000 này mong muốn.

Mọi chuyện bắt nguồn từ xuất thân và năm tháng trưởng thành của anh. “Là một người Mỹ gốc Việt, tôi đã chứng kiến ​​cảnh cha mẹ mình chật vật mưu sinh tại đất nước này. Họ gặp nhau khi đến Mỹ sau Chiến Tranh Việt Nam. Cả hai nỗ lực xây dựng cuộc sống cũng như xoay xở để tồn tại theo những cách rất khác biệt,” Chris kể lại, khi tôi hỏi “Bầu, Cua, Tôm Cá mang màu sắc gì?”

“Mẹ tôi đi theo con đường truyền thống, bà học đại học và trở thành kỹ sư máy tính. Ngược lại, cha tôi gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với văn hóa và ngôn ngữ mới. Để kiếm sống, ông vướng vào con đường phạm pháp. Ông từng buôn bán ma túy, nghiện cờ bạc, điều hành sòng bạc chui, cho vay nặng lãi, và cả môi giới mại dâm. Ông đang ngồi tù vì nghiện ma túy đá. Tôi chứng kiến ​​tất cả điều đó khi còn nhỏ.”

Cha mẹ và Chris Yên khi mới chào đời. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Chris Yên lớn lên giữa hai lối sống hoàn toàn trái ngược. Điều đó dạy anh từ khi còn rất nhỏ rằng, “luôn tồn tại những vùng xám trong đạo đức.”

Không phải mọi thứ đều chỉ có tốt hay xấu, trắng hay đen. Đôi khi người ta làm điều xấu vì những lý tưởng hoặc lý do chính đáng. Người cha của Chris cũng vậy, “ông làm tất cả những điều đó chỉ vì muốn nuôi nấng tôi nên người. Tôi nghĩ đó chính là nguồn cảm hứng cho câu chuyện của mình.”

Chris nói anh đặc biệt bị những vùng xám đầy phức tạp trong đạo đức con người cuốn hút. Những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất, chẳng hạn như Bố Già (The Godfather) – đó là câu chuyện về tội phạm, nhưng khán giả vẫn say mê vì họ muốn thấu hiểu lý do đằng sau những hành động đó.

“Câu chuyện của tôi cũng bắt nguồn từ chính tư duy ấy,” Chris giải thích. “Với Bầu, Cua, Tôm Cá, tác phẩm này được lấy cảm hứng từ trò chơi dân gian, đó là những thứ đã gắn liền với tuổi thơ tôi và là hình ảnh phản chiếu chân thực văn hóa Việt Nam mà tôi từng trải nghiệm. Trò chơi này cũng đại diện tuyệt vời cho vùng Bay Area, nơi tôi lớn lên, một vùng đất hội tụ các nền văn hóa đa dạng. Nếu quan sát các hình ảnh trên bàn cờ, bạn sẽ thấy sự kết hợp của đủ loại hải sản và sinh vật biển cùng hiện diện tại đó.”

Trong vùng xám của Chris, anh đặt cha mẹ của mình – những người tị nạn – vào một vùng trên bàn cờ “Bầu, Cua, Tôm Cá.” Nơi đó, họ đánh cược với một đất nước mà họ hoàn toàn không thấu hiểu và phải vật lộn để sinh tồn. “Họ không có thời gian để hoàn thiện bản thân. Họ buộc phải lao ngay vào cuộc mưu sinh, vào công việc để xây dựng cuộc sống cho thế hệ của tôi,” Chris nói.

“Cha mẹ tôi vẫn còn mang nặng những tổn thương tâm lý từ chiến tranh và gặp nhiều bất ổn trong cuộc sống.”

Suốt thời thơ ấu của anh, cha mẹ thường xuyên tranh cãi và gặp rắc rối. Chris thậm chí chẳng nhớ nổi khoảnh khắc nào cả nhà anh từng cùng ngồi ăn tối vui vẻ bên nhau.

Điện ảnh luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của Chris Yên. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Tuy nhiên, Chris nhớ, có một khoảng thời gian hiếm hoi, anh thực sự được trọn vẹn ngồi bên cạnh cha mẹ, đó là khi gia đình cùng ngồi trong phòng xem một bộ phim dài hai tiếng đồng hồ. “Chúng tôi có thể ngồi lặng yên và cùng tận hưởng thời gian đó. Từ đó tôi nhận ra rằng nghệ thuật và điện ảnh có sức mạnh kết nối các nền văn hóa. Phim ảnh đã gắn kết chúng tôi lại, giúp xoa dịu những xung đột và xóa nhòa khoảng cách thế hệ. Chính điều đó đã khơi dậy trong tôi niềm đam mê điện ảnh. Tôi khao khát được tạo ra những câu chuyện có thể mang lại sự kết nối tương tự cho mọi người, dù họ là người Việt, người da đen, người Mexico, hay bất kỳ ai khác.”

Những câu chuyện của người Việt tị nạn ở Mỹ cứ như chén cơm của Thạch Sanh, chẳng khi nào vơi. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, tạo thành những vòng tuần hoàn nhiều màu sắc. Giữa những mảng màu đó, có những người tự vươn lên từ những vùng xám để thực hiện mơ ước cho cuộc đời mình. Câu chuyện của đạo diễn Chris Yên, người thẳng thừng từ chối số tiền tài trợ $1 triệu của Hollywood để giữ đúng kịch bản gốc bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá” của mình, là một câu chuyện như thế. [đ.d.]