ĐẠI HỒNG PHÚC CHO NGƯỜI NHẬN BIẾT CHÚA – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (Mt 16,13-20) Chúa nhật 21 TN năm A)

 “Khi Chúa Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Ngài hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.”  

 Như vậy, vào thời điểm đó, chẳng có ai biết Chúa Giê-su là ai.

 Thế rồi, Chúa Giê-su quay sang hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”  

 Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 

Khi nghe thánh Phê-rô đáp như vậy, Chúa Giê-su tỏ ra vui mừng hân hoan vì Phê-rô đã nhận biết căn tính của Ngài. Ngài nói: 

 “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16, 13-17). 

Diễm phúc được nhận biết Chúa  

Nếu hôm nay, Chúa Giê-su đặt lại câu hỏi đó với mỗi người chúng ta: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” thì chúng ta có thể trả lời trúng phóc: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

 Bấy giờ, chắc chắn Chúa Giê-su cũng xác nhận chúng ta là người có phúc, vì không phải do khà năng tự nhiên, nhưng là nhờ Thiên Chúa Cha mặc khải cho, chúng ta mới biết mầu nhiệm cao trọng nầy.

 Thế thì chúng ta cũng là người được diễm phúc như thánh Phê-rô năm xưa.

Tại sao vậy?

 Trong số 100 triệu người Việt Nam, chỉ có gần tám triệu người Công giáo.  Chúng ta may mắn được liệt vào cộng đồng tuy ít ỏi nhưng đầy diễm phúc nầy. 

Điều mà các vị ngôn sứ tầm cỡ như Ê-li-a, I-sai-a, Mô-sê… ngày xưa và ngay cả các nhà hiền triết, các bậc khôn ngoan thông thái… chưa từng được nghe, chưa được thấy, chưa từng biết… thì Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta là những người bé mọn. Chính Chúa Giê-su cũng nhìn nhận đây là đại phúc. Ngài nói: 

“Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13, 16-17).

 Tiếc thay, mặc dù đa số chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa từ tấm bé, nhưng dường như chúng ta chưa hề cảm nhận được niềm vui được làm con Chúa.

Đây là hạnh phúc vô cùng cao quý, đến mức Chúa Giê-su cảm thấy hoan lạc dâng cao trong tâm hồn, nên Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha thay cho chúng ta: “Lạy Cha là Chúa Tể Trời Đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11, 25).

Đúng thế, chúng ta diễm phúc vì trong khi nhiều nhà khoa học, nhiều người thông thái, các bậc khôn ngoan ở đời… còn chưa nhận biết gì về Thiên Chúa; thì chúng ta được mặc khải cho biết:

 Thiên Chúa là Đấng tạo dựng Trời Đất muôn vật muôn loài, Ngài là Vua Hoàn Vũ;

– Ngài cũng là Người Cha yêu quý đã tác tạo nên mọi người trên Trái Đất; 

– Ngài nâng chúng ta lên làm con chí ái của Ngài, thế là chúng ta trở thành những hoàng tử, những công chúa yêu dấu của Vua Trời. 

Và Chúa Giê-su cũng dạy chúng ta thay vì thưa với Chúa Cha là: Muôn tâu Thánh thượng hoặc: Tâu Phụ vương như thói đời, thì hãy thân thưa với Ngài cách thân mật là: Abba!, Bố yêu ơi!

Đây là hồng ân đặc biệt, là diễm phúc tuyệt vời mang lại hạnh phúc cho chúng ta đời nầy và cuộc sống vĩnh cửu mai sau.

 Lạy Thiên Chúa toàn năng,

Chúng con hết lòng chúc tụng tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con diễm phúc nhận biết, yêu mến và tôn thờ Chúa từ lúc mới có trí khôn. Xin cho chúng con cố gắng giới thiệu Chúa cho nhiều người chưa nhận biết Chúa, để họ cũng được phúc làm con Cha như chúng con. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

 *****

Tin mừng Mát-thêu, 16, 13-20

13 Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”  14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.      


 

Thánh Bê-na-đô (Bernard) ở Clairvaux, 1091-1153, viện phụ, Tiến Sĩ Hội Thánh- Cha Vương

Ngày Thứ 5 tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa nhé. Nếu bạn bước theo chân các Thánh, thế nào bạn cũng sẽ gặp Chúa Kitô và Đức Maria Mẹ Ngài. Hôm nay ngày 20/08, Giáo Hội mừng kính thánh Thánh Bê-na-đô (Bernard) ở Clairvaux, 1091-1153, viện phụ, Tiến Sĩ Hội Thánh. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy, và mời bạn hãy noi gương ngài để đến gần với Chúa và Mẹ hơn. Cầu  nguyện cho nhau và thể giới nhé

Cha Vương

Thứ 5: 20/08/2026   (t4-25)

Bê-na-đô sinh năm 1090 tại Fontaines-les-Dijon, Burgundy, nước Pháp trong một gia đình quý tộc. Khi 20 tuổi, Bê-na-đô từ giã quê nhà ở Burgundy để gia nhập cộng đồng đan sĩ ở Citeaux. Năm người anh em, hai người chú của ngài và khoảng 30 người bạn theo ngài vào đan viện. Trong vòng bốn năm, một cộng đoàn đang tàn lụi đã phục hồi sinh lực đủ để khai sinh một đan viện mới trong thung lũng Wormwoods gần đó, với Bê-na-đô làm đan viện trưởng. Nhiệt huyết của người thanh niên trẻ tuổi này là một đòi hỏi thật khắt khe, nhưng đối với chính ngài hơn là người khác. Một cơn bệnh nặng đã khiến ngài kiên nhẫn hơn và thông cảm hơn. Không bao lâu, thung lũng này được gọi là Clairvaux, thung lũng ánh sáng. Ngài có tài phân xử và cố vấn. Do đó, càng ngày ngài càng phải xa đan viện để giải quyết các tranh chấp đã có từ lâu trong Giáo Hội. Thánh Bê-na-đô là người đã can thiệp vào một vụ li giáo đang bùng nổ mạnh và đã đứng về phía đức giáo hoàng ở Rôma để chống với phe ngụy giáo hoàng.

    Theo truyền tụng, những lời than thở “Ôi khoan thay, nhân thay, diệu thay, Trinh Nữ Maria!” đã được thánh Bê-na-đô ứng khẩu thêm vào cuối câu kinh Chào Kính Nữ Vương. Thánh nhân đã có công phổ biến thánh thi ấy trong các cộng đoàn tu trì và các đền thánh. Năm 1220, dòng Citeaux đã quyết định buộc mọi phần tử trong dòng phải đọc thánh thi ấy hàng ngày. Kinh Hãy Nhớ, một bản kinh Thánh Mẫu rất được yêu chuộng cũng được cho là của thánh Bê-na-đô ở Claiveaux, mặc dù xác quyết này thỉnh thoảng cũng bị phản đối.

  Thánh Nhân qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1153 tại đan viện Clairvaux. Thánh Bê-na-đô ở Clairvaux được Đức Giáo Hoàng Alexander III tôn phong hiển thánh năm 1170. Đức Giáo Hoàng Pius VIII đã tuyên xưng Thánh Bê-na-đô ở Clairvaux là Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1830. 

(Tóm tắt từ Nguồn: Người Tín Hữu)

Sau đây là những lời nói của Thánh Bê-na-đô:

(1) Khi Thiên Chúa yêu, thì Người không muốn điều gì khác hơn là được yêu: Thật vậy, Thiên Chúa yêu, thì Người không nhằm điều gì khác ngoài được yêu lại, vì Người biết ai yêu mến Người thì sẽ được hạnh phúc nhờ chính tình yêu đó.

(2) “Đấng chiếm đoạt những con tim” là tước hiệu mà thánh Bê-na-đô đã yêu tặng Mẹ.

(3) Ơn chiêm niệm chỉ được ban cho khát vọng thao thức và nài nẵng. 

(4) Cầu nguyện là thứ rượu làm vui thỏa tâm hồn con người.

(5) Tôi biết các binh lính phải khổ sở rất nhiều và phải chịu đựng trong âm thầm. Giả như mỗi sáng khi thức giấc, họ chịu khó thân thưa với Thiên Chúa lời than thở đơn sơ này: “Lạy Thiên Chúa của con, con ước ao làm và chịu đựng mọi sự trong ngày hôm nay vì yêu mến Chúa.” Họ sẽ tích lũy được nhiều vinh quang muôn đời.

(6) Khi hiểm nguy, khi do dự, khi khó khăn, hãy nghĩ đến Ðức Maria, hãy kêu cầu Ðức Maria. Liên lỉ kêu cầu danh ngài, hễ có đau khổ thì hãy chấp nhận trong lòng vì danh ngài. Có như thế, bạn mới chắc chắn được sự trợ giúp của lời ngài cầu bầu, đừng sao nhãng theo bước chân ngài. Với sự dẫn dắt của ngài, bạn sẽ không bao giờ lạc lối; khi cầu khẩn ngài, bạn sẽ không bao giờ nhát đảm; một khi có ngài trong tâm trí, bạn sẽ không bị lừa dối; khi được ngài nắm tay, bạn sẽ không thể vấp ngã; với sự phù trì của ngài, bạn không còn gì để sợ hãi; nếu theo ngài, bạn sẽ không mệt mỏi; nếu được ngài ưu đãi, bạn sẽ đạt được mục đích.

Câu nào đánh động Bạn nhất? Đối với mình thì câu số 5 đánh động mình nhất.

Thánh Bê-na-đô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trên Con Đường Về Quê (Nguyễn Khắc Xuyên) – Hoàng Oanh

GIÊ-SU – THẦN TƯỢNG ĐỜI TÔI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 Tại Việt Nam, thời gian gần đây, trong ngôn ngữ của giới trẻ, chúng ta thường thấy cụm từ nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh.  Đó là “đu Idol.”  “Đu” là tiếng Việt, “Idol” là tiếng Anh.  “Đu” theo nghĩa này có nghĩa là chạy theo, hâm mộ đến mức cuồng tín mê man.  “Idol” là thần tượng.  Chủ thể của “Đu Idol” hầu hết là thanh niên nam nữ.  “Idol” của họ là những người mẫu, ca sĩ, cầu thủ bóng đá, diễn viên điện ảnh.  Trong một số trường hợp, “Idol” lại là những “giang hồ mạng,” là những kẻ vô học và những người có phát ngôn ngông cuồng, thiếu chuẩn mực đạo đức.  Vậy mà vẫn có những người coi là “Idol – thần tượng” của mình.  Việc chạy theo thần tượng là điều không có gì lạ.  Việc hâm mộ và tôn vinh những tài năng là điều chẳng có gì đáng trách.  Tuy vậy, về phương diện ngữ học cũng như về khía cạnh đức tin, chúng ta cũng cần tìm hiểu để sử dụng ngôn từ cho chính xác.

 Trong truyền thống Cựu ước, “Idol” được dịch là thần tượng, ngẫu tượng, ngẫu thần, tà thần.  Từ điển Công giáo Việt – Anh giải thích: “Theo nghĩa rộng, ngẫu thần là bất cứ điều gì được gán cho địa vị tối cao vốn chỉ dành cho một mình Thiên Chúa.  Theo nghĩa hẹp, ngẫu thần là một đồ vật, thường mang dáng con thú hoặc hình ảnh biểu tượng chỉ thần, và được thờ thay cho Thiên Chúa đích thật.”  Như thế, thờ ngẫu tượng là đặt một thụ tạo vào chỗ mà chỉ có Thiên Chúa mới xứng đáng.  Các ngôn sứ của Cựu ước kịch liệt lên án các loại hình thờ ngẫu tượng, và các ông gọi đó là phản bội, là bất trung, giống như người vợ hay chồng ngoại tình.  Chúa phán trong sách Lêvi: “Các ngươi không được hướng về các tà thần, không được đúc tượng thần mà thờ.  Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,4).  Thánh Phao-lô cũng lên án thờ ngẫu tượng, khi ngài viết: “Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng, như một số trong nhóm họ, theo lời đã chép: Dân đã ngồi xuống để ăn uống, rồi lại đứng lên chơi đùa” (1 Cr 10,7-8).  Tác giả Thánh vịnh còn chế giễu: “Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc, chỉ do tay người thế tạo thành.  Có mắt có miệng, không nhìn không nói, có mũi có tai, không ngửi không nghe.  Có hai tay, không sờ không mó, có hai chân, không bước không đi, từ cổ họng, không thốt ra một tiếng.  Tác giả còn chúc dữ: “Ước gì kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần cũng giống như chúng vậy” (Tv 115,4-8).

 Yêu mến người tài, yêu mến cái đẹp và tôn vinh những tài năng, đó là điều hoàn toàn chính đáng.  Tuy vậy, suy tôn đến mức để cho những nhân vật và sự vật ấy thay thế vị trí của Thiên Chúa, thì đó là chọn nhầm lý tưởng, gọi là tội thờ ngẫu tượng.

 Một ngày nọ, Chúa Giê-su đặt câu hỏi với các môn đệ: “Người ta bảo Con Người là ai?”  Sau khi nghe các ông trả lời theo dư luận quần chúng, Chúa Giê-su muốn các ông phải xác định rõ ràng hơn: “Còn các anh, các anh bảo Thầy là ai?”  Câu hỏi này cũng tương tự như câu hỏi: các anh chọn ai là “Idol” của mình?  Tông đồ Phê-rô đã trả lời: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”  Câu trả lời của Phê-rô là lời tuyên xưng Đức tin.  Lời tuyên xưng này có ơn soi sáng của Chúa, như Chúa Giê-su đã nói khi Người khen ngợi ông Phê-rô: “Không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thày, Đấng ngự trên trời.”  Sau này, tông đồ Phao-lô viết: “không ai có thể nói “Đức Giê-su là Chúa” mà lại không do Thánh Thần (1 Cr 12,3).  Chúa Giê-su còn khẳng định điều này trong lời cầu nguyện với Chúa Cha: “Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11,25).  Không có ơn soi sáng của Chúa, chúng ta không thể nhận biết và tin vào Người.

 Nếu chúng ta có dịp đến hành hương tại Đền thờ Thánh Phê-rô ở Rôma, khi viếng mộ Thánh Phê-rô, ở khu bàn thờ chính của Đền thờ, chúng ta sẽ nhìn thấy một tấm biển bằng đồng, khắc chữ La-tinh hai câu nói của Thánh Phê-rô.  Câu thứ nhất: “Thày là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16); câu thứ hai: “Lạy Thày, bỏ Thày thì chúng con biết theo ai?” (Ga, 6,68).  Câu thứ nhất là lời tuyên xưng Đức tin; câu thứ hai là lời hứa trung thành.  Hai câu nói này đã làm nên dung mạo của vị Tông đồ trưởng.  Ông đã được Đức Giê-su đặt làm nền tảng Giáo Hội, đồng thời trao quyền cai quản và điều hành cộng đoàn tín hữu tin vào Chúa Giê-su trên toàn thế giới.  Những ai đến viếng mộ Thánh Phê-rô, được mời gọi tuyên xưng Đức tin và tuyên hứa trung thành với Chúa.  Xưa cũng như nay, ơn gọi luôn là một huyền nhiệm.  Bài đọc I trích sách ngôn sứ I-sai-a ghi lại: Thiên Chúa đã chọn ông En-gia-kim làm vua và ban cho vương quốc hùng mạnh an bình.  Chính Ngài củng cố quyền lực của vị vua này.  Ngài trao chìa khoá nhà Đavít cho ông, và làm cho vương quyền của ông vững bền.

 Thần tượng và lý tưởng của người Ki-tô hữu là chính Đức Giê-su.  Ơn gọi Ki-tô hữu là nên giống Đức Giê-su trong tư tưởng, lời nói và việc làm.  Các tông đồ đã chọn Đức Giê-su làm lý tưởng.  Họ đã chết để làm chứng rằng sự lựa chọn của họ là chính đáng và cao cả.  Để được nên giống Chúa Giê-su là “Idol” của mình, chúng ta phải năng gặp Người.  Cuộc gặp gỡ thân tình nhất, là gặp gỡ qua lời cầu nguyện, vì khi cầu nguyện là ta tâm sự với Chúa và lắng nghe Chúa nói với ta, thân thiết gần gũi như một người Bạn.  Cầu nguyện để càng ngày càng nhận biết Đức Giê-su là Ai đối với bản thân mình.

 “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.”  Chúa Giê-su đã đổi tên cho ông Si-mon và cho ông một tên mới là Phê-rô.  Việc đổi tên đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc đời.  Phê-rô là Tảng Đá.  Giáo Hội của Đức Giê-su đặt nền trên chính Tảng Đá ấy.  Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội luôn đứng vững đã hai ngàn năm, và sẽ còn vững vàng cho tới khi Chúa Giê-su đến trong vinh quang.

 Khi lĩnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta đã chọn Chúa Giê-su là IDOL, là LÝ TƯỞNG cho đời mình.  Xin cho chúng ta luôn trung thành với lựa chọn ấy.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên


 

ĐÚNG HẾT, VẪN CHẾT- Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

“Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”.

“Ca mổ thành công, nhưng bệnh nhân đã chết!”. Câu nói phi lý ấy phơi bày một sự thật lạnh người: mọi thao tác có thể đúng mà mục đích vẫn thất bại.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy đời sống đức tin của chúng ta cũng thế: có thể giữ đúng từng điều luật, chu toàn mọi thực hành, nhưng nếu trái tim không còn yêu, chúng ta ‘đúng hết – vẫn chết’.

Người thông luật hỏi Chúa Giêsu về một giới răn; Ngài trả lời bằng hai: yêu Chúa và yêu người. Ngài đặt chúng ở nơi toàn bộ Lề Luật phải bám vào. Bản Hy Lạp viết krématai – “tuỳ thuộc”; không chỉ tuỳ thuộc mà còn có nghĩa “treo vào, móc vào”. Toàn bộ Luật Môsê và các sách ngôn sứ chỉ sống khi được treo vào tình yêu. Tách khỏi tình yêu, điều đúng vẫn còn đó, nhưng sự sống đã rời đi.

Chúa Giêsu biết người ta dễ nói yêu Thiên Chúa vô hình hơn yêu người đang làm mình khó chịu. Vì thế, khi nói “điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy”, Ngài không thêm một phần phụ, nhưng chỉ ra nơi tình yêu dành cho Thiên Chúa được kiểm chứng. Người ta có thể đúng khi nói về Chúa mà vẫn sai trong cách cư xử với người; có thể bảo vệ chân lý mà làm tổn thương phẩm giá của họ; thậm chí, dùng Lề Luật để khỏi phải yêu. Khi ấy, giữ luật trở thành một lối trốn khỏi tình yêu. “Ngay cả chữ viết của Tin Mừng cũng sẽ giết chết, nếu bên trong không có ân sủng chữa lành của đức tin!” – Tôma Aquinô.

Thị kiến Êzêkiel gọi đúng tên bi kịch ấy. Xương đã nối với xương, gân thịt đã mọc, da đã phủ bên ngoài; không gì sai chỗ, “nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng”. Sự chết mang dáng vẻ một trật tự hoàn chỉnh, chỉ thiếu một điều: thở! Đời sống đạo cũng thế: mọi sự có thể đâu vào đó, mà bên trong vẫn lạnh. Chỉ khi được thần khí làm cho sống, chúng ta mới có thể cất lên từ chính kinh nghiệm của mình: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Có những ngày chúng ta không sai nguyên tắc nào, nhưng người bên cạnh lại ngạt thở. Tin Mừng không dừng ở câu hỏi “Tôi có đúng không?”; nó còn hỏi: “Người trước mặt tôi có được sống hơn không?”. Nếu sau khi gặp chúng ta, họ nhỏ lại, tuyệt vọng hơn hoặc xa Chúa hơn, cái đúng ấy có lẽ cần được treo lại vào tình yêu.

Anh Chị em,

“Đức Kitô dạy và trao phó cho các môn đệ một tình yêu lấy chính tình yêu của Ngài làm khuôn mẫu!” – Gioan Phaolô II. Ngài không chỉ treo toàn bộ Lề Luật vào hai giới răn ấy; Ngài treo chính đời mình vào đó. Trên thập giá, hai giới răn không còn đứng cạnh nhau, nhưng nên một trong thân xác hiến tế của Ngài. Được Chúa Cha làm cho sống lại, Ngài trao Thần Khí cho những trái tim khô cứng đập lại nhịp yêu thương. Trong Ngài, chúng ta không được mời gọi bớt đúng, nhưng phải đúng theo cách của Thiên Chúa: đúng để cứu sống; bằng không, vẫn có thể ‘đúng hết – vẫn chết’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đúng mà lạnh; thật mà thiếu thương; sốt sắng với Chúa mà làm anh chị em con ngạt thở!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế 

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://bom.so/HqSuyO

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và yêu người thân cận như chính mình.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 22,34-40

34 Khi ấy, nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng : 36 “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37 Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.” 


 

75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

Xuyên Sơn

  75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

– Vũ Thế Khôi

75 năm trước, vào 14h ngày 23 – 08 – 1945, một nhóm người có vũ trang đi xe ô-tô ập vào ấp Hoa Đường trên bờ sông An Cựu, “mời” cụ Phạm Quỳnh đi gặp chính quyền Cách mạng Thừa Thiên-Huế.

Cụ Phạm không bao giờ trở về nữa.

Một thời gian dài có những lời biện bạch rằng cụ Phạm bị một nhóm dân quân manh động sát hại.

May thay, 8 năm trước đại tá TS Nguyễn Văn Khoan đã viết ra sự thật trong sách do Nxb CAND in ấn: “Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9 – 12 – 1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23 – 8 và đã bị Uỷ ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.

Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế bấy giờ là Tố Hữu…

“Vậy tại sao Hồ Chủ tịch gọi cụ Phạm Quỳnh là “học giả” và viết thư mời ra cộng tác với Cách mạng?

Nguyễn Cảnh Thuỵ: Lúc chuẩn bị được “mời đi”, cụ còn có vẻ phấn khởi, dặn các con lấy hết vải đỏ ra may cờ cho Việt Minh. Khi bị gọi đi, các con nhắc cụ chưa uống thuốc, cụ bảo chốc về uống.

Cụ có ngờ đâu họ tóm cụ đi… thủ tiêu(!)

________________

Tôi đi cải táng thầy tôi

– Phạm Tuân*

…Năm 1948, anh Bích tôi – (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm.

Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh.

Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…

Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956… bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi!

Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi.

Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện ( tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền,Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối.

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên,

địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số.

Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng.

Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người.

Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua.

Cụ hỏi toán dò tìm:

“Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”.

Thì ra có hai mương…

Cụ già nói tiếp:

“Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng.

Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần.

Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương,

thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng.

Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…

Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé.

Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối.

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…

Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm.

Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ.

Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu.

Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu.

Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…

Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy…

Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước.

Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn.

Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt.

Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và

Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn…

Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…

Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.

__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay

(tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).

* Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, định cư tại Mỹ.

Nguồn fb Nguyễn Xuân Diện.

https://www.facebook.com/photo?fbid=2369914379978186… 


 

Nữ thực tập sinh gốc Việt, cư dân Texas, tố cáo bị hiếp dâm ở Phú Thọ

Ba’o Nguoi-Viet

August 19, 2026

PHÚ THỌ, Việt Nam (NV) – Hôm 17 Tháng Tám, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ đã khởi tố bị can Nguyễn Minh Hiếu, 23 tuổi, ở phường Từ Liêm, Hà Nội, về tội “hiếp dâm” theo đơn tố giác của cô NTQT., 24 tuổi, quốc tịch Mỹ, xảy ra tại một khu nghỉ dưỡng ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Cơ quan điều tra cấm bị can Hiếu đi khỏi nơi cư trú và cấm xuất cảnh để phục vụ quá trình tố tụng.

Dãy phòng nhà nghỉ SK, trong đó có phòng SK125, nơi cô QT tố giác bị hiếp dâm. (Hình: Phụ Nữ Việt Nam)

Theo báo Phụ Nữ Việt Nam, cô QT tốt nghiệp Đại Học Texas A&M vào Tháng Năm, 2025, và dự trù sẽ tốt nghiệp thạc sĩ vào Tháng Mười Hai tới tại Đại Học St. Thomas, thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Theo lời kể của cô T., cô nhập cảnh Việt Nam hôm 8 Tháng Năm vừa qua để tới Hà Nội tham gia một chương trình thực tập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại LPBank.

Thông qua bạn bè, cô T. quen một nhóm bạn trẻ tại Hà Nội và được họ mời tham gia chuyến nghỉ dưỡng tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times ở xã Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Trước chuyến đi, cô được thông báo nhóm có sáu người và không nghe nói có bị can Hiếu tham gia. Chỉ đến khi tập trung xuất phát, cô T. mới biết anh ta cũng có tham gia với đoàn.

Tối 4 Tháng Bảy, tại khu nghỉ dưỡng, cô T. cùng nhóm bạn ăn tối, hát karaoke và được mời uống rượu khá nhiều. Sau đó, cô trở về căn hộ SK125 tại khu nghỉ dưỡng Lynn Times nghỉ ngơi.

Cũng theo cô T., rạng sáng 5 Tháng Bảy, tại phòng ngủ trên tầng một căn hộ SK125, bị can Nguyễn Minh Hiếu đã dùng sức khống chế cưỡng dâm cô, mặc dù nhiều lần bị cô phản kháng, yêu cầu dừng lại nhưng anh ta không buông tha.

Khi trở về Hà Nội, sức khỏe và tâm lý cô T. bắt đầu xuất hiện những biểu hiện bất thường như đau rát vùng kín, mất ngủ, lo âu, hoảng loạn, không thể ăn uống bình thường. Thậm chí, có những lúc cô T. không kiểm soát được cảm xúc và cảm thấy vô cùng cô độc. Tình trạng tâm lý, theo nạn nhân là “nghiêm trọng đến mức phải vào bệnh viện điều trị nội trú.”

Những tổn thương tâm lý khiến cô T. chưa thể trình báo với nhà chức trách ngay sau sự việc.

Sau khi được tư vấn pháp lý và hiểu rõ quyền của mình theo luật pháp Việt Nam, nạn nhân gọi cho cha mình bay từ Mỹ về Việt Nam để làm rõ trắng đen, mặc dù gia đình bị can Hiếu lên tiếng sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để hòa giải.

Hôm 20 Tháng Bảy, cô T. đã đến Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Hà Nội để thông báo sự việc và để được sự hỗ trợ lãnh sự dành cho công dân Mỹ.

Thông báo khởi tố vụ án của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Tỉnh Phú Thọ. (Hình: FB Lê Quốc Vinh)

Sang ngày 21 Tháng Bảy, cô T. đến trình báo với cơ quan Công An Tỉnh Phú Thọ, cùng luật sư cung cấp lời khai, tài liệu và thông tin có liên quan đến sự việc.

“Điều khiến tôi và gia đình càng bất an là trong thời gian tôi nằm viện, người bị tôi tố giác và gia đình họ đã biết chính xác nơi tôi điều trị và tìm đến bệnh viện. Việc họ xuất hiện tại nơi điều trị khiến tôi vô cùng hoảng sợ, khiến tình trạng tâm lý trở nên nghiêm trọng hơn. Sau đó, tôi phải rời khỏi nơi đang điều trị để tìm một chỗ ở mà mình cảm thấy an toàn hơn,” cô T. trình bày trong đơn.

Bộ Công An Việt Nam hiện đang thu thập tài liệu, chứng cứ và phối hợp với Viện Kiểm Sát Tỉnh Phú Thọ để củng cố hồ sơ xử lý theo quy định. Sự việc này mang yếu tố “ngoại giao đặc biệt” vì nạn nhân là công dân Hoa Kỳ.

Được biết, gia đình nạn nhân cũng đã thông báo tới các văn phòng Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ như John Cornyn và Ted Cruz của tiểu bang Texas.

“Giờ đây, tôi không còn đấu tranh chỉ vì bản thân mình nữa. Tôi đấu tranh vì mọi nạn nhân từng bị buộc phải im lặng, bị làm nhục hoặc rơi vào thế yếu thế, bởi lẽ hệ thống [pháp luật Việt Nam] thường xuyên bỏ mặc những người thiếu tiền bạc, quyền lực hay các mối quan hệ.

Những gì tôi đã trải qua thật kinh khủng, nhưng tôi tin rằng Chúa đặt tôi vào hoàn cảnh này đều có lý do. Kinh Thánh dạy chúng ta phải lên tiếng bênh vực những người không thể tự lên tiếng và bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế. Tôi tin Chúa đã ban cho tôi sức mạnh và tiếng nói để tiếp tục hành trình này, không chỉ vì bản thân, mà còn vì những người không có tiếng nói, quyền lực hay tiền bạc để đấu tranh cho công lý tại Việt Nam…,” cô QT bày tỏ với truyền thông. (Tr.N) [kn]


 

Tại sao chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa ?- Cha Vương

 Chúc bình an đến bạn và gia đình. Chúa đang tìm bạn đó, bạn có bật điện thoại lên không vậy?😀 Nhớ cầu nguyện cho nhau và những người đang đau khổ và thế giới được Hòa Bình nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 19/08/2026.    (t5-21)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa ?

– Vì Thiên Chúa đã đặt trong lòng ta ước mong tìm Người và gặp được Người. Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa đã dựng nên chúng con cho Thiên Chúa, và lòng chúng con không nghỉ yên cho tới khi được nghỉ yên trong Thiên Chúa.” Sự ước mong tìm Thiên Chúa đó ta gọi là tôn giáo. (Youcat, số 3)

SUY NIỆM: Con người đi tìm Thiên Chúa là chuyện tự nhiên. Mọi khát vọng sự thật và hạnh phúc rốt cuộc chỉ là đi tìm đến Đấng chứa đựng nó một cách tuyệt đối, đến thỏa mãn nó một cách tuyệt đối, và Đấng có trách nhiệm về nó một cách tuyệt đối. Một người chỉ hoàn toàn là chính mình khi họ đã tìm được Thiên Chúa. “Ai tìm sự thật là tìm Thiên Chúa, dù họ có ý thức hay không” Thánh Edith Stein. 

❦ Nói đến “tôn giáo” ta thường hiểu rằng đó là chuyện quan hệ với thần linh. Một người có tôn giáo nhận biết rằng trong sức mạnh đã tạo dựng họ và tạo dựng thế giới có một cái gì là thần linh, một sức mạnh mà họ phải lệ thuộc vào và họ phải hướng tới. Trong lối sống của họ, họ sẽ tìm cách làm đẹp lòng thần linh và tỏ lòng tôn kính thần linh.

❦ Nguồn vui của Kitô hữu là biết chắc rằng họ được Thiên  Chúa yêu thương, yêu thương thân mật bởi Đấng Tạo hóa… yêu thương bằng một tình yêu đam mê và trung tín, một tình yêu lớn hơn là những bất trung và tội lỗi của ta, một tình yêu luôn tha thứ. (Đức Bênêđictô XVI) (Youcat, số 3 t.t.)

   Trong cuộc đời theo lẽ tự nhiên, bạn tìm kiếm ý nghĩa, tình yêu, người tri kỷ, tình bạn, tình cảm, viên mãn tình dục, tầm quan trọng, sự công nhận, kiến thức, sáng tạo, vui chơi, hài hước và hoan lạc. Tất cả những sự tìm kiếm tự nhiên đều hướng về Chúa trừ khi bạn biến nó thành những gì không tự nhiên. Vấn đề cần phải đưa ra phân định là khi nào bạn biến những gì tự nhiên thành những gì không tự nhiên. Trong thế giới “vàng thau lẫn lộn” này, bạn dễ bị nhầm lắm. Khi bạn tìm kiếm Chúa trong mọi lãnh vực thì bạn sẽ tìm được Sự Thật thôi!

LẮNG NGHE: Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. (Mt 6:33)

CẦU NGUYỆN: Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước. (Tv 63:2)

THỰC HÀNH: Bỏ ra ít phút để tìm Chúa trong hơi thở, trong sự nghỉ ngơi vui chơi với người thân yêu.

From: Do Dzung

*****

Tìm Về Bên Chúa (Sáng tác: Jerome) – Đình Quynh

CỨ ĐẾN, ĐỪNG CỨ THẾ! – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”.

“Thiên Chúa yêu bạn như bạn đang là, nhưng Ngài không để bạn cứ mãi như thế; Ngài muốn bạn nên giống Chúa Kitô!” – Max Lucado.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói: cứ đến như con đang là; nhưng không ai có thể bước vào tình yêu mà không đổi thay: ‘cứ đến – đừng cứ thế!’.

Khi những người được mời từ chối dự tiệc, vua sai đầy tớ tập hợp mọi người, “bất luận xấu tốt”. Không có cuộc sát hạch nào ở cửa. Thế nhưng, nhà vua lại dừng trước một người không mặc y phục lễ cưới. Vấn đề không phải ông nghèo, vì mọi người đều được gọi từ các ngả đường; vấn đề là ông đã vào phòng tiệc mà không để tiệc cưới đi vào lòng mình. Ông đổi chỗ, nhưng chưa đổi lòng.

Điều lạ là càng bị từ chối, nhà vua càng mở rộng lời mời: từ những khách được mời trước đến bất cứ ai ngoài đường; không ai bị loại. Nhưng lòng quảng đại không biến ân sủng thành món rẻ tiền. Theo Đức Phanxicô, áo cưới là lòng thương xót Thiên Chúa ban cho mọi người. Nếu cửa tiệc là ân sủng, áo cưới cũng là ân sủng. Thiên Chúa không đợi chúng ta đổi đời mới gọi; Ngài gọi để trao cho chúng ta khả năng đổi đời. Áo được trao, nhưng khách phải khoác lấy: ân sủng làm việc trong chúng ta, không làm thay chúng ta. “Đấng đã dựng nên bạn mà không cần bạn, sẽ không làm cho bạn nên công chính nếu không có bạn!” – Augustinô.

Êzêkiel cho thấy cuộc đổi mới ấy diễn ra thế nào. Thiên Chúa không đòi người nhơ uế phải tự thanh tẩy rồi mới đến; chính Ngài lấy khỏi họ trái tim chai đá, ban một trái tim mới và đặt Thần Khí vào lòng họ – bài đọc một. Áo cưới không phải lớp vải che con người cũ, nhưng là dấu chỉ một trái tim được đổi mới. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca vang lên như một lời hứa: “Trên các ngươi, Ta sẽ rảy nước trong ngần, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ!”.

Cũng thế với chúng ta. Chúng ta dễ bước vào nhà Chúa hơn là để Chúa bước vào những góc khuất lòng mình: một oán giận không muốn buông, một đổ vỡ không muốn hàn gắn, một ưu tiên không muốn đảo lại. Ân sủng không chỉ cho chúng ta một chỗ trong nhà Chúa; ân sủng còn làm đời chúng ta mang dáng của Người Con. “Y phục lễ cưới là gì, nếu không phải là đức ái?” – Grêgôriô Cả. Đó là lúc áo cưới không dừng ở bề ngoài, nhưng trở thành nếp sống.

Anh Chị em,

Trung tâm tiệc cưới là Người Con. Trên thập giá, Ngài bị lột áo để những kẻ trần trụi vì tội lỗi được khoác lại phẩm giá làm con. Ngài mang chiếc áo cũ của chúng ta xuống mồ; khi trỗi dậy, Ngài trở nên y phục của một nhân loại mới. Kitô giáo không phải khoác vẻ đạo đức lên con người cũ, nhưng là “mặc lấy Đức Kitô” – để tâm tư, chọn lựa và cách yêu của Ngài dần thành hình trong chúng ta. Trong Ngài, Thiên Chúa đón nhận chúng ta trọn vẹn, nhưng cũng biến đổi chúng ta tận căn: ‘cứ đến – đừng cứ thế!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con dám đến như con đang là; biết khoác lấy ân sủng bằng một đời hoán cải; và đừng để con cứ mãi như trước!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XX Thường Niên, Năm Chẵn: https://bom.so/OAZmGX

Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 22,1-14

1 Khi ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : 2 “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. 3 Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. 4 Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ : ‘Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng : Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới !’ 5 Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi : kẻ thì đi thăm nông trại, người thì đi buôn, 6 còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết. 7 Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. 8 Rồi nhà vua bảo đầy tớ : ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. 9 Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.’ 10 Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

11 ‘Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, 12 mới hỏi người ấy : Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?’ Người ấy câm miệng không nói được gì. 13 Nhà vua liền bảo những người phục dịch : ‘Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng ! 14 Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít’.”


 

“NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Xuyên Sơn

 “NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Ở Việt Nam, cứ nói đến chính trị thì bị cho là rảnh hơi và nếu bạn không cùng ý kiến với nhà nước, bạn sẽ bị xếp vào những thành phần sau :

– Nếu là đảng viên thì bị cho là: đạo đức suy thoái.

– Nếu bạn là trí thức thì bị cho là: bất mãn với thời cuộc

– Nếu là kẻ nghèo thì bị cho là: bị kẻ xấu kích động

– Nếu là kẻ ít học thì bị cho là: bị dụ dỗ lợi dụng

– Lên facebook bày tỏ quan điểm : bạn sẽ bị cho là kẻ phản động ..

Thế đấy, tùy theo “khẩu nghiệp” mà bạn nhận được danh hiệu do họ phong tặng.

Và khi tôi và những người khác lên tiếng để mong có một tương lai tốt đẹp cho đất nước này, thì bạn nói: “sống ở xã hội này thì phải chấp nhận như thế, có nói cũng chẳng làm được gì.”

Vậy:

– Khi nhà bạn có người gần chết, đưa vào bệnh viện mà chưa có tiền đóng viện phí, người ta không cứu, bạn đừng khóc vì khóc cũng chẳng thay đổi được gì.

– Nhà bạn có người bị tai nạn, xung quanh người ta đi lại, chỉ ném một cái nhìn vào chỗ người thân bạn đang nằm chổng vó ra đấy mà chẳng thèm làm gì hơn,

bạn đừng trách sao họ thờ ơ vô cảm.

– Con cái bạn bị những kẻ vô loài hãm hiếp, mà pháp luật vẫn để những kẻ đó nhởn nhơ, bạn đừng kêu oan vì kêu cũng chẳng làm được gì.

– Bạn ra đường mà có bị cướp giật hay bị trộm mất xe ngay trước mặt,

thì tốt nhất bạn hãy im miệng vào, vì có kêu thì cũng không ai nghe thấy đâu.

– Bạn bị công an bắt xe không lý do thì cũng nên vui vẻ mà nộp phạt, ấm ức cái gì?

– Sau này đất đai nhà bạn có bị quy hoạch và được trả giá 200k/m2, thì cũng đừng có kêu gào làm gì, không ai quan tâm việc nhà bạn đâu.

– Bạn đi khám mà chẳng may mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, thì cũng nên vui vẻ mà chấp nhận sống nốt cuộc đời còn lại, vì ở cái xã hội thờ ơ tràn lan thực phẩm bẩn này mỗi ngày có khoảng 300 người chết vì bệnh ung thư chứ không riêng gì bạn đâu.

…… Và còn nhiều điều khốn nạn nhưng rất đỗi bình thường, ở cái đất nước này, khi xảy đến với bạn thì tốt nhất bạn cũng nên ngậm chặt miệng vào, vì xã hội VN nó thế!

Người Việt Nam sinh ra để làm gì?

Người Việt Nam sinh ra để …chờ c.hết!

Và bây giờ hãy tiếp tục im miệng để  sắp phải làm nô lệ cho Tàu ngay trên chính quê hương mình.”

Nguồn fb Nguyen Minh 


 

ĐỘC TÀI! (Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

Nguyen Thi Chau

ĐỘC TÀI!

(Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

KD: Để hiểu độc tài như thế nào, xin đọc bài viết rất sinh động này. Và xin đăng cái còm của mình (có bổ sung):

“Độc tài quá hoa tâm bệnh. Độc ác quá hoá cô độc. Sống giữa nhung lụa, phù hoa nhưng tâm hồn nghèo xác xơ cùng kiệt. Quyền lực đỉnh cao nhưng hạnh phúc tận vực sâu. Sống trong sự run sợ  của con người nhưng chết đi trong mừng rỡ của cộng đồng.

Và những kẻ độc tài có một điểm bản chất- ko bao giờ tin ai. Cực kỳ cô độc

Một sự Gieo- gặt sòng phẳng đích đáng!.

Title bài chủ Phây xin tạm đặt 

—————— 

Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Cát Lái, Rạch Chiếc, Gò Vấp, Hàng Xanh, Thanh Đa… là những địa danh quen thuộc ở Sài Gòn nhưng được cho là bị viết sai so với ban đầu.

Hàng Xanh

Là nút giao thông lớn ở cửa ngõ phía Đông của TP HCM, Hàng Xanh là địa danh rất quen thuộc với người Sài Gòn. Vùng Hàng Xanh, bao gồm một phần địa bàn các phường 24, 25 (quận Bình Thạnh), còn có chợ Hàng Xanh, ngã tư Hàng Xanh.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả Nguyễn Thanh Lợi (trong quyển Sài Gòn – Đất và Người) qua nhiều tài liệu cũ, địa danh này viết đúng phải là Hàng Sanh. Theo sách Đại Nam quốc âm tự vị của nhà ngôn ngữ học Huỳnh Tịnh Của, Sanh “là thứ cây lớn, nhánh có tua, về loại cây da, mà lá nhỏ”. Ngày trước, dọc theo hai bên đường nay là Bạch Đằng có 2 hàng cây sanh, dân thường gọi là Hàng Sanh. Nên có thể kết luận, Hàng Xanh do đọc chệch từ Hàng Sanh mà ra.

Cát Lái

Theo các nhà nghiên cứu, phải gọi là bến phà Các Lái thì mới đúng với nguồn gốc tên gọi ban đầu, còn tên gọi Cát Lái là vô nghĩa. Ảnh: H.C

 Hiện, tại TP HCM có các địa danh: ngã ba Cát Lái, phường Cát Lái, bến phà Cát Lái, sông Cát Lái… (quận 2) và rạch Cát Lái Lớn, rạch Cát Lái Bé (xã Lý Nhơn, huyện Nhà Bè). Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa.

Nguyên các vùng kể trên ngày xưa lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những bài vè về các lái buôn ghe bầu từ miền Trung vào Gia Định với hai bài Vè Lái vô và Vè Lái ra. Vì vậy phải viết là Các Lái mới có nghĩa.

Gò Vấp

Là tên gọi của quận vùng ven tại TP HCM. Theo các nhà nghiên cứu, đúng ra phải là Gò Vắp vì đây vốn là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Thanh Đa

Người Sài Gòn từ lâu đã quen với các địa danh như Kinh Thanh Đa, cư xá Thanh Đa, chợ Thanh Đa… ở phường 26 và 27 của quận Bình Thạnh. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, địa danh này có nguồn gốc từ tên gọi Thạnh Đa.

Thôn Thạnh Đa thuộc tổng Bình Trị (sau thuộc Bình Trị Thượng), huyện Bình Dương, có từ năm 1818. Trong sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Monographie de la provine de Gia Định (Chuyên khảo về Gia Định, xuất bản năm 1902 tại Sài Gòn) đều có ghi tên thôn Thạnh Đa. Về sau, do bỏ dấu khi in trên bản đồ thời Pháp, nên địa danh Thạnh Đa biến thành Thanh Đa như hiện nay.

Rạch Chiếc

Cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ phía Đông TP HCM. Ảnh: H.

Rạch Chiếc là con rạch nằm trên địa bàn phường Phước Bình (quận 9) nối sông Sài Gòn với sông Đồng Nai ở phía đông bằng tắt Đồng Nhiên, bắt đầu từ rạch Trao Trảo đến sông Sài Gòn, cắt ngang xa lộ Hà Nội, dài khoảng 6.000 m. Cầu Rạch Chiếc nổi tiếng với trận đánh giải phóng Sài Gòn hồi tháng 4/1975.

Theo các nhà nghiên cứu địa danh học, viết Rạch Chiếc là không đúng mà phải là Rạch Chiết, do xưa rạch này có nhiều cây chiết là “thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau”. Nếu viết là Rạch Chiếc thì không có ý nghĩa.

Chí Hòa và Kỳ Hòa

Ở TP HCM hiện tồn tại đồng thời hai địa danh được cho là giống nhau đó là Chí Hòa và Kỳ Hòa. Theo các nhà nghiên cứu, Chí Hòa nguyên là tên một làng ở Gia Định, đã được lấy để đặt cho một đại đồn của quân đội ta xây nên để chống Pháp. Khi quân Pháp dồn lực lượng tấn công, đại đồn Chí Hòa thất thủ.

Về địa điểm của đại đồn Chí Hòa, nhà văn Sơn Nam cho biết: “Tướng Tôn Thất Hiệp rồi tướng Nguyễn Tri Phương đều chọn lựa cuộc đất nằm trong địa phận làng Chí Hòa Phú Thọ dọc theo rạch Nhiêu Lộc, lấy con đường đi Tây Ninh (Cách Mạng Tháng Tám ngày nay) làm trung tâm để xây đồn lũy…”. Như vậy, Chí Hòa ban đầu là tên làng, mà hiện nay vẫn còn tên gọi như đình Chí Hòa, nhà thờ Chí Hòa… Về sau, Chí Hòa đã trở thành tên một cái đồn được xây dựng tại đó để chống Pháp…

Còn tên Kỳ Hòa xuất hiện vào thời điểm nào? Theo tác giả Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược, thì Kỳ Hòa là cách gọi của người Việt, Chí Hòa là cách gọi của người Pháp. Nhưng tác giả lại không nêu cứ liệu. Còn theo nhà văn Sơn Nam trong quyển Địa danh TP HCM thì Chí Hòa mới là âm gốc, Kỳ Hòa là cách gọi sai lạc vì ngày nay còn địa danh Chí Hòa và ở Nam Bộ không có địa danh mang yếu tố Kỳ ở trước.

Bên cạnh các địa danh xưa, nhiều tên đường tại TP HCM hiện cũng bị viết sai mà các nhà nghiên cứu, nhà văn như: Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa… đã đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn – TP HCM mấy chục năm qua.

Chẳng hạn như đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, đúng ra phải là Sương Nguyệt Anh. Tuy nhiên, bao lâu nay trên các biển hiệu cũng như trong giao dịch, làm việc, người ta vẫn ghi là “Ánh” thay vì “Anh”.

Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức “người đàn bà góa chồng” đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ).

Đường Lương Nhữ Học nằm trên địa bàn quận 5, thuộc khu vực Chợ Lớn, TP HCM cũng được cho là bị viết sai. Tên chính xác của vị danh nhân này phải là Lương Như Hộc – là quan, danh sĩ thời hậu Lê. Ông cũng là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục (tỉnh Hải Dương ngày nay) khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì vậy ông được tôn xưng là “ông tổ” nghề khắc ván in.

Đường Lương Nhữ Học ở quận 5, TP HCM được cho là đang viết sai. Ảnh: H.C

Một con đường khác cũng bị viết sai là Kha Vạn Cân. Kỹ sư Kha Vạng Cân, nguyên là Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn là một nhân sĩ trí thức nổi tiếng của miền Nam, từng tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Vậy mà không biết vì lý do gì khi đặt tên ông cho một con đường lớn ở quận Thủ Đức, người ta lại viết thành Kha Vạn Cân.

Đường Trương Quốc Dung trên địa bàn quận Phú Nhuận cũng được đặt tên không chính xác vì đúng phải là Trương Quốc Dụng. Trong lịch sử Việt Nam không có vị danh nhân nào như tên con đường đang có. Chỉ có ông Trương Quốc Dụng, là nhà văn, nhà sử học, nhà thiên văn nổi tiếng của Việt Nam và là người có công chấn hưng lịch pháp thời nhà Nguyễn.

Theo Trung Sơn

From: taberd & NguyenNThu


 

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt.