“CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Xuyên Sơn

 “CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Có một con chuột bị mèo đuổi, vô tình chui vào trong tượng Phật trên chùa và làm tổ ở đó…

Từ ngày chui vào trong tượng Phật, cuộc sống của chuột ta vô cùng no đủ.

Nó luôn được ăn thỏa thích những đồ lễ vật mà người dân mang đến cúng bái.

Thêm nữa, người nào đến trước tượng Phật của toàn phủ phục, nên con chuột tự thấy mình cũng oai lắm.

Nó thoải mái ăn ở, thậm chí còn tự do phóng uế lung tung…

Mỗi khi người dân đến thắp hương khấu đầu, con chuột kia nhìn khói hương nghi ngút từ từ bay lên, cười thầm:

“Đúng là những kẻ ngu ngốc, chẳng ai bắt mà cũng quỳ cũng lạy! Bây giờ ta mới biết mình cũng oai thế, đến loài người còn bái lại ta, mà bấy lâu nay sao cứ phải sợ mèo nhỉ!”.

Lâu ngày, sống cùng tượng Phật ở trên cao, thấy người nào đến thắp hương cũng chắp tay thành kính và quỳ lạy như thế, chuột cũng ngộ nhận và tự cho mình cao quý và tôn kính như… Phật.

Bỗng một hôm, có người cắm bó hương to, sơ ý để bùng cháy… Nóng và khói quá, con chuột bò vội ra ngoài, thì bị con mèo đói vồ được.

Chuột ta bèn vênh váo kêu lên:

– “Này mèo! Nhà người không thể ăn thịt ta được, hãy quỳ xuống thành kính bái lạy đi, rồi mang thức ăn lại đây… Ta là Phật đấy!”

Mèo cười to:

– “Những người quỳ lạy mày là vì vị trí mà mày đang chiếm đoạt, chứ không phải vì bản thân mày cao quý, quyền cao chức trọng gì đâu. Giờ thì mày tới số rồi, con chuột ngu ngốc!

Trong cuộc sống, không ít những kẻ nhờ thủ đoạn, hoặc do may mắn, bỗng ngồi vào một ví trí nào đó, thấy những người xung quanh đều xum xoe nịnh nọt, bổng lộc tự đến đầy nhà… thì tưởng mình là tài năng, cao quý và oai vệ lắm.

Họ giống như con chuột bỗng chui vào tượng Phật, nhưng vì tự đắc, nên không hề biết người khác cung kính mình là vì nhân cách của Phật.

Họ cũng ngộ nhận về học thức, ân đức của chính mình; không biết chỉ là nhờ vị trí cái ghế ngồi mà họ đang may mắn tạm thời nắm giữ.

Họ càng không lường được rằng, rất có thể tới một ngày…

“Cháy nhà sẽ ra mặt chuột”!

(st)

Nguồn: fb An Nguyen 


 

 LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO

Xuyên Sơn

 LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO

Nhặt được ví của người giàu có, cậu bé đem trả nhưng lại xin một chút tiền, lý do đưa ra khiến đối phương vừa nghe đã phải xấu hổ

 CHIA SẺ

Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring từng có một câu nói được rút ra từ chính kinh nghiệm của bản thân ông như thế này:

Đừng tùy tiện đưa ra lời phỏng đoán về người khác.

Vào thập niên 90 của thế kỷ 20, khi đi ngang qua vịnh San Francisco, Behring đột nhiên phát hiện ví tiền của mình đã biến mất.

Người trợ lý lo lắng:

“Có khi nào sáng nay chúng ta đi bộ qua khu ổ chuột ở Berkeley đã đánh rơi mất rồi, phải làm sao đây?”

Behring bất lực đáp:

“Đành đợi người nhặt được ví liên hệ chúng ta vậy.”

Hai tiếng sau, người trợ lý thất vọng lên tiếng:

“Thôi bỏ đi, đừng đợi nữa. Chúng ta đáng nhẽ không nên ôm hy vọng đối với những người ở khu ổ chuột đó.”

Người trợ lý cảm thấy khó hiểu:

“Trong ví còn có danh thiếp.

Nếu người nhặt được muốn mang trả, thì gọi cuộc điện thoại mất mấy phút đâu cơ chứ. Trong khi chúng ta đã chờ cả buổi chiều rồi, rõ ràng bọn họ không có ý định trả lại cho chúng ta mà.”

Nhưng Behring vẫn khăng khăng chờ đợi.

Khi bóng tối dần bao phủ, đột nhiên có tiếng chuông điện thoại reo lên.

Chính là người nhặt được chiếc ví gọi điện tới, yêu cầu họ đến đường XX nhận lại ví.

Người trợ lý rối rít bên cạnh:

“Đây liệu có phải là cái bẫy?

Có thể họ muốn gài chúng ta tới đó rồi tấn công hoặc tống tiền gì đó?”.

Behring không quan tâm tới lời nói của người trợ lý, lập tức phóng xe tới đó.

Khi tới điểm hẹn, một cậu bé mặc bộ quần áo rách rưới đi về phía họ và cái cậu bé đang cầm trên tay chính là chiếc ví mà Behring đã đánh rơi.

Người trợ lý đón lấy chiếc ví, đếm số tiền trong ví, không thiếu một đồng.

“Cháu có một thỉnh cầu”.

Cậu bé ngập ngừng nói, “Ông có thể cho cháu 1 ít tiền được không?”.

Khi đó, người trợ lý phá lên cười:

“Tôi biết mà…”.

Behring ngắt lời người trợ lý, mỉm cười hỏi cậu bé cần bao nhiêu tiền.

“Chỉ cần 1 đô là đủ ạ.”

Cậu bé ngại ngùng trả lời, “Cháu đi bộ rất lâu mới tìm thấy bốt điện thoại công cộng, nhưng trên người lại không có tiền, đành đi vay người ta 1 đô để gọi điện, bây giờ cháu cần tiền để trả người ta”.

Nhìn thấy đôi mắt trong veo của cậu bé, người trợ lý cúi đầu xấu hổ.

Còn Behring thì xúc động ôm chầm cậu bé.

Ngay sau đó, ông thay đổi kế hoạch từ thiện trước đấy, chuyển tiền đầu tư xây dựng một số trường học trong thành phố Berkeley, chuyên thu nhận những đứa trẻ không có tiền tới trường trong các khu ổ chuột.

Trong buổi lễ khai giảng, Behring phát biểu:

“Xin đừng tùy tiện phỏng đoán hay đánh giá về người khác. Thay vào đó chúng ta cần dành thời gian và cơ hội, đón nhận những trái tim thuần khiết và lương thiện. Một trái tim như vậy thật xứng đáng để chúng ta dày công vun đắp thành tài”.

   Pham Mylan

    Sưu tầm


 

XÂY MỘ THẬT TO CHO CHA MẸ, HAY CHỈ ĐỂ GIỮ SĨ DIỆN VỚI THIÊN HẠ?

Có một phong trào ở nhiều vùng quê nghe thì vừa buồn cười, vừa khiến người ta phải suy nghĩ: người sống ở nhà cấp bốn, nhưng người chết lại ở trong “biệt phủ”.

Đi qua một số nghĩa trang, có khi ta bắt gặp những ngôi mộ lát đá bóng loáng, cổng tam quan, mái ngói, rồng chầu, hổ phục… nhìn xa cứ tưởng khu du lịch tâm linh.

Người ta hay nói vui: “Người sống ở tạm, người chết là vĩnh cửu, nên phải đầu tư.”

Nhưng nghĩ kỹ, đôi khi cái gọi là “đầu tư cho người đã khuất” lại là sự sĩ diện của người đang sống.

Có một ông ở quê, cả đời làm ruộng, nuôi ba người con.

Nhà vẫn là căn cấp bốn cũ kỹ, mùa mưa thì dột, mùa hè nóng như cái lò.

Vợ ông nhiều lần bảo:

“Hay mình sửa lại căn nhà đi ông, khách đến còn có chỗ ngồi.”

Ông xua tay:

“Nhà mình ở tạm thôi bà ạ. Còn mộ các cụ là nơi nằm ngàn thu.”

Thế là ông vay tiền xây một khu lăng mộ rất lớn cho bố mẹ.

Ngày khánh thành, cả làng kéo đến xem.

Người thì xuýt xoa: “Đá này chắc đắt lắm!”

Người khác lại bảo: “Mộ còn đẹp hơn nhà tôi đang ở.”

Ông nghe vậy thì nở mày nở mặt.

Nhưng vài tháng sau, một hôm trời mưa lớn, mái nhà ông dột xuống mâm cơm.

Đứa cháu hỏi:

“Ông ơi, sao mình không sửa nhà?”

Ông im lặng một lúc rồi nói:

“Tiền đâu mà sửa?”

Cả nhà chẳng ai nói thêm câu nào.

Ngoài đồng, khu lăng mộ vẫn sừng sững, còn người sống thì ngồi trong căn nhà dột.

Đáng nói là chuyện này không chỉ xảy ra ở một gia đình.

Nhiều nơi, nghĩa trang còn được chăm chút hơn cả khu dân cư.

Người này xây mộ cao, người kia phải xây cao hơn.

Nhà trước lát đá hoa cương, nhà sau phải tìm đá nguyên khối.

Có người còn nói một câu nghe rất mạnh:

“Sống có thể nghèo, nhưng chết nhất định không được lép vế.”

Thế là cuộc đua sĩ diện bắt đầu.

Có cụ mới ngoài sáu mươi đã đi xem đất nghĩa trang, chọn hướng, chọn vị trí, chẳng khác gì người ta đi mua đất xây biệt thự.

Có người còn xây sẵn mộ từ khi mình vẫn đang khỏe mạnh.

Mỗi ngày đi tập thể dục lại ghé qua lau bụi, ngắm nghía.

Bạn bè hỏi:

“Ông làm sớm thế để làm gì?”

Ông cười:

“Chuẩn bị trước cho chủ động.”

Nghe thì vui, nhưng đằng sau tiếng cười ấy là một điều đáng suy ngẫm.

Nhiều khi người ta không sống cho mình, mà sống cho ánh mắt của thiên hạ.

Đám cưới phải thật lớn.

Nhà phải thật đẹp.

Con cái phải thành đạt.

Và đến khi cha mẹ mất, khu mộ cũng phải thật hoành tráng.

Sợ nhất là hàng xóm nói:

“Nhà ấy làm ăn kém.”

“Con cái không có hiếu.”

“Không bằng nhà người ta.”

Thế là có gia đình vay tiền, bán tài sản, thậm chí con cái đi làm xa gửi tiền về… chỉ để xây một khu mộ thật lớn.

Trong khi cha mẹ lúc còn sống có khi chẳng được sửa cho căn nhà khỏi dột, chẳng được ăn một bữa ngon, chẳng được con cái thường xuyên hỏi han.

Đó mới là điều đáng nghĩ.

Bởi hiếu thảo không nằm ở việc viên đá granite dày bao nhiêu, ngôi mộ rộng bao nhiêu mét vuông.

Hiếu thảo nằm ở những năm tháng cha mẹ còn sống.

Là khi mẹ đau, con có ở bên không.

Là khi cha già yếu, con có hỏi một câu “Bố hôm nay khỏe không?” không.

Là khi cha mẹ còn sống, anh em có biết nhường nhịn nhau, có biết giữ cho gia đình được hòa thuận hay không.

Ngày xưa, những ngôi mộ đất đơn sơ vẫn được con cháu thắp hương, chăm sóc. Một bó hoa, một nén nhang, một tấm lòng nhớ thương… đôi khi còn quý hơn cả một khu lăng mộ bạc tỷ mà con cháu quanh năm cãi nhau vì tiền.

Một ngôi mộ đẹp không có gì sai.

Tưởng nhớ tổ tiên cũng là điều đáng quý.

Nhưng nếu xây mộ chỉ để hơn nhà hàng xóm, để giữ sĩ diện, để chứng minh mình giàu có, thậm chí phải vay nợ để làm cho bằng người ta, thì có lẽ chúng ta nên dừng lại và tự hỏi:

Người đã khuất thật sự cần một ngôi mộ thật lớn, hay chỉ mong con cháu còn sống biết yêu thương nhau?

Bởi cuối cùng, người chết không mang theo được sự hơn thua.

Còn người sống thì phải trả giá cho những cuộc đua ấy.

Có khi điều đẹp nhất để báo hiếu cha mẹ không phải là xây cho họ một nơi nằm thật nguy nga…

Mà là khi họ còn sống, ta cho họ một mái nhà đủ ấm, một bữa cơm đủ vui, một tuổi già đủ bình yên.

Mộ có thể nhỏ, nhưng lòng hiếu thảo đừng nhỏ.

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm Cảm ơn các bác đã quan tâm theo dõi.

Xin chào và hẹn gặp lại!

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm 


 

SỐNG THANH THẢN GIỮA ĐỜI

 Một người không tốt với bạn, bạn không nên quá bận tâm.

Trong cuộc sống của bạn, không ai có nghĩa vụ phải cư xử tốt với bạn trừ Cha Mẹ.

Còn với những người tốt với bạn, bạn nên trân trọng và biết ơn điều đó.
Nhưng bạn cũng cần phải có chút đề phòng bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng của họ.

Hãy nhớ, họ tốt với bạn không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến bạn.

 Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của bạn.

Vì thế, nếu sau này người bạn yêu thương không còn ở bên,hay họ không còn là nơi bạn có thể đặt niềm tin, bạn cũng đừng bi lụy.

Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, bạn đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích.

Người ta tham vọng sống lâu nhưng bạn chcần SỐNG HẠNH PHÚC mỗi ngày.

Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn.

 Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn,nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi.

Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi.

Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn bạn lắng lại rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất.

Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.

 Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.

Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng bạn không thể kì vọng người ta sẽ làm ngược lại.

Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn.

Hãy nhớ điều này nếu không bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.

 Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người, nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn.

 S.T.

From: TU PHUNG


 

Thánh Batôlômêô (thế kỷ thứ 1) – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay 24/8, Giáo hội mừng kính trọng thể Thánh Batôlômêô (thế kỷ thứ 1) tông đồ. Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh nhân làm quan thầy nhé. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thể giới luôn được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 2: 24/8/2026.     (t2-23)

Trong Tân Ước, Thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách các tông đồ. Một số học giả cho rằng ngài là Natanien, người Cana xứ Galilê được Philípphê mời đến gặp Ðức Giêsu. Và Ðức Giêsu đã khen ông: “Ðây đích thực là người Israel. Lòng dạ ngay thẳng” (Gioan 1:47b). Khi Natanien hỏi Ðức Giêsu làm sao Ngài biết ông, Ðức Giêsu trả lời “Tôi thấy anh ở dưới cây vả” (Gioan 1:48b). Ðiều tiết lộ kinh ngạc này đã khiến Natanien phải kêu lên, “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa; chính Thầy là Vua Israel” (Gioan 1:49b). Nhưng Ðức Giêsu đã phản ứng lại, “Có phải anh tin vì tôi nói với anh là tôi thấy anh đứng dưới cây vả? Anh sẽ được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa!” (Gioan 1:50)

   Quả thật Natanien đã được nhìn thấy những điều trọng đại. Ngài là một trong những người được Ðức Giêsu hiện ra trên bờ biển Tiberia sau khi Phục Sinh (x. Gioan 21:1-14). Lúc ấy các ngài chài lưới cả đêm mà không được gì cả. Vào buổi sáng, họ thấy có người đứng trên bờ dù rằng không ai biết đó là Ðức Giêsu. Ngài bảo họ tiếp tục thả lưới, và họ bắt được nhiều cá đến nỗi không thể kéo lưới lên nổi. Sau đó Gioan nói với Phêrô, “Ðó chính là Thầy.”

   Khi họ dong thuyền vào bờ, họ thấy có đám lửa, với một ít cá đang nướng và một ít bánh. Ðức Giêsu bảo họ đem cho mấy con cá tươi, và mời họ đến dùng bữa. Thánh Gioan kể rằng mặc dù họ biết đó là Ðức Giêsu, nhưng không một tông đồ nào dám hỏi ngài là ai. Thánh Gioan cho biết, đó là lần thứ ba Ðức Giêsu hiện ra với các tông đồ.

   Sổ Tử Ðạo Rôma viết rằng Thánh Batôlômêô đã rao giảng ở Ấn và Armenia, là nơi ngài bị lột da và bị chém đầu bởi vua Astyages. Người được đặt làm quan thầy của các người làm nghề buôn thịt hoặc làm nghề thuộc da. 

(Nguồn: Nhóm Tinh Thần & Người Tính Hữu)

   Giống như Natanien, có khi nào bạn nghi ngờ rằng Chúa Giêsu chính là người mà bạn đang tìm kiếm và khao khát không? Nhưng Chúa Giê-su không ngần ngại ra tay trước. Trước khi kêu gọi bạn, Chúa Giêsu đã biết bạn là ai rồi. Đây là điều bạn cần mở lòng và đặt hết niềm tin tưởng vào quyền năng của Ngài.

Lạy Chúa, xin ban cho con một lòng tin vững mạnh, để con thật tình gắn bó với Đức Ki-tô, Con Một Chúa, như thánh Ba-tô-lô-mê-ô tông đồ. Xin Chúa cũng nhậm lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà cho con sống thế nào, để muôn dân nhận biết Hội Thánh chính là bí tích cứu độ.

From: Do Dzung 

*****

Thánh Ca Nguyên Hòa,SSS – Ánh Mắt Ngài Yêu Thương – Khắc Dũng

TÔN GIÁO KHÔNG TRỌNG LƯỢNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà!”.

“Trọng lượng của tôi là tình yêu; nó mang tôi đi bất cứ nơi đâu!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đời người đi về đâu tuỳ điều gì nặng nhất trong tim – tình yêu. Nhưng Lời Chúa hôm nay cho thấy có một kiểu tôn giáo khắt khe với điều nhỏ mà lỏng lẻo với điều nặng – đó là một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúa Giêsu không trách người Pharisêu vì họ quá tỉ mỉ; Ngài trách vì sự tỉ mỉ ấy đã làm lệch cân. Họ nộp một phần mười bạc hà, thì là, rau húng, nhưng “bỏ những điều quan trọng nhất”. Bản Hy Lạp viết barytera: không chỉ là “những điều quan trọng nhất”, mà còn là “những điều nặng hơn”. Rau thơm có thể đếm, một phần mười có thể cân rồi yên tâm. Bởi thế, họ cân điều nhẹ để khỏi mang điều nặng; rồi nâng điều nhẹ thành tuyệt đối: con muỗi mắc lại trong rây, còn con lạc đà trôi thẳng vào bụng.

Một đời sống đạo có thể rất bận rộn: giữ đủ giờ kinh, ngày chay, khoản dâng cúng, mà lòng vẫn y nguyên. Việc nhỏ dễ chịu vì làm xong là có thể yên tâm; nhưng công lý, lòng nhân và thành tín không cho phép ai đứng ngoài. Chúng đụng đến túi tiền, sự tiện nghi, cả những lối thoát mỗi người âm thầm giữ cho mình. Vì thế, chén đĩa có thể sáng bóng mà bên trong vẫn đầy cướp bóc và vô độ. “Hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã!” – Chúa Giêsu không đòi thêm một việc đạo; Ngài đòi trả lại sức nặng cho việc đang làm. “Nên thánh không hệ tại ở chỗ làm những việc khác, nhưng ở chỗ làm vì Chúa những gì chúng ta thường làm vì mình!” – Brother Lawrence.

Đó cũng là cách Phaolô chuẩn bị tín hữu Thessalônica cho ngày Chúa quang lâm. Trước những tin đồn, họ hoảng sợ; ông không thêm một dấu chỉ, nhưng “Xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành” – bài đọc một. Việc lành có sức nặng vì “Chúa ngự đến xét xử trần gian!” – Thánh Vịnh đáp ca. Chúng ta lo lắng hỏi khi nào Chúa đến; Lời Chúa lại hỏi, đời chúng ta có gì đủ nặng để đặt lên bàn cân khi Ngài đến?

Vậy mà chiếc cân ấy nhiều lúc vẫn lệch, không vì thiếu quả cân, nhưng vì cái tôi đã chiếm mất điểm tựa. Lỗi người khác được đặt lên đĩa công lý; lỗi bản thân, lên đĩa biện minh. “Làm sao hiểu được công lý, nếu không nhìn mọi hành vi trong ánh sáng trọn vẹn?” – Kahlil Gibran. Hoán cải là đưa điểm tựa ra khỏi cái tôi về lại nơi Chúa, để mỗi điều được trả đúng trọng lượng. Linh hồn chỉ có sức nặng khi biết đau điều khiến người khác đau.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, “những điều nặng hơn” của Lề Luật không còn là những ý niệm; chúng mang hình thập giá. Thập giá là chiếc cân: một bên là toàn bộ sức nặng tội lỗi, bên kia là tình yêu của Người Con. Không phải tội lỗi bỗng nhẹ đi; nhưng tình yêu đã nặng hơn. Con Thiên Chúa đã đặt mình lên đó và mang lấy phần nặng nhất. Không có thập giá, đời sống đạo dễ trở thành một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chỉnh lại chiếc cân lệch trong con; đừng để con vin vào điều nhỏ mà trốn tránh điều nặng; cho mỗi việc con làm mang trọng lượng của tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXI TN, Năm Chẵn: 

https://bom.so/B6Ri17

Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 23,23-26

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rằng : “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. 24 Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng ! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.

25 “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ. 26 Hỡi người Pha-ri-sêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch.”


 

LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Xuyên Sơn

 LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm,

27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”

Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả.

Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương.

– Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi:

“Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…”

Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng.

Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính.

Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.

Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam.

Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó.

Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

  • Tự Lực Văn Đoàn

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào.

Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.

Chẳng những tại miền Bắc, Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che dấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình.

Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.

  • Aki Tanaka

Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.

Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.

Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn.

Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.

Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.

Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:

Aki Tanaka:

-Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.

Mặc Lâm:

-Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?

Aki Tanaka:

-Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.

Mặc Lâm:

-Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?

Aki Tanaka:

-Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới.

Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.

Mặc Lâm:

-Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?

Aki Tanaka:

-Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.

Mặc Lâm:

-Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?

Aki Tanaka:

-Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều.

Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.

Mặc Lâm:

-Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?

Aki Tanaka:

-Tôi rất thích ông Khái Hưng.

Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.

Mặc Lâm:

-Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?

Aki Tanaka:

-Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.

Mặc Lâm:

Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?

Aki Tanaka:

-Tôi thấy họ không chú ý đâu.

Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.

Mặc Lâm:

-Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…

Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?

Aki Tanaka:

-Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy

Mặc Lâm:

-Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?

Aki Tanaka:

-Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa

Mặc Lâm:

-Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2015-09-05

(share từ Nguyễn Thanh Bình FB, Le Van Quy) 

ảnh: Cô sinh viên người Nhật Aki Tanaka 


 

VŨ NỮ CẨM NHUNG

Xuyên Sơn

 VŨ NỮ CẨM NHUNG

Người Sài Gòn trước đây không mấy ai mà không nghe qua cái tên vũ nữ Cẩm Nhung (1940-2013)

và vụ đánh ghen tạt acxit rùng rợn lần đầu tiên xảy ra tại Việt Nam. Cẩm Nhung là nạn nhân của vụ đánh ghen tàn khốc này khiến dung nhan của cô trở nên dị dạng, trở thành phế nhân tàn tật, suốt cuộc đời còn lại phải lê lết trên đường phố ăn mày ăn xin, cũng chỉ vì Cẩm Nhung là một “hồng nhan họa thủy”. ĐXGK mạn phép đăng lại bài viết sau đây của tác giả Trúc Giang MN tường thuật lại vụ đánh ghen kinh hoàng chấn động Sài Gòn đầu thập niên 60.

“khoảng 8 giờ tối ngày 17-7-1963, một phụ nữ vừa bước ra khỏi nhà, tiến về chiếc taxi chờ sẵn, thì bổng nhiên một người đàn ông xuất hiện, tay bưng một ca acid tạt vào mặt người phụ nữ.

Thiếu nữ thét lên trong đau đớn: “Chết tôi rồi! Cứu tôi với”, rồi ôm mặt ngã quỵ.

Một người đàn ông chạy đến, bế cô lên chiếc taxi chạy vào bịnh viện Sài Gòn cấp cứu.

Sau đó được chuyển đến Bịnh viện Đồn Đất (Grall) vào lúc hai giờ sáng ngày 18-7-1963.

Cái tin vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt acid gây xôn xao trong giới thượng lưu thường lui tới các vũ trường.

Báo chí đăng tấm hình rất xinh đẹp của Cẩm Nhung đã gây xúc động và thương tiếc của người Sài Gòn và cả Miền Nam VN.

Đó là vũ nữ tài sắc vẹn toàn nổi danh là “Nữ hoàng vũ trường”, Cẩm Nhung bị đánh ghen bằng tạt acid.

Hai người thân là mẹ và bà vú lần lượt ra đi. Tài sản cạn kiệt.

Không nơi nương tựa nên phải đi ăn mày.

Đặc biệt là người ăn xin nầy mang trước ngực tấm hình cô chụp chung với người yêu là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội.

Năm 15 tuổi theo gia đình di cư vào Nam, và trở thành vũ nữ chuyên nghiệp năm 19 tuổi.

Con gái 17 tuổi mà trổ mã đều đặn, nói chung là rất đẹp và hấp dẫn.

Cẩm Nhung bỏ học.

Lén đi học khiêu vũ ở một lớp dạy tư, do hai nhạc sĩ và là vũ sư Nguyễn Tình và Nguyễn Thống phụ trách.

Hai nhạc sĩ nổi tiếng với ngón đàn hạ uy cầm (Hawaiian guitar), đã đào tạo hàng chục vũ nữ cho các vũ trường Sài Gòn thời đó.

Nhờ có năng khiếu, mới học được nửa khóa đã tỏ ra nghệ thuật nhảy múa rất xuất sắc.

Vũ sư Nguyễn Tình nói với người tài pán Marie Sang:

“Đôi chân của nó, thân hình gợi cảm của nó rồi đây sẽ có khối đàn ông ngã rạp dưới chân nó mà chết cho coi”.

Tài pán là người quản lý vũ nữ ở vũ trường, còn gọi là “cai gà”. Khách đi solo muốn nhảy với vũ nữ đều phải do người cai gà đó sắp xếp.

Phải mua ticket thời đó là 20$. Mỗi ticket chỉ nhảy được một vài bản mà thôi. Muốn bao thầu cả đêm thì phải mua trọn gói chừng 15 ticket.

Đối với “Nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung, thì khách phải lo lót chị tài pán.

Người nào cho tiền nhiều thì được cuộc. Muốn nhảy với kiều nữ suốt đêm, tới một hai giờ sáng thì khách phải mua trọn gói 15 ticket.

Khách sành điệu cùng vũ nữ rời vũ trường nầy, đến một vũ trường khác vừa khiêu vũ thoải mái, vừa giữ được tiếng tăm về đức hạnh của vũ nữ.

Nhảy được vài ba bản rồi rủ nhau đi ăn khuya như ăn cháo cá ở Chợ Cũ, cơm thố, cơm siu siu, hoặc mì La Cai…

Đó là xong phần một.

Phần còn lại do sự thỏa thuận của hai bên.

Khách nhảy phải típ cho vũ nữ, thời giá lúc đó là 500$.

Đêm vui trọn vẹn đạt “mục đích yêu cầu” thì tốn phí khoảng 1,000$, tương đương với mấy cây vàng. Cẩm Nhung đã qua nhiều vũ trường, và Kim Sơn là điểm chót. Nghe nói Trung tá công binh mua cho Cẩm Nhung một căn nhà trong hẻm bên cạnh vũ trường Au Chalet.

Từ đó, Cẩm Nhung đã bước vào con đường của định mạng, người tài hoa bạc mệnh.

“Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

Vụ đánh ghen bằng acid diễn ra ngày 17-7-1963 tại Sài Gòn.

Đó được xem như vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất chưa từng có ở Việt Nam trước kia.

Sự việc gây chấn động cả Sài Gòn và Miền Nam trong một thời gian.

Báo chí nhận định vụ đánh ghen bằng acid là lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn. Nạn nhân bị đánh ghen bằng tạt acid là vũ nữ vô cùng xinh đẹp tên Cẩm Nhung của vũ trường Kim Sơn.

Báo chí thời đó hết lời ca ngợi nhan sắc và đôi chân dài điệu nghệ của cô vũ nữ gốc Hà Thành. Mệnh danh là “Nữ hoàng vũ trường”.

Tại vũ trường Kim Sơn,

đường Tự Do, Cẩm Nhung phải lòng một khách nhảy hào hoa, dân chơi có tiếng tại các vũ trường là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Việc ông Thức cặp kè với Cẩm Nhung đến tai bà vợ là Lâm Thị Nguyệt, biệt danh là Bà Năm Rado, vì bà chuyên bán đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Rado.

Máu Hoạn Thư nổi lên.

Người đàn bà dữ tợn nhất, độc ác nhất là lúc lên cơn ghen.

Thuở đó, ở Sài Gòn và cả Miền Nam chưa có vụ đánh ghen nào bằng tạt acid cả.

Thông thường thì đón đường chửi bới về việc giựt chồng, làm nhục nơi công cộng.

Bạo động hơn là “xởn tóc”, cao hơn nữa là “lột quần”.

Bà Lâm Thị Nguyệt thuê người tạt acid vào mặt Cẩm Nhung với giá hai lượng vàng.

Vụ đánh ghen bằng tạt acid diễn ra trong khi bà Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, đang ở nước ngoài.

Nghe được tin, bà vô cùng tức giận. Ngay sau khi về nước, bà Ngô Đình Nhu đến Bịnh viện Grall thăm Cẩm Nhung.

Với tư cách là người lãnh đạo Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ Việt Nam, binh vực quyền lợi và sự bình đẳng của phụ nữ, bà thúc đẩy điều tra và lập hồ sơ đưa ra tòa.

Vào tháng 10 năm 1963, tòa kết án Lâm Thị Nguyệt,  vợ của Trung tá Trần Ngọc Thức và người đàn ông tạt acid mỗi người 20 năm tù.

Một người đàn ông liên hệ 15 năm.

Trung tá Trần Ngọc Thức bị cho giải ngũ.

Sau năm 1975, Đại tá Trần Ngọc Thức đi tù cải tạo ở Trại Z.30C, Hàm Tân.

Cẩm Nhung còn giữ được cái mạng nhưng dung nhan kiều diễm bị hủy hoại hoàn toàn. Tháng 9 năm 1963, Cẩm Nhung được đưa qua Nhật chữa trị, hy vọng phục hồi gương mặt như trước kia.

Bác sĩ Nhật bó tay.

Khi Cẩm Nhung về nước thì nền Đệ nhất Cộng Hòa đã sụp đổ.

Bà Ngô Đình Nhu sống lưu vong ở nước ngoài.

Người vũ nữ nổi tiếng một thời đã biến mất trong các sinh hoạt ở Sài Gòn.

Những biến cố chính trị dồn dập khiến cho việc đánh ghen dã man, tàn bạo rơi vào quên lãng và chìm trong quá khứ.

Từ địa vị của một nữ hoàng sống trên đỉnh cao danh vọng, rực rỡ dưới ánh đèn màu và điệu nhạc, phong lưu công tử bay bướm đa tình và các thương gia giàu sụ săn đón, bổng nhiên trở thành thân tàn ma dại, ngậm đắng nuốt cay cho số phận hẩm hiu,

Cẩm Nhung lao vào con đường đập phá, rượu chè, nghiện ngập, sa đọa…

Năm 1964 người mẹ qua đời. Cẩm Nhung sống với bà vú tên Sọ.

Tiền bạc, nữ trang lần lượt từng bước ra đi.

Bán căn nhà 200 lượng vàng và cùng với bà vú ra ở thuê nhà trọ. Bà vú Sọ qua đời.

Cẩm Nhung tật nguyền.

Không nghề nghiệp, không nơi nương tựa nên chỉ có con đường là đi ăn xin.

Trước Tết năm 1969, người ăn mày xuất hiện ở chợ Bến Thành. Mặt mày dị dạng, đeo trên ngực tấm hình chụp chung với người tình là Trung tá Trần Ngọc Thức. Cô lê bước trên các con đường Sài Gòn, trên hành lang của Thương Xá Tax.

Rồi đến những Chợ Bà Chiểu, Chợ Bình Tây…và sau cùng về Miền Tây ở bến bắc (Phà) Mỹ Thuận, Vĩnh Long.

Hành khách qua lại trên bến phà Mỹ Thuận cho biết Cẩm Nhung không còn mang tấm hình chụp chung với người tình nữa, mà chỉ mang tấm hình của bản thân người ăn mày.

Chuyện kể rằng, một hôm có mấy người lạ mặt đến trao cho người ăn xin một số tiền và giật lấy tấm hình chụp chung hai người.

Ở Sài Gòn xuất hiện bản nhạc “Bài Ca Cho Người Kỹ Nữ” của hai nhạc sĩ Nhật Ngân và Duy Trung.

Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ Cẩm Nhung.

Bài hát có đoạn:

Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người

Ta xót xa thay em là một cánh hoa rơi

Loài người vô tình giẫm nát thân em

Loài người vô tình giày xéo thân em

Loài người vô tình giết chết đời em…

Trong hồi ký “Đời 1998”,

(nhà thơ) Nguyên Sa thuật lại nhiều lần ông và nhà văn Mai Thảo đến nhà chở Cẩm Nhung đi vũ trường Arc en Ciel, ăn kem và hóng mát ở Bến Bạch Đằng.

Lần sau cùng ông gặp Cẩm Nhung như sau:

“Lần chót tôi gặp lại người phụ nữ ấy, Mai Thảo dừng xe có phần gấp gáp, không có nét bay bướm nào. Anh đang phóng nhanh bỗng thắng két, táp xe vào lề, đậu xe bên phía tay mặt đường Pasteur.

Mai Thảo ra khỏi xe không một lời giải thích.

Tôi không hỏi, xuống theo ngay, linh cảm có chuyện gì khác lạ. Chúng tôi băng qua con lộ xe chạy một chiều vun vút.

Mai Thảo dừng lại trước một người hành khất, một người phụ nữ, móc trong túi ra một nắm giấy bạc, anh chuyển nắm giấy bạc sang tay kia, tìm kiếm thêm, tôi không nhận ra người hành khất là ai, chỉ thấy mặt loang lổ những vết cháy nổi lên những mảng thịt nửa đỏ nửa tím sậm, dị dạng, hai mắt vết cháy càng rõ, lòng trắng và lòng đen bị hủy hoại lổn nhổn.

Bạn tôi bỏ nắm tiền vào chậu bằng nhôm, những tờ giấy chạm vào tay người đàn bà hành khất, dường như nàng biết ngay người cho tiền là ai, sự va chạm của bàn tay vào những tờ giấy bạc cho nàng biết ngay là ai, ai có thể cho nàng nhiều tờ giấy bạc như thế, nàng ngẩng mặt lên gọi “anh”.

Mai Thảo vỗ nhẹ vào bàn tay nàng có tiếng nói an ủi bằng xúc giác, không có âm thanh nào được phát lên.

Tôi muốn nói lên tên người đàn bà hành khất.

Tôi chưa kịp nói thì Mai Thảo kéo tôi băng qua đường.

Tôi ngồi vào trong xe, nói lên ngay tên nàng.

Mai Thảo gật đầu.

Cẩm Nhung.

Tên người vũ nữ thay quần áo sau tấm bình phong mỗi lần Mai Thảo và tôi đến đón nàng đi làm hay đi ăn, đi ra Pointe des Blagueurs (Bến Bạch Đằng) hóng mát.

Cẩm Nhung bị tạt át xít trong một trận đòn ghen có sức mạnh của tiền hô hậu ủng, có sự tàn bạo mới của thế kỷ khoa học.

Tôi nhìn bạn tôi ngậm ngùi:

-Cẩm Nhung!

Mai Thảo nhìn về phía trước mặt, như nói một mình, rất khẽ:

-Nhung đấy!”

Một ngày đầu năm 2013, tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác và dân tứ xứ đến thuê ở trọ, có một đám ma nghèo.

Một bà lão bán vé số đã qua đời vì già yếu, bệnh tật. Không một người thân, bà lão được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa…

Sẽ không có chuyện gì đáng nói về đám ma nghèo của bà lão vô gia cư, nếu như người quá cố nói trên không phải là vũ nữ Cẩm Nhung, đã lừng danh ở nửa thế kỷ trước.”

Nguồn fb Thầy Lê Văn Thông 


 

Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG.

Một người đàn ông gặp tai nạn xe hơi rất nghiêm trọng trên đường cao tốc và được đưa đến bệnh viện ở một thị trấn gần đó, vì vụ tai nạn xảy ra khá xa thành phố. Trong khi ở đó, anh ta gọi điện cho vợ cũ, người mà anh ta có mối quan hệ tồi tệ: anh ta liên tục kiện tụng cô ta ra tòa về quyền nuôi con trai, cố tình không trả một xu tiền cấp dưỡng nuôi con để ép cô ta nhượng bộ, và thẳng thắn mà nói, anh ta đã bỏ rơi cô ta.

Anh ta muốn được tự do và cặp kè với mọi phụ nữ anh ta gặp. Anh ta đang sống cuộc sống xa hoa ở biệt thự vùng quê, cho đến khi tai nạn xảy ra.

Và đó là lúc anh ta nhận ra mình không còn ai để nhờ vả. Cha mẹ anh ta đã già yếu và không thể giúp đỡ anh ta được gì; ngược lại, họ sẽ chỉ càng sợ hãi hơn. Bạn bè? Bạn bè nào chứ? Chỉ là những người quen biết và bạn nhậu, mỗi người đều bận rộn với việc riêng của mình. Tất nhiên, họ cũng chính là những người trước đây đã khuyên anh ta nên chấm dứt mối quan hệ với vợ cũ và cắt đứt nguồn tài chính của cô ta. Nhưng không ai trong số họ sẽ đi đến tận đó, đến một thị trấn hẻo lánh như vậy. Nếu anh ta ở trong một bệnh viện tốt ở thành phố thì có lẽ khác; nhưng ở một thị trấn nhỏ, không đời nào.

Toàn thân anh ta đau nhức khủng khiếp. Và anh ta vô cùng sợ hãi. Gọi điện cho các đối tác kinh doanh hay những cô gái anh ta đang hẹn hò đều vô ích, vì họ sẽ chỉ nói với anh ta câu kinh điển: “Cố lên! Mạnh mẽ lên! Mau chóng khỏe lại!”

Anh ta chắc chắn về điều đó như thể mình chắc chắn mình bị gãy hai chân. Và nỗi đau cũng tương tự.

Vì vậy, anh ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gọi cho vợ cũ: “Nina,” anh ta nói, “Anh bị tai nạn nặng. Anh đang ở bệnh viện này ở thị trấn kia. Anh chỉ gọi báo cho em biết phòng khi anh chết.” “Xin lỗi vì đã làm phiền. Gửi lời chào đến con trai nhỏ của em, Alex nhé.”

Và tất nhiên, Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta. Cô ấy không đến ngay lập tức, vì chính anh ta đã lấy xe của cô ấy. Cô ấy phải đi xe buýt liên tỉnh trước rồi mới đi xe buýt địa phương, nhưng cuối cùng cô ấy cũng đến. Cô ấy mang đến cho anh mọi thứ anh cần và bắt đầu làm mọi cách để chuyển anh đến một bệnh viện trong thành phố.

Một người phụ nữ trung niên, mệt mỏi, thừa cân, không hề quyến rũ, tay xách những túi đồ mua sắm, và không biết vì sao, bên trong một trong những túi đó lại có một bát canh gà nóng hổi và vài viên thịt viên. Còn người đàn ông thì gần như kiệt sức, anh thậm chí không thể tự ăn…

Nhưng anh đã vượt qua được. Anh mất một thời gian để hồi phục, nhưng anh đã vượt qua, và ngày nay anh sống với Nina, bởi vì cô ấy đã trở thành người bạn thân thiết thực sự của anh. Người thân cận nhất và là thành viên gia đình thân thiết nhất của anh. Thân thiết nhất trong tất cả.

Cuối cùng anh cũng nhận ra khi nằm trên giường bệnh: rằng một số mối liên kết mạnh mẽ hơn bất kỳ điều phù phiếm nào khác trong cuộc sống này… Đó là những mối liên kết của tình yêu, của định mệnh và của chính cuộc sống.

Và mỗi chúng ta nên dừng lại và suy nghĩ: chúng ta sẽ gọi cho ai nếu có chuyện không may xảy ra với mình? Ai sẽ bắt xe buýt… với một bát súp trên tay? Ai sẽ ở đó để chăm sóc chúng ta và dọn dẹp mớ hỗn độn khi chúng ta thậm chí không thể tự di chuyển?

Có lẽ không ai cả. Có thể chỉ có một người, hoặc nhiều nhất là hai người… Nhưng chắc chắn đó sẽ là người thân trong gia đình chúng ta. Gia đình đích thực của chúng ta. Những người thân yêu của chúng ta, với tất cả những khuyết điểm và đức tính tốt đẹp của họ. Và chúng ta không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ được thô lỗ với những người đó, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và bản thân chúng ta cũng phải sẵn sàng lên xe buýt nếu có cơ hội… Hoặc xe buýt công cộng, với hộp đựng thức ăn trong túi.

Và với vài xu cuối cùng trong túi quần…

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

CÓ PHẢI LÀ BI QUAN KHI NÓI ĐẾN CÁI CHẾT LÚC TUỔI GIÀ?-  Norris Le LPN

Norris Le LPN

Một vài bạn FB có ý kiến cho rằng ai rồi cũng chết. Khi nào chết sẽ hay. Đâu cần chi phải bận lòng?

Thật tình, tôi không nghĩ thế. Vẫn biết ai rồi cũng chết, nhưng chết như thế nào ? Một chuyến đi chơi vài ngày cũng cần chuẩn bị chu đáo, hà huống gì một việc quan trọng của đời người như “cái chết” lại không cần chuẩn bị ? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Lúc còn khỏe mạnh, mình tưởng như mọi việc sẽ xãy ra êm thắm, ngay cả cái chết, tắt thở là hết! Đơn giản vậy sao ? Tôi đã biết nhiều người lăn lộn, khổ sở trong thời gian cuối cùng của cuộc đời. Lúc cơ thể suy tàn, ngoài sự đau nhức, còn biết bao sự hành hạ về thể xác lẫn tinh thần…

Ỉa, đái trong quần lúc nào không biết. Ho, hen, khạc nhổ suốt ngày. Tất cả đều phải nhờ vào sự giúp đỡ, chăm sóc của người khác. Tính khí mỗi ngày càng khó khăn, bực dọc, cáu kỉnh, than phiền, trách móc. Ai dám chắc rằng mình sẽ không như thế? Ai mà chịu nổi? Ngay cả những người được thuê để chăm sóc người già nhiều khi cũng phải bỏ việc vì không chịu nổi cái khó tính của người già sắp chết, dù họ rất cần một việc làm để nuôi thân và gia đình. – Đó là một thực tế.

– – – Vậy thì mình phải tính cách nào để đối phó với thực tế đó?

Nếu là người có niềm tin tôn giáo, thì ngay từ lâu trước khi già yếu, đã phải thành tâm học đạo, chấp nhận sự quan phòng hay thử thách của Ơn Trên, chấp nhận Nghiệp báo, Nhân Quả, chẳng riêng của đời này hay của nhiều đời trước. Niềm tin vững chắc này sẽ giúp người tin đạo quyết tâm chịu đựng những khó khăn khi nó xãy đến. Tất nhiên Quả Lành cũng đến với những người được ra đi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng. Từ niềm tin tôn giáo này, mình sẽ phải cố gắng thay đổi cách sống, làm điều thiện, tránh điều ác.

Bên cạnh đó, tài chánh cũng là một phương tiện cần thiết, giúp ích cho mình rất nhiều trong những lúc phải cần đến dịch vụ chăm sóc. Tiền nào, của đó. Thực tế bạn ơi! Ở đâu cũng thế. Trong lúc đang làm việc, mỗi tháng, hay mỗi kỳ lương, chịu khó để riêng một chút tiết kiệm cho quỹ tuổi già. Đừng mong đợi gì vào con cháu, vì chúng nó cũng phải lo cho bản thân và gia đình chúng nó, luôn cả tuổi già của chúng nó sau này!

Tất cả những chuẩn bị này thường nên chia sẻ với con cháu, mình muốn gì khi sắp nhắm mắt lìa đời, để tất cả người thân trong gia đình cùng hiểu, và sẽ không ai tranh cãi điều gì khi chuyện đó xãy ra. Một ông bạn già của tôi quyết định rút ống thở cho bà Mẹ già trên 100 tuổi để bà khỏi phải cứ nằm đó mà không còn biết gì, vì bộ não đã chết. Người em út nhào tới cào, xé , la hét, bảo anh “giết Mẹ”.

Việc tang lễ cũng thế. Việc này không phải chỉ làm hoàn toàn theo ý kiến của mình, mà đôi lúc cũng phải nghĩ tới tâm trạng của thân nhân, con cháu nữa. Nếu mình bảo: “tao chết thì cứ đem thiêu, rồi rãi tro xuống sông, xuống biển là xong, đừng lễ lạc gì hết! “ . Con cháu mình có đứa nào đành lòng như thế ? Chúng cũng muốn đội khăn tang cho Bố Mẹ, cũng muốn đọc kinh cầu siêu, cầu hồn, quỳ lạy tiễn đưa trong niềm thương nhớ, để nước mắt giúp xoa dịu niềm đau chia lìa, âm dương từ nay cách trở. Chỉ mong chúng hãy làm trong giản dị, trong phạm vi gia đình, hay bạn bè thân thuộc, không nên đình đám, phô trương, tiêu phí một cách vô ích, có thể trở thành gánh nặng cho con cháu sau này. Và nếu có thể, mình chuẩn bị trước một “quỹ tang chế” cho chính mình, thì sẽ nhẹ cho con cháu lắm.

Có thể bạn có cách chọn lựa khác. Mình chỉ nói lên ý nghĩ của mình, để, không những con chau biết, mà cũng để thân nhân, bè bạn xa gần cũng biết,- đây là ý nguyện của mình. Có gì thiếu sót trong tang lễ của mình thì xin thứ lỗi, vì đó là lỗi của mình, tại mình muốn thế, không phải của người ở lại.

Tuổi 80+ rồi. Trải qua bao gian khổ của tuổi thơ, trong thời chiến tranh ly loạn, tản cư, chạy giặc, đi lính, đi tù, vượt biên, tị nạn, làm lại cuộc đời …

Rồi, về hưu tại xứ sở tự do này đã non 20 năm, trong an bình, no ấm.

Mỗi ngày thức dậy, cảm tạ Ơn Trên, còn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc uống khi đau yếu, còn lo lắng được cho chính mình, còn có bạn bè thương mến, hàng xóm tử tế, còn có vườn rau nho nhỏ để mỗi ngày ra vào chăm sóc , và đám con, cháu tốt lành, hiếu để … Lòng Tri Ân vô hạn !

Nhưng biết còn được bao lâu, và khi nào bác sĩ sẽ lắc đầu bảo rằng : “ NO MORE QUALITY OF LIFE” ?

Mình không bi quan đâu bạn. Người ta bỏ cả đời người để lo lắng, chuẩn bị cho những cái KHÔNG HỀ CHẮC CHẮN: của cải, tài sản, danh vọng, tiền bạc, sức khỏe, kể cả thân xác này.

Nhưng cái CHẾT là chắc chắn. Mình chỉ cố gắng một chút để chuẩn bị cho cái chắc chắn đó thôi, vì chắc chắn nó sẽ xãy đến với mình trong một ngày không xa.

Xin chúc bình an đến mọi nhà.

Norris Le LPN

Houston, TX 2 tháng Tư, 2022.

=== Đình kèm bài của một bác sĩ về giai đoạn cuối đời = = = =

TẠI SAO MỘT SỐ BÁC SĨ TỪ CHỐI ĐIỀU TRỊ CỨU SỐNG BẢN THÂN

(Nguồn: luomtrennet. )

Câu hỏi:

Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa:

” Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ ) thường từ chối khi mục đích duy nhất của những phương pháp điều trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi. Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp , họ kiệt sức, ốm yếu , cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác. Điều này, về cơ bản là điều trị để chết.

Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày , nó cực kỳ vô nhân đạo. Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

Gia đình tôi biết điều này, tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

Hãy để tôi kể chuyện này:

Tôi đã có một đồng nghiệp, anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học. Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất và còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút.

Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm : ” Đi biển ” .

Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu, anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vị. Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon. Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó. Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện , và anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan.

Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính. Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó xãy ra cho bản thân mình.

Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

Với tất cả sự bình yên. /.


 

KHÁT KHAO KHÔNG KHỞI ĐẦU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Làm sao Ngài lại biết tôi?”.

“Hãy an tâm; con đã chẳng tìm Ta, nếu con đã không gặp Ta!” – Blaise Pascal.

Không phải con người khởi sự đi tìm Thiên Chúa; chính Thiên Chúa đã có mặt nơi tâm điểm khát khao của con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Nathanael đi tìm Chúa Giêsu; gặp Ngài, ông ngỡ ngàng vì đã được Ngài biết từ trước. Con người khát khao Thiên Chúa – một ‘khát khao không khởi đầu’ – bởi Thiên Chúa đã đi trước trong chuyển động ấy.

Được Philipphê giới thiệu, Nathanael dửng dưng, “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?”. Nhưng ông vẫn đến. Và chính nơi cuộc gặp ấy, ông bị chặn lại bởi một lời không ngờ: “Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối!”. Nathanael nghẹt thở, “Làm sao Ngài lại biết tôi?”. Trước khi Nathanael kịp hiểu, Chúa Giêsu nói thêm: “Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh còn ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi”. Không phải ông được biết sau cuộc gặp, nhưng đã được biết từ trước.

Một lời như sấm rền khiến Nathanael ngẩn ngơ. Toàn bộ hữu thể ông như tan chảy trước một cái nhìn đã đọc đến tận cùng; những dè dặt, hoài nghi bỗng rơi xuống, để phần thật nhất nơi ông lộ ra như vàng ròng. Nhưng lạ thay, bị nhìn thấu, ông không thấy mình bị kết án; trái lại, ông nhận ra mình đã được chờ đợi từ lâu. Điều ông tưởng là khát khao thực ra đã được chạm tới từ trước. Có lúc chúng ta tưởng mình bắt đầu; nhưng hoá ra, đó chỉ là một ‘khát khao không khởi đầu’, vì đã có một khởi đầu khác đi trước.

Người vừa hỏi Nazareth nào có gì hay, cuối cùng lại được ghi tên trong thành thánh: “Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên” – bài đọc một. Chúa Giêsu không chỉ thấy Nathanael đang là ai, nhưng còn thấy ông sẽ trở thành ai: một kẻ hoài nghi thành tông đồ, một người đứng ngoài nên nền móng.

Để trở thành con người Chúa đã thấy trước, Nathanael đã dám ở lại dưới cái nhìn ấy. Không phải ai cũng dám như ông; nhiều khi, chúng ta lại tìm cách lẩn tránh. Bởi được biết không chỉ là được hiểu, nhưng là để ánh sáng chạm tới tận đáy lòng và xuyên qua mọi lớp che phủ. “Được biết mà không được yêu là nỗi sợ sâu nhất của con người; nhưng được biết trọn vẹn và được yêu thật sự, đó là điều con người khao khát nhất!” – Timothy Keller.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cái nhìn thấu suốt không kết án, nhưng cứu độ. Trên thập giá, Ngài thấy hết sự phản bội, hèn nhát và tội lỗi của con người; vậy mà vẫn mở rộng vòng tay. Đức Kitô không yêu chúng ta vì Ngài chưa biết hết; Ngài biết hết mà vẫn yêu. Điều khiến người đời bớt yêu lại khiến Ngài yêu nhiều hơn. Bởi thế, cuộc trở về của chúng ta vẫn là một ‘khát khao không khởi đầu’: trước khi chúng ta khao khát được cứu, Chúa đã khao khát cứu chúng ta. Không ai còn bị đóng đinh vào con người cũ; mỗi người được gọi về với con người Thiên Chúa đã thấy từ đời đời. “Không phải tội lỗi của chúng ta lớn, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không góc khuất nào trong con nằm ngoài ánh mắt Chúa; xin đừng để con trốn chạy khi được nhìn thấu; nhưng dám ở lại với Đấng khát khao con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa KÍNH THÁNH BARTHÔLÔMÊÔ TÔNG ĐỒ. 

24/8, Thứ Hai, Tuần XXI TN: 

https://bom.so/TRzsCt

Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 1,45-51

45 Khi ấy, ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói : “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp : đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.” 46 Ông Na-tha-na-en liền bảo : “Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được ?” Ông Phi-líp-phê trả lời : “Cứ đến mà xem !” 47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng : “Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.” 48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người : “Làm sao Ngài lại biết tôi ?” Đức Giê-su trả lời : “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” 49 Ông Na-tha-na-en nói : “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en !” 50 Đức Giê-su đáp : “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin ! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” 51 Người lại nói : “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”


 

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Nghệ Lâm Hồng

Jocelyn Minh Tue

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Năm 11 tuổi, khi một chân đã teo liệt, không thể tự đi lại, bà Nguyễn Thị Thủy được người cậu chở đến khu vực bắc Mỹ Thuận. Người cậu mua cho bà một ổ bánh mì rồi nói sẽ đi mua đồ Tết và quay lại đón.

Nhưng ông không trở lại.

Đứa trẻ mồ côi cha mẹ, không thể tự đi tìm người thân, chỉ biết ngồi một chỗ chờ đợi rồi bật khóc. Đến khi những người xung quanh nói rằng bà đã bị người thân bỏ lại, cô bé mới hiểu chuyến đi ấy không phải để mua quần áo Tết.

Đó là ngày bà mất đi mái nhà của mình.

MỘT Ổ BÁNH MÌ VÀ CUỘC ĐỜI BỊ BỎ LẠI

Bà Thủy quê Vĩnh Long, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sống nhờ bà cố. Từ bé, bà bị suy dinh dưỡng, một bên chân teo nhỏ, gần như không thể đứng và đi lại bình thường.

Sau khi bà cố qua đời, bà sống cùng cậu mợ. Nhưng theo lời kể của bà, vì không muốn tiếp tục chăm sóc một đứa trẻ khuyết tật, người thân đã tìm cách đưa bà đi.

Tại khu vực bắc Mỹ Thuận, người cậu để bà lại với một ổ bánh mì và lời hứa sẽ quay lại.

Bà chờ từ sáng đến gần trưa.

Nhưng người cậu không bao giờ quay lại nữa.

May mắn, một người chạy xe lam nhìn thấy cô bé đang khóc đã dừng lại. Ông nghe câu chuyện rồi đưa bà về bến phà, nhờ những người làm việc ở đó giúp đỡ.

Từ đó, cuộc đời cô bé 11 tuổi bắt đầu gắn với những bến phà, vỉa hè và những mái hiên tạm bợ.

KHÔNG CÙNG MÁU MỦ NHƯNG KHÔNG AI BỎ RƠI

Ban ngày, bà ngồi với chiếc nón lá trước mặt để xin tiền ăn. Người cho vài đồng, người cho hộp cơm, người cho quần áo.

Đêm xuống, bà tìm một góc gần phòng vé hoặc vỉa hè để ngủ.

Những người làm việc tại bến phà thương hoàn cảnh của cô bé nên góp tiền đưa bà đi chữa chân. Bà được tập vật lý trị liệu, nẹp chân và tập đứng.

Từ một đứa trẻ chỉ có thể lết trên nền đất, bà dần bước được những bước đầu tiên.

“Nhờ người dưng hết đó con. Không có người ta chắc cô đâu có đi được tới giờ.”

Sau này, bà có một người đàn ông thương hoàn cảnh và hai người nương tựa nhau sống dưới gầm cầu Chợ Mới. Nhưng khi ông bị tai biến và được con cái đón về chăm sóc, bà lại trở về cuộc sống một mình.

HƠN 20 NĂM DƯỚI GẦM CẦU

Ở tuổi 65, bà Thủy vẫn sống trong một khoảng trống sát mố cầu.

Một chiếc giường gỗ, vài chiếc nồi, thùng nước, quần áo và những món đồ được người khác cho là gần như toàn bộ tài sản của bà.

Mỗi ngày, nếu chân còn đỡ đau, bà chống chân ra chợ. Người bán hàng quanh khu vực đã quen với cô Ba Thủy. Người cho rau, người cho trái cây, người để lại phần thức ăn.

Có ngày bà xin được vài chục nghìn đồng. Có ngày trời mưa hoặc chân đau, bà chỉ ở lại dưới gầm cầu.

“Có gì ăn đó. Có tương thì ăn tương, có rau thì luộc rau.”

Giờ đây, đôi mắt bà đã mờ đến mức người đứng trước mặt chỉ còn là một bóng hình. Hai chân thường xuyên sưng đau, việc đi lại ngày càng khó khăn.

Thế nhưng bà vẫn cố tự giặt quần áo, nấu ăn và sắp xếp mọi thứ quanh mình.

“HẬN LÀM CHI CON ƠI…”

Hơn 50 năm đã trôi qua, khi được hỏi có còn giận người cậu đã bỏ mình hay không, bà chỉ lắc đầu.

“Hận làm chi con ơi. Cuộc đời mình số phận nó như vậy rồi, hận cũng đâu đổi lại được gì đâu.”

Nếu một ngày gặp lại, bà nói mình cũng không muốn trách móc.

“Gặp thì mừng, rồi bỏ qua hết.”

Ở tuổi 65, bà không mong nhà cao cửa rộng, cũng chẳng mong một cuộc sống sung túc.

Điều bà mong chỉ là mỗi ngày có hai bữa cơm, dành dụm được một ít tiền để khi chân đau còn có tiền mua thuốc.

Và bà đã nghĩ đến ngày cuối đời:

“Chừng nào cô mãn phần, chỉ nhờ bà con chòm xóm ở đây chôn cất giùm, hoặc đem đi thiêu. Cô không dám phiền ai.”

Phía trên đầu, xe cộ vẫn ngày ngày chạy qua cầu.

Còn phía dưới, người ta vẫn thấy một bà cụ 65 tuổi với đôi mắt đã mờ, đôi chân đau nhức, sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của những người xa lạ.

Hơn 50 năm trước, bà là một cô bé 11 tuổi bị bỏ lại bên bắc Mỹ Thuận với một ổ bánh mì.

Hơn nửa thế kỷ sau, thứ giữ bà ở lại với cuộc đời không phải là người thân ruột thịt, mà chính là lòng tốt của những người xa lạ.