Học giả Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975

Phạm Thắng Vũ

Học giả Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975.

Việc đốt sách là một tội ác trước lịch sử. Nó không chỉ xảy ra dưới thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu mà đã xảy ra ngay trên đất nước ta sau 1975. Ngọn lửa phần thư ngày ấy cháy bùng trên các đường phố Sài Gòn.

Từng đoàn thanh niên nam nữ của chính quyền lùng sục vào các tiệm sách, nhà tư nhân thu hết sách đem tiêu hủy.

Học giả Nguyễn Hiến Lê một danh sĩ Miền Nam trong Hồi Ký của mình đã ghi lại hiện tượng đốt sách ngày ấy.

Đoạn văn dưới đây được trích từ chương Văn Hóa của cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê Tập III, từ trang 74 đến trang 80-Văn Nghệ xuất bản gợi cho người đọc bao nỗi khóc cười về một thời kỳ lịch sử.

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt.

Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý…

Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn (1). Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Oservateur (của khối cộng), số đó bị chặn lại.

Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết.

Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”.

Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có prospecties cho biết cách dùng, trị bệnh gì…mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành.

Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất hai tháng, có khi bốn tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến… mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại ba bốn giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi.

Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên.

Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền.

Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được.

Trái lại bộ Lê Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

Nguyễn Hiến Lê

(1) Tôi lầm. Giữa năm 1981 vì ở khắp các thành phố, thị xã, các sách đồi trụy, băng nhạc ngụy, cả phim đồi trụy nữa lại lưu hành, nên có vụ kiểm kê các quán cà phê, sách cũ, nhưng lần này các sách khảo cứu Việt miền Nam và các sách Anh Pháp không bị hốt.

https://m.facebook.com/…/permalink/3353579398121175/

Copy from NET –  PTV 

*****

Nguyễn Hiến Lê Nói Về Việc Đốt Sách Sau 1975


 

CHƯA CHẾT NHƯNG CHƯA SỐNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 “Để làm gì cho hại đất?”.

“Chúng ta chẳng bao giờ sống, nhưng luôn hy vọng sẽ sống!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh: có thể sống qua bao mùa mà vẫn chưa thực sự sống. Cây vả còn đó, nhưng chẳng sinh trái – ‘chưa chết nhưng chưa sống’. Tuy nhiên, còn sống, còn hy vọng!

Nghe kể về những người Galilê bị Philatô sát hại, Chúa Giêsu không chỉ cảnh báo về những cái chết bất ngờ, nhưng về một sự sống đang cạn dần vì kháng cự ân sủng. Càng gần Thiên Chúa, con người càng dồi dào ân sủng; càng xa Ngài, đời càng cằn cỗi. Trước cái chết, câu hỏi không phải tại sao họ ra đi, nhưng tại sao chưa phải là tôi. Người đã chết không tội lỗi hơn người còn sống; nhưng được sống thêm là được gọi để sống khác đi. “Không phải chúng ta có quá ít thời gian để sống, nhưng chúng ta đã phung phí quá nhiều!” – Seneca.

Chúa Giêsu còn đi xa hơn khi kể dụ ngôn cây vả. Ba năm không trái, cây vẫn sống nhờ đất và công chăm sóc. Điều đáng buồn không phải cây đã chết, mà là vẫn sống, vẫn nhận, nhưng chẳng cho gì. Đất không được trao cho cây chỉ để tốt lá; ân sủng cũng không được ban để chúng ta giữ riêng cho mình. Sống thêm một ngày là có thêm một cơ hội để yêu thương, phục vụ, làm cho người khác lớn lên. Có khi điều làm chúng ta xa Chúa không phải một tội lớn, mà là quá hài lòng với đời sống hiện tại, đến mức không thấy cần hoán cải. Không làm điều ác chưa có nghĩa là đã nên hoàn thiện.

Vì thế, Phaolô nhắc: “Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Kitô ban cho”; “kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ” – bài đọc một. Ân sủng không xoá đi những khác biệt, nhưng làm cho chúng ta cần đến nhau. Hội Thánh không phát triển chỉ vì có thêm người, nhưng vì mỗi người góp phần làm cho người khác lớn lên trong đức ái. Điều người này thiếu có thể là điều Chúa đã trao cho người kia. Có người hiểu biết nhiều, nhưng chẳng giúp ai hiểu Chúa hơn; có người đạo đức lâu năm, nhưng chẳng làm ai lại gần Chúa.

“Đời sống của bạn không tuỳ thuộc nhiều vào những gì cuộc đời mang đến, cho bằng thái độ bạn đem vào cuộc sống!” – Kahlil Gibran.

Anh Chị em,

Dù chỉ sống hơn ba mươi năm trên trần thế, Đức Kitô đã làm cho sự sống Ngài thành nguồn ơn cứu độ muôn người. Ngài không đợi con người tốt lành mới yêu thương, nhưng yêu thương từ đầu đến cuối để những cuộc đời cằn cỗi có thể hồi sinh. Trên thập giá, Ngài trao hiến mạng sống, mở ra nguồn sống không bao giờ cạn cho nhân loại. Phục Sinh, Ngài ban Thánh Thần, trao những ân huệ khác nhau để xây dựng Hội Thánh, Thân Thể mầu nhiệm. Cây vả được xin thêm một năm để sinh trái; Đức Kitô trao cả đời mình để đời chúng ta sinh ích. Còn thở mà chưa biết sống cho Chúa và cho nhau, thật ra là ‘chưa chết nhưng chưa sống!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để đời con chỉ tốt lá mà không tốt trái; cho con biết hoán cải khi còn thời gian; dạy con dùng những ân phúc đã nhận để nâng dậy anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/24.html

 Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.         Lc 13,1-9

1 Lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. 2 Đức Giê-su đáp lại rằng : “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác sao ? 3 Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu ; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. 4 Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao ? 5 Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu ; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.”

6 Rồi Đức Giê-su kể dụ ngôn này : “Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, 7 nên bảo người làm vườn : ‘Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất ?’ 8 Nhưng người làm vườn đáp : ‘Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. 9 May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi’.”


 

Cần lắng nghe các gia đình và những người trẻ còn do dự về việc kết hôn VATICAN CITY – 

Cần lắng nghe các gia đình và những người trẻ còn do dự về việc kết hôn VATICAN CITY – 

Kết thúc một cuộc họp tại Vatican nhân dịp kỷ niệm 10 năm văn kiện *Amoris Laetitia* của Đức Giáo hoàng Phanxicô, các giám mục đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thấu hiểu hơn những thách thức mà các gia đình đang đối mặt, hỗ trợ các cặp vợ chồng, đồng thời giải quyết tâm lý ngần ngại kết hôn ở giới trẻ. Sự kiện diễn ra từ ngày 7 đến 14 tháng 10 đã quy tụ 115 chủ tịch các hội đồng giám mục, trong đó có Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, các chuyên gia về mục vụ gia đình, những người đứng đầu các Giáo hội Công giáo Đông phương cùng các giáo dân, nhằm suy tư về phương thế mục vụ của Giáo hội đối với hôn nhân và đời sống gia đình, cũng như các bước cần thực hiện để loan báo Tin Mừng cho các gia đình trong thời đại ngày nay. Phát biểu tại một buổi họp báo ngày 14 tháng 10 – sự kiện khép lại cuộc họp kéo dài một tuần do Giáo hoàng triệu tập nhằm thảo luận về việc triển khai văn kiện “Amoris laetitia” (Niềm vui của tình yêu) năm 2016 của Đức Giáo hoàng Phanxicô tại các giáo hội địa phương – 

Đức Tổng Giám mục Charles Scicluna của Malta cùng những người tham dự khác khẳng định rằng văn kiện này vẫn còn nguyên giá trị như cách đây một thập kỷ, đặt ra thách thức cho Giáo hội: hãy lắng nghe các gia đình trước khi đưa ra phán xét, đồng thời hãy tiếp cận mọi người ngay tại hoàn cảnh thực tế mà họ đang trải qua. “Trong một thế giới ngày càng bị định hình bởi robot, sự ẩn danh và tình trạng cô lập, gia đình đóng một vai trò mang tính tiên tri – không chỉ đối với xã hội mà còn đối với tương lai của nhân loại,” Các nhà tổ chức cuộc họp đã mô tả một thế giới mà ở đó, những thách thức đối với các gia đình đã thay đổi đáng kể trong thập kỷ qua — từ tình trạng bất ổn kinh tế và niềm tin suy giảm vào sự bền vững của hôn nhân, cho đến vấn đề di cư, nghèo đói, sự chia ly và chiến tranh. Thay vì tìm kiếm những giải pháp mang tính phổ quát, “Amoris Laetitia” thúc giục các nhà lãnh đạo Giáo hội và các giáo xứ địa phương hãy thấu hiểu những trải nghiệm sống của các gia đình, từ đó xây dựng các phương thức mục vụ phù hợp với hoàn cảnh riêng biệt của họ. 

Trên hết, các cuộc thảo luận phản ánh mong muốn trung thành với Tin Mừng mà không coi lòng thương xót và chân lý là những nguyên tắc đối lập nhau – linh mục Dòng Tên Giacomo Costa, cố vấn cho Ban Thư ký Tổng quát của Thượng Hội đồng Giám mục, cho biết trong buổi họp báo tại văn phòng báo chí Vatican. Đức Tổng Giám mục Paul S. Coakley của Oklahoma City, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ, cho biết mặc dù văn kiện “Amoris Laetitia” thường gắn liền với những tranh cãi xoay quanh cách diễn giải, nhưng thông điệp bao quát hơn của văn kiện này đã thực sự thay đổi cách người Công giáo thảo luận về hôn nhân và đời sống gia đình. Ngài chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với Catholic News Service (CNS): “Hầu hết những người Công giáo có chút hiểu biết về ‘Amoris Laetitia’ đều biết đến văn kiện này thông qua các chú thích và những tranh cãi xoay quanh nó, nhưng văn kiện này còn chứa đựng nhiều điều hơn thế nữa.” Ngài cho biết, việc chú trọng vào sự lắng nghe và đồng hành đã trở thành một phần trong ngôn ngữ mục vụ thường ngày của Giáo hội. 

Về phần Đức Tổng Giám Giuse Nguyễn Năng, Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam, chia sẻ với Cha Gia An trong buổi phóng vấn trên Vatican Radio: Giáo hội Việt Nam chú trọng đặc biệt tới đời sống gia đình; có các tổ chức chuyên phục vụ hạnh phúc các gia đình, như Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình, Gia Đình Khôi Bình, v.v… Cần cổ võ phát huy cụ thể về ơn gọi hôn nhân gia đình, cách riêng quan tâm giúp các đôi vợ chồng trẻ tại các cộng đoàn giáo xứ địa phương.

 Đức Giám mục Daniel E. Flores thuộc giáo phận Brownsville, bang Texas, đồng thời là phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ, chia sẻ với hãng tin CNS rằng Giáo hội cần đặc biệt lưu tâm đến những lý do khiến người trẻ ngày càng ngần ngại kết hôn — dù là do áp lực kinh tế, sự bất an về tương lai, hay cảm giác chưa sẵn sàng cho một cam kết gắn bó suốt đời. 

Theo Đức Giám mục Flores, thách thức đối với các giáo hội địa phương là khơi dậy niềm tin mới vào khả năng có được một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, thay vì mặc định rằng cùng một phương thức mục vụ sẽ hiệu quả ở mọi nơi trên thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc đồng hành cùng các cặp đôi trong thời gian dài sau ngày cưới, đồng thời lưu ý rằng dù các chương trình chuẩn bị cho hôn nhân có toàn diện đến đâu, chúng cũng không thể giúp các cặp đôi chuẩn bị sẵn sàng cho mọi thử thách mà họ sẽ gặp phải. Các cặp đôi lớn tuổi hơn – bao gồm cả những người từng trải qua khó khăn trong chính cuộc hôn nhân của mình – có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các gia đình trẻ, giúp họ vượt qua những yêu cầu ngày càng thay đổi của đời sống hôn nhân. 

Đức Tổng Giám mục Coakley bày tỏ sự đồng tình với mối quan ngại đó, đồng thời lưu ý rằng các linh mục được kỳ vọng sẽ tiếp tục quá trình đào tạo sau khi thụ phong, trong khi việc chuẩn bị cho hôn nhân thường kết thúc ngay tại thời điểm cử hành hôn lễ. Ngài chia sẻ với CNS: “Thực tế luôn thay đổi, và Giáo hội cần tiếp tục đồng hành với những gia đình trẻ này cũng như các gia đình đã trưởng thành hơn.” Trong suốt cuộc họp kéo dài một tuần, các giám mục cũng xem xét vai trò của các tòa án hôn phối, khả năng tiếp cận các thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu, cùng nhu cầu đào tạo lương tâm cho những người chịu trách nhiệm đồng hành với các gia đình. Cuộc họp cũng nhấn mạnh mối liên hệ giữa văn kiện “Amoris Laetitia” và tinh thần hiệp hành, đặc biệt là nhu cầu để các gia đình tham gia tích cực vào đời sống và các quyết định của Giáo hội, thay vì chỉ là những người thụ hưởng thụ động các định hướng mục vụ. Trong Thánh lễ đánh dấu sự kết thúc của cuộc gặp gỡ, Đức Hồng y Luis Antonio Tagle đã đọc bài giảng do Đức Giáo hoàng Lêô XIV soạn thảo; trong đó, ngài kêu gọi người Công giáo hãy nhìn nhận gia đình là trường học đầu tiên của tình yêu, đồng thời hỗ trợ các cặp vợ chồng và các gia đình trong suốt cuộc đời họ. 

Đức Giáo hoàng khuyến khích các tín hữu xây dựng một Giáo hội như một “gia đình của các gia đình”, nơi các cặp đôi trẻ nhận được sự khích lệ, các bậc cha mẹ tìm thấy sự hỗ trợ, người cao tuổi được trân trọng vì sự khôn ngoan của họ, và những ai đang trải qua khủng hoảng được đón nhận bằng tình yêu thương thay vì sự phán xét. “Theo cách này, tình yêu trong gia đình — với những khoảnh khắc đấu tranh, sai lầm và thất bại, nhưng cũng đầy ắp những điều kỳ diệu từ cuộc sống thường nhật khó đoán trước — trở thành ngôi trường đầu tiên dạy về tình cảm con người, là bước khởi đầu quý giá và không gì thay thế được để học về ‘niềm vui của tình yêu’,” Đức Hồng y Tagle đọc lại bài giảng đã được Đức Giáo hoàng soạn sẵn. “Vì lý do đó, chúng ta cần ghi nhận và ủng hộ nỗ lực của biết bao gia đình đang sống trọn ơn gọi và sứ mệnh của mình mỗi ngày, một cách âm thầm không phô trương, nhưng đôi khi lại thể hiện lòng trung thành đầy anh hùng.”

Tuy nhiên, đối với một số người tham gia, cuộc họp vẫn chưa giải quyết được mọi vấn đề về cách thức Giáo hội nên ứng phó với những thực tế đang thay đổi trong đời sống gia đình. Cha Stanislaus Chu Ilo, đến từ Chicago, cho biết các cuộc thảo luận đã chứng minh rằng Giáo hội có thể thừa nhận những vấn đề chưa được giải quyết, đồng thời vẫn tiếp tục cùng nhau tiến về phía trước. Vị linh mục kiêm nhà thần học người Nigeria phát biểu tại buổi họp báo “Bạn có thể sống trong những sự phức tạp.

Mọi vấn đề luôn có hai mặt.” Ngài cho biết, cuộc gặp gỡ này mang đến niềm hy vọng rằng, bằng cách chú tâm hơn đến sự mong manh của đời sống gia đình, Giáo hội có thể nhận ra rõ hơn sự hiện diện của Thiên Chúa giữa những điều bất định đang định hình tương lai của chính mình. 

Giuse Đặng Văn Kiếm & Theresa Uyên Phương 

From: NguyenNThu


 

NHÀ KHOA HỌC CÓ CHỈ SỐ THÔNG MINH, IQ 276 VÀ CÂU HỎI LỚN NHẤT: THIÊN CHÚA CÓ THẬT HAY KHÔNG?

Bình luận của Phan Sinh Trần cùng với  sự tổng hợp cua AI Gemini và Copilot

Khi một người bình thường nói về Thiên Chúa, đó thường chỉ được xem là quan điểm cá nhân. Nhưng khi người đưa ra nhận định ấy là YoungHoon Kim, nhà khoa học Hàn Quốc được nhiều tổ chức ghi nhận là người có chỉ số IQ cao nhất thế giới hiện nay với IQ 276, câu chuyện lập tức thu hút sự chú ý trên toàn cầu. 

 
“Thiên Chúa có thật 100% và Chúa Giêsu là Thiên Chúa.”    

Kim Hoon Young

Ngoài thành tích đạt điểm tuyệt đối trong nhiều bài kiểm tra trí tuệ, Kim còn giữ nhiều vai trò trong các tổ chức quốc tế về trí nhớ, tư duy và trí tuệ nhân tạo. Ông cũng sở hữu bằng thần học của Yonsei University và từng gọi thần học là “ngành học tối hậu của mọi lĩnh vực nghiên cứu“.

Năm 2025, ông công khai tuyên bố, “God is real 100% and Jesus is God.” Ông còn tiếp tục khẳng định, “Christ is my logic –  Đức Kitô là luận lý của tôi”.

Điều đáng chú ý là Kim không xem đức tin như sự đối lập với khoa học. Trái lại, ông cho rằng chính hành trình tìm kiếm chân lý bằng khoa học đã đưa ông đến những câu hỏi vượt khỏi giới hạn của khoa học hiện tại.

Ý thức con người có kết thúc sau cái chết?

Theo ông, khoa học vẫn chưa giải thích đầy đủ bản chất của ý thức. Chúng ta có thể quan sát hoạt động của não bộ, nhưng vẫn chưa thực sự hiểu tại sao con người lại có trải nghiệm chủ quan, cảm xúc, nhận thức về bản thân và ý niệm về cái tôi.

“Ý thức không chỉ là hoạt động của não bộ mà còn là điều gì đó sâu sắc hơn.

Dựa trên các khái niệm trong vật lý lượng tử và lý thuyết thông tin, Kim nêu giả thuyết rằng nếu thông tin không thực sự biến mất mà chỉ chuyển đổi trạng thái, thì ý thức có thể tiếp tục tồn tại theo một hình thức nào đó sau khi cơ thể vật lý chấm dứt.

“Cái chết không phải là sự hủy diệt mà là một sự chuyển tiếp.” 

DNA, sự sống và câu hỏi về Đấng Thiết Kế

Kim và nhiều người có đức tin không phủ nhận tiến hóa.

Họ chấp nhận rằng, có đột biến gene xảy ra, chọn lọc tự nhiên có thể đang diễn ra và Sinh vật luôn thích nghi với môi trường, sự sống thay đổi qua thời gian.

Đó đều là những quan sát khoa học đã được xác lập. Nhưng họ đặt thêm một câu hỏi khác:

Ai tạo ra hệ thống có khả năng tự vận hành kỳ diệu như vậy?

Nếu DNA là một hệ thống lưu trữ thông tin tinh vi bậc nhất mà con người từng biết đến, thì nguồn gốc của hệ thống đó do đâu?

Artificial Intelligence Catalyzes Gene Activation Research and Uncovers ...

Nếu DNA của mỗi con người là  độc nhất trong số hàng tỷ con người trên hành tinh, bộ óc siêu việt nào đã tạo ra một cơ chế có thể liên tục sáng tạo vô số biến thể khác nhau trong cùng một dạng sự sống?

Vẻ đẹp của vũ trụ có ý nghĩa gì?

Đối với người có đức tin, vẻ đẹp không chỉ là sản phẩm của vật chất mà còn là dấu vết để lại cho đời của một Đấng Sáng Thế vô cùng tài giỏi, một nghệ sĩ tạo tác vô cùng trác tuyệt.

 

 

 

Có người nhìn qua kính hiển vi và thấy phân tử.

Có người nhìn qua kính thiên văn và thấy các thiên hà.

Có người nghiên cứu DNA và thấy các chuỗi gene.

 

YoungHoon Kim, đặt ra vẫn là một câu hỏi sâu sắc nhất của nhân loại:

Nếu vũ trụ là một cỗ máy phi thường, liệu nó chỉ đơn thuần tự xuất hiện, hay đằng sau nó tồn tại một Đấng Sáng Tạo vượt ngoài hiểu biết hiện tại của chúng ta? 

 

 

 

TRỜI KHÔNG QUÊN , NGƯỜI KHÔNG NHỚ – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)  

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 “Dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong!”.

“Thiên Chúa hứa tha thứ cho người biết sám hối, nhưng không hứa cho người cứ trì hoãn!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt ra một nghịch lý: Thiên Chúa không mỏi mệt tha thứ, nhưng con người lại mỏi mệt sám hối. Trời vẫn kiên nhẫn đợi, người cứ hẹn rày hẹn mai – ‘trời không quên – người không nhớ’.

Người đương thời nhìn mây phía tây, biết sẽ mưa; thấy gió nồm, biết trời nóng. Chúa Giêsu không khen họ am hiểu thiên nhiên, nhưng trách họ không nhận ra thời Thiên Chúa viếng thăm. Họ biết tiết trời đổi thay mà không biết lòng mình cần đổi. Mưa đến, họ tìm chỗ trú; Chúa đến, họ xua Ngài khỏi lòng.

Ngay sau đó, Chúa Giêsu nói đến hai người đang trên đường ra toà: còn đi bên nhau là còn cơ hội. Chính quãng đường ấy có thể làm nên sự khác biệt: một lời nói có thể thay đổi kết cục; một bàn tay đưa ra có thể ngăn một cuộc đối đầu. Nhưng không chỉ dạy cách tránh một vụ kiện; Chúa Giêsu còn cảnh tỉnh về cuộc phán xét cuối cùng. Hôm nay, có thể xin tha thứ; ngày mai, biết đâu đã quá muộn. Lòng thương xót không làm cho thời gian nên vô hạn.

“Tại sao không phải hôm nay? Tại sao không phải ngay bây giờ?” – Augustinô.

Thiên Chúa chờ con người; con người lại không kiên nhẫn đợi nhau. Từ trong cảnh tù đày, Phaolô khẩn khoản mời gọi “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau!”

– bài đọc một. Người mất tự do lại lo cho những người tự do đừng mất nhau. Con người nhạy bén trước những biến động của thế giới, lại không nhận ra sự rạn nứt đang lớn dần ngay trong gia đình, cộng đoàn mình. Biết thời đại biến chuyển mà không biết một mối tương quan đang đi đến đổ vỡ, vẫn là chưa đọc đúng thời điểm.

Chúng ta cầu xin Chúa nhẫn nại với mình, nhưng dễ mất kiên nhẫn trước một lỗi lầm của người anh em. Chuyện cũ vẫn còn đó, nhưng chẳng ai mở lời để lời khép lại. Đôi lúc chỉ cần một lời hỏi thăm, một câu chào, mà lòng tự ái cứ đợi người kia đi trước. Điều đáng buồn không phải là không còn đường đi, nhưng cả hai vẫn còn trên đó mà chẳng ai chịu bước về phía nhau. “Tha thứ có nghĩa là hoà giải; tha thứ có nghĩa là xây dựng một mối tương quan mới!” – Martin Luther King Jr..

Anh Chị em,

Đức Kitô là Đấng đã đến mà người đương thời không nhận ra. Ngài đi trước để giao hoà nhân loại với Chúa Cha. Ngài không đợi con người biết nhận lỗi mới yêu thương; chính tình yêu ấy mở đường cho họ trở về. Đấng có quyền xét xử lại chọn chết cho những người đáng phải trả lẽ. Phục Sinh, Ngài trở về với những người từng bỏ Ngài, trao bình an thay vì trách cứ, mở lại cánh cửa họ tưởng đã khoá. Con người có thể quên tình yêu đã nhận; Thiên Chúa không quên con người Ngài đã yêu. Nhưng tình yêu ấy vẫn chờ một lời đáp. Đừng để đến cuối đường mới chợt nhận ra – ‘trời không quên – người không nhớ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa không quên con dù bao lần con quên Chúa; đừng để con vin vào lỗi người khác mà trì hoãn làm hoà; cho con thôi hẹn điều cần làm hôm nay!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/23.html

Cảnh sắc đất trời thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao lại không biết nhận xét ?

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.        Lc 12,54-59

54 Khi ấy, Đức Giê-su nói với đám đông rằng : “Khi các người thấy mây kéo lên ở phía tây, các người nói ngay : ‘Mưa đến nơi rồi’, và xảy ra đúng như vậy. 55 Khi thấy gió nồm thổi, các người nói : ‘Trời sẽ oi bức’, và xảy ra đúng như vậy. 56 Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét ?

57 “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải ? 58 Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục. 59 Tôi bảo cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng.”


 

 

Mừng kính Thánh Gioan Phaolô đệ nhị 22-10 – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 22/10 Giáo Hội mừng kính Thánh Gioan Phaolô đệ nhị, Giáo Hoàng. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. Luôn cầu nguyện cho nhau vả thế giới được bình an nhé. 

Cha Vương

Th5: 22/10/2026           (t6-21)

TÓM TẮT TIỂU SỬ: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tên thật là Karol Józef Wojtyła sinh vào ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan. Là con của một cựu sĩ quan trong quân đội Habsburg. Lúc nhỏ tuổi Ngài có tiếp xúc nhiều lần với nhóm người Do Thái tại Kraków. Trong thời Đức quốc xã chiếm Ba Lan trong Đệ nhị thế chiến, Ngài đã làm việc trong một mỏ đá và một nhà máy hóa học. Khi Ngài còn trẻ Ngài đã là một vận động viên, một diễn viên, một nhà soạn kịch, và một nhà ngôn ngữ học (Ngài biết đến 11 ngôn ngữ). Karol Wojtyła được phong chức linh mục vào ngày 1 tháng 11 năm 1946. Ngài dạy môn luân lý tại Đại học bách khoa Jagiellonian và sau này tại Đại học Công giáo Lublin. Vào năm 1958 Ngài được phong chức làm Giám mục Phụ tá Địa Phận Kraków và bốn năm sau Ngài làm Giám Quản Địa Phận (Vicar Capitular).

– Chịu Phép rửa tội ngày 20/6/1920. Ngài lớn lên với cha mẹ ngài ở Rynek. Sau đó gia đình dọn tới Krak Via Tyniecka.

– Ngài rước lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lãnh phép Thêm Sức lúc 18 tuổi.

– Thụ phong linh mục năm 1946 tại Krakow lúc 26 tuổi.

– Làm Giám mục năm 1958 tại nhà thờ chính tòa Wavel lúc 38 tuổi.

– Làm Tổng Giám mục Krakow năm 1964, lúc 46 tuổi

– Được phong làm Hồng Y do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào năm 1967, lúc 47 tuổi.

– Được bầu làm vị Giáo hoàng thứ 246 ngày 16/10/1978 lúc 5:15 chiều là vị thứ 263 kế vị Thánh Phêrô ở tuổi 58. -Ngài là vị giáo hoàng trị vì lâu thứ ba trong lịch sử Giáo Hội. (26 năm và 4 ngày)

❦ Phương châm Giáo Hoàng là: “Totus Tuus” (tất cả cho Chúa).

❦ “Câu nói bất hủ của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô Đệ Nhị trong lễ đăng quang đã đánh dấu cả triều đại của ngài: “Anh em đừng sợ !”. Câu nói đó đã vượt ra khỏi quảng trường Thánh Phêrô, ra khỏi Vatican để đến tận chân trời góc biển, đặc biệt là đến tận những nước còn bị thống trị bởi chủ nghĩa và các chế độ cộng sản, trong đó có quê hương Balan của ngài.”

❦ “Anh em đừng sợ! Hãy mở tung cánh cửa rộng ra cho Chúa Giêsu Kitô!“

❦ Ngày cuối đời của ngài, ngài nói: “Anh em hãy để tôi đi về nhà Cha.”

Câu nào đánh động bạn nhất?

Xin Thánh Gioan Phaolô đệ nhị cầu bầu cho người dân nước Việt được an cư lạc nghiệp và vui hưởng tự do.

From: Do Dzung

*****

NHẠC THÁNH CA VPV || CON ĐỪNG SỢ

KHI TÔI NHẬN RA MÌNH CŨNG LÀ MỘT PHARISÊU

Gieo Mầm Ơn Gọi

Nội dung do AI tạo

KHI TÔI NHẬN RA MÌNH CŨNG LÀ MỘT PHARISÊU

Có một lúc nào đó trong đời tu, tôi chợt giật mình nhận ra: mình đang sống hai mặt. Một mặt rất “đẹp” trước người khác  luôn tỏ ra đạo đức, luôn nói những lời đúng, làm những điều phải. Nhưng mặt khác, trong sâu thẳm, tôi biết mình chưa thật với Chúa và với chính mình.

Tôi nói về khiêm nhường, nhưng lại sợ bị chê. Tôi khuyên người khác sống khó nghèo, nhưng lại lo giữ cho mình được an toàn, đủ đầy. Tôi mời gọi cộng đoàn sống yêu thương, nhưng lại dễ khép lòng trước những người làm tôi khó chịu. Và rồi, khi soi mình trong Lời Chúa, tôi thấy mình chẳng khác gì những luật sĩ và biệt phái mà Chúa Giêsu từng mắng: “Họ nói mà không làm.”

Nói thật, điều đó làm tôi đau. Vì tôi nhận ra trong chính đời tu của mình có một phần giả tạo, một phần luôn muốn “giữ hình ảnh”, muốn người khác nghĩ rằng tôi đạo đức, rằng tôi gương mẫu. Có lúc, tôi cố sống cho vừa lòng người khác, mà quên mất điều quan trọng nhất: sống thật với Chúa.

Chúa Giêsu đâu cần tôi hoàn hảo. Ngài chỉ cần tôi trung thực. Nhưng điều đó lại khó biết bao! Bởi đôi khi, tôi thấy dễ khoác lên mình chiếc áo “người tu tốt lành” hơn là dám phơi bày sự yếu đuối thật của bản thân.

Trong những giây phút tĩnh lặng này, tôi xin Chúa cho tôi can đảm nhận ra con người thật của mình, với cả ánh sáng lẫn bóng tối. Xin cho tôi thôi sợ hãi khi nhìn thấy sự giả hình trong lòng, nhưng dám đem nó ra trước mặt Chúa, để Ngài chữa lành.

Tôi không muốn đời tu của mình chỉ là một “vai diễn” đẹp, mà là một hành trình thật, nơi tôi tập sống điều mình nói, và nói điều mình sống. Tôi biết mình yếu đuối, nhưng tôi tin: Chúa vẫn có thể làm điều đẹp ngay trong sự yếu đuối đó, nếu tôi sống thật với Ngài.

Lạy Chúa, xin dạy con biết thành thật trong từng điều nhỏ bé. Xin giúp con dẹp bỏ thói quen khoe khoang, phán xét hay giả vờ đạo đức. Xin cho con yêu Chúa không bằng lời nói, mà bằng một đời sống chân thành.Vì chỉ khi sống thật, con mới thật sự thuộc về Ngài. Amen.

Sr Mây Trắng, SPP


 

Nikko, mùa Thu đỏ thẫm lá phong Nhật Bản

 Gia tài ta để lại

Hoa mùa Xuân

Sen mùa Hạ

Và rừng cây đỏ thẫm của mùa Thu

Hồ Trung Thiền Tự (Chuzenji-ko) (Hình ATNT Tours & Travel)

Ryokan, một thiền sư Nhật Bản đã để lại một gia tài như thế cho con cháu Thái Dương Thần Nữ vào thế kỷ 19. Không biết ông đã du hành những nơi chốn nào trong xứ Phù Tang để mà ông tích lũy lại gia sản đó lại cho người dân Nhật. Nhưng tôi chắc hẳn ít nhất ông cũng đã phải đến ngôi làng Nikko, nơi an nghỉ của tướng quân Đức Xuyên Gia Khang (Shogun Tokugawa Ieyasu), để góp nhặt không gian “rừng cây đỏ thẫm mùa Thu” đó vào gia tài nước Nhật của ông lưu lại cho hậu thế.

Nikko ngày nay không còn là một ngôi làng nhỏ như vào thời thiền sư Ryokan nữa. Bây giờ Nikko là một địa danh thắng cảnh mùa Thu nổi tiếng của nước Nhật nằm về hướng Bắc Đông Kinh. Từ giữa Tháng Mười trở đi, khi tiết trời bắt đầu trở lạnh, đây cũng là lúc không gian Nikko bước dần vào mùa Thu.

Ngày xưa, theo các nhà phong thủy Nhật Bản, Nikko là địa danh có một vị trí hết sức tốt đẹp linh thiêng, có thể bền vững cho các triều đại Shogun. Nhờ thế, Nikko được chọn là nơi an nghỉ của vị tướng quân tài ba Tokugawa Ieyasu, người đã lập ra triều đại shogun Tokugawa vào thế kỷ 17 (triều đại này kéo dài 265 năm trong lịch sử Nhật Bản). Lăng mộ của ông được xem là uy nghiêm và đẹp nhất nước Nhật.

Đông Chiêu Cung (Toshogu Shrine) là tên gọi của đền thờ tướng quân Đức Xuyên Gia khang (Tokugawa Ieyasu). Ông mất năm 1616, và con trai ông đã chọn Nikko làm nơi xây dựng lăng mộ và đền thờ ông. Thông thường ở Nhật Bản, các lăng mộ đền thờ của các thiên hoàng và tướng quân đều được xây dựng thiết kế một cách đơn giản nhưng lại tạo ra được một không gian rất trang nghiêm. Nhưng riêng đền thờ Toshogu thì không như thế! Các cổng vào đền, dù là cổng vào chính hay cổng bên cạnh đền đều có lối kiến trúc riêng biệt khác hẳn nhau. Lối vào cổng chính rộng rãi, đường trải đá nhỏ màu xám làm tăng thêm nét thiết kế đơn sơ. Thêm vào đó, hai bên đường các hàng cây cao vút tạo ra một không gian vừa trang nghiêm vừa uy nghiêm, nhưng lại cho người ta cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng khi bước vào đây. Ngược lại, cổng bên cạnh dọc theo đền với những hàng cây đèn đá cổ kính rong rêu tạo cho du khách một cảm giác không gian cổ kính, khác hẳn với lối vào cổng chính. Đây cũng là con đường nối liền Toshogu với một ngôi đền Thần Đạo địa phương Futaarasan cũng rất nổi tiếng tại Nikko.

Kegon Falls (Thác Hoa Nghiêm), Nikko. (Hình ATNT Tours & Travel)

Ngoài ra các kiến trúc điện thờ được thiết kế vô cùng sắc sảo và tốn kém rất nhiều. Người ta ước lượng rằng để hoàn tất kiến trúc đền thờ Toshogu thì ngân khoản tốn kém khoảng 40 tỷ yen tính vào thời điểm ngày nay.

Những nghệ thuật về kiến trúc, hội họa, điêu khắc hết sức quí giá của Nhật Bản dường như được tích tụ về đây. Vì thế, đền thờ Toshogu đã để lại cho các thế hệ sau cả một kho tàng về triết lý nhân sinh. Thí dụ như hình ảnh Khỉ đã được nhân cách hóa để miêu tả về đời sống con người. Du khách có dịp thưởng ngoạn tám bức tranh điêu khắc bằng gỗ, được trang trí trên đà ngang của chuồng Ngựa Thần, miêu tả về kiếp nhân sinh của con người.

Người nghệ nhân đã dùng hình ảnh ba chú khỉ “che tai-bụm miệng-bịt mắt” để nói lên một triết lý sống thực tế trong đời sống hàng ngày. Khỉ mẹ đã dạy dỗ cho các chú khỉ con che tai lại để không nghe những điều xấu xa – bụm miệng lại để không được nói ra những điều xấu xa chói tai – và bịt mắt lại để không nhìn những điều xấu xa tàn ác xảy ra hàng ngày.

Triết lý “không nghe-không nói-không nhìn những điều xấu xa” của khỉ mẹ hy vọng giúp cho các chú khỉ con để tránh những điều xấu xa, không tốt cho chúng khi khôn lớn Những điều dạy dỗ này của khỉ mẹ, hầu như con người ai cũng biết đến cả, nhưng có lẽ con người không thích áp dụng vào đời sống thực tế. Người ta hay thích làm ngược lại nhiều hơn, ai cũng chỉ thích nghe-thích nói-thích nhìn đến chuyện xấu của thiên-hạ. Sau đó tạo ra nhiều “thiên hạ sự” hơn là các chuyện tốt cho cuộc đời. Có lẽ người nghệ nhân cho rằng “không nghe-không nói-không nhìn những điều xấu xa” là con người đã góp phần giảm bớt đi phần nào những phiền não đời sống, bớt đi những cao ngạo háo thắng mà hệ quả là sự thất bại ê chề trong kiếp sống.

Dĩ nhiên đền Toshogu còn có nhiều điều để người ta có thể chiêm nghiệm, học hỏi và thưởng ngoạn cái không gian tĩnh lặng với những rặng thông cao vút trên đường dốc đi đến nơi an nghỉ của tướng quân Tokugawa Ieyasu.

Khỉ với triết lý “Không nghe điều xấu-Không nói điều xấu-Không nhìn điều xấu”. (Hình ATNT Tours & Travel)

Ngoài ra, các vị thần vùng Nikko còn ban cho nơi đây các thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp như ngọn núi Nam Thể (Nantai), hồ Trung Thiền Tự (Lake Chuzenji-ko), các ngọn thác như Hoa Nghiêm (Kegon Falls) và thác Long Đầu. Hãy nói sơ qua về ngọn núi Nam Thể. Đây là ngọn núi lửa đang ngủ yên, cao trên 2,400m thuộc vùng cao nguyên Nikko. Núi có dáng hao hao như ngọn Phú Sĩ Sơn nhưng được thu nhỏ lại. Dưới chân núi là hồ Trung Thiền Tự hiền hòa phẳng lặng vào mùa Thu. Nước hồ tuôn chảy xuống vùng thung lũng tạo thành ngọn thác Hoa Nghiêm (Kegon Falls) từ cao 100m chảy đổ xuống hẻm sông. Tên của hồ cứ tưởng như là tên một bộ kinh nổi tiếng của Phật Giáo hay tên của một ngôi chùa nào thuộc tông phái Hoa Nghiêm. Tôi cũng không tò mò tìm hiểu tại sao người ta lại đặt tên các nơi đây như vậy. Nhưng tìm hiểu để làm gì khi tôi vẫn chưa có đủ thì giờ để thưởng thức hết được cái đẹp “rừng thu đỏ thẫm” nơi đây.

Các thắng cảnh thiên nhiên kể trên được quây tụ lại trong công viên quốc gia Nikko. Ở đây, không gian mùa Thu Nikko nổi bật đẹp và rực rỡ nhất trong mùa Thu Nhật Bản.

Thời tiết lạnh đã chuyển đổi dần các màu lá từ xanh lục chuyển dần sang vàng rồi thì đỏ tươi đỏ thẫm. Màu sắc của các lá phong Nhật Bản làm du khách ngây ngất về cái rực rỡ của lá. Tôi chợt nhớ đến ít câu thơ của Tế Hanh diễn tả về lá mùa Thu “lá phong đỏ như mối tình rực lửa. Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa.”

Có đứng ở Nikko ngắm lá phong mới thấm được cái “rực lửa” của lá thu phong Nhật Bản. Nhà thơ Tế Hanh có dịp viết về lá phong đỏ ở Hàng Châu, không biết ông có dịp nhìn thấy lá phong đỏ Nikko Nhật Bản chưa? Nhưng với tôi, lá phong đỏ ở Hàng Châu không thể so với được không gian lá phong đỏ Nikko. (Chắc tôi có chút thiên vị về không gian Nikko!)

Cổng chính Dương Minh Môn của đền Toshogu, nơi an nghỉ của Shogun Tokugawa Ieyasu. (Hình ATNT Tours & Travel)

Xe chạy dọc theo con đường quanh hồ Trung Thiền Tự, lúc này du khách mới cảm nhận được mình đã không có đủ thì giờ để thưởng thức hết cái nét đẹp không gian của mây-núi-hồ-rừng cây xanh vàng đỏ rực ở đây. Ở đây, người ta cũng khó tìm thấy được âm thanh xào xạc lá mùa Thu hay hình ảnh con nai vàng ngơ ngác như nhà thơ Lưu Trọng Lư diễn đạt. Người ta chỉ cảm nhận được một tiết trời lành lạnh của vùng cao nguyên với một không gian “xanh vàng đỏ thẫm lá mùa thu,” điều đã làm rung động tâm hồn các thi sĩ vô tình lạc lối đến đây.

Mùa Thu không chỉ trải dài ở quanh hồ. Nếu bạn vượt cao lên trên triền núi một chút, tiết trời lạnh thêm đủ để biến những hạt mưa nhẹ thành những hạt tuyết rơi. Hình ảnh đó đẹp đến nỗi (tôi cho rằng) người ta không thể thâu lại bằng camera, video camera hoặc là có thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Chỉ có cặp mắt và tâm hồn của chính bạn mới diễn tả được hết cái đẹp đó cho tâm tư bạn “thưởng ngoạn” mà thôi.

Nikko không phải chỉ có thưởng ngoạn thắng cảnh thiên nhiên mà còn có cả suối nước nóng (ôn tuyền) để giúp du khách quên đi mệt nhọc và lạnh về đêm ở đây. Bạn nên chọn một khách sạn kiểu Nhật, gọi là Ryokan, lưu lại ít nhất một đêm để thưởng thức những phong tục của Nhật như mặc áo yugata để ngủ, ăn tối theo truyền thống và khẩu vị Nhật, và tắm onsen (ôn tuyền). Nếu bạn là người say mê món cá sống sashimi thì bạn sẽ thích thú vô cùng. Tắm suối ôn tuyền và ngâm người dưới làn nước nóng ngoài trời cũng là một điểm thích thú khác cho chuyến du ngoạn Nikko.

Đầu Tháng Mười Một là những ngày tháng đẹp nhất của Nikko. Tùy theo cái duyên của du khách mà người ta bắt gặp nét đẹp mùa Thu Nikko khác nhau. Riêng tôi, tôi chưa thưởng thức hết được màu sắc rực rỡ của từng vùng cây, chưa kịp bình yên để nhìn sự tĩnh lặng của mặt nước hồ, chưa kịp nhìn rõ những hạt tuyết rơi trên lá phong đỏ thẫm thì tôi đã phải chia tay với thành phố thu vàng rực rỡ nhất của xứ Phù Tang

From: NguyenNThu


 

Chi tiết phép lạ của ĐHY Nguyễn Văn Thuận tại Denver – Trần Mạnh Trác 

Tổng hội Mân Côi CN Việt Nam – Tổng Đoàn Hiệp Sĩ Mân Côi

Chi tiết phép lạ của ĐHY Nguyễn Văn Thuận tại Denver

VietCatholic News

Ngày 12 tháng 11 năm 2010, đài EWTN và báo điện tử Công Giáo CNA đã đăng chi tiết về phép lạ của ĐHY Nguyễn Văn Thuận tại Denver, Colorado như sau:

Các bác sĩ đã tuyên bố anh Joseph Nguyễn đã chết sau khi tim của anh ngừng đập và chấn đồ não hòan tòan ngưng chạy. Nhưng trong khi họ đang viết giấy chứng tử thì gia đình của anh đã cất lời kinh kêu cầu lên ĐHY Nguyễn Văn Thuận. Được biết cố ĐHY Nguyễn Văn Thuận là một tôi tớ Chúa đang được cứu xét trong lịch trình phong thánh tại Roma.

Ngày hôm nay thì anh Joseph Nguyễn đã trở lại chủng viện để tiếp tục chương trình học làm linh mục. Khi nhìn tờ giấy chứng tử của chính mình bây giờ đã đóng dấu “VOID” (Vô Hiệu), sau 32 ngày hôn mê, anh chỉ có thể kể lại hai biến cố trong khỏang thời gian dài mà anh mô tả như là một “Giấc ngủ tuyệt vời.”

Thoi thóp trên giừơng bệnh giữa cái sống và cái chết kéo dài nhiều tuần lễ trong năm 2009, anh Joseph chỉ nhớ lại đã được gặp Đức Hồng Y François Xavier Nguyễn Văn Thuận hai lần.

Vị Hồng Y đáng tôn kính người Việt Nam này đã qua đời năm 2002. Năm 2007 Ngài được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI nhắc nhở tới trong thông điệp “Spe Salvi” (Niềm Hy Vọng Cứu Rỗi), trong đó gương chứng nhân của 13 năm tù đày của ngài đã được đề cao. Tháng 10 vừa qua, Vatican đã bắt đầu thủ tục điều tra phong Thánh cho Ngài.

Mặc dù anh Joseph Nguyễn chưa bao giờ gặp mặt ĐHY, nhưng gia đình anh đã biết ngài từ khi ngài còn là một linh mục thuờng. Cha của anh là người khá thân thiết với ĐHY, coi ngài như là một ‘người nhà’.

Khi ĐHY trở thành Tổng Giám Mục Saigon thì mối liên hệ với gia đình anh càng trở nên thắm thiết hơn và sau khi ngài trở thành một tù nhân của chế độ Cộng Sản thì ông nội của anh cũng đã từng bị giam chung với đức Tổng một thời gian.

Năm 1975, gia đình anh Joseph Nguyễn di cư tới Hoa Kỳ, và anh Joseph đã được sinh ra ở đây.

Anh Joseph được kể nhiều về cuộc sống anh hùng của cố ĐHY Nguyễn Văn Thuận và trân quí thông điệp hòa bình và hy vọng của Ngài. Nhưng anh không bao giờ tưởng tượng là anh sẽ phải mô tả chi tiết về cuộc sống riêng của mình, và cái kinh nghiệm của sự chết gần kề, cho các nhà điều tra của ủy ban phong thánh.

Sự thể khởi đầu vào tháng Tám năm 2009, lúc đó Joseph đang học năm thứ 3 tại chủng viện. Anh được giao việc thăm viếng và đưa Mình Thánh cho các bệnh nhân tại các bệnh viện. Vào đầu mùa Thu thì anh bắt đầu có vài triệu chứng bị cúm. Nhưng cơn bệnh trở nên trầm trọng,và anh xin nghỉ để về nhà dưỡng bệnh.

Trong cuộc phỏng vấn với CNA, anh kể lại: “Tôi nhớ đó là ngày 01 tháng mười, tôi không hiễu tại sao mà mình không thở được.” Cha anh chở anh đến bệnh viện, anh còn tỉnh táo để làm thủ tục nhập viện, nhưng sau đó thì không còn nhớ gì nữa.

Anh chỉ được nghe kể lại về những gì đã xảy ra trong ngày anh chết, biết rằng cha mẹ của anh vẫn không mất hy vọng và cầu nguyện nhiệt thành với ĐHY Nguyễn Văn Thuận. Anh cũng nghe kể rằng trong ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi, trong lúc hôn mê, anh bắt đầu dứt bỏ các ống truyền nước khỏi mình một cách hung bạo cho tới khi cha của anh đặt một chuổi mân Côi vào tay thì anh mới nguôi.

Một lần thứ hai cơ thể của anh cũng đã ngừng sống, nhưng lần này thì người ta đợi chứ không tuyên bố khai tử anh. Tuy nhiên mọi người cũng nghĩ rằng cơ hội phục hồi thì dường như là vô vọng.

Khi Joseph tỉnh lại 32 ngày sau, anh không còn nhớ chi tiết gì về những cơn đau đớn cả. Một bác sĩ giải thích là anh đã bị ‘cúm heo’ H1N1 kèm với bệnh viêm phổi nặng.

Khi bắt đầu nói chuyện được, Joseph cho biết anh đã gặp ĐHY Thuận 2 lần.

“Trong thời gian hôn mê của tôi, tôi chỉ nhớ có hai điều, ” anh nói.”Hai điều duy nhất tôi nhớ là hai lần thấy Đức Hồng Y Thuận hiện ra… ĐHY đã hiện ra với tôi hai lần.”

Joseph nói rằng anh không chỉ nhìn thấy Ngài mà thôi, nhưng với những tình tiết sống động mà anh mô tả về “lúc linh hồn rời khỏi xác”, anh đã thực sự gặp gỡ và nói chuyện với Đức Hồng Y. Mặc dù anh không thể tiết lộ chi tiết của câu chuyện, anh nghĩ hai lần ấy đã xảy ra trong lúc mà các bác sĩ quan sát thấy các hoạt động của não và cơ thể của anh ngưng họat động.

“Sau lần gặp gỡ thứ hai với ĐHY”, anh nói, “Thì tôi tỉnh dậy.” Anh hòan tòan “không có ý tưởng về những gì đã xảy ra,” hay tại sao anh đã “có những ống dây cuốn chằng chịt khắp người”, đặc biệt là các ống ở cổ làm anh không nói được.

Các bác sĩ đã nghĩ rằng anh cần phải mất nhiều tháng hoặc có thể là nhiều năm trước khi anh có thể nói, đi, hoặc học lại. Nhưng chỉ trong vài ngày là anh đã nói chuyện và thở bình thường, và các y tá phải lo đi tìm anh khắp nơi quanh cơ sở phục hồi.

Anh cũng bất ngờ được người em gái của ĐHY Nguyễn Văn Thuận đang sống ở bên Canada gọi điện thoại sang, bà đã gửi tặng cho anh ta một chuỗi tràng hạt của ĐHY.

Joseph đã trở lại chủng viện vào đầu học kỳ sau đó, một sự kiện khác xa với việc các bác sĩ chuẩn đóan là anh phải mất hai năm để phục hồi sức khỏe.

Sau đó thì tiếng đồn về phép lạ lan truyền ra, anh Joseph đã cung cấp thông tin cho các nhân viên làm việc cho vụ án phong chân phước của ĐHY tại Roma. Nhưng ngòai việc đóng góp đó, anh chủng sinh trẻ tuổi này bây giời chỉ nhắm vào một mục tiêu duy nhất trước mặt là chức linh mục. Khi anh trở lại chủng viện, Joseph một lần nữa đã được giao nhiệm vụ phục vụ tại bệnh viện.

Trong khi anh giữ kín đáo về khía cạnh phép lạ của mình, Joseph đã rất nhiệt tình nói chuyện về các công việc hiện tại trong bệnh viện. Anh cho biết tình trạng hôn mê và kinh nghiệm phục hồi của anh đã giúp anh đem hy vọng và niềm an ủi đến cho bệnh nhân.

Những bệnh nhân này dù không biết về cuộc hội ngộ bí ẩn của anh với một vị thánh, hoặc biết về cuộc sống lại ngoạn mục từ cõi chết của anh. Nhưng điều quan trọng hơn là khi họ nhìn thấy vết sẹo trên cổ họng của anh, họ biết rằng anh hiểu được họ. “Thực là một cảm giác tọai nguyện khi có thể bước vào một căn phòng và nói… Quí ông bà không phải chịu đựng những đau khổ như thế này một mình đâu, bởi vì chính tôi cũng đã trải qua đó… nằm ngay tại giường bệnh như thế này”

Joseph coi những kinh nghiệm của anh đã đem đến một “đức hy vọng” trong lòng của anh và cung cấp cho anh một thông điệp mà anh hy vọng sẽ có thể chia sẻ với những người trong hoàn cảnh tuyệt vọng. “Đó là có một ĐHY Thuận trong cuộc sống”.

Trần Mạnh Trác 

 


 

HIỆP NHẤT ĐỂ LOAN BÁO TIN MỪNG – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Hằng năm cứ vào Chúa Nhật áp chót của tháng 10, nhằm khơi dậy tinh thần truyền giáo, cầu nguyện và nâng đỡ các hoạt động loan báo Tin Mừng trên toàn thế giới, Giáo hội đã cử hành ngày Ngày Thế giới Truyền giáo.

 Khởi đi từ ngày 14 tháng 4 năm 1926, Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI chính thức phê chuẩn việc thiết lập ngày này theo đề nghị của Hội Truyền bá Đức tin, đến nay năm 2026 tròn 100 năm.

 Hướng lòng về sứ mạng cao cả mà Đức Ki-tô Phục Sinh đã trao phó: “

Anh em hãy đi khắp thế gian, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo

” (Mc 16,15).  Đây không chỉ là lời sai đi dành riêng cho các Tông đồ, nhưng là lệnh truyền dành cho toàn thể Dân Chúa.  Vì, Hội Thánh hiện hữu để truyền giáo, mỗi Ki-tô hữu đều được mời gọi trở thành chứng nhân của Đức Ki-tô giữa lòng thế giới.

 Trong sứ điệp dành cho dịp này, Đức Thánh Cha Lê-ô XIV chọn chủ đề: “

Nên một trong Đức Ki-tô, hiệp nhất trong sứ vụ.

”  Tiếp nối hành trình Năm Thánh, ngài mời gọi toàn thể Giáo hội bước vào “

một kỷ nguyên truyền giáo mới,

” với những con tim hiệp nhất trong Đức Ki-tô, những cộng đoàn hòa hợp và những con người biết quảng đại cộng tác với nhau trong sứ vụ loan báo Tin Mừng.

 Ánh sáng muôn dân

 Được ánh sáng Đức Ki-tô chiếu soi, chúng ta trở thành ánh sáng cho muôn dân.  Ngôn sứ I-sai-a cất lên lời mời gọi đầy hy vọng: “

Đứng lên, bừng sáng lên!  Vì ánh sáng của ngươi đến rồi

” (Is 60,1).  Giê-ru-sa-lem được phục hồi không phải nhờ sức mạnh riêng mình, nhưng nhờ vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa.  Khi ánh sáng ấy xuất hiện, muôn dân sẽ tìm đến (x.Is 60,2-3).

 Lời tiên tri này đạt đến sự viên mãn nơi Đức Giê-su Ki-tô, Đấng là “

Ánh Sáng thế gia

n” (Ga 8,12).  Hội Thánh chỉ thực sự chiếu sáng khi đón nhận ánh sáng từ Người.  Thánh Au-gút-ti-nô thường dùng hình ảnh mặt trăng phản chiếu ánh sáng mặt trời để diễn tả Hội Thánh: Hội Thánh không phải nguồn sáng tự thân, nhưng phản chiếu ánh sáng của Đức Ki-tô cho nhân loại.  Công đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Lumen gentium, số 1, khẳng định, Hội Thánh là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.  Nên mỗi người đều có thể thắp lên ánh sáng Tin Mừng bằng chính đời sống hiệp nhất của mình và trở thành những ngọn đèn nhỏ dẫn người khác đến với Chúa.

 Loan báo vinh quang và tình yêu cứu độ của Chúa

 Thánh vịnh hôm nay công bố: “

Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm

” (Tv 19,2).  Công trình sáng tạo âm thầm làm chứng cho Đấng Tạo Hóa; ngày nối ngày, đêm tiếp đêm, tiếng ca tụng ấy vang đến tận cùng trái đất (Tv 19,3-5).

 Theo thánh Tô-ma A-qui-nô thì các thụ tạo có thể hướng trí khôn con người đến việc nhận biết Thiên Chúa là nguồn mạch mọi hiện hữu.  Tuy nhiên, để nhận biết trọn vẹn tình yêu cứu độ, con người cần được dẫn đến Đức Giê-su Ki-tô, Đấng mặc khải Chúa Cha (Hiến chế Dei Verbum, số 3).

 Nếu thiên nhiên có thể làm chứng cho vinh quang Thiên Chúa mà không cần lời nói, thì người Ki-tô hữu càng phải làm chứng bằng một đời sống phản chiếu Tin Mừng.  Như thế, vũ trụ loan báo vinh quang Thiên Chúa, người Ki-tô hữu loan báo tình yêu cứu độ. 

Hiệp nhất để truyền giáo

 Trong Tin Mừng, Đức Giê-su Phục Sinh trao cho các môn đệ sứ mạng: “

Anh em hãy đi khắp thế gian, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo

” (Mc 16,15).  Sau khi Chúa lên trời, các môn đệ ra đi rao giảng khắp nơi, “

có Chúa cùng hoạt động ” với họ (Mc 16,20).

 Đây là niềm hy vọng lớn lao của người truyền giáo: chúng ta không làm việc một mình.  Đức Ki-tô Phục Sinh vẫn hiện diện, đồng hành và hoạt động trong Hội Thánh.  Những dấu lạ được nhắc đến trong Tin Mừng biểu lộ quyền năng Thiên Chúa chiến thắng sự dữ và chữa lành con người; nhưng dấu chỉ thiết thực của sứ mạng hôm nay còn là những cộng đoàn biết sống hiệp nhất yêu thương.

 Đức Thánh Cha Lê-ô XIV mời gọi toàn thể Hội Thánh canh tân nhiệt huyết truyền giáo, bắt nguồn từ sự hiệp thông với Đức Ki-tô.  “Nên một trong Đức Ki-tô, hiệp nhất trong sứ vụ.”  Hiệp nhất với Đức Ki-tô là nguồn mạch truyền giáo.  Dựa trên lời cầu nguyện của Chúa Giê-su: “Xin cho tất cả nên một” (Ga 17,21), Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng, đời sống Ki-tô hữu không chỉ là thực hành nghi thức hay tuân giữ luật lệ, nhưng trước hết là sống kết hợp với Chúa.

 Khi Đức Ki-tô thực sự ở trung tâm đời sống, người tín hữu mới có thể sinh hoa trái truyền giáo.  Chia rẽ, đố kỵ và thiếu tha thứ trong cộng đoàn sẽ làm suy yếu chứng tá Tin Mừng.  Hiệp nhất không phải để khép kín trong cộng đoàn, nhưng để thế giới nhận biết Đức Ki-tô (x. Ga 17,21).

 Truyền giáo chính là sống và trao ban tình yêu.  Tin Mừng không phải một lý thuyết trừu tượng, nhưng là tình yêu trung tín của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Giê-su.  Vì thế, người tín hữu phải loan báo Chúa bằng đời sống yêu thương, phục vụ, cầu nguyện và quảng đại chia sẻ vật chất, đặc biệt với người nghèo và những người đau khổ.

 Ước mong sao mỗi Ki-tô hữu hãy bắt đầu truyền giáo từ gia đình, giáo xứ và nơi làm việc; xây dựng hiệp nhất, chủ động hòa giải, sống bác ái và nâng đỡ các nhà truyền giáo bằng lời cầu nguyện cùng sự đóng góp thiết thực.  Càng hiệp nhất trong Đức Ki-tô, chúng ta càng có khả năng cùng nhau loan báo Tin Mừng.  Truyền giáo không chỉ là công việc của một số người, nhưng là sứ mạng của mọi tín hữu, được thực hiện bằng tình yêu và sự hiệp thông.

 Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 From: Langthangchieutim


 

MỖI NĂM MỘT LẦN, CON VOI RỜI ĐÀN ĐI GẦN 160 CÂY SỐ ĐỂ ĐẶT MỘT BÓ HOA XUỐNG CÙNG MỘT CHỖ

Chuyện tuổi Xế Chiều – Công Tú Nguyễn 

MỖI NĂM MỘT LẦN, CON VOI RỜI ĐÀN ĐI GẦN 160 CÂY SỐ ĐỂ ĐẶT MỘT BÓ HOA XUỐNG CÙNG MỘT CHỖ

Ở châu Phi, một người đàn ông đi ngang một nghĩa trang nhỏ thì thấy một con voi đang lững thững bước vào, vòi cuốn theo một bó hoa.

Anh đứng lại nhìn. Con voi đi thẳng tới một tấm bia, dừng lại, rồi nhẹ nhàng đặt bó hoa xuống.

Anh chụp một tấm ảnh rồi hỏi người dân quanh đó xem chuyện gì đang diễn ra. Câu trả lời anh nhận được nằm ngoài mọi dự đoán.

“Đó là Alice.”

Nhiều năm trước, Alice được cứu về và chữa trị tại một khu bảo tồn. Người chăm sóc nó đã dành hàng tháng trời để giúp nó lấy lại sức. Anh cho nó ăn, ở bên nó, kiên nhẫn chờ cho tới ngày nó đủ khoẻ để trở về rừng.

Alice được thả. Nhưng nó vẫn nhớ.

Khi người chăm sóc ấy ra đi, dân trong vùng kể rằng con voi đã quay lại nghĩa trang, mang theo hoa. Năm sau nó lại tới. Rồi năm sau nữa.

Giờ thì mỗi năm một lần, Alice rời đàn và đi gần 160 cây số để tới đúng chỗ ấy.

Anh đã giúp nó tìm đường về rừng. Còn nó, năm nào cũng tự tìm đường về với anh. 


 

YÊU ĐẾN CHIA LÌA – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”.

“Lửa phán xét của Thiên Chúa không đối nghịch với tình yêu Ngài; đúng hơn, đó là hình dạng tình yêu Thiên Chúa khi gặp một thế giới sa ngã!” – Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy tình yêu của Thiên Chúa có dáng dấp một ngọn lửa. Tình yêu Ngài có thể làm những người cật ruột nhất xa nhau – ‘yêu đến chia lìa’.

Chúa Giêsu không ném lửa xuống đất để người ta ngồi quanh cho ấm; lửa Ngài làm xáo trộn, soi rõ những điều người ta muốn giấu. Người quen bóng tối khó chịu trước ánh sáng; người quen làm sai bất an trước sự thật. Vì thế, Ngài nói đến chia rẽ ngay giữa những người chung một mái nhà. Thiên Chúa không muốn chia lìa ai, nhưng trước tình yêu Ngài, mỗi người phải chọn cho mình một lối sống. Người chọn, kẻ không! Có những gia đình, cộng đoàn vẫn êm ấm chỉ vì chưa ai dám nói thật.

“Nhưng nếu vì sợ hãi, bạn chỉ tìm nơi tình yêu sự bình yên và niềm vui, thì tốt hơn bạn nên rời khỏi sân đập lúa của tình yêu!” – Kahlil Gibran.

Giữa thói quanh co, người ngay thẳng đôi khi thành kẻ gây rối. Chẳng phải họ hết thương người khác, nhưng có những điều sai trái vẫn được dung túng vì người ta cùng làm ngơ. Chúa Giêsu không cho phép chúng ta làm ngơ trước điều sai, nhưng cũng không dạy tìm sự chống đối, càng không khuyến khích lấy đức tin làm cớ gây bất hoà; nhưng Ngài cũng không muốn chúng ta mua lấy sự bình an bằng cách phớt lờ lương tâm. Có khi cái giá của việc sống thật là mất đi sự đồng tình của chính những người mình thương yêu nhất.

Vì thế, Phaolô cầu xin cho mỗi người được bén rễ sâu trong đức ái, hiểu tình thương Đức Kitô rộng dài cao sâu đến mức nào, “để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng” – bài đọc một. “Tình thương Chúa chan hoà mặt đất!” – Thánh Vịnh đáp ca. Tình thương ấy đủ lớn để đón nhận mọi người, nhưng không vì thế mà gọi điều sai là đúng. Được Chúa yêu không có nghĩa là được Ngài miễn cho việc thanh luyện.

Có khi chúng ta biết một người thân đang sai đường, nhưng ngại lên tiếng vì sợ mất lòng. Hoặc chính chúng ta cần được nhắc nhở, lại trách người góp ý là thiếu yêu thương. Một cộng đoàn có thể bất hoà vì những lời nói thật thiếu bác ái; nhưng cũng có thể mục ruỗng vì những điều sai chẳng ai dám nói. Khó nhất vẫn là nói thật mà không hết thương nhau.

“Sự thật tách khỏi đức ái không phải là Thiên Chúa!” – Blaise Pascal.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã trả giá cho tình yêu ấy: nói thật mà không bỏ rơi ai; yêu đến cùng mà không thoả hiệp với sự dữ. Những người Ngài đến cứu độ đã đưa Ngài lên thập giá; nhưng ngay giữa những lời kết án, Ngài vẫn xin Cha tha cho họ. Đấng chịu người đời khước từ đã không khước từ con người. Trên núi Sọ, tình yêu đi qua vực chia lìa, mở đường cho hiệp nhất. Đó là một tình yêu chấp nhận mất tất cả, nhưng không chấp nhận mất một con người – ‘yêu đến chia lìa’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đốt cháy nơi con những thoả hiệp ngầm; thanh luyện cả điều con tưởng đúng; dạy con yêu hết lòng, cả khi người con thương quay lưng!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XXIX Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/22.html

Thầy không đến để ban hoà bình, nhưng là đem sự chia rẽ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.      Lc 12,49-53

49 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! 50 Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất !

51 “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. 52 Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. 53 Họ sẽ chia rẽ nhau : cha chống lại con trai, con trai chống lại cha ; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.”