ĐỘC TÀI! (Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

Nguyen Thi Chau

ĐỘC TÀI!

(Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

KD: Để hiểu độc tài như thế nào, xin đọc bài viết rất sinh động này. Và xin đăng cái còm của mình (có bổ sung):

“Độc tài quá hoa tâm bệnh. Độc ác quá hoá cô độc. Sống giữa nhung lụa, phù hoa nhưng tâm hồn nghèo xác xơ cùng kiệt. Quyền lực đỉnh cao nhưng hạnh phúc tận vực sâu. Sống trong sự run sợ  của con người nhưng chết đi trong mừng rỡ của cộng đồng.

Và những kẻ độc tài có một điểm bản chất- ko bao giờ tin ai. Cực kỳ cô độc

Một sự Gieo- gặt sòng phẳng đích đáng!.

Title bài chủ Phây xin tạm đặt 

—————— 

Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Cát Lái, Rạch Chiếc, Gò Vấp, Hàng Xanh, Thanh Đa… là những địa danh quen thuộc ở Sài Gòn nhưng được cho là bị viết sai so với ban đầu.

Hàng Xanh

Là nút giao thông lớn ở cửa ngõ phía Đông của TP HCM, Hàng Xanh là địa danh rất quen thuộc với người Sài Gòn. Vùng Hàng Xanh, bao gồm một phần địa bàn các phường 24, 25 (quận Bình Thạnh), còn có chợ Hàng Xanh, ngã tư Hàng Xanh.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả Nguyễn Thanh Lợi (trong quyển Sài Gòn – Đất và Người) qua nhiều tài liệu cũ, địa danh này viết đúng phải là Hàng Sanh. Theo sách Đại Nam quốc âm tự vị của nhà ngôn ngữ học Huỳnh Tịnh Của, Sanh “là thứ cây lớn, nhánh có tua, về loại cây da, mà lá nhỏ”. Ngày trước, dọc theo hai bên đường nay là Bạch Đằng có 2 hàng cây sanh, dân thường gọi là Hàng Sanh. Nên có thể kết luận, Hàng Xanh do đọc chệch từ Hàng Sanh mà ra.

Cát Lái

Theo các nhà nghiên cứu, phải gọi là bến phà Các Lái thì mới đúng với nguồn gốc tên gọi ban đầu, còn tên gọi Cát Lái là vô nghĩa. Ảnh: H.C

 Hiện, tại TP HCM có các địa danh: ngã ba Cát Lái, phường Cát Lái, bến phà Cát Lái, sông Cát Lái… (quận 2) và rạch Cát Lái Lớn, rạch Cát Lái Bé (xã Lý Nhơn, huyện Nhà Bè). Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa.

Nguyên các vùng kể trên ngày xưa lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những bài vè về các lái buôn ghe bầu từ miền Trung vào Gia Định với hai bài Vè Lái vô và Vè Lái ra. Vì vậy phải viết là Các Lái mới có nghĩa.

Gò Vấp

Là tên gọi của quận vùng ven tại TP HCM. Theo các nhà nghiên cứu, đúng ra phải là Gò Vắp vì đây vốn là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Thanh Đa

Người Sài Gòn từ lâu đã quen với các địa danh như Kinh Thanh Đa, cư xá Thanh Đa, chợ Thanh Đa… ở phường 26 và 27 của quận Bình Thạnh. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, địa danh này có nguồn gốc từ tên gọi Thạnh Đa.

Thôn Thạnh Đa thuộc tổng Bình Trị (sau thuộc Bình Trị Thượng), huyện Bình Dương, có từ năm 1818. Trong sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Monographie de la provine de Gia Định (Chuyên khảo về Gia Định, xuất bản năm 1902 tại Sài Gòn) đều có ghi tên thôn Thạnh Đa. Về sau, do bỏ dấu khi in trên bản đồ thời Pháp, nên địa danh Thạnh Đa biến thành Thanh Đa như hiện nay.

Rạch Chiếc

Cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ phía Đông TP HCM. Ảnh: H.

Rạch Chiếc là con rạch nằm trên địa bàn phường Phước Bình (quận 9) nối sông Sài Gòn với sông Đồng Nai ở phía đông bằng tắt Đồng Nhiên, bắt đầu từ rạch Trao Trảo đến sông Sài Gòn, cắt ngang xa lộ Hà Nội, dài khoảng 6.000 m. Cầu Rạch Chiếc nổi tiếng với trận đánh giải phóng Sài Gòn hồi tháng 4/1975.

Theo các nhà nghiên cứu địa danh học, viết Rạch Chiếc là không đúng mà phải là Rạch Chiết, do xưa rạch này có nhiều cây chiết là “thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau”. Nếu viết là Rạch Chiếc thì không có ý nghĩa.

Chí Hòa và Kỳ Hòa

Ở TP HCM hiện tồn tại đồng thời hai địa danh được cho là giống nhau đó là Chí Hòa và Kỳ Hòa. Theo các nhà nghiên cứu, Chí Hòa nguyên là tên một làng ở Gia Định, đã được lấy để đặt cho một đại đồn của quân đội ta xây nên để chống Pháp. Khi quân Pháp dồn lực lượng tấn công, đại đồn Chí Hòa thất thủ.

Về địa điểm của đại đồn Chí Hòa, nhà văn Sơn Nam cho biết: “Tướng Tôn Thất Hiệp rồi tướng Nguyễn Tri Phương đều chọn lựa cuộc đất nằm trong địa phận làng Chí Hòa Phú Thọ dọc theo rạch Nhiêu Lộc, lấy con đường đi Tây Ninh (Cách Mạng Tháng Tám ngày nay) làm trung tâm để xây đồn lũy…”. Như vậy, Chí Hòa ban đầu là tên làng, mà hiện nay vẫn còn tên gọi như đình Chí Hòa, nhà thờ Chí Hòa… Về sau, Chí Hòa đã trở thành tên một cái đồn được xây dựng tại đó để chống Pháp…

Còn tên Kỳ Hòa xuất hiện vào thời điểm nào? Theo tác giả Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược, thì Kỳ Hòa là cách gọi của người Việt, Chí Hòa là cách gọi của người Pháp. Nhưng tác giả lại không nêu cứ liệu. Còn theo nhà văn Sơn Nam trong quyển Địa danh TP HCM thì Chí Hòa mới là âm gốc, Kỳ Hòa là cách gọi sai lạc vì ngày nay còn địa danh Chí Hòa và ở Nam Bộ không có địa danh mang yếu tố Kỳ ở trước.

Bên cạnh các địa danh xưa, nhiều tên đường tại TP HCM hiện cũng bị viết sai mà các nhà nghiên cứu, nhà văn như: Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa… đã đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn – TP HCM mấy chục năm qua.

Chẳng hạn như đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, đúng ra phải là Sương Nguyệt Anh. Tuy nhiên, bao lâu nay trên các biển hiệu cũng như trong giao dịch, làm việc, người ta vẫn ghi là “Ánh” thay vì “Anh”.

Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức “người đàn bà góa chồng” đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ).

Đường Lương Nhữ Học nằm trên địa bàn quận 5, thuộc khu vực Chợ Lớn, TP HCM cũng được cho là bị viết sai. Tên chính xác của vị danh nhân này phải là Lương Như Hộc – là quan, danh sĩ thời hậu Lê. Ông cũng là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục (tỉnh Hải Dương ngày nay) khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì vậy ông được tôn xưng là “ông tổ” nghề khắc ván in.

Đường Lương Nhữ Học ở quận 5, TP HCM được cho là đang viết sai. Ảnh: H.C

Một con đường khác cũng bị viết sai là Kha Vạn Cân. Kỹ sư Kha Vạng Cân, nguyên là Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn là một nhân sĩ trí thức nổi tiếng của miền Nam, từng tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Vậy mà không biết vì lý do gì khi đặt tên ông cho một con đường lớn ở quận Thủ Đức, người ta lại viết thành Kha Vạn Cân.

Đường Trương Quốc Dung trên địa bàn quận Phú Nhuận cũng được đặt tên không chính xác vì đúng phải là Trương Quốc Dụng. Trong lịch sử Việt Nam không có vị danh nhân nào như tên con đường đang có. Chỉ có ông Trương Quốc Dụng, là nhà văn, nhà sử học, nhà thiên văn nổi tiếng của Việt Nam và là người có công chấn hưng lịch pháp thời nhà Nguyễn.

Theo Trung Sơn

From: taberd & NguyenNThu


 

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt. 


 

Phụ nữ Việt trong ngành nail ở California và câu chuyện phía sau bàn làm móng

Ba’o Nguoi -Viet

August 18, 2026

SACRAMENTO, California (NV) – Cô Trish Nguyễn nhớ quãng thời gian làm móng tay và làm chân tại một tiệm nail ở Westminster, Orange County. Mùi acetone quanh bàn làm việc thường khiến cô chảy nước mắt, nước mũi như bị dị ứng. Đó là mở đầu bài viết “Module 4: Nail Salon Workers: Ethnic Labor Migration” của hai tác giả Tracy Lai và Kim Geron trên trang web Foundations and Futures mới đây.

Foundations and Futures là một cơ quan truyền thông đa dạng, thuộc Đại Học UCLA, chuyên viết về cuộc sống người gốc Châu Á-Thái Bình Dương ở Hoa Kỳ.

Người Việt chiếm tỉ lệ lớn trong lực lượng thợ nail tại California, một ngành tạo sinh kế cho nhiều gia đình di dân. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Theo bài báo, những người làm nail là một lực lượng lao động đông đảo, phần lớn là phụ nữ di dân, với những vấn đề kéo dài về tiền lương, sức khỏe tại nơi làm việc, và cách phân loại người lao động.

Từ sinh kế của người tị nạn đến một ngành dịch vụ phổ biến

Đầu thế kỷ 20, làm móng tại tiệm còn là dịch vụ xa xỉ, chủ yếu dành cho phụ nữ khá giả. Sang thập niên 1970, những dụng cụ mới giúp rút ngắn thời gian làm móng tay và chân, cùng lúc nhiều phụ nữ di dân và tị nạn gốc Á bước vào nghề. Trong số đó, phụ nữ Việt Nam giữ vai trò nổi bật, góp phần đưa nail từ một dịch vụ đắt tiền thành lựa chọn quen thuộc của cả tầng lớp trung lưu lẫn người có thu nhập thấp.

Dấu ấn ấy đặc biệt rõ tại California. Năm 2023, tiểu bang có 127,480 giấy phép hành nghề nail còn hiệu lực, trong khi dữ liệu doanh nghiệp năm 2021 ghi nhận 6,147 tiệm. Gần một nửa thợ nail ở California tập trung tại ba quận hạt Los Angeles, Orange, và San Diego. Riêng Orange County chiếm khoảng 17% lực lượng thợ và 11% số tiệm. Trong lực lượng này, phụ nữ chiếm đa số, phần lớn là người gốc Á Châu và sinh ra bên ngoài nước Mỹ, trong đó người gốc Việt chiếm tỉ lệ rất cao.

Ngành nail tại California chủ yếu gồm những cơ sở nhỏ. Khoảng 69% tiệm có dưới năm nhân viên và thêm 22% có từ năm đến chín người. Quy mô ấy cho thấy nghề nail gắn chặt với sinh kế của nhiều gia đình di dân, đồng thời cũng khiến các chủ tiệm phải xoay xở giữa tiền lương, chi phí bảo hiểm, yêu cầu an toàn, và áp lực cạnh tranh về giá.

Thu nhập vẫn là bài toán khó của thợ nail

Quy mô của ngành nail khá lớn, nhưng thu nhập của người thợ vẫn ở mức thấp. Theo Foundations and Futures, khoảng 78% thợ nail thuộc nhóm lao động lương thấp, được xác định là có thu nhập dưới 2/3 mức lương trung vị (median) của người làm việc toàn thời gian. Trong các ngành nghề nói chung, tỉ lệ này chỉ khoảng 33%. Tiền tip giữ vai trò đáng kể trong thu nhập của thợ, dù trên thực tế nhiều người vẫn có những ngày làm việc mà gần như không nhận được khoản này.

Áp lực thu nhập của thợ lại gắn với sức ép mà các tiệm nhỏ phải chịu. Việc tuân thủ các quy định về lao động, sức khỏe và an toàn có thể làm chi phí kinh doanh tăng, trong khi chủ tiệm vẫn phải cạnh tranh với những cơ sở giữ giá dịch vụ thấp hơn nhờ cắt giảm các khoản chi cần thiết. Chính mối quan hệ giữa giá dịch vụ, tiền công của thợ, và chi phí bảo đảm điều kiện làm việc khiến bài toán sinh kế trong ngành nail trở nên phức tạp hơn nhiều so với tên tuổi của một ngành nghề phổ biến và có giá dịch vụ phải chăng.

Hóa chất và sức khỏe của thợ nail

Mùi acetone mà cô Trish Nguyễn nhớ trong những ngày làm việc tại Westminster chỉ là một phần của môi trường nghề nghiệp trong tiệm nail. Foundations and Futures cho biết thợ thường phải ngồi nhiều giờ để mài, cắt, sơn, và đánh bóng móng trong những không gian thông gió kém, qua đó tiếp xúc thường xuyên với hóa chất. Cơ Quan Quản Lý An Toàn và Sức Khỏe Nghề Nghiệp (OSHA) cũng cảnh báo một số sản phẩm làm móng có chứa acetone, formaldehyde, và các hợp chất methacrylate. Việc tiếp xúc kéo dài có thể gây ngứa mắt, da, mũi và họng, đau đầu, hen suyễn cùng nhiều vấn đề sức khỏe khác.

Thợ nail thường làm việc nhiều giờ trong môi trường tiếp xúc với hóa chất, đặt ra những yêu cầu ngày càng rõ ràng hơn về an toàn sức khỏe và điều kiện lao động. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Một trở ngại khác nằm ở việc thông tin an toàn không phải lúc nào cũng đến được với người thợ bằng ngôn ngữ họ sử dụng thành thạo. Foundations and Futures cho biết nhiều người chưa được huấn luyện đầy đủ về cách ứng phó với hóa chất, trong khi tài liệu hướng dẫn an toàn có thể chưa được dịch sang ngôn ngữ chính của họ. Với một lực lượng lao động có tỉ lệ người sinh ngoài nước Mỹ rất cao, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự bảo vệ trong công việc. California hiện có Chương Trình Công Nhận Tiệm Nail Lành Mạnh (Healthy Nail Salon Recognition Program – HNSR) do Cơ Quan Kiểm Soát Chất Độc Hại California (DTSC) phụ trách. Chương trình cho phép các địa phương công nhận những tiệm nail tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn nhằm giảm mức tiếp xúc với hóa chất và cải thiện điều kiện an toàn cho cả thợ lẫn khách hàng.

W-2 hay 1099 ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người thợ nail

Một vấn đề quan trọng trong ngành nail là người thợ được xếp vào diện nhân viên (employee) hay nhân viên làm việc độc lập (independent contractor). Foundations and Futures cho biết gần 1/3 thợ nail tại California được xếp vào nhóm tự làm chủ, tức là “independent contractor,” cao gấp ba tỉ lệ của lao động trong các ngành khác. Cách phân loại này ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương và các quyền lợi đi kèm.

Theo luật Mỹ, nhân viên được trả lương và khai thuế dạng W-2, còn nhân viên làm việc độc lập được trả lương theo dạng 1099.

Nhân viên (W-2) được bảo vệ về lương tối thiểu, làm thêm giờ, nghỉ bệnh, giờ nghỉ, và bồi thường tai nạn lao động, trong khi nhà thầu độc lập (1099) có ít quyền lợi hơn.

Tại California, từ ngày 1 Tháng Giêng, 2025, cách xác định thợ nail là nhân viên hay nhà thầu độc lập được áp dụng chặt chẽ hơn. Theo Bộ Quan Hệ Lao Động California (DIR), người làm việc tại tiệm nail thường được xem là nhân viên. Chỉ khi chủ tiệm chứng minh người thợ thực sự làm việc độc lập và đáp ứng đủ ba điều kiện của bài kiểm tra ABC, người đó mới có thể được xếp là nhà thầu độc lập. Việc trả tiền theo mẫu 1099 hoặc gọi người thợ là “contractor” chưa đủ để xác định họ là nhà thầu độc lập.

Từ sức khỏe đến tổ chức lao động

Năm 2005, một nhân viên của Asian Health Services ở Oakland nhận thấy nhiều thợ nail Việt Nam có những vấn đề sức khỏe giống nhau. Từ đó, tổ chức này hỗ trợ thành lập Liên Minh Tiệm Nail Lành Mạnh California (California Healthy Nail Salon Collaborative – CHNSC), ban đầu tập trung vào vấn đề hóa chất an toàn và điều kiện làm việc, sau đó mở rộng sang vấn đề tiền lương và quyền lợi lao động.

Các chiến dịch tương tự sau đó lan tới New York, Boston, Seattle, và Minneapolis. Tại New York, giới vận động cho thợ nail góp phần thúc đẩy dự luật “Nail Salon Workers’ Bill of Rights” năm 2015, trong đó đưa ra mức lương hợp pháp, các biện pháp bảo vệ sức khỏe, đường dây báo vi phạm, và yêu cầu cung cấp phiên dịch nội dung kỳ thi cấp phép sang nhiều ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt.

Việc thực thi luật cũng tiếp tục được siết chặt. Năm 2024, Bộ Lao Động Mỹ (DOL) buộc chủ ba tiệm nail tại Rhode Island trả $753,500 tiền lương còn thiếu và bồi thường nhân viên, đồng thời chấm dứt hành vi trả đũa người lao động. Những diễn biến này cho thấy vấn đề bảo vệ thợ nail ngày nay bao gồm cả sức khỏe, tiền lương, địa vị việc làm, và quyền lên tiếng tại nơi làm việc.

Một tiệm nail lớn của người Việt ở Orange County (Hình minh họa: Facebook Kim Tran).

Một phần khác của câu chuyện nghề nail

Nghề nail từ lâu là một trong những dấu ấn kinh tế rõ rệt nhất của cộng đồng Việt tại Mỹ. Nghề này tạo sinh kế cho hàng chục ngàn gia đình, mở đường cho nhiều người từ thợ lên chủ và góp phần thay đổi một ngành dịch vụ. Các nghiên cứu lao động bổ sung cho phần ít xuất hiện trong câu chuyện ấy. Đó là mức lương thấp, phơi nhiễm hóa chất, sự phức tạp của W-2 và 1099, cùng khoảng cách giữa luật trên giấy và sự thực thi tại hàng ngàn tiệm nail nhỏ.

Với California, đặc biệt là Orange County, những vấn đề của ngành nail tồn tại ngay trong đời sống cộng đồng. Triển vọng duy trì hoạt động của các tiệm nail luôn gắn chặt với tiền lương, phúc lợi, điều kiện thông gió, mức độ an toàn của hóa chất, và việc xác định địa vị lao động của người thợ. Từ sinh kế của những gia đình tị nạn thuở ban đầu, nghề nail của người Việt ngày nay đã đi một chặng đường dài và tạo nên dấu ấn rõ nét trong đời sống kinh tế địa phương. Chặng đường phía trước sẽ được đo bằng phẩm chất việc làm, sức khỏe, và mức độ bảo đảm quyền lợi cho những người vẫn ngồi bên bàn nail mỗi ngày. (T.C.) [đ.d.]


 

Họ đã truy tố chị vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Trần Trân

Đây là chị Phạm Hồng Nhị, 41 tuổi, nhà chị ở Đá Bạc, Cà Mau. Gia cảnh chị nghèo khó, nuôi 2 con đang đi học và mẹ già mất khả năng lao động. Dẫu vậy nhưng vợ chồng chị vẫn luôn chí thú làm ăn để tương lai bớt vất vả hơn cho con của mình.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, chồng chị chở chị đi đi dự tiệc khai trương tiệm bán cá của một người bạn ở An Xuyên, Cà Mau cách nhà chị khoảng vài mươi cây số.

Sau buổi tiệc, chồng chị quá say xỉn, không thể chạy xe được nên chị đành chạy xe chở chồng về, chị cũng đã có uống 2 lon bia.

Trên đường về thì chị lạc tay lái, tông vô gốc cây ven đường. Chồng chị không may qua khỏi, chị thì bị thương nặng. Những tưởng đã là tột cùng của bi kịch, khi giờ đây chỉ còn một mình chị gồng gánh cả gia đình, hai con thì quá nhỏ, nhưng không!

Sau khi xuất viện, chị bị tòa án tuyên thêm một năm 6 tháng tù giam vì tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng.

Một chi tiết đáng chú ý ngoài lề là: chị đã khắc phục hậu quả dân sự 100/120 triệu. Người ta nói vì thiếu 20 triệu nữa nên gia đình chồng đã rút lại đơn bãi nại trước đó. Nhưng lưu ý:

Cụ thể với Điều 260 BLHS:

Một vụ tai nạn làm ch.ết người, nếu cơ quan tố tụng xác định có dấu hiệu của Điều 260, thì:

Gia đình người ch.ết làm đơn bãi nại  không có nghĩa là người gây tai nạn đương nhiên không bị xử lý hình sự.

Mặt khác, Gia đình rút bãi nại cũng không làm phát sinh trách nhiệm hình sự một cách tự động.

Cơ quan điều tra vẫn phải căn cứ vào hành vi vi phạm, lỗi, hậu quả, quan hệ nhân quả và các chứng cứ khác để quyết định có khởi tố hay không.

Nói cách khác, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể không truy tố chị, nhưng họ đã truy tố vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Và giờ đây, 2 con chị bơ vơ, cha chết, mẹ đi tù người bà thì mất khả năng lao động, tương lai vô cùng mịt mờ.

Nhưng ở đâu đó, giữa lòng thủ đô, người ta chạy ngược chiều bằng xe hơi, người ta, cả 2 người trên xe hơi trốn ngay lập tức khỏi hiện trường, báo chí giấu nhẹm thông tin về hung thủ sau một năm 3 tháng. Công an đo nồng độ cồn 1 ngày sau xảy ra tai nạn, mà lúc đó, ngày 31/05/2025 còn chưa có đơn vị hành chính nào tên là: Phường Hai Bà Trưng. Vậy nhưng trong giấy lại có mới tài.

Cơ quan công an kết luận: không khởi tố đúng quy trình.

Có lẽ, do hung thủ là đại biểu quốc hội, là chồng của bà bộ trưởng bộ văn hóa, là những kẻ lãnh đạo tài tình sáng suốt trên đất nước này.

Nắng rồi sẽ lên

Nhắc nhau nghe rằng:

Người Việt Thương Người Việt

Nguồn Bàn Tròn Chính Trị

#vietnam#quocgiavietnam 


 

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ – Đoàn Bảo Châu

Chau Doan  

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ

Ở Hà Nội, mỗi sáng có hàng triệu người bước ra khỏi nhà và mặc nhiên tin rằng tối mình sẽ trở về.

Bố đi làm. Mẹ đưa con đến trường. Người trẻ chen vào dòng xe cho kịp giờ chấm công. Đứa nhỏ ngồi sau xe máy, ôm lưng mẹ, có khi vẫn còn ngái ngủ.

Những cuộc chia tay buổi sáng thường rất sơ sài. “Con đi học đây.” “Bố đi làm nhé.” “Ừ, tối về ăn cơm.” Chẳng ai ôm nhau lâu, chẳng ai dặn dò gì hệ trọng, bởi người ta vẫn nghĩ vài tiếng nữa sẽ gặp lại.

Trưa ngày 30 tháng 5 năm 2025, một người cha chở con gái trên đường Nguyễn Huy Tự. Ông đi cẩn thận, như mọi người cha chở con đều đi cẩn thận. Rồi một chiếc xe từ làn bên kia lao sang, và nó chỉ dừng lại khi đâm vào một gốc cây.

Người cha gãy chân, nằm giữa đường, quơ tay tìm con, gọi mãi.

Cô gái mười tám tuổi bị đứt lìa chân phải, nằm đó chừng hai mươi phút, người sơ cứu cho em là một bác sĩ tình cờ đi ngang. Những người bước xuống từ chiếc xe kia nhìn một lượt rồi bỏ đi.

Em chống chọi bảy ngày trong bệnh viện rồi mất. Em tên là Đỗ Ngọc Phương Thùy. Ở nhà, mọi người gọi em là Mina.

Hôm ấy trong nhà em có một chiếc va li đang xếp dở, và một giấy báo trường bên Anh.

Từ ngày ấy đến nay là 444 ngày.

Trong 444 ngày ấy, không một quyết định tố tụng nào được công bố. Cái tên người gây tai nạn được thu gọn thành ba chữ viết tắt trên báo chí. Cho đến khi những người trẻ mang hoa cúc trắng đến đặt dưới gốc cây số 55, thì cái tên ấy mới được đọc lên trên sóng truyền hình quốc gia — kèm theo lời tuyên bố ông ta đủ điều kiện được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, và kèm theo lời răn đe những người đã cầm hoa.

Nhiều người bảo: chuyện của gia đình người ta, mình xen vào làm gì. Gia đình họ đã đồng ý rồi, mình còn nói gì nữa.

Xin thưa, đây là lý do tôi vẫn nói.

Bởi vì một vụ tai nạn làm chết người không phải chuyện riêng của hai gia đình. Nó là chuyện của cả xã hội. Luật hình sự sinh ra không phải để trả thù cho người đã mất, mà để răn đe những người còn sống. Khi trách nhiệm hình sự bị xóa bằng một tờ đơn của người đang kiệt sức vì mất con, thì thứ bị xóa không phải là hình phạt dành cho một người. Thứ bị xóa là lời răn đe dành cho tất cả những người khác đang cầm vô lăng ngoài kia.

Và đây mới là điều đáng sợ nhất.

Nếu hôm nay chuyện này được cho qua, thì một tiền lệ đã được dựng lên: gây tai nạn chết người, bỏ mặc nạn nhân, rồi bồi thường, rồi có đơn xin miễn, thế là xong. Ngày mai, con cái các quan chức sẽ hiểu điều đó. Chúng sẽ uống rượu, sẽ phóng xe bạt mạng trên phố, bởi trong đầu chúng đã có sẵn một phép tính: đâm chết người thì mất bao nhiêu tiền, và bố mẹ mình quen ai.

Cái giá của một mạng người sẽ trở thành một con số có thể tra bảng.

Xin đừng nghĩ đó là chuyện xa xôi. Người ngồi sau xe máy ngày mai có thể là con anh, cháu chị, hay chính chúng ta. Đường phố này không có hàng rào nào ngăn cách giữa gia đình quyền thế và gia đình thường dân. Chỉ có luật pháp là hàng rào duy nhất. Khi hàng rào ấy được nhấc lên cho một chiếc xe đi qua, thì nó đã được nhấc lên cho tất cả những chiếc xe khác cùng loại.

Đó chính là điều mà những người trẻ mang hoa ra gốc cây đang hỏi. Họ không đòi ai phải chết thay ai. Họ không tự phong mình làm quan tòa. Họ chỉ hỏi một câu mà bất kỳ xã hội nào cũng phải trả lời được: nếu ngày mai một người dân bình thường rơi vào hoàn cảnh y hệt, họ có được đối xử y hệt hay không?

Nếu có, đó gọi là pháp quyền. Nếu không, thì hãy gọi đúng tên của nó.

Có người nói với tôi rằng thôi, cuộc đời vô thường, cầu mong mọi người bình an là được. Tôi hiểu, và tôi cũng cầu mong như vậy. Nhưng xin phân biệt cho rõ: có những chiếc ghế trống trong nhà là do vô thường. Và có những chiếc ghế trống là do một người lái xe sang làn ngược chiều, rồi bỏ đi, rồi không ai phải trả giá.

Vô thường thì ta chỉ có thể chấp nhận. Còn bất công là do con người tạo ra — mà cái gì do con người tạo ra thì con người sửa được.

Cầu an không giữ được mâm cơm đủ người. Chỉ có công lý mới giữ được.

Cho nên khi những đứa trẻ mua hoa bằng tiền túi của chúng đem đặt dưới một gốc cây, chúng không làm việc đó cho một người xa lạ. Chúng đang làm việc đó cho cái ghế trong nhà chúng, cho mâm cơm nhà chúng, cho ngày mai của chính chúng.

Người ta có thể hốt hết hoa lên xe rác. Người ta có thể cử người ra ngồi canh một gốc cây. Người ta có thể ra thông báo cấm sinh viên tưởng niệm khi chưa được phép.

Nhưng có một thứ không hốt đi được: 444 ngày kia vẫn nằm nguyên trên tờ lịch.

Đại văn hào Tolstoy có một câu tôi rất thích: nếu bạn thấy đau, bạn đang sống; nhưng nếu bạn thấy được cái đau của người khác, thì bạn mới là con người.

Xin hãy giữ lấy điều đó. Bởi thế giới này trở nên tồi tệ không phải vì kẻ ác ngày càng mạnh, mà vì những người tử tế ngày càng im lặng.

Mina đã không kịp bước lên chuyến bay của em.

Chúng ta thì vẫn còn ở đây, và mỗi sáng vẫn còn được nói với người thân một câu rất bình thường: tối về ăn cơm nhé.

Xin hãy làm điều gì đó để câu nói ấy còn có nghĩa.

Đoàn Bảo Châu


 

GIỜ THỨ MƯỜI MỘT, VẪN TÌM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vì không ai mướn chúng tôi”.

Constantin Virgil Gheorghiu từng ám ảnh người đọc với Giờ Thứ Hai Mươi Lăm – giờ sau giờ cuối, khi mọi cứu thoát tưởng đã quá muộn. Trong thế giới ấy, điều đáng sợ không chỉ là con người không được cứu, nhưng không còn được nhìn như một con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay dừng ở giờ thứ mười một. Ngày gần tàn, người ta đã thôi tìm thợ; những con người cuối cùng vẫn đứng đó vì “không ai mướn”. Thế nhưng, giờ tưởng đã muộn vẫn là giờ Chủ Vườn còn đi tìm người – ‘giờ thứ mười một – vẫn tìm’.

Dụ ngôn trải dài một ngày, từ sáng sớm đến chiều tối. Điều lạ là Chủ Vườn không chỉ ra một lần: sáng sớm, giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín, rồi giờ thứ mười một, ông vẫn đi ra. Chưa được ai thuê, những người cuối cùng vẫn chưa bị bỏ qua.

Đáng chú ý, ở lần gọi cuối, không một lời nào về tiền công, không một lời nào về thời giờ; điều còn lại là một lời mời: “Hãy đi vào vườn nho!”. Ân huệ đầu tiên không phải là được tiền, nhưng là vẫn được gọi. Có những lúc điều con người cần nhất không phải là nhận thêm, nhưng được biết mình vẫn còn có một chỗ. Họ đã đứng suốt ngày mà không ai mướn; giờ đây, một lời gọi đưa họ vào. Trước khi trao cho họ điều gì, Chủ Vườn đã trao cho họ một nơi để thuộc về. “Ông đã đích thân gọi họ; ông biết phẩm giá của họ!” – Lêô XIV.

Chủ Vườn đi ra tìm người cũng chính là Mục Tử đi tìm chiên. Bước chân ấy đã vang từ rất xa xưa. Những mục tử Israel chỉ biết chăn chính mình, để đàn chiên tản mác; Thiên Chúa tuyên bố: “Chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm” – bài đọc một. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca không nói những con chiên tự tìm đường về, nhưng tuyên xưng: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi!”. Hoá ra, điều làm người giờ thứ mười một “chẳng thiếu thốn gì” không vì họ đã có mọi sự, nhưng vì có Đấng đi tìm mình.

Với chúng ta, “giờ thứ mười một” có khi là lúc nhìn lại và tưởng phần đẹp nhất của đời mình đã ở phía sau. Tin Mừng không bảo chúng ta quay lại buổi sáng; chỉ cho thấy ngay ở giờ này, Chúa vẫn đi tìm tôi. “Đối với tình yêu Thiên Chúa, không ai là vô dụng hay vô nghĩa!” – Phanxicô. Những gì chưa thành không có quyền nói lời cuối về một đời người. Có thể chúng ta đã thôi hy vọng vào mình; Ngài thì chưa.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đi đến tận cùng cuộc tìm kiếm con người. Ngài rời vinh quang, đi vào phận người, rồi xuống tận nơi không ai có thể đi xa hơn: sự chết. Trên thập giá, Ngài bước vào giờ tưởng mọi cứu thoát đã quá muộn; chính ở đó, một người trộm lành còn được Ngài gọi vào Nước Trời. Trong mồ, Ngài ở nơi mọi dấu chân đều dừng lại; nhưng cũng từ đó, Ngài trỗi dậy. Phục Sinh cho thấy cái chết có thể chặn bước con người, nhưng không thể chặn bước Thiên Chúa. Nơi tưởng đã hết đường, tình yêu vẫn lên đường – ‘giờ thứ mười một – vẫn tìm’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, vì những gì đã muộn, đừng để con tuyệt vọng; vì lạc lối vô bờ, con tin Chúa vẫn tìm; và dù ở giờ nào, xin cứ gọi con vào!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XX Thường Niên, Năm Chẵn:

https://bom.so/6mk6zp

Phải chăng vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức ?

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 20,1-16a

1 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này : “Nước Trời giống như chuyện chủ nhà kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. 2 Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. 3 Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. 4 Ông cũng bảo họ : ‘Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.’ 5 Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. 6 Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ : ‘Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết ?’ 7 Họ đáp : ‘Vì không ai mướn chúng tôi.’ Ông bảo họ : ‘Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho !’ 8 Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý : ‘Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.’ 9 Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. 10 Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. 11 Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn chủ nhà : 12 ‘Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.’ 13 Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ : ‘Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao ? 14 Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. 15 Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao ? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức ?’ 16a Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.”


 

Tại sao Thiên Chúa dựng nên ta?-Cha Vương

Hôm nay Thứ ba rồi bạn ơn, nhân loại đang chứng kiến nhiều cảnh hỗn loạn quá vì chiến tranh, vì đại dịch… thiết nghĩ một việc làm cần thiết nhất trong lúc này là một lời cầu nguyện khẩn thiết, một việc hy sinh, một trái tim rung cảm để xin Chúa bảo vệ và gìn giữ những ai đang gặp thử thách…, mạng sống đang bị đe doạ. Xin cho thế giới được bình an Xin đa tạ. 

Cha Vương

Thứ 3: 18/08/2026.    (t4-21)

GIÁO LÝ: Tại sao Thiên Chúa dựng nên ta?

– Thiên Chúa dựng nên ta vì Người yêu thương ta một cách tự ý và vô vị lợi. 

SUY NIỆM: Khi yêu, trái tim ta đầy tràn chan chứa. Nó muốn chia sẻ niềm vui cho những người khác. Ta có được như vậy là do Đấng Tạo hóa. Mặc dầu Thiên Chúa là một mầu nhiệm, ta vẫn có thể từ kinh nghiệm loài người của ta mà gợi nghĩ ra Người, và có thể nói: Người tạo dựng nên ta do tình yêu Người “quá đầy”. Người muốn chia sẻ niềm vui của Người cho ta là những thụ tạo của tình yêu Người. (Youcat, số 2)

❦  Giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn. (Thánh Phanxicô Salêxiô

❦  Tình yêu là tìm được niềm vui trong sự tốt lành; sự tốt lành là lý do duy nhất để yêu. Yêu là muốn làm điều tốt lành cho người ta. (Thánh Tôma Aquinô)

Đứng trước một tình yêu quá lớn lao và cao vời mà Chúa dành cho bạn, ước mong bạn hãy bạn đáp trả bằng sự cố gắng hết mình để trở thành một người con tốt lành hơn mỗi ngày nhé.

LẮNG NGHE: Thiên Chúa là tình yêu. (1 Ga 4:16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa dạy con rằng, “phải kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình”, nhưng trong cuộc sống con vẫn chưa thực hiện được, xin Chúa giúp con cố gắng thực hiện trọn vẹn lời Chúa dạy hôm nay.

THỰC HÀNH: Hãy trả lời những câu hỏi cụ thể sau đây:

❦  Đâu là những kinh nghiệm về tình yêu quá lớn lao của Thiên Chúa mà tôi cảm nghiệm được?

❦  Trong cuộc sống mải mê, vội vã, và biến động của mình, tôi cần làm gì để cảm nếm sự tốt lành của Thiên Chúa? 

From: Do Dzung

*****

TÌNH CHÚA CAO VỜI – Nguyễn Minh Chiến (Live) 

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

 Ryan Phan is in Atlanta, GA.

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

Có một đoạn văn từng đọc được ở đâu đó, mà càng ngẫm càng thấy lạnh người vì nó đúng.

Nếu bạn cầm súng và tôi cũng cầm súng, chúng ta có thể ngồi xuống nói chuyện với nhau về luật pháp. Nếu bạn cầm dao và tôi cũng cầm dao, chúng ta có thể bàn với nhau về quy tắc. Nếu bạn đến tay không và tôi cũng đến tay không, chúng ta có thể nói chuyện phải trái với nhau bằng lý lẽ. Nhưng nếu bạn có súng còn tôi chỉ có con dao, thì chân lý nằm gọn trong tay bạn. Và nếu bạn có súng còn tôi chẳng có gì trong tay, thì thứ bạn đang cầm không còn đơn thuần là một vũ khí nữa. Nó là mạng sống của tôi.

Đọc xong mấy dòng đó, người ta hiểu ra một điều giản dị mà cay đắng: những khái niệm đẹp đẽ như luật pháp, quy tắc, đạo đức, thật ra chỉ có ý nghĩa khi chúng đứng trên một nền tảng duy nhất, đó là sự bình đẳng. Khi hai bên ngang sức ngang quyền, luật pháp là thứ giữ cho cuộc chơi công bằng. Nhưng khi một bên mạnh áp đảo, còn một bên yếu thế trơ trọi, thì những quy tắc ấy rất dễ biến thành một thứ khác hẳn. Nó không còn là tấm khiên bảo vệ kẻ yếu, mà trở thành cây gậy trong tay kẻ mạnh.

Mấy ngày nay, có một câu chuyện khiến lòng nhiều người trĩu nặng. Xin phép không nhắc lại chi tiết, không gọi tên ai, bởi điều đáng nói ở đây không phải là một sự việc cụ thể, mà là cái cảm giác nhức nhối mà nó khơi dậy trong lòng biết bao con người. Cái cảm giác rằng, trong cuộc chơi này, không phải ai cũng cầm cùng một thứ vũ khí. Rằng có những người bước vào với cả một kho súng đạn quyền lực sau lưng, còn có những người bước vào chỉ với hai bàn tay trắng và một nỗi đau.

Ở một góc đường, dưới một gốc cây, những ngày qua người ta lặng lẽ đến đặt xuống những bó hoa. Hoa cúc trắng. Vài ngọn nến. Đôi khi chỉ một nhành hoa dại hái vội bên đường. Phần lớn những người đến đặt hoa chẳng hề quen biết người đã khuất. Họ đến vì một điều gì đó thôi thúc từ sâu bên trong, một điều mà chính họ đôi khi cũng khó gọi thành tên.

Bởi vì dưới gốc cây ấy, người ta đặt xuống không chỉ là những bông hoa. Người ta đặt xuống cả một nỗi niềm. Một nỗi niềm về sự công bằng.

Có một sự thật về con người mà giữa bộn bề cuộc sống ta hay quên: sâu trong lòng mỗi người đều cháy âm ỉ một khát khao công lý. Không phải công lý theo nghĩa trả thù hay trừng phạt, mà là một niềm tin gần như bản năng, rằng thế giới này phải có một sự công bằng nào đó để mà bám víu. Rằng mọi sinh mạng đều đáng quý như nhau. Rằng nỗi đau của một người dân thường cũng đáng được nhìn thấy, được lắng nghe, được xem trọng ngang với nỗi đau của bất kỳ ai. Khi cái niềm tin ấy bị lung lay, khi người ta thấy dường như có những sinh mạng được coi trọng hơn những sinh mạng khác, thì trong lòng trỗi lên một nỗi bất an rất khó gọi tên. Và những bó hoa lặng lẽ dưới gốc cây, thực ra, chính là cách người ta nói lên nỗi bất an ấy mà không cần đến một lời nào.

Người xưa có một câu nói phũ phàng nhưng thật: khi đồng tiền cất lời, sự thật thường phải im lặng. Và khi quyền lực lên tiếng, thì đôi khi ngay cả đồng tiền cũng phải lùi lại vài bước. Đó là một sự thật cay đắng của cuộc đời mà ai sống đủ lâu rồi cũng phải chạm tới. Những người đặt ra luật lệ đôi khi lại chính là những người đầu tiên biết cách lách qua nó. Quy tắc, trong tay người này, là sợi xích trói buộc; nhưng trong tay người khác, lại là một công cụ tiện lợi.

Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, thì nó quá bi quan, và cũng không công bằng với chính bản chất con người. Bởi vì có một điều mà tiền bạc và quyền lực không bao giờ mua được, không bao giờ đè bẹp được hoàn toàn: đó là lương tri của những con người bình thường. Chính cái đám đông lặng lẽ đặt hoa dưới gốc cây kia là bằng chứng cho điều đó. Họ không có quyền lực gì. Họ không cầm trong tay thứ vũ khí nào. Nhưng họ có một thứ mà không ai tước đoạt được: cái khả năng rung động trước nỗi đau của một người xa lạ, và cái khát khao được sống trong một thế giới công bằng hơn. Đó là thứ vũ khí duy nhất của kẻ yếu, nhưng cũng là thứ vũ khí bền bỉ nhất, vì nó không nằm trong tay ai để mà bị tịch thu.

Có một câu nói xưa đáng để khắc vào lòng: công lý không chỉ cần được thực thi, mà còn cần được nhìn thấy là đã được thực thi. Bởi vì công lý không chỉ là chuyện của những trang giấy, những kết luận, những thủ tục. Nó còn là chuyện của niềm tin. Khi người dân thường tin rằng công lý được áp dụng như nhau cho tất cả, không phân biệt kẻ sang người hèn, thì họ yên lòng mà sống, mà làm ăn, mà nuôi hy vọng. Nhưng một khi cái niềm tin đó bị tổn thương, thì thứ mất đi không chỉ là lòng tin vào một sự việc, mà là một điều lớn hơn nhiều, cái chất keo vô hình gắn kết cả một cộng đồng lại với nhau.

Điều đáng mong mỏi, sau tất cả, không phải là cơn giận. Giận dữ rồi cũng nguôi đi, và hiếm khi đưa người ta đến đâu tốt đẹp. Điều đáng mong là lòng trắc ẩn được giữ lại. Là mỗi người, khi thấy một nỗi đau, dù nó xảy đến với ai, ở đâu, cũng dừng lại một chút để thấy rằng nỗi đau ấy là thật, và người đang mang nó cũng là một con người bằng xương bằng thịt như mình. Là đừng để trái tim chai sạn đi trước những bất công, dù nhỏ hay lớn. Bởi vì cái ngày mà con người thôi rung động trước nỗi đau của đồng loại, thôi khao khát sự công bằng cho những kẻ yếu thế, thì đó mới thật sự là ngày đáng sợ nhất.

Dưới gốc cây ấy, những bó hoa rồi sẽ héo. Người ta rồi cũng sẽ dọn chúng đi. Nhưng có một thứ không héo, và không ai dọn đi được: đó là cái khát khao công bằng, cái lòng trắc ẩn, cái niềm tin rằng mọi sinh mạng đều đáng quý, đang lặng lẽ cháy trong lòng biết bao con người. Ngọn lửa ấy nhỏ nhoi, âm thầm, nhưng nó là điều tốt đẹp nhất còn sót lại trong bản chất con người. Và chừng nào người ta còn biết cúi xuống đặt một bó hoa cho một người xa lạ, thì chừng đó lòng người vẫn chưa nguội lạnh, và hy vọng vẫn còn.

Xin được thắp một nén nhang trong lòng, cầu cho những sinh mạng vô tội đã ra đi khi còn quá trẻ, ở bất cứ nơi đâu trên cõi đời này, được về một nơi bình yên, nơi không còn bất công, không còn nước mắt, nơi mà cuối cùng, mọi người đều thật sự bình đẳng như nhau.

Còn bạn, điều gì trong lòng khiến bạn dừng lại và xót thương, khi nghe về nỗi đau của một người mà mình thậm chí chưa từng quen biết?

Ryan Phan 


 

SỰ NGÂY THƠ CỦA CON TIM-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.

Thần học gia Karl Rahner đưa ra một nhận xét rất sâu sắc về đoạn văn trong Phúc Âm, nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và nói về những kẻ hành hình Ngài: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Rahner cho rằng họ biết chính xác mình đang làm gì.  Họ biết mình đang giết một người vô tội, rằng họ đang đổ máu người vô tội.  Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói như vậy?

 Sự ngây thơ của họ là gì?  Sự cả tin của họ là gì? 

Câu trả lời của Rahner: Họ không biết mình đang làm gì vì họ không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Và điều đó có thể dẫn đến sự ngây thơ trong tâm hồn.  Tại sao vậy?

 Có một nơi sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta, một nơi mà chúng ta hiếm khi ý thức được, nơi mỗi người được Chúa yêu thương vô điều kiện.  Những người đóng đinh Chúa Giê-su không biết mình đang làm gì vì họ không nhận thức được điều đó.  Đó là sự mù quáng, sự thiếu hiểu biết của họ.  Mặc dù bề ngoài có vẻ như vậy, nhưng họ không biết mình đang làm gì.

 Điều này cũng đúng với chúng ta.  Quá thường xuyên chúng ta đóng đinh người khác và chính mình vì sự thiếu hiểu biết này: chúng ta không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Hậu quả là, đôi khi chúng ta tàn nhẫn trong phán xét và dễ làm những điều làm tổn hại đến phẩm giá của mình.  Chúng ta đấu tranh để không trở thành một trong những kẻ hành quyết trên thập tự giá bởi vì, cuối cùng, chúng ta hành động vì thiếu hiểu biết.  Chúng ta không biết gì hơn, giống như sự ngây thơ của đứa trẻ tự làm tổn thương mình vì thiếu hiểu biết.

 Nhưng đây không phải là một nhận định mới.

 Thần học cổ điển đã phân biệt giữa sự ngu dốt có lỗi và sự ngu dốt không có lỗi.  Loại thứ hai, còn được gọi là sự ngu dốt không thể khắc phục, được xem là biện minh cho việc người ta không phạm tội và không chịu trách nhiệm.  Do đó, có quan điểm cho rằng bạn có thể làm những việc sai trái nhưng không phạm tội vì bạn hành động trong sự ngu dốt.  Điều này dựa trên niềm tin rằng bạn chỉ có thể hành động một cách đạo đức và có trách nhiệm nếu bạn thực sự biết mình đang làm gì.  Để phạm tội, bạn phải hành động một cách “có chủ ý.”  Tuy nhiên, đó là một điều kiện khá phức tạp.

 Nhìn vào thế giới ngày nay, tôi dám khẳng định rằng trong một số vấn đề đạo đức quan trọng, chúng ta đang hành động trong sự ngu dốt không thể cứu vãn.  Nói một cách đơn giản, chúng ta không biết điều gì tốt hơn.  Chỉ có kiểu ngu dốt đã cho phép những người chân thành đóng đinh Chúa Giê-su mới có thể giải thích tại sao chúng ta, những người tốt và chân thành, lại có thể mù quáng đến vậy, cả về mặt cộng đồng và cá nhân, đối với người nghèo, đối với những đòi hỏi về kinh tế và xã hội mà đức tin của chúng ta đặt ra.  Lý do thực sự khiến chúng ta có thể sống thoải mái trong khi khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng không phải vì chúng ta xấu xa và vô lương tâm, mà đúng hơn, như Rahner nói, chúng ta không biết mình được yêu thương đến mức nào.

 Điều tương tự cũng đúng với thái độ của chúng ta đối với tình dục.  Chúng ta đã có thể coi thường tình dục, tách rời nó khỏi sự thiêng liêng của hôn nhân, và biến nó thành một phần mở rộng của việc hẹn hò (hoặc đơn giản là tình dục giải trí) chỉ vì một sự thiếu hiểu biết cố hữu nào đó.  Chúng ta không biết điều gì tốt hơn, không phải vì chúng ta thiếu lương tâm, mà vì chúng ta thiếu bất kỳ cảm nhận thực sự nào về tình yêu sâu sắc của Chúa và phẩm giá mà nó ban cho chúng ta. 

Giống như những kẻ hành quyết Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc trong việc hợp lý hóa, coi nhẹ và bù đắp chính vì chúng ta không biết mình đang làm gì.  Chúng ta không có nhận thức rõ ràng về tình yêu thương của Chúa dành cho mình.  Do đó, rất dễ đánh mất cái nhìn khách quan, cảm thấy bị loại trừ và làm những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ làm nếu nhận thức đầy đủ hơn về phẩm giá của mình.

 Chẳng có gì lạ khi chúng ta chấp nhận những điều kém cỏi hoặc bất cứ thứ gì hứa hẹn sự thoải mái và an toàn.  Chắc chắn Chúa Giê-su đang nhìn chúng ta và nói: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Nhưng liệu điều đó có đúng không?  Chúng ta có thể thực sự viện cớ thiếu hiểu biết và vô tội để nói rằng mình không biết gì hơn được không?

 Tôi nói có, không phải vì chúng ta ngu ngốc hay thiếu thông minh.  Đây là sự ngây thơ trong tâm hồn.  

Chúng ta vô tình không nhận thức được tình yêu thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng ta.

 Rất ít người trong chúng ta, ở bất kỳ cấp độ hiện sinh nào, từng nghe Chúa nói với mình: “Ta yêu con!”  Rất ít người trong chúng ta từng nghe và cảm nhận được những gì Chúa Giê-su hẳn đã cảm nhận khi chịu phép báp-têm, khi Ngài nghe Cha mình phán: “Con là con yêu dấu của Ta; Ta vui mừng vì con!”  Thật vậy, rất ít người trong chúng ta từng nghe một người khác, từ tâm hồn đến tâm hồn, nói với mình: “ Ta yêu con vô điều kiện! Ta vui mừng vì con!”  Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi, giống như những kẻ hành hình Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc, với lương tâm trong sáng, đôi khi lại mù quáng và không trung thực với chính mình?

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.  Sự phản bội chỉ có thể xảy ra nếu trước đó người ta đã nghe những lời: “Tôi yêu bạn.”  Những kẻ hành hình Chúa Giê-su đã hành động trong bóng tối xuất phát từ việc chưa bao giờ nghe thấy điều đó.  Tôi cho rằng điều tương tự cũng đúng với nhiều người trong chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Sự im lặng của tình yêu 

Sự im lặng của tình yêu 

“Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó. Bố không thể nói được như những ông bố khác. Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình” Lời người cha muốn nhắn nhủ tới cô con gái nhưng đã quá muộn… Vì có người bố bị câm điếc bẩm sinh nên cô gái thường xuyên trở thành mục tiêu bị trêu chọc của bạn bè ở trường. Từ việc phản kháng đến gây lộn với các bạn, cô gái dần trở nên ác cảm với chính người bố của mình.

Trong khi đó, dù không thể nghe, nói, như một người bình thường được, ông cũng phần nào hiểu được nỗi buồn của cô con gái mình cho dù ông luôn quan tâm, động viên, cố gắng làm con vui hơn trong mỗi bữa ăn của hai người. Dù người bố luôn cố gắng nhưng cô con gái lại tỏ ra khó chịu do bị bạn bè chế giễu.

Với tất cả tình yêu thương của một người cha, ông đã âm thầm chuẩn bị chiếc bánh mừng sinh nhật con gái và cùng với đó là những tâm sự ông muốn nhắn nhủ. “Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó. Bố không thể nói được như những ông bố khác. Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình”.

Đáng tiếc, lời nhắn nhủ đó của ông mãi mãi không được cô con gái biết đến. Người bố bế con tới bệnh viện với lời cầu xin “Con gái tôi, nó không thể chết” Vì sự muộn phiền và áp lực không thể vượt qua, cô gái đã tự tử đúng ngày sinh nhật của mình. Trong cơn tuyệt vọng, người bố bế thốc con tới bệnh viện, cầu xin các bác sỹ cứu sống cô con gái bé bỏng của mình dù có hết sạch tiền hay phải bán nhà với một hy vọng: “Con gái tôi, nó không thể chết”. Và cô con gái đã được cứu sống bằng những giọt máu và chính tính mạng của chính ông. Đến lúc này, cô con gái chỉ còn biết nắm tay cha và khóc. Những ký ức yêu thương về người cha hiện về với cô gái…

 Video clip câu chuyện

http://www.youtube.com/watch?v=qZMX6H6YY1M&feature=player_embedded

Đoạn clip trên có tên tiếng Anh “Silence of love”. Dù là đoạn phim của một hãng bảo hiểm Thái Lan nhưng chỉ ít ngày đăng tải trên youtube, hơn 600.000 lượt truy cật cùng hàng nghìn bình luận về tình yêu thương mà người cha dành trọn cho cô con gái.

Một trong số bài bình luận của đọc giả:

 This is really sad love story. Well you could hear his voice at 1:21 and I start to cry when he’s in front of a doctor. His expression makes me understand clearly that he can give everything for the one dear to him; then 2:15 he’s carrying his child and he can’t yell at anyone to ask for help in that situation. I too asked myself what should I do. I watched it 5 times and am still crying. Love it !

Bên cạnh thông điệp: “không có người cha hoàn hảo mà chỉ có người cha luôn dành yêu thương hoàn hảo nhất cho những đứa con của mình”, đó còn là lời nhắn nhủ tới các bạn trẻ biết gạt qua chút ích kỷ cá nhân để quan tâm hơn tới cha mẹ, gia đình và những người xung quanh.

(ST) From: NguyenNThu