TIN VÀ KHÔNG TIN

Chuyện tuổi Xế Chiều  – Công Tú Nguyễn

Một người đàn ông đi vào tiệm hớt tóc quen thuộc để cắt tóc và cạo râu như thường lệ. Ông ta bắt đầu buôn chuyện với người thợ phục vụ cho mình. Họ nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi vô tình họ đụng đến đề tài Chúa trời.

Người thợ cắt tóc nói: “Tôi chẳng tin trên đời này có Thượng Đế như ông đã nói”.

Người khách: “Sao ông lại nói thế?”.

“Chuyện đó cũng dễ thôi, chỉ cần ông bước ra đường là thấy ngay trên đời này chẳng có Chúa trời gì ráo. Nếu thực sự Ngài có tồn tại thì tại sao trên đời này lại có nhiều người bệnh tật như vậy? Sao còn rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu có Chúa, trên đời này sẽ chẳng có đau khổ. Tôi không thể nghĩ nỗi là Chúa nào lại chấp nhận nhìn những cảnh đó xảy ra”.

Người khách lặng im suy nghĩ nhưng rồi ông không nói gì vì không muốn câu chuyện trở thành cuộc khẩu chiến. Người thợ cắt tóc làm xong công việc của mình và vị khách hàng bước ra khỏi tiệm. Vừa ra ngoài ông liền nhìn thấy một người đàn ông trên đường tóc tai râu ria bù xù (như thể đã lâu lắm rồi ông ta không cắt tóc cạo râu vậy, trông rất bê bối).

Người khách liền quay lại cửa tiệm và nói với người thợ cắt tóc:

“Ông biết gì không? Trên đời này làm gì có thợ cắt tóc”.

“Sao lại không? Tôi đang ở đây và tôi là thợ cắt tóc”.

“Không hề”, vị khách trả lời: “Nếu có thợ cắt tóc thì sao vẫn còn những người tóc tai, râu ria bù xù như người đàn ông đang đi trên đường kia?”.

“À, thợ cắt tóc thì có chứ, chỉ tại những người kia không chịu đến tiệm cắt tóc mà thôi”.

“Chính xác!”. Vị khách như chỉ đợi câu nói đó.

“Đó là điều mà tôi muốn nói. Thượng Đế có tồn tại, chỉ là người ta không tin và không tìm đến Ngài mà thôi. Đó là lý do vì sao trên đời này lại có nhiều khổ đau đến như vậy”.

St


 

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

GEMENI tra loi:

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo (1975–1979), ước tính có từ 1,5 triệu đến 2 triệu người thiệt mạng, tương đương khoảng 20% đến 25% dân số Campuchia thời bấy giờ.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  • Hành quyết và thảm sát: Hàng trăm nghìn người bị quy kết là “kẻ thù của cách mạng” (bao gồm trí thức, quan chức chính quyền cũ, người dân tộc thiểu số và những người bị nghi ngờ không trung thành) bị giam giữ, tra tấn và sát hại tại các trại cải tạo và “cánh đồng chết”.
  • Lao động khổ sai và đói khát: Chính sách cưỡng bức di dời toàn bộ dân cư từ thành thị về nông thôn để thực hiện mô hình nông nghiệp tập trung dẫn đến tình trạng kiệt sức và nạn đói nghiêm trọng trên diện rộng.
  • Bệnh tật và thiếu y tế: Hệ thống y tế bị phá hủy hoàn toàn, thuốc men thiếu hụt cùng điều kiện sống tồi tàn khiến vô số người chết vì các bệnh truyền nhiễm.

Một số số liệu từ các tổ chức và nghiên cứu uy tín:

  • Chương trình Nghiên cứu Nạn diệt chủng Campuchia (Đại học Yale): Ước tính khoảng 1,7 triệu người (khoảng 21% dân số).
  • Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam): Dựa trên việc thống kê các hố sát hại tập thể, ước tính số nạn nhân dao động từ 1,7 triệu đến 2 triệu người.
  • Các ước tính tổng hợp khác: Tùy thuộc vào phương pháp thống kê, con số dao động trong khoảng từ 1,2 triệu cho đến gần 3 triệu người.

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Ngày 4/8/2026, Công an xã Mường Phăng triệu tập hai công dân L.T.Đ và L.T.A. Lý do: họ đã bấm theo dõi trang Facebook “Hoàng Dũng”.

Không phải chia sẻ bài viết. Không phải bình luận. Không phải viết status thể hiện quan điểm. Chỉ đơn giản là bấm nút theo dõi, một hành động mà hàng triệu người dùng mạng xã hội thực hiện mỗi ngày mà không hề nghĩ đó có thể là vấn đề.

Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều đó. Theo dõi một trang Facebook có nghĩa là bạn muốn thấy nội dung của trang đó xuất hiện trên newsfeed của mình. Nó không có nghĩa là bạn đồng ý với mọi thứ trang đó đăng. Nó không có nghĩa là bạn tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của trang đó. Nó chỉ đơn giản là một cú click để theo dõi thông tin, giống như bạn theo dõi hàng chục, hàng trăm trang khác về ẩm thực, du lịch, giải trí, tin tức.

Khi hành động đơn giản đó đủ để bị triệu tập lên đồn công an, thì ranh giới của những gì được coi là bình thường trên mạng xã hội đã bị thu hẹp đến mức đáng báo động.

Lý do được đưa ra thường là phòng ngừa thông tin xấu độc. Nghe có vẻ hợp lý ở bề mặt. Nhưng ai quyết định thông tin nào là xấu độc? Dựa trên tiêu chí nào? Có quy trình minh bạch nào để một trang mạng xã hội được xác định là nguồn thông tin xấu độc hay không, hay quyết định đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc trang đó có đăng tải điều gì khiến ai đó không hài lòng?

Khi không có tiêu chí rõ ràng, thì bất kỳ trang nào, bất kỳ quan điểm nào khác với luồng chính thống đều có thể bị gán nhãn xấu độc, và bất kỳ ai theo dõi trang đó đều có thể trở thành đối tượng bị triệu tập.

Quyền tự do ngôn luận không chỉ là quyền được nói. Nó còn bao gồm quyền được nghe, được tiếp cận thông tin đa chiều, được tự mình quyết định nguồn tin nào mình muốn theo dõi và tự mình đánh giá độ tin cậy của thông tin đó. Đó là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Khi việc theo dõi một trang thông tin trở thành hành vi có thể bị triệu tập, thì quyền tiếp cận thông tin đa chiều đó không còn tồn tại trên thực tế nữa, dù nó vẫn được ghi trong văn bản pháp luật.

Có một nghịch lý đáng chú ý trong cách xử lý này. Nếu nội dung trên trang Facebook đó thực sự sai sự thật, thực sự nguy hiểm, thực sự cần được ngăn chặn, thì cách xử lý hợp lý là chứng minh nó sai, phản bác bằng thông tin chính xác, hoặc xử lý người quản lý trang đó theo đúng quy trình pháp lý.

Nhưng việc truy tìm và triệu tập những người chỉ đơn thuần theo dõi trang đó lại là một cách tiếp cận khác hoàn toàn. Nó không nhằm vào nguồn thông tin. Nó nhằm vào người tiếp nhận thông tin. Và điều đó tạo ra hiệu ứng răn đe rộng hơn nhiều: không chỉ người viết phải sợ, mà cả người đọc cũng phải sợ.

Khi nỗi sợ đó lan rộng, điều gì sẽ xảy ra? Người dân sẽ tự kiểm duyệt không chỉ những gì họ viết, mà cả những gì họ đọc, những gì họ theo dõi, những trang nào họ dám bấm like. Không gian thông tin sẽ dần thu hẹp lại, không phải vì bị cấm một cách công khai và rõ ràng, mà vì mỗi người tự rút lui khỏi những nguồn thông tin có thể mang lại rủi ro, dù họ không biết chính xác rủi ro đó là gì.

Các chuyên gia pháp lý quốc tế đã nhấn mạnh rằng quyền tự do thông tin là nền tảng của một xã hội văn minh. Việc quy chụp hành vi theo dõi một trang cá nhân thành vi phạm pháp luật không bảo vệ được trật tự xã hội. Nó chỉ cho thấy sự bất an của một hệ thống trước những tiếng nói độc lập, trước khả năng người dân tự tiếp cận thông tin và tự hình thành quan điểm của riêng mình mà không cần thông qua kênh chính thống.

Một hệ thống tự tin vào tính đúng đắn của mình không cần phải sợ một nút like. Khi nó sợ, đó chính là lúc câu hỏi về sự tự tin đó cần được đặt ra nghiêm túc nhất.


 

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

Chân Trời Mới Media

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

“Phản động”, “thế lực thù địch” đó là những cụm từ mà công an Việt Nam dùng để gán cho những người bất đồng chính kiến. “Các đối tượng thiếu hiểu biết”, “tiếp tay cho phản động” là những cụm từ dùng để gán tội cho những người tương tác với các kênh truyền thông độc lập. Vì thế, đây không còn là chiến dịch trấn áp, mà còn là một nỗi sợ. Vậy, tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại “sợ” truyền thông?

Vừa qua vào ngày 5/08/2026, Bà Nguyễn Phương Hằng đã livestream trên nền tảng tiktok thu hút hơn 2 triệu lượt xem trước khi bị đánh sập. Trong nội dung livestream, có đoạn bà nhắc đến bê bối của các cựu quan chức của Việt Nam với cái tên “anh Hai”, “anh Ba”, “anh Tư”, “anh Bảy”. Dư luận nhận ra bà đang muốn nhắn đến ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Xuân Phúc. Nên phiên livestream diễn ra được khoảng một tiếng thì bị đánh sập do “đưa tin thiếu kiểm chứng”.

Một phiên live thu hút được hàng triệu view, một con số được cho là quá lớn. Nội dung thì lại thu hút dư luận, các cái tên được Bà Hằng nhắc đến, dư luận hiện tại vẫn đang bàn tán xôn xao. Vì thế, nhiều người nhận định, đó là lý do tại sao nhà cầm lại “sợ” truyền thông. Vì sức ảnh hưởng thì quá lớn, mà lại còn nằm ngoài sự kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước, nên “sợ là phải”.

#NguyenPhuongHang #Livetream #chantroimoi 


 

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

GEMINI tra loi:

Số lượng người chết dưới thời Mao Trạch Đông (1949–1976) không có một con số thống nhất tuyệt đối do sự thiếu hụt tài liệu chính thức từ chính phủ Trung Quốc và sự khác biệt trong phương pháp thống kê của các nhà sử học. Tuy nhiên, phần lớn các ước tính độc lập và nghiên cứu lịch sử uy tín đưa ra tổng con số tử vong dao động từ 40 triệu đến 80 triệu người.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  1. Đại nhảy vọt và Nạn đói lớn (1958–1962):
    • Đây là chiến dịch gây ra số lượng tử vong lớn nhất do chính sách tập thể hóa nông nghiệp và quản lý kinh tế yếu kém.
    • Hầu hết các nhà nhân khẩu học và sử học (như Dương Kế Thằng, Frank Dikötter, Judith Banister) ước tính số người chết vì đói và bị bạo hành trong giai đoạn này khoảng từ 30 triệu đến 45 triệu người.
  2. Cách mạng Văn hóa (1966–1976):
    • Các cuộc đấu tố, thanh trừng nội bộ do Hồng vệ binh và quân đội thực hiện dẫn đến bạo lực diện rộng.
    • Con số tử vong do bạo lực, tự sát hoặc bị đàn áp ước tính khoảng 1 triệu đến 3 triệu người.
  3. Cải cách ruộng đất và các chiến dịch đàn áp chính trị (1949–1957):
    • Bao gồm Cải cách ruộng đất, Chiến dịch tiêu diệt phản cách mạng, và Chiến dịch Chống phe Hữu.
    • Số lượng địa chủ, đối thủ chính trị và tầng lớp trí thức bị hành quyết hoặc chết trong các trại cải tạo ước tính từ 1 triệu đến 5 triệu người.
  4. Hệ thống trại cải tạo lao động (Lao cải):
    • Hàng triệu người đã trải qua các trại lao cải trong nhiều thập kỷ, với con số tử vong do điều kiện khắc nghiệt và bị ngược đãi ước tính từ vài triệu đến 20 triệu người tùy theo phạm vi tính toán của các nhà nghiên cứu.

Tóm tắt các nguồn ước tính tiêu biểu:   

  • Chính sử / Giới nghiên cứu độc lập phương Tây & Trung Quốc (Yang Jisheng, Frank Dikötter, Daniel Leese): Ước tính khoảng 40 – 45 triệu người.
  • Một số sách nghiên cứu như Cuốn sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản (The Black Book of Communism) hoặc tiểu sử Mao của Jung Chang & Jon Halliday: Ước tính từ 65 triệu đến 70 triệu người.
  • Ước tính cao nhất (R.J. Rummel): Lên tới 77 triệu người.

 

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi:

GEMINI Tra loi:

Ước tính số người thiệt mạng dưới chế độ của Joseph Stalin (từ khoảng năm 1924 đến 1953) vẫn là một chủ đề có nhiều sự khác biệt giữa các nhà lịch sử, do tính chất phức tạp của việc truy cập hồ sơ lưu trữ và cách phân loại nguyên nhân tử vong (hành quyết trực tiếp, chết trong trại cải tạo Gulag, hay chết vì nạn đói).

Các con số ước tính phổ biến bao gồm:

  • Tài liệu lưu trữ chính thức của Liên Xô (sau năm 1991): Các nhà lịch sử truy cập hồ sơ lưu trữ chính thức sau khi Liên Xô sụp đổ ước tính có khoảng 6 đến 9 triệu người thiệt mạng do các chính sách trực tiếp và gián tiếp của Stalin. Trong đó:
    • Hành quyết chính trị: Khoảng 800.000 đến 1,2 triệu người bị tuyên án tử hình và hành quyết (đặc biệt trong thời kỳ Đại thanh trừng 1937–1938).
    • Hệ thống trại Gulag: Khoảng 1,5 đến 1,7 triệu người chết do điều kiện khắc nghiệt, bệnh tật và kiệt sức trong các trại lao động cải tạo.
    • Cưỡng bức di dời và lưu tày: Khoảng 500.000 đến 1 triệu người thiệt mạng trong quá trình di dời hàng loạt các sắc tộc và đối tượng chính trị.
    • Nạn đói (1932–1933): Khoảng 3,5 đến 5 triệu người chết vì nạn đói do chính sách tập thể hóa nông nghiệp, đặc biệt là sự kiện Holodomor tại Ukraine và nạn đói ở Kazakhstan.
  • Ước tính của các nhà nghiên cứu phương Tây (trước và sau thời kỳ Mở cửa): Trước khi hồ sơ lưu trữ được công bố, một số nhà lịch sử phương Tây (như Robert Conquest) đưa ra con số cao hơn nhiều, ước tính từ 15 đến 20 triệu người tử vong khi tính gộp cả nạn đói đại trà, tử vong trong chiến dịch giải thể tầng lớp phú nông (Kulak), và điều kiện sống khắc nghiệt thời chiến.

Tổng hợp lại, đa số các nhà lịch sử hiện đại đồng thuận rằng con số tử vong trực tiếp và gián tiếp do các chính sách của Stalin nằm trong khoảng từ 6 triệu đến 20 triệu người.

Con trai tiết lộ Biden bị ung thư di căn, rất đau đớn

Ba’o Nguoi-Viet

August 9, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến (tiền liệt tuyến) của cựu Tổng Thống Joe Biden lan ra bộ phận khác của cơ thể và làm ông đau đớn, con trai ông tiết lộ, theo CBS News hôm Thứ Bảy, 8 Tháng Tám.

Trong cuộc phỏng vấn với BBC News cuối hôm Thứ Sáu, ông Hunter Biden trở nên xúc động khi nói về tình trạng thân phụ ông. Ông cho hay tình trạng của vị cựu tổng thống nhìn rất đau lòng.

Cựu Tổng Thống Joe Biden phát biểu trong buổi gây quỹ cho đảng Dân Chủ South Carolina tại Columbia Museum of Art ở Columbia, South Carolina hôm 27 Tháng Hai. (Hình minh họa: Sean Rayford/Getty Images)

“Bệnh ung thư đã lan ra, di căn vào xương và nhiều chỗ,” ông Hunter Biden cho biết. “Ông rất đau đớn và suy yếu rất nhiều.”

Ông Hunter Biden nói thêm, “Nhìn rất đau lòng. Về sức khỏe của ông ngay lúc này, tôi chỉ muốn nói ước gì ông than phiền nhiều hơn, vì không tốt.”

Nhưng ông Hunter Biden nhấn mạnh thân phụ ông vẫn “còn đó,” công khai lên tiếng về những vấn đề quan trọng đối với ông.

“Ông vẫn làm công việc của mình,” ông Hunter Biden nói. “Ông vẫn tin tưởng đất nước này.”

Cựu Tổng Thống Biden, 83 tuổi, từng là tổng thống đương nhiệm lớn tuổi nhất lịch sử Mỹ, và tuổi tác của ông là điều khiến người ta lo ngại hầu như suốt bốn năm ông làm tổng thống. Cả ông lẫn nhóm cố vấn của ông ở Tòa Bạch Ốc đều bị chỉ trích kịch liệt vì bị nghi che giấu mức độ bệnh tật của ông, đặc biệt sau khi ông bị ép buộc dừng tái tranh cử năm 2024 sau màn tranh luận tệ hại với ông Donald Trump, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa lúc đó và cuối cùng, là người kế nhiệm ông Biden.

Tháng Năm năm ngoái, chưa đầy bốn tháng sau khi hết nhiệm kỳ, cựu Tổng Thống Biden công bố bị ung thư. Lúc đó, văn phòng ông loan báo ông bị ung thư giai đoạn cuối.

Tháng Chín năm ngoái, ông Biden cũng được mổ để điều trị bệnh ung thư da. Và hồi Tháng Mười, ông được xạ trị thêm một đợt để điều trị bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến, văn phòng ông cho hay.

Trong cuộc phỏng vấn của CBS News hồi Tháng Năm, cựu Đệ Nhất Phu Nhân Jill Biden cho biết gia đình bàng hoàng khi hay tin ông bị ung thư. Bà cũng tỏ ý nói bác sĩ không phát giác ông bị ung thư lúc ông làm tổng thống.

Cựu Tổng Thống Biden sẽ xuất bản quyển hồi kỳ “Promise Me, America” (Tạm dịch: “Hãy Hứa Với Tôi, Nước Mỹ”) sau cuộc bầu cử giữ nhiệm kỳ vào Tháng Mười Một. (Th.Long) [dt]


 

ĐỂ ĐƯỢC CẢ ĐỒNG LÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình!”.

Bị buộc phải trao nộp kho báu của Giáo Hội, Thánh Laurensô chỉ vào người nghèo. Câu trả lời ấy đã được ngài đóng ấn bằng máu. Từ đó, Tin Mừng về hạt lúa bắt đầu được sống.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt lúa không sợ mục nát; nó chỉ sợ nằm mãi trong kho. Chỉ khi dám đi vào lòng đất, nó mới có thể sinh nhiều bông hạt. Lời Chúa hôm nay mặc khải nghịch lý ấy: chết không phải để mất, nhưng ‘để được cả đồng lúa’.

“Chết” là điều kiện của sự sinh. Bản Hy Lạp viết menei monos – “ở lại một mình”. Nếu không chết đi, hạt lúa vẫn nguyên vẹn, nhưng trơ trọi; không mất đi, nhưng cũng không bao giờ trở nên nhiều hơn nó. Vấn đề không còn là còn hay mất, nhưng là chấp nhận sự đơn độc hay được gieo xuống để sự sống được nhân lên. Đừng sợ những từ bỏ đớn đau, vì trong tay Đấng Tạo Hoá, tiêu hao luôn là khởi đầu của cả một mùa vàng. “Tôi phải học cách rời bỏ chính mình để tìm lại chính mình!” – Thomas Merton.

Nơi Laurensô, “cho” không còn là một hành vi đạo đức, nhưng là cách Tin Mừng được trao truyền. Gieo ít hay nhiều không còn là chuyện tính toán, nhưng là để ân sủng của Thiên Chúa lan rộng – bài đọc một. Của cải không còn được đo bằng điều giữ lại, nhưng bằng điều con người dám hiến trao; Thiên Chúa không đếm những gì con người cất giữ, nhưng làm lớn lên những gì họ gieo xuống. Người nghèo vì thế không chỉ là đối tượng của lòng bác ái, nhưng trở thành kho báu sống động của Giáo Hội; chính nơi họ, những hạt lúa của lòng quảng đại bắt đầu nảy mầm. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Phúc thay người biết cảm thông và cho vay mượn!”.

Vậy mà đó lại là điều con người sợ nhất. Chúng ta sợ mất nên giữ lại; sợ thiệt nên co rút; sợ bị lấy đi nên không dám trao. Hạt lúa không mất, nhưng cũng không sinh. Điều nghịch lý là: càng cố giữ, sự sống càng thu hẹp; càng tự bảo vệ, lòng người càng nghèo đi. Chỉ khi dám mục nát, đời người mới có thể trở thành cánh đồng ơn phước. Henri de Lubac từng nhận định: con người chỉ đạt tới sự viên mãn khi biết trao hiến. Đó cũng là lúc hạt lúa bắt đầu thuộc về người khác. Mất mát dưới bàn tay ân sủng không bao giờ là sự cạn kiệt, nhưng là chuẩn bị cho một mùa gặt vĩnh cửu.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về hạt lúa, Ngài chính là Hạt Lúa ấy. Đến từ Thiên Chúa, Ngài tự nguyện đi vào lòng đất của thế gian để khai mở một mùa gặt mới cho nhân loại. Vì thế, thập giá không còn là lời cuối của cái chết, nhưng là nơi sự sống bẻ tung mọi giới hạn của cái chết để sinh sôi. Chỉ khi ở trong Đức Kitô, hạt lúa đời chúng ta mới thôi trơ trọi; chỉ khi kết hiệp với Ngài, mọi mất mát mới có thể làm nên cả đồng lúa. “Hạt lúa là chính Đức Giêsu. Hoa trái là sự sống dồi dào mà Người đã đạt được cho chúng ta nhờ thập giá!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con cứ giữ mình nguyên vẹn; cho con biết trao đi không tiếc, biết yêu không giữ lại; để đời con cũng trổ sinh những cánh đồng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thánh Laurensô Phó tế, tử đạo – 10/8

Thứ Hai Tuần XIX Thường Niên:

https://h1.nu/1vCq2

Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 12,24-26

24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”


 

 JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Hoai Linh Ngoc Duong

 JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Có những lúc chính trị nên im tiếng để nhường chỗ cho tình người.

Trong cuộc phỏng vấn được phát sóng những ngày qua, Hunter Biden đã nghẹn ngào khi nói về người cha 83 tuổi của mình. Căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt của cựu Tổng thống Joe Biden đã di căn vào xương và xa hơn.

Hunter nói rằng nó “rất đau đớn” và khiến cha ông suy kiệt về nhiều mặt. Đó là một thông tin buồn, dù chúng ta cần thận trọng rằng gia đình Biden chưa nói ông đang ở những ngày cuối đời. (Reuters⁠)

Nhưng có lẽ chính vào những thời khắc như thế này, con người mới cảm nhận sâu sắc nhất bốn chữ tưởng như đã quá quen thuộc: sinh, lão, bệnh, tử.

Một đời người có thể đi qua những hành lang quyền lực lớn nhất thế giới, có thể ngồi trong Thượng viện Hoa Kỳ, bước vào Nhà Trắng với tư cách phó tổng thống rồi tổng thống, có thể ký những đạo luật ảnh hưởng đến hàng trăm triệu con người.

Nhưng cuối con đường, trước bệnh tật, một tổng thống cũng chỉ là một con người. Quyền lực không thể ra sắc lệnh cho những tế bào ung thư ngừng phát triển. Danh vọng không thể thương lượng với tuổi già. Tiền bạc có thể đem lại những phương pháp điều trị tốt nhất, nhưng không thể mua được sự bất tử.

Có lẽ đó chính là bài học nhân sinh lớn nhất mà bệnh tật nhắc lại cho tất cả chúng ta: quyền lực rồi sẽ hết, chức vụ rồi sẽ trao lại, những cuộc tranh cãi chính trị rồi sẽ trở thành vài trang trong sách sử. Cuối cùng điều còn lại là một con người đã sống như thế nào và để lại điều gì cho những người đến sau.

Cuộc đời Joe Biden, bất kể người ta đánh giá những quyết định chính trị của ông ra sao, là một cuộc đời rất dài trong nền dân chủ Mỹ.

Ông bước vào Thượng viện năm 1973 khi mới 30 tuổi và ở đó suốt 36 năm, chứ không chỉ 30 năm. Sau đó là tám năm làm phó tổng thống dưới thời Barack Obama và bốn năm làm Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. (U.S. Senate⁠)

Nhưng phía sau con đường chính trị ấy là một cuộc đời nhiều mất mát.

Chỉ vài tuần sau khi Biden lần đầu đắc cử thượng nghị sĩ năm 1972, người vợ Neilia và cô con gái nhỏ Naomi chết trong một tai nạn xe hơi; hai người con trai Beau và Hunter bị thương.

Biden đã tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ ngay trong bệnh viện nơi các con đang điều trị. Sau đó, ông lựa chọn mỗi ngày đi lại giữa Delaware và Washington để có thể trở về với các con vào buổi tối. (Joe Biden⁠)

Vì thế mới có một “Amtrak Joe” rất khác với hình ảnh của một chính trị gia Washington: một người cha trên chuyến tàu trở về nhà sau giờ làm việc.

Hàng chục năm sau, bi kịch lại tìm đến gia đình ấy. Beau Biden mắc ung thư não. Trong những ngày con trai bệnh nặng, Joe Biden từng tính đến chuyện bán căn nhà của mình để bảo đảm gia đình Beau không gặp khó khăn tài chính nếu Beau phải nghỉ việc. Barack Obama khi biết chuyện đã đề nghị giúp đỡ để Biden không phải bán nhà.

Chi tiết ấy có ý nghĩa không phải bởi một phó tổng thống nghèo hay giàu. Nó đáng nhớ bởi trong khoảnh khắc ấy, chức danh “Phó Tổng thống Hoa Kỳ” bỗng trở nên nhỏ bé trước hai chữ người cha.

Một người cha có thể ngồi cách Tổng thống Hoa Kỳ vài bước trong Phòng Bầu dục, nhưng khi con mình mắc bệnh hiểm nghèo, ông cũng suy nghĩ như hàng triệu người cha bình thường khác: nếu cần, tôi sẽ bán những gì mình có để con và gia đình của con được bình an.

Beau qua đời năm 2015, mới 46 tuổi.

Và hôm nay, vòng quay nghiệt ngã của đời người lại đảo chiều: người cha từng đứng bên giường bệnh của con giờ trở thành người bệnh; Hunter Biden, người con từng được cha chăm sóc sau tai nạn khi còn nhỏ, giờ phải nhìn người cha già chống chọi với căn bệnh ung thư.

Có lẽ không có triết lý nào về vô thường mạnh mẽ hơn chính cuộc đời.

Joe Biden không phải một vị thánh. Không một chính trị gia dân chủ nào nên được biến thành thánh. Ông đã có những quyết định đúng, những quyết định sai, những thành tựu và những thất bại. Chính bản chất của dân chủ đòi hỏi người dân được quyền phê phán tất cả những điều đó.

Nhưng có một điểm đáng được ghi nhận: Biden dành hơn nửa thế kỷ hoạt động trong những định chế của nền dân chủ Hoa Kỳ. Ông thắng bầu cử, ông từng thất bại trong những cuộc tranh cử tổng thống, ông tranh luận với đối thủ, thương lượng với Quốc hội và cuối cùng rời quyền lực khi nhiệm kỳ kết thúc.

Trong Thượng viện, ông từng giữ những vị trí hàng đầu tại Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Đối ngoại và là tác giả quan trọng của Violence Against Women Act. (Joe Biden⁠) Trong tám năm làm phó tổng thống, ông tham gia chính quyền Obama trong quá trình phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính và thông qua Affordable Care Act. (Joe Biden⁠)

Khi làm tổng thống, chính quyền Biden thông qua những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, trong đó có khoảng 66 tỷ USD dành cho đường sắt – một sự trùng hợp đẹp đối với người đàn ông đã dành phần lớn đời nghị sĩ trên những chuyến tàu Amtrak. (AP News⁠)

Và một trong những chủ đề lớn nhất những năm cuối sự nghiệp chính trị của Biden chính là bảo vệ nền dân chủ.

Có thể đồng ý hoặc không đồng ý với cách ông thực hiện điều đó. Nhưng trong bài phát biểu chia tay tại Phòng Bầu dục tháng 1/2025, Biden vẫn cảnh báo nước Mỹ về nguy cơ hình thành một tầng lớp tài phiệt khi tiền bạc và quyền lực tập trung quá mức trong tay một số ít người. (Reuters⁠)

Đó cũng là điều đẹp đẽ của một nền dân chủ: không cần yêu một tổng thống mới có thể ghi nhận những gì ông đã cống hiến; không cần phủ nhận những sai lầm của ông mới có thể cảm thông với nỗi đau của ông.

Bởi đến trước bệnh tật, những nhãn hiệu Democrat hay Republican cuối cùng đều trở nên thứ yếu.

Năm 2025, khi thông báo mình mắc ung thư tuyến tiền liệt thể ác tính cao, Gleason 9, đã di căn xương, Biden từng viết một câu rất giản dị: “Cancer touches us all” – ung thư chạm đến tất cả chúng ta. (CBS News⁠)

Có lẽ không cần một diễn văn nào dài hơn thế.

Ung thư không hỏi chúng ta bỏ phiếu cho ai. Tuổi già không phân biệt tổng thống với người công nhân. Cái chết không biết đến quyền lực, tài khoản ngân hàng hay số người theo dõi trên mạng xã hội.

Rồi một ngày, tất cả chúng ta đều phải rời khỏi chiếc ghế mình đang ngồi.

Và vì vậy, giá trị cuối cùng của một đời người có lẽ không nằm ở việc người ấy đã nắm bao nhiêu quyền lực, mà ở câu hỏi giản dị hơn: khi còn có quyền lực trong tay, người ấy đã sử dụng nó để làm gì?

Khi còn thời gian, người ấy đã dành nó cho ai? Và khi ra đi, người ấy để lại cho những thế hệ sau một xã hội tốt hơn hay tồi tệ hơn xã hội mà mình từng nhận được?

Joe Biden đã đi một hành trình rất dài: từ chàng trai 29 tuổi đắc cử Thượng viện; người cha tuyên thệ bên giường bệnh của những đứa con vừa mất mẹ và em gái; người nghị sĩ hàng chục năm sáng đi Washington, tối trở về Delaware; người cha từng nghĩ đến chuyện bán nhà vì tương lai gia đình của đứa con mắc ung thư; rồi phó tổng thống, tổng thống và cuối cùng lại trở về làm một ông già ở tuổi 83 đang chống chọi với bệnh tật.

Một vòng đời gần như đã đi qua tất cả những gì con người có thể trải nghiệm: thành công và thất bại, quyền lực và mất mát, vinh quang và nước mắt, được và mất, gặp gỡ và chia lìa.

Hôm nay có lẽ không phải lúc để hỏi Joe Biden thuộc đảng nào.

Chỉ nên cầu mong những phương pháp điều trị có thể giúp ông giảm bớt đau đớn, và mong Jill, Hunter, Ashley cùng những người thân có đủ sức mạnh để ở bên ông trong giai đoạn khó khăn này.

Bởi phía sau danh xưng “Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ”, cuối cùng vẫn chỉ là Joe – một người chồng, một người cha, một người ông và một con người đang đi qua quy luật khắc nghiệt mà không ai trong chúng ta có thể trốn tránh:

Sinh – lão – bệnh – tử.

Và có lẽ khi đứng trước giới hạn cuối cùng ấy, điều đáng quý nhất mà con người có thể để lại không phải là quyền lực.

Mà là dấu chân của mình trong cuộc đời những người còn ở lại. 


 

HÀNH TRÌNH NHÌN LẠI – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong một đoạn rất sâu sắc trong bài thơ Chiếc lá và Đám mây (The Leaf and the Cloud), Mary Oliver đã họa lên hình ảnh mình đang đứng cạnh mộ cha mẹ, nghĩ về cuộc đời của họ.  Họ không phải là hình ảnh hoàn hảo và bà cũng không tô lên cho đẹp những sai lỗi của họ.  Bà nói thẳng về tâm hồn nặng nề của mẹ, về đức tin non nớt của cha.  Bà biết nhiều chuyện khó khăn của bà phát xuất từ đó.  Tuy nhiên, bà không đi thăm mộ cha mẹ để trách họ.  Bà đến đó để thật tâm hôn từ biệt họ, cuối cùng bà thấy bình an với cuộc đời không hoàn hảo và ảnh hưởng của cha mẹ trên cuộc đời mình.  Bà cám ơn họ vì mọi sự, cả tốt và xấu, cầu chúc họ mọi sự tốt đẹp dưới lòng đất sâu, rồi bà nói, “nhưng tôi sẽ không tặng cha mẹ tôi nụ hôn đồng tình.  Tôi sẽ không để họ có trách nhiệm trên đời tôi.” 

Tất cả chúng ta có lẽ nên làm cuộc hành trình nhìn lại này bằng cách xem lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của mình.  Đây là cả một điều đáng để xem lại.  Tiếc là nhiều người trong chúng ta không bao giờ lưu lại đủ lâu để xác định xem điều gì mang lại ân phúc, điều gì mang lại tổn thương khi một tác nhân dễ sai lầm là con người giới thiệu Thiên Chúa cho chúng ta.  Ngày nay, chuyện phổ biến, thậm chí còn là thời thượng khi người ta chỉ xem lại những gì tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Đúng là nhiều người nói về “tái sinh” khỏi giáo dục tôn giáo và thường quy mọi bất hạnh và rối loạn trong đời họ cho giáo dục tôn giáo này.

 Chắc chắn, một số khẳng định như thế là có lý, giáo dục tôn giáo thuở nhỏ thật sự để lại một dấu tích không phai trong chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm với bản thân, với cha mẹ, giáo viên thời thơ ấu và với sự trung thực, trong việc phải xác định những điều tích cực và tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Và như bà Mary Oliver, chúng ta cần làm hòa với nó, dù chúng ta không thể tặng cho nó nụ hôn đồng tình. 

Câu chuyện của riêng tôi là gì?  Với tôi, sự tỉnh ngộ về ý thức và tỉnh ngộ về Thiên Chúa và Giáo hội là hai điều liên kết không thể phân ly.  Tôi hấp thụ bầu khí Công giáo La-mã thời đó, và đó là công giáo thời tiền Vatican II, một tinh thần công giáo đầy những chuyện tiêu cực lẫn tích cực.  Lòng đạo thuở nhỏ của tôi là những chân lý tuyệt đối, những luật không thể thương lượng, nhưng lại đòi hỏi cao, cả tính bè phái và hạn hẹp bao gồm.  Chúng ta và chỉ chúng ta mới có đức tin thật, duy nhất.  Hơn nữa, những điều này được viết ra bởi một Thiên Chúa theo dõi sát sao hành động con người, không dễ dàng cho phép chúng ta lỗi phạm, giữ điều răn thứ sáu trên tất cả, dùng xấu hổ làm khí cụ và thường hay cau mày giận dữ. 

Nhưng đó còn lâu mới là tất cả.  Mặt tích cực của nó thì có quá nhiều.  Gia đình, cộng đoàn, và Giáo hội đã rửa tội cho tôi, có những mối liên kết chung mà hầu hết các cộng đồng thời nay chỉ có thể ganh tị.  Bạn thật sự là một phần của một thân thể, một gia đình, một cộng đoàn là hiện thân của ý thức siêu việt đã làm cho đức tin thành điều tự nhiên, làm cho cộng đoàn thành một phần cuộc đời của bạn.  Bạn biết mình là con cái Thiên Chúa và bạn cũng biết mình là tạo vật luân lý có trách nhiệm thật sự với tha nhân và Thiên Chúa.  Bạn biết ý nghĩa bất diệt của mình, phẩm giá căn bản của mình và trách nhiệm luân lý đến từ đó và bạn không thể miễn trừ mình khỏi chuyện đó. 

Và tất cả những điều này truyền cho bạn một chân lý tôn giáo, luân lý, rất căn bản và không thể thương lượng, rằng sự sống của bạn không đơn thuần là của bạn để bạn muốn làm gì thì làm.  Bạn biết rằng trừ khi bạn bội tín, bạn không thể làm ngơ sự thật là bạn mang tính xã hội, phụ thuộc lẫn nhau, thuộc về Giáo hội, và sự thật rằng Thiên Chúa cho bạn xuất hiện trên đời không phải chỉ để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho riêng bạn.  Bạn có ơn gọi, một bổn phận nào đó để phục vụ, và Thiên Chúa, gia đình, cộng đoàn và Giáo hội có thể đòi hỏi bạn hy sinh mạng sống.  Ngày nay, tôi thấy phần này trong tâm hồn mình là một trong những ơn quý báu nhất tôi đã nhận được từ linh đạo thuở nhỏ.  Dù nó có kèm theo những con quái vật xấu xa nào, nó cũng vẫn xứng đáng. 

Thêm nữa, quái vật có thể bị xua trừ và hầu hết quái vật bị chôn trong giáo lý căn bản tôi học hồi nhỏ đã dần dần bị tiêu diệt qua năm tháng. Điều gì đã giúp làm được như thế? Nhiều điều lắm: những năm học và dạy thần học, đọc sách hay, có linh hướng tốt, thấy được sự lành mạnh hân hoan và thiết thực nơi những người có đức tin, kiên trì trong nỗ lực trung thành với việc cầu nguyện, thánh lễ và cộng đoàn Giáo hội suốt bảy thập kỷ, và cuối cùng, nhưng quan trọng, chính là nhờ ơn Thiên Chúa. 

Ngày nay, tôi có thể nhìn lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của tôi và thấy sự tiêu cực bị điều tích cực át hẳn.  Tôi biết ơn tất cả, kể cả những nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái, sợ hãi, và những nỗi sợ sai lầm về Thiên Chúa, bởi vì trong mọi sự này có gì đó đã truyền cho tôi và dạy tôi điều gì là quan trọng nhất. Thật vậy, sự nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái và cẩn trọng quá đáng không tệ để làm điểm xuất phát, vì khi dần thoát khỏi chúng, chúng ta được tự do suốt phần đời còn lại.  Một ơn không nhỏ!

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

CHÚA THƯỜNG MUỘN?- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.

“Thiên Chúa bắt chúng ta chờ đợi để làm lớn lên lòng khát khao; và khi khát khao đủ lớn, Ngài mở rộng tâm hồn để đón nhận điều sắp ban!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những đêm đợi chờ không vì Thiên Chúa vắng mặt, nhưng vì Ngài đang làm lớn lên nỗi khát. Tin Mừng hôm nay kể về một đêm như thế. Phải chăng ‘Chúa thường muộn?’.

Ngay từ đầu trình thuật, Matthêu đã kín đáo gieo một chi tiết mà chúng ta dễ bỏ qua. Sau phép lạ hoá bánh, Chúa Giêsu buộc các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia trước. Bản Hy Lạp viết proagein – đi “trước”. Nhưng “trước” ở đây không chỉ là trước về không gian hay thời gian; đó là một hành trình dẫn vào một điều lớn hơn. Các môn đệ chưa biết đêm ấy sẽ gặp điều gì; họ vâng lời. Chỉ khi bão nổi, họ mới hiểu: Chúa Giêsu không đưa họ sang một bờ bên kia nào khác, nhưng vào mầu nhiệm của chính Ngài; điều chỉ có thể hiểu được khi đã đi qua: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!”.

Nhưng tại sao Chúa Giêsu để các môn đệ đi trước, rồi mãi đến canh tư mới xuất hiện? Phải chăng Ngài ‘thường muộn?’. Không! Ngài không muộn, cũng không hề bỏ họ một mình giữa biển đêm. Ngài vẫn ở bên; chỉ có điều họ không nhận ra. Chỉ khi sức người chạm tới giới hạn, họ mới khám phá Đấng tưởng như vắng mặt chưa bao giờ rời xa. Điều con người gọi là ‘muộn’, nhiều khi lại chính là giờ của Thiên Chúa – giờ họ nhận ra Ngài. Bởi lẽ, Ngài không đến sau sức người, nhưng luôn đến trước tuyệt vọng. “Ai tin thì không bao giờ cô độc!” – Bênêđictô XVI.

Thiên Chúa không chỉ có “giờ”, mà còn có “cách” của Ngài. Êlia đã không gặp Chúa như mình chờ – bài đọc một; Phaolô không thấy lời hứa được thực hiện như mình mong – bài đọc hai. Con người tưởng Thiên Chúa vắng mặt nhiều khi không phải vì Ngài muộn, nhưng vì Ngài hiện diện không theo cách họ ước. Bởi vậy, Thánh Vịnh đáp ca trở thành lời cầu của mọi thời: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”.

Phần chúng ta, điều cần đổi không phải là “giờ” của Thiên Chúa, nhưng là cách đọc cuộc đời. Chúng ta vội xem im lặng là vắng mặt, chậm trễ là bỏ quên, bão tố là vắng Chúa; đang khi Ngài vẫn ở bên. Chỉ khi ngoảnh lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa chưa bao giờ muộn; chỉ có đức tin của chúng ta đến muộn. ‘Canh tư’ muộn màng hoá ra lại là khoảnh khắc chính xác nhất để ơn thánh ngỏ lời.

Anh Chị em,

Với Đức Kitô, trên thập giá, mọi sự đều như quá muộn: lời hứa, phép lạ, ngay cả sự sống. Nhưng chính nơi tưởng như Chúa Cha vắng mặt nhất, bình minh phục sinh đã dần hé rạng. Từ đó, giữa những ‘canh tư’ của cuộc đời, người Kitô hữu không còn hỏi: ‘Chúa thường muộn?’; cũng không còn đòi Chúa sớm cất dông bão, nhưng xác tín rằng giữa mọi phong ba, Ngài vẫn ở bên – Emmanuel. “Chờ đợi không phải là thụ động; đó là tin rằng điều đang xảy ra còn lớn hơn điều ta thấy!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con bỏ cuộc giữa những ‘canh tư’; chỉ biết trung thành với lối Chúa dẫn. Vì cuối mọi bờ bên kia là chính Đức Kitô – bến hẹn đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIX TN, NĂM A: 

https://sl1nk.com/o3p7jen

Ai nấy đều ăn và được no nê.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.