CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI SAU 1975…

 Tất cả những ai tại Sài Gòn bị tịch thu nhà, tài sản đều phải đi về vùng Kinh tế mới, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. Hơn 600.000 nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng Kinh tế mới và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.

Khi đến vùng Kinh tế mới để sống, họ phải tham gia vào các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:

– 30% trả thuế

– 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;

– 15% trả lương cho cán bộ quản lý;

– 30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động

Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế mới đã bị tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới, thế là gần cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.

Screenshot

Phát biểu tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội chung cả nước, ngày 25 tháng 6 năm 1976 ông Lê Duẩn chủ trương:

“ … ở miền Nam, những người trước đây nhờ chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ mà có một mức sống vật chất vượt xa khả năng của nền kinh tế trong nước và kết quả lao động của bản thân họ, nên hiểu rằng đó là một cuộc sống phồn vinh giả tạo, đổi bằng đau khổ, chết chóc của hàng triệu đồng bào, bằng sự triệt phá biết bao xóm làng, thị trấn, bằng sự sa đọa của biết bao thanh niên, bằng sự chà đạp nhân phẩm của biết bao phụ nữ ở các vùng tạm bị chiếm, và bằng nhục mất nước.

Họ nên hiểu rằng lối sống chạy theo những nhu cầu giả tạo theo kiểu “xã hội tiêu thụ”, đua đòi theo những thị hiếu tầm thường, hoàn toàn trái với cuộc sống hạnh phúc văn minh chân chính. Những đồng bào ấy ngày nay có thể và cần trở lại với thực tế, trở về với cuộc sống của dân tộc, sống bằng kết quả lao động của mình. Đó là con đường để tiến tới một cuộc đời tươi vui, đẹp đẽ, có ý nghĩa, có phẩm giá, có hạnh phúc thật sự và lâu bền cho chính mình và con cháu mình.”

Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà.

Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường trở về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.

Nguyễn Dương

 


 

CON RUỒI- Truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh

CON RUỒI – Nguyễn Nhật Ánh

Con ruồi nhỏ, nhỏ xíu, vậy mà cái nhỏ xíu đó đôi khi lại là nguyên nhân của những việc tày đình. Rất có thể hai vợ chồng đâm đơn ra tòa ly dị nhau chỉ bởi một con ruồi. Ai mà lường trước được những việc thần kỳ đó!

Tôi ốm. Ðiều đó vẫn thỉnh thoảng xảy ra cho những người khỏe mạnh. Và vợ tôi pha cho tôi một ly sữa. Tôi nốc một hơi cạn đến nửa ly và phát hiện ra trong ly có một con ruồi. Con ruồi đen bập bềnh trong ly sữa trắng, “đẹp” kinh khủng!

Thế là mọi chuyện bắt đầu.

Tôi vốn rất kỵ ruồi, cũng như gián, chuột, nói chung là kỵ tất thảy các thứ dơ bẩn đó. Tôi đang nằm mà nghe tiếng chuột bò sột soạt trong bếp là tôi không tài nào nhắm mắt được. Thế nào tôi cũng vùng dậy lùng sục, đuổi đánh cho kỳ được. Bằng không, thì cứ gọi là thức trắng đêm.

Vậy mà bây giờ, một trong những thứ tôi sợ nhất lại nhảy tót vào ly sữa tôi đang uống, và đã uống, nói trắng ra là nhảy tót vào mồm tôi. Biết đâu ngoài con ruồi chết tiệt trong ly kia, tôi lại chẳng đã nuốt một con khác vào bụng. Mới nghĩ đến đó, tôi đã phát nôn.

Thấy tôi khạc nhổ luôn mồm, vợ tôi bước lại, lo lắng hỏi:

– Sao vậy anh?

Tôi hất đầu về phía ly sữa đặt trên bàn:

– Có người chết trôi kia kìa!

Vợ tôi cầm ly sữa lên:

– Chết rồi! ở đâu ra vậy cà?

– Còn ở đâu ra nữa? Ố! Tôi nhấm nhẳng: Ố! Chứ không phải em nhặt con ruồi bỏ vào ly cho anh à?
Vợ tôi nhăn mặt:

– Anh đừng có nói oan cho em! Chắc là nó mới sa vào!

– Hứ, mới sa hay sa từ hồi nào, có trời mà biết?

Vì tôi đang ốm nên vợ tôi không muốn cãi cọ, cô ta nhận lỗi:

– Chắc là do em bất cẩn. Thôi để em pha cho anh ly khác.

Tôi vẫn chưa nguôi giận:

– Em có pha ly khác thì anh cũng đã nuốt con ruồi vào bụng rồi.

Vợ tôi trố mắt:

– Nó còn trong ly kia mà!

– Nhưng mà có tới hai con lận. Anh uống một con rồi.

– Anh thấy, sao anh còn uống?

– Ai mà thấy!

– Không thấy sao anh biết có hai con?

Tôi tặc lưỡi:

– Sao lại không biết? Uống vô khỏi cổ họng, nghe nó cộm cộm là biết liền.

Vợ tôi bán tín bán nghi. Nhưng vì tôi đang ốm, một lần nữa cô ta sẵn sàng nhận khuyết điểm:

– Thôi, lỗi là do em bất cẩn! Ðể em…

Tôi là tôi chúa ghét cái kiểu nhận lỗi dễ dàng như vậy. Do đó, tôi nóng nảy cắt ngang:

– Hừ, bất cẩn, bất cẩn! Sao mà em cứ bất cẩn cả đời vậy?

Vợ tôi giật mình:

– Anh bảo sao? Em làm gì mà anh gọi là bất cẩn cả đời?

– Chứ không phải sao?

– Không phải!

A, còn bướng bỉnh! Tôi nheo mắt:

– Chứ hôm trước ai ủi cháy cái quần của anh?

– Thì có làm phải có sai sót chứ! Anh giỏi sao anh chẳng ủi lấy mà cứ đùn cho em?

– Ái chà chà, cô nói với chồng cô bằng cái giọng như thế hả? Cô nói với người ốm như thế hả? Cô bảo tôi lười chảy thây chứ gì? Cô so sánh tôi với khúc gỗ phải không? Ái chà chà…

Thấy tôi kết tội ghê quá, vợ tôi hoang mang:

– Em đâu có nói vậy!

– Không nói thì cũng như nói! Cô tưởng cô giỏi lắm phỏng? Thế tháng vừa rồi ai làm cháy một lúc hai cái bóng đèn, tháng trước nữa ai phơi quần áo bị đánh cắp mà không hay? Cô trả lời xem!

Vợ tôi nhún vai:

– Anh lôi những chuyện cổ tích ấy ra làm gì? Hừ, anh làm như anh không bất cẩn bao giờ vậy? Anh có muốn tôi kể ra không? Tháng trước ai mở vòi nước quên tắt để cho nước chảy ngập nhà? Anh hay tôi? Rồi trước đó nữa, ai làm mất chìa khóa tủ, phải cạy tủ ra mới lấy được đồ đạc?

Tôi khoát tay:

– Nhưng đó là chuyện nhỏ nhặt! Còn cô, năm ngoái cô lấy mấy ngàn bạc cho bạn bè mượn bị nó gạt mất, sao cô không kể luôn ra?

– Chứ còn anh, sao anh không kể chuyện anh đi coi bóng đá bị mất xe đạp? Rồi năm ngoái, ai nhậu xỉn bị lột mất đồng hồ?

Cứ như thế, như có ma quỷ xui khiến, hai vợ chồng thi nhau lôi tuột những chuyện đời xửa đời xưa của nhau ra và thay nhau lên án đối phương, không làm sao dừng lại được. Tôi quên phắt là tôi đang ốm. Vợ tôi cũng vậy. Chúng tôi mải mê vận dụng trí nhớ vào việc lùng sục những khuyết điểm từng từng lớp lớp của nhau. Và thật lạ lùng, có những chuyện tưởng đã chìm lấp từ lâu dưới lớp bụi thời gian, tưởng không tài nào nhớ nổi, thế mà bây giờ chúng lại hiện về rõ mồn một và chen nhau tuôn ra cửa miệng. Từ việc tôi ngủ quên tắt radio đến việc vợ tôi mua phải cá ươn, từ việc tôi bỏ đi chơi ba ngày liền không về nhà đến việc vợ tôi đi dự sinh nhật bạn đến mười hai giờ khuya, v.v…và v.v… chúng tôi thẳng tay quậy đục ngầu quá khứ của nhau và vẽ lên trước mặt mình một bức tranh khủng khiếp về đối tượng.

Trời ơi! Thế mà trước nay tôi vẫn sống chung với con người tệ hại đó! Thật chẳng thể tưởng tượng nổi! Tôi cay đắng nhủ thầm và bùng dậy quyết tâm phá vỡ cuộc sống đen tối đó. Tôi đập tay xuống bàn, kết thúc cuộc tranh cãi:

– Thôi, tra khảo hành hạ nhau thế đủ rồi! Tóm lại là tôi hiểu rằng tôi không thể sống chung với cô được nữa. Tôi ngán tới tận cổ rồi!

Vợ tôi lạnh lùng:

– Tùy anh!

Câu đáp cộc lốc của vợ không khác gì dầu đổ vào lửa. Tôi nghiến răng:

– Ðược rồi! Cô chờ đấy! Tôi làm đơn xin ly hôn ngay bây giờ.

Tôi lập tức ngồi vào bàn và bắt đầu viết đơn. Ngòi bút chạy nhoáng nhoáng trên giấy với tốc độ 100 km/giờ. Viết và ký tên mình xong, tôi đẩy tờ đơn đến trước mặt vợ. Cô ta cầm bút ký rẹt một cái, thậm chí không thèm liếc qua xem tờ đơn viết những gì.

Thế là xong! Tôi tặc lưỡi và thở ra, không hiểu là thở phào hay thở dài. Cuộc đời cứ như xi-nê-ma, nhưng biết làm thế nào được?

Ký tên xong, vợ tôi đứng lên và cầm lấy ly sữa.

– Cô định làm gì đấy?

– Ðem đổ đi chứ làm gì?

– Không được, để ly sữa đấy cho tôi! Tôi phải vớt con ruồi ra, gói lại, đem đến tòa án làm bằng cớ.

Ðặt ly sữa xuống bàn, vợ tôi lẳng lặng đi vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại. Trong khi đó, tôi hùng hục lấy muỗng vớt con ruồi ra.

Tôi ngắm con ruồi nằm bẹp dí trên đầu muỗng và có cảm giác là lạ. Tôi đưa con ruồi lên sát mắt, lấy tay khảy nhẹ và điếng hồn nhận ra đó là một mẩu lá trà.


 

MƯA LỚN KHIẾN KHU VỰC BIÊN HÒA BỊ NGẬP NẶNG

Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói 

MƯA LỚN KHIẾN KHU VỰC BIÊN HÒA BỊ NGẬP NẶNG

Nhiều khu tại tỉnh Đồng Nai bị ngập nặng khi có mưa lớn. Đáng chú ý, điệp khúc “cứ mưa là ngập” không những không cải thiện mà còn trở nên tồi tệ hơn suốt nhiều năm qua.

Ngày 8/10/2026, Báo Mới đưa tin tuyến đường Đồng Khởi gần khu vực chợ Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị ngập nặng mỗi khi có mưa lớn. Dòng nước đổ về ngã ba Trảng Dài và chợ Tân Hiệp thường xuyên chảy cuồn cuộn với vận tốc lớn như lũ quét, cuốn trôi hàng loạt xe máy của người đường. Đây là hệ quả của việc quy hoạch chưa tính toán kỹ về vấn đề thoát nước.

Dòng nước bị ô nhiễm, chảy xiết làm mất hoàn toàn tầm nhìn của người đi đường. Người dân không thể phân biệt được đâu là mặt đường, đâu là hố ga mất nắp, mương hở hay các vật cản bị dòng nước di chuyển, rất dễ bị cuốn trôi cả người lẫn xe.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về quản lý ngập lụt đô thị bền vững tại Việt Nam nhấn mạnh rằng: Việc lạm dụng “hạ tầng xám”, chỉ tập trung vào việc đào đường, đặt ống cống ngầm mà thiếu không gian lưu trữ nước tự nhiên như: Hồ điều tiết, công viên, khiến đô thị mất khả năng thoát nước trước các trận mưa lớn.

Việc ngập úng không chỉ làm cho người đi đường và phương tiện khó di chuyển. Mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Theo như Bộ Y tế ghi nhận tỷ lệ người dân mắc bệnh về da như: Nấm chân, viêm chân,….Khi phải lội ngập để về nhà sau giờ tan tầm trong dòng nước ô nhiễm.

#NgapLut #DongNai


 

Vũ trụ lớn đến mức không tưởng

Chúng ta đang sống trên hành tinh này. Thoạt nhìn, Trái Đất có vẻ bao la và vô tận. Ngay cả khi bạn dành cả đời để khám phá, cũng không thể đi hết mọi ngóc ngách của nó. Nhưng so với toàn bộ vũ trụ, hành tinh của chúng ta thực sự nhỏ bé đến mức nào?

 Trước hết, hãy nhìn vào Mặt Trăng. Bạn có thể quen thuộc với nó, nhưng khoảng cách thực tế không như nhiều người tưởng tượng. Mặt Trăng cách chúng ta khoảng 384.400 km. Để dễ hình dung, khoảng không gian giữa Trái Đất và Mặt Trăng đủ chỗ để xếp khoảng 30 quả Trái Đất liên tiếp. Đó cũng là lý do một tên lửa mất khoảng ba ngày mới tới được đó, xa hơn nhiều so với cảm nhận thông thường của chúng ta.

Nếu bạn lái chiếc xe Công thức 1 nhanh nhất với tốc độ tối đa 378 km/h, bạn sẽ mất hơn 42 ngày để đến Mặt Trăng. Và đó mới chỉ là vệ tinh gần nhất của chúng ta. Sao Hỏa – hành tinh đỏ – trung bình cách xa tới 225 triệu km, gấp khoảng 585 lần khoảng cách tới Mặt Trăng. Việc đưa con người lên sao Hỏa vì thế không hề đơn giản.

Ngày nào đó, khi có người đặt chân lên hành tinh này lần đầu tiên, họ sẽ nhìn lên bầu trời và thấy Trái Đất chỉ là một chấm nhỏ, giống như bức ảnh năm 2014 được tàu thám hiểm Curiosity chụp từ sao Hỏa. Mỗi tin nhắn gửi về Trái Đất sẽ mất từ 3 đến 21 phút mới tới nơi, tùy theo vị trí quỹ đạo của hai hành tinh lúc đó, chậm hơn rất nhiều so với độ trễ chỉ 1,3 giây giữa Trái Đất và Mặt Trăng.

Xa hơn nữa là tàu vũ trụ Voyager 1. Vào thời điểm được nhắc đến, nó đã cách Trái Đất khoảng 164,7 đơn vị thiên văn. Một đơn vị thiên văn là khoảng cách trung bình giữa Mặt Trời và Trái Đất, nghĩa là Voyager 1 lúc đó đã xa hơn Mặt Trời khoảng 165 lần, tương đương khoảng 24,6 tỷ km – trở thành vật thể nhân tạo xa nhất từng được con người chế tạo.

Tàu được phóng năm 1977 với nhiệm vụ ban đầu là khám phá các hành tinh bên ngoài hệ Mặt Trời. Hiện nay, nó đã bước vào không gian giữa các vì sao, vùng nằm ngoài tầm ảnh hưởng trực tiếp của Mặt Trời và vẫn tiếp tục gửi về những dữ liệu quý giá với tư cách là tàu thăm dò đầu tiên tiếp cận khu vực này.

Voyager 1 còn mang theo Đĩa Vàng – một bản ghi chứa âm thanh, nhạc và hình ảnh về Trái Đất, dành cho bất kỳ dạng sống ngoài hành tinh hoặc nền văn minh tương lai nào có thể tìm thấy nó. Đĩa gồm 48 hình ảnh (Trái Đất, con người, các khái niệm khoa học và thiên văn), âm thanh của động vật, con người, công nghệ, lời chào bằng 55 ngôn ngữ khác nhau, cùng 27 bản nhạc từ nhiều quốc gia nhằm thể hiện sự đa dạng của hành tinh chúng ta.

Tàu vẫn đang bay với tốc độ khoảng 61.200 km/h. Dù đã di chuyển không ngừng trong nhiều thập kỷ, nó vẫn còn nằm trong hệ Mặt Trời vì chưa vượt qua đám mây Oort. Voyager 1 sẽ mất khoảng 300 năm nữa mới đến được vùng này, và cần thêm khoảng 30.000 năm để hoàn toàn vượt qua – khoảng thời gian tương đương với thời điểm loài người Neanderthal tuyệt chủng.

Khi rời khỏi hệ Mặt Trời, chúng ta chuyển sang dùng đơn vị năm ánh sáng – khoảng cách ánh sáng đi được trong một năm, tương đương khoảng 9,5 nghìn tỷ km. Hệ Mặt Trời của chúng ta, tính đến hết đám mây Oort, có kích thước khoảng 1,6 năm ánh sáng. Ngôi sao gần Mặt Trời nhất là Proxima Centauri, cách khoảng 4,25 năm ánh sáng. Voyager 1 sẽ mất khoảng 75.000 năm mới tới được đó. Còn nếu đi bằng xe Công thức 1 với tốc độ 378 km/h, bạn sẽ cần khoảng 12 triệu năm.

Ở khoảng cách 125 năm ánh sáng, một nền văn minh ngoài hành tinh đủ tiên tiến có thể bắt được các chương trình phát thanh và truyền hình cũ của chúng ta nếu họ có máy thu đủ nhạy. Xa hơn khoảng cách đó, tín hiệu của chúng ta gần như không còn cơ hội được nghe thấy.

Khi phóng tầm nhìn ra xa hơn, chúng ta thấy Dải Ngân Hà – thiên hà của mình. Vùng 125 năm ánh sáng mà sóng điện từ của chúng ta bao phủ chỉ là một vòng tròn nhỏ bé trong thiên hà rộng khoảng 100.000 năm ánh sáng. Dải Ngân Hà chứa khoảng 250 tỷ ngôi sao, và số lượng hành tinh còn lớn hơn, vì hầu hết các ngôi sao đều có ít nhất một hành tinh quay quanh.

Cho đến những năm 1920, người ta vẫn nghĩ rằng tất cả các ngôi sao trong vũ trụ đều nằm trong Ngân Hà. Sau “Cuộc tranh luận lớn”, khoa học xác định rằng Ngân Hà chỉ là một trong vô số thiên hà. Chúng ta thuộc Nhóm Địa phương, tập hợp khoảng 100 thiên hà với đường kính khoảng 10 triệu năm ánh sáng.

Nhóm Địa phương lại nằm trong Siêu cụm Xử Nữ, chứa khoảng 100 nhóm và cụm thiên hà, với đường kính khoảng 110 triệu năm ánh sáng. Thiên hà thống trị của siêu cụm này là Cụm Xử Nữ, khiến chúng ta càng trở nên nhỏ bé hơn.

Siêu cụm Xử Nữ chỉ là một phần của Siêu cụm Laniakea – cấu trúc chứa khoảng 100.000 thiên hà và có đường kính khoảng 520 triệu năm ánh sáng. Xa hơn nữa là Phức hợp Siêu cụm Pisces-Cetus, một sợi thiên hà khổng lồ trải dài khoảng một tỷ năm ánh sáng, gồm khoảng 60 siêu cụm và là một trong những cấu trúc lớn nhất từng được quan sát.

Theo tính toán của một nhóm nhà khoa học tại Đại học Oxford, vũ trụ có thể lớn hơn ít nhất 250 lần so với vũ trụ quan sát được, tương đương khoảng 7 nghìn tỷ năm ánh sáng. Theo thuyết lạm phát của Alan Guth, con số này còn có thể lên tới 100.000 nghìn tỷ lần. Để dễ hình dung: nếu vũ trụ quan sát được chỉ bằng một đồng xu euro, thì toàn bộ vũ trụ sẽ lớn đến mức bao phủ một không gian dài khoảng 250.000 năm ánh sáng – gấp hơn hai lần đường kính Dải Ngân Hà.

Cuối cùng, chúng ta đến với vũ trụ quan sát được, phần vũ trụ mà ánh sáng đã có đủ thời gian để tới được Trái Đất. Phức hợp Siêu cụm Pisces-Cetus chỉ là một phần rất nhỏ trong đó. Vũ trụ quan sát được có đường kính khoảng 93 tỷ năm ánh sáng, chứa khoảng 2 nghìn tỷ thiên hà và khoảng 10²⁴ ngôi sao – nhiều hơn số hạt cát trên toàn Trái Đất, và rất có thể chứa nhiều hành tinh giống Trái Đất hơn nữa.

Đây chỉ là phần chúng ta có thể nhìn thấy. Ánh sáng từ những vùng xa hơn vẫn chưa kịp đến. Vũ trụ thực sự được cho là lớn hơn rất nhiều, nhưng chúng ta chưa biết chính xác bao nhiêu.

Do sự giãn nở ngày càng nhanh của vũ trụ, có những vùng không gian đang rời xa chúng ta nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Đó là chân trời sự kiện vũ trụ – giới hạn tự nhiên của những gì chúng ta có thể quan sát. Ngay cả khi nhân loại tồn tại mãi mãi, vẫn sẽ có vô số nơi chúng ta không bao giờ nhìn thấy hay biết đến.

Nhìn vào con số ấy, người ta không khỏi nhớ đến lời Đức Thích Ca Mâu Ni từng nói trong kinh điển Đại thừa: trong một hạt cát đã hàm chứa cả tam thiên đại thiên thế giới – nghĩa là hàng tỷ thế giới với sắc thân, chúng sinh và cảnh giới tương tự như nhân loại chúng ta. Với con mắt của Như Lai, mọi sự đều thấu tỏ; còn chúng ta, với đôi mắt trần thịt hữu hạn không thể nào tưởng tượng nổi hình ảnh một vị Phật đang nhìn thấy toàn bộ vũ trụ ấy cùng một lúc.

Ngay cả Albert Einstein, người đã dành cả đời để nghiên cứu cấu trúc và quy luật của vũ trụ cuối cùng cũng phải thừa nhận sự huyền bí bất khả tri ấy. Ông từng viết:

“Trải nghiệm đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể có là cái huyền bí. Đó là nguồn gốc của mọi nghệ thuật và khoa học chân chính… Cảm nhận được rằng đằng sau mọi thứ có thể trải nghiệm còn có điều gì đó mà trí tuệ chúng ta không thể thấu triệt, vẻ đẹp và sự cao cả chỉ chạm đến chúng ta một cách gián tiếp – đó chính là tính chất tôn giáo. Theo nghĩa này, và chỉ theo nghĩa này, tôi là một người sùng đạo sâu sắc.”

Einstein không tin vào một vị thần nhân cách can thiệp vào số phận con người. Ông tin vào “Thượng đế của Spinoza”, sự hài hòa trật tự của chính vũ trụ. Ông gọi cảm xúc ấy là tôn giáo vũ trụ: lòng kính sợ và ngưỡng mộ trước sự rộng lớn, tinh xảo và bí ẩn của cái toàn thể mà khoa học chỉ mới hé mở được một phần rất nhỏ.

Khi khoa học càng đẩy xa biên giới của tri thức, con người càng nhận ra rằng mình đang đứng trước một thực tại vượt xa mọi khả năng tưởng tượng. Và chính lúc ấy, lời dạy của Đức Phật về hạt cát chứa cả tam thiên đại thiên thế giới không còn là ẩn dụ xa vời, mà trở thành một sự thật đang dần được khoa học hiện đại xác nhận theo cách của riêng nó.

Chúng ta không biết chính xác những gì nằm ngoài tầm với của mình lớn đến mức nào. Điều duy nhất chúng ta chắc chắn là nó lớn hơn chúng ta rất, rất nhiều – lớn đến mức chỉ có con mắt của bậc giác ngộ mới có thể nhìn thấy trọn vẹn.

Mỹ Mỹ biên tập

From: MY LOAN & NguyenNThu


 

SỢ TIỆC  – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)  

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách”.

“Áo cưới là lòng mến!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có khi vừa đến tiệc, chúng ta đã muốn về vì phải ngồi với người mình không thích. Tin Mừng hôm nay kể về một bữa tiệc như thế; nhưng vào tiệc vẫn cần áo cưới – lòng mến. Vào tiệc mà lòng không vui, chúng ta ‘sợ tiệc’.

Khi các khách mời nhất loạt từ chối, chủ bảo các gia nhân ra các ngả đường, gặp ai “bất luận xấu tốt” cũng đưa về. Người xấu được nhắc trước người tốt! Người tốt không đứng ra mời; người xấu cũng không chờ người tốt cho phép mới có chỗ. Cả hai có mặt vì lòng quảng đại của nhà vua; ông không đợi họ nên tốt mới mời. Vì thế, ngồi vào chỗ của mình, chúng ta cần vui vì người khác cũng được chủ dành chỗ. Cầu nguyện là tạ ơn vì mình có mặt và người khác cũng có mặt. “Sự hiện diện của những Kitô hữu khác là nguồn vui và sức mạnh không gì sánh được cho người tin!” – Dietrich Bonhoeffer.

Nhưng lời mời có thể gặp một sự từ chối khác ngay trong phòng tiệc. Người không mặc áo cưới cũng đã đến, ngồi giữa các khách. Chúng ta có thể khước từ lời mời; nhưng cũng có thể đã vào tiệc mà vẫn khước từ người cùng bàn. Không bỏ về, không đổi mâm; nhưng lòng mình nhất quyết không cho người bên cạnh một cơ hội khác. Chính nhà vua, chứ không phải người cùng bàn, xét xem ai xứng đáng có chỗ. Áo cưới lòng mến đòi chúng ta cởi bỏ cái nhìn cũ ấy. Đã vào tiệc, còn cần để người khác vào lòng.

Isaia thấy trước một bữa tiệc Thiên Chúa đãi muôn dân, nơi Ngài lau khô nước mắt trên mọi khuôn mặt – bài đọc một. Có những giọt nước mắt chúng ta chưa biết, vì chỉ nhớ điều người ấy đã làm mà chưa hiểu những gì họ đã trải qua. Chúng ta thấy một lỗi lầm; Chúa thấy cả con người. Ngồi chung chưa xoá chuyện cũ, nhưng có thể giúp chúng ta thôi kể toàn bộ đời họ bằng chuyện cũ ấy. Để lòng mở ra như thế, chúng ta cần sức mạnh, “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” – bài đọc hai. Nhờ Ngài, chúng ta có thể ở lại, lắng nghe, và nhìn người anh em một cách khác.

Trong nhà thờ, chúng ta cùng đứng lên, quỳ xuống, mà vẫn tránh nhìn nhau. Có khi điều khó nhất sau Thánh lễ chỉ là nán lại, chào người mình không ưa. Một lời chào chưa giải quyết chuyện cũ, nhưng cho người ấy biết chúng ta không muốn chuyện cũ có tiếng nói cuối cùng. Đó có thể là một khởi đầu nhỏ cho nhau. “Hoà bình bắt đầu bằng một nụ cười!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã từng ngồi vào bàn với những người khiến kẻ khác muốn đứng dậy. Ngài biết tội họ, nhưng vẫn đến gần để họ dám ngồi lại. Trong Thánh Thể, Ngài trao Thân Mình cho chúng ta và cho người chúng ta khó thương. Người ấy cũng sống nhờ Đấng chúng ta vừa đón nhận. Chúng ta không thể vừa xin Ngài ở lại trong lòng mình vừa muốn gạt người ấy khỏi đời mình. Ngài còn phải chữa lành lòng chúng ta, để không còn ‘sợ tiệc’, thôi ngồi chung cho có, và dần biết cùng bàn, cùng lòng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thôi đòi đổi chỗ; dạy con đổi cách nhìn; đừng để chuyện cũ che khuất một người anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CHÚA  NHẬT TUẦN XXVIII THƯỜNG NIÊN, NĂM A: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/11.html

Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : 2 “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. 3 Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. 4 Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ : ‘Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng : Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới !’ 5 Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi : kẻ thì đi thăm nông trại, người thì đi buôn, 6 còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết. 7 Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. 8 Rồi nhà vua bảo đầy tớ : ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. 9 Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.’ 10 Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

11 “Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, 12 mới hỏi người ấy : ‘Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?’ Người ấy câm miệng không nói được gì. 13 Nhà vua liền bảo những người phục dịch : ‘Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng ! 14 Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít’.”


 

Giải Nobel hòa bình thảm hại năm 1973

Dưới đây là bài luận chi tiết  về thảm họa lịch sử của Giải Nobel Hòa bình năm 1973 và cú sốc địa chính trị hai năm sau đó khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975- Bài do AI Gemini viết:

Khi Biểu Tượng Hòa Bình Che Lấp Thực Tại Lịch Sử: Thảm Họa Nobel Hòa Bình 1973 và Sự Cố Năm 1975

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên cùng, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Trong lịch sử hơn 120 năm của Giải Nobel Hòa bình, Ủy ban Nobel Na Uy ở Oslo từng đưa ra nhiều quyết định gây tranh cãi. Tuy nhiên, không có sự kiện nào bộc lộ sự sai lầm thảm hại giữa kịch bản ngoại giao trên giấy tờ và thực tại tàn khốc trên chiến trường rõ ràng như quyết định trao giải năm 1973 cho cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger và nhà ngoại giao Bắc Việt Lê Đức Thọ.

Diễn biến lịch sử hai năm sau đó — khi quân đội Bắc Việt tràn vào Sài Gòn, xóa bỏ hoàn toàn Việt Nam Cộng hòa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 — không chỉ làm sụp đổ Hiệp định Paris mà còn giáng một đòn chí mạng vào uy tín của tổ chức trao giải tại Oslo.

 Hiệp Định Paris 1973: Tấm Màn Ngoại Giao Cho Một Lối Thoát

Tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Ngay lập tức, Ủy ban Nobel tại Oslo đã vội vã vinh danh Henry Kissinger và Lê Đức Thọ vì đã “thương lượng thành công một thỏa thuận hòa bình”.

Tuy nhiên, giới quan sát và các nhà phân tích địa chính trị sắc bén thời đó đã sớm nhận ra bản chất thực sự của thỏa thuận này:

  • Chiến lược “Khoảng cách Thích hợp” (Decent Interval): Đối với Washington, Hiệp định Paris thực chất là một chiến thuật rút quân trong danh dự cho nước Mỹ. Mục tiêu chính là đưa tù binh Mỹ về nước và rút toàn bộ bộ binh Mỹ ra khỏi chiến trường, tạo ra một “khoảng thời gian chấp nhận được” trước khi tình hình Miền Nam tự biến động.

  • Sự gạt bỏ bên liên quan trực tiếp: Hiệp định được đàm phán chủ yếu giữa hai thế lực lớn, đặt chính quyền và quân dân Việt Nam Cộng hòa vào thế đã rồi. Việc cho phép hàng trăm ngàn quân chủ lực Bắc Việt tiếp tục ở lại lãnh thổ Miền Nam sau khi Mỹ rút đi đã tạo ra một sự mất cân bằng quân sự chí mạng.

Saigon in Vietnam on April 30, 1975 - North Vietnamese tanks entered ...

2. Lời Thú Nhận Sự Thật Từ Chính Những Người Trong Cuộc

Sự phi lý của giải thưởng lớn đến mức chính các nhân vật chính cũng không thể che đậy:

  • Lê Đức Thọ từ chối nhận giải: Ông trở thành người đầu tiên trong lịch sử tuyên bố thẳng thắn từ chối Giải Nobel Hòa bình. Ông thẳng thắn chỉ ra rằng hòa bình thực sự chưa hề lặp lại ở Việt Nam và các bên vẫn đang vi phạm thỏa thuận. Thực tế, phía Bắc Việt xem khoảng thời gian này là cơ hội vàng để củng cố tuyến đường tiếp vận Trường Sơn và chuẩn bị cho trận chiến quyết định.

  • Henry Kissinger muốn trả lại huy chương: Sau khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Kissinger đã gửi điện văn đề nghị trả lại tấm huy chương và tiền thưởng Nobel, thừa nhận rằng Hiệp định Paris đã thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, Ủy ban Nobel đã từ chối nhận lại vì quy chế tổ chức không cho phép tước hay hủy giải thưởng.

  • Làn sóng phản đối nội bộ: Lần đầu tiên trong lịch sử Nobel, hai thành viên trong chính Ủy ban Nobel Na Uy đã từ chức để phản đối quyết định này. Báo chí quốc tế lúc bấy giờ cay đắng gọi đây là “Giải thưởng Chiến tranh” (The War Prize).

3. Sự Sụp Đổ Năm 1975 và Bài Học Về Niềm Tin

Chỉ hai năm sau khi Ủy ban Oslo ăn mừng “hòa bình”, các đoàn xe tăng Bắc Việt húc văng cổng Dinh Độc Lập vào mùa xuân năm 1975, chính thức chấm dứt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện này mang lại những bài học đắt giá:

  1. Rủi ro của việc vội vã vinh danh “Ý định”: Việc trao giải thưởng dựa trên những lời hứa ngoại giao thay vì kết quả thực chứng bền vững trên thực địa là sai lầm chết người.

  2. Sự mù kìm của các tổ chức quốc tế: Khi các tổ chức quốc tế ưu tiên các kịch bản ngoại giao đẹp mắt mà phớt lờ ý đồ chiến lược thực sự và cán cân lực lượng thực tế, họ tự biến mình thành công cụ hợp thức hóa cho một cuộc can thiệp hoặc chiếm đóng tiếp theo.

  3. Xói mòn niềm tin công chúng: Khi một tổ chức nhân danh hòa bình lại trao thưởng cho một thỏa thuận dẫn đến sự sụp đổ của cả một quốc gia và thảm cảnh hàng triệu người phải bỏ nước ra đi (làn sóng người vượt biển – Boat People), niềm tin của công chúng vào tính trung lập và sắc bén của tổ chức đó sẽ bị tổn thương vĩnh viễn.

Kết Luận

Sự kiện năm 1975 là minh chứng lịch sử đắt giá nhất cho thấy: Mọi tờ giấy cam kết ngoại giao hay giải thưởng danh giá đều trở nên vô nghĩa nếu nó thoát thoát khỏi logic thực tế và bản chất của quyền lực.

Thảm họa Nobel Hòa bình năm 1973 không chỉ là một vết đen trong hồ sơ của Ủy ban Oslo, mà còn là lời nhắc nhở vĩnh viễn cho nhân loại rằng: Hòa bình thực sự không thể được xây dựng bằng sự ngụy biện ngoại giao hay những ảo tưởng trên giấy tờ.

XIN LỄ CHO NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI

Linh Mục Mi Trầm

Giáo dân: Bố con đã qua đời 15 năm. Gia đình vẫn xin lễ và cầu nguyện cho bố. Có người nói: “15 năm rồi, chắc bố đã lên Thiên đàng, không cần xin lễ nữa.” Nói như vậy có đúng không?

Linh mục: Không nên khẳng định như thế. Trừ các vị đã được Giáo Hội tuyên phong hiển thánh, chúng ta không thể tự mình biết chắc một người đã qua đời đang ở đâu trong đời sau.

Giáo Hội dạy rằng những người chết trong ân nghĩa Chúa nhưng chưa được thanh luyện trọn vẹn vẫn cần được thanh luyện. Vì thế, Hội Thánh luôn khuyến khích các tín hữu cầu nguyện cho người đã qua đời.

[“Hội Thánh lữ hành… ngay từ những thời kỳ đầu của Kitô giáo, đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho người đã qua đời.” (GLCG 1032).]

Giáo dân: Nhưng nếu 15 năm nay gia đình con đã đọc rất nhiều kinh và xin rất nhiều lễ, chẳng lẽ bố vẫn còn ở Luyện ngục sao?

Linh mục: Chúng ta không thể tính toán như thế. Không có một con số nào quy định rằng đọc bao nhiêu kinh, xin bao nhiêu lễ hoặc cầu nguyện trong bao nhiêu năm thì một linh hồn chắc chắn đã được lên Thiên đàng.

Việc cầu nguyện không phải là một cách “tính điểm” với Thiên Chúa. Chúng ta cứ cầu nguyện, còn việc Chúa ban ơn thanh luyện và áp dụng những lời cầu nguyện ấy cho linh hồn thế nào thì chúng ta phó thác cho lòng thương xót của Ngài.

[“Giá trị của những lời cầu cho người chết… tùy thuộc vào sự tự do và lòng thương xót của Thiên Chúa.” (x. GLCG 1032).]

Giáo dân: Vậy xin lễ cho người đã qua đời có ích gì?

Linh mục: Xin lễ và cầu nguyện cho người đã qua đời trước hết là xin Chúa thương thanh luyện và đón nhận họ vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Đây là một thực hành rất quý báu của Hội Thánh.

Đặc biệt, trong Thánh lễ, Hội Thánh dâng hy lễ của Đức Kitô để cầu cho người sống cũng như người đã qua đời.

[Thánh Augustinô viết về mẹ mình: “Xin anh em hãy nhớ đến bà… khi anh em đứng trước bàn thờ Chúa.” (Tự Thuật, IX, 13).]

Giáo dân: Nếu bố con đã được lên Thiên đàng rồi thì việc con vẫn xin lễ và cầu nguyện cho bố có còn ý nghĩa không?

Linh mục: Có. Việc cầu nguyện cho cha mẹ đã qua đời còn là một biểu lộ của lòng hiếu thảo và tình yêu thương.

Nếu người ấy đã được hưởng hạnh phúc với Chúa, những lời cầu nguyện của chúng ta không trở thành vô ích. Chúng ta vẫn đang sống tình hiệp thông với người đã khuất và phó thác họ cho Thiên Chúa.

Vì thế, xin lễ giỗ hằng năm không phải vì chúng ta biết chắc người thân còn ở Luyện ngục, nhưng vì chúng ta yêu thương, tưởng nhớ và phó thác người ấy cho Chúa.

[“Cầu nguyện cho người đã qua đời… có thể không chỉ giúp họ mà còn làm cho lời chuyển cầu của họ trở nên hữu hiệu cho chúng ta.” (GLCG 958).]

Giáo dân: Vậy khi có người nói: “Bố lên Thiên đàng rồi, không cần cầu nguyện nữa”, con nên trả lời thế nào?

Linh mục: Con có thể nhẹ nhàng nói: “Chúng ta không biết chắc bố đang ở đâu trước mặt Chúa. Vì thế, cứ cầu nguyện cho bố. Nếu bố còn cần được thanh luyện, lời cầu nguyện của chúng ta xin Chúa thương đón nhận; còn nếu bố đã được hưởng hạnh phúc với Chúa, thì việc cầu nguyện vẫn là cách chúng ta biểu lộ lòng yêu mến và hiếu thảo đối với bố.”

Điều quan trọng là đừng biến việc cầu nguyện thành chuyện tính toán, nhưng hãy phó thác mọi sự cho lòng thương xót của Thiên Chúa.

[“Ngay từ những thời kỳ đầu, Hội Thánh đã kính nhớ và cầu nguyện cho người đã qua đời.” (GLCG 1032; x. 2 Mcb 12,45–46).]

GHI NHỚ:

Không ai có thể tự ý khẳng định một người đã qua đời chắc chắn đang ở Thiên đàng. Vì thế, hãy tiếp tục cầu nguyện và xin lễ cho những người thân yêu đã qua đời, không phải vì sợ hãi hay tính toán, nhưng vì lòng yêu mến, hiếu thảo và tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa.

Lm. Mi Trầm & AI 


 

“HẸN GẶP LẠI NGÀY MAI”

Cang Huynh

“HẸN GẶP LẠI NGÀY MAI”.

Một trong những cử chỉ cảm động nhất của Jimmy Carter trong những giờ phút cuối đời của Rosalynn là yêu cầu cả gia đình rời khỏi phòng một lát. Ông muốn được ở một mình với người phụ nữ mà ông đã yêu thương gần tám thập kỷ.

Jimmy và Rosalynn Carter đã chia sẻ gần như toàn bộ cuộc đời của họ.

Họ quen biết nhau từ khi còn trẻ ở thị trấn nhỏ Plains, Georgia, kết hôn năm 1946, lập gia đình, cùng nhau đến Tòa Bạch Ốc, và qua nhiều năm, trở lại chính nơi câu chuyện của họ bắt đầu.

Cuộc hôn nhân của họ kéo dài 77 năm.

Nhưng chương thân mật nhất trong cuộc đời họ lại diễn ra xa rời chính trị và các nghi lễ chính thức.

Vào tháng 11 năm 2023, Rosalynn, 96 tuổi, bắt đầu được chăm sóc tại nhà. Jimmy cũng được chăm sóc tại nhà.

Trong những giờ phút cuối đời của vợ, ông ở bên giường bà trên xe lăn.

Ông nắm tay bà.

Ông nói với bà rằng ông yêu bà.

Ông cảm ơn bà vì tất cả những gì bà đã làm cho ông và gia đình ông.

Rồi ông ấy yêu cầu mọi người để họ yên.

Sau đó, các nhân viên y tế đặt giường bệnh của Jimmy đối diện với giường của Rosalynn để họ có thể ở gần nhau.

Ngày hôm sau, bà không còn nói được nữa.

Ngày 19 tháng 11 năm 2023, Rosalynn Carter qua đời thanh thản tại nhà riêng ở Plains, được bao quanh bởi gia đình.

Con trai bà, Chip, sau này nhớ lại rằng khi Jimmy nhận ra bà đã qua đời, mắt ông ấy ngập tràn nước mắt.

Sau khi bà qua đời, cựu tổng thống đã tóm tắt ý nghĩa của Rosalynn đối với ông bằng một câu nói vô cùng giản dị:

“Rosalynn là người bạn đồng hành ngang hàng với tôi trong mọi thành tựu tôi đạt được.”

Bà không chỉ là vợ ông.

Bà còn là người bạn thân thiết nhất của ông.

Cố vấn của ông.

Đối tác chính trị của ông.

Người biết ông từ rất lâu trước khi ông trở thành tổng thống, vào Bạch Cung và được ghi danh vào sử sách.

Trong buổi tưởng niệm Rosalynn, con gái ông, Amy, đã đọc một bức thư Jimmy viết cho mẹ khoảng 75 năm trước, khi ông đang phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ.

Trong bức thư đó, Jimmy trẻ tuổi nói với bà rằng mỗi lần trở về sau những chuyến đi xa, ông lại khám phá ra bà tuyệt vời đến nhường nào và lại yêu bà thêm một lần nữa.

Ông kết thúc bằng câu:

“Tạm biệt, em yêu. Hẹn gặp lại em ngày mai. Jimmy.”

Hơn một năm sau, vào ngày 29 tháng 12 năm 2024, Jimmy Carter cũng qua đời tại nhà riêng ở Plains.

Ông thọ 100 tuổi.

Họ đã chung sống 77 năm hôn nhân.

Từ tuổi trẻ ở Georgia…đến Tòa Bạch Ốc.…qua các cuộc bầu cử, thất bại, công việc nhân đạo, con cái, cháu chắt và tuổi già…

cho đến khi kết thúc với hai chiếc giường đặt đối diện nhau trong ngôi nhà mà họ luôn mong muốn trở về.

Có lẽ đây là hình ảnh của tình yêu sau một cuộc đời bên nhau.

Không phải trong những bài phát biểu hùng hồn.

Không phải trong những bức ảnh từ các bữa tiệc chính thức.

Không phải trong những danh hiệu mà sách lịch sử ghi lại.

Mà là trong hình ảnh một người đàn ông lớn tuổi, ngồi trên xe lăn, nắm tay người phụ nữ ông yêu từ thuở nhỏ và cầu xin thế giới hãy để họ được ở bên nhau thêm một chút nữa.

Và trong những lời được viết cách đây hàng thập niên, cuối cùng dường như là một lời hứa:

“Hẹn gặp lại ngày mai” – Jimmy.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

Sống lâu, sống khỏe (Kỳ 4) – Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Sống lâu, sống khỏe (Kỳ 4)

Ba’o Nguoi-Viet

October 9, 2026

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Mục này chỉ nhằm giải đáp các thắc mắc về sức khỏe mang tính tổng quát. Cho các vấn đề cụ thể, chi tiết của từng bệnh nhân, xin liên lạc với bác sĩ để được thăm khám trực tiếp. Nhiều thông tin thiết thực và bổ ích khác về sức khỏe cũng được phát trên đài 106.3 FM ở vùng Orange County, California, vào mỗi sáng Chủ nhật từ tám đến chín giờ, trong chương trình Radio Sống Vui (nghe trên radio hay vào Google hay Youtube, search Radio Song Vui https://www.youtube.com/@radiosongvui)

Ăn một quả cam không hoàn toàn giống như uống một ly nước cam. (Hình minh họa: Pablo de Haro/Pexels)

Trong những kỳ trước, chúng ta đã bàn về lão hóa là gì và những điều khoa học hiện nay biết tương đối chắc chắn về việc sống lâu, sống khỏe. Một điều khá thú vị là trong khi nhiều người tìm kiếm vitamin, thực phẩm bổ sung hay những loại thuốc mới để chống lão hóa, những yếu tố có bằng chứng mạnh nhất lại rất quen thuộc: không hút thuốc, vận động thường xuyên, giữ cơ bắp, kiểm soát huyết áp, cholesterol và đường huyết, ngủ đủ và ăn uống hợp lý.

Ăn gì để sống lâu và sống khỏe? 

Nói “ăn uống hợp lý” thì dễ. Câu hỏi khó hơn là: Ăn thế nào mới được gọi là hợp lý? Có phải phải bỏ cơm? Thịt đỏ có hại không? Cá có phải càng nhiều càng tốt? Trứng thì sao? Trái cây ngọt có làm tăng đường huyết không? Dầu olive có thật sự tốt? Có nên ăn các loại hạt mỗi ngày? Và một câu hỏi người Việt thường gặp: Muốn theo thực đơn Địa Trung Hải có phải bắt đầu ăn salad, bánh mì, pasta và những món ăn của người Ý hay người Hy Lạp không?

Câu trả lời là không.

Nếu hiểu đúng nguyên tắc, một bữa cơm Việt Nam hoàn toàn có thể rất gần với thực phẩm, cách ăn tốt cho tim mạch và giúp duy trì sức khỏe lâu dài. Điều quan trọng không phải là món ăn thuộc quốc gia nào, mà là chúng ta ăn những gì, với tỷ lệ ra sao và duy trì cách ăn đó như thế nào trong nhiều năm.

Không có món ăn trường sinh

Trước khi bàn xem nên ăn gì, có một điều cần làm rõ: cho đến hiện nay, chưa có một món ăn nào được chứng minh rằng chỉ cần ăn nó mỗi ngày sẽ giúp con người sống lâu. Không có một loại trái cây trường sinh, một loại hạt trường sinh hay một loại dầu trường sinh. Cũng chưa có vitamin hay thực phẩm bổ sung nào có thể bù đắp hoàn toàn hậu quả của cách ăn uông không lành mạnh kéo dài nhiều năm.

Khoa học dinh dưỡng hiện đại vì vậy ngày càng chú ý đến “mô hình ăn uống” (dietary pattern), nghĩa là cách chúng ta ăn tổng thể trong thời gian dài, thay vì chỉ đánh giá một món ăn riêng lẻ.

Ví dụ, hỏi “trứng có tốt không?” chưa chắc là câu hỏi đầy đủ. Một quả trứng ăn kèm rau, cà chua và trái cây rất khác với một quả trứng đi kèm bacon, xúc xích, khoai tây chiên và nước ngọt. Tương tự, một chén cơm ăn với cá, rau và canh rất khác với hai hay ba chén cơm ăn cùng thịt mỡ, thức ăn chiên và rất ít rau.

Chúng ta không ăn từng chất dinh dưỡng riêng biệt. Chúng ta ăn những bữa ăn, và sức khỏe lâu dài bị ảnh hưởng bởi hàng ngàn bữa ăn lặp lại trong nhiều năm.

Một trong những mô hình ăn uống được nghiên cứu nhiều nhất là “kiểu ăn uống Địa Trung Hải” (Mediterranean diet). Vì sao?

Tên gọi này đôi khi gây hiểu lầm. Đây không phải là một thực đơn cố định, và những người sống quanh vùng Địa Trung Hải cũng không ai ăn giống nhau. Về căn bản, cách ăn này chú trọng rau, trái cây, các loại đậu, các loại hạt, ngũ cốc ít tinh chế, cá và dầu olive; dùng thịt gia cầm ở mức vừa phải; đồng thời hạn chế thịt đỏ, thịt chế biến, đồ ngọt và các thực phẩm chế biến nhiều.

Một trong những nghiên cứu nổi tiếng nhất là PREDIMED tại Tây Ban Nha, với 7,447 người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao. Những người tham gia được chia thành các nhóm ăn khác nhau. Một nhóm ăn theo kiểu Địa Trung Hải và được cung cấp thêm dầu olive nguyên chất; một nhóm khác ăn theo kiểu Địa Trung Hải và được cung cấp thêm các loại hạt. Sau thời gian theo dõi trung vị khoảng bốn đến tám năm, hai nhóm này có tỷ lệ biến cố tim mạch quan trọng, gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tử vong do nguyên nhân tim mạch, thấp hơn so với nhóm đối chứng.

Cũng cần nói rõ rằng nghiên cứu PREDIMED ban đầu có một số sai sót trong quá trình phân nhóm người tham gia. Các tác giả sau đó rút lại báo cáo ban đầu, phân tích lại dữ liệu và công bố bản hiệu chỉnh vào năm 2018. Kết luận chính vẫn cho thấy lợi ích về tim mạch, nhưng chi tiết này là một ví dụ tốt, cho thấy ngay cả một nghiên cứu nổi tiếng cũng cần được xem xét cẩn thận.

Ngoài các thử nghiệm lâm sàng, nhiều nghiên cứu quan sát cũng cho thấy những người ăn gần với mô hình Địa Trung Hải thường có kết quả sức khỏe tốt hơn. Chẳng hạn, một nghiên cứu công bố năm 2024 theo dõi hơn 25,000 phụ nữ Hoa Kỳ trong khoảng 25 năm cho thấy những người tuân thủ mô hình ăn Địa Trung Hải nhiều hơn có nguy cơ tử vong thấp hơn.

Tuy nhiên, đây là “nghiên cứu quan sát” (observational study), nghĩa là các nhà nghiên cứu theo dõi cách ăn và sức khỏe của những người tham gia chứ không quyết định họ phải ăn theo một một quy tắc nhất định. Vì vậy, nghiên cứu có thể cho thấy một mối liên hệ nhưng không thể tự nó chứng minh rằng kiểu ăn là nguyên nhân duy nhất khiến họ sống lâu hơn.

Đây là nguyên tắc quan trọng khi đọc tin tức về dinh dưỡng: đừng kết luận từ một nghiên cứu duy nhất. Chúng ta cần xem xét toàn bộ bằng chứng.

Người Việt có phải ăn món Tây mới hiệu quả?

Không. Đây có lẽ là điểm quan trọng nhất đối với độc giả Việt Nam.

Hãy tạm bỏ cái tên “Địa Trung Hải” và nhìn vào những nguyên tắc phía sau: ăn nhiều rau, dùng cá thường xuyên, ăn các loại đậu và một lượng vừa phải các loại hạt, ăn trái cây nguyên dạng, ưu tiên thực phẩm ít chế biến, sử dụng nhiều hơn các chất béo không bão hòa thay cho quá nhiều mỡ động vật, đồng thời giảm thịt chế biến, thức ăn nhiều đường và thực phẩm siêu chế biến.

Nhìn theo cách đó, một bữa cơm Việt Nam có thể rất gần với mô hình này: cá hấp hoặc cá kho, một đĩa rau, một tô canh, đậu hũ, một lượng cơm phù hợp và một phần trái cây. Đó không phải là món ăn Địa Trung Hải, nhưng về nhiều nguyên tắc dinh dưỡng, hai cách ăn có thể rất gần nhau.

Ngược lại, một người có thể mua dầu olive, ăn salad mỗi ngày và nói rằng mình đang theo kiểu Địa Trung Hải, nhưng nếu đồng thời thường xuyên ăn thịt chế biến, bánh ngọt, nước ngọt và thức ăn nhanh thì về tổng thể chưa hẳn lành mạnh.

Tên món ăn không quan trọng bằng mô hình ăn uống.

Rau: không cần tìm một loại “siêu thực phẩm”

Rau cung cấp chất xơ, vitamin, khoáng chất và nhiều hợp chất có nguồn gốc thực vật. Nhưng chúng ta không cần đi tìm một loại rau “tốt nhất.”

Rau cải, bông cải, cà chua, cà rốt, đậu que, bí, mướp, bầu, rau muống, cải xanh, rau dền, các loại nấm và nhiều loại rau quen thuộc khác đều có thể góp phần vào một chế độ ăn lành mạnh. Các loại rau khác nhau cung cấp những chất dinh dưỡng khác nhau, vì vậy nguyên tắc thực tế là ăn đa dạng và ăn thường xuyên.

Chúng ta cũng thường nghe đến từ “siêu thực phẩm” (superfood). Đây chủ yếu là một từ dùng trong quảng cáo và truyền thông, chứ không phải một nhóm thực phẩm chính thức trong y học. Một bó rau muống không trở nên kém lành mạnh chỉ vì nó không được quảng cáo bằng một cái tên tiếng Anh hấp dẫn.

Thay vì cố tìm một loại rau đặc biệt, điều quan trọng hơn là làm sao để rau xuất hiện thường xuyên và chiếm một phần đáng kể trong bữa ăn.

Trái cây tốt, nhưng nước trái cây không hoàn toàn giống trái cây

Trái cây cung cấp chất xơ, vitamin, khoáng chất và nhiều hợp chất thực vật. Tuy nhiên, ăn một quả cam không hoàn toàn giống như uống một ly nước cam.

Khi ăn nguyên quả, chúng ta ăn cả cấu trúc tự nhiên và chất xơ của trái cây, phải nhai và thường cảm thấy no hơn. Một ly nước cam có thể cần vài quả cam và có thể uống hết chỉ trong vài phút. Như vậy, chúng ta có thể nhận lượng đường tự nhiên của nhiều quả mà không cảm thấy no tương đương.

Vì vậy, nói chung, nên ưu tiên trái cây nguyên dạng hơn là nước ép trái cây. Điều này không có nghĩa là một người khỏe mạnh tuyệt đối không được uống nước trái cây. Vấn đề vẫn là lượng dùng và tình trạng sức khỏe của từng người.

Đặc biệt ở người có tiểu đường, tiền tiểu đường hoặc triglyceride cao, lượng carbohydrate và các loại đường được hấp thu nhanh cần được chú ý nhiều hơn.

Cũng không nên vì sợ đường mà loại bỏ tất cả trái cây. Một quả táo, một quả cam hay một phần berries không giống một lon nước ngọt, mặc dù tất cả đều chứa carbohydrate. Thực phẩm phải được đánh giá trong toàn bộ cấu trúc của nó chứ không chỉ dựa vào một thành phần.

Đậu và đậu hũ: những món quen thuộc thường bị đánh giá thấp

Các loại đậu là thành phần quan trọng trong nhiều mô hình ăn uống lành mạnh trên thế giới. Chúng cung cấp protein thực vật, chất xơ và nhiều vitamin, khoáng chất.

Người Việt còn có một thực phẩm rất quen thuộc là đậu hũ.

Đậu hũ không phải là “thuốc chống lão hóa,” nhưng nếu một phần thịt đỏ hoặc thịt chế biến được thay bằng đậu, đậu hũ, cá hoặc những nguồn protein thích hợp khác, toàn bộ mô hình ăn uống có thể trở nên tốt hơn.

Điều này đưa chúng ta đến một nguyên tắc rất quan trọng trong khoa học dinh dưỡng: đừng chỉ hỏi “món này có tốt không?” mà nên hỏi thêm “nếu tôi ăn món này, nó sẽ thay thế món gì?”

Nếu chúng ta ăn thêm một nắm hạt mỗi ngày nhưng không giảm bất cứ thứ gì khác, tổng năng lượng ăn vào sẽ tăng. Nhưng nếu dùng một ít hạt để thay bánh ngọt hoặc snack đã chế biến, câu chuyện lại khác. Nếu chúng ta ăn thêm cá nhưng vẫn giữ nguyên lượng thịt đỏ như trước, kết quả cũng sẽ khác so với việc dùng cá để thay thế một phần thịt đỏ.

Trong dinh dưỡng, sự thay thế đôi khi quan trọng không kém bản thân thực phẩm.

Cá tốt, nhưng không có nghĩa càng nhiều càng tốt

Cá là nguồn protein tốt. Một số loại cá, đặc biệt là những loại cá béo như cá hồi, cá mòi và cá trích, còn cung cấp các acid béo omega-3 chuỗi dài.

Nhưng từ đó không nên suy ra rằng phải ăn cá mỗi ngày mới khỏe hoặc càng ăn nhiều cá càng sống lâu.

Một cách ăn tốt cần sự đa dạng. Cá có thể luân phiên với thịt gia cầm, các loại đậu, đậu hũ, trứng và các nguồn protein phù hợp khác.

Cách chế biến cũng quan trọng. Cá hấp, nướng hoặc kho với lượng muối và đường hợp lý không giống cá được tẩm bột rồi chiên ngập dầu. Một thực phẩm tốt về nguyên liệu vẫn có thể trở thành một món chứa quá nhiều muối, đường hoặc năng lượng tùy cách chế biến.

Một vấn đề khác là một số loại cá lớn có thể tích tụ nhiều thủy ngân hơn. Vì vậy, “ăn cá” không có nghĩa là chỉ ăn một loại cá thật nhiều. Đa dạng vẫn là một nguyên tắc hợp lý. [dt]

(Còn tiếp)

Tài liệu tham khảo

1-Estruch R, Ros E, Salas-Salvado J, và cộng sự. Primary Prevention of Cardiovascular Disease with a Mediterranean Diet Supplemented with Extra-Virgin Olive Oil or Nuts. New England Journal of Medicine. 2018;378.

2-Ahmad S, Moorthy MV, Lee IM, và cộng sự. Mediterranean Diet Adherence and Risk of All-Cause Mortality in Women. JAMA Network Open. 2024;7.

3-U.S. Department of Health and Human Services và U.S. Department of Agriculture. Dietary Guidelines for Americans, 2020–2025.

4-World Health Organization. Healthy Diet (Tổ Chức Y Tế Thế Giới).

5-Lane MM, Gamage E, Du S, và cộng sự. Ultra-processed food exposure and adverse health outcomes: umbrella review of epidemiological meta-analyses. BMJ. 2024;384.

6-National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine. Dietary Reference Intakes for Sodium and Potassium. National Academies Press. 2019.

7-National Institutes of Health, National Heart, Lung, and Blood Institute. Heart-Healthy Eating.

8-Kraus WE, Bhapkar M, Huffman KM, và cộng sự. 2 years of calorie restriction and cardiometabolic risk: exploratory outcomes of a multicentre, phase 2, randomised controlled trial. Lancet Diabetes & Endocrinology. 2019;7:673–683

9-Waziry R, Ryan CP, Corcoran DL, và cộng sự. Effect of long-term caloric restriction on DNA methylation measures of biological aging in healthy adults from the CALERIE trial. Nature Aging. 2023;3:248–257.

10-de Cabo R, Mattson MP. Effects of Intermittent Fasting on Health, Aging, and Disease. New England Journal of Medicine. 2019;381:2541–2551


 

Trump trừng phạt Tòa Hình Sự Quốc Tế sau khi cựu chánh án đoạt Nobel Hòa Bình – Ba’o Nguoi-Viet

Ba’o NguoiViet

October 9, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Chỉ trong vài giờ đồng hồ, thế giới chứng kiến hai sự kiện diễn ra theo hai hướng hoàn toàn trái ngược. Tại Na Uy, Ủy Ban Nobel vinh danh một nữ luật gia đã dành gần sáu thập niên đấu tranh để những người phạm tội ác chiến tranh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng tại Washington, chính quyền Tổng Thống Donald Trump lại công bố một quyết định có thể làm tê liệt hoạt động của chính tòa án quốc tế mà người phụ nữ ấy từng phục vụ. Chưa hết, nhà lãnh đạo Tòa Bạch Ốc còn chia sẻ một bài đăng công kích người vừa đoạt giải Nobel, giải thưởng mà ông nhiều lần công khai mong muốn được nhận. 

Chính quyền Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Sáu, 9 Tháng Mười, công bố lệnh trừng phạt toàn diện đối với Tòa Hình Sự Quốc Tế (ICC) đặt trụ sở tại The Hague, Hòa Lan, chỉ vài giờ sau khi bà Navi Pillay, cựu chánh án của tòa, được trao Nobel Hòa Bình 2026 vì những đóng góp cho công lý quốc tế, tạo ra một cuộc đối đầu ngoại giao mới giữa Washington và các đồng minh Châu Âu, theo tạp chí Forbes.

Thủ Tướng Benjamin Netanyahu (phải) của Israel trao cho Tổng Thống Donald Trump lá thư mà ông gửi tới Ủy Ban Giải Nobel Hòa bình để đề cử ông Trump cho giải thưởng này tại Toà Bạch Ốc vào Tháng Bảy, 2025. (Hình: Andrew Harnik/Getty Images)

Ngoại Trưởng Marco Rubio tuyên bố Mỹ sẽ ngăn cấm giao dịch với ICC, cắt nguồn lực và hạn chế khả năng hoạt động của tòa nhằm bảo vệ công dân Mỹ trước những cuộc truy tố mà Washington cho rằng vượt quá thẩm quyền, trong khi Bộ Ngân Khố cho phép thời gian chuyển tiếp sáu tháng cùng một số ngoại lệ đối với các dịch vụ thiết yếu. 

Đáp lại, ICC lên án đây là cuộc tấn công vào nền pháp quyền quốc tế và kêu gọi 125 quốc gia thành viên bảo vệ tòa án, còn Phó Công Tố Viên Nazhat Shameem Khan khẳng định những lệnh trừng phạt không thể buộc ICC chấm dứt các cuộc điều tra và truy tố tội ác chiến tranh. 

Căng thẳng giữa Mỹ và ICC bắt nguồn từ việc tòa án điều tra những cáo buộc liên quan đến quân nhân Mỹ tại Afghanistan, đồng thời ban hành lệnh bắt giữ Thủ Tướng Benjamin Netanyahu của Israel về những cáo buộc tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại tại Gaza, trong khi Washington và Israel đều bác bỏ thẩm quyền của tòa đối với những trường hợp này. 

Đáng chú ý, chỉ vài giờ trước quyết định trừng phạt, Ủy Ban Nobel đã trao giải Hòa Bình cho bà Navi Pillay, người từng phục vụ tại ICC từ năm 2003 đến 2008, và cảnh báo các thẩm phán cùng những định chế tư pháp quốc tế đang chịu áp lực chính trị ngày càng lớn. 

Cũng trong ngày Thứ Sáu, theo Forbes, ông Trump chia sẻ lại trên Truth Social một bài đăng tố cáo Ủy Ban Nobel tự làm mất uy tín vì không trao giải cho ông, đồng thời gọi bà Pillay là người thù ghét Mỹ và Israel, liên quan đến cuộc điều tra do bà đứng đầu kết luận Israel phạm tội diệt chủng tại Gaza, điều mà chính phủ Israel bác bỏ. 

Từ góc độ luật pháp quốc tế, cuộc đối đầu này đặt ra một vấn đề nghiêm trọng: Mỹ có quyền phản đối thẩm quyền của ICC đối với công dân mình, nhưng việc sử dụng sức mạnh kinh tế để cắt nguồn tài chính, công nghệ và dịch vụ của một tòa án quốc tế có thể ảnh hưởng đến cả những cuộc điều tra tội ác chiến tranh không liên quan đến Mỹ hoặc Israel. 

ICC có 125 quốc gia thành viên, trong đó có nhiều đồng minh thân cận của Washington, và được thành lập để xét xử những tội ác nghiêm trọng nhất, bao gồm diệt chủng, tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.

Nếu hoạt động của tòa bị gián đoạn vì thiếu ngân hàng, hệ thống dữ liệu, bảo hiểm hoặc ngân sách, quá trình thu thập chứng cứ và truy tố có thể gặp khó khăn.

Những người bị ảnh hưởng không chỉ là các thẩm phán hay công tố viên, mà còn có thể là các nạn nhân đang chờ tòa xem xét những cáo buộc tại nhiều vùng xung đột.

Sự tương phản giữa hai sự kiện trong cùng một ngày cho thấy cuộc tranh luận căn bản về trật tự thế giới hiện nay đó là liệu những người nắm quyền lực chính trị và quân sự có thể bị một cơ quan tư pháp độc lập điều tra, hay quyền lực quốc gia sẽ quyết định giới hạn thực tế của công lý quốc tế? (MPL) [dt]


 

HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN – Lm. Anmai, CSsR

Chuyện tuổi Xế Chiều – Công Tú Nguyễn

Thời gian trôi đi âm thầm nhưng tàn nhẫn, nó không bao giờ báo trước cho ta biết khi nào thì tuổi già thực sự ập đến, nó không nằm ở con số ghi trên giấy tờ hay số nến cắm trên chiếc bánh sinh nhật, mà nó đến trong một khoảnh khắc bất chợt khi ta nhận ra sự thay đổi trong chính tâm hồn mình.

Nếu như thuở đôi mươi, người ta sợ cái nghèo, sợ sự thiếu thốn vật chất, và khi bước sang tuổi trung niên, người ta bắt đầu lo âu về những biến cố bệnh tật, thì khi đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, nỗi sợ lớn nhất, ám ảnh nhất lại mang một cái tên rất nhẹ nhưng nặng trĩu lòng người: Sự cô độc.

Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào bản chất của kiếp nhân sinh, ta sẽ thấy một nghịch lý đầy tính triết học rằng cô đơn không phải là bi kịch của tuổi già, mà đó là một sự thật hiển nhiên, là bài học cuối cùng mà bất cứ ai, dù sang hay hèn, đều phải học cách đón nhận để tìm thấy sự thanh thản thực sự.

Có một chân lý mà khi còn trẻ ta thường nghe với vẻ hồ nghi hoặc chạnh lòng, nhưng khi tóc đã pha sương mới thấy nó đúng đến đau lòng, đó là việc con cái thực ra không bao giờ hoàn toàn thuộc về cha mẹ. Ngày xưa, ta ngây thơ nghĩ rằng nuôi con là để dưỡng già, là để có người hủ hỉ sớm hôm, nhưng quy luật của dòng đời lại chảy xuôi chứ không bao giờ chảy ngược. Những đứa trẻ ta từng ẵm bồng, từng dành cả thanh xuân để lo toan, giờ đây chúng đã có bầu trời riêng của chúng, chúng có những áp lực của thời đại mới, có gánh nặng cơm áo gạo tiền và những trách nhiệm riêng với gia đình nhỏ của chúng. Người già thường sống bằng ký ức, bằng những hoài niệm về những bữa cơm đông đủ tiếng cười, trong khi người trẻ lại phải sống bằng thực tại khốc liệt, bằng những cuộc họp triền miên và những chuyến đi xa nhà. Sự lệch pha ấy khiến khoảng cách giữa hai thế hệ ngày càng lớn, không phải vì con cái vô tâm hay bất hiếu, mà đơn giản vì chúng quá bận rộn để có thể thường xuyên ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ta cứ mãi đau đáu chờ đợi một cuộc điện thoại, khắc khoải mong ngóng tiếng xe dừng trước ngõ, thì chính ta đang tự giam cầm mình trong nỗi buồn tủi không lối thoát. Thời đại này, mỗi đứa con là một cánh chim bay đi tìm phương trời lạ, sự sum vầy là điều quý giá nhưng hiếm hoi, và việc chấp nhận sự xa cách ấy chính là bước đầu tiên để cởi trói cho tâm hồn mình.

Bi kịch lớn nhất của những năm tháng xế chiều không nằm ở việc ta sống một mình, mà nằm ở chỗ ta đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào người khác, kể cả đó là ruột thịt. Khi ta đặt hạnh phúc của mình vào tay con cái, ta vô tình trở thành gánh nặng tâm lý cho chúng và trở thành nạn nhân của chính sự chờ đợi. Phẩm giá của tuổi già, suy cho cùng, nằm trọn vẹn ở hai chữ “Tự Lực”. Một tuổi già hạnh phúc không được đo đếm bằng số lượng con cháu vây quanh, mà được đo bằng khả năng tự chủ của chính bản thân người đó. Đó là khi ta còn đủ sức khỏe để tự đi lại mà không cần ai dìu đỡ, còn đủ sự minh mẫn để tự quyết định cuộc sống của mình, còn đủ tiền bạc tích lũy để không phải ngửa tay xin xỏ hay nhìn sắc mặt người khác mà sống, và quan trọng hơn cả là còn đủ những niềm vui, sở thích riêng để lấp đầy những khoảng trống thời gian. Khi ta tự đứng vững trên đôi chân mình, tự lo liệu được cho bản thân, ta mới có được sự tôn trọng và một phong thái ung dung tự tại.

Đừng biến mình thành cây tầm gửi sống bám vào cây sồi già, hãy biến mình thành một cây cổ thụ, dẫu đơn độc nhưng thâm trầm và vững chãi giữa trời đất.

Và rồi, cuộc đời sẽ dạy ta bài học khắc nghiệt nhưng cũng đầy vị tha nhất: Học cách làm bạn với nỗi cô đơn. Hãy tập quen với việc ăn cơm một mình mà không thấy tủi thân, đi chợ một mình mà vẫn thấy vui vẻ lựa chọn từng mớ rau con cá, đi khám bệnh một mình mà vẫn bình tĩnh kiên cường, hay lặng lẽ ngắm hoàng hôn mà không cần ai phải trầm trồ cùng. Khi ta có thể làm tất cả những điều đó một mình, ta sẽ nhận ra cô đơn không phải là kẻ thù, mà là một người thầy, một người bạn đồng hành trung thành nhất.

Cuộc đời này thực chất là một hành trình độc đạo, cha mẹ đã rời bỏ ta đi trước, bạn đời rồi cũng có thể lỡ bước sang ngang hoặc đi về cõi vĩnh hằng, con cái thì bận rộn với guồng quay riêng, chỉ có chính bản thân ta là người duy nhất đi cùng ta từ khi sinh ra cho đến hơi thở cuối cùng. Khi không còn mong cầu ai phải hiểu thấu nỗi lòng mình, không còn khát khao ai phải ở bên cạnh để xua tan sự trống trải, lúc ấy tâm ta mới thực sự an nhiên. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành sự tĩnh tại, một trạng thái thiền định giữa đời thường mà chỉ những người đã đi qua đủ bão giông mới thấu cảm được.

Hạnh phúc ở tuổi xế chiều, do đó, cần được định nghĩa lại một cách giản đơn nhưng sâu sắc hơn. Đó không phải là nhà cao cửa rộng, không phải là con đàn cháu đống ồn ào, mà là sự bình yên trong tâm hồn và sự tự do trong nếp sống. Hãy giữ cho mình một chút tiền phòng thân để an tâm, giữ gìn sức khỏe như báu vật vì đó là vốn liếng cuối cùng, giữ lại vài người bạn tri kỷ để đôi khi cùng nhau uống chén trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái. Đừng oán trách sự lạnh nhạt của thế gian, đừng kể lể nỗi khổ đau bệnh tật với bất kỳ ai, bởi ai cũng có nỗi khổ riêng của họ.

Thay vì ngồi ủ rũ chờ đợi sự quan tâm ban phát, hãy tự tạo niềm vui cho mình bằng việc trồng một cái cây, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là tận hưởng bầu không khí trong lành của buổi sớm mai. Khi cha mẹ còn sống, ta còn nơi để trở về, còn gốc rễ để bấu víu; nhưng khi cha mẹ khuất núi, ta chỉ còn lại đích đến phía trước để bước tới. Chặng đường cuối cùng này, hãy đi thật chậm rãi, nhẹ nhàng, không vướng bận, không oán hờn. Hãy yêu thương lấy chính bản thân mình, trân trọng từng ngày được sống, và biến tuổi già trở thành những tháng ngày thanh cao, rực rỡ và kiêu hãnh nhất của một kiếp người, để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể mỉm cười rằng mình đã sống trọn vẹn và già đi một cách thật thanh thản.

Lm. Anmai, CSsR 


 

CÂU CHUYỆN MỘT ĐÔI GIÀY – Cang Huynh

Cang Huynh

Một người thợ đóng giày đã hy sinh tất cả những gì ít ỏi mình có vì một cậu bé đi chân trần… Không ai ngờ chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Mỗi sáng, ông Ernesto đều thấy cậu bé ấy dừng lại trước cửa tiệm giày của mình.

Cậu bé khoảng chín tuổi, mặc một chiếc áo sơ mi rộng thùng thình, tóc tai bù xù vì đi bộ nhiều.

Nhưng điều thu hút sự chú ý của người thợ đóng giày già nhất chính là đôi chân của cậu.

Mateo đi chân trần.

Lòng bàn chân cậu chai cứng vì bụi bẩn, và quanh các ngón chân có những vết thương nhỏ. Dù vậy, cậu vẫn đi bộ vài cây số mỗi ngày để đến trường.

Một buổi sáng nọ, ông Ernesto mở cửa.

“Này cậu bé, giày của cháu đâu?”

Mateo cúi đầu xuống.

“Chúng bị hỏng rồi.”

Chỉ vậy thôi.

Ông Ernesto phát hiện ra rằng cậu bé sống với mẹ, bà Rosa, một người phụ nữ giặt quần áo thuê từ sáng sớm để kiếm tiền mua thức ăn, củi và tiền thuê nhà.

Mua giày mới đơn giản là điều họ không đủ khả năng chi trả.

“Cháu quen rồi,” Mateo nói.

Những lời đó cứ văng vẳng bên tai ông Ernesto cả ngày.

Tình cảnh của ông cũng chẳng khá hơn là mấy.

Ông đã làm việc trong cửa hàng giày nhỏ đó hơn ba mươi năm, nhưng khách hàng ngày càng ít đi, và một số khoản nợ đã quá hạn.

Ngay lúc đó, ông nhận được một đơn đặt hàng quan trọng.

Một người đàn ông giàu có muốn đặt làm giày riêng và sẵn sàng trả giá rất cao.

Để làm chúng, ông Ernesto đã dùng số tiền tiết kiệm cuối cùng của mình để mua một miếng da thuộc loại hảo hạng.

Công việc này có thể cứu vãn cửa hàng.

Nhưng chiều hôm đó trời bắt đầu mưa.

Ông Ernesto thấy Mateo đang trú dưới mái hiên cửa hàng.

Cậu bé ướt sũng.

Chân cậu lấm lem bùn đất, và một vết thương của cậu đã bị hở ra.

“Vào trong đi.”

Mateo lắc đầu.

“Cháu sẽ làm bẩn sàn nhà của ông đấy.”

Ông Ernesto cảm thấy nghẹn ở cổ họng.

Ông cho cậu bé vào nhà, đun nước nóng và rửa chân cho cậu.

Rồi ông nhận ra cậu bé đã đi lại như vậy suốt nhiều tuần.

“Sao cháu không bỏ học?”

Mateo chỉ đơn giản trả lời:

“Vì cháu muốn học.”

Sau khi cậu bé rời đi, ông Ernesto lục lọi đống da vụn trong xưởng.

Không có mảnh nào dùng được cả.

Ông cần da thuộc chắc chắn.

Ông nhìn lên kệ.

Có một mảnh tốt nhất ông có.

Mảnh da dành riêng cho vị khách hàng có thể cứu cửa hàng giày của ông.

Ông Ernesto đặt miếng da, vừa với bàn chân nhỏ của Mateo, lên trên.

Một lúc lâu, ông không làm gì cả.

Rồi ông nhớ lại cậu bé từng phải bước trên đá để đến trường.

Ông cầm kéo lên.

Và ông cắt.

Ông làm việc suốt đêm.

Lúc rạng sáng, trên bàn làm việc, có một đôi giày màu nâu, đơn giản nhưng chắc chắn.

Khi Mateo đi ngang qua xưởng, ông Ernesto gọi cậu lại.

Cậu bé nhìn thấy đôi giày và gần như không nói nên lời.

“Chúng giá bao nhiêu?”

“Quà tặng miễn phí.”

“Nhưng… ai đã trả tiền cho chúng?”

Ông Ernesto cúi xuống trước mặt cậu.

“Một ngày nào đó, khi con có thể, hãy giúp đỡ người nghèo. Điều đó như đã trả tiền rồi.”

Mateo xỏ giày vào.

Chúng vừa vặn hoàn hảo.

Cậu đi vòng quanh xưởng vài lần với nụ cười mà ông Ernesto sẽ không bao giờ quên.

Điều Mateo không biết là đôi giày đó có giá của nó.

Ông Ernesto không còn đủ da để hoàn thành đơn đặt hàng quan trọng.

Ông mất khách hàng.

Ông mất tiền.

Và trong nhiều tuần, ông đã đứng trước nguy cơ phải đóng cửa cửa hàng.

Một số chủ cửa hàng đã chế giễu ông.

“Một người thợ đóng giày mà cho đi loại da tốt nhất của mình thì cuối cùng sẽ không còn cửa hàng giày nữa.”

Ông Ernesto không bao giờ trả lời.

Mỗi sáng, ông đều thấy Mateo đi học mà không hề đau đớn.

Thế là đủ đối với ông.

Thời gian trôi qua, cậu bé bắt đầu dành cả buổi chiều ở xưởng.

Cậu quét dọn sàn nhà.

Cậu sắp xếp dụng cụ.

Cậu quan sát ông Ernesto may vá và sửa chữa giày dép.

Cho đến một ngày, Mateo mang đôi giày nhỏ đến.

Mẹ cậu đã tìm được việc làm ở một thị trấn khác.

Họ phải đi.

Đôi giày đã cũ và bắt đầu chật.

Mateo muốn trả lại chúng.

Ông Ernesto từ chối.

“Cứ giữ lấy chúng. Để cháu không bao giờ quên quãng đường cháu đã đi với chúng.”

Cậu bé ôm chặt chúng vào ngực.

“Cháu sẽ quay lại, ông Ernesto.”

Người thợ đóng giày mỉm cười.

Ông nghĩ đó chỉ là lời hứa tạm biệt.

Mateo rời đi.

Nhiều năm trôi qua.

Ông Ernesto già đi sau chính quầy hàng đó.

Hai mươi năm sau, khi ông đã bảy mươi hai tuổi và quyết định đóng cửa tiệm giày vĩnh viễn vì hầu như chẳng còn khách hàng nào, ông nghe thấy tiếng cửa mở lần cuối.

Một chàng trai trẻ, ăn mặc lịch sự, bước vào.

Anh ta mang theo một chiếc hộp gỗ nhỏ.

Anh ta đặt nó lên quầy.

Anh ta mở nó ra.

Và ông Ernesto đứng bất động.

Bên trong là một đôi giày trẻ em, cũ kỹ và sờn rách, với những đường khâu mà ông có thể nhận ra giữa hàng ngàn đôi giày khác.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle