DEB HAALAND TRỞ THÀNH NGƯỜI PHỤ NỮ BẢN ĐỊA MỸ ĐẦU TIÊN ĐẮC CỬ THỐNG ĐỐC TẠI MỸ

BBC News Tiếng Việt 

 DEB HAALAND TRỞ THÀNH NGƯỜI PHỤ NỮ BẢN ĐỊA MỸ ĐẦU TIÊN ĐẮC CỬ THỐNG ĐỐC TẠI MỸ

Bà Deb Haaland (thuộc cộng đồng người bản địa Laguna Pueblo) đã trở thành phụ nữ người Mỹ bản địa đầu tiên được bầu làm thống đốc một bang tại Mỹ.

Bà Haaland, thành viên Đảng Dân chủ, đã đánh bại ứng viên Đảng Cộng hòa Greg Hull, cựu Thị trưởng thành phố Rio Rancho, để trở thành thống đốc bang New Mexico.

Là người thuộc thế hệ thứ 35 sinh sống tại New Mexico, bà Haaland sẽ tuyên thệ nhậm chức thống đốc thứ 33 của bang vào ngày 1/1/2027, kế nhiệm Thống đốc Michelle Lujan Grisham, người không thể tiếp tục tranh cử do đã hết nhiệm kỳ theo quy định.

Trước đó, vào năm 2015, bà Haaland trở thành phụ nữ người Mỹ bản địa đầu tiên lãnh đạo một đảng chính trị cấp bang khi được bầu làm chủ tịch Đảng Dân chủ bang New Mexico.

Tháng 11/2018, bà cùng dân biểu Sharice Davids (Đảng Dân chủ, bang Kansas) trở thành hai phụ nữ người Mỹ bản địa đầu tiên được bầu vào Quốc hội Mỹ.

Năm 2019, bà Haaland trở thành người phụ nữ đầu tiên chủ trì một phiên họp của Hạ viện Mỹ trong cuộc tranh luận về quyền bầu cử.

Một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp của bà diễn ra vào năm 2021, khi Tổng thống Joe Biden bổ nhiệm bà làm Bộ trưởng Nội vụ Mỹ. Qua đó, bà trở thành người Mỹ bản địa đầu tiên giữ chức vụ bộ trưởng trong Nội các liên bang.

#BBCNewsTiengViet #My #nguoiMybandia #DebHaaland


 

LINH MỤC ĐẦU TIÊN CỦA BHUTAN

Con Tin Chúa Ơi

 LINH MỤC ĐẦU TIÊN CỦA BHUTAN

Một cuộc gặp gỡ tình cờ trên máy bay với Thánh Têrêsa Calcutta đã trở thành bước ngoặt trong cuộc đời của một người từng theo Phật giáo, giúp ông quyết định dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và trở thành linh mục Công giáo đầu tiên người Bhutan.

Đó là câu chuyện của linh mục Kinley Tshering, thuộc Dòng Tên, sinh ra trong một gia đình Phật tử sùng đạo tại Bhutan, quốc gia có Phật giáo chiếm ưu thế, nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc.

Ngay từ nhỏ, ngài đã được gia đình đưa đến chùa và làm lễ xuất gia theo truyền thống Phật giáo. Tuy nhiên, khi theo học tại một trường Công giáo ở Darjeeling, Ấn Độ, ngài dần khám phá đức tin Kitô giáo và lãnh nhận Bí tích Rửa tội vào năm 1974.

Dù đã trở thành người Công giáo, Kinley Tshering vẫn phân vân trước ơn gọi linh mục vì công việc, tương lai và những kỳ vọng của gia đình. Ngài nhiều lần cầu xin Thiên Chúa ban cho mình một dấu chỉ để có thể đưa ra quyết định.

Điều đặc biệt đã xảy ra trên một chuyến bay đến Calcutta (Ấn Độ), khi ngài bất ngờ được ngồi cạnh Mẹ Têrêsa.

Trong cuộc trò chuyện, sau khi nghe ngài chia sẻ về những trăn trở trong lòng, Mẹ Têrêsa đã nắm tay và khích lệ: “Con có ơn gọi, hãy quảng đại với Thiên Chúa, và Người sẽ quảng đại với con.”

Những lời ấy khiến Kinley Tshering xúc động đến rơi nước mắt. Ngài tin rằng đây chính là dấu chỉ mình đã cầu xin Thiên Chúa bấy lâu.

Năm 1986, ngài quyết định gia nhập Dòng Tên và đến năm 1995 được truyền chức linh mục, trở thành linh mục Công giáo đầu tiên người Bhutan.

Sau khi chịu chức, cha trở lại Calcutta để gặp và cảm ơn Mẹ Têrêsa. Trong cuộc hội ngộ đầy xúc động ấy, Mẹ cho biết đã cầu nguyện cho cha suốt mười năm qua.

Từ một người được nuôi dưỡng trong truyền thống Phật giáo đến vị linh mục Công giáo đầu tiên của Bhutan, hành trình của cha Kinley Tshering là một chứng tá đặc biệt về ơn gọi và sự quan phòng của Thiên Chúa.

Đôi khi, chỉ một cuộc gặp gỡ và một lời khích lệ cũng có thể làm thay đổi cả cuộc đời một con người.


 

MỘT ĐÔI GIÀY MÙA ĐÔNG. Truyen ngan HAY

Cang Huynh 

MỘT ĐÔI GIÀY MÙA ĐÔNG.

Vào một buổi chiều mùa đông lạnh giá, một cậu bé đứng trước một cửa hàng giày trên vỉa hè trung tâm thành phố. Áo khoác của cậu quá mỏng so với thời tiết, và đôi chân cậu không mang giày. Run rẩy vì lạnh, cậu nhìn chằm chằm qua cửa kính vào những đôi ủng mùa đông chắc chắn được trưng bày.

Một người phụ nữ đi ngang qua để ý thấy cậu và dừng lại. “Này, cháu yêu,” bà nhẹ nhàng nói. “Cháu đang nhìn gì trong đó vậy?”

Cậu bé ngước nhìn bà. “Cháu đang cầu xin Chúa cho cháu một đôi ủng,” cậu thì thầm. “Chân cháu lạnh quá.”

Trong giây lát, người phụ nữ không nói gì. Rồi bà chìa tay ra. “Nào. Để chúng ta vào trong.”

Bà hỏi một nhân viên bán hàng vài đôi tất ấm và một vài đôi ủng mùa đông vừa cỡ cậu bé. Sau đó, bà nhẹ nhàng hỏi xem họ có thể mang cho bà một chậu nước ấm và một chiếc khăn sạch không.

Khi mọi thứ đã sẵn sàng, bà quỳ xuống bên cạnh băng ghế nơi cậu bé đang ngồi. Bà cẩn thận rửa sạch đôi chân lạnh lẽo, bẩn thỉu của cậu và nhẹ nhàng lau khô chúng.  Rồi bà xỏ cho cậu một đôi tất dày và giúp cậu xỏ đôi ủng mới, kiểm tra xem các ngón chân của cậu có đủ chỗ không.

Cậu bé hầu như không nói một lời. Cậu chỉ nhìn xuống chân, xoay xoay chúng một chút, như thể cậu không thể tin rằng đôi ủng đó thực sự là của mình.

Người phụ nữ mỉm cười và nhẹ nhàng vuốt tóc cậu ra khỏi trán. “Xong rồi. Chắc hẳn cháu sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nhiều. Nhớ giữ gìn sức khỏe nhé?”

Bà đã trả tiền cho mọi thứ và chuẩn bị rời đi thì cảm thấy một bàn tay nhỏ bé nắm lấy tay mình. Cậu bé đã vội vàng đi theo bà. Cậu nắm chặt tay bà và ngước nhìn lên với đôi mắt đẫm lệ.

“Thưa bà, cháu có thể hỏi bà một điều không ạ?”

“Tất nhiên rồi, con yêu.”

Cậu bé ngập ngừng, nhìn vào khuôn mặt bà. “Bà… bà có phải là vợ Chúa không ạ?”

Mắt bà rưng rưng nước mắt.  Cô cúi xuống cho đến khi hai người ngang tầm mắt và nhẹ nhàng đáp, “Không, con yêu. Cô chỉ là người biết ơn tất cả những gì Chúa đã ban cho cô. Và hôm nay, cô được chia sẻ một chút điều tốt đẹp đó với con.”

Đôi khi, đáp lại lời cầu nguyện của ai đó không cần một hành động lớn lao. Nó bắt đầu bằng việc nhận thấy một người cần giúp đỡ—và dừng lại đủ lâu để làm điều gì đó giúp họ.

Đối với một người, một đôi ủng mùa đông chỉ là một món đồ mua sắm khác. Đối với người khác, nó có nghĩa là đôi chân ấm áp, một chút thoải mái, và cảm giác phi thường rằng lời cầu nguyện thầm lặng của họ đã được lắng nghe.

Chúng ta có thể không bao giờ biết một hành động tử tế đơn giản có ý nghĩa như thế nào đối với ai đó. Nhưng đó có thể chính là điều giúp họ tin tưởng trở lại—vào tình yêu, vào lòng trắc ẩn, và vào những người vẫn còn quan tâm.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle. 


 

TỔ QUỐC LÀ GÌ….?

Xuyên Sơn

TỔ QUỐC LÀ GÌ….?

Năm 2006…, Ông có đến nhà Từ đường của Gia đình tôi để dự đám giỗ Ông Nội…!

Trong lúc uống trà dư chờ tửu hậu…,  ông bắt chân bó gối trên ghế,

chân kia thả xuống đất…, đặc sệt của người bình dân Tây Nam bộ, kéo xệ cặp kính lão xuống, nhìn kỹ xung quanh nhà, nhìn lên mái ngói… rồi nhìn ra cửa….

– “Chú (Ông Nội tôi), học trường Tây, học nghề trường Bá nghệ ở Sài Gòn (L’école des Mécanicihens Asiatiques).

Vậy mà xây nhà kiểu Nam Bộ rặc ròi vậy…! Mái ngói âm dương, cửa ba gian, bàn thờ Gia tiên ở chính giữa có hai câu đối hay…!

“Những tưởng cùng nhau tròn Tứ Đức.

Ai ngờ theo trẻ vẹn Tam Tòng.”

Rồi ông gật gù như đang ngẫm điều gì đó…

– “Chú không xây nhà theo kiểu lầu vì con cháu đi lại, ăn ở trên đó sẽ

“húy thượng”, như đi lại trên đầu Ông Bà…!

Như vậy là tốt lắm, là biết ơn Tổ tiên, con cháu biết tôn trọng Cội nguồn…!”

Tôi nhìn ông và hỏi thêm nhà văn Sơn Nam:

– Vậy theo Chú, thì Tổ quốc là gì…?

Ông hớp tách nước trà rồi khà một cái, như đã lắm…

– Tổ quốc như là một mái nhà yên ấm, nơi nó chứa đựng rất nhiều điều thiêng liêng mà mỗi người hướng đến, nó trừu tượng, không ai nhìn thấy nhưng ai cũng cảm được và muốn được…!

Ai cũng muốn được chánh quyền che chở…!

Tôi châm thêm nước sôi vào bình, mời ông thêm điếu thuốc thơm, bật lửa cho ông, nhìn thấy hai đầu ngón tay đã vàng vì khói ám…, ông hớp tách trà nóng, ông thong thả nói tiếp…

– Theo tôi, Tổ quốc là một nơi mà:

Người ta có thể kiếm sống được bằng một công việc lương thiện, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không bị đâm hơi, không bị nói xóc hông…, được uống cà phê vỉa hè, được ngắm cảnh, được viết lách kiếm tiền,

được nghe và thấy những điều buồn vui trong thiên hạ…!

* Xem ra, cái khái niệm về Tổ quốc rất bình dị và đơn giản như vậy mà nó vẫn là khát vọng của hàng triệu… triệu con người….!

Tôi nhìn ông…, một con người ăn nói bộc trực, bình dân và luôn có những

từ ngữ, khẩu khí, tính cách khẳng khái, “rặc ròi” của người dân Tây Nam Bộ…

Ngẫm những điều ông nói rất hay và rất đúng…!

ĐINH TRỰC 


 

TIN VUI: CHƯƠNG TRÌNH TRI ÂN TPB VNCH TIẾP TỤC tại DCCT SÀI GÒN SAU HAI NĂM BỊ CẤM

Ngày TPB-VNCH lần thứ 20 tại Dòng Chúa Cứu Thế, Kỳ Đồng, Sài Gòn:

Sáng nay, Thứ Bảy (24/10/2026), quý ông Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa (TPB-VNCH) đến từ 24 Quận, Huyện (cũ) Sài Gòn đã về Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, 38 Kỳ Đồng, Quận 3, để nhận sự trợ giúp của quý vị ân nhân trong và ngoài nước.
Tổng số TPB-VNCH quy tụ cho lần thứ XX là 311 người. Chương trình đã trao quà, tiền xe đi lại, khám chữa bệnh, phát thuốc, hỗ trợ viện phí, “bữa ăn yêu thương” cho các ông TPB-VNCH.
 
Trong đó, số tiền giúp cho TPB-VNCH gồm:
– Số tiền còn lại từ đợt trước (đợt XIX ngày 28/03/2026): 2.131.750.479 VND
– Số tiền quý ân nhân trong và ngoài nước ủng hộ từ ngày 29/03/2026 đến ngày 24/10/2026 :
502.339.260 VND
Tổng số tiền có là: 2.634.089.739 VND
Cụ thể, chương trình đã dành phí cho đợt XX là: 541.900.000 VND
Còn lại: 2.092.189.739 VND
 
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý ân nhân trong và ngoài nước luôn đồng hành trợ giúp để chương trình trợ giúp TPB-VNCH được hoàn thành trong tình bác ái chia sẻ Kitô giáo.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho quý vị, nhất là ban bình an, tình yêu thương cho các ông TPB-VNCH!
(Truyền Thông Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn)

Ca sĩ Thế Sơn giúp vui cho các Bác Thương Phế Binh QLVNCH vào dịp Xuân 2024

Các kỳ họp mặt trước đây

Chương trình có tên phổ biến là“Tri Ân Thương Phế Binh VNCH” và khẩu hiệu/chủ đề“Bên Nhau Đi Suốt Cuộc Đời”. Một số nguồn khác gọi là“Bên nhau đi nốt cuộc đời” 

Hoạt động của Dòng Chúa Cứu Thế bắt đầu khoảng 2012. Đến giai đoạn 2017-2018, chương trình cho biết đã hoạt động sáu năm và có gần 6.000 TPB ghi danh.

Đã có nhiều linh mục Dòng Chúa Cứu Thế tham gia trong những giai đoạn khác nhau,  Cha Lê Ngọc Thanh, Cha Đinh Hữu Thoại, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Cha Lê Xuân Lộc và về sau là Cha Trương Hoàng Vũ, Ngài phụ trách chương trình từ 2019 đến 2024.

Tháng 4/2024, Trương Hoàng Vũ thông báo tạm ngưng công việc, ngừng nhận hồ sơ mới và đề nghị các nhà hảo tâm không tiếp tục gửi tiền về chương trình. Thông báo chính thức nói nguyên nhân còn liên quan đến thiếu nhân sự, thiếu địa điểm và áp lực từ cơ quan an ninh đối với linh mục và thiện nguyện viên.

BAO GIỜ, VIỆT NAM?-Song Chi

Song Chi

BAO GIỜ, VIỆT NAM?

Kết quả bầu cử giữa kỳ 2026 đã gửi đi một thông điệp không còn gì rõ ràng hơn: đa số người dân Mỹ không hài lòng với những chính sách của đảng Cộng Hòa và nhất là của Tổng thống Trump, cũng như sự tham nhũng công khai của chính phủ và gia tộc Trump. Hai năm trước, vì không hài lòng với đảng Dân Chủ, đa số người Mỹ đã trao cho Trump một cơ hội lớn khi từ chiếc ghế Tổng thống cho tới lưỡng viện đều rơi vào tay đảng Cộng Hòa, và bây giờ sau hai năm, mệt mỏi với thuế quan, vật giá xăng dầu đắt đỏ, lạm phát phi mã, cuộc chiến với Iran…người Mỹ đã bỏ phiếu để hạn chế bớt quyền hành của Trump và đảng Cộng Hòa. Điều quan trọng với đảng Dân Chủ bây giờ là học bài học thất bại của bầu cử Tổng thống 2016, 2024 để có cửa thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống 2028, nếu họ lại có những chính sách quá cấp tiến, quá tả, làm mất lòng khối cử tri trung dung, họ sẽ lại thất bại. 

Cái khổ của chính trị Mỹ cũng như chính trị các nước châu Âu là ngày càng trở nên chia rẽ, cực đoan, những chính trị gia hay đảng phái có đường lối trung dung, truyền thống, ôn hòa, khó thắng các chính trị gia, đảng phái mỵ dân, cực đoan – dù tả hay hữu. Với một quốc gia chỉ có hai đảng lớn thay nhau cầm quyền như ở Mỹ, nhiều khi người dân không hoàn toàn hài lòng với mọi chính sách của một đảng (hay nói cách khác, chỉ hài lòng với một số chính sách của đảng này và một số chính sách của đảng kia), hoặc không hài lòng với cả hai ứng cử viên Tổng thống Dân Chủ và Cộng Hòa, nhưng họ không có chọn lựa khác, vì các ứng cử viên độc lập rất khó thắng. Trong khi đó với các quốc gia dân chủ đại nghị có nhiều đảng thì một đảng khó chiếm được đa số phiếu phải chọn con đường liên minh với các đảng khác, và do đó chính sách của chính phủ liên minh thường phải thỏa hiệp, không thể thực hiện những biện pháp cải cách triệt để nếu muốn. Cuối cùng là người dân cũng lại không hài lòng.

Những năm qua, chúng ta đã và đang chứng kiến các nền dân chủ phương Tây trên thế giới bị khủng hoảng, bị sa sút vì rất nhiều nguyên nhân tác động – cả trong và ngoài. Nhưng dẫu sao đi nữa, báo chí, luật pháp vẫn có thể lên tiếng, người dân vẫn có thể xuống đường biểu tình phản đối và cuối cùng là dùng lá phiếu để thay đổi. Đó là điều mà ở Việt Nam, đội ngũ dư luận viên, những người bảo vệ chế độ cho tới những người dân bình thường chỉ muốn mũ ni che tai làm ăn kiếm tiền không muốn đề cập đến chính trị…cố né tránh. Trong khi công kích các nước dân chủ là “không ổn định”, thay Tổng thống, Thủ tướng như thay áo, đa đảng là “loạn”, biểu tình toàn là bọn cướp phá, hôi của…họ cũng lờ đi những cái quyền căn bản mà người dân các nước độc tài không bao giờ có– từ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do lập hội, tự do tôn giáo…cho tới tự do ứng cử và bầu cử.

Cuối cùng, khi nhìn sự phấn khích đi bầu, những giọt nước mắt vui mừng hay thất vọng…từ người dân các nước dân chủ, liệu người Việt có chạnh lòng nghĩ tại sao chúng ta lại không được có cái quyền đó, niềm vui và sự giận dữ đó? Tại sao chúng ta cứ phải chấp nhận chỉ được quyền đi làm và đóng thuế nuôi bộ máy nhà nước nhưng không có bất cứ cái quyền gì? Tại sao chúng ta cứ phải chấp nhận là “khách trọ” trên chính quê hương mình, mọi quyết định từ nhỏ nhặt cho tới những quyết định lớn ảnh hưởng đến toàn bộ đất nước, dân tộc trong hàng thế hệ chỉ do một nhóm người toàn quyền quyết định? Từ những “giá trị vô hình” như di sản về văn hóa, ký ức lịch sử…cho tới những giá trị hữu hình, cụ thể như đất đai, tài nguyên khoáng sản, sự tồn tại của một cái tên tỉnh, thành phố, sự tồn tại của những làng xã, cộng đồng, con đường đi, tương lai của đất nước….? Tại sao chúng ta cứ phải chịu đựng những sự bất công phi lý trong xã hội, nạn tham nhũng như căn bệnh mãn tính không thể chạy chữa, khoảng cách giàu nghèo quá lớn – một thiểu số quan chức và đám tư bản Đỏ thân với nhà nước thì giàu sụ, hưởng mọi đặc quyền đặc lợi trong khi hàng chục triệu người vẫn sống ở mức nghèo, ăn bữa nay lo bữa mai, ốm đau không tiền chạy chữa, không có cơ hội để vươn lên? Tại sao vùng này, tỉnh thành này được hưởng nhiều ưu tiên hơn trong chính sách đầu tư, cơ hội phát triển…so với vùng kia, tỉnh thành kia? v.v…và v.v…

Mỗi khi có một ai đó đoạt giải Nobel Văn chương hay giải Oscar Điện ảnh, người Việt thường hay hỏi nhau bao giờ thì tới Việt Nam. Nhưng điều quan trọng hơn, cần kíp hơn nhiều, có lẽ là câu hỏi bao giờ thì người Việt được thực sự cầm lá phiếu trên tay để quyết định chọn lựa một lãnh đạo, một đảng phái chính trị, qua đó cũng là chọn lựa hướng đi của đất nước trong một giai đoạn nhất định? Chúng ta còn chấp nhận vui ké buồn ké chuyện bầu cử của nước khác, và là “khách trọ” trên quê hương mình cho đến bao giờ? 


 

LỜI THÌ THẦM CỦA MỘT NGƯỜI SỐNG SÓT – Truyen ngan HAY

Liem Pham cùng với Y-Tan Vo và Steve Le.

THÌ THẦM CỦA MỘT NGƯỜI SỐNG SÓT

 

Có những người tìm thấy Thượng Đế trong nhà thờ. Có những người phải đi qua chiến tranh, qua cái chết, rồi mới nhận ra Ngài đã ở bên mình từ lâu.

Tôi đã từng là người không tin.

Không phải tôi chống lại Thiên Chúa. Cũng không phải tôi phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế. Chỉ đơn giản là trong những năm tháng tuổi trẻ, tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện có một Đấng ở trên cao đang nhìn xuống cuộc đời mình.

Ngày ấy, tôi là người lính.

Lội rừng, băng suối, xâm nhập ra Bắc, qua Lào, xuống Miên, rồi dọc theo những đường biên giới mịt mù khói súng…

Thế giới của tôi chỉ có bản đồ, khẩu súng, chiếc ba lô và những người đồng đội.

Tôi tin vào đôi chân còn chạy được. Tin vào khẩu súng còn đạn. Tin vào người đi trước và người đi sau.

Còn chuyện cầu nguyện?

Tôi không biết.

Nhưng có những đêm…

Những đêm rừng im đến mức nghe rõ tiếng lá rơi, tiếng côn trùng và cả nhịp tim mình đập trong lồng ngực.

Trong bóng tối ấy, tôi thường thấy những người đồng đội của mình cầu nguyện.

Trưởng toán Bùi Văn Thiện, tay lần chuỗi, môi mấp máy từng lời kinh.

Anh Phạm Văn Ngợi nhắm mắt, không nói gì, như đang trò chuyện với một người vô hình.

Anh Hoàng Như Bá ngước mặt lên trời, dù phía trên chỉ là một vòm lá rừng đen kịt.

Anh Võ Tấn Y lặng lẽ đan hai bàn tay vào nhau, thì thầm những lời mà chỉ có anh và Thượng Đế nghe được.

Còn tôi… Tôi chỉ biết nhìn. Một lần. Rồi mười lần. Rồi nhiều lần đến mức không còn nhớ nổi. Ban đầu, tôi thấy lạ, sau đó, tôi thấy tò mò.

Và có lúc, tôi thấy ghen tị. Bởi giữa một ranh giới sống chết mong manh như sợi chỉ, những người ấy có một nơi để gửi gắm nỗi sợ, có một Đấng để cầu xin bình an. Còn tôi thì không.

Tôi cứ nghĩ người lính phải tự cứu lấy mình. Nhưng càng đi sâu vào chiến tranh, tôi càng hiểu có những lúc con người bất lực hoàn toàn trước số phận. Có những viên đạn không biết tránh ai. Có những cái chết không báo trước. Và có những lần sống sót mà chính người trong cuộc cũng không thể giải thích.

—-

Có một lần toán bị lộ, bi truy đuổi. Đạn xé rừng như xé vải. Tiếng AK nổ dồn dập, nghe như có người đang gõ thẳng vào lồng ngực. Chúng tôi chạy, không phải để chiến thắng, mà để còn sống.

Rồi có lúc không còn chạy được nữa. Mặt đối mặt, tôi vẫn nhớ ánh mắt của người bên kia. Cũng là một con người, cũng có đôi mắt, cũng có nỗi sợ và có lẽ cũng đang nghĩ đến chuyện sống còn.

Rồi tiếng súng nổ, tôi bị trúng. Không phải viên đạn xuyên qua thân thể, mà là dây đạn đeo ngang người, đạn AK xuyên phá tan tành, đau rát như có lửa liếm qua da thịt. Tôi ngã xuống, trong khoảnh khắc ấy, mọi thứ như ngừng lại.

Tôi không kịp nghĩ đến gia đình. Không kịp nhớ đến những người thân.

Không kịp tiếc nuối một điều gì. Chỉ có một ý nghĩ bật ra trong đầu, không thành tiếng:

“Nếu có Thượng Đế… xin Ngài cho con sống.” Tôi không biết mình đang cầu xin ai. Tôi cũng không biết liệu có ai nghe thấy lời cầu xin ấy hay không. Nhưng tôi đã đứng dậy. Và tôi chạy tiếp. Tôi đã thoát chết không chỉ một lần, mà nhiều lần.

Nhiều đến mức về sau, khi ngồi nghĩ lại, chính tôi cũng không hiểu tại sao mình vẫn còn sống

Có thể đó là may mắn, có thể đó là bản năng sinh tồn. Nhưng cũng có thể, trong những giây phút mà tôi không nhìn thấy lối thoát, đã có một bàn tay vô hình nào đó giữ tôi lại với cuộc đời.

Tôi không dám quả quyết.

Nhưng tôi bắt đầu biết nghĩ đến Thượng Đế.

****

KHI CHIẾN TRANH ĐI QUA, ĐỨC TIN MỚI TÌM ĐẾN

Rồi chiến tranh kết thúc.

Lịch sử sang trang.

Những con đường máu trở thành ký ức. Những khu rừng từng nuốt mất tuổi trẻ của chúng tôi dần dần chỉ còn xuất hiện trong những giấc mơ.

Tôi ngồi lại, một mình, và bắt đầu tự hỏi:

Tại sao tôi còn sống?

Tại sao trong biết bao lần đáng lẽ phải chết, tôi vẫn còn ngồi đây?

Tại sao có những người giỏi hơn tôi, can đảm hơn tôi, nhưng đã nằm lại giữa rừng sâu, không một nấm mồ, không một lời tiễn biệt?

Tôi nhớ những đêm trong rừng.

Những bàn tay lần chuỗi của Bùi Văn Thiện.

Đôi mắt nhắm nghiền của anh Phạm Văn Ngợi.

Ánh nhìn hướng lên trời của Hoàng Như Bá.

Hai bàn tay chắp lại của Võ Tấn Y.

Ngày ấy, tôi chỉ đứng nhìn họ cầu nguyện.

Bây giờ, tôi mới hiểu.

Có lẽ họ đã tìm thấy một sức mạnh mà người lính như tôi chưa từng biết đến.

Đó là đức tin.

Đức tin không làm cho chiến tranh biến mất. Đức tin cũng không bảo đảm người lính sẽ không chết.

Nhưng đức tin giúp con người đối diện với cái chết mà không hoàn toàn tuyệt vọng.

Tôi bắt đầu nghĩ rằng, có thể Thượng Đế đã ở đó từ lâu.

Không phải chỉ trong những lời kinh của đồng đội tôi.

Mà có thể Ngài cũng đã nghe thấy tiếng kêu thầm lặng của một người chưa từng biết cầu nguyện.

Và rồi tôi quyết định xin rửa tội, theo Đạo Công Giáo.

Không phải vì tôi đã hiểu hết giáo lý.

Không phải vì tôi muốn tìm một chỗ dựa để quên đi quá khứ.

Mà bởi tôi muốn học cách tin.

Tôi muốn biết Đấng mà những người đồng đội năm xưa đã gửi gắm cuộc đời họ là ai.

Tôi muốn cảm ơn Ngài.

Vì một điều rất đơn giản:

Tôi vẫn còn sống.

—-

Những ngày đầu trên đất Mỹ không dễ dàng.

Không tiếng Anh.

Không nghề nghiệp.

Không một hành trang nào ngoài những năm tháng quân ngũ và kinh nghiệm sống còn trong chiến tranh.

Một người lính, khi không còn chiến tranh, đôi khi giống như một con dao đã hoàn thành nhiệm vụ rồi bị bỏ quên trong ngăn kéo.

Tôi phải bắt đầu lại từ đầu.

Có người cho tôi một công việc nhỏ.

Có người kiên nhẫn chỉ tôi cách nói một câu tiếng Anh đơn giản.

Có người dừng xe chở tôi đi, đối xử với tôi như một người thân trong gia đình.

Ngày ấy, tôi không hiểu hết ý nghĩa của những việc nhỏ bé đó.

Bây giờ nhìn lại, tôi mới thấy.

Ơn trên không phải lúc nào cũng hiện ra bằng ánh sáng từ trời cao.

Thượng Đế không nhất thiết phải xuất hiện giữa tiếng chuông nhà thờ hay trong một phép lạ mà mọi người đều nhìn thấy.

Đôi khi, Ngài đến qua một con người bình thường.

Một chiếc xe dừng lại đúng lúc.

Một cánh cửa mở ra khi mình tưởng không còn đường đi.

Một bàn tay chìa ra khi mình đang cần được giúp đỡ.

Và có những lúc, Ngài không thay đổi hoàn cảnh của mình, nhưng ban cho mình đủ sức mạnh để bước tiếp.

Tôi bắt đầu hiểu rằng đức tin không chỉ là quỳ xuống đọc kinh.

Đức tin còn là biết cảm ơn.

Biết tha thứ.

Biết thương người.

Và biết rằng mình không cô độc giữa cuộc đời này.

Hôm nay, tôi 83 tuổi. Tôi ngồi ở Santa Ana, nhìn nắng rơi xuống hiên căn mobile home yên bình. Không còn tiếng trực thăng, không còn tiếng PRC-25 rè rè trong tai nghe, không còn tiếng AK xé rừng lúc nửa đêm. Chỉ còn tiếng gió, tiếng chim và những buổi sáng bình yên.

Nhưng có những lúc tôi vẫn nhắm mắt lại, không phải vì sợ mà vì nhớ.

Nhớ những cánh rừng năm cũ.

Nhớ những con đường không có trên bản đồ.

Nhớ những người đã cùng tôi đi qua sinh tử.

Và nhớ những người đã không bao giờ trở về.

Tôi không biết ngày hôm nay họ đang ở đâu.

Nhưng trong lời cầu nguyện của mình, tôi vẫn nhắc tên họ.

Tôi cầu xin Thượng Đế đón nhận những linh hồn đã nằm xuống, dù họ thuộc bên nào, dù họ mang màu áo nào.

Bởi sau cùng, trước mặt Thượng Đế, tất cả chúng ta đều là những con người có một cuộc đời, một gia đình và một số phận.

Tôi cũng cầu xin Ngài tha thứ cho những lỗi lầm của tuổi trẻ, cho những điều tôi đã làm, những điều tôi đã không làm, và những điều đến hôm nay vẫn còn khiến lòng mình day dứt.

Có một điều tôi muốn nói với Thượng Đế.

Lần này, tôi không còn lúng túng như ngày xưa.

Tôi không còn phải nhìn người khác cầu nguyện rồi tự hỏi họ đang nói chuyện với ai.

Tôi biết mình đang nói với ai.

 

Tôi chỉ thì thầm:

“Lạy Chúa, cảm ơn Ngài đã cho con được sống.

Cảm ơn Ngài đã gìn giữ con qua những cánh rừng đầy chết chóc. Cảm ơn Ngài đã cho con gặp những người tốt trên đất khách.

Cảm ơn Ngài qua 3 lần mổ tim. Cảm ơn Ngài đã cho con có thêm những năm tháng bình yên để nhìn lại cuộc đời. Con không biết mình còn bao nhiêu ngày nữa.

Nhưng nếu một ngày nào đó Ngài gọi con trở về, xin cho con được ra đi trong bình an.

Và xin Ngài đừng quên những người bạn của con, những người đã nằm lại giữa rừng sâu, nơi không có tiếng chuông nhà thờ, không có lời kinh tiễn biệt.”

Nếu có ai hỏi tôi:

Có phải phép màu của Thượng Đế đã cứu tôi trong chiến tranh không?

Tôi sẽ không dám trả lời thay Ngài. Tôi không biết tại sao mình được sống, còn những người khác phải nằm xuống.

Tôi chỉ biết rằng, sau 83 năm cuộc đời, sau những tháng ngày đi qua lằn ranh sinh tử, tôi đã tìm thấy đức tin.

Có thể tôi đến với Chúa rất muộn.

Nhưng có lẽ, Ngài đã chờ tôi từ rất lâu.

Và tôi muốn nói với những người đồng đội năm xưa một điều:

Ngày ấy, các anh cầu nguyện trong rừng.

Tôi đứng bên cạnh, chỉ biết nhìn.

Hôm nay, đến lượt tôi cầu nguyện.

Tôi cầu nguyện cho các anh.

Tôi cầu nguyện cho những người còn sống.

Và tôi cầu nguyện cho chính mình.

Bởi cuối cùng, người lính có thể mang theo khẩu súng để đi qua chiến tranh, nhưng để đi hết cuộc đời, có lẽ con người cần một niềm tin.

Và nếu bạn hỏi tôi, sau tất cả những gì đã trải qua, tôi tin điều gì nhất?

Tôi xin thưa:

Tôi tin rằng con người không thể tự mình giải thích hết mọi điều trong cuộc sống.

Có những điều vượt quá sự hiểu biết của chúng ta.

Và đôi khi, trong giây phút tưởng chừng cô độc nhất, ta vẫn không hề đơn độc.

Lạy Chúa, cảm ơn Ngài.

Một người lính sống sót.

Một người tìm thấy đức tin.

Và một người, ở tuổi 83, vẫn còn biết cúi đầu tạ ơn Thượng Đế.

(Viết lời kể Lê Thanh Xuân)

 Phạm Sơn Liêm.


 

Đọc sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của LM Nguyễn Văn Tuyên DCCT – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đọc sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của LM Nguyễn Văn Tuyên DCCT (1) 

Tác giả: Phùng Văn Phụng

1)Sự Đau khổ.

 

 

 

 

 

 Vì đọc cuốn sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” thấy có nhiều điều đáng suy gẫm và học hỏi nên tôi xin ghi lại vài suy tư về đề tài này mặc dầu trước đây tôi cũng đã có viết bài: “

Đời là bể khổ: Thái độ của chúng ta trước đau khổ. (2)

 *Chúng ta khổ vì bị thương tật, mất tay, mất chân, tàn tật… hay chết chóc do tai nạn xe cộ, tàu thuyền, máy bay hay do chiến tranh như ở Việt Nam trước năm 1975, ở Ukraine hiện nay (2026). Chúng ta khổ vì nhà cửa bị bom đạn tàn phá, gia đình ly tán, chạy tị nạn khắp nơi, đói khát, đau bịnh… bị khủng hoảng tâm lý, hoảng loạn tinh thần … Một phần tư người Ukraine phải bỏ xứ đi tị nạn ra nước ngoài, tình trạng cũng giống như người Việt chúng ta bỏ nước ra đi sau tháng 04 năm 1975 và tiếp tục tị nạn như vậy, vượt biên bằng thuyền, máy bay, đi bộ… nhiều năm sau đó…

 *Chúng ta khổ tâm vì những sự đau lòng, buồn phiền… sự bất như ý như ly dị, ly thân, con cái bỏ nhà ra đi, tù tội vì bài bạc, say rượu, hút xách, xì ke ma túy, con cái không chịu học hành, chỉ ăn chơi lêu lổng… Khổ vì vợ chồng con cái bất đồng quan điểm, gây gổ, xung đột … tính tình quá khác biệt, quan liêu, bảo thủ, gia trưởng… Khổ vì nợ nần chồng chất không thể trả nổi… 

2)Nhìn đau khổ với đời sống đức tin Kitô giáo. 

Với đức tin của người Kitô giáo, gặp đau khổ là để chúng ta thông phần với Chúa Giêsu Kitô chịu khổ nạn trên thập giá. Người ta thường nói, sau cơn mưa trời lại sáng, hết mưa trời sẽ nắng, hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai. Cho nên người bình dân vẫn tin tưởng ở tương lai dầu đang gặp đau khổ.

Còn đối với người Kitô hữu: Trong sách “Ý nghĩa sự đau khổ” tác giả có viết: 

Sự khó chỉ là con đường đưa đến thánh thiện (trang 107)

Lạy Chúa, con sung sướng vì được chịu đau khổ cho được lòng Chúa. (trang 110) 

Không gì đẹp lòng Chúa, không gì ích lợi cho chúng ta ở đời này bằng vui lòng chịu đau khổ vì Chúa Giêsu Kitô. (trang 146) 

Không qua núi sọ không thể tới núi Cây Dầu là chỗ Chúa đã lên trời…” (trang 147)

Cố gắng nên giống Chúa: 

Yêu đau khổ, nhẫn nại chịu đau khổ và vui mừng chịu đau khổ (trang 131)

 3)Vài trường hợp đau khổ tiêu biểu để học hỏi 

*Chuyện Thánh Gióp bị mất hết tài sản, con cái chết hết mà không có một lời oán trách Thiên Chúa. Thánh Gióp vẫn một lòng ca ngợi, tôn vinh, chúc tụng Chúa. (trang 162 và Cựu Ước) 

*Chuyện thánh nữ Lidvi  (trang 165)

Năm 15 tuổi, cô bị sảy chân ngã trên nước đông, gãy một xương sườn, phải nằm liệt ba mươi tám năm, nghĩa là nằm liệt cho đến chết.

Để được an ủi, bà chỉ còn biết ngày đêm ngắm sự thương khó Chúa. 

*Chuyện thánh An phong sô (trang 166-168)

Thánh An phong sô bị chứng đau đầu khiến Người có lúc như bị hấp hối. Suốt mười bảy năm trường chứng bịnh tê thấp của Người khiến Người biến hình, đầu Người gập quặp xuống ngực…

 Nhưng Thánh nhân luôn luôn vui vẻ tuân theo Thánh Ý Chúa. Không ai thấy Người tỏ dấu buồn phiền hay thốt ra lời ta thán… Người nói: “… Lạy Chúa con cám ơn Chúa vì đã thương gởi đến sự đau đớn cho con… Chúa không ném con xuống hỏa ngục đã là may cho con lắm rồi… Con sẵn sàng chịu hết mọi sự đau đớn… Chúa muốn định về con thế nào tùy Thánh Ý Chúa…” (trang 168)

 4)Nhờ đau khổ mới đi đến vinh quang, hưởng phúc Thiên đàng vĩnh cửu.

 Sách “Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo” đã giải thích Thiên đàng như sau:

 Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa Chúa và đã hoàn toàn được thanh tẩy sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô. Họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa vì họ thấy Ngài “đúng như Ngài là”, “mặt giáp mặt” (Câu 1023) 

Thiên đàng là cùng đích tối hậu và là sự thực hiện những khát vọng sâu xa nhất của con người đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh viễn. (Câu 1024) 

Mắt chưa từng xem thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài (Câu 1027)

 Theo tác giả, Lm Nguyễn Văn Tuyên nói về Thiên đàng như sau:

 Thiên đàng là chốn nghỉ ngơi đời đời. Trên Thiên đàng không còn đau khổ nữa, không còn bịnh tật nữa, trên thiên đàng không còn chết nữa: trên thiên đàng chỉ có nghỉ ngơi trong một cuộc đời dài vô tận, không còn bị phản bội nữa…

… được nhìn ngắm chính sự Đẹp, được yêu chính tình yêu, được hưởng chính hạnh phúc, được hưởng thật tất cả những thứ ấy cùng một lúc và đời đời: đó là Thiên đàng. 

Kết:

 Như vậy sự đau khổ ở đời này chính là môi trường, cơ hội, hoàn cảnh để chúng ta học hỏi, suy gẫm, áp dụng, thực hành để xứng đáng được làm môn đệ Chúa, bắt chước Chúa, noi gương Chúa, tuân theo Thánh Ý Chúa. Không ai muốn đau khổ cả, nhưng nếu gặp hoàn cảnh đau khổ, chúng ta sẵn sàng vui vẻ chịu đau khổ ở đời này để được hưởng phúc Thiên đàng vĩnh cửu mai sau. 

Ngày 17 tháng 04 năm 2022   

(Lễ Phục Sinh)

Tác giả: Phùng Văn Phụng

1.Sách dày 180 trang, in và xuất bản năm 2002

2.Xem bài:

 “Đời là bể khổ? Thái độ của chúng ta trước đau khổ”                 

https://keditim.net/?p=102716

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” cu`ng Tác giả


 

LIỆU PHÁP GÂY SỐC – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

“Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu”.

“Mục đích của Ngài là lay chúng ta khỏi sự tự mãn, đưa chúng ta vào một cách nghĩ, cách hành động và cách hiện hữu hoàn toàn mới!” – Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,

“Rất đông người” đi theo là một thành công. Vậy mà Chúa Giêsu không ngây ngất vì thành công, cũng không để đám đông hiểu lầm. Ngài đưa họ vào một cách hiện hữu mới: cam kết đến cùng, không thoả hiệp. Đó là một ‘liệu pháp gây sốc!’.

“Cùng đi đường” chưa hẳn đã cùng lòng! Chúa Giêsu quay lại, không phải để đếm số người đang theo, mà để đánh thức họ khỏi ảo tưởng rằng đi theo là đã thuộc về Ngài. Lời Ngài thật chói tai: “Không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi”. Ngài không muốn có thêm người đi cùng mà lòng họ chưa thuộc về Ngài.

“Chính thời gian bạn dành cho bông hồng của mình đã khiến bông hồng ấy trở nên quan trọng đến thế!” – Saint-Exupéry.

“Không dứt bỏ cha mẹ…”. Bản Hy Lạp dùngm isei – nghĩa đen là “ghét”, được dịch là “dứt bỏ”, một từ gần như xúc phạm những tình cảm thiêng liêng nhất. Nhưng Chúa Giêsu không dạy người ta ghét ai, Ngài chỉ đòi người môn đệ thoát khỏi cả những ràng buộc mang tên tình yêu. Tình yêu khi ấy âm thầm trở thành quyền sở hữu! Chúa không đòi chúng ta yêu người thân ít đi, nhưng đừng biến họ thành những vị thần nhỏ. Bởi khi một con người trở thành ngẫu tượng, cả người yêu lẫn người được yêu đều mất tự do.

Một khi đã mất tự do, Thiên Chúa đứng vào hàng thứ! Bấy giờ, thật khó để người môn đệ “trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì… giữa một thế hệ gian tà, sa đoạ”, nơi họ “phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” – bài đọc một.

“Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!”– Thánh Vịnh đáp ca. Được Thiên Chúa– Đấng không còn ở hàng thứ– chiếu sáng, cả những tình yêu thân thiết nhất tìm lại được chỗ đứng của mình.

Với Augustinô, đó là trật tự của tình yêu. Nhiều lúc nhân danh tình yêu, chúng ta giữ một người bên cạnh, nhưng chỉ sợ mất đi điều người ấy đem lại. Cả khi cầu nguyện, chúng ta vẫn muốn Chúa đừng đụng đến những góc khuất tâm hồn. Lắm lần chúng ta tưởng mình đang hy sinh cho người khác, nhưng thực ra họ đang phải chịu đựng chúng ta.

“Hãy yêu nhau, nhưng đừng biến tình yêu thành xiềng xích!” – Kahlil Gibran.

Anh Chị em,

Những đòi hỏi gây sốc của Đức Kitô đã được Ngài sống cách trọn vẹn. Đấng muốn được yêu trên hết chấp nhận bị những người thân tín nhất bỏ rơi; Đấng đòi người môn đệ dứt bỏ mạng sống mình đã hiến dâng mạng sống Ngài. Trên thập giá, Ngài không giữ lại người Mẹ đã sinh ra mình, nhưng trao Mẹ cho Gioan, trao Gioan cho Mẹ. Không phải tình yêu Ngài vơi đi, nhưng nó đã vượt khỏi mọi ràng buộc để trở nên nguồn sống cho muôn người. Như vậy, không chỉ lay chúng ta khỏi sự tự mãn, ‘liệu pháp gây sốc’ của Đức Kitô mở ra một cách hiện hữu hoàn toàn mới – một hiện hữu mang tính cứu độ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đặt Chúa trên hết mọi sự; giải thoát con khỏi mọi vòng quyến luyến; dạy con yêu bằng một trái tim thật tự do!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXXI Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/11/04.html

Ai không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.      Lc 14,25-33

25 Khi ấy, có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su. Người quay lại bảo họ :

26 “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. 27 Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.

28 “Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có hoàn thành nổi không ? 29 Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi, lại không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chế giễu mà bảo : 30 ‘Anh ta đã khởi công xây, nhưng chẳng có sức làm cho xong việc.’ 31 Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng ? 32 Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. 33 Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”


 

PHƯỚC LÀNH PHI THƯỜNG – Truyen ngan HAY

Cang Huynh

PHƯỚC LÀNH PHI THƯỜNG.

Khi tôi đang ngồi ăn chiếc bánh mì kẹp phô mai kép ở Wendy’s, tôi để ý thấy một cặp vợ chồng lớn tuổi ở bàn bên cạnh. Tôi mỉm cười thầm, nghĩ rằng họ trông thật dễ thương, rồi tiếp tục bữa ăn của mình.

Vài phút sau, tôi liếc nhìn lại và nhận ra điều gì đó khiến tôi chăm chú hơn – người đàn ông đang nhẹ nhàng đút cho vợ mình ăn. Khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy một nỗi khát khao thầm kín về một tình yêu sâu sắc và tận tụy như vậy.

Khi bà ăn xong và ông đứng dậy để vứt khay, tôi không khỏi hỏi họ đã kết hôn được bao lâu. Ông mỉm cười và bảo tôi đoán tuổi của ông – nhưng dặn tôi đừng đoán quá thấp. Sau vài lần thử, ông nói ông 96 tuổi, còn vợ ông 93 tuổi. Bà bị bệnh Alzheimer (mất trí nhớ).

“Đây,” ông nói khẽ, “là buổi hẹn hò của chúng tôi.”

Ông nói thêm rằng nếu họ sống đến tháng Sáu này, họ sẽ kỷ niệm 75 năm ngày cưới.

Nhìn họ, tôi nhận ra một điều tuyệt vời: cùng người mình yêu thương đến cuối đời là một trong những phước lành phi thường nhất trên đời.  Một tình yêu bền bỉ, sâu sắc và chung thủy theo thời gian—mối liên kết như vậy thực sự hiếm có và vô cùng đẹp đẽ.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle.


 

Thư của vợ chồng NÔNG THỊ VÀNG (*)-TƯ LIỆU LỊCH SỬ

Hà Sĩ Phu

TƯ LIỆU LỊCH SỬ

Thư của vợ chồng NÔNG THỊ VÀNG (*)

(*) Nông Thị Vàng là em họ của Nông Thị Xuân-mẹ của Nguyễn Tất Trung-, Nguyễn Tất Trung là con của Nguyễn Tất Thành HCM. Trong thư của anh thương binh, họ Nông viết nhầm là họ Nguyễn)

     Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983.

Kính gởi Ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

    Tôi là một thương binh đã 25 năm nay vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ vì vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương lòng vô cùng nhức nhối. Nay tôi sắp được từ giã cái xã hội vô cùng đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó khăn mới viết được bức thư này lên Chủ tịch, hy vọng ông còn lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng nghiêm trọng tàn ác, mà người vợ chưa cưới của tôi là một nạn nhân. Nay tôi hy vọng những tên hung thủ được lột mặt nạ trước công chúng, không để cho chúng ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

    Nguyên từ năm 1954 tôi có người yêu tên Nguyễn thị Vàng, 22 tuổi quê làng Hà Mạ, Xã Hồng Việt, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Cô Vàng có người chị họ là Nguyễn thị Xuân, tên gọi trong gia đình là cô Sang tức Minh Xuân. Tôi nhập ngũ đi bộ đội cuối năm 1952. Cô Vàng và cô Xuân tình nguyện vào công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Ðược mấy tháng sau ông Trần Ðăng Ninh, Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần mấy lần đến gặp cô Xuân. Ðầu năm 1955 thì đem xe tới đón về Hà Nội, nói là để phục vụ Bác Hồ. Ðược mấy tháng sau thì cô Xuân cũng xin cho cô Vàng về Hà Nội, ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm với cô Xuân và cô Nguyệt con gái ông Hoàng văn Ðệ cậu ruột cô Xuân.

      Ðã luôn 2 năm tôi chỉ được tiếp thư chứ không được gặp cô Vàng, người yêu của tôi. Nhưng khoảng tháng 10 năm 1957 tôi bị thương nhẹ được đưa về điều trị tại bệnh viện Huyện Hoà An. Chúng tôi vô cùng sung sướng lại được gặp nhau. Trong một tuần lể cô Vàng kể lại mọi nỗi đau xót cô đã gặp phải cho tôi nghe. Tôi xin ghi lại tỉ mỉ những lời cô Vàng tâm sự với tôi, mà không bao giờ tôi có thể lãng quên đi được.

     Vàng kể:

     Ðầu năm 1955 cô Xuân được về gặp Bác Hồ. Bác Hồ định lấy cô Xuân làm vợ chính thức. Mấy tháng sau chị Xuân xin cho em cùng về ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm, Hà Nội. Còn tầng dưới thì cho ông Nguyễn Quý Kiên, Chánh văn phòng Thủ tướng phủ ở. Vì các lãnh đạo không cho chị Xuân cùng ở với Bác trên nhà chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công an trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về ở 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của Công an.

     Cuối năm 1956 chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Em có nhiệm vụ bế cháu. Ông Bộ trưởng Công an có nhiệm vụ quản lý chị Xuân nên thường đến luôn. Nhưng một buổi tối vào khoảng mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957, ông Hoàn tới, ngồi nói chuyện vu vơ một tí rồi nắm tay chị Xuân, kéo vào một cái buồng xép, từ cầu thang đi lên, vật chị Xuân lên một cái giường nhỏ, định hãm hiếp. Chị Xuân bị nhét khăn vào miệng nhưng vẫn ú ớ la lên. Em hoảng sợ la tru tréo. Còn chị Nguyệt sợ quá, rúm người lại ngồi một góc tường. Nghe tiếng cửa sổ nhà dưới xô xầm vào tường, lão Hoàn bỏ chị Xuân ra, rút khẩu súng lục trong túi áo hoa lên nói to: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết” rồi hầm hầm chạy xuống thang ra ô tô chuồn.

    Chị Xuân thất thểu đi ra khóc nức nở, ôm choàng lấy em. Em hỏi nó nắm tay chị, sao chị không văng vào mặt nó để nó dắt đi ? Chị Xuân vừa nức nở vừa nói: Ðau khổ nhục nhả lắm. Chị phải nói hết để các em tha tội cho chị. Từ hôm chị mới về nhà này, có một bà già độ 60 tuổi ở một buồn dưới nhà, vợ một cán bộ Công an đã chết, lên thân mật nói chuyện với chị rằng: Sao cô ở đây một mình ? Bạn đàn bà để tôi nói thật cho cô biết. Cái lão đem cô về đây là một tên côn đồ lưu manh, dâm ô tàn ác vô kể. Tôi xin kể một vài chuyện cho cô nghe. Ông Lương Khánh Thiện, một Uỷ viên Trung ương, bị đế quốc Pháp giết có con gái tên là Bình. Chị Ðường, vợ anh Thiện đem con gái gởi bác Hoàn nhờ bác tác thành cho. Lão Hoàn đã hiếp nó, nó chửa rồi chọn một tên lưu manh vào làm Công an để gả cô Bình làm vợ. Lão lại đem một cô gái có nhan sắc nhận là cháu, cũng hiếp cô gái này cho tới chửa, rồi giết chết quăng xác xuống hồ Ha Le để khỏi mang tiếng. Cán bộ Công an nhiều người biết chuyện của nó, nhưng không ai dám hở răng, vì sợ lão vu cho tội gì bắt giam rồi thủ tiêu.

   Nghe chuyện đó chị cũng khủng khiếp, nhưng lại nghĩ là nó đối với mọi người khác, còn đối với mình thì nó đâu dám. Nhưng chỉ được mấy hôm sau chị nghe tiếng giầy đi nhè nhẹ lên gác, chị chạy ra thì thấy nó đi lên nhếch mép cười một cách xõ lá. Nó chào chị rồi đi thẳng vào nhà, nó ôm ghì lấy chị vào lòng rồi hôn chị.

    Chị xô nó ra nói:

“Không được hỗn, tôi là vợ ông chủ tịch nước”.

    Nó cười một cách nhạo báng:

“Tôi biết bà to lắm nhưng sinh mệnh bà nằm trong tay tôi”.

Rồi nó lại nói: “Sinh mệnh tất cả dân tộc Việt nam, kể cả bố mẹ anh chị nhà bà cũng nằm trong tay tôi. Tôi muốn bắt ở tù, thủ tiêu đứa nào tuỳ ý. Và tôi nói cho bà biết cụ già nhà bà cũng không ngoài tay với của tôi”.

    Rồi nó rút khẩu súng lục dí vào ngực chị.

Chị ngồi xụp xuống ghế nói:

“Anh cứ bắn đi”.

Nó cười khì khì :

“Tôi chưa dại gì bắn. Tôi tặng bà vật khác”.

    Nó dắt súng vào túi quần rồi rút ra một sợi dây dù to bằng chiếc đũa, đã thắt sẳn một cái thòng lọng. Nó quàng cái tròng vào cổ chị rồi kéo chị đi lại cái giường kia, đẩy chị nằm xuống, rồi đầu sợi giây nó buộc vào chân giường. Chị khiếp sợ run như cầy sấy.

     Nó nói “Bây giờ bà muốn chết tôi cho bà chết“. Rồi nó lột hết quần áo chị, nó ngồi xuống nó ngắm nghía ngâm nga:

     Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,

  đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây ?

      Phẩm tiên đã đến tay phàm,

  thì vin cành quýt cho cam sự đời.

Rồi nó nằm đè lên hiếp chị. Chị xấu hổ lấy tay che mặt.

Nó kéo tay chị nói: “Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già mà còn vờ làm gái“.

     Xong nó cởi thòng lọng cho chị, rồi nó ngồi bên chị tán tỉnh hàng giờ:

“Anh thương em lắm. Người ta gặp hạnh phúc phải biết hưởng hạnh phúc. Nếu em thuận tình thì muốn gì cũng có.

    Nó đeo vào tay chị một chiếc nhẫn vàng, chị đã ném vào nhà xí.

Nó lại dặn: “Việc này phải tuyệt đối bí mật, nếu hở ra thì mất mạng cả lũ và tôi nói cho cô biết ông cụ tin tôi hơn cô”.

   Rồi từ đó chị biến thành một thứ trò chơi của nó. Thấy bóng dáng nó chị như một con mèo nhìn thấy con cọp, hồn vía lên mây. Nó muốn làm gì thì tuỳ ý nó. Trong mấy tháng trời chị tính quẩn lo quanh, không biết tâm sự với ai mà không làm sao thoát khỏi nanh vuốt của nó.

    Nhớ lại lời nói của bà già, chị liền xin bác cho hai em về đây, mong tránh được mặt nó. Nhưng những hôm Công an gọi các em đi làm hộ khẩu, đi làm chứng minh thư lâu hàng buổi là nó tới hành hạ chị. Nó bảo chị phải nói cho hai em biết. Phải biết câm cái miệng nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Hôm nay nó lại đây trắng trợn như vậy vì nó tưởng chị đã dặn hai em rồi. Bây giờ việc đã xẫy ra chị thấy rất nguy hiểm.

    Em nói: “Hay là chị em ta trốn đi”.

Chị Xuân nói: “Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác, bây giờ đã có con trai, xin bác cho mẹ con ra công khai”.

   Bác nói: “Cô xin như vậy là hợp tình, hợp lý. Nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Ðức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa”.

  Mấy tuần trước Bác lại hỏi chị: “Các cô ở đó có nhiều người lạ tới thăm phải không ?”.

   Chị thưa: “Ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội. Còn bà con ở Cao Bằng không biết chị em ở đâu”.

    Bác nói: Không nhẽ ông Bộ Trưởng Công an nói dối.

Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vu gì đó để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát khỏi tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại ba chị em chúng ta. 

   Chị Xuân lại nói: “chị bị giết cũng đáng đời, chị rất hối hận xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị”.

Em thấy nguy hiểm vì tên Hoàn đã nổi tiếng ở Bộ Công an là một tên dâm bôn vô cùng tàn ác. Ðến độ một tuần sau, vào 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi.

    Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên Công an Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doãn. Em hốt hoảng đưa cháu cho Chị Nguyệt, ra lên xe Công an vào bệnh viện. Em không được vô nhà xác, họ nói còn mổ tử thi. Lên một phòng chờ em thấy trong phòng đã khá đông người: Công an, Tòa án, Kiểm sát viên.

   Sau một tiếng, hai bác sĩ, một cán bộ Công an, một kiểm sát viên lên phòng chờ, đem theo một tờ biên bản đọc to lên cho mọi người nghe. Tử thi thân thể không có thương tích gì, thấy rõ không bị tai nạn ô tô và cũng không phải bị đâm chém đánh đập gì. Mổ tử thi trong cơ thể lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì. Da dầy không có thức ăn, không có thuốc độc. Tử cung không có tinh trùng biểu thị không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nức. Mổ sọ não không còn óc, mà chỉ còn nước nhờn chảy tuôn ra. Bác sĩ tuyên bố đây có thể bị chùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh vào giữa đầu. Ðây là phương pháp giết người của bọn lưu manh chuyên nghiệp của nhiều nước đã xử dụng.

   Em vô cùng đau khổ chạy về kể chuyện lại cho chị Nguyệt nghe để hai chị em cùng khóc. Ít lâu sau một cán bộ Công an đến bế cháu Trung đi, chúng em không được biết đem đi đâu. Rồi em thì được đi học một lớp y tá của khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên. Chị Nguyệt không biết họ cho đi đâu sống chết thế nào. Học mấy tháng thì em được chuyển về bệnh viện Cao Bằng, em khóc luôn, họ cho là em bị thần kinh nên cho về đây điều trị. May lại được gặp anh kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết được vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng có hôm em thấy thằng Ninh xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít hôm họ tuyên bố em bị thần kinh được chuyển về điều trị tại Hoà An.

     Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957 cô Vàng đi về thăm ông cậu Hoàng văn Ðệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao bị đánh vở sọ, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất.

   Tôi đâm bổ về Hà Nội liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Toà án Hà Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm sát hỏi toà án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều tra. Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường y tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây.

   Mấy chục năm nay tôi tim gan thắt ruột, nghĩ cách trả thù cho em tôi nhưng sức yếu thế cơ đành ngậm hờn chờ chết. Theo Vàng dặn lại, tôi liên hệ với một số cán bộ về hưu Công an, kiểm sát họ cho tôi biết cậu Trung ngày đó đã được đưa về cụ Bằng nuôi. Ðộ 4, 5 tuổi thì gửi cho Chu Văn Tấn, đến năm 13 tuổi là năm 1969 ngày Bác Hồ mất thì giao cho ông Vũ Kỳ, nguyên Thư Ký của Bác, nay là Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ chí Minh làm con nuôi. Vũ Kỳ có 2 con đẻ là Vũ Vinh và Vũ Quang, còn Vũ Trung là con nuôi; là con chị Xuân với Bác Hồ.

   Tôi một thương binh sắp đi qua thế giới khác, máu hoà nước mắt viết thư này nhờ một người bạn chí tình, thành tâm bảo vệ lẽ phải, đánh máy bức thư gởi tới trình ông. Mong ông lưu ý xét cho mấy việc:

  1. Các ông sẵn lòng bảo vệ chân lý điều tra cho ra những đứa thủ mưu, thủ ác, chứ không truy xét những người có lương tâm phát hiện lũ tàn ác.
  2. Ở xã Hồng Việt bà con bạn hữu chị Xuân vào trạc tuổi 45 trở lên còn khá nhiều đều biết rõ ràng cô Vàng, cô Xuân, cô Nguyệt và chắc gia đình của cô Xuân còn khá nhiều di vật của cô Xuân. Nhưng tất cả mọi người đều khiếp sợ, không dám hé răng. Mong ông cho điều tra thận trọng, bí mật, vì việc điều tra này bị lộ thì cả lô bà con này bị thủ tiêu.
  3. Cậu Nguyễn Tất Trung còn sống khoẻ mạnh nhưng việc điều tra lộ ra thì cậu cũng dễ dàng bị thủ tiêu. Tên hung thủ lái xe đón bà Xuân đi giết là Tạ Quang Chiến hiện nay là Tổng cục Phó Tổng cục Thể dục Thể thao. Còn tên Ninh xồm thì chúng tôi không hiểu đã leo lên chức vụ nào rồi.

Từ thế giới khác kính chúc Ngài nhiều hạnh phúc.

Vợ chồng Nguyễn thị Vàng

 


 

GIỎ CÁ CUỐI CÙNG – Truyen ngan HAY

Cang Huynh

GIỎ CÁ CUỐI CÙNG.

Có một câu chuyện cổ kể về một thủy thủ đã dành phần lớn cuộc đời mình trên biển. Năm tháng trôi qua, ông đã quá già để làm việc trên tàu, nhưng trái tim ông vẫn khao khát biển cả. Vì vậy, ông giữ một chiếc thuyền nhỏ của riêng mình và thường xuyên đi đánh cá. Đôi khi ông bắt được cá để ăn, và đôi khi ông bán cá để kiếm thêm chút tiền. Ông nhận được một khoản lương hưu khiêm tốn, nhưng như mọi người đều biết, có thêm chút tiền thì chẳng bao giờ thừa.

Một ngày nọ, khi đang đi dạo trong thị trấn, ông gặp một nữ tu làm việc tại một viện dưỡng lão, nhiều người trong số họ không còn nơi nào khác để nương tựa. Một trong những nhiệm vụ của bà là bảo đảm viện có đủ thức ăn để ăn.

Người thủy thủ già nhận thấy bà trông có vẻ lo lắng khác thường.

“Có chuyện gì vậy, sơ?” ông hỏi.

Nữ tu thở dài.

“Chủ nhật này là Lễ Thánh Giuse, vị thánh bảo hộ của viện dưỡng lão chúng tôi. Tôi đã hy vọng chuẩn bị một bữa tối đặc biệt cho những người già ở đây. Họ có quá ít niềm vui trong cuộc sống, và tôi muốn mang đến cho họ điều gì đó để ăn mừng. Nhưng tôi không tìm được thịt, và tôi e rằng cuối cùng sẽ không có một bữa tiệc nào ra hồn.”

Người thủy thủ già im lặng lắng nghe. Ông suy nghĩ một lát, gật đầu, rồi tiếp tục đi mà không nói thêm lời nào.

Sáng sớm Chủ nhật, có người bấm chuông ở cổng viện dưỡng lão.

Khi nữ tu mở cổng, bà thấy một chiếc giỏ lớn đầy ắp cá tươi vừa mới đánh bắt.

Không có ai ở đó.

Bà có linh cảm biết ai đó đã để lại món quà hào phóng như vậy. Nhưng lúc đó, bà chỉ đơn giản là tràn ngập lòng biết ơn. Cuối cùng, bà cũng có thể chuẩn bị một bữa ăn Chủ nhật tuyệt vời cho những người già mà bà đang chăm sóc.

Tuy nhiên, niềm hạnh phúc của bà chẳng kéo dài được bao lâu.

Sáng hôm đó, bà nghe được tin dữ.  Không xa viện dưỡng lão, người ta tìm thấy thi thể của một thủy thủ già. Đó chính là người đàn ông mà bà đã nói chuyện vài ngày trước đó.

Ông ấy dường như đã bị đau tim.

Nữ tu vô cùng đau lòng.

Bà không thể ngừng nghĩ về cuộc trò chuyện của mình. Một cảm giác tội lỗi khủng khiếp bao trùm lấy bà.

“Giá như mình đã không kể cho ông ấy nghe về những rắc rối của viện dưỡng lão,” bà nghĩ. “Giá như mình giữ những lo lắng của mình cho riêng mình, có lẽ ông ấy vẫn còn sống.”

Suy nghĩ đó đè nặng lên trái tim bà suốt cả ngày.

Đêm đó, kiệt sức vì đau buồn, cuối cùng bà cũng ngủ thiếp đi.

Và bà đã có một giấc mơ kỳ lạ.

Bà thấy linh hồn của người thủy thủ già đứng trước Thánh Phêrô ở cổng Thiên đường.

Thánh Phê-rô mở cuốn Sách Sự Sống vĩ đại và bắt đầu lật từng trang, cẩn thận xem xét những năm tháng người thủy thủ sống trên trần gian.

“Vâng,” cuối cùng Tháng Phêrô  nói, “Ta thấy rằng mười lăm năm đầu đời của ông khá tốt. Nhưng phần đời còn lại lại là chuyện khác. Ông đã bảy mươi lăm tuổi rồi, và ta phải nói rằng, trong suốt những năm tháng lênh đênh trên biển ấy, ông chẳng có gì đáng tự hào cả.”

Người thủy thủ bắt đầu run rẩy.

Ông chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi đến thế. Giờ đây, khi cuộc đời trần thế đã kết thúc, ông có thể thấy rằng Thiên đường là có thật. Nhưng ông cũng biết rằng bóng tối của Địa ngục cũng có thật.

Điều gì sẽ xảy ra với ông?

Ngay lúc đó, vang lên lời Chúa Jesus bên tai Thánh Phê-rô.

“Phê-rô,” Chúa Jesus nhẹ nhàng nói, “không cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng từng lỗi lầm trong cuộc đời của người già này. Thay vào đó, hãy lật đến trang áp chót.”

Thánh Phê-rô làm theo lời Chúa Jesus.

Và ở đó, được ghi trong Sách Sự Sống, là những lời này:

“Suốt đêm, người đàn ông này làm việc không mệt mỏi, đánh bắt cá cho những người già nghèo khó. Ông làm điều đó không phải vì tiền bạc, sự công nhận hay lời khen ngợi, mà chỉ đơn giản là vì tình yêu thương.

Lúc rạng sáng, dù sức lực gần như cạn kiệt, ông vẫn vác chiếc giỏ nặng trĩu đến viện dưỡng lão và lặng lẽ để nó bên cổng. Ông không muốn ai biết ai đã mang nó đến.

Rồi, hoàn toàn kiệt sức, ông gục xuống đất và qua đời.”

Trong một khoảnh khắc dài, Thánh Phêrô im lặng.

Rồi ông nhớ lại chính những lời mình đã viết trong Thư thứ nhất của mình:

“Trên hết, hãy yêu thương nhau sâu sắc, vì tình yêu thương che lấp vô số tội lỗi.”

— 1 Phêrô 4:8

Thánh Phêrô chậm rãi đóng Sách Sự Sống lại.

Rồi, với một nụ cười hiền lành, ông mở rộng cửa Thiên Đàng.

Và người thủy thủ già bước vào đời sống vĩnh hằng.

Trong mắt Chúa, một hành động yêu thương chân thành, vị tha có thể nặng nề hơn cả một đời đầy lỗi lầm của con người.

Và đôi khi, những hành động tử tế vĩ đại nhất lại là những hành động không ai nhìn thấy.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.