TIẾNG GỌI –  Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.

  Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.

 Ít nhất phải có một chút hy vọng nào đó thì người gọi mới cất tiếng gọi.  Mong được người đáp trả, đấy là niềm vui của người gọi.  Trong tiếng gọi bao hàm sự có mặt của hai người.  Nếu chỉ có một người lẻ loi thì không có tiếng gọi, vì tiếng gọi không có đối tượng để gửi tới.

 Tiếng gọi là một lời mời.  Lời mời là một cử chỉ biểu lộ lòng mến yêu.  Không mến thương ai thì chẳng bao giờ gọi người đó.

 Thà rằng tôi lẻ loi, cô độc còn hơn là tôi quen biết, còn hơn là tôi có những mối giây liên hệ tình cảm để rồi những quen biết, những mối liên hệ ấy chối từ tôi.  Khi sống một mình thì tôi chỉ đơn độc, còn khi tôi quen biết mà bị từ chối thì tôi sẽ cô đơn.  Bị thờ ơ bao nhiêu thì nỗi cô đơn càng hiu hắt bấy nhiêu.  Và nỗi cô đơn này có thể hoang vu hơn sa mạc.  Chúa không buồn khi chưa có con người.  Khi con người chối từ tình yêu mà Ngài ban tặng, bấy giờ Ngài mới cô đơn (Kn. 6:6).  Chúa không tủi lòng khi chưa quen biết Phêrô, khi chưa gặp mặt Yuđa.  Khi đã gọi tên, khi đã cùng nhau xây đắp mối liên hệ, bấy giờ nỗi cô đơn của Ngài mới thấm thía lúc bị phản bội, bị chối từ.

 Khi tôi gởi một cánh thư đi là tôi gởi lòng tôi ở đó.  Gởi nỗi lòng mình đi thì bao giờ cũng có nhớ nhung và hồi hộp, âu lo.  Tôi không viết thư cho gió vì gió không biết tiếng người.  Tôi chẳng gửi thư cho mây vì mây không bao giờ đáp trả.  Tôi chỉ gởi cho người vì chỉ người mới có thể đáp trả lại nỗi lòng tôi.  Nhưng người có tự do nên tôi cũng có thể bị chối từ.  Tiếng gọi của tôi có thể vang lên khô khan rồi hiu hắt trở về với cõi lòng tôi.

 Khi Chúa cất tiếng gọi thì Chúa cũng thầm nuôi hy vọng được đáp trả.  Chắc hẳn Ngài cũng ngậm ngùi khi bị khước từ.  Bởi trong tiếng gọi là thầm cho đi tình yêu.  Bởi trong tiếng gọi là thầm nói lên nỗi nhớ thương.

 Gọi là dấu hiệu đang còn xa nhau.  Gọi là muốn lại gần. 

Trong cuộc đời, tôi có hai tiếng gọi, hai mẫu người lý tưởng để theo.  Tiếng gọi thứ nhất là Chúa Kitô. Tiếng gọi thứ hai là chính tôi.  Tôi có thể tạo nên cho tôi những tiếng gọi, những giấc mơ và tôi có thể theo đuổi để trở thành mẫu người như tiếng gọi tôi ước mong.  Tôi cũng có thể trở thành mẫu người như Chúa Kitô mong muốn.  Cái khác nhau là một đàng tôi sống ước mơ của tôi, một đàng tôi phải sống tiếng gọi của Chúa.  “Thức ăn của Ta là làm theo ý Ðấng đã sai Ta và hoàn tất công việc của Ngài” (Yn. 4:34).  Chúa Kitô đã sống trọn vẹn tiếng gọi của Cha Ngài.

 Tôi có thể lầm lẫn thì tiếng gọi của tôi cũng có thể không trung thực.  Nếu tiếng gọi của tôi không trung thực thì lo âu để trở nên mẫu người như tôi mơ ước sẽ là dại dột.

 Nếu tôi tin rằng Chúa không thể sai lầm thì tôi cũng phải xác tín rằng tiếng gọi của Ngài phải tuyệt hảo.  Không thể có hai sự tuyệt hảo.  Như thế, khi tôi chối từ sự tuyệt hảo là tôi nhận sự bất hảo. 

Có nhiều thứ tiếng gọi.  Gọi để cho một tặng vật.  Gọi để chung một niềm vui.  Gọi để gởi gấm một niềm tin cậy.  Nhưng tiếng gọi cao cả nhất, sâu xa nhất là gọi để theo một người.  Gọi để cho một tặng vật mới chỉ là cho một phần yêu thương.  Còn gọi để theo một người là tiếng gọi cho tất cả.  Vì muốn người khác trở nên giống mình thì phải cho họ biết rõ về mình.  Cách cho họ biết rõ về mình tốt nhất là cho chính mình.  Tôi không thể trở nên mẫu người như Chúa muốn, tôi không thể theo Ngài nếu Ngài không tỏ rõ cho tôi biết Ngài là ai.  Ngài chẳng thể tỏ rõ cho tôi biết Ngài là ai nếu Ngài không cho tôi chính Ngài.  Và thực sự, Thập Giá đã minh chứng sự cho đi trọn vẹn ấy.

 Chúa đã viết một cánh thư.  Ở nơi nào đó, Chúa đang mong chờ hồi âm.  Ngài không viết thư cho lá rừng, vì lá rừng và bụi cát chỉ phủ mờ thập giá.  Ngài viết thư cho người vì chỉ có người mới biết quét mạng nhện trong đền thờ, mới biết xóa dịu một nỗi khổ đau.

 Có xa nhau thì người ta mới phải gọi.  Khi tôi nghe tiếng Chúa gọi là dấu hiệu tôi còn đang xa Ngài.  Khi Ngài gọi là dấu hiệu Ngài muốn tôi lại gần.

 Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.

From: Langthangchieutim

TAY KHÔNG THỂ DỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính”.

“Con người thật của bạn đứng đó, vang lên như sấm; tôi không còn nghe được những gì bạn nói ngược lại!” – Ralph Waldo Emerson.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những lời thanh minh rất đẹp, nhưng việc làm luôn nói lớn hơn. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đọc chính việc người Pharisêu làm như lời tự thú của họ: miệng có thể chối, nhưng ‘tay không thể dối’.

Xây mồ cho ngôn sứ không có gì xấu. Điều đáng xấu hổ là người Pharisêu dùng việc ấy để nói rằng mình tốt hơn cha ông: nếu sống thời trước, họ đã không giết các ngôn sứ. Vậy mà công trình dựng lên để tỏ lòng kính trọng lại phơi trần sự thật: họ tôn kính những người đã chết, nhưng khước từ Đấng được các ngôn sứ loan báo nay đang sống và nói trước mặt họ. Giả hình sâu nhất là chỉ yêu sự thật khi sự thật không còn quấy rầy. “Chúa Giêsu, với sự đơn sơ và quyền năng của Thiên Chúa, đã làm họ khó chịu!” – Phanxicô.

Và Chúa Giêsu nói tiếp: “Thì các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đi!”. Đó là một lời mỉa mai đau đớn: tội tưởng đã được chôn kín dưới những lớp đá đẹp vẫn đang được con cháu viết tiếp. Cái đấu không đầy một lần; một lời ngay lành bị gạt đi là thêm một nắm, một sự thật bị bẻ cong là một nắm khác, một người công chính bị loại trừ là thêm một nắm nữa. Họ chưa tra tay giết Chúa Giêsu, nhưng đã mở con đường từ mồ các ngôn sứ đến thập giá. Tay không chỉ nói thật về một người, mà còn cho biết người ấy đang tiếp tục câu chuyện nào.

Cũng có những đôi tay viết nên những câu chuyện đẹp. “Chính tôi, Phaolô, tự tay viết lời chào này”; cũng bàn tay ấy “đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả” để khỏi trở nên gánh nặng cho ai – bài đọc một. Vì thế, “Hạnh phúc thay những người kính sợ Chúa” – Thánh Vịnh đáp ca – không chỉ là một tâm tình; đó là khi lòng kính sợ đi xuống đôi tay, hoá thành việc làm, thành miếng bánh và bình an cho người thân và người bên cạnh.

Mỗi ngày, đôi tay vẫn âm thầm bộc bạch những gì trong lòng: có thể chắp lại trước Chúa mà khép lại trước người cần giúp; vừa rời giờ kinh đã có thể để lại một vết thương. Hoán cải là đổi việc tay làm. Chính những điều nhỏ cho biết chúng ta đang xây nhà hay xây mộ. “Hãy làm mọi sự vì tình yêu. Như thế, sẽ không còn việc nhỏ; mọi việc đều lớn!” – Josemaría Escrivá.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, đôi tay làm chứng mạnh nhất khi không còn làm được gì. Bị đóng đinh, những bàn tay từng chạm người phong hủi, bẻ bánh và rửa chân nay chỉ có thể dang ra. Nhưng chính ở đó, chúng nói trọn sự thật về Thiên Chúa: Thiên Chúa không chỉ yêu bằng lời, nhưng trao cả Người Con. Vết thương còn đó, bởi tình yêu không cần che giấu: khi hiện ra với các môn đệ, Ngài vẫn mang dấu đinh trên tay. Đôi tay ấy nói đến cùng rằng ‘tay không thể dối’ – không khép lại để kết án, nhưng mở ra trao bình an.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho tay con luôn nói thật lòng con; chắp lại trước Chúa và mở ra trước anh em; không xua đuổi nhưng chúc lành!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXI TN, Năm Chẵn: 

https://bom.so/seC3Et

Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 23,23-26

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rằng : “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. 24 Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng ! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.

25 “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ. 26 Hỡi người Pha-ri-sêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch.”


 

Đâu là 2 điều kiện căn bản để Kitô hữu được tha tội? – Cha Vương

Thứ 3 tốt lành trong Chúa và Mẹ nhé. Hãy nhớ nhau trong lời cầu nguyện. Không quên cho thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thư 3: 25/08/2026.    (t6-23)

GIÁO LÝ: Đâu là 2 điều kiện căn bản để Kitô hữu được tha tội? Hai điều kiện căn bản là: (1) Kitô hữu ăn năn trở lại, và (2) Linh mục nhân Danh Chúa tha tội cho người ấy. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.—Ga 20:23 (YouCat, số 231)

SUY NIỆM: Tha tội: Việc tha tội của linh mục là tha thứ có tính cách bí tích một hay nhiều tội sau khi một người đã sám hối để xưng tội. Công thức để tha tội là: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho… ơn tha thứ và bình an. Vậy tôi (cha) tha tội cho… nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.  (YouCat, số 231 t.t.)

❦ Thiên Chúa biết hết mọi sự. Nhất là Người biết sau khi xưng tội ta lại bắt đầu phạm tội. Dầu vậy Người vẫn tha. Người tha đến nỗi cố tình quên cả trong tương lai (ta sẽ phạm tội) để vẫn cứ tha thứ. (Thánh Gioan Vianney)

LẮNG NGHE: Lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi. (1 Pr 4:8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Cha hay thương xót, xin tha thứ cho con vì con thật yếu đuối và mỏng dòn, con hứa với Chúa, rồi lại quên, con quyết tâm, rồi lại buông trôi, con tỏ vẻ mạnh mẽ, rồi khi sóng gió đến con lại ngã gục, té nhào… xin xót thương con Chúa hỡi.

THỰC HÀNH: Dục lòng ăn lăn trở lại cùng Chúa qua việc xét mình mỗi ngày.

From: Do Dzung

*****

Chúa biết lòng con. Ca sĩ: Ngọc Hòa. HD. 

“CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Xuyên Sơn

 “CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Có một con chuột bị mèo đuổi, vô tình chui vào trong tượng Phật trên chùa và làm tổ ở đó…

Từ ngày chui vào trong tượng Phật, cuộc sống của chuột ta vô cùng no đủ.

Nó luôn được ăn thỏa thích những đồ lễ vật mà người dân mang đến cúng bái.

Thêm nữa, người nào đến trước tượng Phật của toàn phủ phục, nên con chuột tự thấy mình cũng oai lắm.

Nó thoải mái ăn ở, thậm chí còn tự do phóng uế lung tung…

Mỗi khi người dân đến thắp hương khấu đầu, con chuột kia nhìn khói hương nghi ngút từ từ bay lên, cười thầm:

“Đúng là những kẻ ngu ngốc, chẳng ai bắt mà cũng quỳ cũng lạy! Bây giờ ta mới biết mình cũng oai thế, đến loài người còn bái lại ta, mà bấy lâu nay sao cứ phải sợ mèo nhỉ!”.

Lâu ngày, sống cùng tượng Phật ở trên cao, thấy người nào đến thắp hương cũng chắp tay thành kính và quỳ lạy như thế, chuột cũng ngộ nhận và tự cho mình cao quý và tôn kính như… Phật.

Bỗng một hôm, có người cắm bó hương to, sơ ý để bùng cháy… Nóng và khói quá, con chuột bò vội ra ngoài, thì bị con mèo đói vồ được.

Chuột ta bèn vênh váo kêu lên:

– “Này mèo! Nhà người không thể ăn thịt ta được, hãy quỳ xuống thành kính bái lạy đi, rồi mang thức ăn lại đây… Ta là Phật đấy!”

Mèo cười to:

– “Những người quỳ lạy mày là vì vị trí mà mày đang chiếm đoạt, chứ không phải vì bản thân mày cao quý, quyền cao chức trọng gì đâu. Giờ thì mày tới số rồi, con chuột ngu ngốc!

Trong cuộc sống, không ít những kẻ nhờ thủ đoạn, hoặc do may mắn, bỗng ngồi vào một ví trí nào đó, thấy những người xung quanh đều xum xoe nịnh nọt, bổng lộc tự đến đầy nhà… thì tưởng mình là tài năng, cao quý và oai vệ lắm.

Họ giống như con chuột bỗng chui vào tượng Phật, nhưng vì tự đắc, nên không hề biết người khác cung kính mình là vì nhân cách của Phật.

Họ cũng ngộ nhận về học thức, ân đức của chính mình; không biết chỉ là nhờ vị trí cái ghế ngồi mà họ đang may mắn tạm thời nắm giữ.

Họ càng không lường được rằng, rất có thể tới một ngày…

“Cháy nhà sẽ ra mặt chuột”!

(st)

Nguồn: fb An Nguyen 


 

 LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO

Xuyên Sơn

 LÒNG TỐT CỦA NGƯỜI NGHÈO

Nhặt được ví của người giàu có, cậu bé đem trả nhưng lại xin một chút tiền, lý do đưa ra khiến đối phương vừa nghe đã phải xấu hổ

 CHIA SẺ

Nhà từ thiện người Mỹ Kenneth Behring từng có một câu nói được rút ra từ chính kinh nghiệm của bản thân ông như thế này:

Đừng tùy tiện đưa ra lời phỏng đoán về người khác.

Vào thập niên 90 của thế kỷ 20, khi đi ngang qua vịnh San Francisco, Behring đột nhiên phát hiện ví tiền của mình đã biến mất.

Người trợ lý lo lắng:

“Có khi nào sáng nay chúng ta đi bộ qua khu ổ chuột ở Berkeley đã đánh rơi mất rồi, phải làm sao đây?”

Behring bất lực đáp:

“Đành đợi người nhặt được ví liên hệ chúng ta vậy.”

Hai tiếng sau, người trợ lý thất vọng lên tiếng:

“Thôi bỏ đi, đừng đợi nữa. Chúng ta đáng nhẽ không nên ôm hy vọng đối với những người ở khu ổ chuột đó.”

Người trợ lý cảm thấy khó hiểu:

“Trong ví còn có danh thiếp.

Nếu người nhặt được muốn mang trả, thì gọi cuộc điện thoại mất mấy phút đâu cơ chứ. Trong khi chúng ta đã chờ cả buổi chiều rồi, rõ ràng bọn họ không có ý định trả lại cho chúng ta mà.”

Nhưng Behring vẫn khăng khăng chờ đợi.

Khi bóng tối dần bao phủ, đột nhiên có tiếng chuông điện thoại reo lên.

Chính là người nhặt được chiếc ví gọi điện tới, yêu cầu họ đến đường XX nhận lại ví.

Người trợ lý rối rít bên cạnh:

“Đây liệu có phải là cái bẫy?

Có thể họ muốn gài chúng ta tới đó rồi tấn công hoặc tống tiền gì đó?”.

Behring không quan tâm tới lời nói của người trợ lý, lập tức phóng xe tới đó.

Khi tới điểm hẹn, một cậu bé mặc bộ quần áo rách rưới đi về phía họ và cái cậu bé đang cầm trên tay chính là chiếc ví mà Behring đã đánh rơi.

Người trợ lý đón lấy chiếc ví, đếm số tiền trong ví, không thiếu một đồng.

“Cháu có một thỉnh cầu”.

Cậu bé ngập ngừng nói, “Ông có thể cho cháu 1 ít tiền được không?”.

Khi đó, người trợ lý phá lên cười:

“Tôi biết mà…”.

Behring ngắt lời người trợ lý, mỉm cười hỏi cậu bé cần bao nhiêu tiền.

“Chỉ cần 1 đô là đủ ạ.”

Cậu bé ngại ngùng trả lời, “Cháu đi bộ rất lâu mới tìm thấy bốt điện thoại công cộng, nhưng trên người lại không có tiền, đành đi vay người ta 1 đô để gọi điện, bây giờ cháu cần tiền để trả người ta”.

Nhìn thấy đôi mắt trong veo của cậu bé, người trợ lý cúi đầu xấu hổ.

Còn Behring thì xúc động ôm chầm cậu bé.

Ngay sau đó, ông thay đổi kế hoạch từ thiện trước đấy, chuyển tiền đầu tư xây dựng một số trường học trong thành phố Berkeley, chuyên thu nhận những đứa trẻ không có tiền tới trường trong các khu ổ chuột.

Trong buổi lễ khai giảng, Behring phát biểu:

“Xin đừng tùy tiện phỏng đoán hay đánh giá về người khác. Thay vào đó chúng ta cần dành thời gian và cơ hội, đón nhận những trái tim thuần khiết và lương thiện. Một trái tim như vậy thật xứng đáng để chúng ta dày công vun đắp thành tài”.

   Pham Mylan

    Sưu tầm


 

XÂY MỘ THẬT TO CHO CHA MẸ, HAY CHỈ ĐỂ GIỮ SĨ DIỆN VỚI THIÊN HẠ?

Có một phong trào ở nhiều vùng quê nghe thì vừa buồn cười, vừa khiến người ta phải suy nghĩ: người sống ở nhà cấp bốn, nhưng người chết lại ở trong “biệt phủ”.

Đi qua một số nghĩa trang, có khi ta bắt gặp những ngôi mộ lát đá bóng loáng, cổng tam quan, mái ngói, rồng chầu, hổ phục… nhìn xa cứ tưởng khu du lịch tâm linh.

Người ta hay nói vui: “Người sống ở tạm, người chết là vĩnh cửu, nên phải đầu tư.”

Nhưng nghĩ kỹ, đôi khi cái gọi là “đầu tư cho người đã khuất” lại là sự sĩ diện của người đang sống.

Có một ông ở quê, cả đời làm ruộng, nuôi ba người con.

Nhà vẫn là căn cấp bốn cũ kỹ, mùa mưa thì dột, mùa hè nóng như cái lò.

Vợ ông nhiều lần bảo:

“Hay mình sửa lại căn nhà đi ông, khách đến còn có chỗ ngồi.”

Ông xua tay:

“Nhà mình ở tạm thôi bà ạ. Còn mộ các cụ là nơi nằm ngàn thu.”

Thế là ông vay tiền xây một khu lăng mộ rất lớn cho bố mẹ.

Ngày khánh thành, cả làng kéo đến xem.

Người thì xuýt xoa: “Đá này chắc đắt lắm!”

Người khác lại bảo: “Mộ còn đẹp hơn nhà tôi đang ở.”

Ông nghe vậy thì nở mày nở mặt.

Nhưng vài tháng sau, một hôm trời mưa lớn, mái nhà ông dột xuống mâm cơm.

Đứa cháu hỏi:

“Ông ơi, sao mình không sửa nhà?”

Ông im lặng một lúc rồi nói:

“Tiền đâu mà sửa?”

Cả nhà chẳng ai nói thêm câu nào.

Ngoài đồng, khu lăng mộ vẫn sừng sững, còn người sống thì ngồi trong căn nhà dột.

Đáng nói là chuyện này không chỉ xảy ra ở một gia đình.

Nhiều nơi, nghĩa trang còn được chăm chút hơn cả khu dân cư.

Người này xây mộ cao, người kia phải xây cao hơn.

Nhà trước lát đá hoa cương, nhà sau phải tìm đá nguyên khối.

Có người còn nói một câu nghe rất mạnh:

“Sống có thể nghèo, nhưng chết nhất định không được lép vế.”

Thế là cuộc đua sĩ diện bắt đầu.

Có cụ mới ngoài sáu mươi đã đi xem đất nghĩa trang, chọn hướng, chọn vị trí, chẳng khác gì người ta đi mua đất xây biệt thự.

Có người còn xây sẵn mộ từ khi mình vẫn đang khỏe mạnh.

Mỗi ngày đi tập thể dục lại ghé qua lau bụi, ngắm nghía.

Bạn bè hỏi:

“Ông làm sớm thế để làm gì?”

Ông cười:

“Chuẩn bị trước cho chủ động.”

Nghe thì vui, nhưng đằng sau tiếng cười ấy là một điều đáng suy ngẫm.

Nhiều khi người ta không sống cho mình, mà sống cho ánh mắt của thiên hạ.

Đám cưới phải thật lớn.

Nhà phải thật đẹp.

Con cái phải thành đạt.

Và đến khi cha mẹ mất, khu mộ cũng phải thật hoành tráng.

Sợ nhất là hàng xóm nói:

“Nhà ấy làm ăn kém.”

“Con cái không có hiếu.”

“Không bằng nhà người ta.”

Thế là có gia đình vay tiền, bán tài sản, thậm chí con cái đi làm xa gửi tiền về… chỉ để xây một khu mộ thật lớn.

Trong khi cha mẹ lúc còn sống có khi chẳng được sửa cho căn nhà khỏi dột, chẳng được ăn một bữa ngon, chẳng được con cái thường xuyên hỏi han.

Đó mới là điều đáng nghĩ.

Bởi hiếu thảo không nằm ở việc viên đá granite dày bao nhiêu, ngôi mộ rộng bao nhiêu mét vuông.

Hiếu thảo nằm ở những năm tháng cha mẹ còn sống.

Là khi mẹ đau, con có ở bên không.

Là khi cha già yếu, con có hỏi một câu “Bố hôm nay khỏe không?” không.

Là khi cha mẹ còn sống, anh em có biết nhường nhịn nhau, có biết giữ cho gia đình được hòa thuận hay không.

Ngày xưa, những ngôi mộ đất đơn sơ vẫn được con cháu thắp hương, chăm sóc. Một bó hoa, một nén nhang, một tấm lòng nhớ thương… đôi khi còn quý hơn cả một khu lăng mộ bạc tỷ mà con cháu quanh năm cãi nhau vì tiền.

Một ngôi mộ đẹp không có gì sai.

Tưởng nhớ tổ tiên cũng là điều đáng quý.

Nhưng nếu xây mộ chỉ để hơn nhà hàng xóm, để giữ sĩ diện, để chứng minh mình giàu có, thậm chí phải vay nợ để làm cho bằng người ta, thì có lẽ chúng ta nên dừng lại và tự hỏi:

Người đã khuất thật sự cần một ngôi mộ thật lớn, hay chỉ mong con cháu còn sống biết yêu thương nhau?

Bởi cuối cùng, người chết không mang theo được sự hơn thua.

Còn người sống thì phải trả giá cho những cuộc đua ấy.

Có khi điều đẹp nhất để báo hiếu cha mẹ không phải là xây cho họ một nơi nằm thật nguy nga…

Mà là khi họ còn sống, ta cho họ một mái nhà đủ ấm, một bữa cơm đủ vui, một tuổi già đủ bình yên.

Mộ có thể nhỏ, nhưng lòng hiếu thảo đừng nhỏ.

Tĩnh Lặng Mỗi Đêm Cảm ơn các bác đã quan tâm theo dõi.

Xin chào và hẹn gặp lại!

#TuoiGia #Happiness #KienTaoCuocSong #TriTue #TĩnhLặngMỗiĐêm 


 

SỐNG THANH THẢN GIỮA ĐỜI

 Một người không tốt với bạn, bạn không nên quá bận tâm.

Trong cuộc sống của bạn, không ai có nghĩa vụ phải cư xử tốt với bạn trừ Cha Mẹ.

Còn với những người tốt với bạn, bạn nên trân trọng và biết ơn điều đó.
Nhưng bạn cũng cần phải có chút đề phòng bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng của họ.

Hãy nhớ, họ tốt với bạn không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến bạn.

 Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của bạn.

Vì thế, nếu sau này người bạn yêu thương không còn ở bên,hay họ không còn là nơi bạn có thể đặt niềm tin, bạn cũng đừng bi lụy.

Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, bạn đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích.

Người ta tham vọng sống lâu nhưng bạn chcần SỐNG HẠNH PHÚC mỗi ngày.

Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn.

 Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn,nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi.

Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi.

Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn bạn lắng lại rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất.

Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.

 Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.

Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng bạn không thể kì vọng người ta sẽ làm ngược lại.

Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn.

Hãy nhớ điều này nếu không bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.

 Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người, nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn.

 S.T.

From: TU PHUNG


 

Thánh Batôlômêô (thế kỷ thứ 1) – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay 24/8, Giáo hội mừng kính trọng thể Thánh Batôlômêô (thế kỷ thứ 1) tông đồ. Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh nhân làm quan thầy nhé. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thể giới luôn được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 2: 24/8/2026.     (t2-23)

Trong Tân Ước, Thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách các tông đồ. Một số học giả cho rằng ngài là Natanien, người Cana xứ Galilê được Philípphê mời đến gặp Ðức Giêsu. Và Ðức Giêsu đã khen ông: “Ðây đích thực là người Israel. Lòng dạ ngay thẳng” (Gioan 1:47b). Khi Natanien hỏi Ðức Giêsu làm sao Ngài biết ông, Ðức Giêsu trả lời “Tôi thấy anh ở dưới cây vả” (Gioan 1:48b). Ðiều tiết lộ kinh ngạc này đã khiến Natanien phải kêu lên, “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa; chính Thầy là Vua Israel” (Gioan 1:49b). Nhưng Ðức Giêsu đã phản ứng lại, “Có phải anh tin vì tôi nói với anh là tôi thấy anh đứng dưới cây vả? Anh sẽ được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa!” (Gioan 1:50)

   Quả thật Natanien đã được nhìn thấy những điều trọng đại. Ngài là một trong những người được Ðức Giêsu hiện ra trên bờ biển Tiberia sau khi Phục Sinh (x. Gioan 21:1-14). Lúc ấy các ngài chài lưới cả đêm mà không được gì cả. Vào buổi sáng, họ thấy có người đứng trên bờ dù rằng không ai biết đó là Ðức Giêsu. Ngài bảo họ tiếp tục thả lưới, và họ bắt được nhiều cá đến nỗi không thể kéo lưới lên nổi. Sau đó Gioan nói với Phêrô, “Ðó chính là Thầy.”

   Khi họ dong thuyền vào bờ, họ thấy có đám lửa, với một ít cá đang nướng và một ít bánh. Ðức Giêsu bảo họ đem cho mấy con cá tươi, và mời họ đến dùng bữa. Thánh Gioan kể rằng mặc dù họ biết đó là Ðức Giêsu, nhưng không một tông đồ nào dám hỏi ngài là ai. Thánh Gioan cho biết, đó là lần thứ ba Ðức Giêsu hiện ra với các tông đồ.

   Sổ Tử Ðạo Rôma viết rằng Thánh Batôlômêô đã rao giảng ở Ấn và Armenia, là nơi ngài bị lột da và bị chém đầu bởi vua Astyages. Người được đặt làm quan thầy của các người làm nghề buôn thịt hoặc làm nghề thuộc da. 

(Nguồn: Nhóm Tinh Thần & Người Tính Hữu)

   Giống như Natanien, có khi nào bạn nghi ngờ rằng Chúa Giêsu chính là người mà bạn đang tìm kiếm và khao khát không? Nhưng Chúa Giê-su không ngần ngại ra tay trước. Trước khi kêu gọi bạn, Chúa Giêsu đã biết bạn là ai rồi. Đây là điều bạn cần mở lòng và đặt hết niềm tin tưởng vào quyền năng của Ngài.

Lạy Chúa, xin ban cho con một lòng tin vững mạnh, để con thật tình gắn bó với Đức Ki-tô, Con Một Chúa, như thánh Ba-tô-lô-mê-ô tông đồ. Xin Chúa cũng nhậm lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà cho con sống thế nào, để muôn dân nhận biết Hội Thánh chính là bí tích cứu độ.

From: Do Dzung 

*****

Thánh Ca Nguyên Hòa,SSS – Ánh Mắt Ngài Yêu Thương – Khắc Dũng

TÔN GIÁO KHÔNG TRỌNG LƯỢNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà!”.

“Trọng lượng của tôi là tình yêu; nó mang tôi đi bất cứ nơi đâu!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đời người đi về đâu tuỳ điều gì nặng nhất trong tim – tình yêu. Nhưng Lời Chúa hôm nay cho thấy có một kiểu tôn giáo khắt khe với điều nhỏ mà lỏng lẻo với điều nặng – đó là một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúa Giêsu không trách người Pharisêu vì họ quá tỉ mỉ; Ngài trách vì sự tỉ mỉ ấy đã làm lệch cân. Họ nộp một phần mười bạc hà, thì là, rau húng, nhưng “bỏ những điều quan trọng nhất”. Bản Hy Lạp viết barytera: không chỉ là “những điều quan trọng nhất”, mà còn là “những điều nặng hơn”. Rau thơm có thể đếm, một phần mười có thể cân rồi yên tâm. Bởi thế, họ cân điều nhẹ để khỏi mang điều nặng; rồi nâng điều nhẹ thành tuyệt đối: con muỗi mắc lại trong rây, còn con lạc đà trôi thẳng vào bụng.

Một đời sống đạo có thể rất bận rộn: giữ đủ giờ kinh, ngày chay, khoản dâng cúng, mà lòng vẫn y nguyên. Việc nhỏ dễ chịu vì làm xong là có thể yên tâm; nhưng công lý, lòng nhân và thành tín không cho phép ai đứng ngoài. Chúng đụng đến túi tiền, sự tiện nghi, cả những lối thoát mỗi người âm thầm giữ cho mình. Vì thế, chén đĩa có thể sáng bóng mà bên trong vẫn đầy cướp bóc và vô độ. “Hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã!” – Chúa Giêsu không đòi thêm một việc đạo; Ngài đòi trả lại sức nặng cho việc đang làm. “Nên thánh không hệ tại ở chỗ làm những việc khác, nhưng ở chỗ làm vì Chúa những gì chúng ta thường làm vì mình!” – Brother Lawrence.

Đó cũng là cách Phaolô chuẩn bị tín hữu Thessalônica cho ngày Chúa quang lâm. Trước những tin đồn, họ hoảng sợ; ông không thêm một dấu chỉ, nhưng “Xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành” – bài đọc một. Việc lành có sức nặng vì “Chúa ngự đến xét xử trần gian!” – Thánh Vịnh đáp ca. Chúng ta lo lắng hỏi khi nào Chúa đến; Lời Chúa lại hỏi, đời chúng ta có gì đủ nặng để đặt lên bàn cân khi Ngài đến?

Vậy mà chiếc cân ấy nhiều lúc vẫn lệch, không vì thiếu quả cân, nhưng vì cái tôi đã chiếm mất điểm tựa. Lỗi người khác được đặt lên đĩa công lý; lỗi bản thân, lên đĩa biện minh. “Làm sao hiểu được công lý, nếu không nhìn mọi hành vi trong ánh sáng trọn vẹn?” – Kahlil Gibran. Hoán cải là đưa điểm tựa ra khỏi cái tôi về lại nơi Chúa, để mỗi điều được trả đúng trọng lượng. Linh hồn chỉ có sức nặng khi biết đau điều khiến người khác đau.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, “những điều nặng hơn” của Lề Luật không còn là những ý niệm; chúng mang hình thập giá. Thập giá là chiếc cân: một bên là toàn bộ sức nặng tội lỗi, bên kia là tình yêu của Người Con. Không phải tội lỗi bỗng nhẹ đi; nhưng tình yêu đã nặng hơn. Con Thiên Chúa đã đặt mình lên đó và mang lấy phần nặng nhất. Không có thập giá, đời sống đạo dễ trở thành một ‘tôn giáo không trọng lượng’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chỉnh lại chiếc cân lệch trong con; đừng để con vin vào điều nhỏ mà trốn tránh điều nặng; cho mỗi việc con làm mang trọng lượng của tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXI TN, Năm Chẵn: 

https://bom.so/B6Ri17

Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 23,23-26

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rằng : “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. 24 Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng ! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.

25 “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu đạo đức giả ! Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ. 26 Hỡi người Pha-ri-sêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén đĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch.”


 

LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Xuyên Sơn

 LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm,

27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”

Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả.

Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương.

– Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi:

“Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…”

Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng.

Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính.

Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.

Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam.

Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó.

Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

  • Tự Lực Văn Đoàn

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào.

Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.

Chẳng những tại miền Bắc, Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che dấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình.

Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.

  • Aki Tanaka

Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.

Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.

Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn.

Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.

Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.

Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:

Aki Tanaka:

-Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.

Mặc Lâm:

-Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?

Aki Tanaka:

-Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.

Mặc Lâm:

-Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?

Aki Tanaka:

-Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới.

Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.

Mặc Lâm:

-Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?

Aki Tanaka:

-Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.

Mặc Lâm:

-Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?

Aki Tanaka:

-Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều.

Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.

Mặc Lâm:

-Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?

Aki Tanaka:

-Tôi rất thích ông Khái Hưng.

Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.

Mặc Lâm:

-Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?

Aki Tanaka:

-Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.

Mặc Lâm:

Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?

Aki Tanaka:

-Tôi thấy họ không chú ý đâu.

Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.

Mặc Lâm:

-Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…

Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?

Aki Tanaka:

-Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy

Mặc Lâm:

-Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?

Aki Tanaka:

-Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa

Mặc Lâm:

-Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2015-09-05

(share từ Nguyễn Thanh Bình FB, Le Van Quy) 

ảnh: Cô sinh viên người Nhật Aki Tanaka 


 

VŨ NỮ CẨM NHUNG

Xuyên Sơn

 VŨ NỮ CẨM NHUNG

Người Sài Gòn trước đây không mấy ai mà không nghe qua cái tên vũ nữ Cẩm Nhung (1940-2013)

và vụ đánh ghen tạt acxit rùng rợn lần đầu tiên xảy ra tại Việt Nam. Cẩm Nhung là nạn nhân của vụ đánh ghen tàn khốc này khiến dung nhan của cô trở nên dị dạng, trở thành phế nhân tàn tật, suốt cuộc đời còn lại phải lê lết trên đường phố ăn mày ăn xin, cũng chỉ vì Cẩm Nhung là một “hồng nhan họa thủy”. ĐXGK mạn phép đăng lại bài viết sau đây của tác giả Trúc Giang MN tường thuật lại vụ đánh ghen kinh hoàng chấn động Sài Gòn đầu thập niên 60.

“khoảng 8 giờ tối ngày 17-7-1963, một phụ nữ vừa bước ra khỏi nhà, tiến về chiếc taxi chờ sẵn, thì bổng nhiên một người đàn ông xuất hiện, tay bưng một ca acid tạt vào mặt người phụ nữ.

Thiếu nữ thét lên trong đau đớn: “Chết tôi rồi! Cứu tôi với”, rồi ôm mặt ngã quỵ.

Một người đàn ông chạy đến, bế cô lên chiếc taxi chạy vào bịnh viện Sài Gòn cấp cứu.

Sau đó được chuyển đến Bịnh viện Đồn Đất (Grall) vào lúc hai giờ sáng ngày 18-7-1963.

Cái tin vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt acid gây xôn xao trong giới thượng lưu thường lui tới các vũ trường.

Báo chí đăng tấm hình rất xinh đẹp của Cẩm Nhung đã gây xúc động và thương tiếc của người Sài Gòn và cả Miền Nam VN.

Đó là vũ nữ tài sắc vẹn toàn nổi danh là “Nữ hoàng vũ trường”, Cẩm Nhung bị đánh ghen bằng tạt acid.

Hai người thân là mẹ và bà vú lần lượt ra đi. Tài sản cạn kiệt.

Không nơi nương tựa nên phải đi ăn mày.

Đặc biệt là người ăn xin nầy mang trước ngực tấm hình cô chụp chung với người yêu là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội.

Năm 15 tuổi theo gia đình di cư vào Nam, và trở thành vũ nữ chuyên nghiệp năm 19 tuổi.

Con gái 17 tuổi mà trổ mã đều đặn, nói chung là rất đẹp và hấp dẫn.

Cẩm Nhung bỏ học.

Lén đi học khiêu vũ ở một lớp dạy tư, do hai nhạc sĩ và là vũ sư Nguyễn Tình và Nguyễn Thống phụ trách.

Hai nhạc sĩ nổi tiếng với ngón đàn hạ uy cầm (Hawaiian guitar), đã đào tạo hàng chục vũ nữ cho các vũ trường Sài Gòn thời đó.

Nhờ có năng khiếu, mới học được nửa khóa đã tỏ ra nghệ thuật nhảy múa rất xuất sắc.

Vũ sư Nguyễn Tình nói với người tài pán Marie Sang:

“Đôi chân của nó, thân hình gợi cảm của nó rồi đây sẽ có khối đàn ông ngã rạp dưới chân nó mà chết cho coi”.

Tài pán là người quản lý vũ nữ ở vũ trường, còn gọi là “cai gà”. Khách đi solo muốn nhảy với vũ nữ đều phải do người cai gà đó sắp xếp.

Phải mua ticket thời đó là 20$. Mỗi ticket chỉ nhảy được một vài bản mà thôi. Muốn bao thầu cả đêm thì phải mua trọn gói chừng 15 ticket.

Đối với “Nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung, thì khách phải lo lót chị tài pán.

Người nào cho tiền nhiều thì được cuộc. Muốn nhảy với kiều nữ suốt đêm, tới một hai giờ sáng thì khách phải mua trọn gói 15 ticket.

Khách sành điệu cùng vũ nữ rời vũ trường nầy, đến một vũ trường khác vừa khiêu vũ thoải mái, vừa giữ được tiếng tăm về đức hạnh của vũ nữ.

Nhảy được vài ba bản rồi rủ nhau đi ăn khuya như ăn cháo cá ở Chợ Cũ, cơm thố, cơm siu siu, hoặc mì La Cai…

Đó là xong phần một.

Phần còn lại do sự thỏa thuận của hai bên.

Khách nhảy phải típ cho vũ nữ, thời giá lúc đó là 500$.

Đêm vui trọn vẹn đạt “mục đích yêu cầu” thì tốn phí khoảng 1,000$, tương đương với mấy cây vàng. Cẩm Nhung đã qua nhiều vũ trường, và Kim Sơn là điểm chót. Nghe nói Trung tá công binh mua cho Cẩm Nhung một căn nhà trong hẻm bên cạnh vũ trường Au Chalet.

Từ đó, Cẩm Nhung đã bước vào con đường của định mạng, người tài hoa bạc mệnh.

“Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

Vụ đánh ghen bằng acid diễn ra ngày 17-7-1963 tại Sài Gòn.

Đó được xem như vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất chưa từng có ở Việt Nam trước kia.

Sự việc gây chấn động cả Sài Gòn và Miền Nam trong một thời gian.

Báo chí nhận định vụ đánh ghen bằng acid là lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn. Nạn nhân bị đánh ghen bằng tạt acid là vũ nữ vô cùng xinh đẹp tên Cẩm Nhung của vũ trường Kim Sơn.

Báo chí thời đó hết lời ca ngợi nhan sắc và đôi chân dài điệu nghệ của cô vũ nữ gốc Hà Thành. Mệnh danh là “Nữ hoàng vũ trường”.

Tại vũ trường Kim Sơn,

đường Tự Do, Cẩm Nhung phải lòng một khách nhảy hào hoa, dân chơi có tiếng tại các vũ trường là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Việc ông Thức cặp kè với Cẩm Nhung đến tai bà vợ là Lâm Thị Nguyệt, biệt danh là Bà Năm Rado, vì bà chuyên bán đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Rado.

Máu Hoạn Thư nổi lên.

Người đàn bà dữ tợn nhất, độc ác nhất là lúc lên cơn ghen.

Thuở đó, ở Sài Gòn và cả Miền Nam chưa có vụ đánh ghen nào bằng tạt acid cả.

Thông thường thì đón đường chửi bới về việc giựt chồng, làm nhục nơi công cộng.

Bạo động hơn là “xởn tóc”, cao hơn nữa là “lột quần”.

Bà Lâm Thị Nguyệt thuê người tạt acid vào mặt Cẩm Nhung với giá hai lượng vàng.

Vụ đánh ghen bằng tạt acid diễn ra trong khi bà Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, đang ở nước ngoài.

Nghe được tin, bà vô cùng tức giận. Ngay sau khi về nước, bà Ngô Đình Nhu đến Bịnh viện Grall thăm Cẩm Nhung.

Với tư cách là người lãnh đạo Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ Việt Nam, binh vực quyền lợi và sự bình đẳng của phụ nữ, bà thúc đẩy điều tra và lập hồ sơ đưa ra tòa.

Vào tháng 10 năm 1963, tòa kết án Lâm Thị Nguyệt,  vợ của Trung tá Trần Ngọc Thức và người đàn ông tạt acid mỗi người 20 năm tù.

Một người đàn ông liên hệ 15 năm.

Trung tá Trần Ngọc Thức bị cho giải ngũ.

Sau năm 1975, Đại tá Trần Ngọc Thức đi tù cải tạo ở Trại Z.30C, Hàm Tân.

Cẩm Nhung còn giữ được cái mạng nhưng dung nhan kiều diễm bị hủy hoại hoàn toàn. Tháng 9 năm 1963, Cẩm Nhung được đưa qua Nhật chữa trị, hy vọng phục hồi gương mặt như trước kia.

Bác sĩ Nhật bó tay.

Khi Cẩm Nhung về nước thì nền Đệ nhất Cộng Hòa đã sụp đổ.

Bà Ngô Đình Nhu sống lưu vong ở nước ngoài.

Người vũ nữ nổi tiếng một thời đã biến mất trong các sinh hoạt ở Sài Gòn.

Những biến cố chính trị dồn dập khiến cho việc đánh ghen dã man, tàn bạo rơi vào quên lãng và chìm trong quá khứ.

Từ địa vị của một nữ hoàng sống trên đỉnh cao danh vọng, rực rỡ dưới ánh đèn màu và điệu nhạc, phong lưu công tử bay bướm đa tình và các thương gia giàu sụ săn đón, bổng nhiên trở thành thân tàn ma dại, ngậm đắng nuốt cay cho số phận hẩm hiu,

Cẩm Nhung lao vào con đường đập phá, rượu chè, nghiện ngập, sa đọa…

Năm 1964 người mẹ qua đời. Cẩm Nhung sống với bà vú tên Sọ.

Tiền bạc, nữ trang lần lượt từng bước ra đi.

Bán căn nhà 200 lượng vàng và cùng với bà vú ra ở thuê nhà trọ. Bà vú Sọ qua đời.

Cẩm Nhung tật nguyền.

Không nghề nghiệp, không nơi nương tựa nên chỉ có con đường là đi ăn xin.

Trước Tết năm 1969, người ăn mày xuất hiện ở chợ Bến Thành. Mặt mày dị dạng, đeo trên ngực tấm hình chụp chung với người tình là Trung tá Trần Ngọc Thức. Cô lê bước trên các con đường Sài Gòn, trên hành lang của Thương Xá Tax.

Rồi đến những Chợ Bà Chiểu, Chợ Bình Tây…và sau cùng về Miền Tây ở bến bắc (Phà) Mỹ Thuận, Vĩnh Long.

Hành khách qua lại trên bến phà Mỹ Thuận cho biết Cẩm Nhung không còn mang tấm hình chụp chung với người tình nữa, mà chỉ mang tấm hình của bản thân người ăn mày.

Chuyện kể rằng, một hôm có mấy người lạ mặt đến trao cho người ăn xin một số tiền và giật lấy tấm hình chụp chung hai người.

Ở Sài Gòn xuất hiện bản nhạc “Bài Ca Cho Người Kỹ Nữ” của hai nhạc sĩ Nhật Ngân và Duy Trung.

Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ Cẩm Nhung.

Bài hát có đoạn:

Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người

Ta xót xa thay em là một cánh hoa rơi

Loài người vô tình giẫm nát thân em

Loài người vô tình giày xéo thân em

Loài người vô tình giết chết đời em…

Trong hồi ký “Đời 1998”,

(nhà thơ) Nguyên Sa thuật lại nhiều lần ông và nhà văn Mai Thảo đến nhà chở Cẩm Nhung đi vũ trường Arc en Ciel, ăn kem và hóng mát ở Bến Bạch Đằng.

Lần sau cùng ông gặp Cẩm Nhung như sau:

“Lần chót tôi gặp lại người phụ nữ ấy, Mai Thảo dừng xe có phần gấp gáp, không có nét bay bướm nào. Anh đang phóng nhanh bỗng thắng két, táp xe vào lề, đậu xe bên phía tay mặt đường Pasteur.

Mai Thảo ra khỏi xe không một lời giải thích.

Tôi không hỏi, xuống theo ngay, linh cảm có chuyện gì khác lạ. Chúng tôi băng qua con lộ xe chạy một chiều vun vút.

Mai Thảo dừng lại trước một người hành khất, một người phụ nữ, móc trong túi ra một nắm giấy bạc, anh chuyển nắm giấy bạc sang tay kia, tìm kiếm thêm, tôi không nhận ra người hành khất là ai, chỉ thấy mặt loang lổ những vết cháy nổi lên những mảng thịt nửa đỏ nửa tím sậm, dị dạng, hai mắt vết cháy càng rõ, lòng trắng và lòng đen bị hủy hoại lổn nhổn.

Bạn tôi bỏ nắm tiền vào chậu bằng nhôm, những tờ giấy chạm vào tay người đàn bà hành khất, dường như nàng biết ngay người cho tiền là ai, sự va chạm của bàn tay vào những tờ giấy bạc cho nàng biết ngay là ai, ai có thể cho nàng nhiều tờ giấy bạc như thế, nàng ngẩng mặt lên gọi “anh”.

Mai Thảo vỗ nhẹ vào bàn tay nàng có tiếng nói an ủi bằng xúc giác, không có âm thanh nào được phát lên.

Tôi muốn nói lên tên người đàn bà hành khất.

Tôi chưa kịp nói thì Mai Thảo kéo tôi băng qua đường.

Tôi ngồi vào trong xe, nói lên ngay tên nàng.

Mai Thảo gật đầu.

Cẩm Nhung.

Tên người vũ nữ thay quần áo sau tấm bình phong mỗi lần Mai Thảo và tôi đến đón nàng đi làm hay đi ăn, đi ra Pointe des Blagueurs (Bến Bạch Đằng) hóng mát.

Cẩm Nhung bị tạt át xít trong một trận đòn ghen có sức mạnh của tiền hô hậu ủng, có sự tàn bạo mới của thế kỷ khoa học.

Tôi nhìn bạn tôi ngậm ngùi:

-Cẩm Nhung!

Mai Thảo nhìn về phía trước mặt, như nói một mình, rất khẽ:

-Nhung đấy!”

Một ngày đầu năm 2013, tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác và dân tứ xứ đến thuê ở trọ, có một đám ma nghèo.

Một bà lão bán vé số đã qua đời vì già yếu, bệnh tật. Không một người thân, bà lão được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa…

Sẽ không có chuyện gì đáng nói về đám ma nghèo của bà lão vô gia cư, nếu như người quá cố nói trên không phải là vũ nữ Cẩm Nhung, đã lừng danh ở nửa thế kỷ trước.”

Nguồn fb Thầy Lê Văn Thông