Vụ án sách Chuyện với Thanh: Tổ chức nhân quyền kêu gọi trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và những người liên quan (BBC)

BBC

22 tháng 7 2026

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) hôm 22/7 đã kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và bốn người liên quan đến việc xuất bản và quảng bá sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng.

“Chính quyền Việt Nam cần ngay lập tức hủy bỏ mọi cáo buộc đối với cả năm người và phóng thích họ vô điều kiện,” HRW viết trong thông cáo.

Vào ngày 7/7, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Thành Nam và ông Trần Việt Anh để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Ông Nam là tác giả sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng, còn ông Trần Việt Anh là nhà sáng lập của Spiderum – một mạng xã hội được quảng bá là nền tảng chia sẻ tri thức của người Việt Nam.

Sau khi bị bắt, ông Nam và ông Việt Anh đã xuất hiện trên sóng truyền hình VTV1, thú nhận hành vi của mình, tương tự như những gì mà đài này kết hợp với công an thường làm trong các vụ án được dư luận quan tâm khác.

Sau đó, công an tiếp tục bắt giữ ba lãnh đạo chủ chốt của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, gồm bà Nguyễn Thúy Hằng, ông Đào Bá Đoàn và ông Nguyễn Văn Yên, cũng với các cáo buộc tương tự.

Bà Elaine Pearson, Giám đốc khu vực châu Á của HRW, được trích lời trong thông cáo nêu trên: “Làn sóng bắt giữ vì một cuốn sách về Hồ Chí Minh gửi một thông điệp lạnh gáy đến toàn bộ giới nhà văn, nhà báo và xuất bản rằng tuyên ngôn về kỷ nguyên ‘vươn mình’ mới chỉ có nghĩa là gia tăng đàn áp.”

“Phản ứng cực đoan về cuốn sách thể hiện rằng ngay cả những nhân vật thành danh trong các lĩnh vực kinh doanh, xuất bản và báo chí cũng không được an toàn trước giới bảo thủ của Đảng Cộng sản,” bà Pearson nói thêm.


 

RỒI MÙA SẼ ĐẾN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời”.

“Mọi sự đều là một thời kỳ thai nghén, rồi mới đến lúc sinh nở!” – Rainer Maria Rilke.

Kính thưa Anh Chị em,

Không ai có thể đòi mùa gặt khi hạt giống vừa được gieo; cũng không ai mong ngày sinh nở khi thời kỳ thai nghén chưa trọn. Mọi sự đều cần thời gian. Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa không vội vàng, vì Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Và chính ở đó, Chúa Giêsu mặc khải một cái nhìn rất khác về thời gian. Bản Hy Lạp viết synauxanesthai – “cùng lớn lên”. Có những điều chỉ khi lớn lên mới biết mình là gì. Hạt lúa phải đợi đến khi trổ bông, cỏ lùng cũng phải đợi đến lúc kết hạt mới lộ nguyên hình. Chúa Giêsu vì thế không nhìn cánh đồng bằng con mắt của một khoảnh khắc, nhưng bằng cái nhìn của cả một vụ mùa. Con người chỉ nhìn thấy cánh đồng mới mọc; Thiên Chúa đã nhìn thấy mùa gặt. Đầy tớ sợ cỏ lùng; chủ ruộng tin vào lúa. Bởi Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Trong cái nhìn của Thiên Chúa, có những điều chỉ đến mùa mới sáng tỏ. Vì thế, Chúa Giêsu không vội phân định. Ngài để thời gian hoàn tất điều mà con mắt con người chưa nhìn thấy. Đến mùa, lúa không cần chứng minh mình là lúa; cỏ lùng cũng không thể tiếp tục giả làm lúa. “Dối trá không thể hoá thành chân lý, cho dù nó có lớn mạnh đến đâu!” – Rabindranath Tagore.

Điều lạ trong dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là sự bình thản của ông chủ. Giữa một cánh đồng đã bị gieo phá, ông không hốt hoảng. Ông hiểu rằng có những việc càng vội càng hỏng, càng nóng lòng càng mất. Chỉ mùa gặt mới có tiếng nói sau cùng. Điều kỳ diệu nhất trong dụ ngôn có lẽ không nằm ở mùa gặt, mà ở khả năng chờ đợi của Thiên Chúa. Chúng ta đo thời gian bằng đồng hồ; Thiên Chúa đếm thời gian bằng hy vọng. Bao lâu còn một hạt lúa có thể trổ bông, bấy lâu Ngài vẫn đợi.

Niềm hy vọng ấy cũng là niềm hy vọng của Giêrêmia. Giữa cảnh đất trời khô cằn và lòng người bội bạc, vị ngôn sứ vẫn không buông lời tuyệt vọng. Ông thú nhận tội lỗi của dân, nhưng đồng thời nài xin Thiên Chúa hành động vì danh Chúa và lòng trung tín của Ngài – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Với chúng ta, điều làm chúng ta mệt nhiều khi không phải là cỏ lùng, mà là cảm giác chẳng có gì đổi thay. Chúng ta sốt ruột với chính mình, với người khác, thậm chí với cả Thiên Chúa. Đừng bỏ cuộc quá sớm, vì biết bao mùa gặt đã chết ngay trong ngày người ta bỏ cuộc.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là bằng chứng Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ cánh đồng của mình. Khi con người tưởng mọi sự đã kết thúc trên thập giá, Ngài lại khởi đầu một mùa gặt mới bằng biến cố phục sinh. Với Đức Phanxicô, Chúa không mời chúng ta đi tìm cỏ lùng, Ngài mời chúng ta đi chăm lúa. Vì thế, theo Đức Kitô là dám ở lại với hy vọng, vì ‘rồi mùa sẽ đến’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con đừng thất vọng quá sớm về chính mình, về tha nhân, vì mùa của Chúa luôn đến đúng lúc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 13,36-43

36 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”


 

Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Đoàn Xuân Thu

 Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa và sự thống nhất đất nước dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng phía sau hình ảnh xe tăng do Trung Cộng cung cấp tiến vào Dinh Độc Lập, phía sau những buổi lễ chiến thắng và những lời tuyên bố về “giải phóng”, là một chương lịch sử đầy đau thương đối với hàng trăm ngàn con người bị đưa vào hệ thống trại được CS gọi là “học tập cải tạo”.

Hai chữ “cải tạo” nghe có vẻ nhẹ nhàng, thậm chí mang ý nghĩa giáo dục và sửa chữa sai lầm. Nhưng đối với hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức, trí thức và những người từng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đó lại là khởi đầu của những năm tháng mất tự do, đói khát, bệnh tật và tuyệt vọng.

Những tờ giấy triệu tập và lời hứa cuội “học tập vài ngày”

Sau tháng 4 năm 1975, chính quyền CS kêu gọi các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, công chức, cảnh sát, nhân viên hành chính ra trình diện để “học tập cải tạo”.

Nhiều người đã ngây thơ tin rằng đây chỉ là một khóa học chính trị ngắn hạn nhằm giúp họ hiểu đường lối mới. Có người mang theo vài bộ quần áo, một ít thức ăn, nghĩ rằng chỉ vài ngày hoặc vài tuần sẽ trở về với gia đình.

Nhưng thực tế hoàn toàn khác. Nhiều sĩ quan cấp cao, từ tướng lãnh đến sĩ quan cấp thiếu úy trở lên, cùng hàng loạt công chức các cấp, bị đưa đi giam giữ trong các trại nằm rải rác từ Nam ra Bắc. Một số người chỉ trở về sau vài tháng, nhưng nhiều người phải trải qua từ 5 năm, 10 năm, thậm chí hơn 15 năm trong cảnh bị CS tù đày.

Đặc biệt, nhiều sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị đưa ra các vùng rừng núi xa xôi như Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, hoặc các vùng rừng thiêng nước độc ở miền Trung và Tây Nguyên.

“Cải tạo” bằng lao động khổ sai.

Một trong những đặc điểm khắc nghiệt nhất của hệ thống trại cải tạo là việc sử dụng lao động nặng nhọc như một phương tiện “giáo dục”.

Những người từng là bác sĩ, giáo sư, kỹ sư, sĩ quan chỉ huy, công chức văn phòng bị buộc phải lao động chân tay: phá rừng, khai hoang, trồng trọt, làm đường, đào mương, chặt cây.

Đối với những người đã lớn tuổi, sức khỏe yếu hoặc từng bị thương trong chiến tranh, công việc này trở thành thử thách sinh tử.

Có những cựu quân nhân từng kể lại cảnh phải đi hàng chục cây số vào rừng đốn củi, đào đất trong điều kiện thiếu dụng cụ, thiếu thuốc men. Một tai nạn lao động nhỏ cũng có thể trở thành nguy hiểm vì trại giam cách xa bệnh viện và thiếu phương tiện chữa trị.

Cái đói – nỗi ám ảnh lớn nhất.

Trong ký ức của nhiều cựu tù nhân cải tạo, cái đói là một trong những nỗi ám ảnh sâu sắc nhất.

Khẩu phần ăn nghèo nàn thường chỉ gồm một ít cơm độn với khoai, sắn, bo bo hoặc rau rừng. Những người tù phải tìm kiếm thêm thức ăn trong tự nhiên như lá cây, củ rừng, hoặc trao đổi với người dân địa phương để tồn tại.

Nhiều người từ những gia đình khá giả, từng có địa vị xã hội, khi ra khỏi trại chỉ còn da bọc xương, sức khỏe suy kiệt.

Có người đã không sống sót để trở về với vợ con.

Những cái chết âm thầm trong rừng sâu.

Không có những bản án tử hình công khai, không có tiếng súng xử bắn trước pháp trường, nhưng nhiều người đã chết dần trong các trại cải tạo vì đói rét, bệnh tật và kiệt sức.

Những căn bệnh tưởng như có thể chữa trị trong điều kiện bình thường như sốt rét, kiết lỵ, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng cũng có thể trở thành nguyên nhân tử vong trong môi trường thiếu thuốc men.

Nhiều gia đình ở miền Nam trong nhiều năm không biết người thân của mình còn sống hay đã mất. Một số chỉ nhận được tin qua những người tù được thả về hoặc qua những nấm mộ đơn sơ nằm lại nơi rừng núi xa xôi.

Đằng sau mỗi cái tên là một gia đình tan nát: người vợ chờ chồng, người mẹ chờ con, những đứa trẻ lớn lên mà thiếu bóng cha.

Những người trí thức cũng trở thành tù nhân. Điều đặc biệt của hệ thống cải tạo sau 1975 là không chỉ giới hạn trong quân đội.

Nhiều giáo sư đại học, giáo viên, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, công chức dân sự cũng bị đưa đi cải tạo vì từng làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Một xã hội muốn tái thiết sau chiến tranh cần sự tham gia của mọi tầng lớp, nhưng thay vì tận dụng nguồn nhân lực trí thức, nhiều người trong số họ lại bị CS loại khỏi đời sống xã hội trong nhiều năm.

Hậu quả không chỉ là những mất mát cá nhân mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của đất nước.

Từ “hòa giải” đến những câu hỏi của lịch sử.

Sau nhiều thập niên, vấn đề trại cải tạo vẫn là một đề tài gây tranh luận.

Những người từng trải qua thời kỳ đó cho rằng họ đã chịu sự đối xử bất công, bị tước đoạt tự do mà không qua một phiên tòa độc lập, và phải trả giá cho một cuộc chiến mà họ không phải là người duy nhất quyết định.

Đối với nhiều người Việt hải ngoại, ký ức về trại cải tạo trở thành một phần quan trọng trong lịch sử di dân sau năm 1975. Chính những kinh nghiệm đau thương ấy đã khiến hàng trăm ngàn người tìm đường vượt biển, rời bỏ quê hương để tìm tự do.

Bài học về nhân quyền.

Lịch sử của các trại cải tạo sau năm 1975 nhắc nhở một điều căn bản: khi một chính quyền có quyền lực tuyệt đối nhưng thiếu cơ chế kiểm soát, con người rất dễ trở thành nạn nhân của những quyết định chính trị.

Chiến tranh có thể kết thúc trên chiến trường, nhưng hậu quả của chiến tranh vẫn tiếp tục trong số phận của con người.

Những người đã chết trong các trại cải tạo không chỉ là những con số thống kê. Họ là những người cha, người chồng, người con; họ có tên tuổi, gia đình, ước mơ và một cuộc đời đã bị thay đổi bởi lịch sử.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng câu chuyện về các trại cải tạo vẫn còn đó như một lời nhắc nhở rằng tự do, công lý và nhân phẩm của con người luôn cần được bảo vệ.

Bởi vì một dân tộc muốn bước tới tương lai không thể chỉ nhớ những chiến thắng, mà còn phải can đảm nhìn lại những nỗi đau của quá khứ.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập – Bích Lan

Duc Thong DO 

THƯƠNG THAY NHỮNG NGƯỜI VỢ HIỀN TẦN TẢO NUÔI CON VÀ THĂM NUÔI CHỒNG BỊ TÙ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC, MIỀN TRUNG VÀ MIỀN NAM.

***** 

1- THĂM CHỒNG BỊ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập

Bích Lan

“Thương anh mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”

Đường Saigon – Hà Nội dài hơn 1700 km, có mấy núi, mấy sông, ngàn vạn cái đèo cũng không ngăn được bước chân những chinh phụ đi tìm chinh phu trong ngục tù của VC.

Năm 1979, tôi từ Nam ra Bắc lần đầu tiên, xuống ga Hà Nội, tới bến xe Kim Liên để về Ninh Bình, quê chồng, nơi mà năm 1954 khi đình chiến anh mới được 12 tuổi mà đã một mình dám theo các cô chú họ hàng vào Nam, xa lìa cha mẹ anh em.

Hơn 20 năm sau, anh trở về quê hương đất Bắc tay trong cùm, chân mang xích. Tôi đến Ninh Bình để đón mẹ chồng cùng lên thăm chồng tôi ở trại Tân Lập, vì bố mẹ chồng tôi đã thăm anh mấy tháng trước và đã biết được trại tù này.

Thân gái dặm trường nên khi xuống ga Hà Nội, tôi nhìn quanh để tìm bạn đồng hành, tất cả lem luốc như có gì mặc nấy, thanh niên, thiếu nữ, ông già, bà lão v.v.. mặc giống nhau, cùng một mầu, mầu “bộ đội” với dép râu, nón cối, xe đạp.

Tôi thoáng trông thấy một chị y phục tươm tất nổi bật trong đám đông ấy và có lẽ chị cũng cùng tâm trạng, cùng hoàn cảnh như tôi khiến chúng tôi tiến gần lại nhau, và chúng tôi là những chinh phụ đi tìm chồng giữa chốn “hỗn quân”. Đám đông nhìn chúng tôi, người Hà Nội nhìn chúng tôi với thái độ vô cảm, họ chỉ trỏ, soi mói, thì thào với nhau, họ biết chúng tôi là người từ miền Nam, người Sài Gòn, “Vợ ngụy”. Chúng tôi đứng với nhau một lúc cảm thấy mình không lẻ loi; rồi chị bạn có thân nhân ở Hà Nội đón và tôi lại cô đơn, một mình.

Ở bến xe Kim Liên, những đứa nhỏ bằng tuổi con tôi, từ 7 tới 10 tuổi, chúng líu lo chen chúc quanh tôi nghe rất là dễ thương, tôi đã nép mình sang một bên đường và nhường lối cho chúng đi qua nhưng vẫn bị chen lấn. Mấy phút sau chúng tản mát đâu hết, tôi chưa kịp hỏi han các em lời nào. Thấy các em, tôi nhớ đến con tôi, mới đi có mấy ngày mà nhớ con quá, các con còn nhắc mẹ là nhớ hôn bố thay các con.

Tôi nhìn lại túi xách tay nhỏ, chết rồi! Tiền bạc và giấy tờ của tôi đã mất! Không lẽ những trẻ thơ chỉ bằng con mình đã lấy của mình rồi chăng? Nhưng ngoài các em ra, có ai chen lấn gì tôi đâu, nhưng tôi đã mất đồ thật rồi! Trong cảnh bơ vơ, lần đầu tiên về quê chồng nơi xứ Bắc này tôi phải làm gì đây?

Tôi vào đồn công an bến xe Kim Liên để khai báo. Mấy người công an tiếp tôi hờ hững như chẳng có chuyện gì quan trọng, như là chuyện thường ngày, một người đưa cho tôi tờ giấy và cây viết, cộc lốc:

– Khai đi.

Mấy phút sau, tôi nộp lại tờ khai mất giấy tờ, tiền bạc và quan trọng nhất là giấy xin thăm nuôi, tên công an vừa đưa tờ giấy và viết cho tôi trước đó 15 phút quát:

Tôi bảo chị mất cắp gì thì khai vào tờ giấy này, còn lôi thôi gì nữa không?

Tôi trả lời: “Tôi khai rồi đây này”.

Hắn cầm tờ giấy lật qua lật lại, nhìn tôi chầm chầm, mấy tên ngồi gần đó và cả mấy tên đứng quanh đó trố mắt nhìn tôi, một tên nào đó thốt lên:

– Nhanh thế!

Tôi không quan tâm tới gì họ nói, họ muốn “khai” bao nhiêu tôi “khai” cho họ là xong, nhưng trước mắt, không giấy tờ tiền bạc làm sao tôi về đến quê chồng, và còn vào trại tù thăm chồng trong lúc khó khăn này!

Tôi đứng chơ vơ lẻ loi trong đám đông hỗn độn và hỗn hào trong bến xe, cùng tắc biến, tôi hỏi thăm đại một người đường về quê chồng. Trời thương, may gặp được người cùng làng của cha mẹ chồng, vài lời thăm hỏi, và biết hoàn cảnh của tôi, bác đã nhận lời giúp trả tiền xe và đưa tôi về nhà cha mẹ chồng. Bác an ủi tôi, bác bảo:

– Bác là người cùng làng, cùng họ hàng nên cháu đừng sợ.

Tôi cảm thấy bớt cô đơn.

Ngồi trong cái xe cũ kỹ về Ninh Bình, đến một làng có ngôi thánh đường khá lớn, xa xa có dãy núi, trên đỉnh núi thật cao ấy có cây thánh giá sừng sững giữa trời. Làng của chồng tôi đây sao? Lấy chồng năm 20 tuổi tôi đã theo đạo của chồng. Trước khi vào nhà cha mẹ chồng, đi ngang qua ngôi Thánh đường, tôi đã cầu xin Chúa cho được gặp chồng và xin cho anh được bằng an.

Xuống xe đầu làng, thấy một thanh niên đi tới, không chờ họ nói mà tôi hỏi trước:

– Này, em có phải là em của anh Chiến không?

Cậu ta ngẩn người ra và hỏi lại tôi:

– Sao chị biết.

– Chị là chị Chiến đây, trông em giống anh ấy quá.

Chú ấy chở hai giỏ quà sau xe, tôi đi bộ theo, trên đường vào làng mọi người túa ra thăm hỏi, những đứa trẻ miệng trầm trồ, có đứa còn nói lời chào “Chào chị Chiến”. Trẻ con ở đây lễ phép hơn. Cha mẹ chồng tôi đã vào Nam thăm mẹ con tôi năm 1977 nên tôi cũng không xa lạ với ông bà, tôi được sống trong những giây phút ấm áp đó.

Qua một đêm ở nhà cha mẹ chồng, họ hàng, dân làng đến thăm hỏi, họ cũng muốn tìm hiểu đời sống của người miền Nam. Khách đầy nhà, một người nói rằng hồi nhỏ học cùng lớp với chồng tôi, thấy tôi người Huế, anh nói với tôi:

– Này chị Chiến, năm 1973 đơn vị tôi bao vây một cái đồn ở Huế, nghe tin Chiến ở trong đó nên tôi rút quân không đánh nữa.

Thoáng nghĩ: “Lại có mấy cái máy lạnh đặt ở công viên” nữa rồi, tôi trả lời anh:

– Ông xã tôi chỉ ở miền Nam, không có ở Huế.

Sáng hôm sau mẹ chồng tôi và tôi lại lên Hà Nội, đi xe lửa chợ từ Hà Nội lên Yên Bái, xuống ga Ấm Thượng, tầu chở người và súc vật chung, người và vật chen chúc hôi hám. Tôi và mẹ tôi không có chỗ ngồi vì phần đông là bộ đội, họ đã chiếm hết chỗ rồi, họ nói chuyện như cãi lộn, hò hét, chửi thề, văng tục, họ chẳng biết nhường chỗ cho người già và phụ nữ. Tôi và mẹ tôi phải vịn thanh sắt, chân kẹp chặt giữ mấy giỏ đồ, đứng liên tục 10 tiếng đồng hồ từ 5 giờ chiều tới 3 giờ sáng mới tới ga Ấm Thượng, trong khi đó họ ngồi, họ chiếm cả chỗ…

Trong toa tầu ánh đèn lờ mờ, con tàu lắc lư, một tên thừa cơ tranh sáng tranh tối, đưa tay sờ ngực tôi, mẹ tôi đứng cạnh tôi trông thấy bà la lên:

– Ấy, ấy, đó là con dâu tôi đấy, nó có chồng 3 con rồi đấy mấy chú ơi.

Mặc cho bà la, chúng cười nham nhở và còn bảo: “Thế à”! … cười nói khả ố…*

Tôi nói mẹ đừng la nữa, tầu sắp đến ga rồi, coi chừng mấy giỏ quà giúp con.

Mẹ con tôi xuống ga Ấm Thượng và phải nằm chờ tới sáng, ga trống vắng lạnh lẽo, lại phải ở chung với chó, lợn, gà. Trời đêm mưa phùn, gió rét, tôi nghe tin hôm qua có một anh tù cải tạo bị chết đuối.

Bàng hoàng, xúc động, tôi ôm mẹ và khóc, mẹ chồng tôi sau hơn ¼ thế kỷ mới gặp con, có biết bao điều để nói, nhưng với cái nhiễu nhương trước mắt mẹ cũng chỉ biết cầu xin.

– “Cầu cho tất cả được bình yên trở về, ngủ đi con, ngày mai còn phải đì đò rồi đi bộ mười mấy cây số vào trại, ngủ đi con.

Từ ga Ấm Thượng vào trại Tân Lập phảỉ đi đò ngang qua sông Hồng nước chảy xiết, con đò mong manh xuôi theo giây cáp, tròng trành như sắp bị cuốn trôi đi theo dòng nước. Lên đò lại phaỉ đi bộ hơn 20 cây số đường rừng, bùn đất gập gềnh, mẹ tôi thấy tôi đi không nổi nên cứ dành gánh những gói quà.

Vào tới trại thì đã xế chiều, trình giấy tờ, lại phải ngủ qua đêm trong khí hậu núi rừng lạnh thấu tim gan để qua ngày hôm sau mới được gặp anh! Lại một đêm trằn trọc, đêm đầy tiếng kẻng, mỗi lần nghe tiếng kẻng từ trong trại dội ra là tôi lại ôm mẹ, nghĩ tới anh qua hình ảnh các bạn anh mà tôi đã thấy trên đường vào trại, các anh cũng đã vui mừng khi nhìn thấy chúng tôi nhưng không còn vóc dáng ngày nào, an phận! Chịu đựng! Vậy là hết rồi sao!

Sau 15 phút ngồi đối diện với chồng, có mẹ chồng bên cạnh, tôi chẳng nói được gì với anh cả. Chúng tôi chỉ mới nói chuyện gia đình mạnh khỏe, con cái học hành là đã hết 15 phút! Chỉ muốn nắm tay anh mà cũng chẳng được vì tên cán bộ ngồi đầu bàn cứ chằm chặp nhắc nhở “Anh chị phải giữ nếp sống văn hóa”! Văn hóa gì đây hỡi trời?

Chồng tôi nhận quà, tôi chỉ dặn được vài câu anh cố gắng giữ sức khoẻ thế nào cũng có ngày đoàn tụ, còn chồng tôi thì nói em cố gắng lo cho các con, đừng lo cho anh.

Chồng tôi lại phải vào trại, anh đi được vài bước, quay lại, bước đi, ngoái cổ lại phía sau. Lòng tôi bối rối, đau như cắt, thình lình tôi gọi to:

– Anh!

Chồng tôi dừng lại, tôi chạy thật nhanh, ôm chầm lấy chồng và hôn anh, hôn lấy hôn để, tên cán bộ nhìn thấy thế, anh ta ú ớ:

– Ơ cái anh chị kia, nhớ giữ gìn nếp sống văn hóa chứ.

Mấy người tù trẻ, có lẽ là tù hình sự, đứng vỗ tay như là ở cái xã hội Bắc Kỳ này chuyện vợ chồng hôn nhau chỉ có trong phim. Mặc cái gì là văn hóa, cái gì là nội qui, nhớ chồng quá, ai nói gì mặc kệ, bao năm xa cách, đi từ Nam ra Bắc cũng chẳng được cầm tay mà chỉ ngồi nhìn nhau 15 phút thôi sao! Tình người và tình vợ chồng ở nơi đây cũng trở thành gỗ đá ư!

Cái hôn đầu tiên, ngày nào ấy năm 1968, anh đã ôm hôn tôi sau bánh xe Jeep, còn tôi chỉ biết chịu trận, run rẩy. Ngược lại, hôm nay trong hoàn cảnh éo le này, chồng tôi chỉ như khúc cây để cho tôi sờ mặt, hôn anh trong một phút bất thần vì nhớ nhung. Không biết khi vào trại anh có bị hình phạt gì không?

Sau này, những khi ôn lại chuyện thăm chồng, vợ chồng tôi đã đùa với nhau là hai cái hôn sấm sét. Anh có biết trải bao đoạn đường từ Nam ra Bắc mới được nhìn người yêu, mới được ôm vội vàng nửa phần đời trong tích tắc mà mấy tên cán bộ đang xỉ vả mình đây này.

Nhưng em quyết đi thăm anh, tìm anh, và em đã được gặp anh.

Dù vất vả, mọi gian nan đã xẩy ra trên đường đến thăm anh, dù đã vượt quá sức chịu đựng của em, nhưng em đã mãn nguyện là anh còn sống, và em đã được ôm và được hôn anh dù chỉ trong phút giây. Trên đường trở về, lâu lâu mẹ chồng tôi lại ôm vai tôi, nhìn tôi và mỉm cười.

Bích Lan

Nguồn : Bích Lan: Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập



 

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook.

  1. Facebook là không gian riêng của mỗi người.

Khi bạn truy cập vào Facebook của một người khác, bạn không phải đang ở trong nhà của mình mà là “vào nhà” của người khác.

Vì vậy, việc tôn trọng các quy tắc trong không gian ấy là rất quan trọng.

Nhận định về hành vi và ứng xử trên Facebook.

  1. Các vấn đề cần chú ý khi tương tác trên Facebook.

Trên Facebook, mỗi người đều có quyền bày tỏ ý kiến, chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ cá nhân.

Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm cần phải phù hợp và tôn trọng người khác, vì nó sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ cũng như bầu không khí chung.

Tại sao ta phải làm vậy?

  1. Tôn trọng ý kiến của người khác giúp xây dựng một cộng đồng lành mạnh.

Không gian mạng là nơi mà mỗi cá nhân có thể tự do thể hiện bản thân. Việc tuân thủ các nguyên tắc ứng xử giúp bảo vệ không gian ấy khỏi những tranh cãi vô nghĩa, đồng thời duy trì sự văn minh, tôn trọng trong mọi tương tác.

7 Nguyên tắc sử dụng Facebook.

  1. KHÔNG tranh cãi nếu không cùng quan điểm.

Lý do: Facebook không phải là nơi để tranh cãi, mà là nơi chia sẻ và kết nối.

Nếu không đồng tình với quan điểm của người khác, bạn có thể giữ im lặng hoặc chỉ bình luận khi được yêu cầu.

  1. KHÔNG tự động tư vấn khi chưa được yêu cầu

Lý do: Mỗi người có quyền lựa chọn chia sẻ hoặc không chia sẻ vấn đề cá nhân. Việc tự ý can thiệp, tư vấn mà không được yêu cầu có thể gây khó chịu và xâm phạm quyền riêng tư của người khác.

  1. Khen ngợi để vui, tránh chê bai.

Lý do Mỗi người đều có những cảm xúc và giá trị riêng. Khi bạn khen ngợi ai đó, bạn giúp tạo ra bầu không khí tích cực, trong khi lời chỉ trích có thể làm người khác buồn và khiến bạn trở nên vô duyên.

  1. Đừng phát biểu khi không biết rõ vấn đề.

Lý do: Việc phát biểu mà không hiểu biết có thể làm bạn trở nên thiếu hiểu biết và làm mất đi giá trị của cuộc trò chuyện.

  1. Đọc kỹ Status trước khi comment.

Lý do: Đọc kỹ thông tin trước khi bình luận giúp tránh những hiểu lầm và thể hiện sự tôn trọng đối với người chia sẻ nội dung đó.

  1. KHÔNG gây lộn trong nhà người khác

Lý do: Một cuộc tranh cãi không cần thiết sẽ làm không khí trở nên căng thẳng, không chỉ ảnh hưởng đến người khác mà còn có thể làm bạn mất đi sự tôn trọng từ cộng đồng.

  1. Tôn trọng quan điểm của chủ nhà.

Lý do: Khi ai đó chia sẻ quan điểm, nếu không được yêu cầu, bạn nên tôn trọng và không cần phải phô trương ý kiến của mình. Điều này thể hiện sự chín chắn và tôn trọng người khác.

Tóm tắt: “Biết điều” quan trọng hơn “biết nhiều”**

  1. Tầm quan trọng của sự tinh tế trong giao tiếp.

Không cần phải luôn tỏ ra là người hiểu biết, quan trọng là biết khi nào nên nói và khi nào nên im lặng, để thể hiện sự tôn trọng và xây dựng một cộng đồng Facebook lành mạnh.

Người có học và cư xử văn minh đều phải biết những quy tắc nầy.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

5 người trong vụ cháy quán ăn ở Sài Gòn đã thiệt mạng

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Dù được các bác sĩ bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, song năm trong sáu nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn ở phường Bình Thạnh, Sài Gòn, đã không qua khỏi.

Loan báo với truyền thông hôm 27 Tháng Bảy, đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết cả năm nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn trên đường Ngô Đức Kế, phường Bình Thạnh, vào tối 11 Tháng Bảy vừa qua đã không qua khỏi do “phỏng hô hấp, sốc phỏng, suy hô hấp, hôn mê, tiên lượng xấu.”

Các bệnh nhân trong vụ hỏa hoạn điều trị tại Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. (Hình: Thanh Niên)

Theo báo Lao Động, bệnh nhân mới nhất mới qua đời tối 26 Tháng Bảy là cô PTT, 30 tuổi, bị phỏng khoảng 60% diện tích cơ thể tập trung ở đầu, mặt, ngực, bụng và tứ chi, kèm phỏng hô hấp, sau hơn hai tuần điều trị tích cực.

Trước đó, bốn nạn nhân khác trong vụ tai nạn cùng nằm ở Khoa Bỏng-Tạo Hình của bệnh viện Chợ Rẫy là cô LNT, 44 tuổi, bị phỏng diện tích đến 98% cơ thể ở độ II-III; cô AKL, 48 tuổi, phỏng lửa độ II-III diện tích 60%; ông NTTh, 51 tuổi, bị phỏng tương đương và ông NQH, 56 tuổi, bị phỏng độ III diện tích 80% cơ thể, đều lần lượt qua đời sau nhiều ngày điều trị.

Như vậy, liên quan vụ cháy quán ăn trên, năm nạn nhân đã thiệt mạng, chỉ còn lại mỗi cô HTKT, 46 tuổi, may mắn bị phỏng khoảng 2% diện tích cơ thể, điều trị tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định được xuất viện hôm 14 Tháng Bảy.

Trước đó, khoảng 8 giờ 30 phút tối 11 Tháng Bảy, tại quán ăn gia đình số 56D Ngô Đức Kế bất ngờ cháy và phát nổ. Đám cháy sau đó lan sang vựa ve chai bên cạnh.

Do bên trong khu vực xảy ra hỏa hoạn chứa nhiều vật liệu dễ bắt lửa nên tạo ra cột khói đen bốc cao, lan rộng ra nhiều khu vực lân cận khiến người dân ở khoảng cách khá xa vẫn có thể thấy được.

Sau vụ hỏa hoạn, có sáu người gồm nhân viên và khách đang ngồi ăn gặp nạn được đưa vào bệnh viện Nhân Dân Gia Định cấp cứu trong tình trạng phỏng và ngạt khí nhiều mức độ.

Lực lượng hữu trách phong tỏa hiện trường vụ cháy. (Hình: Q.Hải/Dân Việt)

Sau khi hội chẩn liên viện, năm nạn nhân được chuyển về Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy để điều trị.

Đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, các bệnh nhân đều bị phỏng hô hấp – một trong những tổn thương nặng và nguy hiểm nhất ở nạn nhân hỏa hoạn. Bệnh nhân được điều trị chống sốc do phỏng, hỗ trợ thở máy, nhiều lần rửa phổi để làm sạch muội than bám trong khí quản và phế quản nhằm cải thiện hô hấp. Tuy nhiên, muội than bám vào niêm mạc đường hô hấp rất khó loại bỏ, dễ gây kích ứng, viêm, phù nề, khiến người bệnh suy hô hấp nặng đe dọa tính mạng.

Chủ quán ăn gia đình là bà MTAN, 24 tuổi, quê An Giang, đã xuất trình giấy phép kinh doanh hợp lệ. Căn nhà số 56D Ngô Đức Kế vừa ở, vừa kết hợp kinh doanh.

Hiện nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan hữu trách điều tra. (Tr.N)


 

Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông?

Anfu Tran  is  feeling blessed.

Em hỏi: “Anh nè! Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông? Em thấy nó lẫn lộn sao ấy”

Em mến!

Trong đời sống hằng ngày, nhiều người thường dùng hai từ hạnh phúc và niềm vui như thể chúng đồng nghĩa với nhau. Nhưng thực ra, chúng diễn tả hai chiều kích rất khác nhau của đời sống con người. Hạnh phúc thường được sinh ra từ những hoàn cảnh thuận lợi; còn niềm vui phát xuất từ một tâm hồn đã gặp gỡ chân lý, tình yêu và chính Thiên Chúa.

Hạnh phúc thường gắn liền với những gì xảy ra bên ngoài. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc khi sức khỏe tốt, gia đình bình an, công việc thuận lợi, ước mơ thành hiện thực hay những điều mong đợi được đáp ứng. Tất cả đều là những hồng ân đáng trân quý và cần được đón nhận với lòng biết ơn. Tuy nhiên, vì lệ thuộc nhiều vào hoàn cảnh, hạnh phúc cũng dễ đến rồi dễ đi khi cuộc sống thay đổi.

Niềm vui thì khác. Niềm vui đi sâu vào tận cõi lòng con người. Đó không phải là sự vắng bóng của đau khổ, nhưng là sự hiện diện của ý nghĩa. Niềm vui vẫn có thể tồn tại giữa những giọt nước mắt, vì nó không được xây dựng trên điều ta sở hữu, nhưng trên Đấng ta tín thác. Một người mẹ tận tụy chăm sóc đứa con đau yếu, một linh mục trung thành phục vụ giữa muôn thử thách, hay một người môn đệ kiên vững vác thập giá theo Đức Kitô có thể không luôn cảm thấy hạnh phúc, nhưng vẫn sống trong một niềm vui sâu thẳm mà thế gian không thể lấy đi.

Đức tin Kitô giáo mặc khải rằng niềm vui đích thực là một trong những hoa trái của Chúa Thánh Thần (Gl 5:22). Niềm vui ấy phát sinh từ sự kết hiệp với Đức Kitô, Đấng được ngôn sứ Isaia gọi là “người tôi tớ đau khổ” (Is 53:3), nhưng cũng chính là Đấng luôn sống trong niềm vui trọn vẹn vì hoàn toàn ở trong tình yêu của Chúa Cha. Bởi thế, Người đã nói: “Thầy nói những điều ấy để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11). Đức Giêsu không hứa ban một cuộc đời không có thử thách, nhưng Người hứa ban một niềm vui mà không ai có thể cướp mất (Ga 16:22).

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy rằng khát vọng được hạnh phúc đã được Thiên Chúa đặt vào trong trái tim mỗi con người. Tuy nhiên, khát vọng ấy chỉ được viên mãn nơi chính Thiên Chúa (GLHTCG 1718–1729). Vì thế, hạnh phúc trần thế chỉ là dấu chỉ, chứ không phải đích điểm. Nó hướng lòng con người về niềm vui vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta để được hưởng.

Em thân mến,

Trong một thế giới không ngừng tìm kiếm sự tiện nghi, thành công và khoái lạc, người Kitô hữu được mời gọi hướng đến điều cao cả hơn. Hạnh phúc là người bạn đồng hành đáng quý trên hành trình cuộc sống; nhưng niềm vui mới là người bạn trung tín, luôn ở lại trong cả những ngày nắng đẹp lẫn những đêm tối của thập giá. Hạnh phúc có thể làm bừng sáng một khoảnh khắc; còn niềm vui có thể biến đổi cả một đời người. Hạnh phúc tùy thuộc vào những gì xảy đến với chúng ta; còn niềm vui tùy thuộc vào Đấng đang sống trong chúng ta.

Ước gì chúng ta đừng chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm một hạnh phúc mong manh theo hoàn cảnh, nhưng luôn khao khát niềm vui bền vững được sinh ra từ việc ở lại trong Đức Kitô, sống theo chân lý của Người và yêu thương như Người đã yêu. Bởi khi Đức Kitô trở thành trung tâm của cuộc đời, ngay cả thập giá cũng không còn là dấu chấm hết, nhưng trở thành con đường dẫn đưa chúng ta đến niềm vui mà không ai có thể lấy mất. Bình an em hỉ!

#nguoitheodoi #tamlinh #giftideas #conggiao

Người ráp chữ.


 

TUỔI GIÀ LÀ MỘT ƠN GỌI, KHÔNG PHẢI LÀ GÁNH NẶNG

Anmai CSsR

Có một sự thật mà con người thường chỉ hiểu khi đã đi qua quá nửa đời mình: tuổi già không phải là phần thừa còn sót lại sau những năm tháng huy hoàng, cũng không phải là căn phòng chật hẹp nơi một người ngồi chờ ngày khép lại cuộc đời. Tuổi già vẫn là một mùa sống, một chặng đường có ý nghĩa, một ơn gọi mà Thiên Chúa trao ban. Nếu tuổi trẻ được mời gọi bước đi, xây dựng, khám phá và cống hiến, thì tuổi già được mời gọi ở lại, gìn giữ, trao truyền và làm chứng. Mỗi tuổi có một vẻ đẹp riêng, mỗi mùa có một sứ mạng riêng. Không thể bắt mùa thu phải rực rỡ như mùa hạ, nhưng cũng không ai có thể phủ nhận vẻ đẹp sâu lắng của những chiếc lá đã đi qua đủ nắng, đủ mưa và đang bình thản trở về với đất.

Thế giới hôm nay tôn thờ tuổi trẻ, sức khỏe, tốc độ và hiệu quả. Người ta quý một người khi người ấy còn làm được nhiều việc, kiếm được nhiều tiền, tạo ra nhiều thành tích, còn có thể đứng ở vị trí quan trọng hay đem lại lợi ích cho người khác. Bởi thế, khi tuổi già đến, khi đôi tay bắt đầu run, bước chân không còn nhanh, trí nhớ đôi lúc lẫn quên, nhiều người bỗng cảm thấy mình trở thành kẻ đứng bên lề. Có người đau không phải chỉ vì bệnh tật, nhưng vì cảm giác mình không còn hữu dụng. Có người buồn không phải vì tóc đã bạc, mà vì con cháu không còn kiên nhẫn ngồi nghe. Có người sống giữa một ngôi nhà đông người nhưng vẫn cô độc, bởi tiếng nói của họ bị xem là chuyện cũ, kinh nghiệm của họ bị coi là lỗi thời, còn sự hiện diện của họ đôi khi bị nhìn như một gánh nặng phải chăm sóc.

Đau hơn nữa là chính người già cũng dễ tin vào cái nhìn ấy. Họ xin lỗi vì phải nhờ con cháu. Họ ngại lên tiếng vì sợ làm phiền. Họ thu mình trong một góc, nghĩ rằng mình ăn thêm một bữa là làm hao tốn gia đình, đi khám thêm một lần là làm con cái vất vả, sống thêm một ngày là khiến người khác thêm nặng gánh. Có những người già chưa chết về thân xác nhưng đã tự xóa mình khỏi đời sống của những người thân. Họ không còn dám ước ao, không dám mong được yêu thương, không dám tin mình vẫn có thể đem lại điều gì tốt đẹp. Đây là một nỗi đau âm thầm mà không loại thuốc nào chữa khỏi, bởi đó là vết thương của một người không còn cảm thấy mình được cần đến.

Nhưng giá trị của một con người chưa bao giờ được đo bằng khả năng sản xuất, sức khỏe hay mức độ hữu dụng. Một em bé chưa làm được gì vẫn được yêu. Một người bệnh không thể lao động vẫn có phẩm giá. Một người già không còn đủ sức phục vụ vẫn là một con người trọn vẹn, vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa, vẫn là một câu chuyện thánh thiêng không ai có quyền coi thường. Tình yêu đích thực không chỉ yêu người khác khi họ khỏe mạnh, vui vẻ và có ích. Tình yêu thật được nhận ra rõ nhất khi ta vẫn ở lại với một người trong lúc họ yếu đuối, chậm chạp, lẫn quên và cần được giúp đỡ. Nếu chỉ yêu nhau khi còn trẻ đẹp và thành đạt, đó chưa chắc là tình yêu; có khi chỉ là một cuộc trao đổi lợi ích được phủ lên bằng những lời ngọt ngào.

Tuổi già là ơn gọi trước hết vì đó là lời mời gọi học cách đón nhận. Suốt phần lớn cuộc đời, con người quen cho đi, làm chủ, quyết định và chăm sóc người khác. Người cha từng là trụ cột gia đình, người mẹ từng lo từng bữa ăn, người linh mục từng phục vụ cộng đoàn, người tu sĩ từng gánh nhiều trách nhiệm. Nhưng rồi có một ngày, họ phải để người khác cầm tay mình, dìu mình đi, chuẩn bị thuốc, đưa đi khám và nhắc những điều tưởng như rất nhỏ. Điều ấy không dễ dàng. Nhận sự giúp đỡ đôi khi còn khó hơn cho đi, bởi nó đụng đến lòng tự trọng và cảm giác tự chủ. Tuy nhiên, biết đón nhận với lòng khiêm nhường cũng là một hình thức trao ban. Khi một người già cho phép con cháu chăm sóc mình, người ấy đang dạy chúng bài học về lòng hiếu thảo, sự kiên nhẫn và tình yêu không tính toán.

Tuổi già cũng là ơn gọi thanh luyện con người khỏi ảo tưởng rằng mình có thể làm chủ mọi sự. Khi còn trẻ, ta dễ tin sức khỏe sẽ ở mãi, kế hoạch nào cũng có thể thực hiện, còn tương lai vẫn nằm trong tay mình. Nhưng tuổi già nhắc con người rằng thân xác có giới hạn, thời gian không chờ đợi và đời sống này không phải là quê hương vĩnh viễn. Những nếp nhăn không phải là dấu vết đáng xấu hổ, nhưng là những đường chữ thời gian viết lên khuôn mặt. Mái tóc bạc không chỉ nói về sự tàn phai, mà còn kể lại biết bao ngày tháng đã được sống, biết bao giông bão đã được vượt qua, biết bao người đã được yêu thương. Có những nếp nhăn được tạo nên bởi nước mắt, nhưng cũng có những nếp nhăn được sinh ra từ những nụ cười. Mỗi dấu vết ấy là một phần lịch sử mà không một lớp son phấn nào có thể thay thế.

Tuổi già là ơn gọi trao truyền ký ức. Một gia đình không có người già giống như một ngôi nhà bị cắt mất gốc rễ. Người trẻ biết mình đang đi đâu khi họ biết mình từ đâu đến. Những câu chuyện ông bà kể, những phong tục gia đình, những bài học về thời khó khăn, những kinh nghiệm của thất bại và lòng trung tín chính là gia sản quý giá hơn nhiều của cải. Tiếc rằng nhiều gia đình hôm nay có đầy đủ tiện nghi nhưng lại nghèo ký ức. Con cháu sống cùng ông bà nhưng không biết ông bà đã trải qua những gì. Mỗi người cầm một chiếc điện thoại, ở trong cùng một căn phòng nhưng thuộc về những thế giới khác nhau. Đến khi ông bà mất đi, người ta mới tiếc rằng đã không hỏi thêm một câu, không ngồi lâu hơn một chút, không ghi lại những chuyện tưởng bình thường nhưng rồi trở thành điều không thể tìm lại.

Người già không chỉ trao lại những câu chuyện đẹp, nhưng còn có thể trao lại những bài học được trả giá bằng nước mắt. Họ đã từng chọn sai, từng thất bại, từng làm người khác tổn thương và từng được thứ tha. Nếu có đủ khiêm tốn để nhìn lại, tuổi già trở thành mùa của sự khôn ngoan. Khôn ngoan không phải là chưa từng sai, nhưng là biết rút ra ánh sáng từ những lầm lạc. Một người già dám nói với con cháu rằng: “Ngày trước ông đã sai ở chỗ này”, “Bà đã từng quá nóng giận”, “Cha đã có lúc bỏ quên gia đình vì công việc”, thì những lời ấy có sức giáo dục hơn nhiều bài giảng. Người trẻ không cần những bậc cao niên tỏ ra hoàn hảo; họ cần những người dám thành thật về cuộc đời mình để giúp thế hệ sau bớt đi vào những con đường đau đớn đã từng trải qua.

Tuổi già còn là ơn gọi cầu nguyện. Khi đôi chân không còn đi được xa, đôi tay không còn làm được nhiều việc, người già vẫn có thể trở thành cột trụ âm thầm bằng lời cầu nguyện. Có những người mẹ già mỗi ngày chỉ ngồi bên cửa sổ lần chuỗi Mân Côi, nhưng chính lời kinh của họ đang nâng đỡ con cháu giữa những cuộc chiến mà họ không hề biết. Có những người cha già không còn đủ sức làm việc, nhưng mỗi sáng vẫn gọi tên từng đứa con trước mặt Chúa. Có những linh mục cao niên không còn đứng giảng trên tòa, nhưng sự trung thành trong những giờ cầu nguyện âm thầm vẫn là một bài giảng không lời cho cộng đoàn. Thế giới có thể không nhìn thấy lời cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa thấy. Người đời có thể cho rằng người già không còn đóng góp, nhưng có thể chính những lời khẩn cầu của họ đang giữ cho một gia đình khỏi tan vỡ, một người con khỏi tuyệt vọng và một cộng đoàn khỏi lạc đường.

Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa không bao giờ loại bỏ người già khỏi chương trình của Người. Ông Áp-ra-ham được gọi lên đường khi tuổi đời đã cao. Ông Mô-sê được trao sứ mạng giải thoát dân khi đã đi qua phần lớn cuộc đời. Ông Si-mê-on và bà An-na, giữa tuổi già và đợi chờ, đã nhận ra Hài Nhi Giê-su trong Đền Thờ, trong khi nhiều người trẻ khỏe hơn lại không nhận ra. Thiên Chúa không nhìn tuổi tác theo cách con người thường nhìn. Người không hỏi một người còn chạy nhanh đến đâu, nhưng trái tim người ấy còn sẵn sàng thuộc về Người hay không. Khi con người cho rằng một cuộc đời đã hết thời, Thiên Chúa vẫn có thể mở ra một sứ mạng mới: sứ mạng cầu nguyện, hòa giải, nâng đỡ, làm chứng và chuẩn bị tâm hồn cho cuộc gặp gỡ sau cùng.

Một ơn gọi quan trọng của tuổi già là học cách buông. Buông không có nghĩa là bỏ mặc hay đầu hàng, nhưng là trao lại. Trao lại trách nhiệm cho thế hệ sau, trao lại quyền quyết định, trao lại những công việc mình từng gắn bó. Không ít người già đau khổ vì vẫn muốn kiểm soát mọi sự. Họ không chấp nhận con cháu làm khác mình, không tin người trẻ có thể đảm nhận, không chịu rời khỏi vị trí từng đem lại danh dự. Khi ấy, tuổi già trở thành cay đắng, bởi họ nhìn mọi thay đổi như một sự phản bội. Nhưng người già đẹp nhất là người biết lùi lại mà không oán trách, biết góp ý mà không áp đặt, biết trao kinh nghiệm mà không bắt người khác phải sao chép cuộc đời mình. Họ giống như một cây cổ thụ không giành lấy ánh nắng của những mầm non, nhưng âm thầm che bóng và giữ đất cho những cây nhỏ lớn lên.

Tuổi già cũng là thời gian của hòa giải. Khi những năm tháng còn lại không còn dài, con người được mời gọi thôi nuôi dưỡng những giận hờn cũ. Có những anh em đã không nhìn mặt nhau hàng chục năm chỉ vì một mảnh đất. Có những cha mẹ mang nỗi giận con cái đến tận cuối đời. Có những người già nhớ rất rõ lỗi của người khác nhưng quên rằng chính mình cũng từng cần được tha thứ. Thật buồn khi một người đi qua gần hết cuộc đời mà hành trang mang theo vẫn là oán giận. Không ai biết ngày giờ mình sẽ rời khỏi thế gian, vì thế tuổi già là lời mời gọi thu xếp lại tâm hồn: gọi một cuộc điện thoại, nói một lời xin lỗi, mở lại cánh cửa đã đóng, trả lại cho nhau sự bình an. Một cái nắm tay bên giường bệnh có thể chữa lành điều mà hàng chục năm tranh luận không làm được.

Đối với con cháu, người già không phải là gánh nặng, nhưng là một cơ hội để học làm người. Chăm sóc cha mẹ già có thể khiến ta mất thời gian, mất sức, phải thay đổi kế hoạch và chịu đựng nhiều bất tiện. Có những lúc người già khó tính, lặp lại một câu chuyện nhiều lần, dễ tủi thân, hay trách móc hoặc quên trước quên sau. Nhưng hãy nhớ rằng ngày ta còn nhỏ, cha mẹ cũng từng thức trắng vì ta, nhẫn nại trả lời những câu hỏi lặp đi lặp lại, bón từng thìa cơm và dọn dẹp những điều ta làm bẩn. Hôm nay, khi cha mẹ yếu đi, vòng đời chỉ đang quay trở lại. Điều họ cần không chỉ là tiền bạc hay thuốc men, mà còn là cảm giác mình vẫn thuộc về gia đình, vẫn được lắng nghe, vẫn được tôn trọng.

Đừng để người già phải sống bằng lòng thương hại. Họ cần tình thương, nhưng không muốn bị coi như một món đồ dễ vỡ. Hãy để họ được tham gia vào những quyết định phù hợp, được làm những việc họ còn có thể làm, được nói lên suy nghĩ và được giữ phẩm giá. Đừng nói trước mặt họ như thể họ không hiện diện. Đừng cười khi họ lẫn quên. Đừng cáu gắt khi họ chậm chạp. Một ngày nào đó, chính ta cũng có thể bước chậm như thế, hỏi lại một câu như thế, cần một bàn tay dìu đỡ như thế. Cách ta đối xử với người già hôm nay cũng chính là bài học mà con cái đang học để đối xử với ta ngày mai.

Trong cộng đoàn và xã hội, người cao tuổi không nên bị đẩy ra ngoài lề. Họ không chỉ là đối tượng được chăm sóc, nhưng còn là chủ thể có thể đóng góp. Có người không còn đủ sức làm việc nặng nhưng có thể lắng nghe. Có người không còn đi xa nhưng có thể chỉ dẫn. Có người không còn đứng lớp nhưng có thể đồng hành với người trẻ. Có người chẳng nói được nhiều nhưng sự hiện diện hiền hậu của họ đã đem lại bình an. Đừng đánh giá sự đóng góp chỉ bằng những điều có thể đếm được. Một lời khuyên đúng lúc, một cái nhìn bao dung, một câu chuyện về lòng trung tín đôi khi có sức thay đổi cả một cuộc đời.

Dĩ nhiên, tuổi già không chỉ có vẻ đẹp lãng mạn. Nó có bệnh tật, mất mát, cô đơn và sợ hãi. Có những đêm người già không ngủ được vì đau. Có những sáng thức dậy và nhận ra thêm một người bạn đã ra đi. Có người sống trong nỗi sợ bị bỏ rơi, sợ mất trí nhớ, sợ trở thành gánh nặng, sợ cái chết. Đức tin không phủ nhận những nỗi sợ ấy. Tin vào Chúa không có nghĩa là giả vờ không đau, không buồn. Đức tin giúp người ta mang nỗi đau trong hy vọng, biết rằng thân xác có thể hao mòn nhưng con người bên trong vẫn được đổi mới, biết rằng cái chết không phải là sự xóa bỏ nhưng là cuộc vượt qua.

Tuổi già là thời gian chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Thiên Chúa. Tuy nhiên, chuẩn bị không có nghĩa là chỉ ngồi chờ chết trong buồn bã. Đó là sống từng ngày còn lại với sự tỉnh thức và biết ơn. Mỗi sáng thức dậy vẫn là một món quà. Mỗi bữa cơm ăn được, mỗi người thân còn bên cạnh, mỗi lời kinh còn đọc được đều đáng để tạ ơn. Người già có thể không còn nhiều năm phía trước, nhưng mỗi ngày của họ vẫn có thể đầy ý nghĩa. Không phải một cuộc đời có giá trị vì dài hay ngắn, nhưng vì từng ngày được sống trong tình yêu.

Có những người già càng lớn tuổi càng trở nên dịu dàng. Sau bao tranh đấu, họ hiểu rằng nhiều điều từng làm mình giận dữ thật ra không đáng. Họ bớt phán xét, bớt tranh hơn thua, bớt muốn chứng minh. Họ nhìn người trẻ vấp ngã bằng ánh mắt cảm thông, bởi chính họ cũng từng đi qua những vụng dại. Họ không còn nói nhiều về thành tích, nhưng kể nhiều hơn về ân sủng. Họ hiểu rằng đời người không phải là câu chuyện ta đã làm được bao nhiêu, nhưng là câu chuyện Thiên Chúa đã thương ta thế nào. Một người già như thế là một cuốn Tin Mừng sống động: không cần nói lớn, nhưng sự bình an trên khuôn mặt họ làm người khác muốn đến gần.

Cũng có những người càng già càng cay đắng, trách móc và khép kín. Điều đó nhắc rằng tuổi tác tự nó không làm con người nên khôn ngoan. Người ta chỉ trưởng thành khi biết để những biến cố thanh luyện mình. Nỗi đau có thể làm ta dịu dàng hơn, nhưng cũng có thể làm ta trở nên cứng cỏi. Cô đơn có thể đưa ta đến với Chúa, nhưng cũng có thể khiến ta thu mình trong oán hờn. Bởi vậy, ơn gọi của tuổi già vẫn đòi hỏi sự đáp trả mỗi ngày: chọn biết ơn thay vì than trách, chọn tha thứ thay vì giữ hận, chọn trao truyền thay vì kiểm soát, chọn cầu nguyện thay vì tuyệt vọng.

Người già không cần phải cố sống như người trẻ để chứng minh mình vẫn có giá trị. Họ không cần chạy theo những gì đã qua. Vẻ đẹp của tuổi già nằm ở sự chín chắn, điềm tĩnh và tự do. Một trái cây chỉ ngọt khi đã chín. Một thứ rượu quý cần thời gian để trở nên đậm đà. Đời người cũng vậy. Có những phẩm chất chỉ xuất hiện sau nhiều năm bị mài giũa: sự kiên nhẫn, lòng bao dung, khả năng phân biệt điều gì thật sự quan trọng. Người già không cần phải xấu hổ vì sự chậm chạp. Có khi chính nhịp sống chậm ấy giúp những người đang chạy quá nhanh biết dừng lại và tự hỏi mình đang đi về đâu.

Mỗi gia đình có người cao tuổi là đang được trao một kho tàng. Kho tàng ấy không sáng lấp lánh như vàng bạc, nhưng chứa đựng ký ức, lời cầu nguyện, kinh nghiệm và căn tính. Xin đừng chờ đến khi chiếc ghế trống mới nhận ra sự hiện diện của ông bà quý giá đến mức nào. Đừng chờ đến khi giọng nói đã im mới nhớ mình chưa từng ngồi nghe. Đừng chờ đến ngày đưa cha mẹ đến nơi an nghỉ mới nói những lời biết ơn mà khi còn sống họ đã khao khát được nghe. Yêu thương người già không cần những điều quá lớn. Đôi khi chỉ là một bữa cơm ngồi đủ mặt, một cuộc gọi không vội vàng, một lần kiên nhẫn nghe lại câu chuyện cũ, một bàn tay nắm lấy bàn tay đã nhăn nheo.

Và với những ai đang bước vào tuổi già, xin đừng nghĩ đời mình đã hết. Khi Thiên Chúa còn cho ta một ngày, Người vẫn còn trao ta một sứ mạng. Có thể sứ mạng ấy không ồn ào, không được ghi nhận, nhưng vẫn quý giá. Một lời chúc lành cho con cháu, một lời kinh cho người đau khổ, một sự bình an giữa gia đình, một kinh nghiệm được trao lại, một lời tha thứ được nói ra — tất cả đều có thể trở thành hoa trái cuối mùa, và nhiều khi chính hoa trái cuối mùa lại ngọt ngào nhất.

Tuổi già không phải là bản án của thời gian, nhưng là lời mời gọi đi vào chiều sâu. Không phải là lúc bị đời bỏ lại, nhưng là lúc học cách trao đời mình trọn vẹn hơn vào tay Thiên Chúa. Không phải là dấu chấm hết của giá trị, nhưng là một cách hiện diện khác: ít làm hơn nhưng yêu sâu hơn, ít nói hơn nhưng cầu nguyện nhiều hơn, bước chậm hơn nhưng nhìn rõ hơn, yếu đuối hơn nhưng tự do hơn. Khi được sống trong đức tin và tình yêu, tuổi già không còn là gánh nặng phải chịu đựng, mà trở thành một ơn gọi được hoàn tất trong bình an.

Lm. Anmai, CSsR


 

NGƯỜI GIỮ 16 TẤN VÀNG CỦA VNCH QUA ĐỜI TẠI THÁI LAN

 My Lan Pham  

Ông Lê Quang Uyển, người có trách nhiệm giữ 16 tấn vàng của Ngân hàng Quốc gia (NHQG), tài sản của VNCH, đã qua đời tại Chiang Mai, Thái Lan thọ 81 tuổi. Ông sinh năm 1937 và mất ngày 26-1-2018. Nhân dịp 49 ngày ông mất, tôi xin có bài sau đây.

Trong giới kinh tế tài chính, nhất là vào những năm chót của chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), ai cũng biết đến Thống đốc trẻ tuổi của NHQG là ông Lê Quang Uyển.

Sau khi tốt nghiệp HEC (Hautes Etudes Commerciales) tại Paris năm 1960, ông Lê Quang Uyển về Việt Nam phục vụ. Ông đã làm một thời gian ngắn  cho Ngân hàng Pháp Á (BFA – Banque Francaise de l’Asie). Sau đó ông cũng như nhiều chuyên viên trẻ khác đã bị động viên vào quân đội và lên đến cấp bậc đại úy.

Từ quân đội ông được chuyển sang ngạch “chuyên viên Phủ Tổng thống,” một ngạch công vụ của VNCH dành cho các chuyên viên trẻ, có học thức và nhiều tương lai. Họ được đào tạo để trở thành các nhà lãnh đạo tương lai trong ngành kinh tế, tài chính, giáo dục; các công ty của chính phủ – nhà đèn, công ty đường, Air Vietnam… Và sau này có thể có những trách nhiệm cao cấp trong chính phủ. Ngạch này được thành lập từ thời TT Ngô Đình Diệm để kéo các chuyên viên giỏi phục vụ cho chính phủ VNCH.

Trong cương vị này, ông đã tham gia nhiều chuyến đi của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó có chuyên viếng thăm Manilla. Sau này ông đã được đề nghị giữ ghế thống đốc NHQG.

Trong những ngày chót của VNCH, Hoa Kỳ muốn VNCH đưa 16 tấn vàng gởi dự trữ tại Ngân hàng Trung ương tại New York (một việc làm bình thường vì đa số các nước đều có trương mục với ngân hàng FED New York). Sau khi bàn bạc, Thống đốc Lê Quang Uyển quyết định gởi các thoi vàng qua Thụy Sĩ, tại Ngân hàng Banque International Ressettlement – BIR ở Basle.

Theo kinh nghiệm thế giới, nhiều chính phủ Âu Châu trước đây, khi bị Cộng sản xâm chiếm họ đã gởi vàng dự trữ tại đây để tránh chiến tranh và sau này giữ được tài sản quốc gia. Một kế hoạch đã được lập lên để chở 16 tấn vàng sang Thụy Sĩ chứ không phải sang Hoa Kỳ. NHQG đã cho mướn một chuyến máy bay để chở số vàng này qua Thụy Sĩ.

Trong lúc hỗn loạn của những ngày miền Nam sắp mất, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay được mướn chở vàng không thể đáp xuống sân bay, vì vậy kế hoạch gởi vàng qua Thụy Sĩ không thực hiện được.

Vào những ngày chót, một số nhân viên ngân hàng cấp cao đều được cấp Walkie Talkie để dễ liên lạc với nhau nhằm bảo vệ tài sản cho Việt Nam. Thống đốc Lê Quang Uyển tử thủ trong NHQG và chỉ mở cửa NHQG khi Cộng sản mang nhiều xe tăng đến định bắn vào NHQG.

CS lúc nào cũng phao tin đồn là cựu TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng đi nước ngoài trong khi nhiều người cũng kể công về việc giữ số vàng này. Vậy sự thật ra sao? Bài báo sau đây của nhân chứng nói về kiểm tra vàng tại NHQG do báo Tuổi Trẻ đăng:

Bài viết của tác giả Huỳnh Bửu Sơn trên tờ Tuổi Trẻ trích đoạn như sau:

“…Những ngày đầu Tháng Năm, 1975, tôi vào trình diện tại NHQG ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài Gòn cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân quản NHQG là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.

Lần kiểm kê cuối cùng… Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm thấy không có gì đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính quyền mới. Tôi không lo âu gì cả vì biết chắc rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của NHQG vẫn được chúng tôi quản lý một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.

Đại diện Ban Quân quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi trò chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt – chỉ huy phó đơn vị tiếp quản NHQG.

Số vàng đúc lưu giữ tại kho của NHQG vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi: vàng thoi mua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED); vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi – Công ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại VN, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào.

Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho. Kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đã hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản lý nghiêm túc của những người đã từng làm việc tại NHQG…”

Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi: “Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”

Qua việc bảo tồn tài sản quốc gia, việc này cho thấy là các công chức của NHQG và người đứng đầu là Thống đốc Lê Quang Uyển đã làm việc một cách nghiêm túc – với tinh thần trách nhiệm của một công chức. Đó là niềm hãnh diện cho VNCH, không bỏ chạy (tình thần trách nhiệm) và rất trung thực. Thống đốc Lê Quang Uyển là một tấm gương soi sáng cho thế hệ trẻ – cho tinh thần trách nhiệm của công chức miền Nam.

Thống đốc Lê Quang Uyển và tù cải tạo

Ông Uyển, cũng như nhiều người khác, đã phải đi cải tạo trên 3 năm trong Nam (1975-1979). Trái với ông phó thống đốc NHQG là ông Dõng, ông Uyển không trình diện liền khi CS kêu gọi thành phần nội các ra trình diện học tập (họ không biết là thống đốc NHQG có hàm bộ trưởng). Ông Phó thống đốc Dõng đã ra trình diện và bị chết trong trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa. (Tôi còn gặp bà Dõng tại Sài Gòn sau khi bà bị trục xuất ra khỏi nhà tại NHQG, khi tôi đi cải tạo về vào năm 1979).

Ông Uyển là một sĩ quan VNCH cấp bậc đại úy và đã ra trình diện khi CS gọi các sĩ quan cấp đại úy trình diện. Ông bị đi tù cải tạo 3 năm.

Ông đã đi Pháp cùng vợ vì bà vợ, chị Geneviève LyLap (một huynh trưởng nữ hướng đạo hệ Scout et Guide de France, bà là công dân Pháp và là nhân viên Tòa Đại sứ Pháp tại Sài Gòn).

Năm 1981, ông Uyển tham gia vào Ngân hàng Banque Indosuez. Ông được gởi làm giám đốc chi nhánh tại Saudi Arabia và ở đây đến 1990. Ông đứng đầu chi nhánh “Al BankAl Saudi Al Fransi” (Saudi French Bank), ngân hàng duy nhất của Pháp tại Ả Rập Saoudi. Sau 1990, ông Lê Quang Uyển được phái đi làm cho nhiều chi nhánh của Ngân hàng Indosuez tại nhiều nước khác nhau.

Ông đã về hưu tại Chiang Mai, Thái Lan. Ông là hình ảnh một công chức VNCH có tư cách và có tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong dịp 49 ngày ông qua đời (ba má và gia đình ông Lê Quang Uyển theo đạo Cao Đài), tôi viết vài hàng này để đề cao tinh thần trách nhiệm của cựu Thống đốc Lê Quang Uyển.

Với tư cách một chuyên viên trẻ đã từng có thời gian làm việc với ông, tôi xin thành kính chia sẻ nỗi buồn với chị Uyển trong sự mất mát này và cầu mong ông sớm được về miền Cực Lạc.

TS. Đinh Xuân Quân

(Cali,18-3-20 18)

Trên đây là bài viết của TS Đinh Xuân Quân

TS Đinh Xuân Quân là cựu nhân viên Quỹ Phát triển trực thuộc NHQG. Ông là cựu giáo sư Đại học Luật khoa, Ban Kinh tế, Đại học Sài Gòn (khóa 1974-1975). Hiện nay ông là chuyên gia, cố vấn kinh tế cho Liên Hiệp Quốc (UNDP+World Bank) và USAID tại nhiều nước như Afghanistan, Iraq, Indonesia…

Theo fb Phan Lưu An

Ảnh: ông Lê Quang Uyển khi còn trẻ. 


 

Ông gốc Việt ở Washington thú nhận đốt nhà trước khi đối đầu với SWAT

Ba’o Nguoi-Viet

July 26, 2026

PULLMAN, Washington (NV) – Ông gốc Việt ở tiểu bang Washington thú nhận đã đốt nhà không lâu trước khi đối đầu với cảnh sát đặc nhiệm SWAT, theo nhật báo Moscow-Pullman Daily News hôm Thứ Bảy, 25 Tháng Bảy.

Sáng 24 Tháng Bảy, tại Tòa Thượng Thẩm Whitman County, ông Thomas Nguyễn, 36 tuổi, cư dân Pullman, nhận tội đại hình cố ý phóng hỏa. Ông sẽ bị kết án vào ngày 21 Tháng Tám tới đây.

Xe cảnh sát Pullman, Washington. (Hình: Pullman Police Department)

Vào sáng sớm ngày 19 Tháng Năm, ông Thomas gọi 911, cho hay ông đang cầm vũ khí và muốn tự tử, theo hồ sơ tòa án. Trong lúc cố gắng nói chuyện với ông Thomas tại căn nhà trên đường Northwest Davis, cảnh sát Pullman thấy lửa bùng lên trong nhà.

Nhân viên tình trạng khẩn cấp di tản người trong nhà ra ngoài an toàn. Không ai bị thương, và sau đó, lính cứu hỏa dập tắt được đám cháy, theo hồ sơ tòa án.

Cảnh sát gọi đặc nhiệm SWAT của Whitman County tới sau khi ông Thomas từ chối đưa tay lên theo mệnh lệnh cảnh sát, theo hồ sơ tòa án.

Sau hai tiếng đối đầu với cảnh sát, cuối cùng, ông Thomas đầu hàng và bị bắt. Trong lúc vụ đối đầu diễn ra, ông Thomas cầm búa, không cầm súng, theo hồ sơ tòa án.

Đám cháy bùng lên bên trong giỏ giặt đồ dưới tầng hầm căn nhà, ông Darren Jones, giới chức Sở Cứu Hỏa Pullman, xác nhận.

Trong lúc bị bắt, ông Thomas thú nhận ông gây ra đám cháy đó, theo hồ sơ tòa án.

Tính tới Thứ Bảy, ông Thomas vẫn bị giam tại nhà tù Whitman County, và tiền thế chân tại ngoại được ấn định $250,000. (Th.Long) [kn]


 

CHỖ CHO CHIM  – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được”.

“Hoa trái của tình yêu là phục vụ; và hoa trái của phục vụ là bình an!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt cải trong Tin Mừng hôm nay không lớn lên để phô mình, nhưng để phục vụ. Nó trở thành cây để chim trời đến làm tổ. Chúa Giêsu mời chúng ta sống như hạt cải: đừng chỉ chọn chỗ cho mình, nhưng biết chọn ‘chỗ cho chim’.

Bản Hy Lạp viết kataskēnoō – không chỉ là “làm tổ”, mà còn là “cư ngụ, dựng lều”. Chúa Giêsu đang gợi lại lời ngôn sứ Ezêkiel: “Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành”. Điều ngôn sứ loan báo nay ứng nghiệm nơi chính con người Chúa Giêsu, rồi tiếp tục nơi Hội Thánh và nơi mỗi Kitô hữu. Thiên Chúa không chỉ muốn chúng ta lớn lên, nhưng trở thành một bóng mát đủ rộng để người khác tìm được chỗ nương mình. “Hiếu khách trước hết là tạo nên một không gian tự do, nơi người xa lạ có thể bước vào và trở thành bạn hữu!” – Henri Nouwen.

Chúa Giêsu không kết thúc dụ ngôn ở hạt cải hay cái cây; điểm cuối của dụ ngôn là những cánh chim. Cây lớn chưa phải là cùng đích; chim tìm được chỗ cư ngụ mới là điều Chúa Giêsu nhắm tới. Nước Trời không được đo bằng sự lớn mạnh của chính mình, nhưng bằng khả năng đón nhận và che chở. Hạt cải hoàn thành sứ mạng không phải khi trở thành cây lớn, nhưng khi dưới bóng nó đã có những cánh chim. Chim không làm cho cây lớn hơn, nhưng làm cho cây hoàn tất ý nghĩa của mình. Cây đời chỉ thực sự xanh tươi khi biết hiến bóng râm cho những cánh chim mỏi.

Muốn trở thành bóng che cho người khác, trước hết hạt cải phải bén rễ và lớn lên. Con người cũng vậy. Thiên Chúa kéo dân Ngài sát vào mình như chiếc thắt lưng ôm lấy ngang eo, nhưng họ lại tách mình khỏi Ngài – bài đọc một. Không còn gắn với Thiên Chúa, họ lại bám lấy các ngẫu tượng và cũng không còn có thể che chở ai. Đó là bi kịch của mọi thời: “Thiên Chúa sinh ra ngươi, ngươi lại coi thường!” – Thánh Vịnh đáp ca. Với chúng ta, điều Chúa Giêsu chờ đợi không phải là một cuộc đời cao hơn người khác, nhưng là một cuộc đời rộng hơn cho người khác. Mỗi ngày, chúng ta đều phải chọn: chọn chỗ cho mình hay ‘chỗ cho chim’. Chính lựa chọn ấy sẽ nói chúng ta lớn đến đâu.

Anh Chị em,

 Đức Kitô không chỉ rao giảng Nước Trời; chính Ngài là Nước Trời trở nên hữu hình, là hiện thân của ‘chỗ cho chim’. Nơi Ngài, người tội lỗi gặp lòng thương xót, người mệt mỏi được nghỉ ngơi, người lạc lối tìm thấy đường về cùng Cha. Trên thập giá, Ngài mở rộng vòng tay để trở thành chỗ nương náu cho cả nhân loại. Con Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở thành một cành cây nhỏ, để dưới bóng đời mình có thêm một người tìm được chỗ nương thân. “Đón tiếp là dành chỗ trong trái tim mình để người khác được là chính họ và lớn lên!” – Jean Vanier. Lớn lên là để vươn cao, nhưng trưởng thành là để làm một bóng mát chở che.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con lớn lên trong tình yêu; mở rộng lòng cho tha nhân; trở thành chỗ nương mình bình an cho những ai Chúa gửi đến trong đời!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

Kim Phan

 NHỮNG BÀI POST HAYKim Phan  

Nguyễn Nam Hải

KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

BỞI HỌ HIỂU MỘT ĐIỀU: KHOẢNG TRỐNG CŨNG LÀ HẠ TẦNG

Fb Phan Phụng Long

“Nhớ ai đó đã nói; Dốt nát và phá hoại luôn song hành và là tội đồ của Dân Tộc. Lịch sử mai sau sẽ ghi lại; khi thể chế không còn tồn tại.”.

Khi nhìn một bãi sông rộng hàng trăm mét, rất nhiều người sẽ nghĩ:

“Đất bỏ không.”

“Lãng phí.”

“Sao không xây công viên?”

“Sao không làm đô thị?”

Đó là cách nhìn của bất động sản.

Nhưng kỹ sư thủy lợi lại nhìn thấy một thứ hoàn toàn khác.

Họ nhìn thấy… một công trình đang hoạt động.

Đây là sai lầm lớn nhất của con người

Chúng ta chỉ coi những gì nhìn thấy là hạ tầng.

Cây cầu.

Con đường.

Đê.

Cống.

Hồ chứa.

Nhưng lại quên rằng…

Có những hạ tầng được tạo nên bằng… khoảng trống.

Một khoảng trống có thể đáng giá hơn một cây cầu.

Tại sao?

Vì cây cầu chỉ phục vụ giao thông.

Nhưng hành lang thoát lũ…

…phục vụ sự sống của cả một thành phố.

Hà Lan hiểu điều này.

Người Hà Lan từng xây đê ngày càng cao.

Sau đó họ nhận ra…

Đó không phải cuộc chiến có thể thắng mãi.

Họ đổi tư duy.

Không còn:

║ Chặn nước.

Mà là:

Trả lại không gian cho nước.

Đó là triết lý nổi tiếng:

Room for the River.

Không phải vì họ thiếu tiền xây đê.

Mà vì họ hiểu:

Không gian cũng là hạ tầng.

Nhật Bản cũng vậy.

Họ đào các hồ điều hòa khổng lồ.

Những công viên có thể ngập.

Những bãi sông có thể bị nước chiếm.

Ngày nắng…

Đó là công viên.

Ngày lũ…

Đó là hồ chứa.

Một công trình.

Hai chức năng.

Đức cũng vậy.

Rất nhiều bãi bồi được giữ nguyên.

Không phải vì họ chưa phát triển.

Mà vì họ biết:

Một mét vuông đất hôm nay có thể bán.

Nhưng một mét vuông không gian thoát lũ có thể cứu cả thành phố sau này.

Hàn Quốc cũng vậy.

Các dòng sông lớn luôn được quy hoạch với hành lang an toàn.

Không phải vì họ thích để đất trống.

Mà vì họ hiểu…

Nếu dòng sông mất không gian…

Thì dòng nước sẽ tự tìm không gian khác.

Và nơi đó thường là…

Nhà của con người.

Quy luật của mọi nền văn minh ven sông

Có một nghịch lý.

Những quốc gia càng giàu…

…lại càng để nhiều đất “không xây”.

Thoạt nhìn…

Có vẻ lãng phí.

Nhưng thực ra…

Đó là khoản đầu tư rẻ nhất.

Bởi chi phí giữ lại khoảng trống…

Luôn nhỏ hơn rất nhiều…

So với chi phí sửa chữa sau một trận đại hồng thủy.

Điều đáng sợ nhất

Không phải là xây trên bãi sông.

Mà là…

quên mất vì sao bãi sông tồn tại.

Thiên nhiên không tạo ra bãi sông để lãng phí.

Thiên nhiên tạo ra nó…

Để dòng sông còn có chỗ thở khi mùa lũ đến.

Kết

Có một nghịch lý của mọi nền văn minh. Con người rất giỏi đo giá trị của những gì có thể nhìn thấy:

Một cây cầu.

Một tòa nhà.

Một đại lộ.

Một khu đô thị.

Nhưng những nền văn minh trưởng thành lại hiểu rằng, có những tài sản quan trọng nhất không nằm ở những gì được xây lên, mà nằm ở những gì họ chủ động không xây.

Không gian thoát lũ là một trong số đó.

Một bãi sông rộng có thể không tạo ra doanh thu hằng năm.

Không đóng thuế.

Không bán được căn hộ.

Không làm tăng GDP ngay lập tức.

Nhưng nó âm thầm hấp thụ những trận lũ cực đoan, bảo vệ hệ thống đê điều và gìn giữ sự an toàn cho hàng triệu con người trong suốt nhiều thế hệ.

Đó không phải là đất bỏ trống.

Đó là một công trình hạ tầng được xây dựng bằng sự kiềm chế.

Và cũng từ đó, chúng ta có thể rút ra một quy luật lớn hơn.

Một quốc gia không trở nên vĩ đại vì khai thác tối đa mọi mét vuông đất. Một quốc gia trở nên vĩ đại khi biết rằng có những mét vuông phải được giữ lại để bảo vệ tương lai.

Đó không chỉ là bài học của sông Hồng.

Đó là triết lý của quản trị rủi ro.

Là nền tảng của quy hoạch hiện đại.

Và cũng là thước đo của một nền văn minh phát triển bền vững.

║ Con người hiện đại rất giỏi xây dựng những gì nhìn thấy. Nhưng những nền văn minh vĩ đại lại biết bảo vệ cả những thứ tưởng như vô hình.

║Không gian thoát lũ là một trong số đó. Khoảng trống ấy không tạo ra lợi nhuận mỗi năm, nhưng nó âm thầm bảo vệ một thành phố trong suốt hàng trăm năm. Đó không phải đất bỏ trống. Đó là một tài sản chiến lược của quốc gia.

Nếu bài viết mang đến cho bạn một góc nhìn mới, hãy chia sẻ để nhiều người cùng hiểu rằng:

Không phải mọi khoảng đất chưa xây dựng đều là đất lãng phí. Có những khoảng trống chính là hạ tầng bảo vệ cả một thành phố.

Theo dõi Phan Phụng Long (PhungLongVOL) để đồng hành cùng chuỗi phân tích về:

  • Quy hoạch sông Hồng dưới góc nhìn tư duy hệ thống.
  • Địa lý, thủy văn và quản trị rủi ro trong phát triển đô thị.
  • Những nguyên lý mà mọi siêu dự án đều phải trả lời trước khi khởi công.

Một quyết định quy hoạch có thể ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Vì vậy, điều chúng ta cần nhất không chỉ là tầm nhìn phát triển, mà còn là sự tôn trọng những quy luật của thiên nhiên.