Suy ngẫm về lời cầu xin

Lạy Chúa, con cầu xin ơn Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ.

Con cầu xin có sức khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con tàn tật để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành.

Con cầu xin được giàu sang để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan.

Con cầu xin được có uy quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết, con cần đến Chúa.

Con cầu xin có được tất cả để tận hưởng cuộc đời, Chúa lại cho con cả cuộc đời để được hưởng mọi sự.

Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn. Nhưng những điều con đáng phải mơ ước, mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu.

Lạy Chúa, hoá ra, con lại là người may mắn hơn hết trên cõi đời này bởi con đã nhận được ơn phúc Chúa vô vàn. Amen

(trích trong Lịch Phụng Vụ Ất Tỵ 2025 của Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ, tháng 06 trang 127)


 

Điều gì xảy ra khi lãnh bí tích Rửa tội?- Cha Vương

Xin Chúa gìn giữ bạn và gia quyến để bạn đừng xa lạc con đường Chân Thiện Mỹ nhé. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thể giới nhe 

Cha Vương

Thứ 5: 04/06/2026.     (n8-23)

GIÁO LÝ: Điều gì xảy ra khi lãnh bí tích Rửa tội? Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên chi thể của thân thể Chúa Kitô, anh chị em của Đấng Cứu chuộc, con cái Thiên Chúa. Chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, thoát khỏi sự chết, được lãnh số phận sống vui trong Đấng Cứu chuộc ta. (YouCat, số 200)

SUY NIỆM: Được rửa tội có nghĩa là lịch sử đời tôi được chìm đắm trong dòng chảy tình yêu của Chúa. Đức Bênêđictô XVI nói: “đời tôi thuộc về Chúa Kitô chứ không còn thuộc về tôi nữa… Được Chúa tháp tùng, vâng, được Chúa đón nhận vào tình yêu của Người, tôi được thoát khỏi sợ hãi. Chúa bao bọc tôi và mang tôi đi tất cả nơi nào tôi đi, Người là chính sự sống”. (YouCat, số 200 t.t.)

❦  Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6,4)

❦  Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. (1 Tm 2,4)

Đức Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.” (Ga 3,5)

❦  Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa. (Rm 14,8)

❦  Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất. (1 Cr 12,13)

LẮNG NGHE: Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người. (Rm 8,17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, qua bí tích rửa tội, Chúa đã cho con được tái sinh nhờ nước thánh tẩy, để nên một với Đức Kitô. Xin Chúa thương phù trì, giúp con luôn chiến thắng tội lỗi và trung thành đáp lại tình thương của Chúa.

THỰC HÀNH: Bạn có nhớ người lãnh nhận bí tích Rửa tội thề hứa những gì không? Từ bỏ ma quỷ, xa lánh tội lỗi, tin kính Thiên Chúa Ba Ngôi và giữ lề luật của Ngài. Hôm nay, xin bạn hãy cố gắng sống theo lời hứa của mình nhé.

From: Do Dzung

************************

[THÁNH CA] – ĐOAN HỨA | PHƯƠNG THẢO

KHÔNG VỪA KHUÔN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 “Chính vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng!”.

Tương truyền, khi được hỏi làm sao tạo nên tượng Đavít, Michelangelo trả lời: “Bức tượng vốn đã ở trong khối đá; tôi chỉ loại bỏ những gì không phải Đavít!”. Con người thường làm điều ngược lại: họ cố đẽo Đức Kitô cho vừa với những mong đợi và khuôn mẫu của mình.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, Đức Kitô không vừa với bất cứ khuôn mẫu nào con người dựng lên. Ngài không chỉ là “con vua Đavít”; Ngài còn là “Chúa Thượng của Đavít”. Ngài là Đấng ‘không vừa khuôn’.

Với người Do Thái, gọi Đấng Messia là “con vua Đavít” đã là một tước hiệu rất cao. Đó không chỉ là một danh xưng, nhưng hàm chứa khát vọng phục hồi Israel. Nhưng Chúa Giêsu đi xa hơn: nếu Đavít gọi Đấng Kitô là “Chúa Thượng”, thì Ngài không thể chỉ là hậu duệ của Đavít; nghĩa là, Thiên Chúa luôn lớn hơn mọi hình dung tôn giáo, chính trị hay lịch sử con người dựng lên. Bi kịch lớn nhất là bắt Trời cao phải làm đầy các nhu cầu ích kỷ của một linh hồn tham lam. “Thiên Chúa luôn là mầu nhiệm vượt quá khả năng nắm bắt của con người!” – Karl Rahner.

Khi gọi Đấng Kitô là Kyrios – Chúa Thượng, Chúa Giêsu mở tung mọi giới hạn con người áp đặt cho Thiên Chúa. Người ta muốn một vị thần giải quyết vấn đề, bảo vệ lợi ích hay đứng về phía mình; nhưng Thiên Chúa luôn là Deus semper maior – Đấng lớn hơn mọi định nghĩa. Ngài không đến để xác nhận những mong đợi của con người, nhưng để hoán cải chúng. Chúa Giêsu liên tục làm người đương thời khó chịu: Ngài không vừa với tham vọng chính trị của người Pharisêu, không vừa với thứ đạo đức khép kín của giới kinh sư, cũng không vừa với giấc mơ quyền lực của các môn đệ. Đẽo gọt Thiên Chúa cho vừa với ý mình là đang tạo ra một ngẫu tượng thay vì thờ phượng Ngài. “Chỉ Thiên Chúa mới hiểu thấu Thiên Chúa!” – Karl Barth.

Bình an không đến từ một Thiên Chúa vừa khít với các nhu cầu của mình, nhưng từ việc để chính mình được biến đổi theo ý Ngài. Timôthê được mời gọi trung thành với chân lý đã lãnh nhận – bài đọc một. “Kẻ yêu luật Chúa hưởng an bình thư thái!” – Thánh Vịnh đáp ca – bởi lẽ, chỉ khi thôi bắt Thiên Chúa phải vừa với ý mình, con người mới bắt đầu nếm cảm sự bình an! “Thiên Chúa vượt khỏi mọi điều con người có thể nắm bắt hay gọi tên!” – Angelus Silesius.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để vừa với những khuôn mẫu con người dựng lên; Ngài đến để phá vỡ chúng. Là Kyrios – Chúa Thượng, Ngài không thể bị thu nhỏ trong bất cứ khuôn mẫu nào. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là giữ một Thiên Chúa vừa tầm với mong đợi của tôi, nhưng là dám để đời tôi bị phá vỡ và tái tạo bởi một Thiên Chúa luôn lớn hơn. Nhiều khi, con người không gặp được Chúa Kitô không phải vì Ngài quá xa, nhưng vì họ chỉ muốn một Thiên Chúa vừa khuôn với mình. Đức tin không nhằm giúp ai an vị trong vùng đất cũ, nhưng là cuộc phá vỡ để bước vào Đấng lớn hơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, như nhà điêu khắc đã loại khỏi khối đá những gì không phải Đavít; xin đẽo khỏi đời con những gì không thuộc về Chúa, để Đức Kitô thành hình nơi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Sao người ta nói Đức Ki-tô là con vua Đa-vít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,35-37

35 Khi ấy, khi giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su lên tiếng hỏi : “Sao các kinh sư lại nói Đấng Ki-tô là con vua Đa-vít ? 36 Chính vua Đa-vít được Thánh Thần soi sáng đã nói : Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi : bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con.

37 “Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy thế nào được ?” Đám người đông đảo nghe Đức Giê-su cách thích thú.


 

LUÔN CÓ NHỮNG TÊN MẬT THÁM – Lm. Mark Link, S.J.


Lm. Mark Link, S.J.

 Chúng ta có khuynh hướng cho là dĩ nhiên những quà tặng đặc biệt như Mình Thánh Chúa và cha ruột của chúng ta.

 Cha Walter Ciszek bị lính Nga bắt trong Thế Chiến II.  Người bị kết tội là “gián điệp của Vatican” và bị 23 năm tù trong các trại lao động ở Siberia.  Sau cùng khi ra khỏi tù, cha đã viết một cuốn sách về các cảm nghiệm này.  Cha lấy tên sách là Người Đã Dẫn Dắt Tôi.

 Trong sách có nhiều câu chuyện cảm động về những hy sinh của các tù nhân khi rước Mình Thánh Chúa trong tù.  Một câu chuyện đáng được nhắc đến.  Trước khi chia sẻ câu chuyện ấy, chúng ta cần biết một chút về quá khứ.

 Trong thời Thế Chiến II, trước khi có Công Đồng Vatican II, luật Giáo Hội buộc phải kiêng ăn uống 24 giờ trước khi rước Mình Thánh Chúa.  Hãy nhớ đến điều này khi lắng nghe Cha Ciszek kể trong sách:

 Tôi từng thấy… các tù nhân đành mất giấc ngủ cần thiết và thức dậy sớm trước khi chuông reo để dự Thánh Lễ cách lén lút…  Chúng tôi sẽ bị phạt nặng nếu việc tham dự Thánh Lễ bị khám phá, và luôn luôn có những tên mật thám…

 Tất cả những điều này gây khó khăn khi có nhiều tù nhân tham dự, do đó chúng tôi thánh hiến thêm bánh và phân phát Mình Thánh cho các tù nhân khác khi có thể.  Đôi khi điều đó có nghĩa là chúng tôi chỉ có thể gặp họ khi trở về doanh trại vào ban đêm trước khi ăn tối.

 Tuy thế, những người này thực sự đã giữ chay cả ngày dài và lao động kiệt lực mà không ăn uống gì từ sau bữa ăn tối hôm trước, chỉ để rước Mình Thánh Chúa – đó là ý nghĩa của bí tích này đối với họ! 

 Nói cách khác, nó giống như bạn và tôi không ăn uống gì kể từ lúc này ngày hôm qua.  Trong khi đó, chúng ta còn phải lao động muốn gẫy lưng trong nhiệt độ dưới số không.  Đó là ý nghĩa của Mình Thánh đối với Cha Ciszek và các tù nhân.

 Câu chuyện này là một câu chuyện thích hợp cho lễ Mình Thánh Chúa.  Chữ Corpus Christi tiếng Latinh có nghĩa “thân thể của Chúa Kitô.”  Vào ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa chúng ta tôn kính Thân Thể của Chúa Kitô.

 Tại sao chúng ta lại dành riêng một ngày để kính Thân Thể Chúa Kitô?  Không phải là chúng ta kính Mình Thánh Chúa trong mọi Thánh Lễ hay sao?  Vậy tại sao lại có ngày đặc biệt này?

 Chúng ta cử hành lễ Mình Máu Thánh Chúa với cùng lý do như chúng ta cử hành Ngày Người Cha.  Đó là vì loài người chúng ta có khuynh hướng cho là điều dĩ nhiên những món quà đặc biệt như Mình Thánh Chúa Kitô và như các người cha của chúng ta.

 Đó là một trong những thảm kịch lớn của đời sống khi chúng ta có khuynh hướng đánh mất sự cảm kích một số quà tặng rất quý báu mà chúng ta có.  Tại sao lại như vậy?

 Các nhà tâm lý nói rằng nếu chúng ta chú ý đến mọi tiếng động nghe được hoặc mọi mầu sắc thấy được, có thể nói chúng ta sẽ trở thành điên.  Để bảo vệ chúng ta khỏi bị điên, chúng ta quen thuộc hóa các tiếng động và mầu sắc này.  Chúng ta cản trở và gạt chúng ra ngoài sự chú ý.

 Tỉ như, nếu chúng ta nghe tiếng lạch cạch đánh máy chữ ở phòng bên cạnh, tai chúng ta không còn nghe được âm thanh ấy nữa.  Các nhà tâm lý gọi tiến trình này là “quen thuộc hóa.”

 Nhưng quen thuộc hóa có một khía cạnh tiêu cực.  Nó có sự hạn chế.  Chúng ta có khuynh hướng quen thuộc hóa mọi thứ sau một thời gian – cảnh hoàng hôn, bông hoa, bạn hữu, cha mẹ, và ngay cả Mình Thánh Chúa Kitô.  Chúng ta mất sự nhận thức về các điều ấy.  Chúng ta không còn phấn khởi về các điều ấy.  Chúng ta coi các điều ấy là điều dĩ nhiên.

 Quen thuộc hóa là một trong những lý do chính tại sao thiền trở nên phổ thông.  Mục đích của thiền là giúp chúng ta đừng quen thuộc hóa.  Nó giúp chúng ta lại trở nên nhạy cảm trước cảnh đẹp của hoàng hôn, bông hoa, và bạn hữu.

 Để có ý tưởng về cách hoạt động này, thử chú ý đến một vật quen thuộc, tỉ như một cánh hoa, như thể bạn nhìn thấy nó lần đầu tiên.  Hoặc chú ý đến ai đó bạn yêu mến, như cha của bạn, như thể lần đầu tiên bạn nhìn thấy người và muốn in sâu vào tâm khảm hình ảnh cuối cùng này của ông.

 Điều này đưa chúng ta trở về Mình Máu Thánh Chúa.  Ngày lễ này đề ra cho chúng ta một lời mời và một thách đố.

 Trước hết, lời mời.  Mình Máu Thánh Chúa mời chúng ta tự hỏi, Thánh Thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta?  Chúng ta có còn quý trọng như trước đây chúng ta rước lễ lần đầu tiên không?  Điều này có ý nghĩa thật nhiều đối với chúng ta như đối với các tù nhân trong sách của Cha Ciszek không?

 Nếu câu trả lời của chúng ta là không, chúng ta đối diện với một thách đố.  Nó cũng giống như thách đố mà Ngày Người Cha đặt ra cho chúng ta.  Nó như thế này:

 Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng Thánh Thể một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng người cha của chúng ta một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta lại trở nên phấn khởi coi hai điều này như quà tặng quý báu cho chúng ta?

 Một cách thi hành là làm những gì người thiền thi hành.  Cố gắng suy niệm về Mình Thánh Chúa Kitô như thể bạn mới khám phá ra điều đó lần đầu tiên.

 Emilie Griffin, bà là người ở trong kỹ nghệ quảng cáo Nữu Ước, và trở nên người Công Giáo vài năm trước đây.  Bà viết một cuốn sách thu hút được gọi là Turning.  Bà viết:

 Một sự sùng kính Thánh Thể ngày càng gia tăng – và một niềm tin vào sự Hiện Diện Thật – đã lôi kéo tôi về với Giáo Hội Công Giáo…  Khi sự sùng kính Thánh Thể của tôi gia tăng, tôi lại càng hấp dẫn với đạo Công Giáo.

 Và như thế chúng ta phải cố gắng suy niệm về Thánh Thể theo cách bà Emilie Griffin đã làm khi bà khám phá ra mầu nhiệm khôn lường này lần đầu tiên.

 Tôi có thể kết thúc với hai đề nghị được không?

 Thứ nhất, trong tuần lễ trước mặt hãy thêm một lời cảm tạ trong phần kinh nguyện hàng ngày của bạn vì món quà của Chúa Kitô là Thân Thể của Người ban cho chúng ta.

 Thứ hai, trong Thánh Lễ khi bạn xếp hàng lên rước lễ, hãy tập trung tư tưởng đến người mà bạn sẽ lãnh nhận khi thừa tác viên thánh thể nâng bánh lễ lên và nói, “Mình Thánh Chúa Kitô.”

 Bạn sẽ lãnh nhận Thân Thể sống động của Chúa Kitô.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã sinh ra ở Bêlem.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chết trên thập giá.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết.

 Khi bạn nghĩ về điều này, nó thật vô cùng khó khăn để mường tượng.  Nhưng qua đức tin, chúng ta biết đó là sự thật.

Chỉ có một Thiên Chúa đầy yêu thương mới có thể ban cho chúng ta một món quà không thể tưởng được như thế. 

Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

“Mười năm của một trăm người” (一百个人的十年) tác giả Phùng Ký Tài.

Nguyen Thi Chau

Vào thời kỳ Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc, một cặp vợ chồng bị lực lượng “phái tạo phản” và đám đông quần chúng cách mạng trói chặt bằng năm dây bảy mối, trên người quấn đầy thuốc nổ.

Sau đó đám người này ép buộc chính đứa con ruột của cặp vợ chồng này phải bước lên châm ngòi nổ. Đứa trẻ kiên quyết từ chối thực hiện hành vi tàn nhẫn đó. Ngay lập tức, đám đông nổi điên và lao vào đánh đập đứa bé một cách dã man, đẩy em vào con đường chết.

Cuối cùng, trong sự bất lực và hoảng loạn, đứa trẻ vừa khóc nức nở vừa lao về phía bố mẹ mình để châm ngòi nổ. Nhưng thay vì bỏ chạy để giữ mạng sống, đứa bé đã chọn ở lại, ôm thật chặt lấy bố mẹ… và tiếng nổ vang lên, xóa sổ cả ba sinh mạng.

Câu chuyện này được ghi lại trong cuốn sách “Mười năm của một trăm người” (一百个人的十年) tác giả Phùng Ký Tài.

Hậu Trường Trung Quốc 


 

Hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn

Nguyen Huu Nghieu

Vị linh mục đứng bình tĩnh trước đội hành quyết với hai tay dang rộng ra dưới bầu trời Mexico, không để lộ nỗi sợ hãi và không bị bịt mắt trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

Vào ngày 23 tháng 11 năm 1927, Đức L.M. Miguel Pro đã phải đối mặt với án tử hình trong một trong những giai đoạn đen tối nhất của cuộc bức hại tôn giáo trong lịch sử Mexico. Là một linh mục Dòng Tên trong những năm bạo lực của cuộc Chiến tranh Cristero, Pro đã bí mật tiếp tục thực hiện công việc truyền giáo bất chấp những cuộc đàn áp của chính phủ đối với Giáo hội Công giáo. Các nhà chức trách cáo buộc ông tham gia vào các hoạt động chống chính phủ, và không có phiên tòa chính thức, ông đã bị xử bắn và bị kết án tử hình.

Những người chứng kiến mô tả một sự im lặng khó quên bao quanh khu vực hành quyết khi các binh sĩ chuẩn bị súng trường trong khi các nhiếp ảnh gia ghi lại khoảnh khắc đó cho công chúng. Khác với nhiều tù nhân bị kết án, Miguel Pro được cho là đã từ chối bịt mắt và thay vào đó đứng công khai trước đội hành quyết với sự bình tĩnh đáng kinh ngạc.

Ngay trước khi tiếng súng nổ ra, ông giơ tay lên trong tư thế giống như Chúa Kitô trên thập tự giá và thốt lên những lời :

“Viva Cristo Rey!”

Nghĩa là “Đức Kitô, Vua muôn năm!”

Những bức ảnh được chụp trong những khoảnh khắc cuối cùng nhanh chóng lan rộng khắp Mexico và xa hơn nữa, biến vị linh mục trẻ thành một biểu tượng mạnh mẽ của đức tin, sự kháng cự, và sự hy sinh trong một chương đầy bạo lực của lịch sử quốc gia.

Ngay cả sau hàng chục năm, hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn vẫn tiếp tục mang một sức nặng cảm xúc phi thường vì nó ghi lại một khoảnh khắc mà nỗi sợ hãi dường như hoàn toàn vắng bóng trước cái chết.

Đối với nhiều tín đồ, ông đã trở thành một vị tử đạo, lòng dũng cảm của ông đại diện cho niềm tin không lay chuyển trong thời kỳ bách hại và xung đột.

Những bức ảnh ám ảnh đã đóng băng lịch sử vào đúng thời điểm một người đàn ông đối mặt với những người lính vũ trang chỉ với niềm tin và quyết tâm bình tĩnh. Và khi bạn nhìn Miguel Pro đứng đó với đôi tay dang rộng trước khi súng trường nổ, điều đó đặt ra một câu hỏi sâu sắc…

“Niềm tin của một người phải mạnh mẽ đến mức nào để đối mặt với cái chết mà không phải cúi mắt vì sợ hãi?”

ST


 

Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không? – Cha Vương 

Mỗi ngày Chúa trao cho bạn một tờ giấy trắng. Bạn sẽ là người vẽ lên đó, vì thế hãy vẽ sao cho đẹp lòng Chúa nhé. Chúc bình an! Mời bạn tiếp tục suy niệm những bài Giáo Lý căn bản trong quyển Giáo Lý YouCat.

Cha Vương 

Thứ 4: 3/06/2026.     (n4-25)

GIÁO LÝ: Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không? Đối với những ai đã đón nhận Tin Mừng và đã biết Lời Chúa Giêsu dạy: “Thầy là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14,6), bí tích Rửa tội là con đường duy nhất cho họ đến cùng Thiên Chúa để được cứu độ. Nhưng vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người, và mọi người đều được mời gọi để được cứu độ nên dù một người không có cơ hội học biết về Chúa Kitô và đức tin, mà họ tìm Chúa cách chân thành và sống theo lương tâm mình, họ cũng gặp ơn cứu độ. Họ được rửa tội bằng lòng muốn. (YouCat, số 199) Trong Hội thánh Công giáo, có 3 hình thức rửa tội, nó cho chúng ta biết những người chưa được rửa tội có thể đến được cửa thiên đàng như thế nào.

  1. RỬA TỘI BẰNG NƯỚC: Rửa tội bằng nước là hình thức “thông thường” quen thuộc nhất mà chúng ta thấy.
  2. RỬA TỘI DO LÒNG MUỐN: Hình thức rửa tội thứ hai này khó hiểu nhất và cũng là một trong những hình thức giải thích cởi mở nhất. Ví dụ rõ ràng nhất về hình thức rửa tội do lòng muốn, tức là khi một người đang trên tiến trình nhận phép rửa nhưng không thể hoàn thành nó. “Đối với những người dự tòng chết trước khi được rửa tội, nếu họ minh nhiên ước muốn được rửa tội, đồng thời sám hối tội lỗi và sống đức mến, thì họ được bảo đảm ơn cứu độ, dù chưa thể lãnh nhận bí tích” (GLCG 1259)
  3. RỬA TỘI BẰNG MÁU: Sau rửa tội bằng nước, hình thức rửa tội này là rõ ràng nhất. Về cơ bản đó là khi một người chưa được rửa tội nhưng chết vì đức tin Kitô giáo. “Hội Thánh luôn xác tín rằng những người chịu chết vì đức tin mà trước đó chưa được rửa tội, thì coi như đã được thanh tẩy, vì đã chết cho Đức Kitô và với Đức Kitô” (GLCG 1258).

SUY NIỆM: Thiên Chúa đã liên kết việc cứu rỗi với các bí tích. Vì thế Hội thánh phải không ngừng trao ban cho nhân loại. Từ chối sứ mệnh này là phản bội lệnh truyền của Chúa. Nhưng chính Chúa không bị trói buộc vào các bí tích của Người. Nơi nào Hội thánh chưa đến được, hoặc không làm được – dù do lỗi của Hội thánh hoặc vì các lý do khác – chính Chúa mở ra cho con ngưởi một đường khác để được cứu rỗi. (YouCat, số t.t.)

LẮNG NGHE: Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12:50)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin chỉ cho con biết tầm quan trọng của ơn cứu rỗi để con sống thánh thiện hơn mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Kiểm tra lại lối sống của bạn coi nó có minh chứng cho đức tin của bạn không?

From: Do Dzung

*****************************

Đường con theo Chúa -tinmung.net

 THIẾU MỘT BƯỚC CUỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”.

“Nhiều người thuộc về Thiên Chúa mà Hội Thánh không có; và nhiều người Hội Thánh có lại không thực sự thuộc về Thiên Chúa!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay kể về một kinh sư: ông hỏi đúng, hiểu đúng và trả lời đúng; nhưng Chúa Giêsu chỉ nói: “Ông không còn xa…”. Hoá ra, người ta có thể rất gần Thiên Chúa qua dáng vẻ đạo đức, mà vẫn ‘thiếu một bước cuối’ để thật sự bước vào Nước Ngài.

Vị kinh sư không còn mắc kẹt trong thứ đạo đức hình thức. Ông hiểu rằng, yêu mến Thiên Chúa và tha nhân “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Nhưng Chúa Giêsu vẫn không bảo đảm ông đã ở trong Nước Trời; bởi lẽ, Kitô giáo không dừng ở chỗ hiểu đúng về Thiên Chúa, nhưng là để toàn bộ đời mình bước vào tương quan với Ngài. Khoảng cách cuối cùng không nằm ở tri thức, mà ở sự dấn thân của toàn bộ hiện hữu; giữa biết điều phải sống và thật sự dám sống điều đã biết. “Kitô giáo không phải là một lý thuyết để hiểu, nhưng là một sự sống để bước vào!” – Karl Rahner.

Vì thế, Chúa Giêsu không nói: hãy yêu Thiên Chúa bằng một cảm xúc đạo đức nào đó, nhưng bằng “toàn thể” con người. Marcô dùng bốn từ rất mạnh: kardia, psychē, dianoiaischys. Nghĩa là, Thiên Chúa không muốn con người nhường cho Ngài một góc nhỏ đạo hạnh trong đời sống; Ngài muốn trọn con người ấy. Chính ở đây, nhiều người vẫn “không xa” Nước Trời, nhưng chưa thật sự bước vào: họ dành cho Chúa một phần thời gian, một phần niềm tin hay chút thiện chí; nhưng chưa bao giờ thật sự phó thác cho Ngài. Bố thí cho Thiên Chúa một góc nhỏ cuộc đời là một hình thức sỉ nhục Trời cao. Thông suốt giáo lý mà không dám dấn thân chỉ là đứng ngắm Nước Trời từ xa. Người ta có thể nói rất đúng về Nước Trời, nhưng không ai bước vào đó bằng kiến thức.

Phaolô nhắn nhủ Timôthê: “Hãy nhớ đến Đức Giêsu Kitô!” – bài đọc một. Nghĩa là, đức tin Kitô giáo không hệ tại ở việc ghi nhớ một giáo huấn, nhưng ở việc để chính Đức Kitô chiếm lấy đời mình. Vì thế, điều con người cần không chỉ là biết đường về Nước Trời, nhưng là thật sự bước đi trên con đường ấy. Biết đường mà không cất bước vẫn là kẻ lưu vong. “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết!” – Thánh Vịnh đáp ca – không phải là lời xin thêm kiến thức, nhưng là lời xin được dẫn vào một lối sống mới.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về giới răn yêu thương; chính Ngài là Đấng đã sống trọn giới răn ấy. Ngài yêu Chúa Cha không bằng một phần đời mình, nhưng bằng toàn bộ hiện hữu – đến tận thập giá. Và tại đó, Ngài yêu con người bằng cách trao hiến toàn thân cho họ. Vì thế, theo Chúa Kitô không chỉ là biết điều phải làm, mà là dám bước qua khoảng cách cuối cùng giữa hiểu biết và trao hiến. Có những người rất gần Nước Trời, nhưng vẫn đứng ngoài vì chưa bao giờ thật sự đặt đời mình vào tay Thiên Chúa. Họ ‘thiếu một bước cuối’. “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với quá ít!” – Thomas Merton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa bao điều giằng xé lòng con, xin dạy con biết dành cho Chúa không phải một phần nhỏ, nhưng toàn bộ cuộc sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,28b-34

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.


 

Jeff Bezos & Công ty Amazon.

Xuan-Huong T Nguyen

  Năm 1964, tại Albuquerque, New Mexico, một cô gái 17 tuổi sinh con trai. Ban giám hiệu nhà trường nói với cô rằng cô không thể  học trong trường được nữa, để tốt nghiệp trung học.

Tuy vậy cô  kiên quyết chống đối không chịu.

Cô là Jacklyn Gise và  đứa con trai mà cô quyết tâm nuôi nấng sau này đã trở thành một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới.

Làm mẹ tuổi vị thành niên ở Albuquerque những năm 1960 không chỉ khó khăn mà còn bị xã hội dị nghị, khi dễ..  Khi Jacklyn muốn quay lại trường, ban giám hiệu từ chối nhưng  cô không chấp nhận.

“Tôi đã phản đối và cứ tiếp tục phản đối,” sau này bà kể lại. “Cuối cùng nhà trường cũng phải nhượng bộ.Trường đưa ra nhiều điều kiện: cô không được nói chuyện với học sinh khác, không được ăn ở căng tin, phải đến và về trong vòng năm phút sau tiếng chuông. Cô đồng ý hết. Và cuối cùng cô  tốt nghiệp.

Cuộc hôn nhân với Ted Jorgensen – cha ruột của con trai bà – không kéo dài. Cả hai còn quá trẻ. Ted gặp vấn đề với rượu. Họ ly hôn trước khi Jeff tròn hai tuổi.

Bỗng chốc, Jacklyn trở thành mẹ đơn thân không một đồng trong túi. Bà làm thư ký, lương chỉ 190 đô la một tháng nhưng đã trả tiền nhà gần như  hết. Bà thậm chí không có tiền lắp đặt điện thoại.

Cha cũa bà phải mua cho bà một hệ thống bộ đàm để mỗi sáng 7 giờ, bà báo tin  cho cha biết, bà vẫn bình an.

“Nhờ vậy mà chúng tôi mới giữ được căn nhà” . Bà kể. Dù vậy bà vẫn khao khát học hành, Jacklyn đi học buổi tối. Bà chọn những thầy cô cho phép mang con nhỏ theo lớp. Mỗi lần đến lớp, bà xách theo hai túi lớn – một túi sách vở, một túi bình sữa, tã và đồ chơi.

Chính trong một lớp học như thế, bà gặp Miguel “Mike” Bezos – một người tị nạn Cuba đến Mỹ năm 15 tuổi gần như tay trắng. Họ yêu nhau. Mike nhận con nuôi Jeff và cho cậu bé họ của mình. Jeff Bezos. Cả hai cùng xây dựng một gia đình dựa trên lao động chăm chỉ, học hành và những giấc mơ lớn. Jacklyn chưa bao giờ ngừng học. Bà tạm dừng một thời gian để nuôi con, sau đó quay lại đại học. Năm 40 tuổi, bà nhận bằng tốt nghiệp.Khi kể về ngày ấy, bà nói: “Khi tôi tốt nghiệp ở tuổi 40, tôi chưa bao giờ tự hào về bản thân mình nhiều đến vậy.”Năm 1995, cậu con trai lớn đưa ra một ý tưởng mạo hiểm: bỏ việc ở Phố Wall để bán sách trực tuyến. Jacklyn và Mike đã đầu tư 245.000 đô la dù biết có 70% khả năng thất bại. Công ty đó chính là Amazon. Đến năm 2018, khoản đầu tư ấy đã tăng lên 30 tỷ đô la.Nhưng tiền bạc chưa bao giờ là điều quan trọng nhất.

Jeff Bezos luôn nói ông nợ tất cả mẹ ông: những giá trị, tấm gương và sự hy sinh. Bà là người đồng sáng lập Quỹ Gia đình Bezos, đã trao hàng trăm triệu đô la cho giáo dục và y tế. Bà lặng lẽ ủng hộ những bạn trẻ đang gặp khó khăn như chính bà từng trải qua. Jacklyn Bezos qua đời vào tháng 8 năm 2025 ở tuổi 78. Con trai bà viết lời tri ân đơn giản: “Mẹ đã lao vào vai trò yêu thương con bằng tất cả sự mãnh liệt.”Cuộc đời của Jacklyn Bezos chứng minh một điều rất quan trọng: món quà quý giá nhất cha mẹ có thể trao cho con là cho con thấy điều gì là có thể – bằng cách chính bản thân họ dám từ chối những giới hạn mà người khác áp đặt.

Bà là một bà mẹ vị thành niên,  từng bị xã hội coi thường, nhưng đã nuôi dạy một người con thay đổi cả thế giới. Trước tiên, bà đã thay đổi chính cuộc đời mình.

Nguồn:  The Husky- Cre: Lê Hoàng 


 

Lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.

 Anh Chi -Tâm Thức Việt 

 Vài giờ trước khi bị xử tử, một mình trong buồng giam…

Người ta hỏi anh ta: “Điều ước cuối cùng của anh là gì?”

Anh xin một cây bút, một tờ giấy.

Anh lặng lẽ viết vài phút, rồi trao lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.

Trong thư viết:

“Mẹ à, Con nghĩ, nếu thế giới này thật sự có công bằng, thì hôm nay không chỉ mình con bị hành quyết… mà cả mẹ nữa.

Mẹ cũng có tội — nhiều như con — trong cuộc đời hư hỏng mà con đã sống.

Mẹ còn nhớ ngày con ăn trộm chiếc xe đạp của một đứa trẻ khác không?

Mẹ không la mắng, ngược lại còn giúp con giấu nó.

Rồi cái lần con lấy tiền trong ví của hàng xóm…

Mẹ cùng con đi mua sắm ở trung tâm thương mại.

Và mẹ cũng chẳng nói một lời nào rằng điều đó là sai.

Khi thầy giáo đuổi con vì hỗn láo, vì nghỉ học quá nhiều…

Mẹ không hề trách con.

Mẹ đến trường để quát mắng thầy giáo, mà chẳng hề hỏi con một câu,

trong khi con rõ ràng là người sai.

Mẹ còn nhớ những đêm con về muộn, những ngày bỏ học triền miên?

Chưa bao giờ mẹ hỏi tại sao.

Chưa bao giờ mẹ tìm cách kéo con lại đúng đường.

Con chỉ là một đứa trẻ, rồi một thằng thiếu niên…

Và giờ đây, là một gã đàn ông hỏng nát.

Sau khi cha mất, con cần một bàn tay cứng rắn, một ánh mắt dẫn dắt.

Nhưng mẹ đã cho con sự nuông chiều mù quáng.

Con là đứa con cưng của mẹ, nhưng tình thương ấy đã làm con lạc lối.

Mẹ luôn ở đó…

Trong từng lỗi lầm con mắc phải.

Nhưng mẹ chưa bao giờ ở đó để chỉ con thấy con đường đúng.

Con tha thứ cho mẹ.

Nhưng con van xin mẹ hãy gửi lời này đến tất cả những bậc cha mẹ khác:

Họ đang nắm trong tay trách nhiệm — hoặc nuôi dưỡng nên một con người tử tế, hoặc biến thành một kẻ tội phạm.

Cảm ơn mẹ đã cho con sự sống.

Và cũng cảm ơn… vì đã góp phần lấy đi sự sống ấy.

Con trai mẹ,

Kẻ tội phạm.”

TG Văn Chương


 

Mastah Preddi Và Món Nợ Ân Tình Suốt 70 Năm

 My Lan Pham  

Mastah Preddi Và Món Nợ Ân Tình Suốt 70 Năm

Ông đã lang thang một mình suốt ba mươi mốt ngày trong khu rừng do quân Nhật kiểm soát sau khi máy bay bị bắn hạ. Đói khát. Mê sảng. Chỉ còn cách cái chết một bước chân.

Đến ngày thứ ba mươi hai, những giọng nói vang lên từ trong rừng cây.

Fred Hargesheimer khi ấy mới hai mươi bảy tuổi. Ông đang thực hiện một nhiệm vụ trinh sát trên Thái Bình Dương thì máy bay bị rơi xuống đảo New Britain. Suốt một tháng trời, ông lê bước trong rừng sâu, tin rằng bất kỳ âm thanh nào vang lên cũng có thể là điều cuối cùng mình nghe thấy.

Nhưng những giọng nói ấy không phải lính Nhật.

Đó là người Nakanai.

Và điều họ làm tiếp theo bất chấp nguy hiểm khủng khiếp đến tính mạng của chính họ là điều Fred dành bảy mươi năm còn lại của cuộc đời để cố gắng báo đáp.

Dân làng đưa ông về ngôi làng ven biển và bí mật che giấu ông. Quân Nhật treo thưởng cho bất kỳ phi công Đồng Minh nào bị bắt, đồng thời xử tử bất cứ ai dám chứa chấp họ. Người Nakanai hiểu rất rõ cái giá phải trả nếu bị phát hiện.

Nhưng họ vẫn cứu ông.

Fred khi ấy quá yếu để nuốt thức ăn rắn. Cơ thể ông gần như suy kiệt hoàn toàn. Rồi một người mẹ đang cho con bú tên Ida bước vào căn chòi nơi ông nằm và trong suốt mười ngày, bà đã dùng chính dòng sữa của mình để nuôi ông sống sót, trong khi vẫn tiếp tục cho đứa con nhỏ của mình bú.

Fred chưa bao giờ quên tên bà.

Mỗi khi các toán lính Nhật tiến gần đến làng, sẽ có người thổi một chiếc vỏ ốc tù và giấu gần đó. Fred chỉ có vài giây để chạy trốn vào rừng. Và khi ông chạy trên cát với đôi giày nặng nề, những đứa trẻ trong làng lặng lẽ chạy theo phía sau tay cầm những chiếc chổi lá cọ nhỏ, quét sạch dấu chân ông trước khi lính Nhật xuất hiện.

Nếu chỉ một người trong số họ bị phát hiện, cả ngôi làng có lẽ đã bị thảm sát.

Nhưng không ai phản bội ông.

Lũ trẻ không phát âm được cái tên “Freddie”. Chúng gọi ông là “Mastah Preddi”. Ông Freddie. Fred sống cùng họ suốt bảy tháng.

Tháng Hai năm 1944, lực lượng biệt kích Úc đến được ngôi làng và gọi một tàu ngầm Mỹ tới đón. Trong một đêm không trăng, Fred chèo xuồng ra biển để gặp tàu ngầm, còn dân làng đứng lặng trên bờ nhìn theo. Có người kể rằng vài bà mẹ thậm chí còn muốn gửi con mình cho ông mang sang Mỹ hy vọng chúng sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn những gì chiến tranh để lại nơi đây.

Fred sống sót. Ông trở về bang Minnesota và xây dựng một cuộc đời bình thường.

Nhưng có một câu hỏi theo ông suốt quãng đời còn lại:

“Làm sao tôi có thể đền đáp họ đây?”

Năm 1960, mười sáu năm sau đêm chèo xuồng rời khỏi hòn đảo ấy, Fred quay trở lại New Britain một mình.

Khi con thuyền của ông tiến vào bờ biển, dân làng đứng thành hàng dưới ánh trăng.

Rồi họ bắt đầu hát bài tiếng Anh duy nhất mà họ biết:

“God Save the Queen.”

Fred bước xuống bãi cát và bật khóc.

Ông tìm gặp lại Ida. Ông gặp người con trai mà bà từng cho bú cùng lúc với việc cứu sống ông trong chiến tranh. Ông đi qua ngôi làng và nhìn thấy những đứa trẻ năm xưa từng quét dấu chân mình trên cát giờ đã trưởng thành, có con cái riêng.

Một nhà truyền giáo nói với ông rằng ngôi làng rất cần một ngôi trường.

Fred trở về Minnesota và bắt đầu gõ cửa từng nhà. Các nhóm nhà thờ. Hàng xóm. Những khoản quyên góp nhỏ được gom góp từ vô số cuộc trò chuyện. Đến năm 1963, ông quay lại New Britain và giúp xây dựng ngôi trường kiên cố đầu tiên cho ngôi làng.

Rồi ông tiếp tục quay lại. Hết lần này đến lần khác. Trường học. Thư viện. Một phòng khám y tế dần mọc lên tại chính ngôi làng từng che giấu một phi công Mỹ hấp hối ngay dưới mũi quân Nhật.

Cuối cùng, ông và vợ là Dorothy thậm chí rời nước Mỹ suốt bốn năm để sống hẳn ở đó dạy học cho trẻ em dưới chân núi lửa, cách quê hương họ hơn mười hai nghìn dặm.

Năm 2000, người Nakanai phong ông làm tù trưởng bộ tộc và trao cho ông danh hiệu “Suara Auru”.

“Chiến binh trưởng.”

Năm 2006, khi đã chín mươi tuổi, dân làng cõng ông băng qua rừng để ông có thể nhìn lại xác chiếc máy bay của mình lần cuối. Phần cánh gãy vẫn nằm dưới những tán cây nơi nó rơi xuống sáu mươi ba năm trước khoảnh khắc đã đưa một phi công trẻ hấp hối vào vòng tay của những con người chọn cứu ông, dù phải đánh đổi bằng chính mạng sống của họ.

Fred Hargesheimer qua đời năm 2010, hưởng thọ chín mươi bốn tuổi.

Những ngôi trường và phòng khám mà ông xây dựng vẫn hoạt động cho đến ngày nay. 


 

KHI TRUYỀN THÔNG CỦA GIÁO HỘI ĐƯỢC TRAO CHO MỘT NGƯỜI NỮ GIÁO DÂN

 Anmai CSsR 

KHI TRUYỀN THÔNG CỦA GIÁO HỘI ĐƯỢC TRAO CHO MỘT NGƯỜI NỮ GIÁO DÂN

Việc Đức Giáo hoàng Lêô XIV bổ nhiệm bà Maria Montserrat Alvarado, hiện là Chủ tịch và Giám đốc Điều hành của EWTN News, làm Bộ trưởng Bộ Truyền thông của Tòa Thánh không chỉ là một quyết định nhân sự. Đây là một dấu chỉ. Một dấu chỉ rất mạnh mẽ về cách Giáo hội đang bước vào thời đại mới của truyền thông, thời đại mà Tin Mừng không chỉ được rao giảng trên tòa giảng, trong sách vở, trong nhà thờ, nhưng còn phải hiện diện giữa dòng chảy cuồn cuộn của hình ảnh, âm thanh, mạng xã hội, kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và những biến động không ngừng của tâm thức con người hôm nay.

Bà Maria Montserrat Alvarado, sinh tại thành phố Mexicô, từng được đào tạo tại Đại học Quốc tế Florida và Đại học George Washington. Trước khi bước vào EWTN News, bà đã có nhiều năm làm việc tại Quỹ Becket vì Tự do Tôn giáo, nơi bà tham gia các hoạt động bảo vệ tự do tôn giáo và cổ võ phẩm giá con người. Từ năm 2023, bà đảm nhận vai trò lãnh đạo tại EWTN News, một hệ thống truyền thông Công giáo có tầm ảnh hưởng quốc tế, sản xuất nội dung qua nhiều ngôn ngữ và nhiều nền tảng khác nhau: truyền hình, phát thanh, báo in, kỹ thuật số và mạng xã hội. Chính kinh nghiệm ấy cho thấy bà không chỉ là một người làm truyền thông, nhưng là một người hiểu truyền thông như một sứ mạng, nơi chân lý cần được nói bằng ngôn ngữ của thời đại mà vẫn không đánh mất linh hồn của Tin Mừng.

Quyết định bổ nhiệm này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 2026. Bà Alvarado sẽ kế nhiệm ông Paolo Ruffini, người được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm năm 2018 và là giáo dân đầu tiên đứng đầu một Bộ thuộc Giáo triều Rôma. Nếu ông Ruffini là dấu mốc cho thấy người giáo dân có thể đảm nhận những trách nhiệm cao trong cơ cấu phục vụ của Tòa Thánh, thì bà Alvarado lại mở ra một dấu mốc mới: một phụ nữ giáo dân, không thuộc đời sống thánh hiến, được trao phó vai trò lãnh đạo một Bộ của Tòa Thánh. Điều đó không chỉ nói về sự hiện diện của nữ giới trong Giáo hội, nhưng còn nói về sự trưởng thành của một Giáo hội biết nhìn nhận đặc sủng, khả năng, kinh nghiệm và trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa.

Bộ Truyền thông không phải là một cơ quan phụ bên lề đời sống Giáo hội. Trong thế giới hôm nay, truyền thông là một “mặt trận” thiêng liêng và nhân bản rất lớn. Qua truyền thông, con người có thể được nâng lên, được khai sáng, được an ủi, được nối kết; nhưng cũng qua truyền thông, con người có thể bị thao túng, bị chia rẽ, bị đầu độc bởi tin giả, hận thù, cực đoan, giật gân và sự nông cạn. Vì thế, người đứng đầu Bộ Truyền thông không chỉ cần kỹ năng quản trị, nhưng cần một tầm nhìn mục vụ: làm sao để tiếng nói của Giáo hội không bị chìm giữa ồn ào, không bị biến thành khẩu hiệu, không bị mắc kẹt trong cơ chế, nhưng trở thành tiếng nói của sự thật, lòng thương xót, hiệp thông và hy vọng.

Đức Giáo hoàng Lêô XIV, qua quyết định này, tiếp nối con đường cải tổ mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã khởi xướng: một Giáo triều không khép kín trong não trạng giáo sĩ trị, nhưng biết mở ra cho sự cộng tác của giáo dân; một Giáo hội không chỉ nói về phẩm giá người nữ, nhưng trao trách nhiệm thực sự cho người nữ; một cơ cấu phục vụ không chỉ vận hành bằng chức vị, nhưng bằng khả năng, lòng trung thành, sự chuyên nghiệp và tinh thần sứ vụ.

Điều đáng suy nghĩ là người được bổ nhiệm không xuất thân từ một môi trường thuần túy hành chính, nhưng từ một môi trường truyền thông Công giáo sống động, trực diện với những thách đố của thời đại. Điều đó cho thấy Tòa Thánh hiểu rất rõ rằng truyền thông hôm nay không còn là việc “phát đi thông cáo” hay “đưa tin sau sự kiện”. Truyền thông hôm nay là hiện diện, lắng nghe, phân định, đối thoại, giải thích, làm chứng và nối kết. Giáo hội không thể chậm chân trước những ngôn ngữ mới của nhân loại. Nhưng Giáo hội cũng không được đánh mất chiều sâu thiêng liêng khi bước vào các nền tảng mới. Vấn đề không chỉ là Giáo hội có mặt trên mạng xã hội hay không, nhưng là Giáo hội hiện diện ở đó với gương mặt nào: gương mặt của Chúa Kitô hay gương mặt của quyền lực, tranh luận và hơn thua?

Trong lời phát biểu sau khi được bổ nhiệm, bà Alvarado nói rằng việc bổ nhiệm này là điều bất ngờ, nhưng bà đón nhận với lòng chân thành mong muốn phục vụ Đức Thánh Cha khi ngài bắt đầu triều đại giáo hoàng của mình. Câu nói ấy đáng được chú ý. Truyền thông Kitô giáo trước hết không phải là nơi để xây dựng tên tuổi cá nhân, nhưng là một cách phục vụ. Người làm truyền thông của Giáo hội không được phép biến mình thành trung tâm. Trung tâm phải là Chúa Kitô. Không phải sự nổi tiếng, không phải lượt xem, không phải tốc độ lan truyền, không phải sự hào nhoáng kỹ thuật, nhưng là Tin Mừng được truyền đạt với sự thật, lòng bác ái và sự khiêm nhường.

Ông Paolo Ruffini, trong thư gửi các nhân viên của Bộ Truyền thông, đã dùng hình ảnh “trao lại ngọn đuốc trong khi vẫn tiếp tục chạy”. Đó là một hình ảnh rất đẹp. Giáo hội không đứng yên. Sứ mạng không dừng lại ở một người. Người này đến, người kia đi, nhưng Tin Mừng vẫn phải tiếp tục được loan báo. Ngọn đuốc không phải là quyền lực để giữ lấy, nhưng là ánh sáng để chuyền tay. Người phục vụ thật sự biết đến lúc phải trao lại; người kế nhiệm thật sự biết đón nhận không phải để xóa bỏ quá khứ, nhưng để tiếp tục hành trình trong tinh thần hiệp thông.

Bản tin này vì thế không chỉ là tin về một phụ nữ được bổ nhiệm vào một chức vụ cao. Đây là một lời mời gọi Giáo hội suy nghĩ lại về chính cách mình truyền thông. Chúng ta đang nói gì với thế giới? Chúng ta đang nói bằng cung giọng nào? Chúng ta có đang truyền thông như những người xây cầu, hay như những người dựng thêm bức tường? Chúng ta có đang làm cho người ta gặp Chúa Kitô, hay chỉ làm cho người ta thấy những tranh cãi nội bộ của người Công giáo? Chúng ta có dùng truyền thông để chữa lành, hay để kết án? Để hiệp thông, hay để chia rẽ? Để loan báo Tin Mừng, hay để bảo vệ cái tôi của mình?

Trong thời đại mà một lời nói có thể đi khắp thế giới chỉ trong vài giây, người Công giáo càng phải học lại sự thận trọng, hiền lành và trách nhiệm. Truyền thông không chỉ là kỹ thuật đưa tin. Truyền thông là luân lý. Truyền thông là mục vụ. Truyền thông là linh đạo. Một bản tin sai có thể làm tổn thương người vô tội. Một lời bình ác ý có thể giết chết danh dự một con người. Một hình ảnh bị cắt xén có thể tạo nên hiểu lầm. Một tiêu đề giật gân có thể làm nghèo đi sự thật. Vì thế, truyền thông Công giáo phải khác: không phải chậm vì thiếu khả năng, nhưng chậm đủ để trung thực; không phải nhạt vì sợ hãi, nhưng sâu vì có Tin Mừng; không phải ồn ào để thắng thế, nhưng sáng trong để phục vụ sự thật.

Việc bà Maria Montserrat Alvarado được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Truyền thông cũng nhắc cho mọi giáo dân rằng Giáo hội không chỉ là chuyện của hàng giáo sĩ. Giáo hội là Dân Chúa. Mỗi người đã chịu phép Rửa đều có phần trong sứ mạng loan báo Tin Mừng. Có người loan báo bằng giảng dạy. Có người loan báo bằng phục vụ người nghèo. Có người loan báo bằng đời sống gia đình. Có người loan báo bằng nghề nghiệp. Và có người loan báo bằng truyền thông. Khi một giáo dân được trao một trách nhiệm lớn trong Giáo triều, đó không phải là sự “thay thế” hàng giáo sĩ, nhưng là sự cộng tác đúng nghĩa trong thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh, nơi mỗi chi thể có một vai trò, một ơn gọi và một cách phục vụ riêng.

Tin vui này cũng là một lời nhắc cho những người làm truyền thông Công giáo ở mọi cấp độ: từ Vatican đến giáo phận, giáo xứ, hội dòng, nhóm tông đồ, trang cá nhân, kênh YouTube, Facebook, TikTok. Làm truyền thông cho Giáo hội không phải chỉ là đăng thật nhiều, nói thật nhanh, làm thật đẹp. Điều quan trọng hơn là làm sao để mỗi nội dung mang được hương thơm của Tin Mừng. Một tấm ảnh đẹp nhưng thiếu sự thật thì không còn là truyền thông Công giáo. Một bài viết hay nhưng đầy kiêu căng thì chưa phải là phục vụ Tin Mừng. Một video nhiều người xem nhưng gây chia rẽ, khinh miệt và kết án thì không thể gọi là truyền giáo. Truyền thông Công giáo phải giúp người ta yêu Chúa hơn, yêu Giáo hội hơn, yêu con người hơn, sống thật hơn và hy vọng hơn.

Bởi vậy, việc bổ nhiệm bà Alvarado không chỉ là một điểm son trong lịch sử cải tổ Giáo triều. Đó còn là một lời mời gọi rất sâu: hãy làm cho truyền thông trở thành nơi hiệp thông. Hãy làm cho kỹ thuật phục vụ con người. Hãy làm cho mạng xã hội bớt độc hại hơn bằng những nội dung có trách nhiệm. Hãy làm cho tiếng nói của Giáo hội không chỉ đúng, mà còn đẹp; không chỉ mạnh, mà còn hiền; không chỉ rõ ràng, mà còn đầy lòng thương xót.

Một Giáo hội biết truyền thông không phải là một Giáo hội biết quảng bá chính mình, nhưng là một Giáo hội biết đưa con người đến gặp Chúa Kitô. Và có lẽ đó là thách đố lớn nhất cho Bộ Truyền thông trong giai đoạn mới: giữa một thế giới quá nhiều tiếng nói, phải giúp nhân loại nghe lại được tiếng nói của Tin Mừng; giữa một thế giới quá nhiều hình ảnh, phải giúp con người nhận ra dung mạo của Chúa Kitô; giữa một thế giới quá nhiều kết nối kỹ thuật, phải giúp con người tìm lại sự hiệp thông thật sự.

Nếu truyền thông chỉ làm cho Giáo hội được chú ý hơn, thì vẫn chưa đủ. Nếu truyền thông làm cho Chúa Kitô được nhận biết, yêu mến và bước theo, lúc đó truyền thông mới thật sự trở thành sứ mạng.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp