LỖ HỔNG MANG HÌNH CHÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tất cả những kẻ Chúa Cha đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai!”.

Con gái của Bertrand Russell tâm sự: “Đã một thời, trong sâu thẳm tâm hồn cha tôi, có một khoảng trống được Thiên Chúa lấp đầy; nhưng khi ông tống Ngài ra, ông không bao giờ tìm được bất cứ điều gì khác để đặt vào đó!” – Katharine Tait.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết: con người có thể đẩy Thiên Chúa ra khỏi đời mình; nhưng không gì thay thế được Ngài. Một ‘lỗ hổng mang hình Chúa’ ở đó âm thầm đòi được lấp đầy; và chính nơi đó, lời hứa “không để mất một ai” của Chúa Giêsu bắt đầu vang lên.

Trong bối cảnh diễn từ Bánh Hằng Sống, sau dấu lạ hoá bánh, Chúa Giêsu không dừng lại ở của ăn mau hư nát, nhưng hướng đám đông đến của ăn thường tồn – chính Ngài. Trong viễn tượng Gioan, cơn đói này mang chiều kích cánh chung – eschatological – quy hướng về viên mãn – pleroma – nơi chính Ngài. “Không để mất một ai” không tách rời mặc khải này: Ngài là bánh từ trời; ai đến với Ngài sẽ không còn đói, ai tin vào Ngài sẽ không còn khát. Như thế, ‘lỗ hổng mang hình Chúa’ không chỉ là một cảm nghiệm; nó gặp được lời đáp ngay trong con người Chúa Giêsu – Đấng không chỉ nói về sự sống, nhưng trở thành bánh nuôi sự sống.

Vậy mà cơn khát của con người là khôn cùng – như Origen nói: “Người là chúa hụt nhớ miền trời xa!”. Mỗi lần chúng ta tưởng đã đủ, nó lại lên tiếng; mỗi lần chúng ta tưởng đã nắm, nó lại tuột đi. Bởi lẽ, ‘lỗ hổng mang hình Chúa’ không chấp nhận những gì ít Chúa hay không mang hình Ngài; chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy lỗ hổng có dáng dấp Ngài. Thế nhưng, đứng trước một sự viên mãn như thế, chúng ta lại chần chừ; như thể sợ đánh mất điều gì đó rất quen.

“Đừng sợ Chúa Kitô! Ngài không lấy gì đi nhưng ban cho bạn tất cả. Hãy dâng toàn thân cho Ngài, chúng ta sẽ nhận lại gấp trăm. Vâng. Hãy mở ra, mở rộng những cánh cửa cho Chúa Kitô và bạn sẽ tìm thấy sự sống đích thực!” – Bênêđictô XVI. Trải nghiệm ‘mở ra’ ấy cũng là trải nghiệm của Saolô – một biệt phái cuồng tín, hãnh tiến, mù quáng, đã từng lầm lạc bách hại Hội Thánh – bài đọc một. Nhưng một khi mở ra cho Chúa Kitô, ông không còn là mình như trước; Saolô trở nên Phaolô, một lợi khí của Ngài. Hội Thánh mừng vui, dân ngoại hân hoan, và “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Tôi sẽ không để mất một ai!”. Chúa Kitô không để mất một ai; Ngài đi tìm và chạm tới từng cuộc đời. Một Matthêu ở bàn thu thuế; một Giakêu leo lên cây; một phụ nữ khát bên giếng giữa trưa; một người bị bắt quả tang trong tội. Và ở phút cuối, trên thập giá, Ngài vẫn kịp lấp đầy một cuộc đời đang tàn lụi. Nghịch lý thay, Đấng lấp đầy mọi sự lại muốn được “lấp đầy” bởi tình yêu của con người; không phải vì Ngài thiếu, nhưng vì Ngài yêu. Một ‘giấc mơ kép’ mở ra: con người được lấp đầy bởi Thiên Chúa, và Thiên Chúa được lấp đầy bởi con người.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không đầy ắp Chúa, trái tim con sẽ đầy những thứ không phải Ngài. Cho con biết con thuộc về ai. Hãy lấp đầy con và con sẽ lấp đầy Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần III Phục Sinh

Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con, thì được sống muôn đời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,35-40

35 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ ! 36 Nhưng tôi đã bảo các ông : các ông đã thấy tôi mà không tin. 37 Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. 39 Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. 40 Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”


 

 “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24) – Cha Vương

Một ngày hạnh phúc trong Chúa nhé. Không quên cậu Nguyện cho nhau và thể giới nhé 

Cha Vương

Thứ 3: 21/04/2026.    (t3-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (Ga 6:1-2)

SUY NIỆM: Có bao giờ bạn tự nghĩ rằng: Tôi theo Chúa để được ích lợi gì? Tin mừng theo Thánh Gioan tường thuật rằng trước khi Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, “Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ”. Lúc này uy tín và ảnh hưởng  của Chúa đang lên cao. Cho nên họ theo Chúa vì lòng vụ lợi chứ không phải do đức tin thật. Vậy trong cuộc sống đạo hàng ngày và qua suốt chặng đường dài từ nhỏ tới khi về già, là một người Công Giáo, bạn nhận thức được điều gì trong tâm hồn? Nếu chỉ nhẩm đi nhẩm lại mấy câu kinh như đọc những câu thần chú để được vào Thiên Đàng thì ai làm chẳng được. Phải không bạn? Nếu hôm nay có người nào hỏi, điều gì làm cho người Công Giáo hãnh diện nhất? Câu trả lời của bạn cho câu hỏi này là gì? Bạn đã và đang làm gì để trưởng thành trong đời sống đức tin? Theo Chúa là một hành trình dài vượt qua những danh lợi ảo tưởng. Bạn hãy nhìn vào các môn đệ của Chúa coi. Từ những kẻ nhút nhát và thất học, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm, dám dùng cái chết để làm chứng cho Tin Mừng phục sinh. Sự thay đổi triệt để này của các môn đệ chính là bằng chứng khả tín cho một đức tin sống động và mạnh mẽ. Nếu được như vậy bạn hãy tìm gặp Chúa hàng ngày trong các Bí Tích do chính Thiên Chúa thiết lập để được biến đổi nhé. 

LẮNG NGHE: Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi phút giây trong cuộc sống trần gian là một chuẩn bị dài lâu cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, xin giúp con luôn tìm kiếm Chúa trong các Bí Tích là “máng thông ơn” qua đó Chúa ban ân sủng để giúp con trở nên giống Chúa mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ thường xuyên hơn.

From: Do Dzung

*******************************************

Hạnh phúc đời con -tinmung.net

Làm ruộng trên đất Mỹ – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu.

Gia đình Phạm, người Việt gốc Bắc, đã rời quê hương và đến California, Mỹ, vào những năm đầu thập niên 1950, trong làn sóng di cư sau chiến tranh. Họ đến bằng con đường hợp pháp nhờ chương trình tái định cư dành cho những người tìm cơ hội làm ăn tại Mỹ, mang theo hành trang ít ỏi nhưng đầy ý chí và khát vọng.

Sau một thời gian sinh sống và tích lũy kinh nghiệm lao động tại California, năm 1951, họ quyết định rời miền duyên hải để định cư tại Stuttgart, Arkansas, nơi vùng đồng bằng rộng lớn, đất đai màu mỡ, nhưng lao động cật lực là điều kiện sống còn. Chính tinh thần tự lực, kỷ luật và đoàn kết gia đình đã giúp họ bắt đầu cuộc sống mới trong hoàn cảnh xa lạ, nơi họ vừa là người nhập cư, vừa là nông dân phải học cách thích nghi với xã hội và tập quán mới.

Tháng Năm, 1951, gia đình ông Phạm thuê 60 mẫu đất từ một điền chủ  ở Stuttgart, Arkansas, người đã mất con trai tại Iwo Jima. Chủ đất thường nhận xét rằng gia đình Phạm làm việc với kỷ luật như những người lính. Minh Phạm, 48 tuổi, cùng vợ là Bùi, 45 tuổi, và sáu người con bước vào mùa vụ mới với bao lo lắng và hy vọng.

Ngày 8 tháng Năm, máy bơm nước của họ bất ngờ hỏng. Cánh đồng lúa cần được tưới nước trước ngày 15 tháng Năm, nếu không hạt giống sẽ không nảy mầm. Giếng sâu 120 feet, nhưng máy bơm thay thế có giá 400 đô-la trong khi họ chỉ có 60 đô-la. Ngân hàng từ chối cho vay, chủ đất cũng không giúp được gì.

Không để thất bại chặn đứng, Minh tập hợp các con lớn – những cậu con trai 18, 16 và 14 tuổi, cùng hai cô con gái 12 và 10 tuổi. Bùi ở lại trông con út và chuẩn bị bữa ăn cho cả gia đình. Không có máy móc, họ bắt tay vào đào một con kênh từ con lạch gần đó – dài 1.200 thước qua đất sét nặng nề của đồng bằng Arkansas. Đất bám vào từng cái xẻng, rễ liễu dày phải cắt bằng rìu, nhưng họ không ngại. Tinh thần và quyết tâm của gia đình thể hiện rõ qua từng nhát xẻng, từng giọt mồ hôi.

Họ làm việc tới 18 giờ mỗi ngày, liên tục năm ngày. Người con út mang nước để duy trì sức lực cho mọi người. Cậu con trai 14 tuổi ngất hai lần vì kiệt sức, nhưng mỗi lần đều quay lại tiếp tục đào. Đêm 14 tháng Năm, ngay trước hoàng hôn, họ cuối cùng cũng thông kênh. Nước tràn vào rạch, lấp đầy 52 mẫu đất vào sáng hôm sau. Lúa bén rễ và phát triển, cứu gia đình khỏi nguy cơ mất mùa.

Vụ mùa đó đã thay đổi vận mệnh gia đình Phạm. Đến tháng Chín, họ tiết kiệm đủ để mua máy bơm mới. Năm 1959, họ mua luôn mảnh đất mà trước đây từng thuê. Người con trai 16 tuổi, Paul, nhập ngũ năm 1952 và phục vụ tại Hàn Quốc. Trong một bức thư gửi về nhà, anh viết: “Các con đã đào được một dặm, giờ con sẽ bước đi trên đó.” Anh trở về an toàn. Cô con gái út, Anna, sau này trở thành kỹ sư nông nghiệp và thường nói: “Chúng tôi thất bại với máy bơm, nhưng con mương thì không.”

Câu chuyện của gia đình Phạm còn là bức tranh sinh động về xã hội nông thôn Arkansas thời hậu chiến. Stuttgart là trung tâm sản xuất lúa của miền Nam nước Mỹ, nơi các nông dân phải đối mặt với hạn hán, đất sét nặng và thiếu vốn. Những người nhập cư như gia đình Phạm không chỉ phải thích nghi với môi trường thiên nhiên khắc nghiệt mà còn phải học luật đất đai, tập quán canh tác và vận dụng kỹ năng lao động từ truyền thống quê nhà. Minh Phạm, người cha, vốn là công nhân may ở California, đã truyền tinh thần kỷ luật và tự lực cho các con, trong khi Bùi Phạm, người mẹ, giữ vững tinh thần và chăm lo cho bữa ăn, sức khỏe cả gia đình. Những người con lớn thể hiện trách nhiệm vượt tuổi, tinh thần sáng tạo và ý chí không khuất phục trước khó khăn.

Sự thành công của gia đình ông Phạm còn gắn với ý nghĩa lâu dài: Paul trở thành người lính kỷ luật và trưởng thành, Anna theo đuổi ngành kỹ thuật nông nghiệp để phát triển giải pháp bền vững cho nông dân. Việc họ duy trì nghề trồng lúa, mua lại đất và cải tiến cơ sở hạ tầng nông nghiệp cho thấy tinh thần tự lực, kiên trì và đoàn kết gia đình luôn là yếu tố quyết định sự thành công. Câu chuyện nhấn mạnh rằng, trong lịch sử nông thôn Mỹ, người nhập cư Việt cũng có thể xây dựng đời sống ổn định và phát triển, góp phần vào cộng đồng, vừa bảo tồn truyền thống, vừa hòa nhập xã hội mới.

Bài học rút ra từ gia đình họ Phạm là sự kết hợp giữa kỷ luật, sáng tạo và tinh thần gia đình có thể vượt qua mọi thử thách. Họ không chỉ vượt qua một cơn khủng hoảng vật chất tức thời, mà còn xây dựng nền tảng cho đời sống lâu dài, thể hiện một triết lý sống giản dị nhưng sâu sắc: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kiên trì và đoàn kết sẽ dẫn đến thành công. Đây là câu chuyện truyền cảm hứng cho mọi thế hệ, nhắc nhở rằng lao động và ý chí con người luôn chiến thắng những nghịch cảnh, và rằng mỗi gia đình, dù xuất thân từ nơi xa xôi, đều có thể tạo dựng tương lai vững chắc qua nỗ lực không ngừng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Những năm tháng tăm tối nhất trong tuổi thơ của Charlie Chaplin

 My Lan Pham 

Ông chỉ là một cậu bé khi mẹ bị đưa vào trại tâm thần và bị giữ lại đó gần hai mươi năm. Năm 1903, ông nhận ra một sự thật lạnh lẽo rằng mình hoàn toàn đơn độc.

Không có người cha để nương tựa, cũng không có mái nhà để quay về. Ông chỉ là một cái bóng nhỏ bé lạc lõng giữa cỗ máy khổng lồ và vô cảm của London.

Muốn hiểu thiên tài của “Gã lang thang nhỏ bé”, người ta phải nhìn vào những năm tháng tăm tối nhất trong tuổi thơ của Charlie Chaplin. Ông sinh năm 1889 trong cảnh nghèo khổ khắc nghiệt ở khu Nam London. Mẹ ông, Hannah, từng là nghệ sĩ sân khấu nhưng dần mất giọng, không còn khả năng nuôi con.

Cha ông gần như không tồn tại. Một người đàn ông chìm trong rượu và qua đời khi mới ba mươi chín tuổi, để lại cho con cái chỉ một cái họ.

Tuổi thơ của Charlie là chuỗi ngày đói khát và chạy trốn. Ông cùng anh trai Sydney sống trong những căn phòng ẩm thấp, tối tăm. Họ chuyển chỗ ở gần như mỗi tháng để tránh tiền thuê nhà, vác theo những tấm nệm mỏng đi qua những con hẻm hẹp phủ đầy sương mù.

Họ ngủ trong những căn hầm lạnh lẽo, nơi tường rỉ nước và không khí đặc quánh mùi than. Khi cuộc sống trở nên không thể chịu đựng nổi, hai anh em bị đưa vào Trường Hanwell dành cho trẻ mồ côi và trẻ nghèo.

Nơi đó giống như một cơn ác mộng.

Bọn trẻ bị lột bỏ quần áo, bị cạo đầu để tránh chấy rận, và bị đánh bằng roi để học cách im lặng.

Với cậu bé bảy tuổi, cái lạnh và thức ăn tồi tệ vẫn chưa phải điều đau đớn nhất. Điều khiến ông tổn thương sâu sắc là cảm giác bị bỏ rơi. Suốt mười tám tháng, không một lần mẹ đến thăm. Trong sự im lặng nặng nề của những phòng ngủ tập thể, ông tự xây cho mình một lớp vỏ để tồn tại. Ông tự nói với bản thân rằng mình sẽ trở thành diễn viên vĩ đại nhất thế giới. Đó không chỉ là ước mơ, mà là cách duy nhất để ông không gục ngã.

Khi mẹ hoàn toàn suy sụp tinh thần vào năm 1903, ông bị đẩy ra đường phố London.

Ông trở thành một đứa trẻ lang thang, đi qua các khu chợ với ánh mắt luôn đói khát.

Ông học cách ngủ đứng trong các ô cửa để tránh cảnh sát. Ông học cách nhanh tay lấy một củ cải hay một mẩu bánh mì rồi biến mất trước khi bị phát hiện.

Ông đứng trước các quán rượu, không phải để uống mà để quan sát. Ông nhìn những kẻ say loạng choạng, những quý ông chỉnh lại chiếc mũ trên đầu, và những người nghèo cố giữ chút phẩm giá dù đôi giày đã rách nát.

Mỗi con người ông gặp đều trở thành một bài học. Ông ghi nhớ từng cử chỉ của nỗi khốn cùng và âm thầm biến chúng thành tiếng cười trong tâm trí.

Sân khấu cuối cùng đã kéo ông ra khỏi bóng tối. Ông có một vai diễn trong vở Sherlock Holmes và từ đó không bao giờ quay đầu lại. Khi đặt chân đến Mỹ, ông mang theo một nỗi ám ảnh duy nhất là không bao giờ muốn đói thêm một lần nào nữa.

Ở tuổi hai mươi sáu, ông đã trở thành biểu tượng của cả thế giới.

Thế nhưng những vết thương từ tuổi thơ chưa bao giờ rời bỏ ông. Ông trở thành một người cầu toàn đến cực đoan, có thể quay đi quay lại một cảnh hàng trăm lần chỉ để đạt đến sự hoàn hảo, như thể cố gắng kiểm soát một thế giới mà trước đây ông chưa từng làm chủ được.

“Gã lang thang nhỏ bé” không chỉ là một nhân vật. Đó là hình bóng của chính tuổi thơ ông, một con người nhỏ bé trong bộ quần áo rộng thùng thình, kiên quyết không để cuộc đời nghiền nát mình.

Charlie Chaplin đã biến cái lạnh, cơn đói và sự cô đơn thành tiếng cười lan tỏa khắp thế giới. Ông chứng minh rằng dù khởi đầu có tăm tối đến đâu, con người vẫn có thể tự viết nên kết cục của chính mình.

Di sản của ông cho thấy rằng tiếng cười đôi khi chính là hình thức dũng cảm nhất để chống lại một thế giới khắc nghiệt.

“Gã lang thang nhỏ bé” luôn đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã không chỉ là một vai diễn, mà còn là người bảo vệ cho đứa trẻ từng bị tổn thương sâu sắc bên trong con người ông.

My Lan Pham

Screenshot

 

Tìm hiểu – SỰ KỲ DIỆU CỦA ĐẤNG TẠO HOÁ

Tìm hiểu – SỰ KỲ DIỆU CỦA ĐẤNG TẠO HOÁ 

1) Chim không đi tiểu. 

2) Ngựa và bò ngủ khi đứng. 

3) Con dơi là động vật có vú duy nhất có thể bay. Xương chân của con dơi mỏng đến nỗi không con dơi nào đi nổi. 

4) Ngay cả khi một con rắn nhắm mắt, nó vẫn có thể nhìn qua mi mắt. 

5) Mặc dù có vẻ ngoài trắng, xù xì của bộ lông của Gấu Bắc Cực, nó thực sự có làn da đen. 

6) Con ruồi trung bình chỉ sống trong 2 hoặc 3 tuần. 

7) Đối với mỗi con người trên thế giới có một triệu con kiến. 

8) Một lượng nhỏ rượu đặt trên miệng con bọ cạp sẽ khiến nó phát điên và tự chích đến chết! 

9) Cá sấu và cá mập có thể sống đến 100 năm. 

10) Một con ong mật có hai dạ dày- một để mật, một để thức ăn. 

11) Voi nặng ít hơn lưỡi cá voi xanh. Trái tim của cá voi xanh bằng một chiếc xe hơi. 

12) Cá voi xanh là sinh vật lớn nhất từng đi lang thang trên Trái đất. 

13) Một con gián có thể sống sót trong khoảng một tuần mà không có đầu trước khi chết đói. 

14) Khi một con cá heo bị bệnh hoặc bị thương, những tiếng kêu đau khổ của nó như lời triệu tập sự hỗ trợ từ những con cá heo khác, cố gắng hỗ trợ nó lên bề mặt để nó có thể thở. 

15) Một con ốc có thể ngủ được 3 năm. 

16) Con chim nhanh nhất, có thể bay nhanh đến 106mph. (Peregrine falcon thực tế là 174km /giờ hoặc 108mph) 

17) Một con bò cho gần 200.000 ly sữa trong cuộc đời. 

18) Con đỉa có 32 bộ não. 

19) Trung bình con mèo ngoài hoang dã chỉ có tuổi thọ khoảng ba năm. Chỉ có mèo trong nhà mới có thể sống được mười sáu năm hay lâu hơn. 

20) Cá mập là động vật duy nhất không bao giờ bị bệnh. Chúng miễn dịch với mọi loại bệnh kể cả ung thư. 

21) Máy dò của muỗi có 47 cạnh sắc nhọn trên đầu để giúp nó cắt qua da và thậm chí là các lớp quần áo bảo vệ. 

22) Bộ não của con người có không gian trí nhớ hơn 2,5 triệu Petabytes là 2.500,500 Gigabytes 

– Kiến thức là chìa khóa.

Hiện tượng sinh học xuất hiện trong việc mất dần khối cơ, sức mạnh và nhiệm vụ của con người khi chúng lớn lên là gì?  

Đây được biết đến với cái tên *Sarcopenia*! 

*Sarcopenia* là sự mất dần khối cơ, sức mạnh và triệu chứng … mất cơ xương và sức mạnh do sự lão hóa… Tình hình có thể khủng khiếp, phụ thuộc vào cá nhân. 

Cùng khám phá và phân tích nhiều cách để ngăn ngừa *sarcopenia* như: 

  1. Hãy tập thói quen, nếu bạn chịu được… Chỉ cần không ngồi, và đừng nằm nếu bạn có thể ngồi!
  1. Mỗi khi có người lớn tuổi bị bệnh, nhập viện, đừng rủ người ấy nghỉ ngơi thêm, hoặc nằm xuống, thư giãn và/hoặc không ra khỏi giường… Không hữu ích gì đâu. Giúp họ đi dạo… Ngoại trừ nếu họ mất sức chịu đựng để làm điều đó.

Nằm 1 tuần mất ít nhất 5% khối cơ! Và đáng tiếc là người cao tuổi không thể phục hồi cơ bị mất! 

Thông thường, hầu hết những người cao tuổi giảm cơ nhanh hơn những người hoạt động! 

  1. *Sarcopenia* còn đáng sợ hơn cả loãng xương!

Với bệnh loãng xương, người ta chỉ cần cẩn thận để không bị ngã, trong khi bệnh loãng xương không chỉ ảnh hưởng đến phẩm chất của cuộc sống mà còn gây tăng đường huyết do khối lượng cơ không đủ! 

  1. Việc mất cơ (atrophy) nhanh nhất là ở các cơ chân…

Vì khi ở tư thế ngồi hoặc nằm, chân không cử động, và sức mạnh của cơ chân bị ảnh hưởng trực tiếp… Điều này đặc biệt quan trọng để chú ý hết sức! 

Lên và xuống cầu thang… đi bộ, chạy bộ và đạp xe đều là những bài tập tuyệt vời, và có thể tăng khối lượng cơ bắp! 

Vì một cuộc sống có phẩm chất  hơn khi về già… Di chuyển… và đừng lãng phí cơ bắp của bạn!!

 Sự lão hóa bắt đầu từ chân đi lên!

 Hãy giữ cho đôi chân của bạn hoạt động và mạnh mẽ!! 

▪️ Khi chúng ta lớn lên mỗi ngày, đôi chân của chúng ta phải luôn hoạt động và mạnh mẽ.

 Nếu bạn không di chuyển chân trong 2 tuần, sức mạnh chân của bạn sẽ giảm đi 10 năm. 

Do đó, tập thể dục thường xuyên như đi bộ, đạp xe v.v… rất quan trọng. 

Bàn chân là một loại cột chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể con người…. Vì vậy hãy: Đi bộ mỗi ngày

S.T.


 

KHI NƯỚC ĐỨC NÓI LỜI TẠM BIỆT ANGELA MERKEL…

Kimtrong Lam

KHI NƯỚC ĐỨC NÓI LỜI TẠM BIỆT ANGELA MERKEL…

Với sáu phút vỗ tay nồng nhiệt, từ ngoài đường, trên ban công, qua những ô cửa sổ, cả đất nước đã cùng nhau vỗ tay suốt 6 phút ,một minh chứng đầy ấn tượng về sự lãnh đạo và tinh thần nhân văn, thật đáng kính!

Người Đức đã bầu bà để lãnh đạo họ, và bà đã dẫn dắt 80 triệu người dân Đức suốt 16 năm với năng lực, sự tận tụy và chân thành. Bà không nói lời vô nghĩa. Bà không xuất hiện ở những con hẻm Berlin chỉ để chụp ảnh. Bà được gọi là “Người phụ nữ của thế giới”

Trong suốt những năm tháng lãnh đạo đất nước, không có bê bối nào được ghi nhận liên quan đến bà. Bà không đưa người thân vào các vị trí trong chính phủ. Bà không nhận mình là người tạo ra mọi vinh quang. Bà không nhận hàng triệu đô la, không tìm kiếm sự tung hô, không nhận những lời hứa hẹn, và cũng không công kích những người tiền nhiệm.

Merkel đã rời vị trí lãnh đạo đảng và trao lại cho người kế nhiệm, để lại một nước Đức và người dân Đức trong tình trạng tốt đẹp.

Phản ứng của người dân Đức là chưa từng có trong lịch sử đất nước. Người dân khắp nơi bước ra ban công nhà mình và cùng nhau vỗ tay tự phát trong 6 phút liên tục ,một màn tri ân trên toàn quốc.

Nước Đức đã nói lời tạm biệt với nhà lãnh đạo của mình, một nhà vật lý học, người không bị cuốn vào hào nhoáng hay ánh đèn, không mua bất động sản xa hoa, xe hơi đắt tiền, du thuyền hay máy bay riêng, dù bà xuất thân từ Đông Đức cũ.

Bà rời nhiệm sở khi nước Đức đang ở đỉnh cao. Bà ra đi mà không để người thân hưởng đặc quyền. Suốt 16 năm, bà hầu như không thay đổi phong cách ăn mặc. Xin kính trọng nhà lãnh đạo thầm lặng này.

Trong một buổi họp báo, một nhà báo hỏi bà: “Chúng tôi thấy bà luôn mặc cùng một bộ đồ, bà không có bộ khác sao?”

Bà trả lời: “Tôi là một nhân viên chính phủ, không phải người mẫu.”

Trong một buổi họp báo khác, họ hỏi: “Bà có người giúp việc dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn không?”

Bà trả lời: “Không, tôi không có người giúp việc và cũng không cần. Chồng tôi và tôi tự làm những việc đó mỗi ngày.”

Một nhà báo khác hỏi: “Ai giặt quần áo, bà hay chồng bà?”

Bà trả lời: “Tôi sắp xếp quần áo, còn chồng tôi vận hành máy giặt ,thường là vào ban đêm vì khi đó điện ổn định và không gây phiền cho hàng xóm. May mắn là tường giữa căn hộ chúng tôi và hàng xóm khá dày.”

Sau đó bà nói thêm: “Tôi nghĩ các bạn sẽ hỏi tôi về những thành công và thất bại trong công việc chính phủ chứ?”

Bà Merkel sống trong một căn hộ bình thường như mọi công dân khác. Bà đã sống ở đó từ trước khi trở thành Thủ tướng Đức, và chưa từng rời đi. Bà không sở hữu biệt thự, người giúp việc, hồ bơi hay khu vườn riêng.

Merkel – cựu Thủ tướng Đức, lãnh đạo của nền kinh tế lớn nhất châu Âu!

IFACT.


 

Chương trình hoàn trả $166 tỷ tiền thuế quan, lớn nhất lịch sử Mỹ, bắt đầu

Ba’o Nguoi-Viet

April 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Chính quyền Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Hai, 20 Tháng Tư, đã khai triển một hệ thống để bắt đầu hoàn trả $166 tỷ tiền thuế quan cho các nhà nhập cảng, theo Fox New cho hay.

Hành động này diễn ra sau khi Tối Cao Pháp Viện (TCPV) phán quyết rằng các mức thuế quan đối ứng do Tổng Thống Trump đơn phương áp đặt là bất hợp pháp, mở đường cho một trong những chương trình hoàn tiền lớn nhất trong lịch sử Mỹ.

Costco là một trong những nhà nhập cảng kiện chính quyền Trump để đòi hoàn tiền thuế quan. (HÌnh: Scott Olson/Getty Images)

Hệ thống này, có tên là Quản Lý Và Xử Lý Tập Trung Các Hồ Sơ Nhập Liệu (CAPE,) cho phép Cục Quan Thuế Và Biên Phòng (CBP) phát hành các khoản thanh toán điện tử tổng hợp cho các nhà nhập cảng, giúp đơn giản hóa quy trình hoàn tiền vốn phức tạp theo từng lô hàng.

Hiện tại trang web chính thức của CBP đã cập nhật tất cả thông tin về CAPE, cũng như những hướng dẫn cần phải làm để được chính phủ hoàn lại số thuế quan.

Ông Michael Lowell, một thành viên của công luật ReedSmith, nói với Fox News: “Về cơ bản, đây là một con đường nhanh để xử lý việc hoàn tiền.” Đồng thời ông cho biết các nhà nhập cảng sẽ cần nộp hồ sơ yêu cầu, nhưng quy trình sẽ tương đối đơn giản.

“Các Cơ Quan Thuế Quan ước tính rằng các khoản hoàn thuế sẽ được giải quyết trong vòng 60 đến 90 ngày kể từ khi nộp hồ sơ,” ông nói thêm. “Nếu các nhà nhập cảng nộp đơn ngay khi hệ thống bắt đầu mở, các khoản hoàn thuế có thể bắt đầu được chi trả từ giữa Tháng Sáu đến giữa Tháng Bảy.”

Việc khai triển hệ thống này đánh dấu giai đoạn đầu tiên của nỗ lực hoàn thuế. Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với việc không phải tất cả các nhà nhập cảng hay các nhóm thuế quan đều sẽ đủ điều kiện ngay lập tức.

Các khoản hoàn trả này bắt nguồn từ quyết định của TCPV đưa ra vào Tháng Hai, bác bỏ các mức thuế quan của Tổng Thống Trump, mở đường cho một trong những chương trình hoàn tiền lớn nhất trong lịch sử Mỹ.

Tin từ Fox News cho biết sẽ có nhiều doanh nghiệp nhanh chóng nộp hồ sơ để thu hồi hàng tỷ USD mà họ đã trả theo các mức thuế mà hiện đã bị Tối Cao Pháp Viện vô hiệu hóa.

Doanh thu từ thuế quan đã đạt mức cao kỷ lục sau các mức thuế do Tổng Thống Trump gọi là “Ngày Giải Phóng,” cho thấy quy mô các khoản tiền hiện đang được hoàn trả cho các nhà nhập cảng.

Thuế quan hoạt động như một loại thuế đánh vào hàng nhập cảng, trong đó các công ty Mỹ thường gánh chi phí ban đầu và chuyển chúng sang “đối tác” bằng cách tăng giá cho nhà bán sỉ, bán lẻ và cuối cùng là người tiêu dùng. Do đó, các hộ gia đình và doanh nghiệp có thể phải đối mặt với chi phí tăng cao đối với nhiều loại hàng hóa, từ thiết bị điện tử đến nguyên liệu thô.

Tuy nhiên, cũng theo Fox News, các chuyên gia thương mại cho rằng việc áp dụng rộng rãi các mức thuế quan vẫn còn lâu mới kết thúc.

“Thuế quan sẽ không biến mất. Điều đó là rõ ràng. Đây là một cấu phần trọng tâm trong chính sách kinh tế và thương mại của chính quyền,” ông Michael Lowell nhận định.

Ông Lowell chỉ ra hành động của chính quyền đã nhanh chóng áp đặt các mức thuế quan mới dựa trên một thẩm quyền pháp lý riêng biệt, được gọi là Mục 122, ngay sau phán quyết của Tối Cao Pháp Viện, đồng thời lưu ý rằng các biện pháp này hiện đã phải đối mặt với những thách thức pháp lý.

“Chính quyền đang nắm trong tay những công cụ mà họ đang tích cực sử dụng để áp thuế đối với một số mặt hàng nhập cảng nhất định từ một số quốc gia cụ thể,” ông Lowell cho biết. “Thuế quan sẽ tiếp tục hiện diện, ít nhất là trong suốt phần còn lại của nhiệm kỳ chính quyền Tổng Thống Trump.”

Ông Lowell chỉ ra rằng, các mức thuế quan áp đặt trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump về cơ bản vẫn được duy trì dưới thời chính quyền Biden, qua đó nhấn mạnh tính bền vững của các chính sách này qua nhiều đời chính quyền.

Do đó, ông khuyến khích các doanh nghiệp nên thực hiện các bước ngay từ bây giờ để chuẩn bị cho tình trạng bất ổn vẫn đang tiếp diễn.

“Chúng tôi khuyên các doanh nghiệp nên giải quyết dứt điểm những vấn đề này ngay từ khâu soạn thảo hợp đồng, cần đưa ra các điều khoản thật rõ ràng về việc ai sẽ chịu trách nhiệm đối với khoản thuế quan, cũng như quy trình xử lý hoàn thuế trong trường hợp các mức thuế này bị vô hiệu hóa và phát sinh các khoản hoàn trả tương ứng.”

Vào đầu Tháng Ba, sau phán quyết của TCPV, CBP đã trình bày với thẩm phán Tòa Thương Mại Quốc Tế (ICT) rằng hiện tại họ không thể tuân thủ lệnh yêu cầu họ phải bắt đầu hoàn lại khoảng $166 tỷ số tiền mà họ thu được từ thuế quan đối ứng mà Tổng Thống Donald Trump áp đặt vào năm ngoái. Nhưng CBP cũng cho biết rằng họ có thể bắt đầu hoàn lại thuế quan vào cuối Tháng Tư sau khi nâng cấp công nghệ. (K.L) [kn]


 

Chiến tranh Mỹ-Iran gây ra nhiều khó khăn kinh tế cho cả thế giới-Thiện Lê/Người Việt

April 20, 2026

Thiện Lê/Người Việt

SAN FRANCISCO, California (NV) – Chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Iran đang gây ra nhiều hậu quả về kinh tế, ảnh hưởng đến người tiêu dùng khắp thế giới. Những ảnh hưởng kinh tế đó là chủ đề của buổi hội thảo do Truyền Thông Cộng Đồng Mỹ (ACoM) tổ chức hôm Thứ Sáu, 17 Tháng Tư.

Phong tỏa eo biển Hormuz gây ra nhiều hậu quả kinh tế. (Hình minh họa: Ander Gillenea/AFP via Getty Images)

Chiến tranh làm giá dầu tăng vọt và gây ra nhiều trở ngại cho các thị trường toàn cầu, cũng như vận chuyển, nhất là dầu, và nhiều mặt hàng cần phải đi qua eo biển Hormuz. Điều đó làm người tiêu dùng gặp nhiều khó khăn với giá xăng tăng cao, cũng như tốn kém hơn cho việc đi lại, cho thực phẩm, và nhiều thứ thường ngày khác, tạo ra nhiều áp lực cho cuộc sống.

Các diễn giả thảo luận về việc mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt phong tỏa của Hoa Kỳ. Họ còn nói về lạm phát do chiến tranh gây ra và những bất an về kinh tế cho người tiêu dùng Mỹ cũng như khắp thế giới.

Diễn giả đầu tiên là Tiến Sĩ William Beeman, giáo sư nhân chủng học của đại học University of Minnesota và là chuyên gia về Trung Đông. Ông cho rằng Hoa Kỳ “không thể thắng,” và cuộc chiến đang gây ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Đầu tiên, ông nói những lời nói về chiến thắng của Tổng Thống Donald Trump là sai lầm vì Hoa Kỳ đánh giá thấp sự chống cự của Iran vì Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo (IRGC) đang là thế lực đứng đầu Iran, dựa vào tư tưởng hy sinh vì tôn giáo, nên một thế lực ở nước ngoài không thể đánh bại được.

Nếu loại bỏ được một lãnh đạo, IRGC sẽ nhanh chóng thay thế người đó bằng một lãnh đạo khác vì họ là một xã hội phân cấp cho những người có tham vọng.

Giá xăng tăng vọt vì giá dầu tăng. (Hình: Mario Tama/Getty Images)

Về lạm phát và ảnh hưởng kinh tế toàn cầu, ông cho hay phong tỏa eo biển Hormuz cản trở nhiều đường vận chuyển quan trọng, làm giá dầu tăng vọt. Từ giá dầu tăng, nhiều thứ khác cũng tăng giá như xăng, di chuyển, và thực phẩm. Lạm phát còn tạo ra nhiều áp lực cho rất nhiều gia đình và doanh nghiệp.

Cuối cùng, Tiến Sĩ Beeman cho rằng cách chấm dứt xung đột là Hoa Kỳ rút lui vì đang phải đối mặt với sự chống cự không ngừng nghỉ và khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Diễn giả thứ hai là Tiến Sĩ Ryan Nunn, giám đốc nghiên cứu của Phòng Thí Nghiệm Ngân Sách thuộc đại học Yale University và là cựu luật sư của Ủy Ban Thương Mại Liên Bang (FTC), đào sâu hơn vào lạm phát từ chiến tranh.

Đầu tiên, ông nói về những yếu tố gây ra lạm phát như tăng giá dầu không chỉ làm tăng giá xăng, mà còn gây ra một phản ứng dây chuyền, làm tăng giá xăng hay tăng giá nhiên liệu cho vận chuyển, tăng giá năng lượng cho sản xuất và tăng giá thực phẩm. Điều đó làm tăng giá mọi thứ cho người tiêu dùng khắp thế giới.

Điểm thứ hai là những ảnh hưởng đến hệ thống vận chuyển toàn cầu, nhất là về những thứ cần đi qua eo biển Hormuz. Sự phong tỏa và các hoạt động quân sự ở đó gây ra nhiều trở ngại, ảnh hưởng đến kinh tế bán lẻ và làm tăng giá mọi thứ. Giá cả liên tục tăng tạo ra nhiều áp lực cho gia đình và doanh nghiệp, còn có thể thay đổi suy nghĩ của người tiêu dùng và tạo ra sự bất ổn về tài chánh.

Diễn giả cuối cùng là Tiến Sĩ Anil Deolalikar, trưởng khoa chính sách công cộng của đại học UC Riverside, nói về những hậu quả kinh tế toàn cầu của chiến tranh Hoa Kỳ-Iran.

Lạm phát từ chiến tranh cũng làm giá thực phẩm tăng. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)

Ông cho rằng cuộc chiến không phải là một hoạt động quân sự mà là một chấn động kinh tế ảnh hưởng đến thị trường toàn cầu, nhất là năng lượng và vận chuyển. Mọi giá cả tăng là do lạm phát từ chiến tranh gây tra, và ông giải thích giá năng lượng tăng trở thành “thuế” cho mọi thứ khác, từ sản xuất nhiều sản phẩm đến vận chuyển thực phẩm.

Những ảnh hưởng kinh tế đó sẽ gây nhiều khó khăn cho những người dân có thu nhập thấp ở khắp thế giới vì chi phí cho thực phẩm và năng lượng là một phần lớn trong thu nhập của họ. Vì vậy, ông cho hay Hoa Kỳ cần phải tìm cách giảm căng thẳng vì đó là cách duy nhất để phục hồi kinh tế và ổn định giá cả lại, cũng như phải mở lại những đường vận chuyển quan trọng như eo biển Hormuz. [đ.d.]

Liên lạc tác giả: le.thien@nguoi-viet.com


 

NO – ĐỂ CÒN ĐÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”.

Catharina Siêna đến xin rước lễ chỉ vì một điều: “Con đói lắm!”. Linh mục vừa đi xa về, miễn cưỡng dâng lễ; và khi vừa bẻ Mình Thánh, một phần bỗng biến mất. Ông bối rối tìm, nhưng Catharina nói, “Chúa đã đến với con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cơn đói của Catharina là cơn đói không dừng lại khi đã no; trái lại, khi được no, con người bắt đầu đói cách khác. Tin Mừng hôm nay cho thấy một nghịch lý: ‘no để còn đói’.

Trong Gioan, “đói” không chỉ là thiếu thốn, nhưng là dấu của một khát vọng sâu hơn. Đám đông tìm Chúa Giêsu không phải vì đã hiểu dấu lạ, nhưng vì đã được ăn no; họ tìm bánh, nhưng không nhận ra Đấng ban bánh. Vì thế, Ngài đưa họ vượt qua thứ mau qua, để đến với lương thực thường tồn; “no” không còn là kết thúc của một cơn đói, nhưng là “khởi đầu của một tương quan”: đến với Ngài, tin vào Ngài, ở lại trong Ngài. Trong tương quan ấy, cơn đói không biến mất, nhưng được thanh luyện và hướng về điều nó thực sự tìm kiếm – được ‘no để còn đói’. “Càng có Thiên Chúa, con người càng khao khát Ngài!” – Jonathan Edwards.

Đám đông nại đến manna; nhưng đó chỉ là hình ảnh. “Không phải Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi!” – một chuyển đổi: từ quà tặng sang Đấng ban tặng. Vấn đề không còn là bánh, nhưng là hiện diện; không còn là điều được nhận, nhưng là Đấng được đón nhận. Và tại đây, Chúa Giêsu mặc khải một ego eimi khác: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”.

Têphanô đã ở trong mặc khải ấy. Bị ném đá, ông không cúi đầu, nhưng ngước nhìn: “Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa!” – bài đọc một. Đây không chỉ là sự bất khuất, nhưng là một đời sống đã được biến đổi: ở trong Đấng ông tuyên xưng. “Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác hồn con!” – Thánh Vịnh đáp ca. Vì thế, những lời phó thác và tha thứ không còn là của riêng ông, nhưng là sự vang vọng chính lời của Đấng đã nói trên thập giá. Đó không còn là bắt chước, nhưng là hiệp thông – participatio với Thầy. Chính trong hiệp thông ấy, ông được no – và vẫn còn đói. “Thiên Chúa đã làm người, để con người được trở nên Thiên Chúa!” – Athanasiô.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, mọi sự quy về Cha, và với Cha – các linh hồn. Têphanô đã sống mối tương quan ấy. Chính cái chết của ông đã chạm đến lòng Phaolô và khởi đầu một biến đổi. Cũng thế với chúng ta. Khi ăn Bánh sự sống là Giêsu, ở lại trong Ngài, được Ngài biến đổi – như Têphanô – chúng ta trở nên chứng nhân, tham dự vào công trình còn dang dở của Chúa Phục Sinh – cho thế giới, cho các linh hồn. Như thế, chúng ta tiếp tục khát cơn khát của Cha, đói cơn đói của Cha; dù đã no, vẫn ‘no – để còn đói’. “Khao khát Thiên Chúa lớn lên khi được thoả mãn!” – Grêgôriô Nyssa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con tưởng mình đã no; nhưng lòng con vẫn đói. Xin cho con biết đói Chúa, để không còn khát những điều làm con xa Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần III Phục Sinh

Không phải ông Mô-sê, mà chính là Cha tôi đã cho bánh bởi trời, bánh đích thực.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,30-35

30 Khi ấy, đám đông dân chúng hỏi Đức Giê-su rằng : “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông ? Ông sẽ làm gì đây ? 31 Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép : Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.”

32 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, 33 vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” 34 Họ liền nói : “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” 35 Đức Giê-su bảo họ : “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói ; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ !” 


 

[Chúa] hằng gìn giữ những ai bé mọn,- Cha Vương

Ước mong bạn là một hạt cát tí teo được đặt trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa hôm nay. Xin cậu nguyện cho nhau và thể giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 20/04/2026.   (t3-21)

TIN MỪNG: [Chúa] hằng gìn giữ những ai bé mọn, tôi yếu đuối, Người đã cứu tôi. (Tv 116:6)

SUY NIỆM: Nên bé nhỏ để vào nước Chúa—Con ơi! Hãy dè dặt. Đừng dám tò mò bàn cãi những vấn đề vượt hẳn tầm kiến thức con, nhưng con hãy mưu toan, hãy cố gắng trở nên người rốt hết trong nước Thiên Chúa. Giả sử có ai biết được vị Thánh nào thánh thiện hơn và cao hơn trên nước Trời, nếu người đó không lợi dụng được cái biết ấy mà tự hạ trước mặt Cha và không tung hô danh thánh Cha hơn, thời cái biết đó cũng chẳng ích lợi gì! Ai chỉ nghĩ đến tội lỗi mình nhiều mà nhân đức thì thấp kém, và thấy mình còn kém xa các Thánh; người đó đẹp lòng Cha hơn người chỉ tranh luận về cấp bậc vinh hiển cao thấp của các Thánh. Thà khiêm nhường cầu xin các Thánh với nước mắt, để các Ngài trợ giúp thì tốt hơn uổng công tìm hiểu bí quyết nên Thánh của các Ngài. Các Ngài sẽ hài lòng và rất hài lòng, một khi người đời biết thận trọng và bớt dần những lời nói vô ích. Các Ngài không tự hào vì huân nghiệp, vì các Ngài không nhận gì tốt cho mình, một quy tất cả về Cha và lòng Chúa thương yêu vô cùng đã ban tất cả cho các Ngài. Các Ngài chan chứa một yêu Chúa và một vui sướng khôn lường, nhờ thế các Ngài được vinh hiển và hạnh phúc hoàn hảo. Càng tiến cao trên đài vinh hiển, các Ngài càng tự khiêm và nhờ thế, càng gần Cha và mến Cha hơn, Vì thế, con đã đọc thấy câu; “Họ đặt triều thiên mình trước mặt Thiên Chúa, đồng thời sấp mình trước Con chiên và thờ lạy Đấng hằng sống muôn đời” (Apoc 5, 14). Có người hỏi: “Trong nước Đức Chúa Trời ai lớn nhất” (Math.18,1), mà không biết mình có đáng kể vào số những người bé nhất không? Được ở trên trời, dầu bé nhất cũng là chuyện vĩ đại lắm rồi. Ở trên đó ai cũng cao quý, vì chẳng những được gọi, mà thực tế là con cái Thiên Chúa. “Người rốt hết trên trời cũng hơn ngàn vạn người trần và người tội lỗi dầu có sống trăm tuổi rồi cũng chết” (Is.60,22 và 65, 20). Khi các môn đệ hỏi: “Ai lớn hơn trên nước Trời?”, họ đã được nghe trả lời: “Nếu các con không chịu cải hóa và trở nên như trẻ nhỏ, các con sẽ chẳng vào được nước Trời. Ai trở nên nhỏ bé như em bé này sẽ là người lớn nhất trong nước trời” (Matt. 18, 34). Vô phúc những ai không chịu vui lòng tự hạ làm trẻ nhỏ, vì cửa Trời thấp lắm sẽ không để họ lọt qua. “Vô phúc cho những người giầu đã được yên ủi ở đời” (Luc.4, 24), vì trong khi người nghèo vào nước Thiên Chúa, họ sẽ phải ở ngoài mà tru trếu. “Hỡi người khiêm nhường, hãy hoan hỉ. Hỡi người nghèo khó, hãy vui mừng, vì nước Đức Chúa Trời là của chúng con, miễn là chúng con đứng vững luôn trong đường chân lý” (Luc. 11, 20). 

(x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q3:58 t.t.) 

LẮNG NGHE: Trong anh em, ai là người khôn ngoan hiểu biết? Người ấy hãy dùng lối sống tốt đẹp mà chứng tỏ rằng: những hành động của họ phát xuất từ lòng hiền hậu và đức khôn ngoan. (Gc 3:13

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết trở nên bé nhỏ, biết sống khiêm tốn và chân thành.

THỰC HÀNH: Người xưa nói: “Nhẫn một chút sóng yên gió lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”. Mời bạn hãy áp dụng câu này vào đời sống gia đình để được bình an và thênh thang cõi lòng nhé. 

From: Do Dzung

****************************************

Lm Thái Nguyên, Bảo Trân – Tâm Tình Mến Yêu

ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN – Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Tác giả: Phùng Văn Phụng  

Thông thường người Công giáo là người được sinh ra trong gia đình mà cha mẹ, ông bà là người có đạo nên được rửa tội từ thuở nhỏ và lớn lên mỗi Chúa nhật đều đi nhà thờ, tham dự thánh lễ là một chuyện tự nhiên, bình thường. Hoặc khi lấy vợ, lấy chồng là người Công giáo, rồi học đạo, làm lễ ở nhà thờ cũng trở thành người Công giáo. Còn số người lớn cảm nhận về đạo Công giáo thấy yêu mến đạo, yêu mến Chúa Kitiô và Đức Mẹ Maria, rồi theo đạo cũng không phải là ít. Thường những người lớn tuổi này đến với nhà thờ Công giáo, đến với Chúa Giê-su và Đức Mẹ thông qua nhiều nguyên nhân thường do ảnh hưởng từ bạn bè là những người Công giáo sống đức tin, đạo hạnh hay ảnh hưởng từ gương sống của các Thầy cô dạy ở trung học hay Đại học hay gương lành của các tu sĩ, Linh mục hay các Sơ đã hy sinh đời mình phục vụ cho tha nhân, nhất là phục vụ cho những người kém may mắn như những người bị bịnh phong cùi, người tàn tật đui mù, bịnh sida v.v…hoặc có được ơn riêng, Thiên Chúa đánh động họ để họ tìm về cội nguồn yêu thương là Thiên Chúa tình yêu. 

Khoảng năm 1533, đạo Thiên Chúa truyền bá sang nước ta cho đến ngày hôm nay, đã trải qua nhiều sự thăng trầm. Những lúc đạo Chúa bị bách hại dữ dội nhất lại thường nuôi dưởng và phát triển tinh thần bác ái, yêu thương và sản sinh ra nhiều vị Thánh tử đạo…  

Bài này chỉ nói đến một vài nhân vật đã đến với Đạo Chúa như sự kiện bình thường nhưng ẩn tàng bên trong là một sự chuyển biến lâu dài về tâm lý, tình cảm, lý trí rất phức tạp của con người để đến hay nói đúng hơn trở về nguồn tình yêu vô biên của Thiên Chúa toàn năng. 

Minh Đức Vương Thái Phi: (1558-1649) 

Bà là vợ thứ 10 của Chúa Nguyễn Hoàng. Lúc sinh Hoàng Khê bà mới 21 tuổi, chúa Nguyễn Hoàng 64 tuổi. Bà được lảnh bí tích Rửa tội vào năm 1625 (lúc ấy bà chừng 51, 52 tuổi) tên thánh là Maria Ma-da-Lê-Na, tại Phước Yên do Cha Francesco di Pina, Dòng Tên người Ý.  

Theo cha Đắc Lộ, người có mặt Lễ Rửa tội của bà Minh Đức, thì trước kia bà là người rất sùng đạo Phật. Khi đã theo Công giáo bà lại đem hết mình phụng sự đức tin mà còn sốt sắng hơn trước nữa. Cha Đắc Lộ đã là nhân chứng về đời sống đạo của Bà: 

“Trong Dinh của bà, bà lập ra một ngôi nhà nguyện rất đẹp, mà bà vẫn cố duy trì trong cơn cấm đạo ngặt nghèo. Bà mở rộng cửa cho các giáo hữu của tỉnh đến cầu nguyện…Bà đã dùng các lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người rất sùng Phật trong nước trở lại với Đức tin Công giáo trong số đó có cả những người họ hàng với nhà chúa. 

Trong thời gian này, ngày 26-7-1644 thầy giảng An rê chịu tử đạo làm bà Minh Đức rất là đau đớn. Nhưng nỗi đau đớn nhất là con bà, ông Hoàng Khê, để lấy lòng chúa Thượng, đã cho phá nhà nguyện của mẹ ngày 20-2-1645. Năm sau, ngày 22-8-1646 ông Hoàng Khê qua đời không được rửa tội. Cái chết chưa được rửa tội của con càng làm cho bà Minh Đức đau đớn vô cùng. 

Theo các tài liệu bà Minh Đức chết vào khoảng cuối năm 1648 hay đầu năm 1649 như vậy bà thọ ngoài 80 tuổi.  

nguồn:  http://www.dongcong.net/DoiSongKH/GuongTruyenGiao/14.htm    

 Thi sĩ Nguyên Sa – Giuse Trần Bích Lan:(1932  – 1988) 

Nguyên Sa là nhà thơ lớn, nhà giáo nổi tiếng dạy triết học tại trường trung học Chu văn An và mở những lớp Triết riêng để luyện thi Tú tài 2. Ông dạy rất nhiều trường tư thục lớn ở Sài gòn. Tôi đã say mê Nguyên Sa từ những bài thơ trong tạp chí Hiện Đại khoảng năm 1961, 1962. Những câu thơ như: 

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông …

 Hôm nay Nga buồn như con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chẳng là nước biển.

 Hay: 

Tôi đã gặp em từ bao giờ

Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya

Kể từ gió thổi trong vừng tóc

Hay lúc thu về cánh nhạn kia.

Có phải em mang trên áo bay

Hai phần gió thổi một phần mây

Hay là em gói mây trong áo

Rồi thở cho làn áo trắng bay…  

đã như đi sâu vào tâm hồn của đa số người dân miền Nam yêu thơ thời đó nhất là người Sài gòn thích thơ trong đó có tôi. 

Trong bài “Vài kỹ niệm với nhà thơ”, nhà văn Xuân Vũ Trần Đình Ngọc viết: “Câu chuyện lan man đi qua vấn đề tôn giáo. Nguyên Sa nói: “Nhân tiện có anh và anh Q.T. là người theo đạo Công giáo. Tôi hỏi các anh, nếu tôi muốn theo đạo thì phải làm sao?” 

Tác giả viết: “Tôi nói: Dễ thôi. Anh Q.T. hoặc tôi sẽ giới thiệu anh đến một vị Linh Mục, vị này là linh hướng cho anh….Vị Linh Mục sẽ giải thích những lẽ chính trong Đạo và đưa anh một cuốn sách nhỏ dặn anh về đọc và ghi nhớ. Rồi vị Linh Mục hỏi xem anh có nhập tâm và tin – nhất là tin – những điều đó không? Sau khi đã qua những chặng chuẩn bị tâm hồn anh được chịu phép Rửa tội và được rước Chúa vào tâm hồn. Có 10 điều răn của Đức Chúa Trời và 6 điều răn của giáo hội, anh cứ theo như thế, tức là trở thành tín hữu tốt. Ngày thi sĩ Nguyên Sa chịu phép Rửa tội, anh có viết thiệp báo tin cho tôi. ..” 

Tác giả viết tiếp: “Tôi biết anh đã ra đi yên ổn vì anh có tâm sự với tôi lúc còn sống anh chỉ ước ao được chết Lành như một tín hữu Công giáo. Năm đó là năm 1998, anh thọ được 66 tuổi”. 

nguồn:  http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=294&ia=9417    

Ca sĩ Duy Khánh: (1936- 2003) (Micae Nguyễn văn Diệp). 

Trong báo: “Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” số 200, tháng 3 năm 2003, Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng có viết bài: “Ca Sĩ Duy Khánh & Cuộc trở lại Đạo cuối đời” cho biết Duy Khánh tên là Nguyễn văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh của Duy Khánh là Cụ Nguyễn văn Triển, Dân Biểu Hạ Nghị Viện VNCH, pháp nhiệm 1 (1967-1971). 

 Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng viết: “Buổi tối ngày lễ Giáng sinh 25-12-2002 anh Văn Đức Thạnh đã gọi điện thoại cho tôi biết “Duy Khánh muốn gặp một Linh Mục”.Vì là ngày lễ lớn nên các nhà thờ đều bận rộn… mãi đến sáng hôm sau, ngày 26-12-2002 tôi mới liên lạc được với Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ, Quản nhiệm cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại nhà thờ Anaheim. 

Khoảng 9 giờ sáng hôm đó, anh Văn Đức Thạnh đã lái xe đưa Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ đến tại bịnh viện Fountain Valley, phòng số 110 để gặp Duy Khánh. Tôi cùng bà Thơm đi theo xe của anh Thạnh đến thăm Duy Khánh luôn. Bên cạnh Duy Khánh lúc đó chỉ có người con gái của anh (cô Tiên) và chúng tôi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp mặt và trực tiếp nói chuyện với Duy Khánh. Anh Thạnh giới thiệu Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ là người đồng hương đến thăm. 

Linh Mục đã hỏi Duy Khánh:

-“Có phải anh muốn gặp Linh Mục người Việt nam hay không?”

Anh Duy Khánh trả lời:

-“Đúng như vậy, tôi muốn gặp một Linh Mục Việt Nam để xin theo đạo Công giáo”. 

Linh Mục nói chuyện với anh khoảng 15 phút xác nhận lúc đó anh còn tỉnh táo và còn sáng suốt để trả lời những câu hỏi của Linh Mục. Sau đó Linh Mục cử hành nghi thức “Rửa tội” cho anh Nguyễn văn Diệp tức ca nhạc sĩ Duy Khánh. Người đỡ đầu là anh Văn Đức Thạnh.Tên Thánh được chọn cho Duy Khánh là Micae (Michael) cũng là tên Thánh của anh Thạnh… 

Nghe tin anh đã theo đạo Công giáo, một người bạn đến thăm và hỏi anh: 

-“Bây giờ anh có hối hận gì về quyết định xin theo đạo và chịu phép Rửa tội hay không?”

Anh đã trả lời: 

-“Tôi không hối hận gì.” 

Mấy ngày sau đó, sức khỏe của anh khả quan hơn trước nhiều. 

Ngày mùng Một Tết Nguyên Đán (Quý Mùi), Linh Mục Nguyễn Đăng Đệ và một số bạn bè đến thăm, thấy sức khỏe của anh bình thường. Nhưng kể từ ngày mồng hai Tết trở đi, sức khỏe của anh ngày càng xấu đi. 

Lúc 12 giờ 05 trưa thứ tư, 12 tháng 02 năm 2003, Anh Micae Nguyễn văn Diệp tức Ca Nhạc Sĩ Duy Khánh đã từ giả mọi người để vĩnh viễn ra đi qua bên kia thế giới. 

GS Nguyễn Lý Tưởng viết: “Hơn hai mươi năm trước, khi nhạc sĩ Vũ Thành An trở lại Đạo Công giáo ở trong nhà tù Cộng sản tại Hà Tây (miền Bắc Việt nam), tôi có nói rằng người nghệ sỹ chân chính luôn khao khát Chân, Thiện, Mỹ và họ sẽ được gặp Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa hay Thượng Đế hay ông Trời là nguồn của Chân, Thiện, Mỹ. Tôi nghĩ rằng Duy Khánh cũng ở trong trường hợp đó. 

Tang lễ của anh được cử hành tại cộng đoàn tam biên (nhà thờ Sait Callitus) lúc 9:30 sáng thứ bảy 22-2-2003. 

Cựu hoàng Bảo Đại: (1913 – 1997).

Trong bài “Bất trắc và bất ngờ trong lịch sử ” đăng trên báo Dấn Thân, bộ 5 số 12 tác giả Linh Mục Nguyễn Thái Hợp có viết: “Sau khi bị truất phế qua cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 10 năm 1955 ông sống lưu vong tại Pháp.  

Vào giai đoạn cuối đời ông sống đạm bạc ở Paris trong một căn hộ thuộc chung cư ở đường Fresnel, quận 16. Chung cư này nằm cạnh khu đồi của công viên Trocadero. Những ngày đẹp trời ông thường đi dạo chung quanh khu công viên Trocadero. Thỉnh thoảng cũng ghé vào nhà thờ Saint Pierre de Chaillot nằm gần đấy để thăm Linh Mục Argomathe, chánh xứ Chaillot, một chuyên gia về lịch sử, khởi đi từ những câu chuyện văn hóa và thời sự vô thưởng vô phạt. Cùng với thời gian, cuộc đàm đạo càng ngày càng đi sâu vào lảnh vực tư tưởng và tâm linh, đặc biệt về Kitô giáo. Cựu hoàng tìm gặp nơi niềm tin Kitô giáo ý nghĩa, niềm vui và lẽ sống ở đời. Chính vì vậy bất chấp ý kiến không đồng thuận của một số người, ông nhất quyết xin gia nhập Đạo Chúa. Ngày 17 tháng 4 năm 1988 ông chịu phép thanh tẩy tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot với tên Thánh là Jean Robert. Liền theo đó, ông chịu phép thêm sức và cử hành lễ hôn phối với bà Monique Baudot.  

Năm 1995 chính cựu hoàng Bảo Đại với tư cách là vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn và đồng thời là người Công Giáo đã xin yết kiến Đức Giáo hoàng Gioan Phao lô II đã chính thức thay mặt nhà Nguyễn nói lên lời xin lỗi Chúa và Giáo hội.Trong lá thư đề ngày 31 tháng 03 năm 1995 gởi cho Giáo hoàng Gioan Phaolô II để xin yết kiến, cựu hoàng đã viết: “Đây là dịp hạnh phúc cho chúng tôi được quỳ bên cạnh Đấng kế vị thánh Phêrô để cầu nguyện cho Việt nam và Giáo hội đang chịu đau khổ ở đó. Và qua sự kiện chúng tôi đã chịu phép thanh tẩy đem lại cho đồng bào chúng tôi niềm xác tín vào tình thương vô biên của Thiên Chúa qua Đức GiêSu Kitô, Đấng an ủi những người đau khổ. Ngày 24-6-1995 ông và phu nhân được Đức Gioan Phaolô II tiếp kiến riêng tại Vatican… 

Linh mục chánh xứ Chaillot cho biết sau khi gia nhập đạo cựu hoàng Bảo Đại rất ngoan đạo. Ông thường đến nhà thờ cầu nguyện và đặc biệt sùng kính Đức Mẹ Maria. 

Cuối tháng 6 năm 1997 cựu hoàng Bảo Đại được đưa vào Quân Y Viện Val De Grace ở Paris. Ông từ trần lúc 5 giờ sáng ngày 31- 7- 1997 hưởng thọ 84 tuổi.  

Thánh lễ an táng được cử hành tại nhà thờ Saint Pierre de Chaillot ngày 5 -8-1997 với sự chủ sự của Linh Mục Guyard, đại diện Hồng Y Giám Mục Paris.  Bài “Magnificat” mà ông thích nhất một lần nữa đã trang trọng ngân vang trong thánh đường theo đúng ý nguyện của người quá cố. 

Chủ tịch nước Việt nam ông Hồ Chí Minh cũng đã có Rửa tội?

Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng viết trong bài “Đi gặp Mác – Ănghen hay lên Thiên đàng?” như sau: 

“Có lời đồn Bác đã chịu phép rửa tội Công giáo khi bị bắt ở Hồng Kông, lời đồn đó có thể đúng, vì những người cộng sản họ có kiêng nể gì đâu. Họ khai thác triệt để câu châm ngôn “Mục đích biện minh cho phương tiện”. Có thể làm bất cứ cái gì, chịu phép rửa tội đôi ba lần cũng được, miễn là đạt mục đích mong muốn. Chịu phép rửa tội để ra khỏi tù chứ đâu là trở nên tín hữu công giáo.”… 

  “Vào năm 1986 có cuộc họp của Ban Thường Vụ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Không hiểu sao cha Huấn cũng có mặt ở Hà nội. Cha già Huấn là người già lão, đã trăm tuổi, mặc dầu rất tinh khôn, nhưng người ta vẫn cho Ngài là lẩm cẩm, lẩn thẩn. Ngài lại hay đi sâu vào các vấn đề huyển bí. Những người đến hỏi số phận người nhà đã qua đời lên Thiên đàng hay ở luyện ngục thì Ngài trả lời ngay lập tức: thường là đang ở luyện ngục…. Hỏi về người đi vắng, như bộ đội còn sống hay chết: Ngài cũng chỉ cho họ biết người đó đang ở đâu, sắp về v.v. Rất nhiều người đến xin khấn để tìm thấy của đã mất. Ngài cho biết hiện của lạc mất đang ở đâu. 

Cha Huấn kể việc Bác lên Thiên đàng: “Một hôm con làm lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, (nơi ngài đang ở, vừa làm việc, vừa hưu) chợt thấy bác Hồ hiện ra nét mặt ủ rủ nói với con: Cụ quên tôi à? Tôi là Hồ Chí Minh, tôi đã được rửa tội. Cụ không cầu nguyện cho tôi à?. Sáng hôm sau, tôi làm lễ cho người. Lễ xong ra đến đầu nhà thờ Kẻ Non, lại thấy Bác Hồ hiện ra, mặt mày vui vẻ người sáng láng cám ơn con, rồi lên thiên đàng.” 

Câu chuyện cha Huấn làm lễ cho Bác là vì Bác yêu cầu. Bây giờ Bác ở đâu? Bác ở lăng có thật không?. Còn linh hồn ở với Mác- Ănghen hay ở trên Thiên đàng? Chỉ có Chúa biết. Nếu ở trên Thiên đàng thì phục vụ cho dân tộc Việt nam nếu ở với Mác- Ănghen thì là tai họa cho dân tộc khổ sở này, đem những thái quá của Mác-Ănghen đến gây muôn vàn tai họa cho Việt nam.” 

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=73862  

Linh Mục Sảng Đình Nguyễn văn Thích: (1891-1978). 

Nữ tu Mai Thành viết: “Linh mục Nguyễn văn Thích là con thứ hai của cụ Lô Giang Tiểu Cao Nguyễn văn Mại. Cụ Mại đỗ thủ khoa thi Hương, rồi phó bảng khoa Kỷ Sửu (1889) Thừa Thiên, được bổ dụng Tri phủ An Nhơn, Bình Định, làm quan đến chức Thượng thư. Cụ bà là Thân thị Vỹ làng Nguyệt Biều, tỉnh Thừa Thiên một dòng họ danh tiếng với các bậc khoa bảng như cụ Thân Trọng Huề, Thượng Thư dưới triều Đồng Khánh, Khải Định.

Từ 4 tuổi cậu ấm Thích đã được thân phụ dạy chữ Hán, rồi lớn lên vác lều chổng đi thi Hương, cậu Thích cũng học chữ Pháp và chữ quốc ngữ rồi vào trường Pelerin gọi là trường dòng do các sư huynh Lasan điều khiển và giảng dạy. Trường này thành lập năm 1904 và học sinh Nguyễn văn Thích được học cả đạo lẫn đời. Nơi đây cậu ấm được học hỏi trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về giáo lý Kitô giáo. 

Trong thời gian học tại Pelerin, học sinh Thích lại có những liên hệ ngày càng mật thiết với Linh Mục tuyên úy Léculier hay cố Lựu nên đức tin vào Đức Giê Su Kitô đấng Cứu thế con Thiên Chúa làm người được thấu hiểu ngày càng thấm đậm trong tâm thức và trí tuệ của chàng thư sinh khao khát Chân, Thiện, Mỹ. 

Với bằng Cao Đẳng tiểu học và một năm sư phạm, thầy Thích được bổ làm trợ giáo tỉnh Khánh Hoà tháng 02 năm 1911. Bốn tháng sau ngày 29 tháng 6, thầy nhận bí tích rửa tội để trở nên con cái Chúa với tên thánh là Giuse Maria tại nhà thờ Bình Cang, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang do Linh mục Charles Eugène Saulcoy tên Việt là Cố Ngoan. 

Được tin sét đánh này cụ Thượng cầm roi đánh nhừ tử “đứa con bất hiếu”. Sau đó cụ Thượng nghĩ đến việc lập gia đình cho con trai đã 26 tuổi. Cụ mời Đức Cha Lý (Cố Allys) đến nhà xin Đức Cha can thiệp làm mai mối với con gái cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài để con mình yên số phận. Nào ngờ đâu khi được “hung tin” này, môn đệ của Đức GiêSu lấy quyết định từ giả gia đình quí tộc. Một đêm thanh vắng thầy Giuse Maria hóa trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi sáng sớm tháng 9 năm 1917, trực chỉ đến tiểu chủng viện An Ninh tại cửa Tùng, tỉnh Quảng trị. Tiểu chủng viện chỉ nhận từ 12 đến 14 tuổi mà thầy Thích đã 26 tuổi thì phải làm sao đây? May mắn là Giám mục Lý (Allys) nắm rõ hoàn cảnh nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo này, vừa học tiếng Latinh và chương trình đào tạo Linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh. Sau đó thầy được gởi vào Đại chủng viện Phú Xuân Huế, 6 năm sau được thụ phong Linh mục ngày 18 tháng 12 năm 1926. 

Cha là nhà giáo từ lúc 20 tuổi. Cha dạy các Thiếu nhi Tiểu học ở Khánh Hoà, dạy các tu sĩ dòng Thánh Tâm Huế, tiểu chủng viện An ninh, Quảng trị, Trung học Khải Định.  

Trong thời gian làm Cha xứ họ Đạo Kim Long Huế, Cha dạy trường Quốc học và các trường tư thục Công giáo Huế. Từ năm 1958 Cha dạy Hán văn các trường Đại học Đà lạt, Huế Sài gòn. Năm 1959 dạy Triết Đông tại viện Hán học. Cha có sáng tác nhiều bài thơ phổ biến trong “Sảng Đình thi tập”. 

Nữ tu Mai Thành viết:“ Ngày 10 tháng 12 năm 1978 Linh mục Giuse Maria Nguyễn văn Thích với tuổi hạc 87, giã từ trần thế để về cõi trường sinh, hội ngộ cùng Đấng Chân- Thiện- Mỹ mà Linh mục đã hiến thân phục vụ đến trọn đời, trọn tình, trọn nghĩa. Phút lâm chung Ngài còn vui vẻ hát ca. Chắc hẳn là những ngày, những giây phút chuẩn bị cuộc ra đi, ngài đã ngắm nhìn bức tranh Đức Maria mà chính tay Ngài đã kính cẩn họa ra với lời ca Ngài đã sáng tác:

                        Bao giờ tôi được lên Trời,

                        Ở cùng Đức Mẹ thì tôi phỉ nguyền. 

Nguon: http://www.chungnhanduckito.net/tacgia/Mai%20Thanh/lm.nguyenvanthich.htm  

 Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn.(1930- 2009) 

Trong quyển “Đất nước tôi”, Hồi ký chính trị của Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đuợc biết ông sinh tại Cần Thơ năm 1930, năm 1951 động viên khóa 1 sinh viên Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức.1953 trúng tuyển khóa 1 Học viện Quốc Gia Hành Chánh. 1957 tốt nghiệp Thủ khoa khóa 1 Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

1958 Quận Trưởng Cái Bè, Định Tường.

1959 -1967 Phó Tỉnh Trưởng Định Tường, Phước Tuy và Long An.

1967-1971 Dân biểu Hạ Nghị Viện.

1971-1975 Chủ tịch Hạ Nghị Viên.

1975 Thủ tướng VNCH. 

Ký giả Hạnh Dương viết: “Trong cuộc phỏng vấn cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã cho hay rằng dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lúc ông làm Quận trưởng Cái Bè, Phó Tỉnh Trưởng Định Tường và Phó Tỉnh trưởng Phước Tuy, ông đã nhiều lần được đảng Cần lao yêu cầu ông trở lại đạo Công giáo, ông đã quyết liệt từ chối. Nhưng khi đến định cư tại Hoa Kỳ, sau khi con gái của ông tử thương vì tai nạn, ông đã buồn, khóc rất nhiều và mắt của ông gần như bị mù. Nghe nói Đức Mẹ Lộ Đức (Lourdes) tại Pháp là nơi linh thiêng và nhiều người khấn xin, đuợc Đức Mẹ chửa lành, nên phu nhân của ông đã đưa ông qua Pháp để đến cầu nguyện tại nơi Đức Mẹ hiện ra với chị Bernadette từ ngày 11-2-1858 đến ngày 16-7-1858 trong 18 lần khác nhau. … 

 Cho đến nay sau ba lần khai mở hầm mộ của nữ tu này để khám nghiệm, làm thủ tục phong Thánh thì điều rất ngạc nhiên xác của nữ tu Marie Bernard này vẫn nguyên vẹn và mềm mại như người đang ngủ. Hiện nay thi thể của nữ tu được bỏ trong quan tài bằng kính trong suốt và để trong nhà nguyện cho mọi người đến kính viếng cầu nguyện. 

Cựu Thủ Tướng nói rằng ông chỉ đi theo đề nghị của vợ ông mà thôi chứ chẳng có tin tưởng gì. Nhưng sau khi thấy những điều kỳ diệu như thế nên ông đã cầu nguyện và không ngờ là sáng hôm sau, sau khi thức dậy, hai mắt ông bừng sáng như chưa hề bịnh tật gì. Và từ đó ông đã xin theo đạo Công giáo và được  thanh tẩy tại Lộ Đức ở Pháp và trở lại Hoa Kỳ đi nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, rất sùng đạo, sống bình dị cho đến giờ phút ông vĩnh biệt gia đình và cộng đồng người Việt tự do tại Hoa Kỳ và Hải ngoại. 

Ông mất ngày thứ tư 20-5-2009. 

Thánh lễ cầu hồn cho linh hồn Phêrô tại nhà thờ Maria Goretti lúc 10 giờ ngày thứ tư 27 tháng 5 -2009,  hạ huyệt tại nghĩa trang Oak Hill, San José. 

nguồn: http://ngothelinh.tripod.com/Nguyen_Ba_Can.html 

Giáo Sư Nguyễn Khắc Dương.  

Nguyên là Giáo sư viện Đại Học Đà Lạt năm 1965-1976. Sinh ngày 24-9-1925 tại Vinh, nguyên quán Thịnh Xá, Hương Sơn, Hà Tỉnh.

Là bào đệ của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện một đảng viên nồng cốt của đảng Cộng sản Việt nam, thân phụ là Nguyễn khắc Niêm, nguyên Án Sát tỉnh Nghệ an vào năm 1930, về hưu  năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng Thư. 

Năm 1938 đậu tiểu học, theo học chương trình Pháp tại trường Thiên Hựu, trường tư thục có giá trị nhất thời đó. Tác giả viết: “Cái quyết định của mẹ tôi là do sự xếp đặt của Thiên Chúa, có vậy mới biết đến Chúa Giêsu, mới là tín hữu của Ngài”. 

Sau tú tài II tác giả từ giả Huế về quê với tâm niệm mình là một Phật tử với ý nguyện sẽ xuất gia khi gặp dịp thuận tiện. Trên đuờng về quê tác giả ghé thăm anh Vương đình Lương, lúc ấy làm Hiệu trưởng trường tư thục Đậu Quang Lĩnh Anh Lương mời cộng tác. “Thế là tôi lại trở vế với môi trường tư thục Công giáo. Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu Huế. Tôi như một cây héo rũ bỗng được hồi sinh. Ngoài các sinh hoạt chức nghiệp, tôi thường liên lạc với các linh mục, các đại chủng sinh giúp nhà xứ Nghĩa Yên. Dần dần tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công giáo mới hợp với con người tôi”. 

Vào năm 1948 tác giả quyết định gia nhập đại gia đình Công giáo. Trong tâm tư thì vậy nhưng đi đến thực hiện quả là còn cách núi ngăn sông. Trước hết là những khó khăn trong tâm tư của chính mình nhất là cảm tưởng phải xa lìa tất cả, xa lìa gia đình, bạn bè, hàng xóm rồi cả mấy mươi năm truyền thống văn hóa.” Trở ngại khách quan khác lớn lao hơn nhiều:  “Đối với nhà nho cỡ lớn ở đất Nghệ Tỉnh có đứa con theo đạo là sự sĩ nhục… thằng con trai  đã bỏ truyền thống của cha ông để đi theo “Tây Dương Tả Đạo” nhất là tôi là con là cháu được khen là hiếu thuận.”   

Vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 1948, tôi đến Đức Thọ  thăm gia đình anh Vương Đình Lương. Ngày hôm sau được Linh mục Vương Đình Ái mời dự bửa cơm mừng lễ với các giáo viên dạy trường Đậu Quang Lĩnh. Sau bữa cơm tôi thưa với Cha Ái về ý muốn lảnh nhận bí tích rửa tội.  

Và ngày Rửa tội là ngày 9 tháng 1 năm 1949, Linh mục rửa tội là Linh mục Nguyễn ngọc Bang  cha xứ Nghĩa Yên. Cha đỡ đầu là Linh Mục Vương đình Ái. 

Nguyễn Khắc Dương vào dòng Phanxicô sống đời dự tu đầu tiên khóa 1949-1950. Tháng 04 năm 1954 rời khỏi nhà dòng vì bị động viên vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trong thời gian này thân phụ bị đấu tố, kết án 20 năm tù và đi cải tạo vài hôm thì từ trần.  

Sau hơn hai năm quân vụ, tháng 10 năm 1956 được tu viện Phanxicô cho sang Pháp học thần học tại Paris (1956-1957). Ra khỏi dòng, học Sarbonne 1957-1960, tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Thử tu tại dòng Biển Đức ở Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ (1961-1963) nhưng không thành vì lý do sức khỏe. Từ năm 1963 đến 1965 dạy học ở nhiều trường trung học Công giáo ở Paris. 

 Cuối năm 1965 Nguyễn Khắc Dương trở về Miền Nam Việt nam. Năm 1966 Linh Mục Nguyễn văn Lập Viện trưởng Viện Đại Học Đà Lạt mời ông lên dạy triết tại đó. 

Khi cộng sản tiếp thu Viện Đại học Đà lạt ông cũng bị đi học tập cải tạo 16 tháng. 

Năm 1975 đến 1986 đổi cư trú trên 10 lần, không nhà, không cửa, không tài sản, không vị trí gì cả trong Giáo hội cũng như trong gia đình và ngoài xã hội.  

http://www.conggiaovietnam.info/index.php?m=module3&v=chapter&ib=46&ict=578 

http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=197&ict=1409  

Nhạc sĩ Vũ Thành An: 

Theo ký giả Hạnh Dương cho biết Nhạc sĩ Vũ thành An kể rằng: “Từ khi có trí khôn tôi vẫn thao thức với câu hỏi: Mình ở cuộc đời này để làm gì?” 

Vũ Thành An kể: “Tôi đã khốn đốn trong các trại giam tại Bắc Việt. Một trong những khốn khổ mà tôi phải chịu là chứng mất ngủ. Từng đêm dài tôi đã thức trắng, sức khỏe dần yếu đi, không có thuốc để chữa chạy. Tình trạng này kéo dài cả năm từ đầu năm 1980 đến 1981. Một tối kia đa số anh em trong phòng đã say ngủ tôi nghe hai anh nói chuyện với nhau chỉ cách chỗ tôi nằm chừng hai thước. Tôi nghe anh Nguyễn văn Lai nói: “Khi nào tôi khó ngủ tôi chỉ cầu nguyện bằng cách chỉ đọc vài Kinh Kính Mừng là ngủ được ngay.” 

Nhạc sĩ Vũ Thành An kể tiếp mặc dầu anh chưa có đạo nhưng Kinh Kính Mừng thì tôi đã biết. Năm 17 tuổi tôi có người bạn gái, lúc đó sự liên lạc của chúng tôi là những trang thư và những buổi hẹn hò trong sân nhà thờ. Gặp chỉ để nói với nhau đôi câu. Một hôm đôi tay rất đẹp trinh trắng của Uyên đã trao tôi trang giấy có ghi bài Kinh Kính Mừng với nét chữ thật nắn nót. Uyên bảo tôi học thuộc đi và tôi đã thuộc. … Cho đến bây giờ tôi cũng không biết Uyên ở đâu, nhưng Kinh Kính Mừng thì ở lại.”   và trong cơn tuyệt vọng ở trại tù Bắc việt, anh đã nhẩm đọc Kinh Kính Mừng và đêm đó anh đã ngủ ngon.giấc. Và sau đó tôi đã ngủ khoảng một tuần lễ liên tiếp. Một buổi sáng thức dậy nhìn qua cửa sổ phòng giam thấy nắng xuân vàng ấm chiếu trên luống rau cải xanh do các bạn tù trồng ngoài sân tự nhiên tôi nói với bố Vũ công Định nằm bên cạnh:” Bố Định ơi, chắc là con theo đạo Chúa quá. Bố Định là một tù nhân không có đạo, ít nói, nghe vậy bố chỉ cười. Bố Định bảo Vũ Thành An đến gặp Thượng Nghị Sĩ Nguyễn văn Mân cùng ở chung phòng 1 tại trại giam Hà Tây để hỏi vì cụ Mân là người Công giáo. 

Vũ Thành An kể tiếp: “món quà đầu tiên sau khi tôi cầu cứu Đức Mẹ là bịnh mất ngủ đã không còn hành hạ tôi nữa.” 

Sau đó anh em đạo Thiên Chúa đã cho tôi tình thân ái mà trước đó tôi không có.và đã hướng dẫn cho tôi chờ ngày Rửa tôi. Nhưng đến ngày ấn định tôi xin ngưng lại. Tôi chưa sẳn sàng về tâm lý và sợ… Nhưng bắt đầu sáng tác thánh ca như “Cha là Ngôi Trời có thật”  “Mẹ ơi cứu con ra khỏi nơi này”  “Hãy nhìn lên Trời cao”. Sau hơn một tháng suy nghĩ, tôi đã xin anh em trong tù định ngày rửa tội cho tôi là ngày 19-3-1981. 

Buổi lễ diễn ra nghiêm trang dường như cả phòng đều biết nên đã giữ yên lặng khác thường. Khi bác Nguyễn thành Tiên vừa dội nước vừa đọc “Tôi rửa anh  nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” thì chừng một hai giây sau đèn điện chớp hai lần rồi bật sáng hẳn.  

Sau buổi lễ rửa tội đó, cán bộ trại đã gọi anh lên thẩm vấn anh lý do anh “gia nhập “đạo Công giáo. Tìm xem Linh mục nào dám rửa tội trong trại vì nếu truyền giáo và hành đạo ở trong trại sẽ bị cùm giam vào sà lim. 

Nhạc sĩ Vũ Thành An qua định cư tại Portland, Oregan theo diện HO. Anh đã xin đi tu và được tòa Giám Mục Portland cho theo khóa Đại học thần học và được Đức Tổng giám Mục John G. Vlazny chủ tế lễ truyền chức Thánh Phó tế vĩnh viễn ngày thứ bảy 23-11-2002.  

Hiện nay Phó tế Vũ Thành An sáng lập và phụ trách Quỹ từ thiện Têrêsa đang trợ cấp cho trên 2000 cụ già ở Việt nam. Nếu tiếp tay cho Quỹ từ thiện xin gởi về: TÊRÊSA P.O.Box 13237 Portland, OR 97213 

nguồn: www.vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=65627 

Linh Mục Nguyễn Viết Chung: 

 Một ngày vào năm 1973 các tờ báo ở Sài gòn đồng loạt đưa tin vế cái chết của Jean Cassaigne một giám Mục Công giáo người Pháp, nguyên làm Giám Mục Sài gòn nhưng lại qua đời tại một trại phong ở Di Linh, một nơi đèo heo hút gió trên đường từ Sài gòn đi Đà Lạt. Nguyễn Viết Chung đọc tiểu sử của vị cố Giám Mục trên báo và không hiểu do đâu anh lại mong muốn được nên giống Ngài ở chỗ phục vụ người cùng khổ cho đến hơi thở cuối cùng. Anh chẳng biết gì về Đạo Công giáo thế mà Đức Cha Cassaigne lại là thần tượng của anh. 

Năm 1974. Chung học Y Khoa Đại Học Đường Sài gòn. Tại đây anh gặp người công giáo đầu tiên trong đời anh là giáo sư bác sĩ Lichtenberger, người Bỉ, dạy môn Mô phôi học. Chung ngưởng mộ sự uyên bác khoa học vô song của ông. Các bài giảng vô cùng sinh động và phong phú của nhà khoa học uyên thâm một cách lạ lùng làm cho Chung mê mẫn. Chung kinh ngạc khám phá vị Giáo sư khả kính này là một Linh Mục dòng tên. Anh thường cùng các bạn trường Y đến nhà thờ để xem Giáo sư Lichtenberger dâng lễ…. 

Những năm học Y khoa không phải là dễ dàng đối với Nguyễn Viết Chung anh phải làm thêm nhiều việc nặng nhọc kể cả đạp xích lô để kiếm tiền ăn học và phụ giúp gia đình.  

Năm 1984, bác sĩ Chung khi đó 29 tuổi, xin được bổ nhiệm lên trại phong Di Linh  để thực hiện giấc mơ lớn nhất của đời anh. Nhưng theo đúng thủ tục hành chánh thì anh phải trình diện và chịu sự điều động của Sở Y tế Lâm Đồng.  

Bà trưởng phòng ngạc nhiên hỏi:  

-“Anh có điên không hay là anh bị cùi?”.

-“Nếu tôi cùi thì bà đã thấỳ rồi.Còn có điên hay không thì tôi không biết nhưng điều tôi biết là tôi mong muốn phục vụ những người cùi.” 

Từ ngày 01-7-1986 anh về làm việc tại phòng chống sốt rét của tỉnh Đồng Nai cho tới năm 1989. Từ năm 1990-1992 đổi về làm tại phòng xét nghiệm của bịnh viện da liễu Sài gòn. Ở đây anh xin học thêm chuyên khoa da liễu vì anh không bao giờ anh quên mộng ước của mình. 

Năm 1993 Bác sĩ Chung tình nguyện lên công tác tại trại Phong Bến Sắn, Bình Dương. Tại đây anh làm việc hăng say như để đạt được tâm nguyện của mình giống như Đức Giám Mục Cassaigne trong việc phục vụ bịnh phong cùi. Anh hết sức tận tụy không nề hà. Nhưng dù như thế anh vẫn thấy mình thua xa các nữ tu nữ Tử Bác ái trong việc yêu thương phục vụ người bịnh. Các nữ tu luôn nhẫn nại lắng nghe phục vụ người bịnh hết lòng, không bao giờ làm họ buồn tủi. Tinh thần hy sinh, quảng đại đó khiến cho anh cảm phục. Anh cho rằng muốn có được tinh thần yêu thương người nghèo khổ như thế anh phải trở thành một người giống như các nữ tu. Anh chưa phải là người công giáo nên anh không thể hiểu được tinh thần làm việc của các Sơ.  Anh cũng muốn được phục vụ với tinh thần giống như các Sơ.  

Ngày 28-8-1993 bác sĩ Chung đến gặp Cha Hoàng văn Đoàn, dòng tên, tại Bình Dương xin học giáo lý tân tòng. Ngày 15 tháng 5 năm 1994 bác sĩ Chung được cha chính xứ Bến Sắn, Linh mục Trần Thế Thuận làm lễ rửa tội cho anh tại nhà nguyện trại phong Bến Sắn. Nhưng bác sĩ Chung chưa hài lòng khi chưa được trở nên giống các Sơ để có thể yêu thương phục vụ người nghèo. Ở tuổi tứ tuần theo đuổi ơn gọi tu sĩ là một điều quá khó khăn.  

Ngày 15.9.1994 bác sĩ Chung trở thành tập sinh lớn tuổi nhất của dòng Vinh Sơn nam số 40 đườngTrần Phú, Đà Lạt. Ngày lễ truyền tin 25.3.2003 Giáo hội trao tác vụ Linh mục cho thầy Augustinô Nguyễn Viết Chung qua lễ đặt tay của Giám mục Giuse Vũ Duy Thống tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài gòn. 

 Ngày  3.4.2003, Linh Mục Nguyễn Viết Chung quay về trại phong Bến sắn dâng Thánh lễ tạ ơn trong sự hân hoan của các bịnh nhân phong với sự hiện diện của cha sở Bến sắn, người mà 9 năm trước đây đã làm lễ rửa tội cho cha. Vẫn thái độ khiêm nhường, yêu thương và cung kính với các người bịnh vẫn xưng mình là “con” khi nói chuyện với các bịnh nhân lớn tuổi. 

Tháng 3 năm 2009 tôi có về Sài gòn có dẫn người cháu đến thăm Linh mục Nguyễn Viết Chung, cha dong dõng cao, hơi ốm, nói năng nhỏ nhẹ: “ “con” cũng chỉ là cái máng để hứng lấy tình yêu thương của mọi người để mang đến cho những người kém may mắn”.   

Nhà văn Hương Vĩnh có viết: “Ba vị đã tác động mạnh mẻ trên ơn gọi của cha Chung là Giám mục Jean Cassaigne, Linh mục Lichetenberger và Dì hai Loan ( phục vụ trại phong Bến Sắn 17 năm, chết vì bịnh ung thư ở tại trại này). Cả ba cùng có mẫu số chung – như lời cha Chung – đó là họ đã rao giảng Tin Mừng cho cha bằng cuộc sống chứ không phải bằng lời nói. 

nguồn:  http://www.chungnhanduckito.net/chungnhan/saubathapnien.htm 

Trong bài “Nguyễn Viết Chung và tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ” cố Giáo sư Trần Duy Nhiên đã viết trong đoạn kết của bài này như sau:  

“Thiên Chúa đã đến trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao nhiêu thần tượng trên thế gian. Nguyễn Viết Chung biết chắc lọc một vài khuôn mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai Loan.. đấy là chưa kể đến nhiều người khác trong đó có thân mẫu của mình một người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt ấy có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác sĩ Marcel Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược nhau. Năm 25 tuổi Cha Lichtenberger vì tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến với những con người bất hạnh tại Trung Hoa. Và trước những thương tích của Chúa Kitô thể hiện trên hình hài các bịnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà trường để rồi trở thành bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, bác sĩ Nguyễn Viêt Chung tốt nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của bịnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chiụ đóng đinh trong những con người bất hạnh. Và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành Linh Mục của Chúa vào tuổi 48.” 

http://www.tiengnoigiaodan.net/lcht/lcht_098.html                     

                             Linh mục Nguyễn Viết Chung

                              479/15 Nguyễn Kiệm

                             Phường 9, Quận Phú Nhuận (Sài Gòn) 

 Tạ Phong Tần:  

Tạ Phong Tần là cựu Đại Úy? ngành Công an của nhà nước cộng sản Việt nam. Đã rời khỏi cơ quan nhà nước và làm việc văn phòng luật sư Lê Trần Luật. Bà đã được Rửa tội ngày 14 -6-2009 tại Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 38 đường Kỳ Đồng Quận 3, Sài gòn, lúc bà 41 tuổi. Bà đã viết nhiều bài báo về thực trạng xã hội Việt nam trong “ Blog Công lý và Sự Thật” mà bà đang chủ trương. 

http://conglysuthat.blogspot.com/2009/07/thanh-le-rua-toi-cho-maria-ta-phong-tan.html   

Nhiều trường hợp gia nhập đạo với nhiều lý do khác nhau như Bác sĩ, Nghị sĩ Đặng văn Sung, Chủ nhiệm báo Chính Luận trước năm 1975, ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh, ca sĩ Thanh Lan (chịu phép thánh tẩy tại Vatican vào năm 2003)… Ở trong nước còn nhiều người nữa như Học giả Cao Xuân Huy, Nhạc sĩ Văn Cao…  

Theo Vietcatholic news (18 Oct 2009) Giáo phận Xuân Lộc đón nhận 1114 tân tòng và hơn 2000 người là thân nhân, họ hàng, bạn bè của các tân tòng. Chủ sự Thánh lễ, Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh chủ chăn của giáo phận Xuân Lộc cùng đồng tế có Đức cha Micaen Hoàng Đức Oanh Giám mục giáo phận Kon tum  v.v.… và hơn 50 cha trong giáo phận.

nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=72201 

Ở mỗi giáo xứ hay mỗi nhà thờ hàng năm đều có làm lễ “Rửa tội” cho người lớn thông thường con số cũng vài chục người. Trong số những người nhận Bí tích thanh tẩy, con số không nhỏ là những người trí thức.

  Con đường đến với Thiên Chúa tình yêu, đến với Hội Thánh Chúa bằng nhiều cách khác nhau. Tất cả đều được Thiên Chúa yêu thương mời gọi tìm về suối nguồn tình yêu là Thiên Chúa toàn năng, để được an ủi, để được hạnh phúc đời này lẫn hạnh phúc vĩnh cữu đời sau, sau khi mất. 

Phùng văn Phụng

mùa Giáng Sinh 2009

(27 tháng 12)

(tri’ch Sách: “Tâm Tình Gởi lại” cùng tác giả)


 

Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?… Chính Thầy đây mà !” (Lc 24:38)-Cha Vương

 Chúc bạn và gia đình ngày Chúa Nhật tràn đầy bình an và sức sống 

Xin Chúa mở tâm trí bạn để có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục Sinh đang sống trong những người bạn gặp gỡ hôm nay. Nhớ cầu nguyện cho nhau và toàn thể giới nhé.

Cha Vương

CN: 19/04/2026    (n23-23)

TIN MỪNG: Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?… Chính Thầy đây mà !” (Lc 24:38)

SUY NIỆM: Người chết sống lại là một biến cố thực sự gây hốt hoảng, khó tin. Khi Chúa hiện đến, các tông đồ đã kinh hồn bạt vía vì tưởng là ma. Chúa Giê-su đã trấn an các tông đồ và minh chứng cho việc phục sinh trước hết bằng các thương tích trên thân xác và ăn uống trước mặt các ông. Con người không phải là thiên thần và càng không là ma quỉ để làm cho người khác phải hốt hoảng ngờ vực về những việc khác thường. Nhiều khi con người lầm tưởng phải là siêu nhân mới có thể làm được những việc siêu nhiên. Con Thiên Chúa đã hoàn tất chương trình cứu độ bằng chính cuộc sống như con người bình thường như bạn vậy. Thân phận con người yếu đuối của bạn đã được Con Thiên Chúa vực dậy bằng cách đóng đinh nó vào thánh giá và phục sinh nó trong địa vị người con của Thiên Chúa. Vững tin vào tình yêu của Đấng Phục Sinh, bạn sẽ bước đi từng bước vững vàng. Do đó khi bạn sống cuộc đời thường nhưng sống thật hoàn hảo theo tinh thần Tin Mừng, trong niềm tin vào Đức Ki-tô phục sinh, tức là bạn đã bước vào lãnh vực siêu nhiên, đã có thể cùng Chúa Giê-su mang ơn cứu độ đến cho thế giới. 

LẮNG NGHE: Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán. (1 Cr 2:14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã phục sinh để dạy con sống thật tốt cuộc sống Chúa đã trao ban hôm nay. Xin giúp con chu toàn cùng với Ơn Thánh Chúa ban.

THỰC HÀNH: Tình nguyện làm việc người khác không muốn làm.

From: Do Dzung

***************************

TRÊN ĐƯỜNG EM-MAU – sáng tác: Lm Thành Tâm / tiếng hát: Ý Hiền-Phạm Phương