TƯỞNG MÌNH THẤY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”.

“Kiêu ngạo là căn bệnh của mắt tâm hồn; nó làm người ta tưởng mình sáng, trong khi họ ở trong bóng tối!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến căn bệnh của mắt tâm hồn. Vì thế, điều nguy hiểm không phải là không thấy, nhưng là ‘tưởng mình thấy’.

Một người mù từ thuở mới sinh được Chúa Giêsu chạm đến và anh được thấy. Nhưng phép lạ ấy lại khơi lên tranh cãi: đám đông bàn tán, cha mẹ anh sợ hãi, các biệt phái tra hỏi và kết án. Họ hỏi, ai đã mở mắt cho anh? Anh trả lời, “Người tên là Giêsu!”. Họ tiếp tục chất vấn, thậm chí mạt sát; nhưng chính lúc ấy, ánh sáng trong anh lại lớn dần. Mắt anh mở ra trong phút chốc; nhưng mắt đức tin mở ra qua cả một hành trình: thoạt đầu anh chỉ biết “Người tên là Giêsu”; rồi “Người là một ngôn sứ”; cuối cùng, gặp lại Ngài, anh sấp mình thưa, “Lạy Ngài, tôi tin!”. “Chúa mở mắt anh; sự thật mở linh hồn anh!” – Grêgôriô Cả.

Đang khi những người tưởng mình hiểu mọi sự lại đi theo hướng ngược lại. Họ không phủ nhận phép lạ, nhưng không muốn thấy điều phép lạ nói lên; vì ánh sáng Giêsu không chỉ mở mắt, mà còn phơi bày trái tim. Bởi thế, thay vì vui mừng với người được sáng mắt, họ lại cố chấp bảo vệ quan điểm – bi kịch của những kẻ ‘tưởng mình thấy’. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” – bài đọc một. Vì vậy, ánh sáng của Thiên Chúa không dừng ở đôi mắt, nhưng chiếu vào tâm hồn; và khi ánh sáng ấy chạm đến, con người được mời gọi “hãy ăn ở như con cái ánh sáng” – bài đọc hai.

Nhưng câu chuyện ấy không xa; nó đang xảy ra nơi chúng ta – những người quen với Lời Chúa, với nhà thờ, với việc đạo, đến mức tưởng mình thấy rõ mọi sự. Nhưng chính lúc đó, chúng ta có thể đánh mất sự đơn sơ của người mù – thừa nhận mình cần được mở mắt. Khi con người ngừng tìm kiếm ánh sáng, họ bắt đầu sống bằng những điều mình nghĩ là đúng. Đó là lúc căn bệnh âm thầm của những người ‘tưởng mình thấy’ bắt đầu lớn lên. Bóng tối nguy hiểm nhất là bóng tối tưởng mình đang ở trong ánh sáng. “Trở ngại lớn nhất của tri thức không phải là ngu dốt, nhưng là ảo tưởng mình hiểu biết!” – Daniel J. Boorstin.

Anh Chị em,

Chiêm ngắm Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra Ngài là Ánh Sáng thật. Ngài đến không để kết án, nhưng để mở mắt con người; không chỉ nói về ánh sáng, nhưng trao ánh sáng. Và đỉnh cao của ánh sáng ấy là thập giá: nơi tưởng như bóng tối đã thắng, nhưng chính tại đó ơn cứu độ bừng lên. Vì thế, “kẻ xem thấy lại nên đui mù” không chỉ là một lời cảnh báo, mà còn là một lời mời gọi. Ai dám nhận mình mù, người ấy có thể được mở mắt; ai khép kín trong sự tự mãn, người ấy có nguy cơ rơi vào bóng tối mà không hay biết. Chỉ khi dám nhận mình mù, con người mới bắt đầu nhìn thấy!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành đôi mắt tâm hồn con; đừng để con tưởng mình đã thấy, trong khi lòng còn ở trong bóng tối!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM A

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 9,1-41

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !” 


 

HIỂU ĐỜI – TÂM SỰ TUỔI GIÀ. Tác giả: Chu Dung Cơ – Thanh Dũng dịch

NHỮNG CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNGTri Duc Nguyen

Tác giả: Chu Dung Cơ – Thanh Dũng dịch

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh, nhưng chỉ có hiểu cuộc đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày, mất một ngày.

Qua một ngày, vui một ngày.

Vui một ngày lãi một ngày…

Hanh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc và vui sướng là cảm giác và cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng có coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng ai mang nó đến, khi chết chẳng ai mang nó theo. Nếu có người cần bạn giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khoẻ và niềm vui thì tại sao không bỏ tiền ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đùng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn ngủi thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh” hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao phẩm chất cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của TUỔI GIÀ.

Tiền bạc rồi sẽ là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khoẻ là của mình.

*Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

*Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một cái, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

*Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào.

*Nhà cha mẹ là nhà của con; nhà của con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy vào ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu “cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử”. Trông vào bạn đời ư ? Người ta cũng yếu, có khi lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Trông cậy vào đồng tiền ư ? chỉ còn cách đấy.

Cái được người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong đời tuỳ thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người ta hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì cho mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình “Tỷ thượng bất túc, tỷ hạ hữu dư”, biết đủ thì lúc nào cũng vui “tri túc thường lạc”.

*Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt mỏi, tự tìm niềm vui.

*Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ người ta cũng nghĩ cả rồi, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên.

*Thực ra nghề cao chẳng bằng tuổi thọ cao,

*Tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc gì muốn làm thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình.

Sống trên đời không thể vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

*Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già;

*Tuổi không già tâm già, thế là không già lại thành già.

Nhưng giải quyết một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá thanh đạm thì khôhg đủ chất bổ, quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu… mọi thứ đều nên “VỪA PHẢI”.

*Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn, tham uống…).

*Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh…).

*Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.

*Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới chữa bệnh….ĐỀU LÀ MUỘN.

Phẩm chất sống người già cao hay thấp chủ yếu tuỳ thuộc vào cách suy tưởng: Suy tưởng hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng suy tưởng hướng lợi để xây dựng cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và tự tin, cuộc sống có hương, có vị. Suy tưởng hướng hại là suy tưởng tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết

“Chơi” là một trong những nhu cầu căn bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi yêu thích nhất, trong khi chơi hãy thử nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm lý và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khoẻ mạnh” đó là nói thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh.. Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu…

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị của mình đó là cách sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên có nhiều bạn gìà trong nhiều thành phần, nhiều mẫu người với nhiều màu sắc khác nhau trong xã hội. Có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình đẹp làm thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hoà giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất, quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống như thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cổ “hay nhớ lại chuyện xưa?” Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân ga cuối. Tâm linh cần trong phòng, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tìm lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thủa nhỏ, cùng bạn sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thanh là một niềm vui lớn của tuổi già.

Nếu bạn đã cố hết sức, mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó. Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, “Quả ngắt vội không bao giờ ngọt”.

“SINH – LÃO – BỆNH – TỬ” là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình dấu chấm hết thật TRÒN.

(Sưu tầm)


 

NỖI ĐAU THỨ 3: Lạc mất con trong đền thờ – Cha Vương

Ngày Thứ 7 an lành trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Bạn thân mến, trong cuộc đời ai cũng có một lần gặp cảnh “tử biệt sinh ly”. Đây là hai nỗi đau lớn của đời người. Mẹ Maria cũng không tránh khỏi được nỗi đau sinh ly, Mẹ lạc mất con. “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con?” Lời trách móc này bộc lộ tất cả trái tim con người của Mẹ. Mẹ đối xử với Chúa Giêsu với tất cả tình cảm của một con người và chính vì là một con người cho nên Mẹ trở thành mẫu mực cho chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin. Mẹ đã yêu thương Chúa Giêsu với tất cả trái tim nhân loại của Mẹ. Ngày nay, Mẹ cũng tiếp tục dõi theo mỗi người chúng ta với trái tim hiền mẫu ấy. Mẹ đã trải qua thử thách, Mẹ hiểu được thế nào là khổ đau. Hơn ai hết, Mẹ đồng cảm với bao nỗi lo lắng và khổ đau của chúng ta. Mẹ hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Mẹ đã từng dõi theo từng bước trong tiến trình trưởng thành của Chúa Giêsu Con Mẹ. Mẹ suy niệm từng biến cố của cuộc sống. Ngày nay cũng thế, không có giây phút nào trong cuộc sống của mỗi người mà không được Mẹ ôm ấp trong lòng. Với niềm tin tưởng ấy, bạn hãy phó thác tất cả những nỗi đau của cuộc sống cho Mẹ.

Cha Vương

Thứ 7: 14/3/2026. (n22-24)

NỖI ĐAU THỨ 3: Lạc mất con trong đền thờ—Trong ngày chịu truyền tin, Mẹ Maria được sứ thần loan báo sẽ sinh hạ Đấng Cứu Thế. Đối với Mẹ, Giêsu là con yêu dấu, là tình yêu, là lẽ sống và là tất cả của Mẹ. Vì thế, ba ngày lạc mất con là ba ngày Trái Tim Mẹ phải héo hon mòn mỏi. Mẹ vội vã lên đường trở lại Giêrusalem tìm Chúa.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che trở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ đau thương, có những lúc chúng con bị lạc mất Chúa Giêsu trong cuộc đời. Xin mẹ giúp chúng con biết mau mắn vội vã như Mẹ, lên đường tìm về cùng Chúa là tình yêu, là lẽ sống và là tất cả của chúng con.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần) 

From: Do Dzung

***************************

MẸ SẦU BI – Lm. Tiến Dũng & Lm. Nguyễn Văn Tuyên- Huy Nguyễn 

Cuba xác nhận đàm phán với Mỹ giữa khủng hoảng phong tỏa dầu mỏ (BBC)

(BBC)

Chủ tịch Cuba Díaz-Canel cho biết lưới điện của đảo quốc này ngày càng “không ổn định”

  • Tác giả, Malu Cursino

Chủ tịch Cuba Miguel Díaz-Canel cho biết chính phủ nước này đang tiến hành các cuộc đàm phán với chính quyền Donald Trump nhằm tìm kiếm giải pháp cho những bất đồng giữa hai nước, trong bối cảnh quốc gia vùng Caribe này tiếp tục chịu ảnh hưởng từ lệnh phong tỏa dầu mỏ của Mỹ.

Ông Díaz-Canel cho biết suốt ba tháng qua Cuba đã không nhận được bất kỳ nguồn nhiên liệu nào.

Các cuộc đàm phán giữa hai nước hiện mới chỉ ở giai đoạn đầu, theo thông báo được phát sóng toàn quốc vào hôm 13/3 của Chủ tịch Miguel Díaz-Canel, người chỉ đạo đoàn đàm phán của Cuba.

Hôm 9/3, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng Cuba đang gặp “rắc rối lớn” và cảnh báo về khả năng “tiếp quản một cách thân thiện” đảo quốc này.

Cuba hiện đang trải qua nhiều đợt mất điện, khi đất nước thiếu nhiên liệu để vận hành hệ thống điện – tình trạng càng trầm trọng hơn do áp lực từ Mỹ.

Kể từ khi trở lại Nhà Trắng, ông Trump đã thể hiện rõ mong muốn thay đổi ban lãnh đạo của Cuba. Ông cũng đe dọa áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ từ bất kỳ quốc gia nào cung cấp dầu cho Cuba.

“Như Tổng thống Trump đã tuyên bố, chúng tôi đang đàm phán với Cuba. Các nhà lãnh đạo của họ nên đạt được một thỏa thuận, điều mà ông Trump tin rằng ‘sẽ rất dễ dàng đạt được'”, Nhà Trắng nói với BBC hôm 13/3.

Havana phụ thuộc rất lớn vào nhiên liệu nhập khẩu để sản xuất điện, trong khi Mỹ đã thu giữ một số lô dầu đang trên đường tới Cuba.

Trước đây, Venezuela được cho là cung cấp khoảng 35.000 thùng dầu mỗi ngày cho Cuba, đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu dầu của đảo quốc.

Tuy nhiên, việc Mỹ tiến hành chiến dịch tại Venezuela và bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro vào đầu tháng 1/2026 đã làm gián đoạn nguồn cung này.

Trong bài phát biểu toàn quốc, Chủ tịch Cuba Miguel Díaz-Canel cho biết việc trong ba tháng qua không nhập khẩu được bất kỳ nguồn nguyên liệu nào đã khiến dự trữ dầu diesel và dầu nhiên liệu của nước này dần cạn kiệt. Vì vậy, hệ thống điện quốc gia ngày càng trở nên “không ổn định”, ông nói.

Nhằm giảm bớt tác động, Cuba đã tăng sản lượng dầu thô và khí đốt trong nước, đồng thời mở rộng sản xuất điện mặt trời.

Play video, “Cuộc sống thiếu điện và nhiên liệu ở Cuba”, Thời lượng 1,42

01:42

Quan hệ giữa Mỹ và Cuba đã trở nên căng thẳng kể từ khi lãnh đạo cộng sản Fidel Castro lật đổ chính phủ được Mỹ hậu thuẫn vào năm 1959.

Các lệnh trừng phạt và cấm vận thương mại của Mỹ đối với Cuba đã được áp đặt từ đầu những năm 1960.

Đảo quốc này chỉ cách bang Florida của Mỹ khoảng 145km về phía nam. Do khoảng cách gần, nhiều người Cuba không ủng hộ chính quyền Havana đã di cư sang Mỹ. Đây cũng là một trong những lý do khiến thành phố Miami có cộng đồng người Mỹ gốc Cuba rất lớn.

Liên quan đến các cuộc đàm phán hiện tại, Tổng thống Donald Trump cho biết Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio – người là con của những người Cuba nhập cư – đang tham gia vào quá trình này.

Ông Rubio hồi tháng Hai đã phát biểu rằng Cuba cần phải thay đổi.

“Cuba cần phải thay đổi mạnh mẽ, vì đó là cơ hội duy nhất để cải thiện đời sống cho người dân,” ông nói với các phóng viên vào ngày 25/2.

Năm 2024, cộng đồng người Mỹ gốc Cuba tại thành phố Miami đã biểu tình ủng hộ tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Cuba, đồng thời vận động cho ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng

Ngoài ra, chính phủ Cuba cho biết nước này sẽ thả 51 tù nhân trong những ngày tới như một cử chỉ “thiện chí” sau các cuộc trao đổi với Vatican.

Động thái này diễn ra vài tuần sau khi Ngoại trưởng Cuba Bruno Rodriguez gặp Giáo hoàng Leo tại Vatican.

Cuba không cho biết liệu những người sắp được thả có bao gồm tù nhân chính trị hay không, nhưng cho biết tất cả họ đều “đã chấp hành phần lớn thời gian bản án và có thái độ cải tạo tốt trong thời gian ở tù.”

Làm rõ về kế hoạch thả tù nhân sắp tới, Bộ Ngoại giao Cuba cho biết từ năm 2010, Havana đã ân xá cho 9.905 tù nhân.

Cơ quan này cũng cho biết thêm rằng trong ba năm qua, khoảng 10.000 người bị giam giữ khác đã được thả “thông qua nhiều hình thức giảm án khác nhau.”

Chính phủ Cuba khẳng định quyết định này là “chủ quyền” của Cuba và phù hợp với thời điểm tuần Thánh trong lịch Kitô giáo.


 

Chú đi bầu chưa mà giờ còn ngủ?

Việt Nam Thời Báo

 Mới sáng sớm ngày bầu cử, chú công an khu vực (CAKV) đã đến gõ cửa từng nhà trong xóm hối đi bỏ phiếu.

Chú Ba mở cửa thấy chú CAKV thì run lắm:

– Dạ trọng kính chú.

Chú CAKV hất hàm hỏi xóc hông:

– Chú đi bầu chưa mà giờ còn ngủ?

Chú Ba dù bị phá giấc ngủ nướng sau một tuần làm việc khuân vác mệt nhọc, bực lắm nhưng cũng phải nhỏ nhẹ:

– Dạ chưa, lát em đi ngay. Dạ kính thưa chú, mà mình bầu cho ai?

Chú CAKV gắt:

– Không chịu coi TV tìm người mà bầu đúng cử cho xứng gì cả, chỉ lo đi làm, vớ vẩn còn hỏi.

Chú Ba thật thà:

– Dạ em xem TV thường lắm ạ. Em thấy từ tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, các bộ trưởng, các ông ở trong ban chấp hành trung ương đảng, rồi đến các ông chủ tịch này chủ tịch khác. Em nhìn mặt mấy ông bà ở trên TV hoài, nghe ở trên TV hoài, nghe họ nói đủ thứ kế hoạch, đủ thứ đạo đức mà cuối cùng thì là dẫn nhau ra toà hàng dây – nào là ăn cắp, hối lộ hàng tỷ tỷ – gái trai lung tung, em chẳng biết qua TV thì ông nào tốt, bà nào xấu, thôi thì chú CAKV sáng suốt, là tai là mắt của đảng, chỉ cho em.

Chú CAKV nghe khen cười tít mắt:

– Ừ. Phiếu bầu có ghi tên 7 người phải không? Cứ gạch người cuối là xong, còn nếu không, cứ bỏ hết vào thùng phiếu, chẳng sợ phiếu trắng bất hợp lệ đâu. Tổ kiểm phiếu người ta sửa lại cho hết đấy. Hay thôi, tiện nhất là đưa hết phiếu cho bà tổ phó an ninh, lát nữa bả đến nhắc đi bầu, nhờ bả bỏ thùng phiếu cho. Cả tổ họ làm vậy đó. Năm nào chả vậy. Cứ thế là tổ đạt trăm phần trăm đi bầu đấy.

Hừ hừ trong miệng mấy tiếng rồi quay đi, chú khu vực lẩm bẩm, mắng chú Ba:

– Mới có mấy năm không bầu mà đã quên cả luật với chả lệ.


 

MÙA GIẶT GIŨ – Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J 

Một mùa Chay tôi được mời đến giúp tĩnh tâm cho một giáo xứ ở vùng đất đỏ Tây nguyên.  Buổi sáng nọ cha xứ nhờ tôi vào buôn giải tội cho người Dân tộc.  Khi vào làng thì một số giáo dân người Dân tộc đã chờ sẵn ở nhà nguyện để đón nhận bí tích giải tội.  Mùa này là mùa thu hoạch điều nên một số đã đi làm rồi vì tôi vào hơi trễ.  Sau khi giải tội cho khoảng 60 người xong thì một anh giáo lý viên chở tôi vào các nhà có người bệnh để tiếp tục giải tội; xong anh chở tôi đến cuối làng để giải tội cho những người bệnh phong đang sống cách ly. 

Có sáu người Dân Tộc phong ở đó và chỉ có một người nói được tiếng Kinh bập bẹ, nên họ cứ dọn mình và xưng tội bằng tiếng địa phương, còn tôi cứ ban phép giải tội bằng tiếng Kinh.  Vì không thấy có cái ghế nào để ngồi nên tôi ngồi nơi thềm đất sát vách nhà và họ đến ngồi cạnh tôi để xưng tội.  Khi người phong cuối cùng đến đón nhận bí tích hòa giải thì anh ta dơ tay ra để bắt tay tôi. Nhìn đôi bàn tay của anh tròn nhẵn không còn một ngón tay làm tôi hơi ngần ngại một chút nhưng rồi cũng dơ tay ra bắt tay anh.  Khi nắm lấy tay anh thì tôi thấy có chất gì nhờn nhờn nơi tay mình và cảm thấy có mùi hôi.  Sau khi giải tội xong tôi hỏi nhỏ anh giáo lý viên và được biết những người Dân tộc này đang sống cách ly vì mang bệnh phong.  Tôi đã có kinh nghiệm làm việc với người bệnh phong một mùa hè ở Ấn Độ nên không lo lắm, chỉ cần có thuốc sát trùng để rửa sau khi tiếp cận với họ là được.  Nhưng trong buôn thì khó tìm được thuốc sát trùng để rửa.

 Khi anh giáo lý viên chở tôi trở lại nhà nguyện trong buôn, tôi nhờ anh kiếm tôi cục xà bông để rửa tay.  Anh đi hỏi từ nhà này qua nhà khác, và đến căn thứ tư mới tìm được ít xà bông giặt đồ để tôi rửa tay.  Cũng tốt thôi, vì xà bông giặt tẩy mạnh hơn xà bông thường, nhưng điều này cũng nói lên rằng trong buôn không có dùng xà bông rửa tay.  Và thật ra xà bông giặt đồ cũng chẳng mấy ai có ở trong buôn đâu.  Tiền mua đồ ăn còn không có thì lấy gì mua xà bông.  Tôi hỏi anh ở đây có xà bông tắm không thì anh cho biết là lâu lâu có người bỏ một ngàn mua một gói xà bông gội đầu để tắm.  Tôi hỏi anh lần cuối cùng anh dùng xà bông gội đầu thì anh chỉ cười trừ vì đã lâu lắm rồi anh chưa đụng đến xà bông.  Các phụ nữ lâu lâu mới ráng chắt chiu ít tiền để mua xà bông gội đầu, còn thông thường thì các cô dùng nước vo gạo để gội đầu và tắm.  Còn đàn ông thì vẫn theo chủ nghĩa “ở dơ sống lâu!”

 Đôi khi tôi gặp một số anh chị em thiện nguyện từ Sàigòn đến ủy lạo gạo mì và áo quần cho anh chị em Dân tộc, nhưng một vài người không hiểu nên than phiền là người Dân tộc không chịu giặt đồ.  Họ cứ mặc cho thật dơ xong thì vất, rồi lại đi xin đồ khác về mặc, nên phát áo quần hoài mà chẳng bao giờ đủ cả.  Hồi đầu nghe họ nói thì tôi cũng chỉ biết vậy thôi.  Dần dà tôi mới biết người Dân tộc nghèo quá, của ăn còn không đủ thì lấy gì mà mua thứ khác.  Nhà của người Dân tộc nhìn xuyên từ ngoài vào trong còn được vì không có tiền để sửa chữa lại, vậy thì đầu óc đâu để lo đến chuyện sạch sẽ và đẹp đẽ.  Nói họ không giặt giũ thì không đúng, vì họ cũng giặt đồ ở suối khi đi làm về, chẳng qua là không có xà bông mà thôi.  Vả lại toàn đường đất đỏ, nên dù có giặt xà bông tinh tuyền đi nữa thì chỉ qua một ngày là áo quần lại nhuốm màu đỏ của đất.

 Mùa Chay là mùa Giáo Hội nhắc nhở chúng ta giặt giũ và dọn vệ sinh, không phải áo quần hay thân xác bề ngoài, mà là dọn dẹp và giặt giũ tâm hồn để cùng chết với Chúa Kitô và cùng sống lại với Ngài.  Nếu thân thể tôi bị dơ thì tôi biết dùng xà bông để rửa cho sạch vết nhơ.  Còn tâm hồn tôi bị nhơ uế thì tôi cứ nại ra bao nhiêu lý do để từ từ rồi giải quyết, vì thế tâm hồn tôi cứ luôn bị dơ, không chừng tôi cũng đang theo chủ nghiã “ở dơ sống lâu!” chăng?  Hôm nay giáo hội tha thiết mời tôi chạy đến với Chúa, qua Giáo hội, để lãnh nhận bí tích hòa giải để được tẩy xóa những vết nhơ uế trong tâm hồn.

 Sáng hôm qua tôi vào dâng Lễ ở nhà tù, khi xong Lễ chuẩn bị đi về thì tôi đứng lại nói chuyện với một anh cảnh sát coi tù nhân.  Anh nói anh là người Công Giáo nhưng lâu rồi không còn tha thiết đến bí tích Hòa Giải.  Anh nghĩ rằng cứ đi xưng tội xong rồi cũng phạm lại những tội đó như cũ, nên anh không muốn đi xưng tội nữa!  Vì lý luận như thế nên anh nhìn những người tù nhân cũng giống như vậy.  Họ là những người gây tội, hết tội này rồi đến tội khác.  Họ vào tù ra khám như cơm bữa, mắc gì Giáo hội cứ cử người đến ban phát tình thương của Chúa cho họ!  Phải chăng lý luận của anh lính bị sót đi một điều chính yếu là lòng thương xót của Thiên Chúa đã làm cho Ngài chẳng bao giờ nhớ đến những tội lỗi của nhân loại, ngay cả tội giết chết Con Một của Ngài?  Như vậy phải chăng một đặc tính của Thiên Chúa là nhân đức hay quên!?!  Hay vì Thiên Chúa quá yêu con người nên tiếp tục kiên nhẫn chịu đựng sự bất trung của con người từng ngày một với hy vọng một giây phút nào đó kẻ tội nhân ăn năn thống hối quay về đón nhận Lòng Thương Xót Chúa qua bí tích Hòa Giải!?!

 Bí tích Hòa Giải đâu phải là chỗ để luận tội, nếu là chỗ luận tội hay phán xét thì đâu thể gọi là Bí tích.  Trọng tâm của Bí tích Hòa Giải không phải nằm ở chỗ tội lỗi của kẻ hối nhân, mà nhấn mạnh đến ân sủng và tình yêu mà Thiên Chúa ban tặng nhưng không.  Anh chị em thân mến, mùa Chay là mùa dọn lòng dọn trí, tin tưởng mở lòng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa để được biến đổi, đặc biệt qua bí tích làm hòa với Thiên Chúa, để rồi dẫn đến làm hòa với nhau.  Qua bí tích Hòa Giải, chiếc áo tâm hồn lại một lần nữa được rửa sạch nhờ Máu Con Chiên.

 Chiếc áo của bạn và của tôi đang mặc là màu gì?

 Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

VỰC BẤT XỨNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!”.

“Khiêm tốn là sợi dây liên kết con người với Chúa, là cây cầu bắc qua mọi vùng vịnh, đưa bạn vượt mọi thung lũng hiểm nguy! Chúa không cần những con người vĩ đại, Chúa cần những con người dám chứng tỏ sự vĩ đại của Ngài. Vì thế, lời cầu mạnh nhất của linh hồn là lời cầu nguyện khởi đi từ vực bất xứng của nó!” – A. Simpson.

Kính thưa Anh Chị em,

Cao trào của Lời Chúa hôm nay là hình ảnh trơ trọi của ‘một vai phụ’ trong dụ ngôn – người thu thuế! Và rất có thể, đó cũng là hình ảnh của bạn và tôi trước mặt Thiên Chúa. Anh đã dâng một lời cầu nguyện khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của linh hồn!

Với những gì người thu thuế bộc lộ, Chúa Giêsu mách cho chúng ta điều Thiên Chúa yêu thích nơi con người – “tình yêu và chỉ tình yêu” – mà không cần bất cứ điều gì khác! Thiên Chúa thấu suốt lòng dạ con người, “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng chỉ lặp lại ngần ấy!

Vậy mà người biệt phái đã dâng Chúa một điều gì đó hoàn toàn khác! Lời cầu của ông khởi đi từ ‘vực kiêu hãnh’ khi ông coi Ngài như ‘Con nợ’; tệ hơn, coi ‘kỳ tích’ của mình là chiến công. Ông không phải là người xấu; nhưng lòng kiêu hãnh đã khiến ông mù loà đến độ xúc phạm tình yêu; ông sống tôn giáo ở ‘mức tối thiểu trần!’. Lời cầu của ông là ‘vô trùng’ khi ông quên Ngài chỉ muốn “tình yêu và chỉ tình yêu!”. “Thiên Chúa ghét lời cầu nguyện của kẻ tự mãn!” – Gioan Kim Khẩu.

Người thu thuế cũng lên đền thờ cầu nguyện! ‘Vai phụ’ này “khi ra về thì được nên công chính”. Không phải vì anh đã làm những điều đúng đắn, nhưng vì đã khiêm nhường nhận ra tội mình. Lời cầu của anh khởi đi từ ‘vực bất xứng’ trước Đấng Toàn Năng để rồi, dốc chút tàn hơi, anh chỉ đủ sức đấm ngực thều thào, “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”. Lạ thay, chính lời thú nhận tội lỗi ấy lại làm Chúa đẹp lòng! “Một tiếng kêu xin lòng thương xót có sức mạnh hơn ngàn lời biện minh!” – Bernard Clairvaux.

“Nơi nào có quá nhiều cái “tôi”, nơi đó rất ít Chúa. Ở nước tôi, người ta gọi những người này là “Tôi, chính tôi và tôi” – tên của những người đó. Người ta từng nói về một linh mục tự cho mình là trung tâm và thường bông đùa rằng: ‘Mỗi khi xông hương, ngài xông ngược – xông chính mình!’” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Ta muốn tình yêu, chứ không cần hy lễ!”. Với Chúa Giêsu, mọi sự đều thuộc về Cha, Cha cần gì lễ dâng của ai; vì thế, Chúa Con đã dâng hết cho Cha trên thập giá! Chúa Cha cần tình yêu từ trái tim mỗi người. Đừng quên, “Lời cầu mạnh nhất là lời cầu khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của nó!”. Chính ở đó, kinh nguyện của chúng ta mới có sức mạnh! Mùa Chay, mùa chìm vào ‘vực bất xứng’ để chỉ biết khấn xin lòng Chúa xót thương! “Không có vực sâu tội lỗi nào mà lòng thương xót Thiên Chúa không thể chạm tới!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘xông hương ngược!’. Chúa không cần sự vĩ đại của con; Chúa chỉ cần con dám nhìn thấy lũng bất xứng của mình, để lòng thương xót Ngài được hiển lộ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần III Mùa Chay

Người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính, còn người Pha-ri-sêu thì không.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 18,9-14

9 Khi ấy, Đức Giê-su kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác : 10 “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. 11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’ 13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’ 14 Tôi nói cho các ông biết : người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”


 

Nỗi đau của Đức Mẹ cùng với Thánh Giuse bồng con mình trốn sang Ai Cập – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để sống khoan dung hơn. Đối với người Việt Nam hải ngoại, hành trình bỏ nước ra đi vẫn còn ẩn hiện trong ký ức. Có những người chạy trốn trong sợ hãi, có những vết thương của thuyền nhân Việt Nam tị nạn sẽ không bao giờ lành, có những người đã chết trên biển khơi hoặc chết trong trại tị nạn, rồi lại có những người ra đi trong vui mừng hớn hở,… dù bất cứ lý do hay hoàn cảnh nào, định cư trên đất nước xa lạ vẫn mang lại cho bạn những khoảnh khắc khó quên. Hôm nay mời bạn suy niệm về nỗi đau của Đức Mẹ cùng với Thánh Giuse bồng con mình trốn sang Ai Cập. Các ngài chạy trốn trong sợ hãi những với hết lòng tin tưởng vào thánh ý Thiên Chúa. 

Cha Vương

Thứ 6: 13/3/2026. (n22-24)

NỖI ĐAU THỨ 2: Trốn sang Ai Cập—Với trái tim của một người mẹ, Đức Maria những mong muốn cho con trẻ một cuộc sống bình yên hạnh phúc. Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm cho con trẻ nơi ở xứng đáng đã không được thực hiện khi cùng Thánh Giuse bồng con trốn sang Ai Cập trong đêm tối. Mẹ Maria mang theo trong trái tim mình nỗi đau của người mẹ thương con rất mực. Thế nhưng, Đức Maria không một lời than trách, nhưng đón nhận với lòng khiêm nhường tuân theo thánh ý Thiên Chúa.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che chở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ thương đau, trong cuộc sống những lúc chúng con phải đối diện với những éo le ngang trái của cuộc đời, xin Mẹ mặc cho chúng con đức khiêm nhường nhẫn nại của Mẹ, để chúng con bình tĩnh nhận ra thánh ý Chúa cho chúng con trong hoàn cảnh hiện tại.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới.

From: Do Dzung

**************************

Niềm Tin Và Phận Người – Nguyễn Hồng Ân 

Ngày đó tôi chỉ cho nó một gói xôi 10 ngàn -Truyen ngan HAY

Jimmy Nguyen

Ngày trước, tôi bán xôi trước cổng bệnh viện.

Chỉ là một cái xe đẩy cũ, nồi xôi bốc khói nghi ngút từ 4 giờ sáng.

Trên xe treo tấm bảng viết tay: “Xôi nóng – 10 ngàn một gói.” và trước mặt dựng 1 tấm bảng rất lớn: “XÔI XÔI XÔI”.

Bệnh viện lúc nào cũng đông. Người ta đi ngang, mua vội một gói rồi chạy. Có người ăn cho đỡ đói. Có người ăn cho đỡ buồn. 

Tôi bán ở đó gần mười năm.

Một buổi sáng mùa đông, có một cậu bé khoảng mười hai tuổi đứng nhìn xe xôi của tôi rất lâu.

Nó mặc áo khoác rộng thùng thình, tay ôm cái bịch ni lông.

Tôi hỏi: “Con ăn xôi hông?”

Nó lắc đầu. “Dạ… con không có tiền.”

Tôi gói một gói xôi, đưa cho nó.

“Ăn đi.”

Nó đứng yên. “Mai con trả.”

Tôi cười. “Mai chú vẫn bán ở đây mà.”

Nó cầm gói xôi bằng hai tay, cúi đầu thật thấp.

“Dạ con cảm ơn.”

Ngày hôm sau, nó lại tới. Nhưng không mua.

Nó chỉ đứng phụ tôi đưa xôi cho khách, cột dây thun, lấy tiền thối.

Tôi nói: “Không cần đâu.”

Nó lắc đầu. “Con ăn nợ… nên con phụ.”

Tôi mới biết nó tên Hùng. Mẹ nó nằm ở khoa ung thư trên lầu.

Ba nó mất từ lâu. Nó ngủ dưới gầm ghế ngoài hành lang bệnh viện.

Ban ngày chạy đi phụ người ta bưng nước, tối lên ngồi cạnh giường mẹ.

Từ hôm đó, sáng nào nó cũng xuống phụ tôi bán xôi.

Có hôm khách đông quá, nó la lớn: “Chú ơi hết đậu rồi!”

Tôi bật cười. Tự nhiên thấy cái xe xôi bớt cô quạnh.

Một tháng sau, mẹ nó mất.

Hôm đó nó không xuống bán xôi. Tôi lên khoa tìm.

Nó ngồi một mình ở cuối hành lang, hai chân co lại, mắt nhìn xuống đất.

Tôi ngồi cạnh. Một lúc lâu nó nói:

“Giờ con không biết đi đâu.”

Tôi im lặng. Rồi tôi hỏi:

“Con có muốn phụ chú bán xôi không?”

Nó ngẩng lên. “Thiệt hông chú?” Tôi gật đầu.

“Nhưng phải đi học.” Nó nhìn tôi như không tin.

Từ ngày đó, cái xe xôi có hai người. 

4 giờ sáng tôi nấu xôi.

5 giờ Hùng đẩy xe ra cổng bệnh viện.

Khách quen hỏi: “Ủa con ai vậy?” Nó nhanh miệng: “Con của chú bán xôi.”

Mỗi lần nghe vậy tôi lại khựng một chút. Nhưng không sửa. Hùng học cũng khá.

Tối về nó ngồi ngay cạnh nồi xôi, vừa canh lửa vừa làm bài.

Có lần nó hỏi: “Chú ơi, học đại học mắc lắm hông?”

Tôi nói: “Chắc mắc.” Nó im lặng một lúc.

“Vậy chắc con học nghề thôi.”

Tôi không nói gì. Nhưng từ hôm đó tôi bắt đầu để dành tiền.

Mười mấy năm bán xôi, tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện lớn.

Chỉ nghĩ đủ sống là được. Thời gian trôi nhanh.

Ngày Hùng thi đại học, tôi dậy từ 3 giờ sáng. Tôi gói cho nó hai gói xôi.

Nó cười: “Con ăn không hết đâu.” Tôi nói: “Thi lâu đó.”

Ba tháng sau, nó chạy về từ đầu hẻm, la lớn: “Chú ơi!”

Tôi đang xúc xôi cho khách, giật mình. “Con đậu rồi!”

Nó đưa giấy báo trúng tuyển. Tôi đọc mà tay run.

Khách đứng xung quanh cũng vỗ tay.

Ngày nó lên thành phố nhập học, nó ôm tôi.

Nó nói nhỏ: “Ba, con đi nha ba .”

Tôi rướm nước mắt, giả bộ bận gói xôi.

Không dám nhìn nó. Nhiều năm sau, Hùng tốt nghiệp bác sĩ.

Ngày đầu tiên nó mặc áo blouse trắng, nó chụp hình gửi về.

Tin nhắn chỉ có một câu:

“Ba, con đang trực ở bệnh viện.” Tôi nhìn cái điện thoại thật lâu.

Sáng hôm sau, lòng tôi tràn ngập niềm vui tôi đẩy xe xôi ra cổng bệnh viện như mọi ngày.

Khói xôi bay lên nghi ngút.

Có người khách quen vừa nhận gói xôi vừa hỏi tôi:

“Chú bán ở cổng bệnh viện này mấy chục năm rồi, chắc cũng cực lắm ha?”

Tôi cười. “Cực thì có… nhưng quen rồi.”

Khách đi rồi, tôi nhìn lên tòa nhà bệnh viện cao trước mặt.

Ở đâu đó trong những dãy phòng kia…

Có một bác sĩ từng đứng trước xe xôi của tôi, nói nhỏ:

“Chú ơi… con không có tiền.”

Ngày đó tôi chỉ cho nó một gói xôi 10 ngàn.

Nhưng nhiều năm sau…

Nó lớn lên, mặc áo blouse trắng, đứng trong bệnh viện này cứu người.

Nghĩ vậy tôi thấy lòng mình ấm lạ.

Một gói xôi năm nào…

Hóa ra không chỉ nuôi một đứa trẻ qua cơn đói.

Mà còn nuôi lớn cả một cuộc đời…


 

Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, một cuộc đời rất đẹp

 NHỮNG BÀI POST HAYKim  Phan

 Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, một cuộc đời rất đẹp

Ngô Viết Thụ sinh ngày 17 tháng 9 năm 1926 tại làng Lang Xá, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy (Thừa Thiên – Huế), lập gia đình với cô Võ Thị Cơ, một thiếu nữ ở Đà Lạt, vào năm 1948, khi theo học Trường Cao đẳng Kiến trúc tại Đà Lạt.

Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, con trai kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, kể: “Hơn 50 năm trước, có một tân sinh viên nghèo đi từ Huế vào Đà Lạt. Anh học trò nghèo tay trắng, xách vali vào Đà Lạt để theo học tại Trường Cao đẳng Kiến trúc. Người đầu tiên anh gặp là một nữ sinh trung học đệ nhị cấp: “Cô ơi, cho tui hỏi đường tới nhà trọ này”. Nghe chỉ đường xong, anh còn hỏi thêm một câu: “Gạo một ký bao nhiêu?”, cô gái giơ hai ngón tay: “Hai đồng”.

Sau đó, vì học giỏi, anh được giới thiệu dạy kèm cho con gái ông bà ở trung tâm thành phố. Cậu sinh viên trở thành gia sư cho cô gái và các em của cô, rồi trở nên thân thiết với gia đình. Nhiều năm sau, họ thành vợ chồng.

Đó là câu chuyện của cha mẹ tôi. Mỗi khi giận nhau, hai ông bà giao hẹn giơ hai ngón tay lên để làm hòa, không giận nữa. Hình ảnh mà tôi nhớ nhất là những đêm cha mẹ hàn huyên với nhau đến 2, 3 giờ sáng. Có lẽ tình yêu này quá lớn, nên sau khi mẹ mất, cha tôi bị sốc lớn và ở vậy cho đến khi qua đời.

Cha tôi, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, sau này có lần nói: ông ráng học thật giỏi để xứng đáng với tình cảm của mẹ tôi. Sau khi du học Pháp về, một trong những nơi đầu tiên ông quay lại để giúp xây dựng chính là Đà Lạt…” (Bê tông hóa Đà Lạt, báo Người Đô Thị 18.4.2019)

Năm 1950, Trường Cao đẳng Kiến trúc Đà Lạt được chuyển về Sài gòn. Các sinh viên có thể chọn chuyển về Sài gòn hoặc sang Pháp học tiếp. Nhận thấy ông Ngô Viết Thụ rất có tài, gia đình vợ ông quyết định giúp ông sang Pháp du học. Nhưng sợ ông mang mặc cảm phận nghèo phải nương tựa nhờ vả gia đình vợ nên vợ ông quyết định nghỉ học, giúp cha mẹ buôn bán để ông yên tâm chỉ chịu ơn vợ mà thôi.

Từ năm 1950 đến năm 1955, ông là sinh viên ngành kiến trúc tại Trường Mỹ thuật Quốc gia (École des Beaux-Arts) ở Paris. Năm 1955, ông nhận Giải thưởng lớn Roma (Grand Prix de Rome), giải thưởng về kiến trúc dành cho kiến trúc sư tại Pháp, thường được gọi là giải Khôi nguyên La Mã. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1958, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis (Villa Medicis) của Viện Hàn lâm Pháp tại Roma (Ý) để nghiên cứu về quy hoạch và kiến trúc. Năm 1962, ông là kiến trúc sư châu Á đầu tiên trở thành Honorary Fellow (viện sĩ danh dự) của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (American Institute of Architects).

Sau khi ông đoạt giải Khôi nguyên La Mã và kết thúc thời gian sống và làm việc ở Biệt thự Medicis tại Rome, rất nhiều văn phòng kiến trúc sư danh tiếng ở Pháp, Ý và một số nước khác đã đánh tiếng mời ông về làm việc với mức lương hậu hĩnh. Tương lai rộng mở, ông có thể cùng vợ con định cư tại châu Âu, nhưng lúc đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm cử GS Bửu Hội sang Pháp mời ông về nước làm việc. Trước khi sang Pháp, GS Bửu Hội đến thăm cha ông là cụ Ngô Viết Quang và mang giúp quà của cụ gửi cho ông là 3 trái xoài cùng một bài thơ mang tên “Cá gáy hóa long”, đại ý chúc mừng ông công thành danh toại, nhưng khuyên ông không nên quên nguồn cội và nên trở về giúp đất nước. Sau khi đọc xong thư nhà, ông quyết định thu xếp cùng gia đình trở về Việt Nam.

Chỉ trong vài năm, ông thiết kế nhiều dự án quan trọng của quốc gia và vào năm 1960, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã mời ông nhận chức Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Đây là một chức vụ có quyền uy, không chỉ điều hành việc xây dựng đất nước mà còn nắm cả Công ty xổ số kiến thiết vốn là con gà đẻ trứng vàng lúc bấy giờ. Ông băn khoăn, hỏi ý kiến vợ, bà khuyên ông không nên nhận vì bản thân ông vốn là một người nghệ sĩ sáng tạo chứ không phải một chính khách. Ra nhận chức vụ lớn, trách nhiệm cao, phải học hỏi cung cách làm chính trị sẽ ảnh hưởng nhiều đến nghề nghiệp theo thời cuộc có thể lên, cũng có thể xuống, sẽ có va chạm, xung đột quyền lực với người khác ở chốn quan trường…

Thấy vợ nói cũng hợp với ý mình nên ông đã từ chối, chỉ nhận làm cố vấn và giữ chức trưởng Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang lãnh thổ. Từ đó, Việt Nam Cộng hòa không còn Bộ Xây dựng nữa, việc quy hoạch toàn miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975 chủ yếu do 2 văn phòng thực hiện là Văn Nghên cứu chiến lược của Ngô Viết Thụ và Tổng nha Kiến thiết.

Ông đã thiết kế nhiều công trình như Dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Viện Nguyên tử Đà Lạt (1962-1965), Trường Đại học Y khoa Sài gòn, thiết kế cầu thang nối liền Khu chợ Hòa Bình với Chợ Mới Đà Lạt, Khu công nghiệp An Hòa Nông Sơn, Nhà máy dệt Phong Phú, Khách sạn Hương Giang 1 tại Huế (1962), Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam (1963), Thương xá Tam Đa (Crystal Palace), Trường Đại học Nông nghiệp Thủ Đức (1975)…

Sau năm 1975, ông ở lại Việt Nam, thiết kế Ty Thủy lợi Đắc Lắc (1976), Bệnh viện Sông Bé (1985), Khách sạn Century ở Huế (1990), phác thảo Thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt (sau này do một nhóm kiến trúc sư Lâm Đồng tiếp tục thực hiện, triển khai chi tiết và thi công).

Bà Võ Thị Cơ, vợ ông, từ trần năm 1977, 1 năm sau khi ông đi học tập cải tạo về. Ông từ trần ở tuổi 72 vào ngày 3 tháng 9 năm 2000 tại TP.HCM do tai biến mạch máu não.

Ảnh: Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, với vợ, với Tổng thống Ngô Đình Diệm và với con trai, kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn


 

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

Công Giáo Rôma – Patrick Hayashi

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

  1. Bước qua tuổi già, đừng ảo tưởng mình còn khỏe như xưa

Thanh xuân là thời mạnh mẽ.

Tuổi già là thời biết điều.

Địa vị chỉ là quá khứ, danh tiếng chỉ còn trong ký ức.

Chỉ có sức khỏe là thứ duy nhất còn lại bên mình.

Giữ được nó ngày nào, là phúc ngày đó.

  1. Đến tuổi già, sống cho mình – vui đâu ở đó, thích gì làm nấy

Đã đi gần hết đời người rồi,

đừng sống theo ý người khác nữa.

Thích ăn thì ăn.

Thích ngủ thì ngủ.

Thích đi đâu thì cứ đi.

Đời còn bao lâu mà giữ khư khư lòng mình trong sự gượng ép.

  1. Chỉ nên sống gần con, không sống chung với con – đây không ích kỷ mà là khôn ngoan

Ở chung dễ sinh va chạm.

Ở gần để thương nhau dài lâu.

Con thiếu tiền thì giúp ( Nếu mình có )

Nhưng đừng dọn vào sống để rồi một ngày mình trở thành người ở trọ trong chính ngôi nhà của con.

Gặp nhau cuối tuần là đủ ấm áp rồi.

  1. Khi già hơn nữa, nếu còn người bạn đời chăm sóc cho nhau là tốt, còn không hãy chọn một nơi mình được chăm sóc tử tế

Không cần sang trọng.

Chỉ cần sạch sẽ, yên tĩnh, có người chăm, có người trò chuyện.

Có tiền thì chọn chỗ tốt.

Ít tiền thì ở chỗ vừa sức.

Quan trọng là sống nhẹ lòng – không làm ai mệt vì mình.

  1. Chuyện “ngày xưa” – hãy kể với người cùng tuổi.

Chuyện “ngày mai” – hãy nói với bọn trẻ.

Tụi nhỏ không hiểu chuyện năm 1989 về trước đâu.

Chúng sống bằng hiện tại.

Hãy giữ chuyện cũ để kể với bạn đồng niên – những người hiểu từng nỗi niềm mình.

Đó là cách giữ ký ức, giữ tình thân, giữ chính mình.

  1. Đừng chờ đủ điều kiện – tuổi già hãy đi thăm những nơi chưa từng đi

Một chuyến xe bus.

Một chuyến tàu ngắn.

Một con đường xưa.

Một miền đất mới.

Càng gần cuối đời càng phải sống cho trọn ước mơ tuổi trẻ.

  1. Rũ bỏ quan niệm cũ: tuổi già không phải tu hành khổ hạnh

Đừng tiếc với bản thân.

Đừng nghĩ già rồi là hết.

Cần ăn ngon thì ăn.

Cần mặc đẹp thì mặc.

Cần nghỉ thì nghỉ.

Cần chơi thì chơi.

Hưởng thụ không phải xa xỉ – nó là phần thưởng cho cả đời vất vả.

  1. Đã về hưu – đừng đến nơi làm việc cũ nếu không được mời

Họ đang sống cuộc sống của họ.

Đừng khiến mình trở thành “người lạ trong kỷ niệm của chính mình”.

Giữ ký ức đẹp – đừng níu lại quá khứ.

  1. Muốn tuổi già vui – phải hiểu ba điều này:
  • Hạnh phúc do mình tạo ra, không ai mang đến.
  • Tiền không phải tất cả – nhưng không có tiền thì cực khổ.
  • Con cái thương mình có giới hạn – đừng chờ đợi quá mức.

Khi mình không trông mong ai, mình sống thanh thản nhất.

  1. Và hãy nhớ 3 QUÊN – 4 CẦN – 5 TRÁNH – 6 BÁC SĨ ĐỜI NGƯỜI

3 QUÊN

  • Quên tuổi tác.
  • Quên bệnh tật.
  • Quên thù hận, quên những điều gì, những người làm mình không vui

4 CẦN

  • Một mái nhà riêng.
  • Một khoản tiết kiệm.
  • Một gia đình kết nối.
  • Một vài người bạn tri kỷ.

5 TRÁNH

  • Tránh ở chung với con cái.
  • Tránh nhận trông cháu dài hạn.
  • Tránh can thiệp vào đời sống của con.
  • Tránh bán nhà khi chưa thật cần.
  • Tránh tiêu tiền phụ thuộc.

6 BÁC SĨ TỐT NHẤT

Ánh nắng – Giấc ngủ – Thể dục – Ăn uống điều độ – Tự tin – Bạn bè.

Tuổi già không chờ mình sẵn sàng.

Nó đến như một buổi chiều.

Chậm, nhưng chắc.

Và chỉ những ai biết chuẩn bị từ bây giờ mới có thể sống nửa đời còn lại thanh thản – tự do – không ân hận.

Nếu bạn đọc đến đây, hãy chia sẻ bài viết này.

Để nhắc ai đó đang đi vào tuổi trung niên rằng:

Tuổi già không tự nhiên bình yên — nó được chuẩn bị từ hôm nay

(Sưu tầm)


 

 ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Anmai CSsR

ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Trả lời phỏng vấn dành riêng cho Vatican News về tình hình căng thẳng tại Trung Đông, Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã lên tiếng mạnh mẽ cảnh báo về sự trỗi dậy nguy hiểm của một xu hướng mới trong địa chính trị: việc sử dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Với nỗi đau sâu sắc, Đức Hồng y bày tỏ sự xót xa khi chứng kiến các dân tộc Trung Đông – trong đó có những cộng đồng Kitô giáo vốn đã chịu nhiều thử thách – một lần nữa bị đẩy vào vòng xoáy chiến tranh. Về các cuộc tấn công gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng hòa bình và an ninh chỉ có thể được xây dựng và duy trì bền vững thông qua các nỗ lực ngoại giao chân chính, đặc biệt là ngoại giao đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Chỉ trong môi trường ấy, các quốc gia mới có thể giải quyết tranh chấp một cách phi bạo lực, công bằng và nhân văn.

Theo Đức Hồng y, việc xác định nguyên nhân của chiến tranh và phân định đúng sai giữa các bên là điều vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là bom đạn luôn mang theo những hậu quả khôn lường: vô số nạn nhân vô tội, sự hủy diệt không thể phục hồi và nỗi đau tàn phá nặng nề đối với dân thường. “Vì lẽ đó, Tòa Thánh một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng mọi công cụ ngoại giao để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia”, Đức Hồng y Parolin khẳng định.

Khi được hỏi về lý do “chiến tranh phòng ngừa” mà Mỹ và Israel đưa ra – nhằm ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân – Đức Hồng y nhắc nhở rằng, theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc, việc sử dụng vũ lực chỉ được xem là biện pháp cuối cùng và cực kỳ nguy hiểm, sau khi mọi kênh chính trị và đối thoại ngoại giao đã thực sự thất bại. Ngài cảnh báo: nếu các quốc gia tự cho mình quyền phát động “chiến tranh phòng ngừa” chỉ dựa trên tiêu chí chủ quan riêng, thì toàn thế giới sẽ đối mặt với nguy cơ bị chìm trong biển lửa.

Sự xói mòn nghiêm trọng của luật pháp quốc tế đang diễn ra ở mức độ báo động: công lý bị sức mạnh thay thế, sức mạnh của luật pháp nhường chỗ cho “luật của kẻ mạnh”, và quan niệm sai lầm rằng hòa bình chỉ có thể đạt được sau khi kẻ thù bị tiêu diệt hoàn toàn. “Tòa Thánh một lần nữa mạnh mẽ lên án mọi hình thức lôi kéo dân thường và các cơ sở dân sự – như nhà ở, trường học, bệnh viện và nơi thờ tự – vào các hoạt động quân sự, đồng thời kêu gọi tất cả các bên liên quan phải tuyệt đối tôn trọng nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống”, Đức Hồng y Parolin nhấn mạnh.

Thông qua bài phỏng vấn, Đức Hồng y Quốc vụ khanh đã gửi đi một thông điệp rõ ràng và cấp thiết: chỉ có ngoại giao, đối thoại và sự tôn trọng luật pháp quốc tế mới có thể cứu vãn hòa bình. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự suy giảm đáng lo ngại của trật tự đa phương, lời nhắc nhở từ Tòa Thánh không chỉ là tiếng nói đạo đức mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc dành cho các nhà lãnh đạo quốc tế.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp