LÒNG THAM CỦA CON NGƯỜI KHI KHÔNG BIẾT ĐỦ

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Con người khổ không hẳn vì thiếu, mà khổ nhiều hơn vì không biết mình đã đủ. Khi lòng tham lên tiếng, những gì đang có bỗng trở nên nhỏ bé, những điều đã đạt được bỗng hóa vô nghĩa. Ta bắt đầu nhìn cuộc đời bằng ánh mắt so sánh, đo đếm hạnh phúc của mình bằng tiêu chuẩn của người khác, rồi tự tay biến bình yên thành bất an.

Lòng tham không xuất hiện ồn ào. Nó đến rất khẽ, núp sau những mong cầu tưởng như chính đáng. Ban đầu chỉ là muốn hơn hôm qua một chút, rồi hơn người bên cạnh một bước. Dần dần, khi đạt được điều này, ta lại sinh ra ham muốn khác. Có tiền rồi muốn thêm quyền, có quyền rồi muốn thêm danh, có danh rồi muốn thêm sự tôn thờ. Cái “đủ” bị dời mãi về phía xa, còn tâm thì chẳng bao giờ chịu dừng lại.

Người không biết đủ thường sống trong trạng thái thiếu thốn triền miên, dù tay họ đang nắm rất nhiều. Ăn một bát cơm mà nghĩ đến mâm cao cỗ đầy, ở trong căn nhà ấm áp mà mơ đến lâu đài của kẻ khác. Họ có thể cười, nhưng nụ cười luôn thấp thoáng nỗi lo mất mát. Họ có thể giàu, nhưng trong lòng lại nghèo nàn sự an yên.

Lòng tham khiến con người dễ đánh đổi. Đánh đổi thời gian lấy tiền bạc, rồi dùng tiền bạc để mua lại chút thời gian còn sót. Đánh đổi sức khỏe lấy thành công, đến khi thành công thì sức khỏe không còn. Đánh đổi sự tử tế để đạt lợi ích trước mắt, đến lúc quay đầu mới nhận ra mình đã mất đi điều quý giá nhất là nhân cách.

Đáng sợ nhất của lòng tham là nó làm mờ lương tri. Khi không biết đủ, người ta dễ biện minh cho sai trái của mình. Một bước lấn tới được gọi là “khôn ngoan”, một lần tổn hại người khác được xem là “cạnh tranh”. Lâu dần, ranh giới giữa đúng và sai bị xóa nhòa, chỉ còn lại câu hỏi: làm sao để được nhiều hơn.

Có những người cả đời chạy theo cái gọi là hơn thua, đến cuối con đường mới nhận ra mình chưa từng sống thật. Họ có thể sở hữu nhiều thứ, nhưng chưa từng sở hữu chính mình. Bởi tâm luôn hướng ra ngoài, nên chưa bao giờ quay vào trong để hỏi: mình cần gì, và mình đủ chưa.

Biết đủ không phải là an phận hay ngừng cố gắng. Biết đủ là hiểu rõ giới hạn của lòng mình, là nỗ lực trong tỉnh thức, không để ham muốn kéo mình đi quá xa khỏi giá trị cốt lõi. Người biết đủ vẫn làm việc, vẫn vươn lên, nhưng không để thành bại quyết định sự bình an trong tâm.

Khi con người học được hai chữ “đủ rồi”, lòng sẽ nhẹ. Nhẹ để biết trân trọng những điều đang có. Nhẹ để thấy hạnh phúc không nằm ở việc hơn người khác, mà ở việc hôm nay mình sống có ngay thẳng, có tử tế, có an nhiên hay không. Lúc ấy, dù đời có cho thêm hay bớt, tâm vẫn vững vàng.

Thứ con người cần nhất không phải là nhiều hơn, mà là sâu hơn. Sâu trong hiểu biết, sâu trong thương yêu, sâu trong sự tỉnh thức. Khi lòng đủ sâu, tham tự khắc cạn. Khi tâm đã đủ đầy, cả thế gian rộng lớn cũng chỉ vừa vặn trong một nụ cười bình thản.

Tg Phạm Nhật Minh

Ngày 30/01/2026

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG- TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Muối và ánh sáng là hai chất liệu rất bình thường và cũng rất cần thiết cho cuộc sống con người.  Muối và ánh sáng không hiện hữu cho bản thân, nhưng hiện hữu để phục vụ.  Muối làm cho đồ ăn thêm hương vị và cần thiết cho sức khỏe.  Ánh sáng giúp con người phân biệt và nhận ra đường lối phải đi.  Bài Tin Mừng hôm nay được đặt trong ngữ cảnh bài giảng trên núi, liền ngay tám mối phúc thật mà chúng ta đã suy niệm tuần trước.  Giữa bài giảng về tám mối phúc thật và đoạn Tin Mừng hôm nay có mối liên hệ sâu sắc: những gì Chúa Giê-su mời gọi chúng ta thực hiện (trở nên muối và ánh sáng) là điều kiện để đạt được những mối phúc mà Người đã nói trước đó.

 Dưới ánh sáng của bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hiểu rõ hơn lời ngôn sứ I-sai-a (Bài đọc I).  Vị ngôn sứ kêu gọi Ít-ra-en quảng đại chia sẻ với người nghèo, cứu giúp và nâng đỡ những ai lâm cảnh bần cùng đói khổ.  Khi làm như thế, “ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành.”  Những gì vị ngôn sứ diễn tả tiếp đó chứng minh một sự thật này: khi quảng đại chia sẻ với tha nhân, sự thánh thiện và niềm vui thiêng liêng sẽ thấm đượm cuộc đời chúng ta, và khi ấy, Chúa sẽ nhận lời chúng ta kêu cầu.  Ở đoạn cuối của Bài đọc này, vị ngôn sứ khẳng định một lần nữa: “Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói… thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu tỏa trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.”  Thật là kỳ diệu, những việc thiện hảo có khả năng phát ra ánh sáng thần thiêng, đồng thời làm cho những người thực hiện công việc ấy cũng trở nên ánh sáng.

Ý tưởng ánh sáng còn được nhắc tới trong Thánh vịnh 111 được đọc trong phần Đáp ca.  Ánh sáng của Chúa chiếu rọi kẻ ngay lành, nhờ đó họ cũng trở nên ánh sáng và lan tỏa xung quanh soi cho những người đang đi trong tối tăm.  Cũng như muối và ánh sáng hiện hữu để phục vụ, Ki-tô hữu trở nên muối và ánh sáng để giúp nhiều người nhận biết Chúa.  Những việc thiện chúng ta làm sẽ giúp cho mọi người ca tụng Chúa, và như thế, Chúa được tôn vinh nơi chúng ta.  Không ai thắp đèn rồi để dưới đáy thùng.  Chiếc đèn không để sử dụng cho riêng mình, nhưng cho người khác.  Ki-tô hữu là ánh sáng để giúp cho người khác nhận ra đường đi.  Đó là con đường của Chân lý.

Thánh Phao-lô (Bài đọc II) lại muốn suy tư về ánh sáng trong mầu nhiệm thập giá.  Thông thường, người ta tự hào về những vinh quang danh giá.  Ngược lại, Phao-lô lại tự hào về thập giá Đức Ki-tô.  Hơn nữa, trong quãng đời còn lại của mình, ông không còn chú tâm đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su, mà là Đức Giê-su chịu đóng đinh.  Sở dĩ như thế vì Phao-lô đã cảm nhận rõ nét sức mạnh và ân sủng của Chúa, khi ông chấp nhận những gian nan vì Danh Ngài.  Ông luôn xác tín vào lời Chúa hứa: “Ơn Ta đủ cho con!”  Lời hứa ấy đã giúp ông tìm được sức mạnh giữa những thử thách.

Ki-tô hữu sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian.  Cuộc sống chúng ta luôn bị bủa vây bởi những cám dỗ tư bề.  Có những lúc muối đức tin trở nên nhạt và vô dụng.  Tại sao muối lại nhạt?  Chắc chắn Chúa Giê-su không nói về muối theo nghĩa hóa học, vì theo lẽ thường, muối không thể tự nhiên mất vị mặn.  Ở đây, Người muốn nói đến người môn đệ đánh mất căn tính, sống đức tin hời hợt, không còn sức ảnh hưởng đối với môi trường xung quanh.  Chúa Giê-su cảnh báo: đức tin có thể bị “nhạt” nếu ta thỏa hiệp; đời sống thiêng liêng có thể “mất vị” nếu ta sống theo thế gian; người môn đệ có thể trở nên vô dụng nếu đánh mất tinh thần Tin Mừng.  Đây không phải lời kết án, mà là lời mời gọi trở lại với nguồn mặn của mình: Lời Chúa, Thánh Thể, và đời sống yêu thương.

Khi Chúa Giê-su dùng hình ảnh muối để nói với chúng ta, là Người dựa vào thực tế ở đất nước Ít-ra-en.  Tại đó, có một loại muối trong lòng đất hay muối mỏ, không tinh khiết như muối biển tinh luyện ngày nay.  Nó trộn lẫn với đất, thạch cao và khoáng chất.  Khi gặp ẩm, natri clorua tan hết, chỉ còn lại cặn trắng trông giống muối nhưng không còn mặn.  Vì thế, người ta vứt ra đường cho người ta giẫm lên – đúng như lời Chúa nói.

Cuộc sống hôm nay còn nhiều khó khăn, nhưng “thà thắp nên một ngọn nến nhỏ còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.”  Thay vì bình luận, chỉ trích và phê phán, mỗi chúng ta hãy cố gắng gieo mầm yêu thương giữa trần gian.  Như muối làm cho thực phẩm thêm hương vị, Ki-tô hữu hãy sống thánh thiện để đem hương vị Tin Mừng vào cuộc sống.  Như ánh sáng giúp soi đường đi, Ki-tô hữu hãy thực thi bác ái để góp phần chiếu sáng thế gian.  Thánh Phao-lô khẳng định: đức tin của chúng ta không dựa vào lẽ khôn ngoan của người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.  Quả vậy, Thiên Chúa quyền năng sẽ thực hiện nơi chúng ta những điều kỳ diệu, nếu chúng ta biết cậy trông nơi Ngài.

Thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta đã viết: “Tình yêu là hoa trái lúc nào cũng đang đúng mùa, và ai cũng có thể với tay chạm tới – Love is a fruit in season at all times, and within reach of every hand.”  Điều này cũng có nghĩa: đừng than trách không có hoa trái, chỉ là do mình có đưa tay ra hái hay không thôi.  Xin cho chúng ta nhận ra những cơ hội luôn hiện hữu xung quanh mình để trở nên muối và ánh sáng cho cuộc sống hôm nay. 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 From: Langthangchieutim


Những Điều Cần Phải Thực Hiện – Bài viết của Phùng Văn Phụng

Bài viết của Phùng Văn Phụng

Đọc bài viết của Linh mục Mi Trầm như sau:

Đã Đến Lúc Phải Thực Hiện “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

  1. Hãy vui với người khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
  2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời người. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
  3. Hãy sống với thực tại. Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
  4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có) nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
  5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
  6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa.
  7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè. Người khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
  8. Tha thứ cho mình và cho người. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
  9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa.
  10. 10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời cõi trần gian này.

Theo InternetTừ FB Linh mục Mi Trầm

Tha thứ cho mình và cho người. Làm quen với sự chết. Hãy thuận hòa với Thượng Đế. Ba điều chót 8, 9, 10 tôi thường xuyên nhắc nhở mình và cố gắng thực hành.

Không tha thứ là lấy sự sai lầm của người khác mà trừng phạt chính mình. Không tha thứ là mình uống thuốc độc mà mong người mình không ưa hay mình thù ghét sẽ chết.

Nhà văn, nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê có nhắc nhở rằng làm việc phải có kỷ luật, nếu không có tư tưởng gì để viết, cứ đúng giờ 8 giờ sáng, 2 giờ chiều tự động ngồi vào bàn viết, tư tưởng sẽ có, để viết bài. Ông Nguyễn Hiến Lê hạn chế việc tham dự tiệc tùng. Vì vậy cho nên ông đã để lại cho đời hơn trăm tác phẩm có giá trị.

Tôi đã không áp dụng kỷ luật cho bản thân nên không để lại được gì cho đời sau.

Nếu làm việc đều đặn, kiên trì, kỷ luật giống như nhà văn Nguyễn Hiến Lê – vô cùng khó khăn. Nhưng nếu làm được như vậy, có lẽ đã có “cái gì đó?” để lại cho đời sau.

Nhưng mà nếu có để lại “cái gì” cho đời sau thì liệu rằng được thời gian bao lâu để có người còn nhớ đến mình. Nguyễn Du đã nói:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà như khấp Tố Như”.

Thi sĩ Nguyễn Du, người làng Tiên Điền, tác giả Truyện Kiều còn nói như thế; còn mình, người bất tài thì sao?

Tin tức bảo tuyết vừa qua:

Trận bảo tuyết vừa qua, tính đến 7 giờ tối ngày thứ hai 19 tháng 01 năm 2026, ít nhất có 34 người thiệt mạng ở những tiểu bang chịu ảnh hưởng.

Hơn 670,000 căn nhà vẫn còn bị mất điện hôm thứ hai hơn 11,000 chuyến bay khắp nước Mỹ bị hủy hay bị hoãn.

nguồn: https://www.nguoi-viet.com

Vài cảm nghĩ riêng tư:

Chúa nhật ngày 01 tháng 02 vừa qua, có hai người thân đã ra đi, đó là anh Trần Hùng Peter, lớn hơn tôi một tuổi, trong Đoàn Liên Minh Thánh Tâm của Giáo xứ Ngôi Lời Nhập Thể và anh Út Muôn, nhỏ hơn tôi một tuổi, con cô sáu tôi ở làng Tân Tập, quận Cần Giuộc.

Thật là một điều kỳ diệu đến hôm nay tôi vẫn còn sống mặc dầu sức khỏe có yếu đi, mau mệt. Uống thuốc nhiếp hộ tuyến, thuốc cao mở và thuốc đau bao tử đều đặn mỗi ngày.

Từ một người thích thể thao, đã từng thi chạy đua, rồi không thể chạy đua được nữa, sau hơn 6 tháng trị bịnh sốt rét ngã nước do bác sĩ người Pháp điều trị mới hết được.

Học nhiều quá không chơi thể thao, không tập thể dục, rồi đi tù, chịu đựng gian khổ, chịu đói triền miên, còn bốn tháng nữa là đủ 8 năm tù, cho nên sức khỏe không như trước kia được.

Như vậy, mà sống được tới ngày hôm nay, còn 6 tháng nữa đã tới 84 tuổi tây (tính tuổi ta là 85 tuổi) có phải là điều quá sức kỳ diệu không? Tạ ơn Chúa.

–         Có công việc làm để sinh hoạt tuổi già như trồng cây, đọc sách – Tôi có website để đưa bài lên và thỉnh thoảng viết vài bài – vậy là tôi có việc làm, rất vui rồi.

–         Có đủ tiền để sống không phải nhờ cậy con cái.

–         Có đủ sức khỏe để còn lái xe được, một tuần ba lần, còn có thể vô “24 Hour Fitness”, để đi bộ, để tập thể dục được là mừng lắm rồi.

–         Còn ăn uống, tự túc được, không phải nhờ người khác tắm rửa, đút cơm v.v… vậy là quý lắm rồi.

Làm sao biết được lúc nào mình sẽ ra đi. Ai ai rồi cũng phải chết. Sinh lão bịnh tử là qui luật của tạo hoá. Có sinh là có tử.

Tam đoạn luận “làm người ai cũng phải chết, tôi là người, vậy tôi phải chết” người ta cho rằng đó là câu nói của triết gia Socrates?

Cần gởi lại cho con cháu những tâm sự, những kỷ niệm, lời nhắc nhở, những lời khuyên, có lẽ tôi đã viết đầy đủ trong các bài viết, đã đưa lên Website “kẻ đi tìm” rồi.

Phùng Văn Phụng

Ngày 03 tháng 02 năm 2026


 

KHÔNG THÀNH CÔNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân!”.

“Họ phải nói nhân danh Chúa Giêsu và rao giảng Nước Thiên Chúa mà không lo lắng về việc liệu có thành công hay không. Thành công – sự thành công đó phải để Chúa quyết định!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho thấy thực tế các môn đệ sẽ nói mà không phải ai cũng nghe; dẫu vậy, họ “vẫn phải rao giảng và để thành công cho Chúa quyết định”. Vì thế, Hội Thánh ngay từ đầu – dĩ nhiên – đã trải nghiệm một khởi điểm… ‘không thành công’.

Các môn đệ lên đường không với bảo đảm thành công, nhưng với một lời sai đi. Họ không biết, người nghe sẽ thế nào. Có nơi mở cửa; có nơi đóng lại. Có người tin; có kẻ dửng dưng. Nhưng điều quan trọng không nằm ở kết quả, mà ở sự trung tín. Điều đáng nói là sự ‘không thành công’ ấy không chỉ đến từ bên ngoài; ngay chính họ sau ba năm ở với Thầy cũng từng chậm tin. Khi nghe loan báo Thầy sống lại, họ nghi ngờ; đối diện mầu nhiệm Phục Sinh, họ lúng túng. Trước khi trở thành người thuyết phục người khác, họ đã phải đi qua bóng tối trong chính mình. Rõ ràng, sứ vụ được trao cho những con người mong manh. “Thành công không phải chấm hết, thất bại không phải diệt vong; điều quyết định là dũng khí tiếp tục!” – Winston Churchill.

Cũng vậy, với chúng ta. Khi quá ám ảnh bởi kết quả, chúng ta vô tình đặt mình vào trung tâm; nhưng khi buông mọi thành quả cho Chúa, chúng ta trở lại đúng vị trí của người được sai. Có những mùa ‘không thành công’ không phải vì Thiên Chúa vắng mặt, nhưng vì Ngài đang thanh luyện động cơ của chúng ta. Ngài lấy đi sự bảo đảm để trả lại sự phó thác; Ngài bẻ gãy sự kiểm soát để mở ra tự do; Ngài làm nghèo kết quả để làm giàu tình yêu. Vì thế, nếu đồng hoá giá trị của mình với những thành quả, chúng ta sẽ sớm nản lòng; nhưng nếu tâm niệm rằng, chúng ta chỉ là những người được sai, chúng ta sẽ học cách giũ bụi – không cay đắng, không thất vọng, để chỉ tiếp tục lên đường. “Nhờ kiên trì, nhiều người chiến thắng từ những gì dường như chắc chắn là thất bại!” – Benjamin Disraeli.

Anh Chị em,

Hãy nhìn lên Thập Giá Chúa Giêsu. Nếu đo bằng thành công nhân loại, đó là một thất bại: bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị kết án và đóng đinh. Không đám đông ủng hộ, không chiến thắng hiển nhiên. Thập Giá là hình ảnh tận cùng của ‘không thành công’. Thế nhưng chính nơi ấy, tình yêu đạt tới mức viên mãn và Nước Thiên Chúa được khai mở, ơn cứu độ tuôn trào. Bởi đó, khi Hội Thánh hay khi mỗi chúng ta đi qua những mùa khô khốc – không được đón nhận – chúng ta không ở ngoài con đường của Chúa Kitô. Ngài đã đi trước trong kinh nghiệm bị từ chối. Và chính từ nơi tưởng như thất bại ấy, mùa cứu rỗi nở hoa. “Thất bại tưởng chừng của Thứ Sáu Tuần Thánh đã là hạt mầm của sáng Phục Sinh!” – Raniero Cantalamessa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bị khước từ, xin giữ con trung tín; khi con không thấy kết quả, xin giữ con tự do; khi con rao giảng, cho con – đừng tìm con – chỉ tìm vinh quang Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần IV Thường Niên

Đức Giê-su bắt đầu sai các Tông Đồ đi rao giảng.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,7-13

7 Khi ấy, Đức Giê-su gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế. 8 Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng ; 9 được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. 10 Người bảo các ông : “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 11 Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ.” 12 Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. 13 Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.


 

 THẰNG NGUỴ CON- Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn.

Cửa phòng là một bửng sắt khá dày,

bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay.

Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.

Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài.

Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng.

Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng.

Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi.

Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc,

phơi quần áo… trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần.

Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với :

-Không được nghịch, mẹ đánh đấy !

Thằng nhỏ đứng lại.

Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau.

Thăng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao !

Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này ?

Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ,

ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt,

hôi hám ấy ?

Tâm tính nó sẽ ra sao về sau ?

Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần.

Tôi quay lại hỏi ông Đoàn :

-Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá ! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không ?

Ông Đoàn nói :

-Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi ! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.

Tôi tức cười thốt lên :

-Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch :

Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản man rợ.

Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó ?

Tôi nói :

-Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa !

Ông Đoàn cười :

-Ông khỏi lo ! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu ! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú.

Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều !

Tôi cảm thán :

-Vậy sao ? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi ! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi !

Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi.

Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng.

Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại :

-Hết hồn!

Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó.

Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ.

Tôi hỏi :

– Cháu tên gì?

– ”Ngụy con” !

Tôi ngạc nhiên hỏi lại :

– Chú hỏi cháu tên là gì ?

– ”Ngụy con” !

– Ai đặt tên ấy cho cháu ?

– Mấy chú cán bộ !

– Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à ?

– Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là

” ngụy con” !

Trời đất ơi ! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn !

Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng.

Rồi ngày thăm nuôi đến

– ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào.

Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác.

Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường.

Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…

Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở.

Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới.

Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm,

cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy.

Nói chung, trong ngày thăm nuôi,

bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui,

dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh.

Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người :

“thằng ngụy con” !

Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương.

Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.

Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù.

Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay :

bánh tráng, cốm bắp, kẹo… về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây !

Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi.

Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người.

Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà. Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn.

Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh,

nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng.

Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng đón nó lại :

– ”Ngụy con” có nhiều quà quá,

chia cho chú với nào!

Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo :

– Gói này cho chú xin nghe!

Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt :

– Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi !

Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem.

Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng.

Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:

– Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác,

chưa ráo máu đầu đã học phản động !

Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét :

– Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ !

Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện.

Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng.

Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.

Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật.

Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi.

Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….

Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo :

– Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau ! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra !

Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường.

Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ.

Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ.

Sáng sớm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ :

– Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng !

Tôi giật mình :

biết đâu lại là thằng nhỏ ?

Tiếng từ phòng trực hỏi lại :

– Nặng bao nhiêu ký ?

Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn :

– Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết !

– Nghe rồi, đợi đó giải quyết !

Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân.

Có lẽ cán bộ y tế đã đến.

Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức :

– Ông nghe gì không ?

Tôi lắng tai để nghe.

Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà :

– Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi ? Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…

Tôi giật mình thở dài :

Trời ơi, thằng nguỵ con !

Liền đó tôi nghe có tiếng nạt nộ :

– Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai ?

Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp./.

(Nguồn: Sài Gòn trong tim tôi – Ngô Viết Trọng)


 

Các Á Bí tích là gì? – Cha Vương

Chúa là tất cả đời con…  Xin Ngài ở bên cạnh bạn luôn mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 4:  04/02/2026. (t3-25)

GIÁO LÝ: Các Á Bí tích là gì? Là các dấu tích thánh, hoặc các việc thánh có kèm theo sự chúc lành của Hội thánh. Ví dụ: làm phép nước thánh, làm phép chuông, đàn, làm phép nhà, xe, làm phép tro ngày xức tro, lá dừa, nến phục sinh, làm phép hoa quả lễ Đức Mẹ Lên trời, phép lành khi hành hương… (YouCat, số 272)

SUY NIỆM: Các Á Bí tích bắt nguồn từ chức tư tế cộng đồng của mọi tín hữu được mời gọi trở nên một lời chúc lành của Thiên Chúa và có khả năng chúc lành (St 12:2). Thừa tác viên của Á Bí tích ưu tiên cho những người có chức thánh (GL 1168).

— Chỉ có Giám mục hay linh mục được ủy quyền mới được cử hành các nghi thức thánh hiến hay cung hiến (chúc phong viện phụ, thánh hiến trinh nữ, cung hiến nhà thờ, bàn thờ).

— Linh mục hay phó tế có thể ban các phép lành trên người (chúc lành cho các giáo lý viên, khách du lịch,…), trên vật dụng (chuỗi Mân Côi, ảnh tượng thánh,…), và nơi chốn (làm phép nhà mới, làm phép trường học,…).

— (Nếu không có những người có chức thánh hoặc được sự uỷ thác của cha sở) Giáo dân cũng có thể chủ sự một số nghi thức chúc lành và làm phép (chúc lành cho đôi hôn phối ngoài thánh lễ, chúc lành cho con cái, làm phép nhà, chúc lành Sinh nhật,…).

— Hiệu quả của Phụ tích: Các Phụ tích không ban ơn Chúa Thánh Thần như các Bí tích, nhưng nhờ lời cầu nguyện của Hội Thánh, chuẩn bị các tín hữu sốt sắng đón nhận ân sủng và giúp họ đón nhận ân sủng một cách hiệu quả.

Tất cả mọi biến cố trong cuộc đời con người đều được thánh hóa từ mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Ki-tô vì Ngài là nguồn mạch mọi ân sủng. Không có việc sử dụng của cải vật chất chính đáng nào mà không liên quan đến mục đích thánh hóa con người và ca ngợi lòng từ bi của Thiên Chúa. 

LẮNG NGHE: Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” (St 12:2-3)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin chúc lành và thánh hóa con để con thăng tiến và trưởng thành đời sống đức tin mà không rơi vào cạp bẫy của ma quỷ.

THỰC HÀNH: Chú tâm làm Dấu Thánh Giá một cách chậm rãi để tôn vinh và ngợi khen Chúa Ba Ngôi.

From: Do Dzung

*************************

Hạnh Phúc Bên Chúa – Thanh Hoài | St: Sơn Túi Đỏ 

Mạng xh Úc đang lan tin về cậu bé Austin Appelbee anh hùng

Nguyễn Thị Bích Hậu

Mạng xh Úc đang lan tin về cậu bé Austin Appelbee anh hùng. Cậu mới mười ba tuổi, sống ở Tây Úc.  Gia đình cậu gồm 4 người là mẹ và 2 em cậu cùng Austin ra biển chèo thuyền kayak. Không may họ rơi vào vùng biển động. Sóng càng lúc càng cuốn thuyền ra xa.

Austin đã quyết định nhảy xuống biển sau khi cả nhà chới với trên thuyền.

Cậu kiên cường bơi trong vùng biển có sóng lớn để tìm cứu hộ. Vừa bơi cậu vừa cầu nguyện.

Gần 4 h sau cậu vào được bờ. Cậu  vùng chạy tiếp 2 km tới nơi cầu cứu.

Những người cứu hộ đã tìm thấy mẹ, em   trai 12 tuổi và em gái 8 tuổi của Austin. Họ bị cuốn xa 14 km, đói lả, chịu lạnh giá nhưng còn sống sót.

Austin là một anh hùng.

Cậu nói cậu kiên trì bơi và cầu nguyện Đức Chúa.

“Tôi chỉ nghĩ rằng ‘cứ tiếp tục bơi, cứ tiếp tục bơi,'” sau đó cậu bé tâm sự với các phóng viên.

Austin khiêm tốn nói: “Tôi không nghĩ rằng chính tôi là người làm điều đó – đó là Chúa đã làm suốt thời gian qua. ” Cậu đã cầu nguyện trong suốt cuộc thử thách và hứa sẽ chịu lễ rửa tội.

Một con người bé nhỏ, vào giây phút sinh tử đã giữ vững kiên trì và Đức Tin. Vì vậy, cậu đã vượt qua cõi chết và cứu sống 3 nhân mạng là ruột thịt của mình.

Thật đáng khâm phục.

Hình từ trang traci cotton.


 

Viết điều tử tế nhất mà các em có thể nói

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

 Một ngày nọ, một cô giáo quyết định thử một việc rất đơn giản với lớp học của mình. Cô phát cho mỗi học sinh hai tờ giấy trắng và yêu cầu các em viết tên của tất cả những người có mặt trong lớp, chừa ra một khoảng trống giữa mỗi cái tên. Cô không giải thích thêm gì cả. Không nói lý do. Không nói mục đích. Chỉ có tiếng bút chì sột soạt vang nhẹ trong căn phòng.

Rồi cô mới giao bài thật sự.

“Cô muốn các em viết điều tử tế nhất mà các em có thể nói về mỗi người,” cô nói. “Một điều tốt đẹp. Và phải là điều thật lòng.”

Cả lớp im lặng.

Ban đầu, có vài em ngập ngừng. Ở tuổi thiếu niên, lời khen không phải lúc nào cũng dễ nói ra. Nhưng rồi dần dần, những cái đầu cúi xuống. Những cây bút bắt đầu chuyển động. Suy nghĩ thành hình. Từng câu chữ tử tế lần lượt xuất hiện trên trang giấy.

Cả tiết học trôi qua trong yên lặng. Không ai xao nhãng. Không ai xin ra sớm. Khi chuông reo, các em nộp lại bài và rời khỏi lớp, không hề biết rằng mình vừa tạo ra một điều sẽ sống rất lâu đến mãi sau này.

Cuối tuần đó, cô giáo ngồi bên bàn bếp, đọc từng dòng chữ. Với mỗi học sinh, cô cẩn thận tổng hợp lại một danh sách riêng, gồm tất cả những điều tốt đẹp mà các bạn trong lớp đã viết về em đó. Cô đánh máy từng danh sách, chăm chút từng chữ, không để sót điều gì.

Sáng thứ Hai, cô trao lại cho mỗi học sinh tờ giấy của riêng mình.

Lúc đầu, cả lớp lại im lặng. Rồi những nụ cười dần xuất hiện. Có em nhìn chằm chằm vào tờ giấy như không tin những lời đó là dành cho mình. Có em khẽ thì thầm với bạn bên cạnh:

“Trước giờ mình không biết là có người để ý tới mình.”

Có em nói nhỏ:

“Mình không biết là mọi người quý mình đến vậy.”

Những tờ giấy ấy không bao giờ được đem ra thảo luận trong lớp. Cô giáo không biến nó thành một bài học, cũng không yêu cầu ai chia sẻ cảm nghĩ. Cô chỉ để khoảnh khắc đó trôi qua đúng như nó vốn là.

Nhưng có điều gì đó đã thay đổi.

Các em bước đi tự tin hơn một chút. Nói chuyện với nhau nhẹ nhàng hơn. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, mỗi người đều cảm thấy mình được nhìn thấy. Được trân trọng. Được an toàn.

Rồi năm tháng trôi qua.

Một ngày kia, cô giáo nhận được tin khiến tim mình thắt lại. Một học trò cũ của cô, Mark, đã hy sinh khi đang phục vụ trong chiến tranh Việt Nam. Cô đến dự tang lễ. Đứng lặng lẽ giữa những hàng quân phục và những gương mặt đẫm buồn.

Khi tiến lại gần quan tài, cô suýt không nhận ra Mark. Em trông già hơn. Rắn rỏi hơn. Và quá trẻ để ra đi như vậy.

Một người lính bước đến gần cô và hỏi nhỏ:

“Cô có phải là giáo viên dạy toán của Mark không ạ?”

Cô gật đầu.

“Cậu ấy hay nhắc đến cô lắm,” người lính nói. “Cô rất quan trọng với cậu ấy.”

Sau buổi lễ, cha mẹ của Mark tiến lại gần. Người cha lấy từ ví ra hai mảnh giấy đã cũ, dán lại với nhau, mép giấy sờn đi vì được cầm nắm quá nhiều lần.

“Họ tìm thấy cái này trong người Mark khi nó mất,” ông nói. “Chúng tôi nghĩ là cô sẽ nhận ra.”

Đó là tờ danh sách.

Danh sách những lời tử tế mà bạn bè đã viết cho Mark năm nào.

Mẹ của Mark cố kìm nước mắt.

“Cảm ơn cô,” bà thì thầm. “Như cô thấy đấy, nó trân quý tờ giấy này lắm.”

Rồi những học trò cũ khác lần lượt bước tới. Mỗi người, theo cách rất riêng, nói ra bí mật của mình.

“Tôi giữ tờ của tôi trong ngăn kéo bàn làm việc,” Charlie nói.

“Chồng tôi giữ tờ của anh ấy trong album cưới của chúng tôi,” vợ của Chuck chia sẻ.

“Tờ của tôi nằm trong nhật ký,” Marilyn mỉm cười dịu dàng.

Rồi Vicki lấy từ trong túi xách ra một mảnh giấy đã nhăn nhúm:

“Tôi luôn mang nó theo người. Đi đâu cũng mang.”

Lúc đó, cô giáo không kìm được nữa. Cô ngồi xuống và khóc — vì Mark, vì những học trò đã mang theo những lời tử tế ấy suốt cả cuộc đời, và vì những người không có cơ hội được già đi cùng nhau.

Và rồi cô hiểu ra.

Chỉ là một tờ giấy.

Vài câu nói chân thành.

Một khoảnh khắc tử tế được trao đi mà không ai biết rằng nó quan trọng đến nhường nào.

Chúng ta dành quá nhiều thời gian để chờ đợi.

Chờ đúng lúc.

Chờ đủ can đảm.

Chờ một ngày nào đó.

Nhưng ngày đó không phải lúc nào cũng đến.

Sự tử tế không hề nhỏ bé.

Lời nói không bao giờ là tạm thời.

Ta không bao giờ biết câu nói nào sẽ trở thành điểm tựa của một ai đó, hành động nào sẽ được gấp lại và mang theo suốt chiến tranh, hôn nhân, mất mát và thời gian.

Hãy nói điều tử tế.

Hãy viết lên giấy..

Tia Sáng Nhỏ


 

LỜI CON GÁI CỦA TÔI TRONG TÒA ĐÃ THAY ĐỔI PHÚT CUỐI

Những Câu Chuyện Thú Vị – Lan Lê

*Tôi đã yêu Molly ngay khi nhìn thấy cô ấy. Cô ấy rất xinh đẹp, nhưng điều đó không ngăn bạn trai của cô ấy rời bỏ cô ấy khi cô ấy mang thai. Cô ấy khóc trên vai tôi. Tôi yêu điên cuồng, nên tôi hỏi cưới cô ấy. Tôi chỉ muốn ở đó.

Molly ghét từng giây mang thai của mình. Tôi đã hy vọng cô ấy sẽ vui lên khi đứa bé chào đời. Nhưng khi Amelia bước vào thế giới, Molly chỉ phàn nàn, nhớ cuộc sống cũ của mình. Cô ấy hầu như không quan tâm đến cô bé nhưng Amelia? Cô ấy là cả thế giới của tôi, là ánh sáng của tôi.

Chúng tôi đã sống cuộc sống kỳ lạ này trong 5 năm cho đến một ngày, Molly đã như nổ một trái bom: “Tôi muốn ly dị! “Em chán anh và con bé đó rồi! Ước gì tôi chưa bao giờ có được con bé ấy! “

Đó cũng là điều đó cho tôi. Một tháng sau, cô ấy trở lại với Tanner – chính là người đã bỏ rơi cô ấy! Trong khi Amelia và tôi chiến đấu với Molly đang tiệc tùng như cô ấy muốn.

Con gái tôi và tôi vừa bắt đầu làm lại cuộc sống của chúng tôi khi Molly xuất hiện lại:

Ella: “Tanner cuối cùng đã sẵn sàng để trở thành một người cha. Trả con gái tôi cho tôi. “

Tôi: “Cô nghiêm túc chứ?! “Con bé là con gái tôi. Tôi đã ở đây khi cô ra ngoài làm việc gì Chúa mới biết!.”

Cô ấy: “Tòa án nào sẽ đứng về phía anh?! “Con bé là con gái của chúng tôi bằng máu. Anh chẳng là gì đối với con bé!”

Ngày phán xét đã đến, và tôi không biết những điều này diễn ra như thế nào – những người mẹ luôn giành chiến thắng. Suy nghĩ về việc mất con gái nhỏ của tôi làm trái tim tôi tan nát.

Ngay khi tôi nghĩ rằng nó đã kết thúc, với tôi, tôi nghe thấy giọng nói quen thuộc: “Xin lỗi, con có thể nói điều gì đó được không?”.

Cô bé là con gái nhỏ của tôi. Cô bé nhìn tôi và mỉm cười. Tôi cảm thấy hy vọng.

“Ông sẽ thấy… Thưa quý tòa? Chúa ơi, con chỉ có một người cha. Con không muốn sống với người phụ nữ này mà con thậm chí không biết có phải là mẹ con không – bà ấy chưa bao giờ yêu con. Con nhớ bà ấy nói bà ấy hối hận vì có con. Cha Mark luôn ở đó vì con. Ba dạy con cách đi xe đạp, chăm sóc con khi con ốm và ôm con khi con gặp ác mộng. Con không quan tâm liệu con có liên quan đến máu mủ hay không. Người mẹ của con xin hãy để con sống với ông ấy. Ông ấy sẽ luôn là cha con, người cha tốt nhất của con, người hùng của con.”

Sau lời nói của cô bé, thẩm phán không mất nhiều thời gian để quyết định. Con gái tôi đã ở lại với tôi. Molly la hét, đe dọa và đuổi theo chúng tôi, nhưng chúng tôi không quan tâm.

Chúng tôi đã có nhau.”

– Đây là một câu chuyện có thật.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.\


 

SAI KỊCH BẢN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ vấp ngã vì Người”.

“Tại sao những người Nazareth lại từ ngạc nhiên chuyển sang hoài nghi? Vì ân sủng của Thiên Chúa thường biểu hiện theo những cách đáng ngạc nhiên, không trùng khớp với sự mong đợi của chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng “không trùng khớp với sự mong đợi” khác nào nói ‘sai kịch bản’ chúng ta mong đợi! Đó là những gì Tin Mừng hôm nay cho thấy khi Chúa Giêsu trở về quê nhà.

Phản ứng của người Nazareth không chỉ là một phản ứng tâm lý; mà là một va chạm giữa mặc khải và “hệ hình tôn giáo” họ dựng nên. Họ không thiếu hiểu biết về Chúa Giêsu; họ “biết” gia đình, nghề nghiệp, nguồn gốc của Ngài – nhưng cái biết ấy đã trở thành rào cản! Khi Thiên Chúa tự tỏ mình trong dáng vẻ quen thuộc, chúng ta cảm thấy bị đe doạ. Bởi lẽ, một Thiên Chúa ở xa – uy nghi, khác biệt – dễ chấp nhận hơn một Thiên Chúa ở gần, chia sẻ thân phận và phá vỡ những an toàn. Nhập Thể không làm Thiên Chúa bớt cao cả; nhưng làm chúng ta phải xét lại cách hiểu về quyền năng Ngài. “Đức Giêsu đã làm cho sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên gần kề đến mức gây sốc cho bất cứ ai muốn!” – John Ortberg.

Ở đây lộ ra nghịch lý cốt lõi của đức tin: Thiên Chúa cứu độ bằng tự hạ! Quyền năng Ngài không áp đảo tự do; ân sủng Ngài không phá vỡ điều tự nhiên. Chính vì thế, mặc khải luôn có thể bị từ chối! Khi Thiên Chúa hành động không theo những tiêu chuẩn quen thuộc, chúng ta dễ kết luận Ngài ‘sai kịch bản!’. Thực ra, điều hỏng hóc không phải là kế hoạch của Thiên Chúa, mà là hình ảnh chúng ta giam giữ về Ngài.

“Họ vấp ngã vì Người”. “Vấp ngã” ở đây không đơn thuần là thất vọng; đó là scandal – tảng đá chướng ngại. Ngài trở thành tảng đá ấy vì không đáp ứng các mong đợi về một Đấng Cứu Thế quyền lực, hiển hách. Thiên Chúa chọn con đường nhỏ bé, lớn lên trong âm thầm, nói lời khôn ngoan từ môi miệng của một anh thợ mộc. Sự gần gũi ấy đòi chúng ta hoán cải cái nhìn, chứ không chỉ thay đổi cảm xúc. “Nhập Thể có nghĩa là Thiên Chúa bước vào chính cấu trúc của đời sống bình thường!” – Dorothy Day.

Anh Chị em,

Thập giá sẽ là đỉnh cao của nghịch lý ấy. Một Đấng Cứu Thế chịu treo trên cây gỗ xem ra thất bại hoàn toàn; nhưng chính nơi yếu đuối ấy, tình yêu tự hiến được tỏ lộ trọn vẹn. Nếu chỉ tìm một Thiên Chúa xác nhận dự tính của mình, chúng ta sẽ vấp ngã; khi để Ngài là Thiên Chúa, chúng ta bắt đầu tin và nhận ra ơn cứu độ đi bằng con đường tự hiến! Đừng để Thiên Chúa bước vào câu chuyện đời đã viết sẵn của chúng ta như nhân vật phụ; Ngài là Đấng viết lại nó từ bên trong. Và chỉ khi thôi đòi Ngài đừng ‘sai kịch bản’, chúng ta mới không còn “vấp ngã”, nhưng nhận biết Ngài là Đấng Cứu Độ. “Ai muốn theo Đức Kitô phải từ bỏ việc bắt Ngài theo mình!” – Dietrich Bonhoeffer.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con giam Ngài trong định kiến, xin mở trí; khi mầu nhiệm làm con choáng ngợp, xin làm con vững tin; khi thực tế vượt quá hiểu biết, xin kéo con sấp mình thờ lạy!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IV Thường Niên

Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,1-6

1 Khi ấy, Đức Giê-su trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói : “Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a và là anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?” Và họ vấp ngã vì Người. 4 Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó ; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.


 

Thánh Blase (Biagio) – Cha Vương

Mến chào bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo hội mừng kính Thánh Blase (Biagio), mời Bạn suy niệm về đời sống nhân đức của Ngài.

Cha Vương

Thứ 3: 03/02/2026.(t2-25)

   

  Chúng ta biết nhiều về sự sùng kính của Kitô Hữu đối với Thánh Blase hơn là tiểu sử của ngài. Trong Giáo Hội Ðông Phương, ngày lễ kính ngài được coi là một ngày lễ lớn. Công Ðồng Oxford, vào năm 1222 đã cấm làm việc xác trong ngày lễ Thánh Blase (hay còn gọi là Thánh Biagio). Người Ðức và người Ðông   u rất kính trọng thánh nhân, và trong nhiều thập niên, người Công Giáo Hoa Kỳ thường chạy đến với thánh nhân để xin chữa bệnh đau cổ họng.

       Chúng ta được biết Ðức giám mục Blase chịu tử đạo năm 316 ngay trong giáo phận của ngài ở Sebaste, Armenia. Mãi cho đến 400 năm sau mới có huyền thoại viết về ngài. Theo đó, Thánh Blase là một giám mục tốt lành, làm việc vất vả để khuyến khích giáo dân sống lành mạnh về tinh thần cũng như thể xác. 

       Mặc dầu chỉ dụ Toleration, năm 311, đã cho phép tự do tôn giáo ở Ðế Quốc Rôma hơn năm năm, nhưng ở Armenia, việc bách hại vẫn còn dữ dội. Hiển nhiên là Thánh Blase buộc phải rời bỏ giáo phận và sống trong rừng núi. Ở đó ngài sống trong cô độc và cầu nguyện, làm bạn với thú rừng.

       Một ngày kia, có nhóm thợ săn đi tìm thú dữ để dùng trong đấu trường và tình cờ họ đã thấy hang động của Thánh Blase. Từ kinh ngạc cho đến sợ hãi, họ thấy vị giám mục đi lại giữa đám thú dữ một cách điềm tĩnh để chữa bệnh cho chúng. Nhận ra ngài là giám mục, họ bắt ngài về để xét xử. Trên đường đi, ngài ra lệnh cho một con sói phải thả con heo nó đang cắn giữ vì đó là của người đàn bà nghèo. Khi Thánh Blase bị giam trong tù và bị bỏ đói, người đàn bà này đã đền ơn ngài bằng cách lẻn vào tù cung cấp thức ăn cho thánh nhân.

       Ngoài ra, truyền thuyết còn kể rằng, một bà mẹ có đứa con trai bị hóc xương đã chạy đến ngài xin cứu giúp. Và sau lời truyền của Thánh Blase, đứa bé đã khạc được chiếc xương ra khỏi cổ.

       Agricolaus, Thủ Hiến xứ Cappadocia, tìm mọi cách để dụ dỗ Thánh Blase bỏ đạo mà thờ tà thần. Lần đầu tiên từ chối, ngài bị đánh đập. Lần kế tiếp, ngài bị treo trên cây và bị tra tấn bằng chiếc lược sắt cào vào thân thể. Sau cùng ngài bị chém đầu năm 316. Người được tôn kính như quan thầy các thợ chải len, những người bị đau cuống họng.

 (Nguồn: Người Tín Hữu online)

       Sau đây là Kinh cầu Thánh Blase được dùng để khẩn cầu cho những ai mang bệnh của cổ họng: “Qua lời cầu bầu của Thánh Blase, là giám mục và là vị tử đạo, xin Thiên Chúa chữa con khỏi bệnh tật của cổ họng và khỏi mọi sự dữ. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Kinh cầu Thánh Blase). Xin Thánh Blase, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

***************************

XIN CHÚA CHỮA LÀNH CON – ST: HUỲNH MINH KỲ – Trình bày: Triệu Ngọc Yến