VẬT LỘN VỚI CHÍNH SỰ PHỨC TẠP CỦA BẢN THÂN – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Catherine de Hueck Doherty, người sáng lập Madonna House, đã từng có một cuộc phỏng vấn rất sâu sắc.  Là một nhân vật thiêng liêng nổi tiếng và được kính trọng, bà thẳng thắn thừa nhận rằng con đường của mình không hề dễ dàng, rằng bà cũng có rất nhiều giằng co nội tâm.  Tại sao?  Vì giống như tất cả chúng ta, bà mang một sự phức tạp gần như “bệnh lý.”  Làm người – bà nói – không hề đơn giản. 

Bà mô tả chính mình như thế này (diễn lại ý): 

“Trong tôi,” bà nói, “dường như có ba con người.  Có một người tôi gọi là ‘Nữ Bá tước.’  ‘Nữ Bá tước’ là người thiêng liêng, hiệu quả, sống cầu nguyện và khổ chế.  Đó là con người đạo đức trong tôi.  Chính người này đã lập nên một cộng đoàn tu trì, viết sách thiêng liêng, thách đố người khác, và hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và người nghèo.  ‘Nữ Bá tước’ đọc Tin Mừng và cảm thấy thiếu kiên nhẫn với những chuyện trần thế.  Đối với bà, cuộc sống hiện tại phải được hy sinh cho đời sau.

 Nhưng trong tôi cũng có một người khác, tôi gọi là ‘Catherine.’  ‘Catherine’ là người phụ nữ thích những điều đẹp đẽ, xa hoa, tiện nghi và khoái lạc.  Bà muốn tận hưởng sự nhàn rỗi, những bồn tắm dài, quần áo đẹp, trang điểm, thức ăn ngon, và (khi còn kết hôn) từng tận hưởng đời sống vợ chồng lành mạnh.  ‘Catherine’ yêu thích cuộc sống này và không thích hy sinh.  Bà không mấy đạo đức và thường không ưa ‘Nữ Bá tước.’  Hai người này không phải lúc nào cũng hòa hợp.

 Nhưng vẫn còn một con người nữa trong tôi – không phải ‘Catherine,’ cũng không phải ‘Nữ Bá tước.’   Trong tôi còn có một cô bé nằm trên sườn đồi ở Phần Lan, nhìn mây và mơ mộng.  Cô bé này không đặc biệt thích cả ‘Catherine’ lẫn ‘Nữ Bá tước’. … “và khi tôi già đi, tôi cảm thấy mình giống ‘Nữ Bá tước’ hơn, vẫn còn khao khát ‘Catherine,’ nhưng tôi nghĩ con người thật trong tôi có lẽ là cô bé đang mơ mộng trên đồi.”

 Nếu những lời này được nói bởi một người còn đang loay hoay với việc hoán cải căn bản, thì có lẽ không gây ấn tượng mạnh.  Nhưng đây lại là lời của một “người khổng lồ thiêng liêng,” một người đã từ lâu sống đời môn đệ cách nghiêm túc và dấn thân triệt để phục vụ Thiên Chúa và người nghèo. 

Nếu các vị thánh còn giằng co như vậy, thì chúng ta sẽ thế nào? 

Sự thật là: tất cả chúng ta đều phải vật lộn, bởi vì tất cả chúng ta đều phức tạp.  Làm người vốn đã không đơn giản, và còn phức tạp hơn nữa khi ta cố gắng sống vượt lên trên những gì tự nhiên nơi mình.

 Giống như Catherine, trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người.”  Trong ta có một phần có đức tin, muốn sống các Mối Phúc, muốn hòa nhịp với chân lý Tin Mừng.  Trong ta có một vị tử đạo muốn hy sinh vì người khác, một vị thánh muốn phục vụ người nghèo, một “nghệ sĩ luân lý” muốn sống nội tâm sâu sắc. 

Nhưng đồng thời, trong ta cũng có một phần muốn tận hưởng cuộc sống và mọi khoái lạc của nó.  Trong ta có một kẻ hưởng thụ, một người chạy theo cảm giác, một kẻ buông thả, một người duy vật, một kẻ hoài nghi, và một cái tôi ích kỷ.

 Chưa hết, trong mỗi chúng ta còn có một đứa trẻ – vô tư, mơ mộng, nằm nhìn mây trên một sườn đồi nào đó – không hẳn nghiêng về phía “thánh” hay “tội nhân”.

 Vậy con người thật là ai?  Tất cả đều là ta.  Ta vừa là thánh vừa là kẻ tìm khoái lạc, vừa vị tha vừa ích kỷ, vừa tử đạo vừa hưởng thụ, vừa có đức tin vừa hoài nghi, vừa nghệ sĩ luân lý vừa buông thả, vừa trẻ thơ vừa chai sạn.  Và nhiệm vụ của đời sống không phải là tiêu diệt phần này để giữ phần kia, mà là giúp tất cả những phần đó hòa giải với nhau.

 Và bình an – ta biết – không chỉ đơn giản là không có xung đột.  Nó là một phẩm chất tích cực.  Điều gì tạo nên bình an?  Hai điều: hòa hợp và trọn vẹn.

 Hòa hợp: Một giai điệu trở nên êm đẹp khi các nốt nhạc khác nhau được kết nối thành hòa âm.  Có bình an là không còn chói tai, không còn lệch tông.

 Trọn vẹn: Muốn chơi một bản nhạc phức tạp, bạn cần một bàn phím đầy đủ.  Bình an đòi hỏi bạn có đủ “phím” để chơi tất cả những nốt mà cuộc đời yêu cầu.

 Điều này cũng đúng với bản tính con người.  Sự phức tạp của ta không phải là kẻ thù mà là người bạn.  Tất cả những đối nghịch trong ta đòi hỏi một “bàn phím đầy đủ.”  Vì ta vừa là tội nhân vừa là thánh, vừa hưởng thụ vừa hy sinh, vừa người lớn vừa trẻ thơ – ta cần đầy đủ các “phím” để chơi những bản nhạc mà cuộc đời trao cho.

 Bí quyết là đạt tới sự hòa hợp – nơi các phần khác nhau trong đời ta tạo thành một giai điệu.  Nói cách khác, ta phải vượt qua kiểu “gõ loạn” trên bàn phím tạo ra âm thanh hỗn độn.  Đồng thời, ta cũng phải sử dụng trọn vẹn bàn phím để chơi được tất cả những nốt mà cuộc sống đòi hỏi.

 Kinh nghiệm sống đủ lâu sẽ dạy ta điều này: 

Bình an đến khi ta biết sắp xếp tất cả những mảnh phức tạp trong mình thành một bản nhạc đẹp.

Và dĩ nhiên, càng nhiều nốt, bản nhạc càng phong phú – và giai điệu cuối cùng càng sâu sắc.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Chuyện tuổi Xế Chiều

AnhPhu VanLy is with Nhuan Le.

 nhìn hình ảnh của bà cụ này tự nhiên tôi nghĩ rồi mình cũng sẽ như thế trong 1 ngày rất gần đây

Chuyện tuổi Xế Chiều

Bình Yên LN

Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không ? Căn nhà rộng 132m vuông . Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà : Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu. Bà cụ tiếp tục nói: Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện .

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu. Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói: Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp. Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói : Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống: Đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Trong lòng tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà,nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu… Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần…  Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng: Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình , nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm. Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm bà, cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ , có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua, tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi cộng tác đột xuất nên không kịp gõ cửa nhà bà … Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa nhà bà , nhưng không nghe tiếng trả lời của bà . Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé , pháp y nói: Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói: Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à ! Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang  máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng… Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào… nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng của bà… nhớ lại những khoảng khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực … Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói của bà: Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao. Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà bà, có người lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu: Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất đời ta chỉ còn đường để ra đi

 *Ghi lại từ bài đọc trên FB Phạm Tiến


 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…- Tuấn Khanh

Việt Luận – Viet’s Herald

 NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi in tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – theo như ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh 


 

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi.

Năm 1936, giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng và cơn ác mộng Dust Bowl phủ lên miền Trung nước Mỹ, hàng ngàn trẻ em nông thôn tại tiểu bang Oklahoma vẫn ngày ngày lội gió bụi đến những trường học nhỏ giữa đồng hoang. Đó là thời kỳ mà đất đai nứt nẻ như da trâu mùa hạn, mùa màng chết khô, gia súc lăn ra chết bên hàng rào, còn nhiều gia đình thì sống lay lắt nhờ vài bao bột mì cứu trợ của chính phủ liên bang. Nhưng giữa cảnh khốn cùng ấy, người dân quê Oklahoma vẫn giữ một niềm tin gần như thiêng liêng: con chữ có thể cứu đời con cái họ khỏi cái nghèo truyền kiếp.

Gia đình Harper sống tại một nông trại nhỏ bên ngoài thành phố Enid. Mảnh đất vốn từng màu mỡ ấy giờ đây bị những cơn bão bụi biến thành một biển đất chết. Mỗi khi gió nổi lên, bụi đỏ cuồn cuộn như khói chiến tranh, phủ kín mái nhà, chuồng bò, hàng rào và cả bên trong căn bếp nghèo. Người ta kể rằng có những sáng ngủ dậy, lớp bụi dày đến nỗi bà Harper phải lấy xẻng nhỏ xúc đất ra khỏi nền nhà.

Ông Harper, cha của bọn trẻ, trước kia là nông dân trồng lúa mì. Nhưng sau nhiều mùa thất bát, ông phải đi tìm việc tạm bợ bằng nghề chở lúa thuê hoặc phụ hồ tại các thị trấn lân cận. Đồng lương ít ỏi chẳng đủ nuôi đàn con đông đúc. Bà Harper đành vá quần áo bằng bao bột mì cũ, tận dụng từng mảnh vải vụn để may áo cho con. Bữa ăn gia đình quanh quẩn chỉ có đậu, khoai tây và bánh bắp. Thịt là món xa xỉ hiếm hoi xuất hiện vài lần trong tháng.

Tuy vậy, mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những đứa trẻ Harper vẫn chuẩn bị đến trường. Chúng đi bộ nhiều cây số qua các con đường đất phủ bụi mù. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, tay ôm tập vở cũ đã sờn góc. Có đứa mang giày rách đế, có đứa chân trần vì cha mẹ không đủ tiền mua giày mới. Mùa đông Oklahoma lạnh buốt, gió thổi xuyên qua áo khoác mỏng. Nhưng chưa bao giờ cha mẹ chúng cho phép nghỉ học chỉ vì nghèo.

Những ngôi trường quê thời ấy phần lớn chỉ là trường một phòng học. Trong căn phòng gỗ nhỏ, học sinh từ lớp Một đến lớp Tám ngồi chung. Một chiếc lò sưởi bằng than đặt giữa lớp để chống rét mùa đông. Sách giáo khoa được truyền tay từ khóa này sang khóa khác đến mức gáy sách bung ra từng mảnh. Nhiều học sinh phải dùng chung bút chì vì gia đình không đủ tiền mua đồ dùng học tập.

Các giáo viên miền quê Oklahoma trong thời Dust Bowl không chỉ làm nghề dạy học. Họ còn là y tá, người phát chẩn và đôi khi là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng. Có cô giáo phải bỏ tiền túi mua bánh mì cho học sinh đói bụng. Có thầy giáo sau giờ học còn lái xe đi thăm những gia đình bị bệnh dịch hoặc mất mùa. Nhiều người vận động quyên góp quần áo cũ từ thị trấn để đem phát cho trẻ em nông thôn.

Thời kỳ Dust Bowl không phải chỉ là thiên tai đơn thuần. Đó là hậu quả của nhiều năm canh tác quá mức trên các đồng bằng miền Trung Hoa Kỳ. Khi hạn hán kéo dài kết hợp với gió mạnh, lớp đất mặt màu mỡ bị cuốn lên trời thành những cơn “bão đen” khổng lồ. Từ năm 1930 đến 1936, hàng triệu mẫu đất tại Oklahoma, Texas và Kansas bị phá hủy nghiêm trọng. Hàng trăm ngàn gia đình nông dân phải bỏ quê hương di cư sang California tìm kế sinh nhai.

Nhà văn John Steinbeck sau này đã mô tả thảm cảnh ấy trong cuốn The Grapes of Wrath, một tác phẩm nổi tiếng phản ánh đời sống khốn khổ của dân nghèo miền Dust Bowl. Nhưng đối với những đứa trẻ như nhà Harper, bi kịch ấy không nằm trong sách vở. Chúng sống giữa nó từng ngày, từng giờ.

Năm 1935, một trận bão bụi khổng lồ mang tên “Black Sunday” đã biến ban ngày thành đêm tối. Người dân kể rằng khi cơn bão kéo đến, họ không nhìn thấy bàn tay mình trước mặt. Trẻ em phải lấy khăn ướt che mũi để khỏi nghẹt thở. Bụi lọt vào phổi gây ra căn bệnh gọi là “dust pneumonia” khiến nhiều người tử vong. Những đứa trẻ nông thôn lớn lên giữa bụi đất và nỗi sợ mùa màng thất bại.

Dẫu vậy, trường học vẫn là nơi đem lại chút hy vọng hiếm hoi. Trong lớp học nhỏ ấy, bọn trẻ được học đọc, học viết, học địa lý và nghe kể về một thế giới rộng lớn bên ngoài cánh đồng khô cằn. Với nhiều phụ huynh, con đường học vấn là cơ hội duy nhất để con cái họ thoát khỏi kiếp bám đất mà vẫn nghèo.

Một học sinh cũ sau này nhớ lại: “Chúng tôi không biết mùa màng có sống nổi hay không, nhưng cha mẹ vẫn bắt chúng tôi đi học mỗi sáng. Họ tin rằng dù đất đai có chết, con chữ vẫn còn sống.”

Niềm tin ấy phản ánh tinh thần đặc biệt của tầng lớp nông dân Mỹ thời Đại Khủng Hoảng. Dù mất tiền bạc, mất mùa màng, họ vẫn không chịu đầu hàng số phận. Chính phủ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt sau đó đã đưa ra chương trình New Deal nhằm cứu trợ nông dân, tạo việc làm và cải tổ kinh tế. Nhưng trước khi các chính sách ấy phát huy hiệu quả, nhiều gia đình đã phải tự chống chọi bằng nghị lực phi thường.

Điều đáng nói là những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 không hề xem mình là anh hùng. Chúng chỉ đơn giản làm điều phải làm: thức dậy, đi học và tiếp tục sống. Nhưng chính sự bình dị ấy mới là vẻ đẹp lớn nhất của thế hệ Dust Bowl. Không súng đạn, không chiến công, không huy chương, chỉ có đôi chân trẻ thơ lầm lũi bước qua đồng bụi để giữ lấy tương lai.

Ngày nay, nhiều trường học một phòng tại Oklahoma đã biến mất, nhường chỗ cho xa lộ và các thị trấn hiện đại. Nhưng những bức ảnh cũ còn lưu lại vẫn khiến hậu thế xúc động. Trong ảnh, lũ trẻ gầy gò đứng trước mái trường gỗ đơn sơ, áo quần vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt vẫn sáng. Đó là ánh mắt của một thế hệ sinh ra giữa tai họa nhưng không chịu khuất phục.

Câu chuyện của những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 nhắc hậu thế một bài học đơn giản mà sâu xa: nghèo đói có thể lấy mất tài sản, thiên tai có thể phá hủy ruộng đồng, nhưng tri thức và nghị lực vẫn là thứ giúp con người đứng dậy sau mọi biến động. Chính những bước chân bé nhỏ trên con đường bụi đỏ năm xưa đã góp phần dựng lại nước Mỹ sau thời Đại Khủng Hoảng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Ngo Duc Chien

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – người nhìn thấy “tư bản hoang dã” từ năm 1993

Có những trí thức càng đi trước thời đại thì lời nói của họ càng khiến hậu thế giật mình vì… quá đúng. Nguyễn Khắc Viện là một người như thế.

Trong phần bổ sung “Con đường đi tới tương lai” của cuốn Việt Nam, một thiên lịch sử viết năm 1993, ông từng cảnh báo Việt Nam sau Đổi Mới có nguy cơ xuất hiện một thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”: đồng tiền lấn át đạo lý, bất bình đẳng xã hội gia tăng, tội phạm, ma túy, phá rừng, ô nhiễm môi trường và nguy hiểm nhất là sự cấu kết giữa quyền lực với lợi ích kinh tế kiểu “mafia”.

Ba mươi năm trước, khi xã hội còn ngập trong không khí lạc quan của mở cửa và tăng trưởng, rất ít người nói được điều ấy. Nhưng Nguyễn Khắc Viện đã nhìn thấy mặt trái của phát triển nếu kinh tế đi quá nhanh còn văn hóa, pháp luật và lương tri đi quá chậm.

Hôm nay nhìn lại, từ các đại án tham nhũng, thực phẩm giả, thuốc giả, hàng giả đến lợi ích nhóm và môi trường bị tàn phá, người ta mới thấy những cảnh báo năm ấy giống một dự cảm đáng sợ về hiện tại.

Ông đặc biệt chua chát trước kiểu quan chức biến chất: lúc đương quyền thì huênh hoang quyền lực, nhưng khi ra tòa lại khóc lóc, kêu bệnh tật, kể công trạng để xin giảm tội. Theo ông, ngoài việc lợi dụng chức quyền để kiếm chác, họ hầu như không để lại giá trị nào cho đất nước. Cái nghèo đáng sợ nhất không phải nghèo tiền bạc, mà là nghèo nhân cách và lòng tự trọng.

Nguyễn Khắc Viện không phản đối làm giàu. Ông chỉ phản đối kiểu giàu lên bằng sự tha hóa của quyền lực và sự xuống cấp của đạo lý xã hội. Ông cho rằng một xã hội lấy giàu-nghèo làm thước đo phẩm giá con người sẽ rất nguy hiểm. Giàu cá nhân, giàu dòng họ mà không giàu lòng yêu nước chín chắn thì không đáng để tôn vinh.

Sinh năm 1915 tại Hà Tĩnh trong gia đình Nho học, ông từng đỗ đầu ba bằng Tú tài tại Trường Bưởi, nay là Trường THPT Chu Văn An, rồi học y trước khi sang Pháp.

Năm 1942, ông mắc lao phổi nặng, trải qua nhiều cuộc đại phẫu, bị cắt bỏ một phần phổi và nhiều xương sườn. Từ cửa tử, ông tự nghiên cứu yoga, khí công và dưỡng sinh để cứu chính mình. Sau này, phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện được phổ biến rộng rãi và giúp nhiều người phục hồi sức khỏe.

Về nước năm 1963, ông hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghiên cứu xã hội; dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, viết nhiều công trình về lịch sử, tâm lý trẻ em và văn hóa Việt Nam. Sau nghỉ hưu, ông càng viết mạnh mẽ hơn về giáo dục, dân chủ và phản biện xã hội.

Trong những năm 1980, nhiều ý kiến của ông từng bị xem là “lệch chuẩn”, “xét lại”. Ông phê phán bệnh giáo dục nhồi nhét, tâm lý sợ phản biện và thói phục tùng máy móc. Có thời gian bài viết của ông bị hạn chế phổ biến vì ông nói quá thẳng những điều xã hội không muốn nghe.

Nhưng ông không phải người chống đối cực đoan. Ông là mẫu trí thức yêu nước, muốn đất nước mạnh lên bằng sự tự soi lại chính mình. Điều khiến ông khó được chấp nhận là ông luôn đòi hỏi xã hội phải trung thực với sự thật.

Nhiều năm sau, những điều Nguyễn Khắc Viện cảnh báo về giáo dục, văn hóa và sự tha hóa quyền lực dần trở thành vấn đề ai cũng nhìn thấy. Có lẽ bi kịch lớn nhất của ông là nói quá sớm những điều mà nhiều năm sau xã hội mới chịu thừa nhận.

Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, nhưng những điều ông để lại vẫn còn nguyên tính thời sự: một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có đạo lý, phải biết kiểm soát quyền lực và phải biết lắng nghe những trí thức dám nói thật.

ST 


 

BỎ MỘT THẾ GIỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”.

“Nếu tôi khám phá nơi mình những khát vọng mà không gì trong thế giới này có thể làm thoả mãn, thì lời giải thích hợp lý nhất là: tôi đã được dựng nên cho một quê hương khác!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, đi theo Chúa Kitô, người môn đệ không chỉ từ bỏ những thứ này thứ kia; họ từ bỏ cả một cách thuộc về thế giới. Tắt một lời: ‘bỏ một thế giới’.

Trong Tin Mừng Marcô, điều Phêrô nhấn mạnh không phải “chúng con theo Thầy”, nhưng là “chúng con đã bỏ mọi sự”. Ông vẫn nghĩ theo logic mất để được, từ bỏ để được đền bù. Nhưng Chúa Giêsu đưa các môn đệ đi xa hơn. Đong đếm hơn thiệt với Trời cao là chưa bước hẳn vào Tin Mừng. Theo Ngài, người môn đệ không chỉ từ bỏ những gì thuộc về thế gian; họ từ bỏ một cấu trúc sở hữu để bước vào một cấu trúc thuộc về. “Đừng sợ Đức Kitô! Ngài không lấy đi điều gì, nhưng trao ban cho bạn tất cả!” – Bênêđictô XVI.

Vì thế, điều Chúa Giêsu hứa không phải một sự bù đắp vật chất cho những gì đã hy sinh, nhưng là một tương quan mới. Người môn đệ bỏ lại một mái nhà, nhưng nhận được nhiều mái nhà; rời một gia đình, nhưng bước vào một đại gia đình. Nước Trời không lấy con người ra khỏi mọi tương quan; Nước Trời chữa lành cách con người sống với nhau. Như vậy, “được gấp trăm” trước hết không phải là có nhiều hơn, nhưng là sống trong một sự hiệp thông rộng lớn hơn. Nói cách khác, theo Chúa Kitô là bước ra khỏi một trật tự cũ của đời sống – ‘bỏ một thế giới’ – để đi vào một thế giới mới của sự thuộc về.

Thánh Phêrô kêu gọi: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở!” – bài đọc một. Một khi đã bước vào “đời sống mới của hiệp thông”, người môn đệ không thể tiếp tục sống theo những đam mê và lề thói cũ. Cứ bám mãi vào vùng đất cũ, con người sẽ đánh mất khả năng lớn lên của linh hồn. Sự thánh thiện Kitô giáo không hệ tại ở việc rút khỏi thế gian, nhưng ở khả năng sống khác giữa chính thế gian ấy. Và chính đời sống ấy làm cho “ơn cứu độ Chúa đã biểu dương” – Thánh Vịnh đáp ca – không còn là một ý niệm trừu tượng, nhưng trở thành một thực tại.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Đấng đã từ bỏ mọi sự trọn vẹn nhất. Ngài từ bỏ vinh quang của Con Một Thiên Chúa để bước vào thân phận giới hạn của con người; từ bỏ quyền lực để sống kiếp tôi tớ; cuối cùng, từ bỏ cả mạng sống mình trên thập giá. Vì thế, theo Chúa Kitô chưa bao giờ là một chọn lựa nửa vời. Có những lúc con người phải bước ra khỏi những gì từng định nghĩa đời mình, để khám phá rằng: điều làm cho con người sống không phải những gì họ nắm giữ, nhưng là Đấng họ thuộc về. Và nhiều khi, muốn bước vào sự sống mới ấy, người môn đệ phải dám ‘bỏ một thế giới’. “Sống là thay đổi; và nên hoàn thiện là đã nhiều lần đổi thay!” – Henry Newman.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới luôn chèo kéo để giữ con lại với những sở hữu, cho con biết can đảm từ bỏ những gì không dẫn con đến với Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em nhận được gấp trăm ở đời này cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,28-31

28 Khi ấy, ông Phê-rô lên tiếng thưa với Đức Giê-su rằng : “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy !” 29 Đức Giê-su đáp : “Thầy bảo thật anh em : Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, 30 mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con, hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau. 31 Quả thật, nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”


 

Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời…

Phong AnhSAIGON KỶ-NIỆM

Giữa đêm khuya ở Sài Gòn, vòng quanh những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, Bình Dân, Đại học Y Dược… là những cảnh tượng không khác gì địa ngục. Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời, quạt mo, bạt tạm bợ. Gương mặt tiều tụy, lo âu, mệt mỏi vì thức trắng đêm chờ thân nhân bên trong đang thập tử nhất sinh. Cơ sở y tế địa phương không đủ khả năng, buộc phải chuyển lên tuyến trên. Và tuyến trên thì chật cứng. 

Đây không phải chuyện hiếm, không phải “mùa dịch”, mà là tình trạng kéo dài nhiều năm của y tế Việt Nam. Bệnh viện công tuyến cuối luôn trong cảnh quá tải kinh niên. Bệnh nhân phải nằm ghép, nằm hành lang, chờ khám cả ngày. Người nhà thì “màn trời chiếu đất” để túc trực.

Ai dám chắc mình và người thân sẽ không bao giờ rơi vào cảnh ấy? Một tai nạn, một cơn bệnh nặng, hay đơn giản là ung thư, tim mạch – những thứ có thể xảy đến với bất kỳ ai – lập tức đẩy gia đình vào vòng xoáy khốn cùng về tiền bạc, thời gian và sức khỏe tinh thần.

Nguyên nhân sâu xa không chỉ là “thiếu tiền”.

Hệ thống y tế cơ sở yếu kém khiến người dân mất niềm tin, dồn hết lên bệnh viện lớn. Thiếu nhân lực chất lượng cao, bác sĩ tuyến dưới không đủ trang thiết bị và kinh nghiệm. Cơ chế tự chủ bệnh viện đôi khi đẩy chi phí lên cao, trong khi bảo hiểm y tế vẫn hạn chế với nhiều dịch vụ. Quan trọng nhất là sự quản lý và đầu tư chiến lược thiếu tầm nhìn dài hạn.

Trong đó, trách nhiệm của những người từng đứng đầu ngành không thể phủ nhận. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến – cựu Bộ trưởng Y tế – đang phải hầu tòa với cáo buộc vi phạm quy định quản lý tài sản nhà nước, gây thất thoát lãng phí hơn 803 tỷ đồng tại hai dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức.

Những dự án lẽ ra phải giảm tải cho tuyến trên, nhưng lại “đắp chiếu” nhiều năm do sai phạm trong lựa chọn nhà thầu, phê duyệt, dẫn đến đình trệ kéo dài. 

Khi những người nắm quyền lại để xảy ra lãng phí hàng trăm tỷ đồng trong khi dân nghèo nằm ngoài đường chờ cứu chữa, thì lời chỉ trích mạnh mẽ là có cơ sở.

Lãnh đạo ngành y không chỉ quản lý chuyên môn mà còn phải chịu trách nhiệm về đạo đức và lương tâm. Để người dân phải chịu đựng cảnh “thân nhân thập tử nhất sinh, người nhà ngủ vỉa hè” trong khi ngân sách nhà nước bị thất thoát, là điều không thể chấp nhận.

Y tế là quyền con người cơ bản. Một xã hội văn minh không thể để người dân phải đánh đổi tính mạng bằng cảnh màn trời chiếu đất. Cần thay đổi thực sự:

  • Tăng mạnh đầu tư và nâng cao năng lực y tế cơ sở, tuyến huyện, tỉnh để giảm tải cho tuyến cuối.
  • Minh bạch chi phí, chống tham nhũng, lãng phí dự án.
  • Thu hút nhân tài, cải thiện thu nhập và môi trường làm việc cho bác sĩ.
  • Xây dựng niềm tin để người dân không nhất thiết phải đổ dồn về thành phố lớn.

Cảnh tượng ngoài cổng bệnh viện đêm khuya không chỉ là nỗi đau của những gia đình cụ thể, mà là vết nhơ của cả hệ thống. Ai cũng có thể trở thành nạn nhân.

Vì vậy, đây không chỉ là vấn đề của “người bệnh”, mà là vấn đề của toàn xã hội. Cần tiếng nói mạnh mẽ và hành động quyết liệt hơn nữa để y tế Việt Nam thực sự phục vụ nhân dân, chứ không phải để một số cá nhân “phè phỡn trên nỗi đau đồng loại”.

Đau lòng, nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật để thay đổi. 


 

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

8 SÀI GÒN

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI

TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

Ít ai biết rằng một trong những tài liệu đặc biệt nhất về Hoàng Sa lại là một giấy chứng sinh được lập cách đây gần một thế kỷ.

Đó là giấy chứng sinh của Mai Kim Quy, sinh ngày 07/12/1939 trên đảo Hoàng Sa. Dù đã hơn 86 năm trôi qua, tờ giấy vẫn còn được lưu giữ và ghi rõ nơi sinh là đảo Hoàng Sa, cùng đầy đủ thông tin về cha mẹ, người làm chứng và đại diện hành chính trên đảo thời bấy giờ.

Cha của Mai Kim Quy là ông Mai Xuân Tập, nhân viên khí tượng đang công tác tại Hoàng Sa. Hai người làm chứng gồm bác sĩ Nguyễn Tăng Chuẩn và ông Đỗ Đức Mai, Giám đốc Đài Phát thanh. Tài liệu còn có chữ ký xác nhận của đại diện phái đoàn hành chính trên đảo.

Điều thú vị là tờ giấy này cho thấy Hoàng Sa không chỉ là nơi có các hoạt động quản lý, khí tượng hay thông tin liên lạc, mà còn từng có những gia đình người Việt sinh sống, làm việc và sinh con ngay trên đảo.

Ngày nay, giấy chứng sinh của Mai Kim Quy được xem là một trong những tư liệu lịch sử có giá trị, phản ánh đời sống dân sự của người Việt tại Hoàng Sa từ trước năm 1940.

Một tờ giấy nhỏ đã nhuốm màu thời gian, nhưng vẫn lưu giữ nguyên vẹn câu chuyện về sự hiện diện của người Việt trên quần đảo Hoàng Sa cách đây gần một thế kỷ, trở thành tư liệu sinh động khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

IFACT 


 

Trump ngậm cái gân gà Iran. Nuốt không trôi; nhả ra bị quê – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Trump ngậm cái gân gà Iran. Nuốt không trôi; nhả ra bị quê.

Trong chính trị thế giới, có những lúc người ta cứ tưởng trò chơi chỉ là “ai mạnh hơn ai”. Nhưng với Donald Trump và Iran hiện nay, thì “mạnh” không chỉ tính bằng súng ống, mà còn bằng lời lẽ, ánh mắt và… truyền hình trực tiếp.

Hình ảnh hàng ngàn người Iran đổ ra đường, hô vang “Chết cho Mỹ nó chết” dưới biển cờ Iran đã trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Trong khi đó, Trump thì dùng mạng xã hội như gươm báu, đe dọa, nhưng vẫn chưa dám mạo hiểm bước chân vào lãnh thổ Iran.

Ai đang thắng, ai đang thua, hay chỉ là đang “gặm gân gà” một cách căng thẳng?

Hàng đêm, ở Tehran, người dân được chính quyền vận động tham gia các cuộc “họp đêm”, hô khẩu hiệu, giương cờ, và học cách sử dụng AK-47. Các cô gái trẻ, mặc chador đen, còn được hướng dẫn tháo lắp súng như những chiến binh cừ khôi.

Trên sóng truyền hình nhà nước, MC Hossein Hosseini bắn súng lên trần studio; Mobina Nasiri thì cầm súng tươi cười, thông báo rằng cô cũng nhận được vũ khí từ Quảng trường Vanak để… học bắn.

Một kịch bản vừa nghiêm trọng, vừa có phần hài hước – như trong phim hành động Hollywood – nhưng lại là thực tế ngoài đời.

Tuy nhiên, không phải tất cả người Iran đều mơ thấy bom đạn và khẩu súng. Ở công viên gần Bảo tàng Điện ảnh, những cặp tình nhân tay trong tay, người già đọc sách, trẻ em chơi đùa, nhắc nhở rằng cuộc sống vẫn diễn ra bình thường giữa tâm bão.

Một giáo sư đại học thì lén nói với phóng viên “Chúng tôi chỉ muốn sống trong một đất nước bình thường, nơi con cái có tương lai.”

Một thanh niên trẻ lướt qua thì lắc đầu: “Không chiến tranh!”

Điều này chứng tỏ rằng, bên cạnh chính quyền cứng rắn, vẫn tồn tại một lớp dân thường tìm kiếm hòa bình, minh chứng rằng không phải ai cũng muốn đứng trên mặt trận.

Còn Trump thì sao? Ông tổng thống Mỹ vẫn tung lời đe dọa trên mạng xã hội, kiểu: “Đối với Iran, đồng hồ đang đếm ngược, họ nên hành động nhanh, nếu không sẽ không còn gì lại cho họ.”

Nghe thì oai phong, nhưng thực tế, ông chỉ dám bắn tên lửa từ căn cứ ở nước láng giềng, có thể dẫn đến lính Mỹ tử vong, mà chưa dám đặt chân vào đất Iran. Chính sách này giống như “ăn gân gà”: đối phương căng thẳng, nhưng không liều lĩnh nhảy vào chảo lửa. Chiêu này vừa tạo sức ép ngoại giao, vừa giảm nguy cơ thiệt hại trực tiếp cho quân đội Mỹ – một kiểu toán học chiến tranh vừa an toàn, vừa… căng thẳng tinh thần.

Trung Quốc cũng không đứng ngoài cuộc. Trump muốn nhờ Tập Cận Bình gây áp lực Iran nhượng bộ về hạt nhân, nhưng ngược lại, Tập có thể đòi hỏi Mỹ nhượng bộ về Đài Loan. Chuyện này làm cho bàn cờ quốc tế càng thêm phức tạp. Một bên “đang ăn gân gà”, một bên “giữ dao trong tay”, cả ba phe đều đang xem ai sẽ nháy mắt trước.

Chương trình hạt nhân của Iran là trung tâm của mọi tính toán. Người dân Iran thừa nhận chưa có bom hạt nhân, nhưng nhấn mạnh quyền phát triển công nghệ hạt nhân và tên lửa để bảo vệ biên giới. “Chúng tôi cần năng lượng sạch, không phải bom,” họ nói.

Trong khi đó, Trump muốn Iran chấm dứt chương trình hạt nhân, coi đó là điều kiện để ngừng chiến tranh.

Một bế tắc ngoạn mục: người Mỹ ép, người Iran phòng vệ, và dân chúng chia rẽ giữa chiến tranh và hòa bình.

Thông điệp từ Tehran còn được nhấn mạnh trên sóng truyền hình: những người dẫn chương trình cầm súng bắn trực tiếp, các quầy huấn luyện công khai, học sinh, phụ nữ, trẻ em đều được dạy cách dùng vũ khí. Đây là chiến lược “răn đe mềm”, vừa nhắm vào tâm lý dân chúng, vừa gửi thông điệp tới Mỹ: Iran sẵn sàng chiến đấu nếu bị khiêu khích. Và quả thật, Trump biết rằng một bước sai lầm có thể khiến mọi thứ bùng nổ ngoài kiểm soát.

Xét tổng thể, tình hình hiện nay là một vở kịch ngoại giao kỳ lạ: Trump “ăn gân gà”, Iran vừa chuẩn bị chiến tranh vừa duy trì hình ảnh đoàn kết dân tộc, Trung Quốc đứng bên cạnh như một người cầm cân nảy mực.

Mọi động thái nhỏ đều có thể tạo ra hiệu ứng domino: từ leo thang xung đột Trung Đông đến tác động chiến lược toàn cầu. Chính trị quốc tế, vì thế, không chỉ là súng đạn, mà còn là lời hăm dọa, truyền thông, và cả… nghệ thuật diễn xuất.

Bài học rút ra là, trong thế giới hôm nay, chiến tranh và hòa bình nằm trong tay lời nói, hình ảnh, và chiến lược tinh thần nhiều hơn là trong khẩu súng. Dù Trump tung lời đe dọa, Iran tập huấn dân chúng, hay Trung Quốc quan sát từ xa, ranh giới giữa áp lực và chiến tranh thật mong manh. Trump muốn thắng, nhưng giờ giống như Trump nhai gân gà.

Trong khi thế giới theo dõi từng nhịp điệu của cuộc chơi chính trị này, câu hỏi vẫn còn đó: liệu ngoại giao có thể thắng chiến tranh? Hay tất cả sẽ chỉ là một chuỗi hăm dọa, huấn luyện súng ống và căng thẳng tinh thần, để rồi cuối cùng, ai cũng mệt, nhưng chưa ai thực sự giành phần thắng? Chỉ có thời gian sẽ trả lời, nhưng một điều chắc chắn: trong trò chơi này, cả Trump lẫn Iran đều phải tập “gặm gân gà” thật khéo để sống sót.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

Theo CNN.


 

Đồ ăn và thuốc hết hạn – BS. Hồ Ngọc Minh

BS. Hồ Ngọc Minh

Nhiều lần, bệnh nhân của tôi rất quan tâm, lo ngại về việc thuốc “hết hạn”, quá “đát”, cho dù trên lọ thuốc ghi rõ là còn vài ba ngày nữa mới hết hạn. Về đến nhà, tôi mở tủ lạnh ra, thì, ôi thôi, một mớ đồ ăn cũng đã “hết hạn”, và quá “đát”.. Bệnh nhân của tôi, nhiều người sẵn sàng quăng thuốc vào thùng rác, và lũ “Mỹ con” nhà tôi cũng thế, nhanh tay vứt đồ ăn vào thùng rác cho dù có những thức ăn đóng hộp chưa khui ra bao giờ

Nhớ lại thời còn ở Việt Nam, tôi đã từng đi lượm đồ ăn hay thuốc men từ những “hầm bứa” mà quân đội Mỹ quăng đồ hết hạn vào đấy. Cho đến giờ phút nầy tôi vẫn còn sống “nhăn răng”, chẳng chết con ma nào, và đang viết bài “hết hạn” cũng nhờ vào những “của quý” lượm được từ những hố rác ấy. Thế thì, đâu là giới hạn của sự an toàn của đồ ăn hay thuốc men đã hết hạn?

1/. Đồ ăn “hết hạn”.

Trước tiên hãy bàn về sự “hết hạn” đồ ăn.

 Ở Mỹ, chỉ có thức ăn của trẻ sơ sinh thì mới “bắt buộc” (mandatory) ghi ngày hết hạn. Một số tiểu bang cũng bắt buộc ghi ngày hết hạn trên các thực phẩm chế biến từ sữa (diary products). Còn lại, việc ghi ngày hết hạn trên nhãn hiệu của các loại thực phẩm chỉ có tính cách “tự nguyện” mà thôi, voluntary system of labeling. Như thế, trên lý thuyết, không ghi ngày hết hạn thì cũng chả sao!

   Cũng vì tính cách tự nguyện tự giác cho nên thực phẩm được dán nhãn, được tự biên tự diễn theo nhiều cụm từ khác nhau, như “expiration date”, “sell by date”, “best if used by (or before) date”, “guaranteed fresh date”, “pack date”… Tất cả những cụm từ nầy đều đặt nặng yếu tố phẩm chất của thức ăn nhiều hơn là sự an toàn của thức ăn.. Chúng không có nghĩa là tới ngày “hết hạn” ghi trên nhãn hiệu là đồ ăn sẽ biến thành chất độc. Tuy nhiên, những cụm từ nầy nhằm để bảo vệ sự an toàn của nhà sản xuất thực phẩm nhiều hơn là cho người tiêu thụ. Thứ nhất, sau ngày hết hạn, người dùng có “chuyện gì” thì ráng chịu vì “I told you so”. Thứ nhì, một hình thức doạ dẫm để người “yếu bóng vía” vứt đồ ăn vào thùng rác và đi mua thêm thức ăn mới.

   Để đơn giản hoá, hãy nhớ một số quy tắc chung cho thực phẩm được xem là an toàn để dùng, “sau ngày hết hạn” ghi trên nhãn:

– Sữa tươi có thể dùng một tuần sau ngày hết hạn.

– Trứng gà, từ 3 đến 5 tuần.

– Thịt gà, thịt vịt, đồ biển phải nấu hay đông lạnh trong vòng một đến hai ngày. Còn thịt bò, thịt heo phải nấu hay đông lạnh sau 3 đến 5 ngày. Một khi đồ ăn đã được đông lạnh thì sẽ giữ được vĩnh viễn bất kể ngày hết hạn.

   Đồ hộp, đồ đóng chai chưa khui có thể giữ được 18 tháng sau ngày hết hạn nếu bảo quản trong chỗ mát. Nếu lon đồ hộp bị phồng lên là dấu hiệu có vi trùng, thì phải vất bỏ cho dù chưa hết hạn.

   Tất cả các thức ăn khác, nhất là thức ăn do chính mình nấu nướng hay mua ở tiệm về thì phải dựa vào sự nhận xét và phán đoán của người dùng bằng cách quan sát, ngửi mùi và nếm. Nếu thấy không ổn thì quăng ngay. Đừng có tiếc.

   Vì thế, để khỏi phải đương đầu với vấn nạn quá nhiều đồ ăn hết hạn, ta không nên tích luỹ, đầu cơ nhiều đồ ăn nhất là các loại đồ ăn đóng hộp, đóng bao, đóng bì. Riêng đồ ăn tươi thì chỉ nấu ăn vừa đủ bữa, và… ăn ít lại! Ăn ít sống lâu, và đỡ stress vì phải lo chuyện thức ăn bị… hết hạn.

2/. Thuốc men “hết hạn”.

Bây giờ bàn tới thuốc men “hết hạn”.  Nói chung, bạn không mất mạng vì dùng thuốc quá hạn, trừ một vài trường hợp phải cẩn thận.

   Dĩ nhiên, tôi không khuyên bạn cứ uống bừa những thuốc quá hạn kỳ ghi trên nhãn, và bạn phải hỏi thăm bác sĩ về những những loại thuốc đang uống, nếu lỡ quá hạn có nguy hiểm gì hay không. Nếu lỡ thì một vài viên “quá đát” cũng không sao, vì hầu hết thuốc không tự dưng hết hiệu lực qua đêm sau ngày hết hạn, và cũng không tự dưng biến thành thuốc độc, hay hôi thúi như đồ ăn ngay sau ngày hết hạn. Trong lịch sử y khoa chưa có một loại thuốc hết hạn nào gây ra ngộ độc cả. Trên thực tế, rất nhiều thuốc hết hạn đã cứu được rất nhiều mạng người ở những nước nghèo, trong tình trạng khó khăn. Trong đó có cả tôi trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam!

   Điều đúng là thuốc càng để lâu càng mất dược tính. Những thành phần cấu tạo nên thuốc có thể từ từ yếu đi theo thời gian vì thế dược tính không còn đảm bảo 100% sau ngày hết hạn. Năm 2006, một nghiên cứu đăng trên tờ báo dược khoa, Journal of Clinical Pharmacology cho thấy 88% thuốc, nếu bảo quản trong điều kiện tốt vẫn còn hiệu lực tối thiểu 12 tháng, và trung bình đến 5 năm sau ngày hết hạn. Một số thuốc vẫn còn hiệu lực lâu hơn nữa. Một vài thí dụ nêu ra: thuốc trụ sinh Doxycyclin vẫn còn 80% dược tính sau 20 năm, thuốc Cipro (ciprofloxacin) vẫn còn tốt sau 12 năm, và thuốc phóng xạ muối potassium iodide vẫn còn hiệu lực sau 18 năm!

   Tuy nhiên, vấn đề là mỗi loại thuốc đều có một thời hạn hiệu lực khác nhau sau ngày mãn hạn, và, khác với đồ ăn, bạn không thể nếm, ngửi, để biết.

Quy tắc chung, những loại thuốc không cần toa bác sĩ như thuốc bổ, thuốc nhức đầu Tylenol chẳng hạn, hay những loại thuốc dùng ngoài da, như kem trị ngứa thì có thể dùng sau ngày hết hạn “một chút”. Ngoài ra tất cả những loại thuốc trị bệnh, thí dụ như những loại thuốc trị bệnh tim, thuốc trị dị ứng hen suyễn khẩn cấp chẳng hạn, thì không nên “liều mạng” với chúng.

   Sau đây là một số thuốc cần phải thay thế, sau ngày hết hạn:

– Thuốc trị các bệnh thần kinh như phenytoin, carbamazepine, lamotrigine, và oxcarbazepine

– Thuốc trị bệnh kinh phong như Dilantin, phenobarbital

– Thuốc trị bệnh tim, Nitroglycerin

– Thuốc loãng máu, Warfarin

– Procan SR

– Theophylline

– Digoxin

– Thuốc bướu cổ, Thyroid levothyroxine sodium

– Paraldehyde

– Thuốc ngừa thai, Oral contraceptives

– Thuốc Epinephrine (Epi-Pen) trị dị ứng khẩn cấp như khi bị ong đốt chẳng hạn

– Insulin

– Các loại thuốc nhỏ mắt.

Tương tự như thức ăn, để khỏi phải lo lắng về thuốc men khi quá hạn, ta nên tránh mua và “tàng trữ” lung tung những loại thuốc bổ linh tinh, lang tang mà nghiên cứu cho thấy chẳng có ích lợi gì cả. Chúng ta ngộ độc vì uống qua’ nhiều… thuốc bổ chứ không phải vì thuốc quá hạn. Riêng với thuốc của bác sĩ cho toa thì phải uống hết, uống đúng theo lời dặn bác sĩ, không nên uống một phần toa thuốc một cách tuỳ hứng, vui thì uống, buồn thì không.

   Trong cuộc sống, chúng ta có quá nhiều ngày “hết hạn” để nhớ, thí dụ như ngày trả tiền “bill” điện nước, điện thoại, internet; ngày trả thuế… mà từ ngữ Mỹ gọi là “deadline”. Ở Mỹ có hai cái deadline gần như chắc chắn, đó là ngày trả thuế và ngày trả… nợ đời. Một cái có thể gia hạn được còn một cái thì không.

   Bạn có biết, người ta dùng chữ “expiration date” để chỉ ngày hết hạn của thuốc, nhưng trong y khoa, chúng tôi dùng chữ “expired” để nói về một bệnh nhân vừa mới qua đời? Chúng ta đều biết, ai cũng có một ngày “hết hạn”, chỉ khác với thuốc men và đồ ăn, ngày đó sẽ đến cho mỗi người, mà khi chào đời, nhãn hiệu không ghi rõ. Vì thế, ta nên tận dụng từng giây phút khi cuộc sống còn hiệu năng, còn tươi tốt, “best if used by (or before) date”, “guaranteend fresh date”. Vì, khác với thuốc men và đồ ăn, sau ngày hết hạn, là thật sự chấm hết, chúng ta không còn cơ hội để gia hạn tiếp tục nữa. Bạn nhé..

Bác sĩ Hồ Ngọc Minh

Mỹ ra chính sách mới: người muốn xin thẻ xanh phải về nước nộp đơn (BBC)

BBC

Một gia đình gốc Việt trong ngày chính thức được ghi nhận là công dân Mỹ hôm 23/6/2020

Tác giả, Nardine Saad

và Tác giả,Sareen Habeshian

23 tháng 5 2026

Mỹ vừa công bố một chính sách mới, theo đó hầu hết người nhập cư muốn xin thẻ xanh sẽ phải rời Mỹ và nộp đơn tại đại sứ quán hoặc lãnh sự quán ở nước ngoài.

Cơ quan Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS) cho biết hôm 22/5 rằng những người muốn thay đổi tình trạng cư trú phải thực hiện thông qua quy trình lãnh sự bên ngoài nước Mỹ “trừ những trường hợp đặc biệt”.

Động thái này – một phần trong nỗ lực của chính quyền Trump nhằm hạn chế nhập cư bất hợp pháp – đã bịt kín một kẽ hở cho phép người có thị thực và khách du lịch nộp đơn xin thẻ xanh khi vẫn còn ở Mỹ.

Những người chỉ trích cho rằng chính sách trước đây, vốn đã được áp dụng trong thời gian dài, cho phép nhiều người ở lại Mỹ cùng gia đình trong lúc chờ hồ sơ được xét duyệt – một quá trình thường mất khá nhiều thời gian.

Phương thức mới này cũng có thể khiến một số người rời Mỹ để xin thẻ xanh – loại giấy tờ cho phép thường trú tại Mỹ – gặp khó khăn hoặc thậm chí không thể quay trở lại Mỹ.

Xem trong (BBC)

NHÀ KHÔNG MỒ CÔI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình!”.

Một nhà tâm thần học nhận định: điều giúp một đứa trẻ lớn lên không chỉ là mái nhà, nhưng là sự hiện diện dịu dàng và bảo bọc của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Dưới chân thập giá, Chúa Giêsu trao Mẹ Maria cho Gioan; và Gioan “rước bà về nhà mình”. Đó không chỉ là cử chỉ cuối cùng của Đức Giêsu, nhưng là giây phút một ngôi nhà mới được khai sinh; để từ nay, nhân loại có một ‘nhà không mồ côi’.

Khi đặt Mẹ Maria dưới chân thập giá đúng vào “giờ” Đức Giêsu được tôn vinh, Gioan không chỉ coi đó là giờ khổ đau, nhưng còn là giờ khai sinh nhân loại mới. Vì thế, khi trao Mẹ cho Gioan, Chúa Giêsu không chỉ lo cho tương lai của Mẹ mình, nhưng còn trao Hội Thánh cho tình mẫu tử của Mẹ. Nếu Eva cũ từng hiện diện bên cây biết lành biết dữ trong ngày nhân loại đánh mất ngôi nhà Địa Đàng – bài đọc một, thì giờ đây, dưới cây thập giá, Eva mới đứng đó để đón nhân loại trở về. Từ cạnh sườn Đấng chịu đóng đinh, Hội Thánh được sinh ra và đã có một người mẹ. “Maria là Mẹ Hội Thánh vì Mẹ là Mẹ Đức Kitô!” – Phaolô VI.

Gioan viết, người môn đệ “rước bà về nhà mình”. Động từ Hy Lạp elaben không chỉ có nghĩa “đưa về”, nhưng còn là “đón nhận”; nghĩa là Maria được trao cho người môn đệ như một gia sản đức tin. Vì thế, Maria không đứng ngoài mầu nhiệm Hội Thánh như một yếu tố đạo đức phụ thêm, nhưng hiện diện ngay nơi căn tính sâu xa của Hội Thánh. Chiều kích Phêrô xây cơ cấu; chiều kích Maria mới làm nên tổ ấm. Hội Thánh được sinh ra dưới chân thập giá và lớn lên trong tình mẫu tử của Mẹ – một ‘nhà không mồ côi’.

Giữa một thế giới ngày càng đông đúc nhưng cũng ngày càng cô độc, con người vẫn khao khát một nơi để thuộc về. Hội Thánh không chỉ là một cơ cấu tôn giáo, nhưng là “Giêrusalem mới”, là ngôi nhà nơi con người thôi lưu lạc và học lại cách thuộc về nhau; và muôn dân sẽ hát lên “Thành của Thiên Chúa hỡi, thiên hạ nói bao điều hiển hách về thành!” – Thánh Vịnh đáp ca. Giữa thành thánh ấy, Maria hiện diện như người mẹ giữ cho Hội Thánh mang hơi ấm của một mái nhà. “Chiều kích Maria của Hội Thánh có trước chiều kích Phêrô!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

“Người môn đệ rước bà về nhà mình!” không chỉ là việc dành cho Đức Maria một chỗ ở, nhưng là mở lòng để đón Mẹ vào đời sống đức tin. Có những Kitô hữu yêu mến Hội Thánh nhưng sống đức tin như những đứa con thiếu hơi ấm của một mái nhà; họ giữ đạo nhưng lòng vẫn lưu lạc. Một đức tin chỉ còn luật lệ mà thiếu tình mẫu tử rất dễ biến Hội Thánh thành cơ chế thay vì mái nhà. Vì thế, rước Mẹ về nhà cũng là để học nơi Mẹ cách ở lại dưới chân thập giá, cách tin giữa đau khổ và cách làm cho đời mình trở thành một ngôi nhà có chỗ cho Thiên Chúa và cho nhau. Chỉ khi ấy, con người mới thôi sống như những tâm hồn không có mái nhà cho linh hồn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, xin làm cho lòng con trở thành một mái nhà có hơi ấm của Mẹ và Tin Mừng, nơi Thiên Chúa được đón nhận và con người được yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, Thứ Hai sau lễ Hiện Xuống

Đây là con của Bà. Đây là mẹ của anh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 19,25-27

25 Khi ấy, đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.