CHÚA CHƯA RỒI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cho tới mùa gặt!”.

“Chúng ta không được phép tuyệt vọng về bất cứ ai khi Thiên Chúa vẫn còn hy vọng nơi họ!” – Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không được phép tuyệt vọng về bất cứ ai!”. Điều chúng ta muốn khép lại, Thiên Chúa vẫn để mở; điều chúng ta xem như bản án cuối cùng, Thiên Chúa chỉ xem như một chặng đường. Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý: ‘Chúa chưa rồi!’.

Điều đáng chú ý nhất của dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là lệnh cấm của chủ. Các đầy tớ xin nhổ; chủ bảo: “Không!”. Không phải vì cỏ đáng được giữ, nhưng vì lúa đáng được bảo vệ. Điều nguy hiểm không chỉ là cỏ lùng, mà là bàn tay tự tin rằng, mình nhổ đúng. Vì thế, chỉ chủ mùa mới có quyền nhổ. Không ai có quyền đó, vì chỉ Thiên Chúa mới nhìn thấy trọn vẹn một con người. “Nhiều người ban đầu là cỏ dại nhưng sau đó trở thành lúa tốt. Nếu khi còn là cỏ họ không được kiên nhẫn chờ đợi, họ đã không đạt tới cuộc biến đổi đáng ngợi khen!” – Augustinô.

Chúng ta thường nhìn con người bằng một lát cắt của hiện tại; Thiên Chúa nhìn bằng cả hành trình. Chúng ta thấy một lần vấp ngã; Ngài thấy cả khả năng đứng dậy. Chúng ta đọc một chương; Ngài biết cả cuốn sách. Phêrô đã chối Thầy, Phaolô đã bách hại Hội Thánh, Augustinô lạc lối… Nếu Thiên Chúa khép lại câu chuyện của họ quá sớm, lịch sử Hội Thánh đã mất đi những trang đẹp nhất. Bởi thế, khi chúng ta nói: “Hết rồi!”, Thiên Chúa vẫn nói: “Chưa!”. Không phải vì Ngài dễ dãi với tội lỗi, nhưng vì ân sủng của Ngài vẫn âm thầm hoạt động.

Chúa Giêsu giải thích: “Mùa gặt là ngày tận thế”. Bản Hy Lạp viết synteleia – từ này không chỉ có nghĩa là “kết thúc”, mà còn là “sự hoàn tất”. Thiên Chúa không cắt ngang lịch sử; Ngài đưa nó đến hoàn tất. Vì thế, Ngài không vội kết luận ai khi câu chuyện người ấy vẫn chưa khép lại. Chúng ta tưởng một lầm lỗi đã nói hết về một đời người; Thiên Chúa vẫn lật sang trang. Chỉ đến “mùa gặt”, khi lịch sử được đưa tới chỗ hoàn tất, sự thật cuối cùng về mỗi con người mới rỡ ràng.

Thật đẹp khi toàn bộ phụng vụ Lời Chúa hôm nay cùng dẫn chúng ta đến một khám phá: Thiên Chúa biết chờ! Sách Khôn Ngoan cho biết: “Chúa xử khoan dung vì Ngài làm chủ được sức mạnh” – Ngài ban cho con người thời gian hoán cải. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng!” – lòng thương xót luôn đi trước phán xét. Phaolô còn cho biết: “Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” – Thiên Chúa không để chúng ta chờ một mình.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ dạy chúng ta kiên nhẫn với con người; Ngài sống trọn sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Trên thập giá, tưởng rằng mọi sự đã đi đến hồi kết; nhưng chính ở đó, Chúa Cha lại khởi đầu một công trình tạo thành mới. Bởi thế, không ai được quyền đóng lại điều Thiên Chúa còn để mở, cũng không ai được phép tuyệt vọng nơi người anh em mà Thiên Chúa đang kiếm tìm. Theo Đức Kitô là học biết chờ với Thiên Chúa, để một ngày kia mới hiểu rằng: ‘Chúa chưa rồi!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết chờ như Chúa chờ, yêu như Chúa yêu, và không bao giờ nói lời cuối cùng về một ai trước Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

Hình thức tử đạo của Thánh Bathôlômêô,

Thao Teresa

Đây là một trong những vụ tử đạo tàn bạo nhất trong lịch sử Kitô giáo. Bị bắt chỉ vì một lý do duy nhất: rao giảng Chúa Giêsu Kitô.

Bây giờ hãy tưởng tượng những kẻ hành quyết lột da khỏi cơ thể bạn trong khi bạn vẫn còn sống.

Đó là hình thức tử đạo của Thánh Bathôlômêô, một trong số Mười Hai Tông Đồ.

Nhưng ngay cả những tra tấn không thể tưởng tượng nổi cũng không thể khiến ngài chối bỏ Chúa Kitô.

Sau khi bị lột da sống, ngài bị chặt đầu, niêm phong chứng tá của ngài bằng chính máu của mình.

Đây là lý do tại sao nghệ thuật Kitô giáo thường miêu tả ngài cầm dao và mang theo chính da của mình, không phải để tôn vinh bạo lực, mà để nhắc nhở chúng ta về lòng can đảm phi thường của một người đàn ông đã yêu mến Chúa Kitô hơn cả mạng sống của chính mình.

Ngày nay, nhiều người trong chúng ta do dự khi nói về đức tin của mình vì sợ bị chế giễu, mất người theo dõi, hoặc bị không được ưa chuộng.

Thánh Bathôlômêô đã đối mặt với những điều tồi tệ hơn nhiều.

Cuộc đời ngài đặt ra cho chúng ta một câu hỏi đơn giản nhưng đầy thách thức:

Nếu các Tông Đồ sẵn sàng chết vì Chúa Kitô, thì chúng ta sẵn sàng chịu đựng điều gì vì Ngài?

Thánh Bathôlômêô, Tông Đồ và Vị Tử Đạo, xin cầu nguyện cho chúng con.

Nguồn Internet 


 

Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh 

 Cô bị kết án vì giết con bằng chất chống đông và bị tuyên án tù chung thân. Sau đó, khi đang ở trong tù, cô lại sinh con lần nữa, và đứa trẻ thứ hai có những triệu chứng y hệt.

Ngày 9 tháng 7 năm 1989, Patricia Stallings đang sống giấc mơ của đời mình. Cô có một ngôi nhà mới nhìn ra hồ Wauwanoka, gần St. Louis, một người chồng yêu thương là David, và một đứa con trai ba tháng tuổi, Ryan. Mọi thứ dường như hoàn hảo. “Đó thực sự là khoảnh khắc hạnh phúc nhất đời tôi,” Patricia sau này kể. “Mọi thứ đều hoàn hảo. Một ngôi nhà mới, một đứa con mới. Sao có thể xảy ra chuyện gì sai được?”

Nhưng mọi thứ đã trở nên tồi tệ đến không tưởng.

Tối thứ Sáu đó, Ryan nôn mửa. Ngày hôm sau trông có vẻ khá hơn, nhưng đến sáng Chủ nhật, bé không thể giữ thức ăn. Việc thở trở nên khó khăn, và bé bắt đầu mệt lả. Lo lắng, Patricia lập tức đưa con đến Bệnh viện Nhi Cardinal Glennon tại St. Louis.

Các bác sĩ phát hiện nồng độ ethylene glycol ,chất chống đông trong máu Ryan. Ai đó đã đầu độc bé.

Patricia và chồng ngay lập tức bị thẩm vấn. Họ bị tách ra, và các thám tử khăng khăng cho rằng một trong hai người phải chịu trách nhiệm. Patricia sững sờ; cô không hề biết chất chống đông đã vào cơ thể con bằng cách nào. Cô yêu Ryan và không bao giờ làm hại con.

Vài tuần sau, vào ngày 31 tháng 8, Patricia được phép thăm Ryan trong thời gian ngắn dưới sự giám sát. Nhưng bốn ngày sau, bé lại ốm, với những triệu chứng y hệt. Các xét nghiệm mới lại phát hiện chất được hiểu nhầm là chất chống đông trong máu bé, và còn tìm thấy dấu vết trong bình sữa mà Patricia đã dùng để cho con bú.

Ngày 5 tháng 9 năm 1989, Patricia bị bắt và bị buộc tội cố gắng giết người. Hai ngày sau, Ryan qua đời. Các công tố viên ngay lập tức chuyển tội danh sang giết người cấp độ một, thậm chí cân nhắc đề nghị án tử hình.

Trong lúc đang ở tù, đau đớn trước cái chết của con trai, Patricia phát hiện mình mang thai lần nữa. Tháng 2 năm 1990, cô sinh con trai thứ hai, David Jr. (DJ), nhưng ngay lập tức bé được đưa vào gia đình nhận nuôi do những cáo buộc chống lại cô.

Tháng 1 năm 1991, Patricia bị tuyên có tội giết người, và tháng 3, cô bị tù chung thân không ân xá.

Rồi một điều không thể xảy ra đã xảy ra. Tháng 3 năm 1990, DJ bắt đầu xuất hiện những triệu chứng y hệt Ryan: nôn mửa, khó thở và mệt lả. Bé được đưa gấp đến bệnh viện, và các xét nghiệm đưa ra chẩn đoán kinh ngạc: DJ mắc bệnh acidemia methylmalonic, một bệnh di truyền hiếm gặp có thể giống như triệu chứng ngộ độc chất chống đông.

Acidemia methylmalonica khiến cơ thể tích tụ các chất độc hại, trong đó có axit propionic, mà trong một số xét nghiệm có thể bị nhầm với ethylene glycol. Các xét nghiệm trước đó đã sai.

Luật sư bào chữa của Patricia cố gắng trình bày thông tin mới này trong phiên tòa, nhưng thẩm phán không chấp nhận, coi đó chỉ là trùng hợp. Tuy nhiên, sự thật cuối cùng được phơi bày khi bác sĩ William Sly, sau khi thấy vụ việc của Patricia trong chương trình Unsolved Mysteries, liên hệ với cơ quan chức năng và thúc đẩy xét nghiệm lại máu của Ryan.

Kết quả mới là chứng cứ không thể chối cãi: Ryan đã chết vì acidemia methylmalonic, không phải do ngộ độc chất chống đông.

Tháng 7 năm 1991, Patricia được thả khỏi tù, và tháng 9, các cáo buộc chống lại cô được hủy bỏ. DJ trở về với cha mẹ. Mặc dù Patricia đã bị giam gần hai năm, cuối cùng sự thật về cái chết của Ryan cũng được hé lộ.

Vụ án này đã phơi bày những sai sót nghiêm trọng trong hệ thống tư pháp và y tế, và cho thấy giả định cùng sự tin tưởng quá mức vào kết quả xét nghiệm có thể dẫn đến những sai lầm thảm khốc. Patricia Stallings không được hệ thống pháp luật cứu giúp; cô được cứu nhờ chẩn đoán bệnh hiếm gặp, một chương trình truyền hình và một nhà khoa học sẵn sàng đặt câu hỏi về những điều mà mọi người đều coi là chắc chắn.

Ngày nay, Patricia sống cuộc sống kín đáo bên gia đình, trong khi DJ, nay đã trưởng thành, vẫn kiểm soát bệnh của mình với điều trị thích hợp. Họ đã mất Ryan, nhưng sự thật đã trả lại tự do cho Patricia.

Vụ án vẫn là lời nhắc nhở rằng, đôi khi, sự khác biệt giữa tội lỗi và vô tội chỉ nằm ở một người dám tự hỏi: “Chúng ta có lẽ đã sai sao?”

Nguồn: Northwestern Pritzker School of Law Center on Wrongful Convictions (“Patricia Stallings”)

My Lan Phạm


 

NHỮNG ĐIỀU MUỐN NHỚ, NHỮNG ĐIỀU MUỐN QUÊN – LM. Nguyễn Công Ðoan, SJ


 LM. Nguyễn Công Ðoan, SJ

Khi bạn nhớ một người thân đã chết, bạn cảm thấy lòng mình bao mối ngổn ngang, muôn vàn kỷ niệm.  Có những kỷ niệm làm bạn vui, có những kỷ niệm khiến bạn buồn, và cũng có những điều khi nhớ lại bạn tiếc xót ngẩn ngơ, như kẻ bất ngờ phải đi xa tiếc không được hôn người yêu lần cuối, hay tiếc đã bỏ lỡ một lần âu yếm bên nhau.  Có kỷ niệm làm bạn hối hận vì đã làm buồn làm khổ người thân.  Có nỗi nhớ làm bạn tiếc hùi hụi vì đã chẳng chiều ý người, chẳng làm người vui một lần nào đó.  Có những hình ảnh thân thương bạn cứ muốn nhớ hoài, và có những cảnh huống bạn muốn quên đi mãi mãi.  Nhưng dù vui dù buồn, dù thích dù không thì bạn cũng chẳng bao giờ tách rời những kỷ niệm với hình ảnh và nỗi nhớ người thân.  Bởi lẽ hình ảnh người thân còn lại trong bạn không bao giờ là một bức chân dung trừu tượng, mà luôn là một hình ảnh sống động trong một giây phút nào đó.  Bạn không thể hình dung người cha đã chết tách khỏi một nét mặt, một cử chỉ, một dáng điệu, một hành động, một bước chân nhất định nào đó.  Bạn chỉ có thể hình dung thấy cha đang nhìn bạn, đang cười với bạn hay đang sửa dạy bạn, đang vui về bạn hay đang buồn về bạn; cha đang lo lắng hay đang hạnh phúc, đang khỏe hay đang đau… kỷ niệm, hình ảnh của người thân còn lại trong ta bao giờ cũng là trong tương quan với ta.  Những hình ảnh ấy được ghi vào tâm hồn và cuộc sống của ta từng giây từng phút sống với người.  Khi người vĩnh viễn đi vào dĩ vãng thì chuỗi kỷ niệm về người đã kết thúc trong ta như hình ảnh cuối cùng của một cuốn phim.  Bác sĩ Paul Nagai trong cuốn “Hồi chuông Quang đảo” kể lại kinh nghiệm bản thân ông với cái nhìn của mẹ trước khi chết.  Ông đã mất niềm tin và sống sa đọa từ khi vào trường Y, sự tiếp xúc với xác chết và bạn bè cùng lứa đã xô ông vào đó.  Nhưng chính đôi mắt mẹ nhìn ông trước khi chết đã làm cho ông không thể nào tin rằng khi đôi mắt ấy khép lại thì mẹ ông thành hư vô.  Ông tin rằng đằng sau đôi mắt ấy phải có cái gì bất tử.  Và từ lúc đó ông khám phá trở lại lòng tin vào Thiên Chúa và Sự Sống.

 Ðiều tôi muốn cùng bạn suy nghĩ là “cuốn phim” ấy có thể kết thúc bất cứ lúc nào, và mỗi hình ảnh đều chỉ ghi một lần, ta không thể xóa đi để ghi lại, làm lại một giây phút, một hành động nào.  Cái khắt khe của cuộc sống là thế bạn ạ.  Ở phim trường hay ngoài trời, khi một cảnh diễn không đạt, đạo diễn cho làm lại, thu hình lại, và cuối cùng bàn tay của người ráp nối mới cố định vị trí của mỗi hình ảnh trong cuốn phim.  Còn trong cuộc sống thì mỗi giây phút đều được ghi một lần duy nhất vào tâm hồn ta, và người ráp nối cuối cùng chính là mức độ quan hệ của ta với người thân.  Càng thân thì sự ghi nhớ càng trọn vẹn.  Mẹ có thể kể từng chi tiết về con mình từ khi mang thai cho đến ngày cuối cùng, bởi vì mẹ bao giờ cũng yêu con hơn hết và luôn “ghi nhớ và suy gẫm trong lòng” mọi chuyện liên quan tới con của mình. 

Dù thân hay sơ, thì mỗi người ta đã đích thân gặp gỡ, có khi là vui, có khi là buồn bực… nhưng dù sao cũng để lại một hình ảnh nào đó khiến mỗi lần nhớ đến phải vui hay buồn, mừng hay tủi, hãnh diện hay hối tiếc. 

Bạn ơi, những điều muốn nhớ và những điều muốn quên về mỗi người thân hoặc bất kỳ ai ta đã gặp gỡ một lần, tùy ý ta khi sự gặp gỡ chưa diễn ra và đang diễn ra.  Còn khi đã diễn ra rồi thì không thể tùy ý ta nữa.  Những điều muốn nhớ và những điều muốn quên, ta đều phải nhớ như nhau.  Mỗi giây phút của cuộc sống, mỗi lần thể hiện quan hệ với một người, ta đều có tự do chọn giữa những gì ta muốn nhớ và những gì ta muốn quên.  Muốn quên tức là muốn không bao giờ xảy ra điều ấy, muốn không có nó trong cuốn phim đời mình sống với mọi người.

 Ðừng sợ bạn ạ.  Sự khắt khe này của cuộc sống không đè bẹp chúng ta nhưng thôi thúc chúng ta.  Đừng làm những gì mà khi nhớ lại ta muốn quên đi.

 Có bao giờ bạn cầm chắc được là sẽ gặp lại người thân, người bạn, người lạ mà bạn đang gặp bây giờ đâu.  Giây phút cuối cùng có thể đến với người kia hoặc với bạn bất cứ lúc nào.  Có khi người bạn, người thân bạn gặp đó hoặc chính bạn sẽ không còn đứng trên mặt đất chiều nay hay ngày mai.  Vậy thì tại sao ta không sống mỗi giây phút như thể đó là giây phút cuối cùng, đối xử với mỗi người mỗi lần như thể đó là lần cuối cùng gặp nhau!

 Bạn đã từng chia tay với người thân, với bạn bè đi xa.  Bạn có để ý là lúc đó ai cũng rộng lượng hơn, ân cần hơn, sẵn sàng tha thứ, sẵn sàng giúp đỡ, sẵn sàng để lại hình ảnh đẹp nhất trong lòng kẻ ở lẫn người đi?

 Bạn ơi, giá mình có thể sống với mọi người cũng như với chính mình từng giây phút, từng lần gặp gỡ như thể đó là lần cuối thì sẽ đẹp, sẽ vui biết mấy phải không?

 Liệu bạn có sợ hụt hơi vì tính cách khẩn trương của giây phút cuối tràn lên suốt cuộc đời?

 Bạn ơi hãy sống hãy yêu, hãy nói, hãy cười như thể đây là phút cuối, và hãy làm như thể đây là việc sau cùng.  Mà đúng là như thế bạn ạ, vì có bao giờ giây phút này lặp lại nữa đâu và bao giờ nó cũng có thể là giây phút cuối, sau đó thì cuộc đời bạn kết thúc mất rồi.

 Bạn hãy nhìn người võ sĩ trên vũ đài.  Họ biết chỉ có quyền thi thố tài năng giữa hai lần tiếng cồng vang lên, nên họ hối hả chừng nào.  Bạn hãy nhìn cầu thủ trên sân bóng đá, khi đồng hồ trên bảng điện càng gần phút 90 thì họ càng ráo riết tấn công.  Bạn hãy nhìn các bác sĩ và y tá trong phòng cấp cứu chạy đua với tử thần giành giựt mạng sống của bệnh nhân.

 Tính vắn vỏi, cấp bách của giây phút hiện tại đối với người không có niềm hy vọng nào ngoài sự hưởng thụ vật chất, là động lực thúc đẩy họ yêu cuồng sống vội: mau hái bông hoa kẻo nó tàn.  Còn đối với người có niềm hy vọng ở tương lai vĩnh cửu thì nó lại là sự thúc đẩy sống thanh thoát và quảng đại, trong trắng và yêu thương, không để lòng mình vướng mắc với những gì phải qua đi nhưng luôn biết vươn cao (coi 1 Cor 7,29-31), là lời mời gọi đứng vững trong cuộc chiến đấu cho công bình và lẽ phải, cho yêu thương và hạnh phúc.

 Mỗi lời bạn nói là lời cuối cùng
Mỗi việc bạn làm là việc sau hết
Mỗi người bạn gặp là người duy nhất
Từng giây phút trong đó,
Bạn hãy sống như mình chỉ có phút ấy mà thôi.

 LM.Nguyễn Công Ðoan, SJ

 From: Langthangchieutim


 

Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi (Bill Gates.)

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 “Tôi đã mất 65 tỷ đô la cho vợ cũ của tôi, Melinda, trong phán quyết ly hôn, nhưng ly dị cô ấy là sự hối tiếc lớn nhất trong cuộc đời của tôi.

Nếu tôi có một cơ hội khác, tôi sẽ cưới lại vợ cũ của mình, Melinda Gates. Tôi không quan tâm tôi đã mất bao nhiêu tiền, cô ấy đáng giá hơn bạc vàng với tôi. Tôi vẫn khóc mỗi ngày khi nghĩ về cô ấy, bởi vì tôi không chỉ mất vợ trong cuộc ly dị đó. Tôi đã mất đi người bạn thân nhất của mình và là người duy nhất trên thế giới này thực sự biết tôi và yêu tôi vì chính tôi chứ không phải vì tiền của tôi.

Một trong những điều tuyệt vời nhất mà chúng tôi cùng tạo ra là con cái của chúng tôi và Quỹ Gates.

Chúng tôi vẫn là bạn và chúng tôi vẫn gặp nhau vì lũ trẻ. Nhưng tôi hy vọng cô ấy có thể cưới tôi một lần nữa và lấp đầy khoảng trống này trong trái tim tôi. Cô ấy không thể thay thế được. Tiền không mua được tình yêu và thậm chí, mất thêm 65 tỷ đô la nữa cũng không mua được tình yêu đích thực”.

~Bill Gates.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire 


 

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn.- Truyen ngan HAY

My Lan Pham 

 Ông ấy để lại 4 đô tiền tip cho đơn hàng tạp hóa 47 đô, rồi dán trước cửa một mẩu giấy viết tay:

“Xin cứ để đồ ở đó thôi. Tôi ổn. Cảm ơn vì đã đến.”

Suýt nữa thì tôi đã làm đúng như vậy.

Suýt nữa tôi đã đặt những túi đồ xuống, quay lưng lại và lái xe đến điểm giao tiếp theo.

Nhưng có điều gì đó khiến tôi vẫn gõ cửa.

Phải mất khá lâu cánh cửa mới mở ra.

Một người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi đứng ở khung cửa, cơ thể dựa nặng lên chiếc khung tập đi bằng kim loại.

Ông ăn mặc rất chỉnh tề, theo kiểu mà những người thuộc thế hệ trước thường mặc khi chờ đón khách:

một chiếc áo có cổ, quần tây được ủi nếp thẳng.

Đôi tay ông run run, nhưng cằm vẫn ngẩng cao.

“Tôi đã bảo họ cứ để ở ngoài rồi mà,” ông nói.

Không hề khó chịu. Chỉ là mệt mỏi.

Tôi đáp:

“Vâng, cháu biết, thưa bác. Cháu chỉ muốn chắc rằng mọi thứ đã đến đầy đủ thôi.”

Ông nhìn lướt qua tôi xuống những túi giấy trên bậc thềm. Bốn túi.

Ông nhìn chiếc khung tập đi của mình.

Rồi nhìn lại tôi.

Ông không nói gì.

Tôi nói:

“Để cháu mang vào giúp bác nhé.”

Ông lặng lẽ bước sang một bên, không phản đối.

Chỉ như vậy thôi cũng nói lên tất cả.

Phòng khách ngăn nắp theo cái cách của những cuộc đời nhỏ bé nhưng cẩn trọng.

Mọi bề mặt đều sạch sẽ. Không có gì nằm sai chỗ.

Nhưng đồ đạc đã cũ, và tấm thảm đã mòn bạc thành những sợi xám ở những lối đi quen thuộc mà mỗi ngày ông đều bước qua từ ghế ra bếp, vào nhà tắm rồi trở lại.

Tôi mang các túi vào quầy bếp và bắt đầu lấy đồ ra.

Đó là lúc tôi nhìn thấy cuốn sổ nhỏ đặt trên bàn.

Nó kín đặc những cột số viết tay.

Giá từng món đồ được tính đến từng xu.

Có món bị gạch đi rồi viết lại.

Tổng tiền được cộng dồn, rồi gạch bỏ, rồi tính lại từng dòng… cho đến khi ra một con số mà ông có thể chi trả.

Ông đã lên kế hoạch cho đơn hàng này suốt nhiều ngày.

Tôi cố giữ gương mặt bình thản.

Ông đứng ở khung cửa bếp, nhìn tôi đặt hộp sữa vào tủ lạnh.

“Con gái tôi thường đến vào thứ Bảy,” ông nói.

“Giờ nó ở Phoenix rồi. Công việc mới.”

Tôi đáp:

“Xa thật đấy bác.”

Ông khẽ dừng lại.

“Ừ. Nó vẫn gọi điện.”

Trong câu nói ấy không có chút tự thương hại nào.

Và chính điều đó mới đau lòng nhất.

Ông nói như đang đọc bản tin thời tiết. Chỉ là một sự thật đơn giản về thế giới mà ông đang sống.

Tôi kín đáo nhìn quanh căn bếp.

Tủ lạnh vẫn chạy nhưng gần như trống rỗng.

Một thanh bơ.

Hai quả trứng trong khay.

Một lọ cà phê hòa tan nhỏ.

Cánh cửa tủ đựng thức ăn mở hé, những chiếc kệ bên trong cũng gần như trống.

Trên bậu cửa sổ là bảy lọ thuốc kê đơn xếp thành một hàng.

Bảy lọ.

Ông thấy ánh mắt tôi, rồi hơi đứng thẳng hơn.

“Tôi vẫn xoay xở ổn,” ông nói.

Ông là kiểu người đã tự mình xoay xở mọi thứ suốt cả cuộc đời.

Và giờ đây, “xoay xở” có nghĩa là phải chọn xem tháng này sẽ mua loại thuốc nào, loại nào phải cố kéo dài thêm hai tuần nữa.

“Xoay xở” nghĩa là tính toán đơn hàng tạp hóa đến từng xu, rồi dán một mẩu giấy lên cửa để không ai biết ông mất bao lâu mới đi từ phòng ngủ ra đến cửa trước.

Tôi cất đồ xong, không hề vội vàng.

Tôi hỏi:

“Bác từng làm nghề gì vậy?”

Chỉ để cho ông có điều gì đó để nói.

Khuôn mặt ông thay đổi.

“Ba mươi mốt năm làm nghề cơ khí “ông nói.

“Xưởng công đoàn. Việc tốt. Việc nặng.”

Ông gần như mỉm cười.

Ba mươi mốt năm lao động cực nhọc, và giờ đây ông ngồi một mình trong căn nhà với bảy lọ thuốc, chiếc tủ lạnh trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng cho đủ.

Tôi nói với ông là mình sẽ quay lại ngay.

Tôi lái xe vòng qua góc đường đến một trạm xăng có quầy đồ ăn khá ổn.

Tôi mua những gì có thể:

  • một con gà quay nóng còn bọc giấy bạc
  • một hộp súp lớn
  • một túi bánh mì cuộn
  • hai hộp sữa chua
  • một nải chuối

Tôi dùng tiền tip của ông, rồi dùng luôn tiền của chính mình.

Khi quay lại, ông đang ngồi ở bàn bếp, cuốn sổ nhỏ đã được khép lại trước mặt.

Tôi đặt túi đồ xuống và lặng lẽ lấy mọi thứ ra, không giải thích gì.

Ông nhìn tôi rất lâu.

Rồi ông nói:

“Cháu trai…”

Giọng ông nghẹn lại ở từ đó.

Ông dừng một lúc, mím môi rồi cố nói tiếp:

“Cháu không cần phải làm thế đâu.”

Tôi đáp:

“Cháu biết.”

Ông đặt bàn tay phẳng lên mặt bàn và nhìn chằm chằm vào nó.

Những khớp tay đầy sẹo vì hàng chục năm lao động.

Chiếc nhẫn cưới vẫn còn trên ngón tay, mòn mỏng như một sợi dây kim loại.

Tôi rời đi trước khi mọi chuyện trở nên khó khăn hơn cho cả hai.

Ngồi trong xe, tôi nghĩ về những gì xã hội này bắt con người phải chịu đựng.

Chúng ta bắt tay những người như ông trong các buổi diễu hành.

Chúng ta đăng ảnh họ vào ngày Cựu chiến binh.

Chúng ta gọi họ là xương sống của nước Mỹ.

Rồi sau đó, chúng ta để họ cô đơn trong những căn nhà im ắng với những chiếc kệ trống và cuốn sổ đầy những con số không thể cộng thành đủ.

Ông đã dùng đôi tay mình xây dựng mọi thứ suốt ba mươi mốt năm.

Ông xứng đáng với nhiều hơn 4 đô tiền tip và một mẩu giấy trên cửa xin thế giới cứ bước qua mà đừng nhìn lại.

Tuần này hãy ghé thăm một ai đó.

Đừng chỉ nhắn tin.

Hãy thật sự xuất hiện.

Theo Story of Life

My Lan Phạm


 

CHIẾN THẮNG KHÔNG TIẾNG ỒN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nhóm Pharisêu ra khỏi hội đường, bàn bạc để tìm cách giết Đức Giêsu”.

“Thinh lặng là một sức mạnh lớn lao của cuộc chiến vô hình và là một niềm hy vọng chắc chắn của chiến thắng!” – Nicodemus the Hagiorite.

Kính thưa Anh Chị em,

Thế nhưng, đâu phải thinh lặng nào cũng là sức mạnh? Lời Chúa cho thấy, chỉ khi kẻ yếu không để bạo lực biến lòng mình thành bạo lực, vẫn tin Thiên Chúa không quên mình, thinh lặng ấy mới trở thành một ‘chiến thắng không tiếng ồn’.

Những người biệt phái bàn bạc để tìm cách giết Chúa Giêsu. Bản Hy Lạp viết symboulion elabon – “họ cùng nhau quyết nghị”. Sự dữ đã trở thành một quyết định có tổ chức. Chúa Giêsu liền lánh khỏi nơi đó. Đó không phải là sự rút lui của sợ hãi, nhưng là sự hiền lành của Đấng không để sự dữ quyết định cách mình yêu thương, cũng không để nó quyết định căn tính của mình. Và lời ngôn sứ Isaia ứng nghiệm: “Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường”.

Chúng ta thường nghĩ chiến thắng là làm cho đối phương khuất phục. Nhưng Tin Mừng mặc khải một chiến thắng khác: không để đối phương quyết định mình là ai. Khi đáp trả cừu hận bằng cừu hận, chúng ta không chỉ bị tổn thương, mà còn mang lấy khuôn mặt của sự cừu hận. Đó mới là thất bại sâu xa nhất. Chúa Giêsu thì khác. Ngài vẫn hiền lành trước ác ý, trung tín giữa bao thủ đoạn. Vì thế, việc Ngài lánh khỏi nơi đó không là một bước lùi, nhưng là khởi đầu của một ‘chiến thắng không tiếng ồn’: chiến thắng của tình yêu không bao giờ mượn khuôn mặt của sự dữ.

“Không gì mạnh bằng sự hiền lành; không gì hiền lành bằng sức mạnh đích thực!” – François de Sales.

Mikha phơi bày một sự dữ được lên kế hoạch: đêm âm mưu, sáng hành động – bài đọc một. Thiên Chúa dường như im tiếng, và lời Thánh Vịnh đáp ca trở thành tiếng kêu của mọi thời: “Lạy Chúa, xin đừng quên những người nghèo khổ!”. Sự thinh lặng của Thiên Chúa không là sự lãng quên; Ngài không để tình yêu mang nhịp của bạo lực. Sự dữ chỉ thật sự thắng khi chúng ta nói ngôn ngữ của nó. Thiên Chúa không nói ngôn ngữ của sự dữ.

Với chúng ta, có những lúc, điều thử thách đức tin không phải là sức mạnh của sự dữ, nhưng là sự kín kẽ của Thiên Chúa. Chúng ta muốn Thiên Chúa lên tiếng; Ngài lại chọn đồng hành. Điều Thiên Chúa làm không phải lúc nào cũng là rút ngắn con đường, nhưng giữ cho chúng ta không lạc lối. Chúng ta muốn đổi thay hoàn cảnh; Ngài âm thầm gìn giữ trái tim. Có khi, đó mới là phép lạ lớn nhất.

Anh Chị em,

“Ai có hy vọng thì sống khác!” – Bênêđictô XVI. Nơi Đức Kitô, sự kín kẽ ấy đạt đến tận cùng. Trên thập giá, Ngài không xuống khỏi đau khổ, cũng không đổi thay hoàn cảnh theo cách người ta chờ đợi; nhưng ở lại để tình yêu không rời khỏi con người. Thập giá là nơi tình yêu từ chối nói ngôn ngữ của sự dữ. Chính vì thế, “muôn dân sẽ đặt hy vọng nơi danh Người”. Và đó là một ‘chiến thắng không tiếng ồn’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết tín thác khi Chúa xem ra ẩn mình, biết kiên nhẫn khi Chúa xem ra xa vắng, và hy vọng vào chiến thắng của tình yêu hơn mọi tiếng ồn của sự ác!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su cấm dân chúng không được tiết lộ Người là ai, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 12,14-21

14 Khi ấy, nhóm Pha-ri-sêu ra khỏi hội đường, bàn bạc để tìm cách giết Đức Giê-su.

15 Biết vậy, Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó. Dân chúng theo Người đông đảo và Người chữa lành hết. 16 Người cấm họ không được tiết lộ Người là ai. 17 Như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 18 Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu : Ta hài lòng về Người. Ta sẽ cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân. 19 Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường. 20 Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng, 21 và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người.


 

Từ vụ sách Chuyện với Thanh: Việt Nam trong vòng xoáy đấu tố, chụp mũ, tại sao? (BBC)

 (BBC)

Đấu tố và phản đấu tố là những xu hướng nổi bật tại Việt Nam trong thời gian gần đây

17 tháng 7 2026

Báo chí Việt Nam đang có nhiều bài viết chỉ trích tình trạng đấu tố trên mạng xã hội và cảnh báo về những “hệ lụy khôn lường”. Cục trưởng Cục Báo chí cũng lên tiếng về vấn đề này. Nhưng đấu tố từ đâu mà có, và báo chí có thực sự vô can?

“Chỉ từ một đoạn video vài chục giây, một bức ảnh thiếu bối cảnh, một bài đăng chưa được kiểm chứng hoặc vài dòng trạng thái đầy cảm xúc, hàng nghìn bình luận đã vội vàng kết luận ai đúng, ai sai; ai đáng bị cách chức, tẩy chay hay ‘xóa sổ’ khỏi đời sống xã hội,” báo điện tử VOV viết vào ngày 14/7.

“Điều đáng lo ngại không chỉ là số phận của một con người, mà còn là nguy cơ văn hóa phản biện bị biến dạng và nguyên tắc pháp quyền bị thách thức bởi những ‘phiên tòa’ của dư luận,” báo Dân Việt dẫn lời Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học, vào ngày 15/7.

Báo Công an Nhân dân, tờ báo có truyền thống đăng các bài báo tố cáo, quy chụp những cá nhân và tổ chức mà họ cho là “phản động”, cũng đăng bài Phản biện hay quy kết?

Nhìn chung, các báo cảnh báo về nhiều hậu quả khác nhau của nạn đấu tố, như tàn phá khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại danh dự cá nhân, doanh nghiệp, bào mòn niềm tin xã hội.

Các bài viết nói trên xuất hiện trong bối cảnh mạng xã hội sục sôi đấu tố những cá nhân, tổ chức liên quan tới cuốn sách Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng, đặc biệt khi mà đối tượng bị tố cáo không chỉ là những người liên quan trực tiếp tới cuốn sách, mà còn đụng chạm tới quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông Nguyễn Đình Long, trong bài viết gửi tới BBC News Tiếng Việt vào ngày 15/7, nhận định rằng đối tượng của sự nghi ngờ ngày càng mở rộng.

“Một tác giả dẫn đến một nhà xuất bản; một nhà xuất bản dẫn đến một trường đại học; rồi đến những người từng giới thiệu, từng khen ngợi hay từng xuất hiện cùng tác giả,” ông nêu bật hiệu ứng leo thang. 

“CẦN XỬ LÝ NGHIÊM KHẮC TỔNG BIÊN TẬP BÁO NHÂN DÂN,” ông Phan Trung Can – một trong những tiếng nói nổi bật trong làn sóng “chống lật sử”, “chống cách mạng màu” ở trên mạng xã hội – sau khi chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam và nhóm làm sách Chuyện với Thanh, đã tấn công tới nhân vật ở thượng tầng.

Người mà ông Can, và những người cùng lập trường với ông, chỉ trích lần này là Tổng Biên tập báo Nhân Dân Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. “Tội trạng” của ông Minh, theo những người chỉ trích, là đã đăng hai bài viết tích cực về cuốn sách này trên báo Nhân Dân.

Ông Phan Trung Can hiện đã sửa bài viết “cần xử lý nghiêm khắc…” nói trên.

Tác giả Nguyễn Thành Nam làm việc với an ninh khi bị khởi tố liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Khi báo chí phản đấu tố

“Một nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội.

“Trong khi đó, ‘phiên tòa’ trên mạng xã hội đôi khi vận hành theo logic ngược lại: Kết luận trước, tìm chứng cứ sau; cảm xúc trước, sự thật sau; ý chí của số đông được coi như ‘luật pháp’.

“Trong ‘phiên tòa’ ấy, bị cáo không có luật sư, không được đối chất, không có quyền kháng cáo. ‘Bản án’ được ‘tuyên’ và được cố xúy bằng lượt chia sẻ, bình luận và biểu tượng cảm xúc,” bài báo của VOV viết.

Bài viết còn có đoạn: “Tự do ngôn luận không bao gồm quyền bịa đặt, vu khống, xâm phạm đời tư hay kích động trừng phạt. Phản biện không phải sỉ nhục hay chống đối, yêu nước không phải quy chụp, và công luận không thể thay thế cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.”

Báo Công an Nhân dân cũng dẫn lại bài viết này vào ngày 14/7, cho thấy tờ báo này cũng chống việc “quy kết”, “chụp mũ”, “đấu tố”.

Tuy nhiên, có một điều dễ nhận thấy là những hình ảnh gạch chéo, những bài viết quy chụp cũng đã xuất hiện từ lâu trên báo chí cách mạng Việt Nam.

Báo Công an Nhân dân vốn là tờ báo có nhiều bài viết quy chụp, đặc biệt là các bài viết tố cáo văn nghệ sĩ hải ngoại, các tiếng nói bất đồng chính kiến, các góc nhìn khác với chính quyền ở trong nước.

Trong vụ việc liên quan tới sách Chuyện với Thanh, chính tờ báo này trước đó đã có ít nhất hai bài báo chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam, với những câu từ đầy tính quy kết, quy chụp.

“Trong cuốn sách và chuỗi video trên các nền tảng mạng xã hội, ông Nam thể hiện sự cợt nhả, xuyên tạc, tuyên truyền tư tưởng ‘xét lại lịch sử’ vô cùng nguy hại.

“Bằng các chiêu bài gọi là ‘đối thoại’, ‘phản biện’, ‘giải mật lịch sử’, ‘lật lại sự thật’, ‘giáo dục bằng con đường khác’… để gieo rắc hoài nghi về lịch sử cách mạng, Bác Hồ và nền tảng tư tưởng của Đảng,” Trung tá, Tiến sĩ Lê Thế Cương viết như lời một bản cáo trạng trong bài báo Không thể nhân danh “phản biện”, “khai phóng” để xuyên tạc lịch sử, lãnh tụ đăng trên Công an Nhân dân hôm 2/7.

Báo Công an Nhân dân sau đó còn tạo dư luận theo hướng kết án khi chia sẻ bài viết lên Facebook.

“Đề nghị quý báo CAND vạch trần bộ mặt của những kẻ đã tiếp tay, tung hô cho cuốn sách của Nguyễn Thành Nam,” một tài khoản bình luận.

Chưa dừng lại ở đó, báo Công an Nhân dân còn đăng tiếp một bài viết vào hôm 5/7, trong đó khẳng định rằng “nhiều ý kiến bạn đọc khẳng định bài báo [hôm 2/7] đã chỉ ra những sai phạm nghiêm trọng” trong cuốn sách và “đặt vấn đề cần làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan trong hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật và trách nhiệm trong quản lý, xuất bản”.

Bài viết kết luận rằng tác giả Nguyễn Thành Nam, thông qua cuốn sách, đã “xét lại lịch sử, tầm thường hóa lãnh tụ”.

Bài đăng trên Facebook giới thiệu bài viết này một lần nữa được nhiều người hưởng ứng.

“Bài báo quá hay quá sắc bén, chém thẳng tay lũ nhân danh trí thức tẩy trắng lịch sử, lũ vô ơn. Đề nghị điều tra tổng thể có hay không dấu hiệu cấu kết với các tổ chức nước ngoài một cách có hệ thống,” là một trong số hàng trăm lời bình.

Có thể thấy, nếu xét theo những tiêu chí mà bài báo nói trên của VOV nêu ra, và Công an Nhân dân đăng lại, rằng “nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội”, thì chính báo Công an Nhân dân trước đó đã có những lời lẽ quy kết, buộc tội tác giả Nguyễn Thành Nam, trước cả khi công an công bố quyết định khởi tố, chứ chưa cần nói đến một bản án có hiệu lực của tòa án.

Tác giả Nguyễn Thành Nam đã bị khởi tố về hành vi "tuyên truyền chống Nhà nước" sau khi xuất bản sách Chuyện với Thanh

Play video, “Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?”, Thời lượng 13,01

13:01

Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?

Khi đấu tố chạm tới quyền lực thượng tầng

Ngày 7/7, thông tin ông Nguyễn Thành Nam bị khởi tố, bắt tạm giam xuất hiện trên gần như tất cả các trang báo ở Việt Nam.

Như thể được chứng minh rằng những ý kiến, chỉ trích của mình là đúng, những người đấu tố dường như càng trở nên quyết liệt hơn.

“Giờ em đi ngủ. Mai em điểm các báo lăng xê; Mốt em gọi tên mấy anh chị nhà văn, nhà báo, TS bát nháo ‘bênh’ Nguyễn Thành Nam,” ông Phan Trung Can viết vào ngày 7/7.

Và đó đúng là những gì ông đã làm sau đó khi nhắc tên một loạt cá nhân mà ông cho rằng đã có lời bênh vực hoặc ca ngợi ông Nam, hoặc tác phẩm Chuyện với Thanh. Cùng lúc, mạng xã hội cũng đưa ra danh sách những người mà họ cho rằng cần bị điều tra, xử lý.

Trong danh sách này có tên ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập báo Nhân Dân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

Tới ngày 10/7, ông Can đăng lời kêu gọi chính quyền cần “xử lý nghiêm khắc” ông Minh. Bài đăng này đã nhận được hàng ngàn lượt thích, cùng hàng trăm bình luận, đa số đồng tình. Đó là thời điểm mà nhiều người đánh giá rằng ông Can đã “vượt lằn ranh đỏ” và “gió bắt đầu đảo chiều”.

Ngày hôm sau, 11/7, đánh dấu thời điểm chính quyền bắt đầu có động thái chỉ trích hoạt động đấu tố trên mạng xã hội.

Nhiều người đã chia sẻ lại bài viết trên Facebook của ông Lưu Đình Phúc, Cục trưởng Cục Báo chí, chỉ trích việc “đấu tố cực đoan”.

“Thay vì tranh luận về hành vi thì chuyển sang kết tội con người; thay vì chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền thì coi ‘phán quyết của mạng xã hội’ là quyết định, và nếu sự việc diễn ra trên thực tế thì các quan điểm cực đoan cho rằng do có tiếng nói của ‘họ’ mới có kết quả như vậy,” Cục trưởng Cục Báo chí Lưu Đình Phúc viết.

Ngày 12/7, bài viết tương tự của ông Phúc đã xuất hiện trên báo Tuổi Trẻ, sau đó được website của Cục Báo chí, mà ông Phúc đứng đầu, đăng tải lại.

Tới ngày 14/7, VOV có bài viết chỉ trích tệ đấu tố. Ngày 15 và 16/7, các báo chính thống khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Dân trí… cũng có các bài viết phê bình đấu tố.

Những ai theo dõi báo chí và mạng xã hội, có thể thấy tệ đấu tố, quy chụp đã xuất hiện từ lâu, chứ không phải đợi đến trường hợp cuốn sách Chuyện với Thanh. Đối tượng đấu tố thường tập trung vào các nhân vật bị coi là “phản động”, “lật sử”, “lệch chuẩn”. Những người đề cao công trạng của Tả quân Lê Văn Duyệt, hoặc có đánh giá tích cực về Vua Gia Long… đều dễ dàng bị tấn công, đấu tố.

Một số người thường bày tỏ lập trường ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam, phê phán chủ nghĩa tư bản còn lên tiếng tố cáo Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhà sư Thích Minh Tuệ, bằng cách đưa ra các cáo buộc không có bằng chứng về tội “phản quốc”, “hợp tác với CIA”, “âm mưu cách mạng màu”, mà không lãnh hậu quả nào hay bị “tuýt còi”.

Không ít cơ quan báo chí chính thống cũng tham gia vào làn sóng này, với các video và bài viết có dấu gạch chéo vào những nhân vật mà họ lên án, dù những người này vẫn là công dân tự do chưa nhận bất kỳ bản án nào ở thời điểm báo đăng bài.

Tuy nhiên, khi làn sóng đấu tố chạm tới các tầng nấc cao trong guồng máy chính trị, đèn đỏ đã được bật lên.

Ông Lê Quốc Minh là nhân vật cấp cao nhất bị gọi tên trong vụ việc liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Đấu tố trên báo chí chính thống

Tệ đấu tố không mới ở Việt Nam, chỉ khác lần này phong trào đấu tố có vẻ tấn công nhiều hướng hơn, và người bị đấu tố có cả “lề phải”, thậm chí có quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lâu nay, phong trào đấu tố chủ yếu nhằm vào các đối tượng bị coi là “phản động”, hoặc bất kỳ ai bày tỏ quan điểm trái với lập trường của Đảng. Họ dễ dàng bị gọi là “3 que”, “phản động”, “khát nước”, “chống phá”.

Giới nhạc sĩ, nghệ sĩ là những mục tiêu dễ gặp nhất.

Năm 2023, một làn sóng tấn công trực tuyến đã nhằm vào ca sĩ Hanni Phạm, thành viên người Úc gốc Việt trong nhóm nhạc K-pop NewJeans, vì cho rằng gia đình cô “ủng hộ Việt Nam Cộng hòa”.

Năm 2024, ca sĩ Ngọc Mai, Miss Grand Việt Nam Võ Lê Quế Anh, Tổng Giám đốc Công ty Sen Vàng Phạm Kim Dung là một số người trong giới giải trí bị gắn mác “ba que”, mà không có bằng chứng rõ ràng nào.

Nhiều ca sĩ hải ngoại cũng bị “đào” lại những bức ảnh, video cũ quay cảnh họ biểu diễn ở một khu vực có cờ vàng ba sọc đỏ.

Cũng năm 2024, mạng xã hội và Truyền hình Quốc phòng Việt Nam đấu tố Trường Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng đây là “ổ cách mạng màu”.

Gần đây hơn, Bộ Giáo dục bị đấu tố là có âm mưu xấu khi ủng hộ giáo dục khai phóng. Hai chữ “khai phóng” nhạy cảm tới mức ngay cả lời của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu sau đó cũng bị chỉnh sửa trên báo chí.

Cuốn sách Địa lý lớp 11, với trang bìa in hình tượng Nữ thần Tự do, nhà thờ thánh Basil và núi Phú Sĩ, cũng bị lấy ra làm “bằng chứng” cho rằng Bộ Giáo dục có tư tưởng sính ngoại. Nhiều người đặt câu hỏi sao không dùng hình ảnh Việt Nam để minh họa ở trang bìa, dù đây là cuốn sách địa lý thế giới.

Không chỉ trên mạng xã hội, báo chí cũng đấu tố người dân.

Ngày 20/5, chương trình Góc nhìn sự thật của Truyền hình Công an Nhân dân (ANTV) đã có phóng sự lên án nghệ sĩ Vượng Râu, tập trung vào các bài viết của nghệ sĩ này trên mạng xã hội mà họ cho là “xuyên tạc, chống phá”. Hình ảnh Vượng Râu bị gạch chéo, ông bị ANTV công khai gọi là “gã hề xuyên tạc lịch sử, chống phá đất nước”, dù rằng nghệ sĩ này vẫn là một công dân với đầy đủ quyền được pháp luật bảo hộ.

Trên mạng xã hội, nhiều người đã đặt câu hỏi về việc tại sao một cơ quan báo chí có thể tấn công một công dân với các ngôn từ mang tính cáo buộc, xúc phạm như vậy.

Trước Chuyện với Thanh, cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng bị đấu tố trên mạng, với cáo buộc rằng sách bôi nhọ hình ảnh “bộ đội Cụ Hồ”. Làn sóng chỉ trích đã dẫn tới việc chính quyền rút tên Nỗi buồn chiến tranh ra khỏi một danh sách tôn vinh.

Trong những đợt đấu tố trước đây, không thấy báo chí đồng loạt lên bài phản đấu tố. Nhưng lần này, khi sự chỉ trích chạm tới quyền lực thượng tầng, báo chí đã đăng bài phê phán tệ đấu tố.

Quan sát tình hình xã hội thời gian qua, nhiều người nhắc tới phong trào Nhân văn giai phẩm – nỗ lực của một nhóm văn nghệ sĩ thời thập niên 1950 nhằm thúc đẩy tự do sáng tác và phản biện xã hội, nhưng sau đó bị chính quyền đàn áp, nhiều người tham gia bị xử lý và cấm hoạt động – hoặc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc – chiến dịch do Mao Trạch Đông phát động nhằm củng cố tư tưởng cộng sản nhưng dần đưa xã hội tới một thời kỳ hỗn loạn chính trị.

Sau Cách mạng Văn hóa, Hồng Vệ binh dần thất sủng và mất chỗ đứng.


 

Ta có thể cưỡng ép người khác tin Thiên Chúa không? – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân nhiều hơn. Luôn nhớ nhau trong lời nguyện cầu và cho thế giới được an bình  

Cha Vương

Thứ 6: 17/7/2026.      (t5-25)

GIÁO LÝ: Ta có thể cưỡng ép người khác tin Thiên Chúa không? Không. Không ai được cưỡng ép người khác tin, ngay cả cưỡng ép con cái riêng mình, cũng như không ai được cản trở người khác tin. Mọi người đều có thể quyết định tin một cách hoàn toàn tự do. Nhưng Kitô hữu cần giúp người khác bằng lời nói, bằng gương lành để họ tìm thấy con đường đức tin. (YouCat, số 354) 

SUY NIỆM: Đức Gioan Phaolô II nói rằng: “Loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Chúa Kitô không đi ngược với tự do, khi được thực hiện trong tôn trọng lương tâm… Đức tin đòi hỏi phải do sự tự ý chấp thuận của con người, nhưng đức tin cũng cần được đề nghị cho họ” (Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu thế, 1990, 8)

❦ Chủ thuyết dụ đạo là chủ trương khai thác sự yếu đuối về thể xác hay tinh thần của người khác để lôi kéo người khác tin mình.

❦  Ta không áp đặt cho người nào phải tin như ta. Cái lối dụ đạo đó trái nghịch với Kitô giáo. Đức tin chỉ có thể đạt được trong tự do. Nhưng ta phải mời gọi con người dùng tự do mà mở lòng cho Chúa, để tìm Chúa, để nghe lời Chúa. (YouCat, số  354 t.t.)

LẮNG NGHE: Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có ​những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” (Ga 6:68-69)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc? … Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con chính Ngài nắm giữ. Phần tuyệt hảo may mắn đã về con” (Tv 15:2,5,6).

THỰC HÀNH: Mời bạn chuyên cần suy niệm Lời Chúa mỗi ngày và đem ra thực hành để rao giảng bằng đời sống chứng nhân.

From: Do Dzung

***************

Sống trong tình Chúa – Gia Ân

TRÁCH AI ?

Xuyên Sơn

 TRÁCH AI ?

Hai vợ chồng đến từ một tỉnh miền Tây. Gia đình có vẻ là khá giả.

Người chồng đau nhiều, đi lại rất khó khăn, chỉ có thể đi được vài bước chân, hai chân rất yếu, sức cơ giảm nhiều.

Ngoài trượt đốt sống và hẹp ống sống nặng, ông ấy lại đang trong cơn gút cấp. Đã thế, ông ấy lại còn bị viêm dạ dày ruột, tiêu chảy nhiễm trùng, bệnh mạch vành, viêm da mủ và tiểu đường type 2. Đã có chỉ định mổ cột sống cho ông chồng, nhưng chắc không bác sĩ nào dám cầm dao với tình trạng sức khỏe của như vậy.

Còn người vợ.

Chị ấy đã không còn đi được, teo cơ hai chân. Chị ấy cũng bị trượt đốt sống và hẹp ống sống rất nặng.

Riêng về tiểu đường thì đường huyết cao chất ngất, gần 20 chấm,

HbA1C cũng 16, 17 chấm.

Khớp gối sưng vù, nóng đỏ, siêu âm đầy dịch.

Chị này cũng đã có chỉ định mổ cho bệnh cột sống, nhưng chắc cũng không bác sĩ nào đủ dũng cảm mổ cho chị ấy.

Đến đây thì có lẽ ai cũng cho rằng cái gia đình này không quan tâm đến sức khỏe, cả hai vợ chồng đều để bệnh quá nặng mới đi khám. Để đến nông nỗi này, có lẽ lỗi hoàn toàn thuộc về bản thân người bệnh.

Nhưng không.

Họ cho biết họ có đi khám bệnh.

Nhưng khám mãi không thấy bớt, càng ngày càng nặng, nên mới khăn gói lên thành phố.

Hỏi họ khám thì bác sĩ nói sao, chẩn đoán bệnh gì.

Họ nói không thấy bác sĩ nói gì cả.

Anh chồng thì biết bị nhiều bịnh vì thấy có nhiều bác sĩ khám, cho nhiều toa, còn chị vợ thì nghĩ rằng bác sĩ chỉ khám bệnh thần kinh tọa thôi, vì chị bị đau lưng và đau chân, và không biết mình bị hàng loạt bệnh khác.

Tôi cho rằng, lỗi chính trong chuyện này là hệ thống y tế của chúng ta.

Bên cạnh hệ thống bảo vệ sức khỏe dành riêng cho các quan chức, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân được phó mặc cho những qui định của bảo hiểm.

Công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe được phó mặc cho mạng xã hội và các nhà quảng cáo.

Một số bệnh nhân cho tôi biết, họ đã phát hiện và điều trị loãng xương, hết loãng xương rồi.

Hỏi khám và điều trị ở đâu thì được biết là ở… siêu thị.

Các công ty sữa mang máy đo loãng xương loại không được công nhận làm tiêu chuẩn chẩn đoán, đến đo miễn phí tại các siêu thị, rồi bán sữa về uống, hai tuần sau đo lại hết loãng xương.

Tương tự vậy, các loại thực phẩm chức năng mà chỉ có trời mới biết tác dụng như thế nào, được quảng cáo đầy trên TV.

Người dân cứ tưởng rằng uống nó là trị bá bệnh, hoặc không thì cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chẳng có bệnh tật nào xâm phạm nổi.

Có đi về các miền quê mới thấy, những cái giường, những cái máy,

với hàng đống đèn xanh xanh đỏ đỏ, chớp chớp nhá nhá, có giá vài chục triệu, có khi cả trăm triệu, được mang giới thiệu công khai, có khi còn có sự giúp sức của chính quyền hoặc các cơ quan đoàn thể địa phương.

Người có tiền thì mua máy về xài, người ít tiền thì trả tiền thuê máy để nằm, hãnh diện vì được những cái máy đấy trị bá bệnh cho mình…

Vào trong bệnh viện thì chỉ được làm xét nghiệm này mà không được làm cái khác, thậm chí là chỉ được dùng thuốc này mà không được dùng thuốc khác. Một ngày khám hàng mấy trăm bệnh nhân, bác sĩ, ngoài việc sợ bị bệnh nhân kiện cáo, lại sợ bị BHYT xuất toán, chẳng còn thời gian giải thích.

Hôm nào ít bệnh, có thời gian giải thích thì bị cho là lạm dụng BHYT, có khi đi tù như chơi.

Cứ thế, cả nền y tế được thả nổi.

Sức khỏe của người dân được thả nổi. Khi xảy ra những câu chuyện như gia đình bệnh nhân nói trên, thì, hoặc là qui kết cho bản thân người bệnh, hoặc là chê bai bác sĩ ở tỉnh chuyên môn tệ quá.

Còn cái cốt lõi, là cả một hệ thống chăm sóc sức khỏe bất bình đẳng, bởi sự ảnh hưởng của hệ thống chính trị phân chia đẳng cấp quan – dân,

nơi mà những kẻ hoạch định chính sách không trực tiếp trải nghiệm sản phẩm của mình, thì vô can.

Thanh Lan


 

ĐÚNG LUẬT, CHƯA CHẮC ĐÚNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày Sabbat!”.

“Yêu người lân cận trong sự viên mãn của nó đơn giản là có thể nói: ‘Bạn đang phải trải qua điều gì?’” – Simone Weil.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay lại vang lên một câu hỏi trái ngược: “Điều đó có được phép không?”. Một câu hỏi hướng về con người; một câu hỏi dừng ở lề luật. Giữa khoảng cách ấy, Chúa Giêsu dẫn chúng ta đến một nghịch lý: ‘đúng luật, chưa chắc đúng!’.

Trước cáo buộc của những người Pharisêu về việc các môn đệ bứt lúa ngày Sabbat, Chúa Giêsu trích ngôn sứ Hôsê: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế!”. Bản Hy Lạp viết ouk exestin – “không được phép”. Ngài không phủ nhận lề luật; Ngài đưa nó trở về nền tảng: eleos – “lòng thương xót”. Chỉ khi được lòng thương xót soi sáng, lề luật mới phản ánh đúng ý muốn của Thiên Chúa. Quả thế, như Đức Phanxicô nói, “Thiên Chúa không phủ nhận công lý; Ngài bao bọc và vượt trên công lý bằng lòng thương xót!”.

Không chỉ nhắc đến Hôsê, Chúa Giêsu còn nhắc việc Đavít ăn bánh tiến và các tư tế làm việc trong Đền Thờ ngày Sabbat mà không mắc tội. Không phải để tìm ngoại lệ, nhưng Ngài cho thấy Luật chưa bao giờ là cứu cánh, nhưng luôn phục vụ điều lớn hơn chính nó. Khi không còn phục vụ sự sống, Luật đã bị đọc sai; khi không còn mở ra cho con người, Luật đã đánh mất chính linh hồn mình. ‘Đúng luật, chưa chắc đúng!’.

Điều người Pharisêu mắc phải cũng là cám dỗ của chúng ta. Điều đáng sợ không phải là con người không có luật, nhưng lấy luật làm chỗ núp để khỏi phải yêu. Khi đó, điều đúng trở thành cái cớ để từ chối lòng thương xót; nguyên tắc trở thành nơi trú ẩn của dửng dưng; và trái tim dần khép lại trước người anh em. Đó là lúc Luật vẫn đúng, nhưng trái tim con người đã lệch nhịp với trái tim của Thiên Chúa.

Isaia cho thấy một nguyên tắc xuyên suốt nơi Thiên Chúa: Ngài luôn hành động để cứu chữa. Khítkigia không hát mừng vì đã giữ luật, nhưng vì đã được Ngài kéo khỏi “hố tử vong” – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh mới thưa lên: “Lạy Chúa, chính Ngài đã cứu con khỏi hố diệt vong!” – Thánh Vịnh đáp ca. Nếu Luật phát xuất từ chính Thiên Chúa, nó phải được đọc trong cùng hướng ấy: không để kết án, nhưng để cứu chữa; không để đè nặng, nhưng để nâng con người lên. “Khi tình yêu nguội lạnh, lề luật nở rộ!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để nới lỏng Lề Luật, nhưng để đưa Lề Luật về đúng trái tim của Thiên Chúa. Trên thập giá, Ngài đã làm điều không một ai buộc phải làm: hiến mạng sống mình cho những kẻ tội lỗi. Chiêm ngắm thập giá, chúng ta mới hiểu: có những điều không cấm, nhưng chưa chắc đúng; có những điều hợp lẽ, nhưng chưa chắc đẹp lòng Chúa; và có những điều không một bổn phận nào đòi hỏi, nhưng tình yêu không thể bỏ qua. Chỉ khi mang lấy trái tim của Chúa Kitô, chúng ta mới thật sự hiểu thế nào là ‘đúng luật, chưa chắc đúng!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con một trái tim biết đập nhịp xót thương như tim Chúa; một lương tâm biết chọn điều đẹp lòng Chúa; và một tình yêu luôn dám bước thêm một bước vì anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn

Con Người làm chủ ngày sa-bát.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.         Mt 12,1-8

1 Khi ấy, vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa ; các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. 2 Người Pha-ri-sêu thấy vậy, mới nói với Đức Giê-su : “Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát !” 3 Người đáp : “Các ông chưa đọc trong Sách sao ? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng ? 4 Ông vào nhà Thiên Chúa, và đã cùng thuộc hạ ăn bánh tiến. Thứ bánh này, họ không được phép ăn, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. 5 Hay các ông chưa đọc trong sách Luật rằng ngày sa-bát, các tư tế trong Đền Thờ vi phạm luật sa-bát mà không mắc tội đó sao ? 6 Tôi nói cho các ông hay : ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa. 7 Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này : Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội. 8 Quả thế, Con Người làm chủ ngày sa-bát.”


 

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Donry Nguyen

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Ở Sài Gòn, không xa Dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền.

Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô.

Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản.

Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra.

Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào:

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí.

Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam.

Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn.

Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành.

Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa.

Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại tù cộng sản trên khắp đất nước…

NGUYỄN HẠNH

—————————

-ÔN CỐ TRI TÂN

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Toan giết sạch học trò hay chữ.

Không diệt được Bách gia chư tử,

Mà chính mình lại bị diệt vong.

Xem bao đời lịch sử Tây Đông,

Đâu cũng trọng hiền tài, nhân sĩ.

Vốn học thức tạo nên người tài trí,

Giúp quốc gia tự chủ trường tồn.

Có một thời Giai Phẩm Nhân Văn,

Bị đấu tố sa vòng tù tội

Bọn ngu si ghét người tài giỏi,

Quyết ra tay “hạ thủ bất hườn”.

Những Phan Khôi, Phùng Quán, Trần Dần…

Tên tuổi họ lại thêm lừng lẫy.

Tác phẩm họ còn nguyên giá trị,

Thấm đẫm tình dân tộc bao la.

Trời phương Nam hội tụ tinh hoa,

Nơi góp mặt anh tài cả nước.

Cùng sáng tạo thơ, văn, âm nhạc,

Trên lâu đài dân chủ tự do.

Cuộc phân tranh thế trận xoay cờ,

Khi phương Bắc tiến vào cướp bóc.

Chúng ra tay gồm thâu đốt sạch,

Cả một nền văn học Nước Nam.

Họ thay vào học thuyết lai căng,

Gieo rắc nỗi thù hằn giai cấp.

Biến văn chương trở thành nọc độc,

Phá tan hoang đạo đức bao đời.

Sự hung hăng cũng chỉ một thời,

Men chiến thắng lần hồi nguội lạnh.

Mớ nhạc đỏ im hơi tắt tiếng,

Đám văn nô bồi bút co vòi.

Và nhạc vàng rực rỡ lên ngôi,

Văn thơ cũ vùng lên sống lại.

Bao tài danh phục hồi tên tuổi

Giống như xưa, vốn nó vẫn là…

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Rốt cuộc lại tự mình hủy diệt.

Kẻ độc tài ngày nay nên biết

Càng bạo tàn càng kết liễu nhanh.

-Donry Nguyễn-