Thương Chùm Hoa Khế

 Van Pham

Đọc chậm rãi, cảm nhận từng ý mới thấu hiểu vì sao người già thích sống trong vùng trời kỷ niệm mà đôi khi chúng ta cho là lẩm cẩm…. Nhà văn Nhã Ca (Giải Khăn Xô Cho Huế) sẽ dẫn dắt chúng ta quay trở lại với dĩ vãng của từng người…

TRUYỆN NGẮN CUỐI TUẦN CỦA NHÃ CA

***

Thương Chùm Hoa Khế

Ông cụ Hồi mở cửa tiễn khách. Cũng là bạn hàng xóm thôi, nhưng gần nhà mà xa cửa ngõ. Hai khu vườn đâu lưng, cửa ngõ thì nằm ở hai con đường khác, đi bộ cũng mất mười lăm phút.

– “Bác về nghe. Rảnh sang chơi.”

– “Lóng rày hai cái chưn yếu lắm rồi bác. Muốn nhờ con cháu nó đưa đi thì sợ phiền bác ơi. Mình qua đây nó khác bển nhiều lắm.”

– “Biết.”

Ông cụ Hồi cười buồn. Điều này thì ông hiểu sâu đậm lắm rồi. Mà đâu phải bây giờ, cách đây mười năm trước, khi còn bà, cả hai đều khoẻ, họ cùng đi tập thể dục ở một câu lạc bộ của người Mỹ nhưng có rất đông người Việt Nam.

Hồi đó ông còn lái xe được, chớ bây giờ, hai chưn của ông có khá gì hơn ông bạn. Hồi đó, ở chỗ tập, bạn già hay tâm sự với nhau:

– “Tui hồi mới qua, làm việc như trâu để mua cái nhà cho lớn, nhiều phòng cho các con ở. Vậy mà thoáng cái, chúng nó đi hết trơn, hai vợ chồng tui thu dọn chết luôn.”

– “Sao không bán đi, kiếm cái nho nhỏ mà ở.”

– “Nhiều lúc cũng nghĩ vậy. Nhưng hổng có chỗ thì tụi nó không về. Lâu lâu tụi nó về thăm, dẫn thêm cháu vui nhà vui cửa lắm. Tụi nó đi đâu, đem sấp nhỏ về gửi, mình được coi cháu.”

Lại khoe con, khoe cháu:

– “Mấy đứa nhỏ qua Mỹ mà không nhiễm Mỹ chút nào hết trơn. Ôi thôi, đi lấy chồng lấy vợ, tuần nào cũng về, mua sắm đổ đi hổng hết. Tôi cứ phải ngăn, chửi tụi nó hoài.”

– Chắc không? Chưa nhiễm chớ đâu phải là không nhiễm. Ông cụ Hồ nghĩ trong lòng vậy.

– “Con cháu ngoại của tui mới hết xẩy. Nói tiếng Mỹ như gió. Dễ thương lắm kìa, nói chuyện với ông ngoại thì nói tiếng Việt, quay sang ba nó thì nói tiếng Mỹ ào ào. Giỏi quá.”

Bà muốn khoe bà có rể ngoại quốc.

Cũng ông bà già đó, chừng ba năm sau gặp lại thấy khác hẳn. Hôm xưa ông mập mạp, mặt đỏ như quan công, râu dài và mướt như Lưu Bị, bây giờ choắt lại, xanh xao. Còn bà, già nhanh không tưởng được. Nhớ tuổi thì chưa tới bảy mươi mà tiều tuỵ, còm cõi như bà cụ trên chín mươi sắp xuống lổ.

Nụ cười tươi tắn hãnh diện về con cháu đâu mất rồi.

Hỏi thăm. Nhà sang tên cho thằng con để nó trả phụ tiền nhà. Con vợ lộng quá, em út văng ra hết. Rồi đứa dọn ra, tách rời. Ông bà nhớ con nhớ cháu, lặn lội đi thăm. Lũ cháu lớn lên không dễ thương như khi còn nhỏ. Bà sụt sùi:

– “Mình nói gì nó cũng hổng hiểu. Nó nói gì mình cũng hổng hiểu nốt. Miết rồi còn hơn người dưng xa lạ.”

– “Bác ơi, tụi nó bận chết bỏ. Mình tới, nó đón về rồi mạnh chồng chồng đi, mạnh vợ vợ đi, trẻ con thì đi học. Bác biết hôn, tụi nhỏ hễ về tới chẳng chào hỏi ai, rút vô phòng, mở nhạc, điếc tai nhức óc…”

Ông cụ nuốt nước miếng. Già, miệng mau khô lắm, làm như phải nuốt nuốt liên tục:

– “Vậy là chóc ngóc hai ông bà già ở nhà, riết rồi lo cơm nước cho chúng mà…”

Bà cụ nói hớt:

– “Mà cũng hổng yên với chúng bác ơi. Mấy đứa cháu chê nấu nướng kiểu Việt Nam hôi nhà hôi cửa, nhăn nhăn nhó nhó làm mình tủi lắm kìa.”

– “Vậy chúng có ăn hôn?”

– “Ăn chớ sao không ăn, nhưng cằn nhằn chê thì cứ chê. Buồn trong bụng lắm, bác.”

Ông cụ thở ra một hơi dài mà làm như nỗi ấm ức còn nhiều lắm, nặng lắm, hổng ra hết.

– “Hai vợ chồng tui giờ thuê một phòng gần phố Bolsa ở, ngay góc chợ, bà già đi bộ ra mua đồ ăn về, hai ông bà già hẩm hiu với nhau, còn đỡ. Bà chủ nhà goá chồng, còn trẻ, nhưng thông cảm lắm, cho mượn bếp nấu nướng. Mai mốt tui đi trước hay bả đi trước, còn lại một đứa già mới là khổ hết biết, bác.”

Bà cụ lau nước mắt. Đàn bà dễ khóc mà.

– “Bởi, mình bỏ quê, bỏ nhà bỏ cửa qua đây là hy sinh nhiều lắm, cũng vì nghĩ tới sấp nhỏ mà thôi…”

Ông cụ gạt phăng:

– “Bà nữa. Mình xong bổn phận làm cha làm mẹ rồi, nước mắt chảy xuống có bao giờ chảy trở ngược chưa? Thấy con đứa nào cũng nên thân là mình yên tâm nhắm mắt được rồi.

– Bà à nhe, bà muốn gì nữa, lúc nào bà cũng có tui một bên…”

Lâu rồi, cụ Hồi không còn gặp ông bà già này nữa. Họ còn không? Chết? Có lẻ đôi? Ra sao rồi. Ông vẫn hay thắc mắc.

Ông già hàng xóm đã đi được một chặng đường. Ông già cũng lẻ bạn, như ông cụ Hồi, lẻ bạn. Tội nghiệp, đi thui thủi một mình. Kìa, sao lại băng ngang đường. Muốn tới cái công viên ngồi nữa sao? Dư thì giờ vậy, không ở lại chơi thêm, thiếu gì chuyện để nói. Hồi nãy cũng có cầm chưn:

– “Còn sớm mà bác, ở chơi một lúc.”

– “Bữa khác bác. Bữa nay…”

À, thì ra bữa nay tới công viên nữa. Ở đó, có vài ông già ngồi, có vài đứa con nít chơi. Ông bạn già này thèm nhìn con nít. Ổng đâu có thiếu cháu nội cháu ngoại chớ, nhưng ông lại ở với thằng con trai có vợ không sanh con, hai vợ chồng nuôi đến bốn con chó đủ giống trong nhà. Ông cụ nói:

– “Ôi thôi, hai đứa nó cưng bốn con chó, chắc con đẻ cũng cưng tới vậy thôi bác ơi. Tui nhớ lũ cháu mà chịu, tụi ở xa quá. Gọi điện thoại có khi nào được nói chuyện với tụi cháu đâu, làm như tụi nó hổng biết mình là ai.”

– “Thì tại bác hổng đi thăm tụi nó. Thời này, mua một cái vé máy bay, chỗ nào hổng tới được.”

– “Tui, hổng tới được thiệt đó bác. Tiền già lãnh, tháng nào cũng chia cho hai đứa con còn ở Việt Nam. Tụi nó khổ lắm. Nè bác, bển tui cũng có cháu nội, cháu ngoại. Tụi nó năm nào cũng gửi hình qua, coi ngộ lắm.”

Ông cụ mở cái ví luôn luôn sau túi quần, lôi ra mấy tấm ảnh con nít.

– “Bác thấy hôn. Tụi nó có tình nghĩa lắm kìa. Đứa nào cũng đề sau ảnh, chắc con mẹ hay thằng cha nó cầm tay cho viết, nè, bác coi…”

Sau mấy tấm ảnh, tấm thì đề cháu nhớ ông ngoại lắm, tấm thì ông nội ơi, cháu thương ông nội nhất đời. Trong khi ông cụ Hồi lấy kính, lau cho sạch để đọc thì ông bạn già rơm rớm nước mắt.

– “Nhớ sao hổng mua vé về. Lóng rày người ta về hà rầm, sợ thằng tây đen nào chớ.”

– “Tui cũng hổng về được. Bác nghĩ coi, có mấy trăm bạc, nhớ con nhớ cháu cứ gọi về Việt Nam, phải chia cái biu điện thoại để khỏi nghe con dâu cằn nhằn, nựng chó mà chửi mình. Còn lại, gửi cho hai đứa, nuôi mấy đứa cháu ở bển ăn học.”

Ông cụ Hồi lắc đầu, nghĩ trong lòng mà không nói ra miệng. Hèn chi. Ông bạn già đời rồi mà vẫn còn ngây thơ, bị phỉnh như thường. Cũng còn đỡ, con cháu nó phỉnh chớ ai vô đó.

Ông cụ Hồi trở vô. Căn nhà vắng như chùa bà Đanh. Chùa bà Đanh vắng như thế nào, ông cụ chỉ nghe câu nói trong nhân gian đó thôi, chớ cái nhà của cụ đang ở vắng thì buồn khủng khiếp lắm. Có bà bạn già, ở goá hồi còn trẻ kìa, có bữa gặp trong đám ma một người trong họ, mừng lắm:

– “Mèn ơi, lâu ơi là lâu, hổng thấy bác đâu…”

Sao thấy được. May đám bà con trong họ, thằng con mới lấy ngày nghỉ, đưa đi. Mà cũng bỏ ông ở đây rồi dọt lẹ, hẹn giờ tới đón. Chuyện qua chuyện về, người sống sắp hết đời rồi thì còn chi vui nữa. Bà bạn:

– “Tui nghĩ cho cùng mình cũng hổng nên trách ai mà trách mình là một gánh nặng cho con cái. Cũng may mình biết phòng thân bác ơi. Giờ còn chút tiền gửi nhà băng, lấy ra xài dần.

– Tui vô chùa ở với mấy bà bạn già, làm công quả, sớm tối kinh kệ, ngày qua mau lắm.”

– “Thấy chị thong thả, phẻ phắn quá, tui ham.”

– ” Ý cha, già rồi mà ăn nói vô ý vô tứ quá vậy. Còn ham kí gì nữa mà ham chớ. Ông cười gượng gạo.

– “Xin lỗi, già rồi, lẩm cẩm phải hôn. Tui muốn nói thấy chị… tiếng Phật nói là gì đó, à từ bi tự tại, thấy chị hổng lý chuyện đời nên mặt ít nhăn, còn tui, giống trái cau khô không chị.”

Bà già cười. Ông bạn chồng này, thủa xa xưa cũng một thời, nghe đâu có nhiều hồng nhan tri kỷ, cũng làm khổ đờn bà không ít.

– “Bác cũng nên đi chùa mà rửa nghiệp rồi mới đi thong thả.”

– “Được như chị thì phúc rồi. Tui hoàn cảnh khác, chị ơi.”

– “Biết. Lúc đầu tui cũng đeo con đeo cháu mà không nghĩ ra là đến một lúc nào đó, con cháu nó hết cần mình nên khổ hoài. Mèn ơi, cả ngày ở trong căn nhà rộng, đi ra đi vô, tủi thân khóc ơi là khóc. Cũng may tui “ngộ” sớm… Bữa nào rảnh, bác tới chùa chơi, hổng phải chỉ có người già không đâu, mà mấy cô tre trẻ cũng tới tu, thương nhau và giúp đỡ nhau, như một gia đình.”

Ông có hứa. Nhưng không đến thăm bà bạn già được. Bữa đó, bà bạn già, cũng còn giữ được tính nghịch ngợm thời trẻ, nhắc tới một hai hồng nhan tri kỷ trước đây của ông. Còn đẹp còn xấu gì nữa, tất cả đã già. Ông cũng không hề nghĩ là tìm dịp gặp lại, kể cả nếu nghe tin đám ma, chắc cũng hổng nên tới thắp nhang. Đến tro cốt của bà vợ để trên chùa, thằng con nghĩ tới đưa đi thăm thì ông tới thắp nhang, còn không thì thôi, đâu dám nhắc, sợ làm phiền.

Nếu căn nhà trống vắng này mà có chút tro cốt của bà, hay cái bàn thờ để ông hương khói cũng còn ấm áp chút đỉnh.

– “Sấp nhỏ chúng nó không chịu được mùi nhang, với lại nhà có cái phòng khách nhỏ xíu, bày bàn thờ trông kỳ cục lắm. Thôi đem má lên chùa, con sẽ chở ba đi thăm, má ở chùa nghe kinh mới sớm siêu thoát. Để ở nhà, ba nhớ, sanh bệnh, khổ.”

Ứa lệ mà chùi lén. Ông có một phòng nhỏ, ngăn bớt ở garage ba xe. Chỉ kê được cái gường, cái bàn nhỏ xíu còn chừa cho lối đi. Ông để cái ảnh nhỏ của bà lên bàn. Lúc đầu ông có cái bát nhang. Nhưng thằng con lại nói:

– “Ba cứ đốt nhang khói um sùm. Phòng ba gần máy ga, máy nước nóng. Ba hay quên, dễ cháy nhà lắm. Để con mua cây nhang điện về cho ba, cháy đỏ ngày đêm như ngọn đèn, ha ba. Ba thấy hợp lý không ba?”

Nói thì vậy, nhưng mấy năm rồi, thằng con chưa mua. Ông cũng không nhắc. Bà chết rồi, thôi ông cứ khấn nguyện trong lòng cũng được.

Ông cụ nhà đâu vườn mà có phúc hơn mình. Còn hai ba đứa con ở quê nhà mà lo. Còn lũ cháu chưa biết mặt, phỉnh cho mà khoái. Chớ ông, đã đem hết các con qua đây, bây giờ chúng nó đã dọn mỗi đứa một nơi. Lúc còn khoẻ, ông cũng đã tới ở với từng đứa. Cũng được tiếp đón, nhưng đó là lúc ban đầu.

Sau cùng, ông thấy không phải con ông tệ, mà ông không còn là một người cha nhanh nhẹn, tháo vát nuôi các con mà chỉ là một gánh nặng. Mà hai vợ chồng thằng con này thì muốn giữ ông, cũng vì lớn nhất, còn vướng chữ hiếu khó rũ bỏ.

Ông cụ Hồi đi ra đi vô. Vườn tược ông đã chăm xong. Bởi ông ít ngủ, dậy từ sáng sớm là ra vườn. Ông còn phải chăm hai cây mà bà vợ, lúc còn sống nưng niu nhứt. Đó là một cây khế và một cây nhãn Việt Nam. Bà nói:

– “Thấy người ta trồng thì ham, tui cũng muốn trồng. Nhưng tui biết, tui hổng đợi được thấy nó lớn, có trái đâu. Lâu lắm.”

Phải. Bây giờ cây nào cũng có hoa có trái, còn bà, xương cũng không còn, chỉ còn nhúm tro.

Cũng không phải nhà vắng rồi cứ đi ra đi vô hoài đâu. Sáng sớm, hai đứa cháu ăn sáng xong, vội vã đi học. Còn đống chén đĩa ở bếp, ông phải thu dọn dùm chúng. Gì nữa, à nhớ ra, sáng đứa con dâu dặn:

– “Ba, con giặt quần áo mà không sấy kịp. Ở nhà, ba bỏ qua máy sấy dùm con chút, được không?”

– “Ườm.”

– “Chết cha. Thùng rác chưa lôi ra… Trễ giờ rồi, con phải đi… Ba đem ra giùm, được không?”

Lúc nào cũng hỏi câu được không làm gì chớ. Bắt buộc là phải được. Việc kéo thùng rác nặng nhọc, cứ đến ngày, ông cụ còn ì à ì ạch kéo ra đường, tối lấy thùng vô. Thằng con trai có thấy, nhưng lơ đi. Ông cụ còn làm được để cho ông làm, dãn gân cốt, đỡ bệnh tật.

Đứa con dâu, lúc vắng mặt chồng quăng thúng đụng nia:

– “Mệt ơi là mệt, đi làm cả ngày như trâu như chó, sao có những người sướng chỉ ăn không ngồi rồi.”

Nó nói trống lổng thôi, đâu chỉ ai. Ông cụ Hồi đắng cả họng.

Làm xong thì tới trưa trợt. Lại thêm một chuyện tệ hại. Đã dặn sáng ra lấy cục thịt đông lạnh trong tủ đá ra ngoài để trưa kho rim mặn ăn với cháo. Đã nói già, lẩm cẩm, quên. Ông đành làm một tô mì gói. Ăn xong, ông vô phòng. Ngồi trên cái gường nhỏ, ông nhìn ảnh bà vợ. Tấm ảnh chụp lúc bà lớn tuổi rồi, mới nhìn tưởng con mắt nheo nheo ngó nhưng kỳ thực không phải, đuôi mắt bà xếp nếp nhiều quá nên tưởng vậy. Thì cũng là nét duyên của người già.

– “Bà à, cây khế mùa nào cũng có hoa. Hoa khế đẹp lắm, tui biết bà rất thích, mai mốt…”

Phải rồi, mai mốt tới xuân, có hoa khế. Ông phải nhớ ngắt một chùm để trên cái dĩa, trước tấm ảnh của bà. Bữa nay ra vườn, thấy cây khế trơ trụi lá mà đã có những chồi non muốn nhú lên. Khi đông tàn, loại cây này nó vậy.

Nhớ mùa xuân ở quê nhà, trong dĩ vãng xa, nụ cười của bà bên cây khế sau vườn nhà đâu có vậy, đẹp lắm kìa. Hồi đó, ông còn là một chàng trai trẻ, thường nhìn trộm qua vườn bên cạnh… Vậy mà mấy chục năm qua cái vèo. Chuyện gì cũng đã quên tuốt luốt hết, chỉ có một chuyện nhớ.

Nhớ hoài, là bữa hẹn tân niên. Mùa Xuân. Buổi trưa yên ắng. Dưới gốc khế sau vườn nhà nàng. Cũng chỉ vì đôi môi chúm chím, còn ngậm chùm hoa khế làm duyên. Cầm lòng chẳng đậu. Vậy mà lỡ cho lỡ luôn. Nào dè, chưa kịp hoàn hồn, bỗng thấy tiếng chân đi nặng nề. Rồi ông già nàng cầm cái rựa xông tới. Lạ thật, lúc đó trời sập cũng hổng biết chớ đừng nói, vậy mà nàng thấy kịp, vùng đẩy ông bật dậy.

Thế là tá hoả, cũng không biết lúc đó làm sao chàng thanh niên có thể nhảy bay qua hàng rào mà về vườn nhà mình. Chuyện đâu dừng ở đó, cái bụng nàng chình ình ra, rồi đám cưới. Đứa con đúc có một lần dính liền là thằng con lớn bây giờ. Bà vợ từ trẻ tới già, vẫn lãng mạn kiểu vườn, ở đâu cũng muốn trồng một cây khế.

Đời người đàn ông kể cũng lạ. Biết bao người yêu qua đời, nhưng cuối cùng chỉ có một người đàn bà già nua, xấu xí nhứt thì vẫn mặn nồng bên cạnh. Đâu có ai hiểu lòng ông, dù bà còn nắm tro, ông vẫn thương, thương hoài thương huỷ.

***

Mấy bữa sau hai ông cụ bắt ghế nói chuyện với nhau qua bức tường ngăn vườn. Hai ông đứng ở khoảng tường thấp nhất, còn có bục xi măng chặn luống hoa, nên nhìn thấy mặt nhau.

– “Mấy ngày rồi, tụi có bụng ngóng, hổng thấy bác ra vườn.”

– “Tui. Bị bận quá bác ơi, đi lo mấy thứ giấy tờ, rồi còn chích đủ thứ.”

– “Phải. Mùa này cúm dữ lắm. Tui cũng chưa đi chích vì thấy tụi nó hổng rảnh, mà cũng… sợ phiền.”

Vậy đó, hồi còn nhỏ nhít, đang ăn chúng nó cũng phẹt phẹt ra, phải bỏ đũa dọn. Đang ngủ, chúng ọc sữa, đái dầm, phải thức giấc lo, khi mọc răng nóng đầu, khóc cả đêm không ai ngủ được, có làm phiền hôn chớ. Nhưng nói ra ngặt lắm, ai nuôi con mà kể công.

Ông cụ Hồi cũng vậy, nhắc bạn chớ ông cũng đã chích ngừa đâu. Năm ngoái có thằng cháu tới chở đi chích. Năm nay thằng cháu vô trường mới, ở xa, điện thoại hỏi thăm ông ngoại cũng thưa dần, rồi bặt. Hồi đó, ông hay khen có thằng cháu ngoại hiếu để biết thương ông, nay mới mắc cái quai sặc họng.

– “Tui mà đi trước, ông khổ lắm ông biết hôn?”

Lúc còn sống, bà lo vậy, mà chắc lo cho tới khi nhắm mắt rồi có còn lo không đây. Bữa đám ma bà xong, cả tháng ông không ngủ, ngồi mở mắt trừng trừng. Đâu biết cái bà già ngắt, lẩm cẩm, suốt đời như cái gánh nặng đeo bên hông mà lại quan trọng đối với ông đến vậy.

– “Bác thấy hôn, lật bật mà hết năm tới nơi rồi. Tui bữa nay ra coi lại hệ thống tưới tự động cho tụi nó rồi thôi, tui đi.”

Giật mình. Lời nói như trối trăng. Ở tuổi này còn đi đâu chớ, nếu không phải về dưới? Nhưng ông bạn già nói tiếp:

– “Tui về bển, bác.”

– “Bển.”

– “Phải. Đứa con gái đầu của tui bịnh nặng mà tụi nó giấu tui. Nghe nói không xong rồi mới báo cho biết. Thằng cháu ngoại gọi điện thoại qua, nghe giọng ông ngoại, khóc quá là khóc.”

– “Tội hôn.”

Ông cụ Hồi hơi ân hận trong lòng, thì ra lâu nay, ông hiểu lầm nhiều quá.

Vẫn ông bạn:

– “Mua vé lâu rồi, đang lo không ai giúp thì bữa có ông bạn già gọi điện thoại tới khoe um sùm là sắp về bển ăn Tết. Tui mới hỏi thăm, dò đường í mà. Thì ra, bây giờ dễ lắm, cứ lật tờ nhật trình ra là có số điện thoại để mình gọi, người ta đem xe đến tận nơi đưa mình đi. Vậy mà tui đi chích cúm, rồi đi chích các thứ thuốc ngừa. Bữa đi họ cũng đưa mình ra phi trường…”

Ông cụ Hồi buồn tênh. Sáng nào cũng có tờ báo Mỹ liệng trước sân, chính tay ông nhặt tờ báo vô nhà, nhưng chỉ nhìn được mấy tấm hình.

– “Bữa mua vé nhờ thằng con, nhưng cứ nhờ hoài sợ phiền. Bây giờ biết rồi, phẻ quá bác ơi. Để bữa tui đi về, tui với bác biểu xe tới đón tụi mình ra Phước Lộc Thọ chơi, ở đó có mấy lão tướng, đấu với nhau suốt ngày, coi vui lắm.”

– “Ừm.”

Cụ Hồi bần thần trong người, vụt miệng nói:

– “Tui mà biết, tui cũng đi với bác. Sao bác hổng nói sớm?”

– “Bác còn ai ở bển mà về chớ. Về bển, hỏi bạn cũ, muốn thăm đều phải ra nghĩa địa, họ nằm hết ở ngoải rồi. Còn đi đường thì sợ xanh mặt, xe cộ hồi đó đã ghê rồi, bi giờ còn ghê hơn, ổng hổng dám ra đường…”

– “Bác về bển cũng cẩn thận.”

Ông cụ Hồi nói cho có chuyện. Ông bạn già gật đầu:

– “Tui cũng biết. Tui đâu có ở thành phố, bác. Về đến là tụi nó rước xuống Cần Thơ, ở dưới với con cháu, cũng hổng muốn đi đâu. Chơi? Có gì mà vui, mà chơi, bác.”

Rồi kể:

– “Nghe lóng này đường phố, xe cộ chạy như mắc cưởi mà người nào người đó đeo khẩu trang, nghĩa là khăn bịt mặt nên đi ra đường là như thấy toàn quân ăn cướp, ghê rợn lắm kìa.”

– “Thiệt sao?”

Ông cụ Hồi không tưởng tượng ra được. Ông bỗng hắt xì liên tục một hơi, nước mắt nước mũi ràn rụa.

– “Thôi chết rồi, bác sắp cúm đó nha. Mặc thật ấm vào. Nhớ đi chích thuốc cúm, nhớ đó nha. Quên là nó vật mình toi củ tỏi luôn.”

Ông cụ Hồi cảm thấy một luồng ớn lạnh chạy khắp thân, rồi dồn ở ngực, bắt muốn ho. Ông ho khục khặc.

– “Vô nhà đi bác ơi. Vô đi. Tui cũng kiếu bác, bác ở lợi ăn Tết vui nhe. Tui còn lo đi một vài việc để về bển.”

– “Bác cho tui gửi lời hỏi thăm… hỏi thăm… ắt xì, ắt xì…”

Ông bạn già còn ráng đứng trên ghế chờ. Ông cụ Hồi hắt hơi xong thì mới chưng hửng. Đâu biết gửi lời thăm ai chớ. Ông lắc đầu:

– “Thôi bác, chúc bác về bển gặp con cháu… vui.”

– “Chào. Ráng uống thuốc mau lành, bữa về gặp lợi.”

Ông bạn già sẽ vắng mặt một tháng. Nhưng còn gặp lại nhau không, đó là chuyện của ngày mai, ai biết!

***

Lúc đầu chỉ vài cái hắt hơi, rồi ho. Ông cụ Hồi mỗi lần ho là gập người xuống, vì vậy, cái lưng càng còng hơn, càng gần mặt đất hơn.

– “Đã nói nhắc con đưa đi chích cúm, hổng chịu nhắc. Bịnh vậy đâu có đi chích được. Chờ qua khỏi, con đưa ba đi chích. Nghe nói năm nay cúm độc lắm.”

Ông cụ Hồi ầm ừ. Bữa sau, chắc con vợ tỉ tê sao đó, thằng con trước khi đi làm dặn:

– “Ba à, ba đang cúm, đừng ở nhà trên nhiều, rồi lây hết cả nhà khổ lắm.”

– “Hổng phải tụi bây chích ngừa hết rồi sao?”

– “Chích thì chích, cả trăm thứ cảm cúm, ngừa mấy thứ dữ thôi ba. Còn mấy đứa nhỏ đâu chịu chích, dễ lây lắm ba.”

Đứa con nói đâu có gì sai. Nhưng cứ ru rú ở dưới garage, nằm hoài cũng thấy nhức đầu lắm. Thằng con có mua thuốc đầy đủ, còn dặn:

– “Có cam vợ con mua để sẵn, ba vắt uống nhiều nhiều cho mau khoẻ. Ba nhớ uống thuốc.”

Đứa con dâu, sáng, trước khi đi làm cũng ráng bắc một nồi cháo trắng. Cũng có một nồi thịt kho tiêu. Có sự săn sóc chớ đâu phải không, nhưng tình cảm thì thiếu nhiều lắm, nó nhạt nhẽo làm sao!

Qua chiều ngày thứ ba thì ông cụ Hồi sốt. Ăn cơm chiều xong, đứa con trai xuống thăm, thấy ông trùm mền kín mít thì hoảng:

– “Ba sao vậy.”

Đứa con lật chăn lên, sờ trán thấy trán cha nóng hổi.

– “Ba có uống thuốc đều không đó. Chắc lúc nhớ lúc quên mới mau nặng vậy. Để sáng mai con đưa ba đi bác sĩ.”

Con dâu và cháu không dám đến gần, sợ lây bệnh. Đứa con sợ cha buồn, bệnh nặng thêm, nên gượng gạo bảo con:

– “Ông nội đau không đứa nào hỏi thăm một tiếng sao? Xuống thăm ông nội ngay.”

Hai đứa cháu mặt mày cau có, đứng lấp ló ở cửa hỏi vọng vô, tiếng Việt bập bẹ:

– “Ông nội, ông nội có khoẻ khôn. Chào ông nội.”

Vậy là biến. Ông cụ Hồi trong cơn sốt gần như mê sảng cũng nghe giọng hai đứa cháu, mừng đến ứa nước mắt.

Tối đó, hai vợ chồng gây gỗ nhau.

– “Anh một vừa hai phải thôi nhe. Ba bịnh nặng như vậy mà bắt tụi nhỏ xuống thăm. Mai mốt ba lành, muốn thăm nhiêu không được. Cả nhà thi nhau bịnh nằm một đống, khi đó ai thăm hỏi ai cho biết.”

Thằng con thấy vợ nói cũng phải, nhưng trong bụng đang tức. Công việc lu bu gì không đưa cha đi chích thuốc ngừa, lỡ có gì thì ân hận đến chết. Đời sống ở Mỹ này, đứng lại là thụt lùi, là thua kém, là nguy…

– “Em cũng quá lắm, anh thì bận, em chẳng để ý gì đến ba.”

– “Nói vậy mà nghe được. Tui cũng đi làm như anh chứ ở nhà đi ra đi vô sao? Còn nữa, chợ búa, cơm nước, làm con sen ở nhà này là ai.”

Thương ông già thì nổi cơn vậy, nhưng vợ lớn tiếng thì cũng phải nhịn. Đến đó thôi. Vừa đủ. Làm tới, nổ lớn.

– “Nói nhỏ tiếng chút được hôn, thôi mình, bỏ qua.”

Anh sợ sấp nhỏ nghe. Hai đứa con đứng về phe mẹ.

Chiều hôm sau, đứa con dâu đi làm về, chính tay nấu món cháu thịt bò bằm, chính tay bưng xuống cho bố chồng ăn. Chị hỏi thăm, có cười, nhưng nụ cười như mỗi lần phải xã giao, gượng gạo. Ông cụ Hồi đã có vẻ khá hơn, thấy không cần phải đưa đi bác sĩ khám. Anh tự hào với bạn bè là bố anh khoẻ mạnh, tuổi già mà ít làm phiền con cháu. Anh vui vẻ hứa:

– “Vài bữa ba khoẻ con đưa ba đi chích cúm.”

Ông cụ gật đầu, lòng vui, thấy cha con đã gần gũi quá. Nó đâu có gì chớ, có phải lâu nay ông đã hiểu lầm con?

Tối, ông cụ Hồi uống thuốc xong thì nằm nghỉ. Ông trôi vào giấc ngủ mau lắm, rồi thì có nhiều giấc mơ.

Giấc mơ đầu tiên, ông theo ông bạn già về Việt Nam. Thình lình thấy đứng trên đường phố có một mình, rồi ông thấy không biết bao nhiêu xe cộ ào ào nhắm ông mà phóng tới, người nào người nấy đều đeo khẩu trang màu đen. Ông la lên: “Cướp, cướp.” Đám cướp nhảy xuống xe vây lấy ông, kê súng vào tai ông sẵn sàng bóp cò. Sợ quá, ông van lạy, nhưng xung quanh ông, tiếng cười man rợ cất lên. Ông hoảng hốt tỉnh dậy, mồ hôi toát ra và sự hoảng hốt kéo dài cho tới lúc ông chìm vào giấc ngủ khác…

Nhiều giấc mơ vụn vặt, nối tiếp không đầu không đuôi, cho tới gần sáng, giấc mơ sau cùng… Giấc mơ kéo ông về thời niên thiếu, cậu học sinh vườn yêu cô gái quê. Ông được sống lại cảm giác ân ái vụng trộm với cô gái vườn bên, cả cái cảm giác hãi hùng, muốn trốn thoát lúc nhảy qua hàng rào ngăn hai nhà lúc bị lộ chuyện. Khi không lại nhớ một chi tiết kỳ cục nhứt lúc đó mà chỉ có hai ông bà già biết, về già còn nhắc nhở… Ông cười nấc lên.

– “Gì mà cười dữ vậy ông”

Chuyện hồi trai trẻ biến mất. Bà đã đứng bên cạnh. Ông nắm tay bà, vẫn nắm được. Vậy bà đâu đã chết.

-“Tui cười vì nhớ lại cái chiện hồi đó, bữa dưới gốc cây khế.”

– “Khỉ. Già mà còn khỉ. Kỳ quá hà.”

Bà vẫn còn bẽn lẽn, đỏ mặt. Khi bà đỏ mặt, những vết nhăn trên má hóp như có mờ bớt đi nên vẫn còn thấy duyên.

– “Cây khế, cây khế có bông chưa. Tui nhớ nó lắm.”

Ông cười:

– “Trùi lũi hà. Làm gì có.”

Tay bà giựt giựt trong tay ông, vẫn còn cái hơi ấm thủa nào.

– “Ông nhớ đó nha, khi nào hoa khế nở, ông hái một chùm đem về dưới cho tui.”

Bà cười. Hàm răng giả của bà đâu rồi mà cái miệng móm mém, trơ lợi, trông hết duyên nhưng hóm hỉnh, ngộ quá.

Chớp một cái, không thấy bà đâu nữa. Ông ra khỏi giấc mơ.

Mở mắt, trời mới mờ sáng, nhưng ông không thể ngủ tiếp được. Đầu óc cứ chờn vờn, lảng vảng bao nhiêu chuyện cũ, bao nhiêu kỷ niệm những ngày ở quê hương, từ lúc còn là cậu thiếu niên miệt vườn, cho tới lúc đưa vợ con lên tỉnh thành lập nghiệp. Một đời đủ chuyện, lúc lặng lúc sóng dồn biển dập, long đong cũng không ít.

Hai vợ chồng chống chỏi qua bao nhiêu cơn tưởng sạt nghiệp, hoặc tan vỡ gia đình. Lỗi cũng ở ông nhiều, cái số đào hoa, ra đường, người ta gặp, người ta thương, biết sao. Bà ghen tuông cũng dữ, tưởng mấy lần đứt gánh. Tội nghiệp, người thua thiệt, chịu đựng, nhịn nhục vẫn là bà, bởi thương con.

Biết bao đêm, ông bỏ nhà đi hoang, một mình bà lủi thủi với đàn con dại, ôm con mà nước mắt ướt mặt mũi.

Gái thương chồng đang đông buổi chợ,

trai thương vợ nắng quái chiều hôm.

Mà nắng đã quái, đã xế đâu còn bao nhiêu, vậy mà bà lại bỏ đi trước.

Đến giờ đi làm, người con đứng ở cửa, hỏi:

– “Ba sao rồi, thấy đỡ nhiều không?”

– “Đỡ.”

– “Có gì ba gọi điện thoại sở con. Số điện thoại con ghi để sẵn bên máy.”

Người con đi sau cùng. Nhà vắng ngắt. Ông thấy đến giờ uống thuốc, nhưng phải ăn chút gì, uống thuốc mà bụng đói nó cào chịu hổng thấu. Nhưng lạ, khi ông đứng dậy thì thấy choáng váng. Ông đưa tay ôm ngực, hai lồng ngực như đang bị xiết lại, trì nặng và nhịp tim đập tới tấp, loạn xạ.

Ông ngồi xuống giường, định thần lại. Nhưng thần trí ông bỗng lơ mơ. Điều ông muốn nghĩ thì nghĩ không ra, mà những ý nghĩ kỳ cục đâu đâu lại ào ào kéo tới. Cái đầu có vẻ chịu không thấu. Đâu chỉ đầu, cả cái ngực nữa. Có bàn tay ai đang bóp hai lá phổi của ông, kéo luôn mấy sợi gân đang co giật trong chân, trong tay. Phải chặn cái bàn tay quá đáng ấy lại. Ông muốn mà không còn sức làm.

Một phút nào đó, ông nghĩ tới điện thoại, muốn gọi cho đứa con, nhưng rồi ông quên ngay. Có cái gì đó đang nhẹ nhàng đung đưa, ngay trước mắt ông. Ông nhận ra nó rồi. Chùm hoa khế. Chùm hoa khế, bông nhỏ li ti, điểm nhuỵ vàng. Chùm hoa ấy đang vẫy gọi ông. Có cơn gió xuân làm chùm hoa đung đưa. Có cả tiếng cười khúc khích nữa. Chùm hoa khế. Hoa khế. Đừng giỡn mặt nhe. Ở đó đi. Ông tới.

Không hiểu sao bằng cách nào ông mở được cửa phòng, mở được cửa sau. Ông nhìn thấy vườn cây xanh mát. Ông đi qua cây nhãn, không dừng lại. Ông đi tới cây khế. Hoa khế nở rồi? Ông nhìn lên. Kìa, núp sau một tàn lá, có chùm hoa cánh tím nhuỵ vàng đang đung đưa. Nó muốn lẩn trốn ông. Cả cái hàng rào cao thế kia, ông còn thừa sức phi thân qua. Làm sao chùm hoa này trốn nổi. Ông vươn người, với tay, mỗi lúc một cao.

“Tui hái cho bà. Tui hái cho bà.”

Chùm hoa khế đã ở trong tay ông. Lạ thay, cùng lúc đó, ông bỗng thấy mặt ông đang dụi vào mặt đất. Đất. Phải, đó là chỗ của ông. Ông nghe tiếng bà dặn:

– “Khi nào hoa khế nở, ông nhớ hái một chùm đem về dưới cho tui.”

Bàn tay vẫn thận trọng nắm chặt chùm hoa, ông tiếp tục thì thầm: – “Tui hái cho bà. Tui hái cho bà.”

Chùm hoa tím ngát… nhoà dần trong mắt ông.

***

Buổi trưa, người con trai cụ Hồi không biết có linh tính gì, đang giờ ăn trưa, bỏ về nhà. Anh ta canh cánh trong lòng, hình như buổi sáng đi chưa tắt máy hít. Đến tối mịt cả nhà mới về, ông già bịnh, đôi khi không biết để tắt, hao điện lắm.

Về tới, máy hít đã tắt rồi, không biết do anh hay bà vợ trước khi đi làm. Anh tính khoá cửa đi, nhưng nghĩ giờ đi ăn, tới sở sẽ trễ, anh xuống bếp. Bếp ngắt lạnh tanh, nồi cháo vẫn y nguyên, chứng tỏ ông già chưa đụng tới. Anh đi xuống garage định hỏi ông già có ăn không để cùng ăn. Đây cũng là dịp anh bày tỏ nỗi lòng để cha con gần nhau trở lại. Không biết từ bao giờ, anh nghĩ lại, thương cha, hay chính mới đây, lúc sờ lên đầu cha sốt, trong hơi bốc nóng, lẫn một cái mùi già, ngái ngái như mùi lá vàng sắp rụng.

Anh không thấy ông già trong phòng. Anh đi tìm một vòng, cũng không thấy. Kỳ lạ chưa? Liệu có… Không đâu, ông cụ đã qua cơn sốt, có nhiều phần khoẻ lại, lẽ nào…

Nhìn cửa ra vườn thấy mở toang hoang. Anh vội vã ra tìm. Vườn mùa đông, cây lá trơ trụi. Tới gốc khế, anh thấy cha anh nằm sóng soài, mắt mở trừng, một tay nắm cái gì thật chặt.

Người con quỳ bên xác cha. Anh khóc. Rồi anh gọi 911. Lát sau xe cứu thương tới, có bác sĩ khám nghiệm, xác nhận ông già đã tắt thở mấy tiếng đồng hồ rồi, vì đứt mạch máu não, xuất huyết trong đầu. Khi mở bàn tay nắm chặt của ông ra coi, thì chỉ là một cành cây khô khốc, khẳng khiu, không ai hiểu tại sao!

Sau đám tang cụ Hồi, cái garaga được sửa lại đủ cho ba xe đậu. Từ nay, chiếc xe của thằng cháu nội có mái nhà, không phải đậu ngoài lề đường để chim nó iả dơ hầy nữa.

Tháng sau ông bạn già hàng xóm đi Việt Nam về, nhìn sang vườn bên. Không thấy ông bạn hơn hở bắt cái ghế lên để nhìn mặt nhau. Ông hỏi thăm, biết ông cụ Hồi đã chết, khi chết nằm dưới gốc cây khế.

Ông cụ thở dài, nhớ bạn. Nhớ ông cụ Hồi có lần chỉ cây khế:

– “Bởi, đi đâu bả cũng trồng cây khế, bả mê hoa khế lắm kìa. Mê như mê tui.” Đó là lần ông được ông cụ Hồi vui miệng, khoe thành tích chuyện tình thời trai trẻ miệt vườn.

Năm đó, cây khế ra hoa chi chít, từng chùm bông khế tím sậm, lấn cả lá. Có điều, hoa thì nhiều mà không đậu trái nào.

Ông bạn già hàng xóm còn lại cũng hẩm hiu lắm, đôi khi ông tự hỏi, lẽ nào ông cụ Hồi đã hái hết chừng đó hoa khế mang xuống dưới cho bà.

ĐƯỜNG NÊN THÁNH TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19 HÔM NAY

ĐƯỜNG NÊN THÁNH TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19 HÔM NAY

Bs. Trần Như Ý Lan, Dòng Đức Bà

Ngày lễ Đức Mẹ Maria Hồn Xác lên Trời có nhiều ý nghĩa quan trọng về phương diện thần học và đời sống đức tin, tôi chỉ chia sẻ một ánh sáng chợt đến khi suy niệm hôm nay.  Ngày lễ này, Giáo Hội chọn đoạn Tin Mừng Đức Maria vội vã lên đường thăm viếng và giúp đỡ, chăm sóc người chị họ Elizabeth đang mang thai lúc tuổi già (Lc 1,39-56).  Thật bất ngờ và ngỡ ngàng!  Ngày lễ Đức Mẹ Maria Hồn Xác lên Trời được Giáo Hội làm nổi bật với cuộc lên đường của Mẹ Maria, một mình Mẹ không ngần ngại đường xá xa xôi gập ghềnh sỏi đá của xứ Palestine để phục vụ tha nhân, cho ta thấy con đường lên đến Trời cao chính là con đường của cuộc sống đời thường, chính là con đường mà mỗi người chúng ta hàng ngày đi đến bệnh viện, trường học, công sở, đi gặp gỡ… tùy theo nhiệm vụ và nghề nghiệp của mỗi người, khi con đường đó được dệt bằng tình yêu, bằng trái tim yêu thương, bằng hành động nhân ái, bằng tấm lòng chia sẻ và liên đới.  Như thế, ngày lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời nhắc nhớ chúng ta hướng về Trời cao, với niềm hy vọng hạnh phúc vĩnh hằng, nhưng đồng thời cũng nhắc chúng ta con đường dẫn tới Trời cao chính là con đường phục vụ, sẻ chia, liên đới trong cuộc sống đời thường hiện tại.  

Giữa cơn đại dịch đang diễn biến khốc liệt trên quê hương Việt Nam, cách riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), hầu hết chúng ta phải đối diện với rất nhiều thử thách cho đời sống thường nhật về mọi mặt, kể cả khía cạnh đức tin.  Tuy nhiên, dưới ánh sáng đức tin, đoạn suy niệm ngắn trên lại chiếu tia sáng cho mỗi người chúng ta hôm nay, trong hoàn cảnh này, Chúa muốn chỉ cho ta con đường hướng về Trời cao như Mẹ Maria, hay nói cách khác, con đường NÊN THÁNH hôm nay. 

NHỮNG NGƯỜI TRÊN ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Các bác sĩ (BS), y tá, nhân viên y tế đang ở tuyến đầu chống dịch, họ đang bước vào một trận chiến thực sự, luôn có nguy cơ bị phơi nhiễm và hy sinh cả mạng sống.  Trong nhiều tháng liền, họ đã phải xa gia đình, cha mẹ, vợ /chồng, con thơ, để giành giật từng mạng sống của các bệnh nhân nguy kịch.  Chính bản thân cũng mang nhiều nỗi lo toan và nhớ thương, nhưng các thiên thần áo trắng vẫn nỗ lực đem lại hy vọng, niềm an ủi, sức khỏe và sự sống cho người bệnh.  Vâng, các vị là chứng nhân sống động của tình yêu tha nhân, huynh đệ đại đồng!  Các vị đã đặt quyền lợi bản thân dưới quyền lợi của người bệnh.  Các chiến sĩ áo trắng là những anh hùng thời đại.  Các vị đang trên đường NÊN THÁNH!

Đã có các chiến sĩ áo trắng quỵ ngã, như BS Lý Văn Lượng, thuộc nhóm các bác sĩ đầu tiên ở Vũ Hán chết vì tham gia điều trị bệnh nhân COVID-19.  Câu thơ Anh để lại trước khi chết là lời của Thánh Phaolô:

Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp,

Tôi đã chạy hết chặng đường,

Tôi đã giữ vững đức tin,

Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính (2Tm 4, 7-8a).

Các tu sĩ và các tình nguyện viên ở các bệnh viện chăm sóc, điều trị bệnh nhân COVID-19, các anh chị không tránh khỏi nỗi lo lắng, sợ hãi ban đầu: mới tiêm một mũi vaccine ngày hôm trước, hôm sau đã lên đường, vaccine chưa kịp phát huy tác dụng; không có chuyên môn về y khoa lại tiếp xúc trực tiếp với F0, sự an toàn của chính mình có thể gặp nguy cơ.  Vâng, nỗi sợ thật bình thường và chính đáng!  Các anh chị vẫn sợ nhưng một tình yêu lớn đối với Thiên Chúa và tha nhân đã giúp các anh chị vượt qua nỗi sợ để lên đường dấn thân!  Nếu ai cũng sợ và lùi bước thì ai sẽ xông pha chiến trận bảo vệ quê hương, người bệnh?  Các anh chị không phải là nhân viên y tế, chỉ tham gia công tác vệ sinh phòng bệnh, thay tã, đổ bô, thay drap cho bệnh nhân, cho người bệnh ăn, và vệ sinh thân thể cho họ… công việc nhỏ nhưng với tình yêu lớn!  Vâng, các anh chị đang là chứng nhân sống động của tình yêu Thiên Chúa!  Các anh chị đang trên đường NÊN THÁNH!

Các công nhân vệ sinh môi trường, hàng ngày âm thầm đẩy xe rác nặng nề, tiếp xúc với rác thải dơ bẩn và nguy hiểm, để bảo vệ sức khỏe cho mọi người.  Các tình nguyện viên ở tuyến đầu chống dịch, hay tham gia công tác hậu cần, đặc biệt những nơi phong tỏa, cách ly, nhóm tài xế thiện nguyện thành lập đội xe cấp cứu 0 đồng, chuyên chở F0 đi cách ly… khi nhận việc các anh chị quên hẳn những cảnh báo của người thân về việc mình có thể bị nhiễm bệnh.  Các anh chị đã được thúc bách bởi một Tình Yêu.  Vâng, các anh chị đang là chứng nhân sống động của tình yêu tha nhân HƠN chính mình!  Các anh chị đang trên đường NÊN THÁNH! 

Biết bao người Samari nhân hậu thời đại, tại TP HCM và nhiều tỉnh thành khác, nhiều sáng kiến được đưa ra để hỗ trợ những người bán vé số, lượm ve chai, xe ôm, người nghèo… bị ảnh hưởng trong thời gian cách ly xã hội.  Từ các cha xứ đi phát lương thực từ thiện, các siêu thị mini 0 đồng, các ATM gạo, nam sinh viên chở rau miễn phí từ Kontum về TP HCM, anh công an hỗ trợ sản phụ trên đường đến bệnh viện phụ sản, các chiến sĩ  gặt lúa giúp dân ở khu phong tỏa, em bé dành tiền tiết kiệm để giúp người nghèo…  Thật ấm lòng!  Thật đẹp thay tình người!  Công việc ý nghĩa trên đời là những gì ta làm để chăm sóc lẫn nhau, bảo vệ lẫn nhau và mang lại lợi ích cho nhau, sống tình liên đới.  Những người Samari nhân hậu thời dịch bệnh đang trên đường NÊN THÁNH!

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm…  Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25, 34;37). 

Có lẽ hơn bao giờ hết, giữa đau thương thử thách, tình người lại được thắp sáng cả bầu trời.

Hàng trăm ngàn bệnh nhân COVID-19 đang đau khổ và thậm chí đối diện với cái chết bất ngờ.  Đau khổ, cách riêng là đau khổ trong những giờ phút cuối cuộc đời, có một vị trí đặc biệt trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Đau khổ quả thật là chia sẻ cuộc khổ nạn của Đức Kitô và hiệp nhất với hy tế cứu độ của Ngài trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha.  Như thánh Phaolô nói: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc Thương Khó của Ðức Giêsu, để sự sống của Ðức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,10).  Sự thật này tuy không làm vơi đi nỗi đau và sự sợ hãi, nhưng cho chúng ta sự tin tưởng, và ân sủng để mang lấy sự đau khổ thay vì để nó đè bẹp chúng ta.  Và như thế, các bệnh nhân đang trên đường NÊN THÁNH!

Những ngày qua hàng ngàn người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 chết cô độc.  Karl Rahner, nhà thần học lớn thế kỷ XX đã chiêm niệm về cái chết: “bất luận sự chết có tàn bạo, có làm con người đau khổ thế nào thì cũng không thể hủy hoại tính cách độc lập và tự ý thức của con người.  Chính nhờ sức sống của đức tin mà chúng ta biết rằng: khi đối mặt với cái chết, con người có thể nhìn thấu vào những giới hạn của cái chết, và chính khi ấy chân trời mới của huyền nhiệm Thiên Chúa được khai mở, nhờ thế cuộc sống con người có được ý nghĩa tròn đầy vĩnh viễn.”  Chính thời khắc vô cùng đáng sợ của sự chết lại biến thành thời cơ quan trọng nhất để con người tiến gần Thiên Chúa hơn.

Có những người Kitô hữu hấp hối đã tỉnh thức chờ đợi Chúa đến trong bình an, nhưng cũng có nhiều người chưa tỉnh thức sẵn sàng.  Ắt hẳn mọi người Công giáo đều biết đến câu chuyện của người trộm lành, “Kẻ của phút thứ năm mươi lăm của giờ thứ mười một.” 

Ở một nhà thờ của Giáo Hội Chính Thống kia có bức tranh Chúa Phục Sinh.  Bức tranh mô tả cảnh Chúa Phục sinh đang giải thoát những người công chính thời Cựu Ước: Ngài giúp Ađam chỗi dậy khỏi mồ, Evà đang quỳ mọp đôi tay hướng về Đấng Cứu Độ, trong khi các ngôn sứ đang diễn hành, tay cầm biểu ngữ trên có ghi lời sấm nổi tiếng nhất của mình.  Thiên đàng còn trống vắng, chỉ một mình tên trộm lành giữa cây cối tươi tốt.  Anh ta đã không có thì giờ khoác chiếc áo cưới của những người được tuyển chọn, vẫn còn đóng cái khố của tên tử tù, nhưng giờ đây nó lại trắng tinh, tươm tất.  Anh ta là vị thánh đầu tiên của thiên đàng, là kẻ được chính Chúa Giêsu phong thánh: “Ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên thiên đàng với ta.”  Vì sao anh ta lại được diễm phúc như thế?  Vì hắn đã tin!  Và bởi tin, hắn đã thốt lên lời cầu xin bất hủ trong giờ phút chót: “Ông Giêsu ơi, khi nào ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23, 42).  Vậy đừng ai bỏ lỡ cơ hội phút cuối cùng: với lòng tin cậy, hãy nài xin lòng thương xót của Chúa. Khi ấy bạn vẫn có cơ hội NÊN THÁNH!

Với gia đình có người thân qua đời vì COVID-19, không được gặp lại nhau phút lìa đời, thật đau đớn, và chỉ nhận được hũ tro cốt sau đó.  Có người đã than thở “Nước mắt người ra đi cũng xong, nhưng nước mắt người thân yêu còn sống chẳng biết đến bao giờ mới nguôi ngoai.  Lệ có khô, nhưng nước mắt chảy vào trong còn mãi, ngậm ngùi nhớ thương chẳng bao giờ cạn.”  Trong đức tin, chúng ta biết rằng: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ.  Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất” (Kh 21,4).  Đức Maria hồn xác về Trời, Kinh Tin K ính tuyên xưng niềm tin: xác chúng ta ngày sau sống lại.  Thân xác và linh hồn hiệp nhất với nhau, hiện tại thân xác người thân yêu qua đời có thành tro bụi, chúng ta sẽ gặp lại người thân, cả hồn và xác trong ngày sau hết.  Trong tin yêu phó thác, hãy kết hợp với Đức Maria dưới chân thập giá, hiệp thông với Người Con thân yêu bị các môn đệ bỏ rơi, chết trần trụi, khi ấy, chúng ta được thông phần với hy tế cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta NÊN THÁNH trong vâng phục Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu.

Với các bạn trẻ thời gian cách ly xã hội, ở trong nhà nhiều hơn, nhờ đó bạn trẻ có thể học thinh lặng và thấy được giá trị của đời sống nội tâm, dành nhiều thời gian để sống cho những người thân yêu trong gia đình, hiếu thảo với cha mẹ, hay sống gần Chúa, gần thiên nhiên nhiều hơn.  Mỗi ngày bạn trẻ tham dự thánh lễ online, bàn học bạn trở thành bàn thờ!  Bạn hãy tạ ơn Chúa và tôn vinh Ngài qua những nỗ lực học tập, mong muốn góp phần xây dựng quê hương mai sau, và làm vinh danh Chúa hơn.  Khi ấy, các bạn trẻ đang trên đường NÊN THÁNH!

Các cặp vợ chồng đang gặp khó khăn, thất nghiệp, phải ở nhà cùng nhau 7 ngày/24 giờ.  Hãy dành cho nhau những lời an ủi, ân cần chăm sóc cho nhau: “Anh/ chị em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều.  Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.  Chớ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì” (Gc 1,2-4).  Được như thế, các anh chị đang trên đường NÊN THÁNH!

Và biết bao người nữa, mỗi người chúng ta, khi làm một việc nhỏ cho tha nhân, cho cộng đồng với tình yêu lớn thúc bách, chúng ta đang trên đường NÊN THÁNH.

Xin tạ ơn Chúa!  Xin chúc tụng và ngợi khen Chúa!

Giữa bao đau thương cuộc đời, qua Mẹ Maria, Chúa đã chỉ cho chúng con Con đường hướng về Trời cao, con đường NÊN THÁNH của mỗi người chúng con được hiện thực hóa trong từng hành vi, cử chỉ, chọn lựa yêu thương trong cuộc sống đời thường.

Bs. Trần Như Ý Lan, Dòng Đức Bà

From: langthangchieutim

Mũ Đỏ Út Bạch Lan kể chuyện ‘tình người trong cuộc chiến’

Mũ Đỏ Út Bạch Lan kể chuyện ‘tình người trong cuộc chiến’

August 14, 2021

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

HOUSTON, Texas (NV) – Mũ Đỏ Trương Văn Út vào binh chủng Lượng Lực Đặc Biệt một thời gian thì giữa năm 1970, binh chủng này bị giải thể, ông chuyển sang binh chủng Nhảy Dù, và có mật danh Út Bạch Lan.

Cựu Đại Úy Trương Văn Út và vợ trong tiệc Tất Niên Gia Đình Mũ Đỏ 2018 tại Dallas, Texas. (Hình: Trương Văn Út cung cấp)

Cuối năm 1971, Sư Đoàn 320 Bắc Việt bắt đầu xâm nhập và gây áp lực cho Sư Đoàn 22. Lúc đó, căn cứ Đắc Tô là bộ tư lệnh tiền phương của Sư Đoàn 22 cũng bị Cộng Quân tấn công dữ dội. Đại Tá Lê Đức Đạt, tư lệnh Sư Đoàn 22, kêu cứu thì Bộ Tư Lệnh Nhảy Dù đưa Lữ Đoàn 2 Dù ra tiếp cứu.

Tham chiến mặt trận đồi Delta với quân Bắc Việt

Ông Út kể, khi đến Kon Tum, Đại Tá Trần Quốc Lịch, lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 2 Dù, mới quyết định thành lập căn cứ hành quân giả chiến Võ Định nằm giữa Kon Tum và Đắc Tô, hướng Tây có một rặng núi thuộc đuôi của dãy Trường Sơn, Sư Đoàn 22 thành lập căn cứ A và căn cứ B tại nơi này, và một căn cứ nữa, đó là căn cứ C tức Charlie.

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, tại đây địch đã có một Tiểu Đoàn Phòng Không được Sư Đoàn 320 Bắc Việt bảo vệ.

Ông Út nhớ lại: “Ngày 17 Tháng Ba, 1972. Từ căn cứ Võ Định, Đại Đội Trinh Sát 2 Dù do tôi chỉ huy được lệnh đổ quân ngay trên đầu địch tại đồi Delta. Đơn vị đi đầu là Thám Sát thuộc Đại Đội Trinh Sát 2 Dù, gồm 14 chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc đầu là hai toán Viễn Thám, chiếc thứ ba có tôi và bảy quân nhân Mỹ; hai người mang máy truyền tin cùng một sĩ quan pháo binh (đề-lô).”

“Chiếc đầu tiên bay vô rồi lại bay ra, chiếc thứ hai cũng vậy, vì họ không phát hiện địch. Tôi đang ngồi chiếc thứ ba, rồi cũng không thấy gì ở dưới hết, tôi mới vỗ vai người phi công Việt Nam (Trung Úy Tấn) và nói ‘Bằng mọi giá, anh xuống liền cho tôi.’ Khi trực thăng hạ xuống còn cách mặt đất khoảng 3 mét, chúng tôi cùng nhảy xuống thì đã bị lọt vào ổ phục kích của Thượng Liên 12ly7 của địch,” ông kể thêm.

Cùng lúc, trực thăng đưa mấy toán Trinh Sát 2 vừa đến. Cộng Quân đã điều động một tiểu đoàn để bao vây Đại Đội 2 Trinh Sát. Lúc đó, ông Út vừa phân tán quân và vừa chiến đấu. Địch tràn lên, nhưng chỉ gặp những toán nhỏ của Trinh Sát 2 Dù. Những quân còn lại của Trinh Sát 2 đã bọc phía sau lưng địch để kích hoạt mìn Claymore vào bộ chỉ huy tiểu đoàn của địch. Trận này, địch bị tổn thất nặng. Đại Đội 2 Trinh Sát Dù bắt được đám tàn quân địch còn sống.

Ông kể tiếp: “Hôm đó, chúng tôi chiếm được ngọn đồi Delta, nhưng đến ngày hôm sau, Trung Đoàn 3 Bắc Việt điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta. Lúc bấy giờ, Đại Đội 2 Trinh Sát cũng đã thấm mệt, đạn dược và lương thực gần cạn mà địch quân cư tấn công tràn ngập. Phi Đoàn Thần Tượng (Bạch Tượng) đã bay vào Đồi Delta tiếp ứng. Nhưng vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh, nên không thể tiếp tế đạn dược và lương thực cho Đại Đội Trinh Sát 2.”

Sau đó, Phi Đoàn Song Chùy đã anh dũng lách qua các ổ phòng không, và tiếp tế cho đại đội của ông Út được một chuyến duy nhất.

Khi Đại Đội 2 Trinh Sát Dù được Tiểu Đoàn 7 Dù vào thay thế ở đồi Delta, thì đơn vị của ông Út triệt xuất về căn cứ Võ Định. Lúc bấy giờ, Trung Úy Trương Văn Út được Trung Tướng Ngô Dzu, cựu tư lệnh Quân Khu II, gắn lon đại úy và cấp cho ông Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẳng tại mặt trận.

Tâm linh của người lính chiến

Sau mặt trận Delta, Đại Đội 2 Trinh Sát “đụng nặng” với một trung đội súng nặng của Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 320 Bắc Việt. Trung Sĩ Nhất Nguyễn Văn Minh, trưởng Ban Truyền Tin của Đại Đội Trinh Sát 2, bị một tràng AK-47 trúng ngay lồng ngực chết tại chỗ.
Ông tâm tình: “Tối đến, mặt trận tạm yên. Tôi mệt lã chập chờn trong giấc ngủ, bàn tay trái vẫn còn trên poncho bó xác của Minh. Chợt tai tôi nghe tiếng nói của Minh, ‘Đại úy ơi, mở ba lô của em ra, lấy cái poncho light của em mà đắp và giữ nó bên mình của đại úy, rồi mở cái poncho của em ra lấy cái thẻ bài gửi cho mẹ em và con Nguyệt (em gái của Minh), còn sợi dây chuyền có cái thẻ ngà bằng nanh heo rừng, đại úy hãy mang vào cổ đừng bao giờ rời nó.’”

“Tôi choàng tỉnh ngồi bật dậy. Trời hãy còn tối đen như mực, nhìn quanh bên cạnh vài thước, một người lính của tôi vẫn còn ghìm súng trong phiên gác nửa đêm. Tôi tự hỏi, có thật linh hồn của Minh vẫn còn quanh đây để về báo mộng cho tôi, hay chỉ là hư ảo qua tình cảm tiếc thương đứa em cận kề thâm tình bấy lâu nay mà sinh chuyện mộng mị,” ông kể thêm.

Sau đó, ông Út làm theo lời của Minh, thì quả thật, tất cả hiện vật đều đúng như Minh đã về báo mộng cho ông Út. Sáng hôm sau, ông Út nhận được công điện từ hậu cứ thông báo là, sáng nay, mẹ và em gái của Minh có đến văn phòng hậu cứ khóc lóc thảm thiết. Mẹ của Minh cho biết là Minh đã có về báo mộng cho mẹ mình đêm qua.

Tham chiến trận cổ thành Quảng Trị

Ngày 17 Tháng Tư, 1972, Tiểu Đoàn 11 Dù bị tổn thất nặng ở đồi Charlie. Thiếu Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận.

Giữa Tháng Năm, 1972, Lữ Đoàn 2 Dù, gồm các Tiểu Đoàn 7, 9, một Tiểu Đoàn Pháo Binh và Đại Đội Trinh Sát 2 Dù triệt xuất Kon Tum về hậu cứ. Sau đó, Lữ Đoàn 2 Dù được lệnh tăng cường ra Huế chuẩn bị tái chiếm Quảng Trị.

Quận Mai Lĩnh nằm ở phía Đông Nam cổ thành Đinh Công Tráng, cách gần một cây số về hướng Bắc là làng Trí Bửu, trên nữa là Hạnh Hoa Thôn, nơi đây, địch dùng nơi đóng quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 325 của Bắc Việt, trang bị nhiều chiến xa, hỏa tiễn phòng thủ dọc theo con đường Duy Tân.

Cựu Đại Tá Đỗ Ngọc Nhận (phải) và cựu Đại Úy Trương Văn Út (giữa) tại Đại Hội 21 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam 2018 tại San Jose, California. (Hình: Trương Văn Út cung cấp)

Toán Viễn Thám Trinh Sát 2 phát hiện địch quân đã nằm áp sát bên mình, gồm Bộ Binh và Thiết Giáp. Sau khi hai Tiểu Đoàn 11 và 5 Nhảy Dù về đến Quảng Trị, thì Tiểu Đoàn 11 và Pháo Binh Dù đã chiến thắng vẻ vang trên đồi Trần Văn Lý. Trong khi đó, một trung đội của Đại Đội 2 Trinh Sát có nhiệm vụ yểm trợ tản thương cho các thương binh của Tiểu Đoàn 11. Trung đội này không may bị ‘dính’ một trái mìn chống chiến xa của quân ta khiến cho một sĩ quan, một hạ sĩ quan cùng sáu binh sĩ chết tại chỗ và 17 bị thương nặng nhẹ. Chỉ năm ngày sau, quân số của trung đội này được cấp tốc bổ sung đầy đủ.

Sau đó, Lữ Đoàn 2 Dù vượt phòng tuyến bên bờ Nam sông Mỹ Chánh. Địch gồm ba Sư Đoàn Bắc Việt, cùng đại pháo 130 ly, hỏa tiễn phòng không, hoả tiễn chống chiến xa của Liên Xô. Địch đã điều nghiên chiến trường và chuẩn bị chu đáo để đối phó với Lữ Đoàn 2 Dù.

Chỉ trong vòng ba ngày đêm, đầu đội pháo, chân dẫm lên xác địch, tác xạ lao về phía trước vượt trên tuyến đường vài ba cây số ngập tràn máu lửa, đạn bắn như đan lưới. Hai Tiểu Đoàn 1 và 5 Dù đã tiến vào La Vang, Tiểu Đoàn 2 Dù đã vượt qua ngã ba Long Hưng áp sát vào vòng đai Cổ Thành Đinh Công Tráng, Trinh Sát 2 Dù có lệnh theo đuôi Tiểu Đoàn 7 Dù. Sau đó, Trinh Sát 2 đơn độc rẽ về hướng Đông để tiên phong xâm nhập vào quận Mai Lĩnh ban đêm. Tất cả ngụy trang tối đa, bảo toàn lực lượng để mở đường cho Tiểu Đoàn 7 và Đại Đội Trinh Sát 2 Dù tiến vào mục tiêu.

Hơn 21 ngày đêm Lữ Đoàn 2 Dù và Đại Đội Trinh Sát 2 đã đụng độ khốc liệt với quân Bắc Việt trên nhiều chiến trận, với sự yểm trợ của Pháo Binh, Bộ Binh, Thiết Giáp, Không Quân VNCH và Không Kỵ Hoa Kỳ (US First 1st Cavalry Division) để tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Sau đó, Sư Đoàn Nhảy Dù được lệnh triệt thoái, và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) vào thay thế trong mặt trận này. Sư Đoàn Nhảy Dù tiếp tục hành quân sang hướng Tây Nam thành phố Quảng Trị, và bắt tay với Sư Đoàn 1 Bộ Binh để giữ tuyến từ La Vang xuống Ba Lòng kéo dài tận hướng Tây, Huế.

Đầu Tháng Chín, 1972, Sư Đoàn TQLC đã kiểm soát hoàn toàn thị xã Quảng Trị và cổ thành Đinh Công Tráng.

Những tháng năm cuối cùng trong cuộc chiến

Ông Út kể, Hiệp Định Paris ký kết vào 20 Tháng Giêng, 1973, toàn cả miền Nam được lệnh ngưng bắn. Đơn vị của Đại Úy Út không còn tham chiến trận nào đáng kể cả. Tháng Mười Một, 1973, ông bị tai nạn gãy ống quyển chân phải, nằm bệnh viện và dưỡng thương gần một năm.

Cuối năm 1973, Cộng Quân tiếp tục tấn công mạnh miền Nam. Đầu năm 1974, Cộng Quân bắt đầu gây áp lực đe dọa Quân Khu 1 (Đà Nẵng).

Ngày 20 Tháng Ba, 1975 Ban Mê Thuột bị thất thủ. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Sư Đoàn Nhảy Dù khẩn cấp về Sài Gòn, còn Lữ Đoàn 3 Dù về tăng cường cho Quân Khu 2 ở mặt trận Khánh Dương. Sau đó, Lữ Đoàn 3 Dù tan hàng ở đây.

Ông Út chia sẻ: “Ngày 4 Tháng Tư, 1975, Lữ Đoàn 2 Dù được không vận ra Phan Rang, 10 ngày sau đó cũng tan hàng. Lúc đó, tôi được lệnh ở lại Sài Gòn để tiến hành thành lập Tiểu Đoàn 17 Dù (tân lập). Ngày 27 Tháng Tư, 1975, Tiểu Đoàn 17 Nhảy Dù tân lập được lệnh di chuyển từ căn cứ Long Bình về Sài Gòn để tăng cường lực lượng phòng thủ Phi Trường Tân Sơn Nhất, rồi có lệnh buông súng ba ngày sau đó. Lúc này, tôi là sĩ quan hành quân của Tiểu Đoàn 17 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng đã rời khỏi đơn vị trước đó hai ngày.”

Ngày 30 Tháng Tư, 1975, toàn miền Nam bị thất thủ. Cựu Đại Úy Trương Văn Út và nhiều sĩ quan của Quân Lực VNCH phải vào tù “cải tạo” của Cộng Sản. Sau một năm tù đày, Út Bạch Lan trốn trại “cải tạo,” ẩn náu về Mỹ Tho sống bằng nghề đạp xích lô để tìm đường vượt biên.

Tình người trong cuộc chiến

Ông Út nhớ lại: “Sau cuộc hành quân Hạ Lào 719, đơn vị của ông được lệnh thám sát vào Chiến Khu D của địch. Đại Đội Trinh Sát 2 Dù hợp cùng trực thăng võ trang Không Kỵ Hoa Kỳ đã tiêu diệt một số Cộng Quân tại Chiến Khu D; một số đã di chuyến về nơi khác. Trinh Sát 2 Dù đã khám phá một bệnh xá cấp trung đoàn của Việt Cộng, và bắt được ba nữ tù binh đều là y tá viên của Việt Cộng Miền Nam.”

Khi đọc tờ khẩu cung, thì ông mới biết tên y tá thứ nhất là Nguyễn Thị Yến, sinh quán ở Chợ Gạo, Mỹ Tho, cựu học sinh trung học bán công Thiên Hộ Dương, vào bưng cuối năm 1969 và hiện là y tá cho bệnh xá này cùng hai nữ ý tá Trần Thị Ánh và Ngô Thị Hạnh. Cả ba đều bị bắt trong lúc trốn ẩn nấp dưới hầm.

Sau khi điều tra về cô Yến thì ông Út mới biết, khi cô 10 tuổi, cha của Yến theo kháng chiến Việt Minh rồi bị bắt giam, sau hơn ba năm điều tra, ông được phóng thích và qua đời sau vài tháng vì bị bệnh. Gia đình Yến sống trong vùng “xôi đậu,” ban ngày với sự kiểm soát của Quốc Gia, ban đêm Việt Cộng về làng hoạt động.

Sau đó, Việt Cộng lợi dụng Yến còn ngây thơ đã tuyên truyền những oán hận là chính phủ VNCH đã gây ra cái chết ba của Yến. Vì thế, năm 1967, Yến vừa tròn 20 tuổi, cô bắt đầu hoạt động cho Việt Cộng với nhiệm vụ liên lạc với các tổ nội thành ở Chợ Hàng Bông Mỹ Tho.

Ông Út kể: “Lúc đó tôi mới hỏi Yến, cô đã bị chúng tôi bắt, cô có biết số phận của cô sẽ ra sao hay không? Thì Yến mới trả lời rằng, ‘Thưa anh, đã được sinh ra đời thì ai cũng cầu được sống, chớ chẳng có mấy ai cầu cho mình chết cả. Nhưng sống hay chết thì do định số đã an bày. Ngay lúc này, đối với các anh phía VNCH thì chúng tôi có tội, nay chúng tôi đã bị các anh bắt, thì mạng sống của chúng tôi, tùy các anh định đoạt.’”

“Tôi nghe Yến kể rất bình thản, bùi ngùi an phận theo nghiệp số của con người. Tâm tư tôi có chút xao động, vì không ngờ một cô gái còn son trẻ lại nghe theo lời tuyên truyền của Việt Cộng, mà theo tôi thì cô cũng có chút trình độ học vấn của chánh phủ VNCH. Tôi hỏi thêm thì cô trả lời là, cô đã học đến lớp Đệ Tam ban C (Hán văn),” ông kể thêm.

Sau đó, vì chưa báo cáo với cấp trên về vụ đơn vị đã bắt được ba nữ tù binh Việt Cộng, và cũng vì tình người trong cuộc chiến, nên Đại Úy Út đã thả ba nữ y tá Việt Cộng này với hình thức là cho tử hình ba cô, nhưng không bắn vào người mà chỉ bắn lên trời để cho ba cô chạy thoát.

Trong lúc đạp xích lô ở Mỹ Tho, thì tình cờ ông gặp lại cô Nguyễn Thị Yến. Lúc bấy giờ, Yến là phó giám đốc bệnh viện Mỹ Tho. Chồng của cô là cựu giáo sư văn chương của trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.

Mũ Đỏ Út Bạch Lan (phải) đứng cạnh vợ chồng cựu Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. (Hình: Trương Văn Út cung cấp)

Cuộc đời đẩy đưa hai con người không cùng giới tuyến chính trị trong thời chiến, trở thành hai người bạn thân thiện phát xuất từ tấm lòng tình người trong cuộc chiến. Gặp nhau, tuy ngỡ ngàng, nhưng từ sự biết ơn và thân thiện của Yến đã cho cựu chiến sĩ Nhảy Dù Út Bạch Lan rất ấm lòng.

Tháng Ba, 1982, Út Bạch Lan được bằng hữu giúp đỡ xuống tàu vượt biên thành công, và được định cư tại Houston, Texas, ngày 12 Tháng Mười Hai, 1983.

Năm 2014, một cú điện thoại từ Boston, Massachusetts, gọi cho Út Bạch Lan, đầu dây bên kia là vợ chồng Yến và Tân. Họ định cư tại Hoa Kỳ theo diện bảo lãnh thân nhân. Câu chuyện “tình người trong cuộc chiến” đã trở thành tình đồng hương tại hải ngoại.

Cố nhạc sĩ Phạm Duy đã để lại cho đời qua câu nhạc “Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai.” (Lâm Hoài Thạch) [qd]

Xem lại kỳ trước: Mũ Đỏ Trương Văn Út và mật danh hành quân Út Bạch Lan

Điều VTV không nói: hơn 5.000 người đã chết vì COVID-19 ở Việt Nam

Điều VTV không nói: hơn 5.000 người đã chết vì COVID-19 ở Việt Nam

Luật Khoa

Báo Tiếng Dân

Con số tử vong đã luôn bị né tránh trong những tường thuật “chính thống” về dịch bệnh.

 14/08/2021

By  HIỀN MINH

VTV hoàn toàn im lặng về số ca tử vong. Ảnh gốc: VTV. Đồ họa: Luật Khoa.

Nếu theo dõi thông tin về diễn biến dịch COVID-19 trên các bản tin hàng ngày của VTV trong suốt đợt dịch vừa qua, bạn sẽ thường xuyên được cập nhật thông tin về số ca nhiễm mới, số liều vaccine đã được tiêm, và số bệnh nhân đã khỏi bệnh.

Duy chỉ có một thông tin bạn sẽ không bao giờ được nghe: số người tử vong.

Bao nhiêu người đã chết vì COVID-19 mỗi ngày? Bao nhiêu người đã chết trong đợt dịch bùng phát nghiêm trọng hơn ba tháng qua?

Thông tin này hoàn toàn không được đề cập trong mục cập nhật diễn biến dịch hàng ngày của Bộ Y tế. [1]

Nếu chịu khó tìm tòi kỹ hơn một chút, bạn sẽ thấy con số này ở phần thống kê số liệu và lẩn khuất trong các bản tin chi tiết hơn. Phần lớn các tờ báo tuân theo format đưa tin này, đặt con số tử vong đâu đó ở giữa bản tin. Rất hiếm hoi mới nhìn thấy con số tử vong xuất hiện trên tít báo, như trường hợp báo Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh và báo Tiền Phong vào ngày 10/8. [2][3]

Ngày hôm đó, có 388 người chết vì COVID-19. Đó là ngày ghi nhận con số tử vong cao thứ ba trong suốt thời gian đại dịch diễn ra tại Việt Nam. Và đây là tựa đề bản tin của Bộ Y tế ngày hôm đó:

Bản tin dịch COVID-19 của Bộ Y tế tối 10/8: Thêm 3.241 ca COVID-19, riêng Hà Nội 60 ca, 4.428 người khỏi bệnh

Báo Thanh Niên thì giựt tít thế này:

Bản tin tình hình Covid-19 hôm nay 10.8: Cả nước 4.428 ca khỏi bệnh, TP.HCM phấn đấu kiểm soát dịch trước 15.9

Chuyện không nhắc đến con số tử vong trên tít không thể là cách hành xử thông thường của báo chí. Đơn giản là vì số người chết chắc chắn sẽ thu hút được nhiều “view” hơn số người khỏi bệnh. Con người có xu hướng thích đọc tin tiêu cực hơn, và các vụ chết chóc thường được liệt kê trong số những điều làm nên tin tức. [4]

Không giựt tít về số người chết chỉ có thể là cách hành xử sau khi bị kiểm duyệt hoặc tự kiểm duyệt.

Nguồn tin của Luật Khoa cho biết, chỉ đạo xuyên suốt của cơ quan tuyên giáo đối với báo chí trong thời gian này luôn là: tăng tích cực, giảm tiêu cực.

Chỉ đạo này khớp với những gì chúng ta nhìn thấy trên truyền thông: Những giai điệu tích cực, những tuyên ngôn chiến thắng, những cuộc ra quân rầm rộ, những hình ảnh nhân viên y tế được mô tả như những chiến sĩ anh hùng, những ca bệnh được chữa khỏi, những nhận xét rằng số ca nhiễm đang “đi ngang” đúng như dự đoán.

Không có chỗ cho thông tin về số người tử vong trong chiến dịch lan tỏa tích cực này.

Dữ liệu số ca nhiễm mới COVID-19 và số người tử vong trong 2 tuần qua. Nguồn số liệu: Bộ Y tế, VnExpress. Ngày 1/8 không có ca tử vong nào được báo cáo.

Tính đến hết ngày 13/8, đã có tất cả 5.088 người tử vong vì COVID-19 được ghi nhận tại Việt Nam. [5] Trong số đó, 4.030 ca (tương đương 79.2%) thuộc TP. Hồ Chí Minh. Con số tử vong trung bình trong bảy ngày vừa qua là 296 người/ngày.

Nếu xếp hạng dựa trên số người chết vì COVID-19 trong vòng bảy ngày vừa qua, Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu và thứ 4 trong khu vực châu Á, theo số liệu của Wordometer tính đến ngày 13/8. [6]

Một cách chính thức, tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm (observed case-fatality ratio) và tỷ lệ tử vong trên 100.000 dân là những chỉ số được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh tại một quốc gia.

Hai chỉ số này của Việt Nam đều đang thuộc hàng cao trên thế giới. [7] Cụ thể, tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm hiện nay xấp xỉ 2% (cứ 100 người nhiễm thì có 2 người chết), xếp thứ 11 trên toàn cầu. Tỷ lệ tử vong trên 100 nghìn dân là 4,99 (cứ 100 nghìn người thì có 5 người chết vì COVID-19), nằm trong top 20 của thế giới.

Chúng cho thấy hệ thống y tế của Việt Nam đang quá tải.

Biểu đồ: Đại học John Hopkins. Số liệu cập nhật đến 13/8/2021.Biểu đồ: Đại học John Hopkins. Số liệu cập nhật đến 13/8/2021.

Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh chỉ công khai thừa nhận sự nghiêm trọng của những con số tử vong này vào ngày 13/8, ngày họ công bố rằng thành phố “có thể” sẽ phải giãn cách thêm một tháng nữa và kêu gọi người dân chuẩn bị tinh thần “trường kỳ kháng chiến”. [8]

“Vấn đề thành phố phải quan tâm nhất hiện nay là tỷ lệ tử vong ở mức cao, trung bình 241 ca mỗi ngày trong thời gian gần đây”, ông Dương Anh Đức, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh trả lời báo chí.

Người dân TP. Hồ Chí Minh không lạ gì chuyện này. Từ cách đây hai tuần, những đoạn phim ghi lại cảnh xe chở hòm xếp hàng dài trước lò thiêu Bình Hưng Hòa đã được lan truyền rộng rãi trên mạng. [9] Với cư dân thành phố, đó là chỉ dấu cho thấy chính quyền không làm chủ được tình hình như cách họ đang cố gắng tuyên truyền.

Bức tường Berlin (Phần 2): Biên giới Đức – Đức

Bức tường Berlin (Phần 2): Biên giới Đức – Đức

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Thọ

14-8-2021

Tiếp theo Phần 1

Nhiều người nhầm lẫn, coi bức tường Berlin là biên giới Đức-Đức. Lý do là bức tường đó được bất ngờ dựng lên trong một đêm, như một quả bom hạt nhân nổ khiến cả thế giới nói về nó, coi như một biểu tương của chiến tranh lạnh. Còn biên giới Đức-Đức thì khổng lồ hơn nhiều, cứ ngấm ngầm len lỏi, lớn dần lên giữa các làng mạc trong vòng 7 năm liền nên ít ai để ý đến nó.

Sau hội nghị Potsdam tháng 8.1945, quân đội các bên rút về những đường biên đã thỏa thuận và thiết lập chế độ quân quản. Ba vùng quân quản phía tây chỉ kiểm soát giấy căn cước đi lại để bắt các tội phạm Nazi còn ẩn náu. Sau khi ba vùng thống nhất tiền tệ vào năm 1948, dùng chung đồng DM thì tự do thông thương hoàn toàn.

Giữa vùng Xô Viết và 3 vùng còn lại cũng có một đường ranh. Nhưng bên cạnh việc truy lùng tội phạm chiến tranh (thông qua căn cước), Liên Xô còn kiểm soát hành chính bằng giấy thông hành (Passierschein). Lúc đầu khi lính Liên Xô còn kiểm soát, mọi việc nhiêu khê nhưng vẫn ụ xọe cho xong. Đến khi chính quyền được trao dần cho những người cộng sản Đức thi công việc trở nên khắt khe hơn.

Dải đất chết. Ảnh tư liệu

Công An đông Đức biết rõ lý lịch của từng người làng nên việc cấp giây thông hành trở nên khó khăn. Thế là dân chúng bắt đầu vượt biên, đi qua các con suối, các đường mòn để sang bên kia chơi, mua sắm, thăm nom. Để chống lại việc này, chính quyền miền Đông cứ dần chăng thêm thép gai hết đoạn này đến đoạn khác, buộc người dân phải đi qua các cửa khẩu, giờ đây do công an người Đức kiểm soát.

Câu chuyện có thật của làng Mödlareuth miền nam CHDC Đức được đài truyền hình ZDF làm thành phim với tên “Làng Tannbach” [1] một khắc họa điển hình của quá trình chia cắt nước Đức. Đường biên của khu vực Liên-Xô và Mỹ là một con suối chạy qua giữa làng. Sau chiến tranh, cả hai bên đều đói khổ, điêu tàn như nhau.

Làng cộng hòa Rüterberg ở Tây bắc CHDC Đức có quy chế đặc biệt, vì nằm lọt thỏm trong vùng quân Anh mà sau này Tây Đức quản lý. Ảnh tư liệu

Trong khi cuộc sống ở bên Đông bị xáo trộn bởi cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa, thì ở bên Đoài bọn cựu Nazi lại làm loạn. Những kẻ như lão địa chủ Schober lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng nịnh người Mỹ để thâm nhập vào chính quyền, quân Mỹ thì ú ớ. Nhưng Schober không ngờ rằng có người giữ được tấm thẻ đảng NSDAP (đảng Quốc xã) của gã. Thế là cuộc truy tìm tấm thẻ đảng của Schober trở nên đẫm máu.

Có thể nói thời kỳ mới hòa bình, cuộc sống ở hai miền Đông-Tây Đức đều khốn nạn như nhau. Dòng người đi lại vì kinh tế giữa hai bên chưa nhiều. Nhưng việc cái hàng rào ngăn chặn người dân đi từ Đông sang Tây cứ cao dần lên khiến người Đông Đức hoảng sợ và ngày càng có nhiều người bỏ sang phía Tây. Dòng người càng tăng thì cái hàng rào thép gai đó ngày càng dài ra và cao lên, nhưng nó chưa phải là biên giới. Nước Đức vẫn là một, cùng đói khổ đổ nát như nhau.

Sau ngày 7.10.1949 khi nước CHDC Đức ở miền Đông ra đời để trả lời việc hình thành nước CHLB Đức ở phía Tây thì cái hàng rào thép gai đó được Đông Đức đơn phương xây thành biên giới. Khi đó nó đã dài 1.400km với hàng trăm chòi canh có đèn pha và các trạm chó săn. Cho đến năm 1952, nó được mở rộng thành hai hàng rào thép gai, ở giữa luôn là đường đi của lính biên phòng. Hàng rào dây thép gai được gắn các loại cảm biến để khi có người động vào sẽ báo đông. Lại còn có loại có loại mìn tự động sẽ phát hỏa về phía có tiếng động [2]. Không biết loại mìn có chân tay này đã giết chết người nào chưa, nhưng lợn, hươu rừng thì rất nhiều.

SM-70 là một loại mìn thông minh, phát hiện tiếng động và cử động, tự động phát nổ. Nguồn: ChrisO-Eigenes Werk

Năm 1970, tôi thực tập ở đài truyền hình Rostock, chơi thân với ông Parschen, người phụ trách chương trình săn bắn và lâm nghiệp “Weidmannsheil” nên hay được đi theo quay phim ở vùng sát biên giới Đông-Tây Đức.

Tuy chỉ đứng từ xa nhìn vào, nhưng tôi bị ấn tượng mạnh bởi hệ thống hàng rào dây thép mênh mông này. Người Đức làm cỗ máy giết người đó cũng rất chỉnh tề, chỗ nào cũng có biển báo: hoặc là sẽ bị bắn, hoặc sẽ có mìn. Người ta đã rải 1,3 triệu trái mìn trên nhiều tuyến biên giới [3]. Sau ngày thống nhất nước Đức, việc tháo gỡ các bãi mìn này cũng rất nhanh vì công binh có các bản đồ chính xác đến từng cm.

Dải đất chết 1.400km này chạy qua rất nhiều làng mạc, ấp trại như làng Tannbach nói trên, cắt đứt mọi liên hệ máu mủ, mọi mối tình. Nhưng ngôi làng như Rüterberg thì chỉ có một. Tôi đã may mắn đến đây [4].

Quân Anh và Hồng quân qua định chia vùng quản lý dọc theo sông Elbe, Liên Xô ở bờ Đông, Anh ở bờ Tây. Vì đoạn sông Elbe đi qua Rüterberg lại gấp khúc hình chữ V nên khi chia ranh giới người ta trót kẻ thẳng, để cho quân Anh lấn sang bờ đông sông Elbe, quản luôn cả làng Rüterberg. Tranh chấp mãi, về sau quân Anh rút khỏi Rüterberg, nhưng đóng quân xung quanh để tối tối vào làng uống bia, tán tỉnh chị em thôn nữ. Hồng quân tiếp quản Rüterberg, biến nó thành một vùng thuộc CHDC Đức, nằm lọt thỏm 3 mặt trên lãnh thổ Tây Đức.

Vì lọt thỏm trong lãnh thổ Tây Đức nên nhiều người Đông Đức vẫn đến làng này du lịch và tranh thủ ban đêm, trốn sang bên kia. Năm 1961, CHDC Đức xây hai lớp hàng rào bao quanh 3 mặt làng, ở giữa là đường đi có đèn pha chiếu sáng, có lính biên phòng đi tuần.

Vậy mà thỉnh thoảng vẫn có người cắt được dây thép gai, lừa được lính biên phòng để chạy qua bên kia. Tức quá, công an Đông Đức rào béng cả mặt thứ tư, xây một cái cổng sắt to đùng và chỉ cho người làng được ra vào. Ở giữa làng, người ta xây một tháp canh cao vút, có đèn pha chiếu sáng bốn mặt. Họ hàng, bè bạn ở nơi khác muốn đến thăm, phải làm đơn xin phép trước cả tháng. Lá đơn phải được cơ quan công an ở Rüterberg và ở nơi ông họ hàng kia chứng nhận.

Xe cộ, máy móc nông nghiệp của dân làng Rüterberg mỗi khi đi qua cổng làng đều bị kiếm soát chặt chẽ như ra vào một căn cứ hạt nhân. Từng đống rơm rạ đều bị khui ra xem có ai nằm trong đó không. Dân làng có một loại căn cước riêng. Cuộc sống ở đó cũng khá giả hơn các nơi khác vì là bộ mặt của CHDC Đức lọt thỏm trong Tây Đức giàu có… Từ đó hình thành ra “Làng Cộng hòa Rüterberg”, kẹp giữa hai nước Cộng hòa Dân chủ và Liên Bang Đức.

Những ví dụ trên cho thấy chính quyền CHCD Đức chi một phần rất lớn GDP cho biên giới. Giá như không có cái đó thì đời sống dân Đông Đức chắc sướng lắm. Mà quả thật, tới đầu những năm 1960, khoảng cách về kinh tế giữa hai miền chưa lớn. Nhìn sang Tây Đức người ta chỉ thèm những cái ô-tô đẹp, những loại cà phê, thuốc là thơm, rượu ngon, nói chung là đồ xa xỉ. Dân chúng Đông Đức ăn uống no đủ, có nhà cửa bao cấp, trường học, vườn trẻ, y tế miễn phí, không lo thất nghiệp v.v. Đối với tôi CHDC Đức là thiên đường XHCN, không có lý do gì để dân bỏ đi.

Vì vậy tôi tin là cái biên giới kiểu dinh lũy đó, được canh phòng bởi 45.000 quân nhằm chống lại một cuộc xâm lăng từ bên kia, chứ không biết rằng nó nhằm ngăn chặn làn sóng di dân về phía tây.

Sau này tôi mới vỡ ra rằng: Người dân Đông Đức không thiếu ăn, thiếu mặc, không lo sợ thất nghiệp, nhưng thiếu tự do. Đó là lý do khiến họ bỏ về miền Tây. Chính quyền coi đó là tội bỏ trốn (Republikflucht) trong khi người dân coi là đi tỵ nạn.

Nhưng giải đất chết người đó đã chặn đứng dòng người tỵ nạn.

Trong khi đó thành phố Berlin vẫn tiếp tục hưởng quy chế đặc biệt của Đồng minh. Việc đi lại giữa bốn vùng uỷ trị ở Đông và Tây Berlin vẫn bình thường. Tàu điện, tàu nhanh (S-Bahn), xe Bus vẫn chở khách qua lại. Ở mỗi Checkpoint (cửa khẩu), cảnh sát vẫn kiểm tra căn cước. Ở cái thành phổ mênh mông này còn muôn vàn ngõ ngách mà bọn trẻ con vẫn chạy sang chơi với nhau, đám thanh niên vẫn sang bên kia phố tán gái, nhảy đầm mà không cần check point. Người Đông sang được Tây Berlin mà muốn ở lại bên đó sẽ được chấp thuận ngay và được máy bay đồng minh chở về Tây Đức định cư.

Cửa thoát này khiến dòng tỵ nạn đổ về Berlin ngày càng nhiều. Ngày cao điểm nhất có 20.000 người đổ sang Tây Berlin.

Ước tính từ tháng 10.1949 đến hè 1961 có khoảng 3 triệu công dân CHDC Đức bỏ sang Tây Đức, phần lớn là qua ngả Tây-Berlin [5].

(Còn tiếp)

_____

[1] https://www.zdf.de/filme/tannbach

[2] https://de.wikipedia.org/wiki/Selbstschussanlage

[3] https://www.welt.de/kultur/history/article125707234/DDR-Erbe-Landminen-kann-noch-Millionen-kosten.html

[4] https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/1924741607543903

[5] Từ sau 13.8.1961 đến đầu năm 1990 có thêm khoảng 500.000 công dân CHDC Đức bỏ sang CHLB Đức. Trong suốt 45 năm chia cắt, tổng số người Đông chạy sang Tây Đức 3,5 triệu người, có 400.000 người từ Tây Đức chạy sang Đông Đức.

Dân kêu cứu khắp nơi, chính quyền thì đang làm gì?

Dân kêu cứu khắp nơi, chính quyền thì đang làm gì?

Không có khả năng giúp dân thì phải để dân tự giúp nhau.

 06/08/2021

By  NĂNG TỊNH

Những lời kêu cứu xuất hiện khắp nơi ở TP. Hồ Chí Minh. Ảnh chụp màn hình trang web sosmap.net vào sáng 6/8/2021.

Chắc bạn đã tưởng lầm khi nhìn vào tấm hình ở trên. Nó không phải là bản đồ dịch bệnh của TP. Hồ Chí Minh. Đó là bản đồ kêu cứu của cư dân thành phố.

Mỗi một chấm đỏ là một lời kêu cứu. Những chấm ghi số có nghĩa là khu vực đó tập hợp nhiều người kêu cứu.

Bản đồ này nằm ở trang web SOSmap.net, dự án thiện nguyện do Phạm Thanh Vi, một chuyên gia công nghệ, và các tình nguyện viên lập ra. [1] Dự án này hỗ trợ kết nối những người cần giúp đỡ và các đội nhóm làm từ thiện.

Ngày 28/7, khi thông tin về dự án được giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ, có hơn 1.000 lời kêu cứu được đăng lên, trong đó chỉ có hơn 100 trường hợp là đã nhận được giúp đỡ. [2] Vào thời điểm trên, trang web mới hoạt động chưa đến bảy ngày.

Một tuần sau đó, tính đến ngày 6/8, số lượng cần cứu trợ đã lên tới 7.600, với chỉ hơn 500 trường hợp ghi nhận đã được giúp đỡ.

Nghĩa là trong 100 trường hợp kêu cứu, chỉ mới có khoảng 6 trường hợp là được trợ giúp, tỷ lệ 6%. Con số tương đối này, dù xám xịt, vẫn chưa phản ánh hết bức tranh đau lòng trên thực tế.

Phía sau hơn 7.000 lời kêu cứu chưa được hồi đáp không phải chỉ là 7.000 con người đang tuyệt vọng. Trong rất nhiều trường hợp, đó là lời kêu cứu từ một gia đình, hay đại diện cho cả dãy phòng trọ, hoặc một khu vực đang bị phong tỏa.

***

Giúp đỡ em với, em đang gặp khó khăn và thất nghiệp do dịch covid-19, hiện tại em có con nhỏ nữa, thất nghiệp 1 tháng, gia đình nằm trong khu phong tỏa.

Anh chị ơi, hỗ trợ vợ chồng em với ạ. Hiện tại hai vợ chồng em bị thất nghiệp do dịch, đồ ăn dự trữ cũng đã hết. Tiền cũng cạn kiệt, em lại đang mang bầu nữa ạ, 2 đứa em quê ở ngoài Bắc vào đây lập nghiệp. Cho bọn em xin chút lương thực để qua mùa dịch này với, em xin cảm ơn nhiều ạ.

Xóm trọ em chủ yếu là lao động tự do, thất nghiệp nhiều nên mong quý mạnh thường quân giúp sớm để mọi người đỡ khổ trong giai đoạn này ạ. Xin chân thành cảm ơn rất nhiều.

Tôi thất nghiệp 2 tháng nay, tiền phòng chỗ tôi không giảm và tôi cũng không nhận được sự cứu trợ từ đâu hết, hiện tại tôi đang gặp khó khăn về kinh tế và nhu yếu phẩm mong được sự giúp đỡ.

Khu trọ thất nghiệp hơn tháng nằm trong hẻm sâu chưa được ai giúp đỡ. Toàn công nhân thất nghiệp khu nhiều trẻ con. Mong được sự giúp đỡ của các mạnh thường quân ạ.

Khu phòng trọ 12 phòng có nhiều trẻ em và người già, tất cả các phòng đều thất nghiệp lâu do nghỉ dịch nên khó khăn, thiếu thốn, mong được sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, xin cảm ơn.

Xin chào các anh chị, chúng tôi cần trợ giúp. Tôi ở tỉnh Long An lên Sài Gòn làm, mất việc làm trước dịch đã mấy tháng nay, tiền nhà trọ đóng đều hàng tháng, chủ bớt tiền ít nên gặp khó khăn. Nhà trọ có 19 người đa số làm phụ hồ, công nhân, và bán vé số. Chúng tôi trụ từng ngày ở đây. Xin nhờ các mạnh thường quân giúp đỡ. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Em ở trọ. Em làm ở chợ đầu mối Thủ Đức, vợ làm công ty. Do dịch 2 vợ chồng em thất nghiệp hơn 1 tháng rồi ạ. Tài sản hiện giờ còn 6 gói mì 3 quả trứng, tiền mặt em còn 66k. Mong anh chị hỗ trợ giúp đỡ em qua được mùa dịch ạh.

Thất nghiệp 2 tháng. Cạn kiệt lương thực rồi ạ. Cứu em với.

Ảnh chụp màn hình những lời kêu cứu trên SOS map.

Đó mới chỉ là vài lời kêu cứu ngẫu nhiên trên những chấm đỏ SOS. Nếu bạn thấy không khí quá nặng nề, hãy tưởng tượng tình cảnh của người phải viết ra những lời trên.

Hãy tưởng tượng tiếp tâm trạng của họ khi đọc thấy những lời nô nức báo công của chính phủ kiểu “100% lao động tự do tại TP. Hồ Chí Minh đã nhận được hỗ trợ”. [3] Tưởng tượng họ nghĩ gì khi nghe những khẩu hiệu chắc như đinh đóng cột của các lãnh đạo như “không được để dân đói”, “không để người nào thiếu ăn, thiếu mặc”, hay “không cho phép có người bị bỏ lại phía sau”. [4] Tưởng tượng xem họ thấy “ấm lòng” cỡ nào khi nghe nhà nước thông báo “giảm 10-15% tiền điện trong hai tháng”. [5]

Chỉ khi nào tưởng tượng được, bạn mới có cảm giác rùng mình giống họ trước quyết tâm của chính phủ phải “chống dịch quyết liệt hơn” hay mệnh lệnh của thủ tướng “kiên quyết yêu cầu người dân ‘ai ở đâu ở đó’”. [6] [7]

Chống dịch mà đẩy người dân vào chỗ sống dở chết dở, đó là chống dịch kiểu gì? Rốt cuộc là chính quyền đang chống dịch hay chống dân?

Điều tệ nhất trong chính sách chống dịch cực đoan của chính quyền không phải là chuyện đẩy người dân lâm vào cảnh khốn cùng.

Điều tệ hại nhất là chính quyền, với các biện pháp ngăn sông cấm chợ, áp đặt kiểm soát vô lý, phản khoa học, đã và đang ngăn cản người dân giúp đỡ lẫn nhau.

Bạn có thể lên trang web sosmap.net để tìm hiểu và liên lạc trực tiếp với những người đang cần giúp đỡ, nhưng khả năng cao là bạn sẽ không thể giúp họ, khi giờ đây bạn, cùng với hàng triệu người khác, cũng đang bị nhốt một chỗ.

Nếu “dám” tự tiện đi giúp người, bạn rất có thể sẽ bị phạt vì “ra đường không có lý do chính đáng”.

Nhờ vào tinh thần “chống dịch như chống giặc” của Việt Nam, giúp người giờ đây trở thành một lý do không chính đáng.

Sẽ có những người bảo vệ cách làm phong tỏa, hay nói thẳng ra là cầm tù người dân của chính quyền.

Lý do là việc tự do đi lại sẽ làm lây lan dịch bệnh, còn hỗ trợ người dân thì đã có nhà nước lo.

Năng lực của nhà nước trong việc hỗ trợ người dân đến đâu, hãy để chính những người sống dở chết dở với chính sách phong tỏa lên tiếng.

Còn việc lo lắng rằng một khi người dân được tự do đi lại, dù chỉ là trong phạm vi thành phố, sẽ khiến dịch bệnh lây lan, là một giả định rất có vấn đề.

Hãy hỏi bất kỳ một chuyên gia y tế nào, rằng khi hai người tiếp xúc với nhau đều đeo khẩu trang, đều giữ khoảng cách, và đều rửa tay trước khi chạm vào mắt mũi miệng, xác suất họ lây bệnh cho nhau, nếu một trong hai người có bệnh, là bao nhiêu?

Trên thực tế, virus corona chỉ lây lan khi những người tiếp xúc gần không thực hiện các biện pháp tự bảo vệ.

Đó là cơ sở để những người làm công tác “chống dịch” vẫn có thể tự do đi lại, tiếp xúc với người khác.

Nếu cùng thực hiện các biện pháp bảo vệ như nhau (đeo khẩu trang, giữ khoảng cách, rửa tay kỹ càng), chẳng có lý do gì cho rằng nhóm người này sẽ không làm lây bệnh, còn nhóm khác thì sẽ khiến bệnh lây lan.

Vấn đề ở chỗ chính quyền luôn xem dân là đối tượng phải bị cai trị thay vì là một đối tác bình đẳng cùng quản trị đất nước.

Nhiều người lấy các trường hợp người dân xem thường dịch bệnh, không đeo khẩu trang, không giữ vệ sinh để từ đó suy rộng ra rằng cứ phải áp dụng biện pháp mạnh vì “người Việt Nam đều thiếu ý thức như nhau”. Điều kỳ lạ là những kẻ tuyên bố như trên thường vô tư xem mình là ngoại lệ “tôi không phải đám dân trí thấp đó”.

Tiêu chuẩn kép này lộ rõ khi chính quyền tự nói về mình. Vô số các trường hợp cán bộ phạm luật, bị truy tố, ngồi tù, v.v. đều chỉ bị phủi tay cho đó là “con sâu làm rầu nồi canh”.

Họ tìm mọi cách để giữ lại nồi canh nhung nhúc sâu của mình, trong khi sẵn sàng vặt lá tìm sâu để hất đổ nồi canh của người khác.

***

Chính sách chống dịch cực đoan của chính quyền rõ ràng đang gây hại nhiều hơn lợi.

Bản đồ kêu cứu trên SOS map, cho dù con số tăng lên từng ngày, vẫn chỉ là một lát cắt nhỏ trong bức tranh ai oán của người dân. Còn biết bao nhiêu trường hợp tuyệt vọng chưa được ghi nhận. Còn hàng vạn người lao động thành phố đã phải lũ lượt bỏ về quê trên những chuyến đi đầy nguy hiểm. Và đó mới chỉ là hình ảnh của TP. Hồ Chí Minh, nơi đang biến thành trại tập trung khổng lồ.

Chính quyền cần thẳng thắn thừa nhận sự bất lực của mình trong việc chăm lo cho những nhu cầu cơ bản nhất của người dân. Họ phải gỡ bỏ chính sách chống dịch cực đoan, ngăn sông cấm chợ, xem dân như giặc, để cho người dân ít nhất có thể tự giúp đỡ lẫn nhau qua cơn khủng hoảng này.

Vì nếu đã không giúp được, thì việc tối thiểu có thể làm là tránh ra.

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Tưởng Năng Tiến

Tuy chào đời tại Sài Gòn – trước Hiệp Định Geneve – tôi vẫn có mặt trong đoàn người di cư từ Bắc vào Nam hồi năm 1954. Tuy đây không phải là một “giai thoại” ly kỳ hay thú vị gì sất cả nhưng vẫn xin được phép ghi thêm đôi dòng (cùng dặm thêm chút đỉnh mắm muối) để câu chuyện được tỏ tường, và đỡ phần nhạt nhẽo.

Tác giả Lê Duy San cho biết:

“Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh âm thầm cho công an đột nhập trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống những con sông để họ chết chìm rồi loan tin là những người này bị VNQDĐ thủ tiêu.

Vụ này đã làm cho VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tầu trong đó có cụ Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Đạo, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và nhiều lãnh tụ của Việt Quốc và Việt Cách khác. Hàng ngàn người khác bị chúng bắt đem di giam giữ tại Hỏa Lò Hà Nội và nhiều nơi khác trong đó có nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư.”

Tôi sinh sau đẻ muộn nên không được tường tận về những sự kiện thượng dẫn nhưng biết chắc rằng – ngoài những nhân vật nổi tiếng vừa nêu – còn có vô số những đảng viên cấp địa phương (của cả Việt Quốc lẫn Việt Cách) cũng bị truy lùng hay sát hại vì không “bung” kịp, hoặc không tìm được đường để ra đến nước ngoài.

Thân phụ tôi là một trong những kẻ thuộc cái đám đông vô danh tiểu tốt này. Thay vì chạy sang Tầu, như phần lớn những đồng chí ở trung ương, ông trốn vào Nam. Tuy tay trắng, không có chi để lận lưng, ngoài cái bằng tiểu học (Certificat D’Étude Primaires Complémentaires Indochinoises, C.E.P.C.I) ông vẫn kiếm được đôi ba chỗ kèm trẻ, và một nơi để trú thân, trong một cái xóm lao động nghèo nàn –  có tên là Xóm Chiếu – bên Khánh Hội.

Trong Thư Về Làng (viết năm 1956) nhạc sỹ Thanh Bình tâm sự: Từ miền Nam, viết thư về thăm xóm làng/ Sắt son gửi trong mấy hàng/ Thăm bà con dãi dầu năm tháng/ Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang/ Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng …

Bố tôi không phải là nghệ sỹ nên ông chỉ đề cập đến chuyện cơm, áo, gạo, tiền … Thư ông viết: “Trong này có khi cơm ăn không hết, người ta đổ cho gà hay cho lợn”. Mẹ hiền, tất nhiên, không thể nào tin vào một chuyện “hoang đường” cỡ đó!

Bà vùng vằng, tức tối xé nát tờ thư trong tay (ấy là tôi đoán thế, nếu sai, xin má thứ tha và bỏ qua cho thằng con út) lầu bầu: “Lại phải lòng con đĩ nào trong ấy rồi, và chắc là định trốn vợ trốn con luôn đây, chứ thức ăn ở đâu ra mà lại phí phạm như vậy được?”

Nói xong, bất chấp mọi sự can ngăn/khuyên giải của họ hàng nội ngoại, bà tức tốc lặn lội vào Nam. Tới nơi, hiền mẫu tìm quanh quất mãi nhưng chả ra một con đĩ (ngựa) nào ráo trọi mà nhìn đâu cũng thấy phố xá tấp nập, hàng quán tùm lum, và đồ ăn thức uống ê hề khắp chốn.  

Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến.

Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó:

– Người từ là từ phương Bắc đã qua dòng sông, sông dài/ Tìm đến phương này, một nhà thân ái/ Ơi! Tình Bắc duyên Nam là duyên tình chung muôn đời ta đắp xây… (“Khúc Hát Ân Tình.” Xuân Tiên & Song Hương).

– Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa/ Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mau/
Đồi nương thương sức cần lao/ Se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu, ngọt ngào tình yêu
… (“Đất Lành.” Phạm Đình Chương)

Chuyện se duyên Nam Bắc có ngọt ngào tình yêu (thiệt) không thì chả ai dám chắc, và cũng không có chi bảo đảm cả nhưng với thời gian – rồi ra – ai cũng biết cái mền là cái chăn, cái mùng còn gọi là cái màn, cái phong bì với cái bao thư là một, cái bật lửa đã trở thành bựt lửa, cái hôn và cái hun cùng một nghĩa (và cùng đã) như nhau.

Cuộc chung đụng giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm … tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.

Kết quả của mối giao duyên tốt lành này là một phần tư thế kỷ sau – dù chả cần ai tuyên truyền, hay cổ động gì ráo nạo – chàng trai Biên Hoà Nguyễn Tất Nhiên vẫn cứ si mê “cô em tóc demi garçon,” và mê chết bỏ: Đôi mắt tròn, đen, như búp bê/ Cô đã nhìn anh rất… Bắc Kỳ/ Anh vái trời cho cô dễ dạy/ Để anh đừng uổng mớ tình si. (“Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ.” NXB Nam Á: Paris 1982).

Nền Đệ I Cộng Hoà ở miền Nam cũng có không ít những khiếm khuyết (vô cùng đáng tiếc) nhưng việc ổn định hằng triệu người dân di cư phải được coi là một điểm son của chế độ này, nhờ vào sự trợ giúp tận tình của cả nước Hoa Kỳ. Không phải thế lực ngoại bang nào đến Việt Nam cũng chỉ với mục đích xâm chiếm, cùng với chính sách chia để trị.

Chủ trương phân biệt vùng miền, mỉa mai thay, lại là đường lối xuyên suốt và nhất quán của cái nhà nước được mệnh danh là cách mạng hiện hành – theo như lời của nhiều công dân Việt:

  • FB Trần Đình Thu: “Để kỳ thị hai miền Nam Bắc xẩy ra ngày càng nghiêm trọng là do những chủ trương tuyên truyền hung hăng của nhà nước VN.”
  • Blogger Ku Búa: “Ai là người gây ra nạn phân biệt Bắc Kỳ Nam Kỳ? Đó không phải là sự khác biệt trong tư duy, trong môi trường sống, trong quan niệm sống hay con người. Mà chính là sự phân biệt trong chính sách chính phủ hiện tại.”
  • FB Thuc Tran: “Bất công là nguồn gốc của mọi sự thù ghét nhau giữa dân chúng hai miền và có lẽ đó cũng là ý đồ của đảng khi chia để trị.”

Họ có quá lời chăng?

Không dám “quá” đâu. Từ cuối thế kỷ trước, ông Vũ Đình Huỳnh (một nhân vật quan trọng của ĐCSVN) cũng đã từng nói những điều tương tự: “Sài Gòn là một thành phố bị chiếm đóng. Không phải là một thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà-Nội.” (Nguyễn Chí Thiện. Hỏa Lò. 7th ed. NXB Cành Nam, Virginia: 2007).

Thực sự thì Sài Gòn chưa bao giờ được Bên Thắng Cuộc xem “giống như Hà Nội” cả. Sự thực phũ phàng này được nhìn thấy rõ hơn trong những ngày tháng vừa qua.

Tác giả Nguyễn Khoa nhận xét:

“Dịch bệnh cũng làm bộc lộ mâu thuẫn chính trị vùng miền, với sự thống trị của miền Bắc, vốn là nơi phát xuất những đội quân chiến thắng năm 1975. Trong những năm 1990, người ta dành kinh phí quốc gia để xây dựng đường số 5 Hà Nội – Hải Phòng, hay đường số 18 Hải Dương – Quảng Ninh, thay vì con đường nhiều hàng hóa hơn là Quốc lộ 1 Sài Gòn – Mỹ Tho, hay liên tỉnh số 8 Sa Đéc – Long Xuyên.

Việc này có thể được thông cảm vì hệ thống đường sá miền Bắc quá tệ hại. Nhưng vào năm 2021, với một dân số gấp đôi, số người nhiễm bệnh gấp ba Hà Nội, mà số liều vaccine phân phối về Sài Gòn lại ít hơn là điều không thể tha thứ được.”

Bao giờ mà kẻ thống trị còn giữ được quyền bính thì họ chả cần đến sự “tha thứ” của bất cứ ai. Câu hỏi đặt ra là cái đạo quân chiếm đóng hiện nay sẽ còn tiếp tục duy trì được quyền lực ở Việt Nam thêm bao lâu nữa, và chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?

Tưởng Năng Tiến
8/2021

ĐIỀU HỌC MÃI VẪN CHƯA BIẾT

Chau Nguyen Thi

ĐIỀU HỌC MÃI VẪN CHƯA BIẾT

Ba đi làm về rất muộn, mãi tới hơn 10h tối tiếng xe của ba mới dừng lại ở cổng. Người ra đón ba không phải là đám con chân dài vai rộng của ông bà, mà là mẹ tôi.

***

Tôi nghe mẹ trách yêu:

– Ông biết cả nhà lo lắng lắm không, sao không điện thoại về?

Ba không đáp, dẫn xe nhanh vào rồi mới thở hắt ra một hơi, giọng vừa bực vừa chán:

– Mất cha nó cái điện thoại di động rồi!

Tôi hỏi nhanh:

– Mất cái điện thoại ba hứa cho con hả?

Giờ ông mới nhếch môi cười:

– Cũng may, cái cũ.

Tôi tiu nghỉu:

– Thì cái đó, con định xin cái đó khi ba mua cái mới.

Ba vò đầu tôi:

– Cho con phải cho cái mới sao lại để cho con cái cũ được!

Rồi ông chuyển giọng bực tức:

– Mình vừa móc ra nghe, chỉ mới alo được một tiếng là nó chạy ngang giật cái vèo, nhanh như gió vậy.

Mẹ lo lắng:

– Ở ngoài đường hả, rồi có bị té hay bị gì không?

Ba lắc đầu:

– Cũng may lúc đó tôi dừng lại, tấp xe vào sát lề để nghe, nếu không thì…

Mẹ vẫn cái giọng thường khi:

– Thôi của đi thay người.

Nhưng ba vẫn còn chưa nguôi:

– Chuyện tiếp theo mới làm mất thì giờ. Thằng giật điện thoại của tui, bà biết bao nhiêu tuổi không?

Rồi không đợi mẹ hỏi, ba trả lời:

– Mới có 15 hay 16 gì đó.

Mẹ tò mò:

– Sao ông biết rõ vậy?

Ba thở dài

– Nó giật xong, chạy chưa được chục mét là tông vào chiếc taxi, bị ngã và vỡ đầu.

Nghe tới đó cả mẹ và tôi đều giật mình:

– Có sao không ông?

Ba buông lỏng một câu:

– Chết rồi!

– Trời ơi!

Đó là tiếng kêu thoảng thốt của mẹ, giọng mẹ hơi run.

– Rồi.. rồi làm sao?

Giọng ba chùng xuống:

– Lúc mới té nó chưa chết, nhưng chiếc điện thoại mới giật thì văng ra xa, bị một chiếc xe tải chạy tới cán nát ra. Mọi người bu lại đông nghịt, nhưng chẳng ai làm gì giúp nó cả, bởi họ chỉ lo chửi rủa nào là quân ăn cướp, quân lưu manh chết cho đáng đời! Lúc đó tôi quên cả chuyện mất của, gọi ngay chiếc taxi chở nó đi nhà thương.

– Rồi xe ông làm sao?

– Tôi chạy xe theo, trả tiền xe và đưa nó vào phòng cấp cứu. Nhưng chỉ khoảng 30p sau là nó tắt thở.

– Do vậy mà ông về trễ?

Ba gật đầu, nhưng vẻ ủ rũ vẫn còn và hình như nặng nề hơn. Mẹ là người hiểu ba hơn ai hết, nên lại nhỏ nhẹ hỏi:

– Còn có chuyện gì sao?

– Bà có còn nhớ cô Hà, người giúp việc nhà mình hồi mấy năm về trước không?

Câu hỏi bất ngờ của ba làm mẹ cau mày:

– Lại có chuyện gì với cô ấy? Hà là người mà hồi đó ông nghi là người lấy cắp chiếc đồng hồ mà ông bỏ quên ở nhà tắm, rồi ông nhất quyết đuổi cô ấy, mặc dù cô ta khóc lóc, năn nỉ gãy cả lưỡi để xin làm việc trở lại. Và về sau…

Ba tôi tiếp lời bằng giọng ăn năn:

– Sau khi cô ấy nghỉ việc được một tháng thì tôi tìm thấy chiếc đồng hồ rơi kẹt trong cái bồn rửa mặt. Tội nghiệp cô ấy bị nghi oan…

Mẹ tôi chép miệng:

– Chuyện cũ rồi dù gì ông cũng cho cô ấy hai tháng lương.

Tuy nhiên ba tôi chợt ôm đầu, nỗi khổ đau dường như không còn đè nén được nữa:

– Bà có biết thằng giật đồng hồ của tội và bị chết đó là ai không?

Nó là con của cô Hà.

***

P/S: Đời người ai cũng phạm sai lầm hết lần này đến lần khác. Sau mỗi lần phạm sai lầm ta đều tự nhủ ta sẽ rút kinh nghiệm cho lần sau. Nhưng có một bài học mà ta luôn mắc lại sai lầm giống hệt nhau, đó là bài học quá xốc nổi, quá nóng tính. Đó là bài học khiến ta thấy ta đúng là một học sinh tồi, chỉ một bài học mà mãi không bao giờ học thuộc.

Sưu tầm

May be an image of nature

 SUY GẪM VỀ SỰ NGHỊCH LÝ NHƯNG LẠI HỢP LÝ…….

 SUY GẪM VỀ SỰ NGHỊCH LÝ NHƯNG LẠI HỢP LÝ…….

Ngược Lại Với Yêu Là Gì Các Bạn???

Một giáo sư đang giảng về “tiểu thuyết” ở một lớp học của các nhà văn trẻ, giáo sư bỗng dừng lại hỏi các học viên:

– Ngược lại với yêu là gì?

– Ghét ạ!

Giáo sư đi đi, lại lại, trầm ngâm, ông bỏ giáo trình xuống bàn và nói:

– Thế này nhé: Ví như anh đang yêu, sau đó chia tay! 50 năm sau anh 70 tuổi, tình cờ gặp lại người cũ trong một chiều đi dạo. Lúc đó bà nọ chằm chằm nhìn anh và nói: “Ông A ơi tôi ghét ông!”. Nếu tình tiết xảy ra đúng như vậy, anh phải mừng cho bản thân mình!

– Vì sao?

– Vì anh là người may mắn mới có người ghét anh hàng nửa thế kỷ.

– May mắn quái gì, phi lý!

– Bình tĩnh, bình tĩnh. Các bạn nghĩ kỹ xem, ghét cũng cuốn hút tình cảm như yêu như thương, tức là tình cảm của ai đó vẫn nghĩ về anh. Có người ghét anh 50 năm, tức là vẫn nghĩ về anh 50 năm, thật là hiếm có đấy! Anh may mắn không nào?

Điều đáng sợ là khi anh gặp lại người cũ, anh hỏi:

– “Bà B ơi có nhớ tôi không?”.

Người nọ đứng đực ra nhìn anh và nói:

– “Thưa ông, tôi nom ông hơi quen quen, ông là ai?”.

Cả lớp cười ồ lên, câu chuyện tưởng tượng này quả là thú vị pha thêm chút ngượng ngùng…

Giáo sư khẳng định:

– “Ngược lại với yêu đâu phải là ghét!”.

Cả lớp đồng ý với giáo sư:

– “Ngược lại với yêu là lãng quên!”

May be an image of text

BÀI HỌC THÂM THÚY TỪ MỘT VỤ CƯỚP NGÂN HÀNG…

Thư giãn một chút cho bớt căng thẳng trong mùa dịch nghen quí vị!

BÀI HỌC THÂM THÚY TỪ MỘT VỤ CƯỚP NGÂN HÀNG…

Trong vụ cướp nhà băng nọ, có một tên cướp hét lên: “Tất cả đứng im, nên nhớ tiền thuộc về Nhà nước, còn mạng sống thuộc về chúng mày!”

Mọi người trong ngân hàng nghe xong liền im lặng nằm xuống.

–> Điều này được gọi là: “Cách thức khai tâm – Thay đổi những suy nghĩ theo lối mòn”

Có cô nhân viên nằm trên bàn trong tư thế khêu gợi, một tên cướp hét lên: “Làm ơn cư xử văn minh, chúng tôi là cướp chứ không phải những kẻ hiếp dâm!”

–> Điều này được gọi là “Hành xử chuyên nghiệp – Chỉ tập trung vào công việc mà bạn được huấn luyện!”

Khi tên cướp quay lại, một tên cướp trẻ hơn (có bằng MBA) nói với tên cướp già hơn (kẻ mới tốt nghiệp hết phổ thông): “Đại ca, có phải đếm xem chúng ta cướp được bao nhiêu?”. Tên cướp già gằn giọng: “Mày ngu lắm, bao nhiêu tiền, đếm thế nào được? Đợi đi, tối nay TV sẽ nói chúng ta cướp được bao nhiêu!”

–> Điều này được gọi là: “Kinh nghiệm – Ngày nay thì kinh nghiệm quan trọng hơn giấy tờ, sách vở”

Sau khi băng cướp rời khỏi, giám đốc chi nhánh định gọi báo cảnh sát. Kế toán trưởng vội vã chạy đến, thì thầm vào tai ngài: “Đợi đã, hay để 5 triệu chúng ta biển thủ vào trong số bị băng cướp lấy mất!”

–> Điều này được gọi là: “Bơi theo dòng nước – Chuyển đổi những tình huống bất lợi trở thành thuận lợi”

Người giám đốc tự nhủ: “Vậy thật tuyệt nếu cứ mỗi tháng lại có một vụ cướp!”

–> Điều này được gọi là: “Hãy loại bỏ những điều khó chịu – Hạnh phúc là điều quan trọng nhất”

Ngày hôm sau, TV đưa tin 100 triệu đã bị cướp khỏi nhà băng. Những tên cướp đếm đi đếm lại thì chỉ có 20 triệu. Chúng rất giận dữ: “Chúng ta mạo hiểm mạng sống của mình chỉ để lấy 20 triệu, giới lãnh đạo chỉ ngồi chơi mà cướp được 80 triệu. Đúng là học hành, có bằng cấp thì chúng nó được ngồi cái ghế đấy, cướp tiền siêu đẳng hơn chúng ta!”

–> Điều này giải thích tại sao: “Kiến thức thì giá trị như vàng”

KẾT LUẬN:

Trong cuộc sống luôn có những điều chúng ta có thể nhanh chóng nhìn ra, có những điều không như chúng ta thấy từ bên ngoài, và chân lý chỉ mang tính tương đối.

Quan trọng nhất là thái độ đối với cuộc sống này, hay cách nhìn chúng ta lựa chọn để mang lại vui vẻ, hạnh phúc cho bản thân, cho những người thân xung quanh mình.

SƯU TẦM

May be an image of 2 people and people standing