Tiến sĩ Nguyễn Quang A: “Bắt Đinh La Thăng, vẫn là chuyện thanh trừng nội bộ”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: “Bắt Đinh La Thăng, vẫn là chuyện thanh trừng nội bộ”

Kính Hòa RFA
2017-12-08
 
Ông Đinh La Thăng, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, viên chức cao cấp nhất của Đảng Cộng sản bị bắt giữ. Ảnh chụp tại một phiên họp Quốc hội, 30/10/2017.

Ông Đinh La Thăng, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, viên chức cao cấp nhất của Đảng Cộng sản bị bắt giữ. Ảnh chụp tại một phiên họp Quốc hội, 30/10/2017.

 AFP
 

Ngày 8 tháng 12 năm 2017, ông Đinh La Thăng, nguyên Ủy viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, nguyên Bí thư thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, bị bắt tạm giam để điều tra về việc làm thất thoát tài sản tại Tổng công ty dầu khí Việt Nam.

Đây là một viên chức cao cấp nhất của Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam bị bắt một cách công khai trong lịch sử của Đảng.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động xã hội dân sự tại Hà Nội trao đổi với Kính Hòa của Đài RFA quan điểm của ông qua sự kiện này.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Người ta viện cái cớ là ông ấy là mất 800 tỉ, và chuyện liên quan đến một cái công ty gì đấy của ông Trịnh Xuân Thanh. Những thông tin như thế thì người ta đã đồn ở Hà Nội này từ trước khi Đại hội lần thứ 12 của Đảng Cộng sản. Cho nên là theo tôi thì nó vẫn là tiếp tục của sự thanh trừng các bè phái. Cái chuyện tham nhũng, theo tôi thì nếu chống tham nhũng thật sự thì tất cả các ông ấy bị tù hết nếu làm nghiêm túc.

Kính Hòa: Nhưng chuyện bắt ông Thăng, từ chuyện truất phế ông ấy ra khỏi Quốc hội, rồi ông Phạm Minh Chính ký đình sinh hoạt đảng của ông Thăng, đều xảy ra trong một ngày, chuyện đó có gì đặc biệt không?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Chẳng có gì đặc biệt cả. Đây là Đảng Cộng sản Việt Nam trị ông Thăng chứ không phải là tư pháp hay gì cả, bởi vì tất cả các lệnh đều từ đó mà ra. Quốc hội hay cho thôi Quốc hội đều do các ông ấy cả. Quyết định cho (ông Thăng) ứng cử Quốc hội mới có tháng Năm năm ngoái chứ đâu có gì là xa lắm.

Kính Hòa: Ông Thăng từng phụ trách Bộ Giao thông vận tải. Vừa rồi là chuyện BOT được truyền thông rộng rãi đưa tin, vậy liệu đó có phải là chuẩn bị dư luận cho việc bắt bớ này không?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Có thể hiểu như vậy cũng được. Thời ông Đinh La Thăng là thời nở rộ các BOT kiểu Cai Lậy. Nhưng tôi cũng phải nhấn mạnh là cái BOT còn nghiêm trọng hơn cái ở Cai Lậy vì nó rất là rõ ràng thì đã xảy ra hồi 20 năm trước, vào cái thời mà ông Thăng vẫn còn là kế toán trưởng hay giám đốc gì đó ở Tổng công ty Sông Đà.

Những chuyện như thế, những chuyện thanh trừng bè phái chắc chắn còn có nữa.Nếu mà tương quan lực lượng giữa các bên nghiêng hẳn về một phía, thì tại sao không chặt đầu rắn cho nó xong.
-Tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Nhưng mà đúng là ông ấy dính đến chuyện rầm rộ BOT, mà BOT thì toàn bộ báo chí chính thống rồi trên mạng, đều phản đối, vậy tạo nên cái lý là bắt ông này là chính xác rồi, không có vấn đề gì cả.

Kính Hòa: Sau ông Đinh La Thăng thì ông nghĩ là có người nào nữa cao cấp hơn không?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Tôi không dám đoán. Tôi nghĩ hoàn toàn có thể, mà cũng có thể là không. Những chuyện như thế, những chuyện thanh trừng bè phái chắc chắn còn có nữa.

Nếu mà tương quan lực lượng giữa các bên nghiêng hẳn về một phía, thì tại sao không chặt đầu rắn cho nó xong.

Kính Hòa: Có nghĩa là có khả năng ông Nguyễn Tấn Dũng dính dáng đến tòa án?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ là có thể nếu cán cân lực lượng xoay chuyển như vậy.

Kính Hòa: Có phải ông Đinh La Thăng là quan chức đảng cao cấp nhất bị bắt một cách hình sự như vậy trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian gần đây?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: 20 năm trở lại đây thì đúng đây là trường hợp đầu tiên.

Kính Hòa: Trước đó có những quan chức cao cấp bị bắt, bị thanh trừng nhưng không có dư luận rộng rãi phải không ạ?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Đúng rồi. Trước kia thì đến quan chức cao cấp như vậy, bị bắt thì không có, mà là bị vô hiệu hóa, rồi về nhà ngồi chơi xơi nước, bị quản thúc tại gia thì có, chứ bị bắt một cách công khai thì không.

Kính Hòa: Ông vừa nói đến chuyện cán cân lực lượng có thể đưa đến truy đến cấp trên của ông Thăng là ông Nguyễn Tấn Dũng, như vậy có phải chuyện này sẽ phá một dư luận làm tiền lệ nói rằng các cấp cỡ đó, cỡ tứ trụ triều đình, thì không bị đụng chạm đến?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Vấn đề là họ thỏa hiệp với nhau đến mức nào. Vì quyền lợi chung thì họ có thể thỏa hiệp, và lúc đó thì xề xòa hết cả. Nhưng nếu tương quan lực lượng áp đảo hẳn về một phía thì lúc đó có thể diễn ra.

Kính Hòa: Dù sao đi nữa thì ông Đinh La Thăng trong dư luận Việt Nam là hình ảnh của một vụ tham nhũng rất là lớn. Thì với sự bắt bớ này, ông Nguyễn Phú Trọng cũng đạt được một thành công là gầy dựng lại hình ảnh của đảng trong việc chống tham nhũng?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng chắc chắn nó làm cho nhiều người tin rằng đây là một cuộc chống tham nhũng thật, mà Đảng Cộng sản Việt Nam có thể làm được chuyện ấy. Cái cách tuyên truyền của người ta là như vậy.

Nhưng nếu nhìn ở khía cạnh khác thì đó là cuộc thanh trừng giữa các bên.

Ông (Trần Quốc) Vượng mấy ngày trước vừa ký một quyết định về việc khai trừ các thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông ấy nêu hàng loạt các thứ để củng cố sự độc quyền của Đảng. Không nói đến tam quyền phân lập, không nói đến dân chủ, không nói đến xã hội dân sự. Cái việc đó chỉ củng cố sự tập trung quyền lực vào trong ban lãnh đạo của đảng hiện thời.

Càng tập trung như thế thì càng nảy ra tham nhũng. Chống tham nhũng là không thể ở một nơi không có pháp quyền, không có nền pháp trị. Bản thân các vị ấy ngồi trên pháp luật thì làm sao chống tham nhũng được. Từ khía cạnh ấy thì sự thành công cũng không có gì.

Kính Hòa: Xin cám ơn ông.

AI CHO THĂNG ĐƯỢC NÓI?

Nguồn:    Hoa Kim Ngo and Văn Lang shared Nguyen Anh Tuan‘s post.
No automatic alt text available.

Nguyen Anh TuanFollow

AI CHO THĂNG ĐƯỢC NÓI?

“Khởi tố, bắt tạm giam ông Đinh La Thăng” – không chỉ Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet mà hàng trăm tờ báo khác cũng đang loan tin này với cùng một tiêu đề, văn phong, và nội dung, theo một sự chỉ đạo nghiêm ngặt dễ thấy.

Chưa biết rồi những ngày tới đây báo chí sẽ khai thác những chi tiết nào nữa, tuy nhiên dám chắc một điều là cả 900 tờ báo sẽ chỉ một hướng tấn công ông ấy.

Những lời biện minh, giãi bày của ông Thăng, nếu có, cũng không thể nào xuất hiện trên truyền thông. Tiếng nói của ông rồi đây chỉ là một tự sự cô độc giữa bốn bức tường mà ngoài ông ra thì chỉ đến tai các điều tra viên – những người, trớ trêu thay, lại chỉ phớt lờ cười nhạt, trước khi lấy lời khai để hoàn thành một bản hồ sơ luận tội chiếu lệ cho ông.

Ông Thăng có thể có, hoặc được chỉ định, một luật sư. Cũng có thể thi thoảng được gặp vợ con, nếu những người đồng chí của ông chỉ mới cạn tàu chứ chưa ráo máng. Nhưng, ngay cả khi luật sư muốn bảo vệ ông bởi trách nhiệm nghề nghiệp, vợ con muốn nói tốt cho ông bởi tình nghĩa gia đình, thì vấn đề là tờ báo nào ở Việt Nam dám đăng những lời này?

Kết cục không khó dự đoán. Công chúng, bao gồm cả bạn bè người thân của ông, sau một thời gian dài bị oanh tạc thông tin bởi hàng trăm tờ báo tập trung khai thác sai phạm của ông với vô số những lời lẽ đao to búa lớn, hẳn sẽ muốn đưa ông lên đoạn đầu đài ngay mà chẳng cần gì đến một phiên tòa. Lúc này, liệu ông có muốn được giữ quyền im lặng, được mời luật sư tham gia từ đầu, được giãy bày với báo chí thông qua luật sư và gia đình để rộng đường dư luận, được xét xử bởi một quan tòa độc lập – những quyền căn bản bình thường của bất kỳ công dân nào ở các nước dân chủ pháp trị?

Bị nguyên một hệ thống trấn áp bằng truyền thông mà chẳng hề có quyền đáp lại một lời nào để tự bảo vệ mình, nhân quả dường như đến quá sớm với Đinh La Thăng khi chính ông từng một thời nằm trong nhóm chóp bu duy trì và vận hành hệ thống đó.

Đinh La Thăng đang có bi kịch của ông ấy. Nhưng nằm ngay trung tâm bi kịch đó tiềm ẩn một rủi ro chung cho tất cả chúng ta: Không phân biệt địa vị, nghề nghiệp, sang hèn, từ Ủy viên Bộ Chính trị đến anh bán hàng rong, chúng ta đều có thể là nạn nhân của một nền pháp quyền què quặt khi mà nhân quyền, dân quyền của chúng ta không được thượng tôn nghiêm ngặt như một điểm cốt lõi tạo thành cộng đồng quốc gia này.

Những ngày tới, ở vị trí nạn nhân của quyền lực, ông Thăng hẳn sẽ có cái nhìn khác về nhân quyền, dân quyền – những thứ mà lúc còn ở đỉnh cao quyền lực chắc ông đã từng cười nhạt khi nghe thấy. Nhưng có lẽ, mọi thứ đã quá muộn với ông rồi.

Liệu chúng ta có nên như ông ấy, chỉ đợi tới lúc trở thành nạn nhân mới bắt đầu nghĩ tới quyền của mình?   

Lỗi do cơ chế?

Nguồn:   Trần Bang shared Chân Trời Mới Media‘s post.

Lỗi do cơ chế?

Cơ chế là gì? Do ai lập ra? 

Có thể thay đổi cơ chế, để có cơ chế mới là môi trường thuận lợi cho những điều tử tế phát triển, nẩy nở; để nó là “ thiên địch “ của cái ác, cái gian dối, bạo lực được không?

 
Image may contain: 1 person, motorcycle, crowd and outdoor
Chân Trời Mới Media

 

Vì sao người Việt vô cảm? Do con người hay cơ chế?

Hôm trước khi ở ngoài đường tôi chạy qua một vụ tai nạn – hình như đụng xe. Như bao vụ tai nạn khác ở xứ này, người dân chỉ nhìn. Không phải tất cả, nhưng đa số. Họ chỉ nhìn, rồi bu xung quanh. Và họ chỉ nhìn chứ không có ý thức là nên chở người gặp nạn đi bệnh viện. Phải một hồi sau thì mới có một mạnh thường quân xuất hiện để chở người gặp nạn tới bệnh viện. Tôi tự hỏi, vì sao người Việt lại vô cảm. Vì bản chất họ vô cảm hay vì lý do nào khác?

Giờ hãy đặt bản thân bạn vào một người đi đường thấy người bị nạn. Người đó cần phải chở đến bệnh viện – bạn sẽ làm gì? Nếu bạn cứu thì sẽ phải đối mặt với những thứ sau đây:

1- Viện phí. Mình không biết là người bị nạn có bảo hiểm hay không.
2- Vì mình là người đem người ta tới nên phải đóng viện phí.
3- Nếu không liên lạc được với người nhà thì mình tự trở thành người nhà của họ.
4- Rồi khi kêu người nhà của họ lên thì họ sẽ cáo buộc mình là người
gây ra tai nạn.
5- Khi mình nói mình không phải là thủ phạm thì người ta sẽ nói: “Nếu
mày không phải là thủ phạm thì tại sao mày lại giúp nó.”
6- Rồi có thể Công An sẽ điều tra bạn. Bạn phải mất thời gian đi trình báo.
7- Bạn sẽ tốn tiền, tốn công sức, tốn thời gian vì người khác.
8- Và bạn sẽ mất niềm tin vào chính bạn và xã hội.

Đó là cái giá để làm người tử tế ở đất nước này. Dưới một cơ chế như vậy thì ai sẽ là người tử tế? Hay đúng hơn là ai còn dám làm người tử tế nữa? Vậy lỗi là của ai? Vì người dân vô cảm hay vì cơ chế này khiến họ vô cảm? Vì họ ích kỷ hay chế độ này khiến họ ích kỷ?

Nếu trường hợp tương tự xảy ra ở Phương Tây hay một nước tiến bộ nào đó thì chuyện này sẽ xảy ra:

1- Người thấy tai nạn sẽ gọi cấp cứu.
2- Người bị nạn sẽ được chở tới bệnh viện ngay lập tức.
3- Tới bệnh viện sẽ được chữa trị, cho dù người đó có bảo hiểm haykhông. Nhiệm vụ của bác sĩ là chữa bệnh, viện phí không quan trọng bằng con người.
4- Người nhà của bệnh nhân sẽ cảm ơn bạn vì họ biết bạn không gây ra.
5- Cho dù bạn là thủ phạm, nếu bạn tự giác sửa sai thì người ta sẽ tha thứ cho bạn.
6- Bạn cảm thấy mình thật vĩ đại vì đã giúp cứu một mạng người.

Vậy là do con người hay do cơ chế? Nếu bản chất người Việt Nam là vô cảm và ích kỷ thì nếu sống trong cơ chế trên thì họ có khác không? Tôi nghĩ sẽ khác hoàn toàn. Họ sẽ trở nên tử tế hơn. Báo chí thường xuyên lên án sự vô cảm của người Việt nhưng ít khi nào hỏi vì sao? Vì sao người Việt lại ích kỷ? Vì sao người Việt lại thờ ơ? Vì sao người Việt lại vô cảm. Vì họ đã mất niềm tin vào xã hội này rồi.

Tại sao phải giúp người khác khi mình chỉ rước họa vào thân? Đâu ai ngu. Vậy lỗi tại ai? Con người hay cơ chế? Tôi nghĩ bạn đã có câu trả lời cho chính mình.

Ẩn danh – lượm từ FB Trần Kiều Ngọc

Hiền tài là nguyên khí quốc gia…

Nguồn:   Trần Bang‘s post.

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí”(Thân Nhân Trung)

Thể chế công an trị theo định hướng xã nghĩa đã nhốt hiền tài VN vào nhà tù hoặc trục xuất ra nước ngoài, nó đã biến VN thành “Quốc gia không chịu phát triển” và có nguy cơ sớm thành thuộc quốc của TQCS.

Trần Huỳnh Duy Thức là một kỹ sư, doanh nhân, blogger. Ông Thức bị bắt vào tháng 5/2009 vì tội trộm cước viễn thông và tuyên truyền chống nhà nước,…
LUATKHOA.ORG

NÓI CÓ SÁCH , MÁCH CÓ CHỨNG :

Nguồn:   Dien Hong Tran shared Tòng Thanh Phạm‘s post.
 
 
 
Image may contain: one or more people, people on stage, people sitting and indoor

Tòng Thanh PhạmFollow

 

 

NÓI CÓ SÁCH , MÁCH CÓ CHỨNG :

Cô nữ giảng viên Đại học Sư Phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

Tự Lực Văn Đoàn… Hừ, Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không…

CÔ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI BÌNH

Tứ Trụ của Tự Lực Văn Đoàn

Ngày 9.1.2007, trong mục “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” (Hot Seat) tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

MC đặt câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh,

Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”.

Cô nữ giảng viên Đại học Sư Phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn… Hừ, Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không…

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai ?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.
MC cho phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.

– A lô, anh Nam phải không ạ ? Tôi là Lại Văn Sâm đang ngồi với chị Nguyễn Thị Tâm trong chương trình “Ai là triệu phú”. Anh có sẵn lòng trợ giúp chị Tâm một câu hỏi không ạ?

– Vâng, xin chào anh Lại Văn Sâm. Tôi rất sẵn lòng.

– Nếu vậy anh và chị Tâm có ba muơi giây để vừa hỏi vừa trả lời. Ba mươi giây của anh và chị bắt đầu…

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…”

Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo ! Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?
– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Đáp án của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính. Xin cám ơn chị đã tham gia chương trình.

Ứng viên Nguyễn Thị Tâm bị loại khỏi cuộc chơi, nhường chỗ cho người khác.
Thưa quý bạn, một giảng viên đại học mà không biết Tự Lực Văn Đoàn hoặc Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam là ai là một điều quá đỗi bất thường, điều đó không chỉ làm chúng ta ngạc nhiên mà vô cùng thất vọng! Trong bốn tiếng “Tự Lực Văn Đoàn” đã có hai tiếng “Văn Đoàn” thì đó không thể là một gánh cải lương và Nhất Linh không thể là một kép hát cải lương được. Nếu không biết chính xác thì ít ra cô giáo ấy phải biết suy luận chứ. Đem cái kiến thức như vậy cô giáo giảng dạy cho sinh viên rồi sau này sinh viên (ĐHSP) ra trường, lại đi giảng dạy cho học sinh thì nguy hiểm quá!

Một chương trình phát sóng ra toàn thế giới, có nhiều người Việt đã ra khỏi nước mấy mươi năm mà xem chương trình này, đều hỡi ơi về kiến thức của một Giảng Viên Đại Học.

Một nền giáo dục với những giảng viên có kiến thức như vậy tôi e rằng không phải là một nền giáo dục tốt.

Tương tự như vậy, trong trò chơi “Rung Chuông Vàng”, được hỏi Hùng Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ là ai? Một số thí sinh (là sinh viên) cũng… không biết. Có quá ngạc nhiên không?

Dù sao tôi cũng rất cảm ơn VTV3 đã mạnh dạn phát những chương trình như thế, bởi đó không chỉ “vui là chính” mà còn là cách để dân VN ta biết được “mặt bằng kiến thức” của người tham gia các chương trình – khi biết mình yếu, sẽ phải tìm cách để… vươn lên.

Ông Lý Quang Diệu, cựu thủ tướng Singapore năm nay đã 82 tuổi, mới sang thăm Việt Nam, đã nói: “Ngay cả về mặt kinh tế, nếu muốn thành công thì trước hết phải có sự đầu tư vào giáo dục tốt”.

Đoàn Dự

Dụng tâm Hán hóa sớm hơn dự định của Hội nghị Thành Đô

 

 

Dụng tâm Hán hóa sớm hơn dự định của Hội nghị Thành Đô

 
Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) – Gần đây, xôn xao về Phó Giáo sư Tiến sĩ Bùi Hiền (PGS.TS Bùi), PGS.TS Bùi nguyên là Hiệu phó trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên phó Viện trưởng Viện Nội dung và Phương pháp dạy học phổ thông, vừa giới thiệu cuốn sách Ngôn ngữ Việt Nam dày 2.200 trang, do nhà xuất bản Dân Trí phát hành. PGS.TS Bùi đề nghị: “giáo dục” sẽ viết là “záo zụk”, “ngôn ngữ” sẽ viết là “qôn qữ”, “nhà nước” sẽ viết là “n’à nướk”… vì chữ D, GI, R thay bằng Z; CH, TR= C; C,Q,K= K; Kh= X; Th= W; NH= N; PH= F; NG, NGH= Q… Như chữ: Nguyễn Phú Trọng = Quyễn Fú Cọq.
 
Tôi không biết PGS.TS Bùi tại sao “záo zụk” của ông lại bị biến chứng như thế? Ngại thay, nếu thay đổi theo lối chữ của PGS.TS Bùi sẽ gây trên 90 triệu người Việt tự nhiên bị mù chữ. Hàng triệu triệu văn tự, sách báo bị hủy bỏ… gây ra rất trở ngại, rất tốn kém mà sự thay đổi này chỉ có lợi cho “Kẻ thù truyền kiếp” là Tàu cộng mà thôi, đây là dụng tâm hủy bỏ hoàn toàn sử sách chống Tàu?!.
 
Từ đấy, tôi muốn biết việc này có liên quan đến “Hội nghị Thành Đô” ở nước Tàu không?. Được biết tại Hội nghị Thành Đô: “Ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, là bước ngoặt của Việt/Tàu. Tại đây, phía Cộng sản Việt Nam có Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư ĐCSVN; Đỗ Mười, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN. Phía Trung cộng có Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng. Theo chỉ thị của lãnh tụ Đảng Cộng sản Tàu là Đặng Tiểu Bình, cuộc hội họp bí mật này không được công bố?!” 
 
Phải chăng, do đấy mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) và các đảng viên nòng cốt CSVN đã kín đáo thi hành nghị quyết tuyệt mật của “Hội nghị Thành Đô?” Chúng ta là người Việt làm sao dửng dưng hay làm ngơ tin tức hệ trọng với quê hương, nên tôi tìm xem các báo, radio trong và ngoài nước để biết hiện tình nước Việt thế nào? Tôi thấy quá nhiều sự kiện tác hại đến nước Việt thật khủng khiếp lẫn xót xa, đấy là:
 
(1)- Vào năm 2014, RFA có đoạn nói về Hội nghị Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
 
Hội nghị Thành đô 1990
 
(2)- VnExpress (báo trong nước) ngày 15-11-2015 ghi: “Hàng trăm giáo sư, phó giáo sư, chuyên gia nghiên cứu Sử học đã phản ứng trước Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể không còn môn học Lịch sử là môn học bắt buộc.”
 
(3)- Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng CSVN (năm 1976 là tổng bí thư), đã nói khi chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”.
 
(4)- Ngày 16-6-2016, Đài Đáp Lời Sông Núi phổ biến, có đoạn: “Trong lần đưa tin Nguyễn Phú Trọng sang chầu Bắc Kinh ngày 11/10/2011, truyền hình VTV trong bản tin thời sự buổi tối ngày 14/10 đã chính thức treo cờ Trung Cộng với sáu ngôi sao, như ngầm ám chỉ Nguyễn Phú Trọng đã đồng ý sáp nhập Việt Nam vào thành một tỉnh của Tàu như các sắc dân Mãn, Mông Hồi, Tạng bên Trung Hoa. Sự việc cờ Trung cộng với 6 ngôi sao lại tiếp tục được lập lại khi Tập Cận Bình lúc đó là Phó chủ tịch nhà nước Trung cộng, sang thăm Hà Nội ngày 21/12/2011”. Ngôi sao thứ 6 là tiêu biểu VN nhập Trung.
 
(5)- Báo Tiếng Dội số 462, đăng ngày thứ Sáu 24-8-1951 về Thông cáo của Việt Minh:
 
ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VN SỐ: 284/ LĐ, ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC
 
Hỡi đồng bào thân mến!
 
Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào! Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế? Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc. Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không?
 
Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi! Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta! Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu. Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa học, phát minh v.v….
 
Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân! Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.
 
Trường Chinh: Tổng thư ký đảng Lao Động.
 
Xem đến đây, tôi giật mình, không giật mình sao được trước sự biến chứng về “záo zụk” của PGS.TS Bùi có giống y chang như ông Trường Chinh đã kêu gọi: “đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy… ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc”. Vậy PGS.TS Bùi có phải là cánh tay nối dài từ: Thông cáo của Việt Minh và Hội nghị Thành Đô không?! Nhưng Hội nghị Thành Đô “cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”, nay mới năm 2017 cớ sao PGS.TS Bùi lại “Dụng tâm Hán hóa sớm hơn dự định của Hội nghị Thành Đô”, xin hỏi ông PGS.TS Bùi?! Phải chăng, ông vội vã đáp ứng theo “Trang mạng Hoàn Cầu Thời Báo” mà Dương Khiết Trì đã khuyên nhủ CSVN trong cuộc hội đàm tại Hà Nội ngày 18-6-2014, rằng: “Chính quyền CSVN tự kiềm chế trước khi quá muộn” và nhắn nhủ đảng CSVN với lời lẽ trịch thượng: “Thúc giục đứa con hoang đàng trở về nhà”.
 
Dù sao, PGS.TS Bùi đã nôn nóng và năng nổ trong việc Hán hóa, với bằng Tiến sĩ của ông Bùi quả có thâm độc hơn tiền bối của mình là ông Trường Chinh.
 
Nhân đây, tôi cũng xin nói khái quát về hình thành chữ “Quốc ngữ”: Chữ Quốc ngữ (National Language) là danh từ chung, chỉ chữ riêng biệt của một quốc gia. Chữ Quốc ngữ của nước Việt hay Việt ngữ là chữ của người Việt Nam. Chữ Khoa đẩu, chữ Nôm là chữ Quốc ngữ của người Việt đã dùng thời xưa. Tuy vậy, ngày nay từ được gọi chữ Quốc ngữ là chữ mà chúng ta đang dùng là “Chữ Việt dùng mẫu tự La Tinh”. Chữ Quốc ngữ bắt đầu hình thành vào Thế kỷ 16-17, khi các giáo sĩ Âu Châu vào Việt Nam truyền đạo. Năm 1631, giáo sĩ Borri đã dùng mẫu tự La Tinh để viết sách bằng chữ Ý (Italian) ghi âm Việt, mong việc giảng đạo cho người Việt được dễ dàng và người Việt sẽ hiểu thấu đáo hơn. Linh mục Alexandre de Rhodes, SJ (1591-1660), ông sinh tại Avignon, France (nước Pháp). Ông ở Việt Nam 6 năm (1624-1630), tên tiếng Việt của ông là: A Lịch Sơn Đắc Lộ. Năm 1651, ông biên soạn ra cuốn tự điển An Nam-Bồ Đào Nha (Portuguese) bằng mẫu tự La Tinh. Từ đấy, nhiều người cho rằng ông là người có công rất lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ. Năm 1838, ông Jean Louis Tabert biên soạn cuốn từ điển An Nam.
 
Mặc dù, các nhà truyền giáo Tây phương đã cố gắng biên soạn chữ Việt nhưng chữ viết lúc ấy chưa được chuẩn giống như PGS.TS Bùi đã bị biến chứng về “záo zụk” ngày nay, ví dụ như:
 
Chữ phiêm âm của Giáo sĩ / Nghĩa tiếng Việt 
 
Annam /An Nam
 
Quignin (hoặc) Qui nhi / Qui Nhơn
 
Nuoec man (hoặc) nuocman / Nước mặn
 
Onsaij (hoặc) Uai / Ông sãi…
 
Sau đấy, nhiều tác giả và học giả người Việt, như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Lâm Tấn Phát… đã nghĩ ngợi, miệt mài, liên tục cải sửa, cải tiến chữ Quốc ngữ đến chuẩn mực. Nhờ vậy, chữ Quốc ngữ mới đọc, viết được thông dụng như ngày nay. Từ đó, chữ Hán và chữ Nôm ít dùng hay chấm dứt.
 
Luận ngữ đã viết “Một lời nói có thể thịnh nước, một lời nói có thể mất nước”(Nhất ngôn nhi khả dĩ hưng bang, nhất ngôn nhi khả dĩ táng bang), huống hồ thay đổi chữ viết của một quốc gia mà sự thay đổi ấy có ý đồ thâm độc, làm lợi cho “Kẻ thù truyền kiếp”!.
 
Thế nên: Còn CSVN thì nước Việt mất, không còn CSVN thì nước Việt còn”.
 
Ngày 1-12-2017
 

Hình ảnh Hồ Chí Minh và những biểu ngữ tuyên truyền cộng sản trong những cuộc biểu tình dân sinh

Kính Hòa RFA
2017-12-06
Một cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2014, với hình ảnh ông Hồ Chí Minh.

Một cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2014, với hình ảnh ông Hồ Chí Minh.

 AFP
 

Sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ra lệnh dừng việc thu phí tại Cai Lậy trong vòng 1 đến 2 tháng, nhiều người dân đã ăn mừng với những hình ảnh ông Hồ Chí Minh và những bài hát ca ngợi ông cũng như ca ngợi Đảng Cộng sản.

Sự việc tương tự cũng hay được nhận thấy trong các đoàn biểu tình đòi đất của nông dân, hay của những người dân đô thị chống Trung Quốc.

Thói quen và tuyên truyền

Việc đem ảnh ông Hồ Chí Minh ra trưng bày, kèm theo quốc kỳ Việt Nam, có khi cả cờ Đảng cộng sản nữa, được một số ý kiến cho là một thói quen của nước Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản cai trị cho đến nay. Một trong những ý kiến đó là của Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động xã hội sống ở Hà Nội.

Họ đã quen với cái cách ăn mừng như thế rồi, 40 chục năm qua họ được dạy dỗ rằng khi vui thì làm như vậy, và nó gần như là một chuyện nghi thức, không có nhiều ý nghĩa lắm. Câu hát ấy nó có nghĩa gì không? Nó thuần túy là chuyện thói quen.”

Những hình ảnh này người ta cũng dễ dàng nhìn thấy ở các đám đông ăn mừng trên các đường phố Sài Gòn hay Hà Nội, mỗi khi đội tuyển bóng đá Việt Nam thắng một trận nào đó.

Người ta hiểu, và đó là một cách để người ta bảo vệ chính người ta, trong một cuộc thực sự là sống mái.
-Tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Bà Bùi Thị Minh Hằng, một cựu tù nhân chính trị, từng tham gia vào nhiều cuộc biểu tình đòi đất của nông dân, lại cho rằng những hình ảnh đó được nhiều người dân Việt Nam coi trọng thực sự chứ không phải hoàn toàn là hình thức:

“Con người, nhất là người Việt Nam mình có tư duy bị ăn vào quá sâu, thì rất là khó trong một ngày một giờ. Trong cái đất nước Việt Nam này, dưới chế độ cộng sản thì toàn bộ lịch sử bị bưng bít, những sự thật bị xuyên tạc. Từ chổ đó hình ảnh ông Hồ được phong thánh trong lòng người dân rồi. Không phải chỉ có những chổ ấy đâu, mình lên đền lên chùa thấy họ để ảnh họ thờ. Sự thật là như vậy.”

Theo thống kê dân số mới nhất hiện nay thì tổng số dân Việt Nam hơn gấp đôi tổng số dân Việt Nam cả hai miền Nam Bắc vào năm 1975 khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tức là có hơn phân nửa người Việt Nam sinh ra sau năm 1975 trên cả nước, cộng với số người ở miền Bắc sinh ra sau năm 1954 khi đảng cộng sản lên cầm quyền, thì có thể nói rằng số người Việt Nam sinh ra và lớn lên dưới chế độ hiện nay rất lớn. Những người này được học hành và tuyên truyền hoàn toàn bởi bộ máy của nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Cái vỏ bảo vệ

Tuy nhiên Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng cho rằng trong những cuộc đấu tranh cho dân sinh, như là đòi đất, chống trạm thu phí lạm thu, bảo vệ môi trường, nhiều người cũng hiểu là những hình ảnh và biểu ngữ theo kiểu tuyên truyền của chế độ không có liên quan gì đến việc họ đang làm:

Họ hiểu những nội dung đó chứ không phải không. Họ trương cái nội dung đảng thế này đảng thế nọ, người ta hiểu, và đó là một cách để người ta bảo vệ chính người ta, trong một cuộc thực sự là sống mái, bởi vì nếu người ta dùng những lời lẽ nặng nề khác chẳng hạn, thì có thể bị đàn áp, hoặc qui là thế này thế kia.”

Một nhà quan sát từ nước ngoài là ông Nguyễn Đình Hùng, Chủ tịch phong trào Lao động Việt cũng đồng ý với Tiến sĩ Nguyễn Quang A. Ông trả lời chúng tôi từ Úc, sau khi xem những hình ảnh ăn mừng của giới lái xe trong sự kiện BOT Cai Lậy:

Những người dân của mình đang vẫn còn ở trong cái vòng gọi là đàn áp. Họ không có điểm tựa nào khác hết. Thay vì dựa vào nhau, đoàn kết nhau, thì họ dùng đó như một tấm chắn để bảo vệ cho họ thôi. Những tấm chắn này không bảo vệ được họ lâu dài bằng lòng người, bởi sự đoàn kết của con người với nhau.

Họ không hiểu, họ vẫn nghĩ rằng Đảng tốt đẹp, Đảng quang vinh, Đảng không tham nhũng, cấp trên không tham nhũng mà chỉ có cấp dưới thôi.
-Anh Trịnh Bá Phương.

Cũng có ý kiến cho là khi những người nông dân đòi đất kèm với những biểu ngữ, hình ảnh ca ngợi những lãnh tụ cộng sản, cờ đảng, là có suy nghĩ rằng với những hình ảnh đó họ sẽ dễ dàng được hồi đáp từ các cấp chính quyền hơn. Anh Trịnh Bá Phương, một nông dân hay tham gia vào những cuộc biểu tình đòi đất cho biết:

“Họ không hiểu, họ vẫn nghĩ rằng Đảng tốt đẹp, Đảng quang vinh, Đảng không tham nhũng, cấp trên không tham nhũng mà chỉ có cấp dưới thôi, có những người cũng hiểu được nguyên nhân sâu xa, họ sử dụng những hình ảnh đó để tránh bị đàn áp, nhưng mà thời gian qua đã có quá nhiều người bị đàn áp rồi. Có đeo đầy huy chương, mặc áo lính, áo quân đội thì cũng bị bắt về đồn công an, vẫn bị cướp đoạt tài sản đất đai.”

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, trong một đám đông ở Việt Nam đang biểu tình, có thể bao gồm đến ba nhóm người. Nhóm thứ nhất là tung hô những biểu ngữ, hát những bài hát tuyên truyền của đảng theo thói quen. Nhóm thứ hai là những người hiểu rõ họ đang làm gì và dùng các biểu ngữ đó để bảo vệ mình. Nhóm thứ ba là những người vẫn tin tưởng ở đảng cộng sản.

Theo ông tỉ lệ những nhóm người này trong một cuộc biểu tình có thể thay đổi theo sự việc cụ thể mà họ đang biểu tình, ông lấy ví dụ là trong những người biểu tình đòi đất ở Đồng Tâm, ngoại thành Hà Nội, đã từng bắt giữ hàng chục nhân viên công an làm con tin, thì những người ở nhóm thứ ba rất ít.

Trở lại với cuộc khủng hoảng Cai Lậy, anh Trịnh Bá Phương cho rằng có thể những biểu ngữ ca ngợi đảng, hình ảnh ông Hồ Chí Minh là được những nhóm người của nhà nước đưa ra:

Có giả thiết cho rằng là một số người thuộc lực lượng dư luận viên, an ninh chìm nổi cài cắm trong những người có mặt ở Cai Lậy, họ muốn sử dung luôn cái cơ hội đó, hát cái bài đó, họ muốn tuyên truyền nhồi sọ người dân. Bởi vì hiện nay Đảng đang mất lòng dân quá rồi, lực lượng phản tuyên truyền họ đang cài cắm khắp nơi để tiếp tục lòe bịp nhân dân.

Dư luận viên là tên gọi chỉ những người thường xuyên lên tiếng ủng hộ những chính sách hay hành động của đảng cộng sản. Có ý kiến cho rằng những người này lĩnh lương của Đảng Cộng sản để làm việc tuyên truyền, nhưng một số người được cho là Dư luận viên phủ nhận điều này.

Một lái xe có tham gia vào việc phản kháng ở Cai Lậy là anh Đỗ Coca cho biết nhận xét của anh về những hình ảnh vui mừng với các biểu ngữ của đảng:

“Các bạn làm cái ngày hôm đó ý nghĩa ra sao mình cũng không hiểu. Cái việc đem ảnh Bác Hồ ra trong “trận chiến” BOT Cai Lậy nó không thực tế. Có cái gì ghê gớm đâu mà như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng.”

Khi được hỏi là có phải những người biểu tình đưa hình ảnh ông Hồ Chí Minh, hay những khẩu hiệu ca ngợi đảng ra để tránh bị đàn áp, thì anh trả lời rằng anh biểu tình một cách ôn hòa, không vi phạm pháp luật thì không có việc gì phải sợ đàn áp.

Nói về những người hay trưng hình ảnh ông Hồ Chí Minh, hay những biểu ngữ ủng hộ Đảng Cộng sản trong những cuộc biểu tình đòi dân sinh, Bà Bùi Thị Minh Hằng cho biết:

Mình không nên lên án. Cá nhân mình phản đối những ai lên án cái việc đó. Hãy nhìn vào việc làm. Những tài xế và những người dân đã khá thành công trong việc đòi hỏi quyền lợi sát sườn của họ.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A thì nói rằng nếu nhìn từ bên ngoài Việt Nam có thể sẽ có nhận định rằng người dân Việt Nam chịu ảnh hưởng quá lâu của sự tuyên truyền cộng sản, nhưng theo ông “phải sống trong nước Việt Nam thì mới hiểu rõ những khó khăn của những cuộc biểu tình đòi dân sinh đó như thế nào.”

SỬA ĐƯỜNG NỘI TÂM

SỬA ĐƯỜNG NỘI TÂM

Thư HĐGMVN 2006 đã khẳng định: “Đời sống đạo vừa cần gắn bó với Thiên Chúa, vừa phải đi đến với anh em”.

Chúa nhật II Mùa vọng, Giáo hội giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt Gioan Tiền hô, một ngôn sứ luôn gắn bó với Thiên Chúa, rất gần gũi với con người.  Lời Chúa Gioan chiêm niệm trong hoang địa qua nhiều năm tháng đã giúp ông tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều hạng người qua những vùng ven sông Giođan. Lời Chúa Gioan nghe đã trở thành lời Chúa ông công bố.  Tiếng Chúa gọi Gioan đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.  Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho anh chị em mình đến với Chúa Cứu Thế.

Gioan là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước.  Sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ, nay Gioan xuất hiện với sứ mạng Tiền hô.  Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã chết anh hùng cho sứ vụ (x. Mt 14,3012; Mc 6,17-19).  Cuộc đời Gioan là một thiên anh hùng ca, bất khuất trước cường quyền, bao dung với tội nhân.

Gioan có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường.  Gioan chọn con đường tu khổ chế: ăn châu chấu và mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú.  Sống trong hoang địa trơ trụi, vắng người, thiếu sự sống.  Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với thiên Chúa.

Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng” (Lc 3,5).  Gioan mời dân chúng sám hối.  Không thể tiếp tục sống như xưa nữa.  Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ.  Như thế, Gioan kêu gọi hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến.  Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi.  Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc.  Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn.  Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính.

Đạo là con đường dẫn đến Thiên Chúa.  Đạo là ngón tay chỉ mặt trăng.  Nếu không có đường thì không đi đến đâu cả.  Một đất nước có văn minh hay không là do hệ thống đường sá.  Đạo từ nguyên thuỷ luôn mang ý nghĩa trong sáng, ngay thẳng, công minh.  Đạo dẫn đưa con người đến chân thiện mỹ.

Đạo là đường nên có thể nói sống đạo là sống ngoài đường, sống với người khác, sống với cuộc đời.  Abraham khởi đầu cuộc sống thật bằng việc lên đường từ giã thành U-rơ để sang đất hứa.  Và lịch sử Do thái là những chuyến xuất hành di cư, lang thang trong sa mạc, lưu đầy và mất quê hương trong một thời gian dài.  Gioan rao giảng và làm phép rửa khắp mọi nẻo đường.  Chúa Giêsu sống ở thế gian bằng những cuộc lên đường sang Ai cập, về Nazareth, lên sa mạc, vào đền thánh và trở lại Galilêa.  Cuộc sống công khai của Chúa ít là có ba cuộc hành trình lên Giêrusalem.  Và sau cùng Ngài lên đường về nhà cha.

Vì là đường nên nên đạo luôn mở ra nối kết và đón nhận cuộc sống, đón nhận mọi người, không phân biệt ai với tinh thần yêu thương của Thiên Chúa.  Tin mừng chính là đạo, là con đường mà Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta đi theo ngài.

Đường quan trọng nhất là đường vào cõi lòng.  Gioan đã chỉ cho thấy rằng, mỗi con người đều có ít nhiều đồi núi kiêu ngạo, thung lũng ích kỷ, ghồ ghề khúc khuỷu trong các mối quan hệ.  Có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vằng ánh sáng tình yêu.  Sửa đường theo Gioan là sám hối.  Nhìn lại con đường mình đã đi qua, sửa lại những sai lệch nếu có.  Những gì cong queo san cho thẳng.  Những gì cao cần bạt xuống. Lúc đó mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa.  Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay, san cho phẳng, bạt cho thấp.  Đó là sứ điệp Gioan gởi tới chúng ta trong Mùa Vọng này, để chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế.

Con đường mà Gioan nói tới đây chính là đường vào cõi lòng.  Con đường nội tâm của mọi người.  Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống để xứng đáng đón tiếp Chúa Cứu Thế.  Sửa đường cho Chúa đến là cần thiết và hợp lý.  Khi đón tiếp một vị khách quý, người ta thường sửa sang đường sá, làm sạch đẹp nơi vị khách sẽ đến.  Như thế là biểu lộ lòng kính trọng đối với vị khách.  Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất.  Người hạ mình đến thăm và ở lại cùng sống với thân dân của Người.  Đó là hạnh phúc tuyệt vời nên cần phải dọn tâm hồn xứng đáng.  Như con đường cho Chúa đi qua.  Như căn nhà cho Chúa ngự tới.  Chúa đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa, ai mở thì Ngài đi vào.  Con đường có thể có chông gai tội lỗi, có sự đam mê tiền lợi danh, có những tính hư nết xấu.  Cho nên trong cõi lòng đó phải có im lặng như cõi lòng Mẹ Maria ghi nhớ, suy niệm và không nói gì.  Chỉ nói những lời để giúp đỡ người khác.  Và tâm hồn ấy bình an nên nghe rõ tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.  Như thế dọn đường chính là tạo im lặng cho tâm hồn để nghe được tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.

Dọn đường còn là tỉnh thức đợi chờ Chúa đi xa trở về.  Như năm cô khôn ngoan có sẵn dầu đèn.  Như những đầy tớ làm lợi những nén vàng cho chủ.  Như tên lính canh thành luôn chú ý những biến chuyển chung quanh.  Mỗi cá nhân, ai cũng có những tật xấu, những khuyết điểm, vị kỷ kiêu căng tham lam đố kỵ ghen ghét lười biếng hèn nhát…  Xã hội nào cũng có bất công, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ đoan, những điều ấy làm cho con người đau khổ, trì trệ, không phát triển.

Dọn đường căn bản là ở trong nội tâm, sám hối để canh tân, sửa đổi để trở nên tốt lành thánh thiện hơn.  Những con đường thường được làm bằng đất đá nhựa bê tông.  Những con đường trên mặt đất, trên sông trên biển trên bầu trời là những con đường vật lý.  Những con đường tâm lý, con đường tinh thần, con đuờng lòng người mới quan trọng hơn.  Nguyễn Bá Học đã nói: đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông.

Sống đạo luôn là một thách đố đầy quyết liệt và phong phú.  Hiểu đạo, tin đạo, giữ đạo xem ra khá dễ dàng vì thuộc lãnh vực cá nhân.  Còn sống đạo thường khó khăn hơn vì liên quan đến tha nhân, đòi hỏi một sự quên mình, vượt thắng bản thân.  Cũng như thực hiện việc dọn đường qua nghi thức sám hối bên ngoài như rửa tội, xưng tội khá dễ dàng, nhưng nếu mà trong lòng không thật tâm sám hối đưa đến canh tân bản thân, thì hành vi sám hối chỉ là việc làm lấy lệ hình thức mà thôi.

Sống đạo bao giờ cũng đòi hỏi nhiều cố gắng và tỉnh thức.  Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan.  Sống gắn bó với Thiên Chúa và gần gũi với con người.  Như thế mỗi người sẽ sống đạo hôm nay với tất cả niềm vui hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

Chiến thắng của bên thứ ba?!

From:   Trần Bang
Chiến thắng của bên thứ ba?!

Hàng loạt dự án BOT giao thông sẽ bị kiểm toán vào năm 2018, theo kế hoạch vừa được Kiểm toán Nhà nước công bố hôm 5/12, một ngày sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ra lệnh tạm ngừng thu phí ở trạm BOT Cai Lậy vì cuộc “biểu tình” bằng tiền lẻ của các tài xế.

Bên thứ ba đang cầm lái?

Những ngày qua, cuộc chiến ở BOT Cai Lậy có vẻ như đã trở thành cuộc chiến chung khi những tin tức về vụ này được cập nhật và chia sẻ chóng mặt trên cả truyền thông chính thống lẫn mạng xã hội. Đọc bình luận của người dân, ai cũng có thể hiểu họ đang ủng hộ và đứng về phía nào.

Luật sư Phạm Công Út, Đoàn Luật sư TPHCM, cho rằng cuộc chiến này nhận được sự ủng hộ của công chúng một phần còn là vì cách đấu tranh rất “dí dỏm” và “sáng tạo” của các anh tài xế “lầy”.

“Người dân miền Tây Nam Bộ thứ nhất là người khí khái, thứ hai họ cũng có những cái láu cá của họ. Khi gặp những sự cố này, họ cũng có cách để họ tồn tại được. Ở đây, người ta dùng từ mới gọi họ là những tài xế ‘lầy’, nhưng ‘lầy’ dễ thương vì cách cư xử không gay gắt nhưng lại khiến phía bên kia lúng túng. Với cách xử lý rất linh hoạt, dí dỏm, hiệu quả của mấy anh nông dân Hai Lúa này thì không một thế lực cường quyền, thế lực tài phiệt nào có thể bóp chết được họ”.

Người dân là một bên thứ ba trong hợp đồng của bất kỳ dự án BOT nào vì họ là người chi trả trực tiếp khoản phí đấy, nhưng họ lại bị loại ra ngoài.
TS. Nguyễn Quang A
…. Trích nguồn https://www.voatiengviet.com/a/viet-nam-kiem-t…/4150128.html

50 Câu Nói Trí Tuệ Và Sâu Sắc Giúp Bạn Hiểu Vì Sao Người Do Thái Lại Thông Minh Và Giàu Có

50 Câu Nói Trí Tuệ Và Sâu Sắc Giúp Bạn Hiểu Vì Sao Người Do Thái Lại Thông Minh Và Giàu Có

 

 

 

 

 

 

Biết những câu nói nổi tiếng dưới đây của người Do Thái bạn sẽ hiểu được vì sao họ lại thông minh và giàu có như vậy. 

  1. Tài sản có thể trở về số 0 nhưng kiến thức phải càng ngày càng mở rộng.

 

  1. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước. Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.

 

  1. Điếc, nhưng không phải là không biết gì bởi còn có thể đọc được sách báo.

 

  1. Nếu không học tập, cho dù đi vạn dặm đường xa thì mãi vẫn chỉ là người đưa thư mà thôi.

 

  1. Ai cũng than vãn thiếu tiền nhưng chả ai than thở thiếu trí khôn cả.

 

  1. Trên đời có 3 thứ không thể bị ai cướp mất: Đầu tiên là thức ăn đã vào trong dạ dày, hai là ước mơ đã ở trong lòng, ba là những kiến thức đã học trong đầu.

 

  1. Người lớn dạy trẻ con học nói, còn trẻ con dạy người lớn im lặng.

 

  1. Một người chỉ ra sai sót của bạn chưa chắc đã là kẻ thù của bạn; một người luôn luôn ca ngợi bạn chưa hẳn đã là bạn của bạn.

 

  1. Hãy sợ con dê húc phía trước, con ngựa đá phía sau, còn kẻ ngu thì phải đề phòng tứ phía.

 

  1. Kinh nghiệm là cái từ mà mọi người dùng để gọi các sai lầm của mình.

 

  1. Khi bạn khóc vì không có giày để đi, hãy nhìn những người không có chân.

 

  1. Khi già đi người ta thị lực kém đi nhưng nhìn thấy nhiều hơn.

 

  1. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.

 

  1. Ta không cầu xin cho gánh nặng sẽ nhẹ hơn. Nhưng cho đôi vai hãy vững vàng hơn.

 

  1. Bông lúa càng nhiều hạt, đầu nó càng rủ xuống. Người giỏi thường hay khiêm tốn.

 

  1. Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin là mất tất cả.

 

  1. Phần lớn người ta thất bại không phải do họ không có khả năng, mà là vì ý chí không kiên định.

 

  1. Đừng nói gì trừ khi bạn đã học được cách im lặng.

 

  1. Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản, ki bo chỉ làm nghèo đi.

 

  1. Một hành trình ngàn dặm cũng chỉ khởi đầu từ bước đi đầu tiên.

 

  1. Nếu vấn đề nào giải quyết được bằng tiền, thì đó không phải là vấn đề mà là chi phí.

 

  1. Nếu bạn bị vấp ngã, điều đó chưa chắc có nghĩa bạn đang đi sai đường.

 

  1. Có tiền cũng không tốt lắm, cũng như thiếu tiền cũng chẳng tồi lắm.

 

  1. Không có tình huống vô vọng, chỉ có giải pháp không chính xác.

 

  1. Chúa trời cho con người hai tai và một miệng để nghe nhiều nói ít.

 

  1. Luôn luôn nhìn vào mặt tươi sáng của sự vật. Nếu không thấy, hãy đánh bóng cho đến khi nó tỏa sáng.

 

  1. Nếu cuộc sống không dần dần tốt lên thì nó sẽ kém đi.

 

  1. Đừng sợ rằng bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng bạn không chịu tìm hiểu về nó.

 

  1. Con người phải sống tối thiểu là vì sự tò mò.

 

  1. Một khi bạn mắc một sai lầm, điều tốt nhất bạn có thể làm là cười vào nó.

 

  1. Nếu mà làm từ thiện chẳng tốn kém gì thì ai cũng làm từ thiện cả.

 

  1. Hầu như những loại hoa có màu trắng đều rất thơm, hoa có màu sắc đẹp đẽ thường không thơm. Người cũng vậy, càng mộc mạc giản dị, càng tỏa hương thơm từ bên trong.

 

  1. Chết vì cười còn hơn là chết vì hoảng sợ.

 

  1. Một người đàn ông có thể chuyển núi bắt đầu từ việc mang đi những viên đá nhỏ.

 

  1. Khi chúng ta đem hoa tặng cho người khác thì người ngửi được mùi hương đầu tiên là chính chúng ta. Khi chúng ta nắm bùn ném vào người khác, thì người bị làm bẩn đầu tiên là bàn tay chúng ta.

 

  1. Ngủ trên gối êm không có nghĩa có giấc mơ đẹp.

 

  1. Nếu bạn không thể xử lý những việc nhỏ thì những việc lớn của bạn sẽ trở nên vô nghĩa.

 

  1. Khi bồ câu kết bạn với quạ, mặc dù cánh của nó vẫn còn màu trắng nhưng trái tim thì dần dần chuyển sang màu đen.

 

  1. Lúc nào vô công rỗi nghề thì người ta sẽ làm những việc long trời lở đất.

 

  1. Khi còn trẻ phải làm những việc bạn nên làm, thì khi về già mới có thể làm những việc bạn muốn làm.

 

  1. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.

 

  1. Hạnh phúc chỉ đến khi cánh cửa đã được mở.

 

  1. Một ngôi nhà nhỏ đầy ắp tiếng cười có giá trị hơn một cung điện đầy nước mắt.

 

  1. Cười là loại mỹ phẩm rẻ nhất, vận động là loại y dược rẻ nhất, chào hỏi là loại chi phí giao tiếp rẻ nhất.

 

  1. Kinh nghiệm giống như một chiếc lược mà cuộc đời chỉ ban tặng sau khi chúng ta đã mất hết cả tóc.

 

  1. Nếu bạn thực sự có tài năng thì bạn sẽ không sợ mình kém may mắn.

 

  1. Tình yêu có ngọt ngào đến đâu cũng chẳng lấy ra nấu chè được.

 

  1. Chúa trời bảo vệ kẻ nghèo ít nhất là không sa vào những thói hư tật xấu xa hoa.

 

  1. Chúa không thể có mặt đồng thời khắp nơi nên Người đã tạo ra các bà mẹ.

 

  1. Adam quả là tay gặp may đầu tiên vì chẳng có mẹ vợ.

 

Mộc Trà (tổng hợp)

Từ buổi con lên đường xa mẹ

 
Từ buổi con lên đường xa mẹ

Bài thơ sau đây được nhặt từ túi áo một chiến binh miền Bắc tử trận tại chiến trường miền Nam những năm 1969.

Trong hồi ký của tử sĩ nầy, người ta còn biết anh là con của bà Trần Thị Phấn ở Hải Dương.

Bài thơ nầy được đăng trên báo chí VNCH thời đó.

 Bài thơ không ghi tên tác giả, được một thường dân miền Nam mến thương cảnh ngộ và ghi lại :

 

Từ buổi con lên đường xa mẹ

“Từ buổi con lên đường xa mẹ
Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào Trung.

Non xanh núi biếc chập chùng
Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ .

Tuổi thanh xuân cuộc đời như hoa nở
Vì hòa bình đâu ngại bước gian nguy .


Mấy tháng trời, ngày nghỉ đêm đi
Giày vẹt gót áo sờn vai thấm lạnh.

Có những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh
Mẹ hiền ơi con nhợt nhớ quê mình .


Khói lam chiều, giàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ mái đình xưa, ôi nhớ quá!

Vào nơi đây tuy đất người xa lạ
Nhưng miền Nam vẫn cùng một quê hương.


Vẫn hàng dừa xanh, vẫn những con đường
Vẫn hương lúa ngọt ngào .

Tiếng tiêu gợi nhớ
Con trâu về chuồng

Ðã qua buổi ban đầu bỡ ngỡ .

Con nhìn ra nào giải phóng gì đâu?

Buổi chợ đông vui, đồng lúa xanh màu
Mái chùa cong buông hồi chuông tín mộ.

Lớp học tưng bừng những đàn trẻ nhỏ
Ðang nhịp nhàng vui hát bản đồng ca.

Và sau vườn luống cải đã vàng hoa
Ðàn bướm nhỏ rủ nhau về hút mật .

Xóm dưới làng trên niềm vui ngây ngất
Sao người ta bắt con phải đốt xóm phá làng.

Phải gài mìn gieo tang tóc thương đau
Ðã nhiều lần tay con run rẩy .
Khi gài mìn để phút sau bỗng thấy
Xác người tung và máu đổ chan hoà .

Máu của ai
Máu của bà con ta
Máu của người như con như mẹ .

Ðêm hôm ấy mắt con tràn lệ
Ác mộng về, con trằn trọc thâu canh.”