Tình mẹ thật bao la

Tình mẹ thật bao la

Chuacuuthe.com

VRNs (14.08.2014) – Đồng Nai – Có một lời kêu cứu của người mẹ có con mắc bệnh hiểm nghèo được chia sẻ rất nhanh trên mạng. Riêng trên Facebook Jack Mummy có tới 16.000 lượt chia sẻ. Đằng sau lời kêu cứu này là câu chuyện số phận buồn của người phụ nữ khát khao làm mẹ đã 2 lần mất con.

Đó là chuyện đau lòng của Chị Hà Thị Quỳnh Nga (Đông Anh, Hà Nội) hạ sinh người con thứ 3 vào lúc 14h30 ngày 3/6 tại bệnh viện Bạch Mai. Nhưng niềm hạnh phúc mong manh bỗng nhiên sụp đổ khi sáng ngày hôm sau, bác sĩ chuẩn đoán bé trai Nguyễn Hà Hải Đăng bị nhiễm độc do nhóm máu hiếm ORh-.

Cùng ngày hôm đó, bác sĩ huy động người nhà truyền máu cho Hải Đăng nhưng không ai thuộc nhóm máu này. Gượng dậy sau nỗi đau mới mổ khi sinh, chị Nga vội vã lên mạng nhắn tin cho người em với những dòng vội vàng, nhờ chia sẻ lên Facebook: “Mình mới sinh con được một ngày, con thuộc nhóm Rh-, cần được truyền máu. Mình đang ở Bệnh viện Nhi Hà Nội, cầu xin mọi người giúp mẹ con mình. Mình mới mất 2 cháu rồi, đây là cơ hội làm mẹ còn lại duy nhất của mình. Xin mọi người giúp mẹ còn mình với, mọi người liên hệ số điện thoại….”. Chị gửi tin và hi vọng, cuộc sống luôn có phép nhiệm màu.

Nhờ thông tin lan nhanh trên mạng, một số người có cùng nhóm máu đã nhanh chóng đến viện hỗ trợ máu cho bé Hải Đăng. Hiện tại, nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng Facebook, cháu Hải Đăng đã thay máu 3 lần, qua được cơn nguy kịch.

Quả là tình mẫu tử đã khiến chị Nga đầy khôn ngoan và kiên trì để cầu cứu cho đứa con. Dù mong manh. Dù tỉ lệ rất thấp nhưng nếu cứu được con chị sẵn lòng làm tất cả. Chị đã biết sử dụng thông tin hiện đại để viết lên lời kêu cứu của mình. Chị đã được toại nguyện. Tình mẫu tử cao sâu đã cứu con chị khỏi lưới hái tử thần.

140812012

Đó cũng là hình ảnh kiên cường của người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay. Bà đã mang con đi vái tứ phương nhưng vô vọng. Bệnh tật vẫn bám chặt đời con bà. Sự sống như đang dần trôi qua với con bà. Bà vẫn quyết chí dành giựt lại sự sống cho con bà. Bà đã khiêm tốn đến với Chúa, dù rằng bà là người ngoại đạo. Bà đã van xin Chúa, dù rằng lời van xin tưởng chừng như Chúa bỏ ngoài tai. Bà vẫn không ngã lòng. Bà vẫn níu kéo Chúa bằng những mẩu đối thoại thật khiêm tốn và kiên trì. Bà chỉ nhận mình là một thân phận thấp hèn nhưng vẫn ao ước được đón nhận hồng ân từ Chúa.

Chúa Giê-su đã chạnh lòng thương trước niềm tin không thay đổi của bà. Chúa đã thấy sự chân thành của bà. Chúa cũng thấy một tình mẫu tử thật cao cả của bà đã dám làm mọi sự vì đứa con. Niềm tin và sự can trường của bà đã được Chúa đền đáp bằng phép lạ tình thương của Ngài.

Con người chúng ta khi đứng trước khó khăn vẫn mong cầu phép lạ. Phép lạ là điều ai cũng mong đến với mình. Nhưng không mấy ai hiểu rằng: phép lạ chỉ đến sau những nỗ lực của con người. Phép lạ không bổng dưng đến với chúng ta như kiểu “ngồi chờ sung rụng”. Phép lạ đòi hỏi niềm tin bằng hành động của con người được biểu lộ một cách chân thành và khiêm tốn. Đó là điều tối cần thiết để Thiên Chúa có thể thi ân cho con người.

Thế mà vẫn còn đó những người mong được phép lạ chữa lành bệnh tật mà lại chẳng bao giờ bày tỏ lòng thành qua những giờ kinh, qua thánh lễ hay cầu nguyện riêng với Chúa hay Đức Mẹ. Vẫn còn đó những người muốn được phép lạ có cuộc sống sung túc, thế mà chẳng bao giờ chú tâm vào công việc. Vẫn còn đó những người muốn Chúa giúp vượt qua hoạn nạn nhưng chẳng bao giờ nỗ lực đứng lên để Chúa dìu bước.

Quyền năng Chúa vẫn bao trùm trên con người. Phép lạ của Chúa vẫn tiếp diễn trong cuộc sống hôm nay. Nhưng để đón nhận phép lạ của Chúa đòi hỏi con người nỗ lực vươn lên và bày tỏ lòng tín thác nơi Chúa. Như người phụ nữ trong Tin Mừng, bà chỉ có thể đón nhận phép lạ của Chúa sau bao nhiêu những nỗ lực phấn đấu cùng với niềm tin trung kiên.

Cuộc sống luôn có những khó khăn, xin cho chúng ta biết chạy đến với Chúa trong niềm tin phó thác. Ước gì chúng ta không bao giờ bỏ cuộc trước gian nguy nhưng luôn tin tưởng vào quyền năng của Chúa sẽ giúp chúng ta vượt qua. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Tôi là Linh mục Công giáo

Tôi là Linh mục Công giáo

Chuacuuthe.com

VRNs (14.08.2014)“Tôi là Linh mục Công giáo”

St. Kolbe

Khi người cai tù thấy cha bước ra khỏi hàng tù nhân và nhận chịu chết thay cho một tù nhân khác, hắn ta đã hỏi “mày là ai ?”. Không do dự, Cha Maximiliano Kolbe trả lời “Tôi là Linh mục Công giáo”.

Với tư cách là con người, Maximiliano Kolbe là hình ảnh của Thiên Chúa (Sách Sáng Thế Ký), Đấng sẵn sàng chết cho người khác được sống.

Với tư cách là Linh mục Công giáo, Maximiliano Kolbe là một “Đức Kitô khác”. Cha sẵn sàng nên giống Chúa Kitô, sẵn sàng chết cho người khác được sống.

Hôm nay, bao nhiêu người đang quằn quại dưới ách của độc tài, của sự bóc lột, của sự bất công, bao nhiêu người đang đau khổ chết dần chết mòn, héo hon cuộc đời! Có Linh mục Công giáo nào dám sống dám chết cho họ không?

Câu hỏi thật nhức nhối và chờ câu trả lời.

Đình Trung.

14/08/2014

Săn đàn hổ dữ hay cưỡi lưng hổ?

Săn đàn hổ dữ hay cưỡi lưng hổ?

Bùi Tín

11.08.2014

Ông Tập Cận Bình, Tổng Bí thư đảng CS Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đang nổi lên như nhân vật cương quyết nhất trong việc chống tham nhũng trong nước ông – được coi là một thảm họa đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Ông nhậm chức khi vụ án vợ chồng Bạc Hy Lai – Cốc Khai Lai đang làm dư luận sôi động, Bạc đang nổi lên như một ngôi sao sẽ leo lên tột đỉnh quyền lực do được Giang Trạch Dân bảo trợ. Trước đó Bạc Hy Lai là Ủy viên Bộ Chính trị được cho là đang nắm chắc vị trí Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị bao gồm 9 người có thế lực lớn nhất, để rồi sẽ lên cao hơn nữa. Mức án tử hình cho Cốc Thái Lai và chung thân cho Bạc Hy Lai làm rung động hàng ngũ quan chức cao cấp nhất của đảng CS.

Đầu năm 2014, vụ án Chu Vĩnh Khang được mở tiếp ra, gây chấn động gấp nhiều lần vụ án Bạc Hy Lai. Vì Chu là Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, lại là Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị có thế lực bậc nhất, với chức vụ Trưởng Ban Chính – Pháp của đảng CS, trực tiếp nắm các bộ máy chuyên chính là công an, tình báo, phản gián, tư pháp, tòa án, kiểm sát, thanh tra; có thể nói là trên thực tế có quyền sinh quyền sát không hạn độ.

Số cán bộ liên quan đến Chu Vĩnh Khang bị cất chức, bắt giam không ngừng tăng rất nhanh, tháng 4/2014 là 150 người, tháng 6 vừa qua đã lên đến gần 400, theo Thời báo Hoa Nam (25/7). Những người bị bắt đều là các nhân vật tai to mặt lớn, cán bộ cao cấp trong ngành công an và ngành dầu khí là hai ngành Chu Vĩnh Khang từng đứng đầu trên cương vị Bộ trưởng Công an (2002-2007) và Tổng Giám đốc Tập đoàn dầu khí quốc gia (1996-1998).

Theo tin trên, gần một trăm nhà kinh doanh lớn, những tỷ phú đô la Đỏ
cũng bị sờ gáy, như hai nhà đại tài phiệt Lưu Hán và Ngô Bình lừng danh ở Tứ Xuyên có quan hệ chặt chẽ với con trai của Chu Vĩnh Khang là Chu Bân.

Giới quân sự cũng bị chấn động mạnh khi nhiều sỹ quan cấp cao bị thẩm vấn, tiêu biểu nhất là Tướng Từ Tài Hậu, từng là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương đầy thế lực, tưởng như không ai dám động đến.

Đến ngày 26 tháng 7/2014 tờ Epoch Times đưa tin chấn động. Một nhân vật nữa từng được coi là bất khả xâm phạm đã bị bắt giữ ở Thiên Tân. Đó là Tăng Khánh Hồng, từng là Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch nước, trước đó là Trưởng ban Tổ chức Trung ương đầy thế lực. Ngay trước đó báo này cũng đưa tin ông Giả Khánh Lâm, cựu Chủ tịch Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị đảng CS Trung Quốc đã bị bắt giam.

Tờ Weibo của Trung Quốc ở Hồng Kông (5/2014) gọi các nhân vật bị bắt vừa qua là những “siêu hổ”, nghĩa là những con hổ rất hung dữ, nanh vuốt nhọn hoắt, rất nguy hiểm.

Nếu hoàn tất hồ sơ, phiên tòa để xét xử vụ án khổng lồ này sẽ là sự kiện chính trị chấn động Trung Quốc và không khỏi vang dội ra toàn thế giới.

Có một nét đáng chú ý là Pháp Luân Công (PLC), một tổ chức có gần 100 triệu thành viên ở Trung Quốc và hơn 20 triệu ở các nước khác, rất quan tâm đến vụ án cực lớn này. Họ cho rằng có một sự trùng hợp rõ rệt là những bầy “siêu hổ” tham nhũng lớn nhất cũng đồng thời là những bầy sói tàn bạo nhất đối với PLC. Họ lập luận rằng Chu Vĩnh Khang, Tăng Khánh Hồng, Giả Khánh Lâm, Bạc Hy Lai… đều là những tên đồ tể chủ trương sát hại PLC một cách điên loạn nhất. Những kẻ này chủ trương dùng lực lượng công an cùng bọn côn đồ xã hội đen để bắt bớ, tra tấn, thủ tiêu không xét xử các thành viên hoàn toàn lương thiện và có đạo đức của PLC. Tội ác tày trời của họ là đã lợi dụng lời vu khống của lãnh đạo CS coi PLC là “tà đạo” nguy hiểm cho xã hội, đã tổ chức giết rất nhiều thành viên PLC, lấy các bộ phận của nạn nhân đem bán lấy tiền chia nhau. Các bộ phận đó thường là gan, thận, tim, mắt…của các nam nữ thành viên PLC được bán theo giá cao cho các bệnh nhân giàu có để được ghép thay cho các bộ phận đã bị bệnh nặng.

Cũng theo Weibo, kẻ cầm đầu đích thực của nhóm tham nhũng đang bị tóm gáy không phải ai khác, chính là nguyên Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, và người từng khai tử PLC cũng không phải ai khác, chính cũng là Giang Trạch Dân, khi Giang công khai tuyên bố vào năm 1999 đặt “tà pháp” PLC ra ngoài vòng pháp luật. Cuộc tàn sát PLC bắt đầu từ đó. Một số thành viên PLC ở Hà Lan và Bồ Đào Nha còn đòi truy tố Giang ra tòa án quốc tế về tội diệt chủng.

Công luận Trung Quốc ngày càng nhận ra hầu hết những “siêu hổ” hiện bị giam trong chuồng đều là tay chân tin cẩn nhất của Giang Trạch Dân, do chính Giang lựa chọn và giới thiệu. Chu Vĩnh Khang, Giả Khánh Lâm, Tăng Khánh Hồng, Bạc Hy Lai, Có tin chính Giang đã từng không đồng tình với việc chọn Tập Cận Bình thay cho Hồ Cẩm Đao. Còn có tin tay chân Giang định ám sát Tập Cận Bình.

Vụ án siêu nghiêm trọng vê bầy “siêu hổ” tham nhũng của Trung Quốc đang ở thời kỳ kết thúc. Tập Cận Bình đang suy nghĩ và tính toán. Đụng đến, bắt giam các nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, rồi bắt giam 2 nguyên Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị là những hành động mạo hiểm chưa từng có. Xã hội Trung Quốc rất hoan ngênh việc kiên quyết nói và làm như thế. Nhưng ông có dám đụng tiếp đến nguyên Tổng Bí thư đảng CS TQ Giang Trạch Dân hiện vẫn còn nhiều ảnh hưởng, nhiều chân tay trong đảng hay không?

Cũng nên nhớ rằng Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Chu Vĩnh Khang, Tăng KhánhHồng, Bạc Hy Lai…cũng là những kẻ sốt sắng nhất trong vụ tàn sát hàng mấy ngàn sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn tháng 6 năm 1989, qua xích hàng trăm xe tăng, theo ý kiến của Đặng Tiểu Bình. Lúc ấy chỉ có Triệu Tử Dương là chống lại.

Tập Cận Bình vẫn còn dè dặt khi thời kỳ khởi đầu vụ án sắp kết thúc. Bản cáo trạng chung sẽ được công bố, chuẩn bị cho cuộc xử án. Giang Trạch Dân vẫn còn là con hổ dữ nhiều nanh nhiều vuốt, có tay chân trung thành cài khắp nơi ở mọi cấp. Có thể Giang sẽ ra tay trước. Có thể lắm.

Tập Cận Bình đang săn bầy hổ dữ hay đang cưỡi lưng hổ, một tư thế không dễ chịu, không thoải mái chút nào. Tình hình sẽ có thể rất ly kỳ, sôi động vào cuối năm nay.

Và tác động đến Việt Nam chắc sẽ không nhỏ.

 

Trầm cảm, nghiện ngập : Bệnh của những người làm nghệ thuật ?

Trầm cảm, nghiện ngập : Bệnh của những người làm nghệ thuật ?

RFI

Michael Jackson

Michael Jackson

Reuters

Anh Vũ

Cái chết của diễn viên Robin Williams không chỉ gây xúc động trong công chúng yêu nghệ thuật mà còn để lại những điều đáng suy nghĩ,  khi mà đã có không ít các tài năng xuất chúng từng thành công rực rỡ trong nghệ thuật, dư thừa tiền bạc, nhưng lại bế tắc trong cuộc sống, để rồi rơi vào kết cục bị cuốn vào vòng nghiện ngập sa đọa hay kết thúc nhanh chóng cuộc sống bằng tự tử, hay bằng một cơn sốc ma tuý.

Bên cạnh những lời tiếc thương, ca tụng tài năng của Robin Williams như một tượng đài nghệ thuật, các chuyên gia tâm lý học nhìn thấy trong cái chết của Robin một hiện tượng khá phổ biến hiện nay trong giới những người nổi tiếng và giàu có, đó là bệnh trầm cảm và nghiện ngập.

Nhiều nhà tâm lý học đều có chung nhận xét là, cũng giống nghệ sĩ Mỹ vừa ra đi vì tự tử, nhiều các nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ hay nhà văn, nói chung họ là những người làm công việc sáng tạo nghệ thuật, rất hay bị mắc bệnh trầm cảm hay nghiện ngập.

Nhiều nghệ sĩ có tên tuổi lớn như Jim Carray, Catherine Zeta-Jones, Mel Gibson…. cũng đã từng công khai thừa nhận bị chứng trầm cảm hoặc ít nhiều nghiện rượu hay ma tuý.

Theo tổ chức Y tế thế giới, có hơn 350 triệu người ở mọi lứa tuổi khác nhau trên hành tinh bị mắc chứng trầm cảm và hàng năm có khoảng một triệu người bị chết.

Mara Buxbaum, trợ lý báo chí của Robin Williams, cho biết thời gian gần đây, diễn viên chính của những tác phẩm điện ảnh để đời như « Good morning Việt Nam », « Bà Doubtfire », « Will hungting » đã bị rơi vào tình trạng trầm cảm nặng. Cảnh sát cũng đã có kết luận đầu tiên là Robin Williams chết do treo cổ tự tử.

Theo giáo sư Michel Raynaud, trưởng khoa tâm thần và trị nghiện tại Paris, thì có sự liên hệ giữa tài năng sáng tạo với trầm cảm và nghiện ngập.

Ông giải thích : « Các nghệ sĩ thường là những người nhạy cảm nhất, có cảm nhận xúc cảm mạnh hơn. Nhìn chung ở các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ các diễn viên có tài năng lớn thì đằng sau họ thường là những con người âu sầu, trầm cảm, có tình cảm tâm lý giằng xé ». Trong khi đó, các sản phẩm kích thích như rượu, ma tuý, thường được coi như chất men, để giúp cho thăng hoa sáng tạo, lại rất sẵn trong môi trường của giới nổi tiếng, nghệ sĩ giàu có.

Chuyên gia tâm lý này cũng nói thêm là các nghệ sĩ thường bị sức ép rất lớn của sự thành công, họ luôn sống trong trạng thái có thể gọi là “tự huyễn mình“.

Còn giáo sư Vikram Patel, giám đốc Trung tâm sức khoẻ tâm thần thế giới tại Anh (Global Mental Health), khẳng định đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa tài năng sáng tạo và vấn đề sức khoẻ tâm thần, cho dù cơ chế của mối liên quan này vẫn chưa được sáng tỏ hoàn toàn.

Theo ông, các chu trình hoạt động não bộ khởi nguồn các sáng tạo giống như chu trình của bệnh tâm thần. Như vậy khả năng sáng tạo càng lớn thì nguy cơ mắc bệnh tâm thần càng cao.

Mối liên quan giữa trầm cảm, bệnh tâm lý giằng xé với nghiện ngập cũng rất rõ ràng. Theo giáo sư Raynaud, « khoảng từ 30 đến 50% người nghiện là những người bị trầm cảm và một nửa số người có tâm lý giằng xé cũng là những người nghiện ». Ông giải thích : « bản thân nghiện ngập đã kéo theo các triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng, trong những tình cảnh như vậy thường dẫn đến việc tự tử ».

Một nghiên cứu của tạp chí khoa học Journal of Phenomenological Psychology công bố năm 2009 khẳng định nếu như nổi tiếng mang lại sự giàu có, biệt đãi nào đó thì cái giá phải trả cho nó không phải nhỏ. Đó là vì trong vị thế như vậy những người nổi tiếng giàu có người ta thường cảm thấy cô đơn, dè chừng người khác.

Người ta vẫn thường cho rằng trầm cảm chỉ xuất hiện vào thời điểm khó khăn của cuộc sống và không thể hiểu tại sao bệnh này lại đến với những người dường như đã đạt được mọi thứ trong cuộc sống. Tuy nhiên các chuyên gia thì cho rằng tình trạng trầm cảm đến không có lý do nào rõ ràng.

Cách đây vài tháng, một ngôi sao của Hollywood là tài tử và đạo diễn điện ảnh tài năng Philip Seymour Hoffman cũng đã phải từ giã cõi đời khi còn trẻ, vì dùng ma tuý quá liều.

Robin Williams đã gây nguồn cảm hứng cho cả một thế hệ những nhà điện ảnh, những nghệ sĩ từ khi họ còn là trẻ thơ. Bởi vậy kết cục bi thương của cuộc đời ông có thể gây được coi là tín hiệu cảnh bảo về một cái bẫy trong sự nổi tiếng.

Tyler Hoskins, 23 tuổi một sinh viên đang theo học đạo diễn điện ảnh ở Mỹ nói giờ anh đã hiều ra được một điều : « dù nổi tiếng và giàu có thế nào thì điều đó sẽ không bao giờ giải quyết được các vấn đề cuộc sống của bạn ».

Chuyên gia tâm thần học Raynaud nhận định : « không chỉ có giới nghệ sĩ mới liên quan đến hiện tượng trầm cảm nghiện ngập mà có nhiều giới khác còn dễ mắc hơn khi mà cách sống của họ bị lêch lạc, bị sức ép công việc hay thành công một cách dễ dàng ».

 

Từ một mắt xích thấy rõ toàn hệ thống

Từ một mắt xích thấy rõ toàn hệ thống

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-08-13

RFA

043_dpa-pa_45782663.jpg

Một biệt thự kiểu Pháp ở TPHCM, ảnh minh họa.

AFP photo

Chỉ có một số rất ít những vụ tham nhũng lớn được đưa ra ánh sáng, như Vinashin, Vinalines, PMU 18, dự án Xa lộ đông tây hay gần đây nhất là Dự án Đường sắt nội đô. Tất cả chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng có ý kiến cho rằng từ những con cá nhỏ dễ dàng hình dung ra những con cá lớn rồi đến cả tập đoàn.

Tham nhũng là một câu chuyện dài ở các nước đang phát triển các nước nghèo, đặc biệt ở Việt Nam cái đuôi tham nhũng dài vô tận vì đặc thù của thể chế. Ở Việt Nam không thể có cơ chế giám sát độc lập và giám sát lẫn nhau. Đảng Cộng sản là ngươi lãnh đạo toàn diện, Nhà nước Chính phủ Quốc hội Tòa án tất cả là nơi thi hành chính sách của Đảng và cán bộ thì do Đảng cơ cấu.

Nhà báo Phạm Thành sống và làm việc ở Hà Nội, từng nhiều năm phục vụ hệ thống truyền thông nhà nước, chia xẻ ý nghĩ của mình:

“Tôi nghĩ rằng, mấy năm nay người bỏ Đảng vẫn còn ít trong khi những người vào Đảng rất là nhiều. Bởi vì người ta thấy là vào Đảng người ta có vị trí và người ta vẫn kiếm ăn được. Người ta cũng tin rằng Đảng chưa bị sụp đổ trong ngày một ngày hai, đơn giản thế thôi.”

Có lẽ không thể đánh giá một cách đầy đủ là tham ô tham nhũng đã gây hại như thế nào cho đất nước và người dân Việt Nam. Nhưng tại một cuộc Hội thảo tổ chức ngày 21/7/2014 tại Hà Nội, ông Olin McGill chuyên gia của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cho rằng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam đáng lẽ phải ở mức 7.000 USD/năm thay vì chỉ là 1.400 USD/năm. Chuyên gia này dựa vào vị trí xếp hạng môi trường cạnh tranh do Ngân hàng Thế giới thực hiện năm 2014 để dẫn chứng. Theo đó Việt Nam xếp hạng 99/189 nền kinh tế, chuyên gia Olin McGill cho rằng, ở nhóm các nước xếp hạng từ 91 đến 120 có GNI tức thu nhập bình quân đầu người là 7.545 USD/năm.

Câu chuyện vừa nêu không đề cập gì tới nạn tham nhũng, hối lộ ở Việt Nam nhưng nó liên quan đến vấn đề cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và tính công khai minh bạch nói chung. Như thế nếu vế sau này được thực hiện đúng thì đã giảm thiểu được nạn tham nhũng một cách đáng kể.

Tôi nghĩ rằng, mấy năm nay người bỏ Đảng vẫn còn ít trong khi những người vào Đảng rất là nhiều. Bởi vì người ta thấy là vào Đảng người ta có vị trí và người ta vẫn kiếm ăn được.
– Nhà báo Phạm Thành

Về vấn đề phải cải tổ thể chế triệt để thì chống tham nhũng mới có hiệu quả. Theo Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, tất cả những luật cơ bản để phòng chống tham nhũng ví dụ quyền được cung cấp thông tin, quyền biểu tình, lập hội, tự do báo chí đều được qui định trong Hiến pháp, nhưng Quốc hội không soạn thảo và ban hành luật trong mấy chục năm qua. LS Trần Quốc Thuận nhấn mạnh:

“Vấn đề là pháp luật ở Việt Nam có được thi hành hay không mà nếu không được thi hành thì người dân có cơ sở pháp luật đòi hỏi phải thi hành hay không. Nếu mà không thi hành thì có luật biểu tình để người ta phản đối buộc thi hành hay không. Câu chuyện đó không có… Có nghĩa là cho một cái thiên đàng nhưng không có cái thang để leo lên.”

Nhân chuyện báo chí nhà nước và mạng xã hội gần đây đưa nhiều tin bài với các tựa đặt khá hài hước như “Trộm vào nhà, quan chức lộ ra vàng khối, tiền tỷ” hay “Quan nhơ nhỡ mất cắp” cho thấy dư luận chỉ chờ dịp để moi móc vấn đề thu nhập bất chính. Bởi vì người dân lý luận đơn giản, công chức cán bộ cỡ giám đốc sở lương mười mấy triệu đồng một tháng làm sao có dư để tích lũy tiền tỷ, vàng khối…

Ngày 4/8/2014 ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc sở Tài nguyên Môi trường TP.HCM báo công an bị trộm cậy tủ ở văn phòng lấy mất tiền và ngoại tệ trị giá 1,6 tỷ đồng. Trước đó ngày 24/7 VietnamNet tổng hợp các vụ gọi là  ‘mất trộm, lòi vàng nhà quan. Các vụ ‘lòi vàng’ điển hình như vào năm 2013, ông Đặng Xuân Thọ, Giám đốc Sở tài chính Kontum trình công an bị trộm đột nhập khi vắng nhà nhưng không bị mất tài sản. Trên thực tế Công an đã bắt được băng trộm, chúng khi đã lấy được vàng thẻ đóng gói, nữ trang trị giá hơn 2,7 tỷ đồng. Tờ báo còn đưa ra 7 vụ trộm viếng nhà các quan chức khác ở Bắc Kạn, Qui Nhơn, Vinh, Bạc Liêu, Biên Hòa, TP.HCM và Đà Nẳng mà tổng số tiền mặt, vàng miếng, ngoại tệ bị trộm  trị giá hàng chục tỉ đồng.

Tham nhũng đe dọa sự tồn tại của Đảng Cộng sản và làm người dân xa lánh Đảng. Đây là điều mà cả Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đều nhiều lần cảnh báo. Nhưng làm thế nào để chống tham nhũng có hiệu quả lại là một nan đề, khi chế độ toàn trị chưa sẵn sàng cải cách trao quyền dân chủ cho người dân.

 

Nhìn vào phong trào ‘thoát Trung’

Nhìn vào phong trào ‘thoát Trung’

Nguyễn Hùng

BBC Tiếng Việt

Thứ ba, 12 tháng 8, 2014

Người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc ở London hôm 18/5

Hàng vạn người Việt khắp nơi xuống đường phản đối TQ trong thời gian qua

Những đòi hỏi thay đổi mối quan hệ ‘vừa là đồng chí, vừa là anh em’ giữa hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc không phải là điều mới.

Nhưng việc các nhà lãnh đạo Bắc Kinh cho hạ đặt giàn khoan trong vùng biển mà Hà Nội coi là vùng kinh tế đặc quyền của mình đã thổi lửa làm bùng lên phong trào ‘thoát Trung’ đã âm ỉ từ lâu.

Thực tế có cáo buộc rằng người đang chịu án tù 12 năm, blogger Điếu Cày, tức Nguyễn Văn Hải, bị bắt hồi năm 2008 và bị kết án lần đầu 30 tháng tù giam một phần vì các hoạt động chống Trung Quốc.

Các cuộc biểu tình phản đối Bắc Kinh ở Việt Nam cũng để lại những hình ảnh và câu chuyện đáng nhớ.

Đảng viên Bấm Nguyễn Chí Đức đã bị công an, theo lời anh, “khống chế như một con lợn” và bị đạp vào mặt trong một lần đi biểu tình chống Trung Quốc hồi năm 2011.

Hai năm sau Bấm ông Đức viết đơn bỏ Đảng Cộng sản và trong các lý do ông đưa ra có “mối quan hệ thiếu minh bạch và bất tương xứng giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam với Đảng Cộng Sản Tàu.”

Giàn khoan nổi trị giá hàng trăm triệu đô la mà Trung Quốc mang ra Biển Đông tạo ra điều mà nhiều người xem như cơ hội để Việt Nam nhìn lại quan hệ với Trung Quốc.

Nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, Giáo sư Jonathan London từ Đại học City University of Hong Kong nhận xét:

“Vấn đề không phải là thoát Trung vì Việt Nam vẫn luôn ở cạnh Trung Quốc và như vậy phải cố gắng để tạo ra quan hệ tốt nhất có thể tạo được… phải thay đổi cơ bản quan hệ giữa hai nước.

“Rất có ích khi so sánh quan hệ giữa Hàn Quốc và Trung Quốc so với quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc bởi vì chẳng bao giờ có chuyện Hàn Quốc sẽ gọi mình là em và Trung Quốc là anh.”

‘Thời kỳ đô hộ mới’

Chính quan hệ đồng chí và anh em giữa hai nước cộng sản ít ỏi còn lại trên thế giới làm cho nhiều người Việt Nam cảm thấy bất an.

Một khảo sát hồi tháng Bảy cho thấy người Bấm Việt Nam đứng thứ nhì trong số những nước không ưa Trung Quốc ở châu Á mà nước đứng đầu là Nhật Bản.

Ông Đặng Xương Hùng, cựu quan chức ngoại giao vừa Bấm từ bỏ Đảng Cộng sản sau 30 năm và hiện đang xin tị nạn tại Thụy Sĩ, nói:

“Muốn thoát Trung phải nhìn thấy âm mưu của Trung Quốc và phải nhìn thấy chính mình.

Ủy viên Quốc vụ viên Dương Khiết Trì (trái) gặp ông Nguyễn Phú Trọng hồi tháng Sáu

Quan hệ Việt – Trung đã rạn nứt trông thấy trong mấy tháng qua

“Vì quyền lợi của quốc gia, của đất nước hay vì quyền lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam hay của các phe nhóm lãnh đạo.

“Người Pháp [khi đô hộ Việt Nam] đã kéo Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc và bộ mặt của Việt Nam đã tách rời khỏi Trung Quốc. Chính người Pháp đã làm cho chúng ta Hiệp ước Pháp – Thanh [về biên giới].

Ông Hùng dẫn lời cựu Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói về hội nghị Thành Đô hồi năm 1990 khi các lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc bí mật ký thỏa ước về quan hệ song phương: “Đó là một thời kỳ đô hộ mới của Trung Quốc với Việt Nam.”

Cũng như nhiều người khác, vị cựu ngoại giao đòi phải công khai những gì ký kết ở Thành Đô và kêu gọi lãnh đạo Việt Nam cứng rắn hơn nhằm chống lại “cuộc chiến tranh không có súng đạn” của Bắc Kinh.

Ông nói: “Lãnh thổ, lãnh hải của chúng ta đã bị gặm nhấm dần dần và cách gặm nhấm của Trung Quốc rất êm dịu, tức là làm cho chúng ta có thể nghĩ họ sẽ không làm cho chúng ta mất một cái gì quá lớn để chúng ta giật nảy mình lên.

“Bằng những kỹ thuật mà chính chúng ta lại giải thích là chúng ta mất như thế là hợp lý như mất Bản Giốc, mất Ải Nam Quan.”

“Nó như cuộc chiến tranh không có súng đạn.”

Lũng đoạn kinh tế?

Một số người khác lại lo ngại về điều có thể coi là lũng đoạn kinh tế của thương lái và các nhà thầu Trung Quốc trong một số lĩnh vực.

“Trung Quốc là bậc thầy về đưa đút lót trong khi Việt Nam là bậc thầy nhận đút lót.”

Một nhà quan sát bình luận

Họ nói thương lái Trung Quốc được thoải mái thu mua nông sản mà không có giấy phép cần thiết.

Thực tế con số thống kê của Việt Nam và Trung Quốc về buôn bán giữa hai nước cũng khác nhau.

Có nhà quan sát nói trong khi Việt Nam cho biết họ nhập khẩu của Trung Quốc 28,8 tỷ đô la và xuất khẩu 12,8 tỷ sang nước láng giềng, con số tương ứng của Trung Quốc lại là 34 tỷ đô la và 16,2 tỷ đô la.

Vẫn nhà quan sát này nói nhà thầu Trung Quốc cũng thắng thầu phần lớn các dự án xi măng và nhiệt điện.

Lý do ông đưa ra là “Trung Quốc là bậc thầy về đưa đút lót trong khi Việt Nam là bậc thầy nhận đút lót.”

Những chuyên gia như ông Vũ Quang Việt, cựu quan chức thống kê cao cấp của Liên Hiệp Quốc, lại đặt câu hỏi tại sao các nhà thầu Việt Nam không thể thắng trong ngay cả những dự án tưởng chừng như đơn giản, không đòi hỏi công nghệ cao.

Tiến sỹ Việt nói thu nhập của người Việt ngày càng thấp so với người TQ

Ông cũng chỉ ra rằng Trung Quốc chỉ cần nhờ Nhật Bản giúp đỡ trong một dự án làm tàu cao tốc là họ đã có thể học để tự làm và thậm chí còn xuất khẩu được công nghệ sang Hoa Kỳ.

Tiến sỹ Việt nói cách phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào gia công của Việt Nam đã khiến khoảng cách thu nhập đầu người giữa Việt Nam và Trung Quốc càng tăng trong những năm vừa qua.

Sự tham gia của Trung Quốc vào những dự án khai thác tài nguyên như hai dự án bauxite hiện nay ở Tây Nguyên càng làm những người phản đối Trung Quốc thêm lo ngại.

Họ sợ rằng môi trường tự nhiên và môi trường sống của người thiểu số sẽ bị hủy hoại trong khi thế hệ tương lai sẽ không được thừa kế tài nguyên mà họ cho rằng đang bị khai thác tối đa.

Ủng hộ quốc tế

Một nhà quan sát khác, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói sự phụ thuộc Trung Quốc là khó tránh khỏi nhưng ‘lệ thuộc’ mới là điều cần xem xét:

“Cái ý mà tôi nghĩ rằng những thảo luận thoát Trung muốn nói là cố gắng làm sao để chúng ta không lệ thuộc, lệ thuộc chứ không phải là phụ thuộc, vào Trung Quốc về mọi mặt kể cả tư tưởng, kinh tế và quan trọng nhất là hoạt động chính trị, hoạt động ngoại giao, hoạt động quân sự của mình.”

“Chúng ta có thể bỏ qua thoát Trung và thoát luôn cả châu Á như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã làm. Họ đã thoát khỏi chính họ, thoát khỏi cả tư tưởng châu Á, những tư tưởng có tính chất bó hẹp … đến với những giá trị phương Tây để đưa đất nước đi xa hơn nữa.”

Cựu quan chức ngoại giao Đặng Xương Hùng

Đây cũng là điều được nhà văn Võ Thị Hảo chia sẻ trong tọa đàm trực tuyến hồi đầu tháng này.

Bà nói: “Ở đây vấn là làm sao cho Việt Nam thoát khỏi sự lệ thuộc, thoát khỏi sự vũ kỹ lạc hậu. Càng vận hành thể chế này càng như sự tự sát nên phải thoát Trung và trước hết là phải thoát chính mình.

“Nếu không thoát Trung hay không thoát chính mình thì sẽ lao xuống dốc và đi về phía địa ngục.”

Tiến sỹ Jonathan London trong khi đó nhấn mạnh giờ đã là Thế kỷ 21 và Việt Nam cần thoát khỏi “quan hệ không tốt” với Trung Quốc.

Ông bình luận: “Vấn đề chủ yếu của Việt Nam là muốn chống lại những hành vi phi lý, hành hung của Trung Quốc thì chắc chắn phải có ủng hộ quốc tế và chỉ có một con đường duy nhất để lấy được sự ủng hộ quốc tế là cải cách trong nước.. để thế giới thấy Việt Nam là một nước nên ủng hộ.

“Việt Nam phải cho thế giới những lý do để ủng hộ vì thế tôi thấy vấn đề thoát Trung chủ yếu là vấn đề cải cách thể chế trong nước Việt Nam để có thể chế dân chủ, minh bạch và có thể đạt được [phát triển] kinh tế ở mức cao hơn.”

Ông Jonathan London nói Việt Nam cần ủng hộ quốc tế để thoát Trung

Nhà cựu ngoại giao Đặng Xương Hùng thậm chí nói Việt Nam cần ‘thoát Á’:

“Chúng ta có thể bỏ qua thoát Trung và thoát luôn cả châu Á như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã làm.

“Họ đã thoát khỏi chính họ, thoát khỏi cả tư tưởng châu Á, những tư tưởng có tính chất bó hẹp … đến với những giá trị phương Tây để đưa đất nước đi xa hơn nữa.”

Mặc dù vậy, điều các chính trị gia cao cấp Việt Nam quan tâm hơn cả vào lúc này có lẽ là sự chuẩn bị cho Đại hội Đảng vào đầu năm 2016.

Một nguồn thạo tin bình luận rằng sẽ có những lãnh đạo sẵn sàng có cách tiếp cận thân Trung Quốc để đảm bảo sinh mạng chính trị của chính mình.

 

Mỹ khẳng định : Chính hành động hung hăng của Trung Quốc làm Biển Đông căng thẳng

Mỹ khẳng định : Chính hành động hung hăng của Trung Quốc làm Biển Đông căng thẳng

Ngoại  trưởng Mỹ John Kerry họp báo cùng ngoại trưởng Úc Julie Bishop tại Sydney, ngày 12/08/2014.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry họp báo cùng ngoại trưởng Úc Julie Bishop tại Sydney, ngày 12/08/2014.

Reuters

Trọng Nghĩa

Khẩu chiến Mỹ-Trung về Biển Đông vẫn tiếp diễn gay gắt sau Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Miến Điện. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry vào hôm nay, 12/08/2014, đã kêu gọi Trung Quốc hành xử như một đối tác có thiện chí. Trước đó, Bộ Ngoại giao Mỹ đã phản bác cáo buộc của hãng tin chính thức Trung Quốc, theo đó Hoa Kỳ là kẻ gây rối ở Biển Đông. Theo phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ, chính các hành động hung hăng của Trung Quốc là nguyên do gây bất ổn định.

Phát biểu từ nước Úc, nơi ông tham dự Đối thoại thường niên Mỹ-Úc về an ninh và ngoại giao, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã nhắc lại quan điểm của Hoa Kỳ là không hề tìm cách gây sự hay đối đầu với Trung Quốc. Theo ông Kerry, Washington hoan nghênh « sự vươn lên của Trung Quốc như một đối tác toàn cầu…, một nền kinh tế cường thịnh, một thành viên tham gia một cách toàn diện và xây dựng vào cộng đồng quốc tế ».

Trên cơ sở đó, Ngoại trưởng Mỹ xác định rằng Hoa Kỳ mong muốn là Trung Quốc đóng góp một cách xây dựng vào việc giải quyết các vấn đề, « cho dù là ở Biển Đông, hoặc đối với Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên », cũng như đối với các vấn đề khác mà hai bên phải đối phó.

Lời nhắc nhở Bắc Kinh là nên hành xử một cách có thiện chí được ông John Kerry đưa ra một hôm sau khi Trung Quốc lớn tiếng tố cáo Mỹ là đã cố tình khuấy động những mối căng thẳng tại Biển Đông.

Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN ở Miến Điện vào tuần trước, Trung Quốc đã bác bỏ một đề nghị của Mỹ, kêu gọi mọi bên tranh chấp ở Biển Đông « đóng băng » – tức là đình chỉ các hoạt động khiêu khích trong khu vực.

Ngay sau hội nghị ASEAN Trung Quốc lập tức mở cuộc tấn công vào đề nghị của Mỹ, với Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị vào hôm qua đã công khai ám chỉ rằng Mỹ có âm mưu gây hỗn loạn trong khu vực, trong lúc Tân Hoa Xã đích danh cáo buộc Hoa Kỳ là kẻ gây rối, từ việc đưa ra những đề nghị « không xây dựng » và « phản tác dụng », cho đến việc xúi giục Philippines và Việt Nam cứng rắn chống Trung Quốc.

Tại Washington, Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Marie Harf đã cực lực phản bác các lời tố cáo của Trung Quốc. Phát biểu với báo giới, bà Harf khẳng định : « Hoa kỳ không phải là bên gây nên tình trạng bất ổn tại nơi đó (tức là Biển Đông). Chính các hành động hung hăng mà Trung Quốc tiến hành đã tạo ra tình hinh như vậy ».

Theo bà Marie Harf : « Tất cả những gì Mỹ đang làm đều nhằm mục tiêu giảm căng thẳng, để mọi người để có thể giải quyết bất đồng bằng con đường ngoại giao, chứ không phải là thông qua các biện pháp cưỡng chế hoặc gây mất ổn định như ta thấy Trung Quốc làm càng lúc càng nhiều trong vài tháng vừa qua ».

 

Từ một xã hội tuyên truyền đến xã hội dân sự

Từ một xã hội tuyên truyền đến xã hội dân sự

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-08-11

08112014-diemblog-kh.mp3

034_2370683.jpg

Áp phích tuyên truyền khổng lồ trên đường phố Sài Gòn chụp hôm 25/3/2013

AFP photo

Chúng tôi xin mở đầu chương trình điểm blog hôm nay bằng nhận xét của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn từ nước Úc:

Có thể nói không ngoa rằng VN là một xứ sở của tuyên truyền. Bật tivi, mở radio, đọc báo, tất cả đều có bóng dáng và cái air của tuyên truyền, đặc biệt là các bản tin và bài viết liên quan đến chính trị, xã hội, sử, văn học. Đó là chưa kể đến những pano nền đỏ chữ vàng xuất hiện trên khắp đường phố từ nông thôn đến thành thị, từ lộ nhỏ đến đường cao tốc đều mang nội dung tuyên truyền. Cái gì cũng tuyên truyền, từ chính trị, đóng thuế đến có con đều tuyên truyền. Tuyên truyền hàng phút, hàng giờ, hàng ngày, và ở bất cứ nơi nào.

Không hẹn mà gặp, nhạc sĩ Tuấn Khanh từ Sài gòn minh chứng cho sự tuyên truyền ấy bằng chính bản thân anh, một sản phẩm của nền giáo dục tuyên truyền. Trong nền giáo dục đó cậu học trò Tuấn Khanh hình dung một thế giới Á thần cộng sản Marxist với các lãnh tụ vĩ đại chiến đấu và hùng biện chống bọn đế quốc, bọn ngụy để bảo vệ nhân dân. Thế giới đó không khác thế giới các thần của Hy lạp, để rồi một ngày kia mọi sự thay đổi. Tuấn Khanh viết:

Nhiều năm sau, khi mọi thứ sáng dần. Khi cả thế giới nhìn thấy móng vuốt từ các tượng đài và viết vào sách giáo khoa về chủ nghĩa Cộng sản Đông Âu hay Mao lý thuyết như một thứ tội ác của loài người.

Bức tranh các ác thần Marxist, Maoist… đã lộ ra nanh vuốt và đẫm máu loài người trong nụ cười và bàn tay vẫy chào thân ái của họ.

Tuấn Khanh viết thêm rằng mọi người hãy giống sức mạnh Hercules, vùng dậy rũ bỏ để trở thành con người đúng nghĩa trên hành tinh này.

Không khí tuyên truyền của xã hội cộng sản không chỉ làm các lãnh tụ bay lên trên không gian mờ mịt khói hương của sự phong thánh, mà nó còn làm cho người ta sợ hãi, không dám sống với con người đúng nghĩa của mình, mà sống với những pano nền đỏ chữ vàng như Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã viết. Điều đó làm tha hóa con người, như một nghiên cứu mới đây ở nước Đức cho thấy rằng những người sống ở Đông Đức cũ thường có khuynh hướng nói dối nhiều hơn. Trong một lần trao đổi với chúng tôi, nhà địa chất Nguyễn Thanh Giang có nói:

Những con người giả dối, trong hội trường thì tung hô một nẻo, về nhà thì nói một nẻo.

” Cái gì cũng tuyên truyền, từ chính trị, đóng thuế đến có con đều tuyên truyền. Tuyên truyền hàng phút, hàng giờ, hàng ngày, và ở bất cứ nơi nào.
– Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn “

Cái kiểu phải sống giữa những pano vàng đỏ và con người thật của mình lây lất kéo dài đến cả thế kỷ 21, thế kỷ của internet cùng những sự thật trần trụi. Và theo blogger Bách Việt nó cũng là nguyên nhân làm những người trẻ tuổi học hành ở nước ngoài không dám về nước:

Ở nước ngoài họ được sống thực với mình, dám nói điều mình nghĩ. Trong khi về nước, lại phải giấu giếm ý nghĩ của mình, hoặc phải lựa chiều nói dối, không thực lòng. Đâm ra họ sợ.

Và với một nền móng con người như vậy, xã hội đi đến một tình trạng bi kịch, từ an ninh xã hội, đạo nghĩa cộng đồng, cho đến những vấn đề lớn lao hơn của quốc gia, của chủ qyền lãnh thổ, của ngoại giao nước nhà.

Nhà văn Đào Hiếu viết một cách bi quan trên trang blog của mình:

Dưới bề mặt bình an của xã hội là một con nước ngầm của cái ác do cộng dồn những ức chế mà có.

Hoang tưởng và ức chế

000_Hkg4466688-250.jpg

Cờ, phướn tuyên truyền cho ĐCSVN trên đường phố Hà Nội tháng 1/2011. AFP photo

Chúng tôi xin mượn lời nhà văn Đào Hiếu mô tả xã hội hôm nay làm tiểu tựa cho phần thứ hai của bài điểm blog hôm nay.

Cái ác kỳ cục được nhiều bloggers bàn tới trong tuần qua là việc có những toan tính sẽ không công nhận bà mẹ Việt nam anh hùng cho những người phụ nữ tái giá.

Cái toan tính kỳ cục ấy lại nảy ra trong những ngày Vu lan cận kề, ngày mà đáng ra tất cả các bà mẹ đều được nhận hoa hồng.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh viết trong bài Vu lan không có hoa hồng:

Còn với những quan chức khác loài người vẫn đang xét duyệt các mẹ già như một sản phẩm của công việc? – họ cũng sẽ chẳng cần một bông hoa nào. Cái họ thích và mong mỏi trong trái tim, có lẽ chỉ là những huy chương và danh hiệu. Mùa Vu Lan với họ sẽ chẳng bao giờ có hoa hồng, mà chỉ có sự giả dối toả bừng trên mặt.

Nhưng cái ác trần trụi nhất trong tuần qua thì có lẽ mọi người sẽ đồng ý rằng đó là chuyện những trẻ em mồ côi bị mua bán tại một ngôi chùa ở Hà nội mà chính quyền địa phương không biết gì.

Từ miền tây sông Hậu, Giang Nam lãng tử viết:

Cái hệ thống ấy bận làm gì ? Họ chỉ lo vận động thu các loại phí đóng góp của công dân trong phường càng nhiều càng tốt. Một ngôi chùa quản lý một cơ sở với hơn một trăm em bé bị gom về chờ ngày mối lái bán mua, sống lúc nhúc trong song sắt như một đàn chuột. Lại còn 9 em bé mất tích bí ẩn.

Ở tầm mức cao hơn thì cái hệ thống mà Giang Nam lãng tử nói đến đôi khi lại gây ra những chuyện hài hước lạ lùng. Trong chuyến thăm nước Mỹ gần đây, ông Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã cóp cuộc gặp gỡ Thượng nghị sĩ John McCain, một người có tiếng là thân Việt Nam. Của đáng tội, ông McCain lại từng là phi công bị bắn rơi ở hồ Trúc Bạch, Hà Nội. Và bây giờ ông Bí thư lại trao tặng cho ngài Thượng nghị sĩ yêu mến Việt Nam một bức tranh về chiến tích hồ Trúc Bạch năm xưa.

Ông Đinh Hoàng Thắng, cựu Đại sứ Việt nam tại Hà Lan nhận định về chuyện này:

” Cứ theo “chính thống” thì VN-TQ hiện nay là bạn vàng,là bạn tốt. Nhưng chả hiểu tại sao”bạn” lại chiếm Hoàng Sa của ta.
– Blog Quê Choa”

Còn chuyện quà tặng, tất nhiên đây là chuyện về lễ tân, cũng phản ánh một mức nào đó về văn hóa.

Tôi không muốn bình luận về chuyện này; nhưng riêng cá nhân tôi nếu được hỏi ý kiến thì tôi không bao giờ đưa những món quả tặng như thế. Bởi vì có một thực tế, ngay như những bia kỷ niệm, những tượng đài kỷ niệm cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống quân Trung Quốc xâm lược, mới đây thôi năm 1979 trên biên giới phía Lạng Sơn, có người lên đục đi những dòng chữ chống quân Trung Quốc xâm lược trên những bia ở biên giới; thế thì đây là một biểu lộ giữa hai cựu thù đã 40 năm rồi mà khơi dậy làm gì. Trong khi nỗi đau mới đây lại ‘đục’ đi.

Còn ông Nghị thì giải thích với báo giới trong nước rằng ông tặng bức tranh đó cho ông McCain vì ông McCain quan tâm đến vệ sinh của thành phố Hà Nội.

Nhà văn Phạm Thị Hoài viết về chuyện này trên blog của mình và kết luận:

Hình như nhà văn trào phúng Mỹ Mark Twain từng định kể câu chuyện này, song cuối cùng bỏ cuộc vì không dám tin rằng nó còn thuộc sở trường của mình.

Chuyện hài hước suy cho cùng thì cũng không làm chết ai, nhưng cái hệ thống mà Giang Nam lãng tử đề cập trong câu chuyện buôn bán trẻ em ở Hà Nội lại sẽ rất là nguy hiểm khi hệ thống đó phải đối đầu với nguy cơ xâm lược từ phương Bắc. Hệ thống tuyên truyền đó vẫn nói rằng quan hệ Việt Nam Trung Quốc vẫn là quan hệ bạn vàng.

Trịnh Khả Nguyên viết trên blog Quê Choa:

Cứ theo “chính thống” thì VN-TQ hiện nay là bạn vàng,là bạn tốt. Nhưng chả hiểu tại sao”bạn” lại chiếm Hoàng Sa của ta. Khi mới xảy ra việc nầy, có người cho rằng “bạn giữ hộ” rồi sẽ trả lại ta. Bốn mươi năm rồi, “bạn” đã không trả lại HS cho ta mà còn chiếm thêm một số đảo thuộc TS của ta nữa. Lại có người cho rằng, đời nầy đòi không được thì để lại cho đời con, đời cháu đòi. Nhưng tới khi đó không biết tình thế sẽ ra sao?

Và ông kết luận bằng một câu Kiều: Còn tình chi nữa, là thù đấy thôi!

Civil Society

000_Hkg8346232-250.jpg

Người dân đạp xe ngang một panô tuyên truyền cho ĐCS hôm 05/3/2013. AFP photo

Nhưng cái quan trọng nhất mà hệ thống ấy tàn phá chính là Câu chuyện giáo dục. GS Nguyễn văn Tuấn viết:

Đại học VN khó trở thành một trung tâm văn hoá. Chương trình giảng dạy (nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn) đều chịu dưới sự kiểm soát của một cơ chế vô hình nào đó. Một báo cáo của chuyên gia nước ngoài nhận xét rằng “các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn. Các đại học VN không thể nào hoàn thành sứ mệnh khai hóa xã hội.

Những nhà giáo dục Việt Nam đã không ngồi yên để nhìn sự tàn phá đó. Nhiều cố gắng trong mấy năm qua đã được thực hiện để tạo dựng những trường Đại học, mà nói như bà Hiệu trưởng trường Đại học Hoa sen là những trường Đại học tử tế.

Tuần qua cũng chứng kiến việc trường Đại học được nhiều người công nhận là tử tế ấy đứng giữa một cơn bão xung đột giữa lợi nhuận và phi lợi nhận. Những nhà giáo chủ trương vì một nền giáo dục lành mạnh có vẻ đang bị lấn át bởi những nhà tư bản mới nổi lên ở một quốc gia có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo nhà giáo Vũ Thị Phương Anh, xã hội Việt Nam hiện tại vẫn còn thiếu thốn những điều kiện cho một nền giáo dục phi lợi nhuận như thế.

Và đó chính là niềm hy vọng của những người chủ trương tạo dựng một xã hội dân sự. Một xã hội dân sự tự do mới có thể làm con người tốt hơn, sẳn sàng vì mục tiêu xã hội hơn.

Nhưng để đi từ một xã hội tuyên truyền lên một xã hội dân sự, còn nhiều khó khăn phải vượt qua. Khó khăn lớn nhất đó chính là sự yếu kém và xa lạ với dân chúng của bản thân xã hội dân sự.

Để kết thúc bài này, xin điểm qua bài viết của nhà báo Đoan Trang mang tựa đề: Xã hội dân sự ở Việt nam đang nổi lên nhưng cần gần dân hơn. Cô viết rằng có nhiều việc bình thường mà các nhóm dân sự có thể làm ngay lúc này chứ không nên chờ thể chế thay đổi. Và một lời đề nghị ôn hòa được nhà báo trẻ hoạt động dân chủ này đưa ra rằngHãy làm những gì mà cộng sản không làm hoặc không làm được.”

CHÚA CHẠNH LÒNG THƯƠNG

CHÚA CHẠNH LÒNG THƯƠNG

Is 55,1-3; Rm 8,35.37-39; Mt 14,13-21

Lm. Vinh Sơn,

Năm 1960, bà Flo Howell sinh ra một người con là John Paul. Cậu bị bại não. Bất hạnh chồng chất khi chồng bà lại đòi ly dị với bà vì không muốn nhận đứa con tật bệnh. Nhưng bà Flo vì tình thương đã quyết định giữ lại đứa con tại nhà để chăm sóc thay vì gửi cậu vào một cơ sở từ thiện như có người đề nghị.

Thế mà John Paul lại nên người thành danh trong xã hội, và đã viết cho cuộc thi “Người mẹ vĩ đại nhất nước Mỹ năm 1996” như sau: “Mẹ tôi đã hy sinh cả đời cho tôi. Bà không bao giờ rời xa tôi… giữ tôi được sạch sẽ, tắm rửa, cạo râu, mặc quần áo cho tôi… Mẹ tôi nói với tôi rằng: tôi chính là món quà Tình yêu Thiên Chúa đã ban cho bà,và đó là tất cả những gì bà muốn. Thế nhưng tôi biết, đôi khi trong phòng riêng bà đã khóc vì cô đơn, buồn bã, mệt mỏi vì gặp quá nhiều khó khăn với một đứa con bại não như tôi. Vậy mà khi bước ra khỏi phòng, bà lại mỉm cười thật tươi… Mẹ tôi quả là người mẹ tốt nhất trong các bà mẹ”.

Ban giám khảo bình chọn người mẹ vĩ đại xúc động khi đọc bức thư này, và đã nhất trí chọn bà Flo Howell là “Người mẹ vĩ đại nhất nước Mỹ năm 1996”. Người Mẹ vĩ đại vì luôn thương con mình cho mình nó tật nguyền, bị xã hội bỏ đi…

Chúa chạnh lòng thương trước sự bơ vơ của đoàn người đi bộ trong hoang địa để tìm gặp Chúa: “Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương” (Mt 14,14).

Xa xưa, dân theo Chúa, lắng nghe giáo huấn, như Tin Mừng của thánh Mattheu ghi nhận lại, Chúa Giêsu đã dạy họ bằng giáo huấn : Người gieo giống (x. Mt 13,1-23), lúa và cỏ lùng,  hạt cải lớn lên,  nắm bột dậy men (x. Mt 13,24-43), Kho tàng, Viên Ngọc quý, Lưới cá (x. Mt 13,44-52)… Theo cấu trúc của Tin mừng Mattheu, giáo huấn bằng dụ ngôn (chương 13), trước phép lạ bánh hóa nhiều (chương 14).

Dân Chúa hết lòng hết tâm đến nghe Lời, dù giữa cảnh đói khát…”Người chạnh lòng thương”. Theo các nhà chú giải : « chạnh lòng thương » chỉ thứ xúc động của tình yêu sâu xa, như bản năng, bắt nguồn từ trong tim hay trong “ruột gan” của một người mẹ: đó không phải chỉ là tình cảm thuần tuý, nhưng là lòng trắc ẩn có sức tác động. Trong Cựu Ước động từ “chạnh lòng thương”  chỉ tình yêu của Đức Giavê đối với dân Người, một tình yêu thuộc bản tính của Thiên Chúa… Cho nên Truyền thống đã trình bày việc Chúa hoá bánh ra nhiều như một cử điệu chỉ thoát ra từ lòng trắc ẩn của Đức Giêsu… ( theo F. Prud’homme).

Trước những người thiện tâm đến với Chúa Giêsu, Ngài luôn chạnh lòng thương… như Tin Mừng có ghi nhận lại : Chúa chạnh lòng thương giơ tay đụng và chữa lành  anh cùi  xin ngài (x. Mc 1,41) Chúa chạnh lòng thương đoàn dân bơ vơ đến nghe ngài (x. Mc 6,34). Chúa chạnh lòng thương hoàn cảnh của bà góa thành Naim mất con (Lc 7,13) và cho con bà sống lại, Chúa thổn thức lòng trước cái chết của bạn hữu Lagiaro với lời than khóc của gia đình bạn hữu (x. Ga 11,33.38) và Lagiaro được Chúa cho sống lại…. Ngài chạnh lòng thương, vì dân Chúa lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt, nên truyền xin Thiên Chúa các mục tử chăn dắt, các thợ gặt lúa gặt lúa (x. Mt 9,36).

Chúa chạnh lòng thương trước dân đói khát Ngài làm bánh hóa nhiều từ năm chiếc bánh và hai con cá cho năm ngàn người không kể đàn bà và con trẻ là phép lạ duy nhất được cả bốn tác giả Tin Mừng cùng thuật lại (x. Mt 14,13-21; Mc 6,35-44; Lc 9,12-17; Ga 6,1-13). Riêng hai tác giả  Matthêu và Marco còn ghi nhận thêm phép lạ bánh hóa nhiều lần hai (x.Mt 15,32-38; Mc 8,1-10). Như vậy, chắn chắn sự kiện Chúa làm phép lạ cho dân chúng mang nội dung hết sức quan trọng và Giáo Hội luôn xác tín đó là hình ảnh báo trước về Thánh Thể sẽ được dâng hiến cho muôn người.

Thật thế, Tin Mừng nhấn mạnh: “Người truyền cho đám đông ngả mình trên cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ” (Mt 14,19) đây cũng là những động tác, cử chỉ Chúa đã làm trong bữa ăn sau hết với các môn đệ”, “Cầm lấy bánh”, “đọc lời chúc tụng” (hoặc “tạ ơn”), “bẻ ra và “trao cho” (Mt 26,26) và Ngài truyền cho các môn đệ làm việc này. Cho nên, những cử chỉ này chính là những cử chỉ của truyền thống phụng vụ về nghi lễ “Bẻ bánh” diễn ra trong các buổi họp hội của các tín hữu và luôn đi vào đời sống Giáo Hội là thánh lễ mỗi ngày: nghe Lời và cử hành Thánh Thể.

Trong Thánh lễ,  Lời Chúa  được giảng dạy và Thánh Thể nuôi dưỡng trong đời sống của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, cho nên người ta không còn ngạc nhiên về vai trò đặc biệt nổi bật mà việc hóa bánh ra nhiều thể hiện trong đời sống của Đức Giêsu cùng với Giáo Huấn của Ngài.

Người cất bước tìm Nước Thiên Chúa và nghe Lời giảng dạy, được Ngài: “chạnh lòng thương” –  chăm sóc đỡ nâng, chữa lành mọi vết thương, cho đủ thỏa tất cả. Hơn nữa Ngài trao ban Thánh Thể. Thật thế, chúng ta đến với Ngài, Tôi và bạn sẽ cảm nghiệm được tình yêu bao la của Thiên Chúa, một tình yêu khiến chúng ta luôn vững vàng bước đi, đó là tình yêu được Thiên Chúa ban phát.

Tuy nhiên, vấn đề luôn được đặt ra cho nhiều người Công Giáo là chúng ta tham dự Thánh Lễ: Nghe Lời Chúa giáo huấn và rước Thánh Thể thường xuyên mà tại sao không thấy con người mình thay đổi, không cạm thấy tình Chúa ”chạnh lòng thương”. Phần lớn chúng ta tham dự Thánh Lễ vì bị bắt buộc hay vì thói quen mà không thật sự ý thức về sự hiện diện thật của Chúa Giêsu đang dạy trong Lời Chúa, ngài chạnh lòng thương và trao ban trong Bí Tích Thánh Thể. Mỗi chúng ta như hờ hững với Lời và Thánh Thể nên Thánh Lễ và không đem lại sự thay đổi trong cuộc sống chúng ta.

Xin cho chúng con một lòng khao khát tìm đến bên Chúa, lắng nghe Lời giảng, được Ngài chạnh lòng thương và ban phát Thánh Thể hồng ân, như xưa Ngài ra tỏ tình thương qua phép lạ bánh hóa nhiều.

Và từ Lòng thương nơi Đức Giêsu, Đấng là nguồn mạch của Tình Yêu Thương. Chúng ta mở lòng lãnh nhận lòng yêu thương làm nên tính cách tình yêu nơi mỗi người chúng ta:  Con tim biết rung động và chạnh lòng thương.

Vâng,

…Xin cho con có lòng nhân

Giữa bao trắc ẩn, hiến thân cho người

Con nên tấm bánh tình trời

Trao ban lương thực, trao Lời Tình Yêu

( Trích Chạnh lòng thương, Mic. Cao Danh Viện).

Lm. Vinh Sơn, Sài gòn…

 

Đồng minh với Mỹ

Đồng minh với Mỹ

Quốc gia duy nhất có thể giúp đỡ Việt Nam trước sự đe dọa của Trung Quốc không ai khác hơn là Mỹ.

Quốc gia duy nhất có thể giúp đỡ Việt Nam trước sự đe dọa của Trung Quốc không ai khác hơn là Mỹ.

Nguyễn Hưng Quốc

11.08.2014

Các sự kiện dồn dập xảy ra giữa Việt Nam với Mỹ thời gian vừa qua, từ chuyến thăm Mỹ của Phạm Quang Nghị, ủy viên Bộ chính trị đến chuyến thăm Việt Nam của hai thượng nghị sĩ Mỹ, John McCain và Sheldon Whitehouse, cho thấy triển vọng nâng cấp quan hệ giữa hai nước từ hợp tác toàn diện đến đối tác chiến lược có vẻ như gần kề. Ba sự kiện chính có thể sẽ xảy ra như là hệ quả của việc nâng cấp này là: Một, hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể sẽ được ký kết sớm; hai, Việt Nam có thể sẽ được phép mua các loại vũ khí sát thương của Mỹ; và ba, quan trọng nhất, Mỹ sẽ đóng vai trò tích cực hơn trong việc giúp đỡ Việt Nam đối phó với những hành động xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông.

Nếu tất cả các điều trên được diễn ra một cách suôn sẻ thì quả là một việc đáng mừng cho Việt Nam. Lý do đơn giản là Việt Nam không thể chống cự lại Trung Quốc một cách có hiệu quả nếu không có, một, vũ khí tối tân, và hai, sự giúp đỡ từ Mỹ.

Về vũ khí, lâu nay Việt Nam chủ yếu mua từ Nga, nhưng ở đây lại có vấn đề: Nga không phải chỉ bán vũ khí cho Việt Nam mà còn bán cho cả Trung Quốc nữa. Hậu quả là những gì Việt Nam có, Trung Quốc cũng đều có. Hơn nữa, nhờ giàu hơn, Trung Quốc có thể mua vũ khí từ Nga với số lượng lớn hơn hẳn Việt Nam. Đó là chưa kể, sau mấy chục năm tập trung vào việc phát triển kỹ thuật quân sự, vũ khí do Trung Quốc tự chế tạo cũng có trình độ kỹ thuật rất cao. Đứng về khía cạnh vũ khí, Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc mua từ Mỹ. Tuy nhiên, việc mua ấy sẽ không thể thành hiện thực được nếu chính phủ Mỹ vẫn bị ràng buộc bởi lệnh hạn chế bán các loại vũ khí sát thương cho Việt Nam vốn kéo dài từ mấy chục năm nay.

Về đồng minh, lâu nay có vẻ như Việt Nam cố gắng ve vãn nhiều quốc gia nhưng thành thực mà nói, một, không có nước nào sẵn sàng đứng bên cạnh Việt Nam và chia lửa với Việt Nam trong trận đối đầu với Trung Quốc; và, hai, nếu muốn, họ cũng không đủ sức. Ngay trong khối ASEAN, những nước có thể đứng về phía Việt Nam cũng rất ít ỏi. Việt Nam chỉ có thể đi với những quốc gia có quyền lợi xung đột với Trung Quốc như Philippines, Malaysia và Brunei. Nhưng cả bốn nước hợp lại vẫn không phải là đối thủ với Trung Quốc. Đó là chưa kể giữa bốn nước này, mâu thuẫn về chủ quyền trên biển và đảo vẫn khá gay gắt. Ở châu Á, chỉ có hai quốc gia thực sự mạnh về cả kinh tế lẫn quân sự là Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng do những ràng buộc về pháp lý, Nhật Bản không thể đưa quân sang giúp Việt Nam trong trường hợp có chiến tranh. Trong khi đó, Hàn Quốc ở cái thế cũng rất bấp bênh: Trung Quốc có thể sử dụng Bắc Hàn để ngăn chận mọi nỗ lực quân sự của Hàn Quốc trong việc chống cự lại Trung Quốc.

Bởi vậy, dù thích hay không thích, Việt Nam cũng nên thừa nhận một điều: quốc gia duy nhất có thể giúp đỡ Việt Nam trước sự đe dọa của Trung Quốc không ai khác hơn là Mỹ. Quan hệ đồng minh với Mỹ là con đường duy nhất để tự vệ của Việt Nam.

Lấn cấn duy nhất của mối quan hệ ấy là quá khứ chiến tranh giữa hai nước. Đối với chính phủ Mỹ, thật ra, đó không phải là vấn đề. Tất cả các chính khách Mỹ đều theo chủ nghĩa thực dụng (pragmatism) và thực tế (realism). Câu châm ngôn cửa miệng của họ là: không có bạn vĩnh viễn cũng không có kẻ thù vĩnh viễn; chỉ có quyền lợi quốc gia là vĩnh viễn. Do đó, chính phủ Mỹ sẵn sàng bắt tay với Việt Nam, kẻ thù cũ của họ, để bảo vệ Biển Đông. Họ không bảo vệ Việt Nam. Họ chỉ bảo vệ Biển Đông. Và vì Biển Đông, họ sẵn sàng xem Việt Nam là một đồng minh chiến  lược.

Nhưng trên thế giới, quan hệ đồng minh nào cũng dựa trên hai hoặc một trong hai nền tảng: quyền lợi và sự tin cậy.

Giữa Việt Nam và Mỹ hiện nay có rất nhiều điểm chung về quyền lợi: Cả hai đều cần Biển Đông. Với Việt Nam, đó là vùng biển của Việt Nam, là một trong những nguồn lợi tức lớn của Việt Nam về phương diện kinh tế đồng thời cũng là danh dự và lòng tự hào dân tộc của Việt Nam về phương diện tinh thần. Với Mỹ, đó là con đường hàng hải quan trọng vừa có ý nghĩa về kinh tế vừa có ý nghĩa về quân sự. Mỹ cần bảo vệ Biển Đông, nhưng việc bảo vệ đó trở thành khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả nếu Việt Nam chấp nhận nhượng bộ hoặc đầu hàng Trung Quốc.

Tuy nhiên, một thứ quan hệ dựa trên quyền lợi không thể kéo dài và cũng không đủ mạnh để lôi kéo Mỹ. Nền tảng thứ hai của quan hệ đồng minh bao giờ cũng là sự tin cậy. Sự tin cậy trong chính trị khác với sự tin cậy giữa hai cá nhân vốn chỉ dựa vào tính cách. Trong chính trị, sự tin cậy chỉ được xây dựng trên nền tảng của những bảng giá trị chung cả hai quốc gia đều chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên mà các quan hệ đồng minh sâu sắc và bền vững chỉ có thể tìm thấy giữa các quốc gia gần gũi với nhau về văn hóa, như giữa Mỹ và Anh, Úc, Tân Tây Lan, hoặc nhạt hơn một chút, giữa Mỹ và các quốc gia khác ở Âu châu. Cũng không phải ngẫu nhiên mà trong quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ lâu nay, Mỹ luôn luôn đưa vấn đề nhân quyền ra như một điều kiện. Không phải Mỹ muốn cứu một số cá nhân đang bị giam giữ trong nhà tù. Với chính phủ Mỹ, những cá nhân ấy hoàn toàn vô nghĩa. Điều quan trọng nhất là Mỹ muốn thấy ở Việt Nam những sự chia sẻ chung về các bảng giá trị văn hóa: tôn trọng quyền con người. Hơn nữa, chính phủ Mỹ cũng muốn dân chúng Mỹ nhận thấy điều đó.

Có thể nói trở ngại chính trong việc nâng cấp quan hệ đồng minh giữa Việt Nam và Mỹ không phải ở Trung Quốc hay bất cứ nước nào khác mà chính là dân chúng Mỹ. Không nên quên vết thương của nhiều người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam với 58.000 người chết vẫn chưa lành hẳn. Cái gọi là hội chứng Việt Nam trong một số thành phần dân chúng Mỹ vẫn còn sâu đậm. Những người ấy không dễ dàng để mặc cho chính phủ Mỹ muốn làm gì thì làm. Họ có những yêu sách của họ. Một trong những yêu sách ấy là: Việt Nam xứng đáng để làm bạn và để được bảo vệ. Việc tôn trọng nhân quyền là một thước đo chính. Không có một chính trị gia nào ở Mỹ dám bất chấp yêu sách chính đáng ấy của dân chúng Mỹ.

Chắc chắn Việt Nam sẽ đáp ứng một số yêu sách về nhân quyền của chính phủ và dân chúng Mỹ bằng cách thả một số tù nhân chính trị hiện đang bị họ giam giữ. Tuy nhiên, vấn đề là họ có thực tâm hay không. Cho đến nay, về vấn đề này, Việt Nam vẫn chơi một trò rất lưu manh: Trước sức ép của Mỹ, họ thả một số người nhưng lại bắt một số người khác. Đó là điều họ từng làm. Tôi chỉ hy vọng, hiện nay, trước những thử thách sinh tử của đất nước, họ sẽ không chơi cái trò lưu manh vặt ấy nữa. Nếu không, cơ hội để cứu Việt Nam ra khỏi ách Bắc thuộc rất dễ biến thành mây khói.

 

ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Tác giả: JM. Lam Thy ĐVD.

Niềm tin Đức Mẹ Maria được Thiên Chúa cho hồn xác lên trời đã có ngay từ thời Giáo Hội sơ khai. Có lẽ đó cũng là lý do sau khi Đức Giê-su Phục Sinh, Kinh Thánh Tân Ước không đề cập đến việc Đức Ki-tô đi gặp Mẹ Người, vì các tín hữu thời ấy đã tin là Mẹ Maria luôn luôn kết hợp với Con Mẹ, không có một giây phút nào Mẹ-Con xa nhau, ngay cả khi Con Người tử nạn trên thập giá (Ga 19, 25-27) thì Mẹ cũng đồng hành. Vậy thì không lý gì khi Mẹ từ giã cõi trần lại không được Người Con Chí Thánh Chí Nhân rước lên trời tiếp tục đồng hành để hướng dẫn Nhiệm Thể Đức Ki-tô (Giáo Hội) còn trên hành trình dương thế. Tuy nhiên, vẫn có không ít những phe phái đối nghịch (như Thệ Phản, Ly Giáo hay các bè rối) phủ nhận vấn đề Đức Maria Hồn Xác Lên Trời. Họ cho rằng đã có chuyện giấu xác Đức Mẹ (kiểu như cách nghĩ của Maria Mac-đa-la khi đi thăm mộ Chúa mà không thấy xác Đức Giê-su – Ga 20, 2), rồi phao lên Mẹ được lên trời cả hồn lẫn xác. Loài người tự cổ chí kim chẳng có ai được như vậy, vì thân xác chỉ là “cái vỏ bằng đất làm linh hồn ra nặng” (Kn 9, 15), và “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 3, 19) mà thôi.

Đáng tiếc một điều là Giáo Hội cũng chưa hoàn toàn thống nhất trong niềm tin Đức Mẹ hồn xác lên trời, vẫn còn không ít người “bán tín bán nghi”. Phải chờ đến thế kỷ XX, Tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời mới được Đức Giáo hoàng Pi-ô XII long trọng công bố trong Tông hiến “Munificentissimus Deus” (ban hành vào ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ 01/11/1950): “Để tôn vinh Thiên Chúa toàn năng là Đấng đã ban muôn vàn ơn lành đặc biệt của Ngài trên Trinh Nữ Maria, để tôn kính Con Ngài là Vua muôn đời, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, để Người Mẹ cao cả của Người được hiển vinh hơn, và để toàn thể Giáo Hội hân hoan phấn khởi; bằng quyền bính của Chúa Giê-su Ki-tô, của các thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi công bố, tuyên xưng và xác nhận như là một tín điều được Thiên Chúa mạc khải: Người Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa, Đức Maria Trinh Nguyên, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế của mình, đã được mang lên hưởng vinh quang trên trời cả thân xác lẫn linh hồn”.

Sau đó là Công Đồng Chung Va-ti-ca-nô II, với Hiến chế “Tín Lý về Giáo Hội – Lumen Gentium”, tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời lại được nhắc lại: “Ngày nay, trên trời Mẹ Đức Giê-su đã được vinh hiển cả hồn và xác, là hình ảnh và khởi thủy của Hội Thánh phải hoàn thành đời sau; đồng thời, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến (2Pr 3,10). Ngài chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (Hc “Lumen Gentium”, số 68). Chính những sự kiện nêu trên khiến người tín hữu phải đi tìm những lý lẽ chứng minh. Có năm chứng lý rất xác thực và đầy thuyết phục minh họa mầu nhiệm Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời:

1. Vì Đức Maria là Mẹ Đức Giê-su Thiên Chúa: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa đã được tiền định ngay từ khi Nguyên tổ phạm tội (St 3, 1-24) và sau đó Cựu Ước đã tiên báo: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” (Is 7, 14). Trải dài theo lịch sử Giáo Hội, tuy có những ngụy thuyết chống đối lại, nhưng Giáo Hội vẫn luôn xưng tụng Ân Sủng cao vời Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ chính Con Một của Người. Và năm 431, Công Đồng Chung Ê-phê-sô đã tuyên tín: “Tuyệt thông cho những ai không tuyên xưng rằng Đấng Emmanuel thực sự là Thiên Chúa, và bởi thế, Đức Trinh Nữ là Mẹ của Thiên Chúa (theotokos) (vì Mẹ đã hạ sinh Ngôi Lời Thiên Chúa hóa thành nhục thể theo xác thịt)”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 252). Mẹ Thiên Chúa sau khi từ trần được diễm phúc cả Hồn Xác lên Trời đoàn tụ cùng Con Thiên Chúa là điều tất nhiên.

2. Vì Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh: Năm 649, Công Đồng La-tê-ra-nô đã tuyên tín: “Khốn cho những ai không theo các vị Nghị Phụ thánh đức tuyên xưng một cách chân thực và xác đáng rằng Đức Maria, trinh nguyên và vô nhiễm, là Mẹ Thiên Chúa, vì Mẹ đã thực sự thụ thai chính Thiên Chúa Ngôi Lời, Đấng được Thiên Chúa Ngôi Cha hạ sinh trước các kỳ thời, bởi Chúa Thánh Thần mà không cần đến hạt giống loài người, và đã sinh ra Người hoàn toàn không bị hư hại gì, tình trạng đồng trinh của Mẹ sau khi sinh con cũng không hề bị sứt mẻ”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 503). Mầu nhiệm Đức Maria thụ thai, sinh con mà vẫn trinh nguyên, được Thiên Chúa thực hiện thông qua Thánh Thần Ngôi Ba, biểu hiện cụ thể ý nghĩa thân xác Mẹ được Thiên Chúa bảo dưỡng tối đa; thì sau khi Mẹ qua đời, đương nhiên Người phải bảo tồn nguyên vẹn thân xác Đức Mẹ rồi đưa về Trời.

3. Vì Đức Maria luôn hợp tác mật thiết với Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa: Ngay từ thế kỷ II, các Giáo Phụ đã trình bày Đức Maria như là một E-và Mới hợp tác chặt chẽ với A-đam Mới – A-đam sau cùng – là Chúa Ki-tô để chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế, cũng như Chúa Ki-tô chịu khổ hình, chịu chết vì tội lỗi nhân loại, chiến thắng sự chết và sống lại vinh hiển, thì Đức Mẹ Maria đã đồng công với Con chiến đấu cũng phải được cùng Con chiến thắng, nghĩa là Thân Xác Đồng Trinh của Đức Mẹ cũng phải được Lên Trời vinh hiển như Con Người. Thánh Kinh diễn tả rõ ràng Đức Maria hiệp thông mật thiết với Đức Giê-su Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ trong nhiệm cuộc cứu chuộc (bảy sự đau đớn của Mẹ gắn liền với cuộc Thương Khó của Con). Dù xét theo nhân sinh quan hay thiên lý tính, thì việc Mẹ và Con hòa hợp sum vầy với nhau là lẽ đương nhiên, vì cả hai đã thương mến nhau tha thiết, cho nên chắc chắn Chúa Ki-tô vì lòng hiếu thảo, đã ban cho Mẹ mình được hồn xác về Trời sau khi ly trần, là điều hợp tình hợp lý.

4. Vì Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: Trong sắc lệnh “Ineffabilis Deus” (ban hành ngày 8/12/1854), Đức Thánh Cha Pi-ô IX long trọng công bố: “Để vinh danh Ba Ngôi thánh thiện duy nhất, để tôn kính và hiển danh Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, để phấn khởi đức tin Công Giáo và phát triển Ki-tô Giáo; bằng quyền bính của Chúa Giê-su Ki-tô, của các thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi tuyên xưng, công bố và xác nhận rằng: tín lý cho rằng rất Thánh Nữ Trinh Maria, ngay từ giây phút đầu thai của mình, nhờ ơn sủng cùng với đặc ân chuyên nhất của Thiên Chúa toàn năng, và dựa vào công nghiệp của Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu Chuộc loài người, đã được gìn giữ vô nhiễm khỏi mọi tì vết của nguyên tội, là điều được Thiên Chúa mạc khải, vì thế, tất cả mọi tín hữu đều phải mạnh mẽ và liên lỉ tin tưởng”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 280). Trong Tông hiến “Munificentissimus Deus”, Đức Thánh Cha Pi-ô XII cũng khẳng định: “Thân xác con người bị chết và bị tan rã ra tro đất là do hậu quả tội Nguyên Tổ. Mà Đức Mẹ Maria không hề mắc tội Nguyên Tổ, cũng không hề có tội riêng. Cho nên đương nhiên và rất hợp lý là Đức Mẹ Maria được Hồn Xác Về Trời.”

5. Chung quy thì vì Đức Maria là “Đức Bà Đầy Ơn Phúc”: Các thánh tiến sĩ đã coi việc Đức Mẹ Hồn Xác về Trời như là bổ túc cho việc Đức Mẹ được Đầy Ơn Phúc khi còn tại thế. Lời thiên sứ Gap-ri-en chúc mừng Đức Mẹ còn rành rành: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” (Lc 1, 28). Từ lời thiên sứ, Giáo Hội đã tìm đến danh thánh Đức Mẹ: Ngoài những ý nghĩa Maria là “Người Soi Sáng”, “Sao Biển”, “Biển Cay Đắng”; thì Maria còn có nghĩa là “Lệnh Bà” (là Đức Bà của nhân loại). Vấn đề lên trời cả hồn lẫn xác đã được Thiên Chúa hứa ban cho nhân loại (tất nhiên chỉ những người công chính mới được hưởng) vào ngày cánh chung. Đức Mẹ là “Lệnh Bà của nhân loại”, được Thiên Chúa ở cùng, ở trong thân xác, vậy thì Thân Xác Mẹ được rước lên Trời hiệp cùng Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ (chỉ khác về thời gian so với các tín hữu lành thánh), là chuyện đương nhiên.

Ngoài ra, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có đề cập đến đặc sủng Hồn Xác Về Trời của Đức Maria như sau: “Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm, được Thiên Chúa gìn giữ khỏi nhiễm lây mọi tỳ vết Nguyên Tội, đã được đưa lên vinh quang Thiên quốc cả hồn lẫn xác, sau khi đã hoàn tất cuộc đời dương thế, và được Thiên Chúa tôn làm Nữ Vương Vũ Trụ, và như vậy Mẹ đã hoàn toàn phù hợp với Con Mình là Chúa của các chúa, đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (Hc “Lumen Gentium”, số 59). Việc Mẹ Maria được đưa lên Trời là dự phần đặc biệt vào sự Phục sinh của Con Mẹ và hưởng trước sự phục  sinh của các tín hữu.” (Giáo Lý HTCG, số 966), “Chúng ta tin rằng Mẹ Rất Thánh của Thiên Chúa, E-và Mới, Mẹ của Giáo Hội, ở trên trời vẫn tiếp tục vai trò làm Mẹ đối với các Chi Thể Chúa Ki-tô” (ĐGH Phao-lô VI, CPG 15) (Giáo Lý HTCG, số 975).

Tóm lại, với con người bất toàn thì không chỉ mầu nhiệm Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, mà mầu nhiệm Đức Mẹ Trinh Nguyên, Vô Nhiễm Nguyên Tội, kể cả mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể trong cung lòng Mẹ, đều không thể xảy ra được; nhưng “đối với Thiên Chúa thì không có gì là không thể làm được.” (Lc 1, 37). Vâng, “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.” (Mt 19, 26). Vấn đề đặt ra là anh có tin là thật sự có một Đấng Toàn Năng Hằng Hữu đã sáng tạo vũ trụ và con người, hay không. Nếu anh tin rằng con người được Thiên Chúa dựng nên từ bụi đất, thì tất cả mọi sự Thiên Chúa ban cho con người – ở đây là Lệnh Bà Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ nhân loại – đều là chuyện nhỏ, quá nhỏ đối với Người.

Chính vì thế, trong ngày đại lễ mừng kính “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”, người Ki-tô hữu đã vinh dự được Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ nhận làm bạn hữu (“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” – Ga 15, 15); vậy thì còn đợi gì mà không tuyên tín: “Lạy Chúa! Con tin.” và dâng lời khẩn nguyện: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đưa lên trời cả hồn lẫn xác Ðức Ma-ri-a là trinh nữ vô nhiễm và là thánh mẫu của Con Chúa. Xin cho chúng con hằng biết hướng lòng về phúc lộc quê trời để mai sau được cùng thánh mẫu chung hưởng vinh quang. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”). Đồng thời cất cao lời ngợi khen:

MẸ LÊN TRỜI

E-va xưa đã nghe lời rắn độc,

Khiến loài người phải mang tội tông truyền,

Thiên Chúa ban một Người Nữ vẹn tuyền,

Eva Mới sẽ đạp đầu quỷ dữ (St 3, 15).

Chính là Mẹ hạ sinh một Trưởng Tử (Rm 8, 29),

Là Con Một Thiên Chúa xuống gian trần,

Đấng Thiên Sai – Đấng Cứu Độ phàm nhân,

Khỏi tội lỗi từ muôn đời muôn thủa.

Mẹ hiệp công cùng Ngôi Hai Thiên Chúa,

Đức Giê-su – Đấng cứu chuộc loài người,

Mẹ được ân ban hồn xác lên trời,

Ôi nhiệm tích đầy linh thiêng xán lạn!

Mẹ lên trời giữa một ngày rực sáng,

Áo mặt trời chói lọi ánh quang vinh,

Và mặt trăng dưới chân Mẹ uy linh,

Muôn thần thánh đón chào nơi Thiên quốc.

Mẹ lên trời hưởng muôn vàn ơn phước,

Hào quang ân sủng toả khắp nơi nơi,

Ôi triều thiên muôn tinh tú rạng ngời,

Và muôn điệu nhạc thần tiên diệu vợi.

Mẹ ơi Mẹ, xin cứu con về với,

Chốn Thiên đường nơi Mẹ được tôn vinh,

Nơi muôn đời chan chứa ánh bình minh,

Không hoàng hôn, cũng chẳng còn đêm tối.

Mẹ ơi Mẹ, xin cứu con thoát khỏi,

Cõi u minh – nơi vực tối thảm sầu,

Cõi lầm than – nơi tội lỗi ngập đầu,

Nơi xâu xé, tranh giành và chém giết.

Mẹ ơi Mẹ! Cõi trần đầy rên siết,

Và nghiến răng, và uất nghẹn tủi hờn,

Và máu đào, và nước mắt trào tuôn,

Như hồng thuỷ muốn nhận chìm trái đất.

Ôi, lạy Mẹ ! Nơi cõi trần chất ngất…

… những tang thương – Con quỳ gối nguyện cầu:

Thế giới này xin được Mẹ cầu bầu,

Cùng Thiên Chúa ban bình an mãi mãi.

Ôi, lạy Mẹ ! Con nghe lòng tê tái,

Nước mắt trào, con khẩn thiết nài van,

Cho chúng con – đoàn con cái tân toan,

Được mau chóng sum vầy bên gối Mẹ.

JM. Lam Thy ĐVD.

Chúa ở đâu?

Chúa ở đâu?

Tác giả: Joseph Viet, O.Carm

Vào một Chúa Nhật nọ, người ta thấy một người lạ mặt ngồi lại sau Thánh Lễ lâu giờ. Họ không nhớ đã gặp người này trước đây. Anh ta ngồi đó, nhìn chằm chằm vào một khung cửa kiếng màu. Một lúc sau, ông quản phụ trách việc đèn đóm cửa giả nhà thờ đến xin lỗi anh ta để đóng cửa vì đã hết giờ. Lúc rời nhà thờ, người lạ mặt hỏi:

“Chúa ở đâu?”

Ông quản bất ngờ trước câu hỏi này.

“Ý anh là sao?”

“Ý tôi là: Chúa ở đâu?” Người lạ mặt lặp lại câu hỏi.

“Chúa ở khắp mọi nơi. Cách riêng, anh đang đứng trong nhà thờ nơi có Nhà Tạm. Và chúng ta tin rằng Chúa hiện diện nơi đây.” Ông quản trả lời thế nhưng người lạ mặt không có ý hỏi về sự hiện diện của Chúa trong Nhà Tạm. Anh ta đang vật lộn với những vấn đề khác.

“Nhưng tại sao anh lại hỏi như thế?” ông quản hỏi anh.

Tên của người lạ mặt là Yumi. Sau khi xong trung học, mười lăm năm về trước, anh không đi Lễ thường xuyên nữa. Thời gian trôi qua, kiến thức đức tin của anh cũng mai một dần, không được cập nhật. Khi cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra tại New York, anh tức giận với Chúa và chấm dứt việc đến nhà thờ hòan tòan. Anh đổ lỗi cho Chúa về cái chết của em họ mình khi Tòa Tháp Đôi sập xuống. Sự tức giận của anh lớn dần lên trong lòng, không chỉ đối với Chúa mà còn đối với con người nữa.

Nghe ông quản hỏi tại sao anh lại hỏi câu hỏi ấy, anh trả lời: “Hãy nói cho tôi biết tại sao tội ác xảy ra trên thế giới này. Tại sao ngay cả những người tin vào Chúa cũng làm những sự ác với tha nhân?”

“Đúng vậy, anh bạn à. Một số tín hữu đã làm hại người khác,” ông quản đáp.

“Nhưng tại sao họ tin Chúa mà vẫn làm như thế?” Yumi tiếp tục đặt vấn đề.

Lúc ấy vợ của ông quản xuất hiện ở cửa. Bà ấy đã đứng ở ngòai nãy giờ để chờ chồng cùng về nhà. Ông quản nói với Yumi:

“Tôi xin lỗi phải đi bây giờ. Có lẽ chúng ta sẽ gặp lại và chia sẻ nhiều hơn.”

“Tôi cũng hi vọng là vậy, nhưng không sao. Chúc anh chị buổi tối tốt lành.”

“Cảm ơn anh. Chúc anh cũng thế nhé. À, đây là tờ hiệp thông trong giáo xứ. Anh có thể đem về dùng.”

“Xin cảm ơn!”

+++

Buổi tối hôm ấy, Yumi nghe thêm tin tức về chiến cuộc ở Trung Đông. Thêm nhiều người chết và bị thương. Anh lắc đầu buồn bã và tức giận, nhưng trên hết anh cảm thấy khó hiểu và bất lực. “Đủ rồi,” anh hét lên khi xem tin tức, “tại sao các người đối xử với nhau tệ hại như thế?”

Anh tắt ti-vi đi như thể không chịu nổi nữa. Lúc ấy anh chợt thấy tờ hiệp thông của giáo xứ trên bàn. Vì lý do nào đó, anh cầm lên và đọc lướt qua trang đầu tiên. Mắt anh bắt gặp một câu hỏi in đậm: “Tại sao Chúa không ở trong cơn gió bão hay trận động đất hay lửa mà lại ở trong cơn gió nhẹ hiu hiu?” Phía dưới câu hỏi là một bài đọc trích từ sách Các Vua quyển thứ nhất, chương 19, kể về chuyện ngôn sứ Ê-li-a đang chạy trốn khỏi cuộc lùng giết của hòang hậu I-de-ven. Ông tìm thấy một cái hang và núp ở đó. Một thiên sứ đến bảo ông hãy ra ngòai đứng trên núi trước nhan Đức Chúa vì Người sắp đi qua đây. Ê-li-a nghe tiếng gió bão ầm ầm xẻ núi non, đập vỡ đá, rồi đến một trận động đất, rồi đến lửa, nhưng Chúa không ở trong chúng. Cuối cùng xuất hiện một làn gió nhẹ hiu hiu. Thiên Chúa hiện diện trong đó. Chi tiết này làm cho Yumi dừng lại suy nghĩ. Anh nhớ đã nghe bài đọc này nhiều lần trước đây khi anh trẻ hơn, nhưng anh chưa bao giờ để ý đến chi tiết này. Dường như anh mới khám phá ra điều gì mới lạ.

Điện thọai di động trong túi áo khóac của anh đổ chuông. Một số điện thọai lạ đang gọi anh. Nhưng anh quyết định trả lời. Giọng nói từ đầu dây bên kia có vẻ rất tức giận:

“Nghe đây, từ giờ trở đi, đừng để tao thấy mặt mày nữa, hoặc là tao sẽ đập cho một trận. Tao thề với Chúa đấy. Hiểu chưa?”

Yumi cảm thấy sốc bởi giọng nói lạ kia. Anh trả lời: “Xin lỗi, ông là ai? Tôi nghĩ ông đang nói chuyện lầm người.”

Giọng nói bên kia ngừng lại. Yumi nghe ông ta “ồ” một tiếng rồi cúp máy mà không xin lỗi gì.

Lúc này Yumi chợt hiểu bài Kinh Thánh trong tờ hiệp thông của giáo xứ anh mới đọc. Câu trả lời cho câu hỏi in chữ đậm rất đơn giản: Chúa không ở trong gió bão hay động đất hay lửa vì Người không phải là một vị Chúa bạo lực. Chúa có thể làm tất cả mọi sự vì Người là Đấng Tòan Năng, nhưng Người luôn luôn chọn con đường dịu hiền và an lành bởi vì Người là Thiên Chúa của Tình Yêu (1Gioan 4:8). Cú điện thọai từ một người lầm số có thái độ hung hãn, thậm chí còn dùng cả danh Chúa cho hành động bạo lực của mình, đã giúp Yumi hiểu rõ hơn về các hành xử bạo lực của con người. Nguồn gốc của lọai hành xử này nằm ở sự hiểu sai hiểu lầm về Thiên Chúa. Khi người ta không hiểu rõ sự thật rằng Chúa tuyệt đối chống lại bạo lực, họ sẽ không từ khước sự dữ của bạo lực. Trường hợp tồi tệ nhất là tin rằng Chúa đồng ý với bạo lực vì trong trường hợp ấy người ta sẽ dùng danh Chúa mà gây hại cho tha nhân. Điều xấu nhất là cho rằng Chúa sẽ thưởng công cho các hành động bạo lực.

Với khám phá này, Yumi bật Ti-vi lên lại để xem tin tức thế giới. Thêm một cảnh tượng các ngôi nhà đang bị cháy rụi đi do mấy kẻ cuồng tín gây ra. Những gì đang xảy ra cho thấy rõ sự thật rằng họ đã hiểu sai về Chúa.

Lúc này là 11 giờ 15 phút đêm. Điện thọai di động của anh lại đổ chuông. Một số lạ nữa! Anh lưỡng lự không muốn trả lời. Một vài phút sau, số đó lại gọi anh. Dù ái ngại nhưng anh quyết định bắt máy.

“Chào Yumi, Minsa đây. Còn thức không?”

“Còn. Số mới của cậu à? Có chuyện gì không?”

“Ừa, tớ đổi số. Tớ mới nghe biết thằng bạn Stipud dạo này rất hay uống rượu say.”

“Sao vậy?” Yumi hỏi.

“Nó nói nó muốn tự trừng phạt mình vì đã xúc phạm đến bạn gái trước mặt một đám đông.” Minsa đáp.

Yumi nhận ra ngay rằng khi người ta không thấy Chúa luôn là Đấng bất bạo lực thì họ sẽ cho phép mình trở nên bạo lực, không chỉ đối với tha nhân mà còn đối với chính bản thân họ nữa. Bất cứ một dạng bạo lực nào cũng đều trái ngược với ý của Thiên Chúa thật. Đàng sau bạo lực là Satan. Nó tìm mọi cách để xui khiến con người dính dáng đến bạo lực, từ tư tưởng cho đến hành động, từ già đến trẻ, từ khỏe đến ốm. Nó tận dụng mọi hòan cảnh để cám dỗ người ta bạo lực với chính mình và với tha nhân.

“Minsa, cậu thấy đấy, trong trường hợp này Stipud đang sống bạo lực đến hai lần, trước hết là với bạn gái và bây giờ với chính bản thân nó. Đơn giản nó chỉ cần chân thành xin lỗi làm hòa với cô ấy và tiếp tục tiến lên trong cuộc sống. Tớ sẽ gọi điện cho nó ngày mai xem có giúp gì được không. Cảm ơn cậu cho tớ biết nhé Minsa!”

“Cảm ơn Yumi!”

Ngày nay, Yumi không còn tức giận Chúa nữa. Ngược lại, anh yêu Người hơn. Thỉnh thỏang anh thầm thì: “Tội nghiệp Chúa quá đi!” Anh đã khám phá ra một phương pháp cho mình và muốn chia sẻ nó với những ai có cùng nỗi trăn trở giống anh trước đây. Phương pháp đó là: thay vì hỏi “Chúa ở đâu?” thì nên trả lời cho đúng một câu hỏi sâu xa hơn “Chúa là ai?” Yumi dán lên tường tờ hiệp thông anh nhận từ người ông quản trong nhà thờ hôm bữa, rồi vẽ một mũi tên màu xanh chỉ hướng lên phía trên. Anh làm thế là vì: Ê-li-a nhận ra Thiên Chúa thật trong sự dịu hiền của Người. Nhưng sự thể hiện tốt nhất về Thiên Chúa được thể hiện nơi Thầy Giêsu chịu đóng đinh trên cây thập giá phía trên tờ hiệp thông. Là hình ảnh trung thực nhất của Thiên Chúa, Thầy Giêsu đã chống lại cám dỗ hành xử bạo lực dưới mọi hình thức và bằng mọi giá. Ai là môn đệ Thầy thì cũng phải chống lại cám dỗ này bằng mọi giá và dưới mọi hình thức.

Joseph Viet, O.Carm.

[080A+V814]

English: http://only3minutes.wordpress.com/english/where-is-god/