MỘT LẦN QUAY KHÁC-Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu”.

“Đức Giêsu được thấy; nhưng chưa được nhận biết!” – Origen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết, Maria thấy; nhưng không nhận ra. Không phải vì cô thiếu ánh sáng; nhưng vì việc nhận ra không đến từ cái nhìn, mà từ một tương quan. Cùng một cử chỉ quay lại; nhưng không cùng một nhận thức – vì thế, cần ‘một lần quay khác!’.

Thật thú vị, trong bản văn Gioan, convertere – “quay lại” – được nhắc đến hai lần nhưng không cùng một chuyển động: “conversa est” và “conversa” – Maria quay lại và lại quay. Lần thứ nhất, cô quay nhưng không nhận ra; lần thứ hai, cô quay và nhận ra. Không phải vì thay đổi vị trí; nhưng vì thay đổi tương quan. Với Gioan, nhận ra không đến từ cái nhìn; nhưng từ một hiện diện được mở ra. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta: có những lần chúng ta đã quay; nhưng vẫn ở lại trong cách hiểu cũ, trong những mất mát… chỉ vì thiếu một cách quay khác – ‘một lần quay khác’ về một Đấng rất gần. “Thiên Chúa gần tôi hơn chính tôi!” – Augustinô.

Maria không nhận ra, không phải vì thiếu dữ kiện; nhưng vì đặt sai câu hỏi. Cô tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn. Một chi tiết nhỏ; nhưng không vô nghĩa: khu vườn là nơi của sự sống, không phải nghĩa địa của cái chết. Nhưng trước mắt cô vẫn chỉ là một ngôi mộ; và cô hỏi: “Ông để Người ở đâu?” – một câu hỏi về một xác chết có thể bị di chuyển. Maria không hoàn toàn sai; nhưng vẫn chưa đủ để nhận ra Thầy. Như Đức Phanxicô nhắc, khi đánh mất khu vườn, con người đánh mất chính mình! Khi câu hỏi sai, mọi câu trả lời đều trượt. Vì thế, không phải chỉ cần quay; còn phải bỏ đi câu hỏi sai.

May thay – “Maria!”. Không phải một dữ kiện mới; nhưng là một lời gọi. Không thêm điều gì vào điều cô đã thấy; nhưng đặt cô lại trong một hiện diện. Với Gioan, nhận biết không đến từ việc biết thêm; nhưng từ việc được gọi đúng chỗ của mình; không phải đổi cảnh; nhưng đổi vị trí của mình trước Chúa. Ngài gọi tên từng con chiên. Vì thế, không phải sửa lại câu hỏi; nhưng là được gọi trở lại. Nhận ra không bắt đầu từ mắt; nhưng từ một tiếng gọi chạm tới chính mình – từ đó, ‘một lần quay khác’ thay đổi mọi sự. “Tình yêu tự nó là nhận biết!” – Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, quay lại là quay về với Cha. Không theo Satan nơi hoang địa; không chiều nó để gieo mình từ nóc đền thờ; cũng không nán lại để được tôn làm vua. Ngài không quay theo điều dễ; nhưng theo ý Đấng sai mình. Và chính trong lần quay cuối cùng lên núi Sọ, ơn cứu độ nở hoa. Từ đó, lần quay của Ngài trở thành con đường. Với chúng ta, quay về; quay nhiều; nhưng vẫn giữ lại những tính toán cũ, những vết thương chưa chịu buông. Vì thế, vẫn ở lại chốn xưa. Chỉ khi dám quay như Chúa Giêsu – không theo điều thuận, nhưng theo Cha – thì lần quay của chúng ta mới thành lối. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi!” – Ga 10, 27.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng khác; thuộc về Chúa giữa những điều khác; và khi lạc hướng, cho con biết quay về!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Tôi đã thấy Chúa, và Người đã nói với tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 20,11-18

11 Khi ấy, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. 13 Thiên thần hỏi bà : “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” 14 Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” 16 Đức Giê-su gọi bà : “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). 17 Đức Giê-su bảo : “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’.” 18 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. 


 

Tôi phát hiện một gia đình bốn người đang ngủ trong chiếc xe van đậu ở bãi xe của tôi

My Lan Pham

Tôi sở hữu một tiệm giặt tự phục vụ. Sáng thứ Ba tuần trước, lúc 5 giờ, tôi phát hiện một gia đình bốn người đang ngủ trong chiếc xe van đậu ở bãi xe của tôi, với toàn bộ quần áo nhét trong các túi rác.

Tôi mở cửa lúc 6 giờ.

Tôi làm nghề này 19 năm rồi. Lịch trình luôn giống nhau: 5 giờ 30 đến nơi, bật đèn, kiểm tra máy, pha cà phê trong văn phòng nhỏ.

Sáng thứ Ba đó, khi tôi lái xe vào, đèn pha chiếu vào một chiếc xe van đậu ở góc xa.

Xe đời cũ.

Dodge Caravan.

Thân xe có những chỗ chỉ sơn lót.

Cửa kính bị mờ hơi nước từ bên trong.

Tôi đậu xe và ngồi nhìn một lúc.

Thỉnh thoảng có người ngủ trong xe qua đêm. Chuyện bình thường. Thường sáng là họ đi.

Nhưng có điều gì đó khiến tôi bước lại.

Tôi gõ cửa kính ghế lái.

Không phản ứng.

Gõ lần nữa.

Cửa kính hạ xuống khoảng 5cm. Một người phụ nữ hiện ra. Khoảng 30 tuổi. Kiệt sức.

“Chúng tôi sẽ đi ngay,” cô nói vội.

“Xin lỗi. Chúng tôi đi ngay.”

“Khoan,” tôi nói.

“Cô ổn không?”

Sau lưng cô tôi thấy bọn trẻ cử động.

“Chúng tôi ổn.” Nhưng giọng cô run.

“Ở đây bao lâu rồi?”

“Chỉ tối qua. Đậu lúc 11 giờ. Tôi nghĩ không ai để ý.”

Tôi nhìn vào trong xe.

Hai đứa trẻ khoảng 8 và 10 tuổi.

Người đàn ông ở ghế phụ đang tỉnh dậy.

Phía sau là túi rác.

4–5 túi.

Nhét đầy.

“Có quần áo trong đó?”

Cô do dự.

“Vâng.”

“Cô đang sống trong xe?”

Gương mặt cô vỡ vụn.

Cố giữ bình tĩnh nhưng không được.

“Chỉ tạm thôi,” cô thì thầm.

“Chúng tôi bị đuổi nhà tuần trước. Giờ làm của chồng tôi ở kho bị cắt. Không đủ tiền thuê. Nhà tạm trú thì hết chỗ. Chúng tôi chờ 5 ngày rồi.”

Người chồng nói:

“Chúng tôi không gây rắc rối. Sẽ đi ngay.”

“Khoan đã,” tôi nói.

“Quần áo bẩn hết rồi phải không?”

Họ nhìn tôi khó hiểu.

“Vâng,” cô nói.

“Chúng tôi mặc cùng một bộ cả tuần. Bọn trẻ cũng vậy. Không đủ tiền giặt.”

Tôi nhìn đồng hồ.

5:47.

“Đưa túi đây.”

“Gì cơ?”

“Đưa túi quần áo.”

“Tại sao?”

“Vì tôi là chủ tiệm giặt. Và cô cần quần áo sạch.”

Người chồng lắc đầu:

“Chúng tôi không có tiền.”

“Tôi có hỏi tiền không?”

Họ chết lặng.

Tôi mở cửa xe.

Lấy ba túi quần áo.

“Khi nào sẵn sàng thì vào. Tôi đang pha cà phê.”

Tôi mang vào.

Phân loại:

Quần áo người lớn.

Quần áo trẻ em.

Chăn.

10 phút sau họ vào.

Bọn trẻ trông sợ hãi.

“Ngồi đi. Có cà phê. Sô cô la nóng cho trẻ.”

“Chúng tôi không trả được—”

Tôi mở máy bán hàng.

Đưa mỗi đứa một ly.

“Miễn phí.”

Người phụ nữ khóc.

Im lặng.

Nước mắt chảy.

“Lần cuối ăn là khi nào?”

Người chồng:

“Hôm qua. Bữa trưa. Nhà thờ phát sandwich.”

Giờ là 6 giờ sáng hôm sau.

Tôi lấy đồ ăn trưa mình mang:

Sandwich bơ đậu.

Táo.

Bánh quy.

“Ăn đi.”

Họ ăn như sói.

Nhất là bọn trẻ.

Tôi khởi động máy giặt.

Rồi gọi vợ.

“Linda, nấu bữa sáng. Trứng, bánh mì. Cho 4 người.”

“Tại sao?”

“Anh nói sau.”

Tôi về nhà.

Linda làm trứng.

Bánh mì.

Dâu tây.

Tôi mang lại.

Bọn trẻ ngủ trên ghế nhựa.

“Bữa sáng thật sự,” tôi nói.

Người phụ nữ nhìn tôi như tôi điên.

“Tại sao anh làm vậy?”

Tôi ngồi xuống.

“15 năm trước vợ chồng tôi cũng bị đuổi nhà.”

Chúng tôi có con 1 tuổi.

Chủ nhà bán nhà.

Không đủ tiền thuê mới.

Chúng tôi sống trong xe 6 tuần.

Ăn từ ngân hàng thực phẩm.

Tắm ở trung tâm thể thao.

Tháng Giêng.

Lạnh khủng khiếp.

Tôi nhìn bọn trẻ.

“Tôi biết cảm giác bị xem như vô hình.”

Cô khóc.

“Cô không phải vấn đề.

Cô là người bị đánh gục.”

Tôi viết địa chỉ.

“Nhà cho thuê của em trai tôi. Có căn 2 phòng vừa trống.”

Tôi gọi.

“Hôm nay họ chuyển vào. Tháng đầu miễn phí.”

Ngườ chồng:

“Chúng tôi không thể—”

“Có thể.”

Vì ngày xưa tôi cũng được giúp.

Và tôi hứa khi đứng dậy sẽ giúp người khác.

Cô khóc nức nở.

“Chúng tôi cố lắm. Không rượu. Không ma túy. Chỉ là không gặp may.”

“Tôi biết.”

9 giờ quần áo sạch.

Tôi chở họ đi xem nhà.

Em trai tôi đợi sẵn.

“Chào mừng về nhà.”

Bọn trẻ chạy vào chọn phòng.

Người phụ nữ ôm tôi.

“Anh cứu chúng tôi.”

“Tôi chỉ rút ngắn thời gian thôi.”

3 tháng sau:

Người chồng có việc tốt hơn.

Người vợ làm ở siêu thị.

Tiền thuê 600 đô.

Bọn trẻ đi học lại.

Tuần trước cô mang bánh cherry tự làm.

“Tôi không trả được. Nhưng tôi biết làm bánh.”

Chúng tôi ăn cùng nhau.

“Tại sao anh giúp?”

“Tôi nhớ chiếc xe đó.”

Tôi nhớ người đi ngang giả vờ không thấy.

Và một người dừng lại.

“Ông ấy làm gì?”

“Chủ quán ăn. Cho vợ tôi việc. Cho chúng tôi ăn.”

Ông mất 5 năm trước.

Tôi chưa kịp cảm ơn.

Cô nói:

“Vậy anh đang làm điều ông ấy đã làm.”

“Đúng.”

Cô nắm tay tôi.

“Một ngày nào đó tôi cũng sẽ làm vậy.”

“Tôi biết.”

Vì lòng tốt không phải để trả lại.

Mà để truyền tiếp.

Cho người tiếp theo ngủ trong xe.

Cho gia đình tiếp theo có túi quần áo bẩn.

Cho những đứa trẻ chưa ăn 20 tiếng.

Chúng ta gần hoàn cảnh đó hơn ta nghĩ.

Một lần bệnh.

Một lần mất việc.

Một lần xe hỏng.

Chỉ vậy thôi.

Và khi điều đó xảy ra…

Bạn chỉ mong có ai đó nhìn thấy bạn.

Thật sự nhìn.

Không phải như một vấn đề.

Mà như một con người.

Giờ tôi luôn để ý bãi xe.

Nếu thấy ai ngủ trong xe, tôi gõ cửa.

Không phải để đuổi.

Mà để hỏi:

“Bạn có cần giặt quần áo không?”

Theo Wild Whispers

My Lan Phạm


 

Ameneh mù hoàn toàn và phải trải qua 19 ca phẫu thuật tái tạo đầy đau đớn.

My Lan Pham

Năm 2004, Ameneh Bahrami là một cô gái trẻ tràn đầy sức sống sống ở Tehran, với cả thế giới rộng mở trước mắt.

Thế giới ấy chìm vào bóng tối hoàn toàn chỉ trong một khoảnh khắc kinh hoàng.

Sau khi cô lịch sự từ chối lời cầu hôn của một người bạn học là Majid Movahedi, hắn bắt đầu bám theo và quấy rối cô.

Một ngày trên đường đi làm về, hắn bước ra từ bóng tối và tạt thẳng một xô axit sulfuric vào mặt cô.

Hậu quả về thể xác là vô cùng thảm khốc.

Ameneh mù hoàn toàn và phải trải qua 19 ca phẫu thuật tái tạo đầy đau đớn.

Nhưng dù mất đi ánh sáng, ý chí của cô vẫn không hề bị khuất phục.

Cô không chỉ muốn hắn bị bỏ tù.

Cô muốn cả thế giới hiểu mức độ nghiêm trọng của tội ác ấy qua lăng kính của một nền công lý cổ xưa.

Luật báo ứng

Theo nguyên tắc pháp lý của Iran là qisas (luật báo ứng), pháp luật cho phép hình phạt kiểu “mắt đền mắt”.

Ameneh đã chiến đấu suốt nhiều năm trong một cuộc chiến pháp lý mang tính bước ngoặt, yêu cầu Majid phải chịu đúng số phận mà hắn đã gây ra cho cô.

Trong một quyết định khiến cộng đồng quốc tế chấn động, tòa án Iran đã chấp thuận.

Cô được trao quyền hợp pháp tự tay nhỏ axit vào mắt kẻ đã hủy hoại cuộc đời mình.

Khoảnh khắc của sự thật

Tháng 7 năm 2011, trong một bệnh viện ở Tehran, mọi thứ đã sẵn sàng.

Majid bị trói trên giường bệnh, khóc lóc và van xin lòng thương xót.

Axit đã được chuẩn bị.

Các bác sĩ đã vào vị trí.

Ameneh ,người phụ nữ đã sống trong bóng tối suốt bảy năm đứng trước mặt hắn với quyền năng có thể cướp đi ánh sáng của hắn mãi mãi.

Cả thế giới như nín thở.

Rồi…

cô dừng lại.

Với ống nhỏ giọt trong tay và quyền hợp pháp để hủy hoại hắn, Ameneh cất lời:

“Tôi tha thứ cho anh ta.”

Ngay ở giây cuối cùng, cô từ bỏ quyền báo ứng của mình.

Vì sao cô chọn lòng thương xót?

Lý do của Ameneh sâu sắc không kém nỗi đau mà cô từng chịu đựng.

Cô nói rằng mình không muốn một con người nào khác phải sống trong “bóng tối” mà mỗi ngày cô đang phải chịu.

Cô hiểu rằng luật pháp có thể trao cho cô sự trả thù.

Nhưng nó không thể trả lại ánh sáng cho đôi mắt cô.

Trong khi đó, sự tha thứ có thể trả lại cho cô sự bình yên trong tâm hồn.

Bằng việc chọn lòng nhân từ, Ameneh Bahrami đã đảo ngược hoàn toàn câu chuyện.

Từ một nạn nhân của tội ác tàn bạo, cô trở thành biểu tượng toàn cầu của sức mạnh đạo đức.

Cô chứng minh rằng sức mạnh lớn nhất không nằm ở khả năng gây đau đớn cho người khác.

Mà nằm ở lòng can đảm để chấm dứt vòng lặp của đau khổ ấy.

Mình thấy câu mạnh nhất của câu chuyện này là:

Luật pháp có thể cho ta sự trả thù, nhưng chỉ lòng tha thứ mới đem lại bình yên.

Đây thật sự là một kiểu sức mạnh rất hiếm:

đủ đau để trả thù, nhưng đủ mạnh để buông bỏ.

Theo True Story

My Lan Phạm


 

Niềm vui Phục sinh

Anmai CSsR

Niềm vui Phục sinh.

Vậy là đã qua ngày sinh nhật vui vẻ với nhiều lời chúc, hoa và quả. Tôi trở về với cuộc sống thường nhật. Hụt hẫng! Cố níu kéo cảm giác hạnh phúc hôm qua. Nhưng đành bất lực.

… Có một niềm vui bên cạnh tôi chẳng bao giờ tan biến nhưng tôi nào hay biết: Chúa của tôi phục sinh. Một niềm vui trọng đại, một ân điển lớn lao, cho bạn và cho tôi.

Bởi lẽ:

Tình yêu đã chiến thắng.

Sự thật đã lên ngôi.

Bạn và tôi hãy xóa bỏ hận thù, tranh chấp; hãy xa lánh mọi điều dối gian, để thế giới và nhân loại được phục sinh nơi Ngài.

Ước gì niềm vui của Đấng Phục Sinh tràn ngập hồn con, để con đem sinh khí cho người tuyệt vọng; đem nụ cười cho kẻ khóc than; làm tươi trẻ những tâm hồn héo úa; dọi ánh sáng vào nơi tối tăm; đem niềm vui và hạnh phúc đến mọi người; xây Thiên đàng ngay trần thế hôm nay


 

Kỷ niệm 14 năm ngày Website “Kẻ Đi Tìm” ra đời

Ngày 07 tháng 04 năm 2026, Website “Kẻ Đi Tìm” đã ra đời được 14 năm, một thời gian khá dài.

Tôi đã hết sức cố gắng duy trì Website này vì:

1)      Tôi thấy rất có ích cho nhiều người đang tìm hiểu về đạo Chúa, có nhiều bài vỡ, tài liệu để học hỏi thêm về đạo Chúa.

2)       Những ai muốn biết về tình hình trong nước, về cộng sản Việt Nam cũng có nhiều bài vỡ hữu ích để xem và suy tư

3)      Những ai chán nản, buồn rầu về cuộc sống, cũng có thể tìm thấy sự an ủi trong các bài viết của Website này.

4)      Riêng Ban Biên Tập của chúng tôi rất vui mừng và hạnh phúc vì lúc về hưu, chúng tôi có việc để làm và thấy đời sống có ý nghĩa, không vô ích, mà còn có thể đóng góp, đem “món ăn” tinh thần cho độc giả, cho bà con và cho các con cháu.

Ngày 07 tháng 04 năm 2026

  Ban Biên Tập

Website “Kẻ Đi Tìm”

SỰ THẬT KHÔNG BÁN, NGƯỜI TA VẪN MUA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy”.

“Con người làm điều xấu cách hăng say nhất khi họ tin mình đang làm điều đúng!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Lính đã thấy; nhưng không nói điều họ thấy. Họ nhận tiền; và nói theo điều được dạy. Ở đó, sự thật không bị chối bỏ; nhưng bị thay thế; và người ta có thể làm điều sai, mà vẫn tin mình đang làm điều đúng. ‘Sự thật không bán; người ta vẫn mua’.

Trong trình thuật Matthêu, chi tiết tưởng như phụ lại mang trọng lượng quyết định: “họ đã nhận tiền”. Động từ Hy Lạp elabon – “đã nhận” – không chỉ là một hành vi; nhưng là một chọn lựa. Từ đó, điều họ nói không còn xuất phát từ điều họ thấy; nhưng từ điều họ đã nhận. Thực tại không đổi; nhưng lời kể đã đổi. Vì thế, vấn đề không còn là biến cố; nhưng là cách biến cố được kể lại. Đó còn là câu chuyện của chúng ta; khi một điều mình nhận – một lợi ích, một số tiền, một hứa hẹn – quyết định điều mình nói và cách mình kể lại sự thật; thì sự thật, dù không phải để bán, đã bị mua.

Nhưng bản văn không dừng ở việc “nhận”; Matthêu nói rõ hơn: “và làm theo lời họ dạy”. Đây không còn là lời tự phát; nhưng là lời được sắp đặt. Câu chuyện ấy không đứng vững: nếu là cướp xác, sao mọi sự lại được xếp gọn gàng như Gioan đã thấy? Một lời kể có vẻ hợp lý; nhưng không hơn sự thật. Vậy mà, điều được dạy lại thắng điều được thấy. Vì thế, Matthêu thật tinh tế khi thêm một chi tiết lạnh lùng: “Câu chuyện ấy còn được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay”. Không phải vì nó đúng; nhưng vì nó được kể. Sự thật không cần được làm cho mạnh; chính việc bị bóp méo cho thấy nó mạnh đến mức nào. Và chúng ta cũng thường chọn tin như thế, khi sự thật đòi chúng ta phải trả giá quá đắt.

Và ở đây, một chi tiết làm lộ ra sự thật. Theo Đức Phanxicô, trong luật Do Thái, lời chứng của phụ nữ không có giá trị. Thế nhưng, chính họ lại là những người đầu tiên ra mộ và báo tin. Nếu câu chuyện này được dựng lên, người ta đã không kể như thế; không ai chọn những nhân chứng như vậy cho một câu chuyện cần được tin. Vậy mà các Tin Mừng vẫn giữ nguyên. Không phải vì nó đáng tin; nhưng vì nó thật.

Anh Chị em,

Đứng trước Đức Kitô, sự thật không còn là điều có thể bị định hướng; nhưng là một Đấng đang sống. Ngài không cần được bảo vệ bằng những câu chuyện “đáng tin”; vì chính Ngài là sự thật. Người ta có thể trả tiền cho lời nói; nhưng không thể mua được Đấng đã sống lại. Người ta có thể dựng nên một câu chuyện; nhưng không thể thay thế một biến cố. Và vì thế, điều quyết định không còn là điều được dạy; nhưng là Đấng chúng ta gặp. Không phải điều người ta nói; nhưng là Đấng đang sống. Và đứng trước Ngài, chúng ta không còn hỏi: điều này có đáng tin không; nhưng: tôi có dám tin không? “Phúc cho những ai không thấy mà tin!” – Gioan.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không chạy trốn sự thật; đừng đổi sự thật lấy điều có lợi; và xin cho con dám trả giá, khi sự thật trở nên quá đắt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Hãy về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 28,8-15

8 Khi ấy, các người phụ nữ vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.

9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : “Chào chị em !” Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.”

11 Các bà đang đi, thì có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. 12 Các thượng tế liền họp với các kỳ mục ; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, 13 và bảo : “Các anh hãy nói như thế này : Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. 14 Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự.” 15 Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do-thái cho đến ngày nay. 


 

Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng (1 Cr 14:15)-Cha Vương

Ha-lê-lui-a!!! Mừng hát lên, Chúa đã Sống Lại rồi! Nguyện xin niềm vui và ẩn sủng của Chúa Phục Sinh ở lại trong tâm hồn bạn và gia quyến hôm nay và mãi mãi nhé. Luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới trong hoàn cảnh này

Cha Vương

CN: 05/04/2026.  (n17-22)

TIN MỪNG: Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

SUY NIỆM: Ha-lê-lui-a!!! Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. (Tv 117:24) Mừng vui lên! Vì Chúa đã sống lại thật rồi. Thánh Phao-lô đã quả quyết rằng: Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. (1 Cr 14:15)

 Đây là điều làm cho đức tin Ki-tô Giáo trổi vượt trên các đạo khác. Không có gì tách bạn ra Tình Yêu của Thiên Chúa ngay cả sự chết. Nếu bạn tin vào Chúa thì bạn cũng tin vào sự sống lại của người. Sự chết của phận người nảy sinh một sự sống mới trong Đức Ki-tô. Cảm nhận được điều này, bạn có cảm thấy trong lòng ước ao đi công bố Tin Mừng Phục Sinh không? Hãy chỗi dậy hỡi những ai đang ngủ mê trong bóng tối của sự chết. Chúa đã sống lại rồi! Hãy vui lên! Ha-lê-lui-a!!!

LẮNG NGHE: Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, / không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. / Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi! (Tv 16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su phục sinh, thật là diễm phúc cho con khi được Chúa đến để cứu chuộc con và hứa ban cho con đời sống vĩnh cửu, xin cho con biết đáp đền cho cân xứng qua việc lành phúc đức và chân thành yêu thương nhau.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tinh Kính

From: Do Dzung

********************

Hoan Ca Phục Sinh | Lm Nguyễn Duy 

TÔI TẠ ƠN CHÚA . . .- G.S.Trần Duy Nhiên dịch

Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.(1)

 Tình cờ tìm được bài “ Tôi tạ ơn Chúa” , tôi thấy nhiều điều hữu ích, đáng suy gẫm, có thể đem áp dụng trong đời sống hàng ngày để tìm thấy niềm vui, hạnh phúc đơn sơ mà chúng ta nhiều khi không cảm nhận được. Có những chuyện nho nhỏ làm cho chúng ta bực mình, mất vui, mất bình an vì cái nhìn từ phía chúng ta, từ trong tấm lòng của chúng ta.. Các bạn thử đọc lại bài này và áp dụng thử xem sao?

 Tôi Tạ Ơn Chúa. . .

 Tôi tạ ơn Chúa vì chồng tôi cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ chàng đang ở ngay bên cạnh tôi, chứ không phải bên ai khác.

Tôi tạ ơn Chúa vì con tôi cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho tôi, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Tôi tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà tôi phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một công việc tốt để làm.

Tôi tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Tôi tạ ơn Chúa vì quần áo tôi bỗng trở lên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có đủ ăn,

Tôi tạ ơn Chúa vì cái bóng của tôi cứ nhìn tôi làm việc, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang sống tự do ngoài nắng.

Tôi tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, ma’ng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một mái nhà để cư ngụ.

Tôi tạ ơn Chúa vì tất cả những lời than phiền về chính phủ, bởi lẽ như thế nghĩa là chúng ta đang được tự do ngôn luận.

Tôi tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền cho hệ thống sưởi thật cao,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang được ấm áp.

Tôi tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau tôi trong nhà thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa tai tôi còn nghe được rất tinh tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có sức để làm việc nhiều.

Tôi tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi còn đi lại, hít thở và cười nói,  bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang còn sống.

và cuối cùng…

Tôi tạ ơn Chúa vì nhận quá nhiều thư từ gửi về,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến tôi…

Tôi gửi bài này để các bạn hiểu rằng :

“Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương, cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào!”

G.S.Trần Duy Nhiên dịch

 (1)   Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu .(1 TX 5 câu 18)

Đây là thơ thứ nhứt của thánh Phao lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca một thành phố lớn và là thủ phủ của  miền  Ma-kê-đô-ni-a .

Phung van Phung suu tam


 

Trước khi bước xuống xe, cô mỉm cười với ông

My Lan Pham

Vào buổi sáng ngày 11 tháng 3 năm 2011, Yasuo Takamatsu lái xe đưa vợ mình là Yuko đến nơi làm việc. Hôm đó trời có tuyết. Trước khi bước xuống xe, cô mỉm cười với ông.

Ông không hề biết rằng đó sẽ là lần cuối cùng ông được nhìn thấy gương mặt của vợ mình.

Đến 2 giờ 46 chiều, mặt đất rung chuyển.

Một trận động đất mạnh 9,0 độ richter mạnh nhất từng được ghi nhận trong lịch sử Nhật Bản xảy ra ngoài khơi vùng đông bắc. Mặt đất rung lắc suốt sáu phút dài đằng đẵng.

Ba mươi lăm phút sau, điện thoại ông rung lên.

Đó là Yuko.

“Anh có sao không? Em muốn về nhà.”

Ông lập tức gọi lại.

Không có ai trả lời.

Yuko cùng mười hai đồng nghiệp tại ngân hàng 77 Bank ở Onagawa đã chạy lên mái tòa nhà hai tầng khi cảnh báo sóng thần vang lên.

Thực ra có một ngọn đồi ,núi Horikiri chỉ cách đó khoảng một phút đi bộ. Nơi cao ráo. Quy tắc cơ bản để sống sót khi có sóng thần.

Nhưng lệnh sơ tán lại hướng họ lên mái nhà.

Một mái nhà hai tầng.

Không đủ cao.

Khoảng ba mươi phút sau khi họ trèo lên mái, con sóng ập tới.

Trong mười ba người trên mái nhà hôm đó, mười hai người thiệt mạng.

Tám người ,trong đó có Yuko bị cuốn trôi và không bao giờ được tìm thấy.

Cô khi ấy 47 tuổi.

Cô yêu nhạc cổ điển và thích vẽ màu nước.

Cô có một con trai và một con gái.

Yasuo đã yêu nụ cười của cô suốt hai mươi ba năm.

Vài tháng sau, một công nhân dọn dẹp tìm thấy một chiếc điện thoại gập màu hồng trong bãi đậu xe ngập nước của ngân hàng.

Đó là điện thoại của Yuko.

Khi Yasuo sạc pin lên, ông tìm thấy một tin nhắn nháp mà cô chưa kịp gửi.

Chỉ bốn chữ:

“Sóng thần nhiều quá.”

Dấu thời gian là 3 giờ 25 chiều.

Điều đó có nghĩa là trong những khoảnh khắc cuối cùng ấy, cô vẫn còn sống.

Nước đang dâng dần lên mái nhà.

Cô đã cố liên lạc với chồng lần cuối.

Nhưng tín hiệu đã mất trước khi tin nhắn được gửi đi.

Trong hai năm, Yasuo đi tìm Yuko trên đất liền.

Ông đi dọc mọi bãi biển.

Ông lần theo mọi bờ sông.

Ông tham gia các chiến dịch tìm kiếm chính thức.

Ông tự tay dọn dẹp đống đổ nát.

Nhưng ông không tìm thấy gì cả.

Đến tháng 9 năm 2013 khi đã 56 tuổi, và chưa từng một lần đeo mặt nạ lặn ,ông đưa ra một quyết định.

“Nếu cô ấy không ở trên đất, thì cô ấy ở dưới biển.”

Ông đăng ký học lặn biển.

Gia đình lo lắng.

Mọi người nói rằng tìm một người trong đại dương chẳng khác nào tìm một hạt cát giữa tất cả bãi biển trên thế giới.

Yasuo lặng lẽ lắng nghe.

Rồi ông lấy bằng lặn.

Và bước xuống nước.

Từ đó đến nay, ông chưa từng dừng lại.

Mỗi tuần suốt hơn mười ba năm, Yasuo lại lặn xuống vùng nước lạnh và tối ngoài khơi Onagawa.

Ông và người hướng dẫn lặn lưu giữ những tấm bản đồ chi tiết:

  • khu vực nào đã tìm
  • dòng chảy ra sao
  • nơi nào cần kiểm tra lại vì biển luôn dịch chuyển mọi thứ

Cho đến nay, ông đã thực hiện hơn 650 lần lặn.

Ông hiện đã 67 tuổi.

Biển cả đã bào mòn cơ thể ông.

Cái lạnh giờ khó chịu đựng hơn trước.

Mỗi lần lặn lấy đi ở ông nhiều sức lực hơn.

Nhưng ông vẫn đi.

Trong tất cả những lần lặn ấy, ông đã tìm thấy album ảnh, quần áo, và những mảnh vụn của cuộc đời người khác nằm rải rác dưới đáy biển ,những dấu tích lặng lẽ, đau lòng của gần 16.000 người thiệt mạng hôm đó, và 2.500 người giống như Yuko mãi mãi không được tìm thấy.

Riêng Yuko, ông vẫn chưa tìm thấy dấu vết nào.

Và thế nhưng…

“Tôi cảm thấy gần cô ấy nhất khi ở dưới biển,” ông nói.

“Giống như tôi đang đến thăm cô ấy vậy. Khi tôi tìm kiếm, tôi cảm giác cô ấy đang ở đâu đó rất gần.”

Ông không chỉ tìm một thi thể.

Ông đang giữ một lời hứa.

Chúng ta sống trong một thế giới luôn bảo người đang đau buồn rằng phải bước tiếp, phải chấp nhận, phải buông bỏ.

Yasuo Takamatsu lại đưa ra một câu trả lời khác.

Không phải cố chấp.

Không phải phủ nhận.

Mà là một điều lặng lẽ hơn, sâu sắc hơn rất nhiều.

Sự thủy chung.

Là quyết định rằng có những người đáng để ta bước vào bóng tối tìm kiếm dù mất bao lâu, dù nước có lạnh đến đâu, dù mọi xác suất đều chống lại mình.

“Tôi tin chắc cô ấy vẫn muốn trở về nhà,” ông nói.

“Và tôi sẽ đưa cô ấy về. Chừng nào cơ thể tôi còn cử động được, tôi vẫn sẽ đi tìm vợ mình.”

Vì thế, mỗi tuần ông lại mặc bộ đồ lặn.

Kiểm tra thiết bị.

Bước xuống khỏi thuyền.

Và đi tìm cô.

650 lần lặn. Một người đàn ông. Một lời hứa.

Ông vẫn đang tiếp tục tìm kiếm.

Câu chuyện này thật sự rất ám ảnh và đẹp theo một cách buồn đến lặng người.

Mình thấy đây không chỉ là tình yêu, mà còn là lòng thủy chung vượt qua cả thời gian, hy vọng và nỗi đau mất mát.

Theo True Story

My Lan Phạm


 

Phi công được giải cứu : Thành công hay thất bại của Trump ? (RFI)

(RFI)

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm nay, 05/04/2026, trên mạng xã hội Truth Social loan báo đã cứu thoát được viên phi công Mỹ bị mất tích tại Iran sau khi chiếc chiến đấu cơ F-15E bị hệ thống phòng không Iran bắn hạ hôm thứ Sáu, 03/04, trong một chiến dịch giải cứu mà ông đánh giá là « táo bạo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ ».

Đăng ngày: 05/04/2026 

 

Ảnh được cho là xác máy bay Mỹ trong chiến dịch giải cứu phi công bị lâm nạn trên lãnh thổ Iran. Ảnh do Lực lượng Vệ Binh Cách Mạng cung cấp và truyền thông Iran đăng tải ngày 05/04/2026. AFP – –

Minh Anh

Tổng thống Mỹ khẳng định viên phi công này đã bị thương, nhưng « sẽ phục hồi nhanh ». AFP nhắc lại, viên phi công được giải cứu là thành viên đội bay chiếc F-15E hai chỗ ngồi bị bắn rơi trên không phận Iran ; người còn lại trên máy bay đã được tìm thấy an toàn và bình an ngay từ khi chiếc máy bay gặp nạn hôm 03/04/2026.

Tuy nhiên, đối với Teheran, chiến dịch giải cứu này của Mỹ là một « thất bại thảm hại ». Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo đăng nhiều hình ảnh khẳng định đã bắn hạ nhiều máy bay chiến đấu của Mỹ trên không phận Iran. Lực lượng quân sự này còn cho biết thêm là quân đội Mỹ đã sử dụng một phi trường bỏ hoang ở Isfahan để giải cứu viên phi công.

Từ Teheran, thông tín viên Siavosh Ghazi giải thích :

« Iran gọi đây là một thất bại thảm hại cho chiến dịch giải cứu phi công Mỹ. Theo Teheran, một máy bay C-130 cũng như một trực thăng Black Hawk và hai chiếc drone hiện đại của Mỹ là Hermès và MQ9 đã bị bắn rơi trong chiến dịch này. Giao tranh trên bộ đã diễn ra, phía Iran cho biết có 9 người chết và 8 người khác bị thương.


 

MỘT HÔM NAY KHÁC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, cô Maria Mađalêna đi đến mộ”.

“Ngày của Chúa là ngày phục sinh!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Maria ra mộ từ sáng sớm. Nhưng không phải như mọi ngày. Cô mang theo một hôm qua. Một mất mát mà chúng ta cũng biết rõ. Và vì thế, cô không nhận ra – ‘một hôm nay khác!’.

“Sáng sớm, lúc trời còn tối”. Thời gian đã sang ngày thứ nhất, một ngày mới đã bắt đầu – dies nova – nhưng bóng tối vẫn còn đó. Gioan không vô tình đặt hai điều này cạnh nhau! Ánh sáng đã được ban, nhưng chưa được nhận ra. Cô thấy ngôi mộ trống, nhưng không hiểu. Cô đứng trong buổi sáng của một ngày mới, nhưng vẫn nhìn bằng ánh mắt của một đêm cũ. Ngày đã khác nhưng lòng cô chưa khác. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta; có ánh sáng, nhưng đêm vẫn còn. “Trong đêm tối của linh hồn, dòng sông của Thiên Chúa vẫn sáng chảy!” – Gioan Thánh Giá.

Maria thấy; nhưng vẫn ở trong đêm – cũng thế, nhiều khi chúng ta đã thấy, mà vẫn không thoát khỏi đêm. Cô thấy tảng đá đã lăn, ngôi mộ trống; nhưng cô không nhận ra điều đã thấy. “Thấy” không dẫn đến “hiểu”; nó chỉ dừng lại ở dấu vết; Maria vẫn đọc mọi sự theo logic của cái chết: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Cô bị giới hạn bởi một cách hiểu cũ – một cách hiểu được định hình bởi mất mát. Cũng vậy, chúng ta hiểu theo cách của nỗi đau mình mang. Và vì thế, dù đứng ngay trong bình minh của một ngày mới – như Maria – chúng ta vẫn ở lại trong thế giới của ngày hôm qua, nơi mọi sự đã khép lại quá sớm.

May thay, Maria quay lại; và lần này, cô không còn đứng yên. Cô chạy đi tìm Phêrô và người môn đệ kia; cô nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Từ đó, mọi sự bắt đầu chuyển động; không còn đứng yên; không còn khép kín. Phêrô và người môn đệ kia cũng chạy, cũng tìm; họ cùng bước vào trong dấu vết của một điều chưa hiểu. Việc nhận ra không dừng lại nơi một mình Maria; nhưng lan ra, kéo người khác vào cuộc tìm kiếm. Và rồi đây, tại nhà Cornêliô, Phêrô sẽ đứng lên mà nói – bài đọc một. Điều được thấy không còn giữ lại cho riêng mình; nhưng trở thành lời công bố. Mộ trống không mở ra để Đấng Phục Sinh bước ra; nhưng để con người nhận ra. Không đóng kín; nhưng khai mở sứ vụ.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngày không còn là một ý niệm; nhưng là một con đường, một hành trình. Với Ngài, mỗi ngày với Cha luôn là ngày mới; một ngày sinh ra từ tương quan, không từ những gì đã qua. “Đây là ngày Chúa đã làm ra” – Thánh Vịnh đáp ca; ngày của thập giá, cũng là ngày của phục sinh. Ngày mà chúng ta không còn tìm những gì thuộc hạ giới; nhưng hướng lòng về thượng giới – bài đọc hai. Không còn sống từ những điều đã qua; nhưng từ Đấng đang sống. Không còn ở trong cái chết; nhưng trong sự sống – một sự sống không còn bị quá khứ định nghĩa. ‘Một hôm nay khác’ bắt đầu – không từ những gì chúng ta giữ lấy, nhưng từ những gì chúng ta dám trao ban.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gọi tên con giữa đêm không hiểu; cho con nhận ra một hôm nay khác; xin đưa con đi, khỏi nơi con muốn nán lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 20,1-9

1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. 


 

Chúa Khước Từ Những Ai Gieo Rắc Chiến Tranh: Đức Giáo Hoàng Leo XIV Lên Án Những Bàn Tay Vấy Máu

Viet Ba’o

03/04/2026

Nguyên Hòa

Giáo hoàng Leo XIV chào tín hữu từ xe giáo hoàng khi tiến vào Quảng trường Thánh Phêrô để cử hành thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Vatican, ngày 29 tháng 3 năm 2026. Ảnh: Grzegorz Galazka/Archivio Grzegorz Galazka/Mondadori Portfolio via Getty Images.

 Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.”

Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những cuộc xung đột dữ dội, ngôn ngữ chính trị trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.

Hai ngày sau Lễ Lá, vào ngày 31 tháng 3, trả lời báo chí tại Castel Gandolfo, Đức Giáo Hoàng lại nhắc trực tiếp đến Donald Trump. Ngài nói hy vọng Tổng thống Mỹ đang tìm một “lối thoát” để giảm bớt bom đạn, hạ nhiệt chiến tranh và mở đường cho đối thoại. Ngài cũng kêu gọi lãnh đạo thế giới trở lại bàn đối thoại, tìm cách giảm bớt bạo lực, để “bình an, nhất là trong mùa Phục Sinh, có thể ngự trị trong tâm hồn chúng ta.” Ngài nói, như một lời nhấn mạnh rằng hòa bình không đến từ việc đẩy xung đột tới cực điểm, mà từ khả năng dừng lại trước khi quá muộn.

Trong khi ấy Washington lại phát ra một giọng điệu khác hẳn. Chính quyền Trump gia tăng áp lực với Iran, đưa ra những lời đe dọa nhắm vào hạ tầng điện, nước và năng lượng. Họ có thể gọi đó là chiến lược. Nhưng khi mục tiêu bị đẩy sát đến những điều kiện sống còn tối thiểu của dân thường, vấn đề không còn chỉ là đối sách giao tranh, nó trở thành một câu hỏi về giới hạn đạo lý.

Sự đối nghịch càng rõ hơn khi Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, trong buổi lễ cầu nguyện tại Bạch Ốc hôm 25 tháng 3 đã lên tiếng cầu nguyện cho “bạo lực áp đảo” đối với những kẻ mà ông tự cho là “không đáng được thương xót”. Cũng là ngôn ngữ của niềm tin, nhưng một bên đặt niềm tin vào lòng thương xót, bên kia đặt nó cạnh sức mạnh hủy diệt.

Ngôn ngữ bao giờ cũng đi trước hành động, vì thế điều quan trọng của giờ phút này không phải chỉ là chiến tranh, mà là cách người ta nói về nó.

Trump tuyên bố sẽ “xóa sổ” hệ thống năng lượng, điện lực và nước uống của Iran nếu Tehran không nhượng bộ. Người ủng hộ ông có thể xem đó là đòn răn đe mạnh tay. Nhưng với bất cứ ai còn giữ một ý niệm tối thiểu về luật chiến tranh, đây là lời đe dọa chạm đến phần sống còn của xã hội dân sự, nơi có mạng sống của gia đình, người già và trẻ em.

Khi biến những điều kiện sống căn bản để con người tồn tại trở thành áp lực chính trị, chuyện không còn đơn thuần giữa hai nhà nước. Nước uống không phải là một công cụ thương lượng. Điện lực không phải là một con bài chiến thuật. Chúng là nền tảng để con người sống còn, và luật nhân đạo quốc tế từ lâu đã nhìn chúng như những hạ tầng phải được bảo vệ đặc biệt.

Chính quyền Trump lâu nay vẫn có tài đổi tên sự việc. Phá hủy được gọi là răn đe. Ép buộc được gọi là đòn bẩy. Làm dân thường khốn đốn được gọi là tạo ưu thế trên bàn thương lượng. Nhưng đổi tên không có nghĩa đổi được bản chất. Một chính quyền sẵn sàng đẩy thường dân tới chỗ không nước, không điện, không lối sống còn thì đã sẵn sàng vượt rào những chuẩn mực nhân đạo căn bản.

Ở điểm này, tiếng nói của Đức Leo XIV trở nên quan trọng, vì giữa lúc rất nhiều người nói như thể sức mạnh là thứ luật duy nhất còn lại, ngài nhắc rằng vẫn có những giới hạn luân lý không được bước qua.

Đức Leo XIV là vị giáo hoàng người Mỹ đầu tiên, sinh tại Chicago, nhưng đời mục vụ của ngài lại gắn với những vùng nghèo, những nơi bấp bênh, những cộng đồng sống trong sợ hãi và dịch chuyển. Khi ngài lên tiếng về chiến tranh hay di dân, ngài không nói bằng tiếng nói của người đứng xa nhìn vào.nói của, mà nói bằng tiếng nói của một người hiểu thế nào là thân phận bị dồn ép.

Vì thế, lập trường của ngài về di dân cũng nhất quán với lập trường về chiến tranh. Ngài nhiều lần kêu gọi phải đối xử nhân đạo với người di dân, nhắc rằng họ không phải là gánh nặng, càng không phải là những con số vô cảm, trong khi chính quyền Trump tiếp tục đẩy mạnh bắt bớ, trục xuất và siết chặt di trú bằng một thứ không khí chính trị đặt nỗi sợ lên trên phẩm giá con người.

Trong bài giảng Lễ Lá, Đức Leo XIV nói: “Hãy đặt vũ khí xuống. Hãy nhớ rằng anh chị em là anh chị em với nhau.” Câu ấy nghe tưởng đơn sơ. Nhưng giữa thời buổi này, nói được như thế đã là đi ngược dòng. Bởi lẽ chính trị hiện thời, ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ không xây trên ý niệm con người là anh em với nhau, mà cho rằng người khác mình là mối đe dọa, là vật cản phải dẹp bỏ.

Trong hồ sơ Iran, điều đó hiện ra rất rõ. Từ đầu cuộc chiến, quân đội Mỹ nhắm chủ yếu vào các mục tiêu quân sự và chương trình hạt nhân. Nhưng khi lời đe dọa mở rộng sang cả hệ thống nước và năng lượng, thì giới hạn giữa mục tiêu quân sự và hạ tầng dân sự trở nên mong manh, nguy hiểm. Chính ở chỗ ấy, thế giới cần nghe lại những tiếng nói nhắc nhở không phải cái gì có thể làm thì cũng được phép làm.

Đức giáo hoàng còn nói mạnh hơn nữa: “Chúa không nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, mà khước từ họ; vì tay họ vấy máu.” Câu nói này không bàn chiến thuật. Cũng không đứng về một phía quân sự nào. Nó chỉ đặt ra một sự thật xưa cũ mà thời đại hôm nay cố quên: không phải mọi sức mạnh đều chính đáng chỉ vì nó mạnh.

Vatican, trong giờ phút này, đang làm điều mà rất ít trung tâm quyền lực còn muốn làm: nói về lương tri. Nhưng không nói như một chính quyền, không nói như một bộ tham mưu, mà như một hồi chuông cảnh tỉnh. Dù giữa chiến tranh, vẫn có những điều không thể mặc cả: nước uống, bệnh viện, trường học, và phẩm giá của những người trong tay không có súng.

Ngay cả những cử chỉ biểu tượng của Đức Leo XIV cũng mang cùng một ý nghĩa. Việc ngài không sang Hoa Kỳ trong năm nay, dù đã được mời, mà chọn Lampedusa vào ngày 4 tháng Bảy là một quyết định có sức nặng. Lampedusa là nơi người tị nạn trôi dạt tới, là bờ chạm đầu tiên của những kiếp người bị xua đẩy khỏi quê hương. Chọn nơi ấy vào đúng ngày Hoa Kỳ đánh dấu 250 năm lập quốc là một cách nhắc nhở rõ ràng rằng nước Mỹ được dựng nên từ người di dân – câu hỏi là nước Mỹ hôm nay còn nhớ điều đó hay không.

Sau cùng, điều Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói không chỉ dành cho người Công giáo, mà dành cho bất cứ ai còn tin rằng quyền lực cần phải giới hạn. Một quốc gia có thể mạnh. Một lãnh tụ có thể cứng rắn. Nhưng nếu sức mạnh ấy không còn biết sợ điều sai, nếu sự cứng rắn ấy biến thành thói quen của tàn nhẫn, thì phần thua thiệt đầu tiên không chỉ là đối phương, mà chính là phẩm giá của con người.

Trump có thể tin rằng đe dọa là con đường ngắn nhất để buộc đối phương lùi bước. Có thể, trong một khoảnh khắc nào đó, nó đem lại kết quả. Nhưng lịch sử không chỉ nhớ ai thắng trong một cuộc mặc cả, mà sẽ nhớ ai đã sẵn sàng đẩy cả một dân tộc đến bờ vực không nước, không điện, không hy vọng, chỉ để đổi lấy một lợi thế trên bàn thương lượng.

Lời của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Chúa Nhật Lễ Lá sau cùng không chỉ là một lời giảng lễ. Đó là lời nhắc rằng chiến tranh không bao giờ chỉ được đo bằng thắng bại. Nó còn phải được đo bằng những gì con người chấp nhận làm, và những gì con người từ chối làm, dù đang nắm trong tay quyền lực lớn đến đâu.

Và thế giới này, nếu còn giữ được bao nhiêu lòng tin vào điều thiện, cũng tùy ở việc con người còn nghe được bao nhiêu từ lời giảng của ngài trong Chúa Nhật Lễ Lá vừa qua:

“Anh chị em thân mến, đây là Thiên Chúa của chúng ta: Đức Giêsu, Vua Hòa Bình, Đấng khước từ chiến tranh, Đấng mà không ai có thể lợi dụng để biện minh cho chiến tranh. Người không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, nhưng loại bỏ chúng và nói: ‘Cho dù các ngươi có cầu nguyện nhiều, Ta cũng chẳng nghe: tay các ngươi vấy máu’ (Is 1:15).”

(Đức Giáo hoàng Leo XIV, Chúa nhật Lễ Lá).

Nguyên Hòa