Nỗi đau của tuổi già-Huy Phương

Huy Phương

Ở đây, chúng Ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường… nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này rồi. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm.

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”. Cũng lại câu chuyện của một người già…

Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường LOS mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có pass- port của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.

Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng.

Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi.

Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off.

Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời.

Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng.

Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi:

-“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”

Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:

-“Bả ấy đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ.

Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm

Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không biết tiếng Anh, bà sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.

Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”.

Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Huy Phương

From: Nguyen NThu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đồng Tâm nhìn từ Rạch Gốc

Tưởng Năng Tiến

Báo Đàn Chim Việt

11/01/2023


____________________________________________________________________________________________________

Dù cũng đọc được lõm bõm một hai ngoại ngữ, tôi rất ít khi rớ tới một tờ báo hay một cuốn sách viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Lý do, chả phải là vì tôi có máu bài ngoại hoặc dị ứng với văn hoá thực dân (hay đế quốc) gì ráo trọi mà chỉ tôi chỉ thạo tiếng mẹ đẻ hơn nên rất ngại “đụng” đến tiếng nước ngoài.

Những người cầm bút của nước Việt tuy viết dở hơi nhiều nhưng viết hay cũng đâu có ít. Đọc họ sướng muốn chết, và đọc mệt luôn cũng chưa hết chữ nên bận tâm làm chi đến những tác giả ở tận đâu đâu.

Cả ngày hôm nay tôi xem say mê bút ký Đồng Bằng của nhà văn Nguyên Ngọc. Ông viết như nói vậy đó: lưu loát, tươi cười, bình dị nhưng thâm trầm và lôi cuốn. Thản hoặc, cũng có đôi đoạn hơi cường điệu (hay nói nguyên văn theo cách dùng từ của chính ông là “gồng lên”) nhưng rất ít. Tôi xin phép sẽ đề cập đến sau, khi có dịp.

Riêng hôm nay, xin mời mọi người xem chơi đôi ba đoạn ngắn, Nguyên Ngọc viết về chuyến đi của ông đến miền đất cực Nam của quê hương (Cà Mau) nơi mà T.B.T Lê Duẩn đã từng nương náu.

Khi ghe cặp bờ, tác giả cùng bạn đồng hành được ông Hai Phốc – Chủ Tịch Xã – đón tiếp vô cùng nồng nhiệt. Hai người, nhân dịp này, cũng tìm biết thêm được không ít chuyện thú vị về cuộc khởi nghĩa ở Hòn Khoai (Rạch Gốc) hồi năm 1940:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo, về sau Hai Phốc kể với tôi, mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay. Có người bỏ mạng ở Côn Đảo, như cha anh Hai Phốc, còn sống trở về đâu không được mươi người, nay chỉ còn mỗi ông Hắc Hổ.”

Thất bại là mẹ thành công nên sau nhiều lần “khởi nghĩa” bất thành – chung cuộc – cách mạng cũng đã “giải phóng” được cả hai miền Nam/Bắc, thống nhất giang sơn. Sau đó, bác Lê say sưa với chiến thắng nên không có dịp trở lại chốn xưa để thăm lại các ngư dân đã nuôi dưỡng ̣(và bảo vệ) mình nhờ vào “vô số kênh rạch chi chít và bí hiểm” ở Cà Mau.

Bác Tôn, xem ra, nhàn nhã hơn thấy rõ:

“Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân. Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm.” (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày. Văn Nghệ. Westminster, CA: 1997).

Tuy rất rảnh “nhưng ông thợ máy ngày trước” chỉ tìm vui trong việc sửa xe (đạp) để giết thời giờ, từ năm này sang năm khác, chứ cũng chưa lần nào ghé qua Rạch Gốc để thăm hỏi những kẻ đã chịu đòn thay cho mình ngoài ở Côn Đảo – năm nào.

Bác Bằng cũng xử xự y như thế:

“Khi Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La ông được một thanh niên người Thái trắng dẫn đường. Đưa ông đi khỏi địa phận Sơn La xong, trở về nhà anh bị Pháp bắt đem chặt đầu.

Tôi đã tới bản Giảng, cách nhà tù Sơn La vài cây số, vào mùa thu năm 1965, để thăm gia đình anh thanh niên nọ. Trong ngôi nhà sàn xiêu vẹo chỉ còn lại bà mẹ anh, một bà lão lẩm cẩm, điếc lác, hỏi năm câu mới trả lời được một, câu trả lời lại chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Bác Cả Hà Đông của tôi chưa một lần trở lại bản Giảng để thăm hỏi bà lão tội nghiệp. Rõ ràng, ông là, hoặc đã trở thành, người không có ân nghĩa. (Vũ T. H. s.đ.d. tr. 314).

Đ…  mẹ nhân tình đã biết rồi!Lạt như nước ốc bạc như vôi.     

Ấy thế nhưng nói cho nó hết lẽ thì Bác Tôn và bác Bằng vẫn còn chút (nhất điểm) lương tâm. Cả hai chỉ bạc thôi chứ không đến nỗi ác. Bác Hồ thì khác. Bạc bẽo, độc ác, gian trá, thâm hiểm … và không hề từ bất cứ một thủ đoạn đê tiện hay bất nhân nào.

Mụ địa chủ Cát-hanh Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã: 

– Giết chết 14 nông dân. Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

 – Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người

– Năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là: Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng, Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!

(21-7-1953) C.B

C.B là một trong những bút danh của Hồ Chí Minh.  Còn Cát Hanh Long là ai?

Theo Wikipedia: “Nguyễn Thị Năm (1906 – 9 tháng 7 năm 1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội), là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.”

Người trong cuộc cho biết thêm chi tiết:

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van ‘các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh’. Du kích quát: ‘Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!’ Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất…

Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: ‘Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

So với bản Giảng (Sơn La) hay Rạch Gốc (Cà Mau) thì Đồng Tâm (Hà Nội) chả là cái đinh gì sất cả. Bản thân ông Nguyễn Đình Kình cũng thế, cũng chả có thành tích gì đáng kể, chưa giúp được một đồng chí lãnh đạo nào vượt ngục, cũng chả chịu đòn thay cho bất cứ ai.

Đã thế, về đường lối chính sách thì Lê Đình Kình lại rất mù mờ. Năm mươi tám tuổi đảng mà chủ trương xuyên suốt (đất đai thuộc quyền quản lý của nhà nước) ông vẫn không thông. Do đó, thay vì bị khai trừ, ông bị khử trừ luôn không phải là chuyện lạ.

Tôi chỉ lạ ở cái thái độ phẫn uất của nhà văn Nguyên Ngọc, khi nghe ông gào thét: “Vụ án Đồng Tâm là một tội ác trời không dung đất không tha.”

Chứ chả lẽ cái chết thảm thiết của bà Cát Hanh Long và của hàng bao nhiêu triệu lương dân khác nữa (ở khắp ba miền đất nước, từ hơn nửa thế kỷ nay) thì đất/trời có thể dung tha được hay sao?

Vụ nữ sinh HUFLIT: Cần minh bạch thông tin thay vì đòi xử lý người đưa tin!

Đài Á Châu Tự Do

Luật sư Lê Nguyễn Duy Hậu, nhà nghiên cứu luật và chính sách tại TPHCM viết trên Facebook cá nhân có hơn 30.000 người theo dõi rằng, hai đoạn clip không rõ ràng có thể là mồi lửa, “nhưng thứ làm bùng lên ngọn lửa phẫn nộ đến mức không cần suy nghĩ nữa chắc chắn là lời đe doạ dùng Luật Anima (Luật An ninh mạng – PV) để xử lý những ai dám phao tin của trường quân sự.

Sau đó thì ngọn lửa càng được thổi bùng lên khi một thế lực nào đó tìm cách chữa cháy bằng việc đổ thêm dầu kiểm duyệt, xoá bài… vào.

Những người làm truyền thông cho trường quân sự đã bỏ qua cơ hội bằng vàng để minh bạch, đàng hoàng nói cho dư luận rằng họ không bao che cho ai. Thay vào đó, họ tìm cách giữ thể diện.”

Theo thạc sỹ luật học từ Đại học Pennsylvania, Mỹ (theo học bổng Fulbright), thay vì sẵn sàng đối mặt với bức xúc của dư luận bằng sự đối thoại, những người liên quan chọn cách bịt miệng vụ việc vì “minh bạch không phải là thứ đầu tiên họ nghĩ đến.”

#RFAVietnamese #HUFLIT #hiepdam #quankhu7

RFA.ORG

Vụ nữ sinh HUFLIT: Cần minh bạch thông tin thay vì đòi xử lý người đưa tin!

Youtuber Mỹ lần đầu lái xe VinFast VF8: “Tôi ước mình đã không lái nó!”.

RFA Tiếng Việt

Bắt đầu từ đâu đây, tôi đã đi vào chạy thử xe với một tinh thần rất cởi mở. Như bạn có thể thấy, có rất nhiều điều thú vị về chiếc xe khi nó ở trạng thái tĩnh. Nơi nó thực sự sụp đổ là khi bạn bắt đầu lái xe!

    • Tiếng bíp và boong boong hoạt động quá mức và không ngừng ngay cả khi không có dữ kiện số kích hoạt, không có cách nào để vô hiệu hóa lệnh thoại phát ra liên tục.
    • Hệ thống nhún chắc chắn ở những khu vực gồ ghề nhưng cần phải êm ái hơn và tạo thoải mái hơn trong điều kiện đường phẳng bình thường.
    • KHÔNG CÓ CÁCH NÀO xe có 400 mã lực và sức mạnh không ổn định.
    • Tiếng ồn trên đường cao tốc gần như không thể chịu đựng nổi .
    • Hệ thống định tâm làn đường / kiểm soát hành trình không hoạt động …
    • Điểm tích cực của xe: chốt cửa rất tuyệt, phần mềm có thể được cập nhật (cần được cập nhật), kiểu dáng đẹp.
    • Phạm vi chạy trong một lần xạc bình, EPA 179mi cho thấy cực kỳ kém hiệu quả, tuy nhiên tôi nghe nói một thử nghiệm mới sẽ tăng nó lên con số khủng, 292mi.

Nghiêm túc mà nói, nếu VinFast đầu tư một nửa số tiền vào kỹ thuật thay vì tiếp thị điên cuồng như họ đang làm, họ có thể có một sản phẩm đáng mơ ước.

Kyle Conner

Nếu bí tích được người không xứng đáng cử hành, bí tích có mất đi hiệu quả không?-Cha Vương

Ai có con CỌP đang ở trong nhà thì chuẩn bị gọi Ubờ đi nhé. Chúc một ngày vui tươi trong Chúa để dọn tâm hồn đón xuân Quý Mão.

Cha Vương

Thứ 5: 12/01/2023

GIÁO LÝ: Nếu bí tích được người không xứng đáng cử hành, bí tích có mất đi hiệu quả không? Không. Các bí tích có hiệu quả khi hành động được hoàn tất, nghĩa là hiệu quả của bí tích không tùy vào bản thân người làm, vì chính Chúa Kitô hoạt động trong các bí tích. Tuy nhiên các bí tích chỉ có hiệu quả khi người làm có ý muốn làm như Hội thánh làm. (YouCat, số 178)

SUY NIỆM: – Những ai cử hành các Bí tích phải sống đời sống gương mẫu. Các bí tích có tác động không phải do sự thánh thiện của người cử hành nhưng do chính Chúa Kitô hoạt động trong họ. Tuy nhiên, Người vẫn tôn trọng tự do cả ta khi ta lãnh nhận bí tích. Vì thế các bí tích chỉ tác động một cách tích cực nếu ta cộng tác với Chúa Kitô. (YouCat, số 178 t.t.)

❦ Để chuẩn bị đón nhận bí tích Thánh Thể cách xứng đáng, các tín hữu phải giữ chay theo qui định của Hội Thánh (x. CIC khoản 919). Thái độ bên ngoài (cử chỉ, cách ăn mặc) phải biểu lộ lòng tôn kính, sự trang trọng và niềm vui của giây phút được Chúa ngự đến trong tâm hồn. (SGLGHCG số 1387)

LẮNG NGHE: Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. (1 Cr 11:26-27)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Con Thiên Chúa, hôm nay xin cho con được hiệp thông vào bàn tiệc huyền nhiệm của Chúa. Con không nói cho kẻ thù điều kín nhiệm của Chúa, con cũng không trao cho Chúa cái hôn của Giu-đa. Nhưng như tên trộm lành, con kêu xin Chúa: Lạy Chúa, khi vào Nước Ngài xin nhớ đến con”. (Thánh Gio-an Kim Khẩu)

THỰC HÀNH: Thái độ của bạn khi đi dự tiệc huyền nhiệm của Chúa thế nào? Chỉnh đốn lại một tí để đón nhận bí tích Thánh Thể cách xứng đáng nhé.

From: Đỗ Dzũng

 ĐẤNG THIÊN CHÚA TUYỂN CHỌN – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Chúng ta đã bước vào mùa Thường niên, cũng gọi là mùa Quanh năm.  Chúa nhật đầu của mùa Thường niên này, Phụng vụ giới thiệu với chúng ta dung mạo Chúa Giêsu ở nhiều khía cạnh rất phong phú.  Việc giới thiệu này giúp chúng ta hiểu biết Chúa Giêsu và nhờ đó, chúng ta kiên tâm trung tín trong ơn gọi đi theo Người.

Chúa Giêsu là Ánh sáng muôn dân.  Bài đọc I trích sách ngôn sứ Isaia, ở chương 49, còn được gọi là “ngôn sứ Isaia đệ nhị.”  Phần này cũng được gọi là “Sách an ủi” đối với người Do Thái đang sống trong cảnh lưu đày.  Vị ngôn sứ góp phần nuôi dưỡng đức tin của người lưu đày, hướng tâm hồn họ về lời hứa của Chúa trong tương lai.  Chúa sẽ can thiệp và giải phóng dân riêng của Ngài.  Những lời của vị ngôn sứ vừa nói với dân tộc Israel, vừa như với một cá nhân.  Nhân vật ngôn sứ loan báo Đấng Thiên sai sẽ đến trong tương lai.  Thiên Chúa sẽ đặt Người làm ánh sáng muôn dân, để chiếu soi mọi dân nước.  Đấng Thiên sai cũng là Đấng Cứu độ nhân loại.  Người sẽ làm cho tình thương của Chúa dạt dào như nước đại dương, và quy tụ muôn dân thành gia đình của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa.  Những gì ngôn sứ Isaia loan báo, theo nhãn quan Kitô giáo, đã được thực hiện cách viên mãn nơi Đức Giêsu.  Ông Gioan Tẩy giả xuất hiện và tiếp nối giáo huấn của các ngôn sứ thuở xưa.  Ông giới thiệu Đức Giêsu với các môn đệ của mình.  Tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” gợi lại cho người Do Thái việc Thiên Chúa giải phóng dân tộc họ.  Tước hiệu này cũng tiên báo cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.  Máu Người sẽ đổ ra, như máu chiên vượt qua, nhờ đó nhân loại được cứu thoát khỏi án phạt muôn đời.

Chúa Giêsu là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn.  Đây là lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả.  Đây cũng là lời chứng của ngôn sứ Isaia.  Khái niệm “Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn” cũng giống như “Đấng được Thiên Chúa sai đi”, hay “Đấng Thiên sai.”  Trong Tin Mừng, nhiều lần Đức Giêsu khẳng định Người được Chúa Cha sai đến trần gian.  Việc tuyển chọn này được chính Chúa Cha xác nhận, khi Đức Giêsu được ông Gioan thanh tẩy trong dòng sông Giordan.  Việc Chúa Cha sai Con của Ngài đến trần gian là bằng chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, như lời Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).  Như thế, sứ mạng của Chúa Giêsu là đến trần gian để quảng diễn tình yêu của Chúa Cha, đồng thời mời gọi mọi người nhận ra tình yêu ấy để sống tốt, đền đáp tình yêu thương của Chúa Cha.

Chúa Giêsu là Chúa của muôn người.  Thánh Phaolô đã khẳng định điều này trong thư gửi giáo dân Corintô (Bài đọc II).  Những ai tin vào Người sẽ được hiến thánh nhờ bí tích Thanh Tẩy.  Đây là huyền nhiệm của tình thương, do quyền năng của Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người và muốn cho mọi người được cứu rỗi.  Như thế, người tín hữu được vinh dự lớn lao nhờ tin vào Chúa Giêsu.

Được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu trong bí tích Thanh Tẩy, người tín hữu cũng trở nên những “người được Chúa Cha tuyển chọn.”  Ơn gọi và bổn phận của người tín hữu là giới thiệu Chúa Giêsu với mọi người, đồng thời phản ánh hình ảnh của Người qua chính cuộc đời thánh thiện công chính của mình, để rồi trong lời nói, tư tưởng cũng như việc làm, đều làm cho hình ảnh của Đức Giêsu hiển hiện.  Đó cũng là sứ mạng làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hôm nay.

Trong những ngày này, chúng ta đang chuẩn bị đón xuân Quý Mão.  Năm cùng tháng tận là dịp chúng ta suy nghĩ về quỹ thời gian Chúa ban cho chúng ta.  Thời gian là vốn quý giá, mỗi người phải sử dụng nó một cách hữu ích cho bản thân và cho xã hội.  Đầu xuân là dịp chúng ta dâng lên Chúa những ước nguyện tốt lành.  Xin Ngài soi sáng và giúp chúng ta thực hiện được những dự tính trong năm mới.  Xin Chúa chúc lành và ban ơn bình an cho chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 From: Langthangchieutim

BÀI HỌC KHIÊM NHƯỜNG

Rung Nga Nguyen

Thấm thoát Lễ Giáng sinh 2022 một chuỗi nguồn ơn phúc và mùa Giáng sinh đã kết thúc. Có bao giờ tự hỏi tôi đã trải qua bao nhiêu mùa Giáng sinh? Cái gì đã để lại trong tâm hồn trong trái tim tôi khi mùa Giáng sinh kết thúc và tôi đã rút ra được bài học gì sau mỗi mùa Giáng sinh? Hay chỉ biết nghĩ tới mùa Giáng sinh là mùa của mua sắm và những buổi tiệc tùng mà quên đi những bài học khiêm nhường nơi Đấng Cưú Thế giáng trần.

* Đức Giêsu là con Thiên Chúa nhưng Ngài không chọn sinh ra nơi cung vàng điện ngọc, nơi quyền quý cao sang mà lại khiêm nhường sinh ra nơi máng cỏ nghèo hèn!

* Chúa Giêsu không tội lỗi gì nhưng vẫn khiêm nhường đến xin Thánh Gioan được chịu phép rửa như những người tội lỗi khác. Ngài đã thanh tẩy tội lỗi chúng ta để chúng ta xứng đáng là con Thiên Chúa. Lễ kính Chúa Giêsu chịu phép rửa cũng là ngày kết thúc mùa Giáng sinh năm nay ngày 09-01-2023.

* Thiên Chúa dựng lên trời đất muôn vật Ngài làm phép lạ cho 5000 người ăn một lúc, nhưng Ngài khiêm nhường chấp nhận lao động bình thường bằng nghề vất vả chân tay là làm thợ mộc để nuôi sống bản thân.

* Ngài là thầy dậy là Chúa nhưng sẵn sàng khiêm nhường quì xuống để rửa chân cho các môn đệ.

* Sau cùng Ngài đã khiêm nhường chết trên thập giá cùng các phạm nhân như một tội phạm để cứu chuộc nhân loại. Đấng đã hạ mình xuống mức thấp nhất để nâng chúng ta lên.

Đối nghịch với Khiêm nhường là kiêu ngạo được trình thuật trong dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế. Sau khi họ cầu nguyện Chúa Giêsu tuyên bố: “Người thu thuế đã được tha tội, còn người Pha-ri-sêu thì không”. Rồi Ngài kết luận: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14).

Thánh Phêrô cũng khuyên: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5:5). Khiêm nhường là nhân đức tối quan trọng, vì đó là nhân đức nền tảng. Trong Kinh Thánh nói tới đức khiêm nhường khoảng 200 lần. Người khiêm nhường không bao giờ nói xấu người khác khi vắng mặt, vì sẽ bị những người nghe mình nói đánh gía thấp về con người của chính mình, họ nghĩ rằng khi họ vắng mặt cũng sẽ là nạn nhân của mình như vậy!

Khiêm nhường không khoe khoang tự cao tự đại vì “Tự cao tự đại là tự sát”, nhưng dùng ưu thế của mình để phục vụ cho mục đích cao thượng mà mình đã theo đuổi, khiêm nhường học hỏi được mọi thứ từ bất kỳ ai, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào và chỉ nhận những lời khen thành thật, không nịnh bợ. Vua Salomon con người khôn ngoan và thông thái, đã nói: “Sự kiêu hãnh đi liền với ô nhục, còn khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường” (Cn 11:2).

Con người dễ ảo tưởng và tự mãn, ma quỉ thì mưu mô và xảo quyệt, nó muốn giành lấy linh hồn của ta nên dùng sự kiêu ngạo để gài bẫy, như đã gài bẫy bà Evà. Thánh Augustinô nhận xét: “Kiêu ngạo biến Thiên Thần thành ma quỉ, và khiêm nhường biến con người thành Thiên Thần”.

Thi hào Nguyễn Du đã khuyến cáo: “Chữ TÀI liền với chữ TAI một vần” và “Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI”.(Truyện Kiều câu 3247-3248-3252).

Một vĩ nhân như Pythagore (570-495 trước Công nguyên) là một triết gia, chính trị gia, toán học… nhận định: “Đừng thấy bóng mình to mà tưởng mình vĩ đại”. Ông rất sợ thói kiêu ngạo, chúng ta là gì mà dám tôn vinh mình?! Người khiêm tốn làm việc không cần người khác khen ngợi, vì họ đã được phần thưởng từ lương tâm khi họ chu toàn bổn phận và trách nhiệm.

Nguyện chúc mọi người rút ra được một bài học hay sau mỗi mùa Giáng sinh, để trang điểm cho mình một vẻ đẹp tuyệt mỹ bằng loại mỹ phẩm “KHIÊM NHƯỜNG” qua những cách hành xử tốt đẹp với tha nhân, để sẵn sàng đối diện với vẻ đẹp toàn mỹ của Thiên Chúa.

RN

CÔ TIẾP VIÊN HÀNG KHÔNG

Kẻ Đi Tìm

Hôm đó, trên chuyến bay từ Ý về Mỹ, mang theo một số Giám Mục mới đi dự Công đồng Vaticanô II về, trên máy bay có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp tên là Louise Bannet.

Suốt chuyến bay, cô rất bực mình vì một đôi mắt cứ nhìn chòng chọc vào cô, và đôi mắt đó không phải của ai khác hơn là Đức Cha Fulton Sheen, vị tông đồ lừng danh nước Mỹ.

Khi phi cơ hạ cánh, và đợi cho hành khách xuống hết, vị Giám mục mới tiến đến trước mặt cô, nói nửa nghiêm trang nửa bông đùa:

– Cô đẹp lắm! Cô hãy cám ơn Chúa vì đã cho cô đẹp.

Câu chuyện tưởng như vậy là xong.

Có ai dè đâu là mấy hôm sau, có tiếng gõ cửa văn phòng làm việc của Đức Cha Fulton Sheen.

Cô tiếp viên hàng không hôm nọ xuất hiện một cách đầy tự tin. Cô vào thẳng đề tài:

– Câu nói của Đức Cha mấy bữa trước làm cho con suy nghĩ mãi. Con phải cám ơn Chúa thế nào đây?

– Cô biết trại phong cùi Di linh ở Việt Nam chứ?

– Vâng, con đọc báo có nghe nói đến!

– Chúa đã lấy hết sắc đẹp của những người ở đó mà ban cho cô. Cô hãy qua bên đó an ủi họ.

Vâng! Chỉ từng ấy! Cô ctiếp viên hàng không trút bỏ cả tương lai huy hoàng, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam, tình nguyện phục vụ những người cùi ở Di Linh tại Việt Nam, để cảm ơn Chúa đã ban cho mình sắc đẹp.

Chị Louise Bannet đã tình nguyện ở lại trại phong Di Linh suốt đời. Nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến Chị không thể tiếp tục ý nguyện của mình. Sau mười năm phục vụ người phong, Chị đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong cùi ở Tahiti.

Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, Chị Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn anh chị em phong cùi tại Tahiti.

Tết Công Giáo – Cổ truyền Việt Nam

Tác giả:   Thiên Ân

Conggiao.info

Tết Công Giáo – Cổ truyền Việt Nam

Trong những ngày tết cổ truyền, nói về những công việc truyền thống, người Việt Nam thường có câu: “Mùng Một tết Cha, mùng Hai tết Mẹ, mùng Ba tết Thầy”. Người Công giáo, trong khi mừng những ngày Tết nguyên đán, cũng hướng đến những ý nghĩa thật cao quý: Ngày mùng 01 Tết: Cầu bình an cho Năm mới, ngày mùng 02 Tết: Kính nhớ Tổ Tiên, ông bà cha mẹ, ngày mùng 03 Tết: Thánh hóa công việc làm ăn. Điều này nói lên những giá trị riêng, thật đẹp và ý nghĩa mà mỗi người Công giáo phải trân trọng trong khi hoà mình vào truyền thống văn hoá của dân tộc.

Trong những ngày cuối năm, khi năm hết tết đến, người Việt Nam có thói quen dọn dẹp, điều này xuất phát từ quan niệm “tống cựu nghinh tân”. Tết là dịp tiễn cái cũ đi để đón cái mới đến, là dịp để thay đổi cho tươi mới hơn chính cuộc sống với những tiện nghi vật chất và con người của mình. Ngày Tết gần đến, có những căn nhà được sửa lại khang trang, được tô sơn hay quét vôi mới, có những con đường hay lối ngõ được dọn dẹp thật sạch sẽ,… tất cả làm nên sự thay đổi dịp Tết thật sôi động và náo nhiệt. Mỗi người đều cố gắng tạo cho mình và mọi người một khung cảnh thật ý nghĩa và tươm tất để chào đón Năm Mới đang về.

* Thánh lễ chiều 30 Tết

Thánh lễ chiều 30 Tết được cử hành nơi các thánh đường giáo xứ trong bầu khí ấm cúng và chan chứa nghĩa tình, đó là Thánh lễ tất niên để chuẩn bị chào đón Năm mới với thời khắc giao thừa. Tại nhiều xứ, ngoài lễ tạ ơn chung của giáo xứ, các khu họ đều xin lễ tất niên vào tuần lễ giáp Tết. Tùy theo số khu họ trong một giáo xứ mà cha xứ sắp xếp để mỗi xứ họ có được một thánh lễ riêng.

Toàn thể giáo dân trong xứ được mời tham dự với hương hoa, của lễ và những ý nguyện riêng mà tựu trung là tạ ơn, cầu nguyện cho những người mới qua đời trong năm, cầu xin cho một năm mới bình an. Sau thánh lễ, tuỳ theo điều kiện, bà con quây quần liên hoan để có dịp chia sẻ tâm tư, tình cảm vui buồn. Tạo tình đoàn kết yêu thương nhau trong tinh thần “Góp gạo nấu cơm chung” nhẹ nhàng nhưng đậm đà tình nghĩa.

… Giờ khắc Giao thừa thật linh thiêng. Vào thời xưa, sự ra đời của một năm mới được đánh dấu bằng những hồi chuông giáo đường vang đổ, và bằng múa hát, tiếng nhạc, tiếng tù và cùng nhiều nghi thức vui mừng khác diễn ra trên đường phố…
Những năm gần đây, theo tinh thần hội nhập văn hoá, hầu như tại các xứ đạo đều có tổ chức “hái lộc đầu xuân”. “Lộc” ở đây là các phong bao lì xì, trong có kèm một câu trích trong sách Tin Mừng, được treo trên các chậu cảnh hay những cành đào, cành mai đặt trên cung thánh. Sau lễ giao thừa, mọi người lần lượt lên “hái lộc Lời Chúa”. Mỗi câu Lời Chúa nhận được như là ý Chúa gửi đến mỗi người, mỗi gia đình.

* Mùng một Tết

Mùng một Tết, ngày đầu tiên của năm mới, mọi người quy tụ bên nhau, trong mái ấm gia đình và những liên hệ ruột thịt, để cùng tạ ơn về một năm cũ đã qua, đồng thời nguyện xin cho một năm mới bình an, thăng tiến về mọi phương diện tốt đẹp trong cuộc sống thường nhật cũng như đời sống đạo đức, tin yêu.

Trong ngày này, mọi người cùng dâng lời cảm tạ Chúa vì các hồng ân Chúa đã ban cho trong năm cũ vừa qua, đồng thời xin Chúa ban cho mỗi người có một tâm hồn đơn sơ và trong sạch để mãi mãi được vui hưởng mùa xuân ơn thánh trong Năm mới vừa khởi đầu.

Theo truyền thống dân tộc Việt Nam, sáng sớm ngày mồng một Tết, người ta pha trà cúng gia tiên, mọi người làm lễ trước bàn thờ theo thứ tự cha trước con sau, anh trên em dưới. Sau đó, con cháu mới đến chúc tuổi mới ông bà cha mẹ. Con cháu chúc ông bà, cha mẹ những lời tốt đẹp nhất trong năm mới, sau đó người ta ăn Tết.

* Ngày mùng hai Tết.

Thánh Lễ ngày mùng hai Tết, người Công giáo dành để tưởng nhớ, biết ơn và cầu nguyện cho các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ còn sống cũng như đã được Chúa gọi về. Có nhiều nơi, các giáo xứ tổ chức tặng quà chúc thọ các cụ ông, cụ bà trong Thánh Lễ Mùng Hai Tết, điều này thật ý nghĩa, có giá trị giáo dục con cháu sống hiếu thảo.

Trong ngày này, Thánh Lễ cũng được cử hành cách trang trọng và cảm động nơi Nghĩa Trang Giáo Xứ ngày mùng Hai Tết. Người sống, kẻ chết gặp nhau trong yêu thương, tưởng nhớ trong mầu nhiệm hiệp thông của Giáo Hội. Kính nhớ các bậc tiền nhân chính là thể hiện tinh thần đạo hiếu của dân tộc Việt Nam “Uống nước nhớ nguồn”.

Ngày mùng Ba tết:

Thánh lễ ngày mùng Ba tết, người Công giáo Việt Nam được mời gọi để cầu nguyện và xin Thiên Chúa thánh hóa những công việc làm ăn trong suốt một năm mới. Dâng lên Thiên Chúa tất cả những công việc làm ăn với những thành công, thất bại trong một năm đã qua, và cầu mong một năm mới với những công việc làm ăn được thành công trọn vẹn và thu hái được kết quả tốt đẹp.

… Để những ngày đầu năm mới này trở nên một khởi đầu thật trọn vẹn và ý nghĩa cho một hành trình mới. Hành trình của sự biến đổi và cải hóa cuộc đời. Nguyện cho tâm tình vui tươi của mùa xuân trong Năm Mới chan hòa trên tất cả mọi người, “những gì tốt đẹp trong tâm hồn và tư tưởng của loài người hoặc trong nghi lễ và văn hóa riêng của các dân tộc, hoạt động của Hội Thánh không nhằm tiêu diệt nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người” (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, 17,1)

Trong tâm tình những ngày đầu xuân và năm mới, mỗi người chúng ta hãy cảm tạ và phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa; bởi vì Ngài vẫn luôn là Thiên Chúa của mùa xuân, Thiên Chúa của Tình Yêu, Thiên Chúa của Sự Sống. Khi biết mở lòng mình ra với mọi người, chúng ta thật dễ dàng để mở hồn mình ra với Thiên Chúa.

Một Năm Mới đang đến gần, chúng ta cùng với mọi người dọn dẹp bề ngoài nhưng cũng chú tâm dọn dẹp chính tâm hồn, để Năm Mới sang chính là thời điểm để chúng ta bước vào đời sống mới, thay đổi để thực sự sống tình liên đới yêu thương, mở lòng đến với mọi người và sẵn sàng để nghênh đón Chúa Xuân muôn đời.

Trong ngày đầu xuân này, chúng ta hãy vui lên, vui lên đi như lời thánh Tông đồ Phaolô đã khuyên nhủ tín hữu Philipphê: “Anh em hãy vui lên trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại : vui lên anh em” (Pl 4,4).

Thiên Ân

From: Phan Sinh Trần

CÁI HÒM CHÔN ĐỨC GIÁO TÔNG

Mời các bạn thân mến đọc bài viết này rồi dành thời giờ, vài phút để suy nghĩ.

Chắc chắn sẽ tìm thấy ý nghĩa của sự sống và sự chết. Phụng

Make Christianity Great As Always

CÁI HÒM CHÔN ĐỨC GIÁO TÔNG

Hình ảnh cái hòm đơn sơ bằng ván ghép đựng thi hài của Đức Giáo Tông Benedict XVI đánh động tôi rất nhiều. Một vị “thái thượng hoàng” của giáo hội Công giáo với hơn một tỷ tín hữu trên khắp địa cầu được khâm liệm trong một cái hòm bằng ván ghép, không có vòng hoa hay xa giá võng lọng gì, mặc cho bên chỗ băng ghế quan khách có nhiều nguyên thủ quốc gia đang bái quỳ.

Dù ngài là “vua” trong đạo, nhưng trước mặt Chúa thì ngài là một mục đồng chăn dắt đàn chiên; gia tài của một mục đồng thì có gì để mang theo? Chỉ là đời sống tu hành, những văn kiện mà ngài ký khi còn tại chức, một bài viết tường thuật lại triều đại của ngài gói gọn trong một trang A4, bộ áo lễ mặc trên thân.

Sau khi xong các nghi thức công khai, cái hòm ván ghép ấy được bỏ vào trong một cái hòm bằng tole kẽm cán mỏng và hàn lại bằng chì. Sau rốt, cái hòm kẽm ấy mới được bỏ trong một cái hòm ván liền bằng gỗ sồi. Trên cái hòm gỗ sồi này mới có gắn hình Thánh giá và huy hiệu giáo hoàng bằng đồng thau mà báo chí ngộ nhận là bằng vàng. Các ngài được táng trong hầm mộ đơn sơ và đánh dấu nơi an nghỉ bằng một tấm đá mài có khắc mấy thông tin đơn giản.

Tôi cũng tìm lại hình ảnh lễ tang Đức Giáo Tông John Paul II, cũng là cái hòm ván ghép dày 2 phân giống như vậy, để trên nền đất trong quảng trường giáo đô, khiêm cung bé nhỏ như cái hòm cho không của mấy cơ sở từ thiện ở quê tôi.

Chợt nhớ lời thánh vịnh:

“Dù sống trong danh vọng

Con người cũng không thể trường tồn

Thật nó chẳng khác chi

Con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49,13)

Giật mình, đây là lời trong thánh thư, phũ phàng như một gáo nước lạnh buốt dội lên đầu làm thức tỉnh những cơn mơ phù vân hư ảo. Trước cái chết, hoa đèn cờ xí ngợp trời, cái hòm bằng danh mộc rồi dát vàng khảm ngọc, đều chỉ là những thứ phù phiếm làm trang sức cho người còn sống. Còn người ra đi, chẳng thể mang theo.

Trong sách Minh Tâm Bửu Giám có một câu, rằng con nuôi thân cha mẹ là cái hiếu nhỏ, nuôi được chí của cha mẹ mới là hiếu lớn. Nghĩ cũng thú vị, khi có nhiều người cả đời sống đơn sơ, đến khi mất thì con cái lại tổ chức rình rang như cúng đình, rồi nghĩ như thế mới là nở mày nở mặt…

Thực lòng, từ lâu tôi thấy mỏi mệt với căn bệnh hình thức của nhiều nhà tu hoa lá cành không có chiều sâu, biến tấu phụng vụ thành những màn lố bịch, mà tôi tin rằng nhiều người đọc status này cũng đã từng thấy và ngao ngán. Nhưng may thay, khi thấy lễ tang của Đức Giáo Tông Benedict XVI, niềm tin yếu ớt của tôi về một giáo hội trung thành với tinh thần “nghèo khó vì Nước Trời” đã được sống dậy và bổ sức. Ít ra ở giáo đô nơi trái tim của giáo hội hoàn vũ, những gì thấy được vẫn là những điều quen thuộc trong Tin Mừng mà tôi đã đọc.

Cảm ơn Papa Benedict XVI, cuộc lữ hành trần gian của ngài đã cho con nhiều cảm hứng về tinh thần học tập, thì thời điểm sau hết của cuộc lữ hành đó vẫn là dấu chỉ để con được một lần nữa đắm mình trong nguồn ơn sủng đức tin.

=Hai Le=

Sơ Cecilia trút hơi thở cuối cùng (43 tuổi) với nụ cười rạng rỡ trên môi.

Tu Le

Mình đã chứng kiến rất nhiều cái chết, đủ kiểu, vì nhiều nguyên nhân, trong nhiều tình huống khác nhau.

Nhưng đây là hình ảnh vô cùng hiếm hoi:

Sau thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư phổi, sơ Cecilia (Tu viện Thánh Têrêsa ở Santa Fe – Argentina) trút hơi thở cuối cùng (43 tuổi) với nụ cười rạng rỡ trên môi.

Sau này, khi biết đến khái niệm “cận tử nghiệp” của Đạo Phật, thì 10 phần hiểu đến 7, 8 phần, cái khoảnh khắc ấy thể hiện toàn bộ “nghiệp” lúc sinh thời (trừ trường hợp chết bất ngờ, đột tử)

Tâm lý của tuyệt đại đa số đều sợ chết, điều ấy là tất nhiên. đặc biệt với những người khi còn sống tham lam, ích kỷ thì càng sợ chết, thậm chí không bao giờ dám “đả động” đến khoảnh khắc ấy (sợ xui!).

Ngược lại, những người có đức tin, hầu như không sợ điều đó.

Tất nhiên, đức tin của mỗi tôn giáo là khác nhau, nhưng đều có chung một điểm: “Chết không phải là hết !”

Ở đây không làm cái việc so sánh giữa các đức tin (điều ấy không phù hợp) chỉ nói trong phạm vi biết và hiểu rất hẹp của mình.

Ngày còn sống, ông Thản kể lần ổng chết lâm sàng (rất giống và khớp với những trường hợp khác mà mình biết) Chỉ trong khoảnh khắc, ổng thấy lại gần như toàn bộ cuộc đời từ lúc còn nhỏ, những kỷ niệm sâu sắc nhất lần lượt xuất hiện rất nhanh như cuộn phim đang “tour” lại, rồi bị hút vào một không gian sáng trắng, không có gì, cho đến lúc ông nghe thấy các y tá, bác sĩ đang gọi ông.

Khoảnh khắc sắp lìa đời trong đạo Phật gọi là “cận tử nghiệp” và được Phật tử rất chú trọng (đặc biệt trong Kim Cang thừa)

Một đời người luôn luôn ở trong ba trạng thái : thiện, ác và không thiện không ác. Khoảnh khắc sắp chấm dứt hiện đời quyết định con đường (luân hồi) kế tiếp, dựa trên ba trạng thái đó, vì vậy mà ta có thể thấy hiện tượng : có người ra đi rất thanh thản, có người đau đớn vật vã và cũng có người ra đi trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh.

(Để biết sâu hơn, bạn hãy tìm nghe các bài giảng của các thượng toa, hòa thượng nói về cận tử nghiệp)

Dĩ nhiên, sống một đời tham tàn, đến lúc đó mới hối hận là quá muộn, thậm chí không cần là một người quá tham lam, độc ác mà chỉ là người luôn khó chịu với người xung quanh, luôn coi thường người khác hoặc chỉ bo bo vì mình, khoảnh khắc cuối cùng luôn tạo ra sự ăn năn, hối hận muộn màng.

Nữ tu Cecilia (Argentina) ra đi với nụ cười vì chẳng những cô sống một đời phạm hạnh mà cả cuộc đời cô mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác, cô không có gì để hối tiếc khi ra đi,

Tất cả những ai (không phải người tu hành) khi sống một đời tương tự sẽ ra đi thanh thản tương tự.

Ý thức đã ngưng, nhưng nghiệp thức vẫn còn để đi tiếp …

Bài này viết cũng đã lâu (2017), nhưng vì vừa cày vừa nhớ lại câu chuyện hôm qua …

Karen hỏi mình về “democracy … here and there …!” Mình bảo “… do nothing …!”

“Do nothing” nghĩa đen là “chẳng làm gì cả” … nhưng nghĩa bóng (không giải thích cho Karen – vì câu chuyện xoay quanh sự khác nhau trong tranh mình vẽ cho mình và cho khách) là: không tạo ra “nhân” dù lớn, dù nhỏ, ít hay nhiều cho bất cứ “quả” độc nào!

Le Van Quy Share từ FB anh Nguyen Thanh Binh