NGÔI MỘ CÔ ĐƠN – truyện ngắn

Loc Teresa

Cách đây khá lâu vào năm 1988, trong tập san “Kiến Thức Ngày Nay” người ta có đăng một bài viết về “Ngôi mộ cô đơn”, câu chuyện kể về một linh mục giải tội, cốt truyện như sau:

Một tên cướp vào một đêm nọ đột nhập vào phòng cha xứ, hắn không lấy gì hết ngoại trừ chiếc áo dòng và đôi giầy của vị linh mục để mặc vào. Sau khi đóng giả là vị linh mục hắn đến nhà một người phụ nữ giàu có và lớn tuổi. Sau khi nhấn chuông hắn chờ đợi, từ trong nhà bà cụ nhìn qua lỗ cửa thấy bóng dáng một linh mục, bà an tâm mở cửa. Bà vừa mở cửa, tên cướp mau chóng tóm lấy bà và tra khảo tiền bạc của bà, sau khi lấy được của, hắn giết chết bà.

Hắn trở lại phòng của vị linh mục, lay ngài dậy và xin xưng thú tất cả những gì đã làm, trả lại áo dòng, đôi giầy và bỏ đi. Mấy ngày sau, người ta theo dấu vết khám phá ra vị linh mục chính là kẻ sát nhân. Người ta bắt ngài và kết án chung thân, ngài không thể nói điều gì thanh minh cho mình và vui lòng đón nhận bản án.

Án chung thân của ngài, được thực hiện tại một vùng đảo xa, chung quanh hòn đảo ấy đầy những đàn cá mập hung dữ. Ngày đầu tiên trên đảo, các tù nhân trên đảo, biết ngài là một linh mục chịu án sát nhân. Họ khinh thường sỉ vả người linh mục cách thậm tệ, người linh mục vẫn im lặng chịu vậy. Vài năm lao động cực khổ trôi qua, vì là người hiểu biết nhiều người ta giao cho ngài trách nhiệm coi phòng thuốc phát cho tù nhân. Ngài thực hành không giống như những người coi phòng thuốc trước đây, mỗi khi xin thuốc đều phải đút lót nhiều ít thì may ra mới lãnh được ít thuốc. Ngài chăm sóc bệnh nhân cách tận tình không vụ lợi, dần dần người ta không còn nhớ đến lỗi lầm của ngài khi mang bản án, có đôi khi người ta cũng thắc mắc, một linh mục nhân hậu như thế không thể là một tên sát nhân được.

Nhiều người trên đảo nhận ra ngài là một người cha đúng nghĩa, họ bắt đầu tuôn đến ngài không chỉ được chữa lành phần xác mà cả phần hồn. Nhiều năm sau, những ngày cuối đời của ngài, có một chiếc tàu từ đất liền chở ra những người tù chung thân mới, trên chiếc tàu ấy, có tên sát nhân năm xưa, hắn bị bắt quả tang giết người. Hắn đến đảo và sống trên đảo ấy, hắn nghe nói rất nhiều về câu chuyện của người linh mục phạm tội sát nhân, nhưng lại là người rất nhân hậu, hắn nhớ lại cái án chung thân khổ sai trước đây hắn đã tránh được khi đổ tội cho vị linh mục.

Hắn nghe nhiều điều qua tốt lành về ngài, lúc đầu hắn còn làm ngơ đi, nhưng không thể làm ngơ được mãi, bởi vì chính hắn cũng có một ngày, cần đến sự chăm sóc của vị lương y già. Ngài đã hết lòng chăm sóc hắn như người con. Xúc động vì việc ngài làm cho hắn, hắn đã tự thú tất cả những điều hắn đã gây ra trước đây và minh oan cho vị linh mục. Mọi người nhận ra sự thật, nhưng cũng là những ngày cuối đời của vị linh mục.

Trước khi ngài mất, ngài để lại chúc thư cho những người có quyền, xin tha án cho kẻ đã hại ngài, để hắn có một cơ hội phục hồi nhân cách và sống những điều tốt đẹp mà hắn chưa từng sống. Ngài đã qua đời trong sự an bình giữa những vòng tay người thân yêu trên đảo. Theo thông lệ, những xác của tù nhân sau khi chết sẽ được thuỷ táng, nhưng đối với vị linh mục, người ta đề nghị xin được chôn cất ngài trên đảo. Một sự kiện duy nhất trện đảo, mà người viết lại câu chuyện này chính là người tù khổ sai sau khi được ân xá nhờ di chúc của vị linh mục, ông đã đặt tên cho cuốn sách là “Ngôi mộ cô đơn”.

Để có người linh mục như câu truyện, chắc cũng nhờ đến rất nhiều đến những hy sinh, lời cầu nguyện của người tín hữu. Càng qua nhiều năm sống đời linh mục lại càng nhận ra mình đón nhận rất nhiều ân tình của mọi người, tạ ơn không bao giờ hết. Xin ông bà anh chị em cũng cầu nguyện cho người linh mục của anh chị em và tha thứ cho những lầm lỗi, những phiền lòng khi gây những khó khăn mà anh chị em gánh chịu.

Linh mục cũng là một hối nhân, cũng là người cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Cuộc sống phủ bụi đi nhiều hình ảnh, dấu chỉ của Thiên Chúa nơi người linh mục, cần có những cuộc tĩnh tâm, những lần lau sạch để làm mới lại trong Đức Kitô. Xin ông bà anh chị em cầu nguyện cho người linh mục của anh chị em.

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

nguồn: https://joshkimt.blogspot.com

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Trần Duy Sơn is with Son Tran.

Một thời gian ta dài tưởng đó là chân lý chễm chệ vị thế giảng đường sinh vật học với những bộ óc giáo sư kiệt xuất hậu thuẫn cho con vượn rụng lông hóa kiếp người.

Theo thời gian hóa ra phi lý tỏ tường .

Chỉ là Thuyết thôi mà, Darwin nào có tội

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Người Việt trong nước cuối cùng đã lên tiếng rất nhiều về xe VinFast

Sự thật không thể che dấu nhất là về phương diện kỹ thuật, sự gian dối khi bị công chúng khám phá thì sẽ bị ghét bỏ và tẩy chay.

Đó là lý do chính làm cho xe VinFast bị ghét và chê trách quá thê thảm ở trong nước.

Tâm sự của một khổ chủ mới mua xe có 12 ngày, rất tội nghiệp:

  • Nói chuyện muốn khóc luôn.
  • Xe dán băng keo từ nhà sản xuất nguyên thủy.
  • Vì lý do gì mà các nạn nhân đã cả tin VinFast để rồi phải khổ như vậy? Chủ xe trả lời luôn.

Các người sắp mua xe nên xem clip này, vì được biết các kinh nghiệm rất đau lòng của các nạn nhân xe Vin Phét.

Khi Pin bị nóng chớ chạy xe trên xa lộ, rất nguy hiểm vì tốc độ bị  chậm còn chỉ có 21Km/h.

Ba tháng trước đây, có một người Singapore đang làm việc ở Việt Nam, ông Tom Peng mua xe VF8 để chạy thử, xe đã bị lỗi chết máy dọc đường và phải nằm ụ ở trạm sửa của VinFast hàng tuần lễ.

Đến nay, khi ông hào hứng mua xe VF9 cao cấp hơn vì họ (VinFast) đã rút tỉa kinh nghiệm kỹ thuật phần mềm nhiều hơn,  theo cách nói khuyến dụ của hãng Vin, chạy được mới có vài tuần thì xe mới cũng lại bị chết máy trong lúc đậu (cũng may không bị chết máy trên xa lộ như người khác)…

Mời Bạn nghe ông phàn nàn:

 

Chuyện gì sẽ tới trong tương lai gần: Một nghĩa địa cho xe VinFast.

Mời bạn đọc bài về nghĩa địa cho xe dỏm ở Trung Quốc và Việt Nam

 

Một Người Cộng Sản tương đối tỉnh táo nói gì về thành quả Cộng Sản sau 25 năm với 5 lần Đại Hội Đảng

Ông Nguyễn Bá Thanh nói Hàn Quốc chỉ cần 25 năm là họ dư sức chuyển mình từ đất nước nông nghiệp sang công nghiệp,  còn Đảng Cộng Sản 25 năm thì … Không làm được bao nhiêu, càng yếu kém và phức tạp hơn.

Còn gì là đất nước Việt Nam ta!

Cám ơn một người Cộng Sản can đảm và tự chuyển biến.

Điều vô cùng thiệt thòi cho nước Việt Nam là ông Nguyễn Bá Thanh đã bị Cộng Sản ta, Cộng Sản Tầu thuốc chết!

Bản án chết đương nhiên phải đến từ Cộng Sản Trung Ương cho người yêu nước Nguyễn Bá Thanh, nhưng mà tội cho tương lai dân tộc của tôi.

Hy vọng sẽ còn các Nguyễn Bá Thanh, Võ văn Kiệt tự chuyển biến  trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, mong mau có Gorbachev ở đảng Cộng Sản Việt Nam cho dân tộc Việt Nam được hết lầm than.

10 bí quyết sống hạnh phúc của Đức Thánh Cha Phanxic

Đức Thánh Cha từng đưa ra 10 chỉ dẫn để mang lại niềm vui cho cuộc sống của mình như sau:

  1. “Sống và hãy sống”. Tất cả mọi người nên làm theo nguyên lý này. Ở Rôma có một câu nói thời danh tương tự: “tiến lên và giúp người khác tiến lên.”
  2. “Hãy trao ban bản thân cho người khác.” Mọi người cần mở ra và quảng đại với người khác. Nếu bạn co cụm vào chính mình, bạn có nguy cơ trở thành ích kỷ. Nước không thông sẽ trở nên hôi thối.
  3. “Giữ điềm tĩnh trong cuộc sống.” Đức Thánh Cha, sử dụng hình ảnh nước trong một cuốn tiểu thuyết của Ricardo Guiraldes, Argentina, trong đó nhân vật chính Gaucho Don Segundo Sombra nhìn lại cuộc sống của mình như sau: “Tuổi trẻ tôi sống sôi động như một dòng thác lũ; khi trưởng thành nó trôi đi như một dòng sông, và khi tuổi già nó lặng lẽ như mặt hồ.” ĐTC nói rằng, ngài thích hình ảnh của mặt hồ vì “nước trôi cách tử tế và khiêm nhường, một sự điềm tĩnh trong cuộc sống.”
  4. “Một cảm thức về nghệ thuật.” Tìm niềm vui nơi nghệ thuật, văn học và vui chơi với con cái. Ngài nói “Xã hội tiêu thụ làm cho chúng ta lo lắng quá nhiều và căng thẳng, khiến mọi người mất đi một “nền văn hóa lành mạnh của giải trí.” Thời gian dường như “nuốt chửng” con người để rồi họ không còn có thể chia sẻ cho nhau được nữa.

Dù các bậc cha mẹ làm việc nhiều giờ, nhưng phải dành thời gian để chơi với con cái; ngài nói: lịch làm việc dầy kín, nhưng bạn phải dành thời gian cho con cái. Các gia đình cũng phải tắt TV để trò chuyện khi ngồi ăn chung với nhau. Dù truyền hình rất hữu ích cho việc cung cấp thông tin nhưng “không thể thay thế việc giao tiếp” với nhau.

  1. “Nghỉ ngơi ngày Chủ nhật.” Công nhân còn được nghỉ ngày Chủ nhật vì vậy “Chủ nhật là dành cho gia đình”.
  2. “Tìm những sáng kiến để tạo công ăn việc làm tốt cho người trẻ.” Chúng ta cần giúp cho người trẻ có công việc. Nếu người trẻ không có cơ hội làm việc sẽ dễ đi vào nghiện ngập, dễ bị tổn thương đưa đến việc tự sát. Tạo công việc cho họ không chưa đủ. Cho họ nhận ra phẩm giá từ đôi bàn tay lao động của chính mình.
  3. “Tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên.” Suy thoái môi trường là một trong những thách đố lớn nhất của chúng ta. Tôi nghĩ đến một câu hỏi mà chúng ta phải chất vấn luôn mãi là: Con người sẽ tự hủy diệt mình bằng việc sử dụng bừa bãi và độc tài trên thiên nhiên?
  4. “Ngăn chặn tiêu cực.” Nói xấu về người khác là hạ thấp lòng tự trọng của mình. Mang nghĩa là: Tôi cảm thấy yếu kém thay vì tự thân vươn lên tôi hạ người khác xuống bằng cách nói những điều tiêu cực về người khác.
  5. “Không chiêu dụ người khác theo tôn giáo; tôn trọng niềm tin của người khác.” Chúng ta có thể truyền cảm hứng cho những người khác bằng việc làm chứng để cùng lớn lên qua sự liên hệ giao tiếp. Nhưng điều tồi tệ là chiêu dụ người khác theo tôn giáo mình. Đừng bàn chuyện để thuyết phục người khác. Mỗi người có một bản sắc và cá tính riêng của mình. Giáo Hội phát triển nhờ sự ảnh hưởng chứ không phải là chiêu dụ người khác theo đạo.
  6. “Kiến tạo hòa bình.” Chúng ta đang sống vào thời điểm của nhiều cuộc chiến, lời kêu gọi hòa bình phải được la lên. Hòa bình đôi khi cho cảm giác là tĩnh lặng, nhưng không phải là thụ động hòa bình luôn luôn là chủ động và năng động.

Lm. Trương Hoàng Vũ DCCT

Niềm Vui Tin Mừng

Nhân bi kịch ở Đăk Lăk, nhắc lại đôi điều “ôn cố tri tân”

Báo Tiếng Dân

Lê Nguyễn

18-6-2023

Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngồi) và anh trai là Giám mục Ngô Đình Thục (áo đen) trong một buổi lễ đón năm mới ở Tây Nguyên năm 1957. Ảnh: John Dominis/LIFE

Tôi muốn gọi những biến động vừa xảy ra ở Daklak (xưa viết là Darlac) là một bi kịch, bi kịch trong mối quan hệ giữa những tộc người đã chung sống với nhau hàng ngàn năm qua, từ khi “nước sông không phạm nước giếng” đến những năm dài chan hòa cuộc sống, và gần đây là những trận đụng độ kinh hoàng.

Lịch sử ghi chép rằng, cho đến thời các chúa Nguyễn, nơi sinh sống của các tộc người trên Tây Nguyên ngày nay vẫn được gọi là “nước”. Năm 1751, đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, (trích) “Thủy Xá, Hỏa Xá vào cống. Hai nước ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía Tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy Xá ở phía Đông núi, vua Hỏa Xá ở phía Tây núi. Buổi quốc sơ, vì cớ họ giáp giới với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa phẩm vật địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến. Tới đây, sai sứ sang cống. Chúa hậu tứ rồi cho về”. (Hết trích) – (Đại Nam thực lục – Tập một – NXB Giáo Dục 2002, trang 157).

Xem như thế, thấy rằng thời các chúa Nguyễn, chúa chủ động thể hiện tình lân bang bằng cách cho mang quà tặng hảo trước cho những sắc tộc sống ở Tây Nguyên ngày nay. Đó là cách thu phục chính danh nhất của kẻ bề trên, khiến người dưới chiếu cảm kích mà tuân phục. Năm 1794, dù cho cuộc chiến với nhà Tây Sơn đang hồi gay cấn, song khi vua Thủy Xá ở Tây Nguyên lên ngôi, chúa Nguyễn Ánh vẫn không quên ban phẩm vật cho, và vị vua này đã “sai man thuộc đến thông hiếu ở thượng đạo Phú Yên, xin làm phiên thuộc và xin ban ơn cho” (Đại Nam thực lục – sđd, trang 311).

Năm 1803, khi vua Gia Long đã thống nhất đất nước, vua hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá lại sai sứ đến quy phục tại Phú Yên, vua lại sai ban phẩm vật cho (ĐNTL, sđd, trang 556). Mối quan hệ hữu hảo đó kéo dài cho đến khi Việt Nam hoàn toàn nằm dưới ách đô hộ của người Pháp.

Về phần người Pháp, có lẽ do còn phải đối phó với nhiều biến động dưới đồng bằng nên gần như trong suốt thế kỷ XIX, họ không quan tâm lắm đến vùng gọi là Tây Nguyên ngày nay. Song các giáo sĩ phương Tây thì không thế. Ngay vào năm 1848, nghĩa là hơn 10 năm trước khi Pháp áp đặt chế độ thuộc địa cho Việt Nam, một số giáo sĩ Pháp như Combes, Fontaine đã lặn lội lên vùng này, cất chòi sống chung đụng với người Bahnar để thực hiện sứ mạng truyền đạo do Giáo hội La Mã giao phó.

Sự chung đụng gợi ra nhiều nghi kỵ cho người bản địa, song sau một trận dịch đậu mùa, các giáo sĩ tiêm chủng cho họ và cứu mạng nhiều người, mối quan hệ giữa hai bên dần tốt đẹp lên. Việc giảng đạo đạt kết quả, các giáo sĩ dạy cho người bản địa cách cày bừa, trồng lúa và trở thành cố vấn cho họ về nhiều mặt của đời sống. Năm 1854, có 4 giáo sĩ Pháp bị triều đình Huế truy sát, họ lang thang trong rừng nhiều ngày, sau được người Bahnar cứu thoát (Lê Nguyễn – Cuộc phiêu lưu của Marie Đệ nhất, quốc vương xứ Sedang – NXB Tổng hợp TPHCM 2019, từ trang 49).

Cho đến những thập niên cuối thế kỷ XIX, mối quan hệ giữa người Kinh và các sắc tộc thiểu số vẫn diễn ra tốt đẹp. An Khê, khu vực địa đầu của tỉnh Bình Định, trở thành một trung tâm thương mại nhỏ, nơi người Việt dưới đồng bằng mang hàng hóa, thực phẩm lên để đổi lấy thổ sản vùng cao. Ca dao thời ấy có câu:

Ai về nhắn với nậu nguồn,

Măng le gùi xuống, cá chuồn chở lên.

Người miền xuôi (người Kinh) mang lên muối, các loại hải sản (cá, tôm, cua..), kim loại (thiếc, đồng…) đổi lấy thổ sản miền ngược (Tây Nguyên ngày nay) như gạo, thuốc lá, sáp ong, mật ong, sừng tê giác… Chuyện mua bán, đổi chác giữa hai tộc người hầu như không thấy gì bất ổn xảy ra.

Về phần thực dân Pháp, có thể nói trong suốt thế kỷ XIX, họ không bận tâm đến vùng Tây Nguyên. Trừ một trường hợp vào năm 1888, khi Toàn quyền Đông Dương Constans nhận được tin một đoàn khảo sát người Đức đang tiếp xúc với chính quyền Xiêm (Thái Lan) và Ai Lao (Lào) về nhiều điều chưa được biết rõ. Ông ta lo ngại là những người Âu này sẽ dòm ngó vùng Tây Nguyên và khống chế hay chiếm hữu nó, vì thế, đã nhờ một tay viết báo thích phiêu lưu mạo hiểm tên David de Mayréna lên Tây Nguyên, kết hợp các bộ tộc chính như Bahnar, Djarai, Sedang… đặt dưới sự quản lý hay ít ra cũng dưới sự chi phối của chính quyền Pháp.

Nhờ tài ứng biến, sự lanh lợi và may mắn, De Mayréna hoàn thành mỹ mãn sứ mạng được giao phó, song sang đến viên Toàn quyền kế nhiệm Constans là Richaud, có lẽ vì thấy sự lo ngại của Constans đã không xảy ra, phần khác, do De Mayréna làm nhiều việc không bình thường trên cái gọi là “vương quốc Sedang” mà đang từ kẻ có công lớn, De Mayréna trở thành kẻ tội đồ.

Mãi đến những năm đầu thập niên 1890, sau khi nhà bác học Yersin tìm ra cao nguyên Langbian (Lâm Viên), căn cứ vào tình trạng khí hậu và thổ nhưỡng tốt của vùng đất này, chính quyền Pháp quyết định biến nơi đây thành nơi nghỉ dưỡng của bọn thực dân da trắng.

Năm 1904, một biến động lớn xảy ra. Người bản địa dưới quyền hai quốc vương Thủy Xá và Hỏa Xá phản ứng lại chính sách trực trị của người Pháp đang manh nha trên lãnh thổ họ. Họ mời viên công sứ Odend’han đến ăn yến rồi mai phục hạ sát ông này cùng 7 người giúp việc (Đại Nam thực lục chính biên – Đệ lục kỷ phụ biên – NXB Văn hóa-Văn nghệ 2011, trang 419, cùng một bài viết của tiến sĩ Nguyễn Văn Huy). Từ đó, thực dân Pháp xóa sổ hai vương quốc Thủy Xá và Hỏa Xá.

Nhiều người trong chúng ta biết rằng, vào thời Pháp thuộc, người Kinh gọi người sống ở vùng Tây Nguyên ngày nay là “Mọi”. Lớp người sinh trưởng tại miền Nam vào thập niên 1940 trở về trước thường nghe cụm từ “mọi cà răng căng tai” dùng để chỉ người miền Thượng, vì nhiều tộc người cà cho hàm răng của họ ngắn lại, đeo những chiếc vòng nặng trĩu trên tai, khiến dái tai họ to ra và trĩu xuống.

Từ cách gọi của người Kinh, người Pháp cũng gọi họ là Moi hay Mois.

Từ “mọi” gợi ra một cái gì đó thấp kém, lạc hậu và dã man nữa. Thời Đệ nhất Cộng hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm cấm chỉ gọi họ là “mọi”, mà gọi là “người Thượng”, thậm chí là “đồng bào Thượng”. Từ “đồng bào” có lẽ được sử dụng với một nghĩa bao quát hơn, chỉ những tộc người sống thành một cộng đồng rộng lớn bên dưới đại lục Trung Hoa. Từ đó, khẩu hiệu “Kinh-Thượng một nhà” rất phổ biến trên các biểu ngữ, các phương tiện truyền thông.

Song song với hai từ Kinh-Thượng, về mặt lãnh thổ lúc bấy giờ, miền Trung được chia thành hai vùng rõ rệt là vùng “cao nguyên Trung Phần”, tức khu vực của người Thượng và “duyên hải Trung Phần” của người Kinh, từ Qui Nhơn-Bình Định trở về hướng biển.

Cuối những năm 1950, có lẽ do bận rộn với việc định cư và cung ứng các điều kiện sinh sống của gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam mà chính quyền Ngô Đình Diệm có những sơ hở về mặt quản lý các đồng bào sắc tộc. Năm 1958, một tổ chức có chủ trương chống chính quyền ra đời có tên BaJaRaKa, với sự kết hợp của bốn sắc tộc khác nhau là Bahnar, Jarai (hay Djarai), Radhés, Kaho đã gửi thư đến các sứ quán Pháp, Mỹ và đại diện Liên Hiệp Quốc, tố cáo những hành vi phân biệt sắc tộc của chính quyền Đệ nhất Cộng Hòa và yêu cầu các cường quốc can thiệp để người Thượng được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp hoặc dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.

Đầu những năm 1960, quan hệ giữa VNCH và chính quyền Cambodge (Campuchia) gặp nhiều rắc rối, đi đến chỗ bế tắc, hai bên rút Đại sứ về và chỉ quan hệ với nhau ở cấp thấp hơn (Đại lý Đại sứ). Năm 1964, với sự hỗ trợ tinh thần của quốc vương Campuchia Sihanouk, các tổ chức bất đồng với chính quyền VNCH liên kết lại thành một tổ chức thống nhất, lấy tên Pháp là Front unifié pour la Libération des Races Opprimées (Mặt trận thống nhất giải phóng các sắc tộc bị áp bức), viết tắt là FULRO.

Sau thời điểm này, chính sách của chính quyền VNCH đối với người thiểu số vùng cao đã có những cải tiến rõ rệt, về lượng cũng như về chất. Thông thường ở vùng đồng bằng, cơ cấu chính quyền cấp tỉnh có hai Phó Tỉnh trưởng là Phó Tỉnh trưởng Hành chánh và Phó Tỉnh trưởng Nội An (chức vụ sau bị bãi bỏ từ năm 1966). Tại các tỉnh cao nguyên Trung Phần, chính phủ VNCH đặt thêm chức Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ, phụ trách các vấn đề liên quan đến đời sống của đồng bào Thượng. Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum đầu tiên là ông Paul Nưr, một thành viên trong các tổ chức chống đối trước đây. Dưới cấp tỉnh, ở cấp Quận, cũng có những ban sắc tộc do các công chức hay quân nhân người gốc Thượng đảm trách.

Không chỉ về mặt quản lý hành chánh, về mặt luật pháp, chính quyền VNCH cũng quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong cộng đồng người thiểu số có lý tới phong tục, tập quán của họ. Ngay từ năm 1929, thực dân Pháp đã cho thành lập các “Tòa án tập quán” ở các cấp Tỉnh, Quận, Xã nhằm để cho người Thượng xét xử người Thượng, xét xử căn cứ vào tín ngưỡng của các bộ tộc.

Sang thời VNCH, năm 1965, chính phủ cho thiết lập các “Tòa án phong tục” trên cao nguyên Trung phần, hoạt động như các Tòa án tập quán thời Pháp, chỉ có khác là Tòa án tập quán là một tổ chức hành chánh, còn tòa án phong tục là một tổ chức tư pháp hẳn hoi (Nguyễn Trắc Dĩ – Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục) – Sài Gòn 1972, trang 155-160)

Những cải tiến về các chính sách nêu trên giúp nhiều người Thượng có học vấn tham gia thiết thực vào việc điều hành công vụ của chính quyền VNCH. Tiêu biểu là ông Touneh Hàn Thọ, cựu sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh, vào những năm 1969-1970, từng được cử vào học trường Cao đẳng Quốc phòng, chung với nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội, thông thường ở cấp Đại tá. Năm 1970, ông Touneh Hàn Thọ ra trường Cao đẳng Quốc phòng với luận văn nhan đề “Quan niệm về sở hữu đất đai và thực trạng sinh kế của các sắc dân Thượng”.

Vào nửa đầu thập niên 1970, ông Hàn Thọ được cử giữ chức vụ Tổng Thư ký Bộ Phát triển sắc tộc, một cơ quan quan trọng được thành lập ngay vào năm đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng hòa (1967). Đến lúc đó, sự tham gia của đồng bào Thượng vào chính quyền đương nhiệm là một việc làm có thực chất, không mang màu sắc tuyên truyền hay mị dân. Có những người được bầu vào Quốc Hội, vào bộ máy chính quyền, tiêu biểu là Bộ Phát triển sắc tộc. Người đầu tiên lãnh đạo bộ này chính là ông Paul Nưr, nguyên Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum.

Năm 1975, khi trở thành tù cải tạo, người viết bài này từng sống chung nhà, chung đội với nhiều đồng bào Thượng từng là dân biểu, viên chức cao cấp của Bộ Phát triển sắc tộc. Họ rất hiền hòa, sống chan hòa với các bạn tù người Kinh, đến bây giờ, tôi vẫn còn thấy nhớ người bạn tù hiền lành Touneh Yơh, một con người luôn vui vẻ, cười đùa với mọi người và cư xử với bạn tù một cách chân tình nhất.

Ngay sau tháng 4.1975, chính quyền mới của những người thắng cuộc đã đưa nhiều đồng bào miền Bắc đến Lâm Đồng (tên cũ là tỉnh Tuyên Đức) để lập nghiệp. Chính sách di dân là hệ quả tất yếu của sự phát triển dân số, khiến vùng này có mật độ dân cư quá cao, dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi về xã hội, vùng khác mật số dân số thấp, đất đai, rừng núi chưa được khai thác đúng mức.

Tuy nhiên, chính sách di dân hay giãn dân nếu không được thực hiện xuyên suốt, có quan tâm đến quyền lợi, đời sống văn hóa, xã hội của người bản địa, sẽ dễ trở thành chính sách tàm thực (tằm ăn dâu) và dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Điều lo lắng này không phải là không có cơ sở, cùng là đồng bào, đồng chủng với nhau, chung một tổ tiên, nòi giống, mà sau gần 50 năm, giữa người thắng cuộc và kẻ thua cuộc vẫn còn những khoảng cách nhất định, về mặt tâm thức cũng như quan điểm chính trị, thì nói gì đến mối quan hệ giữa chính quyền với đồng bào thiểu số Tây nguyên từng vùng lên tranh đấu dưới thời VNCH.

Chính sách di dân theo kiểu “tằm ăn dâu” khiến người các sắc tộc thiểu số dễ có cảm giác đất đai của tổ tiên họ ngày bị thu hẹp dần, nhiều quyền lợi căn cơ có nguy cơ bị tước đoạt, đời sống không được cải thiện theo đúng xu thế một đất nước đã thống nhất gần 50 năm trời…

Trong trường hợp đó, nếu chính quyền địa phương cai trị thiếu sự chân tình hay có nhiều sơ hở trong các biện pháp quản lý xã hội thì cái ngòi nổ trong quả bom bất mãn dễ dàng bị kích nổ. Khi người thiểu số sống trong một tâm trạng như thế thì dù có “thế lực thù địch” đứng đàng sau hay không, những hậu quả bất lợi cũng dễ dàng xảy đến.

Trong những ngày qua, đọc tin về việc đồng bào Nghệ An, Thanh Hóa… vây bắt được nhiều người dính líu tới bi kịch vừa xảy ra, không ít người trên mạng xã hội bày tỏ sự… bất ngờ. Bất ngờ vì sự tham gia, chủ động của những cư dân từ phương xa đến lập nghiệp trên vùng đất Tây nguyên.

Từ sự bất ngờ đó, họ dễ dàng suy diễn đến nhiều tình huống khác. Việc xây dựng đường dây điện Bắc-Nam, đường Hồ Chí Minh, với những lợi ích nhãn tiền hẳn nhiên là dễ dàng thuyết phục người thiểu số Tây Nguyên, mất bao nhiêu đất họ cũng dễ dàng hứng chịu. Song còn sự hiện diện quá nhiều người từ các địa phương khác đến, liệu tác động thế nào đến người bản địa? Điều đó, có ai thực hiện những cuộc điều tra tỉ mỉ và khả tín, để có thể giúp đưa ra những quyết sách có tình, có lý, hợp với tính nhân bản vẫn là cốt cách của dân tộc này?

Trở lại chuyện cách nay hơn 50 năm, sau những rối loạn ở Tây Nguyên vào nửa sau thập niên 1950 và nửa đầu thập niên 1960, chính quyền VNCH đã có những cải tiến rõ rệt trong chính sách đối với đồng bào thiểu số, tiêu biểu là các tòa án phong tục, các định chế quốc gia có sự tham gia của người Thượng, một cách tích cực và có thực chất, thì liệu chính quyền hiện nay có cần quan tâm hơn nữa đến tâm tư nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của họ hay không?

Trong lịch sử hiện đại, một anh hùng Núp chỉ có công lớn với người thắng cuộc, trong công cuộc “chống Mỹ cứu nước”. Song anh hùng cũng năm bảy kiểu anh hùng, sau 1975, đồng bào Tây Nguyên cần có thêm nhiều anh hùng khác, góp phần thiết thực, mang lại cơm no áo ấm cho họ, kéo họ lên khỏi đáy vực của u mê, tăm tối, bảo tồn cho họ di sản đất đai, văn hóa do tổ tiên họ để lại. Có như thế, họ mới sẽ dễ dàng hợp tác với chính quyền, không một “thế lực thù địch” nào dám bén mảng đến gần họ.


 

Diễn tiến mới nhất vụ Người Ê Đê tấn công hai đồn Công An ở Ea Tiêu và Ea Ktur

Lời thú tội của kẻ bị coi là cầm đầu nhưng không giống như một người cầm đầu.

YouTube player

Vậy Người Cầm Đầu thực sự là ai?

Mời Các Bạn xem Video sau của Luật Sư Nguyễn Văn Đài:

Đâu là nguyên nhân chánh của mọi đau khổ của Đồng Bào Các Dân Tộc ở  Việt Nam

Phân tích thực hư của Phil Dong:

  • Mâu thuẫn Kinh Thượng đã xảy ra từ nhiều đời qua.
  • Sự áp bức của Cán Bộ và người di cư miền Bắc vào đã dồn đồng bào Ê Đê vào con đường cùng.
  • Hy vọng sau vụ việc này Cộng Sản tỉnh ngộ hơn một chút và nghiên cứu các nguyên do sâu xa dẫn đến sự cuồng trí của đồng bào thiểu số bị áp bức và dồn họ đến con đường cùng.

Mối thù ‘không đội trời chung’ của thủ lĩnh Wagner với bộ trưởng quốc phòng Nga chứng tỏ rằng Putin không còn kiểm soát được nội bộ

Theo nhật báo tốc hành – Daily Express

Việc Evgeny Prigozhin không ngừng nhắm vào Sergei Shoigu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga, bao gồm cả việc công khai kêu gọi xử tử ông bộ trưởng, cho thấy Vladimir Putin ‘không thực sự kiểm soát (nội bộ chóp bu)’, một chuyên gia người Anh về chính trị Nga cho biết.

“Và hơn nữa, ông ấy thực sự đang kêu gọi xét xử và hành quyết Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu. Ý tôi là, điều đó hoàn toàn là một hành động điên rồ dựng tóc gáy và nó chỉ cho thấy rằng Putin không thực sự kiểm soát được.”

Prigozhin đã gây chú ý trong những tuần gần đây với một loạt lời chỉ trích gay gắt đối với các nhân vật cấp cao của Nga, bao gồm cả Shoigu, một trong những người mà ông đã đề xuất nên đối mặt với án tử hình.

Hình trích từ Video của báo Ấn Hindu Times

Đầu tuần này, Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga, Shoigu cho biết tất cả các Công ty quân sự tư nhân (PMC), bao gồm cả Wagner, sẽ được đặt dưới sự chỉ huy của quân đội Nga, một đề nghị bị Prigozhin, 62 tuổi, giận dữ bác bỏ.

Ông Matthews, người có cuốn sách Overreach: The Inside Story of Putin’s War Against Ukraine, đã được xuất bản vào đầu tháng này, nói với Express.co.uk: “Những gì đang diễn ra về cơ bản là sự vắng mặt hoàn toàn của sự lãnh đạo từ Điện Kremlin.

Ông Matthews cho rằng “phong cách quản lý” của Putin là luôn có tình trạng cấp dưới “cạnh tranh với nhau”, nhưng những nhân chứng đấu đá nội bộ trong những tháng gần đây ở một cấp độ (nghiêm trọng rối ren) hoàn toàn khác.

Ông  giải thích: “Việc Prigozhin thậm chí vẫn đi trên Trái đất là điều phi thường đối với tôi. “Mẩu tin ít gây ngạc nhiên nhất trên thế giới sẽ là việc Yevgeny Prigozhin bị sát hại.

“Tuy nhiên, những gì ông ấy đại diện là một điều gì đó cực kỳ đáng sợ, bởi vì những gì ông ấy nói là ‘người Ukraine rất cứng rắn, họ được trang bị vũ khí tốt, họ có động cơ rất tốt, người Ukraine là một kẻ thù đáng gờm, và hiện tại chúng tôi đang thua cuộc’. Anh ấy nói điều đó một cách công khai.

Vladimir Putin Yevgeny Prigozhin

Vladimir Putin đối mặt với Yevgeny Prigozhin© 

Owen Matthews tin rằng mặc dù còn quá sớm để coi người sáng lập Tập đoàn Wagner là một đối thủ nặng ký của Tổng thống Nga, nhưng đẳng cấp quân sự của ông chắc chắn đặt ra câu hỏi về việc có bao nhiêu quân sẽ hỗ trợ ông trong trường hợp xảy ra nội chiến.

Ông Matthews nhấn mạnh Prigozhin không thể được coi là một nhân vật của điện Kremlin – nhưng cũng không nên đánh giá thấp ông ta. “Ông ta đã ở tiền tuyến, ông đã bị sa thải, ông thực sự hiểu rõ điều đó.”…

“Nhưng anh ấy cũng nói chuyện với những người Nga bình thường và thông điệp của anh ấy là, ‘những bà mẹ ****** ưu tú,  Điện Kremlin ngồi trong những văn phòng sang trọng và gửi những đứa con trai của bạn ra chiến trường để bị làm thịt, và làm tiêu rữa họ.”

Ông Matthews nói thêm: “Prigozhin là một cựu tù nhân, một đầu bếp và một tỷ phú cung cấp thực phẩm cho Putin, người chỉ huy 50.000 người đàn ông được trả lương từ ngân sách nhà nước Nga. Vì vậy, anh ta không phải là đối thủ của sức mạnh to lớn của nhà nước Nga. Nhưng câu hỏi đặt ra là, bao nhiêu quân đội Nga sẽ đi cùng Prigozhin nếu phải lựa chọn?

“Liệu họ có chọn Prigozhin trong một tình huống kiểu nội chiến không, mặc dù rõ ràng chúng ta vẫn còn một chặng đường dài để xảy ra điều đó.

“Ngay bây giờ, tôi không nghĩ Prigozhin là một ứng cử viên nặng ký cho Điện Kremlin, nhưng thực tế là bạn về cơ bản có chỉ huy của một đội quân tư nhân, cảm thấy rằng ông ta có thể chỉ trích Bộ trưởng Quốc phòng mà không bị trừng phạt là một dấu hiệu của sự vô tổ chức thực sự nghiêm trọng. và sự yếu đuối (của Chính Phủ Putin).”


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Phiên bản tình yêu

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?

Vũ Điện Biền

Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.

Tháng trước, tôi được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương gửi cho một bộ sách to đùng, dầy hơn ngàn trang (thấy mà ớn chè đậu) tựa là Phiên Bản Tình Yêu (*). Bìa trước và bìa sau đều có hình của hai phụ nữ khỏa thân, và trông (hơi) gợi dục!

Tên tác giả (Vũ Biện Điền) lại hoàn toàn xa lạ. Trong tình yêu, cũng như tình dục, tôi rất ngại chuyện “phiêu lưu” nên lẳng lặng đẩy luôn cái “của nợ” trông rất “ướt át” này vào một góc! Tuần rồi, chả may, giáp mặt người tặng sách – nhà báo Uyên Thao:

– Cậu nghĩ sao về cuốn Phiên Bản Tình Yêu của Vũ Biện Điền?

Tôi đỏ mặt, ấp úng:

– Dạ, em chưa đọc chữ nào.

Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Với đôi chút áy náy, ngay tối hôm ấy, tôi đọc hơn bốn trăm trang sách. Sáng hôm sau, cáo bệnh, nằm nhà “chơi” luôn hơn bẩy trăm trang nữa với rất nhiều ngạc nhiên và thích thú.

Mấy thế hệ người Việt liên tiếp vừa qua, ít nhiều, đều là nạn nhân của thời cuộc hay của chế độ hiện hành nhưng chắc chưa có ai ngồi cặm cụi (nhiều năm trời) để ghi lại những nhận xét tỉ mỉ và chính xác của mình về “những loại nhà nước” hiện nay – như Vũ Biện Điền:

Trong số đó đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ vì nó biến hóa như một cái bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên tất cả các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ… Nó là đầu mối của mọi nhũng nhiễu, tai họa và tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay

Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền, nó vâng lệnh đảng như một thứ đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản trong nhân dân, sau khi trích nạp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở…

Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo cách dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy từng vị trí – ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cửu.….

Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!

Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang… nhà nước này làm bằng sức người và của nả của nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nên chi nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, từa tựa như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản… Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật bao gồm các tổng cục chuyên ngành… Nhà nước này hội đủ tính chất phong kiến trung cổ La Mã, sỹ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ, bổng lộc hậu hĩ – hạ sỹ quan và lính (con em nhân dân thi hành nghĩa vụ), gọi là chiến sỹ, chỉ được hưởng sinh hoạt phí vừa đủ cầm hơi tới ngày phục viên…

Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố… vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không những nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước những đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chỉ dưới thời phát xít Đức-Ý-Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.

Nguồn phóng ảnh: http://www.bacaytruc.com

Vũ Biện Điền cũng “tính sổ” rành mạch từng vụ một, cùng với tên tuổi rõ ràng của những tên chính phạm. Xin đơn cử vài vụ tiêu biểu:

Công Hàm 1958:

“Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?”

Thảm sát Mậu Thân 1968:

“Tôi đào được danh sách của bộ chính trị nhiệm kỳ ba của đảng Cộng Sản Việt Nam 1960 -1976. Nhìn chung, chẳng ai xa lạ, Hồ Chí Minh chủ tịch, Lê Duẩn bí thư thứ nhất, Trường Chinh chủ tịch quốc hội, Phạm Văn Đồng thủ tướng, Phạm Hùng phó thủ tướng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng, Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, Nguyễn Duy Trinh phó thủ tướng, Lê Thanh Nghị phó thủ tướng, Hoàng Văn Hoan phó chủ tịch quốc hội, Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến dũng, hai thành viên này được bổ sung từ năm 1972.”

Cách nhìn của Vũ Biện Điền về những người đồng thời với mình – qua lời những nhân vật của ông – cũng khá khắt khe, và rất có thể gây ra tranh cãi gắt gao:

“Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỉ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy. Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù… Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc… tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga – Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh…”

Một tác phẩm mang đậm mầu sắc chính trị như thế sao lại có cái tựa trữ tình và ướt át là Phiên Bản Tình Yêu? Trong phần lời tựa nhà văn Trần Phong Vũ đã giải thích (phần nào) như sau:

“Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình – mà là một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng Tình Yêu ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt… Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ ‘thang’ để dẫn ‘thuốc’, một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn những lợi ích cá nhân, bè nhóm, bất chấp sự an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Và trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt được mục đích của ông.

Tôi cũng tin là Vũ Biện Điền hoàn toàn đạt được mục đích của mình nhưng e rằng ông không thành công (lắm) khi dùng hình thức tiểu thuyết như “một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu” vào “chuyện tình xuyên thế hệ” này. Những nhân vật trong Phiên Bản Tình Yêu (e) hơi quá nhiều kịch tính, nhất là qua những mẫu đối thoại rất dài và (rất) trí tuệ nhưng cũng rất xa lạ với đời thường hay đời thật.

Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ hoàn toàn chủ quan (và có thể là hoàn toàn sai lạc) của một thường dân mà trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật còn nhiều giới hạn. Mong được đón nhận những nhận định khác, từ những người đọc khác, về công trình tâm huyết và đồ sộ này của Vũ Biện Điền.

Con cháu của anh hùng Núp, không… núp nữa!

Báo Tiếng Dân

BM B’krông

17-6-2023

Như chúng ta đều biết, Việt Nam hiện nay là một quốc gia có hình chữ S, với diện tích hơn 300,000 km2, chia làm 3 miền Bắc Trung Nam, có 64 tỉnh thành, dân số khoảng 100 triệu người, bao gồm 54 dân tộc khác nhau. Trong đó, người Kinh, tức người Việt, chiếm khoảng 86%, còn 14% là các dân tộc thiểu số, gọi chung là người Thượng, sinh sống rải rác ở miền núi, cao nguyên.

Trong đất nước này, có một vùng lãnh thổ vô cùng đặc biệt là Tây Nguyên. Đây là nơi mà những người Thượng đã định cư hàng ngàn năm, như người da đỏ Indian định cư ở châu Mỹ. Nếu người da đỏ được coi là người bản địa của châu Mỹ, thì người Thượng ở Tây Nguyên cũng phải được coi là người bản địa của vùng lãnh thổ này. Vùng đất này tiếp giáp với biên giới Campuchia và Lào, là hai quốc gia hiện rất thân thiện với Trung Quốc.

Người Thượng ở Tây Nguyên bao gồm nhiều dân tộc thiểu số khác nhau như người Jarai, Ede, Raglai, Churu, Bahnar, Sedang, Hre, Koho, Mnong, Brau, Rmam, Stieng, Bru-Van Kieu, Katu, Gietrieng, Taoi, Ma, Cor, Chrau… Và một thực tế không thể chối cãi là, những người dân thiểu số hoàn toàn khác biệt với người Kinh, tức người Việt, về mọi mặt như ngôn ngữ, truyền thống, tôn giáo, luật lệ, y phục, văn hoá, tính cách, lối sống… Tương tự như thổ dân da đỏ ở châu Mỹ, hoàn toàn khác biệt với người da trắng từ châu Âu đến xâm chiếm lục địa của họ từ sau thế kỷ 17.

Sau khi cộng sản Việt Nam thống nhất đất nước bằng vũ lực hồi tháng 4-1975, vùng Tây Nguyên mặc nhiên bị sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam và trở thành một bộ phận của quốc gia này. Đồng thời, người dân Tây Nguyên mặc nhiên bị đặt dưới sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam một cách miễn cưỡng. Họ, người Thượng Tây Nguyên, có muốn vậy không? Tất nhiên là không.

Đừng chỉ nhìn Tây Nguyên với con mắt của “khách du lịch”

Trong chiến tranh Việt Nam giữa hai quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ở miền Bắc) và Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam), một số người Thượng đã tích cực tham gia vào lực lượng cộng sản Bắc Việt, chiến đấu chống lại Việt Nam Cộng hòa, không phải vì họ ủng hộ và muốn đưa dân tộc mình đi theo chế độ cộng sản, mà bởi vì họ được giới lãnh đạo cộng sản hứa hẹn rằng, sau khi tiêu diệt được Việt Nam Cộng hòa, nhà nước cộng sản sẽ để cho vùng Tây Nguyên trở thành khu vực tự trị. Tuy nhiên, nhà nước cộng sản đã không bao giờ thực hiện lời hứa đó.

Sau khi thống nhất được đất nước, nhà nước cộng sản không bao giờ cho người Thượng quyền tự trị vùng Tây Nguyên, trái lại, họ nhanh chóng áp đặt quyền cai trị độc đoán lên các dân tộc thiểu số này, bất chấp sự khác biệt sâu sắc về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, luật lệ, lối sống… Và mọi sự bất bình, phản kháng của người Thượng đều bị cộng sản dập tắt bằng bạo lực.

Vậy là, sau nhiều thập niên nhiệt tình hăng hái giúp sức cho “đối tác” cộng sản Bắc Việt tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa, cuối cùng, người Thượng bị “đối tác” trở mặt, xâm lược luôn lãnh thổ của mình, biến dân tộc mình thành nô lệ.

Thế lực thù địch xuyên tạc về tình hình ở Tây Nguyên

Nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu, bước tiếp theo mới thật sự kinh hoàng. Trong suốt nhiều thập niên sau khi chiến tranh kết thúc, nhà nước cộng sản Bắc Việt không ngừng thực hiện âm mưu đồng hoá người Thượng Tây Nguyên, xóa bỏ bản sắc dân tộc của họ, bằng nhiều chính sách hiểm độc. Đáng kể nhất là họ liên tục đưa người Kinh (tức người Việt) tới định cư ở vùng Tây Nguyên, chiếm đoạt một cách thô bạo và có hệ thống đất đai canh tác của người Thượng bằng các thủ đoạn nham hiểm, cũng như bằng cái luật đất đai “biến thái” nhất hành tinh, quy định là “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý”. Nói một cách thực tế, nghĩa là “toàn bộ đất đai vùng Tây Nguyên đều thuộc quyền sở hữu của đảng Cộng sản Việt Nam”!

Vậy là kết cục đã rõ, vùng đất Tây Nguyên màu mỡ mà tổ tiên người Thượng dày công khai phá hàng ngàn năm qua, rừng núi Tây Nguyên mênh mông trù phú đã nuôi sống nhiều thế hệ người Thượng từ bao đời nay, cuối cùng đã bị đảng cộng sản “sở hữu”! Nhà nước cộng sản tự cho mình quyền “sở hữu” toàn bộ đất đai ở Tây Nguyên, cũng như trên lãnh thổ Việt Nam, với sức mạnh bạo lực trong tay, đã dễ dàng chiếm đất, chiếm rừng của người Thượng ở bất cứ nơi nào họ muốn, bằng thuật ngữ “quy hoạch”.

Nhà nước Cộng sản Việt Nam cho rằng, chiếm đất là cách làm kinh tế hiệu quả vô cùng. Ví dụ, họ chiếm một khu đất A của người Thượng, đền cho người chủ đất 100 ngàn đồng/m2, một cái giá chỉ bằng hai tô phở, để đuổi người ta đi. Sau đó, họ làm dự án nhà ở thương mại hoặc khu dân cư cao cấp gì đó, hoặc chỉ đơn giản là phân lô bán nền cho khách hàng người Việt với giá hàng triệu đồng/m2. Thế là họ kiếm lãi gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần, so với số tiền bỏ ra “đền bù”, thử hỏi trên thế giới có mô hình kinh doanh nào tạo ra lợi nhuận siêu khủng như vậy không? Thế mà các “thế lực thù địch” cứ chỉ trích nhà nước cộng sản chỉ giỏi chiến tranh, bắn giết, không biết làm kinh tế!

Người Thượng Tây nguyên đã từng chạy sang tỉnh Ratanakiri để lánh nạn cách nay một thập niên

Người Thượng Tây nguyên đã từng chạy sang tỉnh Ratanakiri để lánh nạn cách nay một thập niên

Người Thượng Tây Nguyên bàng hoàng, phẫn nộ và bất mãn. Nhiều lần họ đứng lên phản đối, tranh đấu ôn hòa bằng lý lẽ, quyết bảo vệ đất đai canh tác quý giá mà ông cha để lại, nhưng chỉ dẫn đến một kết cục: Nhà nước cộng sản cho công an hoặc cảnh sát cơ động đàn áp họ bằng bạo lực, chứ không có lý lẽ phải trái gì cả. Người Thượng đã thực sự rơi vào tình thế rất tuyệt vọng. Họ không những không bảo vệ được đất đai, mà còn bị đánh đập, bắt bớ, tra tấn, bỏ tù, sát hại một cách tàn bạo như nô lệ da đen ở nước Mỹ thời xưa. Ngay cả niềm tin tôn giáo của họ cũng liên tục bị nhà nước cộng sản cấm đoán và xoá bỏ một cách quyết liệt. Trong bối cảnh bất lực và cùng quẫn ấy, một số người Thượng đã chọn cách bỏ chạy sang các quốc gia khác xin tị nạn.

Tổ quốc của họ thực sự không còn, nó đã bị giặc ngoại bang xâm lược.

Ước mơ tự trị của người Tây Nguyên như ngọn lửa chưa bao giờ lụi tắt, nhưng bàn tay sắt máu tàn bạo của nhà nước cộng sản đã bóp lấy ngọn lửa ấy và cứ siết chặt dần. Cho đến hôm nay, ước mơ ấy chỉ còn là một bệnh nhân thoi thóp những hơi thở sau cùng trước khi sự sống hoàn toàn tắt lịm.

Vậy trong trái tim của người Thượng Tây Nguyên có cái gì? Sự sợ hãi! Đúng, một nỗi sợ giống hệt nỗi sợ của người nô lệ da đen dành cho các chủ nhân da trắng tàn bạo của mình bên nước Mỹ thuở xưa. Ngoài nỗi sợ ra, họ còn gì nữa không? Còn. Lòng căm thù!

Đúng, một lòng căm thù vĩnh viễn không thể gỡ bỏ, dành cho nhà nước cộng sản, những kẻ xâm lược, những tên “chủ nô” da vàng còn tàn bạo và độc ác hơn đám chủ nô da trắng bên xứ Mỹ thời xưa.

Nếu có một cây đèn thần như trong truyện cổ tích “Nghìn Lẻ Một Đêm”, cho phép họ đưa ra ba điều ước, thì người Thượng sẽ ước gì? Ồ, họ thật sự không cần đến ba điều ước, họ chỉ cần một điều thời. Chắc chắn họ sẽ ước rằng, tất cả bọn cộng sản người Kinh và các đồng chủng da vàng của chúng hãy cút xéo ra khỏi vùng Tây Nguyên ngay lập tức, trả lại quyền tự trị cho người Thượng. Hãy biến đi, và đừng bao giờ quay trở lại với các luật lệ tàn ác xấu xa của mình như điều 331 và 117. Chỉ thế thời.

Với vụ đột kích táo bạo vào hai trụ sở nhà nước cộng sản ở Đăk Lăk ngày 11 tháng 6, giết nhiều công an và cán bộ cộng sản đang tụ tập ăn nhậu và xem bóng đá, được thực hiện bởi một lực lượng vũ trang rằn ri người Thượng, họ đã đưa ra một thông điệp mạnh mẽ và dứt khoát: Đó là họ muốn lấy lại vùng Tây Nguyên, để thành lập quốc gia riêng biệt của mình, như Campuchia và Lào, tách biệt khỏi lãnh thổ Việt Nam, là nước đang bị Đảng Cộng sản cai trị từ 1975.

Ngọn lửa Tây Nguyên có thể chỉ loé sáng một lần rồi vụt tắt trước bàn tay tàn bạo ngày càng bóp chặt hơn của nhà nước cộng sản, với hàng loạt vụ truy lùng bắt bớ người Thượng vô tội vạ sau sự việc, kiểu như “cứ thấy mặc đồ rằn ri là bắt trước đã, rồi tính sau” thậm chí, ai bán đồ rằn ri cũng bị xử phạt, không cần căn cứ theo điều luật, quy định nào cả. Nhưng trong trái tim của người Thượng Tây Nguyên, trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn họ, ngọn lửa ấy không thể nào bị dập tắt được, cũng như niềm tin, niềm hy vọng rằng, một ngày kia họ sẽ tìm thấy cây đèn thần như trong truyện cổ tích “Nghìn Lẻ Một Đêm”, để biến điều ước thiêng liêng duy nhất của dân tộc mình thành sự thật.

Bắt một trong những kẻ cầm đầu vụ dùng súng tấn công trụ sở UBND xã ở Đắk Lắk - Ảnh 1.

Dù kết cuộc có bi thảm hay đẫm máu thế nào, khi dám đứng lên đương đầu với nhà nước cộng sản tàn bạo, cũng xin nghiêng mình kính cẩn trước 40 chiến binh rằn ri, những đứa con của núi rừng bất khuất. Các anh không phải là bọn khủng bố. Đứng lên chống giặc ngoại xâm, sao lại gọi là khủng bố?

Ngọn lửa các anh đốt lên hôm nay sẽ sáng mãi trong tim người Tây Nguyên, sẽ đi vào lịch sử hào hùng của vùng đất huyền thoại này. Vinh quang thay 40 chiến binh vệ quốc, những hậu duệ phi thường của anh hùng Núp năm xưa, các anh đã quyết định không… núp nữa!


 

Lễ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Lễ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ, ước mong bạn cảm nghiệm được sự âu yếm và an ủi nơi Mẹ Từ Bi nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 17/06/2023

TIN MỪNG: Maria giữ kỹ mọi điều ấy và hằng ngày suy nghĩ trong lòng. (Lc 2:19)

SUY NIỆM: Đức Piô XII nói: “Tình Hiền Mẫu của Trái Tim Mẹ Maria gần như vô biên. Tâm hồn Mẹ đầy tình hiền ái nồng nàn nhất. Trong giờ phút bi thảm của lịch sử loài người này, chúng con phó thác và hiến dâng chúng con cho Trái Tim Vô nhiễm Mẹ.” Sau đây là những câu gợi ý suy niệm của các thánh ước mong bạn yêu mến Mẹ hết lòng và được Mẹ thương chở che trong mọi hoàn cảnh:

❦ Không trí khôn thụ tạo nào, không trái tim thụ tạo nào, không sức lực nhân loại nào có thể biết được Trái Tim Mẹ Maria yêu mến Chúa chúng ta đến mức nào. (Thánh Giêrônimô)

❦ Tình Chúa yêu thương chiếm trọn Trái Tim Mẹ Maria, đến nỗi Trái Tim Mẹ dầy tràn tình yêu, vì Thiên Chúa không làm bùng lên tình yêu trong trái tim nào khác như trong Trái Tim Rất Thánh Nữ Trinh. Và vì Mẹ thoát khỏi mọi dính bén thế tục để Mẹ lãnh nhận được ngọn lửa thánh này. (Thánh Bênađô)

❦ Đức Nữ Trinh hiển vinh không lặp lại những tác động yêu mến như các thánh, vì trọn cuộc đời Mẹ là một tác động yêu mến liên lỉ do một đặc ân Mẹ luôn luôn yêu mến Thiên Chúa. (Thánh Bênađino)

❦ Mẹ Maria trung thành yêu mến Thiên Chúa trong những giờ phút đen tối nhất và tuyệt vọng nhất, đặc biệt trên đồi Canvê. Mẹ tới một mức độ yêu mến hoàn hảo nhất, cao cả nhất. Điểm căn bản là tâm hồn Mẹ tan hòa kết hợp với Chúa và chỉ yêu mến duy một Thiên Chúa trong mọi sự và mọi nơi. (Thánh Phanxicô Salêsiô)

❦ Chúng ta có thể tìm một nơi náu ẩn nào có bảo đảm hơn Trái Tim từ bi Mẹ Maria? Người khốn khó tìm được sự cứu giúp, kẻ ốm liệt tìm được thuốc thang, người sầu khổ tìm được sự ủi an, người xao xuyến tìm được lời khuyên răn, kẻ thất vọng tìm được sự trợ phù. (Thánh Tôma Kempi)

❦ Chúa Con có đức công bình của Người, Mẹ không có gì, chỉ có tình yêu là Trái tim của Người. Không có ơn nào từ trời xuống mà không qua tay Mẹ. (Thánh Gioan Maria Vianney)

❦ Ai muốn hiểu biết những bí nhiệm thẳm sâu tình yêu Thiên Chúa, và những nhân đức kín nhiệm Thiên tính Chúa Giêsu, thì phải học trong bức gương trong suốt Trái tim Vô nhiễm Mẹ Maria. (Thánh Eymard)

LẮNG NGHE: Một mũi gươm sẽ đâm thâu qua lòng Bà ” (Lc 2:35)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, xin uốn lòng con nên giống Trái tim Mẹ.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Dâng Mình Cho Đức Mẹ: Lạy Mẹ Maria là Mẹ nhân thay, con xin dâng mình con cho Đức Mẹ và cho chúng con hết lòng làm con Đức Mẹ, thì ngày (đêm) hôm nay con xin dâng con mắt, lỗ tai, miệng lưỡi, trái tim cùng tất cả thân mình con cho Đức Mẹ. Lạy Mẹ Maria là Mẹ khoan thay, này con thuộc về Đức Mẹ thì xin Đức Mẹ gìn giữ con như của riêng Đức Mẹ vậy. Amen. (Bạn có thể đọc ban sáng/tối mỗi ngày)

From: Đỗ Dzũng

Đền tạ trái tim Mẹ – Mai Thiên Vân