Ta cần có nhau – Từ Thức
Từ Thức
Minh họa: luca-bravo-unsplash
Đọc báo, không ngày nào không có những buổi hội họp của các hội ái hữu cựu học sinh, sinh viên trường này, trường kia, những buổi hội ngộ của những người đồng hương tỉnh này, tỉnh nọ. Có người cho đó là chuyện tào lao, vô bổ, của những người vô công rồi nghề. Người Việt ta như vậy: Những gì mình không làm đều là tào lao, vô bổ.
Tôi nghĩ ngược lại. Không những chuyện gặp gỡ, trao đổi là một nhu cầu của con người, còn rất ích lợi cho chính người tham dự, trước khi hữu ích cho một cộng đồng. Không có những sinh hoạt “vô bổ”, con người trở thành người máy, cộng đồng trở thành một cộng đồng chết. Bài này ghi lại nội dung những buổi nói chuyện, thảo luận thân mật với anh chị em hội Cựu học sinh Petrus Ký ở Conneburg, với nhóm Anh Em Tôi, đa số rất trẻ, ở Frankfurt, Đức Quốc, từ ngày 14 đến 18 Tháng Bảy vừa qua.
CƠM NHÀ NGÀ VOI
Tôi sống một nửa thế kỷ ở ngoại quốc, gấp hai thời gian sống trong nước, nhưng ngày nay, nghĩ lại, chỉ nhớ những kỷ niệm ở Việt Nam, mặc dù những ngày đó không có một xu dính túi. Có thể giải thích điều đó: Quê hương là đẹp hơn cả. Hay: 20 năm đầu tiên trong đời quyết định tất cả.
Cũng có thể giải thích cách khác: Những năm 1960 ở miền Nam Việt Nam, các hoạt động xã hội, văn hoá của sinh viên, học sinh miền Nam phát triển rầm rộ. Ngoài những buổi lên đường xuống đường, những đêm không ngủ, các hội đoàn mọc ra như nấm: Nguồn Sống, Du Ca, Phong Trào Học Đường Phục Vụ Xã Hội, Thanh Niên Thiện Chí, Thanh Niên Chí Nguyện…
Chúng tôi sát cánh bên nhau ca hát, vào các xóm nghèo, về vùng quê, lên cao nguyên làm việc từ thiện, dạy học, chích thuốc, đào giếng, cất nhà. Có người tham gia ngày cuối tuần, có người hoạt động suốt ba tháng hè, hay bỏ học làm việc xã hội, ở những vùng còn tạm yên.
Đó là cơ hội khiến chúng tôi khám phá một đất nước gấm vóc, những văn hoá muôn dạng của đồng bào thiểu số, khiến chữ “yêu nước, thương đồng bào” không phải là những từ ngữ trống rỗng.
Sau này, gặp lại những người tích cực tham gia đời sống cộng đồng, kể cả khi về già, đều là những người đã ăn cơm nhà, vác ngà voi thời trẻ. Đã vác ngà voi một lần, sẽ vác suốt đời. Bởi vì chúng tôi khám phá ba điều.
Thứ nhất: Tìm thấy hạnh phúc trong cái hạnh phúc của người khác. Sau này, có phương tiện, có cơ hội hưởng thụ, không bao giờ tìm lại được sự xúc động như khi thấy mấy em nhà nghèo ê a đọc những trang sách đầu tiên trong đời. Hay buổi tối ngồi hát bên nhau, chào mừng một cái giếng vừa đào, một lớp học vừa cất.
Thứ hai: cảm thấy mình có ích. Không có gì buồn thảm hơn một người thấy mình vô ích, vô dụng.
Thứ ba: thấy mình không đơn độc, có bạn bè, mình là thành phần của một cộng đồng, một nhóm. Có cảm tưởng cùng nhau có thể làm bất cứ chuyện gì. Cái tình bạn thời trẻ đó đôi khi kéo dài cả đời người. Đó là tình bạn thực.
Những buổi sinh hoạt của cộng đồng người Việt hải ngoại (ảnh: tác giả gửi)
VÔ CẢM
Người ta vẫn trách tuổi trẻ ngày nay vô cảm, chỉ biết hưởng thụ, cá nhân chủ nghĩa, thờ ơ với xã hội, với đất nước. Tôi không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ tuổi trẻ nào cũng có lý tưởng, cũng chống bất công, cũng muốn có ích cho xã hội, nhưng chế độ đã biến họ thành những người vô cảm, bởi vì không có gì tốt hơn cho độc tài bền vững hơn là những người dân vô cảm.
Người ta không sinh ra vô cảm, người ta trở thành vô cảm. Khi còn trang Facebook, tôi viết vài bài vớ vẩn, khô khan, tưởng không ai đọc, ngạc nhiên thấy nhiều bạn trẻ gởi mail, cho hay “nhờ chú mà cháu biết về di cư 54, về Tự Lực Văn Đoàn, về boat people, hiểu thêm về chiến tranh Việt Nam và những lý do đưa đất nước đến băng hoại…”, và muốn gặp để trao đổi thêm. Cái tò mò muốn hiểu hơn sự thực về đất nước mình chưa bị xoá, dù tuổi trẻ bị nhồi sọ, tẩy não.
CON VẬT CHÍNH TRỊ
Aristote, triết gia Hy Lạp, bốn thế kỷ trước Thiên Chúa giáng sinh, định nghĩa con người là một con vật xã hội ( l’homme est un animal social).
Hannah Arendt, triết gia Đức, sửa lại: Aristote muốn nói người là một con vật chính trị (l’homme est un animal politique), vì thời Aristote chưa có chữ xã hội.
Chính trị ở đây không có nghĩa là làm chính trị, lập đảng, tham gia chính quyền. Chính trị là tham gia vào đời sống cộng đồng.
Con vật cũng có đời sống xã hội, phân công trách nhiệm, đôi khi cực kỳ chặt chẽ, như loài ong, loài kiến, nhưng cái khác là con người, animal politique, tham gia đời sống xã hội (Aristote gọi là cité, thành phố), thảo luận, trao đổi để cải thiện đời sống. Từ sự sống chung đó đẻ ra những quy ước xã hội, phong tục, luật lệ, văn hoá.
Theo Aristote, tất cả đều là những con vật chính trị, có nhu cầu sống chung, trừ những người dưới loài người, coi như con vật (animal), hay hiếm hơn nữa, đứng trên loài người, là những bậc thánh (Dieu). Sống chung, tham gia vào đời sống cộng đồng là một nhu cầu, sau nhu cầu thở, ăn uống.
KIM TỰ THÁP MASLO
Nhà xã hội học Hoa Kỳ Abraham Maslow, từ 1943, nổi tiếng với thuyết về nhu cầu của con người (Theory of Human Motivation), tóm tắt những nhu cầu đó trong một mô hình cũng nổi tiếng không kém, gọi là Kim Tự Tháp Maslow (Pyramide de Maslow).
Kim tự tháp Maslow chia nhu cầu của con người ra năm tầng.
Tầng dưới cùng, những nhu cầu tối cần: Thở, ăn, uống, tình dục, ngủ…
Tầng thứ nhì: Sau nhu cần ăn, ngủ, con người tìm an ninh, công việc, tiền bạc, gia đình, sức khoẻ, tài sản, của cải.
Tầng thứ ba: Tình bạn, tình nghĩa gia đình (khác với có gia đình ở tầng hai), tóm lại, nhu cầu thuộc một nhóm, là thành phần của một cộng đồng.
Tầng thứ tư: Thành công trong xã hội, nhu cầu được người khác kính trọng, tự tin, tự trọng.
Tầng cao nhất: Nhu cầu luân lý, sống trong sự tử tế, nhu cầu sáng tạo (văn học, nghệ thuật), nhu cầu có khả năng giải quyết những vấn đề, mở mang trí óc, thoát khỏi những thành kiến.
Như vậy, nhu cầu thuộc một nhóm, đóng góp, tham dự, chia sẻ với một cộng đồng ở từng thứ ba.
Nếu chỉ biết ăn ngủ, làm tình, ăn xong lại nằm, là còn lẩn quẩn ở tầng thứ nhất, sống theo bản năng.
Nếu chỉ nghĩ, chỉ ham mê vật chất, kiếm tiền, mua nhà, mua xe hơi, mua hột xoàn, mua giầy Nike, sac Vuiton, là chưa thoát khỏi tầng thứ nhì.
Muốn leo lên tầng trên, cần đôi chút nỗ lực, cần tự đặt câu hỏi, tự xét lại. Khi lên tầng trên, sẽ tìm thấy một cuộc đời giầu có hơn là tiền bạc, phong phú hơn là cuộc sống chỉ có thú vui vật chất. Lúc đó, người ta sẽ hiểu những cái vô bổ, những thú vui tinh thần, không có ích lợi thực dụng, không ăn được, là những nhu cầu thiết yếu, để đời sống đáng gọi là đời sống.
Minh họa: kevin-delvecchio-unsplash
CẦN NHAU ĐỂ LÀM GÌ
Chúng ta cần có nhau để làm gì?
-Để tương trợ lẫn nhau. Từ thời thượng cổ, con người đã cần nhau sống còn, để săn bắn, để đương đầu với đe doạ của thiên nhiên.
-Để trao đổi, học hỏi lẫn nhau.
-Để đụng độ các ego, hiểu rằng có người nghĩ khác mình, sự thực chỉ tương đối, từ đó cởi mở hơn, không bị trói chặt trong các thành kiến như khỉ giữ ống.
-Cùng với người khác, ta sẽ mạnh hơn, sẽ lây sự nhiệt thành của người khác.
Không phải vô lý mà tất cả những chế độ độc tài đều sợ “tụ tập đông người”. Gặp gỡ nhau cũng là một cách chia sẻ những đau thương của chính mình. Cái gánh nặng đau buồn khi được chia sẻ sẽ nhẹ đi. Đó chính là lý do người Tây Phương tìm gặp các bác sĩ tâm lý.
Người Việt ta không có thói quen thổ lộ tâm tình, với người lạ, hay người quen, kể cả cha mẹ, anh em, con cái. Mỗi người Việt là một bi kịch biết đi. Một bi kịch câm lặng biết đi. Không người Việt nào không là nạn nhân của chiến tranh, chia ly, tang tóc. Cái thảm kịch của dân tộc, của mỗi người chúng ta khủng khiếp hơn bất cứ những trang tiểu thuyết bi thảm nhất.
Gói trọn cái thảm kịch đó trong đầu, ngồi một góc nhà, chúng ta không thể tìm thấy an bình, dù đã thành công trong đời. Gặp gỡ nhau là một cách chia sẻ cái gánh nặng ấy với người khác. Có chung một cảnh ngộ, chúng ta, một cách vô thức, chia sẻ bi kịch cá nhân, không cần lời nói, không cần tâm tình, không cần giải thích.
Một nghiên cứu cho hay một nụ cười, một khuôn mặt thân thiện tạo ra một phản ứng hoá học nơi người nhận, cũng như người cho, khiến người ta yêu đời hơn.
Ngày nay có rất nhiều “club de rire”, hay club de yoga du rire (laughter yoga), nơi người ta đến để cười chung với nhau. Nhìn từ bên ngoài, thấy lố bịch, nhưng những người đã tham dự nói sau một buổi cười với nhau, người ta thấy gần gũi nhau hơn, gánh nặng ưu phiền nhẹ hẳn đi.
THẾ GIỚI ẢO
Những tiến bộ kỹ thuật thông tin đáng lẽ làm chúng ta gần nhau hơn, đã đẩy chúng ta xa nhau. Nhà nhân chủng học Anh Robin Dunbar nói mỗi người chỉ có thể có tối đa năm người bạn thực là bạn. Sau này, với mạng xã hội, người ta có thể có hàng ngàn “friends”, nhưng đó là thế giới ảo. Có người nói nhiều bạn bè trên mạng cũng như tỷ phú trên Monopoly (một trò chơi ăn thua bằng tiền giả).
Chúng ta nói chuyện với những người xa lạ bên kia địa cầu, quên cả bạn bè, người thân bên cạnh. Hình ảnh quen thuộc ngày nay là một bữa cơm gia đình, mỗi người chúi mũi trên smart phone, sống trong thế giới ảo. Gặp gỡ, tham dự những sinh hoạt cộng đồng là một cách hữu hiệu để bớt cô đơn, để tìm lại chính mình. Với điều kiện gặp nnhau không phải chỉ để khoe hột xoàn, xắc Chanel, xe mới.
TIẾNG VIỆT CÒN…
Người Việt ở hải ngoại gặp nhau cũng là cơ hội để tiếng Việt khỏi bị quên lãng, để văn hoá Việt khỏi bị chôn vùi. Phạm Quỳnh nói: Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn; tiếng Việt còn, nước Việt còn.
Ngôn ngữ là sợi dây nối những người đồng hương với nhau. Khi sợi dây đứt, dân tộc tan vỡ thành những mảnh vụn. Chuyện bảo vệ tiếng Việt càng quan trọng, khẩn cấp hơn khi tiếng Việt bị tra tấn, hành hạ bằng những từ ngữ mới, ngây ngô, vô nghĩa, những cách diễn tả lai Tàu, lai Tây, lai Mỹ…
Những tệ hại đó nhan nhản, chỉ cần mở một tờ báo, một đài truyền hình, nghe một video. Đôi khi vì ngu dốt, đôi khi vì vô ý thức, nhưng nguy hiểm hơn, đôi khi vì một chế độ muốn xoá bỏ văn hoá cũ, con người cũ, để đào tạo con người mới, sản phẩm của chế độ, dùng ngôn ngữ của chế độ, suy nghĩ như chế độ. Không phải vô tình mà người Cộng sản đốt sách, đốt nhạc, bỏ tù văn nghệ sĩ, khi chiếm miền Nam năm 1975.
TỪ GIA ĐÌNH TỚI XÃ HỘI
Một đặc điểm của xã hội Việt Nam là tinh thần gia đình, cực mạnh. Vì gia đình, người ta quên mình, quên cả sống, hy sinh vô bờ bến. Cái tôi không có, chỉ có con cái, anh chị, bố mẹ, ông bà. Gia đình là thành trì cuối cùng trong một xã hội băng hoại. Thành trì đạo đức, nhân phẩm, thành trì văn hoá, thành trì của tình người.
Không có gia đình mạnh, xã hội Việt Nam đã tan rã, dân tộc Việt đã giải thể từ lâu. Vấn đề là cái văn hoá gia đình cực mạnh đó khiến chúng ta sao lãng, thờ ơ với xã hội. Một quốc gia đúng nghĩa không thể chỉ là những ốc đảo lẻ loi, là hàng triệu gia đình, sống bên cạnh nhau, nhưng không có nỗ lực chung để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Tham dự đời sống cộng đồng chính là “nối vòng tay lớn” với xã hội.
VĂN HOÁ
Milan Kundera, văn hào Pháp gốc Tiệp, vừa từ trần, đặt câu hỏi: Tại sao các nước Âu Châu đứng vững, tồn tại ngàn thu, không thế lực nào xoá bỏ được, mặc dù chỉ là những quốc gia rất nhỏ, ít người, biên giới bị các “bên thắng cuộc” trong lịch sử vẽ đi vẽ lại?
Kundera trả lời: cái giữ vững Âu Châu là văn hoá. Âu Châu là một vùng văn hoá cực kỳ phát triển. Với nền tảng văn hoá đó, những chế độ độc tài từ Nazi tới Cộng Sản, dù tàn bạo tới đâu, cũng chỉ là dấu ngoặc của lịch sử. Tham dự, đóng góp cho đời sống cộng đồng là một cách, ít hay nhiều, đóng góp cho việc bảo tồn văn hoá Việt.
From: Tu-Phung
VƯỢT NGOÀI SỰ THA THỨ
Phó Tế Nguyễn Sỹ Bạch
“Hãy nhanh chóng giải quyết với đối thủ của bạn trên đường ra tòa. Nếu không, đối thủ của bạn sẽ giao bạn cho thẩm phán, và thẩm phán sẽ giao bạn cho lính canh, và bạn sẽ bị tống vào tù. Amen, tôi nói cho anh biết, anh sẽ không được thả ra cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng.” Ma-thi-ơ 5:26
Có phải Chúa của chúng ta ở đây đang đưa ra lời khuyên pháp lý liên quan đến một vụ án hình sự hoặc dân sự và làm thế nào để tránh bị truy tố? Chắc chắn không. Ngài đang trình bày cho chúng ta hình ảnh của chính Ngài là Thẩm phán công bằng. Và Ngài đang khuyến khích chúng ta bày tỏ lòng thương xót đối với bất kỳ ai và tất cả những người có thể bị coi là “đối thủ” của chúng ta.
Sự tha thứ của người khác là điều cần thiết. Nó không bao giờ có thể bị giữ lại. Nhưng sự tha thứ thực ra vẫn chưa đủ. Mục tiêu cuối cùng phải là sự hòa giải, điều này còn đi xa hơn nhiều. Trong Tin Mừng trên đây, Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta “dàn xếp” với những kẻ chống đối mình, trong đó hàm ý sự hòa giải. Phiên bản RSV của Kinh thánh nói như sau: “Hãy nhanh chóng kết bạn với người tố cáo bạn…” Cố gắng nuôi dưỡng “tình bạn” với người đã buộc tội bạn, đặc biệt nếu đó là lời buộc tội sai lầm, không chỉ đơn giản là tha thứ cho họ.
Hòa giải với người khác và thiết lập lại tình bạn đích thực có nghĩa là bạn không chỉ tha thứ mà còn làm tất cả những gì có thể để đảm bảo rằng bạn thiết lập lại mối quan hệ yêu thương với người đó. Điều đó có nghĩa là cả hai bạn đều gác lại sự bất bình của mình và bắt đầu lại. Tất nhiên, điều đó đòi hỏi cả hai người phải hợp tác trong tình yêu; nhưng về phần bạn, điều đó có nghĩa là bạn nỗ lực hết sức để thiết lập sự hòa giải này.
Hãy nghĩ về ai đó đã làm tổn thương bạn và kết quả là mối quan hệ của bạn với họ đã bị tổn hại. Bạn đã cầu nguyện tha thứ cho người đó trước mặt Chúa chưa? Bạn có cầu nguyện cho người đó và xin Chúa tha thứ cho họ không? Nếu vậy thì bây giờ bạn đã sẵn sàng cho bước tiếp theo là tiếp cận họ bằng tình yêu để hàn gắn mối quan hệ của mình. Điều này đòi hỏi sự khiêm nhường tuyệt đối, đặc biệt nếu người kia là nguyên nhân gây ra tổn thương và đặc biệt nếu họ chưa nói những lời đau buồn với bạn, cầu xin sự tha thứ của bạn. Đừng chờ đợi họ làm như vậy. Hãy tìm cách để cho người đó thấy rằng bạn yêu họ và muốn hàn gắn vết thương. Đừng giữ tội lỗi của họ trước mặt họ hoặc giữ mối hận thù. Chỉ tìm kiếm tình yêu và lòng thương xót.
Chúa Giêsu kết thúc lời khuyên này bằng những lời mạnh mẽ. Về cơ bản, nếu bạn không làm tất cả những gì có thể để hòa giải và thiết lập lại mối quan hệ của mình, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm về điều đó. Dù điều này ban đầu có vẻ không công bằng, nhưng rõ ràng là không phải vậy, bởi vì đây là lòng thương xót sâu xa mà Chúa ban cho chúng ta mỗi ngày. Chúng ta sẽ không bao giờ ăn năn thỏa đáng về tội lỗi của mình, nhưng dù sao đi nữa, Chúa cũng tha thứ và hòa giải với chúng ta. Thật là một ân sủng! Nhưng nếu chúng ta không trao tặng lòng thương xót này cho người khác, thì về cơ bản, chúng ta sẽ hạn chế khả năng Chúa ban lòng thương xót này cho chúng ta, và chúng ta sẽ phải trả “đồng xu cuối cùng” món nợ của chúng ta đối với Chúa.
Hôm nay, hãy suy ngẫm về người mà bạn nghĩ đến mà bạn cần phải hòa giải hoàn toàn và khơi lại mối quan hệ yêu thương. Hãy cầu nguyện để có được ân sủng này, dấn thân thực hiện nó và tìm kiếm cơ hội để thực hiện điều đó. Hãy làm điều đó mà không cần dè dặt và bạn sẽ không bao giờ hối hận về quyết định của mình.
Lạy Chúa đầy lòng thương xót nhất của con, con tạ ơn Chúa vì đã tha thứ cho con và yêu thương con một cách hoàn hảo và trọn vẹn như vậy. Cảm ơn Ngài đã hòa giải với con bất chấp sự ăn năn không hoàn hảo của con. Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim luôn tìm cách yêu thương tội nhân trong đời con. Xin giúp con bày tỏ lòng thương xót đến mức tối đa để bắt chước lòng thương xót thiêng liêng của Chúa. Chúa ơi, con tin vào Ngài.
Phó Tế Nguyễn Sỹ Bạch
Cha con Trần Quí Thanh chiếm đoạt $42.5 triệu
February 25, 2024
Trần Quí Thanh và con gái, Trần Uyên Phương
Trong lúc bị bắt tạm giam, bị can Trần Quí Thanh bị Bộ Công An cho là “vẫn ngoan cố, chưa thành khẩn khai báo” và “không nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.”
Trần Quí Thanh, chủ tịch tập đoàn Tân Hiệp Phát, cùng hai con gái vừa bị truy tố với cáo buộc chiếm đoạt 1,048 tỷ đồng ($42.5 triệu) của bốn cá nhân.
Báo Người Lao Động hôm 24 Tháng Hai đưa tin này và cho biết, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Bộ Công An Việt Nam đã hoàn tất kết luận điều tra bổ sung, chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm Sát nhân dân để truy tố bị can Trần Quí Thanh cùng hai con gái của ông này là bà Trần Uyên Phương và Trần Ngọc Bích.
Cả ba bị can này đều bị cáo buộc hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”
Bản kết luận điều tra quy kết rằng bị can Trần Quí Thanh “lợi dụng quy định về cho vay, hợp đồng chuyển nhượng trong Bộ Luật Dân Sự để cho vay nhưng không làm hợp đồng vay tiền có cầm cố tài sản.
Ba cha con bị can Thanh được ghi nhận ép buộc các doanh nghiệp, cá nhân vay tiền phải làm hợp đồng chuyển nhượng dự án, bất động sản cho hai bà Trần Uyên Phương và Trần Ngọc Bích với giá trị thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực tế.
Sau đó, ba cha con họ làm thủ tục chuyển nhượng để nắm quyền kiểm soát, định đoạt tài sản.
Đến khi chủ tài sản đã trả nợ gốc và tiền lãi theo thỏa thuận, ba cha con ông Thanh viện nhiều lý do để cố tình không trả, chiếm đoạt tài sản của người vay.
Danh tính của các nạn nhân của họ được tiết lộ là bà Đặng Thị Kim Oanh và các ông Nguyễn Văn Chung, Lâm Sơn Hoàng, Nguyễn Huy Đông.
Trong lúc bị bắt tạm giam, bị can Trần Quí Thanh bị Bộ Công An cho là “vẫn ngoan cố, chưa thành khẩn khai báo” và “không nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.”
Trong vụ án này, bị can Thanh bị quy chụp là “có thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chiếm đoạt tài sản có giá trị đặc biệt lớn, gây bất bình trong xã hội.”
(Theo Người Việt)
Alexei Navalny bị Poutine giết, hết chống đối hay có người nối tiếp?-Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May
Ba’o Dan Chim Viet
Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May
Alexei Navalny và vợ. Ảnh REUTERS/Tatyana Makeyeva
Sau gần một tuần tranh đấu quyết liệt với Poutine, đòi Poutine phải giao trả ngay lập tức xác của con, không trả phải chăng vì muốn phi tang tội giết người, bà Lioudmila Navalnia, mẹ của Alexei Navalny, bị Poutine ám sát hôm 16 tháng 2/2034 trong nhà tù biệt giam ở Bắc cực, đã thắng được một phần quan trọng. Poutine đã chịu cho bà nhìn xác con trong nhà thương của Thành phố Salekhard thuộc Quận Iamalo-Nénétsie, nơi có nhà tù nhốt Alexei Navalny.
Bà tố cáo Poutine sở dĩ cho bà nhìn thấy xác con là để buộc bà chấp nhận mai táng Alexei Navalny một cách âm thầm, bí mật tuyệt đối, không tang lễ, ở bên lề một nghĩa trang, bên cạnh một nắm mồ mới, và một nhơn viên trong Ban điều tra về cái chết của Alexei Navalny nói với bà « Nơi đây con của bà yên nghỉ » . Bà phản đối.
Nhơn viên ấy liền dọa bà «Nếu bà không đồng ý chôn cất ngay như chúng tôi đề nghị, thì xác con của bà sẽ thối rữa» .
Từ chối cho bà Lioudmila Navalnia tổ chức tang lễ cho con, phải chăng vì Poutine sợ? Poutine sợ Alexei Navalny chống đối nên đã ám hại Navalny. Nay Poutine lại sợ cả cái xác của kẻ chống ông ta nữa!
Nhưng sau Alexei Navalny còn ai nối tiếp để chống Poutine và chế độ ác ôn ỡ Kremlin không?
Hi vọng về một nước Nga khác mai một
Ai cũng thấy cái chết của Alexei Navalny đã thật sự làm cho Poutine cực kỳ lo sợ về tương lai của chế độ ở Nga. Theo nhà chánh trị học chuyên về Nga, Giáo sư Nikolai Petrov, giải thích thì gần đây nhiều quyết định của Poutine, nhứt là quyết định thanh toán nhà chống đối số 1 Alexei Navalny, là do sợ hãi. Poutine lo sợ trước bầu cử vào giữa tháng ba tới sẽ bị xáo trộn tuy ông ta biết chắc sẽ thắng cử. Xưa nay chế độ độc tài không bao giờ được yên ổn. Poutine lo sợ thắng cử sẽ không đạt số phiếu tối đa trên 90% và sẽ có chuyện bất ngờ không hay xảy ra trong bầu cử.
Về cái chết của Alexei Navalny, ông Nikolai Petrov quả quyết là do Poutine ám sát. Ông nhấn mạnh trong mọi trường hợp Poutine vẫn là thủ phạm. Nên thấy từ sau khi xâm chiếm Ukraine, Poutine không còn quan tâm tới một giới hạn nào nữa hết. Không thắc mắc tới phản ứng của Tây Âu hay phản ứng của dân chúng Nga. Điều đó có nghĩa là Poutine chi quan tâm tới sự mất còn của chế độ mà thôi. Đó đúng là lý do tại sao Poutine đày Alexei Navalny lên nhốt ở cực Bắc, cắt đứt hết mọi liên lạc với luật sư và với thế giới bên ngoài.
Mặc dầu áp lực mạnh của dư luận từ khắp nơi và sức ép chánh trị, Poutine vẫn không tin chắc là Alexei Navalny sẽ không ảnh hưởng xấu tới cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng ba tới. Từ khi từ Đức trở về, ảnh hưởng của Alexei Navalny đối với phần lớn dân chúng và những người theo ông rất lớn. Nhiều người trong số này đã bị Poutine cho lệnh bắt hoặc đã kịp chạy thoát ra ngoại quốc nên ngày nay không nên chờ đợi những cuộc biểu tình lớn xảy ra ở Nga để phản đối cái chết oan ức của Alexei Navalny. Còn biểu tình chống Poutine thì càng khó xảy ra hơn.
Nhưng không vì thế mà nói là sự bất mảng trong dân chúng không có cách nào để bùng phát được. Nhiều chuyện biết đâu sẽ nổ bùng ngay trong ngày cử tri đi bầu? Poutine không thể nào hoàn toàn kiểm soát chặt chẽ hết dân chúng cử tri được. Nhà đối lập khác ở hải ngoại, ông Mikhaïl Khodorkovski, đang tung ra lời kêu gọi cử tri nga khi đi bỏ phiếu, hãy viết tên Alexei Navalny lên lá phiếu. Cách phản khán này rất dễ thi hành mà nhà cầm quyền của Điện Kremlin lại khó kiểm soát và ngăn chặn.
Với Poutine, chiến tranh ở Ukraine làm tốn kém rất lớn vì xua quân đánh Ukraine là một quyết định không hợp lý. Poutine đang trả giá chiến tranh Ukraine quá đắc về tài chánh mà cả về mạng sống của dân Nga, mà về tương lai gần đây, kinh tế Nga sẽ bị ảnh hưởng mà suy sụp hơn. Nhưng Poutine chỉ quan tâm kiểm soát hệ thống cầm quyền cho chặt chẽ, giữ tư cách người lãnh đạo chánh trị và quân sự cẩn thận. Vì Poutine chỉ muốn sử dụng chiến tranh để kiểm soát sát xao hơn nữa hệ thống cầm quyền và xã hội như quản lý cả những nhà tài phiệt. Nên đối với Poutine, việc kết thúc chiến tranh với sự thắng lợi thật sự không phải quan trọng. Poutine muốn kéo dài chiến tranh. Kết thúc, Poutine phải giải thích với dân chúng chiến tranh Ukraine đem lại được gì trong khi Nga đã phải trả giá quá đắt về nhơn mạng và tài chánh. Điều này chắc chắn sẽ không mấy gì hay cho Poutine!
«Còn chờ đợi gì nữa đây?». Câu hỏi mỉa may của một nhơn viên Điện Kremlin được tờ báo độc lập Meduza tường thuật. Thật vậy, một chế độ độc tài ác ôn tuy không cộng sản đảng trị nhưng do một tên gốc cộng sản mà lại được truy rèn trong lò KGB nên mọi chống đối đều bị nghiền nát hết.
Khi nghĩ trở về xứ, đem thân cho Poutine bắt tù đày, Alexei Navalny hi vọng đánh thức tinh thần tranh đấu cho một nước Nga khác của dân chúng Nga và nhờ đó làm sụp đổ chế độ của Poutine . Nhưng ba năm sau, cái chết của anh chỉ đủ đánh dấu mọi hi vọng cho một nước Nga khác của những người chống đối không còn nữa .
Chỉ có, ở khắp nơi trên xứ Nga, những nhóm nhỏ người Nga, vô danh, can đảm, cầm những cánh bông Cẩm chướng đỏ tới đặt ở chơn tượng tưởng niệm những nạn nhơn bị chế độ ác ôn Liên-xô sát hại. Ơ Nga, những chuyện xảy ra trước đây, ngày nay không có thể xảy ra được nữa.
Ai sẽ thay thế Alexei Navalny chống Poutine?
Hiện nay có ông Boris Nadejdine đang động viên hàng ngàn dân Nga để yểm trợ ông ứng cử Tổng thống, tranh cử với Poutine vì hồ sơ ứng cử của ông đã bị Ban Bầu cử từ chối do không đủ điều kiện. Nay ông Boris Nadejdine tranh cử với tư cách người nối tiếp sự nghiệp Alexei Navalny.
Ông Boris Nadejdine biết nay «niềm hy vọng một nước Nga tự do đã hoàn toàn tan biến. Nhưng không phải như vậy là mình xuôi tay, bất lực, đầu hàng tình thế. Tôi sẽ làm mọi cách để thực hiện nguyện vọng của Alexei và của hằng nhiều triệu công dan xứ Nga của chúng tôi. Nước Nga sẽ hòa bình và tự do».
Nhưng ông tuyên bố như vậy được, không bị Poutine bắt, vì ông chỉ là một người muốn làm chánh trị lớn mà cái may mắn nhận được số phiếu bầu cho lại quá nhỏ. Trong lúc đó hy vọng hồ sơ ứng cử của ông sẽ được Hội Đồng Bầu cử chấp thuận cũng quá mong manh.
Nhung Nadejdine ứng cử còn vì có ý kêu gọi chấm dứt chiến tranh ở Ukraine. Ngay trong họ «Nadejdine» của ông, đã có «nadejda», trong tiếng Nga, có nghĩa là «hy vọng», đủ nói lên ông là ứng cử viện duy nhứt sẽ cổ động cho chấm dứt chiến tranh như ông hằng mong muốn: «Không có chiến tranh. Poutine hay cút đi chỗ khác».
Thật sự phải nói là sau Alexei Navalny, sự chống đối Poutine là một tương lai quá mờ mịt.
Trong lúc ở Paris, cũng như ở nhiều Thủ đô khác, Đại sứ của Nga bị triệu tập, ông Josep Borrell, Trưởng Ban Ngoại giao của Liên Âu đề nghị Liên Âu nên gởi một thông điệp ủng hộ sự chống đối ở Nga sau khi Alexei Navalny bị Poutine ám hại. Lời đề nghị này được đưa ra trước khi bà Ioulia Navalnaïa, vợ của Alexei Navalny, tới.
Vấn đề tiếp nối sự nghiệp của Alexei Navalny vẫn còn mơ hồ. Trong một vidéo phát hành trên mạng xã hội, Ioulia Navalnaïa, 47 tuổi, tuyên bố bà sẽ tiếp nối nỗ lực chống tham nhũng của chồng. Tỵ nạn ở Âu châu, cho tới nay, bà vẫn từ chối một vai trò chánh trị nhưng nay, bà chấp nhận lên tiếng kêu gọi mọi sự ủng hộ đoàn kết để đập Poutine một cái cho xong.
Trên thực tế ai cũng biết mọi kêu gọi tập họp đông đảo không phải dễ. Cái giá của phản kháng luôn luôn cao. Đi biểu tình, một người bình thường sẽ bị tù từ 5 tới 9 năm. Ngay cả viết một lời phê bình chế độ trên mạng cũng có thể bị công an bắt nhốt.
Như ở Việt Nam tội chống đảng và Nhà nước. Vì Poutine học theo Nguyễn Phú Trọng!
Nguyễn thị Cỏ May
CAI SỮA VÀ CHIÊM NGẮM – Lm. Minh Anh, Tgp Huế
Lm. Minh Anh, Tgp Huế
“Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao”.
“Số phận của mỗi Kitô hữu được viết giữa hai ngọn núi: Golgotha, nơi cai sữa; và Taborê, nơi chiêm ngắm. Phẩm chất đời sống đức tin của mỗi người được quyết định bởi mức độ hy sinh và chiêm ngắm của họ!” – Vima Dasan.
Kính thưa Anh Chị em,
Thật thú vị, ý tưởng ‘cai sữa và chiêm ngắm’ của Vima Dasan được gặp lại qua phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay. Sự trưởng thành trong niềm tin vào Thiên Chúa của bất cứ ai nhất định phải trải qua hai giai đoạn không thể thiếu trên ‘hai ngọn núi’ cuộc đời của họ!
Thiên Chúa không nhặt những chiếc bình của con người để sử dụng mà trước hết không cai sữa cho họ và huấn luyện họ. Ngài đã huấn luyện từ xa cho Abraham, “Hãy rời quê hương, bà con và nhà cha ngươi để đến xứ Ta sẽ chỉ!”. Abraham phải dò dẫm, tập lắng nghe, và Thiên Chúa đã chuẩn bị ông bằng việc cai sữa khỏi mọi tình cảm và của cải. Khắc nghiệt nhất là việc ông phải hiến tế Isaac, con ruột, trên núi Môrigia – bài đọc một.
Mùa Chay, ‘mùa lên núi’, mùa bạn học biết việc ‘cai sữa’, mùa hiến tế những gì còn ràng buộc cái tôi vốn đang dính trết với những gì thuộc thế gian. Tuy nhiên, đừng lo! Thiên Chúa đã dự liệu. Núi Môrigia, nơi Abraham hiến tế con, còn có tên là núi ‘Chúa sẽ liệu’; ở đó, ông nhận biết một Thiên Chúa có trái tim thương xót. Ngài tha chết cho con ông! Nhờ đó, lòng tin của ông vào Ngài ngày càng tuyệt đối, và ông sẽ là “Cha các kẻ tin”. Phaolô hẳn đã nhớ lại ngọn núi ân phúc này để nói đến cái chết không thể thiếu cho ơn cứu độ nhân loại vốn cũng đã xảy ra trên một ngọn núi ‘Chúa sẽ liệu’ khác, “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” – bài đọc hai.
Bạn và tôi phải đến Môrigia, hoặc Golgotha đời mình, nơi chúng ta học cách ‘cai sữa’ và hiến tế những gì yêu quý nhất, ‘những Isaac’ đời mình; đồng thời, phải đến Taborê, nơi chúng ta sẽ học cách chiêm ngắm và cầu nguyện trong Thánh Linh. Vấn đề của Kitô hữu thời hiện đại là nhiều người không còn muốn đến bất kỳ ngọn núi phát triển tâm linh nào. Và đó là lý do tại sao một số trong chúng ta chậm trưởng thành trong đời sống đức tin.
Một ngọn núi cấp thiết khác không thể thiếu trong đời sống là ngọn núi chiêm ngắm và cầu nguyện. Trên Taborê, Chúa Giêsu tỏ cho các môn đệ thoáng thấy Ngôi Vị thần linh của Ngài. Việc chứng kiến vinh quang thần tính nơi Thầy mình hẳn sẽ giúp họ mỗi khi bị cám dỗ nản lòng hay tuyệt vọng trước những quẫn bách hoặc những đòi hỏi thánh thiện Ngài đặt ra. Cũng thế, bạn và tôi hãy thường xuyên sống lại những giây phút ngọt ngào Chúa ban bằng việc chiêm ngắm và cầu nguyện hầu đủ sức vượt những chướng ngại cuộc đời.
Anh Chị em,
“Người đưa các ông… tới một ngọn núi cao”. Tất cả chúng ta cần phải rời xa nhau, thường xuyên lên những ngọn núi đời mình trong một không gian thinh lặng để tìm lại chính mình và nhận biết rõ hơn tiếng nói của Chúa. Nhưng chúng ta không thể ở lại đó! Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong chiêm ngắm và cầu nguyện truyền cảm hứng cho chúng ta một lần nữa để “xuống núi” và trở về thung lũng, nơi chúng ta gặp nhiều anh chị em đang bị đè nặng bởi sự mệt mỏi, bất công, nghèo đói cả về vật chất lẫn tinh thần và nâng đỡ họ.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, chẳng có cuộc lên núi nào là dễ chịu, cho con yêu mến việc ‘cai sữa và chiêm ngắm’ mà Chúa đã chuẩn bị cho con cách này cách khác!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp Huế
From: Kim Bang Nguyen
Nam Em sắp bị phạt vì nói ‘Hồ Chí Minh cũng đi tù mà không bị kỳ thị’
February 24, 2024
Người mẫu Nam Em trong đoạn livestream
Nữ người mẫu sắp bị Sở Thông tin-Truyền thông TP.HCM phạt vì phát livestream gây ồn ào về giới showbiz và câu: “Bác Hồ cũng đi tù mà sao không thấy ai kỳ thị?”
Báo đảng đưa tin người mẫu Nam Em sắp bị phạt vì phát livestream gây ồn ào, nhưng không dám nhắc đến phát ngôn “nhạy cảm” của cô này liên quan Hồ Chí Minh.
Với phát ngôn nêu trên, nhiều khả năng Nam Em sẽ bị cơ quan quản lý văn hóa của đảng “chụp mũ” là “xúc phạm lãnh tụ”.
Nguyễn Ngọc Hồi, phó giám đốc Sở Thông tin-Truyền thông TP.HCM đe dọa “xử lý vụ việc theo đúng quy định.”
Hồi mô tả rằng hành động livestream của Nam Em là “lợi dụng mạng xã hội để thu hút người theo dõi và định hướng dư luận bằng những hành vi lệch chuẩn.”
Nam Em là cựu hoa khôi Đồng bằng sông Cửu Long 2015.
Cô từng tham gia các cuộc thi Miss Earth 2016, Miss World Vietnam 2022 nhưng không giành được danh hiệu.
Nam Em cũng gây chú ý khi hát bolero và nhận được nhiều sự yêu mến của khán giả, trước khi trở thành tâm điểm của dư luận khi liên tiếp phát livestream “bóc phốt” một số nghệ sĩ.
ĐỂ NÊN HOÀN THIỆN = Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Hãy nên hoàn thiện, như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện!”.
Steffens viết, “Không gì hoàn hảo trên thế giới! Bức tranh tuyệt nhất chưa được vẽ; vở kịch hay nhất chưa được viết; bài thơ vĩ đại nhất chưa được ngâm. Không ai hoàn hảo, không chi hoàn hảo! Vậy mà, Thiên Chúa lệnh cho con người phải hoàn thành mọi sự, và nó làm cách chậm chạp, sai lầm, những gì trong nháy mắt Ngài có thể hoàn tất tuyệt vời! Dẫu thế, nó phải hoàn thiện tất cả; ngay cả bản thân nó, nó được gọi ‘để nên hoàn thiện!’”.
Kính thưa Anh Chị em,
Đúng với nhận định của Steffens, có mặt trên trần gian này, bất cứ ai cũng được gọi ‘để nên hoàn thiện’. Lời Chúa hôm nay cho biết, đó là ý muốn ngàn đời của Thiên Chúa.
Môsê mời gọi con cái Israel bước đi trong đường lối Chúa, nắm giữ huấn thị Ngài, “Để nên một dân thánh hiến cho Chúa” – bài đọc một – nghĩa là ‘để nên hoàn thiện’. Thánh Vịnh đáp ca bộc lộ nỗi vui tòng thuộc đó, “Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời!”.
‘Để nên hoàn thiện’ là ơn gọi chung ‘không hơn không kém’ của bất cứ ai theo Chúa Giêsu! Nếu chỉ nhắm đến mức ‘khá tốt’, bạn có thể trở thành thực sự ‘khá tốt’; nhưng ‘khá tốt’ vẫn ‘chưa đủ tốt’ đối với Chúa Giêsu. Ngài muốn những ai theo Ngài phải ‘thực sự tốt’, thực sự hoàn hảo! Đây là một lời mời ở cấp độ cao, ‘cấp độ nên thánh!’. Hoàn hảo, hoàn thiện có nghĩa là mỗi người cố gắng sống từng giây phút trong ân sủng. Tất cả chỉ có thế! ‘Ở đây và lúc này’, bạn đắm chìm trong ân sủng! Ngày mai chưa đến, hôm qua đã vĩnh viễn ra đi; tất cả những gì bạn có, là những khoảnh khắc hiện tại này. Đó là những khoảnh khắc ‘được thánh hoá’ để mỗi người nên giống Chúa Giêsu hơn, nghĩa là nên thánh.
Nói đến hoàn thiện, chúng ta thường nghĩ đến những gì thuộc về các thánh vĩ đại; thế nhưng, bên cạnh các ngài, chúng ta có hàng ngàn vị thánh khác chưa từng được nêu danh trong giáo sử, và nhiều vị thánh tương lai đang sống khắp nơi trên thế giới. Hãy tưởng tượng, ngày kia trên trời, chúng ta vui mừng gặp lại những vị thánh cao cả chúng ta đã từng biết; và sẽ ngạc nhiên biết bao khi nhìn thấy vô vàn khuôn mặt thánh thiện lạ lẫm chúng ta mới biết lần đầu. Đó là những thiện nam tín nữ thuộc mọi đấng bậc đã tìm cho mình con đường hạnh phúc; họ là những con người khám phá ra rằng, họ được gọi ‘để nên hoàn thiện’.
Anh Chị em,
“Để nên hoàn thiện!”. Qua thời gian, chúng ta cảm nghiệm rằng, càng sống trong ân sủng và càng cố gắng đầu phục từng giây phút theo ý muốn của Chúa, chúng ta càng trở nên mạnh mẽ và thánh thiện. Và dẫu như “bức tranh tuyệt vời nhất chưa được vẽ; vở kịch hay nhất chưa được viết; bài thơ vĩ đại nhất chưa được ngâm”, nhưng nếu chúng ta biết xây dựng dần dần những thói quen thánh hoá mọi khoảnh khắc để nên thánh, thì theo thời gian, những thói quen đó sẽ làm cho mỗi người trở nên những con người mà chúng ta phải trở thành. Và đâu là tiêu chuẩn? Chúa Giêsu tiết lộ, “Như Cha các con trên trời!”. Ngài là thước đo cho mọi cố gắng vươn lên của chúng ta. Ngài không nhìn vào kết quả, nhưng nhìn vào những nỗ lực khi mỗi người vượt lên chính mình từng ngày. Và đó là nên thánh!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, giúp con cam kết dám sống từng giây cho đẹp lòng Chúa! Được như thế, ngày kia, thiên đàng nhất định sẽ có thêm một vị thánh. Tại sao không?”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From:KimBang Nguyen
CÁI TÔI GIÀY VÒ VÀ QUÁ ĐỖI PHỨC TẠP CỦA CHÚNG TA – Rev. Ron Rolheiser, OMI
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Nói cho cùng, cuộc đời chúng ta đâu phải chỉ có bình yên và thanh thản. Có thể nói, chúng ta luôn phần nào thê thảm. Nhưng chuyện đó không nên làm chúng ta sợ hãi. Thê thảm không phải là một từ miệt thị. Từ này có gốc Hy Lạp là pathos, nghĩa là đau đớn. Thê thảm nghĩa là sống trong đau đớn, và chúng ta đều như thế bởi vì chúng ta được tạo nên như thế.
Có lẽ các bạn sẽ nghĩ như thế thì chẳng hợp lý gì cho lắm. Chúng ta được tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên chẳng phải mỗi người chúng ta, dù cuộc sống có thảm đến đâu thì vẫn mang một phẩm giá đặc biệt và tính thần thiêng nào đó trong người sao? Chúng ta có phẩm giá đặc biệt đó thật. Tuy nhiên, bất chấp những chuyện này, và phần lớn lại là do những chuyện này, cuộc sống của chúng ta có khuynh hướng phức tạp cũng như đầy đau đớn. Tại sao lại như vậy?
Không dễ để mang lấy sự thần thiêng. Sự vô hạn trong chúng ta không dễ tương hợp với cái hữu hạn. Chúng ta mang trong mình một ngọn lửa quá thần thiêng, đến nỗi khó mà tìm được sự bình an trong đời này.
Sự đấu tranh đó đã bắt đầu có từ đầu đời. Để tạo cái tôi cho một đứa bé còn rất nhỏ, chúng ta cần một loạt truyền thụ về tinh thần và đến cuối cùng, nó lại hạn chế ý thức của chúng ta. Trước hết, chúng ta cần phân biệt bản thân và người khác (kia là mẹ, đây là mình), rồi chúng ta cần phân biệt giữa cái có sự sống và cái không có sự sống (con chó thì sống, con búp bê thì không), tiếp theo, chúng ta cần phân biệt giữa cái vật chất và cái ý thức (đây là cơ thể mình, nhưng tâm trí mới giúp mình suy nghĩ). Cuối cùng, và quan thiết nhất, khi làm mọi chuyện này, chúng ta cần chia ra cái mà chúng ta có thể xử lý một cách có ý thức và cái vượt quá tầm xử lý có ý thức của mình. Từ đó, chúng ta tạo nên cái tôi, nhưng chúng ta còn tạo nên một cái bóng, cụ thể là một vùng trong chính mình, tách biệt khỏi ý thức của mình.
Và chúng ta phải lưu ý, cái bóng của chúng ta, trước hết và trên hết, không phải là bóng tối lẩn khuất. Đúng hơn, nó là mọi sự sáng và sinh lực trong bản thân mà chúng ta không thể xử lý một cách có ý thức. Tôi cho rằng hầu hết chúng ta đều quen thuộc với những lời của bà Marianne Williamson, đã được Nelson Mandela trích dẫn trong bài diễn văn nhậm chức: Nỗi sợ thâm sâu nhất của chúng ta không phải là sợ chúng ta bất đạt. Nỗi sợ thâm sâu nhất của chúng ta là sợ chúng ta mạnh quá mức. Chính ánh sáng, chứ không phải bóng tối, mới là điều làm chúng ta sợ nhất.
Ánh sáng trong chúng ta làm chúng ta sợ, vì nó chính là điều không dễ mang lấy. Nó cho chúng ta phẩm giá cao quý và sự thâm sâu vô hạn, nhưng nó cũng cho chúng ta sự phức tạp và khắc khoải thảm thê. Bà Ruth Burrows, một trong những ngòi bút thiêng liêng hàng đầu của thời chúng ta, đã mở đầu tự truyện của bà như sau: Tôi được sinh ra trong thế giới này với sự nhạy bén bị giày vò và cuộc sống của tôi chẳng dễ dàng gì. Các bạn sẽ không ngờ một nhà thần nghiệm, một nữ tu bền đỗ hơn 70 năm cuộc đời, lại nói câu này. Các bạn cũng sẽ không ngờ rằng trong cuộc sống bà phải đấu tranh ánh sáng bên trong mình không khác gì đấu tranh với bóng tối bên trong và bao quanh mình. Điều này cũng đúng với mỗi chúng ta.
Trong sách Giảng viên, có một câu nhiều người biết, nói rằng Thiên Chúa làm cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ vào đúng thời đúng điểm của nó. Tuy nhiên, đoạn đó không kết thúc theo một cách êm đềm. Đoạn kết nói rằng trong khi Thiên Chúa làm cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ vào đúng thời đúng điểm của nó, Ngài cũng đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, từ bẩm tính, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời. Cả phẩm giá đặc biệt và sự phức tạp bệnh hoạn của chúng ta đều có nguồn gốc nơi sự bất thường trong bản tính chúng ta. Chúng ta cưu mang quá nhiều, vượt quá cuộc sống đời này.
Thánh Augutinô diễn tả một cách kinh điển: Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài. Câu này tóm gọn cả nhân học và linh đạo. Phẩm giá và sự khắc khoải luôn mãi của chúng ta có cùng một nguồn gốc.
Vì thế chúng ta cần tự cho mình sự chấp thuận thần thiêng để có một tâm hồn hoang dại, khắc khoải, vô độ, phức tạp và đầy xung lực. Cả tâm lý học và linh đạo quá thường xuyên phụ lòng chúng ta khi cho chúng ta ấn tượng mình nên sống mà không có những hỗn loạn và khắc khoải. Phải thừa nhận rằng khi chúng ta bất đạt về tinh thần thì những thứ này có thể bủa vây chúng ta dữ dội hơn nữa, nhưng dù cho chúng ta có sống tốt thế nào đi nữa, thì nó vẫn cứ bủa vây chúng ta. Sự thật là, nếu chúng ta là người nhạy cảm sâu sắc, thì có lẽ chúng ta sẽ cảm nhận sự phức tạp của mình rõ ràng hơn một người thiếu nhạy cảm hoặc đã làm tê dại sự nhạy cảm bằng những thứ xao lãng khác.
Một người bạn từng viết thư cho Karl Rahner, phàn nàn rằng mình đã không tìm được sự viên mãn mà ông mong mỏi trong đời. Ông bày tỏ sự thất vọng với chính mình, với cuộc hôn nhân và công việc của mình. Rahner mới viết thư khuyên rằng: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở. Trong đời này, không thể có hòa âm trọn vẹn, và lý do không phải bởi linh hồn của chúng ta khiếm khuyết, mà là bởi chúng mang trong mình sự thần thiêng.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From: Langthangchieutim
Đằng sau là cái gì?-Đoàn Bảo Châu
ĐÊM GIAO THỪA CỦA NHỮNG NGƯỜI LÍNH MẤT NƯỚC – Phạm Thành Châu
Phạm Thành Châu
1.
Năm 1981, tôi được gọi tên ra khỏi nhà tù Cộng Sản. Hơn sáu năm tù là tiêu chuẩn thấp nhất cho tù quân, cán, chính, đảng phái, tôn giáo Việt Nam Cộng Hòa.
Thông thường, tù được thả về vào những dịp lễ, tết. Tôi ở tù vùng núi rừng tây bắc Việt Nam, được thả về trước Tết âm lịch. Ði xe lửa Hà Nội – Sài Gòn, về đến ga Bình Triệu thì đúng vào 29 tháng chạp âm lịch. Tôi đi bộ từ ga Bình Triệu về đường Võ Duy Nghi, Phú Nhuận (Sài Gòn). Khi đi tù, tôi có gửi thư về nhà cha mẹ vợ, ở đường Võ Duy Nghi, là nơi vợ tôi và hai đứa con tá túc, nhưng không thấy trả lời cũng chẳng được thăm nuôi trong mấy năm đi tù. Nhờ sức trai, tôi chịu đựng được chứ mấy ông lớn tuổi mà không có thăm nuôi, bệnh hoạn, đói lạnh, chết gần hết. Tôi từng thấy nhiều ông tù chết, được bó bằng cái chăn rách của ông ta, bỏ lên xe cải tiến, kéo đi trong sân, ra cổng. Hai cái chân khô đét, xanh lét thò ra khỏi xe, nhịp lên nhịp xuống theo bánh xe gập ghềnh, tưởng như người chết nằm rung chân khoái trá được vĩnh viễn ra khỏi nhà tù, lên gò nằm ngủ khỏe, khỏi phải “lao động là vinh quang”!
Khi tôi đến nhà bên vợ, mới bước lên thềm, tôi đã dội ngược. Nghe giọng Bắc Kỳ 75, tôi biết gia đình cán bộ đang ở trong đó. Như vậy, gia đình bên vợ tôi đã bị đánh tư sản, tài sản bị tịch thu, cả nhà bị đưa lên kinh tế mới. Chẳng biết vợ con tôi bây giờ ra sao? Tôi ôm gói đồ tù, gồm quần đùi, khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. (Người tù, khi được thả về, tất cả áo quần, mùng màng, lương thực thăm nuôi, thuốc men… đều để lại cho bạn tù, chỉ đem theo vật dụng đi đường) đi lang thang mà chẳng biết về đâu? Anh em ruột thịt chưa chắc đã dám chứa “tù ngụy” trong nhà vì sẽ bị công an các cấp đến hạch sách, hăm dọa thường xuyên, nên tôi chẳng hy vọng gì ở từ tâm của bà con, bạn bè. Có lẽ phải sau Tết, tôi đến hàng xóm của gia đình bên vợ hỏi thăm tin tức thì họa may.
Tôi cứ đi lòng vòng trên đường Võ Duy Nghi, Hai Bà Trưng, Hiền Vương với cái bụng trống rỗng, nhìn ngơ ngáo mấy chậu bông Tết người ta bày bán trước nhà thờ Tân Ðịnh, chứ không dám nhìn vào mấy tiệm bánh, hủ tiếu, phở. Ðói bụng nên mũi rất thính. Mùi thơm của thức ăn từ các tiệm đó làm chảy nước miếng. Khoảng mười giờ tối, đi rả chân, tôi nằm đại vào một hiên nhà người ta, trên đường Hai Bà Trưng, bên kia đường là nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi. Hai bên lề đường Hai Bà Trưng, giăng đầy mùng của dân kinh tế mới. Họ là dân Sài Gòn, sau năm 1975 bị đánh tư sản. Nhà nước Cộng Sản tịch thu tài sản, đẩy lên kinh tế mới với hai bàn tay trắng, nơi rừng núi hoang vu khai phá đất đai sinh sống, nhưng bịnh và đói, chết dần, họ bỏ về Sài Gòn, ngủ lề đường cùng với dân bụi đời, vô gia cư, cầu bơ cầu bất.
2.
Vừa thiu thiu ngủ, tôi bỗng bị đá vào người rồi có tiếng nạt “Ông nầy. Chỗ của tụi tôi, ai cho ông nằm đây?”. Tôi giật mình, lồm cồm ngồi lên, ôm gói đồ tù “Xin lỗi. Tôi tưởng không có ai”. Qua ánh đèn đường, tôi thấy hai cậu trung niên, khoảng bốn mươi tuổi, tướng bặm trợn, đứng chống nạnh nhìn tôi. Khi tôi bước xuống thềm, đi được mấy bước thì bị gọi giật lại:
– “Chú!”
Tôi dừng lại, yên lặng quay nhìn.
– “Chú có phải đi tù về không?”
– “Phải. Mà sao?”
– “Chú cứ ngủ đây đi. Tụi nầy ngủ lề đường cũng được”
– “Sao cũng được. Cám ơn”.
Làm phật lòng mấy tay nầy chỉ thêm phiền nên tôi phải vâng lời, quay lại, nằm xuống hiên, gối đầu lên bọc tù, nhắm mắt để đó chứ không ngủ tiếp được. Hai tay giang hồ nầy, lẽ ra, có thể nằm phần còn lại của hiên nhà nhưng lại giăng mùng ngủ trên lề đường, gần nơi tôi nằm. Cách giăng mùng của họ cũng đơn giản. Mấy cái túi hay xách, bị gì đó chắn trên đầu và dưới chân, đình mùng cao độ hai gang tay, không chạm mặt người nằm bên trong, thật nhanh và thuận tiện. Hai cậu nằm trong mùng vừa chuyện trò vừa chửi thề rồi cười hắc hắc nghe thật ngang tàng.
Tôi nằm nhìn thiên hạ qua lại. Xe gắn máy chạy vù vù, người đi bộ lê dép lẹp xẹp. Tôi không biết ngày mai đi đâu với cái túi trống trơn và cái bụng xẹp lép? Mấy năm tù đã làm cho đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng thèm lo nghĩ. Ðến đâu hay đó. Trong tù, sáng nghe kẻng báo thức, dậy ra ngồi trước cửa nhà tù để cán bộ coi tù đếm tù, lãnh mấy củ khoai mì hay trái bắp, ăn xong chờ kẻng để sắp hàng ra cổng, lao động. Chiều về, lại mấy củ khoai, trái bắp gì đó, ăn xong, ngồi cho cán bộ đếm tù rồi vô nhà tù nằm chờ giấc ngủ. Cán bộ khóa cửa nhà tù, bỏ đi. Khuya lại thường có bộ đội (vệ binh) mang súng đi tuần rỏn bên ngoài các nhà tù. Tù kiệt sức sau một ngày lao động, đói và mệt rã rời nên ngủ vùi, có thao thức mà nghĩ đến gia đình cũng vô ích.
Trong tù, chẳng ai biết ngày giờ, chỉ khi nào được chén cơm trắng với chút mỡ heo hoặc miếng thịt trâu mới biết là ngày lễ lớn hoặc tết nhất. Nghỉ một ngày lao động, ăn chén cơm là biết một năm đã đi qua nhưng không bao giờ tự hỏi mình đã bao nhiêu tuổi rồi? Càng suy nghĩ càng mau chết vì mất ngủ. Nhiều ông lớn tuổi, bệnh hoạn, tối nhắm mắt để rồi sáng hôm sau không thèm mở mắt. Cứ thế mà vào cõi hư vô…
Ðang suy nghĩ linh tinh thì có hai ông xuất hiện, dừng lại trước hiên, nơi tôi nằm. Thấy mỗi ông một gói đồ tù trên tay, tôi biết ngay là bạn “đồng tù” nhưng làm thinh. Một ông thấy tôi nằm lõ mắt nhìn, bèn hỏi:
– “Anh ơi. Chỗ nầy còn trống, cho tụi tôi nằm đỡ. Ðược không?”
– “Ðây đâu phải nhà của tôi. Mấy anh cứ tự nhiên”.
Hai ông bèn bước lên thềm, ngồi xuống, tựa lưng vào tường, duỗi chân, ẹo mình coi bộ mệt mỏi. Họ nói chuyện rù rì nhưng tôi nghe rõ và biết họ cũng từ ngoài Bắc về chung một chuyến xe lửa cuối năm với tôi. Họ đối đáp nhát gừng nhưng vẫn đậm đà tình thân. Họ kể về các trận đánh trong đó có bạn bè, người còn, người mất. Khi nhắc đến người bạn nào đã ngã gục ngoài chiến trường, họ tặc lưỡi, thì thầm “…Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”.
Tôi cũng tốt nghiệp sĩ quan nhưng về bộ binh, nghe họ chuyện trò, tôi biết hai ông là lính dù, một ông là đại đội trưởng, ông kia là sĩ quan pháo binh tiểu đoàn dù. Hình như họ cùng tiểu đoàn nên chuyện trò rất thân mật. Trong câu chuyện, chẳng ai nhắc đến bóng hồng nào mà toàn chuyện lính tráng, đánh đấm. Tuổi trẻ miền Nam lớn lên, vừa xong trung học, buông bút là vào quân trường cầm súng. Họ, đa số chưa có người yêu. Ba lô, súng đạn như người bạn đời, sinh mạng phó mặc cho viên đạn nhỏ bằng mút đũa hay mảnh pháo có khi chỉ bằng cái móng tay quyết định…
Tôi may mắn, có vợ con, nhưng bây giờ cũng như không. Tôi yên lặng nghe hai ông bạn đồng tù trò chuyện và nghĩ vẩn vơ. Khi Cộng Sản miền Bắc phát động chiến tranh, đánh chiếm miền Nam, hàng triệu thanh niên trai trẻ lên đường chiến đấu để chống xâm lăng, bảo vệ tự do, an lành cho đồng bào miền Nam với sự trợ giúp của nước Mỹ. Nước Mỹ giúp miền Nam Việt Nam để “be bờ” Cộng Sản. Ðột nhiên, từ năm 1973, viện trợ Mỹ giảm dần rồi đến con số không. Một đô la cũng không có. “Nước Mỹ không có bạn, không có thù. Chỉ có quyền lợi của nước Mỹ”. Nghe nói họ bắt tay với Trung Cộng, để miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản, đổi lấy gì đó. Thế là miền Nam bị bó tay. Súng không có đạn, máy bay, xe cộ, thiết giáp, tàu bè không có xăng, trong khi đó, cả một khối Cộng Sản quốc tế khổng lồ viện trợ tối đa cho Cộng Sản miền Bắc, để họ kéo vào, thoải mái bắn giết quân dân miền Nam. Người nào sống sót thì đưa đi tù cải tạo, không có ngày về… Thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Ðồng ra lịnh, đại ý “Không giết tên nào cả. Ðưa hết bọn chúng lên vùng rừng thiêng nước độc, bắt làm thật nhiều, ăn thật ít, chúng sẽ chết dần, thế giới không thể biết được”. (ngay cả khi tù chết, họ cũng cho vùi xác rải rác trong rừng chứ không chôn một nơi nhất định).
3.
Tôi nhớ, sau tháng Tư năm 1975. Ngụy quân, ngụy quyền (quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa) phải trình diện ủy ban quân quản để được học tập cải tạo trong một tháng. Mấy tháng đầu chỉ lên hội trường học tập, nghe các cán bộ thuyết trình “mười bài”. Một lần, trong một buổi “lên hội trường”, cán bộ đứng trên bục chỉ tay xuống bọn tù ngồi phía dưới chửi “Các anh là rác rưởi của rác rưởi…” Chửi xong cán bộ hỏi “Có ai có ý kiến gì không?” Một ông tù xin phát biểu “Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia riêng biệt, có lãnh thổ, có dân, có chính quyền do dân bầu lên, được quốc tế công nhận, không gây thù chuốc oán gì với miền Bắc, vì sao các ông vào bắn giết chúng tôi, bỏ tù chúng tôi còn bảo rằng chúng tôi có nợ máu với nhân dân?…”
Nghe đúng bài mình đã thuộc, cán bộ vui vẻ giảng rằng “Chúng tôi vào giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ. Các anh tiếp tay với đế quốc Mỹ, làm tay sai cho chúng để đàn áp, đánh phá sự nghiệp cách mạng, thống nhất đất nước của đảng và nhân dân ta. Các anh đáng bị xử bắn hàng trăm lần cũng chưa hết tội. Nay đảng và nhà nước khoan hồng, tập trung các anh vào đây để cách ly các anh khỏi bị nhân dân căm thù, đòi nợ máu các anh đồng thời tạo cơ hội để các anh nhận biết tội lỗi của mình mà lập công chuộc tội, ra sức lao động, học tập để tiến bộ thành công dân tốt xã hội chủ nghĩa, được đảng và nhà nước khoan hồng cho về sum họp với gia đình. Các anh hiểu chưa? Có ai ý kiến gì nữa không?”
Ông tù đó lại giơ tay, đứng lên “Theo như tài liệu cán bộ cho học tập thì. Năm 1959 miền Bắc đã mở đường “Trường Sơn 59”, đưa quân vào Nam. Năm 1960 đã lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mãi đến năm 1964, Mỹ mới đổ quân vào Ðà Nẵng. Như vậy, trước khi Mỹ vào Việt Nam, các ông đã nhận lệnh của Nga, Tàu, nhận súng đạn của Nga, Tàu vào bắn giết, giật mìn xe đò, pháo kích vào trường học, chôn sống đồng bào vô tội miền Nam. Như thế thì ai có nợ máu với nhân dân?…”
Nghe chưa dứt câu, cán bộ giận xanh mặt rít lên “Ðem nó đi cùm!” Ông ta bị công an võ trang bao vây quanh đấy lôi đi. Tối đó ông ta bị công an thay phiên nhau đánh đến chết, vất xác trong rừng… (Sau nầy, trước đền thờ tổng bí thư Lê Duẩn có khắc câu mà Lê Duẩn thường nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô Trung Quốc”. Câu nói khiến cho quân đội nhân dân Việt Nam (Việt Cộng) ngỡ ngàng. Cựu đại tá Tư Cúc (Lê Cúc) phải kêu lên “Hóa ra quân đội nhân dân Việt Nam là lính đánh thuê cho Liên Xô, Trung Quốc”.
Lúc đó đã về khuya, đường phố vắng tanh, hai cậu bụi đời đã im tiếng, hình như đang nằm lắng nghe hai ông bạn tù của tôi trò chuyện. Bỗng cái mùng động đậy và hai cậu chui ra, đứng dưới thềm, trước hai ông bạn tù, người thẳng đơ, đưa tay lên chào theo kiểu nhà binh. Một cậu nói lớn “Trung sĩ nhất Nguyễn Văn…, đại đội…, trung đội…, trình diện đích thân”. Cậu kia cũng đứng nghiêm xưng tên họ, cấp bậc, đơn vị nhưng lại “Trình diện thẩm quyền”.
Thông thường, lính gọi sĩ quan cấp trên trực tiếp bằng cấp bậc hoặc các chức danh tùy ý “Ông thầy, đích thân hoặc thẩm quyền…”. Thì ra các cậu đều là lính dù. Như một phản xạ, hai ông bạn tù cũng chào tay “Chào hai anh. Hai anh ngồi xuống!”. Hai cậu ngồi trên hiên nhà, chân thòng xuống lề đường. “Tụi em nằm nghe mấy ông thầy nói chuyện mới biết là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đi tù về”. Một cậu ngậm ngùi “Từ ngày mất nước, các cấp chỉ huy đi tù, tụi em tan hàng, bơ vơ, buồn muốn chết. Tụi em nhớ đơn vị, nhớ cấp chỉ huy, nhớ súng đạn, ba lô… nhớ đủ thứ. Lúc nãy, nằm nghe hai ông thầy nói chuyện, tụi em mừng quá, tưởng như còn đang ở đơn vị”.
– “Bộ mấy cậu không bị tù cải tạo sao?”
– “Có, nhưng ở địa phương, tụi em bị tập trung một thời gian để nghe chửi là tay sai đế quốc Mỹ, rồi bắt đi nông trường làm thủy lợi, sau đó được đưa sang Căm Bu Chia vác đạn cho bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế, đánh nhau với Khờ Me đỏ. Tụi em bỏ trốn về Sài Gòn”
Tôi ngồi lên:
– “Mình nói chuyện có làm phiền chủ nhà không?”
– “Ông thầy khỏi lo. Họ ngủ trên lầu. Hai ông bà chủ nhà có con là đảng viên làm lớn, được cấp nhà tịch thu của tư sản. Tụi em ngủ ở đây, giữ gìn sạch sẽ, khỏi sợ trộm cắp nên họ để yên”.
Hình minh họa.
Hai cậu bụi đời thì thầm với nhau rồi cậu trung sĩ đứng lên, trịnh trọng thưa:
– “Thưa, mấy khi thầy trò được gặp lại nhau, tụi em có ý kiến như thế nầy. Tụi em đi kiếm rượu và mồi nhắm để mấy ông thầy và tụi em lai rai đón giao thừa…”.
Một ông cười khan:
– “Nghe văn chương của cậu là hiểu ý rồi đó. Tụi nầy vô sản, mấy cậu kiếm xị đế là đủ rồi, khỏi mồi miết phiền phức, tốn kém”
– “Không bao nhiêu đâu. Mấy tiệm phở sắp đóng cửa, họ bán xí quách rẻ đui. Mình không lấy họ cũng đổ bỏ”
– “Khuya rồi, ai mà còn bán rượu nữa?”
– “Ông thầy khỏi lo. Tụi em là mấy con ma, chỗ nào không biết!”.
4.
Buổi “tiệc đón giao thừa” gồm hai xị đế và thau xí quách (xương bò, xương gà) với một cái ly nhỏ để trên một tờ báo được trải ra. Người nầy “dzô” xong một ly thì rót cho người kế tiếp, cứ thế xoay vòng. Nhờ hơi men, những câu nói nhát gừng đã thành rôm rả. Những người lăn lộn chiến trường thường lầm lì, ít nói, chỉ khi có tiếng súng nổ mới kích động được họ xông lên phía trước. Trong chiến trận, chính những người trực tiếp chỉ huy trung đội, đại đội mới là người quyết định chiến trường. Sống chết bên nhau, họ thương yêu nhau còn hơn ruột thịt. Giờ đây, chiến trường đã im tiếng súng, họ là kẻ chiến bại, là kẻ mất nước, bị đối phương khinh miệt, tù đày, hành hạ để trả thù. Người lính Việt Nam Cộng Hòa đã biến mất, chỉ còn lại những con người sống ngoài lề xã hội, vất vưởng, bơ vơ. Nhưng trong tâm tưởng người dân miền Nam, người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn là những người con thân yêu của đồng bào. Lòng biết ơn không hề phai nhạt.
Buổi “tiệc” cuối năm càng về khuya càng thân mật, thỉnh thoảng có tiếng cười. Trong cái gia đình nhảy dù nhỏ đó với bốn thầy trò cùng nhắc lại những ngày chiến đấu đầy gian khổ, sát cánh bên nhau, giúp đỡ, che chở nhau trong những giây phút hiểm nguy, đối diện với kẻ thù… Tất cả đã là dĩ vãng, đã là những kỷ niệm mà họ cố quên. Cả cuộc đời với tuổi thanh xuân đẹp đẽ, sung sức nhất, họ đã dâng cho Tổ Quốc để rồi thành kẻ mất nước. Họ hỏi thăm nhau, ai còn, ai mất, những “ông thầy” trong đơn vị nầy, đơn vị kia. Cấp chỉ huy không thể nhớ hết binh sĩ dưới quyền, nhưng lính thì không bao giờ quên những “thẩm quyền” đã chỉ huy mình.
Ngoài đường đã vắng bóng người. Ðường phố như ngủ say dưới ánh đèn vàng vọt. Lúc đó đã vào khuya. Ðột nhiên, trong đêm vắng, vài tiếng pháo nổ lẻ tẻ, vang đến từ chợ Tân Ðịnh. Rồi như cùng hẹn trước, tiếng pháo đồng loạt nổ vang khắp nơi. Giờ giao thừa. Mọi người đón mừng chúa Xuân bằng những tràng pháo và lễ vật trên bàn thờ, trước cửa nhà.
Bọn lính tráng chúng tôi, trước đây không bao giờ biết đến năm mới, năm cũ vì thường xuyên hành quân nơi rừng sâu, núi thẳm, họa hoằn đi ngang qua một xóm làng xơ xác nào đó, nhìn đồng bào nghèo khổ vì chiến tranh, thấy họ chẳng có gì để đón xuân mà ngậm ngùi, nay bỗng nhiên nghe tiếng pháo mà tưởng như thời còn chiến tranh, nhất là mùi thuốc súng mà người ta lấy thuốc đạn ra làm thuốc pháo.
Suốt dọc hai bên đường Hiền Vương, đường Hai Bà Trưng tiếng pháo nổ liên tục chen lẫn với tiếng pháo tống, pháo đại khiến bản năng người lính bị kích động. Chúng tôi tưởng như mình đang bị bao vây bởi kẻ thù với những họng súng đang hướng về chúng tôi mà khạc đạn. Từ trên lầu, nơi chúng tôi đang ngồi, chủ nhà thòng xuống một dây pháo dài, nổ rang, những viên pháo đại rơi xuống đất, nổ chát chúa, xác pháo bắn vào chúng tôi, khói pháo mịt mù, nồng nặc mùi thuốc súng. Mùi thuốc súng khiến thần kinh những người lính chúng tôi càng thêm căng thẳng.
Hai cậu cựu binh như bị đồng nhập, tay nắm lại, cằm bạnh ra, mắt trừng trừng nhìn hai ông cựu sĩ quan. Một cậu chồm tới, thét lên trong tiếng nổ hỗn loạn “Ðích thân! Ðích thân ban lệnh đi. Chả lẽ nằm đây chịu chết sao?”. Tôi quay nhìn. Hai ông cựu sĩ quan dù lắc đầu, mắt nhìn trừng trừng vào khoảng không trước mặt. Rồi nước mắt họ ứa ra, trào xuống gò má xương xẩu, long lanh ánh chớp của pháo nổ. Bỗng, một ông (sĩ quan dù) kêu lên, giọng điềm tĩnh.
– “418, đây 314, xin tác xạ, hết”
Ông ngồi bên cạnh (sĩ quan pháo binh), trả lời.
– “314, đây 418, xin tác xạ, hết”.
Thế rồi cuộc trao đổi truyền tin diễn ra.
– “Lệ Hằng, phải 1.5, lên 2.3 một khói nổ chạm. Bắn khi sẵn sàng, hết”
– “Lệ Hằng, phải 1.5 lên 2.3, một khói, hết”
– “Hướng 800, gần lại 100, một khói, hết”.
– “Hướng 800, gần lại 100, một khói, hết”.
– “Hỏa tập cận phòng. Năm tràng, bắn hiệu quả, hết”.
– “Năm tràng, bắn hiệu quả, hết”.
Giọng hai ông bạn tù của tôi vẫn mạch lạc, điều động nhịp nhàng pháo binh yểm trợ như trong một trận chiến sắp nổ ra. Tôi hình dung một đại đội dù đóng quân trên một ngọn đồi, địch quân theo dõi, bao vây và tìm cách tràn ngập. Các toán tiền đồn gọi về báo động. Toàn đơn vị đã sẵn sàng chờ địch. Hai ông cựu sĩ quan dù như đang cùng hồi tưởng lại một kỷ niệm chiến đấu nào đó đã xảy ra và hai cậu cựu binh cũng là những người đã từng tham dự những trận đánh đẫm máu…
5.
Cuộc trao đổi truyền tin trong tiếng pháo giao thừa vẫn tiếp tục. Hỏa tập như càng lúc càng kéo gần vị trí đóng quân trong khi tiếng pháo vẫn chát chúa, khi xa, khi gần. Rồi tiếng pháo cũng lơi dần. Người chủ nhà trên lầu đã đốt hết dây pháo, nhưng ông ta lại gắn thêm một dây pháo nữa, lần nầy ba bốn phong pháo được chập vào với nhau nên pháo nổ càng dữ dội, và như cao hứng, những căn nhà kế bên cũng đem pháo ra đốt tiếp. Tiếng nổ càng dồn dập, khói súng càng mịt mù. Ông bạn tù lại cao giọng:
– “Các hỏa tập cũ đều kéo vào 50, sẵn sàng bắn, vị trí sắp bị tràn ngập, hết”.
– “Hỏa tập cũ kéo vào 50, bắn, hết”…
Cuộc trao đổi trở nên căng thẳng, gấp rút khiến tôi nhớ lại những trận tấn công biển người của đối phương. Hỏa tập thường được kéo vào sát vị trí phòng thủ để chặn địch tràn ngập. Hai cậu cựu binh ngồi chết sửng, thỉnh thoảng cựa quậy như không chịu đựng được các bắp thịt và thần kinh đang căng lên hết mức.
Vẫn giọng bình tỉnh:
– “418, đây 314, địch tràn ngập vị trí. Hỏa tập tối đa, nổ chụp ngay trên đầu tôi, hết”.
– “Xin 314 nhắc lại, hết”.
– “418, đây 314, địch tràn ngập vị trí, hỏa tập tối đa ngay trên đầu tôi, hết”.
Giọng ông pháo binh khàn khàn, nghẹn ngào:
– “Bắn trên đầu bạn ư?”
– “418, đây 314. Có bao nhiêu ông phang hết lên đầu tôi. Ðó là lời cuối cùng”.
– “314, đây 418, xin xác nhận lại. Nghe tôi không?”
– Xin 314 trả lời… Vâng, hỏa tập tối đa trên đầu bạn. Vĩnh biệt 314”…
Tiếng pháo giao thừa đã dứt. Cả thành phố im lặng như đang mặc niệm tử sĩ. Vẳng lại từ xa vài tiếng nổ lẻ tẻ, rời rạc rồi lịm dần, tưởng chừng như chiến trường đã bị kéo trôi đi xa, chỉ còn lại cảnh bình địa hoang tàn.
Phạm Thành Châu.











