TÔMA VÀ CON MẮT THỨ BA

TÔMA VÀ CON MẮT THỨ BA

 Lm. Trần Ngà

Cách xử sự của Tôma cũng là cách xử sự thông thường của nhiều người.  Người ta chỉ chấp nhận là có thật những gì mà người ta có thể xem bằng mắt, bắt bằng tay, những gì cân, đo, đong, đếm… được. Còn những gì người ta không thấy, bị xem như là không có.  Khi tôi hỏi bạn bè: Tại sao bạn không tin Thiên Chúa, không tin có linh hồn, không tin có sự sống đời sau?  Họ trả lời thật đơn giản: “Có thấy đâu mà tin!” 

Thế nhưng, có nhiều điều chúng ta không thấy nhưng chúng ta vẫn phải nhận là chúng hiện hữu.  Người ta không thể nhìn thấy tình mẫu tử nơi người mẹ, không nhìn thấy ý chí kiên cường nơi bậc anh hùng, không nhìn thấy trí khôn tuyệt vời của nhà khoa học (bởi vì tình yêu, ý chí, trí tuệ… là những thực tại vô hình, không màu sắc, không trọng lượng, không khối lượng)… nhưng không ai dám phủ nhận rằng những thực tại nầy không có. 

Với đôi mắt trần nầy, tầm nhìn của người ta rất hạn hẹp, như “ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung.” 

Với đôi mắt trần nầy, chúng ta chỉ nhận thấy một ít sự vật phù du mà thôi.  Còn những điều quan trọng, những điều chính yếu thì không thể nhận thấy.  Nhà văn Saint-Exupéry đã khám phá ra điều nầy, ông viết: “L’essentiel est invisible pour les yeux” (Thực tại thiết yếu thì mắt trần không thấy được).  Do đó, nhân loại cần đến những con mắt khác, những con mắt thứ ba để nhận thức những thực tại cao siêu.  Con mắt nầy giúp người ta nhìn xa, nhìn rộng, nhìn sâu, nhìn thấy điều thiết yếu, nhìn thấy chân lý… 

Con mắt thứ ba của các nhà vi trùng học là ống kính hiển vi.  Nhờ con mắt nầy, nhà nghiên cứu có thể nhìn thấy vi trùng và những siêu vi cực nhỏ…  Con mắt thứ ba của các nhà thiên văn là ống kính thiên văn, nhờ đó các nhà khoa học có thể thấy được những ngôi sao cách mặt đất đến mười tỉ năm ánh sáng…  Con mắt thứ ba của các nhà quân sự là màn ảnh ra-đa, là vệ tinh quan sát…  Chúng giúp các nhà quân sự nắm rõ địa hình cũng như các bí mật quân sự của đối phương nhằm đạt tới chiến thắng. 

Trong Phật giáo, con mắt thứ ba của nhà tu hành đạt đạo là “huệ nhãn,” giúp người ta thấy được những thực tại tâm linh siêu hình.  Đối với Đức Giêsu, con mắt thứ ba mà Ngài mong muốn các môn đệ Ngài phải có là Đức Tin.  Nhờ “Con Mắt Đức Tin,” nhân loại có thể nhận ra Thiên Chúa là Cha yêu thương, nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, nhận ra mình có hồn thiêng bất tử, biết mình có cuộc sống mai sau, có thiên đàng hoả ngục… 

Tông đồ Tôma chưa có con mắt thứ ba.  Anh chỉ tiếp cận với thế giới qua đôi mắt trần.  Anh chủ trương chỉ những gì được xem thấy tận mắt, được sờ tận tay… mới là điều có thực.  Chính vì thế, khi nghe các môn đệ bảo anh: “Nầy Tôma, Thầy đã sống lại và đã hiện ra với chúng tôi,” Tôma cho là chuyện đùa.

Cho dù Tôma có thấy Chúa tận mắt đi nữa, chắc gì anh đã tin, vì biết đâu đó chỉ là bóng ma của Chúa Giêsu hiện về.  Anh đòi phải kiểm chứng bằng cách xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn… thì anh mới tin!  Chúa Giêsu không hài lòng với quan điểm đó.  Ngài nói: “Tôma, vì anh đã thấy Thầy nên anh mới tin.  Phúc cho những ai đã không thấy mà tin.” 

Như thế, phúc cho những ai không dùng đôi mắt trần, nhưng dùng con mắt thứ ba, “Con Mắt Đức Tin” để nhận ra Chúa. 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa luôn tuyên dương những ai có Đức Tin vì đó là con mắt tối cần giúp thấy được những thực tại siêu nhiên và đạt tới ơn cứu độ.  Chúa luôn khiển trách các môn đệ khi các ông yếu lòng tin.  Chúa buồn phiền vì dân chúng thiếu lòng tin.  Chúa khiển trách Tôma là kẻ cứng lòng tin.  Xin khai mở cho chúng con con mắt thứ ba, con mắt Đức Tin, để chúng con nhận biết Thiên Chúa Cha là Cha yêu thương, nhận biết Đức Giêsu là Đấng cứu độ nhân loại, và nhận biết Thánh Thần Chúa là Đấng thánh hoá mọi người, cùng nhận biết mọi người là anh em thật của chúng con trong Chúa Kitô.  Amen! 

Lm. Trần Ngà

From: Langthangchieutim

Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không?

Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không?

Chúc bạn và gia đình ngày thứ 4 bát nhật Phục Sinh tràn đầy niềm vui nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 20/04/2022

GIÁO LÝ:  Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không? Không có bằng chứng theo khoa học về việc Chúa Giêsu sống lại. Nhưng có những chứng cớ rất mạnh của cá nhân cũng như tập thể của nhiều người đương thời tại Giêrusalem. (1Cr 15,3-6; Lc 24,2-3; Ga 20,8).

(YouCat, số 106)

SUY NIỆM: Bằng chứng cổ xưa nhất ghi chép Chúa Giêsu sống lại là thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrintô, viết khoảng 20 năm sau cái chết của Chúa Giêsu: “Trước hết tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.

Sau đó Người đã hiện ra với năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống nhưng một số đã an nghỉ (1Cr 15,3-6). Ở đây thánh Phaolô nói về một truyền thống sống động ngài gặp trong cộng đồng Kitô giáo sơ khởi, khi chính ngài vừa mới trở thành Kitô hữu, hai ba năm sau cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu – theo sau cuộc gặp gỡ ngao ngán với Chúa đã phục sinh. Các môn đệ đã cho rằng ngôi mộ trống là chỉ dẫn đầu tiên về thực tại Chúa sống lại (Lc 24,5-6). Đây là việc các phụ nữ đã khám phá thấy – theo luật thời đó thì bằng chứng của họ không được chấp nhận.

Dù người ta nói rằng tông đồ Gioan đến mộ, đã thấy và đã tin (Ga 20,8), việc xác tín rằng Chúa Giêsu sống lại chỉ phát triển nhờ một loạt các lần hiện ra. Chỉ sau khi Chúa về trời, mới không còn những gặp gỡ với Đấng đã sống lại. Nhưng cho đến ngày nay, vẫn tiếp tục có những gặp gỡ với Chúa Giêsu, Người vẫn sống. (YouCat, số 106 t.t.)

❦ Tình yêu Thiên Chúa đi tới chỗ sáng như chớp. Như một tia chớp Chúa Thánh Thần đi qua đêm của mỗi người. Đấng Phục Sinh bắt lấy bạn, đảm nhận mọi sự, mang trên Người tất cả những gì bạn không mang nổi. Chỉ như thế mà sau này, đôi khi rất lâu sau này điều đó mới rõ ràng: Chúa Kitô đã đi qua và đã phân phát những gì quá đầy của Người. (Frère Roger Schutz)

LẮNG NGHE: Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.”Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:27-29)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho con!

THỰC HÀNH: Tự suy ngẫm coi có những gì chung quanh bạn tuy mắt người phàm không thấy nhưng bạn tin là nó có thật?

From: Đỗ Dzũng

Cô Gái Cùng Chuyến Xe – TRUYỆN NGẮN – LÊ PHI Ô…

Van Pham

TRUYỆN NGẮN – LÊ PHI Ô….

Xin đăng lại một chuyện tình thật đẹp và lãng mạng nhưng thật buồn!

***

Cô Gái Cùng Chuyến Xe

– Thưa Bác…ghế nầy có ai ngồi chưa ạ!

– Chưa cô… ghế còn trống.

Tôi vội lấy cái túi đeo lưng (Backpack) về phía mình trả ghế trống cho người vừa hỏi. Cô gái…thiếu phụ thì đúng hơn, tuổi khoảng chừng ngoài 30. Nàng ngồi xuống cạnh tôi, hương thơm của mùi nước hoa thoảng nhẹ trong không khí ban mai thật dễ chịu. Đã lâu, hình như lâu lắm mùi nước hoa quen thuộc nầy…nhất thời tôi chưa nhớ ra là tôi được thưởng thức hương thơm nầy từ…đâu.

Tôi kín đáo nhìn ngang để xem người vừa ngồi có quen biết gì không. Ngoại hình và mái tóc có nét gì đó quen thuộc nhưng gương mặt thì không thể nào nhìn được vì nàng mang một cặp kính mát lớn che cả nửa phần trên của gương mặt nhưng…hình như cũng có một nét gì đó quen quen.

Xe đến Gilroy thì rẻ vào xa lộ 252 west, nắng chói thẳng vào mặt, tôi lấy kính mát đeo vào và cũng có dụng ý là khi tôi quan sát cô gái ngồi kế bên sẽ không bị nàng phát giác. Cùng lúc đó nàng lấy kính xuống để lau bụi, tôi giật nẩy người khi liếc nhìn khuôn mặt nàng. Giống quá, nàng giống quá. Khuôn mặt, mái tóc và nhất là cặp mắt của một người tôi quen của cái thời tôi còn là một anh lính trẻ.

Quá khứ hiện về rỏ nét và đang ngồi sát cạnh bên tôi chứ không lung linh mờ ảo như những lần tôi hồi tưởng. Nhớ ra rồi, mùi nước hoa Channel #5 của phụ nữ mà Hồng Gấm thường dùng. Cũng mái tóc, gương mặt, sóng mũi và nhất là cặp mắt tròn xoe đen láy như hai hạt nhãn khi nhìn vào nó trong những ngày mới quen em…làm tôi quên cả lối về.

Khẽ gọi thầm tên em…cô gái quay ngang nhìn tôi như muốn hỏi gì đó nhưng rồi…thôi.

– Cô xuống…Westminster thăm người quen, phải không ?

– Dạ không, con ở dưới đó. Con lên San Jose thăm bạn hôm nay về lại. Còn Bác?

– Tôi ở San Jose, xuống thăm bạn bè ít bửa… rồi về.

Cô gái ngầm quan sát tôi, nàng nghĩ ông già nầy nói chuyện hình như không được tự nhiên…ông có điều gì muốn nói ra nhưng không tiện thì phải. Cô nở nụ cười rồi quay lại ngồi thẳng, cũng là lúc thuận tiện cho tôi quan sát nàng. Hồng Gấm ngày xưa của tôi năm nay cũng ngoài 60, không biết bây giờ em ở đâu, gia đình có hạnh phúc không! Hoặc…cũng có thể một bất hạnh nào đó xảy ra cho em kể từ thảm họa 30 tháng 04, ngày bi thảm của lịch sử.

Không lúc nào là tôi thôi nghĩ đến em và cầu mong cho em luôn gặp được nhiều may mắn. Cô gái lấy trong giỏ xách ra một gói nho, quay lại phía tôi:

– Thưa Bác, mời Bác ăn nho. loại nầy ngọt lắm…con nhỏ bạn biết con thích ăn vặt nên hôm qua đi chợ nó mua cho con nhiều lắm.

– Cám ơn cô ! …

Tôi đưa tay cầm lấy chùm nho tươi mọng nước, nhìn bàn tay cô gái tôi không khỏi xúc động, cũng những ngón tay thon đó năm xưa Hồng Gấm đã từng mời tôi ăn nho và cũng nhiều lần tôi tìm cớ xem bói để được cầm tay nàng lâu hơn. Tôi buông tiếng thở dài dù rất nhẹ nhưng cũng đủ làm cho cô gái nghe thấy, nàng định nói gì đó nhưng lại thôi.

Một lát, cô gái nói khẽ:

– Bác gái sao không đi với Bác?

– Tôi sống một mình cô ạ, đã từ lâu…

– Thế, Bác gái còn ở Việt Nam hở Bác.

– Tôi cũng không rỏ, chúng tôi chia tay nhau từ…lâu lắm. Kể từ ngày tôi bước chân vào nhà tù “cải tạo” Cọng Sản.

Cô gái hình như hiểu một điều gì đó, cô ngồi im mắt ngó ngoài cửa xe. Bỗng nhiên cô quay lại tôi nói nhỏ, giọng có vẽ chua chát:

– Bà nào rồi cũng vậy, con ghét những người như vậy !

Tôi giả vờ:

– Cô nói ai…ạ?

– Ở xóm con bên Việt Nam có rất nhiều bà bỏ chồng, ngày nào ông chồng còn lên xe xuống ngựa…đến khi té ngựa thì mấy bả cho…té luôn.

– Không phải ai cũng vậy cô ạ, đúng ra cũng vì hoàn cảnh.

– Thưa Bác, không phải con quơ đủa cả nắm đâu. Đa số, con nói đa số…đều đổ thừa cho hoàn cảnh.

Cô gái nầy lòng dạ thẳng ngay, nếu tiếp tục sẽ đưa đến chổ làm cô ấy mất vui. Tôi lãng sang chuyện khác:

– Ông xã cô đâu…sao đi chỉ một mình vậy?

– Con còn độc thân, đáng lý ra đôi khi con cũng muốn có một mái ấm riêng cho mình. Nhưng vì thương mẹ, con không muốn để mẹ sống một mình.

– Không phải tò mò, nhưng cho Bác hỏi…Ba, Má con vẫn sống hạch phúc phải không con.

– Dạ, Ba Má con vẫn bình thường, nhiều lần khuyên con lập gia đình, con vâng dạ cho ba má con vui nhưng…

Cô gái bỏ lững câu nói, rồi đột nhiên lên tiếng: “Trong tình trường có người may mắn chỉ gặp nhau một lần mà hạnh phúc cả đời. Có người lại lận đận…”

– Bác hỏi thật, có khi nào con gặp phải “lận đận”… không?

– Dạ không, con chưa bao giờ cả, chỉ có điều…

Cô gái ngập ngừng… đầu hơi cúi xuống. Cô định nói gì đó nhưng rồi thôi.

– Bác xin lỗi con, Bác cũng thuộc loại không nói nhiều nhưng vì thấy con tánh tình cởi mở vui tánh nên Bác…

– Không, thưa Bác không đâu ạ, trái lại khi vừa gặp Bác con đã có cảm tình ngay cứ như là bà con với nhau, Bác cứ tiếp tục, con thích nghe Bác nói lắm !

Không hiểu sao tôi cũng có cảm tình với cô gái nầy khi mới trao đổi nhau những câu nói đầu tiên. Giọng trầm buồn cô gái nói tiếp:

– Thưa Bác, gia đình con 4 người, ngoài cha mẹ…con còn có một người anh trai đã có vợ và 2 con. Hiện anh ấy là bác sĩ trong quân đội Mỹ. Con thì sống với Ba Mẹ ở Santa Ana. Ba con là một người đàn Ông lý tưởng, biết thương yêu và chăm sóc vợ con, mỗi khi mẹ con buồn Ông thường hay tìm chuyện nầy chuyện nọ chọc cho mẹ con vui.

– Một gia đình hạnh phúc như vậy thì…mẹ con có việc gì phải buồn hở con?!

– Thưa Bác…

Cô gái ngập ngừng giây lát, hai môi hơi mím lại…rồi như quả quyết:

– Trước khi lấy Ba con, má con đã yêu một người !

Tôi hơi bất ngờ:

– Ba con có biết không?

– Dạ thưa, biết!

Chuyện bỗng nhiên trở nên “ly kỳ”, tôi hỏi tiếp:

– Thái độ của Ba con ra sao? Bác muốn hỏi lúc Ba con mới biết kể cả sau nầy nghĩa là bây giờ.

– Ba biết rỏ câu chuyện tình của má con trước khi hai người lấy nhau cho đến bây giờ mà vẫn một mực yêu thương má con.

– Cho Bác xin lỗi hỏi con câu nầy nha. Có bao giờ…

– Con biết Bác muốn hỏi: Má con có làm điều gì có lỗi với Ba con, phải không Bác ! không Bác ạ, hoàn toàn không. Má con một mực kính trọng Ba của con và bà giữ đúng cương vị của một người vợ có tư cách.

Như vậy có điều gì khiến cô bé nói với tôi:

– “Những buổi hoàng hôn nắng tắt, mẹ con thường đứng một mình bên song cửa nhìn về hướng trời xa. Những đêm trăng mờ ảo má con cũng chỉ một mình. Hình như bà rất sợ ánh sáng và cả bóng tối.

Đầu năm 1975, tin tức chiến sự ác liệt trên khắp chiến trường miền Nam cho đến ngày ông DVM tuyên bố đầu hàng, sau ngày đó những cuộc vượt biên tìm tự do có không ít chiếc thuyền bạc phước đã chìm giữa đại dương trong đêm tối mịt mờ. Ba con cũng đã tìm phương tiện cho cả nhà vượt thoát bằng đường biển, may mà thành công.

Khi đã định cư ở Mỹ, tin tức trên báo chí, truyền hình đề cập đến những trại “cải tạo” do Cộng Sản dựng lên mà thực chất là những trại tù lao động khổ sai, đã có nhiều người chết vì bệnh tật, đói khát và kiệt sức. Mới đây một ông cựu Bác Sĩ Quân Y bạn của Ba con ghé thăm, mẹ con hỏi cuộc sống trong quân ngủ khi xưa có vất vả lắm không – Bác đó nói dù sao cũng là Bác Sĩ nên chuyện vất vả, hiểm nguy đâu có bằng những người ngoài mặt trận. Bác nói…cầm con dao giải phẫu trên tay đôi lúc phải kềm chặc lại để khỏi run khi nhìn thấy những vết thương xé cả lồng ngực người chiến binh, hoặc vết đứt rách cả vùng bụng không thể cứu sống được mà vẫn thều thào gọi tên người yêu!

Những lúc đó mẹ của con ngồi bất động, mắt nhìn ra cửa sổ và mấp máy đôi môi, bà lảm nhảm gì đó không ai hiểu bà nói gì. Chỉ có bà hiểu, bà âm thầm cầu nguyện cho một người lính đang băng mình ngoài kia nơi chập chùng lửa đạn…”.

Tôi hỏi cô gái:

– Ai đã nói cho con biết vậy?

– Thưa Bác, sinh nhật năm con 20 tuổi, nghĩa là cách đây hơn 10 năm. Sau tiệc sinh nhật mẹ gọi con vào phòng, trên tay mẹ cầm một gói giấy nhỏ bọc nylon kỷ lưởng, giọng thật buồn mẹ nói:

– Đây là quà sinh nhật mẹ tặng con, một gói quà vô giá bằng cả cuộc đời mẹ. Mẹ giao cho con, đọc xong nhớ giữ kỷ cho mẹ nha con.

Cô gái tiếp: – Đó là quyển nhật ký của mẹ con, nét chử nắn nót thật đẹp nhưng cũng có những chổ chử viết xiêu vẹo, lem luốc. Đoạn văn thật xúc động, con đoán là những giọt nước mắt của mẹ làm trang giấy nhòe đi !

Giọng nói bỗng ngưng lại và cô ấy… khóc!– Tôi tôn trọng những giây phút nầy nên cũng giữ yên lặng. Hồi lâu, tiếng cô gái cất lên nhẹ như hơi thở:

– Con xin lỗi Bác…những lời mẹ viết ra khiến con xúc động nên…

– Nếu cần con cứ tự nhiên khóc, những giọt nước mắt sẽ giúp con vơi bớt xúc cảm trong lòng.

Cô gái nhìn tôi, ái ngại:

– Con xin lỗi Bác, tự dưng con đem chuyện buồn của gia đình con nói ra làm Bác cũng không được vui!

Tôi thoáng cười buồn, cả hai chúng tôi mỗi người lại yên lặng theo đuổi ý nghĩ của riêng mình. Chuyện gia đình nàng mà tôi tưởng chừng như chuyện của tôi, chỉ có tên họ và nơi chốn thì khác nhau.

Tương tự, câu chuyện của tôi và Hồng Gấm cũng thế: – Hồng Gấm lấy chồng, một dược sĩ con nhà giàu anh ruột của cô bạn thân cùng lớp. Nàng đã nhận lời lấy người mình không yêu chỉ vì mẹ nàng bị bệnh nan y, muốn chửa khỏi phải tốn cả triệu dollars. Gia đình nàng có 3 chị em, người chị đầu có chồng làm thư ký cho một hãng xuất nhập cảng, bà chị làm cô giáo mà phải nuôi cả hai đứa em còn đi học.

Chị kế nàng là Hồng Nhung cũng bỏ học nửa chừng đi làm y tá để nuôi cô em út Hồng Gấm học cho đến nơi đến chốn. Hồng Nhung là bạn gái của anh Chuẩn Úy nghèo xác nghèo xơ là tôi, mối tình đẹp như mơ thì Hồng Nhung bị Việt Cộng sát hại. Có lẽ do Trời sắp đặt, Cô em út là Hồng Gấm trở thành ngời yêu của tôi sau một buổi chiều đi thăm mộ Hồng Nhung về…có lẽ tình yêu thương tha thiết của cả hai chúng tôi đối với Hồng Nhung nên đã đưa hai đứa đến với nhau, nhưng Hồng Gấm còn bé quá, nàng chưa học xong bậc trung học. Tôi hứa với em là mình sẽ sống với nhau sau khi em tốt nghiệp Đ.H Sư Phạm rồi đi dạy học, như vậy em mới có đủ tiền nuôi anh lính nghèo nầy nữa chứ. Hồng Gấm cười ngượng ngùng rồi đưa ngón út lên móc ngoéo tay tôi.

Nhưng, ngày tốt nghiệp của Hồng Gấm cũng là ngày chị Hai nàng thay mặt gia đình nhận lời cầu hôn của gia đình anh dược sĩ trẻ, lúc đó tôi đang được Trực Thăng tải thương về Tổng Y Viện Cộng Hoà nằm ở phòng lựa thương chờ phân loại do đạn súng cối 82 ly của vc khi đồn bị tấn công.

Đang nằm trên băng ca để Bác Sĩ xem xét vết thương thì Hồng Gấm đến, theo sau nàng độ mươi bước là anh Dược Sĩ “Người chồng tương lai” của nàng. Hồng Gấm hớt hãi đang dáo dác tìm rồi…em chạy nhanh đến gục xuống và òa khóc trên ngực tôi. Nước mắt của em như những vết dao đâm xuống lồng ngực đang thoi thóp vì vết thương, tôi lặng người giây lát định nói gì đó với em nhưng vết thương do súng đạn và vết thương “đến từ em” làm tôi tê liệt hoàn toàn. Tôi được chích thuốc mê, trong cơn nửa mơ nửa tỉnh, tôi thấy anh Dược Sĩ cúi chào tôi rồi đở Hồng Gấm dậy và hình như tôi cũng có… chào lại!

Nhìn nét mặt buồn thiu của cô gái, tôi nói:

– Chuyện con kể nghe sao buồn quá!

– Trước khi lấy vợ, Bác có trãi qua cuộc tình buồn nào như vậy không hở Bác.

– Có, chuyện cũng buồn không kém chuyện của con!

– Giờ đây…Bác, có lẽ cũng phôi phai phần nào?

– Không…con ạ ! Cô gái nhìn tôi, ái ngại:

– Con xin lỗi vì đã vô tình gợi lên vết thương trong lòng Bác!

– Bác phải cảm ơn con mới đúng, con đã làm cho Bác sống lại kỷ niệm dù đau thương nhưng cũng vẫn đẹp vô cùng!

– Có phút giây nào Bác quên nghĩ đến, không Bác?

– Không ! nó đã trở thành một phần máu thịt trong bác, nó là hơi thở…con người không thể sống mà thiếu hơi thở.

– Sao Bác không đi tìm người của Bác bằng cách nhắn tin trên sách báo, trên online hoặc bạn bạn bè khắp nơi…thử xem.

– Bác chỉ mơ ước một điều duy nhất là biết người đó còn sống và hạnh phúc cùng với gia đình con cháu, như thế là quá đủ…!

***

Ba giờ chiều xe đến Westminster, tôi chào từ giả cô gái rồi xuống sắp hàng lấy hành lý. Vừa lấy xong đi được mấy bước thì ai đó kéo tôi lại, hóa ra là cô gái đi cùng xe. Nàng hấp tấp nói:

– Cái túi xách đang mang trên lưng là của Bác phải không?

– Vâng, của Bác.

– Tên trên túi xách là tên của Bác?

– Đúng, là tên Bác, có việc gì… không con?

Cô gái kêu lên: “Bác ơi !” rồi gương mặt biến sắc và tái đi làm tôi hoảng hốt: “Con, Con làm sao vậy !”. Sau làn kính mát hai hàng nước mắt cô gái chảy dài xuống đôi gò má, cô lắp bắp: “Cám ơn Bác, con cám ơn Bác !” rồi vụt bỏ chạy lẫn vào đám đông ở bến xe.

Tôi há hốc miệng nhìn theo cô gái chưa biết chuyện gì, trong trí tôi mường tượng đến câu chuyện tôi và cô gái kể nhau nghe trên xe đò, quên cả việc gọi bạn ra đón về nhà.

Khoảng mươi phút trong khi chờ bạn đến thì một chiếc xe ngừng ngay sát cạnh tôi. Trên xe có vài người, cô gái đi chung xe đò thò mặt ra, gương mặt rạng rỡ, miệng cười tươi như hoa nhưng cặp mắt vẫn còn đỏ hoe. Cô đưa tôi mảnh giấy và xe vụt chạy đi.

Tôi ngẫn ngơ, chuyện xãy ra quá nhanh làm tôi quên nhìn bảng số xe. Trên mảnh giấy một dòng chử ngắn làm tôi hoa cả mắt:

“Thưa Bác, mẹ con tên Hồng Gấm, ba mẹ con đã nhìn thấy Bác từ xa. Gởi lời hỏi thăm và chúc Bác vạn điều may mắn! – Con, Hồng Phấn”.

Việt Nam sắp bắt các mạng xã hội gỡ nội dung không mong muốn trong vòng 24 giờ (VOA)

Việt Nam sắp bắt các mạng xã hội gỡ nội dung không mong muốn trong vòng 24 giờ

20/04/2022

Việt Nam là một trong những thị trường có lợi nhuận cao nhất của Facebook   

Việt Nam đang chuẩn bị đưa ra các quy định mới yêu cầu các công ty mạng xã hội gỡ bỏ nội dung mà họ cho là bất hợp pháp trong vòng 24 giờ, ba người nắm rõ về vấn đề này nói với Reuters với điều kiện ẩn danh.

Những quy định sửa đổi này sẽ càng củng cố Việt Nam thành một trong những chế độ khắt khe nhất thế giới đối với mạng xã hội và tăng cường sự kiểm soát của Đảng Cộng sản cầm quyền trong lúc chính quyền đàn áp các hoạt động ‘chống phá nhà nước’.

Khung thời gian 24 giờ để gỡ bỏ ‘nội dung và dịch vụ bất hợp pháp’ sẽ không có thời gian ân hạn, trong khi các ‘buổi phát trực tiếp bất hợp pháp’ phải bị chặn trong vòng ba giờ. Nếu không tuân thủ, các mạng xã hội có thể sẽ bị cấm ở Việt Nam.

Các công ty mạng xã hội cũng đã được thông báo rằng các nội dung có hại cho an ninh quốc gia phải được gỡ xuống ngay lập tức, theo các nguồn tin ẩn danh nói với Reuters.

Hiện tại, các nền tảng mạng xã hội thường có vài ngày để xử lý các yêu cầu từ chính phủ Việt Nam, các nguồn tin cho biết.

Các quy định sửa đổi này, vốn vẫn chưa được công bố, dự kiến sẽ được Thủ tướng Phạm Minh Chính ký vào tháng tới và có hiệu lực từ tháng Bảy.

Các nguồn tin nói chuyện với Reuters không muốn được nêu danh tính do sự nhạy cảm của vấn đề. Các Bộ Ngoại giao và Bộ Thông tin-Truyền thông Việt Nam đã không phản hồi yêu cầu bình luận của Reuters.

TikTok, do hãng ByteDance của Trung Quốc sở hữu, sẽ tiếp tục tuân thủ luật pháp hiện hành của chính quyền sở tại để đảm bảo TikTok vẫn là không gian an toàn cho thể hiện sáng tạo, đại diện TikTok tại Việt Nam Nguyễn Lâm Thanh nói với Reuters. Ông Thanh cho biết TikTok sẽ gỡ bỏ những nội dung vi phạm nguyên tắc của họ.

Việt Nam với dân số 98 triệu người nằm trong số 10 thị trường hàng đầu của Facebook với số lượng người dùng vào khoảng từ 60 đến 70 triệu, theo dữ liệu của công ty năm 2021.

Việt Nam đem đến doanh thu hàng năm khoảng 1 tỷ đô la cho Facebook. Thị trường này đem lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với các thị trường châu Âu, theo các nguồn tin nắm rõ vấn đề.

YouTube có 60 triệu người dùng tại Việt Nam và TikTok có 20 triệu, theo ước tính của chính phủ năm 2021.

Nhưng thị trường Việt Nam đặt ra những vấn đề nan giải về đạo đức. Đảng Cộng sản Việt Nam gần như không cho phép chỉ trích và các tòa án ở nước này đã tuyên những án tù dài hạn đối với những nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động do những lời chỉ trích chính quyền của họ trên Facebook và YouTube.

Hồi năm 2020, Facebook đã đồng ý đẩy mạnh kiểm duyệt đáng kể các nội dung ‘chống nhà nước’ sau khi giới chức Việt Nam làm chậm lượng truy cập và đe dọa đóng cửa Facebook hoàn toàn, các đại diện Facebook từng nói với Reuters.

Facebook cho biết vào thời điểm đó họ đã ‘miễn cưỡng tuân thủ yêu cầu của chính phủ’ là ‘hạn chế truy cập vào các nội dung mà họ cho là bất hợp pháp’.

Những thay đổi quy định này xuất phát từ sự bất mãn của chính quyền Việt Nam với tỷ lệ gỡ bài hiện tại theo yêu cầu của chính quyền, các nguồn tin ẩn danh cho biết.

Theo dữ liệu từ Bộ Thông tin và Truyền thông, trong quý đầu tiên của năm 2022, Facebook đã tuân thủ 90% yêu cầu gỡ bài của chính phủ, Alphabet tuân thủ 93% và TikTok tuân thủ 73%.

Các nguồn tin cho biết ngoài loại bỏ các nội dung ‘bất hợp pháp’, Chính phủ Việt Nam còn muốn các mạng xã hội thay đổi thuật toán để hạn chế các nội dung gợi ý về tình dục, cờ bạc và buôn bán các loại thuốc và thuốc bổ không theo quy định.

Chính phủ cũng muốn gỡ tài khoản của những nhân vật nổi tiếng mà họ cho là đang sử dụng ảnh hưởng để bán hàng không phù hợp, nhục mạ người khác và thúc đẩy các hoạt động từ thiện giả mạo.

Các công ty mạng xã hội sẽ gặp khó trong việc tuân thủ quy định gỡ bài trong vòng 24 giờ, các nguồn tin cho biết thêm.

Họ nói rằng trong khi những vi phạm rõ ràng về nguyên tắc của riêng họ về mô tả bạo lực cực đoan có thể được xử lý rất nhanh, các yêu cầu khác mất nhiều thời gian hơn để đánh giá và việc tìm kiếm nhân viên đủ năng lực là một thách thức.

Ukraine: Bị giết khi đi sơ tán, Elisei là một trong số 200 nạn nhân trẻ em (BBC)

Ukraine: Bị giết khi đi sơ tán, Elisei là một trong số 200 nạn nhân trẻ em (BBC)

  • Yogita Limaye
  • BBC News, Kyiv, Ukraine

NGUỒN HÌNH ẢNH,FAMILY HANDOUT

Elisei Ryabukon was 13 when he was killed, trying to escape

Evhen Ryabukon vỗ nhẹ lên chiếc quan tài, và dường như chuyện trò lần cuối với cậu con trai. Anh gục xuống, hết lần này tới lần khác, rồi mới nói xong lời vĩnh biệt.

Vợ anh, chị Inna, cố giữ bình tĩnh, chỉnh lại bức ảnh đóng khung của cậu bé tươi cười được đặt trên quan tài – cử chỉ yêu thương cuối cùng của người mẹ dành cho con.

Cậu bé là Elisei Ryabukon. Nếu còn sống, cậu sẽ tròn 14 tuổi vào tháng Năm.

Chỉ hơn một tháng trước, cậu bị lính Nga bắn chết. Gia đình, bạn bè, hàng xóm và bạn học cùng lớp tập trung ở một nhà thờ tại thành phố Brovary, phía đông Kyiv, để tiễn biệt cậu bé được nhiều người yêu quý từ làng Permoha. Một cộng đồng ly tán vì chiến tranh, nay cùng tập hợp trong đau thương.

Elisei được tưởng nhớ như một cậu bé trung thực, khiêm tốn và hay giúp đỡ người khác, một cậu bé không thích đánh nhau và từ chối chơi các môn thể thao va chạm mạnh.

Inna, Elisei và con trai bé của họ bị kẹt lại ở làng Permoha khi chiến tranh nổ ra.

“Hôm 11/3, quân Nga cho phép chúng tôi rời đi. Họ thậm chí còn vẫy tay chào tạm biệt chúng tôi và chúc chúng tôi may mắn. Rồi khi chúng tôi đang vượt qua một cánh đồng, họ bắt đầu bắn vào chúng tôi từ mọi phía,” chị Inna kể.

Có năm xe hơi nối đuôi nhau đi sơ tán. Elisei ngồi trên chiếc xe thứ hai, và tất cả mọi người trên xe đó không còn ai sống sót.

“Tôi bò qua cánh đồng và cứu được con trai bé ba tuổi bằng cách cầm cái mũ áo của nó lôi nó đi. Chúng tôi sống sót ra khỏi đó được thật là may mắn,” chị nói.

“Tôi muốn thế giới biết đến tội ác của Nga. Tôi muốn tất cả các nạn nhân được ghi nhận. Tôi muốn Nga phải chịu trách nhiệm về những người dân, trẻ em và phụ nữ họ đã giết trên đất của chúng tôi,” chị nói.

Bà của Elisei trong đám tang

Elisei là một trong hơn 200 trẻ em được xác nhận là đã thiệt mạng trong cuộc chiến ở Ukraine cho tới nay, theo con số của chính phủ nước này. Hàng trăm em khác bị thương.

Bệnh viện Ohmatdyt đã nhận hàng chục trẻ em bị thương trong cuộc chiến.

Bé Daniil Avdeenko được đưa tới đây từ thành phố Chernihiv ở phía Bắc, nơi quân Nga đã bao vây và bắn phá trong nhiều tuần trước khi họ rút đi vào đầu tháng Tư.

Daniil và cha mẹ cậu bị thương khi đạn súng cối rơi vào ngay bên ngoài nhà họ trong một khu dân cư.

Khi súng cối nổ, tất cả ba người bị bắn xuống mặt đất. Cha cậu, ông Oleksandr, thấy chân của vợ mình chảy máu ròng ròng. Ông dùng quai túi của vợ làm gạc buộc chặt, điều giúp bà không bị chặt chân.

Oleksandr gọi Daniil, và cậu bé nói với cha cậu không sao. Nhưng khi cậu đứng dậy, Oleksandr nhận thấy con mình bị thương nặng mức nào.

Daniil Avdeenko bị thương vì pháo cối Nga rơi vào

“Tôi thấy cháu bị mảnh đạn dính khắp người và cháu chảy máu nhiều,” ông kể.

Ba người được đưa tới ba bệnh viện khác nhau.

“Trong bốn ngày đầu, chúng tôi không biết ai còn sống ai đã chết. Họ không đăng ký tên con trai tôi khi cháu nhập viện,” ông kể.

Cuối cùng, gia đình cũng được đoàn tụ, và đưa tới Kyiv để điều trị.

Daniil bị mảnh đạn găm vào đầu nhưng đã được gỡ, nhưng những mảnh cắm vào lưng bé vẫn còn đó. Các bác sỹ nói nếu gỡ chúng ngay lúc này sẽ rất đau đớn. Cậu bé cũng bị thương ở nhiều chỗ và bị gãy chân. Không rõ bao giờ cậu mới đi lại được.

Nhìn chung cậu bé vui vẻ, nhưng cậu kêu lên vì đau khi y tá đến tiêm thuốc cho cậu.

“Cháu kể cho các y tá ở bệnh viện chi tiết chúng tôi bị thương ra sao. Cháu nhớ tất cả. Nhưng cháu tự trách mình. Trước khi chuyện xảy ra, tôi bảo cháu đi xuống hầm với mẹ. Nhưng cháu nhất định đòi ra ngoài với tôi,” ông Oleksandr kể. “Tôi giải thích với cháu là cháu không có lỗi gì hết.”

Ngay cả những trẻ em đã chạy thoát mà không bị thương về thể xác, các em cũng phải chịu những chấn thương về tâm lý.

Cậu bé 13 tuổi Ilya Bobkov cùng gia đình chạy khỏi thành phố Bucha, gần Kyiv, nơi quân Nga chiếm đóng trong nhiều tuần.

Gia đình cậu ra đi theo một hành lang nhân đạo được mở hồ tháng Ba cho thường dân đi sơ tán. Giờ đây họ sống trong một căn phòng trong một tòa nhà chính phủ xập xệ ở thủ đô Kyiv.

“Hôm 24/2, khi giao tranh bắt đầu, cháu rất sốc. Cháu tưởng rằng nó là một ngày bình thường. Cháu sẽ đi học, làm bài tập và chơi game. Rồi mẹ cháu vào phòng và bảo cháu xếp một số thứ vào túi. Rồi nhà cháu bắt đầu sống dưới hầm. Thật là đáng sợ. Khó mà ngủ được qua đêm,” Ilya kế.

Ilya Bobkov sơ tán khỏi Bucha, nơi quân Nga được cho là đã gây tội ác chiến tranh

Trên đường đi sơ tán, Ilya và gia đình thấy nhà cửa bốc cháy, xe tăng bị phá hủy và xác chết trên đường.

“Cháu không thể thoát khỏi cảm giác là chiến tranh vẫn ở quanh ta. Cháu mơ là gia đình cháu bị quân Nga giết hay bắt làm con tin. Cháu tỉnh dậy vã hết mồ hôi,” Ilya nói.

Cô của Ilya, Valentyna Solokova, người cùng gia đình cũng đi sơ tán cho biết họ cố gắng làm lũ trẻ phân tán bằng cách chơi trò chơi hay xem ảnh gia đình. Nhưng họ cũng buộc phải nói về tình hình khó khăn, đặc biệt là khi họ thiếu thực phẩm.

“Tôi bảo lũ trẻ là bánh mỳ và nước uống là những thứ quan trọng nhất. Tôi phải làm cho chúng hiểu là trước kia chúng có cuộc sống khác, khi chúng có tất cả, chúng đi học và về nhà chơi trò chơi. Còn giờ đây chúng phải sống mà không có những điều đó,” bà kể. “Tôi bảo chúng đã đến lúc các con trưởng thành lên.”

Một thế hệ trẻ em ở Ukraine bị tước mất tuổi thơ bình thường vào lúc này. LHQ ước tính trong số 7,8 triệu trẻ em ở Ukraine, chừng hai phần ba đã bị mất nơi ở.

Với giao tranh ác liệt ở phía nam và đông Ukraine, và bom đạn rơi xuống Lviv và Kyvi, không có nơi nào ở Ukraine được an toàn. Không rõ bao giờ trẻ em nước này mới có thể trở lại cuộc sống trước kia, bất ngờ bị gián đoạn bởi cuộc chiến.

Việt Nam sẽ đu dây kiểu gì tại thượng đỉnh Mỹ – ASEAN trong tháng 5 tới đây?

Việt Nam sẽ đu dây kiểu gì tại thượng đỉnh Mỹ – ASEAN trong tháng 5 tới đây?

05:24 | Posted by BVN1

Jackhammer Nguyễn

16-7-2022

Ngày 16/4/2022, thư ký báo chí tòa Bạch Ốc thông báo rằng tổng thống Mỹ Biden sẽ có cuộc gặp thượng đỉnh với 10 vị lãnh đạo các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), vào hai ngày 12 và 13-5-2022.

Vậy là sự kiện quan trọng góp phần củng cố chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, cuối cùng được ấn định sau nhiều trục trặc (lần cuối được cho là sự phá bỉnh của Campuchia?!).

Đây là cơ hội thách thức chính sách đu dây của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó nổi bật nhất là Việt Nam, trước tình hình quốc tế biến chuyển mạnh mẽ sau cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine, và thái độ công khai của Trung Quốc ủng hộ Nga, công khai phản bội lại những câu đầu môi chót lưỡi của họ về chủ quyền quốc gia, về không can thiệp… (Thật ra, mọi người cũng chẳng lạ gì với những lời lẽ đầu môi chót lưỡi của Bắc Kinh lâu nay).

Nếu chúng ta công nhận chính sách đu dây của các quốc gia nhỏ có phần nào hợp lý trong cuộc xung đột giữa các siêu cường, thì cuộc chiến Ukraine làm lộ ra phần bên dưới tối tăm của sự lệ thuộc của Việt Nam vào nước Nga trong các lĩnh vực kinh tế và quốc phòng. Nga là quốc gia cùng chia sẻ mô hình chính trị với Việt Nam và Trung Quốc. Sự lệ thuộc mạnh mẽ đến mức dẫn đến thái độ phi logic của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, chống lại đại đa số các thành viên của tổ chức Liên Hiệp quốc, để mà ủng hộ nước Nga nặc nô (pariah, từ được giới truyền thông và chính khách phương Tây sử dụng hiện nay). Những lá phiếu của Việt Nam đã phủ nhận cả những tuyên bố từ trước tới nay của họ về sự bình đẳng giữa các quốc gia, về việc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác…

Trong một bài viết ngay sau lá phiếu thứ ba của Việt Nam chống lại việc trục xuất nặc nô Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc, tôi có nhận xét rằng, không khéo thì Hà Nội “già néo đứt dây” trong quan hệ với Mỹ. Khi nhận xét như vậy, tôi nói về những tính toán chiến thuật của Việt Nam, dựa trên giả định rằng Mỹ đang rất cần Việt Nam trong ván cờ toàn cầu của họ trong việc kiềm chế Bắc Kinh.

Cùng nhận xét đó với tôi, tác giả Trần Đông A đi xa hơn, cho rằng cái rủi ro già néo đứt dây đó nằm trong cả chiến lược lâu dài lẫn tầm nhìn tương lai cho dân tộc Việt Nam. Tác giả phân tích những vấn đề về nhân quyền và chế độ chính trị dựa trên luật pháp, dựa trên quyền bầu cử tự do của dân chúng… tất cả đều thiếu ở Việt Nam, mà những vấn đề đó lại được đưa ra trong báo cáo nhân quyền thường niên của Mỹ, đưa ra ngay sau việc bỏ phiếu gạt bỏ Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc.

Theo một phân tích mới đây của giáo sư chính trị Andrew J. Nathan, thuộc đại học Columbia, Hoa Kỳ, trên tờ báo rất có uy tín là Foreign Policy, thì ba điểm cốt yếu trong chính sách Mỹ chống Trung Quốc hiện nay là: Sự liên minh (với các quốc gia), tính sáng tạo (của xã hội Mỹ), và những giá trị dân chủ.

Tác giả cho rằng, mặc dù cùng một mục tiêu là kiềm chế, cạnh tranh với Trung Quốc, nhưng chính phủ Trump trước đây đã không làm được gì tới nơi tới chốn vì dựa trên tính cách con buôn đổi chác của ông Trump. Tính cách con buôn đổi chác này lại có vẻ hợp với thái độ đi dây õng ẹo của Hà Nội từ trước tới nay: Lấy vị trí địa chiến lược đắc địa, án ngữ biển Đông ra mà làm vật đổi chác.

Nay tình hình đã thay đổi sâu sắc. Nước Mỹ quay lại dòng chính của nó, Trung Quốc và nặc nô Nga làm cho các nền kinh tế phương Tây đoàn kết hơn lúc nào hết. Bắc Kinh đang đối diện với tương lai khó khăn đang chờ đón họ về kinh tế, không chỉ ở Mỹ mà cả sự nghi hoặc của châu Âu đối với họ. Bắc Kinh cũng cảm thấy vấn đề đe dọa Đài Loan trở nên khó khăn hơn, trong khi sự sáng tạo của nền kinh tế vẫn còn xa tít tắp (làm sao có được sự sáng tạo dưới một chế độ toàn trị?), chưa nói đến khả năng ảm đạm tái phát dịch Covid, vì vaccine Hoa lục kém hiệu quả.

Có một may mắn cho Hà Nội là các nhà hoạch định chính sách đối ngoại chính yếu của Mỹ hiện nay ở Đông Á là hai ông Jake Sullivan và Kurt Campbell, đều là những người thông hiểu và ít nhiều có cảm tình với Việt Nam, họ có thể có kiên nhẫn, nhưng còn có những nhóm khác trong hành pháp Mỹ hiện nay chủ trương cách tiếp cận mạnh mẽ hơn, có thể không kiên nhẫn.

Tuy nhiên, cũng như tôi, tác giả Trần Đông A cho rằng chưa tới mức Mỹ sẽ làm khó Việt Nam về thái độ thân Nga của Hà Nội, mà vẫn đang tìm cách chinh phục xã hội Việt Nam với các giá trị mềm “Made in USA”. Hơn nữa, thiết nghĩ Hà Nội vẫn chưa đủ quan trọng như Ấn Độ, để cho Washington thẳng thắn chỉ trích.

Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó, già néo đứt dây về chiến thuật ở tương lai gần, hay già néo đứt dây với chính dân tộc mình, như tác giả Trần Đông A chỉ ra, đều dẫn đến kết quả không hay cho dân tộc.

Thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Minh Chính sẽ đến Washington vào ngày 12/5 này để … đu dây, nên quan tâm đến sự kiên nhẫn của người Mỹ.

J.N.

Nguồn: Tiếng Dân

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 2)

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 2)

Tác giả Lê Phương Lan,

 

Tôi yêu nhất bài “Dòng An Giang” với điệu valse dìu dặt như sóng nước.

Thủ đô của miền Nam tự do thuở ấy đã được ngợi ca rằng “Sài Gòn đẹp lắm Sài gòn ơi! Sài Gòn ơi!”; bên cạnh đó còn có bài “Đường Về Sài Thành”. Và trong bài “Ghé Bến Sài Gòn” nhạc sĩ Văn Phụng đã ân cần mời gọi:

“Cùng nhau đi tới Sài Gòn, thủ đô yêu dấu nước Nam tự do…

Người ơi! Sài Gòn chốn đây là ‘ngọc viễn đông’ vốn đã lừng danh!”

Và giòng nhạc trữ tình thời bấy giờ đã ghi nhận các tài năng lớn với những cung bậc du dương trong lời nhạc thanh tao như Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Cung Tiến, Hoàng Trọng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Phạm Đình Chương. Vườn hoa âm nhạc càng nở rộ trong mảnh đất trù phú để rồi tiếp theo sau này với vô số tên tuổi như Lam Phương, Anh Bằng, Lê Dinh, Trúc Phương, Hoàng Nguyên, Phạm Trọng Cầu, Lê Trọng Nguyễn, Thu Hồ, Hồ Đình Phương, Lan Đài, Hoàng thi Thơ, Tuấn Khanh, Châu Kỳ, Hoài Linh, Minh Kỳ, Mạnh Phát, Lê Dinh, Nhật Bằng, Nhật Ngân, Thanh Sơn, Song Ngọc, Y Vân … làm nên một di sản “nhạc vàng” bất tử mặc cho “bên thắng cuộc” với lòng hẹp hòi, thiển cận đã và đang ra sức cấm cản, chôn vùi.

Về nhạc sĩ Pham Duy, ông đã may mắn chạy vào được miền Nam để xây dựng cho các con ông cũng được vinh hoa trong lãnh vực ca hát. Bản thân ông được tự do sáng tác những tác phẩm lớn được người dân miền Nam yêu thích. Ông đã tránh được số phận nghiệt ngã của các thi sĩ như Hoàng Cầm, Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần đã uất hận:

“Bút tôi ai cướp mất rồi!

Tôi sẽ dùng dao khắc văn trên đá”;

số phận của nhạc sĩ tài hoa Văn Cao suốt ngày thơ thẩn ngoài đường! Nhưng nếu như ánh đèn đã lôi cuốn những con thiêu thân thế nào thì danh lợi là một thử thách dường như không thể cưỡng lại được đã đốt cháy tiết tháo nhiều người nghệ sĩ đã một thời được ái mộ. May ra chỉ còn lại hai danh ca Thanh Thúy và Hoàng Oanh.

Song song với giai đoạn nở rộ của nền tân nhạc phong phú, đó cũng là thời hoàng kim của nền điện ảnh, kịch nghệ, sân khấu cải lương, một đặc trưng của Sài Gòn hoa lệ với các đoàn hát lớn như Kim Chung, Kim Chưởng, Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu vang bóng một thời. Tự do trong sáng tác đã khiến người nghệ sĩ thoải mái diễn đạt trọn vẹn cảm xúc của mình qua những tác phẩm qua bao năm tháng vẫn còn lưu trữ trong ký ức của người thưởng thức. Thanh bình, no ấm khiến người dân yên lòng trong sinh kế nên đã thoải mái tham dự các sinh hoạt văn nghệ, giải trí.

Trong lãnh vực nghệ thuật tôi yêu hình ảnh thanh tú của danh cầm Phùng Phúc Trân với mái tóc dài tha thướt, bàn tay dìu dặt, lả lướt trên cây violon mảnh mai trên vai đã làm say mê khán thính giả. Ngoài ra, tôi còn ngưỡng mộ các bức tranh đôi khi chỉ tưởng như những nét vẽ phác họa thể hiện bút pháp rất độc đáo của nữ họa sĩ Bé Ký cũng được giới thưởng ngoạn rất yêu thích. Trong sinh hoạt thể thao, các danh thủ bóng bàn như Lê Văn Tiết, Nguyễn Văn Inh, Mai Văn Hòa đã làm rạng danh Việt Nam Cộng Hòa tại Nhật.

Nhưng vàng son nhất là nền túc cầu. Đội banh Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng Do thái 2-0 trong khuôn khổ vòng loại Olympic 1964. Cũng trong vòng loại thế Vận Hội 1968, đội banh VNCH đã hạ Phillipines 10-0. Vẻ vang nhất là thành tích vô địch giải Merdeka 1966 tại Mã Lai với 12 nước Á châu tham dự đem vinh dự cho đội banh VNCH với các danh thủ: Tam Lang, Nguyễn Văn Rạng, Đỗ Thới Vinh, Lâm Hồng Châu …

Thế hệ cha anh chúng tôi với nhiệt tâm lo cho thế hệ đi sau đã xây dựng tại miền Nam một nền giáo dục tiến bộ, rất nhân bản. Vào lớp học, ngay trên tấm bảng đen trước mặt các học sinh chúng tôi là hàng chữ: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Các sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư đã dạy chúng tôi những bài luân lý căn bản làm nền tảng đạo đức của con người với “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”.

Sách Công Dân Giáo Dục dạy chúng tôi sống với lương tâm và nghĩa vụ xây dựng đất nước của một người công dân. Những lời ca dao thể hiện tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương mộc mạc, nhưng chân thành, tha thiết. Các câu tục ngữ ngắn gọn, những câu châm ngôn, các sách học làm người đều dạy chúng tôi sống lương thiện “Đói cho sạch, rách cho thơm”.

Những câu chuyện ngụ ngôn của Lafontaine được cụ Nguyễn Văn Vĩnh chuyển dịch lời Việt rất dễ nhớ, dễ thuộc là những bài học xử thế rất thiết thực. Bên cạnh đó là cả một dòng văn học tuổi thơ trong sáng của các tờ báo như tờ Tuổi Hoa với sự cộng tác của nhà văn Quyên Di, thày giáo Hoàng Đăng Cấp, Họa sĩ Vivi. Tạ ơn các thày cô giáo đáng kính trọng. Cám ơn nền giáo dục đã giúp chúng tôi không đánh mất nhân cách khi bị chính quyền cộng sản sau khi chiếm miền Nam quyết dồn chúng tôi vào “tử lộ”. Chính nhờ nền giáo dục này trong đau thương nét sáng ngời của viên ngọc tình người càng tỏa sáng.

Sau ngày mất nước, gia đình chúng tôi sống trong sự giúp đỡ, che chở của bà con hàng xóm con hẻm 54 đường Thánh Mẫu, Chí Hòa. Cũng thế, trong lớp 9 tôi làm giáo viên chủ nhiệm tại trung học Đắc Lộ, các em nam sinh (Hạnh, Bình, Sơn) đã tự động đến giúp đóng lại trần nhà và mái tôn đã bị hư hại. Em Hoa sau mỗi buổi học phải đẩy xe xê ri đi bán rong đã đem đến cho tôi chén cơm với nửa trái trứng vịt kho mặn. Hai chị em Kim Anh, Kim Nhật và Nhung đã đến giúp tôi cán bột mì làm bánh quai vạc để đi tiếp tế.

Nhưng như một định mệnh! Thời thái bình thịnh trị của miền Nam đã không còn khi thành phố Sài gòn nhiễu loạn với các cuộc xuống đường đã bị Việt cộng trà trộn, kích động; khi người Mỹ đã đạo diễn cho các tướng lãnh phản bội lật đổ nền Đệ I Cộng Hòa! Và nền Đệ II Cộng Hòa ra đời sau các cuộc đảo chánh, chỉnh lý! Nhiều khuôn mặt chính khách, tướng tá thay phiên xuất hiện trên sân khấu chính trị!

Hết Nguyễn Khánh “râu dê” lại đến Nguyễn Cao Kỳ “râu kẽm”. Miền Nam trong sáng giờ đã bị khuấy động để trở thành vũng nước đục cho các tay gián điệp cộng sản nằm vùng thả câu! Cũng may là vẫn còn các tướng sạch “Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng” và biết bao chiến sĩ VNCH trong các quân binh chủng, các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia đã chiến đấu can trường trên mọi mặt trận, chống cự cho đến ngày đồng minh đã thực sự rời bỏ chúng ta!

Sau cái chết của hai anh em tổng thống Diệm, từ 1963 trở về sau chiến tranh đã bước vào thành phố. Máu đã đổ do đặc công Việt cộng đặt chất nổ tại nhà hàng Mỹ Cảnh, khách sạn Caravel, tòa đại sứ Mỹ; do các đạn pháo kích bừa bãi từ “dàn phóng” đôi lúc chỉ là các thanh tre gác vào nhau từ vùng ven đô gây bao cảnh tang tóc cho những người dân vô tội, khiến nhiều gia đình lo sợ phải xây hầm trú ẩn bằng bao cát. Việt Cộng còn ra tay ám sát nhà báo Từ Chung và giáo sư Nguyễn Văn Bông! Trong giai đoạn nhiễu nhương ấy bố tôi quyết định về hưu sớm để bước ra khỏi những tranh dành chức tước, quyền lực. Ông dùng tâm trí để làm việc với cơ quan JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) một cơ quan thuộc nghành thông tin của chính phủ Mỹ tại Sài gòn.

Khi đó gia đình tôi từ cư xá Sĩ Quan Chí Hòa đã dọn đến một căn nhà mái tôn nhỏ ở khu rừng cao su cũ đường Nguyễn Văn Thoại. Anh em chúng tôi có một căn gác chật hẹp mà chỉ đến buổi chiều mới leo lên chống cánh cửa sổ lên cho thoáng mát để có thể ngồi học bài và đi ngủ được. Từ đấy tôi đã biết yêu những cơn mưa về đêm vừa xóa tan cái nóng bức, vừa dạo nhạc nền đi vào giấc ngủ.

Khi tôi còn theo học tại trường trung học Đắc Lộ ở ngã tư Bảy Hiền thì buổi sáng thường là đi bộ mất khoảng nửa tiếng để đến trường. Khi ra về leo lên các xe Lam ba bánh. Nhưng sau đó tôi cũng vẫn phải lội bộ khá xa từ ngã ba Ông Tạ để về đến nhà. Tôi còn cách khác để về là vẫy loại xe đò nhỏ mang tên Cửu Hiệp chạy tuyến đường Hóc Môn- Chợ Lớn qua đường Nguyễn Văn Thoại dẫn vào con hẻm gần nhà tôi hơn. Một hôm xe chật ních bạn hàng với quang gánh treo đầy hai bên cửa xe, thúng mủng trái cây chất đầy trên mui. Tôi “hiên ngang” một tay bám chặt song sắt ở cửa xe, tay kia nắm cặp táp và nón lá, tà áo dài trắng tung bay phất phới! Về nhà kể lại bị mẹ mắng cho một trận và bị cấm không cho tái diễn màn “Tarzan đu dây” ấy nữa!

Hai năm cuối của bậc trung học thì tôi đã có chiếc xe đạp Peugoet nhỏ xinh để đi học tại trung học Nguyễn Bá Tòng. Cho đến khi lên đại học thì tôi đã có được chiếc Honda PC mảnh mai để di chuyển. Hình ảnh các nữ sinh yêu kiều và người phụ nữ tại Sài gòn và trên khắp các thành phố của miền Nam tự do đã làm chất liệu cho biết bao thi văn, ca nhạc tiêu biểu như

“Áo Lụa Hà Đông,

Phượng Hồng,

Ngày Xưa Hoàng Thị,

Giáng Ngọc,

Cô Nữ Sinh Đồng Khánh,

Tà Áo Tím,

Tiếng Hát Học Trò,

Tà Áo Trinh Nguyên,

Tà áo Đêm Nô En,

Trưng Vương

Khung Trời Mùa Thu…”

Tuy đời sống gia đình có chật vật khó khăn nhưng vẫn là chuỗi ngày vui vẻ, hạnh phúc. Sau bữa cơm chiều, cả nhà quây quần quanh chiếc TV trắng đen 17inches mà bố tôi đã nhờ người bạn Mỹ mua ở trong PX để nghe nữ xướng ngôn viên thanh lịch Mai Liên đọc tin tức, thưởng thức các chương trình tân nhạc, cải lương, thoại kịch.

Mẹ tôi lại thích giọng nói rất rõ ràng, đanh thép của cô Hồng Quế, xướng ngôn viên của chương trình Xây dựng Nông Thôn. Tối đến mở radio nghe Dạ Lan “thỏ thẻ” với các anh chiến sĩ VNCH.

Khi chiến tranh leo thang và người Mỹ quân nhân cũng như dân sự xuất hiện đông hơn thì bộ mặt thành phố đã có nhiều thay đổi. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa với chủ trương bảo vệ thuần phong mỹ tục, ngăn chặn các tệ nạn xã hội “tứ đổ tường” (cờ bạc, rượu chè, hút sách, trai gái), tổng thống Ngô Đình Diệm trước tiên đã dẹp sòng bạc Đại Thế Giới tại Chợ Lớn cũng như giới hạn việc mở các vũ trường.

Tuy nhiên, sau khi ông Diệm mất thì cường độ chiến tranh gia tăng trên các mặt trận đã tỷ lệ thuận với dòng người đổ về thủ đô sinh sống và với những sinh hoạt về đêm. Dù lệnh giới nghiêm đã được ban hành, những phòng trà ca nhạc, hộp đêm, vũ trường đã thi nhau xuất hiện. Đó là thời kỳ huy hoàng nhất của nền tân nhạc Việt Nam với sự nở rộ của các ban nhạc trẻ và các ca sĩ trên truyền thanh, truyền hình, dĩa nhạc, phòng trà. Tôi yêu giọng ca cao vút, trong trẻo của Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao; giọng “mũi” mang chút ngậm ngùi của Lệ Thanh; giọng ca liêu trai của Thanh Thúy; giọng ca mềm mại, luyến láy nhẹ như hơi thở của Hà Thanh; giọng tròn trịa trong từng nốt nhạc cũng như lời ca của Hoàng Oanh; giọng cao, ấm, vang vọng của Lệ Thu; và giọng trầm ấm, sang trọng của Duy Trác.

Thời gian đó cũng là giai đoạn ghi dấu ấn đậm nét nhất trong cuộc đời tôi với Sài Gòn. Trong độ tuổi mơ mộng nhất tâm hồn tôi đã ngập tràn những cung bậc và ca từ rất mới, rất diễm lệ, đầy cảm xúc rung động của Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Ánh 9, Vũ Đức Nghiêm, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trường Sa, Trịnh Công Sơn (với người nhạc sĩ này hầu hết nhạc của ông tôi rất yêu thích, nhưng có bất công hay không khi những người trai đất nước đang hy sinh trong lửa đạn để cho ông được yên thân viết lên những bài hát phản chiến tiếp tay làm suy sụp chế độ của miền Nam tự do?)

Trong các loại nhạc thì những bài ca về người lính VNCH mới thực sự là loại nhạc thời trang thời bấy giờ. Tôi cũng đâu tránh khỏi những ảnh hưởng của những bài hát quá lãng mạng ấy khi đường phố Sài Gòn dập dìu những tà áo tung bay bên cạnh các bộ quân phục oai hùng! Và thế là trong tập nhạc của tôi đầy ắp những bài hát của các tác giả Trúc Phương, Anh Thy, Nguyễn Văn Đông. Nhưng nhiều nhất và gây ảnh hưởng sâu đậm nhất chính là nhạc của Trần Thiện Thanh. Một cựu quân nhân sống tại Hoa Kỳ đã viết rằng: “Dân nhà binh chúng ta phải biết cám ơn Nhật Trường vì nhờ ông mà chúng ta mới lấy được vợ!”

Thật vậy! Qua thi văn, ca nhạc, đời lính đầy gian khổ, hiểm nguy, bất trắc nên càng dễ thương cảm, mến phục! Tình yêu với lính vì mong manh, ly biệt nên lại càng lãng mạn! Người lính với nét ngang tàng, “phong sương” trong bộ áo trận đã khiến người đẹp trai thì xem ra đẹp trai hơn, người trung bình hay xấu trai cũng trở nên “dễ coi” hơn!

Trong khung trời hoa mộng đó “người ấy” đến với tôi trong những ngày lửa khói Tết Mậu Thân. Trông chàng cũng khá “phong sương” với nước da ngăm đen trong bộ đồ rằn ri Cảnh Sát Dã Chiến. Qua nét ngang bướng, tôi tìm thấy nơi anh lòng cương trực và chân tình! Tôi bị chú ý vì cách làm quen lạ đời! Những ngày mới biết nhau chàng rủ tôi đi xem người chết được đưa về nhà xác nghĩa địa Chí Hòa! Điểm hẹn đầu tiên là “kinh nước đen” của trại chăn nuôi gần ngã tư Bảy Hiền! Sau kỳ nghỉ phép kéo dài lâu hơn do chiến sự Tết Mậu Thân chàng phải trở lại trung tâm huấn luyện CSDC Đà Lạt. Thế là tính văn chương thi phú trong tôi được dịp trổ tài qua những tờ thư peulure qua lại. Rồi tình yêu đã đi nhẹ vào đời!

Một năm sau chàng được đổi trở về Sài Gòn. Lúc đầu chiếc xe PC của tôi được chàng dùng để đi làm, để đưa đón tôi đi học và đi chơi. Sau đó chiếc Lambretta đỏ trắng được thay thế cho đến khi chàng đã có xe Jeep riêng để đi làm. Tôi yêu thích cảm giác nồng nàn, ấm áp khi ngồi vững vàng trên yên xe Lambretta. Một tay cầm tà áo dài, tay kia là vòng ôm rất êm ái!

Chúng tôi cũng có những con đường kỷ niệm: đường Cường Để chạy ngang qua Đại Học Văn Khoa của tôi cuối đường là tu viện cổ kính, thanh tịnh của các nữ tu dòng kín mà tôi thường ghé vào để cầu nguyện. Nhưng “con đường tình ta đi” được tôi chọn là đường Tú Xương. Con đường ngắn thôi nhưng rất yên tĩnh, sạch đẹp với hai hàng cây dài bóng mát. Trong những buổi hẹn hò hai đứa thường chở nhau vòng vòng quanh thành phố. Thỉnh thoảng ghé vào thưởng thức những món ăn hợp túi tiền lúc bấy giờ: nghêu, ốc hấp ở vỉa hè Nguyễn Tri Phương, xe bò viên Cao Thắng và vài lần tại quán bò bẩy món Ánh Hồng đường Nguyễn Minh Chiếu.

Chúng tôi chọn ngày đầu năm 1971 để làm đám cưới nên ngoài bạn bè, họ hàng hai bên nhà thờ còn chật ních giáo dân tham dự thánh lễ đầu năm trong tiếng chuông rộn rã của nhà thờ “Ba Chuông” ngã tư Huỳnh Quang Tiên, Trương Minh Ký. Chúng tôi đã cùng “dắt dìu về căn nhà mới” tại đường Võ Tánh, gần phi trường Tân sơn Nhất.” Căn nhà màu tím” do hai đứa ngẫu nhiên pha màu và sơn “phết”. Chiến cuộc ngày càng tăng không cho chúng tôi có những giây phút hạnh phúc trọn vẹn. Anh thường xuyên vắng nhà do các cuộc hành quân ven đô và những cuộc biểu tình trong thành phố.

30 tháng 4, 1975!

Sài gòn thất thủ! Mẹ tôi bị mảnh đạn pháo kích khi Việt cộng bắn vào phi trường Tân Sơn Nhất làm mất hẳn chân phải! Bố tôi, chồng tôi, anh tôi lần lượt đi tù. Các cột trụ chính trong gia đình đã bị đốn ngã! Chị em tôi ngơ ngác, thất thần như hàng triệu người dân Sài Gòn lúc bấy giờ. Chồng tôi bị bắt trước khi có lệnh tập trung cải tạo. Tôi đạp xe đi tìm tin tức chồng trong thành phố để mưa lệ trong lòng tuôn theo lời thơ của Trần Dần:

“Tôi đi không thấy phố, không thấy nhà!

Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ!”.

Không lâu sau tôi chỉ được nhìn thấy anh qua làn nước mắt sau hàng rào kẽm gai tại chi cuộc cảnh sát quận 10. Rồi ba năm sau mới được tin anh bị giam tại khám Chí Hòa. Nhưng từ đó trở về sau những lần thăm gặp trong bảy năm ở Chí Hòa cộng với sáu năm tại trại kiên giam trừng giới A20 Xuân Phước, những hiểm nguy, cực nhọc cũng như nỗi uất hận không được thăm gặp tôi phải nuốt nước mắt vào trong để chỉ khóc một mình trên đường về, hay trong những đêm dài đơn lẻ sau một ngày chống chọi với cuộc sống khắc nghiệt!

“Thần giao cách cảm” đã làm tôi thấm nỗi xót xa của thân phận người trai trẻ mà những đọa đày thân xác cũng đau đớn như nỗi bất lực trước cảnh khổ của những người thân yêu. Nỗi đau đã được thi sĩ Yên Ba diễn tả thật não lòng:

Dìu nhau vượt suối ưu phiền.

Anh non tay chống cho thuyền em chao.

Thương thì thôi! Xót xa nhau!

Cho nhau trọn kiếp, kiếp sau anh đền!”

Vì thế, qua những lá thư nồng nàn gửi cho chồng mà chắc chắn đã bị đọc trước, tôi muốn chứng tỏ cho họ hiểu rằng không gì có thể tiêu diệt nổi tình cảm thiêng liêng của con người!

30 tháng 4, 1975!

Ngày đại họa của dân tộc Việt Nam! Dân tộc chúng ta thật bất hạnh đã không có được cái bắt tay như hai tướng Grant và tướng Lee của dân tộc Hoa Kỳ sau cuộc chiến tranh Nam Bắc! Với người cộng sản Việt Nam thì những ai không chấp nhận hay không còn con tim và khối óc để tin theo chủ nghĩa cộng sản phi lý, phi nhân thì đều bị xem là “những thế lực thù địch”! Chủ nghĩa cộng sản vô thần là phi lý vì việc xây dựng con người “đạo đức xã hội chủ nghĩa”chỉ là lường gạt, hoang tưởng.

Thay vào đó nó chỉ tạo nên một tầng lớp thống trị kết thành một đảng cướp gian manh ăn chơi xa xỉ với những của nổi trong nước; của chìm đã được con cháu, người thân tín đem ra “thả neo” tại ngoại quốc. Để khi quốc biến thì nỗi thống khổ để lại cho người dân lành.

Chủ nghĩa này phi nhân vì nó phản bội lại truyền thống đạo đức của dân tộc. Người Việt chúng ta luôn tin tưởng vào thần thánh, luôn tin rằng sống sao có đức có nhân vì “hoàng thiên hữu nhãn”. Ngay cả các bậc những anh hùng liệt nữ cũng được tôn thờ:

“Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh.

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần”.

Với chủ thuyết vô thần con người không còn e ngại làm những chuyện táng tận lương tâm, dễ sống đến tận cùng của sự sa đọa! Có đau lòng không khi thành tích của Việt Nam bây giờ là nước đứng đầu về mức tiêu thụ bia rượu và tỷ lệ thanh nữ, phụ nữ phá thai tại Đông Nam Á.

“Hòn ngọc Viễn Đông” ngày nào giờ đây là khoảng không gian đặc quánh bụi bậm & khí thải. Chỉ một cơn mưa nhỏ đã trở thành “hồ chứa mưa” hôi hám! Lương tâm đâu rồi khi đang xẩy ra cuộc “tàn sát tập thể” do ngộ độc thực phẩm?!

Trong bài “Rác Của Một Thời” tác giả đã cho rằng: “Sau 46 năm, chứng kiến sự bất toàn và bất nhất trong việc lãnh đạo đất nước, người dân Việt Nam nói chung đã kiên nhẫn chấp nhận những sai lầm của họ lúc ban đầu. Nhưng thật không có gì tàn nhẫn hơn khi lợi dụng sự khổ đau của con người Việt Nam đang vọng về một tương lai tốt đẹp hơn, rồi mị dân, dẫn dắt họ đi về những lý lẽ bao biện, những thói sống lạc lối với nền văn minh và luật pháp.”

Sự mất mát của nền văn hóa Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn khai phá mở mang mảnh đất trù phú từ Thuận Hóa đến tận các đồng bằng sông Cửu Long. Một mạch sống văn hóa phong phú của miền Nam đã bị đứt đoạn, tàn phá. Sự tàn phá thành phố Sài gòn không phải chỉ trong phạm vi đất đai và môi trường sống mà xót xa nhất là trong lãnh vực văn hóa. Việt cộng khi vào đến Sài Gòn đã lấy khuôn mẫu từ đám Hồng Vệ Binh của họ Mao dùng đoàn thanh niên cộng sản trong chiến dịch thanh toán “văn hóa đồi trụy” đã đốt phá tiêu hủy trong hỗn loạn cả một di sản văn hóa của dân tộc!

Viết về Sài Gòn là một đề tài mênh mang trong đó mỗi người viết sẽ tìm thấy một góc quen thuộc của mình trong đó. Khi trân trọng quá khứ tôi muốn “ôn cố tri tân” để hướng về tương lai. Khi những điều thiện hảo của Sài Gòn xưa được nói lên, hy vọng những tàn phá do Việt cộng gây ra sẽ được đối chiếu.

Còn bao lâu nữa mới lấy lại được giang sơn gấm vóc? Còn bao lâu nữa để Việt Nam thoát khỏi nguy cơ đang trở thành một Tây Tạng thứ hai?

Dân chủ, dân quyền đã được nhiều quốc gia lựa chọn: dân chủ đã vực dậy nước Mỹ sau cuộc nội chiến; nước Do Thái sau cuộc tàn sát diệt chủng của Đức Quốc xã; nước Nhật tơi tả sau hai quả bom nguyên tử; nước Đức sau khi thống nhất Đông và Tây Đức. Nhìn chung quanh dân chủ đã đem lại phú cường cho Nam Hàn và Singapore. Gần đây nhất là Myamar.

Còn nhớ chăng câu lời nói của cụ Trần Văn Hương khi trao quyền tổng thống lại cho Dương Văn Minh: “Mình phải tự cứu mình trước khi bạn cứu mình, trước khi trời cứu mình!”

Tác giả Lê Phương Lan,

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 1)

Van Pham

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 1)

Tác giả Lê Phương Lan,

Chỉ còn 10 ngày nữa là đến thời điểm 46 năm cộng quân tấn chiếm miền Nam với mỹ từ “giải phóng”. Cái giải phóng đó đã không hề mang lại điều gì tốt đẹp hơn. Nhưng lại mang những điều tồi tệ, bỉ ổi cho đất nước, khiến mọi người hồi tưởng lại qúa khứ. Để mong ước một thời hoa mộng đầy ắp tình người thủa nào trở lại.

Thương tặng ace tù nhân lương tâm cùng thân nhân để thấy rằng người dân miền Nam VN cũng đã trải qua đọa đày từ chế độ để hàng triệu người đã không tiếc mạng sống mà từ bỏ chế độ bất nhân ngay sau cái ngày oan nghiệt 30-4…

***

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ

Chúng ta đang bước vào tháng 4 của năm 2021. Nghĩa là đã 47 năm chúng ta mất miền nam tự do và thành phố Sài Gòn. Mới đây tại Houston, Texas đã có nỗ lực của đoàn làm phim đài BBC dựng lại cảnh ra đi nát lòng của người Sài gòn vào những ngày thành phố trong cơn hấp hối. Riêng tôi với trí nhớ nhỏ nhoi của mình cố gắng viết lại những kỷ niệm thật đẹp đáng ghi nhớ nhất trong quãng đời sống với thành phố thân yêu của mình.

Tôi nói giọng Bắc, giọng Hà Nội trước 1954 của bố mẹ tôi. Vì thế nên năm đầu tiên đi học tại trường Tiểu Học “Hòa Bình” bên cạnh Vương Cung Thánh Đường, khi bị đám bạn chọc quê “Bắc kỳ ăn cá rô cây” tôi ức lắm, về nhà mách mẹ. Bà cho biết rằng tôi sinh ra tại Khánh Hội, Sài Gòn vì bố tôi trong quân đội nên sau đó bố mẹ tôi trở ra Hà Nội, đến 1954 cùng đồng bào miền Bắc di cư vào lại miền Nam. Thế là tôi yên tâm trả lời với lũ bạn!

Căn nhà nơi tôi sinh ra còn được ghi lại trong tấm hình mẹ tôi còn rất trẻ mặc áo dài lụa đang bế anh tôi, tóc bà kẹp cao hai bên và được búi lỏng thả nhẹ ngang lưng. Hai mẹ con đứng ngoài hiên nhà. Trên mặt đường có một chiếc xe thổ mộ đang đậu với chú xà ích cầm cây roi ngồi ở phía trước.

Tôi yêu Sài gòn, nơi tôi sinh ra. Nơi đã cho tôi sống thời thơ ấu của “tuổi thần tiên” như lời một bài hát của nhạc sĩ Phạm Duy. Tuổi thơ ấu đó chúng tôi được sống hồn nhiên trong tình thương chan hòa của bố mẹ; trong căn nhà khang trang ngay ngã tư đường Gia Long – Tự Do bên trong bộ chỉ huy Hiến Binh Quốc Gia.

Tại căn nhà này anh em chúng tôi có thể đứng trong lan can lầu để xem các cuộc diễn hành nhân ngày lễ Hai Bà Trưng và cũng là ngày Quốc Tế Phụ Nữ của nữ sinh các trường trung học Trưng Vương, Gia Long, Lê văn Duyệt. Hình ảnh hai nữ sinh mặc áo hoàng bào lộng lẫy của hai nữ vương Trưng Trắc, Trưng Nhị uy nghi ngồi trên mình voi vẫn còn đậm nét trong tâm trí tôi. Đoàn diễn hành khởi đầu từ dinh Gia Long, rẽ vào đường Tự Do rồi hướng thẳng về Tòa Đô Chánh. Cùng với kiệu voi, xe hoa và diễn hành.

Trong ngày lễ Hai Bà Trưng – học sinh được nghỉ học – còn có tổ chức các cuộc thi nữ công gia chánh và thi trẻ em khỏe đẹp. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc lòng bài hát thúc dục người phụ nữ Việt gánh vác công việc xã hội:

“Lời sông núi bừng vang bốn phương trời,

dục chúng ta đường phụng sự quyết tiến.

Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời.

Giòng máu thiêng còn đượm nồng vạn trái tim …”

Tuổi thơ của chúng tôi đã được nuôi dưỡng bởi không khí trong lành, hiền hòa của Sài Gòn xưa khi đường phố vẫn còn thưa thớt xe cộ. Khi tại các ngã tư, các bùng binh còn những anh cảnh sát hiền khô trong bộ sắc phục trắng cầm những cây côn ngắn hay giơ tay với những thao tác nhịp nhàng để chỉ đường cho xe và người đi bộ.

Sài Gòn xưa còn có những phương tiện giao thông đã hoàn toàn “cuốn theo chiều gió”. Đó là các chiếc taxi con cóc sơn màu xanh dương trắng, các xe xích lô máy di chuyển với tiếng nổ phành phạch đinh tai, những cỗ xe thổ mộ có chú ngựa hai bên mắt đã bị che kín, vừa kéo cỗ xe chạy lóc cóc vừa “vô tư” xả “chất thải” ra mặt đường và còn chiếc xe Lambretta ba bánh phun khói ào ạt nữa!

Tôi yêu tiếng chuông trầm ấm, rộn ràng của nhà thờ Đức Bà. Những buổi tan lễ Chủ Nhật gia đình tôi cùng giòng người ra về trên con đường Tự Do với hàng cây dầu cao vút hai bên đường. Trong bộ nhớ của tôi còn mãi tấm ảnh kỷ niệm những ngày hạnh phúc xa xưa: bố mẹ tôi tươi trẻ, thanh lịch, anh tôi gọn gàng trong bộ short trắng, hai chị em tôi “đồng phục” trong bộ áo đầm lính thủy trên vỉa hè sạch đẹp của đường Tự Do phía sau là nhà thờ Đức Bà.

Sau buổi lễ, chúng tôi thường được cho ăn sáng với những ổ bánh mì thơm phức tại kiosque Bưu Điện hay được dắt vào con hẻm Casino đường Pasteur để thưởng thức những tô phở ngạt ngào hương vị. Đôi khi còn được ghé vào quán Givral với mái vòm cong kiều diễm, một trong những kiến trúc đẹp người Pháp đã xây dựng tại thủ đô của miền Nam tự do, để mua cho chúng tôi mấy cái crossant “sừng trâu” hay bánh patechaud đặc biệt hương vị Pháp.

Thời đó Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho đổi tên các đường phố Sài Gòn chỉ giữ lại tên các danh nhân như Pasteur, Calmet, Alexandre Rhode nhưng trong một thời gian khá lâu người Sài Gòn vẫn quen với các kiểu nói “dạo phố Bonard, bát phố Catinat”. Thương xá Charner – thương xá Nguyễn Huệ – là cửa hàng sang trọng nhất thời bấy giờ.

Con đường Nguyễn Huệ những chiều lộng gió tỏa hương thơm từ những quán bán hoa. Thật đúng chất thơ trong “Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội”

“khi mưa xuống lạnh mình ướt,

chung nón dìu bước thơm phố phường”

của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Nỗi nhớ thương về thành phố Hà Nội – một thời nghe bố tôi kể lại là đã được mệnh danh là “Tiểu Paris”- của bố mẹ tôi dường như cũng đã hòa đồng vào vẻ đẹp của Sài gòn xưa.

Tôi được thừa hưởng lòng mộ đạo của mẹ và tình yêu thơ văn, ca nhạc của bố tôi. “Thuở ban đầu” của bố mẹ tôi tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội) đã được ông ghi lại:

“Anh nhớ mãi buổi chiều êm ả ấy.

Anh và em cùng đứng đợi tàu qua.

Thoạt mới trông lòng đã kết muôn hoa.

Máu đang chảy trong tim như ngừng lại …”

Từ bé tôi đã được nghe những giọng ca “tiền bối” qua những đĩa hát 30 hay 45 tours như: Anh Ngọc, Minh Trang, Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà và ban hợp ca Thăng Long với Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc với dòng nhạc tiền chiến. Âm nhạc miền nam đã theo tôi vào đời và ở lại với tôi mãi mãi. Và cứ thế tuổi trẻ của anh em chúng tôi lớn lên trong môi trường văn học nghệ thuật đầy nhân bản, khai phóng.

Bố tôi mua về rất nhiều sách vở, tạp chí. Đến nay tôi còn nhớ nội dung một vài bài văn trong tạp chí Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh. Trong vô số những tạp chí tôi còn nhớ đã được đọc là các tờ Sáng Tạo, Phổ Thông và Thời Nay. Nhà văn, nhà thơ nổi tiếng tại miền Nam thì quá nhiều. Xin ghi vào đây những tên tuổi lớn trong trí nhớ của tôi như Mai Thảo, Doãn Quốc sĩ, Võ Phiến, Thanh Nam, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long, Trần Dạ Từ, Nhật Tiến, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Nguyễn Đình Toàn, Phan Nhật Nam, Hà Huyền Chi.

Các nhà văn nữ thì có Minh Đức Hoài Trinh, Nhã Ca, Trần thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn thị Thụy Vũ và Lệ Khánh, nhà thơ của các nữ sinh trung học chúng tôi. Trong các bài biên khảo tôi lại rất ưa thích hai học giả miền Nam Hồ Hữu Tường với thuật ngữ “chẳng đặng đừng” và cụ Vương Hồng Sển với cách hành văn đặc biệt “nam kỳ” của một cụ già hóm hỉnh, tinh thông Hán học cũng như Tây học.

Cùng với “khẩu vị” này về sau tôi cũng thích đọc truyện của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Lê Xuyên. Thật ra tôi cũng rất mê giọng văn mượt mà của Mai Thảo. Nhưng có lẽ vì cái gốc “nam kỳ” vả lại gia đình tôi cũng đã có một thời gian sống tại vùng sông nước Mỹ Tho nên tôi hợp với chất giọng hồn nhiên, bộc trực, hào sảng của người miền Nam chăng?

Lúc bấy giờ gia đình chúng tôi cũng là độc giả trung thành của các tờ báo Tự Do, Ngôn Luận, Chính Luận, say mê theo dõi các truyện dài của nhà văn Hoàng Hải Thủy phóng tác nhiều tác phẩm lớn ngoại quốc mà Kiều Giang là một truyện phóng tác được ông yêu thích nhất.

Với nhiệt huyết xây dựng xã hội, bố tôi sau khi du học chuyên nghiệp ngành phạm pháp học tại Paris đã xuất bản ba quyển sách: “Phạm Tội Học Yếu Lược, Thiếu Nhi Phạm Tội, và Công Cuộc Chiến Đấu Chống Kẻ Bất Lương” đầy hoài bão! Rất tiếc vì qua cuộc đổi đời kinh hoàng chúng tôi đã không còn giữ được nữa!

Trong môi trường tự do và khung cảnh thanh bình thịnh trị của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã nở rộ những khúc hát rộn ràng diễn tả quê hương miền Nam tươi đẹp:

“Khúc Nhạc Đồng Quê,

Trăng Thanh Bình,

Nắng Đẹp Miền Nam,

Khúc Ca Ngày Mùa,

Lối Về xóm Nhỏ,

Tôi Yêu Quê Tôi,

Dựng Một Mùa Hoa,

Ta Vui Ca Vang,

Mộng Lành,

Mùa Hợp Tấu,

Bên Bờ Đại Dương,

Khúc Hát Ân Tình v..v..”. (còn tiếp)…

Hợp và tan

Hợp và tan

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Tuấn Khoa

18-4-2022

Ngày đầu tiên đi học lại sau biến cố lịch sử 30/04, lớp chưa chia Ban nên dễ biết ai đi, ai ở. Lớp tôi vắng nửa lớp. Đứa nào vắng tức là đã rời khỏi Việt Nam rồi. Không khí ngột ngạt. Cuối giờ học H lù lù xuất hiện trước cửa lớp. Nó kêu tôi ra ngoài hành lang và nói nó rút hồ sơ, không học ở đây nữa mà đi về quê ở Tây Nguyên. 

Nó nói, nhà trong Huỳnh Hữu Bạc bị mất, ba nó trung tá Không Quân, đi tù ở ngoài Bắc không có tin tức. Gia đình nó quyết định đi kinh tế mới (KTM) để cho ba nó được về sớm, còn nó học ở quê để giảm nhẹ lý lịch với hy vọng cơ hội vào đại học lớn hơn [SIC]. Nó nói ở trong rừng nên không có địa chỉ để liên lạc. Lúc đó tôi nghĩ rằng, tôi sắp mất thêm một thằng bạn nữa.

Chuyện HỢP-TAN-HỢP của tôi và H giống như trò chơi Năm-Mười.

Sáu năm sau, năm 1981, tôi và H bất ngờ đối mặt nhau tại cổng trường đại học Bách Khoa (ĐHBK), hé mở chỉ đủ cho 2 xe ra-vào. Cuộc đoàn tụ của 2 thằng bạn Võ Trường Toản xúc động không sao tả xiết.

H ngậm ngùi kể rằng gia đình nó trả giá quá đắt cho chuyến lập nghiệp ở KTM. Ba nó vẫn chưa về, má nó bệnh không làm việc nặng được nhưng buồn nhất là việc thi cử của nó thật lận đận. Tôi gọi đó là khúc bi tráng.

Thật vậy, H làm được việc đáng nể, nó đậu vào ĐHBK liên tiếp 4 năm 1978, 1979, 1980 và 1981 nhưng Ban Tuyển Sinh của tỉnh Tây Nguyên không cho nó đi học. Lý lịch của của cha là một rào cản cho mọi nỗ lực vào đời của thằng nhỏ. Mỗi lần đậu mà không được đi học, nó thấy tủi thân và bế tắc. Nó xa lánh hết mọi người. Đi làm ruộng để chờ năm sau thi lại.

Năm 1981 nó lại đậu với điểm rất cao nhưng vẫn không được đi học. Nó uất ức nên quyết định đánh một ván cờ tàn. Nó gặp ông Bí Thư tỉnh, sau ít phút trình bày với bằng chứng về thành tích thi cử, ông thấy nó thật thà và hiếu học nên ký giấy đặc cách cho nó đi học.

Chuyện chưa có tiền lệ này tạo nên một tiếng vang toàn tỉnh rồi H trở thành người nổi tiếng. Nó được đi học và giờ đây tôi có thêm một thằng bạn Võ Trường Toản để hàn huyên tâm sự và để giải tỏa tâm trạng u uất và cô độc ở chốn dường như không dành cho những thằng có lý lịch như tôi và H. Thực tế, những lần gặp gỡ của chúng tôi ở sân trường thật hiếm và ngắn. Gặp nhau lần nào cũng vội.

Ngày tôi ra trường đánh dấu một giai đoạn TAN lần thứ II giữa 2 đứa vì tôi không còn dịp gặp nó nữa.

13 năm sau, năm 1996, tôi đến Tây Nguyên để làm việc với công ty Tư Vấn. Anh Y, giám đốc, xác nhận H là kỹ sư của công ty này nhưng đã đi Mỹ theo diện HO nhiều năm nay. Anh Y nhận xét, H. lầm lì, ít nói nhưng lại nổi bật ở mọi nơi. Hồi học ở trung học H giỏi nhất tỉnh, vào BK vẫn học giỏi, làm việc ở cty này lại là một kỹ sư rất xuất sắc khiến anh phải thay đổi hệ thống lương để hợp thức hóa mức lương của H.

Tôi ví von H là loại bê-tông phát triển cường độ muộn. Đó là dạng học sinh khá ở lớp dưới nhưng thực sự xuất sắc từ cấp III, đại học và thời gian dài sau đó. Cuối buổi, anh dành cho tôi sự bất ngờ, anh nói H mới về Việt Nam hôm qua hiện đang ở nhà tập thể phía sau công ty.

Cuộc gặp gỡ lần này bất ngờ đến mức nó lắp bắp, không nói được lời nào. Nó kể, sang Mỹ nó phải cày bừa vì ba nó bệnh nặng do lao lực và thiếu ăn trong tù ở Bắc Việt, má nó cũng không khỏe, con nó còn nhỏ. Vì vậy nó không có duyên với con đường học hành ở Mỹ. Tôi thấy thật tiếc cho H và tiếc cho nước Mỹ.

Chia tay với nó lần đó tôi không nghĩ lâu đến như vậy. 14 năm.

Tháng 4/2019, trong buổi làm việc với tỉnh Tây Nguyên tôi lại hỏi thăm về nó. Nhờ nó quá nổi tiếng mà tôi có được thông tin của nó. Tháng 7/2019, H về Việt Nam. Cuộc đoàn tụ của hai thằng đàn ông từng trải có quá nhiều chuyện để kể. Được và mất. Nó nói ,dẫu sao lập nghiệp ở Hoa Kỳ vẫn tốt đẹp hơn chuyến lập nghiệp ở KTM năm 1975. Mừng cho hậu vận của nó.

Dâu bể cuộc đời. Tuy vậy có một điều vẫn không thay đổi, H vẫn lầm lì, ít nói, lặng lẽ, phớt tỉnh Ăng-lê, sống đời ẩn sĩ. Tôi tự hỏi chia tay lần này, bao lâu sẽ gặp lại?

***

Cau Ut Long Xuyen

Thư bạn Hoang Nguyễn, chữ “nếu” của bạn xem yếu quá. Lê Duẫn có học hành gì đâu mà hiểu biết. Không những hắn mà toàn bộ máy cai tri của Cộng Sản cũng”cá mè một lứa” thôi, chỉ có Võ Văn Kiệt vì có thời gian sống trong Nam, mới có chút suy nghĩ. Nhưng cùng để bụng vì lộ ra là bị diệt ngay. Vì vậy toàn bộ những người có hiểu biết, thức thời đều ra rìa hoặc bị thủ tiêu. Sau 30/4/75 họ ra tay cướp của và tiêu diệt từ nhân sự ( bắt đi tù: cải tạo. kinh tế mới), văn hóa ( đốt sách), giáo dục ( thay bằng lối giáo dục CS ngu dân) đến kinh tế.(đánh tư sản, 2-3 lần đổi tiền). Không phải họ ngu, vì làm như vậy họ mới đút túi và chia chác “chiện lợi phẩm” cướp được. Hơn thế nữa họ tức tối vì thấy VNCH giàu và sung túc hơn Miền Bắc của họ quá nhiều.
Đến năm 1986, 11 năm sau mới sáng mắt, thấy con đường đến thiên đường CS tối mù nên ” đổi cũ” tức là làm từ từ những gì VNCH trước đó đã làm. Đến nay năm 2022 đổi mới “kinh tế thị trường” giống VNCH trước đây, chỉ khác cái “đuôi khỉ”: “dưới sự lãnh đạo đường lối Cộng Sản” để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm. Dân chúng bị sưu cao thuế nặng, bốc lột cạn tàu, ráo máng. Tham nhũng tràn lan từ Viêt Á, Cục Lãnh Sự Bộ Ngoai giao, Cục Quân Y, Bộ Quốc Phòng, Hết thuốc chữa rồi chú Trong ơi!!!