LUÔN CÓ NHỮNG TÊN MẬT THÁM – Lm. Mark Link, S.J.


Lm. Mark Link, S.J.

 Chúng ta có khuynh hướng cho là dĩ nhiên những quà tặng đặc biệt như Mình Thánh Chúa và cha ruột của chúng ta.

 Cha Walter Ciszek bị lính Nga bắt trong Thế Chiến II.  Người bị kết tội là “gián điệp của Vatican” và bị 23 năm tù trong các trại lao động ở Siberia.  Sau cùng khi ra khỏi tù, cha đã viết một cuốn sách về các cảm nghiệm này.  Cha lấy tên sách là Người Đã Dẫn Dắt Tôi.

 Trong sách có nhiều câu chuyện cảm động về những hy sinh của các tù nhân khi rước Mình Thánh Chúa trong tù.  Một câu chuyện đáng được nhắc đến.  Trước khi chia sẻ câu chuyện ấy, chúng ta cần biết một chút về quá khứ.

 Trong thời Thế Chiến II, trước khi có Công Đồng Vatican II, luật Giáo Hội buộc phải kiêng ăn uống 24 giờ trước khi rước Mình Thánh Chúa.  Hãy nhớ đến điều này khi lắng nghe Cha Ciszek kể trong sách:

 Tôi từng thấy… các tù nhân đành mất giấc ngủ cần thiết và thức dậy sớm trước khi chuông reo để dự Thánh Lễ cách lén lút…  Chúng tôi sẽ bị phạt nặng nếu việc tham dự Thánh Lễ bị khám phá, và luôn luôn có những tên mật thám…

 Tất cả những điều này gây khó khăn khi có nhiều tù nhân tham dự, do đó chúng tôi thánh hiến thêm bánh và phân phát Mình Thánh cho các tù nhân khác khi có thể.  Đôi khi điều đó có nghĩa là chúng tôi chỉ có thể gặp họ khi trở về doanh trại vào ban đêm trước khi ăn tối.

 Tuy thế, những người này thực sự đã giữ chay cả ngày dài và lao động kiệt lực mà không ăn uống gì từ sau bữa ăn tối hôm trước, chỉ để rước Mình Thánh Chúa – đó là ý nghĩa của bí tích này đối với họ! 

 Nói cách khác, nó giống như bạn và tôi không ăn uống gì kể từ lúc này ngày hôm qua.  Trong khi đó, chúng ta còn phải lao động muốn gẫy lưng trong nhiệt độ dưới số không.  Đó là ý nghĩa của Mình Thánh đối với Cha Ciszek và các tù nhân.

 Câu chuyện này là một câu chuyện thích hợp cho lễ Mình Thánh Chúa.  Chữ Corpus Christi tiếng Latinh có nghĩa “thân thể của Chúa Kitô.”  Vào ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa chúng ta tôn kính Thân Thể của Chúa Kitô.

 Tại sao chúng ta lại dành riêng một ngày để kính Thân Thể Chúa Kitô?  Không phải là chúng ta kính Mình Thánh Chúa trong mọi Thánh Lễ hay sao?  Vậy tại sao lại có ngày đặc biệt này?

 Chúng ta cử hành lễ Mình Máu Thánh Chúa với cùng lý do như chúng ta cử hành Ngày Người Cha.  Đó là vì loài người chúng ta có khuynh hướng cho là điều dĩ nhiên những món quà đặc biệt như Mình Thánh Chúa Kitô và như các người cha của chúng ta.

 Đó là một trong những thảm kịch lớn của đời sống khi chúng ta có khuynh hướng đánh mất sự cảm kích một số quà tặng rất quý báu mà chúng ta có.  Tại sao lại như vậy?

 Các nhà tâm lý nói rằng nếu chúng ta chú ý đến mọi tiếng động nghe được hoặc mọi mầu sắc thấy được, có thể nói chúng ta sẽ trở thành điên.  Để bảo vệ chúng ta khỏi bị điên, chúng ta quen thuộc hóa các tiếng động và mầu sắc này.  Chúng ta cản trở và gạt chúng ra ngoài sự chú ý.

 Tỉ như, nếu chúng ta nghe tiếng lạch cạch đánh máy chữ ở phòng bên cạnh, tai chúng ta không còn nghe được âm thanh ấy nữa.  Các nhà tâm lý gọi tiến trình này là “quen thuộc hóa.”

 Nhưng quen thuộc hóa có một khía cạnh tiêu cực.  Nó có sự hạn chế.  Chúng ta có khuynh hướng quen thuộc hóa mọi thứ sau một thời gian – cảnh hoàng hôn, bông hoa, bạn hữu, cha mẹ, và ngay cả Mình Thánh Chúa Kitô.  Chúng ta mất sự nhận thức về các điều ấy.  Chúng ta không còn phấn khởi về các điều ấy.  Chúng ta coi các điều ấy là điều dĩ nhiên.

 Quen thuộc hóa là một trong những lý do chính tại sao thiền trở nên phổ thông.  Mục đích của thiền là giúp chúng ta đừng quen thuộc hóa.  Nó giúp chúng ta lại trở nên nhạy cảm trước cảnh đẹp của hoàng hôn, bông hoa, và bạn hữu.

 Để có ý tưởng về cách hoạt động này, thử chú ý đến một vật quen thuộc, tỉ như một cánh hoa, như thể bạn nhìn thấy nó lần đầu tiên.  Hoặc chú ý đến ai đó bạn yêu mến, như cha của bạn, như thể lần đầu tiên bạn nhìn thấy người và muốn in sâu vào tâm khảm hình ảnh cuối cùng này của ông.

 Điều này đưa chúng ta trở về Mình Máu Thánh Chúa.  Ngày lễ này đề ra cho chúng ta một lời mời và một thách đố.

 Trước hết, lời mời.  Mình Máu Thánh Chúa mời chúng ta tự hỏi, Thánh Thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta?  Chúng ta có còn quý trọng như trước đây chúng ta rước lễ lần đầu tiên không?  Điều này có ý nghĩa thật nhiều đối với chúng ta như đối với các tù nhân trong sách của Cha Ciszek không?

 Nếu câu trả lời của chúng ta là không, chúng ta đối diện với một thách đố.  Nó cũng giống như thách đố mà Ngày Người Cha đặt ra cho chúng ta.  Nó như thế này:

 Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng Thánh Thể một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng người cha của chúng ta một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta lại trở nên phấn khởi coi hai điều này như quà tặng quý báu cho chúng ta?

 Một cách thi hành là làm những gì người thiền thi hành.  Cố gắng suy niệm về Mình Thánh Chúa Kitô như thể bạn mới khám phá ra điều đó lần đầu tiên.

 Emilie Griffin, bà là người ở trong kỹ nghệ quảng cáo Nữu Ước, và trở nên người Công Giáo vài năm trước đây.  Bà viết một cuốn sách thu hút được gọi là Turning.  Bà viết:

 Một sự sùng kính Thánh Thể ngày càng gia tăng – và một niềm tin vào sự Hiện Diện Thật – đã lôi kéo tôi về với Giáo Hội Công Giáo…  Khi sự sùng kính Thánh Thể của tôi gia tăng, tôi lại càng hấp dẫn với đạo Công Giáo.

 Và như thế chúng ta phải cố gắng suy niệm về Thánh Thể theo cách bà Emilie Griffin đã làm khi bà khám phá ra mầu nhiệm khôn lường này lần đầu tiên.

 Tôi có thể kết thúc với hai đề nghị được không?

 Thứ nhất, trong tuần lễ trước mặt hãy thêm một lời cảm tạ trong phần kinh nguyện hàng ngày của bạn vì món quà của Chúa Kitô là Thân Thể của Người ban cho chúng ta.

 Thứ hai, trong Thánh Lễ khi bạn xếp hàng lên rước lễ, hãy tập trung tư tưởng đến người mà bạn sẽ lãnh nhận khi thừa tác viên thánh thể nâng bánh lễ lên và nói, “Mình Thánh Chúa Kitô.”

 Bạn sẽ lãnh nhận Thân Thể sống động của Chúa Kitô.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã sinh ra ở Bêlem.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chết trên thập giá.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết.

 Khi bạn nghĩ về điều này, nó thật vô cùng khó khăn để mường tượng.  Nhưng qua đức tin, chúng ta biết đó là sự thật.

Chỉ có một Thiên Chúa đầy yêu thương mới có thể ban cho chúng ta một món quà không thể tưởng được như thế. 

Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không? – Cha Vương 

Mỗi ngày Chúa trao cho bạn một tờ giấy trắng. Bạn sẽ là người vẽ lên đó, vì thế hãy vẽ sao cho đẹp lòng Chúa nhé. Chúc bình an! Mời bạn tiếp tục suy niệm những bài Giáo Lý căn bản trong quyển Giáo Lý YouCat.

Cha Vương 

Thứ 4: 3/06/2026.     (n4-25)

GIÁO LÝ: Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không? Đối với những ai đã đón nhận Tin Mừng và đã biết Lời Chúa Giêsu dạy: “Thầy là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14,6), bí tích Rửa tội là con đường duy nhất cho họ đến cùng Thiên Chúa để được cứu độ. Nhưng vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người, và mọi người đều được mời gọi để được cứu độ nên dù một người không có cơ hội học biết về Chúa Kitô và đức tin, mà họ tìm Chúa cách chân thành và sống theo lương tâm mình, họ cũng gặp ơn cứu độ. Họ được rửa tội bằng lòng muốn. (YouCat, số 199) Trong Hội thánh Công giáo, có 3 hình thức rửa tội, nó cho chúng ta biết những người chưa được rửa tội có thể đến được cửa thiên đàng như thế nào.

  1. RỬA TỘI BẰNG NƯỚC: Rửa tội bằng nước là hình thức “thông thường” quen thuộc nhất mà chúng ta thấy.
  2. RỬA TỘI DO LÒNG MUỐN: Hình thức rửa tội thứ hai này khó hiểu nhất và cũng là một trong những hình thức giải thích cởi mở nhất. Ví dụ rõ ràng nhất về hình thức rửa tội do lòng muốn, tức là khi một người đang trên tiến trình nhận phép rửa nhưng không thể hoàn thành nó. “Đối với những người dự tòng chết trước khi được rửa tội, nếu họ minh nhiên ước muốn được rửa tội, đồng thời sám hối tội lỗi và sống đức mến, thì họ được bảo đảm ơn cứu độ, dù chưa thể lãnh nhận bí tích” (GLCG 1259)
  3. RỬA TỘI BẰNG MÁU: Sau rửa tội bằng nước, hình thức rửa tội này là rõ ràng nhất. Về cơ bản đó là khi một người chưa được rửa tội nhưng chết vì đức tin Kitô giáo. “Hội Thánh luôn xác tín rằng những người chịu chết vì đức tin mà trước đó chưa được rửa tội, thì coi như đã được thanh tẩy, vì đã chết cho Đức Kitô và với Đức Kitô” (GLCG 1258).

SUY NIỆM: Thiên Chúa đã liên kết việc cứu rỗi với các bí tích. Vì thế Hội thánh phải không ngừng trao ban cho nhân loại. Từ chối sứ mệnh này là phản bội lệnh truyền của Chúa. Nhưng chính Chúa không bị trói buộc vào các bí tích của Người. Nơi nào Hội thánh chưa đến được, hoặc không làm được – dù do lỗi của Hội thánh hoặc vì các lý do khác – chính Chúa mở ra cho con ngưởi một đường khác để được cứu rỗi. (YouCat, số t.t.)

LẮNG NGHE: Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12:50)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin chỉ cho con biết tầm quan trọng của ơn cứu rỗi để con sống thánh thiện hơn mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Kiểm tra lại lối sống của bạn coi nó có minh chứng cho đức tin của bạn không?

From: Do Dzung

*****************************

Đường con theo Chúa -tinmung.net

 THIẾU MỘT BƯỚC CUỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”.

“Nhiều người thuộc về Thiên Chúa mà Hội Thánh không có; và nhiều người Hội Thánh có lại không thực sự thuộc về Thiên Chúa!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay kể về một kinh sư: ông hỏi đúng, hiểu đúng và trả lời đúng; nhưng Chúa Giêsu chỉ nói: “Ông không còn xa…”. Hoá ra, người ta có thể rất gần Thiên Chúa qua dáng vẻ đạo đức, mà vẫn ‘thiếu một bước cuối’ để thật sự bước vào Nước Ngài.

Vị kinh sư không còn mắc kẹt trong thứ đạo đức hình thức. Ông hiểu rằng, yêu mến Thiên Chúa và tha nhân “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Nhưng Chúa Giêsu vẫn không bảo đảm ông đã ở trong Nước Trời; bởi lẽ, Kitô giáo không dừng ở chỗ hiểu đúng về Thiên Chúa, nhưng là để toàn bộ đời mình bước vào tương quan với Ngài. Khoảng cách cuối cùng không nằm ở tri thức, mà ở sự dấn thân của toàn bộ hiện hữu; giữa biết điều phải sống và thật sự dám sống điều đã biết. “Kitô giáo không phải là một lý thuyết để hiểu, nhưng là một sự sống để bước vào!” – Karl Rahner.

Vì thế, Chúa Giêsu không nói: hãy yêu Thiên Chúa bằng một cảm xúc đạo đức nào đó, nhưng bằng “toàn thể” con người. Marcô dùng bốn từ rất mạnh: kardia, psychē, dianoiaischys. Nghĩa là, Thiên Chúa không muốn con người nhường cho Ngài một góc nhỏ đạo hạnh trong đời sống; Ngài muốn trọn con người ấy. Chính ở đây, nhiều người vẫn “không xa” Nước Trời, nhưng chưa thật sự bước vào: họ dành cho Chúa một phần thời gian, một phần niềm tin hay chút thiện chí; nhưng chưa bao giờ thật sự phó thác cho Ngài. Bố thí cho Thiên Chúa một góc nhỏ cuộc đời là một hình thức sỉ nhục Trời cao. Thông suốt giáo lý mà không dám dấn thân chỉ là đứng ngắm Nước Trời từ xa. Người ta có thể nói rất đúng về Nước Trời, nhưng không ai bước vào đó bằng kiến thức.

Phaolô nhắn nhủ Timôthê: “Hãy nhớ đến Đức Giêsu Kitô!” – bài đọc một. Nghĩa là, đức tin Kitô giáo không hệ tại ở việc ghi nhớ một giáo huấn, nhưng ở việc để chính Đức Kitô chiếm lấy đời mình. Vì thế, điều con người cần không chỉ là biết đường về Nước Trời, nhưng là thật sự bước đi trên con đường ấy. Biết đường mà không cất bước vẫn là kẻ lưu vong. “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết!” – Thánh Vịnh đáp ca – không phải là lời xin thêm kiến thức, nhưng là lời xin được dẫn vào một lối sống mới.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về giới răn yêu thương; chính Ngài là Đấng đã sống trọn giới răn ấy. Ngài yêu Chúa Cha không bằng một phần đời mình, nhưng bằng toàn bộ hiện hữu – đến tận thập giá. Và tại đó, Ngài yêu con người bằng cách trao hiến toàn thân cho họ. Vì thế, theo Chúa Kitô không chỉ là biết điều phải làm, mà là dám bước qua khoảng cách cuối cùng giữa hiểu biết và trao hiến. Có những người rất gần Nước Trời, nhưng vẫn đứng ngoài vì chưa bao giờ thật sự đặt đời mình vào tay Thiên Chúa. Họ ‘thiếu một bước cuối’. “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với quá ít!” – Thomas Merton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa bao điều giằng xé lòng con, xin dạy con biết dành cho Chúa không phải một phần nhỏ, nhưng toàn bộ cuộc sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,28b-34

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.


 

KHI TRUYỀN THÔNG CỦA GIÁO HỘI ĐƯỢC TRAO CHO MỘT NGƯỜI NỮ GIÁO DÂN

 Anmai CSsR 

KHI TRUYỀN THÔNG CỦA GIÁO HỘI ĐƯỢC TRAO CHO MỘT NGƯỜI NỮ GIÁO DÂN

Việc Đức Giáo hoàng Lêô XIV bổ nhiệm bà Maria Montserrat Alvarado, hiện là Chủ tịch và Giám đốc Điều hành của EWTN News, làm Bộ trưởng Bộ Truyền thông của Tòa Thánh không chỉ là một quyết định nhân sự. Đây là một dấu chỉ. Một dấu chỉ rất mạnh mẽ về cách Giáo hội đang bước vào thời đại mới của truyền thông, thời đại mà Tin Mừng không chỉ được rao giảng trên tòa giảng, trong sách vở, trong nhà thờ, nhưng còn phải hiện diện giữa dòng chảy cuồn cuộn của hình ảnh, âm thanh, mạng xã hội, kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và những biến động không ngừng của tâm thức con người hôm nay.

Bà Maria Montserrat Alvarado, sinh tại thành phố Mexicô, từng được đào tạo tại Đại học Quốc tế Florida và Đại học George Washington. Trước khi bước vào EWTN News, bà đã có nhiều năm làm việc tại Quỹ Becket vì Tự do Tôn giáo, nơi bà tham gia các hoạt động bảo vệ tự do tôn giáo và cổ võ phẩm giá con người. Từ năm 2023, bà đảm nhận vai trò lãnh đạo tại EWTN News, một hệ thống truyền thông Công giáo có tầm ảnh hưởng quốc tế, sản xuất nội dung qua nhiều ngôn ngữ và nhiều nền tảng khác nhau: truyền hình, phát thanh, báo in, kỹ thuật số và mạng xã hội. Chính kinh nghiệm ấy cho thấy bà không chỉ là một người làm truyền thông, nhưng là một người hiểu truyền thông như một sứ mạng, nơi chân lý cần được nói bằng ngôn ngữ của thời đại mà vẫn không đánh mất linh hồn của Tin Mừng.

Quyết định bổ nhiệm này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 2026. Bà Alvarado sẽ kế nhiệm ông Paolo Ruffini, người được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm năm 2018 và là giáo dân đầu tiên đứng đầu một Bộ thuộc Giáo triều Rôma. Nếu ông Ruffini là dấu mốc cho thấy người giáo dân có thể đảm nhận những trách nhiệm cao trong cơ cấu phục vụ của Tòa Thánh, thì bà Alvarado lại mở ra một dấu mốc mới: một phụ nữ giáo dân, không thuộc đời sống thánh hiến, được trao phó vai trò lãnh đạo một Bộ của Tòa Thánh. Điều đó không chỉ nói về sự hiện diện của nữ giới trong Giáo hội, nhưng còn nói về sự trưởng thành của một Giáo hội biết nhìn nhận đặc sủng, khả năng, kinh nghiệm và trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa.

Bộ Truyền thông không phải là một cơ quan phụ bên lề đời sống Giáo hội. Trong thế giới hôm nay, truyền thông là một “mặt trận” thiêng liêng và nhân bản rất lớn. Qua truyền thông, con người có thể được nâng lên, được khai sáng, được an ủi, được nối kết; nhưng cũng qua truyền thông, con người có thể bị thao túng, bị chia rẽ, bị đầu độc bởi tin giả, hận thù, cực đoan, giật gân và sự nông cạn. Vì thế, người đứng đầu Bộ Truyền thông không chỉ cần kỹ năng quản trị, nhưng cần một tầm nhìn mục vụ: làm sao để tiếng nói của Giáo hội không bị chìm giữa ồn ào, không bị biến thành khẩu hiệu, không bị mắc kẹt trong cơ chế, nhưng trở thành tiếng nói của sự thật, lòng thương xót, hiệp thông và hy vọng.

Đức Giáo hoàng Lêô XIV, qua quyết định này, tiếp nối con đường cải tổ mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã khởi xướng: một Giáo triều không khép kín trong não trạng giáo sĩ trị, nhưng biết mở ra cho sự cộng tác của giáo dân; một Giáo hội không chỉ nói về phẩm giá người nữ, nhưng trao trách nhiệm thực sự cho người nữ; một cơ cấu phục vụ không chỉ vận hành bằng chức vị, nhưng bằng khả năng, lòng trung thành, sự chuyên nghiệp và tinh thần sứ vụ.

Điều đáng suy nghĩ là người được bổ nhiệm không xuất thân từ một môi trường thuần túy hành chính, nhưng từ một môi trường truyền thông Công giáo sống động, trực diện với những thách đố của thời đại. Điều đó cho thấy Tòa Thánh hiểu rất rõ rằng truyền thông hôm nay không còn là việc “phát đi thông cáo” hay “đưa tin sau sự kiện”. Truyền thông hôm nay là hiện diện, lắng nghe, phân định, đối thoại, giải thích, làm chứng và nối kết. Giáo hội không thể chậm chân trước những ngôn ngữ mới của nhân loại. Nhưng Giáo hội cũng không được đánh mất chiều sâu thiêng liêng khi bước vào các nền tảng mới. Vấn đề không chỉ là Giáo hội có mặt trên mạng xã hội hay không, nhưng là Giáo hội hiện diện ở đó với gương mặt nào: gương mặt của Chúa Kitô hay gương mặt của quyền lực, tranh luận và hơn thua?

Trong lời phát biểu sau khi được bổ nhiệm, bà Alvarado nói rằng việc bổ nhiệm này là điều bất ngờ, nhưng bà đón nhận với lòng chân thành mong muốn phục vụ Đức Thánh Cha khi ngài bắt đầu triều đại giáo hoàng của mình. Câu nói ấy đáng được chú ý. Truyền thông Kitô giáo trước hết không phải là nơi để xây dựng tên tuổi cá nhân, nhưng là một cách phục vụ. Người làm truyền thông của Giáo hội không được phép biến mình thành trung tâm. Trung tâm phải là Chúa Kitô. Không phải sự nổi tiếng, không phải lượt xem, không phải tốc độ lan truyền, không phải sự hào nhoáng kỹ thuật, nhưng là Tin Mừng được truyền đạt với sự thật, lòng bác ái và sự khiêm nhường.

Ông Paolo Ruffini, trong thư gửi các nhân viên của Bộ Truyền thông, đã dùng hình ảnh “trao lại ngọn đuốc trong khi vẫn tiếp tục chạy”. Đó là một hình ảnh rất đẹp. Giáo hội không đứng yên. Sứ mạng không dừng lại ở một người. Người này đến, người kia đi, nhưng Tin Mừng vẫn phải tiếp tục được loan báo. Ngọn đuốc không phải là quyền lực để giữ lấy, nhưng là ánh sáng để chuyền tay. Người phục vụ thật sự biết đến lúc phải trao lại; người kế nhiệm thật sự biết đón nhận không phải để xóa bỏ quá khứ, nhưng để tiếp tục hành trình trong tinh thần hiệp thông.

Bản tin này vì thế không chỉ là tin về một phụ nữ được bổ nhiệm vào một chức vụ cao. Đây là một lời mời gọi Giáo hội suy nghĩ lại về chính cách mình truyền thông. Chúng ta đang nói gì với thế giới? Chúng ta đang nói bằng cung giọng nào? Chúng ta có đang truyền thông như những người xây cầu, hay như những người dựng thêm bức tường? Chúng ta có đang làm cho người ta gặp Chúa Kitô, hay chỉ làm cho người ta thấy những tranh cãi nội bộ của người Công giáo? Chúng ta có dùng truyền thông để chữa lành, hay để kết án? Để hiệp thông, hay để chia rẽ? Để loan báo Tin Mừng, hay để bảo vệ cái tôi của mình?

Trong thời đại mà một lời nói có thể đi khắp thế giới chỉ trong vài giây, người Công giáo càng phải học lại sự thận trọng, hiền lành và trách nhiệm. Truyền thông không chỉ là kỹ thuật đưa tin. Truyền thông là luân lý. Truyền thông là mục vụ. Truyền thông là linh đạo. Một bản tin sai có thể làm tổn thương người vô tội. Một lời bình ác ý có thể giết chết danh dự một con người. Một hình ảnh bị cắt xén có thể tạo nên hiểu lầm. Một tiêu đề giật gân có thể làm nghèo đi sự thật. Vì thế, truyền thông Công giáo phải khác: không phải chậm vì thiếu khả năng, nhưng chậm đủ để trung thực; không phải nhạt vì sợ hãi, nhưng sâu vì có Tin Mừng; không phải ồn ào để thắng thế, nhưng sáng trong để phục vụ sự thật.

Việc bà Maria Montserrat Alvarado được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Truyền thông cũng nhắc cho mọi giáo dân rằng Giáo hội không chỉ là chuyện của hàng giáo sĩ. Giáo hội là Dân Chúa. Mỗi người đã chịu phép Rửa đều có phần trong sứ mạng loan báo Tin Mừng. Có người loan báo bằng giảng dạy. Có người loan báo bằng phục vụ người nghèo. Có người loan báo bằng đời sống gia đình. Có người loan báo bằng nghề nghiệp. Và có người loan báo bằng truyền thông. Khi một giáo dân được trao một trách nhiệm lớn trong Giáo triều, đó không phải là sự “thay thế” hàng giáo sĩ, nhưng là sự cộng tác đúng nghĩa trong thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh, nơi mỗi chi thể có một vai trò, một ơn gọi và một cách phục vụ riêng.

Tin vui này cũng là một lời nhắc cho những người làm truyền thông Công giáo ở mọi cấp độ: từ Vatican đến giáo phận, giáo xứ, hội dòng, nhóm tông đồ, trang cá nhân, kênh YouTube, Facebook, TikTok. Làm truyền thông cho Giáo hội không phải chỉ là đăng thật nhiều, nói thật nhanh, làm thật đẹp. Điều quan trọng hơn là làm sao để mỗi nội dung mang được hương thơm của Tin Mừng. Một tấm ảnh đẹp nhưng thiếu sự thật thì không còn là truyền thông Công giáo. Một bài viết hay nhưng đầy kiêu căng thì chưa phải là phục vụ Tin Mừng. Một video nhiều người xem nhưng gây chia rẽ, khinh miệt và kết án thì không thể gọi là truyền giáo. Truyền thông Công giáo phải giúp người ta yêu Chúa hơn, yêu Giáo hội hơn, yêu con người hơn, sống thật hơn và hy vọng hơn.

Bởi vậy, việc bổ nhiệm bà Alvarado không chỉ là một điểm son trong lịch sử cải tổ Giáo triều. Đó còn là một lời mời gọi rất sâu: hãy làm cho truyền thông trở thành nơi hiệp thông. Hãy làm cho kỹ thuật phục vụ con người. Hãy làm cho mạng xã hội bớt độc hại hơn bằng những nội dung có trách nhiệm. Hãy làm cho tiếng nói của Giáo hội không chỉ đúng, mà còn đẹp; không chỉ mạnh, mà còn hiền; không chỉ rõ ràng, mà còn đầy lòng thương xót.

Một Giáo hội biết truyền thông không phải là một Giáo hội biết quảng bá chính mình, nhưng là một Giáo hội biết đưa con người đến gặp Chúa Kitô. Và có lẽ đó là thách đố lớn nhất cho Bộ Truyền thông trong giai đoạn mới: giữa một thế giới quá nhiều tiếng nói, phải giúp nhân loại nghe lại được tiếng nói của Tin Mừng; giữa một thế giới quá nhiều hình ảnh, phải giúp con người nhận ra dung mạo của Chúa Kitô; giữa một thế giới quá nhiều kết nối kỹ thuật, phải giúp con người tìm lại sự hiệp thông thật sự.

Nếu truyền thông chỉ làm cho Giáo hội được chú ý hơn, thì vẫn chưa đủ. Nếu truyền thông làm cho Chúa Kitô được nhận biết, yêu mến và bước theo, lúc đó truyền thông mới thật sự trở thành sứ mạng.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp


 

Tất cả những gì của con đều là của Cha – Cha Vương

 Một ngày bình yên và hãy yêu như Chúa đã yêu nhé. Nhớ nhau trong nguyện cầu, không quên cho thế giới được hòa bình nhé

Cha Vương

Thứ 3: 2/6/2026.       (n3-25)

TIN MỪNG: Tất cả những gì của con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con; và con được tôn vinh nơi họ. Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha. (Ga 17:10-11)

SUY NIỆM: Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trước khi từ giã các môn để của Ngài. Sự ra đi nào cũng để lại những khoảnh khắc xúc động lưu luyến bùi ngùi. Chúa về trời để lại con sống giữa thế gian được coi như là một “bể khổ”.  Là người Ki-tô hữu, tuy chân chạm đất nhưng bạn thuộc về Chúa qua bí tích rửa tội và nhờ đức tin. Đây là một giằng co lớn của người tín hữu trước sức mạnh cám dỗ của thế gian. Để giữ lòng chung thuỷ với Chúa trong ơn gọi, bạn cần phải liên lỉ kết hiệp mật thiết với Chúa để khỏi bị mất đi phẩm giá cao cả của người môn đệ theo Chúa. Là con Chúa, tuy chân chạm đất nhưng lòng phải luôn hướng về cõi trên để dù phải đau khổ hy sinh bạn vẫn can đảm sống trọn vẹn cho vinh quang Chúa và cho phần rỗi của linh hồn.

LẮNG NGHE: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng. (Rm 10:11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện và nâng đỡ nhau trong môi trường sống và làm việc của mình.

From: Do Dzung

**************************

Yêu Chúa Yêu Người | Sáng tác: Nguyễn Trung Hải (Tin Yêu)

KHÔNG AI SỞ HỮU AI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ?”.

“Con cái các bạn không phải là con cái của các bạn. Chúng đến qua các bạn, nhưng không từ các bạn!” – Kahlil Gibran.

Kính thưa Anh Chị em,

Điều khó chấp nhận nhất không phải là mất người mình yêu, nhưng là nhận ra họ chưa bao giờ thực sự thuộc về mình. Tin Mừng hôm nay hé mở một sự thật lớn hơn mọi quyền sở hữu: trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Sau khi kể về một người phụ nữ lần lượt kết hôn với bảy anh em, người Sađucêô chỉ quan tâm một điều: khi sống lại, bà sẽ là vợ của ai? Trong toàn bộ câu chuyện, bà không có một tiếng nói, không một lựa chọn, chỉ xuất hiện như một đối tượng được chuyển từ người đàn ông này sang người đàn ông khác. Vì thế, điều họ thực sự quan tâm không phải là sự sống lại, nhưng là quyền sở hữu. Định nghĩa bản thân bằng những gì mình có là khởi đầu của sự vong thân. Chúa Giêsu đã tháo gỡ tận gốc não trạng ấy. “Khởi đầu của yêu thương là để người mình yêu được là chính họ!” – Thomas Merton.

Chúa Giêsu nhìn bà khác hẳn. Với Ngài, bà không phải là một hồ sơ pháp lý hay một hồ sơ hôn nhân của ai; nhưng là một persona – một ngôi vị sống trước mặt Thiên Chúa. Mà ngôi vị thì không ai có thể sở hữu. Người ta có thể làm chủ một cánh đồng, một ngôi nhà; nhưng không thể sở hữu một con người. Biến người mình yêu thành vật sở hữu là đang tự tay tước đi ngôi vị của họ!

Người Sađucêô nhìn con người qua lăng kính sở hữu; Chúa Giêsu nhìn họ trong tương quan thuộc về. Với Ngài, vấn đề không phải “của ai”, hay ngay cả “ai thuộc về ai”, nhưng tất cả đều thuộc về Thiên Chúa. “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống”. Vì thế, Abraham, Isaac và Giacóp không thuộc về quá khứ. Nước Trời không có tủ đựng hồ sơ. Trước mặt Thiên Chúa, không ai là một ký ức đã khép lại; tất cả đều sống trong Ngài. “Nếu tôi là những gì tôi có, và những gì tôi có bị mất đi, thì tôi còn là ai?” – Erich Fromm.

Phaolô hiểu rất rõ điều đó, ông không định nghĩa mình bằng những gì đang sở hữu, nhưng bằng Đấng mình thuộc về. Từ ngục tù, giữa thử thách và cô đơn, Phaolô vẫn xác tín: “Tôi biết tôi tin vào ai” – bài đọc một. Đó là một lời tuyên xưng tín thác. Biết mình tin vào ai, người tín hữu có thể ngước nhìn lên cao giữa mọi bất định của cuộc đời: “Lạy Chúa, con ngước mắt hướng nhìn lên Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là con người tự do nhất, vì Ngài thuộc về Chúa Cha cách trọn vẹn nhất. Ngài không chiếm hữu ai, nhưng luôn dẫn mọi người về với Cha. Trên thập giá, Ngài phó thác tất cả trong tay Cha. Vì thế, Phục Sinh mặc khải một chân lý lớn lao: con người không được dựng nên để sở hữu nhau, nhưng để cùng thuộc về Thiên Chúa. Yêu mà không dám buông tay để họ đến với Thiên Chúa chỉ là thứ tình cảm vị kỷ. Trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con yêu mà không chiếm hữu, gắn bó mà không nắm giữ, hầu dẫn mọi người con yêu về với Chúa, vì chúng con đều thuộc về Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,18-27

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !”


 

TIỀN TRUNG THÀNH HƠN NGƯỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”.

Chỉ cần nhìn một đồng xu, nhà sưu tập tiền cổ có thể biết ngay nó thuộc triều đại nào, đúc ở đâu, giá trị bao nhiêu. Nhưng khi được hỏi điều gì là quan trọng nhất trong đời, ông lúng túng.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhà sưu tập biết gốc gác một đồng tiền cổ; nhưng không biết gốc gác của mình. Tin Mừng hôm nay đưa ra một nghịch lý: đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; con người mang hình Thiên Chúa nhưng không phải lúc nào cũng thuộc về Ngài. Bởi thế, có lúc ‘tiền trung thành hơn người’.

Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi có nên nộp thuế không; Ngài chỉ xin xem đồng tiền và hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai?”. Từ được dùng ở đây là eikōn – “hình ảnh”; nhưng Kinh Thánh còn nói đến một eikōn khác: con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, câu hỏi của Ngài không dừng lại ở đồng tiền: đã hẳn, đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; còn con người mang hình Thiên Chúa thì thuộc về ai?

Điều nghịch lý là những người chất vấn Chúa Giêsu, chống lại việc nộp thuế cho Caesar, lại muốn kéo Ngài vào cuộc; đang khi chính họ vẫn rủng rỉnh Caesar trong túi. Chúa Giêsu không vội trả lời; Ngài để chính đồng tiền lên tiếng. Vấn đề vì thế không còn là thuế, nhưng là sự thật về chính mình. Đôi khi điều tố cáo chúng ta không phải lời nói, mà là những gì chúng ta đang nắm giữ. “Giá mà người ta hiểu được sự ngọt ngào của một tâm hồn không giữ lại gì cho mình trước mặt Thiên Chúa!” – Thérèse Couderc.

Điều đáng suy ngẫm là Chúa Giêsu không nói: “Dâng cho Thiên Chúa”, nhưng: “Trả về Thiên Chúa”. Người ta chỉ trả lại điều vốn thuộc về chủ của nó: Caesar nhận lại đồng tiền của mình; còn con người phải được trả về cho Thiên Chúa. Vì thế, điều Ngài đòi hỏi không phải là một phần, nhưng là toàn bộ con người. Vấn đề không phải chúng ta cho Thiên Chúa bao nhiêu, nhưng giữ lại cho mình bao nhiêu.

Con người có thể quên mình thuộc về ai; Thiên Chúa thì không bao giờ quên con người thuộc về Ngài. Vì thế, Phêrô mời gọi các tín hữu lớn lên trong ân sủng và sự hiểu biết Đức Giêsu Kitô – bài đọc một. Đó là hành trình trở về sâu hơn với Đấng đã in dấu Ngài nơi chúng ta. Và qua bao thế hệ, Kitô hữu vẫn chỉ có một nơi trú ẩn không đổi thay: “Trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nếu có lúc ‘tiền trung thành hơn người’, thì Đức Kitô cho thấy con người được tạo dựng để trung thành hơn cả đồng tiền. Ngài là hình ảnh Chúa Cha và hoàn toàn thuộc về Cha; không quyền lực, đám đông hay thập giá nào khiến Ngài phản bội tư cách làm Con. Chính nhờ sự trung tín của Người Con mà chúng ta được trở nên nghĩa tử, và được đưa về với Đấng đã nắn đúc nên mình. Với chúng ta, để vật chất định đoạt giá trị bản thân là đang tự xoá hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. “Con người đáng giá vô cùng hơn những gì mình sở hữu!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con thuộc về những gì con đang nắm giữ, hay những gì đang nắm giữ con; nhưng thuộc trọn về Đấng đã in dấu Ngài nơi linh hồn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,13-17

13 Khi ấy, người ta cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Đức Giê-su để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. 14 Những người này đến và nói : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp ?” 15 Biết họ giả hình, Đức Giê-su nói : “Tại sao các người lại thử tôi ? Đem một đồng bạc cho tôi xem !” 16 Họ liền đưa cho Người. Người hỏi : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.” 17 Đức Giê-su bảo họ : “Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Và họ hết sức ngạc nhiên về Người.


 

Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16:33)-Cha Vương

Ngày Thứ 2 thật can đảm để yêu thương và tha thứ nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé . Xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho nhau  

Cha Vương

Thứ 2: 1/6/2026.       (n2-25)

TIN MỪNG: Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan, khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16:33)

SUY NIỆM: Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo số 180 dạy rằng: “Tin” là hành vi của con người, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người. Vì biết rằng đức tin của con người dễ bị lung lay như thế nào, Chúa Giêsu củng cố đức tin của họ bằng lời nhắn nhủ rằng: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” Chúa biết rằng vững tin vào Chúa không phải là chuyện dễ nhất là khi những gian nan thử thách của thế gian đang bủa vây cuộc sống hàng ngày của bạn. Chính vì vậy Ngài mới trấn an những tâm hồn yếu đuối: “Can đảm lên!” Trong thế gian này có những chuyện thật là khó hiểu, đó là chưa kể đến lòng người. Nó lại còn khó hiểu hơn nữa. Mặc dù bạn biết rằng Chúa dạy “đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.” (Mt 19:26) nhưng trong lòng vẫn cảm thấy lo sợ. Một khi “lô-gic” không trả lời được thì bạn cần phải có đức tin. “Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì giải thích cũng vô ích!” (Thánh Bernadette, Lộ Đức). Đức tin đóng một vai trò chính yếu trong đời sống của người Kitô hữu. Mặc dù Thiên Chúa là Đấng quyền năng và đầy lòng yêu thương, có thể cho bất kỳ một phép lạ nào xảy ra ở bất cứ nơi đâu, nhưng nếu bạn không có đức tin, thì phép lạ ấy cũng chỉ là một “sự kiện lạ” chóng qua.  Vậy hôm nay bạn hãy xin Chúa Thánh Thần soi trí mở lòng bạn để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống hàng ngày mà vững tin vào Ngài là đấng “đã thắng thế gian.”

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi: Thầy sẽ lại đến với anh em, và lòng anh em sẽ vui mừng.” (Ga 14:18;16:22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tin vào Chúa: xin gia tăng đức tin của con. Con tín thác vào Chúa: xin củng cố lòng tin của con. Con yêu mến Chúa: xin cho con yêu mến Chúa ngày một nhiều hơn.

THỰC HÀNH: Khi gặp điều không vừa ý, thay vì nguyền rủa, hãy tập động viên và khuyến khích nhau bằng câu: “Hãy can đảm lên!”

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=Yh69LmHbhSA

Can Đảm Lên – Nguyễn,Hữu | Ca Đoàn Đồng Tâm Choir Gx St. Maria Goretti  

https://www.youtube.com/watch?v=wrJcNpILLX8

Ca Khúc Trầm Hương – Hoàng Oanh

Tạ Ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (1)- Tác giả: Phùng Văn Phụng

Người ta dễ dàng cám ơn khi thành công, khi nhận được lời nói yêu thương, khi nhận quà tặng với tâm tình yêu mến. Khi gặp sự thất bại, bị hành hạ, tủi nhục, đau đớn, bất hạnh… mở lời nói cám ơn Chúa vì những bất hạnh, đau khổ, bịnh tật nghèo nàn, cô đơn thật khó vô cùng. Nhưng giữa sự oán trách, hận đời, bực tức, đắng cay và nếu nhìn sự kiện đó với khía cạnh sâu xa hơn, chịu đựng sự khó khăn để thông phần đau khổ với Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự, lòng ta sẽ dịu lại và dễ chấp nhận khó khăn, đau khổ đó. 

1)Tạ ơn Thiên Chúa vì bị tù đày.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 hầu hết những người có trình độ ở miền Nam đều bị đi tù cộng sản.

Những người ưu tú của miền Nam làm việc cho Việt Nam Cộng hoà đều đóng tiền đi tù vì nghe theo lời của Ủy Ban Quân Quản Sài gòn lúc bấy giờ ra thông báo học tập một tháng cho sĩ quan từ thiếu úy trở lên và các viên chức của chánh quyền Sài gòn từ Chánh sở trở lên.

Sự thơ ngây, lầm tưởng thông báo trên của cộng sản là sự thật, cho nên quân nhân, công chức miền Nam đều bị lừa gạt đi tù từ 5 năm đến 17 năm.

Tôi cũng chung số phận những người miền Nam thơ ngây đó. Tôi trình diện đi tù từ ngày 14 tháng 6 năm 1975 và được thả ra ngày 28 tháng 02 năm 1983. Còn thiếu 3 tháng 14 ngày nữa là đủ trọn vẹn 8 năm. Chịu đựng thiếu thốn, đói rét, lạnh lẽo ở các miền rừng núi âm u ở miền Bắc: Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh… Trong tù có nghe tin Tướng Nguyễn Hữu Có đang xây dựng trại ở Thanh Hóa, Nghệ An để các tù nhân cộng sản định cư và vợ con muốn đoàn tụ thì xin ra khu định cư đó để ở cùng các tù nhân.

 ***

Sau khi được thả về, tôi thường nghe lén đài VOA, BBC có nói đến chương trình ra đi trong trật tự cho những người cải tạo.

Cuối cùng có sự thoả thuận giữa Mỹ và Việt Nam. Những người ở tù trên ba năm được di cư sang Mỹ. Dưới ba năm thì không được.

Tôi tạ ơn Chúa vì tôi đã ở tù trên ba năm nên được qua Mỹ theo diện HO cùng với gia đình.

Từ ngày qua Mỹ cách nay 29 năm tôi được hưởng không khí tự do, không còn hồi hộp, lo âu, bị bắt bỏ tù lại bất cứ lúc nào. Không có ai khám nhà, hỏi thăm, theo dõi, rình mò.

Không đi tù không cảm nghiệm được tự do là quý.

Không đi tù không học được tính khiêm nhường, chịu nhẫn nhục trước cán bộ đáng em cháu mình.

Không đi tù, cuộc sống bình thường trôi chảy, đi dạy học và con đường hoạn lộ êm ả, thênh thang, không có bất cứ trở ngại nào để làm tôi suy nghĩ, có lẽ tôi không biết đến đạo Chúa, không biết Chúa Giê su là ai. 

2)Tạ ơn Thiên Chúa vì bị bịnh nan y: 

Khi bị bịnh nặng bịnh nan y chẳng hạn, thông thường con người phản ứng, tức giận trách Chúa sao người khác không bịnh mà Chúa để tôi bịnh. Cho nên tạ ơn Thiên Chúa khi bịnh nan y là một điều rất khó. Làm sao có thể tạ ơn được khi thân thể đau nhức, mệt mỏi, rã rời và biết mình sắp chết. Nhưng cũng có người nhân lúc bịnh hoạn, có thì giờ suy nghĩ, soát xét lại cuộc đời của mình, để ăn năn sám hối những lỗi lầm đã qua. Và trong bài: Lời tạ ơn lạ thường, một bà 84 tuổi đau đớn vì bịnh ung thư, đã dâng lời tạ ơn Chúa như sau: 

“Tôi rất cám ơn Chúa đã cho tôi một cơ hội để tỏ lòng biết ơn Ngài! Năm nay tôi 84 tuổi, đang bị bệnh ung thư và phải nằm cấm cung ở nhà. Tôi xin dâng những tật bệnh và những cơn đau này cho Chúa để cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục, cho những người mẹ đã và đang dự định phá thai, và cho các thai nhi vô tội…! Tôi rất vui và hạnh phúc khi có được cơ hội để đền đáp lại hồng ân và tình yêu vô bờ bến mà Ngài đã dành cho tôi, một tạo vật nhỏ bé và bất xứng…!”(2)  

3)Tạ ơn Thiên Chúa vì bị tật nguyền. 

Rất khó tạ ơn Chúa vì bị tật nguyền. Thông thường tạ ơn Chúa vì ta được lành lặn, làm ăn giàu có, thành công. Chứ tật nguyền làm sao tạ ơn Chúa cho được.

Nhưng có nhiều trường hợp con người vẫn tạ ơn Chúa vì những bất hạnh, khiếm khuyết của cơ thể. Như trường hợp Nick Vujicic.(3)

Nicholas James “Nick” Vujicic sinh ngày 4 tháng 12 năm 1982, tại Brisbane, Úc, là một người truyền bá Phúc Âmdiễn giả truyền cảm hứng người Úc gốc Serbia, khi được sinh ra đã không có tứ chi mà chỉ có 1 bàn chân và 2 ngón chân nhỏ. 

Nick bị hội chứng tetra-amelia bẩm sinh, một loại rối loạn hiếm gặp, gây ra sự thiếu vắng cả bốn chi.

 Cha mẹ của anh là Dushka (Душка) và Boris Vujicic (Борис Вујичић). Mặc dù là một đứa trẻ khỏe mạnh nhưng từ khi sinh ra Nick đã không có cả hai chi trên và dưới mà chỉ có hai bàn chân nhỏ (một trong số đó có hai ngón chân). Anh có hai anh chị em ruột là Michelle và Aaron.

Nick Vujicic có đến Việt Nam từ ngày 22 tháng 5 đến ngày 26 tháng 5 năm 2013. 

Nick viết sách để truyền bá sự lạc quan, vui vẻ, niềm tin vào tương lai, niềm tin vào Chúa và niềm hy vọng.

Cuốn sách đầu tay của Nick – Life Without Limits: Inspiration for a Ridiculously Good Life (nhà xuất bản Random) – ra mắt công chúng năm 2010. Nick đưa ra thị trường DVD Life’s Greater Purpose – một bộ phim tài liệu được bấm máy vào năm 2005, có nội dung thuật lại cuộc sống gia đình và những hoạt động thường ngày của Nick. Phần thứ hai của DVD được quay tại hội thánh Tin Lành địa phương của anh ở Brisbane – một trong những bài nói chuyện về động lực cuộc sống đầu tiên của anh. Nick cũng giới thiệu đĩa DVD dành cho giới trẻ với nhan đề No Arms, No Legs, No Worries: Youth Version.

 Nick vẫn làm việc bình thường giống như mọi người.  

 Anh đã tốt nghiệp đại học và trở thành một diễn thuyết gia nổi tiếng về chủ đề làm chủ cuộc sống. Anh truyền cảm hứng cho rất nhiều người nhất là giới trẻ.

Nick hiện đang định cư ở Los Angeles, California, Mỹ.  Ngày 12 tháng 2 năm 2012, anh kết hôn với Kanae Miyahara. Ngày 13 tháng 2 năm 2013, con trai họ là Kiyoshi James Vujicic chào đời, cân nặng khoảng 3,9 kg.

 Nick đã xuất bản ba cuốn sách và hai DVD:

Sách: Life Without Limits, 2010 (Cuộc sống không giới hạn, dịch giả: Nguyễn Bích Lan) 

Sách: Unstoppable (Không thể bị cản)

Sách: Limitless (Không giới hạn)

DVD: Life’s Greater Purpose (Mục đích lớn hơn của cuộc sống)

DVD: No Arms, No Legs, No Worries: Youth Version (Không tay, Không chân, Không lo lắng: Phiên bản Tuổi trẻ) 

Nick là một tấm gương kiên nhẫn đáng học hỏi và bắt chước, nhất là giới trẻ có nhiều cơ hội, tương lai phía trước đầy triển vọng. 

Nick Vujicic đang nói chuyện tại một nhà thờ ở Ehringshausen, Đức (tháng 4 năm 2011) 

(1)Thánh Phaolô viết: “Anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, vì đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1Tx 5, 18).

(2) https://keditim.net/?p=118876     

(3) Nick Vujicic – Wikipedia tiếng Việt 

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 24 tháng 11 năm 2022

   (ngày lễ Tạ ơn)

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

https://keditim.net/wp-content/uploads/2026/05/CHO-TRON-DUONG-TRAN-cuon-2-313-trang.pdf


 

CÂU CHUYỆN PHI THƯỜNG VỀ NHỮNG “KITÔ HỮU KAKURE KIRISHITAN TẠI NHẬT BẢN

Joseph Phạm Nguyên

CÂU CHUYỆN PHI THƯỜNG VỀ NHỮNG “KITÔ HỮU KAKURE KIRISHITAN TẠI NHẬT BẢN

Vào đầu những năm 1600, chính quyền Nhật Bản đã trục xuất toàn bộ các nhà truyền giáo Kitô giáo và phát động những cuộc bách hại tàn khốc. Các linh mục bị sát hại hoặc buộc phải rời đi, bỏ lại hàng ngàn người Nhật trở lại đạo trong sự cô lập hoàn toàn với Giáo hội.

Suốt hơn 250 năm, những tâm hồn trung kiên này — được biết đến với tên gọi “Kitô hữu ẩn danh” (Kakure Kirishitan) — đã sống trong thầm lặng. Họ không có linh mục, không có Thánh lễ công khai, không có các bí tích và cũng chẳng có Kinh Thánh. Thế nhưng, đức tin Công giáo của họ chưa bao giờ lụi tàn.

Họ truyền lại lời dạy của Chúa Kitô từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ bí mật rửa tội cho con cái mình. Và trong tĩnh lặng của mái nhà, họ bám chặt vào một sợi dây cứu sinh mạnh mẽ: Kinh Mân Côi.

Thay vì dùng chuỗi hạt, họ thắt những nút dây thừng đơn sơ để đọc Kinh Mân Côi mỗi ngày. Các Mầu nhiệm về cuộc đời Chúa Kitô trở thành sách giáo lý của họ. Những kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha trở thành lời cầu nguyện, niềm an ủi và là “Thánh lễ thầm lặng” của họ.

Chính nhờ Kinh Mân Côi, họ vẫn hiệp thông cùng Chúa Giêsu và Đức Mẹ ngay cả trong những thập kỷ đen tối nhất của cuộc bách hại.

Khi các nhà truyền giáo quay trở lại Nhật Bản vào giữa những năm 1800, họ đã vô cùng kinh ngạc khi thấy toàn bộ các cộng đồng vẫn gìn giữ vẹn toàn Đức tin Công giáo — tất cả là nhờ Kinh Mân Côi.

Bài học cho chúng ta hôm nay:

Câu chuyện phi thường này nhắc nhở chúng ta rằng Kinh Mân Côi không chỉ đơn thuần là một việc đạo đức. Đó là một vũ khí thiêng liêng, một trường học đức tin và là sợi xích ân sủng nâng đỡ chúng ta vượt qua những thử thách, cô độc và bất định của cuộc sống.

Trong một thế giới bận rộn và đôi khi đầy thách thức như hiện nay, nguyện xin gương sáng của các Kitô hữu ẩn danh truyền cảm hứng cho chúng ta biết siêng năng đọc Kinh Mân Côi với lòng mến yêu và trung thành sâu sắc hơn.

Theo dõi trang để đọc thêm nhiều bài viết từ Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#catholic #catholicfaith #FaithInAction #rosary #culture #christianity #GiaohoiConggiao #KinhManCoi #DucTin 


 

GIẾT THỪA KẾ – ĐỂ LÀM CHỦ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”.

Khi còn là hoàng tử, Absalom đã âm thầm thu phục cảm tình dân chúng và cuối cùng nổi loạn chống lại Đavít, vua cha. Bi kịch là: người sẽ được thừa kế lại muốn sở hữu ngay điều mình chưa được trao. Và trên đường chiếm đoạt vương quyền, ông đánh mất tất cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Muốn chiếm lấy điều chỉ có thể đón nhận như hồng ân là một cám dỗ cổ xưa. Những tá điền trong Tin Mừng hôm nay cũng vậy, “Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”. Đó là một thứ logic của tội lỗi: ‘giết thừa kế – để làm chủ’.

Dụ ngôn xoay quanh người klēronomos – người thừa kế. Trong Kinh Thánh, đó không chỉ là người nhận gia sản, nhưng còn là dấu chỉ của quyền sở hữu chính đáng. Vì thế, các tá điền vừa thấy người con đã biết ngay anh là ai: một chướng ngại. Chừng nào người thừa kế còn đó, họ mãi chỉ là tá điền. Muốn làm chủ, họ phải loại bỏ người thừa kế. Họ muốn chiếm đoạt điều lẽ ra phải đón nhận như quà tặng. Từ Ađam đến hôm nay, con người vẫn nghĩ mình sẽ giàu hơn khi gạt Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời; nhưng càng xa Thiên Chúa, con người càng vong thân. “Ai để Đức Kitô bước vào đời mình thì không mất gì cả; trái lại, người ấy tìm thấy sự sống đích thực!” – Bênêđictô XVI.

Nếu các tá điền gây ngạc nhiên vì lòng tham, thì chủ vườn còn gây ngạc nhiên hơn vì lòng quảng đại. Sau cảnh những đầy tớ bị đánh đập, sỉ nhục và giết hại, ông vẫn sai người con. Theo cái nhìn nhân loại, đó là một quyết định liều lĩnh. Nhưng chính ở đây dụ ngôn hé mở dung mạo Thiên Chúa. Con người luôn muốn giữ lại điều quý nhất; Thiên Chúa lại trao chính điều quý nhất. Nếu các tá điền nói: “Nào ta giết quách nó đi!”, thì Thiên Chúa lại nói: “Ta vẫn sai con ta đến!”.

Nhưng dụ ngôn không kết thúc ở cái chết của người con. “Tảng đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”. Con người loại bỏ điều họ cho là chướng ngại; Thiên Chúa lại biến chính điều ấy thành nền móng. Người con bị giết trở thành con đường để kế hoạch được hoàn tất. Thập giá không phải là thất bại của công lý, nhưng là vương quyền của tình yêu. Chính tình yêu ấy mở ra cho con người khả năng được “thông phần bản tính Thiên Chúa” – bài đọc một. Vì thế, người tín hữu không sống bằng sự chiếm hữu, nhưng bằng sự tín thác: “Lạy Thiên Chúa, con tin tưởng vào Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Người Thừa Kế mà các tá điền muốn loại bỏ. Con người ‘giết Người Thừa Kế – để làm chủ’; Thiên Chúa lại trao Người Thừa Kế để chúng ta được làm nghĩa tử. Bởi đó, thay vì nắm giữ như các tá điền, người môn đệ học sống bằng sự tín trung. Chỉ người biết đón nhận mới thực sự giàu có. Kẻ sống bằng sự chiếm hữu là kẻ đang nuôi dưỡng một linh hồn nghèo đói. Người biết đón nhận mọi sự như hồng ân sẽ khám phá rằng: điều quý giá nhất trong đời không phải là điều mình sở hữu, nhưng là Đấng mình thuộc về.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi cám dỗ chiếm hữu điều chỉ có thể được đón nhận như quà tặng!” Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Họ đã bắt người con yêu dấu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,1-12

1 Khi ấy, Đức Giê-su bắt đầu dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế, kinh sư và kỳ mục. Người nói : “Có người kia trồng được một vườn nho ; ông rào giậu chung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 2 Đến mùa, ông sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi vườn nho mà họ phải nộp. 3 Nhưng họ bắt người đầy tớ, đánh đập và đuổi về tay không. 4 Ông lại sai một đầy tớ khác đến với họ. Họ đánh vào đầu anh ta và hạ nhục. 5 Ông sai một người khác nữa, họ cũng giết luôn. Rồi ông lại sai nhiều người khác : kẻ thì họ đánh, người thì họ giết. 6 Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu : người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ ; ông nói : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 7 Nhưng bọn tá điền ấy bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta.’ 8 Thế là họ bắt cậu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho. 9 Vậy ông chủ vườn nho sẽ làm gì ? Ông sẽ đến tiêu diệt các tá điền, rồi giao vườn nho cho người khác. 10 Các ông chưa đọc câu Kinh Thánh này sao ? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. 11 Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta !”

12 Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng lại sợ dân chúng ; quả vậy, họ thừa hiểu Người đã nhắm vào họ mà kể dụ ngôn ấy. Thế là họ để Người lại đó mà đi.


 

MỘT CHUYỂN ĐỘNG – KHÔNG PHẢI MỘT CÔNG THỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đến nỗi ban Con Một!”.

“Con Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa!” – Athanasiô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không mặc khải Chúa Ba Ngôi như một công thức để giải thích, nhưng như một chuyển động để bước vào: Chúa Cha ban Con Một cho thế gian, để thế gian được dự phần sự sống của Thiên Chúa. Đó là ‘một chuyển động – không phải một công thức’.

Điều đáng chú ý là Gioan không mô tả Thiên Chúa bằng những khái niệm siêu hình, nhưng bằng những động từ: yêu, ban, sai và cứu. Chúng ta biết Thiên Chúa là ai nhờ những gì Ngài thực hiện cho thế gian. Vì thế, Ba Ngôi không được mặc khải như một công thức về Thiên Chúa, nhưng như một lịch sử tình yêu. Đóng khung Thiên Chúa vào công thức là đang thờ lạy một ngẫu tượng thần học. Hans Urs von Balthasar gọi chuyển động ấy là theo-drama – “vở kịch thần linh”, trong đó Chúa Cha trao ban Chúa Con cho thế gian để thế gian được cứu độ.

Điều gây ngạc nhiên nhất không phải là việc Thiên Chúa yêu, nhưng là đối tượng được Ngài yêu. Gioan dùng từ kosmos – “thế gian”. Trong Tin Mừng thứ tư, kosmos còn là thế giới khước từ Thiên Chúa và chống lại ánh sáng. Thế nhưng, chính thế giới ấy lại được yêu thương. Tình yêu đi trước sự hoán cải; ân sủng đi trước mọi công trạng. Yêu một thế giới dễ thương là thoả hiệp; yêu một thế giới tội lỗi mới là cứu độ.

Nhưng chuyển động tình yêu của Ba Ngôi không cưỡng ép ai. Thiên Chúa không sai Con đến để kết án thế gian, nhưng để cứu độ thế gian. Vì thế, phán xét trong Gioan trước hết là một sự tự phán xét. Khi khước từ Đấng được trao ban, con người tự tách mình khỏi sự sống phát xuất từ Chúa Cha. Thiên Chúa không ngừng yêu thương; chính việc khước từ tình yêu ấy mới trở thành phán xét. “Cửa hoả ngục được khoá từ phía trong!” – C. S. Lewis.

Các bài đọc hôm nay cho thấy điều đó. Môsê không gặp một định nghĩa về Thiên Chúa, nhưng gặp một Thiên Chúa “từ bi và nhân hậu”; Phaolô cũng không trình bày một công thức tín lý, nhưng một lời chúc: “ân sủng, tình yêu và hiệp thông”. Và Hội Thánh đáp lại bằng khúc tụng ca của Đaniel: “Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời!”. Trước mầu nhiệm Ba Ngôi, thái độ đầu tiên không phải là giải thích; nhưng là bước vào, ở lại và tôn thờ. Có những thực tại chỉ được hiểu từ bên trong khi người ta tham dự vào đó.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mặc khải Thiên Chúa; Ngài đưa chúng ta vào chính sự sống của Thiên Chúa. Nơi Ngài, chuyển động yêu thương của Chúa Cha trở nên hữu hình. Vì thế, tin không chỉ là đồng ý với một công thức, nhưng là bước vào một tương quan; không chỉ là hiểu một mầu nhiệm, nhưng là sống trong mầu nhiệm ấy. Đức tin không phải là một bài kiểm tra giáo lý; đó là cuộc xuất hành vào tình yêu. Thiên Chúa không cần những khán giả đứng xem, Ngài cần những chứng nhân dám nhập cuộc. Đó là ‘một chuyển động – không phải một công thức’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Ba Ngôi, xin kéo con vào ‘vở kịch thần linh’ của tình yêu Chúa, để con biết yêu thương, trao ban như Chúa đã không ngừng trao ban cho thế gian!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI, NĂM A

Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 3,16-18

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.”