Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường – Cha Vương

Xin Chúa chúc lành và gìn giữ hồn xác bạn khỏi các dịp tội hôm nay. Đừng quên cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 06/03/2026. (n10-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su bảo họ: “Kinh Thánh có câu: ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của CHÚA, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’” (Mt 21:42b)

SUY NIỆM: Cái nhìn của Chúa khác với cái nhìn của loài người. Khả năng của Chúa cũng tuyệt vời hơn khả năng của loài người. Viên đá mà những người thợ xây—tức là loài người, là bạn, là mình, coi là đồ bỏ đi, thì Thiên Chúa có thể biến thành tảng đá góc tường. Bạn hãy nhìn xem viên đá Phêrô đã ba lần chối Chúa, viên đá Phaolô trên đường Đa-mát, viên đá Augustinô,… Chúa đã biến đổi họ thế nào? Nhiều anh chị em khác và ngay cả chính bạn cũng có thể là những viên đá như thế…, vậy bạn hãy khoan dung và hãy hết lòng trông cậy vào sức mạnh của lòng Thương Xót và Tình Yêu Thiên Chúa nhé

LẮNG NGHE: Con ẩn náu bên Ngài, lạy CHÚA, / xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. / Lưới kẻ thù giăng, xin gỡ con ra khỏi, / vì nơi con trú ẩn, chính là Ngài. (Tv 31:2.5)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa đầy lòng khoan dung và tha thứ, việc Chúa làm thật kỳ diệu trước mắt con, xin cho con có được cái nhìn của Chúa để con nhận ra Chúa đang hiện diện nơi những người con gặp hôm nay mà đối xử với họ như Chúa vậy. Cho dù cuộc sống hiện tại của họ đang ở trong tình trạng như thế nào, xin giúp con biết đối xử với họ với lòng khoan dung và tha thứ.

THỰC HÀNH: Tha thứ (forgive) thì dễ, quên đi (forget) mới khó, và càng khó hơn khi bạn tha thứ và quên đi cùng một lúc. Hôm nay mời bạn hãy là một việc thật khó nhé. Chúc bạn thành công nhờ ơn Chúa trợ giúp.

From: Do Dzung

***********************

THA THỨ – TRIỆU NGỌC YẾN – SÁNG TÁC PHONG TRẦN

HỌC MỪNG VUI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà”.

“Nó phải trở về nơi nó thuộc về – dù nó đen đủi hơn một thằng quỷ!”. Đó là những gì kiệt tác “Người Cha nhân hậu” của Mitch Irion mô tả! Cha nó vui mừng vì nó đã tìm được nơi nó thuộc về; ở đó, nó mất hút! Vạt áo đỏ như máu – tượng trưng tình yêu – của ông đã lấp kín nó! “Hãy học mừng vui như Thiên Chúa vui mừng!” – Spurgeon.

Kính thưa Anh Chị em,

Đó là điều Tin Mừng hôm nay lưu ý. Người anh nổi giận và không chịu vào nhà. Có công bằng không? Câu trả lời đúng sẽ là: đây là một câu hỏi sai! Vì lẽ, anh phải ‘học mừng vui’ như cha anh vui mừng.

Thật ra, điều khiến người anh không vào nhà không phải là sự bất công, nhưng là niềm vui của cha. Anh không chịu nổi cảnh người cha ôm đứa em rách rưới, khoác áo mới, mở tiệc cho nó. Niềm vui ấy vượt khỏi tưởng tượng của anh; vì thế, anh đứng ngoài. Tin Mừng đặt trước chúng ta một lời mời gọi rất khó: ‘học mừng vui’ với một Thiên Chúa vui! “Niềm vui không tự nhiên xảy đến; chúng ta phải chọn niềm vui và tiếp tục chọn nó mỗi ngày!” – Henri Nouwen.

Đôi khi, điều khó nhất đối với chúng ta không phải là tha thứ, nhưng là vui khi người khác được tha, được ban, được yêu. Tha thứ có thể là một quyết định; nhưng mừng vui với người được tha lại là một “sự hoán cải của trái tim”. Niềm vui của người cha dành cho đứa con tàn đời chính là điều người anh cần học. Anh cần hiểu, bất kể cậu em đã làm gì: đòi chia gia tài – khác nào mong cha chết – hay sống phóng đãng ở phương xa, thì nơi cuối cùng nó tìm thấy vẫn là nhà Cha. Người cha không vui vì tội lỗi của nó, nhưng vui vì nó đã trở về nơi nó thuộc về.

Đứa em cần lòng thương xót của cha để dám trở về; nhưng nó cũng cần một người anh sẵn sàng mở lòng với nó. Bằng không, ngôi nhà vẫn lạnh. Vì thế, câu chuyện kết thúc khi người cha bước ra với người anh. Ông không chỉ đi tìm đứa con lạc; ông còn đi tìm đứa con ở lại nhưng lòng đã lạc. “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!” – Thánh Vịnh đáp ca – “Sẽ lại thương xót chúng ta; tội lỗi chúng ta, Người chà đạp dưới chân. Mọi lỗi lầm chúng ta, Người ném xuống đáy biển!” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Điều người cha làm trong dụ ngôn chính là điều Đức Kitô thực hiện trong đời mình. Ngài đi tìm những kẻ lạc mất, đồng bàn với tội nhân, và khiến nhiều người khó chịu. Nhưng hành trình ấy không dừng ở những bước đường rao giảng; nó dẫn Ngài tới thập giá. Ở đó, Ngài không chỉ kể dụ ngôn về lòng thương xót, nhưng trả giá cho nó. Từ thập giá, Ngài mở ra bữa tiệc lớn nhất: bữa tiệc của những tội nhân được trở về. Trước bữa tiệc ấy, mỗi chúng ta được mời gọi bước vào và ‘học mừng vui’ với niềm vui của Thiên Chúa. “Yêu một người là nhìn thấy nơi họ con người mà Thiên Chúa muốn họ trở thành!” – François Mauriac.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ủ dột khi thấy anh chị em con may mắn hơn mình; dạy con biết vui với người vui, khóc với người khóc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần II Mùa Chay

Em con đây đã chết mà nay sống lại.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 15,1-3.11-32

1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau : “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này :

11 “Một người kia có hai con trai. 12 Người con thứ nói với cha rằng : ‘Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.’ Và người cha đã chia của cải cho hai con. 13 Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

14 “Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, 15 nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng ; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. 16 Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. 17 Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ : ‘Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói ! 18 Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người : ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, 19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.’ 20 Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.

“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. 21 Bấy giờ người con nói rằng : ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa …’ 22 Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : ‘Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, 23 rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! 24 Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.’ Và họ bắt đầu ăn mừng.

25 “Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, 26 liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. 27 Người ấy trả lời : ‘Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.’ 28 Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. 29 Cậu trả lời cha : ‘Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. 30 Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng !’

31 “Nhưng người cha nói với anh ta : ‘Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. 32 Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.’”


 

KHÁT VỌNG CỦA CON NGƯỜI – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

(Suy niệm Tin mừng Gioan (4, 5-42) Chúa nhật III Mùa Chay)

Không gì trên đời lấp đầy khát vọng của con người .

Con người có nhiều khao khát: khát tiền, khát quyền lực, khát danh vọng, khát hạnh phúc, khát lạc thú…

Nhưng không gì trên đời có thể lấp đầy những khát vọng đó. 

Chưa có tiền thì khao khát có được ít tiền. Có tiền rồi thì muốn có nhiều hơn và cứ thế mãi không dừng.

Chưa có quyền thì khao khát cho có, có rồi thì khát được nhiều quyền hơn… không bao giờ no thoả.

Vì thế, ông Arthur Schopenhauer (1788-1860), một triết gia người Đức cho rằng: “Những lạc thú (như ma túy, thuốc lá, rượu bia… chẳng hạn) mà thế gian cống hiến cho con người cũng chỉ như nắm cơm nhỏ bé bố thí cho người hành khất, chỉ làm dịu cơn đói lúc này, rồi lát sau lại đói.”  

Cha Anthony de Mello cũng nhận định tương tự: “Việc thoả mãn dục vọng (như ham muốn xác thịt chẳng hạn) không giải thoát chúng ta khỏi dục vọng, nhưng tạo thêm một dục vọng khác còn mãnh liệt hơn để rồi cái vòng lẩn quẩn: khát khao – thoả mãn, thoả mãn – khát khao…  cứ tiếp diễn mãi không cùng”, càng về sau lại càng tăng “đô” hơn. Và cứ thế, người ta phải chịu dày vò, thiêu đốt vì ngọn lửa khao khát trong lòng mình. 

Người phụ nữ xứ Sa-ma-ri trong Tin mừng hôm nay (Ga 4, 5-42) cũng đã từng trải qua cơn khát tương tự. Chị đã mưu tìm hạnh phúc qua năm đời chồng rồi nhưng lại phải lần lượt chia tay với cả năm, để mưu tìm hạnh phúc với người thứ sáu. Rốt cuộc chẳng ai trong họ có thể đem lại cho chị hạnh phúc thực sự trong cuộc đời. Chị đi tìm hạnh phúc cũng y như đi lấy nước. Ngày nào cũng phải lặn lội tìm đến giếng nước xa, múc cho đầy vò rồi ngày hôm sau lại khát và tiếp tục đội vò đi tiếp…

Chính vì thế nên Chúa Giê-su khẳng định với người phụ nữ Sa-ma-ri: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại.” Với những lời này, Chúa Giê-su muốn cho ta biết không gì trên đời có thể đáp ứng khát vọng của con người.

 Chỉ có Thiên Chúa mới lấp đầy khát vọng con người  

Xưa kia, tâm hồn của Augustinô cũng bị giày vò bởi nhiều khao khát, nhưng không gì trên thế gian có thể lấp đầy con tim khao khát của ngài. Mãi đến tuổi 33, nhờ ơn soi sáng của Thiên Chúa và lời nguyện cầu liên lỉ của người mẹ thánh thiện là Mô-ni-ca, Augustinô mới khám phá Thiên Chúa là Nguồn Suối hạnh phúc vô tận, đáp ứng khát vọng của ngài và làm cho tâm hồn ngài dạt dào niềm vui. Bấy giờ lòng đầy hoan lạc, Augustinô thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế hồn con mãi thổn thức khôn nguôi, cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”

Chỉ trong Thiên Chúa, khát vọng của Augustinô mới được lấp đầy. Quả đúng như Lời Chúa Giê-su nói: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại, còn ai uống nước Tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Gioan 4, 13-14) 

Lạy Chúa Giê-su,

Không có gì trên đời có thể lấp đầy khát vọng của con người. Vì thế, xin cho chúng con đừng mải mê, đua tranh tìm kiếm lạc thú và hạnh phúc chóng qua đời này, nhưng biết không ngừng tìm kiếm và khám phá Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực mang lại hoan lạc và sự sống vĩnh cửu cho chúng con.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

************************************* 

Tin mừng Gioan 4, 5-14

Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se.6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống! “8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao? ” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri.10 Đức Giê-su trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: “Cho tôi chút nước uống”, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.”11 Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”13 Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”


 

NGUỒN SUỐI TRƯỜNG SINH – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 Nước là sự sống.  Đó là lời quảng cáo rất ấn tượng của một hãng sản xuất nước uống đóng chai.  Quả thực, con người không thể tồn tại nếu không có nước.  Nếu cuộc sống thân xác rất cần đến nước, thì đời sống tâm hồn cũng rất cần đến nước trường sinh.  Đức Ki-tô là Đấng ban cho con người thứ nước này.  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, nước trường sinh là sự sống thiêng liêng mà Thiên Chúa ban, giúp con người được sống đời đời.  Khi khẳng định điều này, đức tin Ki-tô giáo không giới thiệu một thứ bùa ngải mê tín dị đoan nhằm mục đích ma mị con người, nhưng dựa trên chính lời khẳng định của Chúa Giê-su: “Thầy là Đường, Sự Thật, và là Sự Sống.”  Khái niệm “nước” ở đây không chỉ là một khái niệm trừu tượng, nhưng là một lời mời gọi cá nhân rất gần gũi.

 Bài đọc I và bài Tin Mừng đều nói về nước.  Nước từ tảng đá trong hành trình sa mạc về đất hứa, và nước do chính Chúa Giê-su giới thiệu.  Người đã khởi đi từ nước vật chất, tức là nước giếng Gia-cóp, để nói về thứ nước thiêng liêng, tức là ân sủng mà người tin Chúa sẽ được lĩnh nhận dồi dào.

 Thánh Gio-an là tác giả duy nhất thuật lại việc Chúa Giê-su gặp gỡ và nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri-a.  Khi chủ động bắt chuyện với người phụ nữ này, Chúa Giê-su đã phá vỡ những rào cản truyền thống ngăn cách hai sắc tộc, là Do Thái và Sa-ma-ri-a.  Hai dân tộc này mang mối hận thù truyền kiếp từ nhiều thế kỷ.  Qua câu chuyện này, Chúa muốn nói với chúng ta: tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, và nơi thâm sâu của họ đều có những điều tốt lành.  Người phụ nữ Sa-ma-ri-a từ ngỡ ngàng ban đầu, đã tôn nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, và cuối cùng bà đã trở nên một môn đệ truyền giáo.  Cách trình bày của Tin Mừng đưa chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, để rồi sau cùng, người phụ nữ đó quên luôn việc múc nước, bỏ vò lại đó, chạy vào làng nói với mọi người về Chúa Giê-su.  Người phụ nữ và dân thành Sa-ma-ri-a thực sự đã kín múc được nước trường sinh.

 Cũng trong tin Mừng thánh Gio-an (Ga 7,37-39), “nước hằng sống” được giải thích là Chúa Thánh Thần – Đấng ban sự sống, đổi mới và thánh hóa con người.  Thánh Thần làm cho tâm hồn “khô cạn” được sống lại, và những rạn nứt được hàn gắn.  Cũng như nước làm cho đất đai màu mỡ, và cây cối sinh hoa kết trái, Chúa Thánh Thần sẽ đem lại cho con người niềm vui và từ đó họ nhiệt tâm làm việc lành.

 Người phụ nữ Sa-ma-ri-a đã được hướng dẫn khởi đi từ nước vật lý để tiến dần tới nước thiêng liêng.  Bà đã được Chúa Giê-su chinh phục.  Phần cuối trình thuật, người phụ nữ quên luôn mục đích của mình là đi kín nước giếng.  Chị bỏ vò lại đó, chạy vào thành giới thiệu Chúa Giê-su cho mọi người cùng sắc tộc.  Người phụ nữ này đã được đón nhận nước trường sinh Chúa Giê-su ban tặng.  Chị không còn khát nữa, như lời Chúa nói trước đó: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

 Qua Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, để đón nhận sự sống mới Người ban cho chúng ta.  Được như thế, chúng ta sẽ cảm nhận niềm vui thiêng liêng và sự bình an nội tâm, và từ con người của mỗi Ki-tô hữu, sẽ tỏa lan hương thơm nhân đức đến môi trường xung quanh.  Thánh Phao-lô diễn tả điều này trong Bài đọc II: “Một khi được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.”  Vị tông đồ dân ngoại hướng chúng ta đến sự trông cậy và niềm hy vọng nơi quyền năng của Thiên Chúa.  Ngài luôn yêu thương chúng ta, và bằng chứng của tình yêu ấy là việc sai Con Một đến với chúng ta, và ban Thánh Thần để tiếp tục hướng dẫn chúng ta trong mọi hành động.

 Trong khi người Do Thái khinh miệt và tách biệt với người Sa-ma-ri-a, Chúa Giê-su lại khẳng định: họ cũng là những mảnh đất tốt để Lời Chúa gieo vào.  Trình thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ đã nói lên điều đó.

 Ki-tô hữu là người được nước trường sinh thanh tẩy trong nghi thức gia nhập Đạo, tức là Bí tích Thanh tẩy.  Bí tích Thanh tẩy là nơi hình ảnh “nước trường sinh” trở nên rõ ràng nhất, vì nước là dấu chỉ của sự chết và sự sống.  Khi được dìm vào nước hoặc được đổ nước trên đầu, người lãnh bí tích chết đi cho con người cũ và sống lại trong Đức Ki-tô.  Đây là sự tái sinh thiêng liêng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Phải sinh ra bởi nước và Thánh Thần.”

 Mùa Chay giúp chúng ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, như dòng nước trường sinh tưới mát tâm hồn.  Mùa Chay cũng nhắc chúng ta thay đổi quan niệm về tha nhân.  Thông thường, chúng ta hay nhận định người khác theo cái nhìn chủ quan của mình, mà ý kiến chủ quan thì hay lầm lạc vì bị chi phối bởi nhiều điều kiện khác nhau.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

MỘT PHẦN ĐỊNH MỆNH-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”.

“Không có sứ giả nào, cũng không có thông điệp nào có thể thay thế được người nghèo mà chúng ta gặp trên hành trình cuộc đời, bởi trong họ – những “Nhà Tạm di động” của Ngài – chính Chúa Giêsu đến gặp chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy tha nhân là những “Nhà Tạm di động” của Chúa Kitô. Họ không phải là ‘một phần cảnh quan’ của cuộc sống chúng ta, nhưng là ‘một phần định mệnh’ của bạn và tôi!

Giêrêmia nhắc một sự thật không dễ nghe: “Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”. Đời sống không trôi qua vô nghĩa; từng chọn lựa, từng cái quay lưng, từng sự dửng dưng đều có trọng lượng vĩnh cửu. Như vậy, ai sống bác ái yêu thương, người ấy làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng họ nương thân, “Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca. Nhưng tin tưởng nơi Chúa không chỉ là hướng mắt lên trời; đó còn là cúi xuống trước những người đang đói, đang khát, đang nằm bên hè nhà; không chỉ đói cơm, nhưng còn đói cả “bánh Giêsu” và Tin Mừng của Ngài. “Không ai lên thiên đàng mà không có một lá thư giới thiệu từ những người nghèo!” – John Wooden.

Trái với những ai nương thân nơi Chúa, Tin Mừng thuật chuyện một phú hộ ẩn nương nơi của cải. Ông không bóc lột, không hành hạ ai; ông chỉ sống đời mình, mặc đẹp, ăn ngon, hưởng thụ. Trước cổng nhà ông, Lazarô nằm đó – không phải xa lạ, nhưng rất cụ thể. Thế mà với ông, Lazarô chỉ như một chậu cảnh, một bóng dáng quen thuộc không cần bận tâm. Ông không ghét Lazarô; ông chỉ không coi anh là điều gì liên quan đến mình. Và chính ở đó, ông đã chạm đến bi kịch: loại khỏi đời mình ‘một phần định mệnh!’.

Tội của người phú hộ là không coi Lazarô như một con người; với ông, Lazarô chỉ là một phần cảnh quan trang trí sân vườn. Một người mù đã từng nói, “Tôi thấy người ta đi đi lại lại như cây cối!”. Đúng thế, nhà phú hộ xem ra chỉ thấy Lazarô ‘ngang mức cây cối!’. “Sự dửng dưng hạ thấp con người thành sự vật!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Chúa Kitô không đứng trên cao nhìn nhân loại như một “cảnh quan” tội lỗi. Ngài không cứu chúng ta từ khoảng cách an toàn, nhưng đi xuống tận cùng phận người, chạm đến những Lazarô của lịch sử và cuối cùng trở thành một Lazarô bị loại trừ bên ngoài thành. Trên thập giá, Ngài lật ngược mọi tính toán: ai cúi xuống với người nghèo là đang cúi xuống với Ngài; ai khép lòng trước họ là khép lòng trước chính Con Thiên Chúa. Vì thế, người nghèo không phải là một chi tiết phụ của cuộc đời chúng ta; họ là ‘một phần định mệnh’, nơi vận mệnh của chúng ta được quyết định. Bởi nơi họ, Chúa Kitô chờ được nhận ra – và nơi họ, định mệnh đời bạn và tôi được viết nên. “Người nghèo không phải là một vấn đề cần giải quyết, nhưng là một mầu nhiệm cần bước vào!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con biết, con luôn nợ người nghèo, họ là ‘một phần định mệnh’ của con. Cho con biết chia sẻ khi còn kịp, vì con sẽ chỉ mang theo những gì con đã cho đi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần II Mùa Chay

Con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 16,19-31

19 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Pha-ri-sêu dụ ngôn sau đây : “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. 20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, 21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. 22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

23 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ. 24 Bấy giờ ông ta kêu lên : ‘Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát ; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm !’ 25 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Con ơi, hãy nhớ lại : suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. 26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.’

27 “Ông nhà giàu nói : ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con, 28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này !’ 29 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.’ 30 Ông nhà giàu nói : ‘Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.’ 31 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’”


 

TÌM MỘT LỐI VÀO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp!”.

Thế kỷ XVII, Oliver Cromwell kết án tử một người lính. Giờ hành quyết sẽ đến khi chuông giới nghiêm đổ. Nhưng đêm ấy, chuông không đổ. Vị hôn thê của anh đã leo lên tháp, ôm lấy quả chuông, để thân mình hứng từng nhịp va. Khi bị đưa xuống, cô chìa hai bàn tay rách bươm đầy máu. Cromwell lặng người: “Chuông không đổ, máu cũng không!”. Tình yêu đã tìm được một lối vào trái tim thép lạnh.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến một lối đi – và một tình yêu không rút lui. Lối đó mang tên khổ đau. Trên đó, Giêrêmia của Cựu Ước sẽ tìm một lối ra; đang khi Giêsu của Tân Ước sẽ ‘tìm một lối vào’.

Giêrêmia bị dân mình tố cáo, họ đào hố hãm hại ông. Giữa những người từng là bạn hữu, ông kêu lên. “Lạy Đức Chúa, chúng đào hố nhằm làm con mất mạng!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca đồng tình, “Lạy Chúa, xin lấy tình thương mà cứu độ con!”. Trước cái chết gần kề, vị ngôn sứ dường như đang tìm một lối ra; ông van nài Chúa cất khỏi ông những gì là đau khổ. “Đau khổ thôi là đau khổ khi nó tìm được ý nghĩa!” – Viktor E. Frankl.

Chúa Giêsu thì ngược lại, Ngài cương quyết lên Giêrusalem; ở đó, thập giá đang đợi. Vậy mà dù đang đi lên với Thầy, các môn đệ xem ra chỉ muốn đi xuống! Bằng chứng là cuộc đối thoại không đáng có của “môn đệ mười ba” – bà Zêbêđê – và điều này đã khiến “mười môn đệ kia tức tối”. Xót xa thay! Đang khi Thầy ngưỡng chuyện trên trời, trò lại vọng chuyện dưới đất; đang khi Thầy lo chuyện bị nộp, trò tính chuyện trị vì; đang khi Thầy tìm vui lòng Cha, trò muốn thoả dạ mẹ. Rõ ràng, Thầy trò lệch pha! Thầy ‘tìm một lối vào’, trò ‘tìm một lối ra!’. “Thiên đàng trên đất là một lựa chọn bạn phải thực hiện, chứ không phải một nơi bạn cần tìm!” – Wayne Dyer.

Chúng ta cũng có những Giêrusalem của mình: hiểu lầm không thể nói, bổn phận nặng đến nghẹt thở, hy sinh không ai biết. Vì thế, chúng ta chỉ muốn tìm một lối ra cho khỏi đau. Nhưng Tin Mừng không cho trốn: đừng thoát khỏi thập giá, hãy bước vào nó với niềm tin; đừng giữ mình yên ổn, hãy để tình yêu làm mình vỡ tan; đừng sợ mất, hãy dám trao ban! Và khi dám ‘tìm một lối vào’ giữa bổn phận và tha thứ, bạn và tôi chạm đến trái tim Thiên Chúa.

Anh Chị em,

“Này chúng ta lên Giêrusalem!”. Tình yêu của vị hôn thê với đôi tay đầy máu đã được đền đáp bằng mạng sống của người cô yêu. Tình yêu của Con Thiên Chúa với đôi tay, đôi chân và thân xác đầy máu cũng được đền đáp bằng phần rỗi đời đời của cả nhân loại! Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta sẽ vượt qua bất kỳ thập giá nào. Thay vì ‘tìm một lối ra’, chúng ta ‘tìm một lối vào’; tháp thánh giá đời mình vào thánh giá đời Ngài. Và nhất định nó cũng sẽ trở thành công cụ ân sủng cho bạn, cho tôi, cho cả thế giới! “Tình yêu muốn là thật phải trả giá – phải đau – phải làm chúng ta trút bỏ chính mình!” – Mẹ Têrêxa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tìm những lối thoát khi đối diện với khổ đau. Dạy con ôm và yêu nó không chỉ để cứu linh hồn con, mà còn cứu cả thế giới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần II Mùa Chay

Họ sẽ kết án xử tử Đức Giê-su.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 20,17-28

17 Khi ấy, lúc sắp lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đưa Nhóm Mười Hai đi riêng với mình, và dọc đường Người nói với các ông : 18 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, 19 sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy.”

20 Bấy giờ bà mẹ của các con ông Dê-bê-đê đến gặp Đức Giê-su, có các con bà đi theo ; bà bái lạy và kêu xin Người một điều. 21 Người hỏi bà : “Bà muốn gì ?” Bà thưa : “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy.” 22 Đức Giê-su bảo : “Các người không biết các người xin gì ! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không ?” Họ đáp : “Thưa uống nổi.” 23 Đức Giê-su bảo : “Chén của Thầy, các người sẽ uống ; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được.”

24 Nghe vậy, mười môn đệ kia tức tối với hai anh em đó. 25 Nhưng Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 26 Giữa anh em thì không được như vậy : Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. 27 Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. 28 Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”


 

GIẤC MƠ GHẾ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường!”.

“Khiêm nhường không chỉ là cúi mắt bước đi… mà là khiêm nhường của Chúa Giêsu kết thúc trên thập giá; đây là quy tắc vàng cho mọi Kitô hữu: kiên trì và hạ mình!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nhắc lại quy tắc vàng: kiên trì và hạ mình. Những ai thích danh xưng, quên phục vụ đúng nghĩa… cuối cùng, sẽ thấy mình mơ giữa ban ngày những ‘giấc mơ ghế’.

Chúng ta thường mất ngủ chạy theo những lễ nghi, hết sức cho những gì người ta có thể nhìn thấy, tự hào về sự chăm chỉ, nhiệt thành, mà quên nhìn vào trái tim mình. Trong giáo phận, trong nhóm, trong gia đình hay cộng đoàn, ai cũng muốn được khen, muốn “ghế cao”, coi chức tước, danh xưng như là thước đo giá trị. Chúng ta có thể giảng dạy, cầu nguyện lớn tiếng, làm mọi điều đúng, nhưng lòng vẫn đau đáu tìm một cái gì đó hơi hướm thế tục; nói rõ ra, tìm kiếm việc được nhìn nhận trong mắt mọi người và nhất là kẻ trên. Chính trong cuộc đua tội nghiệp đó, chúng ta mất tự do, sĩ diện; và từ đó, ‘giấc mơ ghế’ nảy mầm.

Mùa Chay, mùa “rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác”; mùa “tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình” – bài đọc một. Vì nếu chúng ta chỉ chăm chú hình thức, tất cả chỉ là rỗng không. Bởi lẽ, chỉ “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn  cứu độ Chúa Trời” – Thánh Vịnh đáp ca – không phải hoàn hảo nghi thức, mà hoàn hảo trong lòng; nói cách khác, hạ mình tôn trọng Chúa Kitô trong các “nhà tạm di động” của Ngài thật sự. “Không có khiêm nhường, không thể có nhân bản!” – John Buchan.

Chúng ta có thể thức trắng vì mục vụ, nhưng cũng có thể mất ngủ vì ghế. Trái tim bận tìm chỗ nhất không bao giờ tìm thấy bình an, trong khi trái tim biết hạ mình lại sống dồi dào. Chúa Giêsu mời chúng ta rửa chân cho nhau, trao đời sống, chọn chỗ cuối, vác thập giá, bước theo con đường Ngài đã đi – không mơ ghế, không tìm chỗ đứng, chỉ giữ tình yêu và sự hiệp nhất. Chỉ trong cầu nguyện, chúng ta mới thấy tất cả danh dự, ghế cao, lời khen… là gió thoảng; và chỉ khi trái tim biết quỳ gối chúng ta mới nhận ra cái gì là giá trị thực. Khi những giấc mơ ghế nhoà đi, chúng ta mới thấy Chúa và được Chúa nhìn thấy; bấy giờ, ân sủng Ngài mới bắt đầu hành động.

Anh Chị em,

Nhìn lên thập giá, chúng ta thấy Đức Giêsu, Đấng không giữ ghế, không tìm danh xưng, nhưng từ bỏ hết vì chúng ta. Ngài trao tình yêu không điều kiện, chịu đóng đinh thay nhân loại, hầu chuộc lại chúng ta là những bạn hữu của Ngài. Vậy, nếu đã đi quá xa, bạn và tôi hãy quay trở lại, học nên giống Ngài, để nhận ra rằng quyền lực lớn nhất không phải ở vị trí cao, mà ở trái tim biết cúi xuống. “Khiêm nhường nghĩa là nhận ra chúng ta không ở thế gian này để biết mình có thể trở nên quan trọng đến mức nào, mà để thấy mình có thể tạo ra khác biệt đến mức nào trong đời người khác!” – Gordon B. Hinckley.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con từ bỏ mọi khao khát được nhìn nhận, để trái tim con chỉ tìm thấy niềm vui trong phục vụ và hạ mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần II Mùa Chay

Họ nói mà không làm.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 23,1-12

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng : 2 “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. 3 Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm. 4 Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. 5 Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. 6 Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, 7 thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là thầy.

8 “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy ; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. 9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. 10 Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người chỉ đạo, vì anh em chỉ có một vị chỉ đạo, là Đấng Ki-tô. 11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. 12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.”


 

CAO HƠN QUYỀN TRƯỢNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ!”.

“Lòng thương xót cao hơn quyền trượng của một vị vua, nó là thuộc tính của Thiên Chúa!” – William Shakespeare.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt lòng thương xót trên mọi quyền lực. Thiên Chúa không cai trị bằng quyền trượng, nhưng bằng xót thương. Chính xót thương mới thật sự ‘cao hơn quyền trượng’.

Nếu lòng thương xót cao hơn quyền trượng, thì đó không chỉ là một nét đẹp của Thiên Chúa, mà là cách Ngài hiện hữu. Quyền trượng tạo ra khoảng cách; lòng thương xót bước xuống, chạm vào, mang lấy. Quyền trượng khiến người ta cúi đầu; lòng thương xót khiến người ta ngẩng lên. Chúa Giêsu không dạy chúng ta một chiến lược cai trị, nhưng trao cho chúng ta một lối sống: “Hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ!”. “Kitô giáo không phải là một học thuyết hay suy đoán, nhưng là một đời sống; không phải một triết lý sống, nhưng là chính sự sống và một tiến trình sống động!” – Samuel Taylor Coleridge.

Nhưng nhân từ không phải là yếu mềm. Nhân từ đòi chúng ta từ bỏ quyền trả đũa, buông xuống thứ “công lý” đầy tự ái mà chúng ta thường nắm chặt. Đã bao lần chúng ta giữ trong lòng một bản cáo trạng âm thầm, nhắc đi nhắc lại lỗi lầm của người khác như thể đó là cách bảo vệ mình? Bao lần chúng ta tự phong cho mình chiếc quyền trượng của kẻ bị tổn thương? Thế nhưng, Tin Mừng không mời chúng ta mạnh hơn người khác; Tin Mừng mời chúng ta giống Cha trên trời. Và điều ấy luôn ‘cao hơn quyền trượng’.

Đaniel không đứng ngoài dân để phán xét; ông đứng trong dân để cầu xin – bài đọc một. Ông không nói “họ đã phạm tội”, nhưng “chúng con đã phạm tội”. Một lời cầu mang tính quốc gia, nhưng thấm đẫm cá nhân. Ông đặt cược vào lòng thương xót của Thiên Chúa hơn là vào sự công chính của mình. Chính ở đó, sự xấu hổ được mở ra thành hy vọng. “Nơi nào không có tình yêu, hãy đặt vào đó tình yêu, và bạn sẽ khơi dậy được tình yêu!” – Gioan Thánh Giá. Thánh Vịnh đáp ca thưa lên: “Chúa không cứ tội chúng con mà xét xử”. Nếu Thiên Chúa đã đối xử với chúng ta như thế, thì còn lý do gì để chúng ta tiếp tục giữ quyền trượng?

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô không nắm quyền trượng, nhưng dang tay; không tuyên án, nhưng xin tha: “Lạy Cha, xin tha cho họ”. Trái tim bị đâm thâu của Ngài không giữ lại bất cứ bản án nào; nó chỉ tuôn trào cảm thương. Ở đó, chúng ta hiểu rằng lòng thương xót không phủ nhận công lý; nó hoàn tất công lý bằng tình yêu. Theo Ngài, chúng ta không được hứa sẽ chiến thắng theo cách thế gian hiểu, nhưng được hứa sẽ nên giống Cha. Và khi dám buông xuống chiếc quyền trượng bé nhỏ của mình để nắm lấy trái tim biết xót thương, chúng ta không lạc nhịp với trái tim của Thiên Chúa. “Quyền lực mà một người lãnh đạo Kitô hữu sử dụng không phải là quyền uy, nhưng là tình yêu; không phải sức mạnh, nhưng là gương mẫu!” – John Stott.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin lấy khỏi con chiếc quyền trượng tự ái; đặt vào con một trái tim biết xót thương; cho con biết yêu như Chúa yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần II Mùa Chay

Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 6,36-38

36 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. 37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. 38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” 


 

Tám mối Phúc Thật là gì?- Gioan Phùng Văn Phụng

Gioan Phùng Văn Phụng

Tám mối phúc thật còn gọi là Hiến Chương Nước Trời hay Bài Giảng trên núi.

Đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu ở chương 5, từ câu 3 đến câu 12, và đọc các Mối Phúc để hiểu được con đường tươi đẹp biết bao, vui vẻ, an toàn biết bao và cũng hạnh phúc biết bao mà Chúa đã đề nghị cho chúng ta nghe theo và áp dụng vào cuộc sống.

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.(1)

 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.(2)

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

SUY NIỆM:

(Luca chương 6 câu 20 đến 23 cũng nói đến các phúc này).

Đọc các mối phúc thật này nghe rất là nghịch lý, không thuận tai chút nào.

1-Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ.

Tâm hồn nghèo khó là gì? Đó chính là tâm hồn đơn sơ, không kiêu ngạo, không cho rằng giỏi nhất, không ai hơn mình được. Vì có tâm hồn nghèo khó nên biết nương cậy vào Chúa, suy phục Chúa, luôn luôn sống với tâm tình vâng phục, có Chúa ở cùng khi làm mọi việc. Lúc nào cũng có tâm tình tạ ơn Chúa khi còn sống trên cõi đời này. Khi làm việc, dầu thành công hay thất bại vẫn tạ ơn Chúa.

Còn nếu ta đã giàu có, thành công, có địa vị cao, có chức vụ, quyền lực trong xã hội liệu ta còn có nghĩ đến Chúa, nương cậy vào Chúa nữa không?

2- Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Hiền lành là gì? Người ta thường xem sự hiền lành là nhu nhược, không dám phản ứng khi bị đàn áp, gây gỗ, mắng chửi. Thật ra hiền lành chính là nhân đức – kiềm chế sự nóng giận. Không phải ai cũng làm được đâu. Phải thực tập thường xuyên, tự rèn luyện bản thân hàng ngày, dẹp bỏ tự ái, dẹp bỏ cái TÔI đi, tức là dẹp bỏ sự nóng giận. Cậy vào sức của mình ta, ta không làm được. Nhưng cậy dựa vào sức Chúa, chúng ta sẽ làm được. Chúa Giêsu nói: “Hãy bắt chước ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. (2)

3-Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Sầu khổ là gì? Là nhìn thấy và cảm nghiệm, chia xẻ những đau khổ của người khác, cũng như đau khổ của chính mình vì tội lỗi của chính mình. Ngày nay, người ta thường dùng chữ “vô cảm” để nói đến những người vô tâm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân mình. Biết sầu khổ nghĩa là không vô cảm, biết đau cái đau của đồng loại, thương cảm những đau khổ của người khác. Những người sầu khổ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4-Phúc thay ai khao khát nên người công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Khát khao nên người công chính tức là ý thức về điều ngay thẳng, tốt lành. Làm việc với sự công bình, yêu thương, hợp với đạo lý làm người, với lương tâm nhắc nhở. Người công chính không làm vì lợi mình mà hại người.

5-Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Xót thương người là cảm thông với nỗi đau của người khác, biết đau với nỗi đau của người khác… đặt mình vào vai trò, vị trí của người khác, cùng chia xẻ sự khổ nạn với Chúa Kitô, nên một với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Xót thương người khác vì sự đau đớn về vật chất, sự đau khổ về tinh thần, tâm linh của người khác. Cần học hỏi, thực hành lòng xót thương như Thầy chí thánh là Chúa Giêsu là đấng xót thương.

6-Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa

Có tâm hồn trong sạch là không ích kỷ, không tham lam, không tư lợi, hết lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em đồng loại.

7-Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

Xây dựng hoà bình là đem bình an đến cho người chung quanh, hàn gắn các vết thương giữa con người với nhau.

8-Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính vì Nước Trời là của họ.

Bị bách hại, bị người ta sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa vì Chúa, là vui vẻ chấp nhận sự khó khăn, đau khổ… Dầu bị bách hại, bị loại trừ, bị sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa mà không oán hờn, trách móc. Nhờ đó chúng ta có được bình an trong tâm hồn, hạnh phúc trong cuộc sống, đó chính là nước trời hiện diện giữa chúng ta trong đời này rồi phải không?

Chính 8 mối phúc thật này là căn tính của người kitô hữu, đó là cách thức, là con đường người môn đệ của Chúa phải đi.

Tám mối phúc thật hay Hiến Chương Nước Trời, đây là mục đích chính mà người theo Chúa Giêsu kitô cố gắng đạt được để có nước trời (thiên đàng) nơi trần thế này và được hưởng thiên đàng vĩnh cửu mai sau.

Gioan Phùng Văn Phụng

Tháng 02/2022

Xem thêm:

(1)Nước trời là gì vậy Thầy?

https://dongten.net/2020/07/23/nuoc-troi-la-gi-vay-thay/

(2) Hiền lành và khiêm nhường

http://www.vncatholic.net/hien-lanh-va-khiem-nhuong/ 

ĐI TRONG MÙ SƯƠNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi!”.

“Đức tin là bước đầu tiên ngay cả khi bạn không nhìn thấy toàn bộ cầu thang!” – Martin Luther King.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt trước chúng ta hai con người được gọi “rời đi” khi phía trước còn mờ khuất – Ápram và Phêrô. Một già, một trẻ; cả hai phải buông điều mình muốn giữ, rời điều mình bám víu, để dám bước – ‘đi trong mù sương’.

Ápram rời xứ sở, họ hàng, nhà cha; không bản đồ, không bảo đảm, chỉ một lời hứa. Ông không biết mình sẽ tới đâu, chỉ biết Ai đang gọi. Đức tin bắt đầu khi chúng ta bước đi mà không nắm chắc tương lai, chỉ nắm chắc lời hứa – bước vào điều không thấy, sống với điều vượt quá trí hiểu, và chấp nhận ‘đi trong mù sương’. “Kitô hữu của tương lai sẽ là một nhà thần nghiệm, nếu không sẽ không tồn tại!” – Karl Rahner.

Phêrô thì khác. Ông không phải rời xứ sở, nhưng phải rời ánh sáng. Taborê rực rỡ đến mức ông muốn dựng lều, giữ lại khoảnh khắc ấy. Nhưng ánh sáng không được ban để trú ẩn. Nếu dừng lại trên núi, các ông sẽ không bao giờ chấp nhận một vị Thầy bị lột trần, bị khạc nhổ, bị treo giữa trời đất; nếu bám lấy dung nhan chói lọi ấy, các ông sẽ vấp ngã trước dung nhan tả tơi. Điều họ thấy chỉ là một tia chớp của Phục Sinh loé lên giữa hành trình lên Giêrusalem – và biến hình chỉ là một trạm dừng. “Hãy để mọi điều đến với con: đẹp đẽ lẫn kinh hoàng. Chỉ cần tiếp tục đi. Không cảm xúc nào là cuối cùng!” – Rainer Maria Rilke.

Bạn và tôi cũng có những Taborê riêng: một thành công, một cảm xúc thiêng liêng, một lời khen. Nhưng Chúa không ban ánh sáng để ai đó ngủ quên; Ngài trao nó để chúng ta đủ sức bước tiếp; và chỉ cho thoáng thấy dung nhan, để khi dung nhan ấy bị bầm dập, chúng ta không bỏ chạy. Vì thế, dù lời hứa còn xa, dù cầu nguyện có lúc sáng bừng rồi lại lặng thinh, chúng ta vẫn xác tín, Thiên Chúa “đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người”, không dựa trên công trạng nhưng theo ân sủng – bài đọc một. Ơn gọi ấy không miễn cho ai khỏi ‘đi trong mù sương’; nó dạy chúng ta trông cậy: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Trên đồi Calvariô, Đức Kitô đã bước vào tận cùng “mù sương” của phận người. Ngài tự rời bỏ vinh quang, đi lên triền dốc của hiểu lầm, phản bội và thập giá. Trên Taborê, Ngài chói sáng; nhưng lưng chừng đồi Sọ, Ngài tan nát. Nhưng cũng chính nơi dung nhan bị biến dạng ấy, vinh quang Thiên Chúa được tỏ lộ. Ngài không dựng lều trên Taborê để trốn khỏi đau khổ; Ngài dựng lều giữa nhân loại bằng chính thân xác bị trao nộp. Theo Ngài là chấp nhận bước đi, không phải vì thấy rõ mọi sự, nhưng vì tin Đấng đã đi trước vào đêm tối và mở lối bằng Phục Sinh. “Đừng bỏ mình cho tuyệt vọng. Chúng ta là dân Phục Sinh và Alleluia là bài ca của chúng ta!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mù sương phủ lối, cho con tin hơn là thấy; khi muốn dựng lều trên đỉnh sáng, xin kéo con xuống; khi thập giá lạnh lẽo, xin giữ con ở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, NĂM A

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 17,1-9

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”


 

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC –  Lm. Anmai, CSsR

Lm. Anmai, CSsR

 Một vị sư già ngồi bên đường, lặng lẽ trong khoảnh khắc thiền định, đôi mắt nhắm nghiền như đang chìm vào biển sâu của tâm linh, đôi chân khoanh lại, tay đan chéo dưới vạt áo, tưởng như đã quên hết những lo toan của đời thường.  Chính lúc ấy, mạch suy nghĩ của ông bị chột dứt bởi giọng nói khàn khàn, vội vã của một võ sĩ – một người mang trong mình cả vẻ dữ tợn, cả sức mạnh và cả những bão giông nội tâm.  “Thưa sư thầy, sư thầy hãy cho tôi biết, thế nào là thiên đường, thế nào là địa ngục?” – lời nói ấy như bỗng làm rung chuyển không gian tĩnh lặng ấy, đưa cuộc đối thoại giữa ánh sáng và bóng tối ra khỏi giới hạn của sự im lặng. 

Vị sư già, với đôi mắt đã qua bao tháng năm tu hành, không vội phản ứng, chỉ từ từ mở đôi mắt ra, trong đó hiện lên nụ cười mỉm đầy trí tuệ và từ bi.  Võ sĩ đứng bên cạnh, tâm hồn rối bời, như đang bị cuốn vào lửa thiêu đốt của sự nóng giận và bất an.  “Anh muốn biết bí mật của thiên đường và địa ngục ư?” – vị sư già nói, giọng nói trầm ấm mà đầy uy quyền, như muốn đưa người nghe lùi lại vài bước để suy ngẫm về chính bản chất của mình.  “Anh là loại người thô tục, tay chân dính đầy bùn bẩn, đầu tóc rối bời, râu ria bẩn thỉu.  Trên kiếm gỉ sét loang lổ, nhìn đã biết là không giữ gìn đàng hoàng.  Người xấu xí như anh, mẹ anh cho anh ăn mặc như một tên hề, anh lại còn đến hỏi tôi bí mật của thiên đường và địa ngục sao?” 

Lời nói của vị sư như một chiếc gậy trừng phạt, đánh thức ngay trong lòng võ sĩ cảm giác xấu hổ và bừng dậy một niềm tự nhận thức khắc nghiệt.  Chẳng mấy chốc, võ sĩ hằn học chửi một câu, rồi lấy kiếm “soạt” ra, giơ lên trên đầu vị sư già.  Mặt võ sĩ đỏ bừng, gân trên cổ phồng lên, tất cả vẻ ngoài như đang chuẩn bị cho một trận chiến sinh tử.  Khi mà lưỡi kiếm dường như đã vung xuống, đe dọa cắt đứt dòng thời gian, vị sư già nhẹ nhàng nói: “Đây chính là địa ngục.”  Trong chốc lát ấy, khi mũi kiếm dừng giữa không trung, võ sĩ như bỗng ngỡ ngàng, cảm nhận được sự thay đổi kỳ diệu trong tâm hồn mình, như một tia sáng le lói len qua bầu trời âm u. 

Ngay sau đó, vị sư già lại tiếp lời: “Đây chính là thiên đường.”  Lời nói ấy không chỉ đơn thuần là một lời đáp, mà như một chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa của triết lý sống sâu sắc.  Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, võ sĩ cảm nhận được rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những địa danh xa xôi, mà là những trạng thái nội tâm, là sự phản chiếu của suy nghĩ và hành động của mỗi con người.  Mọi ý ác, lời ác, việc ác mà chúng ta để lại, dù nhỏ bé hay lớn lao, đều có thể biến tâm hồn ta trở nên u ám, như lạc vào vực sâu của địa ngục.  Ngược lại, mọi hành động thiện lành, lời nói chan chứa yêu thương, mọi việc làm cao đẹp đều là những viên gạch xây nên thiên đường nội tâm, không chỉ cho chính bản thân ta mà còn cho cả những ai mà ta chạm tới.

 Câu chuyện ấy mang đến cho chúng ta một thông điệp nhân văn sâu sắc: thiên đường và địa ngục tồn tại ngay trong trái tim mỗi con người.  Nếu ta để cho cái ác, cho những cám dỗ phù phiếm len lỏi, thì địa ngục sẽ tự mở rộng bên trong ta, biến những suy nghĩ tiêu cực thành rào cản ngăn cách ta với tình yêu thương chân thành.  Ngược lại, nếu mỗi người biết tự chủ, biết nhận thức và lựa chọn sống theo những giá trị đích thực, thì dù cuộc sống có bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cám dỗ ảo mộng, thì trong mỗi chúng ta vẫn có thể tạo dựng nên một thiên đường nhỏ, một vũ trụ của sự bình an, của lòng từ bi và của niềm tin vững chắc vào cái thiện. 

Có lẽ, đối thoại với thiên đường và địa ngục không phải là một cuộc chiến đối đầu giữa thiện và ác ở bên ngoài, mà là một hành trình tự khám phá và tự rèn luyện bản thân.  Đó là quá trình con người nhận thức, đánh giá và lựa chọn giữa những gì làm phong phú tâm hồn và những gì lại đẩy ta vào vực thẳm của sự tự hủy.  Khi chúng ta học cách nhận ra, phân biệt được giữa tiếng gọi của cám dỗ và ánh sáng của đức tin, chúng ta chính là dần dần mở ra cánh cửa cho một cuộc sống trọn vẹn hơn, một cuộc sống nơi mỗi suy nghĩ, mỗi hành động đều được thẩm định bởi một trái tim biết yêu thương và biết tha thứ. 

Những câu nói của vị sư già đã khắc sâu vào tâm trí người võ sĩ rằng, chỉ có khi nào ta biết từ chối những thứ không tốt, biết giữ gìn nội tâm trong sáng, ta mới có thể sống trong ánh sáng của một thiên đường.  Và thật kỳ diệu biết bao, ngay cả những người vốn dĩ có vẻ ngoài “bẩn thỉu”, dường như cũng có thể tìm thấy con đường dẫn đến sự giải thoát, nếu họ biết lắng nghe tiếng lòng, nếu họ dám đối diện với chính bản thân mình và học cách yêu thương, tha thứ.  Đó chính là bài học nhân sinh sâu sắc, rằng thiên đường hay địa ngục, thiện hay ác, không chỉ là những khái niệm trừu tượng, mà là những lựa chọn sống mỗi ngày, là những hành động nhỏ bé nhưng lại có sức mạnh thay đổi cả cuộc đời. 

Có lẽ, mỗi chúng ta nên tự nhủ rằng, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù có bao nhiêu thử thách, chỉ cần lòng tin và sự kiên định, chúng ta đều có thể biến chính “địa ngục” của những sai lầm và tội lỗi thành “thiên đường” của sự yêu thương, của sự tự do nội tâm.  Câu chuyện của vị sư già và người võ sĩ không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt một triết lý sống, mà còn như một lời nhắc nhở thiêng liêng rằng, mỗi chúng ta đều có trách nhiệm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, nơi mà tiếng nói của lòng nhân ái luôn vang vọng, nơi mà mỗi hành động thiện lành được tôn vinh như một viên ngọc quý hiếm giữa dòng chảy của thời gian. 

Và cuối cùng, chúng ta hãy nhớ rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những nơi chốn xa xôi, mà là những trạng thái tâm hồn – đó là kết quả của những suy nghĩ, của những hành động mà chúng ta lựa chọn mỗi ngày.  Nếu ta biết yêu thương, biết tha thứ và luôn sống chân thành, thì ngay cả trong những khoảnh khắc tối tăm nhất, ta cũng có thể tìm thấy ánh sáng dẫn lối, ta có thể biến chính “địa ngục” của những cám dỗ vào thành “thiên đường” của niềm tin và hạnh phúc. 

Lm. Anmai, CSsR

From: Langthangchieutim