Sống như ngày hôm nay là ngày cuối cùng trong cuộc đời.

Phùng Văn Phụng

 Ngày hôm qua đã qua. Ngày mai chưa tới. Không nên tiếc nuối những ngày đã qua, không thể thay đổi được gì. Ngày mai nào ai biết được sẽ ra sao?

Đến tuổi này rồi, vài tháng nữa đến tuổi 80, sức khỏe dĩ nhiên không còn được như xưa nữa nhưng bù lại được sự bình tĩnh, trầm tĩnh, không còn hơn thua gì nữa, bớt giận hờn, không còn giận hờn lâu dài vì “đời người thì ngắn lắm”. Nếu ngày hôm nay mình chết, mình có còn giận hờn ai nữa không?

*Đến tuổi này rồi mới biết

Sự kiện xảy ra chỉ là một phần rất nhỏ, còn thái độ của chúng ta đối với sự kiện đó mới là quan trọng. 9 phần 10 hậu quả xấu hay tốt là do chúng ta phản ứng ra sao?

Trước những khó khăn, trở ngại trên đường đời, sự kiên nhẫn vô cùng quan trọng. Đức khiêm nhường sẽ giúp đời sống vui hơn, giúp vượt qua những khó khăn, bớt va chạm với người xung quanh.

Con người sống cần có một tấm lòng và lời nói không chưa đủ, còn phải thực hiện lời nói, tấm lòng tốt nữa.

 Tạ ơn Chúa và Đức Mẹ nâng đỡ để có một gia đình bình an, vui tươi. Không có gia đình nào sống không có cãi vã với nhau nhưng biết làm hoà, tha thứ nhau mới là quan trọng.

*Sống như ngày hôm nay là ngày cuối cùng trong cuộc đời.

Tranh đua, bươn chải, hơn thua, kiếm tiền cho thật nhiều, dùng hết khả năng, sức lực nhiều khi quá sức rồi cuối cùng cũng già và chết.

Trong trại cải tạo, đâu ai biết ngày nào, chừng nào được thả ra, được về với gia đình. Không biết mình chịu “mấy cây gậy”. Một cây gậy là ba năm. Tù không án. Sẽ ở tù 5 năm, 10 năm, 20 năm hay chung thân, đâu có biết? Ngày mai ra sao đâu có biết.

Những năm cuối cùng của cuộc đời còn lại điều gì?

Con cháu đoàn tụ, sum họp, yêu thương tìm dịp để gặp nhau, để hỏi thăm nhau, tay bắt, mặt mừng, vậy là quý lắm, hạnh phúc lắm rồi.

Đó là chuyện của gia đình.

*Còn chuyện xã hội thì sao?

Giai thoại thời vua chúa.

+Có một giai thoại, người cận vệ của nhà vua khi đến một quán ăn, nhiều người ngồi trong quán chỉ trích nhà vua, chê bai nhà vua về rất nhiều việc làm của nhà vua. Khi về triều đình người cận vệ này xin nhà vua ra lịnh bắt họ.

Nhà vua nói: “Ta rất cám ơn họ chỉ trích ta. Ngươi không cần bắt bớ họ. Ngươi nghe họ nói về ta như thế nào, về đây trình bày với ta. Nếu họ chỉ trích đúng thì ta sửa chữa, nếu học chỉ trích sai cũng là bài học cho ta. Nếu bắt bớ họ còn ai dám chỉ trích ta để ta thấy sự sai lầm mà sửa chữa.”

+Giai thoại hai:

Thời Việt Nam Công Hoà trước năm 1975 nhiều đảng phái sinh hoạt. Có một lãnh tụ đảng phái nọ kia cứ công kích, chỉ trích lảnh tụ đảng phái kia. Rồi khi vị này mất, người bị công kích có đến đám tang, khóc lớn tiếng, “Anh mất rồi còn ai chỉ trích tôi nữa, để tôi biết những sai lầm của tôi đây?”

Đa thọ, đa nhục

Trong trại cải tạo, K3 Vĩnh Phú, của cộng sản miền Bắc khoảng năm 1979-1980, khi tách vỏ đậu phọng để lấy hột. Vì đói quá anh em tù vừa làm vừa lén bỏ ăn hột đậu phọng. Khi bị “cán bộ” thấy đã chửi thậm tệ, mấy anh là sĩ quan, từng chỉ huy, các anh có bằng đại học, sao không tự trọng còn “ăn cắp” đậu phọng của trại.

Một giáo sư trung học là nghị viên Hội đồng tỉnh, khi đói quá, một người vất xương gà? xuống đất, anh nhanh nhẹn chụp ngay? Thấy nửa điếu thuốc thừa của ai đó vứt bỏ dưới đất, cũng vội vàng lượm liền, sợ người khác lượm mất.

Người ta nói nhịn nhục, khi nhịn là phải chịu nhục mà thôi.

*Đời người thật quá ngắn ngủi.

Chuyến xe đời cứ lặng lẽ trôi đi. Bạn bè tuổi nhỏ hơn, nhiều khi lại xuống ga tàu trước, nhưng rồi trên hành trình chuyến xe đời, cứ bình thường, lặng lẽ di chuyển, mình không xuống bến này thì bến sau mình lại xuống. Ga cuối đường tàu rồi (1), chắc chắn là mình sẽ xuống thôi.

Tuổi tám mươi còn tính toán gì nữa, còn mong muốn gì nữa?

Hãy vui vẻ lên, ung dung tự tại, không oán hận, không lo âu, không buồn chán, không nản lòng.

Trong nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể, tuần nào cũng có một hai người ra đi.

Ngày xưa tuổi 30, 40 có bao giờ nghĩ đến cái chết đâu, sao bây giờ bạn bè, người thân cứ tiếp tục ra đi, nhất là trong mùa bịnh dịch covid này.

Hôm nay, thứ bảy 23 tháng 04 năm 2022 lúc 5 P.M

Trên thế giới có 509,038,133 người bịnh Covid 19

Số người chết là: 6,241, 619 người

Riêng ở Hoa Kỳ:

Só người bịnh: 82,640,993 người

Số người chết: 1,018,196 người  

 *Chiến tranh xảy ra ở Ukraina đã gây đau thương tang tóc, người dân bị thương tật, chết quá nhiều. Cũng do kiêu ngạo của Putin mà ra.

Hai nước đang yên bình sống hoà thuận với nhau cùng nhau phát triển đời sống của hai dân tộc Nga và Ukraina bình an hạnh phúc biết bao nhiêu.

Cũng vì tham vọng của cá nhân Putin gây nên chiến tranh đau khổ tang thương khoảng 10 triệu người đã rời Ukraina lánh nạn.

Bí quyết hạnh phúc mỗi ngày:

Theo một nghiên cứu khoa học, những người sống có niềm tin thường hạnh phúc, ít bệnh tật và sống lâu hơn. Đây là 9 điều mà những người tin Chúa Trời thường thực hành để có cuộc sống sung mãn:

  1. Hãy ban phát điều gì cho một người nào đó (mà bạn không có mối quan hệ ràng buộc).
  2. Làm ơn cho ai đó (và quên nó đi).
  3. Dành ra một vài phút với người cao tuổi (kinh nghiệm của họ là một hướng dẫn tốt).
  4. Cười thường xuyên (là chất làm trơn cuộc sống).
  5. Tạ ơn Chúa Trời (ngàn lần một ngày chưa đủ, là Đấng ban cho bạn sự sống).
  6. Cầu nguyện (để Chúa hướng dẫn bạn làm điều đúng).
  7. Làm việc (với cả tiềm năng và sức sống).
  8. Lên kế hoạch như thể bạn sẽ sống mãi mãi (vì linh hồn bạn sẽ sống đời đời với Chúa trên Thiên Đàng).
  9. Sống như thể bạn sẽ chết vào ngày mai (vì cơ thể vật lý của bạn sẽ chết vào một ngày nào đó bạn không biết).                                                        (1)Tên một quyển sách của nhà văn Huy Phương

 Phùng Văn Phụng

Ngày 23 tháng 04/2022

Nguyễn Hồng Ân – Nếu chỉ còn một ngày để sống

PBN 95 Opening | Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống

Bài học từ chiến tranh Nga – Ukraine: Tham vọng lãnh thổ và kẻ xâm lược

Bài học từ chiến tranh Nga – Ukraine: Tham vọng lãnh thổ và kẻ xâm lược

Nguyễn Ngọc Chu

23-4-2022

1. DÃ TÂM XÂM CHIẾM LÃNH THỔ

Cuối cùng thì lãnh đạo LB Nga không còn úp mở về dã tâm. Tướng Nga đã tuyên bố công khai, rằng mục tiêu giai đoạn hai là chiếm toàn bộ Donbass gồm Luhansk (26.683 km²) và Donetsk (26.517 km²) cùng miền Nam Ukraine, tạo thành một dải liền gồm Donbass, Nam Ukraine, Crimea (27.000 km²) và thông với vùng Pridnestrovie (4.163 km²) của Moldova. Pridnestrovie (Transnistria) là lãnh thổ của Moldavia, nơi quân đội Nga chiếm đóng từ năm 1992, tự thành lập nước cộng hoà, và tự tuyên bố ly khai khỏi Moldova.

Miền nam Ukraine được hiểu, tối thiểu là 4 tỉnh (vùng) Zaporizhia (27.183 km²), Kherson (28.461 km²), Mykolaiv (24.598 km²), Odessa (33.314 km²), chưa nói đến các tỉnh Dnepropetrovsk (31.923 km²) và Kirovohrad (24.588 km²). Với mục tiêu giai đoạn 2, chính quyền Putin đang toan tính chiếm đoạt 32,1% lãnh thổ Ukraine, phần lãnh thổ giàu có nhất về công nghiệp và khoáng sản của Ukraine với diện tích của 7 tỉnh là 193.756 km².

Nếu khát vọng đất đai của kẻ xâm lược còn bao gồm thêm 2 tỉnh Dnepropetrovsk (31.923 km²) và Kirovohrad (24.588 km²), thì chính quyền Putin toan cướp đi 250.267 km² trên tổng số 603.548 km² lãnh thổ Ukraine, tức là 41,47%.

Cùng với mục tiêu chiếm đoạt lãnh thổ Ukraine, chia cắt lâu dài đất nước Ukraine, chính quyền Putin còn muốn kéo dài biên giới Nga tiếp nối với biên giới Moldova, đồng nghĩa với việc Moldova (33.700 km²) sẽ mất vùng đất Pridnestrovie (4.163 km²), là mất đi 12,35% lãnh thổ.

Mới hay, xâm chiếm lãnh thổ Ukraine mới là mục tiêu lớn nhất của chính quyền Putin. Trung lập, NATO, phát xít… tất cả chỉ cái cớ để phát động chiến tranh nhằm cướp đoạt đất đai, mở rộng lãnh thổ. Cuối cùng thì kẻ xâm lược tự mình lật tẩy dã tâm.

2. BAO GIỜ THÌ KẾT THÚC GIAI ĐOẠN 2?

Chiến lược ban đầu của ông Putin là tiến hành một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, “đánh nhanh thắng nhanh”. Mục tiêu “toàn cục” của Putin là chiếm trọn Ukraine qua việc khuất phục Kyiv cùng các thành phố lớn của Ukraine trong vòng 72 giờ để thành lập chính phủ thân Nga. Nhưng chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của ông Putin đã thất bại. Sau 1 tháng giao chiến khốc liệt, với tổn thất rất lớn, khoảng 25% năng lực chiến đấu của 20 vạn quân Nga, ông Putin buộc phải rút khỏi các tỉnh Kyiv, Chernihiv, Sumy cùng với tuyên bố kết thúc giai đoạn 1 để chuyển sang giai đoạn 2.

Ở giai đoạn 2 mục tiêu về lãnh thổ đã thay đổi. Từ mục tiêu “toàn cục”, quân Nga đã phải chuyển sang mục tiêu “địa phương”: Không chiếm toàn bộ Ukraine mà chiếm một phần lãnh thổ phía Đông và phía Nam của Ukraine như đã nói ở trên.

Còn về chiến lươc “đánh nhanh thắng nhanh” đã thất bại thì có lẽ tương tự như chiến dịch Điện Biên Phủ, quân Nga sẽ ở trong tình thế “đánh chắc, tiến chắc”(?). Nhưng rõ ràng là cả ông Putin lẫn các tướng lĩnh Nga đều muốn kết thúc giai đoạn 2 càng sớm càng tốt. Còn sớm như thế nào thì ông Putin và các tướng lĩnh Nga không thể tự quyết định được, vì còn phụ thuộc vào phía Ukraine. Cho nên cả ông Putin lẫn các tướng lĩnh Nga chưa công khai về thời hạn kết thúc giai đoạn 2 của chiến tranh Nga- Ukraine.

Vũ khí hạng nặng bắt đầu đến với quân đội Ukraine. Cuộc chiến ở Đông và Nam Ukraine sẽ vô cùng khốc liệt. Người Ukraine sẽ không chịu mất đi 1/3 lãnh thổ. Nếu quân Nga chiếm được vùng nào thì cũng chỉ tạm thời. Các cuộc phục kích sẽ không bao giờ chấm dứt trên vùng đất bị quân Nga chiếm đóng.

Quân đội Nga không phải là nguồn vô tận để ông Putin tiêu phí hàng vạn sinh mệnh người Nga cho mục tiêu chiếm đất. Nước Nga không thể tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài nhiều năm.

Cuộc chiến tranh Nga – Ukraine nhất định phải kết thúc bằng một hoà ước. Hoà ước đến sớm hay muộn phụ thuộc vào tình thế trên chiến trường. Quân Nga càng tổn thất nặng, hoà ước càng đến sớm.

Có một thời hạn biết chắc là chiến tranh Nga – Ukraine phải kết thúc. Đó là lúc nước Nga không có Putin.

3. THAM VỌNG LÃNH THỔ VÀ KẺ XÂM LƯỢC

Các cuộc chiến tranh có thể không giống nhau về bản chất. Thế nào là chiến tranh xâm lược? Các định nghĩa có thể khác nhau. Nhưng có một nhân tố bất di bất dịch cho muôn đời để xác định bản chất của chiến tranh xâm lược. Đó là chiếm đất. Tiến hành chiến tranh để chiếm đoạt đất đai của nước khác thì mãi mãi là kẻ xâm lược, bất kể đội lốt dưới hình thức nào.

Trong nhiều bài học mà người Việt có được từ chiến tranh Nga – Ukraine, có bài học về tham vọng lãnh thổ và kẻ xâm lược. Kẻ xâm lược không bao giờ ngừng tham vọng lãnh thổ. Kẻ tham vọng lãnh thổ sớm muộn cũng trở thành kẻ xâm lược. Từ đó mà xác định kẻ xâm lược và kẻ sẽ trở thành xâm lược.

Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam

Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam

Lê Hồng Hiệp

Ngày 18 tháng 4 năm 2022, năm tướng lĩnh và hai sĩ quan cấp cao khác của Cảnh sát biển Việt Nam (CSBVN) đã bị Cơ quan Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng bắt tạm giam để điều tra về một loạt các tội danh tham nhũng, trong đó có tội tham ô tài sản. Những người bị bắt gồm có Trung tướng Nguyễn Văn Sơn (nguyên Tư lệnh CSBVN), Trung tướng Hoàng Văn Đồng (nguyên Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Doãn Bảo Quyết (nguyên Phó Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Phạm Kim Hậu (nguyên Phó Tư lệnh và Tham mưu trưởng CSBVN), và Thiếu tướng Bùi Trung Dũng (nguyên Phó Tư lệnh CSBVN).

Đây là vụ mới nhất trong một loạt các vụ bê bối tham nhũng gần đây, dẫn đến việc hàng chục sĩ quan cấp cao trong lực lượng quân đội và công an Việt Nam bị xử lý. Riêng trong quân đội, ít nhất 20 tướng lĩnh đã bị kỷ luật hoặc truy tố kể từ năm 2016. Sĩ quan cấp cao nhất bị truy tố là ông Nguyễn Văn Hiến, nguyên Tư lệnh Hải quân và Thứ trưởng Quốc phòng. Ông Hiến đã bị kết án 3 năm rưỡi tù giam vào cuối năm 2020 vì phê duyệt chuyển nhượng trái phép ba lô đất quốc phòng tại TP.HCM cho các nhà đầu tư tư nhân, gây thiệt hại cho nhà nước 939 tỉ đồng.

Vụ bắt giữ năm tướng CSBVN và kỷ luật ba tướng lĩnh tại Học viện Quân y liên quan đến vụ bê bối tham nhũng tại công ty Việt Á cách đây vài tuần giúp tăng cường uy tín chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, vốn từ năm 2016 đã tiến hành một chiến dịch chống tham nhũng cấp cao gây nhiều tiếng vang. Tuy nhiên, những gì được xử lý cho đến nay có thể chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm, vì tham nhũng trong quân đội, được cho là phổ biến và cắm rễ sâu, nhìn chung rất khó phát hiện và loại bỏ.

Quân đội Việt Nam tham gia vào một loạt các hoạt động kinh tế, được tạo điều kiện thuận lợi nhờ ảnh hưởng lớn của quân đội trong nền chính trị Việt Nam. Điều này đôi khi khiến các cơ quan dân sự phải chiều theo yêu cầu của các quan chức quốc phòng, bao gồm cả việc cung cấp nguồn lực và các chế độ ưu đãi, qua đó làm nảy sinh cơ hội cho tham nhũng phát triển. Sự tồn tại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu quân đội, cả các doanh nghiệp thực sự lẫn các công ty bình phong được thành lập để phục vụ mục đích thu thập thông tin tình báo và các hoạt động nghiệp vụ khác, cũng khiến việc trục lợi của các cá nhân tham nhũng khó bị phát hiện hơn do khó phân biệt rạch ròi giữa các hoạt động liên quan đến thương mại và quốc phòng.

Vì thông tin về các hoạt động của quân đội thường được coi là nhạy cảm hoặc bí mật, điều này cũng cung cấp một lớp bảo vệ khác cho các quan chức quân đội tham nhũng. Ví dụ, mặc dù một số thương vụ mua bán vũ khí của Việt Nam được cho là có liên quan đến tiền lại quả từ các nhà cung cấp quốc phòng, nhưng vẫn chưa có cuộc điều tra chính thức nào về những cáo buộc như vậy.

Nhiệm vụ chính của quân đội là bảo vệ tổ quốc chống lại xâm lược của ngoại bang, nhưng quân đội cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chế độ. Điều này khiến cho việc xử lý tham nhũng trong quân đội trở thành một vấn đề nhạy cảm đối với ĐCSVN, vì đòi hỏi một sự cân bằng tinh tế giữa một bên là việc duy trì kỷ luật và liêm chính trong các lực lượng vũ trang, một bên là duy trì lòng trung thành của các lãnh đạo quân đội hàng đầu đối với Đảng. Mặc dù Đảng tuyên bố rằng không có ‘vùng cấm’ trong cuộc chiến chống tham nhũng, nhưng mong muốn duy trì lòng trung thành của các tướng lĩnh cũng có thể đã khiến Đảng không muốn giải quyết triệt để nạn tham nhũng trong quân đội, đặc biệt là trong các vụ việc liên quan tới các sĩ quan cấp cao.

Tham nhũng làm chuyển hướng nhiều nguồn lực cần thiết khỏi việc đầu tư vào các nỗ lực hiện đại hóa quân đội của Việt Nam, vốn đã chậm lại kể từ năm 2016. Tham nhũng cũng làm suy thoái tinh thần của các sĩ quan và binh sĩ, làm suy yếu khả năng sẵn sàng chiến đấu của họ. Một số hành vi tham nhũng bị cáo buộc, chẳng hạn như ăn cắp xăng dầu từ các tàu quân sự và báo cáo sai hành trình tuần tra, thậm chí khiến đất nước phải đối mặt với các mối đe dọa an ninh tiềm tàng, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông ngày càng gia tăng và Trung Quốc thường xuyên xâm phạm các vùng biển Việt Nam.

Tham nhũng cũng là kẻ thù vô hình có thể tiêu diệt ngay cả những nhà lãnh đạo quân sự có kinh nghiệm và năng lực nhất, đe dọa làm suy yếu năng lực chỉ huy tổng thể của quân đội. Bình luận về vụ bắt giữ năm tướng CSBVN, một người dùng Facebook đã cay đắng nhận xét: “Ukraine tuyên bố đã tiêu diệt tám tướng Nga, và Việt Nam cũng có năm tướng bị loại khỏi vòng chiến đấu, ngay cả khi không có giao tranh nào.”

Việc truy tố năm tướng CSBVN cho thấy chiến dịch chống tham nhũng có thể sẽ tiếp tục được duy trì trong những năm tới, và người dân có thể mong đợi các vụ án tham nhũng cấp cao khác liên quan đến quan chức quân đội được phơi bày. Tuy nhiên, nếu không giải quyết các nguyên nhân gốc rễ thì tình trạng tham nhũng trong quân đội sẽ khó có khả năng thuyên giảm.

Ngoài việc cần cải thiện giám sát của chính quyền dân sự đối với chi tiêu quốc phòng, chấm dứt việc quân đội tham gia vào các hoạt động thương mại mang tính chất tìm kiếm lợi nhuận, và nâng cao thu nhập cho các quân nhân, Việt Nam cần cấp thiết phải xóa bỏ nạn ‘mua bán quyền lực’ trong quân đội. Mặc dù chưa có điều tra chính thức nào, nhưng hành vi đưa hối lộ để được thăng chức được cho là phổ biến ở cả các cơ quan dân sự lẫn các lực lượng vũ trang. Một khi đã được thăng chức, quan chức đưa hối lộ sẽ phải tìm cách “thu hồi vốn đầu tư”, do đó làm cho tình trạng tham nhũng ban đầu càng lan rộng và ăn sâu hơn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà tham nhũng trong quân đội dường như gia tăng kể từ năm 2006, khi số lượng các tướng lĩnh quân đội bắt đầu tăng mạnh. Năm 1975, khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, quân đội Việt Nam chỉ có 36 tướng, nhưng đến năm 2018, một Việt Nam thời bình lại có tới 415 sĩ quan quân đội mang quân hàm cấp tướng.

Quân đội Việt Nam tự hào vì đã đánh bại được ba cường quốc lớn. Những kỳ công này đạt được là khi nạn tham nhũng hầu như không tồn tại trong hàng ngũ của quân đội Việt Nam. Hiện nay, đối mặt với nạn tham nhũng tràn lan, khả năng của Việt Nam trong việc đối phó với các mối đe dọa an ninh và quốc phòng tiềm tàng có thể bị thách thức nghiêm trọng. Tham nhũng giờ đây đã nổi lên trở thành kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam, và một chiến thắng rõ ràng trước kẻ thù đó vẫn còn khó khăn, xa vời.

L.H.H.

Nguồn: nghiencuuquocte.org

ĐỪNG ĐƯỢC NẮNG… QUÊN MƯA! QUA CẦU …RÚT VÁN…!

 Van Pham

Ở đầu giường ông dán đầy hình ảnh con cháu làm lễ tốt nghiệp. Ông nghẹn ngào nói với tôi: “Xưa bác ép con của bác học giỏi, đứa nào bây giờ cũng có bằng cấp, có đứa làm bác sĩ đấy. Bây giờ bác ân hận lắm. Bác không cần các con bác học giỏi. Nó bán hambuger mà biết đến cha mẹ vẫn quý hơn người học cao chức trọng, mà luôn nói phải dự tiệc tùng này nọ, để đến chiều trễ tràng mới tới chúc mừng cha của mình. Nó thành tài nhưng không thành nhân, vì chúng nó bất hiếu”.

***

ĐỪNG ĐƯỢC NẮNG… QUÊN MƯA! QUA CẦU …RÚT VÁN…!

Anh là người con trai duy nhất của gia đình vượt biển tìm tự do, tưởng chết sau nhiều ngày lênh đênh trên biển dữ.

Anh tỉnh dậy và thấy mình đang nằm trên vai một người mặc chiếc áo đồng phục Hội Hồng Thập Tự. Người ấy xốc anh lên, chạy dọc theo ven biển của đảo xanh.

Sống sót, được một gia đình cư dân Mỹ nhận làm con nuôi, Steve Hòa Phạm đi học, đi làm. Dấu hiệu chữ thập đỏ trên chiếc áo ân nhân in đậm trong trí nhớ đã thúc đẩy anh lao vào công việc thiện nguyện ngoài giờ làm ở hãng, đêm đêm xách nôi hai con nhỏ đi họp thay vợ bận đi làm.

Có người bảo ra ứng cử vào hội đồng thành phố nhưng anh nói “không”. Anh thật sự hài lòng khi trở thành nhân viên Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ năm 2005, một nghề “tiền ít, việc nhiều”. Anh hạnh phúc vì người bạn đời của anh không ngăn cản chồng ngày đêm lo lắng cho người khác, nhất là cộng đồng Việt Nam mình. Chị hiểu anh rất rõ: một người sẵn lòng sống chết với tha nhân, ngoài trách nhiệm trước hết đối với vợ con.

Xưa…

Tôi còn nhớ, vào mùa Thanksgiving, một gia đình Mỹ đến trại tị nạn mở rộng vòng tay đón tôi về nhà. Buồn cười là thấy tôi đi một mình, lúc đó tôi khoảng 19 tuổi, phái đoàn Mỹ hỏi “sao mày đi một mình?”. Một lý do thôi, tôi một mình vượt biển sau năm 1975 trong khi bố và anh ruột – những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa – đang ở tù cải tạo.

Tôi đến Mã Lai, được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, chấp thuận cho chuyển trại đến Phi Luật Tân rồi sang Nam California. Cám ơn đất nước này rất nhiều, cám ơn những người sẵn sàng cưu mang tôi mặc dù họ không biết tôi là ai. Tôi cám ơn thượng đế cho tôi đến được mảnh đất này, được người dân Mỹ nhân hậu mở cửa đón tôi về nuôi. Hồi đó tôi không biết tiếng Anh nên nói chuyện với mẹ và các anh chị em người Mỹ phải ra dấu nhiều hơn.

Có lần tôi đem cất quả chuối xanh, đến khi đoán đã tới độ chín vàng có thể ăn được thì không thấy đâu. Lục mãi mới nhìn thấy quả chuối trong thùng rác. Họ nói “chuối hư rồi, làm sao ăn?” Tôi nói: “Không, chuối chín vàng rục thì tôi mới ăn được”. Tập quán Mỹ – Việt khác nhau nhiều lắm. Có món tôi phải dùng đũa mới ăn được.

Tôi luôn nhủ lòng “đừng được nắng rồi quên mưa”. Tôi thường tự hỏi “nhờ đâu mình được như ngày hôm nay cho nên luôn cố gắng làm được gì cho người khác hôm nay thì ráng làm”. Mình không mang đôi dép của người ta thì sẽ không hiểu hoàn cảnh của họ. Vì vậy mà tôi không tiếc công lao giúp đỡ người khác, xem Hoa Kỳ là quê hương thứ hai của mình.

Người mẹ nuôi của tôi tên Jessica Griswold, có 4 người con. Khi chưa gặp tôi, mẹ nuôi bị hư thai. Bác sĩ nói nguyên nhân vì bà lớn tuổi và khuyên đi kiếm con nuôi. Bà âm thầm tới văn phòng xã hội, được hướng dẫn đến dò tìm con nuôi trong danh sách người tị nạn.

Bà gặp và đưa tôi về ở tại thành phố Pasadena, đặt cho tôi tên Steve – thay cho đứa con đã mất khi còn trong bụng mẹ. Sau này bà bị bệnh Parkinson, dọn về tiểu bang Virginia ở với người con gái. Tôi sống với gia đình Mỹ được mười mấy năm, đi học, đi làm, lấy vợ rồi mới tách ra. Tôi nghĩ, từ đôi bàn tay trắng nay có nhà cửa, vợ con đàng hoàng, có công ăn việc làm, còn muốn gì nữa…

Thời gian đầu, gia đình mẹ nuôi gọi tôi tên Hòa. Về sau, bà khuyên tôi nên lấy tên Mỹ cho dễ nói chuyện và bảo tôi chọn tên Steve. Khi tôi nhập tịch, Hòa là tên đệm, tên chính là Steve, nguyên tên họ là Steve Hòa Phạm.

Gia đình Mỹ cho tôi nhiều thứ trong khi nhìn quanh mình, tôi thấy có nhiều người Việt Nam có 2 – 3 căn nhà nhưng không muốn mở cửa giúp người tị nạn. Vì vậy mà tôi nghĩ mình cần phải lo toan để giúp người khác, mà nghĩ thì làm chứ không phải nghĩ rồi để đó.

Khi bị bệnh nặng lại sắp sang tiểu bang khác với người con gái, bà gọi tôi đến bên giường hỏi xem “có gì buồn lòng không”. Tôi nói “không”. Bà tâm sự rằng làm cha mẹ không bao giờ hoàn hảo, ngoài 4 đứa con ruột, 2 trai, 2 gái, bà phải săn sóc tôi và hãnh diện vì tôi là một người công dân tốt. Bà nhắc tôi nhớ ngày đầu tiên gặp tôi, mấy đứa con ruột của bà trố mắt nhìn tôi, không hiểu tại sao bà lại đón một thằng bé châu Á da vàng mũi tẹt về nhà. Bà dặn dò tôi: “Sau này có cơ hội thì giúp lại cho người khác mà không đòi hỏi điều kiện gì hết”.

Tôi quỳ xuống giường khóc và hứa với bà. Lời hứa đó là động lực thúc đẩy tôi hy sinh vì tha nhân. Tôi nhớ lời dặn dò của bà, “người mày mà mày không thương thì đừng mong dân tộc khác thương yêu dân tộc mày”.

Ở gia đình mẹ nuôi, tôi đi học, đi làm. Mỗi đứa ở riêng, tự lo giặt giũ. Nhiều tháng trong túi tôi chỉ còn vài đồng bạc. Nhiều dịp cả nhà đi coi phim với nhau theo lệ hàng tháng, tôi không có tiền mua vé, giả vờ nói “phải ở nhà làm bài”.

Một hôm bà vô phòng tôi đóng cửa lại và hỏi, “Có phải con không có tiền đi xem phim không?” Tôi ôm bà nói: “Mẹ đúng là mẹ nên mới hiểu con”. Bà nói: “Mẹ không thể cho con tiền trước mặt những đứa con khác được mà chỉ có thể cho lén lút như thế này”, và bà cho tôi tiền để sau đó tôi cùng đi xem phim với các anh chị nuôi của mình.

Tôi vẫn nhớ câu bà nói: “Mẹ giúp con mà không đòi hỏi gì hết và không cần biết con là ai”.

Tôi làm thợ tiện, sáng đi học, chiều về đi làm bằng xe bus. Bà theo đạo Tin Lành, tôi là người Công Giáo. Cuối tuần bà chở tôi đến nhà thờ của bà trước, sau đó chở tôi đến nhà thờ Công Giáo. Rồi trong khi chờ tôi dự lễ, bà chở con của bà đi shopping. Bà cũng ân cần hỏi tôi có cần đi shopping không.

Khi có gia đình, ai cũng nghĩ đến gia đình trên hết. Thật ra, tôi đến với Hội Hồng Thập Tự vì một cơ duyên. Tôi vẫn nhớ mình đã đi trên một con tàu trải qua 4 ngày đêm trên biển hết cả nước. Thuyền trưởng bảo mọi người cầu nguyện.

Tất cả đều ngất xỉu. Tôi cũng đã bất tỉnh. Chúng tôi được một chiếc tàu lạ kéo vào bờ biển Mã Lai. Khi tỉnh lại, tôi thấy có người đang xốc, vác mình trên vai. Họ vác mọi người từ tàu lên bờ, vất nằm thành một đống.

Người cứu tôi thoát chết là một nhân viên Hội Hồng Thập Tự. Tôi không quên hình ảnh đó, tới bây giờ bỗng dưng làm việc cho Hồng Thập Tự, mặc đồng phục Hồng Thập Tự đi làm, nghĩ ngộ quá. Ðúng là quả đất tròn. Tôi luôn hãnh diện về công việc của mình hiện nay.

Trong thời gian đầu, tôi làm thảo chương viên điện toán, vừa học vừa làm, suốt 17 năm. Thời gian rảnh đi làm thiện nguyện viên, săn sóc các ông bà cụ ở nhà dưỡng lão, những nơi cần được giúp đỡ.

Ðến năm 2005, Hội HTT tuyển người, cơ duyên đưa tôi vào Hội. Tôi là người nộp đơn cuối cùng và cũng là người được nhận cuối cùng.

Họ nói lương không cao. Tôi thảo luận với vợ để cô hiểu công việc này cực và tiền bạc ít, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới ngân khoản tài chính gia đình. Thế nhưng vợ tôi nói: “Em hiểu anh, trái tim anh luôn dành cho những người đau khổ”, và cô chấp nhận cho tôi làm việc này, bớt đi nhiều thú vui chơi.

Thu nhập ít đi, nhưng tôi thấy hạnh phúc. Sau giờ làm việc cực nhọc, tôi về nhà, lăn ra ngủ như một đứa trẻ thơ, không suy nghĩ gì hết. Có những đợt đêm nào tôi cũng làm việc tới khuya để giúp người bị cháy nhà. Về nhà lúc 2 – 3 giờ sáng, tắm rửa xong lại lăn vào giường ngủ liền, có lẽ nhờ không lo phiền, không ganh đua với ai.

Ðó là phần thưởng quý báu mà Thượng đế dành cho tôi chăng. Tôi thấy có người làm việc lắm tiền nhiều của, nhà cao cửa rộng nhưng đêm đêm nằm vắt tay lên trán.

Sau biến cố 911, đất nước cho mình đủ thứ lại gặp nhiều nạn tai, tôi ôm con đi họp đêm để hỗ trợ công tác từ thiện, có lúc phải xách con đi họp vì bà xã làm đêm. Tôi cho mỗi đứa cái bình sữa để chúng nằm yên cho mình họp.

Người Mỹ nói “no pain, no gain”, từ khổ sở mới thấy hạnh phúc của mình là quý giá.

Ba ruột của tôi sang Mỹ được một năm thì mất. Hai năm sau, mẹ ruột tôi cũng qua đời. Khi mẹ mất, tôi và các anh đưa hài cốt bà cụ về Việt Nam. Tôi chỉ về Việt Nam đúng một tuần. Hai người anh, hai người chị ruột của tôi đều đã ở bên này, thỉnh thoảng chúng tôi cũng gặp nhau.

Tôi may mắn có hai cha mẹ Việt và Mỹ. Tôi học được bài học cách giáo dục, săn sóc con cái từ người mẹ Việt Nam của mình. Lúc nào cũng phải nghĩ tới vợ con. Mình đã tạo ra nó thì mình phải có trách nhiệm với nó. Khi có vợ con thì phải lo cho gia đình. Xây dựng hạnh phúc gia đình ở đây khó lắm vì gia đình Việt phải sống hai nền văn hóa có nhiều dị biệt. Một số gia đình tan vỡ vì không thích nghi được hoàn cảnh mới.

Bố ruột tôi vẫn khuyên: “Người tốt ít lắm và người xấu không mời cũng tới”. Hồi xưa bố ruột hay đưa tôi đến trại cải huấn, muốn con nhìn gương mà tránh, học bài học từ những thiếu niên lỡ lầm. Ông khuyên tôi thấy người khác làm sai không nên coi họ là người thấp hèn để khinh chê, mà thấy để tránh đi vào con đường đó.

Sang đây tôi lại học được rất nhiều ở bà mẹ Mỹ… Lúc rỗi rảnh, bà ngồi tâm sự, kể chuyện để nhắc nhở tôi luôn về gương hy sinh cho tha nhân.

Tôi nghĩ rằng người Việt Nam mới qua thường mặc cảm đến sau, trong thời gian ngắn nên mở cửa ra ngoài để nhanh chóng hội nhập. Phải thích cuộc sống của mình ở đây trước, phải học hỏi về nền văn hóa Hoa Kỳ, rồi giúp người Mỹ học hỏi về nền văn hóa của mình.

Câu chuyện về hai gia tộc: Jukes và Edwards.

Le Tu Ngoc

Câu chuyện về hai gia tộc: Jukes và Edwards.

Vào năm 1900, Albert Edward Winship, một học giả người Mỹ đã tiến hành nghiên cứu về hai gia tộc sống cùng thời đại: Một gia tộc tin vào Kitô giáo, là Jonathan Edwards. Một gia tộc khác là của tôn sư nổi tiếng của thuyết vô thần, Jukes.

Jukes là người theo thuyết vô thần. Ông từng nói với Edwards rằng: – “Ông tin vào Giê-su, còn tôi vĩnh viễn không tin có thần thánh gì cả! “

Học giả Winship đã truy tìm sự phát triển của hai gia tộc suốt gần 200 năm và viết thành cuốn sách có tựa đề Jukes-Edwards: A Study in Education and Heredity (tạm dịch: Jukes-Edwards: Một nghiên cứu về giáo dục và di truyền). Kết quả có thể tóm lược như sau:

Gia tộc Edwards có tổng số nhân khẩu là 1.394 người. Trong đó:

100 giáo sư đại học,

14 hiệu trưởng trường đại học,

70 luật sư,

30 quan toà,

60 bác sỹ,

60 nhà văn,

300 mục sư, nhà thần học,

3 nhà lập pháp,

1 phó tổng thống.

Gia tộc vô thần Jukes: Tổng số nhân khẩu là 1.203 người. Trong đó: 310 kẻ lưu manh,

300 người chết từ bé vì thiếu sự chăm sóc và điều kiện sống cần thiết,

130 người ngồi tù 13 năm trở lên,

7 người phạm tội giết người,

100 người nghiện rượu,

60 kẻ trộm,

190 kỹ nữ,

20 thương nhân, trong đó có 10 người học kinh doanh trong tù.

Kết quả trên khiến rất nhiều người cảm thấy thật khó hiểu. Trải qua hàng trăm năm, vì sao kết quả lại khác biệt lớn như vậy?

Câu trả lời thực sự then chốt là vì gia tộc Edwards có được sức mạnh từ tín ngưỡng.

Họ đã ươm được hai hạt giống quan trọng phía sau tín ngưỡng:

– Hạt giống đầu tiên là hạt giống hướng thiện và tình yêu thương, cho nên gia tộc họ mới sinh ra nhiều bác sỹ, giáo sư và hiệu trưởng đại học như vậy.

– Hạt giống thứ hai là hạt giống biết kính sợ. Những đứa trẻ sinh ra trong gia đình này vĩnh viễn ghi nhớ rằng: “Trên đầu ba tấc có Thượng đế”.

Mọi người có để ý thấy rằng, vì sao gia tộc của Jukes lại có nhiều lưu manh, kẻ trộm và kỹ nữ như vậy không? Chính là vì trong việc giáo dục của gia đình này không có tín ngưỡng và thiếu đi sự kính sợ. Không giáo dục lòng kính sợ nên trong nội tâm họ sẽ không e dè nên họ dễ làm chuyện ác. Họ không tin vào nhân quả, cười nhạo vào lý thiện “ác hữu, ác báo”. Chặng đường cả trăm năm của hai gia tộc đã khiến chúng ta cảm nhận được năng lượng to lớn của tín ngưỡng và tình yêu thương. Cho nên có một định luật rằng: Tín ngưỡng là con đường kết nối năng lượng!

share từ FB anh Hoang Giang

ảnh: Hậu duệ của gia tộc Edwards: Đệ nhất Phu nhân Edith Roosevelt của Tổng thống Ted Roosevelt.

Siêu sao bóng rổ Mỹ dùng giày để chỉ trích CSVN về nhân quyền

Siêu sao bóng rổ Mỹ dùng giày để chỉ trích CSVN về nhân quyền

April 18, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ít nhất hàng ngàn Facebooker ở Việt Nam đang để lại bình luận bên dưới bài và hình đăng trên trang cá nhân của cầu thủ Enes Kanter Freedom, 29 tuổi, ngôi sao bóng rổ đội Boston Celtics, khi anh dùng hình vẽ những chiếc giày thể thao trên đó viết thông điệp chỉ trích CSVN vi phạm nhân quyền.

Cầu thủ Enes Kanter chính thức đổi họ “Freedom” vào ngày 30 Tháng Mười Một năm ngoái, khi anh tuyên thệ trở thành công dân Mỹ.

Thông điệp kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam trên chiếc giày. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Trong bài đăng hôm 14 Tháng Tư, cầu thủ người Mỹ gốc Thổ Nhĩ Kỳ viết: “Hàng trăm nhà báo và nhà bảo vệ nhân quyền đang gặp rủi ro, bị sách nhiễu, hoặc bị đàn áp ở Việt Nam. Nơi này không có quyền tự do biểu đạt, không tự do ngôn luận và cũng không tự do báo chí. Ủng hộ nhân quyền cho Việt Nam. Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN phải chịu trách nhiệm!”

Freedom đăng kèm năm tấm hình những chiếc giày thể hiện thông điệp kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam.

Enes Kanter Freedom trả lời phỏng vấn của hãng thông tấn AFP tại Văn Phòng Liên Hiệp Quốc ở Geneva hôm 5 Tháng Tư, 2022. (Hình: Fabrice Coffrini/AFP qua Getty Images)

Trong đó có tấm hình vẽ một người đang bị công an bịt miệng, bên cạnh là một chiếc laptop bị trói bằng dây xích. Một bức hình khác vẽ hình bản đồ Việt Nam đang bị khóa bằng một chiếc còng số 8.

Một bức vẽ cảnh gợi nhớ hình ảnh ông Tô Lâm, bộ trưởng Công An CSVN, đang ăn thịt bò dát vàng của “Thánh Rắc Muối.”

Đáng chú ý là một tấm hình trong số đó ghi dòng chữ: “Chỉ có thể giam cầm được thể xác chứ không cưỡng bức nỗi [nổi] tư tưởng.”

Nhân quyền ở Việt Nam bị khóa bằng một chiếc còng số 8. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Ở phần bình luận dưới tấm hình này, Facebooker “Thị Tấm” ghi: “Chúng tôi không đồng ý bạn sử dụng hình ảnh tà áo dài Việt Nam cao quý để in lên chiếc giày, một thứ dùng để đeo vào chân và đạp dưới đất như thế. Bạn đòi nhân quyền cho chúng tôi mà lại phỉ báng văn hóa bản địa như thế sao? Chúng tôi yêu đảng Cộng Sản Việt Nam, yêu nền hòa bình mà đảng CSVN mang lại cho đất nước này nên chúng tôi không cần bạn khóc thuê đâu. Bạn chỉ là một con ếch trong cái giếng nhỏ mà thôi!”

Nhiều Facebooker khác thi nhau bắt lỗi chính tả “nỗi” thay vì “nổi” và cảm thán: “Đi đòi nhân quyền thuê mà còn sai chính tả viết cho bố mày đọc à?”

Nhiều bình luận gay gắt bằng tiếng Việt và tiếng Anh cho thấy những Facebooker này thuộc giới “dư luận viên,” có phản ứng tương tự mỗi khi Facebook Đại Sứ Quán Mỹ hay Đại Sứ Quán Anh ở Việt Nam đăng bài chỉ trích Hà Nội vi phạm nhân quyền.

Chiếc giày ghi dòng chữ “Chỉ có thể giam cầm được thể xác chứ không cưỡng bức nỗi [nổi] tư tưởng.” (Hình:Facebook Enes Kanter)

Trước khi đăng bài chỉ trích nhà cầm quyền CSVN về nhân quyền, Freedom từng đăng tải nhiều bức ảnh đôi giày thi đấu của mình với thông điệp ủng hộ nền độc lập và dân chủ của Đài Loan, tương tự việc anh đã làm khi lên tiếng bảo vệ Tân Cương cũng như những dân tộc thiểu số khác bị Trung Quốc bách hại.

Hồi Tháng Giêng, Freedom nói anh sẵn lòng nhận lời mời thăm Trung Quốc với điều kiện anh được tận mắt nhìn thấy một “Trung Quốc thật” thay vì “được tô hồng,” theo CNN.

Bức tranh gợi nhớ hình ảnh ông Tô Lâm, bộ trưởng công an CSVN, đang ăn thịt bò dát vàng. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Trước đó, trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh, Yao Ming, cựu ngôi sao bóng rổ Trung Quốc từng chơi ở Giải Bóng Rổ Nhà Nghề Mỹ (NBA) và nay là chủ tịch Hiệp Hội Bóng Rổ Trung Quốc (CBA), nói: “Nếu có cơ hội tôi sẽ mời anh ấy [Enes Kanter Freedom] đến thăm Trung Quốc… Lúc đó anh ấy sẽ hiểu rõ hơn về đất nước chúng tôi.”

“Tôi muốn nói với Yao Ming rằng tôi muốn được đến thăm Trung Quốc để tận mắt chứng kiến tất cả bằng chính đôi mắt của tôi. Trong chuyến đi đó, tôi muốn hỏi Yao Ming rằng tôi có được vào thăm những trại lao động đó không?,” Freedom nói với CNN.

“Tôi không cần một bài diễn thuyết về Trung Quốc, tôi không cần những lời lẽ tô hồng. Tôi thật sự muốn nhìn thấy những gì đang diễn ra và cho thế giới thấy những điều đó. Vâng, có như vậy tôi mới chấp nhận lời mời kia,” Freedom nói thêm.

Thông điệp kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam trên chiếc giày. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Trước đó, hồi Tháng Mười Một, 2021, Freedom được bà Thái Anh Văn, tổng thống Đài Loan, gửi lời cảm ơn vì anh có hành động ủng hộ đảo quốc này độc lập, theo báo điện tử “nextshark.com.”

“Cảm ơn Enes bênh vực Đài Loan. Chúng tôi luôn luôn bảo vệ sự tự do và nền dân chủ của Đài Loan dù khó khăn. Sự ủng hộ của anh và những người bạn khắp thế giới giúp chúng tôi mạnh mẽ hơn,” bà Thái phát biểu trong một đoạn video đăng trên Twitter. (N.H.K) [kn]

“Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”!

“Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”!

Bởi  AdminTD

Trương Nhân Tuấn

21-4-2022

Việt Nam “nợ ân tình” với Liên Xô (nay là Nga) rất nhiều. Ngoài viện trợ tiền bạc và vũ khí cho chiến tranh “đánh Mỹ cứu nước” năm 1954-1975, Liên Xô cũng giúp Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh biên giới năm 1979 với Trung Quốc.

Thời điểm chiến tranh Việt-Trung năm 1979, Liên Xô đã huy động khoảng 2 triệu quân để gây “áp lực” với Trung Quốc trên vùng biên giới. Hải quân Liên Xô đã tăng cường trong khu vực Biển Đông (và Vịnh Bắc Việt) sẵn sàng tham chiến, nếu thấy Hà Nội bị đe dọa. Không quân Liên Xô đã giúp Việt Nam nhanh chóng chuyển quân từ Nam ra Bắc để tăng cường khả năng phản công.

Hiệp ước an ninh hỗ tương Việt-Xô tuy chưa được “kích động” nhưng Liên Xô đã sẵn sàng. Mọi tình huống xấu cho Hà Nội đều có thể khiến Liên Xô nhập cuộc.

Cuộc chiến vì vậy “hạn chế” trong không gian và thời gian. Trung Quốc cũng hạn chế việc sử dụng không quân và hải quân. Vì Đặng Tiểu Bình không thuyết phục được Tổng thống Carter tham gia (hay ủng hộ) cho cuộc chiến.

Nếu không có áp lực của Liên Xô thì quân Trung Quốc có thể sẽ tiến chiếm Hà Nội, buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, nhưng Trung Quốc cũng có thể chiếm đóng Việt Nam lâu dài.

Vì vậy, ta không ngạc nhiên khi thấy Việt Nam ra mặt “chọn phe”. Theo thông tin từ bộ quốc phòng hai nước thì quân đội hai bên Việt-Nga sẽ có cuộc tập trận chung. Và ta cũng sẽ không ngạc nhiên nếu sau này bộ đội Việt Nam hiện diện bên cạnh quân Nga trong chiến trường Ukraine.

Vấn đề là sau khi chiến hạm Moskva bị hỏa tiễn Neptune của Ukraine đánh chìm, truyền thông Nga đã nói tới Chiến tranh thế giới thứ Ba.

Theo tôi, thái độ “chọn phe” của Việt Nam nặng phần “tình cảm” hơn là vì lợi ích quốc gia. Đảng CSVN mang ơn Nga (và TQ). Nhờ sự trợ giúp mọi thứ, từ quân sự, tài chánh cho tới ý thức hệ chính trị của Việt Nam và Liên Xô mà CSVN thắng được Mỹ và chiếm được miền Nam.

Tuy nhiên, “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”!

Thử tưởng tượng Việt Nam bị xếp chung với Nga trong danh sách “trừng phạt” (vì Việt Nam ủng hộ Nga trong chiến tranh xâm lược Ukraine).

Tất cả của cải, tiền bạc, nhà cửa… của cán bộ CSVN ở Mỹ đều bị “tịch thu”, hay bị “đông lạnh”. Mỹ cũng “khóa cửa” không nhập bất cứ một thứ hàng hóa nào đến từ Việt Nam. Tài phiệt Việt Nam bị xếp chung giỏ với tài phiệt Nga.

Vụ khóa cửa kinh tế thì đảng CSVN không lo. Cùng lắm là “dân ăn cỏ” như dân Bắc Hàn hay Cuba. Điều đáng lo là một bộ phận không nhỏ cán bộ CSVN có nhà cửa, có “cơ ngơi” ở Mỹ, cũng như các quốc gia “giẫy chết”.

“Nghĩ tới mà kinh” phải không bà con?

Ukraine đánh thức nhân loại, trừ Cộng sản Việt nam

Ukraine đánh thức nhân loại, trừ Cộng sản Việt nam

Bởi  AdminTD

Trần Trung Đạo

21-4-2022

Cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Nga đã làm thay đổi vị trí chiến lược của nhiều quốc gia trên chính trường thế giới cũng như buộc nhiều quốc gia phải thay đổi đường lối đối ngoại để thích nghi với xu hướng thời đại.

Xu hướng của thời đại ngày nay là phát triển dân chủ và hòa bình chống lại các cơ chế độc tài chuyên chính với tham vọng bành trướng.

Ngày 17-3-1948, phát biểu trước lưỡng viện quốc hội Mỹ, TT Harry Truman giải thích lý do phải “bao vây Liên Xô”. Theo tổng thống thứ 33 của Mỹ, “nguyên nhân chính là do một quốc gia đã không chỉ từ chối hợp tác để thiết lập một nền hòa bình công bằng và danh dự mà thậm chí tệ hại hơn, đã tích cực tìm cách ngăn chặn điều đó”. (Special Message to the Congress on the Threat to the Freedom of Europe, March 17, 1948, Truman Library).

Mặc dù quốc hội Mỹ lần thứ 80 do đảng Cộng Hòa chiếm đa số nhưng họ cũng đã ủng hộ TT Truman (Dân Chủ).

Ngoại trừ năm nước CS theo chủ nghĩa Lenin không Mác, phong trào CS thế giới đã qua và câu nói của TT Truman dường như cũng đã bị lãng quên đi. Nhưng không. Mới đây cũng tại quốc hội Hoa Kỳ, nhiều phát biểu gần như lập lại nguyên văn câu nói của TT Truman chỉ thay chữ Liên Xô bằng chữ Nga và kết quả đạo luật “Bảo Vệ Chủ Quyền Ukraine” ra đời. Điều thứ hai trong đoạn hai của đạo luật viết: “Sự xâm lược và ảnh hưởng có ý định thù địch của Chính phủ Liên bang Nga và các tổ chức thân cận của họ ở Ukraine là mối đe dọa đối với chủ quyền dân chủ của Ukraine”. (Defending Ukraine Sovereignty Act of 2022).

Một ngày không xa, câu nói của TT Truman cũng sẽ được nghe lần nữa tại một phiên họp khoáng đại của quốc hội Hoa Kỳ và nhóm chữ “một quốc gia” sẽ được hiểu là “Trung Quốc”.

Chính trường quốc tế là một không gian đầy sinh động. Những quan điểm “bạn và thù”, “đồng minh và đối nghịch” thay đổi theo từng hiệp định và ngay cả theo từng chọn lựa chính trị của lãnh đạo một quốc gia.

Những ai học môn sử lịch sử thế giới bậc trung học ở miền Nam trước 1975 chắc còn nhớ bài học sau đây. Ngày Chủ Nhật, 28-6-1914, Đại Quận Công Archduke Franz Ferdinand, người sẽ kế vị bác của mình để trở thành hoàng đế Đế Quốc Áo-Hung, bị một sinh viên người Bosnia Serb tên là Gavrilo Princip bắn chết tại Sarajevo. Sự kiện này được lịch sử thế giới ghi nhận như điểm khởi đầu cho Đại Chiến hay còn gọi là Thế Chiến Thứ Nhất.

Tuy nhiên, giống như hỏa diệm sơn, biến cố đó chỉ là điểm vỡ của những xung đột gây tác động dây chuyền suốt nhiều thế kỷ. Trong hai thế kỷ trước đó, nhiều liên minh quân sự được ký kết giữa các quốc gia lớn nhỏ như Liên Minh Nga-Ottoman 1700, Liên Minh Ba Nước Đức, Áo-Hung, Ý (Triple Alliance) 1882 chẳng hạn.

Vô số bài học trên thế giới cho thấy, không phải nước lớn nào cũng chiếm đoạt nước nhỏ dễ dàng. Nếu một quốc gia có được hai yếu tố (1) nội lực vững mạnh và (2) quốc tế ủng hộ quốc gia đó dù thua những trận đầu vẫn sẽ thắng trận cuối cùng quyết định.

Năm 1939, Phần Lan dân số chỉ vỏn vẹn 3.6 triệu người nhưng chiến đấu anh dũng trong Chiến Tranh Mùa Đông (Winter War) chống lại quân đội Liên Xô đông gấp trăm lần. Lòng yêu nước, yêu tự chủ và dân chủ của dân tộc Phần Lan giành được cảm tình của đa số nhân loại. Hội Quốc Liên (League of Nations) chẳng những lên án Liên Xô xâm lược Phần Lan, mà còn trục xuất Liên Xô ra khỏi tổ chức quốc tế này. Chiến Tranh Mùa Đông năm 1939 đã làm Stalin lo ngại và từ bỏ tham vọng chiếm Phần Lan lần nữa sau Thế Chiến Thứ Hai dù đã nuốt hết vùng Baltics và Đông Âu.

Chính sách đối ngoại của một quốc gia chỉ đạo cho các mục tiêu chung của quốc gia đó trong quan hệ với các quốc gia khác bằng phương tiện ngoại giao.

***

Tại Việt Nam, Phạm Minh Chính, thủ tướng CSVN, một thời gian ngắn trước khi Nga xâm lăng Ukraine đã phát biểu về chính sách đối ngoại của CSVN như sau: “Chúng ta không ‘chọn bên’ mà chọn lẽ phải, xu hướng thời đại là hòa bình, hợp tác và phát triển”. (“Chúng ta không chọn bên mà chọn lẽ phải”, Thanh Niên, 16-12-2021).

Sau khi Nga xâm lăng Ukraine cuối tháng 2-2022, CSVN vẫn giữ quan điểm “chọn lẽ phải” này.

“Lẽ phải” của ông Phạm Minh Chính phải chăng là bốn triệu người Ukraine chỉ trong vòng hai tháng đã bị Nga đẩy ra khỏi căn nhà riêng của họ để sống chen chúc và thiếu thốn trong các trại tị nạn ở Ba Lan, Romania, Hungary và các quốc gia lân cận?

“Lẽ phải” của ông Phạm Minh Chính phải chăng là hàng trăm ngàn ngôi nhà Ukraine bị thiêu rụi, nhiều thành phố Ukraine bị san bằng, nhiều ngàn người Ukraine bị bom đạn Nga giết và chôn chung trong các ngôi mộ tập thể, nhiều em bé Ukraine chưa sinh đã chết khi còn trong bụng mẹ?

Dù với tiêu chuẩn đạo đức nào, hành động của Nga đối với Ukraine là hành động xâm lược trắng trợn và bản thân Putin theo tinh thần của Geneva Convention và nội dung “8 vi phạm” được LHQ nêu ra là một tội phạm chiến tranh.

Nhưng CSVN đã gạt qua bên mọi phản ứng từ phía người dân, mọi giá trị, tiêu chí đạo đức căn bản, mọi công pháp quốc tế và viễn ảnh một Việt Nam bị cô lập theo Nga chỉ để lấy lòng quan thầy Trung Cộng (TC).

CSVN rập khuôn theo cách bỏ phiếu của TC còn trơ trẽn hơn so với cách Tajikistan, Uzbekistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan đối xử với Nga.

Dù trong cùng một tổ chức – Tổ Chức Liên Minh An Ninh Tập Thể (Collective Security Treaty Organization ) do Nga chế ngự, bốn quốc gia cận biên giới này đã không ủng hộ Putin trong quyết nghị LHQ ngày 2-3-2022. Đó là những cái tát vào mặt Putin kiêu ngạo. Ít ra lãnh đạo bốn nước nhỏ này còn có chút ý thức về chủ quyền đất nước dù sự nghiệp chính trị và cả sinh mạng cá nhân của họ nằm trong tay Putin. Hành động vắng mặt tại buổi bỏ phiếu ngày 2-3-2022 của Turkmenistan, Uzbekistan và Azerbaijan là một cách phản đối mà Putin chưa bao giờ nghĩ tới.

Công bằng mà nói, không phải 141 quốc gia lên án Nga đều vì Ukraine. Không ít trong số họ nhận thấy đây là cơ hội tốt để hội nhập vào khối dân chủ tự do. Argentina, Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ, Chile tham gia phe Đồng Minh chỉ hơn hai tháng trước khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt nhưng vẫn được xem là quốc gia Đồng Minh và hãnh diện là thành viên sáng lập ra Liên Hiệp Quốc.

Chọn trường hợp Kampuchea láng giềng để phân tích cái khôn của Hun Sen và cái dại của đảng CSVN. Kampuchea ngày nay thừa hưởng gia tài chính trị hai mặt (Flip-flop politics) của Norodom Sihanouk để lại, nên cũng đã chọn cách bỏ phiếu hai mặt. Sihanouk đi với bất cứ ai kể cả tên diệt chủng Pol Pot, miễn là giữ được chiếc ngai vàng.

Hun Sen chọn bỏ phiếu ủng hộ Ukraine “đòi Nga rút ngay lập tức, hoàn toàn và vô điều kiện tất cả các lực lượng quân sự của mình khỏi lãnh thổ Ukraine trong các biên giới được quốc tế công nhận” trong nghị quyết quan trọng của Đại Hội Đồng LHQ ngày 2-3-2022 nhưng chọn bỏ phiếu trắng trong nghị quyết ít quan trọng hơn, loại Nga ra khỏi Hội Đồng Nhân Quyền LHQ ngày 7-4-2022.

Với chọn lựa khôn khéo này, Hun Sen muốn nói lớn cho Mỹ nghe rằng (1) Kampuchea không tham khảo Tập Cận Bình trước khi bỏ phiếu, (2) Kampuchea chưa quên vai trò chính yếu của Mỹ trong công cuộc phục hồi Kampuchea sau thời kỳ Pol Pot diệt chủng, (3) Kampuchea nhận thấy vai trò mới của Mỹ trong bàn cờ chính trị thế giới, nhất là Á châu và muốn có một sự cân đối trong mặt trận ngoại giao trong thời gian tới.

Chính phủ Mỹ chắc chắn đã lưu ý quan điểm đối ngoại của Kampuchea nổi bật trong khối các nước Đông Nam Á. Sau cuộc bầu phiếu, hai tòa đại sứ Pháp và Mỹ công bố lời cám ơn lãnh đạo Kampuchea đã có lập trường cứng rắn chống lại hành động xâm lược Ukraine của Nga.

Không có thù vặt trong chính trị. Quan hệ giữa hai quốc gia không chỉ đặt cơ sở trên quyền lợi chung mà còn trên quan điểm của mỗi quốc gia trước một vấn đề chung.

Cùng một mối quan tâm, chính sách đối ngoại của Ấn Độ vừa qua đã làm ba quốc gia còn lại lo lắng cho tương lai của Đối Thoại An Ninh Bốn Bên (Quadrilateral Security Dialogue, QUAD) và sẽ ảnh hưởng đến quan hệ Mỹ – Ấn sau này.

Điều này thể hiện ngay trong tổng kết phiên họp của QUAD ngày 3-3-2022 vừa qua. Phiên họp diễn ra khá nhạt nhẽo so với hai phiên họp năm 2020 đầy phấn khởi với hàng loạt mục tiêu từ Covid-19 đến tự do và an ninh hải hành. Lần này, mặc dù phiên họp ở cấp nguyên thủ quốc gia không có một chương trình nào cụ thể ngoài việc cứu trợ nhân đạo cho Ukraine. QUAD được thành lập với ý định bao vây TC nhưng với chính sách hàng hai của Ấn Độ, với ngân sách dành cho quốc phòng chỉ 1% GDP (47 tỷ dollar) của Nhật Bản và quốc gia nhỏ (21 triệu dân) như Úc còn khá lâu mới dựng nổi một hàng rào ở Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Đây không phải lần đầu. Sự lo ngại của Mỹ trước chính sách đối ngoại tả khuynh của Ấn phản ảnh trong thái độ của Mỹ trước xung đột giữa Ấn và Trung Cộng năm 1967 cũng như giữa Ấn và Pakistan năm 1971. Năm 1967, Mỹ đứng ngoài và trong xung đột năm 1971 Mỹ ủng hộ Pakistan. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các nhà làm chính sách đối ngoại Mỹ muốn lôi kéo Ấn, một nước dân chủ, về phe tự do trong cuộc đấu tranh lâu dài nhằm cô lập TC. Đây là lối đi đúng nhưng đường còn dài.

Để biện minh cho chính sách đối ngoại rập khuôn TC, các lãnh đạo CSVN biện hộ rằng, cách bỏ phiếu của họ là biểu hiện thái độ trung lập trong xung đột Nga-Ukraine.

Trung lập là gì? Trích từ các văn bản của LHQ: “Tính trung lập – được định nghĩa là tình trạng pháp lý phát sinh từ việc một quốc gia không tham gia vào một cuộc chiến giữa các quốc gia khác”. Cũng theo tuyên bố của LHQ về tính trung lập: “Trước tình hình căng thẳng chính trị và khủng hoảng leo thang, điều hết sức quan trọng là phải giữ vững các nguyên tắc chủ quyền và bình đẳng của các quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết, không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ quốc gia nào cũng như bảo vệ, thúc đẩy, khuyến khích giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình sao cho hòa bình và an ninh quốc tế không bị đe dọa”. (United Nations, International Day of Neutrality, 12 December).

Nhưng trung lập không có nghĩa chỉ tuyên bố “tôi đứng ngoài” là xong, mà còn phải được các cường quốc nằm trong quỹ đạo xung đột công nhận.

Khi Đệ nhị Thế Chiến vừa bùng nổ, hàng loạt quốc gia như Estonia, Ireland, Latvia, Lithuania, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển,Thụy Sỹ v.v… tuyên bố trung lập. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào tuyên bố trung lập cũng tránh được tai họa chiến tranh. Hitler tấn công các nước “trung lập” Na Uy, Đan Mạch, Bỉ, Hòa Lan và Stalin, lúc đó là đồng minh của Hilter, thu gọn ba nước “trung lập” nhỏ vùng Baltics chỉ trong vài ngày.

Lịch sử các cuộc xung đột quân sự trong thế kỷ qua cho thấy, mục đích tối hậu của giới lãnh đạo một quốc gia khi tuyên bố trung lập là để bảo vệ sự “bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết”.

Gần nửa thế kỷ từ ngày cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, đảng CSVN bảo vệ được gì về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ theo đúng định nghĩa trung lập của LHQ? Câu trả lời không chỉ là con số không mà là một số âm to lớn.

Không cần phải là một nhà nghiên cứu địa lý hay theo dõi chính trị hàng ngày, trong thời đại internet này, chỉ cần vào google gõ từng tên đảo Việt Nam như Gạc Ma, Đá Xu Bi, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Vành Khăn, sẽ thấy đó là những căn cứ quân sự TC hiện đại đầy đủ các phương tiện chiến tranh từ phi trường với nhiều phi cơ chiến đấu, trang bị hỏa tiễn tầm xa có thể đạt tới Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn trong một vài chục giây.

Những địa danh Vành Khăn, Tư Nghĩa, Gạc Ma v.v… chỉ còn trong các diễn văn, nghị quyết. Những quần đảo Việt Nam được nhắc tới trong thơ, trong nhạc đang còn sờ sờ trước mặt mà nghe xa xôi như từ thời Bắc thuộc vọng về.

“Trung lập” của CSVN đặt nền tảng trong chính sách gọi là “bốn không” được xác định trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. (Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019)

Trung Cộng muốn gì ở CSVN? Một điều mà những ai theo dõi quan hệ giữa CSVN và TC đều biết TC muốn CSVN (1) hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng về chế độ chính trị và (2) không được tách rời khỏi chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng.

Cách hành xử của các lãnh đạo đảng CSVN cho thấy họ đang nghiêm chỉnh thỏa mãn các yêu sách đó của TC bằng tài nguyên và xương máu của nhiều đời dân tộc Việt.

Tại sao cần phải “ba không” hay “bốn không”?

Hội nghị quốc tế nào, cường quốc nào chính thức tuyên bố chấp nhận nguyên tắc “bốn không” của CSVN?

Không một quốc gia nào trong số các quốc gia tranh chấp chủ quyền các đảo trên Biển Đông đưa ra những nguyên tắc đối ngoại một chiều và bị động như CSVN.

Sau đây là nguyên tắc đối ngoại chỉ đạo của Cộng hòa Philippines, từng đưa TC ra tòa án quốc tế và thắng, được ghi trong Điều II Mục 7 của Hiến pháp Philippines năm 1987: “Cộng hòa Philippines theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập. Trong quan hệ với các quốc gia khác, điều quan hệ tối thượng sẽ là chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia và quyền tự quyết”.

Khẳng định của Philippines rất linh động, uyển chuyển, rõ ràng và tổng quát thích hợp cho mọi hoàn cảnh, mọi đối tác với đồng minh và cả kẻ thù.

CSVN cũng có thể nói một cách công khai như vậy nhưng nếu nói như Philippines các lãnh đạo đảng lại lo TC hiểu sai lòng dạ của họ.

Chiến tranh là tai họa không tránh khỏi. Đại đa số nhân loại, nhất là dân tộc Việt Nam, không muốn chiến tranh nhưng ngày nào trái đất còn chia ra những biên giới, ngày đó nhân loại còn có chiến tranh.

Người viết hình dung Tập Cận Bình vừa dán lên tường trong phòng làm việc của ông ta lời dặn dò cho các thế hệ lãnh đạo TC tương lai rút ra từ cuộc chiến Nga xâm lược Ukraine: “Nếu phải trừng phạt Việt Nam lần nữa nhớ đừng đổ bộ mà hãy tận dụng tối đa mọi hỏa lực từ xa”.

Với kỹ thuật chiến tranh hiện có, TC thừa khả năng “trừng phạt CSVN” bằng hải lực và không lực từ Hải Nam, Hoàng Sa, các căn cứ quân sự trên đảo Chữ Thập, Xu Bi, Vành Khăn, từ hạm đội Nam Hải mà không cần phải đổ nửa triệu quân như 1979.

Nếu tình huống đó xảy ra, ai sẽ cứu Việt Nam? Trả lời theo lối bình dân là “chẳng có ma nào cứu”.

Lãnh đạo CSVN thường “nổ” cái gì cũng nhất. Đúng, một người không thể đứng thứ hai nếu chỉ chạy đua với chính mình, thi đua với chính mình, cạnh tranh với chính mình.

Về kinh tế, những quốc gia cựu CS thoát ra được và tự do phát triển, kể cả Mông Cổ, đều bỏ xa CSVN. GPD tính theo đầu người của Mông Cổ tăng gấp 10 lần kể từ cuộc bầu cử tự do chính thức 1993.

Nhưng những gì người dân Mông Cổ và các nước cựu CS có được, không chỉ là lợi tức kinh tế, tài chánh mà là quyền được bầu cử, ứng cử, tự do phát biểu, tự do đi lại, tự do tôn giáo, quyền biểu tình, quyền phê bình lãnh đạo mà không bị ai bắt bỏ tù và rất nhiều quyền khác mà người dân Việt Nam không có.

Giữa các cuộc chiến tranh, ngoài việc lo cải tiến và hiện đại hóa bộ máy quốc phòng, các nhà tư tưởng của mỗi quốc gia luôn cố gắng nghĩ ra một con đường đất nước sẽ phải đi qua, các thế hệ trẻ tập trung dùi mài kinh sử của nước mình và của thế giới để qua đó phát họa những chính sách dài hạn, ngắn hạn thích nghi cho đất nước.

Tư tưởng vô cùng quan trọng và phải đi trước. John Adams, tổng thống thứ hai của Mỹ viết thư cho Thomas Jefferson, tổng thống thứ ba của Mỹ ngày 24-8-1815 “Cuộc Cách mạng đã ở trong ý thức của người dân, và điều này đã có hiệu quả, từ năm 1760 đến năm 1775, trong vòng mười lăm năm trước khi một giọt máu đổ xuống tại Lexington“. (Exhibition, Creating the United States, The Library of Congress).

Những lời phát biểu của Phạm Minh Chính cho thấy, sau 47 năm, Việt Nam vẫn còn là một nước với những tư tưởng lỗi thời, già nua và lạc hậu đã được nhân loại xếp vào ngăn tủ. Bộ Lenin toàn tập cũ, bìa cứng, in năm 1974 được bán ở Mỹ với giá rất cao vì đó là sách xưa dành cho các nhà sưu tập, thế nhưng tại Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lê trên danh nghĩa vẫn còn là cây kim chỉ nam cho đất nước đi lùi.

TÔMA VÀ CON MẮT THỨ BA

TÔMA VÀ CON MẮT THỨ BA

 Lm. Trần Ngà

Cách xử sự của Tôma cũng là cách xử sự thông thường của nhiều người.  Người ta chỉ chấp nhận là có thật những gì mà người ta có thể xem bằng mắt, bắt bằng tay, những gì cân, đo, đong, đếm… được. Còn những gì người ta không thấy, bị xem như là không có.  Khi tôi hỏi bạn bè: Tại sao bạn không tin Thiên Chúa, không tin có linh hồn, không tin có sự sống đời sau?  Họ trả lời thật đơn giản: “Có thấy đâu mà tin!” 

Thế nhưng, có nhiều điều chúng ta không thấy nhưng chúng ta vẫn phải nhận là chúng hiện hữu.  Người ta không thể nhìn thấy tình mẫu tử nơi người mẹ, không nhìn thấy ý chí kiên cường nơi bậc anh hùng, không nhìn thấy trí khôn tuyệt vời của nhà khoa học (bởi vì tình yêu, ý chí, trí tuệ… là những thực tại vô hình, không màu sắc, không trọng lượng, không khối lượng)… nhưng không ai dám phủ nhận rằng những thực tại nầy không có. 

Với đôi mắt trần nầy, tầm nhìn của người ta rất hạn hẹp, như “ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung.” 

Với đôi mắt trần nầy, chúng ta chỉ nhận thấy một ít sự vật phù du mà thôi.  Còn những điều quan trọng, những điều chính yếu thì không thể nhận thấy.  Nhà văn Saint-Exupéry đã khám phá ra điều nầy, ông viết: “L’essentiel est invisible pour les yeux” (Thực tại thiết yếu thì mắt trần không thấy được).  Do đó, nhân loại cần đến những con mắt khác, những con mắt thứ ba để nhận thức những thực tại cao siêu.  Con mắt nầy giúp người ta nhìn xa, nhìn rộng, nhìn sâu, nhìn thấy điều thiết yếu, nhìn thấy chân lý… 

Con mắt thứ ba của các nhà vi trùng học là ống kính hiển vi.  Nhờ con mắt nầy, nhà nghiên cứu có thể nhìn thấy vi trùng và những siêu vi cực nhỏ…  Con mắt thứ ba của các nhà thiên văn là ống kính thiên văn, nhờ đó các nhà khoa học có thể thấy được những ngôi sao cách mặt đất đến mười tỉ năm ánh sáng…  Con mắt thứ ba của các nhà quân sự là màn ảnh ra-đa, là vệ tinh quan sát…  Chúng giúp các nhà quân sự nắm rõ địa hình cũng như các bí mật quân sự của đối phương nhằm đạt tới chiến thắng. 

Trong Phật giáo, con mắt thứ ba của nhà tu hành đạt đạo là “huệ nhãn,” giúp người ta thấy được những thực tại tâm linh siêu hình.  Đối với Đức Giêsu, con mắt thứ ba mà Ngài mong muốn các môn đệ Ngài phải có là Đức Tin.  Nhờ “Con Mắt Đức Tin,” nhân loại có thể nhận ra Thiên Chúa là Cha yêu thương, nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, nhận ra mình có hồn thiêng bất tử, biết mình có cuộc sống mai sau, có thiên đàng hoả ngục… 

Tông đồ Tôma chưa có con mắt thứ ba.  Anh chỉ tiếp cận với thế giới qua đôi mắt trần.  Anh chủ trương chỉ những gì được xem thấy tận mắt, được sờ tận tay… mới là điều có thực.  Chính vì thế, khi nghe các môn đệ bảo anh: “Nầy Tôma, Thầy đã sống lại và đã hiện ra với chúng tôi,” Tôma cho là chuyện đùa.

Cho dù Tôma có thấy Chúa tận mắt đi nữa, chắc gì anh đã tin, vì biết đâu đó chỉ là bóng ma của Chúa Giêsu hiện về.  Anh đòi phải kiểm chứng bằng cách xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn… thì anh mới tin!  Chúa Giêsu không hài lòng với quan điểm đó.  Ngài nói: “Tôma, vì anh đã thấy Thầy nên anh mới tin.  Phúc cho những ai đã không thấy mà tin.” 

Như thế, phúc cho những ai không dùng đôi mắt trần, nhưng dùng con mắt thứ ba, “Con Mắt Đức Tin” để nhận ra Chúa. 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa luôn tuyên dương những ai có Đức Tin vì đó là con mắt tối cần giúp thấy được những thực tại siêu nhiên và đạt tới ơn cứu độ.  Chúa luôn khiển trách các môn đệ khi các ông yếu lòng tin.  Chúa buồn phiền vì dân chúng thiếu lòng tin.  Chúa khiển trách Tôma là kẻ cứng lòng tin.  Xin khai mở cho chúng con con mắt thứ ba, con mắt Đức Tin, để chúng con nhận biết Thiên Chúa Cha là Cha yêu thương, nhận biết Đức Giêsu là Đấng cứu độ nhân loại, và nhận biết Thánh Thần Chúa là Đấng thánh hoá mọi người, cùng nhận biết mọi người là anh em thật của chúng con trong Chúa Kitô.  Amen! 

Lm. Trần Ngà

From: Langthangchieutim

Ukraine: Bị giết khi đi sơ tán, Elisei là một trong số 200 nạn nhân trẻ em (BBC)

Ukraine: Bị giết khi đi sơ tán, Elisei là một trong số 200 nạn nhân trẻ em (BBC)

  • Yogita Limaye
  • BBC News, Kyiv, Ukraine

NGUỒN HÌNH ẢNH,FAMILY HANDOUT

Elisei Ryabukon was 13 when he was killed, trying to escape

Evhen Ryabukon vỗ nhẹ lên chiếc quan tài, và dường như chuyện trò lần cuối với cậu con trai. Anh gục xuống, hết lần này tới lần khác, rồi mới nói xong lời vĩnh biệt.

Vợ anh, chị Inna, cố giữ bình tĩnh, chỉnh lại bức ảnh đóng khung của cậu bé tươi cười được đặt trên quan tài – cử chỉ yêu thương cuối cùng của người mẹ dành cho con.

Cậu bé là Elisei Ryabukon. Nếu còn sống, cậu sẽ tròn 14 tuổi vào tháng Năm.

Chỉ hơn một tháng trước, cậu bị lính Nga bắn chết. Gia đình, bạn bè, hàng xóm và bạn học cùng lớp tập trung ở một nhà thờ tại thành phố Brovary, phía đông Kyiv, để tiễn biệt cậu bé được nhiều người yêu quý từ làng Permoha. Một cộng đồng ly tán vì chiến tranh, nay cùng tập hợp trong đau thương.

Elisei được tưởng nhớ như một cậu bé trung thực, khiêm tốn và hay giúp đỡ người khác, một cậu bé không thích đánh nhau và từ chối chơi các môn thể thao va chạm mạnh.

Inna, Elisei và con trai bé của họ bị kẹt lại ở làng Permoha khi chiến tranh nổ ra.

“Hôm 11/3, quân Nga cho phép chúng tôi rời đi. Họ thậm chí còn vẫy tay chào tạm biệt chúng tôi và chúc chúng tôi may mắn. Rồi khi chúng tôi đang vượt qua một cánh đồng, họ bắt đầu bắn vào chúng tôi từ mọi phía,” chị Inna kể.

Có năm xe hơi nối đuôi nhau đi sơ tán. Elisei ngồi trên chiếc xe thứ hai, và tất cả mọi người trên xe đó không còn ai sống sót.

“Tôi bò qua cánh đồng và cứu được con trai bé ba tuổi bằng cách cầm cái mũ áo của nó lôi nó đi. Chúng tôi sống sót ra khỏi đó được thật là may mắn,” chị nói.

“Tôi muốn thế giới biết đến tội ác của Nga. Tôi muốn tất cả các nạn nhân được ghi nhận. Tôi muốn Nga phải chịu trách nhiệm về những người dân, trẻ em và phụ nữ họ đã giết trên đất của chúng tôi,” chị nói.

Bà của Elisei trong đám tang

Elisei là một trong hơn 200 trẻ em được xác nhận là đã thiệt mạng trong cuộc chiến ở Ukraine cho tới nay, theo con số của chính phủ nước này. Hàng trăm em khác bị thương.

Bệnh viện Ohmatdyt đã nhận hàng chục trẻ em bị thương trong cuộc chiến.

Bé Daniil Avdeenko được đưa tới đây từ thành phố Chernihiv ở phía Bắc, nơi quân Nga đã bao vây và bắn phá trong nhiều tuần trước khi họ rút đi vào đầu tháng Tư.

Daniil và cha mẹ cậu bị thương khi đạn súng cối rơi vào ngay bên ngoài nhà họ trong một khu dân cư.

Khi súng cối nổ, tất cả ba người bị bắn xuống mặt đất. Cha cậu, ông Oleksandr, thấy chân của vợ mình chảy máu ròng ròng. Ông dùng quai túi của vợ làm gạc buộc chặt, điều giúp bà không bị chặt chân.

Oleksandr gọi Daniil, và cậu bé nói với cha cậu không sao. Nhưng khi cậu đứng dậy, Oleksandr nhận thấy con mình bị thương nặng mức nào.

Daniil Avdeenko bị thương vì pháo cối Nga rơi vào

“Tôi thấy cháu bị mảnh đạn dính khắp người và cháu chảy máu nhiều,” ông kể.

Ba người được đưa tới ba bệnh viện khác nhau.

“Trong bốn ngày đầu, chúng tôi không biết ai còn sống ai đã chết. Họ không đăng ký tên con trai tôi khi cháu nhập viện,” ông kể.

Cuối cùng, gia đình cũng được đoàn tụ, và đưa tới Kyiv để điều trị.

Daniil bị mảnh đạn găm vào đầu nhưng đã được gỡ, nhưng những mảnh cắm vào lưng bé vẫn còn đó. Các bác sỹ nói nếu gỡ chúng ngay lúc này sẽ rất đau đớn. Cậu bé cũng bị thương ở nhiều chỗ và bị gãy chân. Không rõ bao giờ cậu mới đi lại được.

Nhìn chung cậu bé vui vẻ, nhưng cậu kêu lên vì đau khi y tá đến tiêm thuốc cho cậu.

“Cháu kể cho các y tá ở bệnh viện chi tiết chúng tôi bị thương ra sao. Cháu nhớ tất cả. Nhưng cháu tự trách mình. Trước khi chuyện xảy ra, tôi bảo cháu đi xuống hầm với mẹ. Nhưng cháu nhất định đòi ra ngoài với tôi,” ông Oleksandr kể. “Tôi giải thích với cháu là cháu không có lỗi gì hết.”

Ngay cả những trẻ em đã chạy thoát mà không bị thương về thể xác, các em cũng phải chịu những chấn thương về tâm lý.

Cậu bé 13 tuổi Ilya Bobkov cùng gia đình chạy khỏi thành phố Bucha, gần Kyiv, nơi quân Nga chiếm đóng trong nhiều tuần.

Gia đình cậu ra đi theo một hành lang nhân đạo được mở hồ tháng Ba cho thường dân đi sơ tán. Giờ đây họ sống trong một căn phòng trong một tòa nhà chính phủ xập xệ ở thủ đô Kyiv.

“Hôm 24/2, khi giao tranh bắt đầu, cháu rất sốc. Cháu tưởng rằng nó là một ngày bình thường. Cháu sẽ đi học, làm bài tập và chơi game. Rồi mẹ cháu vào phòng và bảo cháu xếp một số thứ vào túi. Rồi nhà cháu bắt đầu sống dưới hầm. Thật là đáng sợ. Khó mà ngủ được qua đêm,” Ilya kế.

Ilya Bobkov sơ tán khỏi Bucha, nơi quân Nga được cho là đã gây tội ác chiến tranh

Trên đường đi sơ tán, Ilya và gia đình thấy nhà cửa bốc cháy, xe tăng bị phá hủy và xác chết trên đường.

“Cháu không thể thoát khỏi cảm giác là chiến tranh vẫn ở quanh ta. Cháu mơ là gia đình cháu bị quân Nga giết hay bắt làm con tin. Cháu tỉnh dậy vã hết mồ hôi,” Ilya nói.

Cô của Ilya, Valentyna Solokova, người cùng gia đình cũng đi sơ tán cho biết họ cố gắng làm lũ trẻ phân tán bằng cách chơi trò chơi hay xem ảnh gia đình. Nhưng họ cũng buộc phải nói về tình hình khó khăn, đặc biệt là khi họ thiếu thực phẩm.

“Tôi bảo lũ trẻ là bánh mỳ và nước uống là những thứ quan trọng nhất. Tôi phải làm cho chúng hiểu là trước kia chúng có cuộc sống khác, khi chúng có tất cả, chúng đi học và về nhà chơi trò chơi. Còn giờ đây chúng phải sống mà không có những điều đó,” bà kể. “Tôi bảo chúng đã đến lúc các con trưởng thành lên.”

Một thế hệ trẻ em ở Ukraine bị tước mất tuổi thơ bình thường vào lúc này. LHQ ước tính trong số 7,8 triệu trẻ em ở Ukraine, chừng hai phần ba đã bị mất nơi ở.

Với giao tranh ác liệt ở phía nam và đông Ukraine, và bom đạn rơi xuống Lviv và Kyvi, không có nơi nào ở Ukraine được an toàn. Không rõ bao giờ trẻ em nước này mới có thể trở lại cuộc sống trước kia, bất ngờ bị gián đoạn bởi cuộc chiến.

Việt Nam sẽ đu dây kiểu gì tại thượng đỉnh Mỹ – ASEAN trong tháng 5 tới đây?

Việt Nam sẽ đu dây kiểu gì tại thượng đỉnh Mỹ – ASEAN trong tháng 5 tới đây?

05:24 | Posted by BVN1

Jackhammer Nguyễn

16-7-2022

Ngày 16/4/2022, thư ký báo chí tòa Bạch Ốc thông báo rằng tổng thống Mỹ Biden sẽ có cuộc gặp thượng đỉnh với 10 vị lãnh đạo các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), vào hai ngày 12 và 13-5-2022.

Vậy là sự kiện quan trọng góp phần củng cố chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, cuối cùng được ấn định sau nhiều trục trặc (lần cuối được cho là sự phá bỉnh của Campuchia?!).

Đây là cơ hội thách thức chính sách đu dây của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó nổi bật nhất là Việt Nam, trước tình hình quốc tế biến chuyển mạnh mẽ sau cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine, và thái độ công khai của Trung Quốc ủng hộ Nga, công khai phản bội lại những câu đầu môi chót lưỡi của họ về chủ quyền quốc gia, về không can thiệp… (Thật ra, mọi người cũng chẳng lạ gì với những lời lẽ đầu môi chót lưỡi của Bắc Kinh lâu nay).

Nếu chúng ta công nhận chính sách đu dây của các quốc gia nhỏ có phần nào hợp lý trong cuộc xung đột giữa các siêu cường, thì cuộc chiến Ukraine làm lộ ra phần bên dưới tối tăm của sự lệ thuộc của Việt Nam vào nước Nga trong các lĩnh vực kinh tế và quốc phòng. Nga là quốc gia cùng chia sẻ mô hình chính trị với Việt Nam và Trung Quốc. Sự lệ thuộc mạnh mẽ đến mức dẫn đến thái độ phi logic của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, chống lại đại đa số các thành viên của tổ chức Liên Hiệp quốc, để mà ủng hộ nước Nga nặc nô (pariah, từ được giới truyền thông và chính khách phương Tây sử dụng hiện nay). Những lá phiếu của Việt Nam đã phủ nhận cả những tuyên bố từ trước tới nay của họ về sự bình đẳng giữa các quốc gia, về việc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác…

Trong một bài viết ngay sau lá phiếu thứ ba của Việt Nam chống lại việc trục xuất nặc nô Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc, tôi có nhận xét rằng, không khéo thì Hà Nội “già néo đứt dây” trong quan hệ với Mỹ. Khi nhận xét như vậy, tôi nói về những tính toán chiến thuật của Việt Nam, dựa trên giả định rằng Mỹ đang rất cần Việt Nam trong ván cờ toàn cầu của họ trong việc kiềm chế Bắc Kinh.

Cùng nhận xét đó với tôi, tác giả Trần Đông A đi xa hơn, cho rằng cái rủi ro già néo đứt dây đó nằm trong cả chiến lược lâu dài lẫn tầm nhìn tương lai cho dân tộc Việt Nam. Tác giả phân tích những vấn đề về nhân quyền và chế độ chính trị dựa trên luật pháp, dựa trên quyền bầu cử tự do của dân chúng… tất cả đều thiếu ở Việt Nam, mà những vấn đề đó lại được đưa ra trong báo cáo nhân quyền thường niên của Mỹ, đưa ra ngay sau việc bỏ phiếu gạt bỏ Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc.

Theo một phân tích mới đây của giáo sư chính trị Andrew J. Nathan, thuộc đại học Columbia, Hoa Kỳ, trên tờ báo rất có uy tín là Foreign Policy, thì ba điểm cốt yếu trong chính sách Mỹ chống Trung Quốc hiện nay là: Sự liên minh (với các quốc gia), tính sáng tạo (của xã hội Mỹ), và những giá trị dân chủ.

Tác giả cho rằng, mặc dù cùng một mục tiêu là kiềm chế, cạnh tranh với Trung Quốc, nhưng chính phủ Trump trước đây đã không làm được gì tới nơi tới chốn vì dựa trên tính cách con buôn đổi chác của ông Trump. Tính cách con buôn đổi chác này lại có vẻ hợp với thái độ đi dây õng ẹo của Hà Nội từ trước tới nay: Lấy vị trí địa chiến lược đắc địa, án ngữ biển Đông ra mà làm vật đổi chác.

Nay tình hình đã thay đổi sâu sắc. Nước Mỹ quay lại dòng chính của nó, Trung Quốc và nặc nô Nga làm cho các nền kinh tế phương Tây đoàn kết hơn lúc nào hết. Bắc Kinh đang đối diện với tương lai khó khăn đang chờ đón họ về kinh tế, không chỉ ở Mỹ mà cả sự nghi hoặc của châu Âu đối với họ. Bắc Kinh cũng cảm thấy vấn đề đe dọa Đài Loan trở nên khó khăn hơn, trong khi sự sáng tạo của nền kinh tế vẫn còn xa tít tắp (làm sao có được sự sáng tạo dưới một chế độ toàn trị?), chưa nói đến khả năng ảm đạm tái phát dịch Covid, vì vaccine Hoa lục kém hiệu quả.

Có một may mắn cho Hà Nội là các nhà hoạch định chính sách đối ngoại chính yếu của Mỹ hiện nay ở Đông Á là hai ông Jake Sullivan và Kurt Campbell, đều là những người thông hiểu và ít nhiều có cảm tình với Việt Nam, họ có thể có kiên nhẫn, nhưng còn có những nhóm khác trong hành pháp Mỹ hiện nay chủ trương cách tiếp cận mạnh mẽ hơn, có thể không kiên nhẫn.

Tuy nhiên, cũng như tôi, tác giả Trần Đông A cho rằng chưa tới mức Mỹ sẽ làm khó Việt Nam về thái độ thân Nga của Hà Nội, mà vẫn đang tìm cách chinh phục xã hội Việt Nam với các giá trị mềm “Made in USA”. Hơn nữa, thiết nghĩ Hà Nội vẫn chưa đủ quan trọng như Ấn Độ, để cho Washington thẳng thắn chỉ trích.

Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó, già néo đứt dây về chiến thuật ở tương lai gần, hay già néo đứt dây với chính dân tộc mình, như tác giả Trần Đông A chỉ ra, đều dẫn đến kết quả không hay cho dân tộc.

Thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Minh Chính sẽ đến Washington vào ngày 12/5 này để … đu dây, nên quan tâm đến sự kiên nhẫn của người Mỹ.

J.N.

Nguồn: Tiếng Dân

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 2)

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 2)

Tác giả Lê Phương Lan,

 

Tôi yêu nhất bài “Dòng An Giang” với điệu valse dìu dặt như sóng nước.

Thủ đô của miền Nam tự do thuở ấy đã được ngợi ca rằng “Sài Gòn đẹp lắm Sài gòn ơi! Sài Gòn ơi!”; bên cạnh đó còn có bài “Đường Về Sài Thành”. Và trong bài “Ghé Bến Sài Gòn” nhạc sĩ Văn Phụng đã ân cần mời gọi:

“Cùng nhau đi tới Sài Gòn, thủ đô yêu dấu nước Nam tự do…

Người ơi! Sài Gòn chốn đây là ‘ngọc viễn đông’ vốn đã lừng danh!”

Và giòng nhạc trữ tình thời bấy giờ đã ghi nhận các tài năng lớn với những cung bậc du dương trong lời nhạc thanh tao như Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Cung Tiến, Hoàng Trọng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Phạm Đình Chương. Vườn hoa âm nhạc càng nở rộ trong mảnh đất trù phú để rồi tiếp theo sau này với vô số tên tuổi như Lam Phương, Anh Bằng, Lê Dinh, Trúc Phương, Hoàng Nguyên, Phạm Trọng Cầu, Lê Trọng Nguyễn, Thu Hồ, Hồ Đình Phương, Lan Đài, Hoàng thi Thơ, Tuấn Khanh, Châu Kỳ, Hoài Linh, Minh Kỳ, Mạnh Phát, Lê Dinh, Nhật Bằng, Nhật Ngân, Thanh Sơn, Song Ngọc, Y Vân … làm nên một di sản “nhạc vàng” bất tử mặc cho “bên thắng cuộc” với lòng hẹp hòi, thiển cận đã và đang ra sức cấm cản, chôn vùi.

Về nhạc sĩ Pham Duy, ông đã may mắn chạy vào được miền Nam để xây dựng cho các con ông cũng được vinh hoa trong lãnh vực ca hát. Bản thân ông được tự do sáng tác những tác phẩm lớn được người dân miền Nam yêu thích. Ông đã tránh được số phận nghiệt ngã của các thi sĩ như Hoàng Cầm, Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần đã uất hận:

“Bút tôi ai cướp mất rồi!

Tôi sẽ dùng dao khắc văn trên đá”;

số phận của nhạc sĩ tài hoa Văn Cao suốt ngày thơ thẩn ngoài đường! Nhưng nếu như ánh đèn đã lôi cuốn những con thiêu thân thế nào thì danh lợi là một thử thách dường như không thể cưỡng lại được đã đốt cháy tiết tháo nhiều người nghệ sĩ đã một thời được ái mộ. May ra chỉ còn lại hai danh ca Thanh Thúy và Hoàng Oanh.

Song song với giai đoạn nở rộ của nền tân nhạc phong phú, đó cũng là thời hoàng kim của nền điện ảnh, kịch nghệ, sân khấu cải lương, một đặc trưng của Sài Gòn hoa lệ với các đoàn hát lớn như Kim Chung, Kim Chưởng, Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu vang bóng một thời. Tự do trong sáng tác đã khiến người nghệ sĩ thoải mái diễn đạt trọn vẹn cảm xúc của mình qua những tác phẩm qua bao năm tháng vẫn còn lưu trữ trong ký ức của người thưởng thức. Thanh bình, no ấm khiến người dân yên lòng trong sinh kế nên đã thoải mái tham dự các sinh hoạt văn nghệ, giải trí.

Trong lãnh vực nghệ thuật tôi yêu hình ảnh thanh tú của danh cầm Phùng Phúc Trân với mái tóc dài tha thướt, bàn tay dìu dặt, lả lướt trên cây violon mảnh mai trên vai đã làm say mê khán thính giả. Ngoài ra, tôi còn ngưỡng mộ các bức tranh đôi khi chỉ tưởng như những nét vẽ phác họa thể hiện bút pháp rất độc đáo của nữ họa sĩ Bé Ký cũng được giới thưởng ngoạn rất yêu thích. Trong sinh hoạt thể thao, các danh thủ bóng bàn như Lê Văn Tiết, Nguyễn Văn Inh, Mai Văn Hòa đã làm rạng danh Việt Nam Cộng Hòa tại Nhật.

Nhưng vàng son nhất là nền túc cầu. Đội banh Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng Do thái 2-0 trong khuôn khổ vòng loại Olympic 1964. Cũng trong vòng loại thế Vận Hội 1968, đội banh VNCH đã hạ Phillipines 10-0. Vẻ vang nhất là thành tích vô địch giải Merdeka 1966 tại Mã Lai với 12 nước Á châu tham dự đem vinh dự cho đội banh VNCH với các danh thủ: Tam Lang, Nguyễn Văn Rạng, Đỗ Thới Vinh, Lâm Hồng Châu …

Thế hệ cha anh chúng tôi với nhiệt tâm lo cho thế hệ đi sau đã xây dựng tại miền Nam một nền giáo dục tiến bộ, rất nhân bản. Vào lớp học, ngay trên tấm bảng đen trước mặt các học sinh chúng tôi là hàng chữ: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Các sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư đã dạy chúng tôi những bài luân lý căn bản làm nền tảng đạo đức của con người với “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”.

Sách Công Dân Giáo Dục dạy chúng tôi sống với lương tâm và nghĩa vụ xây dựng đất nước của một người công dân. Những lời ca dao thể hiện tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương mộc mạc, nhưng chân thành, tha thiết. Các câu tục ngữ ngắn gọn, những câu châm ngôn, các sách học làm người đều dạy chúng tôi sống lương thiện “Đói cho sạch, rách cho thơm”.

Những câu chuyện ngụ ngôn của Lafontaine được cụ Nguyễn Văn Vĩnh chuyển dịch lời Việt rất dễ nhớ, dễ thuộc là những bài học xử thế rất thiết thực. Bên cạnh đó là cả một dòng văn học tuổi thơ trong sáng của các tờ báo như tờ Tuổi Hoa với sự cộng tác của nhà văn Quyên Di, thày giáo Hoàng Đăng Cấp, Họa sĩ Vivi. Tạ ơn các thày cô giáo đáng kính trọng. Cám ơn nền giáo dục đã giúp chúng tôi không đánh mất nhân cách khi bị chính quyền cộng sản sau khi chiếm miền Nam quyết dồn chúng tôi vào “tử lộ”. Chính nhờ nền giáo dục này trong đau thương nét sáng ngời của viên ngọc tình người càng tỏa sáng.

Sau ngày mất nước, gia đình chúng tôi sống trong sự giúp đỡ, che chở của bà con hàng xóm con hẻm 54 đường Thánh Mẫu, Chí Hòa. Cũng thế, trong lớp 9 tôi làm giáo viên chủ nhiệm tại trung học Đắc Lộ, các em nam sinh (Hạnh, Bình, Sơn) đã tự động đến giúp đóng lại trần nhà và mái tôn đã bị hư hại. Em Hoa sau mỗi buổi học phải đẩy xe xê ri đi bán rong đã đem đến cho tôi chén cơm với nửa trái trứng vịt kho mặn. Hai chị em Kim Anh, Kim Nhật và Nhung đã đến giúp tôi cán bột mì làm bánh quai vạc để đi tiếp tế.

Nhưng như một định mệnh! Thời thái bình thịnh trị của miền Nam đã không còn khi thành phố Sài gòn nhiễu loạn với các cuộc xuống đường đã bị Việt cộng trà trộn, kích động; khi người Mỹ đã đạo diễn cho các tướng lãnh phản bội lật đổ nền Đệ I Cộng Hòa! Và nền Đệ II Cộng Hòa ra đời sau các cuộc đảo chánh, chỉnh lý! Nhiều khuôn mặt chính khách, tướng tá thay phiên xuất hiện trên sân khấu chính trị!

Hết Nguyễn Khánh “râu dê” lại đến Nguyễn Cao Kỳ “râu kẽm”. Miền Nam trong sáng giờ đã bị khuấy động để trở thành vũng nước đục cho các tay gián điệp cộng sản nằm vùng thả câu! Cũng may là vẫn còn các tướng sạch “Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng” và biết bao chiến sĩ VNCH trong các quân binh chủng, các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia đã chiến đấu can trường trên mọi mặt trận, chống cự cho đến ngày đồng minh đã thực sự rời bỏ chúng ta!

Sau cái chết của hai anh em tổng thống Diệm, từ 1963 trở về sau chiến tranh đã bước vào thành phố. Máu đã đổ do đặc công Việt cộng đặt chất nổ tại nhà hàng Mỹ Cảnh, khách sạn Caravel, tòa đại sứ Mỹ; do các đạn pháo kích bừa bãi từ “dàn phóng” đôi lúc chỉ là các thanh tre gác vào nhau từ vùng ven đô gây bao cảnh tang tóc cho những người dân vô tội, khiến nhiều gia đình lo sợ phải xây hầm trú ẩn bằng bao cát. Việt Cộng còn ra tay ám sát nhà báo Từ Chung và giáo sư Nguyễn Văn Bông! Trong giai đoạn nhiễu nhương ấy bố tôi quyết định về hưu sớm để bước ra khỏi những tranh dành chức tước, quyền lực. Ông dùng tâm trí để làm việc với cơ quan JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) một cơ quan thuộc nghành thông tin của chính phủ Mỹ tại Sài gòn.

Khi đó gia đình tôi từ cư xá Sĩ Quan Chí Hòa đã dọn đến một căn nhà mái tôn nhỏ ở khu rừng cao su cũ đường Nguyễn Văn Thoại. Anh em chúng tôi có một căn gác chật hẹp mà chỉ đến buổi chiều mới leo lên chống cánh cửa sổ lên cho thoáng mát để có thể ngồi học bài và đi ngủ được. Từ đấy tôi đã biết yêu những cơn mưa về đêm vừa xóa tan cái nóng bức, vừa dạo nhạc nền đi vào giấc ngủ.

Khi tôi còn theo học tại trường trung học Đắc Lộ ở ngã tư Bảy Hiền thì buổi sáng thường là đi bộ mất khoảng nửa tiếng để đến trường. Khi ra về leo lên các xe Lam ba bánh. Nhưng sau đó tôi cũng vẫn phải lội bộ khá xa từ ngã ba Ông Tạ để về đến nhà. Tôi còn cách khác để về là vẫy loại xe đò nhỏ mang tên Cửu Hiệp chạy tuyến đường Hóc Môn- Chợ Lớn qua đường Nguyễn Văn Thoại dẫn vào con hẻm gần nhà tôi hơn. Một hôm xe chật ních bạn hàng với quang gánh treo đầy hai bên cửa xe, thúng mủng trái cây chất đầy trên mui. Tôi “hiên ngang” một tay bám chặt song sắt ở cửa xe, tay kia nắm cặp táp và nón lá, tà áo dài trắng tung bay phất phới! Về nhà kể lại bị mẹ mắng cho một trận và bị cấm không cho tái diễn màn “Tarzan đu dây” ấy nữa!

Hai năm cuối của bậc trung học thì tôi đã có chiếc xe đạp Peugoet nhỏ xinh để đi học tại trung học Nguyễn Bá Tòng. Cho đến khi lên đại học thì tôi đã có được chiếc Honda PC mảnh mai để di chuyển. Hình ảnh các nữ sinh yêu kiều và người phụ nữ tại Sài gòn và trên khắp các thành phố của miền Nam tự do đã làm chất liệu cho biết bao thi văn, ca nhạc tiêu biểu như

“Áo Lụa Hà Đông,

Phượng Hồng,

Ngày Xưa Hoàng Thị,

Giáng Ngọc,

Cô Nữ Sinh Đồng Khánh,

Tà Áo Tím,

Tiếng Hát Học Trò,

Tà Áo Trinh Nguyên,

Tà áo Đêm Nô En,

Trưng Vương

Khung Trời Mùa Thu…”

Tuy đời sống gia đình có chật vật khó khăn nhưng vẫn là chuỗi ngày vui vẻ, hạnh phúc. Sau bữa cơm chiều, cả nhà quây quần quanh chiếc TV trắng đen 17inches mà bố tôi đã nhờ người bạn Mỹ mua ở trong PX để nghe nữ xướng ngôn viên thanh lịch Mai Liên đọc tin tức, thưởng thức các chương trình tân nhạc, cải lương, thoại kịch.

Mẹ tôi lại thích giọng nói rất rõ ràng, đanh thép của cô Hồng Quế, xướng ngôn viên của chương trình Xây dựng Nông Thôn. Tối đến mở radio nghe Dạ Lan “thỏ thẻ” với các anh chiến sĩ VNCH.

Khi chiến tranh leo thang và người Mỹ quân nhân cũng như dân sự xuất hiện đông hơn thì bộ mặt thành phố đã có nhiều thay đổi. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa với chủ trương bảo vệ thuần phong mỹ tục, ngăn chặn các tệ nạn xã hội “tứ đổ tường” (cờ bạc, rượu chè, hút sách, trai gái), tổng thống Ngô Đình Diệm trước tiên đã dẹp sòng bạc Đại Thế Giới tại Chợ Lớn cũng như giới hạn việc mở các vũ trường.

Tuy nhiên, sau khi ông Diệm mất thì cường độ chiến tranh gia tăng trên các mặt trận đã tỷ lệ thuận với dòng người đổ về thủ đô sinh sống và với những sinh hoạt về đêm. Dù lệnh giới nghiêm đã được ban hành, những phòng trà ca nhạc, hộp đêm, vũ trường đã thi nhau xuất hiện. Đó là thời kỳ huy hoàng nhất của nền tân nhạc Việt Nam với sự nở rộ của các ban nhạc trẻ và các ca sĩ trên truyền thanh, truyền hình, dĩa nhạc, phòng trà. Tôi yêu giọng ca cao vút, trong trẻo của Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao; giọng “mũi” mang chút ngậm ngùi của Lệ Thanh; giọng ca liêu trai của Thanh Thúy; giọng ca mềm mại, luyến láy nhẹ như hơi thở của Hà Thanh; giọng tròn trịa trong từng nốt nhạc cũng như lời ca của Hoàng Oanh; giọng cao, ấm, vang vọng của Lệ Thu; và giọng trầm ấm, sang trọng của Duy Trác.

Thời gian đó cũng là giai đoạn ghi dấu ấn đậm nét nhất trong cuộc đời tôi với Sài Gòn. Trong độ tuổi mơ mộng nhất tâm hồn tôi đã ngập tràn những cung bậc và ca từ rất mới, rất diễm lệ, đầy cảm xúc rung động của Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Ánh 9, Vũ Đức Nghiêm, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trường Sa, Trịnh Công Sơn (với người nhạc sĩ này hầu hết nhạc của ông tôi rất yêu thích, nhưng có bất công hay không khi những người trai đất nước đang hy sinh trong lửa đạn để cho ông được yên thân viết lên những bài hát phản chiến tiếp tay làm suy sụp chế độ của miền Nam tự do?)

Trong các loại nhạc thì những bài ca về người lính VNCH mới thực sự là loại nhạc thời trang thời bấy giờ. Tôi cũng đâu tránh khỏi những ảnh hưởng của những bài hát quá lãng mạng ấy khi đường phố Sài Gòn dập dìu những tà áo tung bay bên cạnh các bộ quân phục oai hùng! Và thế là trong tập nhạc của tôi đầy ắp những bài hát của các tác giả Trúc Phương, Anh Thy, Nguyễn Văn Đông. Nhưng nhiều nhất và gây ảnh hưởng sâu đậm nhất chính là nhạc của Trần Thiện Thanh. Một cựu quân nhân sống tại Hoa Kỳ đã viết rằng: “Dân nhà binh chúng ta phải biết cám ơn Nhật Trường vì nhờ ông mà chúng ta mới lấy được vợ!”

Thật vậy! Qua thi văn, ca nhạc, đời lính đầy gian khổ, hiểm nguy, bất trắc nên càng dễ thương cảm, mến phục! Tình yêu với lính vì mong manh, ly biệt nên lại càng lãng mạn! Người lính với nét ngang tàng, “phong sương” trong bộ áo trận đã khiến người đẹp trai thì xem ra đẹp trai hơn, người trung bình hay xấu trai cũng trở nên “dễ coi” hơn!

Trong khung trời hoa mộng đó “người ấy” đến với tôi trong những ngày lửa khói Tết Mậu Thân. Trông chàng cũng khá “phong sương” với nước da ngăm đen trong bộ đồ rằn ri Cảnh Sát Dã Chiến. Qua nét ngang bướng, tôi tìm thấy nơi anh lòng cương trực và chân tình! Tôi bị chú ý vì cách làm quen lạ đời! Những ngày mới biết nhau chàng rủ tôi đi xem người chết được đưa về nhà xác nghĩa địa Chí Hòa! Điểm hẹn đầu tiên là “kinh nước đen” của trại chăn nuôi gần ngã tư Bảy Hiền! Sau kỳ nghỉ phép kéo dài lâu hơn do chiến sự Tết Mậu Thân chàng phải trở lại trung tâm huấn luyện CSDC Đà Lạt. Thế là tính văn chương thi phú trong tôi được dịp trổ tài qua những tờ thư peulure qua lại. Rồi tình yêu đã đi nhẹ vào đời!

Một năm sau chàng được đổi trở về Sài Gòn. Lúc đầu chiếc xe PC của tôi được chàng dùng để đi làm, để đưa đón tôi đi học và đi chơi. Sau đó chiếc Lambretta đỏ trắng được thay thế cho đến khi chàng đã có xe Jeep riêng để đi làm. Tôi yêu thích cảm giác nồng nàn, ấm áp khi ngồi vững vàng trên yên xe Lambretta. Một tay cầm tà áo dài, tay kia là vòng ôm rất êm ái!

Chúng tôi cũng có những con đường kỷ niệm: đường Cường Để chạy ngang qua Đại Học Văn Khoa của tôi cuối đường là tu viện cổ kính, thanh tịnh của các nữ tu dòng kín mà tôi thường ghé vào để cầu nguyện. Nhưng “con đường tình ta đi” được tôi chọn là đường Tú Xương. Con đường ngắn thôi nhưng rất yên tĩnh, sạch đẹp với hai hàng cây dài bóng mát. Trong những buổi hẹn hò hai đứa thường chở nhau vòng vòng quanh thành phố. Thỉnh thoảng ghé vào thưởng thức những món ăn hợp túi tiền lúc bấy giờ: nghêu, ốc hấp ở vỉa hè Nguyễn Tri Phương, xe bò viên Cao Thắng và vài lần tại quán bò bẩy món Ánh Hồng đường Nguyễn Minh Chiếu.

Chúng tôi chọn ngày đầu năm 1971 để làm đám cưới nên ngoài bạn bè, họ hàng hai bên nhà thờ còn chật ních giáo dân tham dự thánh lễ đầu năm trong tiếng chuông rộn rã của nhà thờ “Ba Chuông” ngã tư Huỳnh Quang Tiên, Trương Minh Ký. Chúng tôi đã cùng “dắt dìu về căn nhà mới” tại đường Võ Tánh, gần phi trường Tân sơn Nhất.” Căn nhà màu tím” do hai đứa ngẫu nhiên pha màu và sơn “phết”. Chiến cuộc ngày càng tăng không cho chúng tôi có những giây phút hạnh phúc trọn vẹn. Anh thường xuyên vắng nhà do các cuộc hành quân ven đô và những cuộc biểu tình trong thành phố.

30 tháng 4, 1975!

Sài gòn thất thủ! Mẹ tôi bị mảnh đạn pháo kích khi Việt cộng bắn vào phi trường Tân Sơn Nhất làm mất hẳn chân phải! Bố tôi, chồng tôi, anh tôi lần lượt đi tù. Các cột trụ chính trong gia đình đã bị đốn ngã! Chị em tôi ngơ ngác, thất thần như hàng triệu người dân Sài Gòn lúc bấy giờ. Chồng tôi bị bắt trước khi có lệnh tập trung cải tạo. Tôi đạp xe đi tìm tin tức chồng trong thành phố để mưa lệ trong lòng tuôn theo lời thơ của Trần Dần:

“Tôi đi không thấy phố, không thấy nhà!

Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ!”.

Không lâu sau tôi chỉ được nhìn thấy anh qua làn nước mắt sau hàng rào kẽm gai tại chi cuộc cảnh sát quận 10. Rồi ba năm sau mới được tin anh bị giam tại khám Chí Hòa. Nhưng từ đó trở về sau những lần thăm gặp trong bảy năm ở Chí Hòa cộng với sáu năm tại trại kiên giam trừng giới A20 Xuân Phước, những hiểm nguy, cực nhọc cũng như nỗi uất hận không được thăm gặp tôi phải nuốt nước mắt vào trong để chỉ khóc một mình trên đường về, hay trong những đêm dài đơn lẻ sau một ngày chống chọi với cuộc sống khắc nghiệt!

“Thần giao cách cảm” đã làm tôi thấm nỗi xót xa của thân phận người trai trẻ mà những đọa đày thân xác cũng đau đớn như nỗi bất lực trước cảnh khổ của những người thân yêu. Nỗi đau đã được thi sĩ Yên Ba diễn tả thật não lòng:

Dìu nhau vượt suối ưu phiền.

Anh non tay chống cho thuyền em chao.

Thương thì thôi! Xót xa nhau!

Cho nhau trọn kiếp, kiếp sau anh đền!”

Vì thế, qua những lá thư nồng nàn gửi cho chồng mà chắc chắn đã bị đọc trước, tôi muốn chứng tỏ cho họ hiểu rằng không gì có thể tiêu diệt nổi tình cảm thiêng liêng của con người!

30 tháng 4, 1975!

Ngày đại họa của dân tộc Việt Nam! Dân tộc chúng ta thật bất hạnh đã không có được cái bắt tay như hai tướng Grant và tướng Lee của dân tộc Hoa Kỳ sau cuộc chiến tranh Nam Bắc! Với người cộng sản Việt Nam thì những ai không chấp nhận hay không còn con tim và khối óc để tin theo chủ nghĩa cộng sản phi lý, phi nhân thì đều bị xem là “những thế lực thù địch”! Chủ nghĩa cộng sản vô thần là phi lý vì việc xây dựng con người “đạo đức xã hội chủ nghĩa”chỉ là lường gạt, hoang tưởng.

Thay vào đó nó chỉ tạo nên một tầng lớp thống trị kết thành một đảng cướp gian manh ăn chơi xa xỉ với những của nổi trong nước; của chìm đã được con cháu, người thân tín đem ra “thả neo” tại ngoại quốc. Để khi quốc biến thì nỗi thống khổ để lại cho người dân lành.

Chủ nghĩa này phi nhân vì nó phản bội lại truyền thống đạo đức của dân tộc. Người Việt chúng ta luôn tin tưởng vào thần thánh, luôn tin rằng sống sao có đức có nhân vì “hoàng thiên hữu nhãn”. Ngay cả các bậc những anh hùng liệt nữ cũng được tôn thờ:

“Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh.

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần”.

Với chủ thuyết vô thần con người không còn e ngại làm những chuyện táng tận lương tâm, dễ sống đến tận cùng của sự sa đọa! Có đau lòng không khi thành tích của Việt Nam bây giờ là nước đứng đầu về mức tiêu thụ bia rượu và tỷ lệ thanh nữ, phụ nữ phá thai tại Đông Nam Á.

“Hòn ngọc Viễn Đông” ngày nào giờ đây là khoảng không gian đặc quánh bụi bậm & khí thải. Chỉ một cơn mưa nhỏ đã trở thành “hồ chứa mưa” hôi hám! Lương tâm đâu rồi khi đang xẩy ra cuộc “tàn sát tập thể” do ngộ độc thực phẩm?!

Trong bài “Rác Của Một Thời” tác giả đã cho rằng: “Sau 46 năm, chứng kiến sự bất toàn và bất nhất trong việc lãnh đạo đất nước, người dân Việt Nam nói chung đã kiên nhẫn chấp nhận những sai lầm của họ lúc ban đầu. Nhưng thật không có gì tàn nhẫn hơn khi lợi dụng sự khổ đau của con người Việt Nam đang vọng về một tương lai tốt đẹp hơn, rồi mị dân, dẫn dắt họ đi về những lý lẽ bao biện, những thói sống lạc lối với nền văn minh và luật pháp.”

Sự mất mát của nền văn hóa Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn khai phá mở mang mảnh đất trù phú từ Thuận Hóa đến tận các đồng bằng sông Cửu Long. Một mạch sống văn hóa phong phú của miền Nam đã bị đứt đoạn, tàn phá. Sự tàn phá thành phố Sài gòn không phải chỉ trong phạm vi đất đai và môi trường sống mà xót xa nhất là trong lãnh vực văn hóa. Việt cộng khi vào đến Sài Gòn đã lấy khuôn mẫu từ đám Hồng Vệ Binh của họ Mao dùng đoàn thanh niên cộng sản trong chiến dịch thanh toán “văn hóa đồi trụy” đã đốt phá tiêu hủy trong hỗn loạn cả một di sản văn hóa của dân tộc!

Viết về Sài Gòn là một đề tài mênh mang trong đó mỗi người viết sẽ tìm thấy một góc quen thuộc của mình trong đó. Khi trân trọng quá khứ tôi muốn “ôn cố tri tân” để hướng về tương lai. Khi những điều thiện hảo của Sài Gòn xưa được nói lên, hy vọng những tàn phá do Việt cộng gây ra sẽ được đối chiếu.

Còn bao lâu nữa mới lấy lại được giang sơn gấm vóc? Còn bao lâu nữa để Việt Nam thoát khỏi nguy cơ đang trở thành một Tây Tạng thứ hai?

Dân chủ, dân quyền đã được nhiều quốc gia lựa chọn: dân chủ đã vực dậy nước Mỹ sau cuộc nội chiến; nước Do Thái sau cuộc tàn sát diệt chủng của Đức Quốc xã; nước Nhật tơi tả sau hai quả bom nguyên tử; nước Đức sau khi thống nhất Đông và Tây Đức. Nhìn chung quanh dân chủ đã đem lại phú cường cho Nam Hàn và Singapore. Gần đây nhất là Myamar.

Còn nhớ chăng câu lời nói của cụ Trần Văn Hương khi trao quyền tổng thống lại cho Dương Văn Minh: “Mình phải tự cứu mình trước khi bạn cứu mình, trước khi trời cứu mình!”

Tác giả Lê Phương Lan,