Một góc nhìn từ bên ngoài đất nước…

Lê Hoàng Nam

Một góc nhìn từ bên ngoài đất nước…

Hôm rồi có đứa bạn ở Mỹ về chơi, chở nó đi ngang qua nhà cũ của nó nó hỏi:

– Giờ nhà tao trị giá khoảng bao nhiêu tiền mầy?

Mình đoán ngôi biệt thự của nó giờ phải trên hai ngàn lượng nên phán đại khoảng tầm 3 triệu đô la. Nó thở dài rồi nói:

– Hồi đó ba tao bán chưa tới 200 cây, đi rớt hai vụ gần như hết sạch. Tới chuyến thứ ba toàn bộ cái thuyền là ba tao vay mượn của bạn bè. Nếu không bán nhà mà ở lại thì giờ cầm 3 triệu cũng có thể đàng hoàng làm công dân Mỹ mầy ha, mà tiền vẫn còn nguyên ở đó.

Đang suy nghĩ coi phải đối đáp với nó thế nào thì nó lại tiếp lời:

– Nhưng mà mầy biết cái được của việc đi là gì hay không?

– Là gì?

– Cái được là có ba thế hệ được sống trong môi trường văn minh, tự do, được làm mọi điều mình thích, được nói mọi điều cần nói, túm lại là được sống ra một con người.

– Bộ tao sống không ra con người hả?

– Nhìn cái cách mầy chạy xe trên đường, mầy dụi tàn thuốc lá tao biết rằng dù mầy cố sống khác đi nhưng những thói xấu vẫn theo mầy từ trong tiềm thức. Mầy biết không, khi mầy phải sống trong một hủ mực thì dù có tránh né hay bằng cách gì đi nữa thì mầy vẫn bị lem, chỉ có điều nếu không được gần đèn thì mầy sẽ không nhận ra mình bị lem ở chỗ nào và vì sao như vậy. Cái người ta nhìn thấy mất đi vì cộng sản đa phần là những thứ vật chất hữu hình nhưng thứ quý hơn là những giá trị phi vật chất, những thứ thuộc về đạo đức, văn hoá, đó mới là những mất mát lớn lao mà cần rất, rất nhiều thời gian người ta mới xây dựng lại được.

Nhớ hồi trước nó cũng là đứa hời hợt, thậm chí đoản hơn mình. Vậy mà giờ nó nói ra những điều mà mình không nghĩ tới, không nhìn thấy. Thế mới biết nền tảng văn hoá, giáo dục nó ảnh hưởng đến con người ta ở mức nào.

Phải! Thứ mà cộng sản tàn phá lớn nhất đối với dân tộc này không phải là môi trường, không phải là tài nguyên, không phải là những món nợ khổng lồ.

Cái mất lớn hơn nhiều là giờ đây người Việt không còn sống và ăn ở với nhau như những con người thực sự.

Theo Trương Quang Thi

Sài Gòn Trong Tim Tôi

Một Sự Đổi Thay. Viết & Đọc Chuyện: Lm Thiên Ảnh

httpv://www.youtube.com/watch?v=ZK-T16e20ns

Một Sự Đổi Thay. Viết & Đọc Chuyện: Lm Thiên Ảnh

Trong lịch sử của nhân loại, Thiên Chúa đã đến mang lại sự đổi thay cho nhiều người. Những sự đổi thay hầu giúp cho con người biết sống gần Chúa hơn và biết yêu thương, kính trọng những người thân quen của mình hơn vì họ chính là những món quà mà Thiên Chúa tặng ban trong đời sống của nhân sinh. Hãy để Chúa đến và mang lại cho chúng ta một sự đổi thay trong Mùa Vọng này và chúng ta sẽ nhận thấy tình yêu cao vời của Thiên Chúa luôn dành cho chúng ta trong mọi giây phút của cuộc sống.

5 ‘mánh’ của thợ máy dùng để ‘moi tiền’ khách hàng sửa xe

5 ‘mánh’ của thợ máy dùng để ‘moi tiền’ khách hàng sửa xe

June 10, 2022

LOS ANGELES, California (NV) – Nhiều người bước vào tiệm sửa xe chỉ để thay nhớt, nhưng cuối cùng lại phải trả tiền cho hàng loạt dịch vụ bảo trì, sửa chữa khác.

Những ai rơi vào hoàn cảnh tương tự có lẽ đã bị lừa, bởi vì đây là một trong những “mánh” của thợ máy.

Thợ máy không trung thực có thể bán cho chủ xe bộ phận cũ nhưng lấy giá như bộ phận mới. (Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)

Do kỹ thuật ngày càng phát triển khiến tuổi thọ xe ngày càng dài, các đại lý và tiệm sửa xe đôi khi dùng những hành động lừa lọc này để kiếm thêm lợi nhuận.

Theo trang VATire.com, sau đây là năm mánh lừa mà người tiêu dùng thường gặp phải tại các tiệm sửa xe. 

Lợi dụng nỗi sợ của chủ xe khi đèn báo sáng

Đèn báo kiểm tra động cơ luôn là một nỗi sợ khó diễn tả cho người lái xe, vì chúng thường báo hiệu các vấn đề khó có thể tự xác định được.

Đôi khi đèn chỉ cảnh báo các vấn đề nhỏ nhặt, nhưng đôi khi đèn có thể sáng do vấn đề lớn, dễ gây hư hỏng nghiêm trọng.

Lợi dụng nỗi sợ này, thợ máy dễ thuyết phục chủ xe mua các dịch vụ sửa chữa không cần thiết. 

Để tránh trường hợp này, hãy nghiên cứu và tìm tiệm sửa xe uy tín trong khu vực sinh sống. 

“Câu giờ” trong lúc sửa chữa

Chi phí nhân công thường khoảng $100 đến hơn $150 mỗi giờ.

Đúng là các quy trình sửa chữa phức tạp cần nhiều thời gian, nhưng nếu thợ máy tốn quá nhiều thời gian chỉ để sửa chữa một vấn đề đơn giản, đây có thể là một mánh lừa của họ.

Tiệm sửa xe sẽ báo rằng bước sửa chữa này tốn nhiều thời gian hơn thực tế để thu thêm tiền. 

Tự ý sửa chữa mà không hỏi trước

Mỗi tiệm sửa xe thường có quy trình sửa chữa chính thức, bắt đầu từ việc thợ máy và chủ xe thỏa thuận mức giá và quy trình dự kiến.

Sau đó, thợ máy sẽ kiểm tra xe để xác định vấn đề, thông báo với khách hàng và chờ họ xác nhận đồng ý sửa chữa xe.

Quy trình này giúp bảo đảm cửa tiệm được trả đúng số tiền, và chủ xe hiểu rõ những dịch vụ sửa chữa mà họ mua.

Nếu không xác nhận quy trình dự kiến trước, thợ máy có thể tự ý thêm bước sửa chữa mà chủ xe chưa đồng ý.

Yêu cầu thay nhớt để dự phòng

Đối với các dòng xe tân tiến dùng nhớt tổng hợp, khoảng cách giữa mỗi lần thay nhớt có thể lên đến 15,000 dặm (khoảng 24,140 km). 

Tuy nhiên, một số cơ sở sửa xe vẫn đề nghị thay nhớt mỗi ba tháng hoặc 3,000 dặm (khoảng 4,828 km) dù xe không cần thay nhớt thường xuyên đến vậy.

Trước khi đồng ý thay nhớt, hãy đọc lại sách hướng dẫn sử dụng xe để xem khi nào xe cần thay nhớt.

Thổi phồng giá bộ phận thay thế

Hóa đơn sửa chữa bao gồm một phần phí nhân công và một phần phí bộ phận thay thế.

Thợ máy không trung thực có thể bán cho chủ xe bộ phận cũ nhưng lấy giá như bộ phận mới, hoặc tệ hơn là tính tiền bộ phận mới, nhưng không hề thay bất kỳ bộ phận nào. 

Khi xác nhận chi phí sửa chữa ước tính, hãy yêu cầu thợ máy giải thích rõ chi phí nhân công và bộ phận, sau đó hỏi lại nếu thấy có điểm bất thường. (AXT) [qd]

MỘT CHÚT LAN MAN

Nghệ Lâm Hồng

MỘT CHÚT LAN MAN

BS Đỗ Hồng Ngọc

Ngẫm lại sự đời, tôi thấy hình như hầu hết chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia, cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Hừm! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy tại sao ta không nghĩ ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải… nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!

Còn đối với các vị phụ nữ cũng có khi gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Thân thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần hỏi han ta, không cần biết ta có “chịu” không! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ.

Trái lại, nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Từ ngày “thế giới phẳng” thông qua internet, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với người nhà nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện với mọi người bên cạnh thì nhiều khi đã lỡ nhịp!

Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại với tôi thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.

Từ ngày biết thương “thân thể” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho thân thể của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá!

Một người bạn tôi mắc bệnh “ăn không được”, “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương ông quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được?

Giá ông nghèo một chút còn hay hơn! Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn ông ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho thân thể của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được!

Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền!) trong bài Cư trần lạc đạo, (ở đời mà vui đạo)! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!

Nên nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đấu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe được, không thì đóng lại; mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy được, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!

Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là mắt xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.

Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả! Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Có lẽ như vậy hay hơn cho mình.

BS Đỗ Hồng Ngọc

Những cái nhất của giai cấp thống trị thời đó!  

An Khang

Mời bà con sáng tác đề thi môn văn ạ:

“Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ.

Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong.

Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng.

Thờ Mao chủ tịch cùng Xitalin bất diệt”

Thí sinh hãy:

– phân tích sự mông muội dã man, hùng hổ, bất nhân và bệnh tôn sùng lãnh tụ mù quáng trong bài thơ trên của thơ nô điển hình vĩ đại !

– phân tích tâm lý, đạo đức, lẽ phải của nhân vật có tên Khu nổi tiếng khi đấu tố mẹ ruột trong CCRĐ.

– phân tích tâm lý đạo đức tác phong của chồng chị Nông thị Xuân, một nhân vật điển hình lịch sử thế kỷ 20.

Qua đó thí sinh hãy nêu cảm nhận tự hào những cái nhất của giai cấp thống trị thời đó!  

Phải tam quyền phân lập.

Lê Vi

Mới đây, mình gặp lại thầy, thầy nói: Không thể mang mỡ để trước miệng mèo rồi ngồi rù rì dạy dỗ đạo đức cho nó, rằng “ăn vụng là xấu lắm, mất tư cách lắm”. Và yên tâm rằng con mèo đã được giáo dục tử tế. Chỉ mèo bị điên mới không ăn!

Muốn nó không ăn vụng thì phải làm cùng lúc 3 việc:

thứ nhất, phải cho nó ăn uống tử tế, đừng để nó đói khổ;

thứ hai, phải cất cho kỹ, mèo có muốn cũng không lấy được mà ăn;

thứ ba, nếu vẫn có những con ghê gớm, cố tình phá tủ để ăn vụng thì đánh thật đau, đừng sợ vỡ bình. Chống tham nhũng cũng thế.

Thầy nói thêm, nhưng muốn làm được 3 việc trên thì phải tam quyền phân lập. Bằng không, có cố mấy cũng vô ích.

Thái Hạo

Nhiệm vụ của Hội Thánh là gì? – Cha Vương

Nhiệm vụ của Hội Thánh là gì?

Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài. Một ngày an lành nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 09/06/2022

GIÁO LÝ: Nhiệm vụ của Hội Thánh là gì? Nhiệm vụ của Hội Thánh như Chúa Giêsu đã bắt đầu là mang hạt giống Nước Thiên Chúa gieo trồng và làm sao cho hạt giống ấy được lớn lên phát triển trong mọi dân tộc. (YouCat, số 123)

SUY NIỆM: Ở đâu Chúa Giêsu đi qua thì trời chạm tới đất: Nước Thiên Chúa tràn vào, một nước hòa bình và công chính. Hội Thánh phục vụ cho Nước Thiên Chúa. Hội Thánh không có cùng đích là chính mình, mà phải theo đuổi những gì Chúa Giêsu đã bắt đầu. Hội Thánh phải làm việc của mình. Hội Thánh nối dài các dấu hiệu thánh của Chúa Giêsu (các bí tích). Hội Thánh thông truyền những Lời của Chúa Giêsu. Vì thế Hội Thánh với các yếu đuối của mình là một mảnh trời ở trên trần gian. (YouCat, số 123 t.t.)

❦ Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em. (Ga 20:21)

LẮNG NGHE: Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền dạy cho anh em. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28:19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong thời gian gần đây Giáo Hội đang bị công kích từ nhiều phía. Là những người con trong Giáo Hội, xin cho con biết cộng tác và cầu nguyện hằng ngày cho các vị chủ chăn để họ luôn vững vàng can đảm, bình an lèo lái con thuyền Giáo Hội vượt qua mọi cơn sóng gió.

THỰC HÀNH: Làm một việc hy sinh nhỏ để cầu nguyện cho các hàng giáo sĩ và giáo phẩm trong Giáo Hội Công Giáo.

 From: Đỗ Dzũng

Tiếc cho giáo dục nước nhà

Tiếc cho giáo dục nước nhà

Tôi đoan chắc sẽ có rất nhiều người xúc động khi nghe ai đó nhắc tới tên của hệ thống trường La San. Đó chính là một hệ thống trường quốc tế hiếm hoi ở VN xuất hiện từ 1865. Sau 150 năm, các trường La San cuối cùng bị đóng cửa vào 1975. Nhưng phẩm chất và tinh thần giáo dục của La San thì còn mãi.

Ban đầu, chỉ có 6 sư huynh dòng La San là dòng tu Công giáo với mục đích giáo dục cho trẻ em nghèo rời Toulon, Pháp sang Việt Nam. Khi đến Sài Gòn vào đầu năm 1866 các sư huynh tham gia tiếp nhận trường Trung học Adran (Collège d’Adran) vốn đã được các linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris mở ở Sài Gòn từ năm 1861.

Vì có tiếng dạy giỏi, các sư huynh được nhiều nơi như Chợ Lớn, Mỹ Tho lần lượt xin mở trường vào năm 1867, rồi đến Vĩnh Long và Sóc Trăng, vào năm 1869.

Sau đó hệ thống La San lan ra rất nhanh ra nhiều tỉnh ở miền Nam vì phẩm chất giáo dục tốt, các thày nhiều từ tâm và có lý tưởng giáo dục. Trường chú trọng dạy trí dục, đức dục và thể dục, thúc đẩy học sinh hăng hái làm việc thiện. Đặc biệt là trường không giành riêng cho nhà giàu, mà con nhà nghèo cũng có thể vô học hành và phát triển.

La San có thể nói là một mô hình trường quốc tế mà VN rất cần. Bởi hai lẽ, thứ nhất là chương trình giáo dục tốt. Thứ hai là vì trường có lý tưởng giáo dục với mong muốn giúp đỡ trẻ nghèo, quảng bá tri thức và đề cao nhân cách học sinh.

Nhìn lại đa phần các trường quốc tế hiện nay ở VN, chúng ta có thể thấy mục tiêu chính của các trường này là kinh doanh. Do đó cách nào kinh doanh hiệu quả, ra tiền nhanh thì sẽ được chú trọng nhiều hơn. Bởi vì các nhà đầu tư mở trường chủ yếu là các nhà tư bản, thậm chí con buôn chứ không phải xuất thân từ các nhà giáo dục như những sáng lập viên của rất nhiều trường tư thục lớn trên thế giới.

Đó chính là căn nguyên dẫn tới hiện tượng làm ăn gian dối, trường ma bằng giả, hợp tác trên danh nghĩa với các trường lớp không uy tín, hay tìm ra một nơi nào đó gửi thân để quảng cáo, khi đã có đủ học sinh thì rút ra khỏi hợp tác để hoạt động độc lập. Trong khi các trường này thu tiền khủng, đắt hơn cả du học ở nước ngoài.

Thật đáng tiếc cho giáo dục nước nhà.

NGUYỄN THỊ BÍCH HẬU

From: TU-PHUNG

“NGỠ NGÀNG” – TGM Vũ Văn Thiên

“NGỠ NGÀNG”

 TGM Vũ Văn Thiên

“Ngỡ ngàng” là tâm trạng của một người khi đứng trước một công trình hay một biến cố kỳ diệu.  Trước công trình kỳ diệu đó, người chiêm ngắm thốt lên lời khen ngợi và cảm phục.  Sự ngỡ ngàng thường đi liền với lòng yêu mến tri ân.  Ngày lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ ngỡ ngàng thán phục tôn vinh sự kỳ diệu của Thiên Chúa.  Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi.  Đây là một trong ba “Mầu nhiệm cả” của Đức tin Kitô giáo.  Thánh Gioan tông đồ khẳng định: Thiên Chúa là Tình Yêu.”  Đã là tình yêu, thì phải có đối tượng được yêu.  Mặc dù Thiên Chúa yêu thương con người, nhưng con người lại không phải đối tượng tương xứng của tình yêu cao cả nơi Thiên Chúa.  Thiên Chúa không đơn độc.  Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con nồng thắm và diệu kỳ đến nỗi từ tình yêu này phát xuất Chúa Thánh Thần.  Công đồng Rôma năm 382 đã viết: “Đây là ơn cứu rỗi của các Kitô hữu: tin vào Chúa Ba Ngôi, tức là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; được thanh tẩy trong Chúa Ba Ngôi, chúng ta phải tin vững vàng rằng Thiên Chúa Ba Ngôi là một Thiên Chúa duy nhất và quyền năng, vinh quang và hằng hữu.”

Nội dung Bài đọc I là sự ngỡ ngàng của Đức Khôn Ngoan khi nói về Đức Chúa.  Đức Khôn Ngoan ca tụng Đức Chúa đã thực hiện công trình sáng tạo.  Trong công trình kỳ diệu ấy, Đức Khôn Ngoan là tác phẩm đầu tay.  Dưới lăng kính Kitô giáo, Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa là chính Đức Giêsu.  Người đã có tự muôn thuở, “được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha.”  Người ở với Chúa Cha từ trước khi vũ trụ được khai nguyên.  Cùng với Chúa Cha, Đức Khôn Ngoan thực hiện công trình sáng tạo, Người “hiện diện bên Chúa Cha như người thợ cả.”  Như thế, Đức Khôn Ngoan ngang hàng với Chúa Cha, và cùng với Chúa Cha hoạt động không ngừng để làm cho vũ trụ thêm huy hoàng đẹp đẽ.

Là người tin Chúa, chúng ta ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của vũ trụ, đồng thời chúng ta tuyên xưng Chúa là Đấng làm nên vẻ đẹp đó.  Sự huy hoàng của vũ trụ được tác giả Thánh vịnh 8 ca ngợi: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài.”  Trong tất cả các loài thụ tạo, con người được Chúa ưu ái nhất, và con người “chẳng thua kém thần linh là mấy, vì được Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên.”  Theo sách Sáng thế, sau khi tạo dựng muôn loài, Thiên Chúa trao đất đai cho con người canh tác và làm cho đất phì nhiêu màu mỡ.  Thiên Chúa đã đặt con người thay Ngài lên cai quản vũ trụ.

Nhìn lại lịch sử Cứu độ, chúng ta ngỡ ngàng trước quyền năng và tình yêu thương của Thiên Chúa.  Ngài đã hướng dẫn lịch sử bằng cánh tay uy quyền của người cha, và bằng tình yêu thương dịu dàng của người mẹ.  Con người nhiều lần phản nghịch lỗi phạm giới răn của Chúa, nhưng Ngài luôn tha thứ bao dung.  Vì yêu thương, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài là Đức Giêsu đến trần gian.  Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, có sứ mạng hoà giải Thiên Chúa với con người và nối kết con người với nhau trong tình huynh đệ thân thương.  Dân chúng nghe lời giảng dạy của Người đều ngỡ ngàng trước sự khôn ngoan của Người.  Qua Đức Giêsu, họ nhận ra “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài.”  Họ tung hô: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến.”

Nếu dân chúng ngỡ ngàng trước sự khôn ngoan của Đức Giêsu, họ cũng hết sức ngỡ ngàng và bàng hoàng trước cái chết của Người trên thập giá.  Vị sĩ quan người Rôma, khi chứng kiến cái chết của Người, đã thốt lên: “Quả thực, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).  Vì oán hận ghen tương, con người đã giết Con Thiên Chúa.  Con Thiên Chúa đã mang lấy án phạt để nhân loại được hạnh phúc.  Con Thiên Chúa đã trở nên nô lệ để con người được tự do.  Ngước nhìn thập giá, người tín hữu tôn thờ Thiên Chúa, Đấng yêu thương nhân loại và hy sinh vì hạnh phúc của con người.

Ông Phêrô cùng với các tông đồ và những khách hành hương ở Giêrusalem ngày lễ Ngũ Tuần đã ngỡ ngàng trước điều kỳ diệu Chúa Thánh Thần đã thực hiện.  Ngài ngự trên các ông như hình lưỡi lửa, đồng thời ban cho các ông sức mạnh thần linh.  Các ông mở tung cánh cửa đang đóng kín, mạnh mẽ rao giảng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai và là Đấng Cứu độ.  Chúa Thánh Thần là Thần Khí sự thật, là Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu đã hứa với các tông đồ (Bài đọc II).  Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động giữa Giáo Hội và thế giới hôm nay, để giúp cho Giáo Hội phát triển và cho Sự Thật được thực thi trong đời sống con người.  Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa và thân thưa với Ngài: Áp-ba!  Cha ơi!

Câu chuyện sáng tạo và câu chuyện cứu độ do Thiên Chúa thực hiện không chỉ là câu chuyện xa xưa, nhưng vẫn đang là câu chuyện của hôm nay và là câu chuyện của cá nhân mỗi người.  Khi tôn vinh Chúa Ba Ngôi, chúng ta ngỡ ngàng nhận ra bản thân mỗi người là một công trình kỳ diệu của Chúa Ba Ngôi.  Ba hoạt động: sáng tạo, cứu độ và thánh hoá luôn đan xen hoà quyện trong chính mỗi người chúng ta.  Quả thật, nhờ ơn Chúa chúng ta sống động và hiện hữu; nhờ ơn Chúa chúng ta được giải thoát và thứ tha; nhờ ơn Chúa chúng ta được thêm sức và thánh hóa.  Một số nhà Thần học có khuynh hướng “phân công” ba hoạt động này như sau: Chúa Cha là Đấng Sáng tạo, Chúa Con là Đấng Cứu chuộc, Chúa Thánh Thần là Đấng canh tân và thánh hoá.  Thực ra, mỗi tác động này đều là tác động của Ba Ngôi Thiên Chúa, vì Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần cùng ở trong nhau và cùng nhau hoạt động.  Và, kỳ lạ thay, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, dù bé nhỏ nghèo hèn, chúng ta cũng được tham dự vào dòng chảy tình yêu tuyệt vời nơi cung lòng Ba Ngôi, như Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy.  Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).

“Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.”  Khi làm dấu Thánh giá, chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng.  Bởi lẽ là thụ tạo nhỏ bé hèn mọn, mà chúng ta lại được tái sinh nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, đồng thời nhân danh Chúa Ba Ngôi trong mọi hành động.  Nhân danh Chúa để làm việc, để suy tư, để dùng bữa và nhất là để cầu nguyện.  Khi nhân danh Chúa mà làm việc, chắc chắn những việc chúng ta làm sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp.

Ngỡ ngàng trước những điều kỳ diệu cao cả ấy, chúng ta cùng cất lời tôn vinh: “Sáng Danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen”.

TGM Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Lịch sử cần rõ ràng: Chu Ngọc Anh, không phải Chu Văn An

Lịch sử cần rõ ràng: Chu Ngọc Anh, không phải Chu Văn An

9-6-2022

Đang truy cập thông tin về vị sự biểu Chu Văn An thì gặp lời ngợi ca có cánh thế này: Đó là một cán bộ cao cấp, được đào tạo, học hành bài bản, có tư tưởng, đạo đức lối sống trong sáng, gần gũi, mẫu mực…

Một cách tự động bởi định hướng của sự đọc, trong đầu tôi cứ tưởng đó là thông tin về Chu Văn An, đại học sĩ Quốc tử giám đời Trần, bậc thầy của vua và thiên hạ, được tôn thờ ngang hàng “Vạn thế sư biểu” Khổng Tử. Không ngờ, đọc lại lần nữa, soi vào chữ mới thấy đó là Chu Ngọc Anh!

Chu Văn An đỗ tiến sĩ, được bổ nhiệm chức Tư nghiệp Quốc tử giám đời Trần Minh Tông (1300-1357), làm thầy cho cả vua, bị bãi nhiệm, tống về quê sau khi dâng sớ đòi chém đầu 7 nịnh thần.

Chu Ngọc Anh cũng tiến sĩ, nguyên là Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (2016-2020) được điều động, bổ nhiệm Phó Bí thư thành uỷ Hà Nội kiêm Chủ tịch thành phố. Chu Ngọc Anh bị bãi nhiệm và tống tù không phải vì dâng sớ chém đầu nịnh thần mà vì bị phát hiện là gian thần kể từ khi đứng đầu quản lý học thuật và nghiên cứu khoa học.

Ảnh: Báo Dân Trí

Nếu ghép hai mảnh lịch sử lại với nhau thì… Chu Văn An dâng sớ chém đầu hậu duệ Chu Ngọc Anh!

Có ba điều khó hiểu:

1) Chủ trương của Tổng bí thư và Bộ Chính trị trong Đại hội 13 là công tác nhân sự phải bài bản, chặt chẽ, kiên quyết không để người kém đức, kém tài, cơ hội chui vào tổ chức nhân sự cao cấp. Nhưng Chu Ngọc Anh vẫn chui vào tuồn tuột?

2) Lời có cánh, từ Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính đến Bí thư thành uỷ Hà Nội Vương Đình Huệ, ngợi ca Chu Ngọc Anh trong lễ bổ nhiệm là sau thời gian Chu Ngọc Anh đã phạm tội trong vụ Việt Á.

Ảnh chụp màn hình

3) Án kỷ luật của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương dành cho Chu Ngọc Anh lại trái ngược hoàn toàn với lời có cánh ngợi ca khi bổ nhiệm. Án kỷ luật gọi là “suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống”, trong khi hành vi phạm tội đã diễn ra trước khi bổ nhiệm chức vụ cao hơn.

Khó hiểu thì hỏi vậy thôi. Mục đích của tôi không có gì khác ngoài xác định chân lý lịch sử. Đơn giản là để khi học lịch sử như một môn bắt buộc, trẻ em không bị nhầm lẫn, rằng Chu Ngọc Anh vì dâng sớ đòi chém đầu các nịnh thần mà bị cách chức, bị tống tù.

N H Ữ N G T Ầ M T H Ư Ờ N G – QUYÊN DI

N H Ữ N G T Ầ M T H Ư Ờ N G

Khi xưa, vì duyên văn nghệ, tôi có một cô bạn người Huế. Tận đất thần kinh xa xôi đó, một ngày kia cô gửi vào Sài Gòn tặng tôi một tấm hình. Hình chụp cô với mái tóc thề, tay cầm nón bài thơ, đứng bên bờ sông Hương. Đôi mắt cô nhìn ra dòng sông, trông cũng êm và hiền như dòng sông vậy. Đằng sau bức hình, thay vì những lời lẽ đề tặng, cô viết mấy câu thơ đơn sơ:

“Đời con gái

Như dòng Hương,

Kết bằng chuỗi

Những tầm thường.”

Ngắm hình cô chụp bên bờ sông Hương và đọc những câu thơ nhỏ nhoi ấy, tôi thấy bâng khuâng. Sông Hương không phải là con sông quan trọng, cũng chẳng phải là một dòng sông lớn, nhưng bao giờ nó cũng được nhắc đến với tất cả sự trìu mến. Sông Hương, cùng với núi Ngự, đã trở thành một phần quan trọng làm nên linh hồn xứ Huế. Và những người con của đất thần kinh, dù bây giờ trôi giạt đến tận chân trời góc biển xa lạ nào, cũng nhớ đến sông Hương mỗi khi nghĩ về hay nghe nhắc tới quê hương của mình.

Tôi không nghĩ sông Hương được quý mến như vậy, vì nó ”may mắn” được các văn nghệ sĩ thi vị hóa nó trong những tác phẩm của họ, nhưng vì nó tuy nhỏ bé tầm thường, cũng đã đem lại nhiều ích lợi cho người dân xứ Huế. Nó lại rất hiền, không gây tai hại, lụt lội làm cho người ta đau khổ. Phát xuất từ Nguồn Than, sông Hương hiền lành và nhẹ nhàng chảy ngang qua Ngọc Hồ, chùa Nguyệt Biểu, chùa Thiên Mụ, vào tới Kim Long, lững lờ trôi bên dưới cầu Bạch Hổ, cầu Sông Hương, cầu Trường Tiền, rồi tiến về Vĩ Dạ, Lại Ân, Vĩnh Lại, Thuận Hòa, Tân Mỹ và cuối cùng ra cửa Thuận An, góp lượng nước của mình vào biển cả mênh mông.

Cũng như con người, mỗi dòng sông có một cuộc đời và ta có thể nghe một dòng sông kể về cuộc đời của nó, nếu ta ngồi bên nó, cõi lòng lắng xuống, đôi tai gạt bỏ những tiếng động của thế giới vật chất cơ khí ồn ào, để có thể đón nhận tiếng nói của thiên nhiên.

Giả như có một buổi chiều tôi ngồi bên bờ sông Hương và làm như thế, tôi sẽ nghe sông Hương thầm thì nói về đời nó. Nó nói rằng nguồn gốc của nó chẳng có gì vẻ vang danh giá, vì phát xuất từ một nơi chẳng có chút gì thơ mộng, cũng chẳng phải là một địa danh nổi tiếng trong sách sử. Nguồn Than chỉ là nơi người ta đốn củi làm than, thế thôi. Nó nói rằng từ ngày này qua tháng khác, hết năm họ tới năm kia, nó sống cuộc đời rất bình thường, có thể nói là tầm thường, quanh quẩn thì cũng chỉ lững lờ trôi qua những làng xóm đã quá quen thuộc, rồi cuối cùng đổ ra biển, mất hút, hoà tan trong cái mênh mông của đại dương bát ngát. Nó nói rằng, chảy ngang qua xứ Huế, nó đã chứng kiến biết bao nhiêu tang thương dời đổi của những chế độ nối tiếp nhau, bao nhiêu niềm vui nhỏ nhoi và bao nhiêu nỗi cơ cực lầm than của người dân lành hiền hậu. Nó nói rằng người ta đã dùng nó theo những mục đích riêng: để làm đường chuyển vận, để làm nơi tình tự, để làm ăn buôn bán, cũng có khi để đổ những thứ rác rưởi phế thải nữa. Dòng sông chấp nhận tất cả, với dáng vẻ bên ngoài như yếu đuối tiêu cực nhưng thật ra với một cõi lòng bao dung.

Dòng sông Hương nói cho tôi nghe như thế, và có thể cũng sẽ hỏi về cuộc đời của tôi. Tôi đã bắt nguồn từ đâu đã trải qua những giai đoạn nào của cuộc đời, đã nhìn cuộc sống với quan niệm, thái độ ra sao? Dòng sông không đòi tôi trả lời cho nó, nhưng khuyên tôi hãy thành thực trả lời cho chính mình.

Đời người con gái cũng giống như dòng sông Hương. Tôi nghĩ đến cô bạn của mình và thấy điều cô viết thật đúng, ít ra là với chính cuộc đời cô. Cô viết văn hay nhưng không phải là nhà văn có danh. Cô dạy học giỏi nhưng không phải là một giáo sư nổi tiếng. Cô sống một cuộc sống rất bình thường: sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, cùng với anh chị em trong nhà học hành, vui chơi trong suốt tuổi ấu thời. Lớn lên một chút, cô cũng từng làm lụng phụ giúp cha mẹ. Cô cũng đã trải qua những cảnh nghèo túng thiếu hụt, những niềm vui, những nỗi buồn của cuộc sống cá nhân và gia đình. Rồi cô hoàn tất việc học, đi tìm việc làm, bước xuống cuộc đời với tấm lòng son và đôi mắt nai bỡ ngỡ. Cô đã từng được nâng đỡ khích lệ, cũng như đã từng bị lọc lừa hay ganh ghét.

Sau này cô lấy chồng, sinh con, tiếp tục làm những công việc như trước kia cha mẹ cô đã làm, lo lắng những nỗi lo cho gia đình như trước kia cha mẹ cô đã lo. Những sự kiện và những diễn biến trong cuộc đời cô xem ra rất tầm thường, nó kết lại làm thành cuộc đời người con gái của cô. Người ta hay hát: ”Đời một người con gái, ước mơ đã nhiều, Trời cho không được mấy. Đến khi lấy chồng, chỉ còn mối tình mang theo.” (*) Tôi không biết cô bạn tôi ngày lên xe hoa, mang theo cái gì về nhà chồng? Ngay cả một mối tình, chẳng biết có hay không, mà nếu có thì cũng là mối tình nào đó hết sức âm thầm, hết sức kín đáo. Chỉ có một điều tôi biết cô bạn tôi mang theo được và cô sẽ chia sẻ với chồng, với con điều ấy, đó là cái nhìn nhân ái với đời với người, và lòng nhẫn nại trước tất cả những khó khăn nghịch cảnh của cuộc sống. Điều đó chính là con người của cô, là chính cô, và đã khiến cuộc đời cô tuy tầm thường mà có giá trị. Tôi quý mến và kính trọng cô cũng chính vì điều ấy.

Ngày hôm qua, ngồi xếp lại những thư từ hình ảnh cũ, tôi chợt thấy tấm hình của cô bạn ngày nào, ghép trong một tập thơ chép tay. Tôi lại thấy lòng có chút bâng khuâng. Người ta biết dòng sông Hương phát xuất từ đâu, trôi qua những đâu trước khi đến cửa Thuận An và đổ ra biển. Nhưng người ta thật tình không biết cuộc đời một người sẽ trải qua những giai đoạn, những biến cố nào, sẽ trôi giạt đến những bến bờ nào, trước khi đến bến bờ bước sang cuộc đời vĩnh cửu. Cô bạn tôi và gia đình cô không biết bây giờ đã trôi giạt về đâu và cuộc sống gia đình cô bây giờ ra sao. Hy vọng cô vẫn giữ được cái “tầm thường” cao đẹp của dòng sông Hương. Tôi ngắm nhìn cô trong hình. Nước hình đen trắng dù đã hơi ngả màu vẫn không làm mất được nét trong sáng của đôi mắt và khuôn mặt thật hiền hậu của cô; đôi môi xinh xắn như còn đang muốn nói một lời ngọt ngào thân ái. Lật phía sau lưng tấm hình, nét chữ mềm mại màu tím vẫn còn đậm nét. “Đời con gái, như dòng Hương, kết bằng chuỗi những tầm thường.”

Tôi bâng khuâng vì cô, bâng khuâng vì ”đời con gái.” Nhưng tôi bâng khuâng hơn nữa vì đời con người. Càng sống, tôi càng cảm nghiệm sâu xa rằng: chẳng phải chỉ có “đời con gái” mới ”kết bằng chuỗi những tầm thường,” mà đời của tất cả con ngươi đều được dệt ra, kết lại bằng những cái rất tầm thường nhỏ nhặt. Ngay cả những người có địa vị cao sang nhất hay những vị có đời sống đạo đức nhất, cũng vẫn sống cuộc sống ”tầm thường” của kiếp nhân sinh, chẳng thế mà một Linh mục bạn tôi đã chọn tên ”Nguyễn Tầm Thường” làm bút hiệu.

Đời người ta ai cũng có những mộng ước tương lai, to lớn hay không chưa biết, nhưng đều đẹp hơn, lớn hơn, cao hơn cái hiện tại. Và người ta, dù trong giai cấp, địa vị nào, cũng vẫn tự hào về những ”kỳ công” mình đã thực hiện được trong quá khứ, những cái tự hào giúp cho người ta vui mà sống. Nhưng những giấc mộng thì chưa phải là hiện thực, còn những kỳ công thì lâu lâu mới xảy ra. Còn lại phần lớn đời người ta là những cái nhỏ bé, lặt vặt, tầm thường: chuyện miếng cơm manh áo, chuyện công ăn việc làm, chuyện nhà cửa, chuyện vợ chồng, con cái, họ hàng, bè bạn… Có những chuyện rất nhỏ nhặt, xem như vô nghĩa đối với những ”giấc mộng lớn, giấc mộng con,” như chuyện rửa cái bát, quét cái nhà, chuyện thu dọn chăn gối buổi sáng, chuyện sửa lại một vật dụng bị hư, chuyện ra công viên chơi với đứa con nhỏ, chuyện để dành chút tiền sắm chiếc áo mới cho vợ… Tất cả những chuyện đó góp lại làm thành cuộc đời người ta. Nếu tôi chỉ sống với những giấc mộng tương lai và những kỳ công quá khứ, chỉ chờ khi có những chuyện lớn xảy ra thì mới làm, mà không chấp nhận sống những cái tầm thường, nhỏ nhặt nhưng lại xảy ra hằng ngày, hằng giờ, thì tôi chưa thực sự sống cuộc đời của chính tôi.

Một ngày nào đó, nếu các con tôi hỏi tôi: “Đời bố, bố đã làm được việc gì phi thường?” Tôi mong rằng mình có thể trả lời các con mà không xấu hổ, vì đã trả lời một cách chân thành: “Bố đã làm được một việc phi thường, mà việc phi thường ấy kéo dài trong suốt cuộc đời của bố, là bố đã sống thật trọn vẹn cuộc đời được kết bằng một chuỗi những chuyện tầm thường.”

Viết cho anh chị em Ki-tô hữu:

Mùa Vọng, mùa Chay, tuần Thương Khó, lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh là những biến cố lớn, những giai đoạn đặc biệt trong năm phụng vụ. Còn lại, cả năm là mùa Thường Niên. Từ trước tới giờ, những khi “đạo đức” lắm, tôi mới chuẩn bị tâm hồn sống mùa Vọng, mùa Chay, để đón mừng những ngày lễ lớn. Nhưng thực tình là chưa bao giờ tôi biết chuẩn bị để sống “mùa Thường Niên,” mà “mùa Thường Niên” mới là mùa dài nhất, là mùa chính trong năm phụng vụ cũng như trong đời sống đạo của Ki-tô hữu. “Mùa Thường Niên,” nhìn một cách khác, cũng chính là cái chuỗi “những tầm thường” trong đời sống con người của tôi.

Tôi thường được nghe các linh mục giảng về mầu nhiệm Giáng Sinh, mầu nhiệm Phục Sinh, nhưng ít được nghe về ”mầu nhiệm Thường Niên,” “mầu nhiệm tầm thường.” Nghĩ đến Chúa Ki-tô và suy niệm về cuộc đời của Ngài, tôi thấy Ngài đã sống “mầu nhiệm tầm thường” ấy thật tuyệt vời. Trong cuộc sống công khai, Chúa Ki-tô đã làm những phép lạ cả thể, nhưng những chuyện ấy chỉ là “cả thể” trước mắt người đời, chứ đối với Ngài là Đấng Toàn Năng thì những phép lạ ấy chẳng là gì. Chúa Ki-tô đã chết, đã được táng trong mồ đá, và đã sống lại. Sự kiện ấy còn ”cả thể” hơn nữa. Nhưng chuyện Chúa sống lại cũng chỉ lạ lùng trước mắt thế nhân, chứ còn với Ngài là đấng Thiên Chúa Hằng Hữu thì chuyện ấy cũng không có gì lạ. Đời Chúa Ki-tô, có lạ chăng là ở chỗ tuy là một Thiên Chúa quyền năng, mà khi chấp nhận sống cuộc sống con người, Ngài đã chấp nhận sống kiếp sống rất tầm thường của một con người thuộc giai cấp tầm thường trong xã hội. Ba mươi năm sống với Thánh Giu-se và Đức Mẹ, Chúa Ki-tô chẳng có vẻ gì là lạ lùng trước mắt họ hàng và người hàng xóm, trừ một lần Chúa ”đi lạc” rồi sau đó đọc và giảng Thánh Kinh giữa các đấng tiến sĩ trong đền thánh.

Chúa Ki-tô đã sống cuộc sống tầm thường ấy thật trọn vẹn và nhìn tất cả những sự việc tầm thường trong đời người với đôi mắt trân trọng, để khám phá ra một giá trị cao quý trong những việc tầm thường ấy. Chính vì thế mà Chúa Ki-tô trở nên phi thường, đúng như ý nghĩa câu nói của một nữ tu: “Tôi cố gắng làm những việc tầm thường để trở nên phi thường.” (**) Đó là bài học lớn cho tôi để tôi sống đời tầm thường của mình cho có giá trị. Tôi nghĩ, nếu bây giờ liên lạc được với cô bạn cũ, tôi sẽ kể cho cô nghe về “cuộc sống tầm thường rất phi thường” của Chúa Ki-tô. Đó là cách tôi muốn dùng để trả lời cho mấy câu thơ cô viết sau tấm ảnh tặng tôi năm nào; mấy câu thơ mà tôi biết nó không hề có chút ý nghĩa nào của sự bi quan hay của một lời than thở.

Quyên Di

________________

(*) Bài Không Tên Số 2 – Vũ Thành An

(**) Nữ tu Roselle

Hình ảnh: mượn trên “internet”