Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 1)

Van Pham

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ (Phần 1)

Tác giả Lê Phương Lan,

Chỉ còn 10 ngày nữa là đến thời điểm 46 năm cộng quân tấn chiếm miền Nam với mỹ từ “giải phóng”. Cái giải phóng đó đã không hề mang lại điều gì tốt đẹp hơn. Nhưng lại mang những điều tồi tệ, bỉ ổi cho đất nước, khiến mọi người hồi tưởng lại qúa khứ. Để mong ước một thời hoa mộng đầy ắp tình người thủa nào trở lại.

Thương tặng ace tù nhân lương tâm cùng thân nhân để thấy rằng người dân miền Nam VN cũng đã trải qua đọa đày từ chế độ để hàng triệu người đã không tiếc mạng sống mà từ bỏ chế độ bất nhân ngay sau cái ngày oan nghiệt 30-4…

***

Sài Gòn Một Thời Để Yêu Và Một Đời Để Nhớ

Chúng ta đang bước vào tháng 4 của năm 2021. Nghĩa là đã 47 năm chúng ta mất miền nam tự do và thành phố Sài Gòn. Mới đây tại Houston, Texas đã có nỗ lực của đoàn làm phim đài BBC dựng lại cảnh ra đi nát lòng của người Sài gòn vào những ngày thành phố trong cơn hấp hối. Riêng tôi với trí nhớ nhỏ nhoi của mình cố gắng viết lại những kỷ niệm thật đẹp đáng ghi nhớ nhất trong quãng đời sống với thành phố thân yêu của mình.

Tôi nói giọng Bắc, giọng Hà Nội trước 1954 của bố mẹ tôi. Vì thế nên năm đầu tiên đi học tại trường Tiểu Học “Hòa Bình” bên cạnh Vương Cung Thánh Đường, khi bị đám bạn chọc quê “Bắc kỳ ăn cá rô cây” tôi ức lắm, về nhà mách mẹ. Bà cho biết rằng tôi sinh ra tại Khánh Hội, Sài Gòn vì bố tôi trong quân đội nên sau đó bố mẹ tôi trở ra Hà Nội, đến 1954 cùng đồng bào miền Bắc di cư vào lại miền Nam. Thế là tôi yên tâm trả lời với lũ bạn!

Căn nhà nơi tôi sinh ra còn được ghi lại trong tấm hình mẹ tôi còn rất trẻ mặc áo dài lụa đang bế anh tôi, tóc bà kẹp cao hai bên và được búi lỏng thả nhẹ ngang lưng. Hai mẹ con đứng ngoài hiên nhà. Trên mặt đường có một chiếc xe thổ mộ đang đậu với chú xà ích cầm cây roi ngồi ở phía trước.

Tôi yêu Sài gòn, nơi tôi sinh ra. Nơi đã cho tôi sống thời thơ ấu của “tuổi thần tiên” như lời một bài hát của nhạc sĩ Phạm Duy. Tuổi thơ ấu đó chúng tôi được sống hồn nhiên trong tình thương chan hòa của bố mẹ; trong căn nhà khang trang ngay ngã tư đường Gia Long – Tự Do bên trong bộ chỉ huy Hiến Binh Quốc Gia.

Tại căn nhà này anh em chúng tôi có thể đứng trong lan can lầu để xem các cuộc diễn hành nhân ngày lễ Hai Bà Trưng và cũng là ngày Quốc Tế Phụ Nữ của nữ sinh các trường trung học Trưng Vương, Gia Long, Lê văn Duyệt. Hình ảnh hai nữ sinh mặc áo hoàng bào lộng lẫy của hai nữ vương Trưng Trắc, Trưng Nhị uy nghi ngồi trên mình voi vẫn còn đậm nét trong tâm trí tôi. Đoàn diễn hành khởi đầu từ dinh Gia Long, rẽ vào đường Tự Do rồi hướng thẳng về Tòa Đô Chánh. Cùng với kiệu voi, xe hoa và diễn hành.

Trong ngày lễ Hai Bà Trưng – học sinh được nghỉ học – còn có tổ chức các cuộc thi nữ công gia chánh và thi trẻ em khỏe đẹp. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc lòng bài hát thúc dục người phụ nữ Việt gánh vác công việc xã hội:

“Lời sông núi bừng vang bốn phương trời,

dục chúng ta đường phụng sự quyết tiến.

Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời.

Giòng máu thiêng còn đượm nồng vạn trái tim …”

Tuổi thơ của chúng tôi đã được nuôi dưỡng bởi không khí trong lành, hiền hòa của Sài Gòn xưa khi đường phố vẫn còn thưa thớt xe cộ. Khi tại các ngã tư, các bùng binh còn những anh cảnh sát hiền khô trong bộ sắc phục trắng cầm những cây côn ngắn hay giơ tay với những thao tác nhịp nhàng để chỉ đường cho xe và người đi bộ.

Sài Gòn xưa còn có những phương tiện giao thông đã hoàn toàn “cuốn theo chiều gió”. Đó là các chiếc taxi con cóc sơn màu xanh dương trắng, các xe xích lô máy di chuyển với tiếng nổ phành phạch đinh tai, những cỗ xe thổ mộ có chú ngựa hai bên mắt đã bị che kín, vừa kéo cỗ xe chạy lóc cóc vừa “vô tư” xả “chất thải” ra mặt đường và còn chiếc xe Lambretta ba bánh phun khói ào ạt nữa!

Tôi yêu tiếng chuông trầm ấm, rộn ràng của nhà thờ Đức Bà. Những buổi tan lễ Chủ Nhật gia đình tôi cùng giòng người ra về trên con đường Tự Do với hàng cây dầu cao vút hai bên đường. Trong bộ nhớ của tôi còn mãi tấm ảnh kỷ niệm những ngày hạnh phúc xa xưa: bố mẹ tôi tươi trẻ, thanh lịch, anh tôi gọn gàng trong bộ short trắng, hai chị em tôi “đồng phục” trong bộ áo đầm lính thủy trên vỉa hè sạch đẹp của đường Tự Do phía sau là nhà thờ Đức Bà.

Sau buổi lễ, chúng tôi thường được cho ăn sáng với những ổ bánh mì thơm phức tại kiosque Bưu Điện hay được dắt vào con hẻm Casino đường Pasteur để thưởng thức những tô phở ngạt ngào hương vị. Đôi khi còn được ghé vào quán Givral với mái vòm cong kiều diễm, một trong những kiến trúc đẹp người Pháp đã xây dựng tại thủ đô của miền Nam tự do, để mua cho chúng tôi mấy cái crossant “sừng trâu” hay bánh patechaud đặc biệt hương vị Pháp.

Thời đó Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho đổi tên các đường phố Sài Gòn chỉ giữ lại tên các danh nhân như Pasteur, Calmet, Alexandre Rhode nhưng trong một thời gian khá lâu người Sài Gòn vẫn quen với các kiểu nói “dạo phố Bonard, bát phố Catinat”. Thương xá Charner – thương xá Nguyễn Huệ – là cửa hàng sang trọng nhất thời bấy giờ.

Con đường Nguyễn Huệ những chiều lộng gió tỏa hương thơm từ những quán bán hoa. Thật đúng chất thơ trong “Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội”

“khi mưa xuống lạnh mình ướt,

chung nón dìu bước thơm phố phường”

của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Nỗi nhớ thương về thành phố Hà Nội – một thời nghe bố tôi kể lại là đã được mệnh danh là “Tiểu Paris”- của bố mẹ tôi dường như cũng đã hòa đồng vào vẻ đẹp của Sài gòn xưa.

Tôi được thừa hưởng lòng mộ đạo của mẹ và tình yêu thơ văn, ca nhạc của bố tôi. “Thuở ban đầu” của bố mẹ tôi tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội) đã được ông ghi lại:

“Anh nhớ mãi buổi chiều êm ả ấy.

Anh và em cùng đứng đợi tàu qua.

Thoạt mới trông lòng đã kết muôn hoa.

Máu đang chảy trong tim như ngừng lại …”

Từ bé tôi đã được nghe những giọng ca “tiền bối” qua những đĩa hát 30 hay 45 tours như: Anh Ngọc, Minh Trang, Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà và ban hợp ca Thăng Long với Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc với dòng nhạc tiền chiến. Âm nhạc miền nam đã theo tôi vào đời và ở lại với tôi mãi mãi. Và cứ thế tuổi trẻ của anh em chúng tôi lớn lên trong môi trường văn học nghệ thuật đầy nhân bản, khai phóng.

Bố tôi mua về rất nhiều sách vở, tạp chí. Đến nay tôi còn nhớ nội dung một vài bài văn trong tạp chí Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh. Trong vô số những tạp chí tôi còn nhớ đã được đọc là các tờ Sáng Tạo, Phổ Thông và Thời Nay. Nhà văn, nhà thơ nổi tiếng tại miền Nam thì quá nhiều. Xin ghi vào đây những tên tuổi lớn trong trí nhớ của tôi như Mai Thảo, Doãn Quốc sĩ, Võ Phiến, Thanh Nam, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long, Trần Dạ Từ, Nhật Tiến, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Nguyễn Đình Toàn, Phan Nhật Nam, Hà Huyền Chi.

Các nhà văn nữ thì có Minh Đức Hoài Trinh, Nhã Ca, Trần thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn thị Thụy Vũ và Lệ Khánh, nhà thơ của các nữ sinh trung học chúng tôi. Trong các bài biên khảo tôi lại rất ưa thích hai học giả miền Nam Hồ Hữu Tường với thuật ngữ “chẳng đặng đừng” và cụ Vương Hồng Sển với cách hành văn đặc biệt “nam kỳ” của một cụ già hóm hỉnh, tinh thông Hán học cũng như Tây học.

Cùng với “khẩu vị” này về sau tôi cũng thích đọc truyện của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Lê Xuyên. Thật ra tôi cũng rất mê giọng văn mượt mà của Mai Thảo. Nhưng có lẽ vì cái gốc “nam kỳ” vả lại gia đình tôi cũng đã có một thời gian sống tại vùng sông nước Mỹ Tho nên tôi hợp với chất giọng hồn nhiên, bộc trực, hào sảng của người miền Nam chăng?

Lúc bấy giờ gia đình chúng tôi cũng là độc giả trung thành của các tờ báo Tự Do, Ngôn Luận, Chính Luận, say mê theo dõi các truyện dài của nhà văn Hoàng Hải Thủy phóng tác nhiều tác phẩm lớn ngoại quốc mà Kiều Giang là một truyện phóng tác được ông yêu thích nhất.

Với nhiệt huyết xây dựng xã hội, bố tôi sau khi du học chuyên nghiệp ngành phạm pháp học tại Paris đã xuất bản ba quyển sách: “Phạm Tội Học Yếu Lược, Thiếu Nhi Phạm Tội, và Công Cuộc Chiến Đấu Chống Kẻ Bất Lương” đầy hoài bão! Rất tiếc vì qua cuộc đổi đời kinh hoàng chúng tôi đã không còn giữ được nữa!

Trong môi trường tự do và khung cảnh thanh bình thịnh trị của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã nở rộ những khúc hát rộn ràng diễn tả quê hương miền Nam tươi đẹp:

“Khúc Nhạc Đồng Quê,

Trăng Thanh Bình,

Nắng Đẹp Miền Nam,

Khúc Ca Ngày Mùa,

Lối Về xóm Nhỏ,

Tôi Yêu Quê Tôi,

Dựng Một Mùa Hoa,

Ta Vui Ca Vang,

Mộng Lành,

Mùa Hợp Tấu,

Bên Bờ Đại Dương,

Khúc Hát Ân Tình v..v..”. (còn tiếp)…

Hợp và tan

Hợp và tan

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Tuấn Khoa

18-4-2022

Ngày đầu tiên đi học lại sau biến cố lịch sử 30/04, lớp chưa chia Ban nên dễ biết ai đi, ai ở. Lớp tôi vắng nửa lớp. Đứa nào vắng tức là đã rời khỏi Việt Nam rồi. Không khí ngột ngạt. Cuối giờ học H lù lù xuất hiện trước cửa lớp. Nó kêu tôi ra ngoài hành lang và nói nó rút hồ sơ, không học ở đây nữa mà đi về quê ở Tây Nguyên. 

Nó nói, nhà trong Huỳnh Hữu Bạc bị mất, ba nó trung tá Không Quân, đi tù ở ngoài Bắc không có tin tức. Gia đình nó quyết định đi kinh tế mới (KTM) để cho ba nó được về sớm, còn nó học ở quê để giảm nhẹ lý lịch với hy vọng cơ hội vào đại học lớn hơn [SIC]. Nó nói ở trong rừng nên không có địa chỉ để liên lạc. Lúc đó tôi nghĩ rằng, tôi sắp mất thêm một thằng bạn nữa.

Chuyện HỢP-TAN-HỢP của tôi và H giống như trò chơi Năm-Mười.

Sáu năm sau, năm 1981, tôi và H bất ngờ đối mặt nhau tại cổng trường đại học Bách Khoa (ĐHBK), hé mở chỉ đủ cho 2 xe ra-vào. Cuộc đoàn tụ của 2 thằng bạn Võ Trường Toản xúc động không sao tả xiết.

H ngậm ngùi kể rằng gia đình nó trả giá quá đắt cho chuyến lập nghiệp ở KTM. Ba nó vẫn chưa về, má nó bệnh không làm việc nặng được nhưng buồn nhất là việc thi cử của nó thật lận đận. Tôi gọi đó là khúc bi tráng.

Thật vậy, H làm được việc đáng nể, nó đậu vào ĐHBK liên tiếp 4 năm 1978, 1979, 1980 và 1981 nhưng Ban Tuyển Sinh của tỉnh Tây Nguyên không cho nó đi học. Lý lịch của của cha là một rào cản cho mọi nỗ lực vào đời của thằng nhỏ. Mỗi lần đậu mà không được đi học, nó thấy tủi thân và bế tắc. Nó xa lánh hết mọi người. Đi làm ruộng để chờ năm sau thi lại.

Năm 1981 nó lại đậu với điểm rất cao nhưng vẫn không được đi học. Nó uất ức nên quyết định đánh một ván cờ tàn. Nó gặp ông Bí Thư tỉnh, sau ít phút trình bày với bằng chứng về thành tích thi cử, ông thấy nó thật thà và hiếu học nên ký giấy đặc cách cho nó đi học.

Chuyện chưa có tiền lệ này tạo nên một tiếng vang toàn tỉnh rồi H trở thành người nổi tiếng. Nó được đi học và giờ đây tôi có thêm một thằng bạn Võ Trường Toản để hàn huyên tâm sự và để giải tỏa tâm trạng u uất và cô độc ở chốn dường như không dành cho những thằng có lý lịch như tôi và H. Thực tế, những lần gặp gỡ của chúng tôi ở sân trường thật hiếm và ngắn. Gặp nhau lần nào cũng vội.

Ngày tôi ra trường đánh dấu một giai đoạn TAN lần thứ II giữa 2 đứa vì tôi không còn dịp gặp nó nữa.

13 năm sau, năm 1996, tôi đến Tây Nguyên để làm việc với công ty Tư Vấn. Anh Y, giám đốc, xác nhận H là kỹ sư của công ty này nhưng đã đi Mỹ theo diện HO nhiều năm nay. Anh Y nhận xét, H. lầm lì, ít nói nhưng lại nổi bật ở mọi nơi. Hồi học ở trung học H giỏi nhất tỉnh, vào BK vẫn học giỏi, làm việc ở cty này lại là một kỹ sư rất xuất sắc khiến anh phải thay đổi hệ thống lương để hợp thức hóa mức lương của H.

Tôi ví von H là loại bê-tông phát triển cường độ muộn. Đó là dạng học sinh khá ở lớp dưới nhưng thực sự xuất sắc từ cấp III, đại học và thời gian dài sau đó. Cuối buổi, anh dành cho tôi sự bất ngờ, anh nói H mới về Việt Nam hôm qua hiện đang ở nhà tập thể phía sau công ty.

Cuộc gặp gỡ lần này bất ngờ đến mức nó lắp bắp, không nói được lời nào. Nó kể, sang Mỹ nó phải cày bừa vì ba nó bệnh nặng do lao lực và thiếu ăn trong tù ở Bắc Việt, má nó cũng không khỏe, con nó còn nhỏ. Vì vậy nó không có duyên với con đường học hành ở Mỹ. Tôi thấy thật tiếc cho H và tiếc cho nước Mỹ.

Chia tay với nó lần đó tôi không nghĩ lâu đến như vậy. 14 năm.

Tháng 4/2019, trong buổi làm việc với tỉnh Tây Nguyên tôi lại hỏi thăm về nó. Nhờ nó quá nổi tiếng mà tôi có được thông tin của nó. Tháng 7/2019, H về Việt Nam. Cuộc đoàn tụ của hai thằng đàn ông từng trải có quá nhiều chuyện để kể. Được và mất. Nó nói ,dẫu sao lập nghiệp ở Hoa Kỳ vẫn tốt đẹp hơn chuyến lập nghiệp ở KTM năm 1975. Mừng cho hậu vận của nó.

Dâu bể cuộc đời. Tuy vậy có một điều vẫn không thay đổi, H vẫn lầm lì, ít nói, lặng lẽ, phớt tỉnh Ăng-lê, sống đời ẩn sĩ. Tôi tự hỏi chia tay lần này, bao lâu sẽ gặp lại?

***

Cau Ut Long Xuyen

Thư bạn Hoang Nguyễn, chữ “nếu” của bạn xem yếu quá. Lê Duẫn có học hành gì đâu mà hiểu biết. Không những hắn mà toàn bộ máy cai tri của Cộng Sản cũng”cá mè một lứa” thôi, chỉ có Võ Văn Kiệt vì có thời gian sống trong Nam, mới có chút suy nghĩ. Nhưng cùng để bụng vì lộ ra là bị diệt ngay. Vì vậy toàn bộ những người có hiểu biết, thức thời đều ra rìa hoặc bị thủ tiêu. Sau 30/4/75 họ ra tay cướp của và tiêu diệt từ nhân sự ( bắt đi tù: cải tạo. kinh tế mới), văn hóa ( đốt sách), giáo dục ( thay bằng lối giáo dục CS ngu dân) đến kinh tế.(đánh tư sản, 2-3 lần đổi tiền). Không phải họ ngu, vì làm như vậy họ mới đút túi và chia chác “chiện lợi phẩm” cướp được. Hơn thế nữa họ tức tối vì thấy VNCH giàu và sung túc hơn Miền Bắc của họ quá nhiều.
Đến năm 1986, 11 năm sau mới sáng mắt, thấy con đường đến thiên đường CS tối mù nên ” đổi cũ” tức là làm từ từ những gì VNCH trước đó đã làm. Đến nay năm 2022 đổi mới “kinh tế thị trường” giống VNCH trước đây, chỉ khác cái “đuôi khỉ”: “dưới sự lãnh đạo đường lối Cộng Sản” để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm. Dân chúng bị sưu cao thuế nặng, bốc lột cạn tàu, ráo máng. Tham nhũng tràn lan từ Viêt Á, Cục Lãnh Sự Bộ Ngoai giao, Cục Quân Y, Bộ Quốc Phòng, Hết thuốc chữa rồi chú Trong ơi!!!

VÔ THƯỜNG

Duyên Phận

VÔ THƯỜNG

Người có biết trần gian là quán trọ

Vừa thanh xuân thoắt cái đã bạc đầu

Đời vội vã còn ta thì lơ đễnh

Lạc nhau rồi sao tính cuộc bể dâu?

Người có biết cuộc đời vô thường lắm

Buông bỏ đi sao cứ phải dày vò

Hãy thương yêu khi vẫn còn có thể

Khép mắt rồi hoá cát bụi tàn tro.

Nếu có thể đừng trách chi dâu bể

Bao muộn phiền người cứ thả trôi đi

Đời ngắn lắm yêu thương còn chưa đủ

Nên đừng buồn vì những chuyện sân si!

Nếu có thể rộng lòng thêm chút nữa

Dành cho nhau nhiều hơn những nụ cười

Dù nghèo khó hay giàu sang bình thản

Mang được gì khi về cõi người ơi!

Người có biết trăm năm kia hữu hạn

Chốn trần gian ai rồi cũng sẽ già

Bàn tay thương thêm một lần hãy nắm!

Lỡ mai này vĩnh viễn phải rời xa.

Tác giả: Phương Quỳnh.

Tại sao một số Bác-Sĩ từ-chối điều-trị để cứu sống bản-thân

 Tại sao một số Bác-Sĩ từ-chối điều-trị để cứu sống bản-thân

 Câu hỏi: Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

 Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa:

 Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ) thường từ-chối khi mục-đích duy nhất của những phương-pháp điều-trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi.

 Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp. Họ kiệt sức, ốm yếu. Cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa. Tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

 Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác.

 Điều này, về cơ-bản là điều-trị để chết.

 Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày. Nó cực kỳ vô nhân-đạo. Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

 Gia đình tôi biết điều này. Tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

 Hãy để tôi kể chuyện này.

 Tôi đã có một đồng nghiệp. Anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học. Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất. Anh còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút. Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm, đi biển.

 Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu. Anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vị. Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon. Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó.

 Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện. Anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

 Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan. Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính.

Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

 Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó cho bản thân mình. Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

 Với tất cả sự bình yên.                          

            Bài viết nầy của cựu bác sĩ nội khoa Maureen Boehm thì tôi đã đọc đôi lần trên mạng, cũng như được người quen gửi đến để xem cho biết. Do nhận thấy nội dung có tính chất trung thực và giá trị hữu ích. Nên muốn thêm thắt đôi chút khái quát, về những gì nghe qua từ con cái mình hành nghề Y khoa có dịp giải thích như sau:

                 1) Chứng ung-thư quái ác, dù bất kể dưới dạng gì. Xin hiểu rằng mãi đến hiện nay, vẫn thuộc loại nan-y, hầu như… bất trị.

                 2) Sự nguy-hiểm tột bực là cancer rất khó-khăn trong việc chẩn-đoán phát-hiện (chính xác) ở thời-kỳ tiềm-ẩn đầu tiên (từ 5-7 năm khi vướng phải). Chỉ khi nào sau đó bệnh bước vào giai đoạn kế tiếp phát triển nhanh chóng mạnh mẻ, tiến đến hiện tượng di căn sau cùng, bệnh lây lan khắp cả khu vực nội tạng, tạo sự tàn phá lớn lao khủng khiếp. Thì bệnh nhân mới cảm thấy có những triệu chứng đau đớn dữ dội liên tục thường xuyên xảy ra trong cơ thể họ.

                 3) Những phương-thức chữa trị như phẫu-thuật, hay hoá-trị, hoặc xạ-trị. Tựu trung chỉ nhằm mục-đích khống-chế (tạm thời) cơ-quan bị ung-thư. Chứ không thể nói là chữa-trị hoàn toàn dứt hẳn bệnh cancer.

                4) Bất luận phương thức chữa trị dù bằng xạ trị hay hoá trị cũng làm cho những tế bào lành mạnh nơi vùng lân cận chịu ít nhiều tổn thương. Điều nầy khiến gây ảnh hưởng đến các chức năng quan trọng hoạt động cần thiết của nó kém đi hiệu quả, hoặc hoàn toàn bị huỷ diệt.

                 Ngay cả việc giải phẫu cũng vẫn phải luôn được giới bác sĩ chuyên môn theo dõi kiểm soát lâu dài, vì chất chứa nhiều nguy cơ bệnh tái phát về sau.

                 5) Ở giai đoạn di căn là thời kỳ cuối cùng của bệnh ung thư (kéo dài trong vòng một năm). Bệnh nhân hầu như suy kiệt tận cùng về thể xác và tinh thần. Thân thể hốc hác, vóc dáng tiều tuỵ, việc ăn uống thường thực hiện bằng đường ống truyền vào bao tử xuyên qua thực quản.

                 Tuy nhiên họ luôn bị tình trạng đau đớn hành hạ. Vì thế cần phải thường trực nằm bệnh viện để được chích thuốc giảm đau bằng chất morphine.

                 6) Chính vì thế, dẫu bác sĩ hay bệnh viện không hề có ý định muốn…”nuôi con bệnh” lâu dài để kiếm tiền của hệ thống bảo hiểm y tế (tư nhân chi trả hoặc chính phủ đài thọ).

                Thông thường vào thời kỳ sống sót cuối cùng của bệnh nhân (khoảng một tháng). Giới chuyên viên điều trị sẽ gợi ý đề nghị, nếu như gia đình hay thân nhân muốn đưa bệnh nhân về nhà. Hầu tạo cơ hội gần gũi hầu đáp ứng thoả mãn các ước vọng tha thiết cuối đời. Trước khi họ nhắm mắt xuôi tay, để vĩnh viễn rời bỏ cõi thế gian ra đi. Mà lòng không quá ân hận, ray rứt luyến tiếc nhiều, do vì nhận biết “ý nghĩa đời thực sự đáng sống” ra sao khá muộn màng. Khi mà tử thần bất chợt gõ cửa, tức giờ phút lâm chung đã điểm và sự chết tới sát cận kề./.

From: TU-PHUNG

CUỘC SỐNG KHÔNG NHẤT THIẾT CHUYỆN GÌ CŨNG PHẢI PHÂN RÕ TRẮNG ĐEN…

CUỘC SỐNG KHÔNG NHẤT THIẾT CHUYỆN GÌ CŨNG PHẢI PHÂN RÕ TRẮNG ĐEN…

Có câu: nước quá trong thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn!

Tranh chấp với người nhà, giành được rồi thì tình thân cũng mất đi

Tính toán với người yêu rõ ràng rồi tình cảm cũng phai nhạt

Hơn thua với bạn bè, chiến thắng rồi thì tình nghĩa cũng không còn

Khi tranh luận, người ta chỉ hướng đến lý lẽ mà quên rằng cái mất đi là tình cảm, còn lại sự tổn thương là chính mình

Cái gì đã đen thì sẽ đen, trắng là trắng, tốt nhất hãy để thời gian chứng minh

Rủ bỏ sự cố chấp của bản thân, dùng lòng khoan dung để nhìn người xét việc.

Thêm một chút nhiệt tình, một chút điềm tỉnh và ấm áp thì cuộc sống sẽ luôn có ánh mặt trời và suốt đời mình sẽ luôn thắng cuộc

Ở đời, sống là để bản thân mình xem, đừng tham vọng mọi người đều hiểu bạn, cũng đừng mong cầu mọi việc đều theo ý mình

Khi đau buồn hay mệt mỏi, nên tự biết an ủi lấy bản thân

Không có người lo lắng thì phải mạnh mẽ

Không có ai cổ vũ cũng phải biết tự bay lên

Không có người chiêm ngưỡng cũng cần thơm tho và tươm tất

Cuộc sống không có khuôn mẫu cố định, chỉ cần một trái tim trong sáng và nhiệt huyết

Gặp phiền não thì tự tìm lấy niềm vui riêng, đừng quên đi hạnh phúc

Dù bận rộn cũng nhớ giữ lại chút thanh nhàn, đừng để mất đi sức khỏe

Mệt mõi rồi thì tạm dừng lại nghỉ ngơi, đừng đánh mất niềm vui cuộc sống

Chỉ cần trong lòng luôn nhớ đích đến và biết hiện giờ mình đang làm gì ở đâu thì yên tâm, sẽ không bị lạc đường. 

From: TU-PHUNG 

6 GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ MUA ĐƯỢC BẰNG TIỀN TRÊN ĐẤT MỸ

6 GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ MUA ĐƯỢC BẰNG TIỀN TRÊN ĐẤT MỸ

  1. Ca sĩ Madonna từng nhổ nước bọt vào mặt một bà cụ, lập tức tòa án Liên bang phán quyết cô phải bồi thường 5 triệu đô-la Mỹ (khoảng 113 tỷ VNĐ) cho bà lão.

Quan tòa nói, sở dĩ mức phạt nặng như vậy không phải bởi miếng nước bọt đó đã mang đến tổn thương lớn ngần nào cho bà cụ. Lý do là với những người có tiền như Madonna nếu chỉ phạt bồi thường 50 nghìn đô-la, lần sau cô ấy chắc chắn sẽ tái phạm. Có thể cô ấy cũng sẽ gây tổn thương cho hơn 10 người khác nữa.

  1. Ở Mỹ, không có một hãng truyền thông nào thuộc về chính phủ. Bởi vì pháp luật nước Mỹ quy định, không thể lấy tiền của dân chúng để dát vàng cho mình mà lừa mị, mê hoặc dân chúng.

Kênh truyền thông duy nhất mà chính phủ Mỹ bỏ vốn làm chủ là đài phát thanh VOA của Mỹ, nhưng nó không được phép phát sóng trên đất Mỹ. Trong con mắt của người Mỹ, dư luận nên phải là tự do, nhiều nguồn, muôn hình muôn vẻ, thậm chí là mâu thuẫn lẫn nhau.

  1. Nước Mỹ coi trẻ em là tài sản quý báu của quốc gia, trẻ em được pháp luật che chở cẩn thận. Nếu bạn không có tiền gửi con ở nhà trẻ, chính phủ sẽ chi trả, hoặc không có tiền mua sữa bột, chính phủ cũng sẽ chu cấp. Ngoài ra còn có nhiều chính sách đặc biệt trợ cấp cho phụ nữ mang thai, sản phụ thu nhập thấp và trẻ em chưa đến 5 tuổi.

Các gia đình thu nhập thấp có thể nhận được bữa cơm dinh dưỡng sáng và trưa miễn phí. Nếu bạn không có tiền thuê nhà, chính phủ sẽ chi trả, hơn nữa quy định trẻ nhỏ cần phải có phòng ngủ riêng. Ở nước Mỹ, bạn sẽ không bao giờ bắt gặp hình ảnh trẻ em đi xin ăn.

Có một bà mẹ mải mê bận rộn việc nhà, nhất thời không để ý trông con. Đứa con chẳng may ngã xuống bể bơi chết đuối. Trong lúc người mẹ đang đau khổ không thôi thì bất ngờ nhận được giấy triệu tập của tòa án.

Lý do mà tòa án đưa ra vô cùng đơn giản, bà đã không làm hết trách nhiệm của một người giám hộ nên sẽ phải đối mặt với việc bị tuyên án. Điều đó cũng giúp cảnh tỉnh ý thức chăm sóc con trẻ cho hàng triệu người mẹ khác.

Người Mỹ quan niệm, một đứa trẻ trước hết thuộc về bản thân nó. Đứa trẻ đó mang theo vô số quyền lợi sống vốn có trong xã hội này. Không kể là bản thân nó có ý thức được hay không, không kể là nó có thể lớn lên thành người hay không, xã hội này có tầng tầng pháp luật để bảo vệ nó.

  1. Ở nước Mỹ, người dân có bệnh thì bệnh viện cần phải điều trị trước, sau đó mới gửi hóa đơn viện phí đến nhà bệnh nhân. Nếu bạn không gánh nổi khoản tiền trị liệu thì các tổ chức từ thiện hoặc chính phủ sẽ ‘ra mặt’ giải quyết. Trong trường hợp người nghèo khó chỉ vì không có tiền chi trả viện phí mà bệnh viện ngưng điều trị thì những người có liên quan sẽ bị chất vấn và nhận chế tài của pháp luật.
  1. Trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (nổ ra vào tháng 3/2003), quân Mỹ huy động lực lượng quân sự lớn mạnh tấn công tầm xa trong sa mạc. Quân đội của nhà độc tài Saddam Hussein binh bại như núi đổ, nhếch nhác bỏ chạy. Lúc này, trong cát bụi mịt trời, một chiếc xe vận tải của quân Mỹ mất phương hướng, lạc vào trận địa của quân địch.

Người lái xe là một nữ quân nhân tên Lira, bị thương và bị địch bắt giữ làm con tin để uy hiếp quân Mỹ. Cô bị nhốt ở một nơi hẻo lánh bí mật và bị canh giữ sát sao. Vì để cứu Lira, quân Mỹ đã huy động đội đột kích Hải Báo tấn công mãnh liệt khiến quân địch mất phương hướng, hoảng loạn tan vỡ.

Chỉ trong thời gian mấy phút, quân Mỹ đã giải cứu thành công Lira. Cô nhanh chóng được đưa về hậu phương điều trị. Chiến tranh kết thúc, Lira cùng với hai binh sĩ Mỹ từng bị bắt giữ khác trở về quê nhà và được chào đón như những người anh hùng.

  1. Điều được giảng trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ không phải là quần thể, quốc gia, thậm chí không hề giảng đến dân chủ. Điều được giảng là 3 quyền lợi lớn: quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc. Ba quyền lợi này đều là quyền lợi của cá nhân, không phải là quyền lợi của quần thể hay quốc gia.

From: TU-PHUNG

Đọc sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của LM Nguyễn Văn Tuyên DCCT

Đọc sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của LM Nguyễn Văn Tuyên DCCT (1)

Tác giả: Phùng Văn Phụng

  • Sự Đau khổ.

Vì đọc cuốn sách “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” thấy có nhiều điều đáng suy gẫm và học hỏi nên tôi xin ghi lại vài suy tư về đề tài này mặc dầu trước đây tôi cũng đã có viết bài: “Đời là bể khổ: Thái độ của chúng ta trước đau khổ. (2)

*Chúng ta khổ vì bị thương tật, mất tay, mất chân, tàn tật… hay chết chóc do tai nạn xe cộ, tàu thuyền, máy bay hay do chiến tranh như ở Việt Nam trước năm 1975, ở Ukraine hiện nay (2022). Chúng ta khổ vì nhà cửa bị bom đạn tàn phá, gia đình ly tán, chạy tị nạn khắp nơi, đói khát, đau bịnh… bị khủng hoảng tâm lý, hoảng loạn tinh thần … Một phần tư người Ukraine phải bỏ xứ đi tị nạn ra nước ngoài, tình trạng cũng giống như người Việt chúng ta bỏ nước ra đi sau tháng 04 năm 1975 và tiếp tục tị nạn như vậy, vượt biên bằng thuyền, máy bay, đi bộ…  nhiều năm sau đó…

*Chúng ta khổ tâm vì những sự đau lòng, buồn phiền… sự bất như ý như ly dị, ly thân, con cái bỏ nhà ra đi, tù tội vì bài bạc, say rượu, hút xách, sì ke ma túy, con cái không chịu học hành, chỉ ăn chơi lêu lổng… Khổ vì vợ chồng con cái bất đồng quan điểm, gây gỗ, xung đột … tính tình quá khác biệt, quan liêu, bảo thủ, gia trưởng… Khổ vì nợ nần chồng chất không thể trả nỗi…

2)Nhìn đau khổ với đời sống đức tin kitô giáo.  

Với đức tin của người Kitô giáo, gặp sự đau khổ là để chúng ta thông phần với Chúa Giêsu Kitô chịu khổ nạn trên thập giá. Người ta thường nói, sau cơn mưa trời lại sáng, hết mưa trời sẽ nắng, hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai. Cho nên người bình dân vẫn tin tưởng ở tương lai dầu đang gặp đau khổ.

Còn đối với người Kitô hữu: Trong sách “Ý nghĩa sự đau khổ” tác giả có viết:

Sự khó chỉ là con đường đưa đến thánh thiện (trang 107)

Lạy Chúa, con sung sướng vì được chịu đau khổ cho được lòng Chúa. (trang 110)

Không gì đẹp lòng Chúa, không gì ích lợi cho chúng ta ở đời này bằng vui lòng chịu đau khổ vì Chúa Giêsu Kitô. (trang 146)

Không qua núi sọ không thể tới núi Cây Dầu là chỗ Chúa đã lên trời…” (trang 147)

Cố gắng nên giống Chúa: Yêu đau khổ, nhẫn nại chịu đau khổ và vui mừng chịu đau khổ (trang 131)

3)Vài trường hợp đau khổ tiêu biểu để học hỏi

*Chuyện Thánh Gióp bị mất hết tài sản, con cái chết hết mà không có một lời oán trách Thiên Chúa. Thánh Gióp vẫn một lòng ca ngợi, tôn vinh, chúc tụng Chúa. (trang 162 và Cựu Ước)

*Chuyện thánh nữ Lidvi (trang 165)

Năm 15 tuổi, cô bị sảy chân ngã trên nước đông, gãy một xương sườn, phải nằm liệt ba mươi tám năm, nghĩa là nằm liệt cho đến chết.

Để được an ủi, bà chỉ còn biết ngày đêm ngắm sự thương khó Chúa.

*Chuyện thánh An phong sô (trang 166-168)

Thánh An phong sô bị chứng đau đầu khiến Người có lúc như bị hấp hối. Suốt mười bảy năm trường chứng bịnh tê thấp của Người khiến Người biến hình, đầu Người gập quặp xuống ngực…

Nhưng Thánh nhân luôn luôn vui vẻ tuân theo Thánh Ý Chúa. Không ai thấy Người tỏ dấu buồn phiền hay thốt ra lời ta thán… Người nói: “… Lạy Chúa con cám ơn Chúa vì đã thương gởi đến sự đau đớn cho con… Chúa không ném con xuống hỏa ngục đã là may cho con lắm rồi… Con sẵn sàng chịu hết mọi sự đau đớn… Chúa muốn định về con thế nào tùy Thánh Ý Chúa…” (trang 168)

4)Nhờ đau khổ mới đi đến vinh quang, hưởng phúc Thiên đàng vĩnh cửu.

Sách “Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo” đã giải thích Thiên đàng như sau:

Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa Chúa và đã hoàn toàn được thanh tẩy sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô. Họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa vì họ thấy Ngài “đúng như Ngài là”, “mặt giáp mặt” (Câu 1023)

Thiên đàng là cùng đích tối hậu và là sự thực hiện những khát vọng sâu xa nhất của con người đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh viễn. (Câu 1024)

Mắt chưa từng xem thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài (Câu 1027)

Theo tác giả, Lm Nguyễn Văn Tuyên nói về Thiên đàng như sau:

Thiên đàng là chốn nghỉ ngơi đời đời. Trên Thiên đàng không còn đau khổ nữa, không còn bịnh tật nữa, trên thiên đàng không còn chết nữa: trên thiên đàng chỉ có nghỉ ngơi trong một cuộc đời dài vô tận, không còn bị phản bội nữa…

… được nhìn ngắm chính sự Đẹp, được yêu chính tình yêu, được hưởng chính hạnh phúc, được hưởng thật tất cả những thứ ấy cùng một lúc và đời đời: đó là Thiên đàng.

Kết: Như vậy sự đau khổ ở đời này chính là môi trường, cơ hội, hoàn cảnh để chúng ta học hỏi, suy gẫm, áp dụng, thực hành để xứng đáng được làm môn đệ Chúa, bắt chước Chúa, noi gương Chúa, tuân theo Thánh Ý Chúa. Không ai muốn đau khổ cả, nhưng nếu gặp hoàn cảnh đau khổ, chúng ta sẵn sàng vui vẻ chịu đau khổ ở đời này để được hưởng phúc Thiên đàng vĩnh cửu mai sau.

Phùng Văn Phụng

Ngày 17 tháng 04 năm 2022

(Lễ Phục Sinh)

NGÀY NÀY NĂM TRƯỚC… Cô Hạnh

Van Pham

NGÀY NÀY NĂM TRƯỚC…

Cô Hạnh

Tôi từng có dịp găp cô Nguyễn Thuý Hạnh cách đây khá nhiều năm, khi tôi mới bắt đầu bào chữa cho những người bất đồng chính kiến.

Ban đầu, tôi gọi cô là chị giống như những người khác; sau đó cô đề nghị, đừng gọi là chị, gọi là cô đi, cháu chỉ ngang tuổi của con cô thôi. Và từ đó, tôi đổi cách xưng hô với cô Hạnh.

Cô Hạnh là người hiền lành, nhẹ nhàng nhưng ẩn sau dáng vẻ yếu mềm là sự mạnh mẽ, kiên định. Mấy năm trước, cô nói với tôi, khi nào cô bị bắt, cháu bảo vệ cô nhé. Chỉ cần 1 luật sư cho đỡ tốn tiền. Tôi cười trừ cho qua và nói người ta bắt cô làm gì chứ…

Nhưng rồi cô Hạnh bị bắt thật. Trước khi bị bắt khoảng 1 tuần, cô có qua văn phòng tôi ký giấy mời luật sư để tôi giúp cô yêu cầu gỡ phong tỏa tài khoản ngân hàng; đồng thời cô cũng ký luôn giấy mời luật sư phòng khi cô gặp chuyện bất ngờ; không biết có phải vì cô có linh cảm gì trước hay không.

Chỉ sau khi tôi ký đơn yêu cầu và gửi đi mấy ngày, người ta bắt cô Hạnh. Không biết có phải tại tôi, tại yêu cầu của tôi mà cô ấy bị bắt đi nhanh hơn không nữa. Hôm cô Hạnh tới văn phòng, tôi có nói là sắp tới cháu sẽ giảm bớt các vụ án “nhạy cảm” để tập trung vào làm kinh tế vì sau mấy năm làm án này, khách hàng khác sợ cháu bỏ đi hết; có khách thân thiết lạy sống lạy chết là thôi làm án chính trị đi để giúp đỡ họ và làm giàu…; tuy nhiên, nếu cô bị bắt thật, cháu sẽ có mặt ngay.

Dù rằng luôn nhắc nhở mình, không để cảm xúc lấn át. Tình cảm và trách nhiệm của người luật sư phải là rất rõ ràng, không được đánh đồng. Thế nhưng, tôi cảm nhận sự ấm áp, chân tình từ cô Hạnh. Tôi không nói ra nhưng trong tâm tôi, tôi coi cô như mẹ tôi vậy. Tôi nghĩ rằng, người như cô ấy không đáng bị bắt, không nên bị bắt, cô ấy không nguy hiểm tới mức như người ta đồn đoán, suy diễn. Có vẻ như đang khan hiếm dần những người muốn bắt, cần bắt nên rồi đây, có lúc phải bắt “ép”, kiểu như ta đi hái trái non.

Việc bắt cô Hạnh càng làm cho người ta nhìn thấy rõ, làm việc tốt trong xã hội này không phải là chuyện dễ, nhất là khi mà việc đó không thuận theo ý chí của những người cầm quyền. Ranh giới giữa người tốt và người vi phạm pháp luật rất mong manh và người ta có thể “xử lý” bất kỳ lúc nào họ muốn.

Dân trí hiện nay không còn kém như xưa. Người dân hiểu hết nhưng chỉ vì an phận, vì hèn nên họ không dám lên tiếng mà thôi. Đa số những người bất đồng chính kiến, họ không sợ tù tội như những ông quan chức tham lam, họ chỉ sợ họ hèn hoặc họ không được thể hiện suy nghĩ của mình tại toà chứ không sợ số năm tù mà mình sẽ bị tuyên.

Thế nên, để giảm thiểu sự mâu thuẫn trong xã hội, đã đến lúc nhà nước này cần thẳng thắn nhìn nhận vấn đề, thẳng thắn đối thoại, lắng nghe phản biện từ người dân thay vì tìm cách ngăn cản, đấu tố hay bắt bớ họ, đúng như tinh thần mà tân thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu trong phiên họp Chính phủ đầu tiên ngày 15/4/2021, sau khi Quốc hội kiện toàn nhân sự.

Và cũng đã đến lúc cần định nghĩa đúng từ “an ninh quốc gia” trong Bộ luật Hình sự để tránh trường hợp hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật một tuỳ nghi tới mức tuỳ tiện..

Shared từ FB Tuan Ngo

Gấu Nga/ Cọp Giấy & Bộ Đội Cụ Hồ – Tưởng Năng Tiến

Gấu Nga/ Cọp Giấy & Bộ Đội Cụ Hồ -Tưởng Năng Tiến

Từ Điển Thành Ngữ Tiếng Việt giải thích “khôn ba năm dại một giờ” như sau:  “Chỉ sơ suất một chút mà phải gánh chịu hậu quả nặng nề; người phụ nữ khôn ngoan, đứng đắn chỉ vì nhẹ dạ cả tin trong chốc lát mà đánh mất cái quý giá nhất của đời người… Ý nói chỉ sơ suất một chút mà khổ cả đời; người phụ nữ khôn ngoan, đứng đắn nhưng vì nhẹ dạ trong chốc lát mà trót dại, mắc sai lầm trong quan hệ (nam nữ…).”

Mắc mớ gì mà “khổ cả đời,” hả Trời! “Nhẹ dạ trong chốc lát” thì đã làm sao? Chuyện nhỏ như con thỏ thôi mà. Đêm rồi lỡ ham vui chút xíu thì sáng bữa sau nuốt một hai viên morning after pills là kể như xong. Loại thuốc này bán hà rầm, không cần toa bác sỹ, và rẻ rề hà!

Thể lý là như thế. Còn về mặt đạo lý cũng vậy, cũng không có gì nghiêm trọng ráo trọi, theo như quan niệm từ xưa của người dân Việt: Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn/ Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Ấy thế nhưng đàn ông mà chuyên chính, độc tài, và ham mê quyền lực quá độ thì chỉ cần dại một phút (hay một giây) thôi là cả sự nghiệp kể như … đi đứt. Sự xốc nổi của Putin trong “chiến dịch quân sự đặc biệt” vừa qua là một thí dụ điển hình cho kiểu dại dột này.

Thiên hạ – bỗng nhiên – nhận diện được một con “ngáo ộp” mà lâu nay họ vẫn ngỡ là người hùng của nước Nga, và khả năng tác chiến (vô cùng giới hạn) của lực lượng quân đội ở xứ sở này, cùng với rất nhiều lời dè bỉu. Bởi nhiều quá nên xin phép chỉ ghi lại năm ba, theo thứ tự alphabétique:

  • Lê Khắc Ái: “Ở Nga, người ta bắt đầu nhận ra rằng đội quân ‘ngầu’ của họ là fake: “Đó là một cú sốc đối với họ.”
  • Trần Khánh Ân: “Hiện nay, một trong những lý do mà các quan sát viên nhấn mạnh đó là sự lúng túng về việc tiếp liệu cho đoàn quân tại Ukraine và có thể không thể tiếp liệu được nữa, đồ ăn của lính Nga là đồ ăn hết hạn, có những người lính trên đường hành quân đã tự phá hỏng phương tiện của mình.”
  • Ngô Nhân Dụng: “Bao lâu nay ông Putin vẫn làm cho thế giới tưởng rằng ông chỉ huy một quân đội hùng mạnh, cuộc kháng chiến của dân Ukraine cho thấy đạo quân của Putin quá yếu… Khi cuộc chiến chấm dứt, Vladimir Putin sẽ hiện nguyên hình là một người hùng làm bằng giấy, hay bằng rơm theo lối nói của người Việt. Sẽ đến ngày anh hùng rơm phải ra tòa vì tội ác chiến tranh.”
  • Văn Phạm Hùng: “Té ra NGA chỉ là cường quốc quân sự hạng 2 đểu mà thôi.”
  • Lưu Thủy Hương: “Cuộc chiến ở Ukraine phơi bày một sự thật tệ hại: Nạn tham nhũng đã hủy hoại thực lực của quân đội Nga.”
  • Mạnh Kim: “… những gì đang diễn ra cho thấy hình ảnh có phần nhếch nhác của quân đội Nga như đang chứng kiến là kết quả tất yếu của ‘tiến trình’ tham nhũng qui mô và kéo dài.”

Những lời chê trách của quí vị thức giả thượng dẫn khiến tôi liên tưởng đến một siêu cường (khác) tai tiếng hơn nhiều:

 Muốn biết “quân đội Trung Quốc cam kết tiếp tục chống tham nhũng” có hiệu quả ra sao thì cứ thử “xúi” Tập Cận Bình tấn công Đài Loan xem có dám không? Hổng dám là cái chắc sau khi thấy tấm gương bồng bột và dại dột của Putin. Chả phải vô cớ mà TT Đài Loan, Thái Anh Văn, lạc quan tuyên bố: “Nhìn Ukraine kháng cự với quân Nga, chúng ta càng thêm tin tưởng vào khả năng của chính mình.”

Thế còn “nhỡ” Trung Cộng lại muốn “dậy” cho Việt Cộng thêm “một bài học” nữa, như hồi 1979 thì sao?

Chả có “trăng sao” gì đâu mà lo. Hôm 5 tháng 2 năm 2014, South China Morning Post cho biết hơn 70 phần trăm quân nhân Tầu hiện nay là con một, và đặt câu hỏi: “Liệu họ có quá yếu đuối để đáp ứng được tham vọng quân sự của Bắc kinh không? Soldiers of the one-child era: are they too weak to fulfill Beijing’s military ambitions?

Câu trả lời có thể tìm được, cùng ngày, trên trang mạng Quartz: “Lính thuộc thế hệ một con hèn yếu không có tinh thần chiến đấu. Soldiers from the one-child generations are wimps who have absolutely no fighting spirit.”

Dù Việt Nam không theo “chính sách một con” nhưng đám bộ đội cụ Hồ hiện nay (xem chừng) cũng chả mạnh mẽ gì hơn thế. Họ bị bắt vào quân ngũ để nuôi lợn và trồng rau, chứ có được huấn luyện gì về quân sự đâu. Bởi thế, bây giờ mà đụng trận và nghe hô “xung phong” thì lính ta (và lính Tầu) đều vứt súng và bỏ chạy là cái chắc!

Blogger Người Buôn Gió tâm sự:

Tôi đi lính năm 1990, thời thế lúc đó thay đổi nhiều. Biên giới Tây Nam người ta đã rút quân về, biên giới phía Bắc đã quan hệ bình thường. Thời của làm ăn kinh tế, các sĩ quan quân đội tận dụng chúng tôi để làm kinh tế cho họ. Đám lính chúng tôi đi đào mương, đào móng nhà, phụ hồ…rặt toàn công việc dùng đến sức lao động thô sơ. Bữa ăn chỉ có rau kho, rau nấu và một hay may lắm là hai miếng thịt to bằng đốt ngón tay út… Lúc cầm giấy ra quân về nhà, bố tôi xem tờ giấy đục lỗ nói.

– Có tờ giấy mà 2 chỉ vàng.

Tôi ngạc nhiên hỏi bố vàng nào. Bố tôi mới kể là lúc tôi và các bạn trốn, đơn vị cũng đến nhà tìm. Bố tôi có nói nhỏ ông cán bộ quân lực liệu lo cho tôi. Ông ấy nhận lời. Hôm tôi lên làm phục vụ cho cán bộ quân lực được vài hôm. Ông quân lực đến nhà báo cho bố tôi biết là đã lo tôi như vậy, vài tháng nữa sẽ cho tôi về nhà. Khi nào có giấy ra quân vào lĩnh. Lúc tôi về nhà là bố tôi đưa ông một chỉ vàng, khi ông gọi tôi vào lấy giấy ra quân là đã cầm của bố tôi một chỉ vàng nữa.

Ngoài việc “ăn không từ một thứ gì,” đám tướng lãnh VN – hiện nay – còn rất “tâm tư” về một vấn đề “thiết thân” khác nữa: sinh hoạt tình dục. SBTN cho hay:

Tướng quân đội CSVN trao đổi thuốc kích dục trong trụ sở quốc hội. Báo mạng VietNamNet trong nước là cơ quan truyền thông đầu tiên đăng bức ảnh đại tướng Ngô Xuân Lịch, đương kim bộ trưởng Bộ Quốc Phòng CSVN, và thượng tướng Võ Trọng Việt, đương kim chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng Và Và An Ninh của Quốc Hội, trao tay nhau một chiếc hộp màu đen bọc giấy bóng.

Dư luận trên mạng xã hội lập tức chú ý tới bức ảnh này, vì khi được phóng lớn, chiếc hộp màu đen này không là gì khác hơn loại thuốc Ottopin xuất xứ từ Nhật Bản, có tác dụng cường dương và trị yếu sinh lý cho nam giới. Báo VietNamNet sau đó đã phải cắt bỏ phần ảnh liên quan đến hộp thuốc, nhưng các blogger Việt Nam đã kịp lưu lại ảnh gốc.

Giới lãnh đạo không chỉ yếu về sinh lý mà còn (rất) yếu về tâm lý nữa. Bí Thư Quân Ủy Trung Ương Nguyễn Phú Trọng đã đi vào lịch sử bằng một câu nói để đời: “Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?”

Cầu an là tâm lý phổ biến của nhân loại chứ chả riêng gì ông Tổng Bí Thư. Nhờ thế nên Vladimir Putin và Tập Cận Bình mới có cơ hội diễu võ dương oai, và lăm le muốn lấn lướt thiên hạ cho mãi đến nay. Nay thì ai cũng biết hình ảnh Gấu Nga (dữ dằn) chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và Cọp Tầu (vằn vện) chỉ là cọp giấy mà thôi, trừ đám dân Ba Đình Hà Nội.

Tưởng Năng Tiến
4/2022

Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.”

Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.”

Chúc bạn và gia đình một ngày bình an trong Tình Yêu mạnh hơn sự chết của Thiên Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 16/04/2022

TIN MỪNG: Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)

SUY NIỆM: Mấy ngày qua bạn suy niệm 7 lưỡi gươm đâm vào tim Mẹ, bạn đã cảm nhận được những khoảnh khắc đau buồn của Mẹ Maria khi theo Con mình trên đường tới pháp trường, chứng kiến con bị đóng đinh, và đứng dưới chân thập giá để nhìn người ta dùng đòng đâm thấu trái tim của con bà, rồi đau đớn ôm lấy xác con trong vòng tay của mình.

Hôm nay là Thứ 7 Thánh. Trọng tâm suy niệm và cầu nguyện của ngày hôm nay là “sống trong thinh lặng và mong đợi”. Thiết tưởng rằng bạn đã có một lần tham dự buổi canh thức cầu nguyện của người quá cố. Người đó có thể  là người thân yêu của bạn mới qua đời.

Cảnh thinh lặng và mong đợi nói lên mối chân tình sâu đậm trong niềm tin vào Đức Kitô sống lại từ cõi chết. Chính trong tình yêu này mà tất cả những người tin vào “xác loài người ngày sau sống lại; tôi tin hằng sống vậy” có được mối dây liên hệ thắm thiết đang nối kết trong một không gian thinh lặng tràn đầy sức mạnh của đức tin.

Vậy hôm nay mình mời bạn hãy ôn lại những khoảnh khắc đó để xin Chúa tăng thêm niềm tin cho bạn nhé.

LẮNG NGHE: Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. (Rm 6:8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy những điều trong chiều sâu của đức tin đó là bên kia thân xác bầm dập, bên kia nơi an táng và tảng đá che giấu Chúa Giêsu là sự sống và niềm vui phục sinh mà Chúa hứa ban cho những ai tin vào Chúa. Lạy Chúa xin tăng thêm niềm tin cho con và đừng để con nao núng trước cảnh hư nát mau qua của thế gian này.

THỰC HÀNH: Làm một việc hy sinh trong ngày hôm nay để cầu nguyện cho các Anh Chị Em tân tòng nhé.

From: Đỗ Dzũng

ĐẤNG CHIẾN THẮNG

 ĐẤNG CHIẾN THẮNG

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Một chi tiết nhỏ trong trình thuật thương khó của Thánh sử Gioan đáng chúng ta lưu ý: ngôi mộ Chúa Giêsu được an táng là một ngôi mộ mượn của người khác.  Tác giả viết như sau: “Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.”  Thánh sử rất cẩn thận và chi tiết, khi nói đến một ngôi mộ mới, lại còn nhắc thêm: “chưa chôn cất ai.”  Sự kiện Chúa Giêsu được an táng trong ngôi mộ mượn của người khác diễn tả sự nghèo khó đến tột cùng của Con Thiên Chúa làm người.  Khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, Chúa không có đến một mảnh vải che thân.  Hơn thế nữa, những kỳ lão, biệt phái và người dân thành Giêrusalem đi qua còn buông lời chế diễu Người.  Trên thập giá, Người trở nên người nghèo hơn hết trong số những người nghèo.  Không chỉ nghèo về vật chất, khái niệm “nghèo” còn được thể hiện qua sự tín trung và phó thác nơi Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). 

Việc Chúa Giêsu được an táng trong một ngôi mộ mượn, cũng cho chúng ta thấy một góc cạnh khác của mạc khải.  Thông thường, khi ta mượn của ai cái gì, ta chỉ dùng tạm, sau đó trả lại cho người có quyền sở hữu.  Đức Giêsu được an táng trong ngôi mộ mượn, và Người cũng chỉ ở đó một thời gian ngắn.  Đến ngày thứ ba, Người đã phục sinh, vinh quang sáng láng bước ra khỏi mồ.  Ngôi mộ này chỉ là mượn.  Điều này làm chúng ta liên tưởng tới con lừa Chúa cưỡi khi tiến vào thành Giêrusalem, cũng là con lừa đi mượn (x Lc 19,28-34).  Phòng tiệc ly nơi Chúa mừng lễ Vượt Qua cũng là phòng đi mượn (x. Lc 22,7-13).  Thân xác của Người không nằm yên trong mồ tối và chịu hư nát do tác động của thời gian.  Ngôi mộ mượn ấy chỉ là điểm tạm dừng, chỉ là thời gian lắng đọng để giúp chúng ta suy tư về sự chết và sự sống nơi Thiên Chúa cũng như nơi con người.  Đức Giêsu phục sinh đã chứng minh với chúng ta quyền năng Thiên Chúa nơi kiếp sống nhân sinh.  Giây phút Chúa sống lại là một thời khắc quan trọng của lịch sử.  Đó cũng là một điều phi thường của đức tin. 

Trong sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, sự sống đã chiến thắng sự chết.  Khi bị bắt ở vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu đã nói với những người lính Do Thái: “Đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22,53).  Những gì xảy ra liên tiếp sau đó, cho thấy có vẻ như quyền lực tối tăm đã chiến thắng.  Những kinh sư và người biệt phái, thậm chí cả thày Thượng tế, đều hả hê trước cái chết của Chúa Giêsu, vì họ đã diệt được một đối thủ.  Đối thủ này dám lên án họ với những lời lẽ gay gắt.  Sự phục sinh của Chúa đã đảo ngược tình thế.  Sự sống đã chiến thắng sự chết.  Đức Giêsu đã sống lại như Người đã nói trước đó.  Cái chết và quyền lực của tối tăm đã thất bại.  Sau này, thánh Phaolô đã mạnh dạn thách thức: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi?  Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1 Cr 15,55). 

Trong sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, sự thiện đã chiến thắng sự ác.  Trước những lời vu khống của một số kỳ lão Do Thái, trước sự hành hạ phỉ nhổ của quân lính Rôma, Chúa Giêsu vẫn khiêm nhường đón nhận.  Người không dùng bạo lực để đối lại với bạo lực.  Người như con chiên hiền lành bị đem đi xén lông.  Chúa Giêsu là nạn nhân của bạo lực, của ghen ghét và hận thù.  Cái chết trên thập giá và nhất là lời Chúa Giêsu cầu nguyện xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ giết mình chính là sự chiến thắng của sự thiện trên sự ác.  Qua cái chết trên thập giá, Chúa nói với chúng ta: ở đời này, không phải lúc nào sự chết cũng là một thất bại, và không phải lúc nào kẻ mạnh hơn cũng là người chiến thắng.  Đem hận thù đối lại với hận thù, chỉ làm cho hận thù càng chồng chất.  Đem tình yêu vào nơi oán thù, sẽ làm cho hận thù tiêu tan.  Đời sống cụ thể của chúng ta đã hơn một lần chứng minh điều ấy. 

Trong sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, niềm hy vọng chiến thắng sự thất vọng.  Kể từ khi Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá, cây gỗ gồm một thanh ngang và một thanh dọc đã trở thành biểu tượng của hy vọng đối với các Kitô hữu.  Đây không phải là sự ru ngủ, mua chuộc hay mị dân.  Trái lại, niềm hy vọng đến từ quyền năng của Thiên Chúa.  Hãy nhìn xem hai người trộm bị đóng đinh cùng với Chúa Giêsu: một người khước từ tin vào Chúa và thậm chí phê phán thách thức Người; trái lại, người kia lại cầu xin với lòng thành tín cậy trông.  Người “trộm lành” đã được Chúa hứa ban thiên đàng ngay ngày hôm đó.  Sự kiện này nhắc nhở chúng ta: dù tội lỗi đến đâu cũng không mất niềm hy vọng vào lòng thương xót của Thiên Chúa. 

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh đến gặp những ai đang mang gánh nặng cuộc đời, Người mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). 

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh đến nâng đỡ những ai đang kiếm tìm chân lý và ý nghĩa cuộc đời, nhất là các bạn trẻ.  Người khẳng định: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.  Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,16). 

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh đến đổi mới tâm hồn những ai tin vào Người, với niềm xác tín “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16.16). 

Ngày hôm nay, thế giới Kitô giáo đứng trước ngôi mộ trống và mang tâm trạng như tông đồ Gioan: “Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8). 

Ngôi mộ mượn của người khác chỉ là một điểm dừng chân của Chúa Giêsu.  Người đã sống lại.  Người đã chiến thắng tử thần và lòng hận thù ghen ghét.  Người cũng đem lại niềm hy vọng cho những ai đang đau khổ chán chường do sức ép của gánh nặng cuộc đời.  Ngôi mộ của người tín hữu cũng chỉ là nơi ở tạm, đợi ngày thân xác được phục sinh trong ngày tận thế.  Mỗi chúng ta, khi mừng lễ Phục Sinh, hãy cùng với Chúa chiến thắng những tội lỗi bủa vây xung quanh chúng ta.  Như thế chúng ta sẽ trở thành những người tự do, nhờ ân sủng của Đấng Phục sinh. 

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Thoát Á luận cho Việt Nam

Thoát Á luận cho Việt Nam

Jackhammer Nguyễn

15-4-2022

Huntington và viên bí thư huyện ủy

Khi hệ thống cộng sản thế giới đã sụp đổ gần 10 năm, tôi được giới thiệu cuốn sách “Sự xung đột giữa các nền văn minh” (Clash of Civilizations), của Samuel P. Huntington, một nhà khoa học chính trị người Mỹ. Nội dung chính của cuốn sách nói về vụ bức tường Bá Linh, một biểu tượng của chiến tranh lạnh bị phá bỏ, thế giới sẽ trở thành nơi xung đột giữa các nền văn minh khác nhau chứ không còn là hai cực tư bản – cộng sản nữa.

Lúc đó, tôi lật qua vài trang sách thì thấy một cái bản đồ, trong đó Việt Nam được tô cùng màu đỏ với Trung Quốc, trong cái gọi là nền văn minh khổng giáo. Nước Nga và Ukraine tô cùng màu tím, được xem là văn minh Chính thống giáo. Một số nước lớn phương Tây như Mỹ, Canada, Úc … được gộp vào nền văn minh Kito Anglo-Saxon.

Bản đồ trong sách The Clash of Civilizations. Nguồn: Mapchart.net/ The Clash of Civilizations

Tôi rất hậm hực với ông Huntinton về cái bản đồ này, vì sao nước Việt Nam của tôi lại bị tô cùng màu với nước Trung Quốc?

Độ năm năm sau, trong một lần có mặt ở sân bay Tân Sơn Nhất tôi chứng kiến một cảnh rất lạ. Có một chiếc xe hơi chạy từ ngoài vào sân bay, xung quanh nó có khoảng 20 chiếc xe gắn máy … hộ tống. Nhưng không phải là đoàn mô-tô hộ tống yếu nhân mà ta thường thấy, những người chạy xe gắn máy là những anh con trai mặc áo thun đủ loại, mang dép đủ kiểu.

Nhân vật trong xe hơi là viên bí thư huyện ủy huyện Bình Chánh lúc đó. Đội hộ vệ của viên bí thư làm tôi chợt nhớ lại cái bản đồ trong sách của ông Huntington. Tôi thấy ngày trước tôi đã sai khi hậm hực với ông ấy.

Bên cạnh đó, hình ảnh viên bí thư và đám đàn em của ông ta làm tôi nghĩ lại về sự thất bại của Việt Nam Cộng hòa. Nền dân chủ non trẻ theo mô hình phương Tây này không biết đến sức mạnh, quyền lực của các tay lãnh chúa địa phương như viên bí thư, nhưng Đảng Cộng sản thì biết, và họ chính là khoảng 200 ủy viên trung ương đang cai trị vô cùng hiệu quả gần 100 triệu dân Việt Nam hiện nay.

Thoát Á luận

Năm 1885, một người Nhật Bản tên là Fukuzawa Yukichi có viết một bài mang tên Thoát Á luận, được dịch sang tiếng Anh là Leaving Asia, hay… Good-bye Asia! Á ở đây nên hiểu là Đông Á, với trung tâm là văn minh Trung Hoa.

Nội dung quan trọng của bài viết này là Nhật Bản phải theo gương phương Tây, thiết lập một xã hội cai trị bởi luật pháp, chứ không thể vướng vào ảnh hưởng xấu của văn hóa Trung Hoa cổ hủ.

Thoát Á luận được xem là một trong những tác phẩm quan trọng, tạo đà cải cách xã hội Nhật Bản, để nước này trở nên phú cường, một phần của văn minh phương Tây ngày nay.

Trong bản đồ của Huntington, Nhật Bản được tô một màu riêng. Có thể nói Nhật Bản thành công trong việc lựa chọn những gì tốt nhất của hai nền văn hóa khác nhau, Đông Á và phương Tây, và quan trọng nhất là xã hội đa nguyên pháp trị từ Tây phương.

Trong khi đó, nước Trung Hoa, từ thời Yukichi viết Thoát Á luận đến nay, vẫn không có vẻ gì thay đổi, sau các hoàng đế nhà Thanh, lại đến các hoàng đế Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình. Các hoàng đế này không những không muốn … thoát Á, mà còn xuất (khẩu) Á sang phương Tây với việc thành lập các  Khổng Tử học viện một cách … đại trà tại các trường đại học phương Tây.

Việt Nam, một nước Trung Hoa thu nhỏ có vẻ cũng vậy. Từ thời Lê Thánh Tôn, chế độ phong kiến tập quyền theo mô hình Khổng giáo của Trung Quốc chính thức chiếm thế thượng phong, và các viên lãnh chúa khổng giáo vẫn cai trị cho đến ngày nay.

Lục địa và biển cả

Cuộc xâm lăng của Nga vào Ukraine làm người ta giở lại sử sách của nước Nga, từ đó khẳng định thêm lý thuyết của Huntington về sự xung đột của các nền văn minh, nhưng có thể phải sửa đổi đôi chút, để thêm vào một mối liên quan khá thú vị giữa đế chế Nga và các triều đại Trung Hoa. Đó là hai đế chế rất tập trung quyền lực, rất thèm khát chinh phục lãnh thổ. Gạch nối giữa hai đế chế này chính là đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn, sau chia thành nhà Nguyên ở Trung Quốc của Hốt Tất Liệt, và Kim Trướng Hãn quốc ở Nga của Bạt Đô.

Người Nga cũng gián tiếp thừa nhận như vậy. Giữa khói đạn chiến tranh Ukraine, người ta tìm lại một lý thuyết gia Nga được xem là cha đỡ đầu tinh thần của chủ nghĩa đại Nga hiện nay, ông Alexander Dugin. Ông này bảo rằng nước Nga phải chiến đấu cho nền văn minh gọi là lục địa Á – Âu, chống lại các đế quốc biển của phương Tây.

Quả là có sự khác biệt rất lớn giữa thế giới phương Tây và lục địa Á – Âu. Nếu sự tập trung quyền lực vào các đại đế Nga và Trung Hoa trải dài từ thời trung cổ tới nay, thì ngay từ thế kỷ 13, nước Anh đã có hiến chương Magna Carta, giới hạn quyền lực của nhà vua ở… “trung ương”. Cuộc sống với biển cả, với buôn bán, làm cho phương Tây, nhất là nước Anh và những người em của nó sau này là Hoa Kỳ, Canada, Úc, phải cởi mở, phải thực dụng, phải dân chủ hơn.

Có một niềm tin rằng, nước Nga, hay Trung Quốc ngày nay là hiện thân của … chủ nghĩa cộng sản, hay tàn tích không chịu chết của nó. Đúng là chủ nghĩa cộng sản được ồn ào công bố thực hiện ở hai nước này, với hai đảng có tên là cộng sản. Nhưng liệu những ý tưởng của Karl Marx, người Đức gốc Do Thái, đã được thực hiện ở Nga và Trung Quốc?

Tôi không nghĩ rằng, những ý tưởng của Marx, ít nhất là các vấn đề công bằng xã hội, lại được thực hiện tốt hơn ở Nga và Trung Quốc, thay vì Tây Âu. Xã hội biển cả, thương mại và cởi mở của Tây Âu đã tiếp nhận các ý tưởng đó, khác hẳn các đế quốc lục địa Âu – Á là Nga và Trung Quốc. Ở các đế quốc này, ta chỉ thấy khía cạnh công cụ bạo lực giai cấp được nêu cao bởi Lenin, Mao Trạch Đông, Stalin.

Tại Tây Âu, chủ nghĩa Marx vẫn được dạy trong các trường đại học, các ý tưởng về công bằng xã hội như của Marx, hay ôn hòa hơn như Maynard Keynes, gần đây là Thomas Piketty, vẫn tiếp tục nảy nở và được thực hiện trong rất nhiều chương trình xã hội của các nhà nước phương Tây, kể cả Mỹ.

Ukraine và xung đột giữa hai nền văn minh

Cuộc chiến Ukraine – Nga hiện nay đúng là giữa hai quốc gia có văn hóa và tôn giáo rất giống nhau, nhưng điều đó không có nghĩa là Huntington không đúng. Đây là cuộc xung đột giữa hai nền văn minh lục địa Á – Âu (Hoa – Nga) và biển cả Tây Âu (bây giờ bao gồm cả Nhật Bản và Hàn Quốc).

Nằm trên cầu nối giữa hai nền văn minh này, người Ukraine thấy rằng mô hình phương Tây, mà cụ thể ở đây là khối EU, hấp dẫn họ, có thể cho họ sự dân chủ trong xã hội, và từ đó dẫn đến sự sung túc. Nhìn sang phía Đông, họ thấy nước Nga không có gì hấp dẫn cả, chỉ là sự đen tối đầy bạo lực.

Tôi nghĩ rằng từ khi quyển sách “Xung đột giữa các nền văn minh” ra đời đến nay, thì cuộc chiến tranh Ukraine là minh chứng rõ rệt nhất cho quan điểm của Huntington.

Việt Nam thoát Á

Việt Nam nằm trên một khuynh hướng giạt về phương Tây từ thời người Pháp chinh phục Đông Dương. Nhưng, giở lại lịch sử hơn hai ngàn năm của Việt Nam (tính từ lúc những sự kiện cụ thể được ghi vào sách vở), sự chống đối phương Bắc chính là khuynh hướng thoát Á đó, rõ ràng nhất qua câu tán thán của sứ thần Ngô Thời Nhiệm, thời Tây Sơn: May mắn là chúng ta được sinh ra ở phương Nam.

Việc thống nhất với hai vương quốc phương Nam là Champa và Phù Nam, làm cho Việt Nam có thêm một không gian rộng mở về phương Nam, về phía biển.

Khuynh hướng ngã về phương Tây tiếp tục tăng mạnh sau gần 1 thế kỷ ảnh hưởng bởi người Pháp, và hai mươi năm can dự của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Khuynh hướng này bị khựng lại, ở miền Bắc từ năm 1954, trên cả nước từ năm 1975, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thống trị hoàn toàn, với mô hình toàn trị, “đậm đà màu sắc” văn minh lục địa Á – Âu, do Lenin thiết kế.

Khuynh hướng này tiếp tục trở lại từ năm 1986, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, tuy nhiên hơn 30 năm sau nó vẫn chưa đủ để thoát khỏi bàn tay kềm kẹp của những lãnh chúa địa phương như viên bí thư huyện ủy tôi đề cập ở đầu bài, và các viên chức cao cấp được cái lò Liên Xô đào tạo.

Người Việt hãy nhìn sự tàn bạo của quân đội Nga tại Ukraine mà thức tỉnh. Hãy nhìn hàng loạt viện Khổng Tử bị đóng cửa khắp nơi vì nó quá ư lỗi thời.

Tiếp theo Nhật Bản, đã có Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore “thoát Á” thành công. Vòng ngoại vi của văn minh Trung Hoa cổ hủ có lẽ chỉ còn có Việt Nam và Bắc Hàn.

Liệu người Việt có cần một người như Fukuzawa Yukichi viết Thoát Á luận trên tờ Tuổi Trẻ hay Thời báo Kinh tế Sài Gòn hay không?

Người ta có thể tranh cãi xem mô hình dân chủ phương Tây hay toàn trị kiểu Nga – Hoa, xem mô hình nào đúng hơn, hữu hiệu hơn. Nhưng chắc chắn không thể tranh cãi rằng dòng người đứng xin visa nhập cảnh Hoa Kỳ lúc nào cũng dài, ở Hà Nội và Sài Gòn, kể cả ở Bắc Kinh và Moscow. Không ai xin di cư vào Nga và Trung Quốc để sống cả.