TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ! – Vũ Thế Thành.

Vũ Thế Thành

Sau 1975, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?

Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược.
Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời…”.

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 1975, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn – Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết.
Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt.

Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm bắt hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.

Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5- 7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe.

Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em…

Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 1975, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la,…

Năm 1978, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C. V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 1975 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết.

Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.
Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì.

Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo.

Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.

Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm.

Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 1975 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

Năm 1975 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi?
Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…” (*)

Vũ Thế Thành

From: Tu-Phung

 

Đại biểu Quốc hội bàn chuyện số xe gây cười!

Đài Á Châu Tự Do  

Một số đại biểu Quốc hội Việt Nam trong các kỳ họp đều đem đến những tràng cười cho dân chúng, bởi những đề xuất hay những câu hỏi bị cho ngớ ngẩn, thậm chí lăng nhăng. Nguyên nhân vì đâu?

Mới đây nhất là đề xuất của một số đại biểu Quốc hội rằng, không cho phát hành bảng số xe có số cuối là 49 hoặc 53 với lý do, đây là những số xấu theo quan niệm dân gian.

Trước đây từng có những đề xuất bị cho là ngớ ngẩn như ‘kiểm tra lại với người đã có bằng nhưng không lái xe thường xuyên’ nhằm giảm thiểu tình trạng tai nạn giao thông của đại biểu Nguyễn Minh Đức – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội; ‘phải đóng phí chia tay 3-5 USD/người mỗi khi xuất cảnh’ của đại biểu Nguyễn Quốc Hưng (TP Hà Nội); đề nghị ra luật ‘để nam giới cũng phải mặc áo dài truyền thống thay vì mặc comple’ của đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội); hay ‘xử lý người tiêu dùng cố tình mua hàng giả’ của đại biểu Lý Tiết Hạnh (đoàn Bình Định) nhằm bảo vệ người tiêu dùng một cách bền vững.

#RFAVietnamese #QuocHoi

Áp phích cổ động bầu cử Quốc hội trên đường phố Hà Nội hôm 19/5/2021

RFA.ORG

Đại biểu Quốc hội bàn chuyện số xe gây cười!

Một số đại biểu Quốc hội Việt Nam trong các kỳ họp đều đem đến n

GÓC SUY GẪM…. Đôi Điều Quán Chiếu Thân Tâm

Đôi Điều Quán Chiếu Thân Tâm

Sống ở đời, gặp lúc có lợi nhớ đừng giành hết cho mình.
Lợi lộc cuộc đời giành giật cả đời cũng không thể hết, biết đủ nên dừng.
Dù bạn có lý, cũng đừng truy người đến cùng.
Lý lẽ thế gian dù tranh luận ngàn năm cũng không thể hết, có đạt được chiến thắng cũng mất đi sự lương thiện nhẹ nhàng.
Cho dù bạn có tài năng vượt trội, cũng đừng bao giờ chế nhạo kẻ khác.
So sánh người với người dễ làm tổn thương nhau, so sánh vật với vật dễ dẫn đến việc phải bỏ đi một thứ nào đó.
Làm người, nếu tỏ ra quá khôn ngoan, xung quanh sẽ nghi ngại;
quá cầu toàn thì dễ gặp hiềm khích, còn như quá kiêu ngạo sẽ bị người xa lánh.
Suy nghĩ quá mức sẽ phát sanh phiền muộn;
Để ý quá chi li chỉ tự ám ảnh chính mình;
Truy cầu quá nhiều mới khiến bản thân mỏi mệt.
Chỉ khi nào trong lòng thấy hạnh phúc thì ngày tháng mới thong dong; thân tâm tự tại mới thấy cuộc đời là đáng sống.
Hãy trân trọng lấy những người bên cạnh, vì qua đời này rồi chưa chắc sẽ gặp lại;
Tranh thủ tận hưởng niềm vui hiện tại, vì vừa chớp mắt có thể đã không còn…

Tiếng Huế – Trần Văn Giang (ghi lại)

Sự đa dạng trong ngôn ngữ của một dân tộc là điều tự nhiên. Bao giờ trong cái chung cũng có cái riêng và thấp thoáng trong cái riêng là hình ảnh của cái chung. Hình như địa lý và lịch sử đã kết hợp với nhau để tạo nên cho Huế một môi trường nảy sinh ra nhiều thổ âm và thổ ngữ hơn những miền khác; đến độ có người đã nói là có thể sưu tập thành một tiểu tự điển tiếng Huế.

Những câu chuyện về tiếng Huế

Một anh bạn người Huế đưa một cậu bạn đến nhà người dì để giới thiệu cô em gái xứ Huế của mình. Vì là lần đầu tiên, anh bạn Nam kỳ hơi ngần ngại. Anh người Huế trấn an, khuyến khích:

*– Cứ vô đi, cô ta không có răng mô. Đừng ngại!

Anh bạn Nam kỳ hốt hoảng:

*– Mèn đét ơi, không có răng thì ghê quá, tôi không thích.

Hai bà (một Bắc, một Huế) rủ nhau đi chợ. Bỗng gặp một bà áo tang khăn chế. Hai bà bạn hỏi để tang cho ai. Bà này trả lời chồng mới chết. Bà người Huế hỏi:

*– “Đau răng mà chết?”

Bà người Bắc lẩm bẩm:

*– “Giời ơi! Đau răng mà cũng chết được sao!”

Một thiếu nữ Hà thành khi nghe một thanh niên Huế ngỏ lời:

*– “Cô cho tôi một cái bóng (ảnh) của cô để làm kỷ niệm.”

Cô ta ngơ ngác hỏi lại:

*– “Thưa anh muốn cái ‘bọng’ gì của tôi cơ ạ?”

Một ông người Huế khi vào hội tứ sắc đã hỏi làng:

*– “Hôm nay tôi hên, muốn đánh lớn. Mấy bà có chịu hai cắc (một lệnh) không?”

Một bà người Nam giận dữ bỏ về vì nghe lầm dấu sắc (‘) ra dấu nặng (.) cho rằng ông người Huế tục tĩu (!).

Tiếng Huế Thông Dụng

Các bạn thường đùa rằng, tiếng Huế là “chi, mô, răng, rứa,” nhưng để hiểu và sử dụng thuộc lòng các từ này thì cũng không phải đơn giản.

Người Huế hỏi: “Mi đi mô rứa?” nếu so với ngôn ngữ chuẩn thì các bạn phải hiểu là “Mày đi đâu thế?” Chữ “mi,” các bạn tạm hiểu đó là ngôi thứ 2 số ít, tương đương với “mày,” “bạn.” Tương tự như thế, “bọn mi” hay “tụi mi” thì tương đương với “chúng mày,” “bọn mày” hay “các bạn.” Ngôn ngữ trong phim Tàu thường được nhóm lồng tiếng dùng là “các ngươi,” chúng đều có nghĩa như nhau vậy.

Chúng ta lại tiếp tục nói về “chi, mô, răng, rứa.”

*– Chữ “Chi” tương đương với chữ “.” “Làm chi” có nghĩa là “làm gì.” Ví dụ người Huế nói: “Mi đang làm cái chi rứa?” thì tiếng chuẩn là “Mày đang làm gì thế?” hoặc “Bạn đang làm gì vậy?.” Chữ “chi” không những được dùng rộng rãi trong tiếng Huế mà ngay cả hai miền Bắc, Nam cũng dùng rất nhiều.

Chúng ta không bàn nhiều về chữ này.

*– Chữ “Mô” trong tiếng Huế mới thực sự là đặc trưng của Huế. “” tạm hiểu là “đâu,” là một chữ thường được dùng trong câu hỏi. Tuy nhiên, trong một vài ngữ cảnh thì “” được hiểu theo nghĩa khác. Ví dụ, “rứa ngày ni mi tổ chức sinh nhựt ở mô?” bạn phải hiểu rằng “Hôm nay mày tổ chức sinh nhật ở chỗ nào thế?” hoặc “Hôm nay bạn tổ chức sinh nhật ở đâu thế?” “” được dùng trong câu này để chỉ địa điểm.

Nếu đặt trong hoàn cảnh khác thì “mô” có thể đóng vai trò là thán từ. Khi bạn hỏi: “Sao mày gặp tao mà lơ đi thế?” nếu người Huế trả lời là “mô mà!” thì bạn phải hiểu là “đâu có!” tức là phủ định vấn đề.

*– Chữ “Răng” trong tiếng Huế tạm hiểu là “sao,” thường được dùng trong câu hỏi, một vài trường hợp biểu thị ý nghĩa khác. Ví dụ, “răng mà mi noái lạ rứa?” thì bạn phải hiểu là “sao mà mày nói lạ thế” hoặc “sao bạn nói kỳ vậy.” “Ui chao, răng rứa?” có nghĩa là “Ôi, sao thế?” hoặc “Ủa, sao vậy?” Nếu “răng” nằm đơn độc một mình thì đóng vai trò như câu hỏi tỉnh lược. Ví dụ, một người hối hả chạy vào, bạn hỏi “răng?” thì có nghĩa là “gì thế?” “sao thế,” “sao mà vội vàng thế?” Khi bạn an ủi ai đó thì bạn dùng “không răng mô!” tức là “không sao đâu!” “không có vấn đề gì đâu!” Một thiền sư có viết bài thơ trong đó có hai câu rằng:

“Không răng mà lại cũng không răng

Chỉ có thua người một miếng ăn.”

Hai chữ “Răng” ở câu đầu có hai nghĩa khác nhau. Câu đó nghĩa là “không có răng nhưng cũng chẳng sao cả,” ý nói đã già, răng rụng hết.

*– Chữ “Rứa” trong tiếng Huế tạm hiểu như chữ “thế,” thường đặt ở cuối câu để làm câu hỏi hoặc có một số nghĩa khác khi nằm ở vị trí khác.

Ví dụ, “răng rứa?” nghĩa là “sao thế?” “Mi đi mô rứa?” nghĩa là “mày đi đâu thế?” hay “bạn đi đâu vậy?” Một đứa con nghịch ngợm, mẹ bảo hoài mà không nghe thì người Huế thường nói: “Nói mãi mà cứ rứa!”  Nhiều trường hợp “rứa” được đặt đầu câu. Ví dụ, “Rứa hôm nay bác đi mô?” có nghĩa là “Thế hôm nay bác đi đâu?” Nếu đóng vai trò thán từ thì cũng như “thế.” Ví dụ, bạn hiểu ra một vấn đề gì đó, bạn nói “rứa à!” hoặc “té ra là rứa!” có nghĩa là “thế à!” hoặc “hóa ra là thế!”… Trên đây tôi nói sơ lược về “chi, mô, răng, rứa” của tiếng Huế. Ngoài ra, còn có các chữ khác như “tê, ni, nớ, ri…” sẽ được trình bày sau bên dưới…

__________

Ghi Chú:

Chắc quý vị đã từng nghe những câu sau trong bài hát “Mây trắng qua cầu” như sau:

“Trời đổ mưa mà em đi mô, anh có biết chi mô nà! Thôi bây chừ đưa em về với mạ, có chi mô mà em cứ khóc hoài!”

Rất Huế đúng không các bạn? Nếu ai không hiểu thì tôi xin tạm thời “thông dịch” như sau:

“Trời đổ mưa mà em đi đâu, anh chẳng biết gì cả. Thôi bây giờ đưa em về với mẹ, có sao đâu mà em cứ khóc hoài.”

Đó, các bạn xem, cái hay của đất Huế là vậy đó, rất chân chất, quê mùa nhưng ngọt ngào, đằm thắm. Nói như người xưa, “cái không hiểu” đó mới chính là “rất Huế.” Còn nói về tê, ni, nớ, ri… thì tạm hiểu như sau:

*– Chữ “Tê” có nghĩa như chữ “kia.” Ví dụ, người Huế hỏi “đầu tê răng rứa?” thì nghĩa là “đầu kia sao vậy?” hoặc “đầu kia có chuyện gì thế?”

Có câu chuyện vui thế này:

Có một người Huế khi ra Bắc, nghe nói rằng chữ “tê” ở Huế thì ngoài bắc dùng là “kia,” chữ “răng” ở Huế thì ngoài Bắc dùng là “sao.” Khi đi thăm Huế, một người Bắc đã ghé vào quán nước để uống, chủ quán mang cho anh ta một cốc nước đá lạnh. Vì đang háo nước, anh ta vội vã nốc một hồi hết sạch. Vì do nước quá lạnh nên anh ta buốt hết cả răng. Đột nhiên anh ta kêu to, “trời ơi, kia cái sao quá! (?)” Ngôn ngữ là vậy đó, “tê răng” của Huế là “kia sao” của miền Bắc mà!

*– Chữ “Ni” tạm hiểu là “này.”  Ví dụ người Huế nói “bên ni” tức là “bên này.” Đối ngược với “bên ni” là “bên nớ” hoặc “bên tê,” tiếng chuẩn là “bên kia.” Trong bài “Huế xưa” của Châu Kỳ có câu rằng “Ở bên ni qua bên nớ, cách con sông chuyến đò chẳng xa, nhỏ sang thăm có tôi đợi chờ.” Ni và Nớ là chỉ cho bên này và bên kia vậy!

*– Chữ “Nớ” có nghĩa tương phản với “Ni,” bạn có thể dùng Nớ và Ni để chỉ địa điểm (bên nớ, bên ni) hoặc có thể dùng để chỉ đối tượng là người.  Ví dụ: “Nếu Nớ ngỏ lời thì Ni cũng đồng ý,” hiểu là “Nếu anh đã ngỏ lời thì em đây đồng ý.

*– Chữ “Ri” trong tiếng Huế tạm hiểu là “đây,” “đấy.”  Ngoài ra còn dùng với nghĩa tương phản của “Rứa.” Ví dụ, người Huế thường hỏi nhau là “Mi đi mô rứa?” hoặc “Rứa thì mi đi mô ri?” Các bạn hiểu sao? Đó là hai câu hỏi thường xảy ra trong trường hợp hai người đi và gặp nhau trên đường. Đơn giản, người này hỏi người kia là “mày đi đâu thế?” người kia sẽ hỏi lại là “thế thì mày đi đâu?” Cái hay của Huế phải chăng là cái Ri, Rứa!

Các bạn chỉ cần chú ý một tí thôi thì tiếng Huế chẳng có gì khó cả, ngược lại còn rất là dí dỏm và đáng yêu nữa, nhất là nó được phát âm bởi các cô gái Huế đương độ xuân thì.

*– Nhóm chữ “Chi mô nà,” thì như tôi đã nói, có nghĩa là “gì đâu,” với ý phủ định. Ví dụ, bạn bị mẹ mắng, bạn thanh minh bằng cách nói rằng “Con có làm chi mô nà!”…

Thiệt hết biết!

Khuyết Danh

Trần Văn Giang (ghi lại)

From: TRUONG LE

Khi Ta Già Đi

Hai tuần lui tới bệnh viện, tận mắt chứng kiến những bệnh nhân cao tuổi ở Khoa tim mạch, tiếp xúc, nói chuyện với những bệnh nhân già, chợt nghĩ đến một ngày ta già đi, ta sẽ tự nhủ mình rằng:

*Khi ta già đi, ta sẽ không lo nghĩ mấy cái chuyện bao đồng của con cháu 3 đời như cha mẹ ta thường lo lắng. Bởi con cháu đứa nào cũng có cuộc sống riêng của nó, ta cần sự tĩnh lặng để thư thái, nghỉ ngơi và cứ để mọi thứ thuận theo quy luật tự nhiên của cuộc sống.

* Khi ta già đi, ta sẽ không nhắc nhở con cháu về một điều gì đó quá cũ, rót vào tai chúng mãi một câu chuyện xa xưa, hay dặn dò chúng những điều hết sức lạc hậu. Cho dù nói nhiều hay ít thì con cháu nó vẫn cho rằng, đó chỉ là lý lẽ vớ vẩn của người già.

* Khi ta già đi, ta học cách buông tay, ta chẳng cần phải nghĩ ngợi những người trẻ mỗi ngày nó lướt qua đời ta một cách nhẹ nhàng như thế nào, ta chỉ mong mình đủ sức để tự nấu một món ăn thật nhừ, đủ sức để tự tắm rửa hàng ngày, ta cũng không câu nệ mọi ngóc ngách trong nhà đều phải tinh tươm sạch sẽ, mà chỉ chú ý đến sức khỏe của bản thân mình, nhằm giảm bớt áp lực cho con cháu khi phải chăm sóc ta.

*Khi ta già đi, ta cũng mong trời thương, nằm xuống, nhắm mắt một phát là đi ngay. Bởi ta đã nhìn thấy nhiều cảnh đau lòng xảy ra khi con cái chăm sóc cha mẹ già. Có nhiều chuyện bấy lâu nay ta cứ nghĩ nó chỉ có trong văn học thời hiện thực phê phán, nhưng không, nó vẫn được diễn ra trong cuộc sống thường nhật. Mà nghĩ đi rồi cũng nghĩ lại, thực ra thì con cái ai cũng tốt và có hiếu với cha mẹ cả thôi, nhưng khi bố mẹ trở thành gánh nặng hàng ngày, nhiều ngày thì tình cảm sẽ mai một dần đến mức không còn thấy thương yêu nữa, chỉ còn thấy chịu đựng, thấy khổ sở, nhất là con rể hoặc con dâu và các cháu, những người không trực hệ, không được ông bà trực tiếp đẻ ra.

*Và khi ta già đi, ta muốn chẳng nợ nần gì nhau trong cuộc đời này, chỉ cần được an yên, bởi ta nghĩ bất cứ ai, cho dù một thời trẻ hoài bão, ngang dọc, vội vã, và rồi cũng đến lúc già, chỉ cần hai chữ an yên mà thôi.

Sưu Tầm

From: KimBang Nguyen

Bầu cử giữa kỳ Mỹ : Tập đoàn truyền thông Murdoch dường như bỏ rơi Donald Trump

RFI Tiếng Việt 

Sau nhiều năm ủng hộ Donald Trump, Fox New và nhiều kênh truyền thông thuộc tập đoàn Murdoch dường như đang quay lưng lại với ông. Những hàng tít lớn trên nhật báo New York Post và các bài xã luận của Wall Street Journal là một minh chứng. Những nhật báo này cáo buộc cựu tổng thống Mỹ đã « phá hoại » cuộc bầu cử giữa kỳ của đảng Cộng Hòa.

RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT

Bầu cử giữa kỳ Mỹ : Tập đoàn truyền thông Murdoch dường như bỏ rơi Donald Trump

Sau nhiều năm ủng hộ Donald Trump, Fox New và nhiều kênh truyền thông thuộc tập đoàn Murdoch dường như đang quay lưng lại với ông. Những hàng tít lớn trên nhật báo New York Post và các bài xã luận của…

Câu chuyện gia đình An Phong

Thứ bảy 29.10.2022, lúc 10g sáng, tại Nhà Nguyện của Tu Viện DCCT Vũng Tàu, mình sẽ dâng Lễ Tạ Ơn nhân ngày giỗ lần 8 (2014 – 2022) cha Louis NGUYỄN VĂN QUI, DCCT, người sáng lập GIA ĐÌNH AN PHONG, GIA ĐÌNH CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÓ GIA ĐÌNH tại Vũng Tàu, người ta quen gọi là “BỤI ĐỜI CHA QUI”. Nhân dịp này mình xin đăng lại trọn bài viết của của chính cha Qui kể lại lai lịch của Nhóm hết sức đặc biệt này… ( Giuse Lê Quang Uy, DCCT )

GIA ĐÌNH AN PHONG: GIA ĐÌNH CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG GIA ĐÌNH

Con người sinh ra, ai cũng có cha, có mẹ, có một gia đình… Không có ai từ đất nẻ mà chui lên… Nhưng vì hoàn cảnh, vì xã hội, vì giáo dục v.v… có một số người kém may mắn, mất hoặc xa cha mẹ sớm, nên phải sống lang thang, không gia đình… Đó là trường hợp các em mà người ta gọi tắt là bụi đời; nghề sinh sống của các em thường là đi đánh giầy…

Lúc đó, năm 1963, tôi làm quản lý trong Dòng Chúa Cứu Thế ở Rạch Dừa, Vũng Tàu. Trong những lúc đi chợ cho Nhà Dòng, tôi có dịp gặp nhiều em đánh giầy, và lần lần quen thân với các em…

Một hôm, tám em đánh giầy tới xin tôi ở… Tôi cười và nói: “Bộ tụi con muốn đi tu hả, nhà này là một Tu Viện mà ?” Các em trả lời: “Không, tụi con muốn ở với cha”… Ở với cha mà không chịu đi tu: đó là cả một vấn đề. May phước tôi làm quản lý Nhà Dòng, nên có một khu riêng dành cho gia nhân, những người giúp việc cho Nhà Dòng. Để tám đứa ở chung với những gia nhân đó, trong bụng tôi nghĩ thầm: ở đây buồn chết, chúng nó ở ít ngày rồi sẽ đi sống lại ngoài chợ, vui nhộn hơn…

Dè đâu, chúng nó không đi, mà còn rủ thêm các đứa khác đến ở… Thấm thoát, con số lên tới hơn hai chục. Bấy giờ “Chúa mới can thiệp vào vấn đề”.

Trước mặt Nhà Dòng là một phi trường. Phi cơ và trực thăng của quân đội Mỹ bốc lên đáp xuống liên lỷ, làm các Cha dạy học ở Đệ Tử Viện, không dạy được. Các Cha phàn nàn với Cha Bề Trên Giám Tỉnh, và Cha Bề Trên Giám Tỉnh mới giải quyết: đưa Nhà Đệ Tử lên Sàigòn.Thế là cả Nhà Dòng và Nhà Đệ Tử ra đi di tản, để lại mấy chục em bụi đời. Và tôi ở lại với các em…

GIA ĐÌNH AN PHONG bắt đầu tự túc: nuôi gà để nuôi nhau; khởi sự với hai mươi con, đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, số gà lên tới hơn 6.000 con, và từ trước đến lúc đó đã ăn không biết bao nhiêu và đã bán biết bao nhiêu… Bàn tay của Chúa thấy rõ ràng. Chúa sinh Chúa dưỡng.

Nhờ đường lối Chúa soi sáng mà số các em mỗi ngày mỗi tăng thêm. Tôi nói với các em: Chúa dựng nên con người và cho hoàn toàn tự do. Cho nên trong nhà của mình, chúng con muốn làm gì thì làm. Đứa nào muốn đi học, cha cho đi học. Đứa nào muốn học nghề, cha cho học nghề. Còn đứa nào muốn ở không chơi, không làm gì hết, vẫn cứ được như thường. Không làm gì hết mà đến bữa ăn, có quyền đến ăn như mọi người, vì mình là đứa con trong nhà thì mình có quyền ăn, còn làm việc là chuyện khác. Nghe vậy, đứa nào cũng thích, và tụi nó mới rủ nhau đến ở càng ngày càng đông…

Một hôm, mấy anh lớn có ý kiến giáo dục hay, mới bàn với tôi. Chúng con muốn chia nhóm. Chia nhóm là làm sao ? Tất cả tụi con đều là bụi đời. Vậy thì mấy em nhỏ, đi học, là nhóm “Bụi Non”. Còn các anh lớn, học nghề, là nhóm “Bụi Già”. Còn mấy anh em không làm gì hết là nhóm “Bụi Cà Nhỏng” !

Nói rồi và làm liền… Mấy anh em nhóm “Cà Nhỏng” hơi quê xệ một chút. Nên từ từ rồi mấy anh em đó gia nhập nhóm “Bụi Học Trò” hay “Bụi Học Nghể”… Thế là ý kiến giáo dục của mấy anh lớn đã thành công mỹ mãn.

Lúc ấy, cơ quan viện trợ Công Giáo Mỹ có cho bột mì, làm bánh mì cho học sinh nghèo. Tôi mới kêu một ông thợ làm bánh mì người Trung Hoa, Chú Hai. Chú Hai xây một cái lò củi nướng bánh mì. Tôi nói với các em: đứa nào muốn học làm bánh mì thì đi với Chú Hai. Một số mấy anh lớn đi với Chú Hai… Tôi cũng có mướn hai ông thợ máy: anh Hai và anh Ba. Tôi nói với các em: đứa nào muốn học nghề thợ máy sửa xe hơi thì đi với anh Hai, anh Ba…

Thế là mấy tháng sau, trong nhà có hai băng thợ làm bánh mì và thợ máy sửa xe hơi… Như thế là GIA ĐÌNH AN PHONG đã khai trương Lò Bánh Mì AN PHONG và Garage AN PHONG, thêm phương tiện nuôi sống các em.

Với thời gian, theo đường dây Radio-Á Rập, GIA ĐÌNH AN PHONG và xe camionnette Peugeot 404 của cha Qui được các em đánh giầy chẳng những ở Vũng Tàu mà cả Sàigòn-Chợ Lớn biết và nhận diện. Các em rủ nhau vô ở càng đông…

Một hôm tôi đi chợ ở Chợ Lớn. Đi chợ xong, trở lại xe, tôi thấy mười một em với thùng giầy trên tay, ngồi sẵn trên xe: các em ngồi chơi vì biết là xe của cha Qui. Tôi ngó các em, các em nhìn tôi cười, chào nhau. Tôi mới buột miệng hỏi các em: “Cha đi về Vũng Tàu nè, đứa nào muốn đi Vũng Tàu tắm biển vài ngày rồi trở về Chợ Lớn lại, cha sẽ chở về… Các em dòm nhau, hỏi ý kiến, rồi bảo nhau: Mình phải đi trả thùng giầy cho “anh nuôi” đã… Mỗi em có “anh nuôi” và thùng giầy riêng của anh đó. Mấy em nhanh chân, nhẩy xuống xe và trong mấy phút, chạy trở lại, nhẩy lên xe, ngồi gọn gàng, vui cười khoái chí…

Thế là 11 em đánh giầy ở Chợ Lớn, không cần tính toán lâu, bắt đầu đi Vũng Tàu tắm biển… Thứ hai tuần sau, tôi có dịp lên Sàigòn. Tôi gọi 11 em hôm trước đến và hỏi: “Cha đi Sàigòn đây, tụi con muốn về thì lên xe”. Các em ngó nhau, cười và đồng thanh: “Không, tụi con không về, tụi con ở lại đây với cha…”

Vậy là GIA ĐÌNH AN PHONG tăng số thêm 11 người nữa…

Cùng với các em bụi đời, có nhiều gia đình nghèo, cũng đến xin ở. Dần dần số những người này cũng lên đến mấy chục gia đình…
Lại có những em sơ sinh: cha mẹ sinh ra, rồi không thể nuôi được, đem đến gởi GIA ĐÌNH AN PHONG nuôi giúp. Hoặc các bà mẹ ôm con ra ngoài chợ, rồi nhờ các bà biết đường giây, ẵm vào GIA ĐÌNH AN PHONG giùm… Thành phần thứ ba này gia tăng cũng nhanh; cuối cùng trong nhà cũng được ba phòng, mỗi phòng 40 chục cái nôi…

Cùng với các em, Chúa cũng gởi mấy bà, mấy chị đến tình nguyện nuôi các em… Việc của Chúa làm bao giờ cũng lạ lùng…

Thêm các gia đình nghèo và các em sơ sinh, thì thêm miệng ăn. Chúa lại gởi quân đội Mỹ, Úc đem đồ giặt đến: GIA ĐÌNH AN PHONG lại thêm nhà giặt ủi để nuôi sống nhau…

Tạ ơn Chúa. Nhờ Chúa soi sáng và dẫn dắt, đường lối làm việc trong GIA ĐÌNH AN PHONG tóm tắt trong một câu: “Tôn trọng tự do và yêu thương lẫn nhau”. Cho nên GIA ĐÌNH AN PHONG không từ chối một người nào đến xin giúp đỡ. Kết quả: ngày 30 tháng 4 năm 1975, con cái Chúa, tính ra được: hơn 300 em bụi đời, hơn 100 ông bà gia đình nghèo, và hơn 100 em bé cô nhi…

Đó là tiểu sử ngắn gọn của GIA ĐÌNH AN PHONG, hôm nay được gởi lên mạng internet.  Hy vọng ông bà anh chị nào đã sống cùng nhau thời gian ngắn dài nào đó, tìm dịp về gặp lại nhau, chia sẻ vui buồn với nhau.

Liên lạc với GIA ĐÌNH AN PHONG ở Pháp: Lm. Nguyễn Văn Qui, 11 rue des Bornes – 95120 Ermont – France, điện thoại trong nước Pháp: 0134150584; điện thoại từ ngoài nước Pháp: 33134150584.

Lm. Louis NGUYỄN VĂN QUI, DCCT

From: Anh Dang & KimBang Nguyen

“BÁT PHÚC” – BÀI THƠ CẦU NGUYỆN – Nguyễn Đức Cung

Nguyễn Đức Cung

“BÁT PHÚC” – BÀI THƠ CẦU NGUYỆN

Viết tặng tám vị có tên sau đây: Phó Tế HUỲNH MAI TRÁC, PT ĐỖ NGUYÊN CHƯƠNG, PT NGUYỄN SĨ BẠCH, Bà NGUYỄN THỊ BÍCH-LÊ, Ông NGUYỄN PHI THỌ, Ông TRẦN TẤN ĐỊNH, Ông PHÙNG VĂN PHỤNG và tác giả, Ông NGUYỄN ĐỨC CUNG trong dịp Lễ Mừng Thượng Thọ Bát Tuần (*)

***

Ôi tuyệt diệu Bản Hiến Chương Nước Trời,
Được ghi dấu dưới tay vài Thánh Sử
Hai nghìn năm Hội Thánh hằng tuân giữ
Như khuôn vàng thước ngọc đến muôn năm.
Tám Mối Phúc nay mở hội trăng rằm
Con của Chúa mừng Bát Tuần thượng thọ.
Sách xưa dạy, “Ngọc Bất TRÁC” … không bỏ,
Cứ mài đi, giũa lại sẽ nên người,
CHƯƠNG là gì ? là vẻ sáng đẹp tươi
Đã trang điểm cả một trời tinh tú.
Niềm thanh BẠCH như hoa hồng điểm nụ
Ở trong vườn thượng uyển Giê-ri-cô
Tôi van lơn thầm nguyện Chúa Giê-su
Ban ơn xuống cho Mùa Xuân Phó Tế” (1)
Là như Trác, những Chương vừa được kể
Lại có thêm Sĩ Bạch, cùng các em:
Cường, Phúc, Rõ ràng thay tự cao thiên
Với Dũng, Hưng tựa trời cao vầng Nhật
Như ngọn đuốc thắp sáng những vùng đất,
Và Ân tình Chúa Tể rủ lòng thương,
Nơi Sơn cùng, thủy tận, gió ngàn phương
Lời truyền giáo vang nẻo đường lữ thứ,
Chưa từng hay có một vì Thiên Chúa,
Còn tối tăm, mù mịt, biết về đâu?
Ba mối phúc đầu đã kết những câu:
Sống nghèo khó, hiền lành và buồn tủi
Vì Nước Trời của người được an ủi,

Là gia nghiệp kẻ sống theo tinh thần.
Biết coi thường giá trị của phù vân,
Như CUNG bậc thăng trầm, cành LÊ trước gió,
Đã đa đoan trong cuộc đời nghèo khó,
Đã kinh qua dâu bể chốn lao tù,
Những tháng năm dài vụng dại đường tu
Ngày chung thẩm cũng là ngày phán ĐỊNH
Ngài nghe tiếng tôi” qua lời Thánh Vịnh
Xin PHỤNG thờ Ngài, tuổi THỌ dư đầy
Phúc cho ai sống công chính hôm nay

Vì họ sẽ được no đầy trong dư dả.
Trước cửa nhà có người nghèo đói lả,
Xin cho con tình rộng rãi xót thương.
Phúc cho ai lòng trong sạch khiêm nhường
Vì họ sẽ thấy Chúa Trời trực diện

Phúc cho ai không đảo điên láu liến,
Mưu hoà bình cho khắp cõi gần xa,
Sẽ là con cái của chính Chúa Cha.
Và phúc thật cho ai bị cấm cách,
Vì Đạo Chúa bị ngăn trở, cưỡng bách.
Tôi nhớ lại, thuở lọt lòng hôm nao
Ơn sinh thành, lời mẹ trong ca dao:
Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao (2)
Năm mười tuổi, trẻ thơ vừa khôn lớn,
Sách giáo lý vừa học, vừa nô giỡn…
Mấy “Bà O Nhà Phước” cứ răn đe
Tay cầm roi, hậm họa chẳng kiêng dè
Hai mươi tuổi ung dung vào Đại Học
Làm sáng tỏ Đức Sáng ngời gấm vóc
Của tiền nhân trong nước với năm châu.
Ba mươi tuổi, đứng thẳng ngẫng cao đầu
Tuổi “nhi lập”, sao chân còn khập khiễng.
Bốn mươi tuổi, không sai lầm, khuyết điểm,
Thế mà nay xét lại, vẫn ngây thơ.
Tuổi Năm mươi, mệnh Trời biết lơ mơ
Chẳng như lời bao Thánh Hiền giảng dạy.
Sáu mươi tuổi
, tai nghe và mắt thấy,
Cái gì cũng gật, cũng bảo là hay,
“Nhĩ thuận” là đây, hôm qua hôm nay
Nhịp nhàng theo bước đi của Lịch sử.
Bảy mươi tuổi, “cổ lai hi”, “bất du củ”…
Theo lòng mình mà bước, chẳng hề sai
Tuổi tám mươi 
nay, nhìn lại, thở dài (3)
Thượng thọ bát tuần, chỉ kém thua Bành Tổ. (4)
Trước mặt Chúa sẽ tới ngày tính sổ,
Cuốn sách dày trên nắp ván đong đưa,
Như lưỡi gươm Damoclès lững lơ (5)
Treo lơ lững thấy rụng rời kinh hãi.
Xin cho Tám Mối Phúc Thật ở lại
Cùng chúng con trên dặm cuối đường dài.
Chúa Là Tình Yêu mà cuộc sống an bài,
“Xin chọn Chúa, mà không chọn việc Chúa.”

Houston, TX, Nov. 05 – 2022

CHÚ THÍCH:
*Những chữ in đậm là tên các vị Phó Tế Vĩnh Viễn: Huỳnh Mai Trác, Đỗ Nguyên Chương, Nguyễn Sĩ Bạch và một số các PT thân hữu tại TGP Galveston-Houston.
*Tên các quyến thuộc tuổi trên tám mươi: Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Thị Bích Lê là anh em của PT Huỳnh Mai Trác và PT Nguyễn Sĩ Bạch.
*Các cụm từ được dùng trong sách Luận Ngữ: Tam thập nhi lập, Tứ thập bất hoặc, Ngũ thập tri thiên mệnh, Lục thập nhi nhĩ thuận, Thất thập nhi tòng tâm sở dục, Bát thập thượng thọ… được diễn giải vắn gọn trong lời thơ cầu nguyện.
*Tên các thân hữu của tác giả có tuổi tám mươi hay trở lên: Ô. Ô. Nguyễn Phi Thọ, Trần Tấn Định, Phùng Văn Phụng.
*Câu cuối là linh đạo của Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận (1928- 2002)

  1. Mượn ý thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940).
  2. Theo sách Minh Tâm Bửu Giám.
  3. Theo sách xưa.
  4. Theo thần thoại Trung Hoa.
  5. Theo thần thoại Hy Lạp.                                                                                                              (*) Mừng Thượng Thọ bát tuần thầy Phó Tế Nguyễn Sỹ Bạch                                             

Vét tiền để đốt

Bởi  AdminTD

Đỗ Ngà

9-11-2022

Mượn nợ ngân hàng thì gọi là vay tín dụng, mượn nợ người dân thì gọi là phát hành trái phiếu. Trái phiếu thực chất là giấy ghi nợ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp thôi. Doanh nghiệp cam kết trả lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng thì mới hút được nhà đầu tư chọn lựa. Trong trò chơi này, nhà đầu tư nhận giấy, doanh nghiệp nhận tiền.

Ông Phạm Nhật Vượng lập ra công ty VMI JCS, mua lại bánh tồn kho (tức bất động sản tồn kho) và bánh vẽ (tức là những bất động sản vẫn còn trên giấy) của Vinhomes rồi sau đó xẻ (tưởng tượng) những những cái bánh đó ra thành từng phần nhỏ mỗi phần trị giá 120 triệu đồng để bán cho nhà đầu tư với lãi suất cam kết lớn hơn lãi suất ngân hàng. Cuối cùng thì nhà đầu tư nhận tờ giấy, VMI SJC nhận tiền.

Vậy thì về bản chất, cách ông Phạm Nhật Vượng huy động vốn thông qua chiêu bán giấy lấy tiền, như thế khác nào cách mà ông Đỗ Anh Dũng và Trương Mỹ Lan bán trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán? Câu hỏi đặt ra là, tại sao ông Phạm Nhật Vượng không mượn tiền bá tánh trên thị trường trái phiếu như hai người kia mà ông ta lại mượn trực tiếp?

Xét về mức độ an toàn thì mua trái phiếu Tân Hoàng Minh và trái phiếu An Đông sẽ an toàn hơn mua tờ giấy chứng nhận của VMI JCS, vì sao? Vì trái phiếu được kiểm soát bởi luật chứng khoán nhà nước, còn giấy ghi nợ VMI của ông Phạm Nhật Vượng có gì kiểm soát? Cực kỳ rủi ro. Đó là cảnh báo cho những nhà đầu tư.

Hiện nay VinGroup đang có Vinhomes và Vinfast là hai nhánh đầu tư chính. Lâu nay Vinhomes là mỏ vàng kiếm lợi nhuận cho tập đoàn, còn Vinfast thì vẫn đang trong giai đoạn đốt tiền. Nói đơn giản là Vinhomes in tiền cho Vinfast đốt. Vậy câu hỏi đặt ra là, liệu rằng Vinhomes có moi ra đủ tiền cho Vinfast đốt hay không?

Ban đầu, dự định của ông Phạm Nhật Vượng là cho Vinfast IPO gọi vốn từ thị trường nước ngoài trong năm 2022 để đốt tiền kiếm tăng trưởng, nhưng kế hoạch này đến nay vẫn chưa thực hiện được, và e là không thể làm được. Gọi vốn đến 5 tỷ đô la không phải là dễ với một doanh nghiệp không mấy tên tuổi trên thị trường thế giới như Vinfast.

Việc ông Phạm Nhật Vượng né thị trường trái phiếu và vẽ ra cách tương tự để mượn tiền trực tiếp từ bá tánh, điều đó cho thấy Vin Group đang gặp 2 vấn đề lớn. Vấn đề thứ nhất là Vin Group đang thiếu tiền cho Vinfast đốt và vấn đề thứ hai là cơ thể Vin Group đang mang mầm bệnh như Tân Hoàng Minh và Vạn Thịnh Phát. Vì sao vậy? Vì có bệnh Vin mới né thị trường trái phiếu chứ khỏe mạnh thì việc gì? Cứ danh chính ngôn thuận mà phát hành trái phiếu chứ?

Sau khi ông Vượng vẽ ra cách huy động vốn ngoài thị trường trái phiếu, mạng xã hội đã vạch ra âm mưu của ông Vượng thì ngay sau đó là hàng loạt bài báo cho biết Vinhomes lãi ròng 14,5 ngàn tỷ. Theo tôi, đây là hình thức lùa gà chứ thực chất Vin Group vã lắm rồi.

Ban đầu ông Phạm Nhật Vượng tính xẻ bánh vẽ (bất động sản tồn kho hay bất động sản trên giấy đều là bánh vẽ tất, vì không nhà đầu tư nào sở hữu được bánh mà chỉ sở hữu tờ giấy) ra trị giá 120 triệu. Tuy nhiên với miếng bánh vẽ lớn thế thì những người ít tiền như chị bán rau, chị bán hủ tiếu gõ, anh xe ôm, anh công nhân v.v… không đủ tiền để mua một miếng. Vậy nên ông Vượng đã cho xẻ miếng bánh vẽ 120 triệu thành 3 miếng, mỗi miếng trị giá cỡ 40 triệu để dụ những người ít tiền tham gia vào việc góp vốn cho ông.

Việc xẻ nhỏ miếng bánh vẽ ấy cho thấy, ông Phạm Nhật Vượng đang rất khát vốn và vì quá khát nên ông vét từng giọt tiền nhỏ để góp lại cho Vinfast tiếp tục đốt để duy trì ngọn lửa. Hiện nay các ông lớn như Toyota, Ford, Honda, Hyundai, Nissan, Volkswagen v.v… đang chuẩn bị hàng chục tỷ đô nhảy vào thị trường xe điện. Những ông lớn này đang có hạ tầng phân phối rất lớn, chỉ cần đưa xe điện thay xe xăng là xong. Như vậy không biết Vinfast đốt bao nhiêu tiền mới tồn tại được giữa rừng những ông lớn này? Chắc đốt không xuể.

Tiền trong túi anh công nhân, chị bán rau, anh xe ôm mà đem ra đốt để đấu với Toyota, Honda, Hyundai, Nissan, Volkswagen thì chẳng khác nào trứng chọi đá. Nhà đầu tư nên thận trọng. Trước khi bị dính đến pháp luật, Tân Hoàng Minh, FLC, Vạn Thịnh Phát đều rất uy tín. Đó là bài học, học lại cũng chưa muộn.

Vài suy nghĩ về tuổi 80

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Thứ bảy ngày 05 tháng 11 năm 2022 tôi đi dự thánh lễ tạ ơn, mừng thọ 80 tuổi của thầy Phó Tế Nguyễn Sỹ Bạch ở nhà thờ Prince of Peace Catholic Church – để Tạ Ơn Chúa về Ân Sủng của Sự Sống.

Tôi cũng được lên gần cung thánh để Cha chủ tế và cộng đoàn dân Chúa đưa tay cầu nguyện, chúc mừng vì thọ được 80 tuổi, trong số những người này có Phó tế Huỳnh Mai Trác, Phó tế Đỗ Nguyên Chương, Phó Tế Nguyễn Sỹ Bạch, Ông Nguyễn Đức Cung, Bà Nguyễn Thị Bích Lê- Ông Trần Tấn Định

Trong quyển sách nhỏ  gởi đến các thân nhân, bà con, thân hữu để dùng trong nhà thờ, tôi đã nhận được hai câu sau đây – tôi rất cảm kích và xin được ghi nhận và chia sẻ:

-1)Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Con ca ngợi Chúa đã dựng con nên cách lạ lùng, Công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi” Tv 139:13-14

– 2) “Được sống đến tuổi già là một ân huệ. Không phải vì chỉ một số người có thể sống đến tuổi này, nhưng vì trước hết, tuổi già cho chúng ta khả năng đánh giá quá khứ, được hiểu và sống mầu nhiệm Vượt Qua một cách sâu xa hơn, và được trở nên kho tàng kinh nghiệm quý báu cho Giáo hội”.

(Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II)

***

Theo giáo sư Đào Duy Anh trong tác phẩm Hán Việt Từ điển thì: 60 tuổi gọi là Hạ thọ, 70 tuổi gọi là Trung thọ, 80 tuổi gọi là Thượng thọ.

Tuổi Thượng Thọ – 80 tuổi rất hiếm.

Vì tuổi thọ trung bình (cả hai giới tính) ở Việt Nam là 75,6 tuổi. (Nguồn: https://danso.org/viet-nam/)

Trong khi tuổi thọ trung bình của dân số thế giới (72 tuổi). Tuổi thọ trung bình của nam giới là 71,5 tuổi. Tuổi thọ trung bình của nữ giới là 79,7 tuổi. (Nguồn: https://danso.org/viet-nam/)

Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người,

Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và hiện có khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số. Riêng số người từ 80 tuổi trở lên là 2 triệu người, tỉ lệ khoảng 2% dân số.

Ở Mỹ có 6 triệu 500 ngàn người trên 80 tuổi, dân số Mỹ là 332 triệu 400 ngàn người, tỷ lệ gần ~2% dân số.

Cho nên dầu ở Mỹ hay ở Việt Nam tỉ lệ người sống trên 80 tuổi rất hiếm và họ là tấm gương sống và là kho tàng kinh nghiệm sống cho con cháu.

***

+Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời” (Gv 3:1)

Ân huệ được sống tới tuổi già vì sống tới tuổi 80 rất hiếm. Đầu tháng 11 này được tin, Nguyễn H. N. , một người bạn học chung lớp B1 trường trung học Cần Giuộc, niên khóa 1955-1959, đã ra đi, anh nhỏ hơn tôi một tuổi.

“Tuổi già là một ân huệ” vì rồi đây còn phải chịu đựng những sự đau đớn, mệt mỏi trong bịnh hoạn trước khi lìa đời. Làm sao “vui để đợi chết”? Khó khăn lắm chứ không phải dễ dàng gì đâu. Nhưng niềm tin phục sinh cho ta niềm hy vọng, an ủi để chịu đựng đau khổ ở đời này để hưởng vĩnh phúc ở đời sau, một “sinh nhật mới” trong nước trời vĩnh cửu.

***

Người Việt Nam cũng thường có tổ chức mừng lễ thượng thọ cho cha mẹ. Trong lễ thượng thọ, cha mẹ trong y phục trang trọng, thường là y phục khăn đống, (trang phục có màu đồng nhất, màu đỏ hoặc màu vàng) ngồi trước bàn thờ hay nơi sang trọng nhất trong căn nhà như gian chính con cháu lần lượt đến kính cẩn dâng rượu (thọ), rồi lễ bái cha mẹ, sau đó mời các cụ dự tiệc mừng . Đôi khi họ mời bà con xa gần đến chung vui và chúc mừng các cụ.

Hình lượm trên net, tượng trưng trong lễ thượng thọ

Bìa tập sách nhỏ dùng cho thánh lễ

Xem thêm:

1)VẤN ĐỀ VỀ NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2)Lễ mừng thượng thọ   

Tác giả: Phùng Văn Phụng

tháng 11 năm 2022

Việt Kiều là ai?

Bởi  AdminTD

Yên Khê

8-11-2022

Ngày 5-11-2022, BBC có đăng bài viết của tác giả Joaquin Nguyễn Hòa: Việt kiều và cán bộ VN: Cùng một dân tộc mà hai ngôn ngữ khác nhau. Bài viết kể lại những câu chuyện tiếp xúc giữa Hà Nội và một số người Việt hải ngoại mà tác giả chứng kiến.

Nếu tôi không lầm, thì ý ông Hòa muốn chứng minh một luận điểm là sự khác biệt về môi trường chính trị xã hội, đưa đến sự khác biệt về ngôn ngữ, tức là cách suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề. Vì thế, Hà Nội và nhóm “Việt kiều” trong câu chuyện của tác giả không thể có cùng chung tiếng nói với nhau.

Đây là một khái niệm khá thú vị. Tuy nhiên, tựa đề của ông Hòa đặt có vẻ không chính xác, khi ông dùng cụm từ “Việt kiều”.

Ai là “Việt kiều?”

Tôi thấy là nhóm người ông Hòa gặp vào năm 1996 ở Montreal, cũng như những nhân vật và những nhóm người mà ông đề cập suốt bài, đâu thể đại diện cho “Việt kiều” được!

Bỏ qua gốc gác của từ “Việt kiều” hiện vẫn còn gây tranh cãi, cứ mặc định rằng “Việt kiều” là người Việt sống bên ngoài Việt Nam. Trả lời câu hỏi họ là ai, có lẽ không đơn giản. Mà “họ là ai này” cũng thay đổi theo thời gian, năm 1996 khác hẳn năm 2022, và cả vị trí địa lý nữa, Đông Âu khác hẳn ở Úc.

Để dể hiểu, chúng ta hãy xem xét cộng đồng người Việt ở phương Tây, như Mỹ, Úc, Canada, Tây Âu, nơi mà nguồn gốc có vẻ đồng nhất. Có thể chia họ thành những đợt ra đi khác nhau. Đợt đầu họ rời Việt Nam ngay khi Sài Gòn sụp đổ, đợt 2 là các thuyền nhân và những người tù chính trị đi theo chương trình H.O. và đợt ba, kéo dài cho tới bây giờ, là những người thân nhân của hai đợt trước, rời Việt Nam bằng hồ sơ bảo lãnh, rồi sau đó nhiều người tiếp tục rời xa đất nước theo quan hệ gia đình, hôn nhân.

Vậy họ là ai? Chính kiến thế nào?

Độc giả có quan điểm chính trị “không đội trời chung với cộng sản” có thể sẽ cho rằng Việt kiều, hay người Việt hải ngoại, là một cộng đồng chống Cộng rất mạnh mẽ.

Các độc giả trong nước nghe theo báo chí chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ bảo rằng “Việt kiều” là… khúc ruột ngàn dặm.

Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp mặt “khúc ruột ngàn dặm” ở khu bờ Đông Hoa Kỳ trong chuyến đi Mỹ tháng 5/2022. Nguồn: Báo QĐND

Tôi thấy cả hai đều không đúng. Với cái nhìn chủ quan của tôi, dựa trên những quan sát đó đây trong suốt một thời gian dài ở hải ngoại, tôi thấy Việt kiều có thể chia làm bốn nhóm như sau:

1/ Nhóm mà tác giả đề cập trên BBC, thân Hà Nội, rất ít, nhóm này đang tàn phai theo năm tháng.

2/ Nhóm rời khỏi Việt Nam sau ngày 30/4/1975, là nhóm thuyền nhân, cựu tù chính trị. Nhóm này chống Cộng dữ dội nhưng dường như ngày càng ít đi.

3/ Thế hệ thứ 1 rưỡi (sinh ra ở Việt Nam, ra nước ngoài từ nhỏ) và thế hệ thứ 2, là con cháu của cả hai nhóm kể trên. Một số đông gia nhập vào dòng chính của đời sống và chính trị, văn hóa, sở tại, ít quan tâm đến Việt Nam.

4/ Nhóm di cư theo hồ sơ bảo lãnh, ra ngoại quốc khi Việt Nam không còn mô hình xã hội kinh tế thuần cộng sản nữa. Nhóm này có thể không đông bằng nhóm thứ ba, nhưng theo chủ quan của tôi thì nhóm này là nhóm còn có nhiều quan hệ với Việt Nam hơn hết.

Tôi có thể lấy nhóm thứ tư này để phản biện bài của ông Nguyễn Hòa, rằng có một nhóm Việt kiều có cùng “ngôn ngữ” với trong nước và họ cũng rất đông, ngày càng đông cho đến khi dòng người rời Việt Nam giảm hẳn đi (nhưng có lẽ còn lâu!) Tuy rằng trong số họ cũng có một số ít rời bỏ Việt Nam vì bất đồng quan điểm, mong sống trong một xã hội dân chủ, nhưng số đó ít thôi, đa số họ không có viễn kiến chính trị.

Số tiền hàng tỷ Mỹ kim từ hải ngoại gửi về Việt Nam có phần lớn từ nhóm thứ tư này. Chúng ta thường bị thu hút bởi những vụ nổi đình nổi đám như Trần Trường, Trịnh Vĩnh Bình,… như là những thất bại của quan hệ kinh tế giữa Việt kiều và trong nước, nhưng số tiền Việt kiều gửi về Việt Nam bởi các đại gia như Trịnh Vĩnh Bình, hay những người thuộc nhóm 1 và 2 không thể bằng nhóm tứ tư.

Có hai lý do: Thứ nhất là họ còn nhiều quan hệ họ hàng ở Việt Nam. Thứ hai, rất đông người thuộc nhóm thứ tư sống trong nền kinh tế tiền mặt (cash economy) ở nước sở tại. Họ có thể trốn (né) thuế, giảm chi phí cuộc sống, cho nên họ có nhiều tiền dư để gửi về cho thân nhân đang sống ở quê nhà.

Cash economy của người Việt có thể thấy rõ ở những khu người Việt như Little Saigon (Nam California), phía Đông San Jose (Bắc California), Bellair (Houston, Texas), Fowler (Úc), khu Eden (Virginia), với hoạt động thương mại rất sầm uất, nhưng điều kiện hạ tầng, vệ sinh… lại kém vì không có nhiều thuế để chi trả.

Những người này đóng góp cho xã hội sở tại không nhiều, nhưng đôi khi họ nhận được trợ giúp từ nơi họ sinh sống rất nhiều. Một người bạn của tôi làm công việc cán sự xã hội (social worker) ở Houston, người này từng chỉ cho tôi mấy khách hàng đến xin trợ cấp thực phẩm, y tế … họ ăn mặc rất chải chuốt, đeo nhiều vòng vàng, đi xe rất đẹp. Những người này, nếu thấy chiếc xe Camry đời 2007 gãy càng sứt gọng của tôi, có lẽ họ sẽ nhìn bằng nửa con mắt.

Đây cũng là cộng đồng theo dõi các kênh truyền thông từ trong nước như VTV4, Truyền hình Vĩnh Long, VnExpress…

Đây thực sự là những “Việt kiều” có cùng ngôn ngữ với Hà Nội, không như ông Nguyễn Hòa trình bày trong bài viết nói trên. Chính quyền Hà Nội cũng không cần mất công tiếp xúc với họ, vì họ đã, đang và sẽ tiếp tục là nguồn ngoại tệ khổng lồ gửi về Việt Nam.

NỖI SỢ BỊ BỎ LỠ

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Thật khó cho một đứa trẻ phải đi ngủ lúc buổi tối mới bắt đầu, lúc cả nhà còn ăn tiệc.  Không ai muốn đi ngủ lúc mọi người đang còn thức.  Chẳng ai muốn bỏ lỡ gì đó trong đời.

Ai rồi cũng nhớ khi còn nhỏ, dù đã quá mệt, hai mắt đã díu lại, chúng ta vẫn cố cự lại bất cứ ai bắt mình đi ngủ.  Dù mệt mỏi hay không, chúng ta cũng không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì.  Chúng ta không muốn đi ngủ khi đời sống vẫn đang tiếp diễn.

Và chẳng bao giờ chúng ta bỏ được chuyện này.  Sự kháng cự đó là bẩm tại và nó vẫn còn trong chúng ta cho đến giờ lâm tử.

Một trong những nỗi băn khoăn day dứt nhất của chúng ta là ý thức rằng mình luôn mãi bỏ lỡ gì đó trong đời.  Đây cũng là một trong những yếu tố lớn nhất của nỗi sợ chết.  Với hầu hết mọi người, sự nặng nề và tăm tối của cái chết không hẳn đến từ nỗi sợ những điều sẽ gặp ở đời sau, sự phán xét và hình phạt, cho bằng đến từ nỗi sợ bị tiêu vong.  Hơn nữa, nỗi sợ này không hẳn là sợ thân phận của mình sẽ tiêu tan không còn gì, cho bằng sợ mình sẽ bị tước đi mọi phần cuộc đời mình đã có.  Nỗi buồn khi phải từ bỏ gì đó, khi biết rằng cuộc đời sẽ tiếp diễn mà không có mình, sợ phải đi ngủ khi tiệc vui chưa tàn.  Và nỗi sợ này nằm sâu, rất sâu trong lòng chúng ta, đến nỗi chúng ta khó mà hình dung nổi làm sao thế giới có thể tiếp tục công việc mà không có chúng ta.

Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu về một vấn để bất ổn trong chúng ta, nó không phải là một thứ cần được sửa chữa, cũng không phải là một vấn đề luân lý hay tôn giáo cần phải lưu tâm.  Nó là bản chất con người, đơn giản là thế, và Thiên Chúa là Đấng tạo nên nó.  Nói tóm lại, chúng ta được dựng lên để dự phần trong cả tấm vải chứ không phải để làm một sợi chỉ đơn độc.

Năm 23 tuổi, tôi chứng kiến cha tôi mất trong phòng bệnh viện.  Ông chưa lớn tuổi, chỉ mới 62 và lẽ ra cha tôi phải được sống thêm nhiều năm nữa.  Nhưng ông sắp chết, ông biết thế, và dù đức tin đã giúp ông xoa dịu nhưng ông vẫn rất buồn.  Điều ông phải đấu tranh không phải nỗi sợ đời sau hay còn chuyện đền tội nào ông cần làm trong đời này.  Không phải thế.  Ông không có chuyện gì còn dang dở với Chúa hay với những vấn đề luân lý và tôn giáo.  Ông cũng không có những nỗi sợ không lành mạnh về đời sau.  Việc duy nhất ông còn đang dang dở với đời này, chính là (một cách trừu tượng) bị bắt đi ngủ khi tiệc chưa tàn.  Hơn nữa, với ông, bữa tiệc đó đang lúc vui nhất.  Các con lớn đã bắt đầu an cư lập nghiệp, sinh cho ông nhiều đứa cháu, các con nhỏ cũng đang hăng hái bước vào cuộc sống trưởng thành.  Ông sẽ không còn đó để xem mọi chuyện sẽ thế nào, và ông sẽ không còn đó để thấy hầu hết các cháu của mình.  Quan trọng hơn nữa, ông còn người vợ, người tri kỷ mà ông phải bỏ lại.  Thật sự, bị bắt đi ngủ vào lúc như thế không vui gì.

Hơn nữa, cha tôi vẫn còn các anh chị em ruột, hàng xóm, bạn bè, giáo xứ, cộng đồng, các đội bóng và vô số các mối dây khác trong đời.  Và ông ý thức trong đau đớn rằng, những chuyện này đều sẽ kết thúc, ít nhất là ở đời này.

Tại sao ông không nên buồn chứ?  Thật sự là, tại sao có ai trong chúng ta không nên buồn khi đối diện với cái chết như thế, khi chúng ta bị bắt đi ngủ lúc cuộc đời còn đang mở tiệc?

Chúng ta được cấu thành với tính cộng đồng.  Như chính Thiên Chúa đã nói khi Ngài tạo dựng gia đình nhân loại: con người ở một mình thì không tốt.  Chúng ta phải là một phần của gia đình và cộng đồng, một phần của tấm vải cuộc đời, một tấm vải được dệt nên bởi vô số sợi chỉ riêng lẻ.  Do đó, cũng không có gì lạ khi chúng ta buồn lúc sợi chỉ mỏng manh, riêng lẻ của mình bị kéo ra khỏi tấm vải.  Chẳng lạ gì khi trẻ con không muốn đi ngủ lúc mọi người vẫn đang chơi vui.

Hơn nữa, điều này không chỉ đúng khi chúng ta thấy buồn vào lúc lâm tử.  Cũng động năng đó bùng lên mỗi khi chúng ta trải qua những cái chết nho nhỏ trong lòng khi chúng ta bước vào tuổi già, mất đi sức khỏe, mất đi công việc dù là do nghỉ hưu hay bị sa thải, mất đi những người chúng ta yêu thương, mất đi hôn nhân, chuyển đổi chỗ ở, hay bất kỳ cách thức nào khác làm cho chúng ta bị đẩy ra rìa cái chúng ta gọi là dòng chảy chính của cuộc đời.

Vậy nên, sẽ tốt nếu chúng ta biết rằng cảm giác đó không có gì sai.  Giờ lâm tử khó khăn mà.  Buông bỏ khó khăn mà.  Bị đẩy ra rìa khó khăn mà.  Biến mất khỏi cuộc đời càng khó khăn hơn nữa.  Chính vì thế mà trẻ con chẳng muốn bị bắt đi ngủ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim