Chế độ không thể man rợ hơn, đê tiện, đểu cáng hơn?

Image may contain: 5 people
Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 16 people, people standing

Van H Pham

Thâm lạm và thất thoát hơn 17,000 tỳ đồng (gần 750 triệu US dollars) nhưng được cứu xét vì “nhân đạo”. Dân ăn cắp 2 ổ bánh mì bị phạt tù, ăn cắp 6 buồng Cau tù 9 năm!!!
*********

Chế độ không thể man rợ hơn, đê tiện, đểu cáng hơn?!!!

Một bên, họ không khởi tố Phạm Công Trung, người đã biển thủ hay gây thiệt hại 17,000 tỉ cho ngân hàng nhà nước. “Vì lý do nhân đạo,” đối với một tên đã từng kiêu hãnh lấy tiền ăn cắp của dân, mua một lúc 27 chiếc đồng hồ Patek Philips (8 tỉ đồng mỗi cái), mỗi lần 10 tỷ đồng rượu quý.

Cái “nhân đạo” của họ, nếu không tra từ điển Cộng Sản, không ai hiểu nổi.

Một bên, họ tuyên án từ 8 tới 18 tháng tù những người chống đặc khu, chống an ninh mạng, đa số là phụ nữ, trên dưới 20 tuổi. Hãy nhìn những khuôn mặt trẻ trước tòa (vài em sinh năm 2001). Đó có phải là những người hung bạo, phải nhốt như tội phạm cướp của, giết người?

Tập đoàn cầm quyền các cấp đã khản cổ kêu gọi dân hãy bình tĩnh, hứa sẽ xét lại dự luật đặc khu. Nghĩa là nhìn nhận dân có lý. Tại bất cứ nơi nào, dù man rợ tới đâu, trong trường hợp đó, nhà cầm quyền cũng mời, hay tới gặp dân, để tìm hiểu thêm nguyện vọng của dân. Ở Việt Nam, họ xử án tù nặng. Mười tám tháng tù cho một người trẻ, chỉ vì cái tội nói tôi không muốn nước tôi trở thành nước Tàu. Và nằm tù ở Việt Nam không giống như đi nghỉ hè ở Club Med, hay đi tù ở những xứ bình thường hay văn minh.

Nhà tù ở những xứ bình thường có mục đích ngăn chặn cá nhân khỏi phá hoại xã hội. Nhà tù ở những nước văn minh là cơ hội để truyền bá kiến thức, huấn nghệ, để khi mãn hạn tù, cá nhân trở thành công dân tốt.

Nhà tù ở Việt Nam là một nơi hành hạ, nhục mạ để nạn nhân thân bại danh liệt, tiêu ma nghị lực, suốt đời sẽ không bao giờ dám nghĩ tới phản kháng, chống đối nữa. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã tuyệt thực hai tuần lễ để khỏi phải bị giam chung với côn đồ của nhà nước đưa vào, để ngày đêm hâm dọa, nhục mạ, chửi bới thô tục.

Đểu cáng hơn nữa, họ tịch thu tài sản (nghèo khổ) của những người đáng tuổi con cháu mình để chia nhau. Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. Tài sản của người ta liên hệ gì tới chuyện biểu tình?

Hơn cả hành vi man rợ, đó là một sự thách thức, một cách đái lên đầu dân. Giống như một tên du côn say rượu, lỗ mãng, ăn cướp giữa chợ, múa dao, tụt quần, vỗ cu vỗ đít trước bàn dân thiên hạ, thách thức: ông chơi ngang vậy đó, đứa nào dám ho he?

Trước đây, cũng cái gọi là Tòa án Nhân Dân đã trả tự do cho người hiếp dâm con nít có thẻ đảng, bỏ tù 9, 10 năm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, và biết bao nhiêu những người trẻ, về cái tội còn dám nghĩ, dám nói đất nước Việt Nam là của người Việt.

Thông điệp (message) rất rõ, nhận được 5/5: cướp của, giết người, hiếp dâm trẻ em, không sao, nhất là có thẻ đảng, nhưng đụng tới “tình hữu nghị Trung Việt” là nằm tù mục xương. Giống như ngày xưa người ta tống giam, hay bêu đầu, những người mắc tội phạm húy…

Với bản án dã man phủ lên đầu những thanh thiếu niên còn nhiệt huyết, còn có lòng với đất nước, tập đoàn cầm quyền muốn nhắc lại với trăm họ: tội gì cũng có thể tha, nhưng đụng tới chuyện làm ăn, buôn bán (buôn dân, bán nước) của chúng ông, sẽ phải trả giá rất đắt.

Cái dã man, cái khốn nạn, cái đểu cáng, cái khiêu khích đã vượt giới hạn, ở một xứ ngoạc mồm đòi giống Paris, Singapour, Tokyo… nhưng sống ngoài quỹ đạo của nhân loại, ngoài thế giới tử tế của những người còn lương tri.

Jean de La Fontaine nói có hai công lý: công lý của những người quyền thế, và công lý cho những kẻ thấp cổ bé miệng. Việt Nam ngày nay sáng chế ra hai loại luật pháp: luật pháp dành cho đồng đảng trộm cướp, và luật pháp dành cho những người làm cản trở chuyện kinh doanh của bọn cướp ngày.  

Bài giảng của thánh Vianney-kiêu ngạo

Bài giảng của thánh Vianney-kiêu ngạo

 KIÊU NGẠO 

Kiêu ngạo là một tội rất nặng nề và ghê tởm, tội đã đuổi các thần phản loạn ra khỏi Thiên Đàng và bị ném vào Hỏa Ngục. Tội này đã có ngay từ thuở tạo thiên lập địa.

Thánh Gioan Maria Vianney 

Chúng ta phạm tội kiêu ngạo qua nhiều cách thức khác nhau: qua cách ăn mặc, lời nói, cử chỉ, điệu bộ, thậm chí cả tướng đi nữa. Một số người bước đi ngạo nghễ và dường như muốn nói với mọi người: “Này! Hãy nhìn xem tôi cao ráo, oai phong biết bao, và tướng đi của tôi rất đẹp!” 

Một số khác khi làm được việc gì tốt, họ chẳng bao giờ mệt mỏi nói về mình; và nếu bị sai lỗi điều gì thì lấy làm đau khổ buồn phiền vì nghĩ rằng người ta sẽ nghĩ xấu về mình. Nhiều người kiêu ngạo cảm thấy buồn và hối tiếc vì đã quen hay tiếp xúc với người nghèo.

Nếu gặp gỡ ai thường xuyên; họ luôn tìm cách làm thân với những người giàu có danh tiếng. Nếu có cơ hội được những người có chức quyền chú ý, họ khoe khoang khoác lác luôn mồm. Có người kiêu ngạo qua lời nói. Nếu phải đi gặp những người giàu có, họ soạn sẵn những gì phải nói, và nếu bị lỡ một lời nào đó, họ rất là bực bội khó chịu vì sợ người khác chê cười. Còn người khiêm nhường thì không như vậy, cho dù họ bị cười nhạo hay quý trọng, khen ngợi hay chỉ trích, kính trọng hay coi thường, chú ý hay quên lãng, họ vẫn luôn bình thản.

Cũng có người làm việc bố thí hay đóng góp để được chú ý và nổi tiếng. Chúng ta không được làm như vậy! Những người tham danh này không những mất hết công nghiệp trước mặt Chúa về những việc lành họ đã làm, mà còn mang tội nữa.

Người ta còn kiêu ngạo trong việc làm, lúc nào cũng muốn việc làm của mình được người khác biết đến. Nếu người ta biết đến ưu điểm của mình thì mình khoái chí, trái lại nếu người ta biết những khuyết điểm của mình thì đau khổ tức tối, tỏ ra bực bội khó chịu vô cùng.

Các thánh không làm như vậy, các ngài khó chịu khi người khác biết ưu điểm của mình, và hài lòng khi người khác biết những thiếu sót của mình. Người kiêu ngạo nghĩ rằng mọi việc mình làm đều hoàn hảo; họ muốn ra vẻ ta đây hay bắt nạt đồng nghiệp; lúc nào cũng cho ý mình là đúng, là hay nhất. Chúng ta không được làm như vậy! Một người khiêm nhường và có giáo dục tốt nếu được hỏi ý kiến, chỉ nói một lần rồi để người khác nói. Cho dù ý kiến của mình đúng hay sai, họ cũng không nói gì thêm.

Khi thánh Aloysius Gonzaga còn là học sinh, ngài không bao giờ chữa mình khi bị người khác chỉ trích nhục mạ; ngài nói những gì ngài nghĩ, không băn khoăn đến những gì người khác nghĩ về mình; nếu sai thì nhận mình sai; nếu đúng ngài tự nghĩ:“Chắc chắn lần khác tôi sẽ sai!” Các thánh hoàn toàn chết đi cho chính mình đến nỗi hầu như chẳng vui thích khi người khác đồng ý với mình nữa.

Người thế gian nói:“Các thánh là những người khờ dại ngu ngốc!” Đúng vậy, các ngài ngu dốt về chuyện thế gian; nhưng chuyện của Thiên Chúa thì các ngài rất khôn ngoan sáng suốt. Chắc chắn các ngài chẳng hiểu gì về chuyện thế gian, bởi vì các ngài nghĩ rằng những chuyện đó quá tầm thường đến nỗi chẳng đáng quan tâm.

From: hnkimnga & KimBang Nguyen

Ồ Trump là người bạn lớn của nhân dân Việt Nam

Image may contain: 1 person, smiling
Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

Ồ Trump là người bạn lớn của nhân dân Việt Nam vì những lẽ sau:

– Trump yêu nước Mỹ, nhân dân Mỹ, ông ta đã làm mọi điều cho nước Mỹ vĩ đại trở lại.

– Trump đánh thuế hàng hóa Trung Quốc, chống gian lận thương mại, ăn cắp bản quyền mà Trung Quốc đã thực hiện với Mỹ mấy mươi năm qua.

– Trump hổ trợ nông dân Mỹ 12 tỷ USD trước sự xâm lăng và gian lận thương mại từ Trung Quốc.

– Trump để Hoa Kỳ rút khỏi Hội đồng nhân quyền liên hợp quốc vì tổ chức này không xứng đáng với tên gọi của nó, thành viên hội đồng này là những nước đàn áp nhân quyền, phạm tội ác chống lại loài người trong đó có Trung Quốc.

– Trump cử hàng không mẫu hạm, chiến hạm đến khu vực biển Đông bảo vệ an ninh hàng hải, hòa bình trong khu vực đồng thời răn đe, cảnh báo những hành động gây hấn, quân sự hóa của Trung Quốc trên biển Đông, trên các quần đảo Hoàng Sa, trường Sa của Việt Nam.

– Trump buộc chính quyền Bắc Triều Tiên tiêu hủy, giải giáp vũ khí hạt nhân mang lại hòa bình ổn định trong khu vực Đông Bắc á, mang hòa hợp hòa giải đến cho dân tộc Triều Tiên.

– Trump làm Cuba thay đổi, tự diễn biến trong hòa bình, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản không tưởng đã mang laị sự nghèo đói và cùng cực cho người dân Cuba để tiến lên xây dựng một XH mới mà quyền lực thuộc về nhân dân, đa nguyên đa đảng, thực hiện quyền sở hữu tư nhân nhằm mang lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân Cuba.

– Đòn thuế của Trump làm cho nền kinh tế Trung Quốc chao đảo, chứng khoán đỏ sàn, bốc hơi hơn 500 tỷ USD trong vòng 01 tuần, các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn khỏi thị trường Trung Quốc, hàng hóa Trung Quốc không thể vào nước Mỹ … Trung Quốc sẽ sập trong thời gian sắp tới.

– Trump đánh thuế sắt thép Trung Quốc 256% và Thép Trung Quốc sản xuất mang mác Việt Nam lên 500 % thuế, điều này đã giúp người Việt Nam tránh ô nhiễm môi trường do các tập đoàn sắt thép Trung Quốc đang hoạt động gây ô nhiễm môi trường trầm trọng tại Việt Nam như Formosa Hà Tĩnh, Bau xít Tây Nguyên, Titan Bình Thuận, v.v…

– Trump đã đánh một đòn kinh tế chí mạng vào Trung Quốc, người Việt Nam chỉ còn làm công việc đơn giản cuối cùng là tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, không mua rau quả ung thư của Trung Quốc mà tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp trong nước vừa bảo vệ sức khỏe vừa giúp cho người nông dân Việt Nam. Không mua các mặt hàng điện tử Trung Quốc thay vào đó là các sản phẩm của Hàn Quốc ….

Trump yêu nước Mỹ và nhân dân Hoa Kỳ, còn chúng ta người dân Việt Nam hãy tự yêu chính mình và quê hương đất nước mình bằng cách tẩy chay hàng hóa Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không còn tiền để hung hăng trên biển Đông, xâm phạm chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam, không còn tiền để mua “đặc khu 99 năm” hòng thôn tính Việt Nam mà nhân dân Việt Nam đã và đang kiên quyết đấu tranh đến cùng dù bị đàn áp, tù tội trong thời gian gần đây.

Là người Việt Nam yêu nước hãy tẩy chay, nói không với hàng hóa Trung Quốc!

“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 18 thường niên năm B 05/8/2018

(Ga 6: 24-35)

Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Đức Giê-su đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giê-su trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.” Họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: “Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.”

Đức Giê-su đáp:”Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” Họ liền nói:“Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” Đức Giê-su bảo họ:”Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”    

&   &    &

“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”

“Nên chạy đến bên Người, con kêu khấn.”

(dẫn từ thơ Hoài Châu)

 Phải chăng nhà thơ nay chạy đến bên Người là vì tâm can rên siết, những héo mòn? Phải chăng nhà Đạo cũng làm thế, khi tim mình chẳng còn thấy gì hứng thú? Héo mòn và hứng thú, là hai phạm trù được diễn tả ở trình thuật thánh Gioan ghi, hôm nay.

Trình thuật thánh Gioan nay ghi, là ghi về một sự thể có tình tiết giống ở đời. Tình tiết, về Bánh Hằng Sống rất yêu thương, không chỉ có ở Tiệc Thánh, mà thôi. Nhưng, Bánh Hằng Sống còn là Lời Ngài trải rộng trong từng giai đoạn tiến triển ở Tiệc Thánh. Và, Tiệc Ngài dọn còn dành nguyên nửa buổi để giúp người dự vui hưởng tâm tình Ngài tỏ bày, qua bài đọc.

Bài đọc 1, trích từ Cựu Ước thường ăn khớp với Phúc Âm. Ở ngay giữa là bài đọc 2, gồm các thư của thánh tông đồ theo chân Chúa từ độ ấy, đa phần là thư thánh Phaolô được Hội thánh dùng làm cầu nối giữa Cựu và Tân ước. Thế nên, Tiệc Thánh vẫn là dịp thuận để người dự sống áp dụng Lời Ngài, trong cuộc đời.

Đôi lúc người dự Tiệc thấy cũng khó mà hiểu trọn các đoạn Kinh Sách được trích theo kiểu bốc thăm vốn vượt ra ngoài bối cảnh của Tin Mừng. Nên, đôi lúc người nghe cũng thấy khó mà áp dụng vào cuộc sống bình thường của người đi Đạo. Nhưng, nếu người đọc và người nghe chú tâm vào chủ đề từng biến đổi từ cảnh bạo lực trong cuộc sống thành động thái biết chọn sống hiền lành/tử tế, sẽ khác hẳn.

Đồng thời, trích dẫn bài đọc từ sách Cựu Ước theo kiểu bốc thăm/may rủi, có thể làm người nghe thấy cũng giống báo đài thuật toàn chuyện bạo lực, như: khuynh loát, sách nhiễu, hành hạ nô lệ, lưu đày, thánh chiến, nói chung về nền văn hoá Do thái trước sau lưu đày. Với người Do thái, toàn bộ nền văn hoá này gồm tóm trong Torah, vẫn tồn tại trong thế giới còn hoang sơ mà họ là thành phần thiểu số. Ở đó, còn nói đến Giao ước Chúa thiết lập với con ngưòi. Đến Lời Ngài hứa ban cho dân con một tương lai ngời sáng có “đất lành chim đậu”, có vương quốc Nước Trời hiền hoà do vua cha và ngôn sứ dành để.

Bài đọc 3, là trình thuật rút từ Giao Ước Mới của Chúa, đôi khi cũng pha dặm đôi nét bạo lực, như: cảnh Chúa cam chịu đóng đinh, đền thờ Giêrusalem bị phá hủy, hoặc đế quốc La Mã hà hiếp văn hoá của người Do thái ở thế kỷ cuối trước Công nguyên. Nói tóm, Giao Ước Mới cũng thấy cảnh khổ đau, sầu buồn, tàn bạo. Nhưng, thực chất của Giao Ước Mới chỉ đưa ra cách sống mới không bạo tàn, cưỡng bức.

Bằng vào cung cách mới này, Đức Giêsu và những người theo chân Ngài cũng từng trải sự sống không chỉ lúc nào cũng tích cực, nhưng có lúc cũng trầm buồn, rất nản lòng. Và, Ngài cũng thấy ở đó một dịp thuận tiện để ta suy tư về chủ thuyết duy-kỷ vốn lợi dụng người khác để làm lợi cho chính mình, tôn thờ mình. Trái lại, Ngài còn chấp nhận đường sống rất thấp để biến Ngài thành chốn hư không, trống rỗng, không màng quyền lực vẫn chờ chực mình ở quanh đó. Và, Ngài chấp nhận chịu đóng đinh trên thập tự là vì thế. Chấp nhận, cả cái chết rất bạo tàn qua kinh nghiệm về nỗi “chết dần chết mòn” để rồi tìm ra điều tích cực hiện tỏ sự trỗi dậy từ mồ trống.

Suốt cuộc đời, Ngài chỉ nói bằng Lời thương yêu vô điều kiện. Thứ tình thương chỉ hiện rõ nơi cuộc sống trải nghiệm về nỗi chết bạo tàn hầu chọn lựa Sự Sống tích cực mà con người vẫn giáp mặt, nhưng khó thấy. Chúa từng sống trải nghiệm vẫn giáp mặt nỗi niềm chết chóc rất tiêu cực, có thế mới ban cho ta khả năng và nghị lực cùng ý chỉ để được sống như Ngài. Và Ngài chuyển đến cho ta sức sống nội tâm là Thần Khí đến ở trong ta, để ta cùng Ngài mà sống. Sống, có thời khắc của Xuân mùa bất tận, trong đó mọi người sẽ không còn sống theo cung cách bạo lực, nữa.

Đôi lúc việc chọn bài đọc không cho người nghe biết rõ tất cả ý nghĩa của chọn lựa. Nhưng nếu người dự Tiệc Thánh vẫn thường xuyên đến với cộng đoàn để cùng dự, sẽ dễ nhận ra điều này. Và, người dự sẽ còn khám phá thêm nhiều ý nghĩa hơn. Khám phá ra Chúa đang nói Lời yêu thương với ta. Và, Ngài vẫn chờ đợi nơi ta một đáp trả, tích cực. Đáp trả, không bằng câu trích từ sách cổ, nhiều điển tích. Nhưng, bằng áp dụng Lời sống động vào cuộc sống của ta, và mọi người.

Bởi thế nên, đọc Lời Chúa ở Tiệc Thánh không chỉ đơn giản đọc và hiểu mỗi nghĩa chữ của bài đọc; nhưng nên coi đó như Lời đối thoại Chúa chuyển đến với ta, để ta đàm đạo với Người. Đối thoại, là để đáp trả từ niềm tin sau khi nghe Lời Ngài dạy dỗ. Đối thoại trong im lặng, cũng là động thái đáp trả mà Chúa vẫn chờ từ nơi ta. Đáp trả, bằng niềm tin-yêu ta vẫn có đối với Chúa, với mọi người.              

Tiếng Do thái cổ xưa, được sử dụng trong Cựu ước, thường diễn tả sự đáp trả ấy bằng cụm từ “Dabar” tức “lời được thốt” bao gồm cả một ý tưởng về một sự kiện vừa khởi đầu. Ở Tiệc Thánh, nhất là phần Tiệc Lời Chúa, là sự khởi đầu của đáp trả. Theo sau đó, có lời diễn giải của linh mục hoặc phó tế muốn biến đáp trả ấy bằng hiện thực, ngay tại chỗ. Diễn và giải, không là giáo án hoặc bài giảng thuyết. Nhưng lại là nói lên quan điểm lập trường bảo rằng Lời của Chúa trong đó bao gồm rất nhiều đường lối sống Chúa đưa ra, và có nghĩa là Ngài còn chờ sự đáp trả, không phải bằng nghi thức tế tự ở buổi Tiệc, mà bằng cuộc sống thực được áp dụng vào những tuần sau đó. 

Diễn giải hoặc san sẻ Lời của Chúa, dù gọi đó là giảng thuyết hay giảng đạo đi nữa, vẫn là để cho người dự Tiệc nghe biết về đường lối sống giống như Chúa. Giống, như một đáp trả rất thân thiện, lành mạnh. Diễn giải Lời Ngài, còn để khích lệ người dự Tiệc học được cung cách biến đổi tính bạo tàn trong cuộc sống thành tính chất hiền từ/tử tế, vào mọi lúc. Hiền từ/tử tể với chính mình, người khác và với Chúa.

Chu kỳ phụng vụ suốt 3 năm, Hội thánh trích dẫn rất nhiều bài đọc. Và, kèm theo đó, có rất nhiều bài giảng thuyết khiến người nghe những là ngủ vùi, hoặc lịm chết. Nhưng, tựu trung, Chúa vẫn tỏ ra kiên nhẫn với người diễn và giảng Lời. Thậm chí, Ngài còn mong cho mọi người cả người diễn giảng lẫn người nghe giảng giải có thể biến đổi trở nên hiền từ/tử tế, rất hết mình. Ngài không vội vã ước muốn lời diễn giảng mau chóng mang lại kết quả rất nhãn tiền. Bởi, càng vội vã bao nhiêu thì việc đổi và biến cũng không bảo đảm được chất lượng thực sự của biến đổi.

Thời nay, người người nói quá nhiều về cụm từ “đọc sách thánh”, hiểu theo nghĩa chỉ những đọc và nghe mà không theo đường lối tích cực. Tức, chỉ ngồi đó nghe tai này lọt tai khác như nghe hát nhạc kịch. Nghe rồi là xong, chẳng đánh động cũng chẳng đưa người nghe đi vào một quyết tâm. Nói cách khác, chẳng có gì bảo đảm là Lời Chúa đi sâu vào tâm khảm của người nghe lẫn người đọc để rồi khích lệ họ áp dụng vào đời sống có đáp trả.

“Đọc sách thánh” ở Tiệc Lời Chúa, lại quyết mang một ý nghĩa khác. Ý nghĩa, của sự việc giúp đỡ người nghe đi vào hiện thực. Nghe như thế, là nghe trong tư thế sẵn sàng biến đổi từ sự bạo tàn, khó chịu thành động thái chịu khó mà sống hiền từ/tử tế. Có như thế, Lời Chúa mới tiếp tục trở thành cuộc đối thoại cởi mở, giữa Chúa và chính mình. Giữa chính mình và Đức Chúa hiện diện nơi tâm người khác. Dù người đó có là Kitô-khác, hay chỉ là người “ngoài luồng”, ngoài Đạo.

Nói cách khác, “đọc sách thánh” là đọc được sự đối thoại giữa Đức Chúa và con người. Giữa con người và con người, như Kitô-khác. Đọc như thế, sẽ như thể dám cùng nhau đứng thẳng dậy mà tuyên xưng niềm tin qua kinh Tin Kính của cuộc đời vẫn tuyên bố rằng: Chúng tôi tin vào đường lối sống Chúa khuyên dạy, từ Sách thánh. Và chúng tôi sẽ tìm cách biến Lời ấy thành hiện thực, ở đời thường.

Tiệc Lời Chúa, như thế là sự thể của toàn thể vũ trụ vạn vật. Thế nên, vào giờ nguyện cầu tiếp theo sau, lời lẽ yêu cầu vào lúc ấy không còn là những thỉnh cầu lợi lộc cho riêng bản thân người cầu và nguyện, nhưng mang tính toàn cầu. Bởi lời cầu của vũ trụ không là cầu cho ông A bà B được tìm thấy sau khi bị lạc. Nguyện cầu đây, cũng không là lời cầu của vũ trụ vạn vật chỉ xin Chúa có được sự kiện lớn lao trong vũ trụ. Nhưng là lời cầu mong cho chuyện lớn trong vũ trụ được xảy đến qua đó mọi người trở nên hiền từ/tử tế, thật giống Chúa.

Nguyện cầu vào Tiệc Lời Chúa, là nguyện và cầu để vũ trụ vạn vật có được bình an, không một ai còn hằn in tính chất bạo tàn, kỳ thị. Nhưng, biết nghĩ đến người khác. Biết hỗ trợ, giùm giúp những người có nhu cầu thiết thực, ở mọi nơi. Lời cầu và nguyện ước ấy dẫn đưa người dự Tiệc hiên ngang phấn khởi để vào với phụng vụ Thánh Thể, rất hiệp thông. Xuyên suốt. Rất đậm đà tình Chúa và tình người.

Trong tâm tình đó, nay ta lại ngâm tiếp lời thơ ý nhị còn ngâm dở:

            “Trái tim con đang rên siết héo mòn,

            Nên chạy đến bên Người con kêu khấn.

            Xin Chúa thương đưa bàn tay chí thánh,

            Giúp cho con được chắp cánh cùng nàng…”

            (Hoài Châu – Nguyện Cầu)  

    Nguyện cầu đây, không chỉ để chắp cánh bay cao cùng nàng, về đâu không biết nữa. Nhưng nguyện và cầu, để người người biết nghe Lời giống như Chúa, chỉ muốn hiện thực ý của Ngài, mà thôi. 

Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch

 “Rộn ràng một nỗi đau” 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 18 Thường niên năm B 05/8/2018

 “Rộn ràng một nỗi đau”
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – Nếu Có Yêu Tôi)

(2Thessalônikê 1: 4-6)

 Trần Ngọc Mười Hai

Nỗi đau rộn ràng ư? Đã đau rồi, thì bao giờ mà chẳng rộn-ràng. Rộn và ràng, theo nghĩa “khẩn trương” thân thương thật gấp rút. Nếu không, chắc sẽ không còn đủ thì giờ mà hát với xướng, những câu sau đây:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Và cứ thế, người nghệ sĩ lại cứ ca hoài/ca mãi một câu hát được trích-dẫn rất nhiều lần, như sau:

“Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai lúc mắt tôi khép lại
Đừng đợi ngày mai có khi tôi đành xuôi tay
Trôi dạt về đâu chốn nào tựa nương.

Và:

“Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai có khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mỉm cười. 

Rộn ràng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.”

(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Nỗi đau và niềm vui đây, có giống câu truyện kể ở bên dưới không?

“Truyện rằng:

Cậu bé 8 tuổi lần đầu tiên bước vào lớp ngày tựu trường.

Cô giáo hỏi:

-Này, em tên gì thế? 

-Em tên Mohamed. 

Cô giáo bèn nói tiếp:

-Em đang ở Mỹ, từ nay mọi người sẽ gọi em là Mike nha. 

 Tan trường cậu bé trở về nhà. Mẹ cậu bèn hỏi:

“Ngày đầu đi học ra sao, Mohamed?” 

Cậu bé nói:

-Con đang sống ở Mỹ, từ nay tên con sẽ là Mike. 

-Mày xấu hổ vì cái tên Mohamed hả? Mày muốn làm nhục cha mẹ, tổ tiên, truyền thống, và tôn giáo mày hả? Rồi bà mẹ đánh cậu bé một chập. 

 Lúc chồng về tới nhà, bà ta kể lại. Thế là ông cha lôi thằng bé ra đánh thêm chập nữa. 

Hôm sau tới trường, thấy mình mẫy cậu bé bị bầm dập, cô giáo hỏi,

-Em bị gì vậy Mike?” 

Mike trả lời:

-Liền sau khi vừa trở thành người Mỹ, em bị 2 đứa khủng bố Hồi giáo chúng tấn công em!

“Bị Hồi-giáo tấn công”, không sợ bằng bậc thày nọ có quan-niệm lạ về Cuộc sống, Giáo huấn và Sự việc liên quan đến Cách mạng Tôn giáo” như đã viết, rằng:   

“Từ hồi nhỏ, tôi vẫn hát những ca khúc kể về cuộc đời Đức Giêsu đã thuyết phục tôi suốt nhiều năm trường cho tới khi khôn lớn tôi vẫn nhận ra rằng đời mình còn có vấn-đề quan-trọng không kém, đó là: làm sao kể truyện Ngài đây?

 Quả thật, có nhiều cách kể về đời Đức Giêsu, nhưng kể cách nào, đó mới là vấn-đề. Và, vấn-đề này luôn mang tính nghiêm-chỉnh rất khó lường…

 Ở thế kỷ thứ tư và thứ năm, ngôn ngữ nhà Đạo luôn luôn kể rằng Đức Giêsu là “Ngôi Thứ Hai” trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời và Ngài luôn trở nên Một với Thiên-Chúa Cha”. Với người theo Đạo Chúa, thì: mặc-khải lớn về Thiên-Chúa là Đấng có xương thịt, mà ta vẫn gọi bằng cụm-từ “Con Thiên Chúa”, qua đó sự việc Ngôi Lời đã mặc tính xác thịt ôm trọn những gì mọi người nghĩ về Thiên-Chúa trong cuộc sống của con người, như Ánh Sáng chiếu rọi nhân-trần, Ngài tỏa sáng trên ta về bản-chất và ý-định của Thiên Chúa và đường lối để ta sống.

 Đã đành là, người Đạo Chúa vẫn cho rằng Kinh thánh luôn mặc-khải về Thiên-Chúa như Lời của Ngài”. Quả thật, thần-học chính-thống của Đạo Chúa từ ngàn xưa, vẫn khẳng-định rằng sự việc mặc khải Thiên-Chúa đầy tính quyết-định chính là Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.

 Và, Kinh thánh chính là “Lời” trở thành “lời lẽ”thế nên mặc-khải về Chúa bằng “lời lẽ” của con người.

 Thành thử, Đức Giêsu chính là “Lời” trở thành xác phàm, thế nên mặc-khải về Chúa đã thành hiện-thực trong cuộc sống của con người. Thành thử ra, Đức Giêsu mang mặc đặc-tính đầy xác-quyết hơn cả Thánh Kinh…” (X. Marcus J. Borg, Jesus: Uncovering the Life, Teachings and Relevance of a Religious Revolutionary, HarperOne 1989, tr. 5-7)

Niềm vui và nỗi đau ở đời người, còn được diễn tả trong truyện kể của người mình, cũng huê-dạng như sau:

“Hà Nội là cả một thế giới bí mật, nó luôn luôn giấu những bất ngờ nho nhỏ ở một chỗ ta không hình dung ra được. Một may mắn tình cờ nào đó ta tìm thấy cái bí mật đó ngay trước mặt ta, ta bàng hoàng như được ai mời một chén rượu quý. Cái ngọt của rượu cứ vương mãi ở cổ như một bài thơ chưa đọc đến câu cuối cùng. Câu thơ đó có thể ở lại với ta suốt một đời người.

Một buổi chiều, tôi lang thang trên đường phố Hà Nội, đi một mình trong khi chờ đợi chồng con (được một ngày mẹ cho) đang phân tán trong phố cổ trở về đi ăn tối. Vừa đi vừa ngắm nghía hai bên: Phố, người, xe tấp nập buổi tan tầm, chạy đâm vào nhau, như những con rối trong tuồng múa nước. Cái cảnh này trên thế giới chỉ có ở những nơi đất hẹp người đông. Hà Nội, Sài Gòn Việt Nam là hai nơi điển hình đáng kể nhất. Chen giữa bước chân đi là những hàng ăn, hàng uống bầy cả ra hai bên phố. Ngay trước những cửa hiệu hàng hóa, ai muốn bán thì cứ bầy ra bán.

 Ở một con ngõ vào xóm người ta cũng có thể chăng một tấm bạt từ vách tường của nhà bên phải sang vách tường của nhà bên trái ở ngay đầu ngõ làm thành một quán cà phê hay một quán bán chè, bán cháo.

 Ai may mắn có được cái mặt tiền độ ba thước vuông là thành một cửa hiệu khang trang lắm rồi, còn không thì cứ bầy ngay ra trên lối đi, trên một nắp miệng cống cũng để vừa một gánh hàng rong. Khách hàng xúm xít ngồi xuống ăn uống rất là tự nhiên, giản dị, thưởng thức món ăn thật hạnh phúc, chẳng kém gì những người khách ở trong một nhà hàng sang trọng thưởng thức món ăn của mình.

Tôi hòa mình vào trong cái dòng sinh mệnh đông đảo đó. Lang thang mãi, mỏi chân và khát nước, thấy thèm một ly trà quá. Thật may, một cái quán bán nước trà, kẹo lạc (đậu phọng) đơn sơ ngay góc đường Tôn Đức Thắng và Đoàn thị Điểm. Quán không có bảng hiệu, vài cái bàn thấp và ghế đẩu, nhưng gần như mọi người đã ngồi hết, tôi đứng loay hoay một vài giây, có người giúi cho vào tay chiếc ghế đẩu, mà chẳng nói một câu gì.

 Tôi vội cám ơn và nhận được một nụ cười. Ngồi xuống, chưa kịp gọi thì chủ quán, một người đàn bà trẻ khoảng ngoài ba mươi đã đem đến trước mặt tôi một ly nước trà, và cái đĩa nhỏ có mấy chiếc kẹo. Chị không nói câu nào, đặt ly nước trà bốc khói, thơm ngát xuống ngay một góc bàn đã có bốn người ngồi trước mặt tôi với một nụ cười, tôi cũng cười lại đáp lễ, cúi xuống nhìn vào ly nước một giây, rồi uống một ngụm nhỏ. Nước trà vừa chát, vừa ngọt, vừa thơm, đúng là trà mộc Thái Nguyên. Uống ngụm nước mà như uống một nụ cười. Hình như những người ở trong quán này ai cũng hào phóng nụ cười.

Nước trà làm tôi tỉnh hẳn người, lúc đó tôi mới để ý nhìn chung quanh. Quán trà nhỏ xíu nhưng rất ấm cúng và giản dị. Chị chủ quán đang loay hoay với những chiếc ấm, những hộp, những gói trà và những chiếc ly thủy tinh. Ánh lửa ở chiếc lò ga hắt lấp lóe một bên má chị, nhìn thấy cả đuôi lông mày của con mắt bên đó kéo dài một nét thanh thanh, cái bóng nhỏ bé của chị hắt một vệt rất mờ trên vách.

 Cả quán có ba chiếc bàn vuông và một chiếc bàn dài, bàn vuông thì ngồi được hai người, bàn dài thì được bốn người. Vì quán rất hẹp, nên kê gần nhau lắm. Bàn nào hình như cũng chen thêm ghế, và khách ngồi sát vai nhau rất là thân mật. Họ chụm đầu vào nhau, trò chuyện, nhai kẹo lạc ròn thành tiếng, khói trà nghi ngút bốc lên ngang mặt mọi người, nhưng sau làn khói mỏng manh đó những con mắt vẫn ánh lên khi họ nhìn nhau trò chuyện. Thỉnh thoảng họ lại giơ tay đập vào vai nhau rất thân thiện.

Quán trà bình dân này không có tiếng hát, tiếng nhạc vỡ ra từ máy phát thanh hay truyền hình như ở các nơi khác, nên không khí rất êm ả. Khách nói chuyện với nhau rất khẽ, khẽ đến nỗi không nghe được tiếng, chỉ thấy những bàn tay xòe ra, nắm vào, những ngón tay chỉ vào ngực mình, hay chỉ vào mũi người khác thi nhau múa lên. Nếu họ nói to thì chắc là quán đang ồn lắm.

 Mặc cho tiếng ồn ào của những chiếc xe gắn máy, tiếng còi xe bóp inh ỏi, tiếng người gọi nhau ơi ới, tiếng rao hàng và đôi khi chen vào cả tiếng cãi cọ trước cửa quán, những người vào đây uống trà họ giữ được không khí rất là thinh lặng, nói rất khẽ và cười rất nhẹ. Chị chủ quán luôn luôn biết ý khách hàng, không đợi gọi, kẹo chưa hết đã mang ra, trà lúc nào cũng được rót đầy ly đem tới, chị thong thả chuyên nước sôi từ ấm sang bình, tiếng nước sôi trên bếp cũng nhẹ nhàng như tiếng guốc chị di chuyển, hình như tôi nghe được cả tiếng thở của chị.

Tôi uống đến ly trà thứ hai và ăn gần hết chiếc kẹo, tỉnh hẳn người, lúc đó mới quan sát kỹ đến những người khách chung quanh mình. Họ phần đông còn trẻ, người già nhất chắc chỉ khoảng bốn mươi, họ đang nói chuyện với nhau bằng những bàn tay, múa khoa lên trong quán. Cách nói chuyện của họ làm tôi liên tưởng đến một lớp “Sign Language” ở College tôi đã theo học cách đây mấy năm.

 Câu đầu tiên chúng tôi học là lấy ngón tay chỉ vào giữa ngực mình, xong xòe bàn tay ra áp vào bên trái ngực, rồi chỉ ngón tay vào người đối điện. Như thế có nghĩa là I love you.Tôi đã học hết khóa vỡ lòng và có thể nói chuyện vài ba câu thông thường với người câm, điếc. Bẵng đi một thời gian không học tiếp theo, bây giờ khó mà nhớ lại được hết những điều mình học.

Chị chủ quán đến gần tôi với một mảnh giấy, đưa cho tôi đọc. “Đây là quán Trà của người câm và điếc, bà cần gì thêm xin viết xuống đây.” Tôi ngẩn người ra nhìn chị, chị nhìn lại tôi cũng vẫn với nụ cười. Tôi viết lên tờ giấy của chị vừa đem đến, hỏi chị mở quán này bao lâu? Thì chị cho biết là mới hai năm, sau khi vừa lập gia đình, anh cũng là người dùng ngôn ngữ thinh lặng như chị.

 Chúng tôi tiếp tục bút đàm với nhau, chị nói khi mới mở quán trà, muốn bán cho tất cả mọi người, nhưng khách nói được đến uống trà thấy cứ phải bút đàm với chủ quán mất nhiều thời giờ quá và khách không nói được thì cứ giơ tay chỉ chỏ vào họ, nên họ bỏ đi. Dần dần những người câm, điếc rủ nhau đến đây uống trà, coi như quán này mở ra chỉ để dành riêng cho họ, những người đối thoại thinh lặng.

Tôi ngồi im trong bóng chiều chập choạng, một vài cửa tiệm đã lên đèn, chị chủ quán cũng bật lên một ngọn đèn điện ở một góc quán, ngọn đèn không được sáng lắm, nhưng cũng soi rõ những bàn tay đưa ra, những ngón tay chỏ vào nhau, tôi ngắm nhìn những bàn tay đó cố vận dụng vốn liếng ít ỏi đã học được của mình, dần dần tôi hiểu họ đang nói với nhau về việc làm, giá sinh hoạt, có người có con vừa ở bệnh viện ra, có người vừa thất nghiệp. Tôi dở quá nên nghe được mà không nói được. Nếu tôi còn nhớ để nói chuyện được với họ thì hay biết bao!

Nếu ai đã từng được thưởng thức tuồng Nô của người Nhật, là một loại tuồng các diễn viên sơn mặt trắng toát giống nhau, khi diễn kịch họ không nói tiếng nào, chỉ diễn tả bằng cách khoa tay múa chân, người xem phải đoán được cảm xúc của họ qua những cử chỉ đó, thì thấy những người đang uống trà trong quán này giống như họ vậy, có khác một điều những người này không phải kịch sĩ, họ không quét sơn trắng lên mặt, nên ta đọc được cảm xúc trên từng cái cau lông mày, cái cười mệt mỏi nửa miệng, hay nụ cười nở tung ra như một đóa hoa.

 Tôi phải nhờ chị chủ quán thông ngôn, cái ngôn ngữ thinh lặng này. Tôi viết xuống giấy câu hỏi, rồi chị chủ quán dùng tay nói lại với họ. Chị cho biết phần đông những người này không biết đọc, biết viết. Nếu tôi muốn nói chuyện với họ, phải nói thật to, không được dùng tay che miệng, họ sẽ nhìn miệng tôi mà đoán tôi đang nói câu gì.

Có người rút ở trong túi ra một tờ giấy, có bọc plastic với một dòng chữ in sẵn: Tôi vừa câm vừa điếc. Không biết chữ. Xin nói to và đừng che miệng. Tôi nhìn tờ giấy được giữ gìn cẩn trọng như một tờ căn cước mà trong lòng rưng rưng, thấy nghèn nghẹn ở cuống họng, vội cúi xuống uống ngay một ngụm trà.

Tôi ngồi chuyện trò với họ bằng sự trợ giúp của chị chủ quán, chúng tôi nói với nhau về những đời thường. Chuyện gia đình, chuyện học của con, chuyện việc làm của cha mẹ. Họ hỏi tôi về cái đất nước xa xăm tôi sống, ở đó những người câm, điếc được giúp đỡ thế nào? 

Chúng tôi hỏi nhau cả về chuyện uống trà. Câu chuyện càng lúc càng thân thiện cởi mở, họ nói năng tự nhiên, ước mơ giản dị, chỉ mong kiếm đủ ngày hai bữa, có chút tiền nhỏ phòng khi con cái ốm đau, đủ tiền đóng học phí cho con mỗi khóa học.

Những buổi chiều tan việc, họ bỏ lại tất cả nhọc nhằn khuân vác trên bến dưới thuyền ở những bãi sông; những túi xi măng, những viên gạch, tảng đá ở nơi xây cất; cái cuốc cái xẻng ở một con đường đang đào, đắp nào đó, ghé uống mấy ly nước trà và gặp những người cùng chung ngôn ngữ với họ, ngôn ngữ thinh lặng trong quán trà thinh lặng này.

Tôi ngắm nhìn họ cầm ly uống trà rất là bình dân, sảng khoái, hình dung ra ở một nơi uống trà khác của những người được gọi là thanh lịch. Những quán trà dành cho tao nhân mặc khách có những nghi thức cầu kỳ gọi là Trà Đạo. Khi cho trà vào ấm thì gọi là Ngọc Diệp hồi cung. Khi tráng trà thì gọi là Cao Sơn trường thủy (rót nước 60 độ, cao cách trà 20-30 phân). Khi pha trà thì gọi Hạ Sơn nhập thủy (rót sát miệng ấm, nước sôi đủ 100 độ). Khi nhấc chén trà lên thì mấy ngón tay cũng được thăng hoa gọi là ba con rồng Tam Long giá ngọc, trước khi uống ngụm trà đó phải từ tốn đưa lên mũi từ trái sang phải thưởng thức mùi thơm của trà gọi là Du Sơn lâm thủy.*

 Chao ôi là nghi lễ, thật cầu kỳ.

Những người uống trà trong quán trà Thinh Lặng này họ giản dị lắm, trà do chị chủ quán pha một bình lớn, rót ra sẵn trước mặt, họ cầm lấy chén trà, nhìn nhau bằng những ánh mắt thân mật, ngửa cổ lên uống một hơi đầy, uống theo cả mệt nhọc của một ngày lao động vất vả vào lồng ngực. Họ chỉ vào ngực mình, ngực bạn, nói lòng quý mến nhau. Những tiếng động bên ngoài đường của xe cộ, của âm thanh ầm ĩ, họ bỏ cả ngoài tai. Trong những lồng ngực đơn sơ đó cái âm thanh tĩnh lặng kéo dài theo nhịp đập êm ả của trái tim.

Tôi chào họ ra về, mang theo quán trà Thinh Lặng trong trái tim nhiều tiếng động đời thường của mình, nước mắt bỗng ứa ra.

 Chao ôi, là quê hương yêu dấu! Mỗi chỗ giấu một điều bí mật, ta có may mắn tìm thấy, khác nào như những người tìm được châu báu trong kho tàng cổ tích thần tiên.” (Trích “Quán Trà Thinh Lặng” của Trần Mộng Tú)

 Thinh lặng hay ồn ào, vẫn là nỗi đau của đời người, được người nghệ sĩ diễn tả thêm lần nữa, qua nét nhạc, rằng những hát:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Gặp phải nỗi đau suốt một đời, cũng đừng tạ lỗi với ai hết. Bởi, nỗi đau ở đời người luôn sát cánh với người đời, hệt như lời đấng thánh-hiền từng bảo ban, như sau:

“Bởi thế, chúng tôi hãnh diện về anh em

trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa,

vì anh em kiên nhẫn

và có lòng tin mỗi khi bị bắt bớ

hay gặp cảnh gian truân.

Đó là dấu cho thấy Thiên Chúa xét xử công minh:

anh em sẽ được coi là

xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa,

chính vì Nước Thiên Chúa

mà anh em chịu đau khổ.”

(2Thessalônikê 1: 4-6)

 Hãnh-diện, không vì anh chị em từng chịu đau khổ suốt mọi thời. Nhưng, vì anh chị em mình đều vì Nước Thiên-Chúa, nên mới thế.

  Trần Ngọc Mười Hai

Và những nỗi đau

rất khó tả trong đời mình,

nhưng vẫn kiên nhẫn

sống vui sống mạnh với mọi người

suốt một đời.

LINH ĐẠO I-NHÃ – LINH ĐẠO CỦA CON TIM !

LINH ĐẠO I-NHÃ – LINH ĐẠO CỦA CON TIM !

    Trong bài thao luyện Tiếng Gọi Vua Đời Tạm Giúp Chiêm Ngắm Cuộc Đời Vua Hằng Sống, thánh I-nhã nói rằng có hai kiểu đáp trả trước tiếng gọi của Thiên Chúa.  Một kiểu đáp trả đến từ con người lý trí.  Kiểu thứ hai đến từ con người quảng đại và hào hiệp.  Chúng ta có thể gọi kiểu đáp trả đó là sự đáp trả của con tim.

 Thánh I-nhã mở đầu Linh Thao của ngài với 20 ghi chú nhằm giải thích mục đích của những bài thao luyện cũng như đưa ra vài lời khuyên và chỉ dẫn cho người hướng dẫn tĩnh tâm.  Chính những chỉ dẫn đầu tiên này đã giải thích điều thánh nhân muốn nói ngang qua những bài tập thiêng liêng.  Tập thể dục giúp điều hòa thân thể và tăng cường sức khỏe.  Và theo thánh I-nhã, Linh Thao hữu ích trong việc “giúp tăng cường và nâng đỡ chúng ta trong nỗ lực đáp trả ngày càng trung tín hơn với Tình Yêu Thiên Chúa.

 Hãy để ý điều mà thánh I-nhã không nói đến.  Ngài không nói Linh Thao được biên soạn để đào sâu sự hiểu biết của chúng ta hoặc để gia tăng ý muốn của chúng ta.  Ngài không giải thích những mầu nhiệm thiêng liêng cho chúng ta hay khai sáng tư tưởng của chúng ta.  Chúng ta dễ thấy có những bài tập đặt nặng về trí hiểu, nhưng đây không phải là mục đích.  Mục đích của những bài thao luyện là một sự đáp trả vững tâm.  Thánh I-nhã theo đuổi sự đáp trả của con tim.

 “Con tim” không có nghĩa là cảm xúc (mặc dù từ ngữ này bao gồm ý nghĩa cảm xúc).  Từ ngữ này ám chỉ tới định hướng bên trong tâm hồn chúng ta.  “Con tim” này là điều mà Chúa Giêsu nhắc đến khi Ngài dạy bảo chúng ta hãy tích trữ kho tàng trên trời thay vì tích trữ của cải trần thế: “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6, 21).  Đây là “tấm lòng” mà Chúa Giêsu đã trăn trở khi ngài nói: “vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống.”  Chúa Giêsu nhận thấy rằng tấm lòng (con tim) của chúng ta có thể dần xa rời hành động của chúng ta: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15, 8).  Trong cảm thức này, con tim – lời đáp trả toàn diện – mới thực sự là mối bận tâm của Linh Thao.

     Trên đây là ý nghĩa cổ xưa của từ ngữ “con tim” theo truyền thống Kinh Thánh, nhưng thực tế chúng ta còn lưu lại những vết tích của ý nghĩa này trong tiếng Anh đương đại.  Khi chúng ta nói với ai đó: “trái tim tôi dành cho bạn,” chúng ta muốn nói lên một điều gì đó vượt lên trên cảm nghĩ bận tâm hay lo lắng.  Chân thành mà nói, câu nói này thông truyền ý nghĩa về sự gắn kết hết lòng với ai đó.  Nó mang ý nghĩa xa hơn câu nói “tôi hiểu bạn” (về mặt trí năng).  Nó cũng mang ý nghĩa xa hơn câu nói “tôi thông cảm với bạn” (về mặt cảm xúc).  Nó có ý nghĩa đại loại như câu “tôi ở đây, tôi ở bên bạn.”  Đó là cách diễn tả một chọn lựa căn bản.

    Ngày nay, chúng ta thường nói về một người tỏ ra thiếu hăng say trong một dự án: “Hắn ta làm việc thật vô tâm.”  Chúng ta cũng thường nói điều này khi cung cách hành xử của người ấy không xứng hợp với ước muốn thâm sâu nhất của chính anh ta.  Chúng ta cũng nói như thế với chính mình mỗi khi vô tình làm tổn thương những người thân yêu hoặc làm những điều mà chúng ta biết là mâu thuẫn với bản chất của chúng ta.  “Cái tâm” ở đây là điều mà thánh I-nhã bận tâm.  Chúng ta có thể nghĩ về linh đạo I-nhã như một cách xếp đặt con tim cho đúng.

 Thánh I-nhã hiểu được điều này vì đó là điều đã xảy ra cho ngài.  Ngài đã trải qua một cuộc hoán cải sâu xa trong lúc hồi phục vết thương, nhưng đó không phải là một sự biến đổi về trí hiểu hay ước muốn.  Trước cuộc hoán cải – và về sau – ngài luôn là một Kitô hữu “chính truyền” luôn tuân theo những thực hành tôn giáo được mong đợi nơi ngài.  Chuyện đó không hề thay đổi.  Cuộc hoán cải của ngài bao gồm những khao khát và dấn thân sâu xa nhất, mà điểm quy chiếu cốt yếu của chúng là phẩm tính của con người trước mặt Thiên Chúa.  Qua thời gian, hiểu biết về tôn giáo trên lý thuyết lẫn thực hành của thánh nhân hiển nhiên được đào sâu, nhưng quan trọng nhất là chính con tim của ngài được biến đổi.

     Qua bao năm cầu nguyện sốt sắng và được người khác linh hướng, thánh I-nhã đã khai triển nhiều cách thức để lắng nghe ngôn ngữ con tim.  Đây chính là loại ngôn ngữ bày tỏ những ý định của Thiên Chúa và thôi thúc chúng ta quảng đại đáp trả.  Điều chúng ta tin và điều chúng ta làm thì quan trọng thật đấy, nhưng thánh I-nhã còn quan tâm hơn nữa đến tình trạng tâm hồn của mỗi người chúng ta.

     Tuy nhiên, hầu hết chúng ta vẫn gặp phải một cám dỗ dai dẳng là muốn biến Linh Thao hay bất kỳ một cuộc canh tân thiêng liêng nào đó trở thành vấn đề của việc thay đổi tư duy.  Thực vậy, nguy cơ này nảy sinh ngay cả trong một cuốn sách kiểu như cuốn Linh Thao – một cuốn sách đề ra những ý tưởng, quan niệm và nguyên tắc giúp mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta về linh đạo I-nhã.  Thật là quan trọng để ý thức ngay rằng hiểu biết không phải là mục tiêu cuối cùng của chúng ta trong Linh Thao.  Chúng ta có thể biết rất nhiều thứ, nhưng có thể điều này chẳng ảnh hưởng gì đến cách chúng ta sống.  Mục tiêu của Linh Thao là sự đáp trả của con tim – điều thật sự làm thay đổi trọn cả con người chúng ta.

     Thiên Chúa đã huấn luyện con tim thánh I-nhã ngang qua nhiều thị kiến thần bí mà thánh nhân nhận được ngay từ khi bắt đầu hành trình thiêng liêng.  Một thị kiến kiểu như thế đến với thánh nhân vào lúc ngài đang băn khoăn xem có nên đọc ba hay bốn lời cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi chăng – mỗi lời cầu nguyện hướng đến một ngôi riêng rẽ – Cha, Con và Thánh Thần – và lời nguyện thứ tư hướng đến Một Thiên Chúa Duy Nhất.  Một lần, khi đang thong dong cầu nguyện ngoài trời ở trên bậc tam cấp của một tu viện, thánh nhân bất chợt nghe tiếng Ba Ngôi Chí Thánh như tiếng nhạc của ba phím đàn đang hòa thanh (ba nốt nhạc cấu thành một hợp âm).  Khi khác, thánh nhân nhận được một thị kiến về cách thức Thiên Chúa sáng tạo thế giới, làm như thánh nhân thấy “một vật thể trắng sáng phát ra những tia sáng” và “Thiên Chúa làm thành ánh sáng.”  “Kẻ ấy không biết giải thích những điều này thế nào,” thánh nhân viết về mình trong ngôi thứ ba số ít (“kẻ ấy”).  Dẫu sao, thánh I-nhã đã đáp trả bằng con tim của ngài: “Nước mắt trào ra, kẻ ấy thổn thức không sao kìm hãm được.

     Sự đáp trả của con Tim là nền tảng của Linh Thao.  Công cuộc sáng tạo là một dòng chảy những quà tặng của Thiên Chúa, và sự đáp trả của con người là tiếp điểm để dòng chảy ấy trở về với nguồn mạch là chính Thiên Chúa.  Sự đáp trả của con người là sự lựa chọn tự do để cho cuộc sáng tạo của Chúa diễn ra.  Cuộc sáng tạo ấy giúp chúng ta hiểu biết, yêu mến Thiên Chúa và muốn sống với Ngài mãi mãi.

     Ngay từ đầu Linh Thao, thánh I-nhã đề nghị thao viên cầu nguyện trước Chúa Giêsu Kitô trên thập giá.  Thánh nhân chân nhận Chúa Kitô là Đấng Tạo Hóa, là Thiên Chúa của Nguyên Lý Và Nền Tảng.  Dường như Thánh I-nhã muốn nói: “Hãy trò chuyện với Chúa về cách thức Ngài sáng tạo thế giới vì tình yêu.”  Không có gì khó hiểu hay trừu tượng về một Thiên Chúa của lý trí, nhưng về một Thiên Chúa của Tình Yêu được chiêm ngắm trong khuôn mặt Đức Giêsu Kitô.  Đó là Chúa Kitô theo Thánh Phao-lô trong thư gửi cho các tín hữu ở Cô-lô-xê và Ê-phê-xô.  Đó là Chúa Kitô trong lời tựa Tin Mừng theo thánh Gio-an: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành.”  Đây là Con Thiên Chúa, là Alpha và Omega (Khởi Nguyên và Cùng Đích) trong sách Khải Huyền của tác giả Gio-an. 

    Hành trình thiêng liêng của chúng ta là một nỗ lực để trả lời câu hỏi: “Cả cuộc sống này có ý nghĩa gì?”  Đây là câu trả lời của thánh I-nhã: một hình ảnh về Thiên Chúa trong con tim của chúng ta, chứ không phải trong trí hiểu.  Hình ảnh đó là họa thuật về Đấng Tạo Hóa như một Đấng ban tặng dư dả. Ngài không ngừng trao ban những món quà và mời gọi chúng ta đáp trả – một chọn lựa tự do để chúng ta có thể quay trở lại với Ngài trong niềm tri ân cảm mến.  Đó là một hình ảnh mà chỉ con tim mới có thể đáp lời.

 Truyền Thông SJVN

 From: KittyThiênKim & KimBằngNguyễn

10 lý do chịu đau khổ

10 lý do chịu đau khổ

Horatio G. Spafford là một luật sư giỏi ở Chicago hồi thập niên 1800 và là bạn của nhà truyền giáo Dwight L. Moody.  Luật sư Spafford được kính trọng và tốt lành, nhưng ông vẫn không tránh khỏi những lúc khổ đau.

Trước hết, ông mất đứa con trai vì chứng ban đỏ (scarlet fever).  Rồi vốn đầu tư làm ăn cũng bị thua lỗ.  Không lâu sau đó, 4 cô con gái của ông chết trong một vụ đắm tàu ở Đại Tây Dương, chỉ còn bà vợ Anna của ông sống sót nhờ bám vào chiếc phao rồi được cứu.

 Tại sao bi kịch xảy ra với người tốt?  Luật sư Spafford không thể hiểu, nhưng rồi ông vẫn vững tin vào quyền năng của Thiên Chúa.  Mọi người có thể tôn vinh Thiên Chúa ngay cả trong những lúc đen tối nhất của cuộc đời.  Theo Kinh Thánh, đây là 10 lý do để chúng ta chịu đau khổ.

  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta phạm tội.  Chẳng có ai công chính (Rm 3:10), nghĩa là ai cũng là tội nhân (Rm 3:23). Những người không có đức tin thì sống biệt lập với Chúa, còn những người có đức tin thì trải nghiệm từng khoảnh khắc, từng ngày, từng mùa… về niềm tin vào Thiên Chúa. Quy luật tâm linh được tạo ra để triệt tiêu tội lỗi trong đời sống của tín hữu, quy luật này nghiêm khắc, kể cả cái chết: “Ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có lắm người đã chết.  Giả như chúng ta tự xét mình, thì chúng ta đã không bị xét xử.  Nhưng khi Chúa xét xử là Người sửa dạy chúng ta, để chúng ta khỏi bị kết án cùng với thế gian” (1 Cr 11:29-32).
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì người khác phạm tội. Vợ chồng và con cái chịu đau khổ vì bị lạm dụng. Công dân chịu đau khổ vì chính quyền tham những. Satan xúi giục vua Đa-vít thống kê dân số Ít-ra-en, và có 470.000 người chịu hậu quả (2 Mcb 10:20). Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết không phải vì lỗi của Ngài mà vì tội lỗi của nhân loại.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta sống trong thế giới tội lỗi. Tai nạn và tai họa xảy ra, mỗi năm có hàng triệu người chết. Thánh Phaolô nói rằng “muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8:22). Đó là hậu quả của tội lỗi.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì chúng ta được tự do chọn lựa. Quyền năng Thiên Chúa và khả năng của con người là hai sự thật trong Kinh Thánh. Chúng ta không là robot, chúng ta có thể chọn lựa vì Thiên Chúa cho chúng ta quyền tự do. Đôi khi sự chọn lựa của chúng ta gây đau khổ – cho mình và cho người khác. Randy Alcorn viết:“Nếu Thiên Chúa tước hết vũ khí và ngăn chặn các tài xế say xỉn, thế giới này sẽ không là thế giới thật để con người chọn lựa… Trong một thế giới như vậy, người ta sẽ chết mà không có nhu cầu, chỉ thấy mình ở Địa ngục”.
  1. Chúng ta chịu đau khổ vì sự sống đời đời. Thế giới này không là nhà của chúng ta, chúng ta chỉ là khách vãng lai. Chúng ta là công dân Nước Trời. Thánh Phaolô nói: “Tất cả các ngài đã chết, lúc vẫn còn tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất” (Dt 11:13).  Chính đau khổ ngăn cản chúng ta bám víu vào thế gian này, vì thế gian sẽ qua đi.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để không gặp điều tệ hại hơn. Đau khổ làm cho chúng ta tập trung vào nguyên nhân, để cố gắng sửa đổi trước khi tệ hại hơn. Cơn sốt dẫn chúng ta tới bác sĩ, tại đây chúng ta được chẩn đoán và chữa trị. Ở mức lớn hơn, đau khổ cho chúng ta biết có gì đó bất ổn, và dẫn chúng ta tới Chúa Giêsu. Bóng tối, đau khổ, cô đơn, lo buồn… Mọi thứ đó giúp chúng ta nắm bắt thực tế cuộc sống, giúp chúng ta cần đến Chúa.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để thông phần đau khổ với Đức Kitô và nên giống Ngài. Thánh Phaolô nói:“Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3:10-11). Nhờ kinh nghiệm đau khổ mà chúng ta có thể an ủi người khác khi họ chịu đau khổ. Khi chúng ta chịu đau khổ là chúng ta được nên giống Đức Kitô. Thánh Phaolô phân tích:“Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời”(2 Cr 4:17).
  1. Chúng ta chịu đau khổ để tôn vinh Thiên Chúa. Chúa Giêsu động viên chúng ta nếu chúng ta chịu đau khổ vì danh Ngài: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5:10-11). Ngài cảnh báo rằng thế gian sẽ ghét chúng ta vì họ đã ghét Ngài trước (Ga 15:18). Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái, chương 11, có người nhờ đức tin mà được chúc lành bằng của cải và thành công, có người lại được chúc lành bằng đau khổ và cái chết. Thiên Chúa không phân loại các anh hùng đức tin này tùy trường hợp của họ, Ngài chỉ tôn vinh họ vì vững mạnh đức tin. Nếu các Kitô hữu có cuộc sống thoải mái thì sẽ làm cho Phúc Âm hấp dẫn vì các lý do sai lệch.
  1. Chúng ta chịu đau khổ để trưởng thành tâm linh.Chúa Giêsu là Đấng hoàn hảo, vậy mà Ngài còn phải chịu đau khổ để học được đức vâng phục. Thánh Phaolô cho biết:“Nhờ Chúa, tôi rất vui mừng vì cuối cùng thấy tình cảm của anh em đối với tôi lại thắm thiết. Tình cảm đó vẫn sống động, nhưng anh em chỉ thiếu dịp tỏ ra. Không phải vì thiếu thốn mà tôi nói thế, bởi lẽ tôi đã học sống tự lập trong bất cứ hoàn cảnh nào. Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4:10-13). Thánh Phaolô xác định:“Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2 Cr 12).
  1. Chúng ta chịu đau khổ để hy vọng vinh quang Nước Trời.  Kh 21:4 nói:“Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” Thánh Phaolô nói: “Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8:18).

 Có nhiều lý do để chúng ta chịu đau khổ, đôi khi khó nhận biết chính xác.  Như trường hợp Thánh Gióp, ông không bao giờ biết việc đánh cược của Satan với Thiên Chúa. Nhưng đây là sự thật:

  • Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi đau khổ của chúng ta.
  • Thiên Chúa vẫn hiện hữu ở bên chúng ta khi chúng ta gặp đau khổ.
  • Thiên Chúa luôn hành động với chúng ta khi chúng ta gặp đau khổ.
  • Nếu Thiên Chúa muốn chúng ta biết lý do, Ngài sẽ nói với chúng ta (qua Kinh Thánh hoặc cách nào đó).
  • Thiên Chúa tác động qua cái ác và đau khổ để sinh ra điều tốt, loại bỏ điều xấu mà Satan và kẻ xấu có thể làm cho chúng ta.

Ngày nào cũng có đau khổ, nhưng hãy nghĩ về hạnh phúc vĩnh hằng ở Nước Trời mai sau.  Randy Alcorn viết: “Số phận của chúng ta không lệ thuộc vào những người kiện cáo, hoặc những chính trị gia, luật sư, giáo viên, huấn luyện viên, sĩ quan quân đội, hoặc chủ nhân. Họ có thể chống lại chúng ta – và Thiên Chúa hoàn toàn có thể chuyển những điều xấu thành điều tốt nhất cho chúng ta”.

Trầm Thiên Thu 

(chuyển ngữ từ Once Delivered.net)

ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

Phong Truong and Đào Duẫn shared a post.
Image may contain: 2 people, people smiling, text and outdoor

Le AnhFollow

Đây là một bài viết của một đảng viên CS đã thức tỉnh.

=======================
ĐI TÌM THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

Từ lâu, tôi đã nghe nhiều, rất nhiều cụm từ “thế lực thù địch”. Nghe đến nhàm, nhưng chẳng ai chỉ giùm tôi, bởi nó vô hình. Vậy thì phải đi tìm thôi.

Tôi đã đi tìm thế lực thù địch từ những ngày hợp tác hóa, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Cái ngày mà tôi chưa phân biệt được chủ nghĩa Mác đúng sai thế nào.

Cái ngày mà khi có kẻng là xã viên hợp tác ra đồng, chờ phân việc, làm chiếu lệ vài giờ rồi về. Tối họp bình công chấm điểm thì cãi nhau om sòm, mà có nhiều nhặn gì đâu, giỏi lắm mỗi công một cân thóc. Để rồi “Ơi anh chủ nhiệm anh chủ nhiệm/ Hai tiếng thân yêu lời cảm mến/ Tay anh nắm chặt tay xã viên/ Xốc cả phong trào cùng tiến lên” đi vào trang sách học sinh theo thơ Hoàng Trung Thông.

Cái ngày mà khi thu hoach thì bố mẹ đi trước, con cái theo sau (gọi là đi mót) cướp hết những thứ ngon. Cuối buổi thu hoạch về sân kho hợp tác chỉ những đống lúa xơ xác, hoặc những đống khoai chạc khoai rễ. Để rồi “Dân làm chủ dập dìu hợp tác / Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu .

Cái ngày mà đói triền miên, cả năm may ra có bữa no cơm và có thịt, đó là ngày tết. Để rồi “Những người lao động quang vinh/ Chúng ta là chủ của mình từ đây” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu.

“Chẳng nhẽ chủ nghĩa cộng sản lại thế này ư?” Từ thắc mắc đó tôi đọc “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” và “Chính trị kinh tế học”. Vì còn tuổi vị thành niên, nên dù nghi ngờ nhưng tôi chưa dám nghĩ Mác sai, nhưng ít nhất là ta làm sai Mác. Mác nói, đại ý “phải phân biệt vô sản và vô sản áo rách (bọn khố rách, áo ôm)”. Ta đã dùng “vô sản áo rách” trong CCRĐ. Ta đã cưỡng bức vào hợp tác xã, trong khi lẽ ra phải hoàn toàn tự nguyện. Trong “Chính trị kinh tế học”, theo Khơ rút sốp “có thể đoạt chính quyền bằng nghị trường”, còn theo Bregiơnhep “chỉ có thể đoạt chính quyền bằng bạo lực”, ta theo bạo lực. Tại sao lại phải dùng bạo lực? Tôi tự hỏi vì tôi đã đọc đâu đó “bạo lực là sản phẩm của phía yếu, bất tài và vô lực”. Tất cả những nhà cầm quyền theo chủ thuyết “sức mạnh chính trị nằm trên đầu nòng súng” đã đưa đất nước họ (trục phát xít) gục ngã. Sau gục ngã có thể họ bị yếu, có thể họ thuộc bài nên đã điều chỉnh hướng đi. Các nước theo trục chủ nghĩa xã hội lại tiếp tục theo vết xe đổ đó, để đến nay tan rã. Thảm thay!!!

Cái thời mà, thế hệ cha anh tôi, những người đã qua CCRĐ luôn thuộc nằm lòng câu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” hoặc “chủ nghĩa cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Tôi vào đại học, vào bộ đội. Dù làm khoa học và công nghệ, nhưng tôi luôn tìm hiểu về chế độ, khi mà tuyên truyền và thực tế luôn ngược nhau. Tôi đọc mọi loại sách, từ các sách văn học, xã hội học và chính trị; tiếp cận với nhiều tầng lớp người từ cao xuống thấp, từ cổ đến kim. Do công tác đi đây đó nhiều, nhất là các công xưởng, lại sống hòa nhập nên tôi có điều kiện tiếp cận thực tế. Qua lý thuyết và thực tế tôi đã dần tìm ra thế lực thù địch. Đúng hơn là cái gì đã kìm hãm sự phát triển của nước.

Còn nhớ những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước có lần tôi nói với bố tôi (đang là cán bộ cao cấp) rằng “đảng sai bố ạ”, bố tôi rằng “đường lối đúng, thực hiện sai”. Đáp “lý thuyết đúng là tự nó đem lại tốt đẹp cho xã hội, ta chẳng làm được gì cả, sao gọi là đúng? Nói vậy là bao biện”. Bố tôi lặng im. Lại hỏi “một xã hội sẽ ra sao nếu trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ?” Rằng “câu hỏi đó đã được Gabriel García Márquez – chủ nhân của giải noben văn học 1982 đã hỏi trong một gặp gỡ các nhà văn Á – Phi – Mỹ La tinh, mà chẳng ai biết thế nào để trả lời”. Vài năm sau bố tôi nói “con đúng, bố sai – từ nay con thay bố giải quyết các việc trọng đại trong gia đình”. Cũng từ đó cho đến lúc lìa trần, ông dị ứng với vô tuyến, đài và báo chí (công cụ tuyên truyền) – những thứ mà trước đây là thực đơn hàng ngày của ông. Ông quay lại nghề tử vi, địa lý và kinh dịch – như là nghề gia truyền; nhưng khi đi theo đảng ông phải bỏ. Chính nghề này đã cứu ông cả vật chất, tinh thần và để lại nhiều ân đức trước khi qua đời.

Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi người ta cơ cấu những cán bộ chính trị đi tập huấn một thời gian về làm hiệu trưởng các trường cấp 2 và 3, tôi như đã thấy manh nha một cái gì? Sau đó, khi “chuột chạy cùng sào, nhảy vào sư phạm”; tôi đã thấy rằng: “xã hội ta sẽ thê thảm khi những người học yếu nhất vào giáo dục”. Rồi cải cách giáo dục, như một sự tàn phá đất nước nhanh nhất. Mười lăm năm đi học không có ai dạy cho ta yêu bố mẹ, anh em cả; nhưng được dạy nhiều về lý tưởng cộng sản “vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên”. Phải chăng bỏ qua cái thực thể hữu hình, chạy theo cái vô hình kiểu “bỏ hình bắt bóng” là đặc trung nền giáo dục của chúng ta?

Rút cục ta đã đào tạo ra những thế hệ “ăn theo nói leo” là chính, ai không như thế được đội cái mũ “tiểu tư sản trí thức” ngay. Ta không dùng những người tài giỏi, nhưng lại coi trọng những người khôn vặt, láu cá nhiều mưu ma chước quỷ. Chính cái sự đào tạo và sử dụng người đã hủy hoại nhân cách của nhiều thế hệ.

Từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước lại đây, tôi đã chứng kiến rất nhiều những cuộc chạy chức quyền, chia các vai quyền lực từ các bàn nhậu. Mấy chục năm công tác tôi thấy quá rõ kinh phí bôi trơn cho guồng máy, thông thường là 40% chi phí đầu tư, nhiều chỗ còn hơn. Kinh phí vào công trinh chỉ xấp xỉ một nửa. Đất nước không đổ nát mới là sự lạ.

Cách đây hơn năm thế kỷ Thân Nhân Trung đã viết:

“…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết…”

Đất nước ta không đào tạo và sử dụng được hiền tài, chỉ dùng được những ai dễ sai bảo, biết ăn theo nói leo, thậm chí vô sản áo rách. Dùng hiền tài đâu có dễ, những người không tài làm sao sử dụng được hiền tài, các bậc hiền tài đâu chịu làm đầu sai. Những người có tri thức, biết được điều hay lẽ phải (tri là biết; thức là hay), sao lại có thể a dua theo bầy đàn không có tri thức dẫn lối? Trong hoàn cảnh ấy, hiền tài chỉ có hai con đường, hoặc vùng lên rồi bị diệt như “Nhân văn Giai phẩm” hay như “vụ xét lại chống đảng”. Hoặc co vào ở ẩn bất hợp tác như đa phần còn lại. Rút cục hiền tài không “can dự” được vào sự phát triển đất nước. Không phải vô cớ mà ở nước Đức có bia mộ ghi “ở đây đã an táng một người, mà người đó dùng được rất nhiều người tải giỏi”.

Vậy là “thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối. Mà cái ngu là tổ phụ của cái ác, tàn phá đất nước hơn tỷ lần cái ác. Con đường cách mạng đất nước ta (mà đặc biệt là cách mạng phát triển xã hội sau năm 1975) đang đi là con đường thiếu ánh sáng tri thức soi đường. Để rồi sau bao nhiêu năm đi vào bóng đêm. Đất nước sau gần bốn mươi năm thống nhất tựa như đổ nát. Nạn tham nhũng tràn lan làm rỗng ruột kinh tế, tai nạn giao thông chết người như có chiến tranh, giáo dục lụn bại, nhân cách đạo đức suy đồi, kẻ thù truyền kiếp phương Bắc uy hiếp trên biên giới, rừng núi, biển đảo và đồng bằng. Cách mạng đâu phải là sự nghiệp của bầy đàn khố rách áo ôm kiểu “mo cơm quả cà đi xây dựng chủ nghĩa cộng sản”. Cũng do ngu tối mà từ ngày độc lập, chúng ta chưa tìm được con đường đi cho đất nước.

Không nghi ngờ gì nữa“thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối, thế lực nào dung túng cho cái ngu, để cho cái ngu hoành hành thì đấy chính là thế lực thù địch của đất nước ta, dân tộc ta.

Thời nay ai thiết người tài

Chỉ cần tai tái, dễ sai hợp thời

Thằng thông minh nó lắm lời

Nó thuyết, nó giáo rối bời thằng ngu

Thằng ngu tuy có lù khù

Mưu ma chước quỷ nó bù thông minh

Sự đời nghĩ lại mà kinh

Nhân tình thế thái, rối tinh rối mù.

H.Q

1-8.- LỄ THÁNH ANPHONGSÔ, ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CHÚA CỨU THẾ – TA BIẾT THẾ GIAN RỒI, VĨNH BIỆT… ( 1723 ).

1-8.- LỄ THÁNH ANPHONGSÔ, ĐẤNG SÁNG LẬP DÒNG CHÚA CỨU THẾ – TA BIẾT THẾ GIAN RỒI, VĨNH BIỆT… ( 1723 ).

 

Ngay1-8 (704 x 895)

Một thanh niên tuấn tú 16 tuổi đời. Một luật sư danh tiếng khắp Napoli thời Anphongsô lớn lên. Một trạng sư bách chiến bách thắng. Một người con yêu quí của ông bà Don Giuseppe de Liguori và Donna Catarina Anna Cavalieri. Alphongsô là niềm tự hào, vinh dự và hy vọng của ông bà Don Giuseppe de Liguori va Anna Cavalieri. Anphongsô luôn là ước mơ độc nhất của ông Don Giuseppe de Liguori để con ông được thăng tiến địa vị trong xã hội và làm vinh danh cho gia đình  De Liguori.

Cuộc đời vẫn xoay chuyển, vần xoay…nhưng đời con người đâu có dừng tại chỗ, cái không ngờ, luôn là cái ngờ…Giữa lúc đang sống trên tột đỉnh của vinh quang. Anphongsô đã cảm thấy thế nào là cuộc đời, thế nào là sự xấu hổ, thế nào là thất bại…

MỘT CON TRẺ ĐƯỢC LÀM CON CHÚA: Lật giở tiểu sử của thánh Anphongsô do Cha Rey-Mermet viết, ta đọc thấy như sau:” …tại nhà thờ Santa Maria dei Vergini dâng kính Đức Thánh Mẫu, ở Napoli Ý, một sổ bộ rửa tội, trong đó, trang 127 có ghi những dòng chữ sau:

“ Ngày 29/9/1696, thứ bảy, Alfonso Maria Antonio Giovanni Francesco Cosmo Damiano Michel Angelo Gasparo de Liguori, con của vợ chồng Don Giuseppe de Liguori và Donna Catarina Anna Cavalieri, đã được rửa tội do tay cha sở là tôi, Giuseppe del Mastro. Em bé được đỡ đầu (trên giếng rửa tội ) bởi bà Gratia Porpora; em sinh ngày 27 cùng tháng hồi 13 giờ” (13 giờ hồi đó tức 7 giờ sáng bây giờ).

Và ta thấy bên lề trang sổ bộ rửa tội ấy, một dòng chữ ngoại lịch được chữa kèm: ” phong Á thánh tháng 9 năm 1816 ,“”phong hiển thánh ngày 26 tháng 5 năm 1839.

Thêm vào đó, một nét bút khác viết : “ Được tuyên dương Tiến sĩ Hội Thánh ngày 23/3/1871. Đến đây, nếu còn chỗ, người ta sẽ viết câu chót này: “ được tuyên bố là quan thầy các cha giải tội và các nhà luân lý này 26/4/1950 “.

Bằng ấy để đánh dấu một ngày sinh đáng ghi: 29/9/1696, và một cái chết đáng nhớ: 01/8/1787. Chết buổi sáng, lúc chuông truyền tin đổ, sau cuộc đời dài 90 năm, 10 tháng và 01 ngày. Phủ tròn gần một thế kỷ mà người ta gọi là “ Thế Kỷ Ánh Sáng “.

Con người ấy chắc chắn đã làm nên lịch sử như một cỗ xe rực lửa. Con người ấy chắcchắn đã làm nên lịch sử ( Thánh Anphongsô Rey-Mermet Viễn Thụ trang 19-20 )

MỘT CON NGƯỜI ĐÃ ĐI VÀO THẾ KỶ ÁNH SÁNG, ĐÃ ĐI VÀO LỊCH SỬ CON NGƯỜI: Được sinh ra trong một gia đình thế giá thế Kỷ Ánh Sáng. Cha mẹ đều là người có thế giá, có uy quyền trong triều đình Napoli. Anphongsô đã đi vào đời với tất cả ước mơ của con người. Cha mẹ nào lại không mong ước cho con cái mình thành đạt, cho con cái mình được trọng vọng. Cha của Anphongsô cứ đinh ninh Anphongsô rồi sẽ nối gót, kế thừa cha trong sự nghiệp binh bị. .Anphongsô lại là một cậu bé hết sức thông minh, hết sức khôn ngoan. Cậu học giỏi, nhưng lại có rất nhiều tài năng: cầm, kỳ, thi, họa. Người ta vẫn không ngoa khi đánh giá Anphongsô là con người tài đức song toàn. Cha mẹ của Anphongsô hết sức kỳ vọng vào cậu. Và ông bà không hãnh diện sao được khi Anphongsô tỏ ra hết sức nổi bật trong mọi lãnh vực. Ông bà Don Giuseppe de Liguori ước mơ cho Anphongsô sẽ có người vợ đẹp, để sinh sản ra những đứa con ngoan, học hành giỏi giang. Ông bà De Liguori ước vọng như thế quả chẳng có gì là quá đáng. Anphongsô đã đi vào đời, đã đi vào lịch sử con người và chính Người đã làm nên lịch sử đời mình khi mới có 16 tuổi đời, đã giật được hai mảnh bằng tiến sĩ luật đạo và đời. Anphongsô đã khoác vào mình bộ áo luật sư dài, rộng thênh thang vì vóc dáng cậu còn quá trẻ. Thanh bảo kiếm đeo bên mình càng làm Anphongsô kiên định trong địa vị của mình. Thanh bảo kiếm ấy chứng tỏ Người thuộc dòng dõi quí tộc, thế giá trong thế Kỷ Ánh Sáng. Bao nhiêu vụ kiện, bao nhiêu cuộc biện hộ của Anphongsô cho các thân chủ đều mang lại chiến thắng. Giữa lúc, Anphongsô đang hăng say với chiến thắng, giữa lúc Anphongsô tưởng rằng mọi sự cứ như vậy, giữa lúc Anphong tỏ ra bách chiến bách thắng thì…

MỘT VỤ KIỆN BỊ THUA KHIẾN ANPHONGSÔ TỪ BỎ TẤT CẢ: một vụ kiện tầm cỡ. Chưa từng có đến nay. Liên quan đến những hoàng thân quốc thích, những bá tước quận công. Một lãnh địa và những số tiền nợ, lãnh địa Amatrice, rộng bằng cả một tỉnh lẻ. Với những con số 150.000 ducats, 4.000 ducats v.v…

Nữ công tước Victoria di Montefeltro della Rovere, vợ goá của công tước Ferdinando II de Medicis, thuộc dòng dõi một sĩ quan làm công thần của Hoàng đế Charles Quint, bà là bên nguyên. Họ chọn luật sư Maggiochi biện hộ.

Bên bị là công tước Philip Orsini, ông này còn một món nợ lớn chưa đòi được, song người ta đã làm giấy tờ cầm thế cho ông lãnh địa Amatrice, “ với quyền thụ hưởng, ông và các kẻ thừa kế ông; không ai được phép dính dáng vào, bao lâu ông chưa hết nợ nần”. Luật sư Alfonso biện hộ cho bên bị ( Thánh Anphongsô, Rey-Mermet Viễn Thụ trang 65 ).

Anphongsô còn trẻ, các lập luận như đinh đóng cột. Người lại thông minh, nhanh nhảu và trẻ trung. Ai cũng hoan hô sự lập luận vững chắc của Người. Ai cũng tin tưởng Người sẽ chiến thắng như bao vụ kiện khác. Nhưng con đường của Chúa thật diệu kỳ. Giữa lúc Phaolô đang hăng say bắt bớ các môn đồ, bắt bớ Giáo Hội, bắt bớ các Kitô hữu để nhốt vào tù. Giữa lúc Phaolô tưởng rằng mình chiến thắng thì Chúa đánh ông ngã ngựa. Phaolô thất bại, Phaolô chiến bại rõ ràng.” Lạy Chúa Chúa muốn con làm gì ? “. Đường của Chúa thật diệu kỳ…Tâm Tư của Chúa không ai có thể dò thấu…Anphongsô cũng thế với những lời biện bác khúc triết, với những lập luận sắc bén. Anphongsô có ngờ đâu…Đường của Chúa quá diệu vợi. Một sai lầm, một quên sót nhỏ nhất đã làm cho Anphongsô thua kiện :”…Sắc diện đỏ lên vì tức giận, xấu hổ cho chiếc áo pháp đình khoác trên vai, Alphongsô không còn nghe gì nữa, cả tiếng an ủi được thốt ra bởi vị chủ tịch tối cao Caravita; anh cúi đầu, đi thẳng ra ngoài một mạch.

Hỡi thế gian, ta biết ngươi rồi…vĩnh biệt pháp đình ( Thánh Anphongsô, Rey-Mermet,

Viễn Thụ trang 67 ).

Anphongsô đã hiểu thế nào là thất bại. Anphongsô thua kiện để Thiên Chúa được thắng kiện. Đó là cái nghịch lý của cuộc đời mà Anphongsô đang trải qua .Anphongsô đã bỏ tất cả. Giờ đây chỉ còn Chúa và các bệnh nhân.

Tiếng vọng của Thiên Chúa luôn thôi túc Anphongsô:” Hãy để thế gian lại đó và hiến mình cho Ta “.

Anphongsô đã tỉnh giấc mơ, đã hoàn hồn sau một cơn đau khổ khủng khiếp và rồi:” Một hôm tại nhà thờ Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi, quỳ dưới chân bức tượng, Anphongsô đã nói:” Vĩnh biệt thế gian và của cải phù vân ! Lạy Chúa, đời con nay thuộc về Chúa  Chức tước và của cải gia đình con, con xin dâng làm của lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa con và cho Mẹ Maria…

Anh rút gươm ra, đặt dưới chân Mẹ bồng con:

Hôm đó là ngày 29/8/1723, ngày đứa con quay về với Cha nhân hậu( thánh Anphong

Rey-Mermet, Viễn thụ trang 69-70.

saint-alphonsus-maria-de-liguori-01

CÁI KỲ DIỆU CỦA CUỘC ĐỜI: Thánh Anphongsô đã như một Phaolô ngã ngựa trên đường Damas và rồi Người đã nhận ra tiếng Chúa gọi. Thanh bảo kiếm đặt dưới chân Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi nói lên sự từ bỏ danh vọng, quyền hành, địa vị, chức tước. Thánh Anphongsô đã nhận ra cái phù phiếm của cuộc đời:” Phù vân. Tất cả đều là phù vân”. Thánh Anphongsô chọn Chúa làm gia nghiệp cho cuộc đời mình. Lời thánh Kinh” Hãy đi, bán hết những gì con có. Đem cho kẻ khó. Và sau đó đến đây theo Thầy”( Lc 18, 22 ; Mt 19, 21 ). Lời của Chúa nói với người thanh niên giầu có hôm nay thúc bách thánh Anphongsô thực sự, Người đã quyết định, một quyết định, một sự chọn lựa làm cho cha mẹ của  Người rất đau lòng vì ông bà chưa nhận ra ý Chúa…

Thánh Anphongsô đã chọn và Người đã nhất định dành tất cả cho Chúa…

DÒNG CHÚA CỨU THẾ ĐƯỢC KHAI SINH: Năm 1732, tại thị trấn Scala ( trong vương quốc Napoli ), thánh Anphongsô Maria đệ  Liguori, vì động lòng thương cảm những người nghèo khó, nhất là đám nông dân chiếm phần đa số trong miền, đã thành lập Dòng Chúa Cứu Chuộc, để đi theo chính Đấng Cứu Thế rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó.

“ Người đã sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”. 9 Lc 4, 18 )

Thánh Anphongsô và các tu sĩ của Ngài, sáng chói nhất có thánh Giêrađô Majella, đã nỗ lực đáp ứng cácc nhu cầu thiêng liêng của dân quê nghèo thời đó, bằng các kỳ Đại Phúc thừa sai, các tuần tĩnh tâm, các tuần tái phúc, theo gương thánh Phaolô đã làm( Cv 15, 36 ) ( Hiến Pháp và Quy Luật Dòng Chúa Cứu Thế trang 11 ).

Dòng Chúa Cứu Thế từ ngày thành lập cho đến  nay, đã trải qua biết bao thăng trầm, nhưng Chúa vẫn gìn giữ, ủp ấp để rồi Dòng Thánh vẫn luôn vươn lên, tiếp tục rao giảng Nước Thiên Chúa và giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người, đặc biệt những người bơ vơ, tất bạt.

Linh mục Giuse  Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Ngày 22-7-2005

Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

3 ĐIỀU TÔI KHUYÊN BẠN ĐỪNG LÀM…

3 ĐIỀU TÔI KHUYÊN BẠN ĐỪNG LÀM…

Ở đời có rất nhiều việc đừng làm nhưng đừng bao giờ quên 3 điều này!

1. Xây nhà quá to

Đừng dại gì mà cả đời thắt lưng, buộc bụng, bóp mồm bóp miệng, dành tiền dựng lên một khối bê – tông, sau đó vừa còng lưng trả nợ, vừa tự làm ô-sin lau chùi quét dọn cả ngày. Rồi cuối cùng cũng ra ngoài cánh đồng nằm lạnh lẽo trong 6 tấm ván hoặc chui vào lọ sành.

Đồng ý là phải có nhà cửa đàng hoàng nhưng đừng quá sức. Thử hỏi, mỗi ngày bạn ở nhà mấy giờ đồng hồ và khi ở nhà thì là hầu hết là lúc mình nhắm mắt. Vì thế, nhà …to hay bé, xấu hay đẹp cũng không có gì khác nhau là mấy.

2. Cho con cái quá nhiều

Người Việt Nam có câu “Hy sinh đời bố, củng cố đời con” thế nên, nhiều người có bao nhiêu cho con hết. Cho nhiều quá nên con cái chẳng biết tự lo gì, có khi 30 tuổi rồi vẫn còn phụ thuộc vào cha mẹ. Hơn nữa, nếu bạn cho con cái quá nhiều mà không lo được gì cho mình thì về già bạn sẽ làm cho con bạn phải khổ bởi bạn trở thành gánh nặng của chúng, đấy là chưa nói gì đến khi ốm đau, bệnh tật.

Cho con vừa thôi và quan trọng là cho nó thành NGƯỜI, cho khả năng tự lập mới là quan trọng. Có cho nhiều thì cũng đừng cho hết, hãy giữ lại một phần để tự lo cho bản thân khi tuổi cao, sức yếu để con cháu đỡ khổ. Đừng quên rằng, tiền bạc là quyền lực của người già.

3. Để bản thân đau ốm và tự móc túi mình khi vào bệnh viện

Nhiều người chúng ta, cứ mải mê làm ăn, tích cóp mà không nghĩ cách bảo vệ sức khỏe, tiền bạc của mình. Vì thế, đến khi vào bệnh viện, thay vì có chỗ họ phải trả tiền cho mình chăm sóc sức khỏe thì hầu hết chúng ta lại phải tự móc túi mình ra mà chi phí. Đó là lý do đã thoát nghèo rồi lại bị tái nghèo.

Khổ thân!

Ở đời có nhiều việc đừng làm, trong đó có 3 điều trên bạn nhé..!

Sưu tầm

Thống kê thế giới về Việt Nam.

Thống kê thế giới về Việt Nam.

Đất nước Việt Nam được hưởng nhiều thế mạnh về địa lý và thiên nhiên
Xét về những tiêu chuẩn chính: Việt Nam là một quốc gia GIÀU và MẠNH.
Rất nên đọc.

Nguồn: VANHOAVIET.INFO 
Posted on: 2018-07-28

***

Dân số:

Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những đơn vị chính được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 13 có dân số đông nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt dân số, Việt Nam không phải kém.

Diện tích:

Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những đơn vị chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia. Ở vị trí thứ 61, Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt diện tích, Việt Nam không phải là kém.

Duyên Hải:

Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt; vừa tiếp diện biển ở phía Đông, vừa dựa vào rừng cây và cao nguyên ở phía Tây. Việt Nam đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có bề dài duyên hải dài nhất thế giới với chiều dài duyên hải 3,444 cây số. Nên biết rằng, có 47 quốc gia trên thế giới hoàn toàn nằm trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 quốc gia có chiều dài duyên hải chưa đến 100 cây số. Bởi vậy, xét về mặt bề dài duyên hải, Việt Nam không phải là kém.

Rừng cây:

Việt Nam có tổng số diện tích rừng đứng hàng 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới với tổng diện tích rừng là 123,000 cây số vuông. Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt.Mặc dù rừng cây ở Việt Nam bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng.Bời vậy, xét về mặt diện tích rừng cây, Việt Nam không phải là kém.

Đất canh tác:

Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam không phải là kém.

Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý rất tồi:

1. Giáo dục:

Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.

2. Bằng sáng chế:

Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

3. Ô nhiễm:

Theo chỉ số ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

4. Thu nhập tính theo đầu người:

Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, Việt Nam lại đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.

5. Tham nhũng:

Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

6. Tự do ngôn luận:

Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press), Việt Nam đứng vị trí 174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.

7. Phát triển xã hội:

Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.

8. Y tế:

Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.

***

Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác?

Câu trả lời trước hết xin dành cho đảng cộng sản Việt Nam, kế đến là các bộ môn văn hóa & xã hội, cũng như đạo đức học & giáo dục học.

************************

Nguồn: VANHOAVIET.INFO
Thống kê thế giới về Việt Nam 
http://www.vanhoaviet.info/thong%20ke%20VN.htm