Ta xót thương, ta căm giận hung cuồng,

 Suy Tư Tin Mừng tuần 29 thường niên năm A 22/10/2017

 Tin Mừng  Mt 22: 15-21

Bấy giờ những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy.

Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giêsu rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?”

Nhưng Đức Giêsu biết họ có ác ý, nên Người nói: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. Người hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây?” Họ đáp: “Của Xêda.” Bấy giờ, Người bảo họ: “Thế thì của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”

 “Ta xót thương, ta căm giận hung cuồng,”

“Ta gầm thét, rung mấy trời thế sự.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch.

Hung cuồng giận căm, là cung cách của người thường, rất ở đời. Rung trời thế sự, cả khi con người dám vấn nạn Đấng Nhân Hiền về việc đóng thuế cho Xê-Da, như được diễn tả ở trình thuật.

Trình thuật, nay thánh Mát-thêu diễn tả về tình thế trong đó những người “hung cuồng” dám gài Chúa vào bẫy cạm của thế sự bằng vấn nạn:“Nên chăng trả thuế cho Xê-da?” Thế sự hôm ấy, đám Pharisêu ngạo mạn và nhóm giáo gian nịnh hót vua quan Hêrôđê ở Do thái, những muốn đặt Ngài vào tình huống nóng bỏng về phục vụ ngoại bang. Họ cứ nghĩ: Ngài có trả lời thế nào đi nữa cũng sẽ làm mất lòng dân. Nếu Ngài nói khác, cũng vẫn rơi vào tròng. Nói cho cùng, họ muốn đặt Ngài vào tình trạng phải đối đầu với phe thân thực dân, để rồi chịu mọi hậu quả. Thế nên, thánh Mátthêu gọi họ là “giả hình”. Nhưng kỳ thực, phải gọi họ là “đám sùng đạo gian giảo”, mới đúng.

Ngược giòng lịch sử, ta thấy đất nước Palestine của người Do thái lúc bấy giờ nằm dưới quyền kiểm soát của La Mã. Tức, những người chuyên bổ thuế nặng nề lên đầu đám dân đen hèn mọn rất thấp cổ bé họng. Vượt biên giới cũng đóng thuế. Mua bán/đổi chác bất cứ thứ gì, cũng chịu thuế. Thậm chí dân con người người còn phải đóng cả thuế đinh, tính trên đầu người nữa.

Thực tế khi ấy, Xê-Da là Tibêrius, con trai của Thượng tế Augustus được dân coi như ông Trời con, rất đáng gờm. Cả Augustus lẫn Tibêrius, vẫn coi mình thuộc giới thần linh, cần được kính nể. Các ông còn tự ban cho mình tước vị cao vời vợi như: lãnh chúa, đấng cứu độ chuộc tội cả thế gian. Và, cho mình có trọng trách quản cai cả thiên hạ. Nên, việc trước tiên của họ là phải chiến thắng về binh bị, và an bình là đoạn kết rất dĩ nhiên. Rốt cục, người thua cuộc phải chịu mất đi sự an bình, đành phủ phục dưới đất mà ngợi khen kẻ chiến thắng.

Trong giao dịch hằng ngày, người Do thái vẫn sử dụng nhiều tiền kẽm của La Mã. Thế nhưng, khi sử dụng đồng tiền ấy để trả thuế, họ lại coi đây như công việc về tôn giáo – như sùng bái hoàng đế và coi đó là lối sống theo kiểu La Mã. Có thể nói, đóng thuế là một trong các vấn đề đưa đến cuộc nổi dậy kết thúc bằng việc thành Giêrusalem bị phá huỷ năm 70. Thành thử, với người Do thái, đóng thuế là việc tựa hồ như thờ bái ngẫu thần vậy.

Trong cuộc đời công khai của Ngài, Đức Giêsu tỏ cho mọi người thấy lối sống khác kiểu của La Mã. Và, đây là lối sống tỏ bày sự chống đối đám thực dân này. Với Ngài, cuộc sống phải đặt nền tảng trên công bình chính trực với hết mọi người. Công bình và chính trực, khiến Cha Ngài và là Chúa của người Do thái luôn tôn trọng con người. Thiên Chúa là Đấng thiết lập giao ước với con người, bởi thế nên giữa họ sẽ không còn người nghèo, hoặc kẻ hèn nào hết.

Khi Đức Giêsu nói Nước của Thiên Chúa đã đến, thì người La Mã hiểu ngay điều Ngài muốn nói. Ngài nói thế, tức: vương quyền của Xê-Da đã đến hồi kết cuộc. Người La Mã nghe vậy đều coi đó như một bội phản rất trời long đất lở. Và, họ giết Ngài là vì thế. Nhưng Đức Giêsu tin là Thiên Chúa vẫn ở với người thua cuộc. Và Chúa đã bắt tay vào việc giùm giúp hỗ trợ kẻ đau khổ về sự bất công do người La Mã và các kẻ nịnh bợ họ đem lại. Thiên Chúa dọn sạch thế giới. Ngài làm bật gốc mọi bạo động và nhờ đó, đem lại cho con dân Ngài cuộc sống an bình, dễ chịu. Ngài có chương trình khác hẳn vua quan La Mã. Không nhất thiết phải chiến thắng về binh bị, mới có thể tạo được an bình. Nhưng, trước tiên phải tạo công bằng trước đã và từ đó an bình sẽ đến sau.

Về việc đóng thuế cho vua quan La Mã, đó không là trọng trách của dân con người Do thái. Mà là, vấn đề tôn giáo cũng như công bằng chính trực rất đậm sâu. Đức Giêsu đi thẳng vào trục vấn đề, bằng cách đòi xem hình vẽ trên đồng tiền quan. Tiền này, ai cũng có sẵn ở trong người, còn Ngài thì không. Bởi thế, Ngài mới hỏi họ là: hình của ai khắc trên đó, họ mới nói: quan tiền nào cũng mang hình tượng của Xê-Da. Và, Ngài bảo: “Vậy, các ông hãy đem trả cho Xê-Da, vì chính ông ta sở hữu nó”. Câu trả lời của Ngài mang ý nghĩa của động thái bước ra khỏi cung cách phụng thờ phục vụ để chỉ chấp nhận lý lẽ của thuế má, mà thôi.

Và Ngài tiếp: “Hãy trả lại cho Chúa, những gì thuộc về Ngài.” Điều này xác nhận một chân lý lâu nay vẫn sáng tỏ với mọi người, đó là: hình ảnh Thiên Chúa đã được ghi khắc nơi tâm khảm của mọi người, ngay khi họ được Giavê Thiên Chúa tạo dựng. Nhưng hôm ấy, thật sự Chúa không có ý ám chỉ về việc ấy mà Ngài chỉ muốn nói: Thiên Chúa, theo luật Torah, đã ngăn cấm loài người tạc hình tạc tượng của chính Ngài. Điều này cũng rất đúng, nhưng không phải Chúa muốn biểu tỏ vào hôm đó.

Ý nghĩa của câu Chúa nói không nằm trong bản Kinh thánh 70, tức: Chúa chỉ muốn bảo: thuộc về Ngài, là đám người nghèo hèn, những kẻ bị nhóm quan quyền thân La Mã chèn ép, hạ bệ. Hãy cho họ một cơ hội để có thể tự vươn lên. Hãy trả lại cho họ sự cộng chính, bình an, vốn là quyền của họ, trước mặt Thiên Chúa, cho dù họ có bị chính người La Mã và đám giáo gian nịnh hót luôn thử thách, coi thường. Với Đức Giêsu, đây mới là tôn giáo đích thực. Ngài vẫn nói lên sự thật ấy dù có bị người La Mã bắt giam và xử tệ trên khổ giá.

Đọc trình thuật hôm nay không phải để kể cho nhau nghe về đế quốc La Mã dù hào hùng. Bởi, đế quốc nào mà chẳng chèn ép bắt bớ dân con nghèo hèn, ở bên dưới. Thật buồn thay, khi ta thấy “các nền văn minh hôm nay vẫn tự cho mình là sáng giá” đều quay về với thể chế rất chèn ép, thống trị hệt một phường như lịch sử thường minh chứng.

Tác giả Dominic Crossan dùng cụm từ “về với cảnh tượng rất thường ngày” để tả về trạng thái của người Do thái. Thánh Phaolô lại nghĩ về nền văn minh “tai tiếng” thời đế chế Augustus và bạo chúa Nêrô sẽ cứ thế tràn về, nếu không ai cản ngăn bước chân bạo tàn của đám người ấy. Hôm nay đây, đế quốc phương Tây cũng sắp hàng dài chạy theo cùng một kiểu cách như thế. Đế quốc phương Tây xưa nay gồm từ Hy Lạp, cho chí La Mã, Anh quốc ở thế kỷ 18, 19 và Hoa Kỳ ở thế kỷ thứ 20, và tương lai có thể sẽ là Vaticăng của chúng ta cũng chưa biết chừng, nếu ta không đề cao cảnh giác!

Hệ thống đế chế luôn hứa hẹn hoà bình đến với con dân (như thể loại Pax Romana khi xưa) bằng chiến thắng rất binh bị. Nghĩa là, cũng khởi đầu bằng khổ ải, rồi lại chiến tranh tàn phá, kết cục bằng những động thái dương oai đắc thắng, tức: những động thái rất chễm chệ, ăn trên ngồi chốc của kẻ đắc thắng đi từ hệ cấp dũng mãnh uy lực, thứ hoà bình của kẻ chiến thắng có sự hỗ trợ của Aenaeas Mars Ultor, rồi cả Nữ thần Rôma và thần Sung Mãn, cứ thế mà sinh sản. Qui luật họ đưa ra, được viết trên đá cẩm thạch. Văn minh họ khởi xướng gồm cả chế độ cha chú, chủ trương duy trì nô lệ. Lối sống của họ tuy mang dáng dấp rất tôn giáo, có toà án lẫn bàn thờ, nhưng vẫn cứ tôn sùng con người là hoàng đế lẫn vua quan, lãnh chúa.

Chủ trương đế chế, nay được sử dụng như cụm từ để diễn tả một thế giới vẫn kéo dài sự thống trị mãi cho đến thế kỷ 20. Hôm nay, tệ hại hơn lại có chủ nghĩa toàn trị và khủng bố. Và, có thay đổi chăng, thì cũng chỉ thay và đổi cung cách cũng như kỹ năng sử dụng bạo lực bằng kỹ thuật thật tinh xảo hơn thôi. Với khí giới giết người hàng loạt mà chưa một đế quốc nào xưa nay từng nghĩ tới.

An nhàn và bình yên đã trở thành ngôn từ khó hiểu, rất nhiều nghĩa. Đối với ta, đôi khi còn trở nên trống rỗng. Dominic Crossan gọi đó là: ”Hoà bình trở nên thứ hàng trang trí ta treo lủng lẳng ở trên cây thế giới vào mỗi năm. Ta sẽ chỉ mang nó đi, theo cung cách của lịch sử mà thôi.”

Đức Giêsu khẳng định: “Bình an đến với anh em”. Bình an, Ta gửi đến với anh em là sự an bình Chúa hứa ban. Nhưng, Ta chỉ ban bình an ấy hoặc để lại bình an ấy cho mọi người, trừ phi anh em thực thi công bình của Chúa, đối với nhau. Đặc biệt hơn, là những người lâu nay bị chèn ép, bị khống chế tồi tệ, không ngóc đầu lên nổi vì thể chế thống trị đầy áp bức của cái-gọi-là văn minh, tân tiến ở mọi thời. May thay, Đức Giêsu kịp giải thoát ta khỏi chốn bi ai, trầm thống rất bất công. Để, ta về với nhau sống hài hoà, bình an, thương mến.

Trong nhận thức về sự giải thoát của Đức Chúa, ta lại ngâm lên lời thơ tuy rất khổ:

“Trông thấy ra, cả cõi đời kinh hãi.

Giòng sông con nép cạnh núi biên thuỳ.

Đường châu thành quằn quại dưới chân đi,

Xao động hết loài cỏ hoa đồng nội.”

(Đinh Hùng – Bài Ca Man Rợ)

Nay hết rồi, một bài ca man rợ ấy. Dù, đã kéo dài nhiều thế kỷ. Bởi, Đức Chúa Nhân Hiền kịp kéo ta về với hoà bình và công chính, Ngài hứa ban. Nhận ra thế, ta sẽ dâng lời cảm kích biết ơn hoài. Sẽ thương hoài ngàn năm, nay là thế.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn – 

Mai Tá lược dịch.

Mắt môi đây, xin em đừng chờ.

 HÃY YÊU NHƯ CHƯA YÊU LẦN NÀO – Ngọc Lan

httpv://www.youtube.com/watch?v=gQ6mbjtgU2w

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 29 thường niên năm A 22/10/2017

“Mắt môi đây, xin em đừng chờ”.

Chiếc hôn kia mong em từng giờ
Ngón tay kia xin chớ hững hờ.

Dắt nhau đi về trong đợi chờ.”

(Lê Hựu Hà – Hãy Yêu Như Yêu Lần Đầu)

(Mt 19: 10-12)

 Trần Ngọc Mười Hai

Đang yêu nhau, mà sao anh lại cứ ới gọi và nhắn nhủ những câu như: “xin Em đừng buồn!” “Cho em quên đi ngày dài”, “Với bao đêm suy tư miệt mài” và rồi cứ thế, và cứ thế, anh cứ khuyên và vẫn răn, bằng câu hát rất thêm thắt như sau:

“Hỡi em yêu, xin em đừng buồn.”

Có đôi khi anh hay giận hờn. “
Để cho em quên đi ngày dài.

Với bao đêm suy tư mệt mài

Biết bao ngày đã qua.

Biết bao chiều xót xa.
Ngồi đếm những giọt nắng.

Rơi rụng dưới mái hiên nhà.
Người sao chưa đến với ta.

Tình sao chưa thấy ghé qua.
Dù con tim vẫn thiết tha.

Mộng sưa cũng vơi theo tháng ngày.

Hãy cho nhau môi hôn nồng nàn.

Ngỡ mai sau duyên ta muôn màn.
Sẽ không ai cho ta vội vàng.

Mới yêu đây nay sao phủ phàng.
Hãy yêu nhau như chưa yêu lần nào.

Hãy cho nhau yêu thương ngọt ngào.
Hãy đưa nhau về nơi cuối trời.

Dắt nhau đi cùng nhau trọn đời.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Vâng. Quả có thế. Suy tư miệt mài, suốt ngày dài, dù “biết bao ngày đã qua” và những “chiều xót xa” ngồi đếm “những giọt nắng” “rơi rụng dưới mái hiên nhà”, vân vân và vân vân.

Vâng. Đúng như vậy. “Hãy (cứ) yêu nhau như chưa yêu lần nào”. “Hãy (cố) đưa nhau về nơi cuối trời” và rồi “Dắt (dìu) nhau đi cùng nhau (cho) trọn đời”. Ôi chao. Là ý-tứ của thi-ca với âm-nhạc. Ối chà, là ý-tưởng của người đời, với tình yêu.

Tình yêu trong đời, luôn có những mặt sáng chói, chiếu dọi lòng người ở khắp nơi. Dù, con người có ra chai đá đến thế nào đi nữa cũng vẫn còn yêu và cứ yêu. Yêu cho đến chết dù chỉ được sống với nhau, bên nhau theo cách nào đi nữa. Dù, đó có là sống “vầy vậy” hay sống theo cặp có hôn nhân/hôn-thú chính-thức hay không.

Tình yêu đôi lứa, có “vầy vậy” hoặc vẫn sống theo cặp chính-thức như hôn-nhân/hôn-phối hay không, lại vẫn trở-thành vấn-đề thời-thượng, rất hôm nay.

Vấn-đề thời-thượng của người hôm nay, lại đã kích-bốc/nổi lên như diều trên nhiều trang giấy, khiến bạn và tôi không thể không nghĩ đến và không thể không bàn cho ra nhẽ. Vấn-đề, vẫn là những vấn và đáp cho thật nhiều để rồi trở-thành đề-tài bàn thảo suốt nhiều kỳ như ở thị-trường chữ nghĩa của Úc, mấy hôm rày.

Thị-trường Úc, hôm nay, có tác-giả tên là Xavier Symons từng đặt tiêu-đề nổi cộm lại hỏi rằng: “Sao ta lại cứ bất đồng ý kiến về hôn nhân đồng-tính đến là thế?” Và, ông đã viết gần 5 trang giấy đặt vấn-đề đại để những bảo rằng:

“Tranh-luận về hôn-nhân đồng-tính lâu nay khiến người Úc nổi quạu hơn một thập-niên. Thế nhưng, lời lẽ trong tranh-luận chưa bao giờ huyên-náo như hôm này. Cả phía đối-lập cùng giới ủng-hộ cho hôn-nhân đồng-tính đều nhất-trí với nhau ít nhất điều này: quyết-định là do người trả lời cho cuộc trưng-cầu-dân-ý đều bao-hàm chuyện căn-bản cho xã-hội và văn-hoá Úc.

 Người bầu phiếu nói tiếng “Không”, tức: không ủng-hộ hôn-nhân đồng-tính lại đã biện luận rằng: quyền-tự do căn-bản về tôn-giáo sẽ bị đe-doạ trầm-trọng nếu như định-nghĩa hôn-nhân bị thay-thế. Và những người trả lời tiếng “Có”, tức nhất-trí ủng-hộ cho hôn-nhân đồng-tính lại thấy đây là sự sống còn tồn-tại trong việc loại bỏ thành-kiến xã-hội và hành-vi thù-địch với thành-viên cộng-đồng cùng một giới-tính…” (X. Xavier Symons, “Why can’t we agree on same-sex marriage?”Deep currents within our culture keep the opposing sides from communicating with each other, MercatorNet.com 25/9/2017)

Bầu phiếu “Không” hay “Có” cho lắm, người bầu cũng bị rơi vào tình-huống rối bời vì chính mình không nắm được thực-tế của đời người đang diễn-tiến. Diễn-tiến cách xuôi chảy hay khập-khiễng, vẫn là tình-trạng cố-hữu thường xảy ra khi xã-hội người đời đang bị kích-bốc đến khó xử.

Và hôm nay, chuyện khó xử còn thấy thể-hiện ở nhiều địa-hạt và cuộc đời con người. Rõ nhất là, các địa-hạt có liên-quan đến chuyện Đạo, việc đời thời hôm nay. Chính vì thế, mà hôm nay lại thấy có độc-giả gửi thắc mắc đến đấng bậc chuyên giải-đáp trên tuần báo The Catholic Weekly ở Sydney như sau:

“Thưa Cha

Nay thì cuộc trưng-cầu dân-ý về vấn đề hôn-nhân đồng-tính đổ lên đầu mọi người, đà thấy rõ. Có thể nào xin cha tóm tắt các biện-luận có lợi cho hôn-nhân theo truyền-thống cũ, để rồi con đây hiểu rõ được đôi chút?”

 Hỏi như thế, thì có đấng bậc nào lại không trả lời/trả vốn cho ra lẽ. Cái lý lẽ mà phần đông người thời nay lại cứ để quên ơ đâu đó, xa con tim. Hỏi như thế, chắc chắn là đấng bậc sẽ lấy giấy bút ra mà trả lời, ngay lập tức, rất như sau:

“Cuộc Trưng Cầu Dân Ý vừa qua, là để người dân Úc có cơ-hội noi lên tiêng nói của mình về vấn-đề quan-trọng mà bất cứ xã-hội nào cũng phải đối đấu. Đó là: bẩn-chất rất thực của hôn-nhân. Và, cùng với vấn-đề này, là gia đình. Hôn-nhân và gia-đình, là khúc xương trụ cột của xã hội. Gia-đình tiến đến đâu, thì rồi xã-hội cũng tiến đến đó.

 Nếu gia-đình vũng-mạnh và bậc mẹ cha đoàn-kết với nhau, thì con cái sẽ tang-trưởng mà học cách thương-yêu và được yêu-thương. Con cái học-hỏi về các đặc-trưng của xã-hội như: sống tử tế, ăn ở rộng lượng, biết thứ tha và sống thật-thà rồi đem các đặc-trưng/đặc-thù của đời sống mình học hỏi vào với cộng-đồng rộng lớn hơn.

 Xã-hội sẽ nên lành-mạnh, nếu gia-đình ăn ở đàng hoàng. Nhưng, nếu gia-đình lục-đục thì toàn xã-hội cũng sẽ khổ-đau. Bởi thế nên, cuộc Trưng Cầu Dân Ý vừa rồi có tầm quan-trọng, thật thiết-yếu.

 Vậy, đâu là vấn-đề chủ-chốt trong tình-hình hôm nay? Có tất cả 6 điềm ta cần phải xem xét kỹ.

 Thứ nhất, và cũng là sự việc quan-trọng nhất, đó là khẳng định: chúng ta không hề chống-đối lại gần gũi, rất chung đụngchuyện những người đồng-tính luyến-ái quyến rũ nhau mà sống gần gũi, chung đụng. Họ là những con người giống bất cứ ai khác. Họ đều được cứu-rỗi nhờ Đức Giêsu Kitô đã chịu chết để cứu chuộc họ. Và, thiên-đường vẫn chừa chỗ chờ đợi họ gia-nhập cùng với mọi người, miễn là họ sống/chết tốt lành, hạnh đạo. Ta luôn có bổn-phận phải yêu-thương và tôn-trọng hết mọi người trong họ. Những người như thế, có thể là bậc con cháu, an hem chị em ruột thịt với ta hoặc bạn bè/người thân, hoặc như đồng-hương/đồng-nghiệp, vẫn rất gần.

 Thứ hai là, hôn-nhân, tự bản-chất, luôn là sự phối-kết giữa nam-nhân và nữ-giới đưa con cháu đi vào hiện-diện với thế-giới. Ta không thể đổi thay chuyện này, được. Đó, chio1nh là sự việc vẫn xảy đến như thế và đó cũng là lý-do khiến mọi quốc-gia trên thế-giới đều có luật-lệ để bảo-vệ hôn-nhân. Còn, việc phối-kết giữa hai người đồng phái-tính, tự nó, lại không thể tạo nên con trẻ được.

 Nói đơn-giản, thì: đây không phải là hôn-nhân. Nên, không không thể có “hôn-nhân đồng-quyền” giữa hai người nam hoặc hai người nữ cùng phái-tính. Một đằng thực-sự là hôn-nhân, còn đằng kia thì không phải.

 Thư ba là, đi đầu phiếu nói tiếng “Không” với hôn-nhân đồng-tính, không là hành-động kỳ-thị chống lại người đồng phái-tính quyến rũ ăn ở với nhau, chút nào hết. Cũng hệt như bậc cha mẹ không thể lấy con cái của mình làm vợ làm chồng mình được. Cũng hệt thế, anh em, chị em cũng không thể lấy nhau làm vợ làm chồng, thì rõ ràng là: hai người cùng phái-tính cũng không thể làm đám cưới ăn ở với nhau thành cặp phối ngẫu đồng phái-tính được.

 Hai người đồng phái-tính có thể yêu thương nhau, nhưng mối tương-quan yêu-thương ấy không có nghĩa-là hôn-nhân thực-thụ bao giờ hết. Nói như thế, không có nghĩa là ta kỳ-thị họ; nhưng đúng hơn, ta chấp-nhận một thực-tại vẫn đặt nền-tảng nơi bản-chất con người.

 Thứ tư là, nỗi-niềm phúc-hạnh của con cái sẽ gặp hiểm nguy. Có rất nhiều công-trình nghiên-cứu/khảo-sát cho thấy: trên hết mọi sự, con trẻ được nuôi theo cùng phái-tính, trên thực-tế lại đạt kết-quả tồi-tệ về mọi mặt, nếu ta so sánh với các trẻ bé do chính cha mẹ chúng nuôi nấng giáo-dục . Nói cho cùng, thì nếu ta đem con cái ra khỏi môi-trường gia-đình không để cho bậc mẹ cha của chúng nuôi nấng, thì trẻ bé sẽ bị thiệt-thòi vô kể, dù trẻ bé ấy được thương-yêu/chiều-chuộng cách nào đi nữa, cũng thế.

 Tình thật mà nói, nhiều con em của các cặp vợ chồng khác phái-tính, cuối cùng đi đến tình-trạng chỉ một trong hai người hoặc bố hoặc mẹ nuôi-dưỡng khi một trong hai vị này quá vang, hoặc chia tay/ly-dị, thì con cái sẽ đi đến kết-quả là chúng phải chịu đau khổ như thế nào. Và, ta cũng không thể tạo sự-kiện này thành chẩn-mực chung cho mọi người được.

 Thêm vào đó, mức-độ bền-bỉ nói chung của các mối tương-quan giữa hai người đồng phái-tính thường kéo dài chỉ trong vòn hai hoặc ba năm là cùng. Vậy thì, đâu là điểm tốt lành cho con cái họ đây?

 Thứ năm là, các giá-trị khác cũng sẽ phải chịu cảnh hy-sinh, bị loại bỏ nếu như chính-quyền hợp-thức-hoá hôn-nhân đồng-tính. Mới đây, ta đều thấy điều ấy trên truyền-hình của Úc vào ngày Nhớ Ơn Cha tháng 9/2017 trên màn hình nhỏ có người cha hát bài “Con chuột túi”cho con nhỏ mình nghe, nhưng ông phải ngưng nửa chừng vì bị coi là bài hát nghiêng về chính-trị quá nhiều.

 Nay hỏi rằng, ta đang đi về đâu đây? Chừng nào thì mọi người sẽ không còn mừng lễ Nơ Ơn Cha, hoặc Ngày Mẹ Hiền, nữa đấy? Và trong tường-lai mai ngày, khi bé em lọt lòng mẹ chào đời, sẽ không còn ai ghi tên cha hoặc tên mẹ của bé lên giấy khai-sinh nữa. Nhưng, thay vào đó, chỉ mỗi ghi: Cha hoặc mẹ số 1, mẹ hoặc cha số 2 như nhiều nước trên thế-giới đang làm thế.

 Các hiện-tượng như thế, đều gây tổn-hại cho hai bê, cả người cha lẫn mẹ hiền của mình, nếu ta đi đến gia-đoạn hợp-thức-hoá hôn-nhân đồng phái-tính. Đó là chưa kể đến Chương-trình “An Toàn Trường Lớp” nhằm nhắc cho con trẻ biết rằng: hôn-nhân đồng phái-tính là chuyện tốt lành, rất bình thường (?)

 Điều thứ sáu , như ta thường thấy xảy ra ở một số quốc-gia trên thế-giới và cả ở Úc này cũng thế, người lại nói đến tự-do tôn-giáo, tự-do ngôn-luận để bênh-vực cho hôn-nhân theo truyền-thống và chuyện con người có quyền dựa vào lương-tâm mà từ-chối hợp-tác tham-dự đám cưới giữa hai người đồng phái-tính đặt thành vấn-đề ; và có khi còn bị phạt vạ nữa. Toàn thế-giới rất mới rất quả cảm, đang ở đâu đó quanh chúng ta.

 Thành thử, cuộc Trưng Cầu Dân Ý vào tháng 9/2017 ở Úc quả là sự-kiện quan-trọng cho tương-lai của nước này, thật cần-thiết. Điều nguy-hiểm, là: sự sống tốt lành trong xã-hội đang lvấn-đề. Ta không được phép đổi thay luật-lệ chỉ vì lợi-ích của một nhóm người rất ít ỏi.

 Tại Canađa chẳng hạn, sau 10 năm họ hợp-thức-hoá luật hôn-nhân đồng phái-tính, thì chỉ có mỗi 24% cặp phối-ngẫu chịu đăng ký như thế mà thôi. Và, hậu-quả xảy đến với nh6n-nhân, gia-đình, con cái và xã-hội nay quá lớn. Đi bầu phiếu để nói được tiếng “Không!” với hôn-nhân đồng phái-tính, tức là: ta đã bầu “Có!” cho gia-đình và xã-hội, vậy.” (X. Lm John Flader, Same Sex Marriage’s collateral damage goes in all directions, The Catholic Weekly, Question Time 24/9/2017, tr. 25)

Nghĩ gì thì nghĩ, Bầu gì thí bầu. Lập-trường nói “Có!” hoặc “Không!” với người mình thương yêu, sẽ mãi mãi trở thành đề-tài để ta suy nghĩ.

Bởi thế nên, nay đề-nghị bạn, đề-nghị tôi, ta hãy về lại vườn thượng uyển có Lời Vàng thánh-nhân khi xưa từng khuyên-nhủ, rằng:

“Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ,

thì thà đừng lấy vợ còn hơn.”

Nhưng Ngài nói với các ông:

“Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy,

nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu.

Quả vậy, có những người không kết hôn

vì từ khi lọt lòng mẹ,

họ đã không có khả năng;

có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn;

lại có những người tự ý không kết hôn

vì Nước Trời.”

(Mt 19: 10-12)

Bởi thế nên, nhiều người những tưởng rằng: đấng bậc nhà Đạo của ta trả lời như trên chỉ để cho xong chuyện. Nhưng, đấng bậc rất đạo nhà mình, là đấng bậc chọn đời độc-thân, nên đôi lúc thấy hơi khó. Khó, nhiều thứ chứ không chỉ mỗi chuyện hôn-nhân, hôn-phối hoặc hôn-lễ cứ lễ mễ như nguyên-tắc của nhà Đạo.

Thôi thì, đời người cũng xảy ra lắm thứ chuyện không ưng ý về nhiều mặt. Chí ít là mặt đạo-đức khiến nhà Đạo mình hôm nay cứ phải cân-nhắc từng li từng tí, cho dễ sống. Cân và nhắc cho lắm, lại vẫn gặp nhiều trục-trặc trên thực-tế đời người đi Đạo, rất phiền hà.

Thôi thì, để hiểu rõ cho sát các tình-huống trong đời, hôm nay, chi bằng ta đi vào vùng trời truyện kể để minh-hoạ cho một cuộc sống rất nhiêu-khê, nhiều bề rắc rối, mà rằng:

                  

Như truyện kể, hãy cùng nhau vững tâm mà sống hung/sống mạnh dù người đời đi Đạo có đổi thay lập-trường sống của họ đến thế nào đi nữa.

Nghe kể rồi, nay ta hãy vững tâm mà hãnh-diện rồi, đầu cao/mắt sáng cứ hát vang các ca-từ rất đẹp vừa trích ở trên, mà rằng:

Biết bao ngày đã qua.

Biết bao chiều xót xa.
Ngồi đếm những giọt nắng.

Rơi rụng dưới mái hiên nhà.
Người sao chưa đến với ta.

Tình sao chưa thấy ghé qua.
Dù con tim vẫn thiết tha.

Mộng sưa cũng vơi theo tháng ngày.

Hãy cho nhau môi hôn nồng nàn.

Ngỡ mai sau duyên ta muôn màn.
Sẽ không ai cho ta vội vàng.

Mới yêu đây nay sao phủ phàng.
Hãy yêu nhau như chưa yêu lần nào.

Hãy cho nhau yêu thương ngọt ngào.
Hãy đưa nhau về nơi cuối trời.

Dắt nhau đi cùng nhau trọn đời.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

 Mong rằng, lời ca tiếng hát ở trên sẽ là nguồn hứng-thú để bạn và tôi, ta vui sống những ngày còn lại trong đời. Dù, cuộc đời có đổi thay. Dù, lòng người có ra thế nào đi nữa, cũng cứ mặc.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ mặc mọi người

Từng đổi thay/thay đổi auqn-niệm sống

Thì tôi đây

Vẫn thân-thương, trân-trọng

Hết mọi người.

“Phóng viên của BBC đang nói về không khí căng thẳng tại Đại hội 19 thì kết nối bị gián đoạn

From facebook :  Trần Bang
 

Có phải bóng ma cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ của hàng triệu người dân TQ ở Thiên An Môn tháng 5,6/1989 còn ám ảnh ĐCSTQ?

“Phóng viên của BBC đang nói về không khí căng thẳng tại Đại hội 19 thì kết nối bị gián đoạn

Tổng biên tập ân Bắc Kinh phải đối mặt với không khí căng thẳng thì kết nối bị gián đoạn.

Theo tin từ tờ The Guardian, khi sự việc xảy ra, Carrie Gracie đang giới thiệu ngắn gọn về tình hình căng thẳng tại Bắc Kinh trong thời gian diễn ra Đại hội 19.

“Đây không phải là hội nghị đảng phái mà người Anh đã từng thấy …. không có đoàn thể nào cổ vũ nhảy múa, không có đoàn thể nào kháng nghị, cũng không có tiếng nhạc nào để chào mừng bài diễn giảng của người lãnh đạo”.

“Đây là hội nghị quan trọng của chế độ độc tài Đảng Cộng sản Trung Quốc, có tới 2000 quan chức tham gia, toàn bộ Bắc Kinh vì thế mà ngạt thở”.

“Ví như, trong cửa hàng ăn ở Bắc Kinh không được có lửa sáng, dịch vụ chia sẻ chỗ ở AirBnb không có khách hàng, nếu muốn vào Bắc Kinh, các bước kiểm tra an ninh sẽ khiến tài xế mất 90 phút.” Carrie Gracie còn nói, do sợ có phản hồi tiêu cực, chính quyền Trung Quốc còn đóng một phần bình luận trên trang mạng của hệ thống vận tải.

Người dẫn chương trình tại trường quay John Humphrys đặt câu hỏi, tại sao chính quyền Trung Quốc lại đưa ra hạn chế an ninh nghiêm ngặt đến thế, rốt cuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc sợ điều gì, thì đột nhiên kết nối bị gián đoạn.

Mấy phút sau, khi Carrie Gracie lại kết nối trở lại, bà đoán sở dĩ kết nối bị gián đoạn là do vừa nãy bà đã nói đến chủ để mà phía Trung Quốc cho là nhạy cảm. Carrie Gracie cũng nói, thời gian gần đây, mỗi khi nhắc đến chủ đề nhạy cảm thì mất kết nối.
….
http://trithucvn.net/…/3000-phong-vien-tap-trung-de-dua-tin…

Image may contain: one or more people and text

SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO

SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO

 ĐGM Giuse Vũ Văn Thiên

Từ 82 năm nay, ngày Chúa Nhật giữa tháng 10 dương lịch được chọn làm Ngày thế giới truyền giáo.  Nhân dịp này, Đức Giáo Hoàng thường công bố một sứ điệp kêu gọi cộng đoàn Công giáo thế giới hãy suy tư và hành động để tham gia sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội.  Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô đã nêu rõ tính cách thánh thiêng của sứ mạng truyền giáo, vì đây “là một ân sủng, một ơn gọi xứng hợp và căn tính sâu xa nhất của Giáo Hội” (trích Tông Huấn Loan báo Tin Mừng số 14).  Truyền giáo chính là lệnh truyền của Đấng Cứu Thế với các môn đệ trước khi Người về trời.  Công cuộc truyền giáo càng trở nên cấp bách hơn nữa trong thời đại hôm nay, khi con người càng ngày càng tỏ ra dửng dưng đối với tôn giáo và những giá trị tâm linh.

Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được trở nên con cái của Thiên Chúa.  Bí tích này cũng mời gọi chúng ta trở nên môn đệ và tông đồ của Đức Giêsu, qua những cố gắng của bản thân trong cuộc sống mỗi ngày.

Trở nên môn đệ là muốn sống đời nội tâm, thực thi Lời Chúa và gắn bó với Người, tức là nên thánh.

Trở nên tông đồ là mong làm cho nhiều người hiểu biết Chúa và đi theo làm môn đệ Người, tức là truyền giáo.

Môn đệ và tông đồ, hai sứ mạng này có tương quan mật thiết với nhau đến nỗi trở thành một ơn gọi duy nhất.  Không thể làm tông đồ nếu trước đó không trở nên môn đệ; cũng không thể là môn đệ đích thực nếu không thao thức làm việc tông đồ.

Truyền giáo là gì?

 Chúng ta thường xuyên nghe nói về từ này.  Nguyên gốc của từ này là một danh từ tiếng La-tinh Missio, động từ là Mittere.  Từ này có nhiều nghĩa, và một trong những nghĩa thường được hiểu là gửi đi, sai phái đi để làm một công tác quan trọng.  Đức Giêsu chính là Đấng được Đức Chúa Cha sai đến trần gian để cứu độ con người và tạo vật.  Chính Đức Giêsu cũng sai các môn đệ ra đi, lên đường để cộng tác với Người trong sứ mạng cao cả này.

Truyền giáo trước hết là “ra đi” khỏi chính con người của mình: Chúng ta ai cũng có khuynh hướng ích kỷ, khép kín và coi mình là trung tâm.  Chúng ta thường lấy mình làm tiêu chuẩn để phán đoán người khác.  Ai không có lối suy nghĩ giống chúng ta thì bị phê bình chỉ trích.  “Ra đi” khỏi cái tôi của mình, tức là chấp nhận người khác cùng với ý kiến lập trường của họ, là quảng đại bao dung khi bị xúc phạm.  Truyền giáo chính là thoát ra khỏi vỏ bọc ích kỷ để hòa đồng với anh chị em mình, tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận những hy sinh vì ích chung.  Các môn đệ đầu tiên, khi nghe Đức Giêsu kêu gọi, đã bỏ mọi sự mà theo Người.  Các ông từ bỏ những dự tính nghề nghiệp, từ bỏ môi trường gia đình, làng xóm.  Các ông không hề băn khoăn lo lắng cho ngày mai, nhưng sẵn sàng bước theo Thày, vì các ông tin rằng theo Thày sẽ không phải thiệt thòi thất vọng.

Truyền giáo còn là “ra đi” khỏi những định kiến: Cuộc sống này được dệt lên bởi những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ.  Bước ra khỏi những định kiến để đón nhận tha nhân trong tình huynh đệ hài hòa, không phân biệt lập trường chính trị, tôn giáo hay quan điểm xã hội.  Một cộng đoàn đức tin gò bó trong quan niệm khắt khe không thể truyền giáo có hiệu quả.  Một Giáo Hội dửng dưng với những giá trị trần thế, hoặc khép mình trước những biến cố vui buồn của cuộc sống xã hội chung quanh, sẽ là một Giáo Hội ảm đạm u sầu thay vì hân hoan hy vọng.  Một cộng đoàn không dấn thân phục vụ con người sẽ trở nên một thứ ao tù không lối thoát và thiếu sinh khí.

Nhờ hai yếu tố nêu trên, chúng ta tiến tới một điểm cuối cùng, cũng là điều quan trọng nhất, truyền giáo chính là kể lại cuộc đời của Đức Giêsu.  Câu chuyện về Đức Giêsu đã được kể từ 2000 năm nay mà không lỗi thời.  Lời giảng của Đức Giêsu đã được loan báo từ 20 thế kỷ mà vẫn không mất tính thời sự.  Cuộc đời Đức Giêsu đã và đang được kể lại một cách phong phú không những chỉ qua sách vở, mà còn qua chính cuộc đời của các tín hữu.  Xuyên qua con người của họ, người ta đọc thấy chính cuộc đời của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã cảm thông với người đau khổ, đã chữa lành người bệnh tật, đã phục sinh người chết, đã chúc lành và đã chia sẻ niềm vui với đôi tân hôn trong ngày cưới.  Như vậy, truyền giáo chính là sống như Đức Giêsu đã sống, yêu như Đức Giêsu đã yêu.  Truyền giáo là có trái tim như trái tim của Chúa, có đôi mắt như đôi mắt của Chúa.  Trái tim để yêu và đôi mắt để trao gửi tình thân thiện.

Như thế, truyền giáo không buộc phải làm điều gì to tát ồn ào, mà khởi đi từ những gì rất âm thầm bình dị trong cuộc sống.  Chính những hành động bình dị đó có thể mang lại những hiệu quả lớn lao, khi chúng ta thực hiện với thao thức truyền giáo.

ĐGM Giuse Vũ Văn Thiên

From Langthangchieutim

BAO NHIÊU NÉN NHANG CHO NHỮNG CÁNH RỪNG ĐÃ MẤT?

 
 
Christina Le added 3 new photos — with Lisa Vu and Người Đem Tin.
 

BAO NHIÊU NÉN NHANG CHO NHỮNG CÁNH RỪNG ĐÃ MẤT?

“Rừng là vàng, chặt một cây cũng phải thắp nhang lạy” (Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc). Chẳng biết, chúng ta phải thắp bao nhiêu nén nhang để lạy cho những cánh rừng đã mất?

Cùng với phong trào thuỷ điện, “sáng kiến” đổi rừng nghèo trồng cao su nhiệm kỳ “đồng chí X” là một chủ trương phá rừng tàn khốc. Chưa nhiệm kỳ nào, chính phủ phá rừng tàn khốc như thời của X.

Tôi nhớ, trên hết thảy các diễn đàn ngày đó, người ta hùng hồn tuyên bố “cao su cũng là rừng”.

Cao su, không chỉ Tây Nguyên, không chỉ miền Đông Nam Bộ. Các tỉnh miền Trung bão lũ cũng cao su. Cao su tấn công cả những mảng rừng Tây Bắc.

Cựu uỷ viên trung ương, nguyên Bí thư tỉnh uỷ ĐăK LăK Y Luyện Niêk Đăm từng đau đớn thốt lên “Dốt, thiếu hiểu biết. Cao su không phải là rừng. Cà phê cũng thế. Rừng có con suối róc rách, có chim muông, có hồn cốt. Ấy mới gọi là rừng”.
Không chỉ cướp mất chim muông, hồn cốt của núi rừng. Giờ đây là sinh mạng con người.

Chỉ vài trận mưa là núi lở lũ trôi. Lũ lụt không chỉ miền Trung, nhà ngập xác trôi ở những nơi tưởng như không bao giờ nghe đến lũ.

Có ai không lặng người trước những hình ảnh này? Xác lợn như xác người. Và xác người, cũng lềnh bềnh như… xác lợn. 

Ai thắp nhang đây? Bao nhiêu nén nhang cho những xác người này? Và bao nhiêu người biết giật mình hoảng hốt chắp tay lạy cát, như ông cựu Bí thư Hội An Nguyễn Sự?

(Trương Duy Nhất)

Từ Thức: CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

Từ Thức: CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

Tại sao cái tôi, cái ‘’ égo ‘’ của người Việt lớn thế ? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ : tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế ?

Một lần ngồi nhậu với 5 ông, có cảm tưởng ngồi với 5 giải Nobel văn chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói ‘’ ông ‘’, vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Beaudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.

TÔI, TÔI, TÔI

Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dầy đặc những chức tước, trong đó có ‘’ nhà nghiên cứu ‘’. Những người quen không biết ông ta nghiên cứu cái gì, lúc nào. Tôi đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vẫn vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tầu hũ.

Nghĩ cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như VN. VN, xứ của văn hoá Phật giáo, một tôn giáo coi cái ngã là hư cấu, cái tôi không có thực. Nơi chịu ảnh hưởng Lão giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người công giáo thực hành đạo nhiệt thành, và Công giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu.

Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo ?

Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực: tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, trong những cơ hội hơi chính thức, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc.

TÔI LÀ CHÂN LÝ

Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ: không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay ? Bởi vì cái tôi nó lớn quá.

Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng : ông nội này mất gốc rồi.

Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ta, xúc phạm Chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo , chụp mũ.

Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm ? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người ‘’ mang dép râu mà đi vào vũ trụ ‘’ có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.

Trong y học,  égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong 9 trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại ( complexe de supériorité ) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).

Những người có thực tài rất khiêm nhượng, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình. Và thường thường thất vọng.

Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.

ĐÈN DẦU VÀ ĐÈN ĐIỆN

Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra đèn điện. Người Việt ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ ‘’ tự sướng’’ quá. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.

Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở ‘’période rose ‘’ (thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có ‘’période bleue’’, thời kỳ xanh. Nếu thoả mãn với ‘’période bleue ‘’ sẽ không có tranh trừu tượng, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin maître ký tên. Picasso trả lời: tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.

Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên,  chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông ta  là người Tây Ban Nha, hỳ hục tìm tòi cho tới chết.

Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn chương.

Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.

Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói : thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.

NGƯỜI VÀ TA

Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về Niết bàn của Phật giáo với thiên đàng của Thiên Chúa giáo.

Ông là một người công giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.

Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV , chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.

Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu , như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra ‘’Saint-Francois d’Assise‘’ của ông được trình diễn trên khắp thế giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.

Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng- một cách kín đáo- các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót. 

Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại , tuần trước còn là thượng khách của hoàng gia Thụy Điển.

Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien- chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – VN sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào : tại sao tôi tài giỏi quá như vậy. Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.

Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.

Từ Thức

( Paris, tháng 10. 2017 )

KHI HÀNH KHÁCH ViỆT CỘNG ĐI MÁY BAY MỸ .

From facebook:   Tai Nguyen shared Nhi Nguyễn‘s post.
 
Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 1 person, sitting and indoor
Image may contain: airplane, sky and outdoor
No automatic alt text available.
Nhi Nguyễn added 4 new photos.Follow

 

KHI HÀNH KHÁCH ViỆT CỘNG ĐI MÁY BAY MỸ .

( Bài học cho những kẻ dựa hơi đảng quen thói hà hiếp dân đen tại Vn )

Chuyến bay từ Long Beach- San Francisco có một đoàn khách du lịch Việt cộng khoảng 10 người, họ ăn mặc rất đẹp (quần áo, giày dép, túi xách tay toàn đồ hiệu đắt tiền…)

Khi check-in hành lý do hành lý xách tay quá quy định (over 15 bs= 7 kgs) nên không được phép mang lên máy bay. Khi lên máy bay họ yêu cầu tiếp viên : ” Can you keep my suitcase for me?”, họ chỉ lên overhead locker. Cô tiếp viên người Á Đông nói: “You have to do it by yourself” và điềm tĩnh đứng nhìn họ tự làm.

Họ lẩm bẩm chửi rủa bằng tiếng Việt : “Bọn cà chớn…tiếp viên gì mà mất dạy, vô lễ… Ở Việt Nam mà như vậy …tao tát cho vãi cái… Lờ…!!!”. Cô tiếp viên im lặng chờ họ làm xong, yêu cầu họ ngồi xuống, cài dây an toàn lại và quay về vị trí để máy bay cất cánh.

Khi máy bay vừa bay ở độ thăng bằng, cô tiếp viên đi xuống cùng 1 người tiếp viên nam (khoảng 50 tuổi , trưởng toán tiếp viên) và nói chuyện với những người hành khách Việt.

Cô ta giới thiệu bằng tiếng Việt : Tôi là người Mỹ gốc Việt, hồi nãy các anh chị lên máy bay có thái độ cư xử và ăn nói khiếm nhã thô tục, vì vậy tôi yêu cầu trưởng toán xuống đây để giải quyết vấn đề với quý vị :

1./ Chúng tôi chỉ giúp đỡ những người cần được giúp đỡ.
2./ Chúng tôi không cho phép bất cứ người nào coi thường nghề nghiệp của chúng tôi.
3./ Chúng tôi yêu cầu quý vị phải xin lỗi về lời nói của quý vị.

30 giây im lặng, một người trong số họ lên tiếng đính chính: “Tôi tưởng khách hàng là “THƯỢNG ĐẾ” và tiếp viên phải phục vụ “THƯỢNG ĐẾ” vì chúng tôi đã bỏ tiền ra mua vé máy bay nên chúng tôi có quyền…”.

Sau khi nghe cô tiếp viên dịch lại, người trưởng toán tiếp viên nói:

“Quý vị không phải THƯỢNG ĐẾ hay NỮ HOÀNG (King or Queen). Quý vị là hành khách.

Quý vị phải bỏ tiền ra để mua vé để được chúng tôi vận chuyển. Chúng tôi cần hành khách, nhưng là hành khách tốt, không cần hành khách xấu, và quý vị phải tuân theo luật lệ và quy định của chúng tôi.

Vì vậy chúng tôi sẽ từ chối quý vị trên những chuyến bay của chúng tôi. Nếu quý vị đã mua vé cho những chuyến bay sau, chúng tôi sẽ hoàn trả lại tiền.

Quý vị liên lạc với văn phòng hãng để lấy lại tiền và yêu cầu quý vị ký vào giấy tờ từ chối vận chuyển, đồng thời chúng tôi sẽ gửi thông báo và gửi tất cả các thông tin của quý vị đến tất cả các hãng hàng không của Hoa Kỳ”.

15 phút sau, tất cả 10 người đều phải ký vào biên bản.
Tất cả các hành khách chung quanh đều nhìn họ và lắc đầu khinh bỉ.

Riêng tôi cảm thấy xót xa và buồn cho họ. Tuy không còn là tiếp viên của E-VN nhưng tôi vẫn rất buồn và mất ngủ nhiều đêm chỉ vì câu hỏi :

“Các bạn của tôi ơi ! Bao giờ các bạn mới có đủ can đảm, mạnh dạn và tự tin để đối đáp và cư xử như cô tiếp viên người Mỹ gốc Việt này ? “

– Tác giả : Nhà văn , nhà phê bình văn học nghệ thuật Bùi Bảo Trúc ( Hoa Kỳ )

Cần phải định nghĩa lại, thế nào là an ninh quốc gia ?

From facebook:   Trần Bang shared Thu Ngoc Dinh‘s post.
 

Cần phải định nghĩa lại, thế nào là an ninh quốc gia ?
Các yếu tố cấu thành tội phạm lật đổ chính quyền là gì?

Một cháu bé đứng cạnh một chiếc xe tải thô cũ, bẩn thỉu (không phải của nó) và nói “ ôi cái xe xấu xí, gớm ghiếc quá”. Ông chủ xe tải nghe thấy và vu cho cháu bé “ có âm mưu lật đổ “ chiếc xe của ông ta có đúng không? 
Cháu bé có lật được chiếc xe tải chục tấn dù là xe thô cũ bẩn.. không ?

 
Image may contain: 1 person, closeup
Thu Ngoc DinhFollow 

 

Công an Hà Tĩnh lại bắt người! Người phụ nữ này có gì trong tay mà lật đổ chính quyền, để bị bắt vì tội: “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”?

Bản tin TTXVN: Bắt khẩn cấp Trần Thị Xuân về hành vi nhằm lật đổ chính quyền

Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Hà Tĩnh cho biết vừa thi hành lệnh bắt khẩn cấp đối tượng Trần Thị Xuân, sinh năm 1976, trú tại xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh về hành vi “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,” quy định tại Điều 79, Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Hà Tĩnh, việc tổ chức và thi hành lệnh bắt khẩn cấp đối tượng Trần Thị Xuân đảm bảo đúng trình tự, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hiện, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh đang hoàn tất thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam Trần Thị Xuân để phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định của pháp luật./.

https://www.vietnamplus.vn/bat-khan-cap-tran-thi…/471310.vnp

Ảnh: Trần Thị Xuân, báo Hà Tĩnh

HÃY THONG THẢ SỐNG

 HÃY THONG THẢ SỐNG

  “Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.”

 Hãy thong thả Sống

Trần Mộng Tú

 Nhiều khi chúng ta sống mà quên bẵng đi là mình có thể chết bất cứ lúc nào. Ta hối hả sống, vui, buồn, khỏe, yếu, ta cứ lướt qua rồi không ngoái đầu lại nhìn chuỗi ngày tháng ta đã tiêu hao của một đời người.

 Cho đến khi có một người bạn vừa ngã bệnh, bệnh nặng, không biết sẽ mất đi lúc nào, lúc đó ta mới xa, gần, hốt hoảng gọi nhau.

Tưởng như chưa từng có người bạn nào “Chết” bao giờ.

Hay ta có một người thân trong gia đình, đang rất khỏe vừa báo tin bị bệnh hiểm nghèo. Gia đình, họ hàng cuống lên, sợ hãi như chưa nghe đến ai nói về cái chết bao giờ, chưa chứng kiến cảnh vào bệnh viện, cảnh tang ma bao giờ.

 Cả hai người trên có thể đã ngoài 70 tuổi. Lạ thật ! Cái tuổi nếu có chết thì cũng đã sống khá lâu trên đời rồi, sao những người chung quanh còn hoảng hốt thế.

 Hóa ra người ta, không ai muốn nghe đến chữ “Chết”, dù chữ đó đến với mình hay với người thân của mình.

 Hình như không ai để ý đến mỗi sáng chúng ta thức dậy, nhìn thấy mặt trời mọc (nếu còn để ý đến mặt trời mọc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua của đời sống mình.

 Có người vì công việc làm ăn, cả tuần mới có thời giờ ngửng mặt nhìn lên mặt trời.

Buổi sáng còn tối đất đã hấp tấp ra đi, buổi chiều vội vã trở về lúc thành phố đã lên đèn, làm gì nhìn thấy mặt trời. Nhưng mặt trời vẫn nhìn thấy họ, vẫn đếm mỗi ngày trong đời họ. Họ tiêu mất cái vốn thời gian của mình lúc nào không biết.

 Tiêu dần dần vào cái vốn Trời cho mà đâu có hay. Rồi một hôm nào đó bỗng nhìn kỹ trong gương, thấy mình trắng tóc.

 Hốt hoảng, tiếc thời gian quá! Khi nghe tin những người bạn bằng tuổi mình, bệnh tật đến, từ từ theo nhau rơi xuống nhanh như mặt trời rơi xuống nước, họ vừa thương tiếc bạn vừa nghĩ đến phiên mình.

 Thật ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ lại một chút, sẽ thấy “Cái chết” nó cũng đến tự nhiên như “Cái sống”.

 Đơn giản, mình phải hiểu giữa sống và chết là một sự liên hệ mật thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song từng ngày với cái sống.

 Dẫu biết rằng, đôi khi có những cái chết đến quá sớm, nhưng ta cũng đâu có quyền từ khước chết.

 Tôi biết có người mẹ trẻ, con của bạn thân tôi. Chị bị ung thư, chị cầu xin Thượng Đế cho sống đến khi đứa con duy nhất của mình vào Đại Học.

 Chị không cưỡng lại cái chết, chị chỉ mặc cả với Thượng Đế về thời gian vì con chị lúc đó mới lên 3 tuổi.

 Thượng Đế đã nhận lời chị. Ngày con chị tốt nghiệp Trung Học, chị ngồi xe lăn đi dự lễ ra trường của con và tuần lễ sau chị qua đời.

Trong suốt mười mấy năm trị bệnh, chị vẫn làm đủ mọi việc: chị đội tóc giả đi làm, đến sở đều đặn, lấy ngày nghỉ hè và ngày nghỉ bệnh đi trị liệu.

 Những bạn làm chung không ai biết chị bị ung thư, ngay cả xếp của chị. Khi họ biết ra, thì là lúc chị không đứng được trên đôi chân mình nữa.

Chị sửa soạn từng ngày cho cái chết với nụ cười trên môi. Vẫn vừa đi làm, vừa cơm nước cho chồng con, ân cần săn sóc cha mẹ, hiền hòa giúp đỡ anh em trong nhà, chị mang niềm tin đến cho tất cả những người thân yêu của mình.

 Sau ba năm chị mất, cậu con trai mỗi năm vẫn nhận được một tấm thiệp sinh nhật mẹ viết cho mình (Mẹ đã nhờ qua người dì gửi hộ).

 Hôm sinh nhật 21 tuổi của cậu cũng vào ngày giỗ năm thứ ba của Mẹ, cậu nhận được tấm thiệp mừng sinh nhật mình, với dòng chữ nguệch ngoạc, chị viết cho con: “Mừng sinh nhật thứ 21 của con. Hãy bước vui trong đời sống và nhớ rằng mẹ luôn luôn bên cạnh con. “

 Tôi đọc những dòng chữ mà ứa nước mắt.

 Tôi nghĩ đến chị với tất cả lòng cảm phục. Chị là người biết sống trong nỗi chết.

 Khi không thắng được bệnh tật, chị biết hòa giải với nó để sống chậm lại với nó từng ngày cho con mình. Chắc “Cái chết” cũng nhân nhượng với chị, thông cảm với chị như một người bạn.

 Một chị bạn kể cho nghe về một bà bạn khác. Bà này mới ngoài sáu mươi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tính nết vui vẻ, yêu đời.

Nhưng khi nào đi ra khỏi nhà bà cũng mang theo một bộ quần áo đặc biệt, đủ cả giầy vớ bỏ vào một cái túi nhỏ riêng trong va-li.

Hỏi bà, sao lại để bộ này ra riêng một gói vậy, bà thản nhiên nói:“Nếu tôi chết bất thình lình ở đâu, tôi có sẵn quần áo liệm, không phiền đến ai phải lo cho mình.”

Bà mang theo như thế lâu lắm rồi, tôi không biết có khi nào bà ngắm nghía mãi, thấy chưa dùng tới, bà lại đổi một bộ mới khác cho ưng ý không?

Giống như người phụ nữ sắp đi dự tiệc hay cầm lên, để xuống, thay đổi áo quần sao cho đẹp. Đi vào cái chết cũng có thể coi như đi dự một đám tiệc.

 Tôi nghĩ đây là một người khôn ngoan, sẵn sàng cho cái chết mà bà biết nó sẽ đến bất cứ lúc nào.

Bà đón nhận cái chết tự nhiên, giản dị như đi dự tiệc, hay một chuyến đi xa, đi gần, nào đó của mình.

 Nhưng không phải ai cũng nghĩ về cái chết giản dị như vậy. Phần đông muốn được sống lâu, nên bao giờ gặp nhau cũng thích chúc cho nhau tuổi thọ.

Thích hỏi nhau ăn gì, uống gì cho trẻ trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sống hơn chết.

Họ tìm kiếm đủ mọi phương thuốc để kéo dài tuổi thọ. Người ta ức đoán, trong một tương lai rất gần, loài người có thể sống đến 120 tuổi dễ dàng với những môn thuốc ngăn ngừa bệnh tật và bồi dưỡng sức khỏe.

 Rồi người ta sẽ còn tạo ra những bộ phận mới của nội tạng để thay thế cho những bộ phận gốc bị nhiễm bệnh.

Gan, ruột, bao tử v.v, sẽ được thay như ta thay những phần máy móc của một cái xe cũ. Chúng ta, rồi sẽ sống chen chúc nhau trên mặt đất này.

 Chỉ tiếc một điều là song song với việc khám phá ra thuốc trường thọ người ta cũng phải phát minh ra những người máy (robot) để chăm sóc những người già này, vì con cháu quá bận (chắc đang chúi đầu tìm thuốc trường sinh) không ai có thời giờ chăm sóc cha mẹ già.

 Theo tôi, ngắm nhìn hình ảnh một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, đang cô đơn ngồi trong một căn buồng trống vắng, được một người máy đút cơm vào miệng, thật khó mà cảm động, đôi khi còn cho ta cái cảm giác tủi thân nữa.

 Nhưng sống như vậy mà có người vẫn thích sống.

Một người đàn ông ngoài bẩy mươi, bị bệnh tim nặng, đang nằm trong phòng đặc biệt (ICU) lúc mơ màng tỉnh dậy, nhắn với các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mặc áo mầu đen. Ông kiêng cữ mầu của thần chết. Ông quên rằng thần chết, đôi khi, có thể đến với chiếc áo mầu hồng.

 Thật ra, chính nhờ “cái chết” cho ta nhận biết là “cái sống” đẹp hơn và có giá trị hơn, dù có người sống rất cơ cực vẫn thấy cuộc đời là đẹp.

 Những bậc thiên tài, những nhà văn lớn đã tự tìm về cái chết khi họ bắt đầu nhìn thấy cái vô vị trong đời sống như nhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và họa sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chắc họ không muốn sống vì thấy mình không còn khả năng hưởng hết vẻ đẹp của “cái sống” nữa.

 Họ là một vài người trong số nhỏ trên mặt đất này sau khi chết để lại tên tuổi trên những trang sử, lưu lại hậu thế, còn phần đông nhân loại, sau khi chết một thời gian, không để lại một di tích nào. Con cháu có thờ cúng được một hai thế hệ, sau đó tên tuổi mờ dần, mất hẳn theo ngày tháng, vì chính những kẻ thờ phụng đó lại tiếp theo nằm xuống cùng cát bụi.

 Ðời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vịnh)

 Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.

 Chúng ta cứ thong thả sống từng ngày, khi nào chết thì chết, mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, bông hoa nở rồi bông hoa tàn, thế thôi.

 Tại sao ta phải cay cú với cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng của mình, thử hình dung ra một thế giới không có cái chết(*)

 Chắc lúc đó chúng ta sẽ không còn không khí mà thở chứ đừng nghĩ đến có một phiến đất cho bàn chân đứng.

 Trần Mộng Tú

Anh chị Thụ & Mai gởi

RỒI MÌNH HÒA GIẢI…

From facebo ok:   Dang Tuong‘s post.

 
 
No automatic alt text available.

Dang Tuong

 

RỒI MÌNH HÒA GIẢI…

Mày trả lại tao những gì mày giải phóng
Rồi chúng mình sẽ nói chuyện anh em
Trả lại tao những năm tháng êm đềm…
Tao đã hưởng trước ngày mày có mặt

Trả lại cái tên mày đã cướp mất
Nơi sinh ra tao, tên gọi Sài Gòn,
Cái tên tao thuộc lòng từ thuở bé con,
Không phải cái tên dài thòn khó đọc.

Mày trả tự do về cho dân tộc
Tự do thờ phượng tự do yêu thương
Mày trả giáo dân về với giáo đường
Trả phật tử về với chùa với tự

Trả quyền tự do bầu bán ứng cử
Để dân tao được kén chọn hiền tài
Trả lại tao quyền tự quyết tương lai
Quyền hạnh phúc tao cho con cho cháu

Trả trường học về cho thầy cô giáo
Trả em thơ về với tuổi hồn nhiên
Trả ánh mắt vui trả nụ cười hiền
Về với trẻ suốt ba miền đất nước

Trả ngây thơ về lại miền sơn cước
Trả bao dung trở lại với đồng bằng
Trả biển trả đầm về với ngư dân
Trả nông dân ruộng đồng mày cưỡng chế

Trả tam quyền về lại cho thể chế
Trả quan tòa quyền xét xử công minh
Trả luật sư quyền biện hộ chủ mình
Trả toà án quyền đứng riêng độc lập

Trả học sinh quyền tự do học tập
Không Mao Nhiều, Các Mác với Le Nin,
Không đảng quang vinh, vô sản, vô tình,
Trả chúng nó quyền tự do đọc sách.

Trả người cầm bút tự do viết lách
Trả mọi người quyền cất những lời ca
Trả nhạc vàng về các nẻo đường xa
Để mọi lúc mọi nhà cùng vui hát

Trả hết cho tao những gì tao đã mất
Còn tao sẽ trả mày một thứ đỉnh cao
Sẽ trả mày cái chủ nghĩa tào lao
Mày dùng nó đưa tao vào khổ ải

Trả hết cho nhau… rồi mình Hòa Giải.

Theo Thuc Tran.

RẤT YÊN ỔN !

From facebook: …Lan Huynh

 

Fb Ngô Trường An

 

RẤT YÊN ỔN !

Thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh ngược về phương nam. Ngồi trên lưng Ngựa ngắm nhìn 2 bên sườn núi mây khói lãng đãng trôi. Bất chợt Đường Tăng nhìn thấy 1 đống quan tài phía trước và một số người lao nhao khiêng từng thi thể bỏ vào quan tài, tiếng khóc, tiếng kêu gào thảm thiết. Đường Tăng hoảng hồn hét lên:

– Ngộ Không! Chúng ta quay lại tìm hướng khác mà đi thôi. Đất nước này có khủng bố, số người chết kia chắc là bị xả súng rồi!
Ngộ Không thưa: Bạch sư phụ! Con đã tìm hiểu rồi, đất nước này tuy nghèo nhưng yên ổn lắm ạ. Bát Giới, Sa Tăng đứng đây bảo vệ sư phụ để ta lại đằng kia xem sao.
Nói xong, Tề Thiên biến thành lão nông đến gần lân la, dò hỏi nên biết được sự tình số người chết kia là do mưa lớn, nước lũ đổ về và đê bị vỡ nên họ bị nước cuốn trôi.
Tề Thiên quay lại trình bày với sư phụ rồi trấn an để thầy trò tiếp tục lên đường. Đi khoảng vài canh giờ, Đường Tăng lại chỉ tay về phía trước la lớn:
– Ngộ Không! Ngươi xem có nhiều người chết được lôi ra từ những đống đất đá khổng lồ kìa. A di đà phật, có cả trẻ em nữa con ơi. Nơi đây cao ráo thì làm gì bị nước cuốn trôi? Chắc chắn là do khủng bố ném bom rồi!
Ngộ Không trấn an sư phụ rồi biến thành ông lão khoảng 73 tuổi, đầu tóc bạc trắng, đến gần tươi cười hỏi lý do thì bị chàng thanh niên chống cuốc chỉ vào mặt chửi:
Ông đui à? Ông mang kính mà đéo thấy gì à? Hàng chục người chết đây là do núi lỡ xuống lấp cả nhà họ đó, ông hiểu chưa thằng già lú?
Bị người dân phẫn nộ chửi rủa. Điên tiết, Ngộ Không bay qua chân núi rút thiết bảng dộng mạnh xuống đất, kêu Thổ Địa lên tra hỏi:
– Ngươi cai quản khu đất này sao để sinh linh kẻ chết trôi, người chết lấp thế hử?
– Dạ oan cho tôi Đại Thánh ơi! Tại lão Ngọc Hoàng cho mưa to quá nên sinh ra sự cố này. Hic!
Tề Thiên tức quá hét lên một tiếng rồi cân đẩu vân bay thẳng lên cung đình chỉ tay vào mặt Ngọc Hoàng la lớn:
– Ông già rững mỡ kia! Ông cứ lo hú hí với bọn Tiên non mà không nghĩ đến dân tình. Ông đổ nước ào ạt gây đại hoạ dưới Trần chết hết sinh linh rồi kìa!
– Con Khỉ kia chớ có nói càn! Nước thì ở đâu ta không đổ? Ngươi xem khắp năm châu có chỗ nào sinh linh chết như chỗ đó không mà trách ta. Hử?
– Thế nước đầu nguồn cuồn cuộn đổ xuống là do ai? Núi lỡ là do ai? Ông định phủi trách nhiệm à?
– Con Khỉ kia, ta chứ phải bọn quang vinh muôn năm đâu mà phủi trách nhiệm? Ta đã giao nhiệm vụ hết rồi. Nước dâng gây vỡ đê thì ngươi xuống hỏi Hà bá. Núi lỡ lấp người thì ngươi hỏi Sơn Thần. Hiểu chưa?
Tề Thiên bực quá bay xuống lấy gậy thọc vào lòng sông kêu Hà bá lên tra. Hà Bá khúm núm cuối đầu tâu:
– Dạ, Đại Thánh anh minh! Đê vỡ là do “Có kế hoạch” đấy ạ. Còn nước ầm ầm đổ xuống cũng là “đúng quy trình” luôn ạ. Thiệt tình không phải do tôi, mong Đại Thánh bớt giận.
– Tề Thiên mặt hằm hằm bỏ đi qua bên sườn núi rút cây thiết bảng ra đánh ầm 1 phát. Sơn Thần run rẩy đẩy hòn đá bước ra. Tề Thiên chỉ thiết bảng vào mặt quát:
– Trách nhiệm ngươi giữ núi sao ngươi lơ là để núi sạt lỡ chết hết sinh linh là sao?
– Thưa Đại Thánh! Núi thì có cả hàng triệu triệu năm nay rồi, nếu tôi không giữ thì nó lỡ mất hàng triệu năm trước rồi, nay còn đâu mà lỡ nữa?
– Thế tại sao hàng triệu năm trước ngươi giữ được, còn bây giờ thì không?
– Đấy là do bọn người tham lam, ngu dốt kia. Núi rừng được bảo vệ chống xói mòn, chống sạt lỡ bởi từ những cái rễ cây. Những rễ cây này đan xen với nhau tạo thành mảng liên kết níu kéo với nhau. Hơn nữa, nhờ những gốc cây nhô lên nên cản được nước mưa từ trên cao đổ xuống. Nay bọn tham đó chặt hết cây, rễ bị mục, hễ mưa xuống là thành bùn, không sạt lỡ sao được?
– À, như vậy là Ngươi hưởng hương khói của người chặt cây mà không lo giữ cây để bọn chúng phá hết chứ gì?
– Dạ, hưởng hương khói cái quần què gì đâu ạ?
– Sao ta nghe nói chặt cây thì thắp hương lạy cây? Mà thắp hương thì ngươi hưởng chứ cây gỗ đó bị chặt mẹ rồi nên nó đâu có hưởng được?
– Ối! Đại Thánh hơi đâu nghe bọn vô cảm đó nói. Đồng loại nó chết cả hàng trăm mà nó có thắp hương lạy đâu mà đi lạy cây gỗ??
Tế Thiên thở dài lủi thủi quay về nói với Đường Tăng:
– Thôi, ta quay lại hướng khác đi sư phụ.
– Ủa! Sao ngươi nói đất nước này yên ổn lắm mà?
– Bây giờ con mới hiểu ạ! Đó là chết một cách yên ổn! Chết lặng lẽ, chết âm thầm… Người chết không biết vì sao mình chết. Người sống cũng chẳng thắc mắc tại sao đồng bào mình chết. Mọi việc cứ diễn ra 1 cách êm ru, bình thường, không ồn ào, không tranh cãi… Như vậy là quá yên ổn rồi phải không Sư Phụ?
– Ngươi nói đúng! Rất yên cmn ổn!

YÊU THƯƠNG NHAU LÀ DẤU CHỈ NGƯỜI THUỘC VỀ CHÚA GIÊSU

YÊU THƯƠNG NHAU LÀ DẤU CHỈ NGƯỜI THUỘC VỀ CHÚA GIÊSU

+ Gm Gioan B BÙI TUẦN

  1. Khi được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám mục phó Giáo Phận Long Xuyên tháng 4 năm 1975, tôi đã chọn cho mình khẩu hiệu “Điều răn mới”. Điều răn mới là một Lời Chúa, trích từ câu Chúa phán trong buổi tiệc ly: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con” (Ga 13, 34).

Từ đó, yêu thương trở thành tiếng Chúa gọi, gây thao thức trong suốt hành trình mục vụ, truyền giáo và tu đức của tôi.

  1. Ngay những ngày đầu cuộc đời giám mục, Chúa Giêsu đã đến với tôi, để dạy tôi yêu thương như Người đã yêu thương. Yêu thương đó đòi phải cụ thể và quảng đại.

Cụ thể là ưu tiên để ý đến những người đau khổ xác hồn.

Quảng đại là cho đi, bằng sự đồng cảm sâu sắc chân thành, bằng hy sinh, cầu nguyện và chia sẻ.

Tôi đã cố gắng thực hiện như vậy.

Nhờ vậy, mà tôi có cảm tưởng là đã thực hiện được phần nào nhiệm vụ làm chứng cho Chúa. Đúng như Lời Chúa phán: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là các con có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35).

  1. Làm chứng cho Chúa bằng yêu thương nhau, đó là một niềm vui lớn lao. Được như vậy, trước hết là nhờ ơn Chúa, sau đó cũng phải nhờ đến cộng đoàn. Cộng đoàn được hiểu theo nghĩa rộng. Về cộng đoàn, tôi thấy thế này:
  2. Nhiều năm trước đây xem ra cộng đoàn làm chứng cho Chúa bằng yêu thương nhau hơn cộng đoàn hiện nay. Ngay gia đình là một loại cộng đoàn rất nhỏ, thế mà hiện nay số gia đình làm chứng cho Chúa bằng yêu thương nhau đâu còn nhiều. Thậm chí nhiều cộng đoàn những người đi tu cũng là một thứ gia đình, làm chứng cho Chúa, nay đâu còn bằng yêu thương nhau một cách dễ dàng như xưa nữa đâu. Thiết tưởng thực tế đau buồn đó cũng khiến chúng ta phải nhận ra điều này: Khủng hoảng lớn hiện nay cho Hội Thánh không phải chỉ về đức tin, mà cũng về yêu thương một cách trầm trọng.
  3. Cần nhận ra sự thực đó, để có những việc làm chân thật về sám hối, về mục vụ và về truyền giáo. Nếu không, sẽ là lừa dối mình và lừa dối kẻ khác.
  4. Sẽ là lừa dối, nếu tôi quả quyết yêu thương là việc dễ. Bởi vì yêu thương đích thực bao giờ cũng đòi phải hy sinh. Tình yêu không hy sinh là tình yêu giả. Hy sinh không tình yêu là hy sinh thừa. Nhưng hy sinh đâu là chuyện dễ.
  5. Sẽ là lừa dối, nếu tôi quả quyết yêu như Chúa yêu là việc dễ. Bởi vì Chúa Giêsu khi yêu chúng ta, đã hy sinh chính mạng sống mình. Người chịu rất nhiều đau đớn. Còn Đức Mẹ, thì khi yêu thương Chúa và loài người, đã như bị lưỡi đòng đâm thâu qua trái tim (Lc 2, 45).

Riêng tôi, xin thú thực là, để yêu như Chúa và Mẹ đã yêu, tôi phải phấn đấu rất nhiều.

  1. Cũng rất may là hiện nay đang xuất hiện những chứng nhân  mới, làm chứng cho Chúa bằng yêu thương một cách mạnh mẽ lạ lùng. Họ là những cộng đoàn, họ là những cá nhân. Tôi đang thấy họ là những dấu chỉ, mà Chúa Thánh Thần đào tạo nên, để được sai vào Hội Thánh tại Việt Nam. Họ đang hiện diện một cách âm thầm, mà lại tỏa sáng.
  2. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, những cá nhân và những cộng đoàn đang làm chứng cho Chúa bằng yêu thương nhau, đã đánh thức lương tâm tôi.

Tôi nhận ra rằng: Thực sự tôi đã cố gắng làm chứng cho Chúa bằng yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương. Nhưng tôi cũng phải thú nhận rằng: Nhiều khi tôi đã làm chứng không đúng, không đủ. Tôi sám hối về mọi lỗi lầm trong bổn phận làm chứng Chúa bằng yêu thương.

  1. Để sám hối, tôi thường cầu nguyện theo Thánh vịnh 50(51) của vua Đavid. Xin trích những đoạn mà tôi hay dừng lại lâu:

 “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm.

 Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy…

Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy.

Xin đừng lỡ đuổi con, không cho gần Nhân Thánh, Đừng cất khỏi lòng con Thần Khí Thánh của Ngài.

Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con”.

  1. Điều mà Thánh vịnh sám hối đã nhiều lần giúp tôi được vui, đó là tin, dù tôi yếu đuối, Chúa vẫn có quyền và lòng thương xót đổi tôi ra mới. Nhìn về quá khứ, tôi tin Chúa thứ tha, nhìn về tương lai, tôi tin Chúa đỡ nâng và cứu độ tôi.

Sám hối, như trên đây, đang giúp tôi lạc quan trên đường làm chứng cho Chúa bằng yêu thương.

  1. Một điều khác cũng đang giúp tôi lạc quan, để có những sáng kiến làm chứng cho Chúa bằng yêu thương. Điều đó là thế này:

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Người rằng: “Các con gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm. Vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con” (Ga 13, 13-15).

  1. Hiện nay, trong một số cộng đoàn những người tin theo Chúa, đang thực hiện Lời Chúa dạy trên đây. Họ yêu thương nhau, đến nỗi rửa chân cho nhau, nghĩa là họ có những sáng kiến rửa những lỗi lầm, những mặc cảm, những vết thương lòng của nhau bằng tình thương khiêm tốn tế nhị. Họ rất nhiệt thành lo cứu các linh hồn.
  2. Những người làm như thế đang còn là một thiểu số nhỏ, nhưng số nhỏ đó đang giới thiệu về những người tin theo Chúa nay vẫn có nhiều khả năng làm chứng cho Chúa bằng yêu thương.

Điều quan trọng đặt ra cho chúng ta là, chúng ta có đón nhận những giới thiệu đó không?

  1. Riêng tôi, tôi đã nhận được nhiều gương sáng, được chính Đức Mẹ Maria giới thiệu về cách làm chứng cho Chúa bằng yêu thương. Tôi không thể kể ra hết được. Qua đó, tôi tin việc Chúa Thánh Thần đang làm trong Hội Thánh là vô cùng lớn lao, và rất bất ngờ.

Sự chúng ta biết được chỉ là một phần rất nhỏ. Về vấn đề làm chứng cho Chúa bằng yêu thương, chúng ta cần khiêm tốn, rất khiêm tốn, luôn luôn khiêm tốn.

Long Xuyên, ngày 07.10.2017

+ Gm Gioan B BÙI TUẦN

From: Vongtaysongnguyen