Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ

Debora Viet Kieu

Khi Titanic chìm xuống lòng đại dương, trên con tàu ấy có mặt John Jacob Astor IV — một trong những người giàu nhất nước Mỹ thời bấy giờ. Khối tài sản trong ngân hàng của ông đủ để xây dựng tới 30 con tàu Titanic.

Thế nhưng, vào khoảnh khắc đối diện với cái chết, ông đã chọn điều mà mình tin là đúng đắn về mặt đạo đức: nhường chỗ trên thuyền cứu hộ cho hai đứa trẻ đang hoảng loạn.

Cũng trên chuyến tàu định mệnh ấy có Isidor Straus, đồng sở hữu chuỗi bách hóa lớn nhất nước Mỹ — Macy’s. Khi được mời lên thuyền cứu sinh, ông bình thản nói:

“Tôi sẽ không bao giờ lên thuyền khi vẫn còn phụ nữ và trẻ em trên tàu.”

Vợ ông, bà Ida Straus, cũng từ chối rời đi. Bà nhường chỗ của mình cho cô hầu gái mới, Ellen Bird, rồi lựa chọn ở lại bên chồng trong những giây phút cuối cùng.

Bà nói khẽ nhưng kiên định:

“Chúng ta đã sống bên nhau suốt bao năm. Nơi nào anh đi, em sẽ đi cùng.”

Những con người ấy — giàu có, quyền lực, có thể mua gần như mọi thứ — đã từ bỏ tài sản, thậm chí cả sinh mạng, để giữ trọn phẩm giá và nguyên tắc sống.

Chính lựa chọn đó đã khiến họ trở nên vĩ đại hơn mọi khối tài sản họ từng sở hữu.

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ, và đó chính là biểu tượng cao đẹp nhất của văn minh và bản chất con người.


 

Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

Cuộc Sống Hằng Ngày

 Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

95 triệu dân Việt Nam đang chờ đợi vụ án này. Hàng chục năm lặng im, không ai giúp đỡ Hồ Duy Hải…

Bỗng nhiên Đinh Văn Nơi xuất hiện, bằng chứng được gửi tận tay Chủ tịch nước Lương Cường, khiến Nguyên H. Bình đứng ngồi không yên. Đinh Văn Nơi tiếp nhận và đưa ra, khiến dư luận đặc biệt chú ý!

Vụ án kéo dài hàng chục năm nay đang đứng trước những tình tiết có thể thay đổi cục diện.

Người dân kỳ vọng sự thật được soi chiếu đầy đủ, công lý không bị bỏ quên.

Với một con người, 20 năm tuổi xuân đã mất là không gì bù đắp được…

#HoDuyHai #CongLy #KieuOan #DinhVanNoi


 

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Tiếng Dân News

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Trong bức thư gửi cho Thủ Tướng Jonas Gahr Støre của Na Uy vào cuối tuần vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump than phiền rằng, vì Na Uy không cho ông giải thưởng Hòa Bình, nên ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của nước Mỹ, không cần phải tranh đấu cho hòa bình nữa. Lập trường của Trump là “No prize, No Peace”.

Ông ta viết nguyên văn trong thư như sau: “Xét thấy đất nước của các vị đã quyết định không trao cho tôi giải Nobel Hòa Bình dù [tôi] đã ngăn chặn hơn 8 cuộc chiến, tôi không còn cảm thấy có nghĩa vụ phải chỉ nghĩ đến hòa bình nữa, mặc dù hòa bình sẽ luôn là ưu tiên hàng đầu, giờ đây tôi có thể nghĩ đến những điều tốt đẹp và phù hợp cho Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ”.

Trump thực sự bị ám ảnh một cách điên cuồng về giải Nobel. Ông ta đã không hiểu được rằng Ủy Ban Nobel Na Uy, chứ không phải chính phủ Na Uy và chắc chắn không phải chính phủ Đan Mạch, mới là những người quyết định ai chiến thắng giải thưởng đó. Tuy nhiên, giờ đây ông không những đổ lỗi cho Na Uy vì đã không trao giải thưởng đó cho ông ta, mà còn sử dụng điều đó như một lý do để biện minh cho việc xâm lược Greenland.

Trump tuyên bố xạo láo rằng ông ta đã ngăn ngừa được hơn 8 cuộc chiến tranh trong nhiệm kỳ II. Tuyên bố của Donald không chính xác dựa trên thông tin từ cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Mặc dù chính quyền Trump đã tuyên bố “chấm dứt 8 cuộc chiến tranh trong 8 tháng” (bao gồm Israel-Hamas, Israel-Iran, Rwanda-Cộng hòa Dân chủ Congo, Thái Lan-Campuchia, Pakistan-Ấn Độ, Armenia-Azerbaijan, Ai Cập-Ethiopia và Serbia-Kosovo), nhưng các chuyên gia kiểm chứng thông tin đã phát hiện ra rằng, đây là một sự phóng đại.

Trong một số trường hợp, giao tranh vẫn tiếp diễn bất chấp các thỏa thuận hòa bình. Trong một số cuộc xung đột, chẳng hạn như giữa Ấn Độ và Pakistan, các quan chức địa phương cho biết, mức độ can thiệp của ông Trump rất giới hạn. Một số cuộc xung đột được liệt kê là những tranh chấp kéo dài, cường độ thấp hoặc tranh chấp ngoại giao chứ không phải là những cuộc chiến tranh toàn diện, quy mô lớn. Các cuộc xung đột lớn ở Trung Đông vẫn tiếp diễn, và công việc giải quyết tình hình ở Gaza vẫn đang được tiến hành cho đến năm 2026.

Trong cùng bức thư, Trump xem ra không công nhận Greenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch. Ông ta viết nguyên văn như sau:

“Đan Mạch không thể bảo vệ vùng đất đó khỏi Nga hoặc Trung Quốc, và tại sao họ lại có ‘quyền sở hữu’ vùng đất đó? Không có bất kỳ văn bản nào chứng minh điều đó, chỉ có một con thuyền cập bến ở đó cách đây hàng trăm năm, nhưng chúng tôi cũng từng có thuyền cập bến ở đó”.

Về mặt pháp lý, Greenland là một phần của Vương Quốc Đan Mạch nhưng hoạt động như một lãnh thổ tự trị với quyền tự quản rộng rãi, nghĩa là họ quản lý hầu hết các vấn đề nội bộ trong khi Đan Mạch phụ trách chính sách đối ngoại, quốc phòng và tiền tệ. Người dân Greenland là công dân Đan Mạch và có con đường dẫn đến độc lập thông qua Đạo luật Tự trị năm 2009, trong đó nếu có yêu cầu một cuộc trưng cầu dân ý và sự chấp thuận của Quốc Hội Đan Mạch để tách khỏi Đan Mạch hoàn toàn.

Vương Quốc Đan Mạch bao gồm ba phần: Đan Mạch, Quần đảo Faroe và Greenland. Tất cả đều nằm dưới sự cai trị của cùng một vị vua, nhưng hai quốc gia sau được hưởng quyền tự trị rộng rãi trong các vấn đề nội bộ. Liên minh này được gọi là Vương Quốc Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Rigsfællesskabet). Tiếng Đan Mạch là ngôn ngữ chính trên cả ba vùng.

Vương quốc Đan Mạch đã tồn tại hơn 1000 năm, với chế độ quân chủ thống nhất có nguồn gốc từ vua Viking Gorm the Old (mất khoảng năm 958) và Harald Bluetooth (người đã thống nhất Đan Mạch và du nhập Kitô giáo khoảng năm 965 sau Công nguyên). Đây là một trong những chế độ quân chủ liên tục lâu đời nhất châu Âu, mặc dù lãnh thổ và quyền lực của nó đã thay đổi đáng kể thông qua các liên minh (như Liên minh Kalmar) và các cuộc chiến tranh, và cuối cùng phát triển thành chế độ quân chủ lập hiến vào năm 1849.

Một lần nữa, trong bức thư Trump không quên nhắc tới tham vọng chiếm Greenland vì lý do an ninh của Hoa Kỳ và một phần vì Đan Mạch không đủ sức chống lại Nga và Trung Quốc. Ông viết: “Tôi đã làm nhiều hơn cho NATO so với bất kỳ người nào khác kể từ khi tổ chức này được thành lập, và giờ đây, NATO nên làm điều gì đó cho Hoa Kỳ. Thế giới sẽ không an toàn trừ khi chúng tôi kiểm soát hoàn toàn và tuyệt đối Greenland”.

Căng thẳng liên quan đến Greenland đã leo thang mạnh mẽ trong tuần qua, và thư của Trump đã tạo thêm mức độ bất ổn mới trong chiến dịch nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo này.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn qua điện thoại với NBC News, Donald Trump đã không loại trừ khả năng chiếm Greenland bằng vũ lực. Ông nói “Không bình luận”. Ông nhấn mạnh rằng ông sẽ “100%” tiếp tục thực hiện kế hoạch áp thuế đối với các quốc gia châu Âu nếu ông không có được Greenland”.

Chiến tranh nóng liên quan đến Greenland đang chuyển thành chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Liên Âu. Trong khi đó, Trung Quốc kêu gọi Mỹ ngừng sử dụng cái gọi là “mối đe dọa từ Trung Quốc” làm lý do để áp thuế đối với các quốc gia châu Âu, những nước đã phản đối kế hoạch mua lại Greenland của Trump.

Cuối năm 2018, Trump yêu cầu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, xem xét một ý tưởng do một doanh nhân nổi tiếng đưa ra: Liệu Hoa Kỳ có nên mua Greenland hay không. Bolton nói, ông không xem xét vấn đề này. Ông nhớ lại mình đã nói: “Chúng ta có những lợi ích chiến lược quan trọng ở đó”.

Theo cựu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, doanh nhân đề nghị Donald Trump mua Greenland là Ronald Lauder, người thừa kế tập đoàn Mỹ phẩm Estée Lauder. Ông Lauder đưa ra ý tưởng này cho Trump trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên. Lauder là một người bạn lâu năm của Trump và là một nhà tài trợ lớn, đã đề nghị làm trung gian liên lạc với chính phủ Đan Mạch để đàm phán, mặc dù sau đó Trump lại nhận ý tưởng này là của mình.

Khi báo Wall Street Journal đăng tải câu chuyện này hồi tháng 8 năm 2019, “mọi chuyện bắt đầu tệ đi từ đó,” Bolton nhớ lại. Thủ Tướng Đan Mạch Mette Frederiksen gọi ý tưởng mua Greenland của Trump là “vô lý”. Trump gọi tuyên bố của thủ tướng là “xấu xa” và “không phù hợp”. Trump bảo Bolton hủy chuyến thăm Copenhagen.

Tuy nhiên, tám năm sau, việc Trump theo đuổi Greenland đã trở thành trọng tâm trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông. Trong những ngày gần đây, ông đã tăng cường áp lực lên các nhà lãnh đạo châu Âu nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo lớn nhất thế giới này cho Hoa Kỳ.

Trump là một người có mong tham vọng bành trướng lãnh thổ và việc chiếm Greenland nằm trong tham vọng đế quốc này. James Polk, tổng thống thứ 11 của Mỹ, vào giữa thế kỷ 19, đã thực hiện mở rộng lãnh thổ lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Trump đã treo bức chân dung của Polk trong Phòng Bầu Dục.

James Polk đã mở rộng lãnh thổ nước Mỹ một cách đáng kể thông qua việc theo đuổi mạnh mẽ học thuyết “Vận Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny), bằng cách sáp nhập Texas, giải quyết vấn đề biên giới Oregon với Anh và giành chiến thắng trong Chiến Tranh Mỹ-Mexico, dẫn đến việc Mexico nhượng lại California, New Mexico và nhiều vùng lãnh thổ khác, mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương và thêm vào diện tích hơn một triệu dặm vuông.

Thế kỷ 21 hoàn toàn khác biệt với thế kỷ 19. Điều đáng sợ là Trump không có kiến thức về lịch sử. Các nhà phê bình và các sử gia thấy rõ điều này qua những phát ngôn sai lầm của Trump về các nhân vật như Lincoln (không biết ông ấy là đảng viên Cộng Hòa), hay Nhà Trắng từng bị Canada, không phải Anh, đốt cháy và sự thiếu hiểu biết về các sự kiện phức tạp như nội chiến Mỹ. Ông từng mạnh mẽ bảo vệ các biểu tượng của Liên Minh Miền Nam và tấn công các dự án nghiên cứu lịch sử về vấn đề chủng tộc.

Sau khi thắng cử năm 2024, ngay lập tức Trump hướng sự chú ý đến việc mua lại Greenland của Đan Mạch, theo những người tham gia vào các cuộc thảo luận. Trump ám chỉ rằng nếu Đan Mạch không từ bỏ quyền kiểm soát Greenland, ông có thể sẽ dùng vũ lực để chiếm lấy.

Theo các thỏa thuận của NATO, Hoa Kỳ có thể đóng quân và triển khai các khí tài quân sự ở Greenland tùy thích. Việc chiếm Greenland không dễ và không cần thiết. Trump đang làm cho mối quan hệ của Hoa Kỳ với các đồng minh thân cận nhất trở nên xấu đi và bắt đầu một cuộc chiến thương mại tàn khốc.

Cuối tuần qua, hàng ngàn người tập trung trước Đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Copenhagen của Đan Mạch và thủ đô Nuuk của Greenland để biểu tình phản đối tham vọng đế quốc của Trump đối với Greenland. Một số người đội những chiếc mũ đỏ nhại lại khẩu hiệu nổi tiếng MAGA với dòng chữ “Make America Go Away” (Làm cho Mỹ biến đi).

Nếu Trump có chiếm được Greenland (xác suất 0%), an ninh của Mỹ cũng sẽ bị suy yếu vì Mỹ có thể mất các căn cứ ở lục địa Âu châu, mất luôn cả hai nước láng giềng gần, mất cả sự tin cậy của đồng minh. Sau canh bạc này, Trump và Mỹ trắng tay, khó có thể khôi phục lại NATO như xưa. Đó là cái giá phải trả vì dân Mỹ đưa một nhân vật đần độn và điên khùng lên làm tổng thống.

Nếu Trump phải chiếm Greenland vì an ninh của Mỹ, Nga cũng sẽ nêu lý do tương tự để chiếm Ukraine, và Trung Quốc cũng có cớ để chiếm Đài Loan. Ảnh hưởng dây chuyền sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng. Sau Greenland sẽ là Canada và Mexico. Sau Ukraine sẽ là các nước Baltic. Sau Đài Loan sẽ là Việt Nam và Phi Luật Tân. Tóm lại, cá lớn sẽ nuốt cá bé và thế giới sẽ hỗn loạn.

Các dân biểu Cộng Hòa thường không muốn công khai phản đối tổng thống, người đã nhiều lần kêu gọi loại bỏ những người bất đồng chính kiến ​​trong đảng khỏi chức vụ. Sau nhiều cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy, hầu hết công chúng Mỹ phản đối việc mua Greenland hay chiếm hòn đảo này bằng võ lực. Các nhà lập pháp Cộng Hòa đã thay nhau chỉ trích ý kiến điên rồ của Trump.

Thượng nghị sĩ Thom Tillis (Cộng Hòa, North Carolina) phát biểu trong bài diễn thuyết trước Thượng viện tuần vừa qua: “Ý nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ chiếm Greenland, một lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch, là điều vô lý. Ai đó cần phải nói với tổng thống rằng người dân Greenland, cho đến thời điểm hiện tại, thực sự rất ủng hộ Mỹ và rất ủng hộ sự hiện diện của Mỹ”.

Dân biểu Don Bacon (Cộng Hòa, Nebraska) nói với báo Omaha World-Herald: “Nếu ông ta thực hiện những lời đe dọa đó, tôi nghĩ đó sẽ là dấu chấm hết cho nhiệm kỳ tổng thống của ông ta. Và ông ta cần phải biết: Lối thoát duy nhất là nhận ra rằng Đảng Cộng Hòa sẽ không dung thứ cho điều này và ông ta sẽ phải lùi bước. Ông ta ghét bị từ chối, nhưng trong trường hợp này, tôi nghĩ Đảng Cộng Hòa cần phải kiên quyết”.

“Với tư cách là người đứng đầu phái đoàn Hoa Kỳ tại [Hội đồng Nghị viện NATO], tôi không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương của chúng ta”, dân biểu Mike Turner (Cộng Hòa, Ohio) viết trên X. “Chúng ta phải tôn trọng chủ quyền của người dân Đan Mạch và Greenland”.

Trong một cuộc phỏng vấn với CNN tuần trước, Thượng nghị sĩ John Kennedy (Cộng Hòa, Louisiana) cho biết: “Việc xâm lược Greenland và tấn công chủ quyền của một quốc gia thành viên NATO khác sẽ là hành động cực kỳ ngu ngốc. Tổng thống Trump không phải là người ngu ngốc đến mức đó”.

Ngày nào Trump còn ngồi trong phòng bầu dục, ngày đó dân Mỹ còn khốn khổ với những vấn đề cơm áo gạo tiền, ngoài ra còn phải lo những chuyện biến động trên thế giới do chính Trump gây ra, mặc dù ông hứa không can thiệp vào chuyện của các nước khác để lo cho dân Mỹ. Cử tri Mỹ có cơ hội trục xuất Trump ra khỏi Nhà Trắng vào tháng 11 sắp tới.

__________

Tham khảo:

– Chris Stein, “Republican dissent as key figures warn Trump against Greenland pursuit”. The Guardian, January 17, 2026.

– Meridith McGraw, Alex Leary, Josh Dawsey, “Why an Emboldened Trump Set His Sights on Greenland”. WSJ, January 19, 2026.

– James C. Reynolds, “Trump links Greenland pursuit to Nobel Peace Prize snub in extraordinary letter to Norway’s PM”. The Independent, January 19, 2026.

– Jeffrey Gettleman, Henrik Pryser Libell, “Trump Links His Push for Greenland to Not Winning Nobel Peace Prize”. New York Times, January 19, 2026.

– Ellen Francis, Steve Hendrix, “Trump ties Greenland takeover bid to Nobel Prize in text to Norway leader”. Washington Post, January 20, 2026.

– Anne Applebaum, “Trump’s Letter to Norway Should Be the Last Straw”. The Atlantic, January 19, 2026.

https://baotiengdan.com/…/trump-khong-co-giai-thuong…/

Tiếng Dân News

News & media website


 

Trump đối mặt lời kêu gọi phế truất sau khi gửi thư ‘bắt đền’ thủ tướng Na Uy

Ba’o Nguoi-Viet

January 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Thượng Nghị Sĩ Ed Markey (Dân Chủ-Massachussetts), người sẽ phải trải qua kỳ bầu cử sơ bộ trước đối thủ cùng đảng trong năm nay, kêu gọi phế truất Tổng Thống Donald Trump theo Tu Chính Án thứ 25 sau khi ông Trump “bắt đền” thủ tướng Na Uy.

Trong thư, ông Trump thừa nhận rằng ông có lẽ sẽ không gây áp lực buộc Đan Mạch nhượng lại Greenland nếu ông được Ủy Ban Nobel Na Uy trao giải Nobel Hòa Bình năm 2025, theo báo mạng The Hill hôm Thứ Ba, 20 Tháng Giêng.

Thượng Nghị Sĩ Ed Markey phát biểu tại một buổi họp báo tại Quốc Hội hồi Tháng Năm, 2025. (Hình minh họa: Kayla Bartkowski/Getty Images)

“Hãy vận dụng Tu Chính Án thứ 25,” ông Markey viết trên mạng xã hội bên cạnh hình ảnh bài báo của nhật báo The New York Times đưa tin ông Trump liên kết việc ông đòi thâu tóm Greenland với việc không được trao giải Nobel trong một tin nhắn gửi cho lãnh đạo Na Uy, Thủ Tướng Jonas Gahr Store.

NYT đưa tin rằng ông Store nhận được một lá thư từ ông Trump hôm Chủ Nhật, 18 Tháng Giêng, trong đó ông nói thẳng rằng việc ông không được giải Nobel thúc đẩy ông có thái độ quyết liệt đòi chiếm Greenland, vùng lãnh thổ của Đan Mạch.

Trong thư trả lời, Thủ Tướng Store nói rằng chính phủ Na Uy không có quyền hạn gì trong việc trao giải Nobel, và Ủy Ban Nobel Na Uy hoạt động độc lập với chính phủ.

Lời kêu gọi này của ông Markey về việc vận dụng Tu Chính Án 25 để phế truất ông Trump có thể sẽ không đi đến đâu.

Làm như vậy sẽ đòi hỏi Phó Tổng Thống JD Vance và đa số thành viên nội các của ông Trump phải chuyển đến Quốc Hội tuyên bố rằng tổng thống không thể thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo chức trách của mình.

Sau đó, ngay lập tức quyền lực sẽ được chuyển giao cho phó tổng thống.

Tu Chính Án 25 yêu cầu Quốc Hội phê chuẩn quyết định phế truất ông Trump trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ phó tổng thống và nội các.

Quyết định này cần được đa số tuyệt đối, tức hai phần ba lưỡng viện Quốc Hội thông qua. Nếu không, tổng thống sẽ vẫn nắm quyền.

Tuy nhiên, Thượng Nghị Sĩ Ed Markey không phải là thành viên Quốc Hội duy nhất kêu gọi phế truất ông Trump.

 “Tổng thống Mỹ bị tâm thần nghiêm trọng và điều đó đang khiến tất cả tính mạng của chúng ta gặp nguy hiểm. Có Tu Chính Án thứ 25 là có lý do của nó – chúng ta cần vận dụng nó ngay lập tức,” Dân Biểu Yassamin Ansari (Dân Chủ-Arizona) viết trên X trong khi chia sẻ bức thư ông Trump gửi cho Thủ Tướng Store.

Trong một diễn biến khác, Tiến Sĩ Jonathan Reiner, bác sĩ tim của cố phó Tổng Thống Dick Cheney, hôm Thứ Hai kêu Quốc Hội mở điều tra khả năng thực thi chức vụ của ông Trump.

“Bức thư này, và thực tế là tổng thống đã chỉ đạo nó, được gửi đến các nước Châu Âu khác, cần kích hoạt một cuộc điều tra lưỡng đảng của Quốc Hội về khả năng thực thi chức vụ của tổng thống,” ông Reiner viết trên X. (NNL) [đ.d.]


 

Một người đàn ông chỉ học hết lớp 8, đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi

Tony Nguyễn

Năm 1961, một người đàn ông chỉ học hết lớp 8 đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.

Clarence Earl Gideon không phải là người đặc biệt. Ở tuổi 51, ông là một người lang thang với mái tóc bạc, làn da sạm nắng và một cuộc đời đầy bất hạnh. Ông lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, làm những công việc lặt vặt, sống lay lắt qua ngày, thỉnh thoảng lại vào tù vì những tội nhỏ. Ông chưa bao giờ học hết cấp hai. Ông chưa bao giờ có tiền. Và vào ngày 4 tháng 8 năm 1961, khi đứng trước tòa án ở Florida bị buộc tội đột nhập vào một quán bi-a, ông không có luật sư.

Bằng chứng chống lại ông rất mỏng manh – ai đó tuyên bố đã nhìn thấy ông gần quán bi-a Bay Harbor khoảng 5:30 sáng với tiền xu trong túi. Năm đô la tiền lẻ đã bị mất khỏi tòa nhà, cùng với một ít bia và nước ngọt. Chỉ có vậy. Gideon thề rằng mình vô tội, nhưng ai sẽ lắng nghe một người lang thang nghèo khó với tiền án tiền sự?

Khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đưa ra một yêu cầu mà ông tin là đơn giản và hợp hiến: “Thưa Thẩm phán, tôi yêu cầu tòa án chỉ định luật sư bào chữa cho tôi trong phiên tòa này.”

Câu trả lời của thẩm phán rất lịch sự nhưng lại vô cùng tàn nhẫn: “Ông Gideon, tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể chỉ định luật sư bào chữa cho ông trong trường hợp này. Theo luật của tiểu bang Florida, tòa án chỉ có thể chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo khi người đó bị buộc tội phạm tội nghiêm trọng.”

Hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Hệ thống pháp luật Mỹ – với tất cả sự phức tạp, các quy tắc thủ tục, ngôn ngữ chuyên ngành – lại yêu cầu một người chưa học hết cấp hai phải tự bào chữa cho mình trước các công tố viên được đào tạo bài bản. Họ mong đợi ông hiểu luật chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và bảo vệ quyền hiến pháp của chính mình.

Gideon đã cố gắng hết sức. Ông thẩm vấn nhân chứng. Ông tuyên bố mình vô tội. Nhưng làm sao bạn có thể tự bào chữa cho mình khi bạn không hiểu ngôn ngữ của luật pháp? Bồi thẩm đoàn tuyên bố ông có tội. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1961, Thẩm phán Robert L. McCrary đã tuyên án ông mức án tối đa: năm năm tù tại nhà tù tiểu bang Florida.

Hầu hết mọi người sẽ bỏ cuộc. Nhưng Clarence Earl Gideon không phải là người bình thường.

Trong thư viện nhà tù, giữa những cuốn sách luật mà ông hầu như không thể hiểu, Gideon bắt đầu đọc. Dần dần, một cách khó nhọc, ông tự học về Hiến pháp. Ông phát hiện ra lời hứa của Tu chính án thứ Sáu về “quyền được trợ giúp pháp lý”. Ông tìm hiểu về sự đảm bảo của Tu chính án thứ Mười bốn về thủ tục tố tụng công bằng. Và ông nhận ra một điều khiến lòng ông đau nhói: hệ thống này về cơ bản đã bị hỏng.

Làm sao công lý có thể tồn tại khi những bị cáo giàu có có luật sư, còn những người nghèo lại phải đối mặt với các công tố viên một mình?

Gideon đã nộp đơn kiến ​​nghị lên Tòa án Tối cao Florida. Họ bác bỏ đơn mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào.

Vì vậy, ông lại cầm bút lên. Với nét chữ run rẩy trên giấy viết thư của nhà tù, trên năm trang giấy viết tay với lỗi chính tả không hoàn hảo, ông đã viết một đơn kiến ​​nghị gửi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông ký tên. Ông gấp lại. Và vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, tiếng nói của một tù nhân nghèo đã đến được tòa án cao nhất nước Mỹ.

Bất chấp mọi khó khăn có thể tưởng tượng được, họ đã lắng nghe.

Tòa án Tối cao nhận được hàng nghìn đơn kiến ​​nghị mỗi năm. Hầu hết đều bị bác bỏ mà không cần xem xét kỹ lưỡng. Nhưng có điều gì đó trong vụ án của Gideon đã gây ấn tượng mạnh. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, họ đồng ý xem xét đơn kháng cáo của ông. Và vì ông không đủ khả năng thuê luật sư, họ đã chỉ định cho ông một trong những luật sư giỏi nhất nước: Abe Fortas, người sau này sẽ trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1963, Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục: Nếu Clarence Darrow—có lẽ là luật sư hình sự vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ—còn cần thuê luật sư khi bị buộc tội, thì làm sao một người chỉ học hết lớp tám có thể tự bào chữa cho mình?

Câu trả lời rất rõ ràng. Ông ấy không thể. Không ai có thể.

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao công bố phán quyết: 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống. Nhất trí. Thẩm phán Hugo Black, người đã tranh luận cho kết quả này trong hơn hai mươi năm, đã viết bản án. Tòa án tuyên bố rằng quyền được có luật sư là “cơ bản và thiết yếu cho một phiên tòa công bằng”. Các tiểu bang phải cung cấp luật sư cho các bị cáo nghèo đối mặt với các cáo buộc nghiêm trọng. Tiền lệ cũ đã bị lật ngược. Và vụ án của Gideon được gửi trở lại Florida để xét xử lại.

Lần này, Gideon có luật sư: Fred Turner. Với sự đại diện chuyên nghiệp, mọi thứ đã thay đổi. Turner đã vạch trần những điểm yếu trong vụ án của bên công tố. Ông tiết lộ rằng nhân chứng chủ chốt của tiểu bang có thể chính là người đã thực hiện vụ trộm. Ông ấy đã chứng minh được sự nghi ngờ hợp lý, trong khi trước đó dường như chỉ có tội lỗi.

Vào ngày 5 tháng 8 năm 1963—tại cùng một tòa án, trước cùng một thẩm phán—bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết:

Không có tội.

Sau hơn hai năm ngồi tù vì một tội mà ông không phạm phải, Clarence Earl Gideon đã được tự do.

Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi. Nhờ đơn kiến ​​nghị viết bằng bút chì của một người đàn ông, hệ thống tư pháp Mỹ đã thay đổi một cách căn bản. Các tiểu bang trên khắp cả nước phải thành lập các văn phòng luật sư công. Hàng nghìn tù nhân bị kết tội mà không có luật sư đã được xét xử lại. Nguyên tắc rằng công lý không nên phụ thuộc vào sự giàu có đã trở thành luật.

Gideon trở lại cuộc sống bình lặng của mình. Ông kết hôn lần thứ năm. Ông phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe. Khi ông qua đời vì ung thư vào ngày 18 tháng 1 năm 1972, ở tuổi 61, ông vẫn nghèo khó. Ban đầu, gia đình ông chôn cất ông trong một ngôi mộ không có bia mộ ở Missouri.

Nhưng nhiều năm sau, ACLU đã đặt một bia mộ bằng đá granit trên ngôi mộ đó. Dòng chữ khắc trên bia mộ được trích từ chính lời của Gideon trong một lá thư gửi cho Abe Fortas: “Mỗi thời đại đều tìm thấy sự cải tiến trong luật pháp vì lợi ích của nhân loại.”

Ngày nay, mỗi khi bạn nghe thấy những lời “bạn có quyền được có luật sư, và nếu bạn không đủ khả năng chi trả, một luật sư sẽ được chỉ định cho bạn”—những lời đó tồn tại là nhờ một người đàn ông đã từ chối chấp nhận rằng người nghèo phải đối mặt với công lý một mình.

Clarence Earl Gideon đã chứng minh rằng lực lượng mạnh mẽ nhất để tạo ra sự thay đổi không phải là sự giàu có, địa vị hay học vấn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là lòng dũng cảm để cầm bút lên và viết: “Điều này không đúng.”

Và đôi khi, bất chấp mọi khó khăn, thế giới lại đồng ý.


 

Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Những câu chuyện Nhân Văn

Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Cô bác, anh chị thân mến,

Già đi là lẽ thường. Nhưng sống sao cho nhẹ lòng, không làm phiền ai… thì tôi muốn chuẩn bị từ sớm. Bác sĩ Phương không sợ già, chỉ sợ lúc yếu lại khiến người thân lo lắng. Nên nhiều năm nay, tôi âm thầm chuẩn bị cho mình ba “đường lui”, để tuổi 70 được sống bình yên, tự chủ:

  1. Một thân thể đủ khỏe

Tôi không mong sống lâu, chỉ mong tự lo được cho mình. Ăn uống vừa phải, vận động đều, ngủ sớm… để mỗi ngày trôi qua vẫn thấy mình còn là chính mình. Một cơ thể khỏe là nền tảng để đi nhẹ nhàng qua tuổi già.

  1. Một khoản riêng để phòng thân

Tôi không dư dả, nhưng luôn cố gắng dành một khoản tiền riêng – không nhiều nhưng đủ để không bối rối khi đau ốm hay có việc đột xuất. Có tiền phòng thân giúp tâm vững, không phụ thuộc con cháu, không lo lắng khi gặp chuyện bất ngờ.

  1. Một người bên cạnh để nương nhau qua ngày

Tôi vẫn hay nói với chồng: “Hai người già ở với nhau, quan trọng nhất là không làm khổ nhau.” Ở tuổi này, chẳng cần gì lớn lao, chỉ cần có người cùng ăn bữa cơm, cùng nhắc chuyện xưa mà thấy nhẹ lòng. Bạn đời không phải chỗ dựa duy nhất, nhưng là bến đỗ tinh thần cuối cùng.

Cô bác, anh chị à, ba đường lui không phải để trốn tránh tuổi già, mà để đi vào nó nhẹ nhàng, tự chủ, và biết ơn. Tôi không mong sống lâu, chỉ mong sống vui, sống sao cho người bên mình thấy dễ chịu, người nhớ về mình không tiếc nuối.

Cô bác anh chị có đồng tình với tôi không?

TTƯT, Bác sĩ Lê Phương

 


 

LIÊN MINH KỲ LẠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nhóm Pharisêu lập tức bàn tính với phe Hêrôđê, để tìm cách giết Đức Giêsu”.

“Đoàn kết không có chân lý là âm mưu chống lại chân lý!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, khi sự thật trở thành bất tiện, con người dễ đoàn kết và hình thành một ‘liên minh kỳ lạ!’.

Nhóm Pharisêu giữ luật, phe Hêrôđê giữ quyền – không chung đường – nay chung quyết định loại Chúa Giêsu, Đấng đặt sự sống con người trên mọi cơ chế. Thế giới hôm nay không xa lạ với hình ảnh ấy. Những lá phiếu “vì hoà bình” tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đôi khi chỉ vì quyền lợi của vài nước lớn. Công lý được nhắc, nhưng bị treo lơ lửng vì những cái bắt tay sau hậu trường – thậm chí công khai. Có những sự đồng thuận hợp pháp, nhưng không hẳn vì nhân quyền.

Giữa những cơ chế, Chúa Giêsu không chọn thương lượng để an toàn, không chọn im lặng để được chấp nhận. Ngài tiếp tục làm điều lành, dù biết sẽ dẫn tới xung đột. Ở đây, ba cám dỗ sa mạc hiện hình – an toàn thay vì tín thác, quyền lực thay vì phục vụ, thoả hiệp thay vì bị loại trừ. Ngài không để bất cứ liên minh nào làm trệch hướng; Ngài chỉ để ý muốn Chúa Cha và sự sống con người dẫn đường. “Chính trực là làm điều đúng ngay cả khi điều đó khó khăn!” – W. Clement Stone.

Xót xa hơn, điều này cũng có thể hình thành ngay trong đời sống Giáo Hội. Không cần âm mưu, chỉ cần cùng im lặng – né tránh để khỏi rắc rối, lờ đi để giữ yên ổn, chấp nhận những điều chưa đúng để khỏi đối diện phải đổi thay. Không cần đồng ý về điều sai; chỉ cần đừng ai nói đến điều đúng! Và thế là có thể rất trật tự, rất “êm”, nhưng lại bị trói bởi một ‘liên minh kỳ lạ’ – để giữ nguyên trạng, hơn là để trung thành với Tin Mừng.

Trong chính hiện sinh của mỗi người, cũng có những thoả thuận ngầm giữa đức tin và tiện nghi, giữa lương tâm và sợ hãi, giữa sĩ diện và bình an. Không ai chối Chúa, nhưng trì hoãn để ân sủng Ngài chạm tới những vùng tối. Chúng ta tự thương lượng: lần này thôi, để sau, miễn sao cuộc sống vẫn trôi êm. Và như thế, bạn và tôi sống một đức tin đủ để yên tâm, chưa đủ để hoán cải. “Trong khoảnh khắc quyết định, điều tốt nhất bạn có thể làm là làm điều đúng; điều tốt thứ hai là làm sai; và tệ nhất là không làm gì cả!” – Theodore Roosevelt.

Anh Chị em,

Theo Chúa Giêsu không cho phép ai đứng về phía số đông, nhưng dám đứng về phía sự thật, cả khi điều đó khiến chúng ta lạc lõng. Ngài không chọn an toàn, vì lối an toàn thường dẫn tới thoả hiệp; Ngài chọn con đường tình yêu phải trả giá, và đường ấy đưa Ngài lên thập giá – ngai toà đỏ máu của một tình yêu không bị mua chuộc. Mỗi ngày, bạn và tôi đứng trước cùng một chọn lựa: trung thành với Tin Mừng, hay với những thoả thuận giúp mình khỏi đổi thay? “Mỗi khi bạn thấy mình đứng về phía đa số, đó là lúc dừng lại và tự suy nghĩ!” – Mark Twain.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con im lặng cho yên ổn, lay con khỏi thoả hiệp; khi con chọn đường dễ, kéo con về thập giá; khi con giữ chặt an toàn, xin bẻ con cho tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Ngày sa-bát, được cứu mạng người hay giết đi ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,1-6

1 Khi ấy, Đức Giê-su lại vào hội đường. Ở đó có một người bị bại tay. 2 Họ rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy trong ngày sa-bát không, để tố cáo Người. 3 Đức Giê-su bảo người bại tay : “Anh đứng dậy, ra giữa đây !” 4 Rồi Người nói với họ : “Ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết người ?” Nhưng họ làm thinh. 5 Đức Giê-su giận dữ rảo mắt nhìn họ, buồn bực vì lòng họ chai đá. Người bảo anh bại tay : “Anh giơ tay ra !” Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường. 6 Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su.


 

Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối

My Lan Pham is with Chuyện Nhân Văn.

Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối. Họ khuyên nên ngừng duy trì sự sống. Bà từ chối. Stephen Hawking đã sống lâu hơn mọi dự đoán suốt hai mươi hai năm, và bà không định để câu chuyện của ông kết thúc ở đó.

Geneva, mùa hè năm 1985.

Stephen đến đó để nghiên cứu thì mắc viêm phổi. Với hầu hết mọi người, viêm phổi nguy hiểm nhưng có thể sống sót. Với một người mắc ALS giai đoạn nặng, không thể cử động, ho hay tự làm sạch phổi, đó thường là bản án tử.

Tình trạng của ông xấu đi rất nhanh. Chỉ trong vài ngày, ông rơi vào hôn mê, phải thở máy, phổi dần suy kiệt.

Các bác sĩ nói thẳng với Jane. Stephen sẽ không hồi phục. Cơ thể ông đang ngừng hoạt động. Lựa chọn nhân đạo nhất, theo họ, là tắt máy móc và để ông ra đi trong yên bình.

Jane lúc đó bốn mươi mốt tuổi. Bà đã kết hôn với Stephen hai mươi năm. Bà đã chứng kiến ALS lấy đi của ông từng chút một: dáng đi, sự độc lập, khả năng tự ăn uống, viết lách, đứng thẳng. Đến năm 1985, ông chỉ còn cử động được vài ngón tay và một phần khuôn mặt.

Suốt hai thập kỷ, bà vừa là người chăm sóc ông, vừa nuôi dạy ba đứa con, giữ gìn gia đình, vừa nâng đỡ một người đàn ông mà thế giới nay công nhận là một trong những bộ óc vĩ đại nhất, dù căn bệnh được cho là sẽ giết ông trong vòng hai năm.

Các bác sĩ đang đưa ra một lối thoát.

Chấm dứt sự kiệt quệ.

Chấm dứt gánh nặng trách nhiệm không ngừng nghỉ.

Chấm dứt việc nhìn người mình yêu bị giam cầm trong một cơ thể đang suy tàn.

Bà hoàn toàn có thể đồng ý. Không ai trách bà.

Jane nói không.

Bà yêu cầu họ làm mọi cách để cứu ông. Các bác sĩ giải thích điều đó có nghĩa là gì. Stephen sẽ cần một ca mở khí quản khẩn cấp, đặt ống thở vĩnh viễn qua cổ họng. Ông sẽ không bao giờ nói chuyện tự nhiên được nữa. Ông sẽ không bao giờ tự thở. Ông sẽ còn phụ thuộc nhiều hơn nữa.

Jane không do dự.

Hãy làm đi.

Ca phẫu thuật đã cứu mạng ông. Nhưng nó cũng lấy đi một thứ không thể thay thế.

Suốt hai mươi hai năm, dù ALS tàn phá cơ thể, Stephen vẫn còn nói được. Giọng ông chậm và ngọng, nhưng đó là giọng của ông. Ca mở khí quản đã phá hủy nó hoàn toàn.

Trở về Cambridge, Stephen giao tiếp bằng cách nhướng lông mày khi có người chỉ vào các chữ cái trên bảng. Một lần nhướng là “có”. Hai lần là “không”. Từ ngữ được ghép lại từng chữ một. Đau đớn. Chậm chạp.

Với một con người mà toàn bộ cuộc sống xoay quanh ý tưởng, giải thích và giao tiếp, đó là cú đánh tàn khốc.

Rồi một kỹ sư máy tính tên Walt Woltosz nghe nói về ông. Woltosz đã tạo ra một chương trình gọi là Equalizer, cho phép người dùng tạo câu với rất ít cử động. Ông tặng nó cho Stephen miễn phí.

Stephen học cách sử dụng nó với một công tắc nhỏ ở tay, chọn từ trên màn hình để máy tính đọc lên. Ban đầu, tốc độ vô cùng chậm, khoảng một từ mỗi phút.

Nhưng đó là một giọng nói.

Và Stephen Hawking quay trở lại với công việc.

Điều khiến khoảnh khắc này trở nên phi thường là đến năm 1985, Stephen đã vượt xa mọi dự đoán y khoa.

Được chẩn đoán ALS năm 1963 khi mới hai mươi mốt tuổi, ông được cho là chỉ sống được hai năm. Hai năm.

Ông kết hôn với Jane Wilde năm 1965, hoàn toàn ý thức rằng mình có thể chết sớm. Họ có ba người con trong khi Stephen dần mất toàn bộ chức năng vận động.

Trong thời gian đó, ông làm thay đổi vật lý lý thuyết. Năm 1974, ông chứng minh rằng hố đen phát ra bức xạ, nay được gọi là bức xạ Hawking, làm thay đổi cách chúng ta hiểu về vũ trụ.

Vào lúc nằm trên giường bệnh ở Geneva, ông đã phải ngồi xe lăn, cần được chăm sóc liên tục và phụ thuộc vào người khác trong hầu hết mọi việc.

Và ông vẫn đang tạo ra khoa học làm thay đổi thế giới.

Vì thế, khi các bác sĩ đề nghị kết thúc sự sống của ông, họ không chỉ yêu cầu Jane buông tay chồng mình. Họ đang hỏi liệu thế giới có nên mất đi một trí tuệ vẫn chưa hoàn thành sứ mệnh hay không.

Jane biết ông chưa xong.

Và bà đã đúng.

Sau khi hồi phục và thích nghi với giọng nói điện tử, Stephen hoàn thành dự án mà ông ấp ủ suốt nhiều năm: một cuốn sách nhằm giải thích vũ trụ cho người bình thường.

A Brief History of Time được xuất bản năm 1988.

Nó trở thành điều không ai ngờ tới.

237 tuần trong danh sách bán chạy nhất.

Được dịch ra bốn mươi ngôn ngữ.

Bán hơn hai mươi lăm triệu bản.

Cuốn sách đưa hàng triệu người đến với hố đen, Vụ Nổ Lớn và bản chất của thời gian, không công thức, không hù dọa, với sự hài hước và rõ ràng.

Không điều gì trong số đó tồn tại nếu Jane nói “có” vào năm 1985.

Và Stephen vẫn chưa dừng lại.

Ông sống thêm ba mươi ba năm.

Viết thêm nhiều sách. Xuất hiện trong Star Trek và The Simpsons. Trở thành tiếng nói toàn cầu cho quyền của người khuyết tật. Cho thế giới thấy rằng giới hạn thể chất không giới hạn sức mạnh trí tuệ. Sống đủ lâu để chứng kiến sóng hấp dẫn được phát hiện, xác nhận những ý tưởng mà công trình của ông góp phần định hình.

Ông qua đời năm 2018, ở tuổi bảy mươi sáu.

Năm mươi lăm năm sau tiên lượng ban đầu.

Jane và Stephen ly hôn năm 1995. Áp lực chăm sóc, sự hiện diện thường trực của y tá, và sự tiến triển không ngừng của ALS đã để lại những vết nứt mà không phiên bản lãng mạn nào của câu chuyện thừa nhận. Không ai hiểu công việc chăm sóc lại phán xét bà vì điều đó.

Nhưng vào năm 1985, bà đã đưa ra lựa chọn quan trọng nhất.

Stephen từng nói ca mở khí quản vừa là điều tồi tệ nhất vừa là điều tốt đẹp nhất xảy ra với ông. Tồi tệ vì ông mất giọng nói tự nhiên mãi mãi. Tốt đẹp vì giọng nói tổng hợp cho phép ông giao tiếp rõ ràng hơn nhiều so với những năm trước.

Hãy tưởng tượng một lịch sử khác.

Stephen Hawking qua đời ở tuổi bốn mươi ba.

Một nhà vật lý được kính trọng. Những bài báo quan trọng. Chủ yếu được biết đến trong giới học thuật.

Không có A Brief History of Time.

Không có giọng nói biểu tượng.

Không có cây cầu nối khoa học với công chúng.

Không có hàng thập kỷ truyền cảm hứng cho người khuyết tật.

Không có ba mươi ba năm khám phá thêm.

Tất cả bị xóa bỏ vì một người phụ nữ chọn cái kết dễ dàng hơn.

Jane đã chọn con đường khó hơn.

Bà không chọn vì danh tiếng. Không chọn vì lịch sử. Bà chọn vì bà biết Stephen chưa thôi đặt câu hỏi.

Đó là tình yêu đích thực.

Không điện ảnh. Không nhẹ nhàng.

Là thứ tình yêu nói rằng điều này sẽ tàn khốc, và anh vẫn xứng đáng.

Jane Hawking đã cứu Stephen Hawking hai lần.

Một lần vào năm 1965, khi bà kết hôn với một người đàn ông được cho là chỉ sống hai năm.

Và một lần vào năm 1985, khi bà từ chối để các bác sĩ quyết định rằng câu chuyện của ông đã kết thúc.

Cả hai lần, bà đều chọn con đường khó hơn.

Vũ trụ được hưởng lợi từ cả hai lựa chọn ấy.

Stephen Hawking đã thay đổi cách chúng ta hiểu về thực tại.

Jane Hawking đã trao cho thiên tài ấy thêm ba mươi ba năm tồn tại.

Và tất cả bắt đầu từ một khoảnh khắc trong bệnh viện ở Geneva.

Một lời khuyên.

Một sự từ chối.

Jane Hawking đã nói không với cái chết.

Và Stephen Hawking có thêm ba thập kỷ để khám phá vô hạn.


 

 Trong trại tử thần, họ cho ông một con số: 119104

My Lan Pham

Nhưng điều mà họ cố giết chết nhất lại chính là thứ đã cứu sống hàng triệu con người.

Năm 1942. Vienna.

Viktor Frankl 37 tuổi, là một bác sĩ tâm thần được kính trọng, có phòng khám riêng đang phát triển, một bản thảo gần hoàn thành, và một người vợ tên Tilly với tiếng cười có thể làm bừng sáng cả căn phòng.

Ông có cơ hội trốn sang Mỹ.

Một tấm visa.

Một lối thoát.

Nhưng cha mẹ ông đã già và không thể đi cùng.

Vì thế, ông ở lại.

Chỉ vài tháng sau, Đức Quốc xã ập đến bắt tất cả.

Theresienstadt. Rồi Auschwitz. Rồi Dachau.

Bản thảo mà ông đã dành nhiều năm viết , được khâu cẩn thận vào lớp lót áo khoác ,bị giật mất chỉ vài giờ sau khi ông đến trại.

Công trình cả đời.

Mục đích sống.

Bị thiêu rụi thành tro.

Quần áo bị tước đi.

Tóc bị cạo sạch.

Tên tuổi bị xóa bỏ.

Trên tờ giấy nhập trại, chỉ còn một con số: 119104.

Nhưng có một điều mà lính canh không hiểu:

Bạn có thể lấy đi bản thảo của một người đàn ông.

Bạn có thể lấy đi tên tuổi của ông.

Bạn có thể lấy đi mọi thứ ông sở hữu.

Nhưng bạn không thể lấy đi điều ông biết.

Và Viktor Frankl biết một điều về tâm trí con người ,thứ đã giữ ông sống sót và khai sinh ra một cuộc cách mạng trong tâm lý học.

Ông nhận ra một quy luật.

Trong các trại tập trung, con người không chỉ chết vì đói hay bệnh tật.

Họ chết vì buông xuôi.

Khoảnh khắc một tù nhân đánh mất lý do để sống , cái “tại sao” của mình , cơ thể họ sẽ suy sụp chỉ trong vài ngày.

Các bác sĩ gọi hiện tượng này là: “bệnh bỏ cuộc”.

Nhưng những người bám víu vào một điều gì đó , một người vợ để tìm lại, một đứa con để gặp lại, một cuốn sách chưa viết xong, một món nợ cần trả, một lời hứa phải giữ họ chịu đựng được những đau khổ không tưởng.

Sự khác biệt không nằm ở thể lực.

Mà ở ý nghĩa sống.

Vì thế, Frankl bắt đầu một thí nghiệm.

Không phải trong phòng thí nghiệm.

Mà trong các barrack.

Ông tiếp cận những người đang bên bờ tuyệt vọng và thì thầm:

“Có ai đang chờ anh không?”

“Công việc nào của anh còn dang dở?”

“Nếu là con trai anh, anh sẽ nói gì để nó sống sót qua điều này?”

Ông không thể cho họ thức ăn.

Không thể hứa hẹn tự do.

Ông chẳng có gì vật chất để trao.

Nhưng ông trao cho họ thứ mà lính canh không bao giờ tịch thu được:

một lý do để sống đến ngày mai.

Một người nhớ đến con gái mình. Anh sống sót và tìm lại được con.

Một người khác nhớ đến một vấn đề khoa học còn dang dở. Anh sống sót để giải quyết nó.

Còn Frankl , ông sống sót bằng cách tái dựng bản thảo đã mất trong tâm trí, từng trang, từng đoạn, trong bóng tối của trại giam.

Tháng 4 năm 1945. Giải phóng.

Viktor Frankl chỉ còn nặng 38 kg.

Xương sườn lộ rõ dưới làn da.

Tilly đã mất.

Mẹ ông đã mất.

Anh trai ông đã mất.

Mọi thứ ông yêu thương đều đã bị sát hại.

Ông có mọi lý do để tuyệt vọng. Mọi lý do để buông xuôi.

Nhưng thay vào đó, ông ngồi xuống và bắt đầu viết.

Chín ngày.

Chỉ mất chín ngày để ông tái tạo toàn bộ bản thảo từ trí nhớ , bản thảo mà Đức Quốc xã đã phá hủy ba năm trước.

Nhưng lần này, nó có thêm một điều mà bản gốc chưa từng có:

Bằng chứng.

Bằng chứng sống động, không thể chối cãi rằng lý thuyết của ông là đúng.

Ông gọi nó là Liệu pháp ý nghĩa (Logotherapy) ,chữa lành bằng ý nghĩa sống.

Nền tảng của nó đơn giản nhưng mang tính cách mạng:

Con người có thể sống sót qua hầu như mọi thứ, nếu họ có một lý do “tại sao”.

“Ai có lý do để sống thì có thể chịu đựng gần như mọi hoàn cảnh.”

(Ông mượn câu nói của Nietzsche ,nhưng ông đã chứng minh nó trong địa ngục.)

Năm 1946. Cuốn sách được xuất bản.

Bản tiếng Đức có tựa đề:

“…trotzdem Ja zum Leben sagen”

“…Dẫu vậy, vẫn nói Có với cuộc đời.”

Bản tiếng Anh mang tên: “Man’s Search for Meaning”

(Đi tìm lẽ sống).

Ban đầu, thế giới chưa sẵn sàng đón nhận nó.

Nhiều nhà xuất bản từ chối:

“Quá u ám”, họ nói.

“Ai muốn đọc về trại tập trung chứ?”

Nhưng rồi, chậm rãi, lặng lẽ, cuốn sách lan tỏa.

Các nhà trị liệu đọc và bật khóc.

Tù nhân đọc và tìm thấy hy vọng.

Những người đối diện với ly hôn, bệnh tật, phá sản, trầm cảm ,họ đọc và nhận ra rằng nỗi đau của mình có thể mang ý nghĩa.

Tác động của nó là chấn động.

Cuốn sách được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ.

Bán hơn 16 triệu bản.

Thư viện Quốc hội Mỹ xếp nó vào 10 cuốn sách có ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ.

Nhưng điều quan trọng hơn những con số bán ra là điều này:

Vô số con người ,những người mà chúng ta sẽ không bao giờ biết tên — đã cầm cuốn sách này trong khoảnh khắc tăm tối nhất của đời mình và tìm được lý do để tiếp tục sống.

Bởi vì Viktor Frankl đã chứng minh một điều mà Đức Quốc xã muốn phủ nhận:

Bạn có thể tước đi mọi thứ của một con người —

tự do, gia đình, thức ăn, tương lai, hy vọng —

nhưng vẫn còn một tự do cuối cùng không ai có thể lấy được:

Tự do lựa chọn ý nghĩa của tất cả những điều đó.

Bạn không thể kiểm soát những gì xảy đến với mình.

Nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách bạn đối diện với nó.

Hôm nay, Viktor Frankl đã không còn.

Nhưng trong phòng bệnh, trong phòng trị liệu, trong nhà tù, trong những khoảnh khắc yên lặng khi ai đó đang phân vân giữa bỏ cuộc hay tiếp tục — lời của ông vẫn ở đó:

“Khi ta không còn khả năng thay đổi hoàn cảnh, ta được thách thức để thay đổi chính mình.”

“Mọi thứ có thể bị lấy đi khỏi một con người, ngoại trừ một điều:

tự do cuối cùng của con người ,lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào.”

Đức Quốc xã cho ông một con số.

Lịch sử trao cho ông sự bất tử.

Bởi vì người đàn ông mất tất cả đã dạy cho thế giới rằng:

ý nghĩa là thứ không ai có thể cướp đi.

Tù nhân 119104 không chỉ sống sót.

Ông biến chính nỗi đau thành nguồn chữa lành.

Và đâu đó tối nay, sẽ có một người đang ở bên bờ sụp đổ đọc những dòng chữ của ông ,và quyết định cố gắng thêm một ngày nữa.

Đó không chỉ là sự sống sót.

Đó là chiến thắng trước cái chết.

Chia sẻ từ trang Native American Heritage

My Lan Phạm


 

CHỨNG “QUÊN TẠM THỜI” HAY CHỈ LÀ DẤU HIỆU CỦA TUỔI TÁC?

Những Câu Chuyện Thú Vị

Nếu bạn đã bước sang tuổi 50 hoặc hơn, đừng lướt qua nhé! Hãy dành chút thời gian đọc bài viết này…

Dạo gần đây, có bao giờ bạn đang nói chuyện bỗng dưng khựng lại vì quên mất mình định nói gì không? Trước đây, tôi rất sợ đó là dấu hiệu sớm của bệnh Alzheimer… nhưng sau khi đọc bài này, tôi đã hoàn toàn yên tâm.

Có một sự thật là: Nếu bạn còn nhận thức được mình đang gặp vấn đề về trí nhớ, thì đó CHƯA PHẢI là Alzheimer.

Tôi quên tên họ của người quen…

Tôi không nhớ mình đã cất đồ đạc ở đâu…

Ở những người từ 50 tuổi trở lên, việc phàn nàn về trí nhớ kém là chuyện rất thường tình. Thực tế là: “Thông tin vẫn nằm trong não bộ, chỉ là bộ vi xử lý (processor) của chúng ta đang chạy chậm lại một chút mà thôi.”

Y học gọi đây là chứng Anosognosie – hay đơn giản là sự “quên tạm thời”. Có đến một nửa số người trên 50 tuổi gặp phải các triệu chứng do tuổi tác hơn là do bệnh tật. Những trường hợp phổ biến nhất là:

Quên tên một người bạn mới gặp.

Đi vào một căn phòng rồi đứng ngẩn ngơ không nhớ mình vào đó để làm gì.

Đột nhiên “trắng bộ nhớ” khi định nhắc tên một bộ phim hay một diễn viên.

Tốn thời gian đi tìm kính mắt hoặc chìa khóa dù chúng vừa ở trên tay.

Sau tuổi 60, những biểu hiện này càng rõ rệt hơn. Nhưng hãy nhớ: đây là một đặc điểm của thời gian, không phải là bệnh lý.

Giáo sư Bruno Dubois, Giám đốc Viện Trí nhớ và Bệnh Alzheimer (IMMA), đã trấn an rằng: “Càng phàn nàn nhiều về việc mất trí nhớ, bạn càng ít có nguy cơ mắc các bệnh về trí nhớ thực sự. Bởi vì những người mắc bệnh Alzheimer thật sự thường không hề nhận ra những gì đang xảy ra với mình.”

BÀI KIỂM TRA THẦN KINH NHỎ

(Lưu ý: Chỉ dùng mắt để tìm nhé!)

  1. Tìm chữ C trong bảng dưới đây: OOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOCOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOO
  2. Nếu đã thấy chữ C, hãy tìm số 6 dưới đây: 999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999699999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999
  3. Cuối cùng, tìm chữ N (khó hơn một chút đấy): MMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMNMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMM

Kết quả: Nếu bạn vượt qua 3 bài test này một cách dễ dàng:

Chúc mừng! Bộ não của bạn vẫn đang hoạt động rất tốt.

Bạn có thể tạm quên việc đi khám thần kinh định kỳ đi.

Bạn còn cách Alzheimer rất xa!

Hãy chia sẻ thông tin này để người thân và bạn bè cùng yên tâm nhé!

TG Văn Chương


 

CỰU CHÁNH ÁN TAND CẤP CAO ĐÀ NẴNG BỊ BẮT: VẤN ĐỀ KHÔNG CHỈ NẰM Ở MỘT CÁ NHÂN

Chân Trời Mới Media

Việc bắt tạm giam cựu Chánh án TAND Cấp cao tại Đà Nẵng Nguyễn Văn Bường về tội “nhận hối lộ” đánh dấu bước mở rộng đáng chú ý của vụ án tham nhũng tư pháp nghiêm trọng tại Việt Nam những năm gần đây. Sự việc này phơi bày một mạng lưới “chạy án” có tổ chức, tồn tại xuyên suốt trong ban lãnh đạo cơ quan xét xử cao nhất khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Tính đến nay, toàn bộ dàn lãnh đạo chủ chốt của đơn vị này trong cùng giai đoạn công tác đều đã liên đới hình sự. Trước ông Bường, hai cựu Phó Chánh án là Phạm Việt Cường và Phạm Tấn Hoàng đã lần lượt nhận án 7 năm và 3 năm tù vào tháng 12/2025.

Từ hồ sơ vụ án cho thấy thực trạng đáng báo động của một “thị trường” môi giới tư pháp. Với quy mô hơn 11 tỷ đồng tang vật được xác định từ 20 vụ sai phạm. Có 16 trong số 20 vụ án thực hiện giao dịch qua ngân hàng điện tử với giá trị mỗi lần chuyển từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, cho thấy sự tự tin của các đối tượng trước các cơ chế kiểm soát dòng tiền. Hình thành mạng lưới trung gian phức tạp tác động vào kết quả án hình sự, dân sự và thương mại. Có trường hợp cần tới 5 cấp môi giới để thực hiện hành vi.

Việc một loạt cán bộ tư pháp cấp cao bị xử lý hình sự trong cùng một chuỗi vụ án đang đặt ra những câu hỏi về hiệu quả của cơ chế giám sát nội bộ trong hệ thống tòa án, cơ chế kiểm soát quyền lực và minh bạch của ngành tư pháp. Đặc biệt ở các cấp có thẩm quyền xét xử cao nhất, khi các sai phạm kéo dài nhiều năm và liên quan đến nhiều địa phương.

#chantroimoi


 

Giáo Chủ Ali Khamenei trước chén rượu độc-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 19, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Trong khi bộ máy an ninh Iran truy bắt và giết ít nhất 5,000 người biểu tình tính đến ngày 18 Tháng Giêng, bản thân Giáo Chủ (Ayatollah) Ali Khamenei 86 tuổi phải trốn mất biệt vào hầm bí mật. Ông luôn là mục tiêu số một của điệp viên Mossad (Israel); và với sự kiện biệt kích Mỹ bắt sống Tổng Thống Venezuela Nicolás Maduro vẫn còn nóng hổi, Ali Khamenei càng phải trốn kỹ. Tuy nhiên, việc bảo vệ sinh mạng Ali Khamenei xem ra còn dễ hơn so với việc bảo vệ một chế độ đang chao đảo trên bờ vực.

Một người biểu tình ở London, Anh Quốc, hôm 14 Tháng Giêng, đốt hình Giáo Chủ Ali Khamenei. (Hình minh họa: Dan Kitwood/Getty Images)

Chén rượu khó nuốt

Lịch sử Iran đang đứng trước khúc quanh định mệnh. Sau gần bốn thập niên cầm quyền, Giáo Chủ Ali Khamenei – người nắm giữ quyền lực tuyệt đối tại quốc gia Hồi Giáo này – đang đối mặt với những thách thức mang tính tồn vong mà ngay cả những người lạc quan nhất trong hàng ngũ trung thành cũng phải lo sợ. Chế độ thần quyền mà Ali Khamenei xây dựng, dựa vào nền móng “bê tông cốt thép” của người tiền nhiệm – Giáo Chủ Ruhollah Khomeini – tưởng vững như bàn thạch giờ đây đang rung bần bật từng ngày trước cơn địa chấn phẫn nộ của hàng triệu người dân.

Khi Giáo Chủ Khomeini qua đời năm 1989, Ali Khamenei – tổng thống Iran từ 1981 đến 1989 – nổi lên như ứng cử viên bộ máy thần quyền ủng hộ cho vị trí lãnh đạo tối cao. Là giáo sĩ cấp trung, Ali Khamenei thiếu những bằng cấp tôn giáo cao quý cần thiết cho vai trò mới. Do vậy, giới tăng lữ đã phong ông làm “ayatollah” (giáo chủ, không phải “đại giáo chủ” – grand ayatollah – như một số báo viết). Năm 1994, ông được nâng lên vị trí “marja” – một “giáo hoàng” trong thế giới Hồi Giáo, được xem là “tấm gương” để tất cả tín đồ Hồi giáo noi theo. Ngoài ra, Ali Khamenei còn mang danh hiệu “Vali Faqih” – người giám hộ cao nhất của đức tin Hồi Giáo Shia.

Khi quyền lực trong tay, Ali Khamenei trở thành tiếng nói cuối cùng trong mọi vấn đề. Ông kiểm soát tuyệt đối hệ thống tư pháp; bổ nhiệm người đứng đầu đài truyền hình nhà nước; đích thân chọn các thành viên Hội Đồng Giám Hộ chịu trách nhiệm xem xét các ứng cử viên “dân cử.” Ali Khamenei cũng bổ nhiệm các vị trí chủ chốt trong nội các, đặc biệt bộ trưởng Nội Vụ, Quốc Phòng, Ngoại Giao và Tình Báo. Bộ máy chỉ huy Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng và Basij (lực lượng vũ trang được thành lập như một kiểu dân quân) cũng phải được ông chỉ định.

Bằng cách này, Ali Khamenei vượt qua mọi bão táp thời đại suốt gần 40 năm, từ áp lực cấm vận của phương Tây đến nhiều đợt nổi dậy của người dân. Tuy nhiên, lần này, ngay cả khi lực lượng an ninh có thể dập tắt làn sóng biểu tình, Ali Khamenei cũng đang cạn kiệt khả năng xoay sở chính trị. Nếu không chấp nhận thỏa hiệp và thay đổi, ông sẽ đối mặt với hiểm họa mà không chỉ cá nhân ông không thể toàn mạng mà chế độ thần quyền cũng có nguy cơ sụp đổ.

Iran chỉ có thể giải quyết các vấn đề kinh tế – nguyên nhân dẫn đến sự phẫn nộ công chúng – nếu các lệnh trừng phạt quốc tế được dỡ bỏ. Để có điều này, trước hết Ali Khamenei phải giảm hoặc ngưng các chương trình phát triển nguyên tử năng. Tuy nhiên, việc từ bỏ chương trình nguyên tử năng không khác gì giương cờ đầu hàng. Tình cảnh Ali Khamenei khiến người ta nhớ đến một quyết định khó khăn mà người tiền nhiệm của ông, Giáo Chủ Ruhollah Khomeini, từng đối mặt. Lúc đó, Ruhollah Khomeini mô tả viễn cảnh một thỏa thuận ngừng bắn với Iraq là điều nhục nhã chẳng khác gì bị ép phải uống chén rượu độc. Cuối cùng, Ruhollah Khomeini phải “uống,” khi không có lựa chọn nào khác ngoài việc ngừng chiến với Iraq vào năm 1988 sau tám năm giao tranh tàn khốc.

Ai thay thế Ali Khamenei?

Áp lực nội tại lên Teheran là rất lớn. Không chỉ chính trị. Tháng Mười Một, Tổng Thống Masoud Pezeshkian nói rằng Iran có thể phải “dời đô” vì Teheran gần như không thể chịu nổi cuộc khủng hoảng nguồn nước. Dù là một trong những quốc gia giàu dầu mỏ nhất thế giới, Iran không còn khả năng cung cấp điện cho người dân 24 giờ một ngày. Tổng Thống Pezeshkian phải thốt lên: “Ai làm được gì thì làm đi. Tôi chịu hết nổi rồi. Đừng nguyền rủa tôi.”

Tình hình kinh tế tồi tệ xảy ra đúng vào thời điểm “vận rủi” liên tục bủa vây Ali Khamenei, đặc biệt từ sau cuộc tấn công của Hamas vào Israel ngày 7 Tháng Mười, 2023. Chiến dịch quân sự trả đũa khốc liệt của Israel và Mỹ đã gây thiệt hại vô kể cho Iran. Nhiều nhân vật thân cận Ali Khamenei bị giết. Các nhà máy nguyên tử năng bị phá tan tành. Một trong những đồng minh quan trọng nhất của Ali Khamenei – Tổng Thống Syria Bashar al-Assad – phải trốn sang Nga.

Muốn hay không, người ta không thể không tính đến “hậu sự” cho Ali Khamenei. Lãnh đạo đầu tiên của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran, Ruhollah Khomeini, qua đời ở tuổi 86. Ali Khamenei bước sang tuổi 87 vào Tháng Tư. Vấn đề là việc thay thế nhà lãnh đạo tối cao không hề đơn giản.

Ali Khamenei không phải là một “viên chức” hay “nguyên thủ.” Ông là nhân vật tôn giáo, tự nhận mình có vị thế chẳng khác gì Giáo Hoàng Công Giáo, cai quản hàng triệu người Hồi Giáo Shia khắp thế giới. Hàng chục năm qua, không chỉ cai trị quốc gia bằng bàn tay sắt, Ali Khamenei còn loại bỏ bất kỳ giáo sĩ nào có thể tranh giành vị trí “ayatollah.” Hiện khoảng 20% cử tri trong 61 triệu dân vẫn trung thành ủng hộ chế độ thần quyền.

Bản thân Ali Khamenei ý thức được sự mong manh của ông. Giữa năm 2025, khi chiến dịch ám sát của Israel khiến nhiều viên chức cấp cao Iran thiệt mạng, từ trong hầm trú bí mật, Ali Khamenei đã chọn người thay thế ông (“Sheltering in a Bunker, Iran’s Supreme Leader Prepares for the Worst”/The New York Times). Ông đã chỉ thị Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan – cơ quan đặc biệt có vai trò then chốt trong cấu trúc quyền lực của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran) chọn người kế nhiệm từ ba cái tên mà ông đưa ra. Chẳng ai có thể biết chính xác người nào đã được chọn.

Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan) gồm 88 giáo sĩ được chọn ra trong các cuộc bầu cử toàn quốc tám năm một lần. Một nguồn tin chính trị cấp cao ở Teheran nói với Amwaj.media: “Khi Imam [lãnh đạo cách mạng Ayatollah Ruhollah Khomeini] qua đời [năm 1989], người kế nhiệm đã được bầu trong vòng 24 giờ. Chúng tôi có các thủ tục sẵn có, chẳng hạn triệu tập một hội đồng để chọn người kế nhiệm, để bảo đảm quá trình chuyển giao có trật tự.”

Vấn đề kế vị giáo chủ Iran luôn là chủ đề tế nhị và gai góc, gần như không bao giờ được thảo luận công khai ngoài những suy đoán và tin đồn hành lang. Theo The New York Times, con trai của Giáo Chủ Ali Khamenei, Mojtaba – bản thân cũng là giáo sĩ và rất thân cận với Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo, từng được đồn đoán là ứng cử viên hàng đầu – không nằm trong danh sách này. Cựu Tổng Thống Ibrahim Raisi, trước đây cũng được xem là ứng cử viên sáng giá, nhưng ông đã thiệt mạng trong một tai nạn trực thăng vào năm 2024.

Iran giai đoạn “hậu Ali Khamenei”

Một khi Ali Khamenei ra đi, chuyện gì sẽ xảy ra? Theo Karim Sadjadpour (thuộc Carnegie Endowment for International Peace) trong bài viết trên Foreign Affairs (“The Autumn of the Ayatollahs”), hệ tư tưởng toàn trị của Cộng Hòa Hồi Giáo có thể sụp đổ thành chủ nghĩa độc tài chuyên chế vốn là đặc trưng của nước Nga hậu Xô Viết. Hoặc Iran tương tự Trung Quốc sau cái chết Mao Trạch Đông, tức tái điều chỉnh hệ thống bằng cách thay thế hệ tư tưởng cứng nhắc bằng lợi ích quốc gia thực dụng. Tuy vậy, Teheran cũng có thể tiếp tục cai trị bằng bàn tay sắt và duy trì chính sách cô lập, với mức độ thậm chí nghiêm trọng hơn, tương tự Bắc Hàn.

Trước mắt, có vẻ như Iran khó có thể chứng kiến làn sóng dân chủ. Điều này một phần do yếu tố lịch sử của họ. Trong quá khứ, Iran luôn tự hào họ thừa kế một đế chế vĩ đại nhưng lại bị nhiều vết nhục lịch sử “ám quẻ” lên dân tộc mình. Thế kỷ 19, Iran mất gần một nửa lãnh thổ vào tay những láng giềng hung hãn và phải nhượng lại cho Nga vùng Caucasus (trong đó có Armenia, Azerbaijan, Georgia và Dagestan ngày nay), rồi nhường Herat cho Afghanistan dưới áp lực của Anh. Đến đầu thế kỷ 20, Nga và Anh lại chia cắt Iran thành những khu vực riêng của họ. Còn nữa, năm 1953, Mỹ và Anh đã dàn dựng cuộc đảo chính lật đổ Thủ Tướng Mohammad Mosaddeq.

Với những thăng trầm như vậy, Iran sản sinh nhiều thế hệ lãnh đạo luôn nghi kỵ. Họ nhìn thấy âm mưu mọi nơi, trong lẫn ngoài. Ở Trung Đông, Teheran luôn có thái độ dè chừng với láng giềng. Với phương Tây, họ càng ác cảm, đặc biệt Mỹ, nơi từng “chơi” họ nhiều vố đau điếng trong quá khứ lẫn luôn có thái độ thù địch với họ ở hiện tại. Tâm lý nghi kỵ này ăn sâu vào huyết mạch nền chính trị Iran. Nó giải thích một phần lý do tại sao Iran chọn đứng một mình.

Quá trình chuyển đổi chế độ độc tài thường khó đoán. Dù vậy, cái chết hoặc sự mất khả năng điều hành của Ali Khamenei chắc chắn là yếu tố kích hoạt mạnh nhất cho sự thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh Iran hứng chịu các cú sốc bên ngoài lẫn bên trong. Vấn đề bây giờ không phải là người Iran có thật sự muốn thay đổi hay không mà là không có ai để họ có thể tin và dựa vào. Phe đối lập gần như không tồn tại ở đất nước này.

Với Ali Khamenei, có thể ông sẽ không giống người tiền nhiệm Ruhollah Khomeini. Cho đến thời điểm này, có vẻ như Ali Khamenei sẵn sàng đá văng chén rượu độc trước mặt. Ông chấp nhận “đấu” đến cùng với người dân mình lẫn với ngoại bang còn hơn chịu thỏa hiệp để thay đổi. [kn]