30/4/1975: CỘNG SẢN CÓ THẮNG KHÔNG?

Hoai Linh Ngoc Duong

Lịch sử ghi nhận khái niệm thắng thua trong một cuộc chiến là khi hai bên giao tranh có một bên tiêu diệt được sinh lực của phía bên kia khi đó mới có khái niệm chiến thắng.

Trong chiến tranh Việt Nam 1954-1975 phía VNCH chỉ chết từ 250.000 đến 300.000 binh sĩ, phía VNDCCH chết gần 1 triệu người. Như vậy tính giao tranh trên chiến trường 1 lính VNCH đổi 3 lính VNDCCH .

Cả hai phía đều được cung cấp vũ khí và viện trợ từ các cường quốc. Phía VNCH nhận viện trợ từ Mỹ và phía kia là từ Liên Xô và Trung Quốc . Như vậy chỉ cần bất cứ bên nào bị cắt viện trợ thì bên đó sẽ buông súng và động thái trên chiến trường chỉ là hệ quả tất yếu của điều này . Do đó sẽ không có chiến thắng trên chiến trường thực sự mà chỉ là vấn đề ai sẽ cắt viện trợ trước .

Tại sao Mỹ cắt viện trợ cho VNCH nhưng Liên Xô , Trung Quốc thì không ?

Bởi Mỹ là một nước dân chủ quyền lực trong tay nhân dân Mỹ . Khi nhân dân Mỹ phản chiến thì quốc hội Mỹ cơ quan quyền lực cao nhất phải bỏ phiếu rút quân và cắt viện trợ . Trong khi đó Liên Xô và Trung Quốc đều là các nước độc tài, nhân dân không có quyền lực gì , chỉ có Bộ Chính trị mới có quyền lực cao nhất .Vì lợi ích cầm quyền của cả hệ thống độc tài toàn trị các đảng cộng sản cầm quyền sẽ không bỏ nhau .

Vì sao dân Mỹ phản chiến ?

Bởi họ thấy lính Mỹ và VNCH toàn giết dân Việt bị tuyên truyền trong cái gọi là chiến tranh nhân dân , du kích . Họ phản chiến vì thấy có đánh đến một trăm năm cũng không thể giết hết được dân Việt bị cộng sản tuyên truyền làm lính . Họ không thể đóng thuế hoài để nuôi chiến tranh ở bên kia bán cầu chẳng ảnh hưởng nhiều lắm đến nước Mỹ .

Nước Mỹ thấy cần phải chuyển dịch bàn cờ sang phía Liên Xô và Đông Âu bằng chiến tranh lạnh . Do đó họ bắt tay Trung Quốc để cô lập kinh tế Liên Xô và Đông Âu .

Như vậy đảng Cộng sản có thắng không ?

Không hề. Vì cục diện thắng bại không được quyết định trên chiến trường mà ở trên bàn đàm phán : cường quốc nào sẽ buông tay .

Vì thế những kẻ nào nói rằng cộng sản thắng là mắc phải bẫy tuyên truyền, bịp dân của bọn độc tài này .

Thực tế không có bất kỳ một quân đội nào bỏ cả Cao nguyên và miền Trung chỉ trong vòng một tháng cả . Nếu có viện trợ họ sẽ cho lực lượng tổng trừ bị phản công chiếm lại những vùng đất đã bị mất như Mùa hè đỏ lửa 1972.

Như vậy hình thái buông súng giải giáp không phải do thất bại mà do VNCH không thể làm chủ cuộc chiến khi ngân sách dành cho chiến tranh hầu như không có .

Tuy nhiên có phải chính quyền VNCH thua không ?

Không hề . Bởi chính quyền VNCH là do dân bầu định kỳ 4 năm . Nếu không có biến cố 30/4 họ cũng phải hết nhiệm kỳ và giao lại chính quyền cho ủy ban bầu cử để bầu chính quyền mới.

Ai thua ?

Chính là nhân dân Việt Nam thua . Bởi họ không còn hiến pháp dân chủ, tam quyền phân lập , tòa án độc lập, bầu cử tự do , nhân quyền để kiểm soát quyền lực của chính quyền nữa . Họ chỉ còn là những chú cừu bị đảng cộng sản bắt làm nô lệ.

Kết luận : kẻ nào nói 30/4 chính quyền Sài Gòn thua là chẳng hiểu gì về chính trị .Chính là nhân dân Việt Nam đã thua thảm hại và thực tế 48 năm qua đã chứng minh điều đó . Dân cả hai miền đều bị cướp đất bị bất công như nhau .  Chỉ có 4 triệu đảng viên là thắng.

30 THÁNG TƯ, 1975 – Thái Bá Tân

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM  

Join

Niềm Vui Nhỏ

Những bài thơ ngắn chân thành cho ngày…

30 THÁNG TƯ, 1975

Thái Bá Tân

Bộ đội Miền Bắc chết

Một triệu một trăm nghìn.

Số lính Miền Nam chết –

Hai trăm tám hai nghìn.

Vì chiến tranh, dân chết

Trên dưới hai triệu người.

Lính Miền Nam cải tạo,

Ngồi tù một triệu người.

Trong số một triệu ấy,

Một trăm sáu lăm nghìn

Chết vì đói, lao lực,

Vì không còn niềm tin.

Trốn chạy khỏi cộng sản

Hơn một triệu rưỡi người.

Hai trăm nghìn đã chết,

Bỏ xác ngoài biển khơi.

Từ đấy, dẫu đất nước

Hết chiến sự, bình yên,

Chín mươi triệu người Việt

Mất tự do, nhân quyền.

Vậy xin hỏi các vị:

Ngày ấy là ngày gì?

Vui mừng và kỷ niệm?

Nhưng vui mừng cái gì?

***

BÊN THUA CUỘC

Chất của Bên Thắng Cuộc

Ngấm dần sang bên Thua

Qua các đợt học tập,

Ra quân và thi đua.

Rồi làng, phố văn hóa,

Rồi xã, huyện anh hùng.

Rồi những câu khẩu hiệu

Điên điên và khùng khùng.

Rồi quần chúng tự phát,

Rồi dân phòng, an ninh,

Rồi công an chìm nổi,

Đủ các loại kiêu binh.

Rồi thanh niên xung kích,

Rồi các sư hổ mang.

Rồi kiểm điểm dân phố

Rồi cờ đỏ ngập làng.

Rồi thịt mèo, thịt chó,

Rồi khí thế công nông,

Dép cao su, mũ cối,

Chất bầy đàn, lên đồng.

Rồi chi bộ, đoàn thể.

Rồi cải tạo công thương…

Tóm lại, gì cũng có

Từ xứ sở thiên đường.

Và rồi dân Thua Cuộc,

Vốn giản dị, hiền lành

Nhiễm dần từ bên Thắng

Thói giả dối, ma lanh.

Người Miền Nam thua cuộc

Sau chiến tranh kéo dài.

Và bây giờ, thật tiếc,

Lại thua cuộc lần hai.

Chưa nói chuyện dân Bắc

Tranh hết cả việc làm,

Tranh hết chức lãnh đạo,

Giàu hơn dân Miền Nam.

***

Tội ác kinh khủng nhất

Một chế độ, vương triều

Không hẳn là đốt sách,

Chết chóc và đói nghèo.

Mà làm cả dân tộc

Thành ích kỷ, nhỏ nhen,

Khôn lỏi và mê muội,

Độc ác và đớn hèn.

***

GIÁO SƯ VÀ THẰNG DU CÔN

Ông giáo sư giàu có

Và gã nghèo du côn,

Nếu đánh nhau, phần thắng

Thuộc về thằng du côn.

Tuy nhiên, sau khi thắng,

Cướp được tiền, thằng này

Không còn gì để cướp,

Phải quay sang ăn mày.

Ăn mày kẻ mình thắng,

Cả tiền, cả trí khôn.

Là cái vốn không có

Ở một thằng du côn.

Xưa, du mục Mông Cổ

Chiếm được đất Trung Hoa,

Rồi sau bị đồng hóa,

Biến thành người Trung Hoa.

Nay, Miền Bắc cộng sản

Xua quân chiếm Sài Gòn,

Cũng đang bị đồng hóa

Bởi văn minh Sài Gòn.

Vậy thì bên thắng cuộc

Chưa hẳn Bắc Việt Nam.

Thắng mà rồi thua đấy.

Thua chế độ Miền Nam.

***

THẾ HỆ CHÚNG TÔI

Sinh ra trong nghèo đói.

Lớn lên trong chiến tranh.

Về già, nếu còn sống –

Đất nước chẳng yên lành.

Thế hệ chúng tôi đấy,

U sáu mươi, bảy mươi.

Không may dính cộng sản,

Coi như uổng cả đời.

Một thế hệ khốn nạn,

Vĩ đại và quang vinh.

Đáng cháu con thương hại.

Cũng đáng cháu con khinh.

***

Mà thương hại cũng đúng.

Khinh càng đúng, than ôi,

Vì tiếp tay cộng sản

Là thế hệ chúng tôi.

***

VÌ SAO?

Nghìn năm Tàu đô hộ,

Người Việt không ra đi.

Bị Pháp, Mỹ xâm lược,

Người Việt không ra đi.

Lạ, cộng sản thắng lợi,

Cả Miền Bắc, Miền Nam,

Sao nhiều triệu người Việt

Lại rời bỏ Việt Nam?

?????

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nước Ẩn & Sóng Ngầm

RFA

Ảnh của tuongnangtien

Thứ Năm, 04/27/2023  — tuongnangtien

Không hiểu có chuyện chi bất bình (hay mất vui, hoặc mất lòng) mà nhà báo Từ Thức đã lên tiếng phàn nàn về “cái tôi” của người mình quá xá:

Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu, thua thiên hạ mọi mặt. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn…

Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: ông nội này mất gốc rồi…

Quả là hiếm hoi thật (và hiếm hoi lắm) nhưng số người Việt “mất gốc” này, nói nào ngay, vẫn còn kha khá. Họ khiêm tốn thấy rõ, và xem “cái tôi” tựa như cọng rác thôi hà. Báo Lao Động cho hay:

Trước kia, học sinh và người dân ở thôn CuPua đi lại, vận chuyển nông sản phải đánh đu trên hai sợi cáp này để vượt sông Đak Rông, đây là con đường độc đạo duy nhất nối thôn CuPua với bên ngoài… đường vào thôn CuPua nay đã đổi khác, hai sợi cáp hoen gỉ đã được thay thế bởi một chiếc cầu và đoạn đường bêtông thẳng tắp.

Công trình này được xây dựng “thần tốc” trong 6 ngày … dưới dạng “tự phát” với chi phí 30 triệu đồng, do một người đàn ông hỗ trợ. Bỏ tiền ra giúp dân xây cầu, nhưng người đàn ông chỉ tiết lộ tên “cúng cơm” của mình là Tèo, quê ở Sài Gòn. Vì vậy, đồng bào Vân Kiều ở thôn CuPua đặt tên cho công trình là “Cầu anh Tèo Sài Gòn”.

Có không ít những anh Tèo/chị Tèo như thế trong khắp các hang cùng ngõ hẹp, trên đất nước này. Họ là chủ nhân của những quán ăn không đồng, những thùng bánh mì từ thiện, những rổ phong bì (tiền) dành cho người chạy dịch, những ly trà đá miễn phí … có thể tìm thấy ở bất cứ đâu.

Người ta cũng có thể bất ngờ – hay tình cờ – nhìn thấy họ chợt dừng xe, dúi vội vào tay một kẻ bộ hành (thất thểu giữa trưa nắng chang chang) đôi chai nước lạnh. Hay họ đang lui hui tháo đôi dép đang đi, để mang vào cho một kẻ khuyết tật chân không – ngồi ở giữa đường. Toàn những chuyện hơi khó tin nhưng vẫn được nghe kể hàng ngày, cùng với hình ảnh rõ ràng, qua FB.

Nhà thơ Inra Sara ví von những nghĩa cử cao đẹp và thầm lặng này là “những dòng nước ẩn,” với niềm tin tưởng mãnh liệt rằng: “Những dòng nước ấy có mặt ở mọi thành phần, dưới mọi hình tướng, tình huống, cấp độ. Chúng ẩn mình giữa miền đất hình chữ S này, âm thầm chảy, khiêm cung nhưng đầy sức mạnh. Chúng sẽ trồi lên một ngày nào đó, chắc chắn.”

Ngoài những dòng nước ẩn, đất nước, cũng có vô số những lượn sóng ngầm. Chúng cũng “khiêm cung nhưng đầy sức mạnh” và “sẽ trồi lên một ngày nào đó – chắc chắn.” Rảnh, thử nghe qua “tiếng sóng trong lòng” của dăm ba công dân nước Việt:

  • Nguyễn Hoàng Vi: Hồi nẳm, sống trong tình cảnh luôn bị an ninh canh và theo sát, mời làm việc, dụ dỗ có, đe doạ có… Đến nước cuối, họ đành tác động lên phía các nhà đài là đối tác cty mình, khi hết hợp đồng, đồng loạt các nhà đài không được ký hợp đồng tiếp với phía cty mình nữa…

      Đứng trước tình thế như vậy, sếp đành cho mình nghỉ việc. Ngày mình rời cty, từ cty ra bãi giữ xe, nước mắt mình chực muốn trào ra vì sự phẫn uất lẫn sự lo lắng không biết những ngày tới gia đình mình sẽ sống ra sao.

      Một bầy an ninh xếp hàng dài từ cty đến bãi giữ xe và đoạn đường dẫn ra đầu ngõ, họ cười chễm chệ như một sự mỉa mai, chế giễu dành cho mình. Bao nhiêu nước mắt nuốt ngược vào trong, mình lướt qua họ với gương mặt lạnh tanh, tư thế ngẩng cao đầu và niềm kiêu hãnh “dù có thế nào đi nữa thì bọn mày làm gì có đủ tư cách sánh với tao mà cười giễu?”Những năm tháng sau này, nghĩ lại mình thấy tội nghiệp cho họ, tội họ mình ghi sổ chờ chế độ trả cả vốn lẫn lời…

  • Vũ Huy Hoàng:Tôi từng bị mời lên trụ sở công an nhiều lần chỉ để bị hạch hỏi về các quan điểm chính trị. Bị gây khó khăn trong công việc mưu sinh. Tôi từng bị bắt, bị đánh, bị ném gạch đá chất bẩn vào nhà nhiều lần chỉ vì tham gia biểu tình ôn hoà bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển đảo trước sự xâm lấn của Tàu cộng.

Tôi không muốn kể lể về mình vì so với nhiều người khác, những đóng góp của tôi vô cùng nhỏ bé. Tôi cũng không muốn kể về những khó khăn, hiểm nguy mà mình đã, đang gặp phải vì nhiều anh chị em khác còn đang khốn khó hơn tôi. Tôi chấp nhận một cách vui vẻ và hoàn toàn tự nguyện …

  • Nguyễn Hồ Nhật Thành: “Mình mong muốn xã hội, đất nước này phải thay đổi phải dân chủ hơn, phải nhân quyền hơn. Đó là quan điểm của mình. Còn bây giờ nếu họ nghĩ mình có tội thì họ bắt mình đi mình sẵn sàng trả giá cho việc ngồi tù để mình nói lên tiếng nói đòi lại dân quyền của mình, nói lên tiếng nói tự do, nói lên lý tưởng mà mình nghĩ rằng tất cả cha ông đã hy sinh để đòi lại một thứ đó chính là tự do cho người dân, đó là chính dân quyền.”

Nguyễn Hoàng Vi là một bà mẹ đơn thân, đã nhiều lần bị đe dọa, sách nhiễu, hành hung (và cuối cùng đã bị mất việc) chỉ vì chính kiến. Thay vì “đầu hàng chế độ” để được yên thân nuôi con thơ dại, bà đã “không cho phép nỗi sợ hãi làm tê liệt bản thân” và đã vượt qua được tất cả mọi nghịch cảnh, trong khi không quên “ghi sổ chờ chế độ trả cả vốn lẫn lời.”

Còn Vũ Huy Hoàng là một tài xế taxi (“từng bị bắt, bị đánh, bị ném gạch đá chất bẩn vào nhà nhiều lần chỉ vì tham gia biểu tình ôn hoà bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển đảo”) nhưng nhân vật này chưa bao giờ nao núng. Ông sẵn sàng “chấp nhận” mọi hệ lụy, chứ nhất định không từ bỏ quan niệm sống đã chọn.

Thái độ của vợ chồng doanh nhân Nguyễn Hồ Nhật Thành và Trịnh Kim Tiến cũng thế. Họ đã bị “công an chĩa súng vào đầu đe dọa” chỉ vì “dám” mở cửa hàng No-U Shop, rồi kêu gọi tẩy chay hàng hóa độc hại của Trung Quốc, và thản nhiên xem “mọi sự sách nhiễu, gây khó khăn của các anh càng cho tôi động lực để sống với lý tưởng của mình.”

Nhất định “sống với lý tưởng của mình” (như Nguyễn Hồ Nhật Thành, Trịnh Kim Tiến, Vũ Huy Hoàng, Nguyễn Hoàng Vi …) giữa lòng một chế độ được đặt nền móng và duy trì bởi cường quyền, bạo lực, cùng dối trá – rõ ràng – là chuyện không dễ dàng chi. Thời gian và thời thế, tuy thế, đang đứng về phía họ.

Số công dân Việt Nam lựa chọn một cung cách sống với tinh thần trách nhiệm, rõ ràng, mỗi lúc một thêm đông. Số người nhận thức rõ được nghĩa vụ, cũng như quyền lợi của mình, cũng vậy. FB Nguyễn Thủy Tiên xác tín: “Mình tin rồi đây sẽ có nhiều người chọn cách ngẩng đầu thay vì cúi đầu.” Chỉ nhẹ nhàng, mềm mỏng và khiêm cung thế thôi nhưng đừng thấy biển lặng mà tưởng lòng đại dương không có sóng.

Khi đã cho chiên ra hết, anh [mục tử] ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (Ga 10:4)-Cha Vương

Hôm nay ngày 30/04, mình xin bạn một việc hy sinh nho nhỏ để cầu nguyện cho những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do và vì thời cuộc. Xin Chúa ban cho họ được nghỉ ngơi trong vòng tay yêu thương của Chúa Chiên Lành. Thành thật đa tạ!

Cha Vương 

Chúa Nhật: 30/04/2023

TIN MỪNG: Khi đã cho chiên ra hết, anh [mục tử] ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (Ga 10:4)

SUY NIỆM: Bạn không cần đi đâu xa, ngay trong môi trường sống của bạn bây giờ đang có những tiếng ồn ào náo nhiệt làm bạn mệt mỏi nhức cả đầu. Đúng là cuộc đời vốn luôn ồn ào náo nhiệt trong mọi nơi mọi lúc nếu bạn không biết tự chọn cho mình một nơi thanh vắng để lắng nghe tiếng Chúa.

Điều đáng buồn cho con người trong thế giới hôm nay là dường như họ đang mất định hướng trong thế giới náo nhiệt. Họ rơi vào vòng xoáy của tiền tài, danh vọng nhưng rồi con người dường như không bao giờ hạnh phúc trong lợi thú khi họ vất vả tìm kiếm, và càng không có bình yên trong thế giới đầy bon chen tranh giành để sống.

Vậy làm sao con người có thể thoát ra được thế giới ồn ào náo nhiệt này? Giải pháp hữu hiệu nhất là bạn phải dành một ít thời gian để lắng lòng, để nhận biết tiếng gọi Đức Giêsu, vị Mục Tử Nhân Lành. Khi bạn có Chúa là trung tâm của cuộc đời mình, bạn có thể nhìn thấy Chúa trong mọi sự. Một khi bạn nhìn thấy Chúa trong mọi sự rồi thì những tiếng động sẽ không làm bạn nhức cả đầu nữa.  Mình mời bạn hãy tặng cho chính mình mỗi ngày một vài phút cô tịch để đọc Lời Chúa nhé. Đọc Lời Chúa để nghe và nhận ra tiếng thì thầm của Thiên Chúa đang ngỏ lời với bạn: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta” (Ga 10,27-30)

LẮNG NGHE: Nghe thế, họ đau đớn trong lòng và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2:37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con người đang Lạc lõng giữa muôn vàn âm thanh trong thế giới ôn ào,

THỰC HÀNH: Thực hiện liệu pháp “2 Không” để sống bình an và hạnh phúc

(1) Không để người khác cướp mất bình an của mình.

(2) Không để sự bình an của mình bị lệ thuộc vào cảm xúc, ồn ào, xôn xao, bàn tán, thì thầm của người khác.

From: Đỗ Dzũng

Lặng – Ca sĩ Hiền Thục

Tin vui học giả trẻ tại Mỹ muốn tìm lại công bằng công lý cho chính nghĩa VNCH

Điều tuyệt vời của cuộc sống là chân lý không bao giờ chết cho dù có bị che đậy, bôi xóa bóng dáng cho lu mờ.

Đối với Chính nghĩa VNCH thì Sự thật vẫn là sự thật cho dù bị bóp nghẹt 50-60 năm.

Psychology - Vietnamese migration

Ngày càng có nhiều bạn trẻ sinh ra tại Mỹ tìm hiểu và làm sáng tỏ chính nghĩa Quốc Gia.

Tiến sĩ Phương Nguyễn – đề tài về người tỵ nạn VNCH

Phuong Nguyen, Becoming Refugee American - the Politics of Rescue in Little Saigon' Cornell University

Giáo Sư Tuấn Hoàng, đại học Pepeperdine, California hội thảo về biểu tượng VNCH

Giáo sư Vũ Tường, đại học Oregon về nghiên cứu chính thể VNCH

Chúng ta vừa mừng vừa không ngạc nhiên vì điều này phải đến và đang đến.

Cảm ơn các nỗ lực của thế hệ đi trước đã giúp cho các em tìm hiểu về quá khứ oai hùng của cha anh.

Pin by Hung Tran on Flag of VNCH (Saigon) | Saigon, Flag

Nếu chính nghĩa Quốc Gia ngời sáng thì chủ nghĩa Cộng Sản tam vô (Vô tổ quốc, Vô tôn giáo, Vô gia đình) và XHCN sẽ lu mờ và lụi tàn như ở Đông Âu.

Điều còn đáng mừng hơn đó  là các bạn trẻ trong nước có thái độ phản biện lại XHCN một khi tìm ra sự thật. Đây cũng là lý do chính quyền Cộng Sản vô cùng nhạy cảm và sợ chạm mặt, cấm đoán đối với các biểu tượng VNCH nhất là cờ vàng ba sọc đỏ theo nhà báo Khải Đơn

Nhà văn, nhà báo Khải Đơn 

Mời các bạn xem video về những nổ lực mới nhất của một học giả trẻ sinh ra tại Mỹ, tiến sĩ Alex Võ  Đình Thái, anh muốn có sự công bằng khi đánh giá về Việt Nam Cộng Hòa.

5 người ở Texas bị bắn chết vì than phiền hàng xóm nổ súng ồn ào

Báo Nguoi-viet

April 29, 2023

CLEVELAND, Texas (NV) – Một ông ở Texas vác súng trường sang nhà kế bên xả súng vô gia đình hàng xóm, làm năm người thiệt mạng, gồm đứa bé 8 tuổi, sau khi gia đình này yêu cầu ông ngưng bắn súng bên sân nhà ông vì nhà họ có trẻ em đang ngủ, cảnh sát loan báo hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư, theo AP.

Trong buổi họp báo tại hiện trường sáng Thứ Bảy, ông Greg Capers, cảnh sát trưởng San Jacinto County, cho hay cảnh sát vẫn đang tìm nghi can Francisco Oropeza, 39 tuổi, sau vụ xả súng trong đêm ở thị trấn Cleveland, cách Houston khoảng 45 dặm về hướng Bắc. Ông Capers cho biết nghi can dùng súng trường AR-15.

Cảnh sát có mặt tại hiện trường, nơi một người đàn ông bắn chết năm người hàng xóm. (Hình: Chụp từ màn hình đài ABC)

“Các nạn nhân đều bị bắn từ cổ trở lên, gần giống như xử tử,” ông Capers nói.

Lúc vụ xả súng xảy ra, trong nhà đó có 10 người và không ai khác bị thương ngoài năm người thiệt mạng, có lẽ đều là người Honduras, theo ông Capers. Trong số năm nạn nhân, cảnh sát thấy hai người nằm đè lên hai đứa trẻ.

“Hai phụ nữ Honduras nằm đè lên để cố bảo vệ hai đứa trẻ này,” ông Capers nói. Cảnh sát thấy tổng cộng ba đứa trẻ dính đầy máu trong nhà nhưng sau khi được đưa đi bệnh viện thì được xác định không bị thương, ông Capers thêm.

Hai người khác được kiểm tra tại hiện trường rồi được thả, ông Capers cho hay.

Vụ xả súng xảy ra sau khi gia đình này bước tới hàng rào yêu cầu nghi can ngưng bắn súng bên sân nhà ông ta, ông Capers cho biết. Nghi can, lúc đó đang say rượu, đáp lại rằng đó là nhà ông, ông muốn làm gì cũng được. Rồi một người trong gia đình đó quay phim được cảnh nghi can ôm súng trường tới cửa trước nhà họ, theo ông Capers.

Trong số năm nạn nhân có ba phụ nữ và một người đàn ông. Cảnh sát không công bố tên. Các nạn nhân từ 8 tới khoảng 40 tuổi, ông Capers cho biết.

Cảnh sát từng tới nhà nghi can trước đây, theo ông Capers. “Cảnh sát từng tới nói chuyện với ông về chuyện bắn súng trong sân nhà,” ông Capers cho hay.

Ông Capers nói vài người trong gia đình hàng xóm vừa từ Houston dọn tới trong tuần này, nhưng không biết họ có dự định ở đó không.

Số vụ xả súng ở Mỹ từ đầu năm tới nay lên mức kỷ lục: Ít nhất 18 vụ, mỗi vụ có bốn người thiệt mạng trở lên. Có hàng loạt lý do cho những vụ xả súng đó: Giết người rồi tự tử và bạo lực gia đình; băng đảng trả thù; xả súng ở trường học và trả thù nơi làm việc. (Th.Long) 

Thành ngữ mới: Tư bản giãy chết

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Thông

29-4-2023

Ngày 30.4. Ngày này 48 năm trước, người cộng sản sau 21 năm đốt cháy dãy Trường Sơn đã vào “giải phóng miền Nam”, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, đồng nghĩa với kéo lùi cuộc sống để miền Nam cùng miền Bắc sát cánh tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thấy không khí rộn ràng, cờ đèn kèn trống, hừng hực tinh thần… thù địch, chối bỏ hòa hợp (mà rõ nhất là việc “rút phép thông công” nhà phê bình văn học Đặng Tiến vừa qua đời, kiên quyết không có một dòng về giải thưởng nước Pháp vừa trao cho nhà văn Dương Thu Hương), kiên định con đường đi lên… nghèo đói, chợt nhớ lại những ngày sau “giải phóng”.

***

Như đã nói, đây là thứ thành ngữ mới, tồn tại trong thời gian khá dài hơn nửa thế kỷ ở nước ta, phổ biến vài chục năm trước 1975 ở miền Bắc, sau đó thêm vài chục năm nữa ở miền Nam và cả nước. Bây giờ thì ít được nhắc đến. Nó là sản phẩm của tư duy cộng sản, nằm trong loạt thành ngữ mới như “bơ thừa sữa cặn”, “đế quốc sài lang”, “phồn vinh giả tạo”, “đời đời bền vững”, “ngăn sông cấm chợ”… (những thành ngữ này, tôi đã viết và tải lên FB cả rồi), do chính người cộng sản đẻ ra, cả trong thực tiễn lẫn lý luận.

Cần phải nói ngay rằng các đảng và tổ chức chính trị khi đứng ra giành quyền lãnh đạo luôn đề ra đường lối, chủ trương, xu thế cho đất nước và dân tộc. Nước nào cũng thế thôi. Đảng nào cũng thế thôi, chẳng riêng gì người cộng sản. Khi nó là lý thuyết thì thường rất hay, chỉ có trải qua thực tiễn mới biết được thực chất. Vì vậy, nếu ngay từ đầu, những năm nửa đầu thế kỷ 20 mà ai đó bảo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là xấu, là dở, là không tưởng sẽ bị đám đông lên án ngay. Chết như chơi. Liên Xô khi ấy là hình mẫu của xu thế cách mạng thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội xong sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Họ vẽ ra bức tranh đẹp, ưu việt hơn vạn lần chủ nghĩa tư bản. Những nhà cách mạng vô sản An Nam lặn lội sang học, lôi về và truyền bá ở nước mình.

Lứa chúng tôi sinh giữa thập niên 50 ở miền Bắc được nhét vào đầu biết bao lời hay ý đẹp về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, nào “thiên đường của loài người”, “mùa xuân của nhân loại”, “xu thế tất yếu của xã hội”, “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” (trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa), “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” (xã hội cộng sản)… Rất vớ vẩn, không làm mà cũng có ăn. Đại loại họ cứ vẽ vống lên đủ thứ tốt đẹp để lôi cuốn đám đông cần lao, bất kể hiện thực cuộc sống diễn ra hoàn toàn ngược lại. Thế mà rất nhiều người tin. Tôi cũng tin. Mà không tin cũng chả được với họ.

Ở miền Bắc những năm trước 1975, học sinh cấp 3 và sinh viên đại học đứa nào cũng biết thuật ngữ “Ai thắng ai?” nói về cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới. Những giờ học chính trị và triết học Mác – Lênin, các thầy khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng phe tư bản, thực dân, đế quốc, bóc lột đang giãy chết, phe xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh. Bọn tư sản, chủ nghĩa tư bản bị dồn đến cùng đường, chó dại cắn càn, gây chiến tranh, nhưng sẽ không tránh khỏi bị diệt vong. Họ bảo “chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Diệt xong đế quốc, nhân loại sẽ lên thiên đường, “cùng làm cùng hưởng bình quân chia đều”, “bao giờ thế giới đại đồng/chúng ta sẽ thoát khỏi vòng gian truân”. Cuối những bài nhồi não, bao giờ các thầy hoặc báo cáo viên cũng kết luận “Sức ta là sức thanh niên/Thế ta là thế đứng trên đầu thù”, cả thầy lẫn trò đều hỉ hả.

Ngồi đáy giếng thấy bầu trời chỉ to bằng cái vung nồi. Tất cả sự thực đều bị bưng bít, gần như không ai biết chủ nghĩa tư bản nó thế nào. Bộ máy tuyên truyền của cộng sản rất thành công trong chính sách ngu dân. Đó là sự thực, mà thế hệ chúng tôi sinh sống ở miền Bắc thập niên 50 – 70 trải nghiệm rõ nhất. Cả thế giới bao la rộng lớn đa dạng như thế, nhưng người ta chỉ biết mỗi nước mình; mở rộng hơn chút nữa qua kênh văn học, phim ảnh và bộ máy tuyên truyền, báo chí mậu dịch thì biết thêm về những thiên đường Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cuba, Triều Tiên, Mông Cổ… Đó mới thực là mơ ước của loài người. Còn đám Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Nam Phi, Hà Lan… tất cả đều phồn vinh giả tạo, tư bản giãy chết, đều trong cơn hấp hối, cùng đường, sắp sửa bị diệt vong, mà người đào mồ chôn chúng không ai khác chính là chúng ta, những công dân đang hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đang bụng đói cật rét, khổ sở trăm bề nhưng nghe vậy sướng lắm.

Sự dối trá ấy bị xé toạc khi những người ở thiên đường miền Bắc được tận mắt chứng kiến cuộc sống và nền kinh tế ở miền Nam. Người cộng sản không thể ngờ và nghĩ rằng đồng thời với việc họ “giải phóng” được miền Nam thì chính miền Nam cũng giải phóng đầu óc u mê cho hàng triệu người Bắc. Họ tận mắt thấy chủ nghĩa tư bản ở miền Nam đã xây dựng một nền kinh tế hàng hóa dồi dào tới mức những người quen sống trong chế độ bao cấp có nằm mơ cũng không dám nghĩ.

Tháng 4.1977 tôi vào nhận công tác ở Sài Gòn, chỉ một thời gian ngắn hiểu rằng những gì mình được trang bị về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản bị sụp đổ hoàn toàn, hay nói chính xác hơn là dối trá, đảo ngược. Những chuyến hàng hóa sinh hoạt, một dạng chiến lợi phẩm, ùn ùn chảy ra bắc, từ xe cộ, tivi, tủ lạnh, máy cassette, vải vóc, cục xà phòng, cây kem đánh răng, cục pin, hộp sữa tới cái kim sợi chỉ đều lên đường ngược bắc, đủ chứng minh cho cuộc nhận thức lại. Chả biết miền Nam “nhận họ” thì được cái gì, chứ miền Bắc “nhận hàng” không chỉ làm thay đổi cuộc sống vốn nghèo khó bền vững mà còn đổi cả nhận thức cho con người. Bây giờ còn rất nhiều người đã tham gia vào cuộc đối lưu nam – bắc ấy, nếu không tin cứ hỏi họ, chứ tôi chả dám đơn sai.

Rất tiếc là, tầng lớp cai trị đất nước sau năm 1975, cho tới tận bây giờ, hoặc không nhận ra điều đó bởi họ quá say chiến thắng hoặc cố tình lờ đi để củng cố quyền lực. Họ thừa hiểu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không thể nào đưa đất nước, dân tộc đến bến hạnh phúc; thừa hiểu phương thức sản xuất tư bản, xã hội tư bản có bao nhiêu điều tốt đẹp cần phải tận dụng và phát huy nhưng đối với họ thay đổi đường lối đồng nghĩa với tự sát nên cứ nhắm mắt lao vào đường hầm, tự đánh lừa chính mình, và ác độc nhất là lừa nhân dân, cả trăm triệu con người. Họ say sưa tự lừa dối chính mình/trong đói nghèo vẫn hét toáng quang vinh.

Tôi còn nhớ, năm 1980, tại nhà văn hóa Thanh niên (4 Phạm Ngọc Thạch, quận 1), ông Nguyễn Hộ khi ấy còn là yếu nhân của chính quyền TP.HCM đăng đàn diễn thuyết nói rằng chỉ 10 năm nữa Việt Nam sẽ thành cường quốc như Liên Xô, phe xã hội chủ nghĩa sẽ thắng lợi trên toàn thế giới. Cả hội trường vỗ tay rào rào. Vài năm sau, ông Hộ nhận thức lại (nói theo kiểu bây giờ là suy thoái, tự diễn biến), chả biết có nghĩ những lúc mình và đồng chí của mình đi trên mây và ngáo như thế không.

Cũng khoảng đầu thập niên 80, khi đám giáo viên chúng tôi người xanh rớt như tàu lá bởi ăn bo bo, mặt mũi ai nấy vêu vao (coi lại cái ảnh cưới do thầy Châu Hoàng Tiểng chụp đen trắng, chú rể là tôi, chỉ thấy hai gò má vêu ra, rất khiếp) thiếu thốn tới mức bốc thăm để được mua từng cuộn chỉ khâu bằng ngón tay út, viên đá lửa, con dao cạo râu… thì đám giáo viên chúng tôi được nghe ông Nguyễn Mại, khi ấy là Phó chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về hợp tác đầu tư (tiền thân của Bộ kế hoạch – Đầu tư bây giờ) về hội trường của trường để thông não. Ông Mại say sưa khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là cực kỳ đúng đắn, ai sẽ thắng ai, chủ nghĩa tư bản bóc lột tất yếu bị diệt vong. Chỉ chưa đầy chục năm sau buổi diễn thuyết của ông Mại, năm 1991, Liên Xô sụp đổ cái rầm, thành trì vững chắc của cách mạng thế giới tan như bong bóng xà phòng, kéo theo đám đàn em vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Nhưng cơ hội nghìn năm có một để thoát khỏi đường cụt đã bị giới cai trị xứ này bỏ qua. Sau này lịch sử công minh cần lên án, vạch tội.

Vừa rồi, có một facebooker còm cho tôi, rằng nếu không có người cộng sản thì liệu đất nước có được như bây giờ không. Lý luận ấy tôi không lạ. Tôi chỉ giả nhời ngắn gọn, đúng như thế. So với năm 1945, 1954, 1975 thì đã thay đổi khá nhiều, kiểu như nông thôn đã có nhiều nhà ngói, nhà mái bằng. Cuộc sống bây giờ là sản phẩm của người cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa, nên đó một phần là công của họ. Nhưng, nếu không có họ lãnh đạo, chắc chắn đất nước sẽ khác rất nhiều, tốt hơn nhiều, những rồng châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore… chưa chắc đã hơn.

Nhìn ra xung quanh, đừng ngó xa Mỹ, Nhật, Đức, Hà Lan, Bỉ… làm gì, cứ chú mục vào mấy nước gần cũng đủ thực tiễn trả lời “ai thắng ai”, tư bản có giãy chết không. Những con rồng châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông đều là tư bản giãy chết. Những con hổ đang trỗi dậy trong khối ASEAN như Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Phippines không có nước nào theo chủ nghĩa xã hội. Họ càng giãy, càng vươn cao, tiến nhanh. Thậm chí “thằng em dại” Campuchia cũng đang ruổi những bước dài sau khi định lại đường lối, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, từ bỏ thứ lý luận cũ rích về chủ nghĩa xã hội.

Còn ta, cứ kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đã gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thử nhìn xem đã tạo dựng được vị trí như thế nào. Chừng ấy thời gian mà vẫn thua cả Thái Lan thì phải biết xấu hổ, chứ đừng vênh mặt lên mà ảo tưởng “tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng”. Đẹp mà cứ kéo nhau sang tư bản giãy chết chữa bệnh, con cái từng đàn từng lũ sang tư bản giãy chết học hành, lập nghiệp, quyết không chịu sang những nước cùng phe như Cuba, Triều Tiên, thì đẹp ở chỗ nào.

Hiện thực thế giới rất rõ ràng. Không phải nước nào theo chủ nghĩa tư bản cũng giàu, nhưng những nước giàu nhất là những nước phát triển bằng đường lối và phương châm tư bản chủ nghĩa. Còn phe xã hội chủ nghĩa luôn chạy theo tư bản về nhiều mặt, nhất là kinh tế và mức sống của người dân. Nó, chủ nghĩa xã hội, như miếng da lừa, teo tóp dần, chẳng biết có giãy chết như tư bản không nhưng cứ dậm chân tại chỗ và thụt lùi so với các nước khác. Chủ nghĩa xã hội, nói một cách ngắn gọn, chỉ đem lại nghèo đói và lạc hậu.

Nếu đã xác định mục đích vì đất nước giàu mạnh, nhân dân sung sướng hạnh phúc, thì tại sao cứ phải chê bai chủ nghĩa tư bản, khư khư bám lấy chủ nghĩa xã hội.

Hãy dũng cảm làm cuộc đổi mới thật sự chứ không phải nửa vời, ông Trọng, ông Thưởng, ông Chính và các ông bà tai to mặt lớn ạ. Còn không thì mãi đi cùng các “bạn” Triều Tiên, Cuba, Venezuela và cuộc sống đầy bất công, nghèo đói.

Chuyến Vượt Biên Của Tôi – Thanh Nhàn

Nguồn: Tongphuochiep

Một chiếc ghe nhỏ chở người Việt vượt biên giữa đại dương, năm 1982

Tôi đến Vàm Láng vào một buổi chiều và được xuồng nhỏ chở ra biển. Tôi ra biển để chờ “cá lớn”. Theo lời người trong nhóm tổ chức thì “cá lớn” (ghe vượt biên) sẽ đến vào lúc mười một giờ tối nay. Tôi và hai người vượt biên khác ngồi trên xuồng chờ cho đến hơn một giờ sáng của ngày hôm sau mà vẫn chưa thấy tăm hơi của con “cá lớn” ở đâu.

Gần ba giờ sáng “cá lớn” vẫn chưa xuất hiện. Tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện đón đò trở ngược về Mỹ Tho. Tôi chỉ sợ đổ bể, du kích chận ở bến đò xét hỏi giấy tờ và hỏi lý do tại sao xuống đây thì thật sự tôi không biết làm sao mà trả lời.

Trong lúc tôi ngỡ chuyến vượt biên nầy không thành, thì hơn ba giờ rưỡi sáng tôi nghe tiếng máy nổ xình xịch nho nhỏ từ rất xa của một chiếc ghe nào đó, tiếng máy nổ càng lúc càng gần. Chú chèo xuồng chở chúng tôi la lên: “cá lớn tới” rồi chú chụp vội lấy đèn pin phát tín hiệu chớp tắt ba lần, chiếc ghe vượt biên đã lộ rõ cũng phát tín hiệu đáp lại. Tôi mừng quá, xuồng tôi chèo nhanh cập vào “cá lớn”.

Tôi tưởng chỉ có một chiếc xuồng của tôi, vừa cập vào ghe tôi thấy bốn, năm chiếc xuồng nhỏ khác không biết từ đâu, xuất hiện từ lúc nào cũng ào ào cập vào. Tôi vịn thành ghe đu người phóng qua, chỉ trong vòng vài phút mọi người từ những xuồng nhỏ khác đã leo được lên ghe. Các xuồng vội vã rời đi, lúc đó đã gần bốn giờ sáng.

Đi được không bao lâu ghe tôi gặp sóng to, từng đợt sóng cao hai, ba thước đánh vào ghe, nâng ghe lên cao rồi hạ xuống thấp, chúng tôi bị say sóng ói mửa liên tục. Ghe tôi vật lộn với sóng gió cho đến chiều tối mới hết. Đêm đến, ánh trăng với một chút vầng khuyết của Mùng Chín âm lịch soi một màu vàng nhạt lung linh trên biển. Chỉ còn sáu ngày nữa là Tết Trung Thu. Tết Trung Thu năm nay có thêm người Việt lưu lạc nơi xứ người. Tôi tự hỏi tại sao quê hương tôi phải chịu cảnh phân ly – người vượt biên, kẻ tù đày?

Sau hơn một ngày trên ghe vượt biên, tôi không thấy đói nhưng rất khát. Chúng tôi được phát chút đỉnh cơm, nhưng phần nước rất hạn chế. Tôi nghe nói hầm chứa nước bị rỉ, nước còn rất ít. Đến chiều, ghe tôi ra tới hải phận quốc tế, một số người bắt đầu vứt bỏ giấy tờ liên quan đến Việt Nam xuống biển, tôi cũng vứt bỏ giấy chứng minh nhân dân của mình.

Tối hôm đó có vài ba chiếc tàu buôn đi qua, chúng tôi đem chăn mền ra đốt để tạo sự chú ý nhưng không có chiếc nào dừng lại để cứu giúp.

Ngày kế tiếp tôi rất khát, sau gần ba ngày vượt biên chúng tôi chỉ được uống nước tổng cộng vài ba lần, mỗi lần được một cốc nước nhỏ chỉ vài ba hớp nước, uống xong, mười lăm phút sau cái khát lại quay trở lại. Có cô gái nhỏ ngồi gần bên tôi lim dim ngủ, tôi thấy cô ta tự dưng đưa tay ra chụp một cái gì đó rồi giựt mình tỉnh dậy. Tôi hỏi: “em làm gì vậy?” Cô nói: “em nằm chiêm bao thấy khát nước quá, má em làm cho em một ly nước đá sữa đậu nành, em mừng quá đưa tay chụp định uống thì tỉnh dậy, uổng quá!” nói xong cô cười, tôi cũng cười.

Đến trưa ghe tôi bị hư máy, chủ ghe cho biết có đem theo máy sơ cua và sau hơn một giờ sửa chữa, thay máy, ghe tôi lại tiếp tục lên đường. Chiều hôm đó tôi được phát chút đỉnh cơm, mấy người trên ghe cho biết nước gần như đã cạn. Biển hôm đó không có sóng to, một điều kỳ thú là tôi thấy một đàn cá to hàng chục con, chúng bơi lội theo ghe tôi hơn nửa giờ rồi biến mất.

Buổi sáng ngày thứ tư của cuộc hành trình, vào khoảng chín giờ sáng, chúng tôi thấy một chiếc tàu ở rất xa, mọi người mừng rỡ đem ống nhòm ra nhìn xem tàu đó ra sao. Một điều tức cười là mắt thường thì nhìn thấy con tàu nhỏ xíu ở xa, mà nhìn trong ống nhòm thì con tàu lại biến mất. Không cần ống nhòm, ghe chúng tôi hướng theo con tàu phía trước mà rú ga chạy tới.

Chạy gần một tiếng rưỡi mới tới, lần đầu tiên trong đời tôi thấy một con tàu lớn như vậy. Tôi nghĩ đó là tàu Hải Quân của một quốc gia nào đó, nhưng càng lại gần thì càng không phải. Đâu có Hải Quân nước nào mà lính mặc xà rông ở trần trùng trục như đám người lố nhố trên tàu kia. Khi tới gần tôi thấy khoảng chục tên ở trần mặc xà rông, tên nào tên nấy nước da đen bóng, thân hình rắn chắc vạm vỡ. Thì ra đó là tàu đánh cá của một nước nào đó.

Khi ghe tôi còn cách tàu kia chừng năm mươi mét. Tôi thấy đám người bên tàu đó có sự thay đổi, hơn phân nửa chạy rút vào phòng trong, chỉ để lại ba, bốn người ở ngoài. Ghe tôi tiếp tục tiến tới. Còn cách hơn mười mét, bọn tôi đứng dậy, tay chỉ vào ngực mình rồi cùng la lên: “Việt Nam! Việt Nam” rồi có người nói tiếp: “refugee – người tị nạn” phía bên kia tôi nghe tiếng đáp lại: “Thái Lan! Thái Lan!”

Ghe tôi xáp tới, mũi ghe tôi đối diện với mũi tàu Thái. Vài người trên ghe tôi hỏi: “ai biết nói tiếng Anh?” Có hai người lên tiếng. Một chú trước là thông dịch viên cho quân đội Mỹ, còn một anh nữa biết nói tiếng Anh và có thời gian ngắn du học bên Thái Lan trước 1975. Một tấm ván dài dược bắc qua nối liền hai con tàu, hai “sứ giả” của ghe tôi bước qua tàu Thái. Chúng tôi ngồi dưới ghe hồi hộp chờ tin tức.

Năm, bảy phút sau, một trong hai người trở xuống ghe cho chúng tôi biết, chủ tàu là người Thái trắng, biết nói tiếng Anh, có vẻ học thức và hiền. Ông ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của chúng tôi là cung cấp nước và sẵn sàng giúp đỡ về lương thực nếu cần. Sau khi giúp xác định vị trí của ghe chúng tôi trên biển, chủ tàu Thái cho biết chúng tôi chỉ còn cách bờ biển Mã Lai hơn hai ngày đường. Sau đó, họ thả vòi nước xuống, trong lúc vội vã chúng tôi không tìm được một can không nào đựng nước, ngoại trừ mấy can dầu đã cạn, nước được bơm vào mấy can dầu cạn đó. Khi uống nước tôi thấy chút ít vết dầu trong ly nước, uống vào có mùi dầu máy xông lên nhưng vì khát quá và không có cách nào khác, tôi uống một hơi mấy ly nước đầy, mấy người trên ghe tôi cũng vậy.

Thấy tàu Thái tử tế, ghe tôi muốn tặng vật lưu niệm cho họ mà không tìm ra thứ gì để tặng. Cuối cùng, chúng tôi tìm được nắp hộp của một chiếc hộp đựng bút học trò (chỉ có cái nắp không có cái hộp), nắp bằng gỗ, phần trên của nắp có mảnh gương soi mặt nhỏ, phía dưới là hình một cô gái Việt Nam mặc áo dài với mái tóc dài buông xõa, đầu cô đội nón lá che nghiêng và trên tay cầm một đóa hoa hồng. Phía sau nắp hộp, người thông dịch viết hàng chữ bằng tiếng Anh đại khái nói: “Người tị nạn Việt Nam chúng tôi thân tặng các anh để kỷ niệm ngày chúng ta gặp nhau”. Theo lời anh thông dịch, khi người chủ tàu Thái dịch câu đó ra tiếng Thái, đám ngư phủ Thái Lan đứng chung quanh vỗ tay reo hò ra vẻ thích thú lắm.

Chủ tàu Thái cũng cho chúng tôi biết là ba, bốn ngày nữa sẽ có bão. Ông ta giục chúng tôi đi nhanh. Cảm động nhất là lúc chia tay, toàn bộ người trên ghe tôi đều đứng dọc hai bên khoang ghe vẫy tay chào từ biệt. Bên kia tàu Thái, toàn bộ ngư phủ và chủ tàu đứng dọc trên boong tàu vẫy tay cho đến lúc ghe tôi đi thật xa.

Vào ngày thứ năm của cuộc hành trình, khoảng chín giờ sáng chúng tôi thấy có nhiều lưới và phao nhỏ nổi trên biển. Có một điều lạ là lúc đó chưa thấy đất liền mà tôi thấy chuồn chuồn ở đâu mà bay ra rất nhiều đến hàng ngàn con, chúng bay rất thấp chỉ cách mặt biển có một, hai mét và đậu trên những chiếc phao đó.

Khoảng ba giờ trưa, chúng tôi thấy đất liền xuất hiện ở phía xa. Sau đó, chúng tôi lại gặp một tàu đánh cá khác của Thái Lan, qua sự tiếp xúc họ cho biết ghe chúng tôi đang ở gần ranh giới lãnh hải của hai nước Thái Lan và Mã Lai.

Chúng tôi thật sự may mắn, bao nhiêu ghe, thuyền vượt biên của người Việt mình bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, giết hại. Chúng tôi hai lần gặp tàu Thái Lan mà vẫn bình an vô sự.

Những người Việt vượt biên đến bờ biển Mã Lai

Đêm hôm đó gần mười hai giờ khuya, ghe chúng tôi theo con sông nhỏ nối liền với biển tiến vào đất Mã Lai. Lần đầu tiên sau gần sáu ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi bước lên bờ. Đêm đó trăng sáng vằng vặc, chúng tôi bước lên bờ chập choạng, ngã nghiêng chân thấp chân cao, mặt đất dường như không chịu đứng yên mà nhấp nhô như sóng biển.

Tôi đặt chân xuống mà sợ chân mình không đụng đất, mỗi lần bước đi phải chầm chậm từ từ như sợ mình bước hụt. Mấy người đi kế bên tôi la lên: “tụi mình đang bị say đất”. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe danh từ “say đất” và cũng là lần đầu tiên trong đời tôi mới biết được cảm giác “say đất” ra sao, hiện tượng đó kéo dài mấy phút sau đó mới trở lại bình thường.

Chúng tôi tìm một khoảng đất trống ngồi xuống, vài ba anh thanh niên háo hức cất bước tiến về khu nhà của dân địa phương ở phía xa. Một lúc khá lâu mấy anh trở về cho biết người dân địa phương để xe đạp, xe gắn máy ở phía sau nhà, không xe nào có khóa cả. Mấy anh còn cho biết có một quán nhỏ vẫn còn mở cửa, cô chủ quán người Mã Lai nói trọ trẹ được vài câu tiếng Việt. Trên vách quán có ghi ngày tháng và tên bằng tiếng Việt, chứng tỏ trước chúng tôi, ghe tàu vượt biên của người mình đã đến nơi đây. Mấy anh còn khoe được cô chủ quán cho uống “coca cola” mà không phải trả tiền.

Sau khi mọi người đã trở về đầy đủ, chúng tôi gom lá dừa khô lại để đốt. Mọi người quây quần chung quanh đám lửa nhỏ trò chuyện, một cô ngồi kế bên tôi khe khẽ hát:

Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bóng tơi bời
Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người…

Nghe cô hát thật buồn, nhất là trong hoàn cảnh nầy. Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác nhạc phẩm “Thuyền Viễn Xứ” vào năm 1952 khi đất nước chưa phân đôi. “Thuyền Viễn Xứ” thời đó bất quá tới một nơi nào đó ở cuối sông Hồng, hoặc xa xôi lắm là đến tận cùng của dòng sông Cửu Long, vẫn còn đâu đó trên đất Việt. “Thuyền Viễn Xứ” của chúng tôi bây giờ đi xa diệu vợi, vượt qua một đại dương bao la đến những bến bờ xa lạ và giao tiếp với những người không cùng màu da, ngôn ngữ, bỏ lại đằng sau một nước Việt Nam yêu dấu ngàn đời…

Chúng tôi ở đó chơi cho đến gần hai giờ sáng, rồi lại xuống ghe nhổ neo đi tiếp. Chúng tôi dự định cho ghe chạy dọc theo bờ biển Mã Lai để đến Singapore.

Khoảng chín giờ sáng của ngày thứ sáu của cuộc hành trình, ghe chúng tôi chạy cách bờ biển Mã Lai không tới một cây số và càng lúc càng tiến lại gần bờ. Trên đường tiến sát vào bờ biển Mã Lai tôi thấy vài ba chú cá heo bơi lội nô đùa trên sóng nước.

Bờ biển Mã Lai thật đẹp, từng bãi cát trắng chạy dài, chạy dọc theo bờ biển là những ngọn đồi con nho nhỏ. Mỗi một ngọn đồi có một màu sắc riêng biệt, có ngọn đồi phủ toàn một màu vàng của hoa, có ngọn đồi phủ một màu xanh của cây lá, và có ngọn đồi tím ngắt một màu nổi bật trên nền cát trắng.

Có lúc ghe tôi chạy qua một bãi biển có nhiều dừa, tôi thấy mấy cô gái Mã Lai với đôi mắt to đen, áo quần thướt tha, tay cầm dù che nắng đi dạo trông thật dễ thương.

Gần mười một giờ, có nhiều người mặc thường phục và quân phục đứng trên bờ, họ ngoắc tay ra dấu cho chúng tôi tấp ghe vào, chúng tôi lắc đầu tiếp tục đi. Vài phút sau, một chiếc ca nô từ bờ phóng ra đuổi theo ghe chúng tôi, trên đó có một ông mặc thường phục và một người lính Mã Lai, họ nhảy lên ghe yêu cầu chúng tôi phải tấp ghe vào bờ, lúc đầu chúng tôi không chịu nhưng thấy họ cương quyết, chúng tôi đành phải chịu phép.

Ghe vào bờ rồi, tôi thấy gia đình người chủ ghe mang theo nồi niêu, xoong chảo và gần nửa bao gạo – đó là số gạo trên ghe chúng tôi còn sót lại sau sáu ngày lênh đênh trên biển. Mọi người bước lên bờ rồi chỉ còn ghe tôi nằm trơ trội, cô độc sát bờ. Tôi hỏi mấy người đi bên cạnh: “vậy ghe mình tính sao?” một người trả lời: “người Mã sẽ kéo ghe mình ra biển rồi đánh chìm”.

Chúng tôi – tổng cộng 45 người, đi bộ theo hai người Mã Lai tới một vườn dừa thì thấy có sáu, bảy người lính Mã hiện diện ở đó từ lúc nào, họ hỏi ai là người đại diện ghe và muốn chúng tôi cung cấp danh sách bao gồm tên tuổi, giới tính, nghề nghiệp của tất cả người trên ghe và đưa cho họ. Thế là hai người thông dịch viên của ghe lại bận rộn cầm giấy bút đến hỏi từng người. Sau đó, mấy người lính Mã căng dây thành hình chữ nhật giữa bốn gốc dừa và bảo chúng tôi vào trong đó ngồi.

Trại tị nạn ở đảo Bidong

Chúng tôi ngồi đó chờ đợi, không biết kế tiếp mình sẽ đi về đâu. Xế trưa có hai chiếc xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai tiến vào, họ ra dấu cho chúng tôi lên xe. Tôi bước lên xe tìm chỗ ngồi, lòng thầm hỏi không biết xe nầy sẽ đưa chúng tôi đến nơi nào?

Xe chở chúng tôi chạy qua những thị trấn, làng mạc Mã Lai. Đường xá ở đây được tráng nhựa, hệ thống cầu đường khá tốt. Hơn một giờ sau, xe tấp vào một khu trại có đề chữ “Marang Transit Camp (Trại chuyển tiếp Marang)”. Xe dừng lại, tôi thấy có nhiều người tiến lại gần xe, rồi nghe loáng thoáng có tiếng nói như là tiếng Việt. Bọn tôi trên xe nhao nhao hỏi: “Việt Nam phải không?” mấy người đứng phía dưới cùng trả lời: “Việt Nam”. Tôi mừng quá, tôi cứ tưởng vượt biên, rời khỏi nước không còn có cơ hội gặp lại người Việt mình nữa. Những người đứng dưới xe là những người vượt biên vừa tới trại nầy vào tối hôm qua.

Trại chuyển tiếp Marang cách trại tị nạn Sungei Besi hơn 430 cây số và cách đảo Bidong hơn 45 cây số. Đây là nơi tất cả người tị nạn Việt Nam khi đặt chân đến Mã Lai đều phải đến đó ở một, hai ngày chờ tàu chở ra đảo Bidong để làm thủ tục định cư, và ngược lại, những người tị nạn từ đảo Bidong trên đường tới trại tị nạn Sungei Besi – tọa lạc ở ngoại ô thủ đô Kuala Lumpur, để chờ chuyến bay đi định cư ở nước thứ ba hoặc được tiếp tục phỏng vấn bởi phái đoàn các nước – đặc biệt là phái đoàn Mỹ, cho việc định cư của mình đều tới trại chuyển tiếp Marang ở đó ít nhất một đêm để chờ xe buýt chở đi.

Bọn tôi xuống xe, có người hướng dẫn vào một tòa nhà lớn có nhiều giường đôi hai tầng. Tôi chọn một chiếc giường ở tầng dưới và đặt túi xách đựng quần áo của mình xuống. Mấy người trên ghe tôi cũng vậy, mỗi người chiếm cứ một giường. Sau đó tụi tôi tìm nơi tắm rửa. Trại có hai dãy phòng tắm riêng biệt dành cho nam và nữ.

Sau hơn sáu ngày phong trần, tôi mặc có mỗi một bộ đồ, kể từ lúc bước xuống đò Vàm Láng để vượt biên, chưa được tắm rửa lần nào, giờ đây được xả nước tắm thoải mái để gội rửa bụi “vượt biên”. Không thể nào diễn tả được cảm xúc vui sướng của tôi lúc bấy giờ, nhất là thấy mình đã an toàn đến bến bờ tự do. Mới hơn bảy ngày trước còn ở Việt Nam với bao lo âu, buồn phiền mà bây giờ đã đặt chân đến Mã Lai – vùng đất ước mơ của bao người Việt Nam ôm mộng vượt biên lúc bấy giờ. Tắm xong bước ra ngoài mà tôi ngỡ mình đang nằm mơ.

Chiều hôm đó sau khi ăn uống xong xuôi, tiết mục kế tiếp mà tôi chờ đợi mấy ngày qua là… được ngủ. Sáu đêm ngủ ngồi, tôi gần như không ngủ. Gần bảy giờ tối, tôi leo lên giường làm một giấc thẳng cẳng cho tới ngày hôm sau.

Những người Việt tị nạn trên đảo Bidong, Mã Lai

Gần mười giờ sáng ngày hôm sau có người vỗ vai đánh thức tôi dậy, một anh đi cùng ghe cho tôi biết một giờ trưa hôm nay sẽ có tàu đưa chúng tôi ra Bidong. Anh ta nói: “ông làm gì mà ngủ say như chết vậy? Hồi hôm mấy bà, mấy cô la oai oái làm mọi người thức dậy”. Tôi hỏi: “sao mấy bà, mấy cô la?”, anh ta cho biết, lợi dụng lúc mấy cô đang ngủ, một vài tên lính Mã Lai có ý định sờ mó, sàm sỡ làm mấy cô la lên, mấy bà ngủ gần đó không biết ất giáp gì nghe mấy cô la, mấy bả cũng la làm đám đàn ông mình tỉnh giấc ngồi dậy, mấy tên lính Mã Lai thấy thế sợ quá biến mất. Anh ta còn cười cười nói: “may cho ông đó, ông mà là mấy cô mà ngủ kiểu nầy là tụi nó vác ông chạy vô rừng là tan nát đời hoa”, nói xong anh ta phá ra cười.

Chúng tôi ở trại chuyển tiếp Marang vỏn vẹn chỉ có một ngày. Một giờ trưa ngày hôm đó, xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai đến chở chúng tôi ra bến tàu. Tới nơi, chúng tôi được hướng dẫn xuống một con tàu mang tên Blue Dart mà người tị nạn chúng tôi vẫn thường gọi đùa, tàu đó là tàu “bi đát”. Gần một giờ sau chúng tôi đã có mặt ở Bidong – hòn đảo “thiên đường” của người Việt Nam tị nạn Cộng sản, bắt đầu cho một cuộc sống lưu vong nơi xứ người.

Thanh Nhàn

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo-duong-doi/chuyen-vuot-bien-cua-toi/

THỰC TRẠNG BUỒN TRONG CUỘC SỐNG-Lm. Anmai, CSsR

Lm. Anmai, CSsR

Mới đây, nhiều người biết ba cây phượng vừa bị đốn tại Trường THPT Bùi Thị Xuân, TP.HCM gây bất ngờ khi vẻ ngoài xanh tốt, trổ hoa nhưng ruột trống rỗng, có đoạn đường kính lên đến 80cm, 90cm. Nhìn cây phượng rỗng ruột tôi lại miên man suy nghĩ về cuộc đời.

Ai ai trong cuộc sống cũng không thích giả tạo nhưng lại cứ giả tạo để cho người ta thấy mình sang, mình đẹp và mình giàu. Thế nhưng rồi có khi đàng sau cái vẻ đẹp ấy cũng chỉ như cây phượng buồn vừa bị đốn. Giàu có và vinh hoa cũng vậy. Có khi phía sau cánh cổng của biệt thự hay căn nhà phố mặt tiền lại là một đống nợ của gia chủ.

Vì muốn hãnh diện khoe mẽ với người khác cho nên ít ai chấp nhận cái thân phận thật của mình để rồi đua nhau chạy theo điều giả dối.

Thực tại, ta thấy câu mà người ta thường hay nói “Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa” là đúng.

Gia đình khá thân quen vẫn thường cho lên mạng hình ảnh đẹp của gia đình mình. Nhưng đàng sau lưng cái vẻ đẹp lung linh rực rỡ ấy đó là câu chuyện của hai vợ chồng trong gia đình đó. Họ không sống chung với nhau cả hơn chục năm trời. Thế nhưng bịt mắt thiên hạ, họ vẫn diễn.

Tôi đã nhiều lần như là trọng tài để chia sẻ, phân tích cho gia đình nhưng họ không nghe. Lâu lắm rồi không giao tiếp nhưng biết họ vẫn không ở chung với nhau như mọi người nhìn vào bức ảnh đẹp của cả gia đình.

Và, câu chuyện không dừng ở đó. Người dì của gia đình đó đã kể “thành tích” của đứa cháu vừa được báo chí tuyên dương. Người bố cũng khoe thành tích của con mình. Có điều, ở trong gia đình mới biết được đó là thành tích ảo. Tôi cũng đã nhiều lần khuyên và nhắn nhủ dì của chàng trai được vinh danh đó để cho cậu ta thay đổi lối sống nhất là quan tâm đến đời sống nhân bản.

Xem chừng tương lai sẽ là người thành đạt trong công việc học tập. Nhưng chưa chắc thành công khi làm việc bởi tính cách như thế. Đặc biệt người dì kể về cháu mình đó là về sự vô ơn.

Tôi không xét đoán, không bình phẩm nhưng chỉ thấy những gì người ta đưa trên mặt báo không đúng với con người thật của chàng thanh niên đó. Nó cũng giống như cây phượng bề ngoài thì xanh um và cho ra hoa  rất đẹp nhưng bên trong thì ruột bị rỗng.

Vấn đề đón nhận sự thật và chấp nhận sự thật xem chừng rất khó trong cuộc sống. Đơn giản là vì ai ai cũng thích khoe cái mẽ bề ngoài dù bên trong gia đình thì trầm trọng.

Dường như bây giờ đi đâu cũng thấy thực trạng đáng buồn này. Người ta bưng bít sự thật để cho mọi người không biết sự thật nhưng đến một ngày nào đó khi người ta phát hiện ra sự thật chắc chắn người ta sẽ rất chán chường.

Như cây phượng bị đốn. Nhiều người vẫn tiếc rẻ khi phải đốn hạ nó nhưng đâu ai ngờ rằng đốn hạ nó sẽ bảo toàn sinh mệnh cho bao nhiêu con người. Nếu như không đốn ngã nó, mưa to gió lớn nó ngã đổ và khi đó không biết sẽ cướp đi bao sinh mạng như bao cây phượng bị trốc gốc.

Như cơ địa của con người. Phần nào bị đau thì ta chữa trị hay như Chúa nói thà mất 1 con mắt mà vào được Thiên Đàng còn hơn cả thân xác vào hỏa ngục. Hay như là thà mất 1 tay để được vào Thiên Đàng còn hơn cả con người phải sa hỏa ngục.

Điều này như Chúa nói con người cần phải loại bỏ những gì xấu, những gì hư để cơ thể được lành mạnh và nhất là được vào Thiên Đàng.

Cũng chỉ vì sợ sự thật và yêu chuộng sự giả dối nên rồi có quá nhiều hậu quả xảy ra trong cuộc sống.

Như câu chuyện 2 người bạn chơi thân với nhau. Họ hết mình tin tưởng đặt niềm tin vào nhau. Đến một ngày nào đó người này phát hiện ra người kia không thật thà có lẽ là cay đắng lắm.

Nói về sự thật và sự bóng bẩy bề ngoài thì ngày hôm nay như là một trào lưu khi trào lưu sống ảo lên ngôi. Bao nhiêu lời nói hoa mỹ mà người ta dành cho nhau nhưng đàng sau sự hoa mỹ ấy toàn là sự giả tạo.

Người ta vẫn thường nói với nhau: “Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt! Lọc lừa lươn lẹo lại lên lương!”. Đời vẫn thế mà!  Ai thẳng thắn thường bị trù dập còn ai manh mung thì lại được hưởng vinh hoa.

Thôi thì vẫn là sự tự do lựa chọn của mỗi người. Chuyện sống thật hay sống giả tùy vào sự lựa chọn của mỗi người. Hãy cố gắng sống thật hết sức có thể để đừng rơi vào tình trạng thùng rỗng kêu to hay như cái cây bàng kia nhìn bề ngoài xanh mơn mởn nhưng bên trong thì chẳng có tí ruột nào.

Lm. Anmai, CSsR

Nguồn:Thanhlinh

CHÚA DẪN ĐƯA CON – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Sau khi long trọng mừng lễ Phục Sinh, Phụng vụ mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu ở một khía cạnh khác: Người là Mục tử nhân lành.  “Người mục tử” là hình ảnh chính Chúa Giêsu đã dùng để diễn tả sứ mạng của Người, là sứ mạng Thiên sai.  Hình ảnh này không phải là điều gì mới lạ, vì các ngôn sứ trong Cựu ước đã diễn tả Thiên Chúa như một mục tử.  Chúng ta có thể đọc thấy trong giáo huấn của ngôn sứ Giêrêmina và Egiêkien.  Như người mục tử chăm sóc đàn chiên thế nào, Thiên Chúa luôn săn sóc dân riêng Ngài đã chọn như vậy.  Ngài biết những nhu cầu của đàn chiên.  Ngài còn biết tên của từng con cũng như tính nết của chúng.

Những điều này cho thấy tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người.  Suốt bề dày lịch sử Cựu ước, Ngài luôn che chở, hướng dẫn và bao dung nhân từ đối với dân riêng Ngài đã chọn, mặc dù nhiều lần dân lầm lỗi bội phản.

Trong xã hội du mục của người Do Thái thời xưa, hình ảnh người mục tử và đàn chiên rất gần gũi đối với với cuộc sống hằng ngày.  Đi đâu ta cũng có thể gặp thấy đồng cỏ xanh, đàn chiên thư thái ăn cỏ bên dòng suối mát lành dưới dự chăm sóc của các mục tử.  Khi dùng hình ảnh người Mục tử, Chúa Giêsu tiếp nối giáo huấn của Cựu ước.  Tuy vậy, hình ảnh người mục tử nơi Chúa Giêsu mang nhiều nét mới mẻ.  Đây là người mục tử dám hy sinh mạng sống vì đàn chiên.  Người chấp nhận chết cho chiên được sống.  Người không chỉ chăn dắt đàn chiên mà còn ban cho đàn chiên sự sống.  Tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.  Qua cái chết trên thập giá, Chúa Giêsu hiến mạng sống mình cho đàn chiên và thông ban cho đàn chiên sự sống thiêng liêng.

Khi quả quyết: Tôi là cửa.  Đức Giêsu muốn nhấn mạnh, Người là mẫu mực cho chúng ta.  Các tác giả Phúc âm đã phác họa chân dung của Chúa Giêsu trong các tác phẩm của mình.  Tất cả đều muốn khẳng định: Chúa Giêsu là dung mạo phản ánh lòng thương xót của Chúa Cha, qua sự khiêm nhường, dấn thân phục vụ con người.  Mỗi tín hữu, tức là mỗi con chiên trong đàn chiên của Chúa phải nhìn lên Đức Giêsu là vị Mục tử của mình để noi gương Người trong đời sống.  Như thế là chúng ta bước qua cửa có tên là Giêsu, để được quy tụ và được giáo huấn, với mục đích sẽ trở nên hoàn thiện từng bước ngay khi còn sống trên trần gian.  Ai qua cánh cửa có tên là Giêsu, sẽ tìm được nơi nương ẩn và được cứu rỗi.

Hình ảnh người Mục tử gắn liền với Cộng đoàn đức tin, tức là Giáo Hội.  Trong bài giảng đầu tiên vào ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Phêrô khẳng định Chúa Giêsu là Đấng Kitô và là Chúa.  Người đã chịu đóng đinh trên thập giá.  Người giống như mục tử, vì sự bình an và sự sống của đàn chiên, đã hy sinh mạng sống mình.  Bài giảng hùng hồn đã khiến cử tọa khóc lóc đau đớn trong lòng, và đã có thêm ba ngàn người xin gia nhập Đạo Chúa trong ngày hôm ấy (Bài đọc I).  “Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ.”  Tránh xa gian tà, tức là từ bỏ lối sống không phù hợp với danh hiệu Kitô hữu như: bạo lực, dâm ô, giận hờn, ghen ghét, chia rẽ, suy đồi luân thường đạo lý.  Những tệ nạn này cản trở chúng ta đến với Chúa và làm chúng ta trượt dốc xuống vực thẳm của tội lỗi.

Hình ảnh người Mục tử nhân lành nhắc nhớ chúng ta: nhờ Bí tích Thanh tẩy,  người tín hữu được tháp nhập vào đàn chiên của Chúa tức là Giáo Hội.  Chúa Giêsu là Đầu của Giáo Hội.  Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Giêsu.  Mỗi chúng ta là chi thể trong thân thể ấy.  Cũng như nơi thân xác con người, chỉ khi nào mọi chi thể liên kết gắn bó chặt chẽ với đầu, thì thân thể ấy mới khỏe mạnh.  Mỗi tín hữu cũng phải liên kết với Đức Giêsu là Đầu của Giáo Hội.  Hiệp thông gắn bó với Đầu, chúng ta cũng phải hiệp thông gắn bó với anh chị em mình, để làm thành một cộng đoàn Giáo Hội vững chắc, không ngừng tiến triển và diễn tả sự thánh thiện trong đời sống hằng ngày.

Những ai đã lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy mà không hiệp thông với Giáo Hội, được so sánh như con chiên lạc.  Thánh Phêrô lưu ý chúng ta như vậy.  Ngài viết: “Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với vị Mục tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (Bài đọc II).  Tin tưởng cậy trông nơi Đấng Phục sinh, đó là điều kiện cần thiết để chúng ta hiệp thông với vị Mục tử và hiệp thông với anh chị em mình, tức là cộng đoàn Giáo Hội.

Giáo Hội không giống như một tổ chức trần thế.  Giáo Hội cũng không phải do con người lập nên.  Chính Chúa Giêsu là Đấng sáng lập Giáo Hội.  Chính Chúa Phục sinh đã trao cho thánh Phêrô và những người kế vị nhiệm vụ lãnh đạo, và thay Người săn sóc, quy tụ đàn chiên.  Những đế chế hay những quốc gia trần thế, dù có hùng mạnh đến đâu chăng nữa, chỉ vang bóng một thời rồi đến lúc phải cáo chung.  Giáo Hội của Chúa trường tồn qua mọi thời, thấm nhập và góp phần làm thăng hoa các nền văn hóa và các truyền thống nơi các quốc gia.  Sở dĩ Giáo Hội trường tồn, vì có Đức Giêsu phục sinh luôn hiện diện và hướng dẫn, như người mục tử chăn dắt đàn chiên.

Sự hiện diện và dẫn dắt của vị Mục tử được diễn tả trong Thánh vịnh quen thuộc.  “Chúa là Mục tử.”   Lời Thánh vịnh đem lại cho chúng ta sự bình an: Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.  Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.  Nhờ sự dẫn dắt của vị Mục tử Giêsu, chúng ta tìm được cảm giác thư thái an bình, như con thơ nằm trong lòng mẹ: Lòng nhân hậu và tình thương Chúa, ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người, những ngày tháng, những năm dài triền miên.  Còn hình ảnh nào đẹp đẽ hơn để diễn tả tình yêu thương của Chúa dành cho những ai tin tưởng và phó thác nơi Người?  Thánh vịnh 23 này thường được hát trong Thánh lễ an táng và cầu hồn.  Lời ca sâu lắng, tha thiết và gợi hình, giúp cộng đoàn phụng vụ thêm lòng sốt sắng, giúp thân nhân gia đình người quá cố được ơn an ủi và niềm hy vọng.  Thực ra, Thánh vịnh này không chỉ diễn tả việc Chúa dẫn đưa một người đã qua đời về vương quốc vĩnh cửu, mà còn diễn tả sự quan phòng yêu thương của Chúa đối với con người trong suốt cuộc đời.  Ngài luôn chăm sóc chúng ta, ân cần chu đáo như mục tử đối với đàn chiên.

Chúa nhật IV Phục sinh cũng được gọi là Chúa chiên lành.  Đây là dịp để chúng ta bày tỏ tình hiệp thông với Đức Thánh Cha Phanxicô, vị Mục tử tối cao của Giáo Hội Công giáo và là người kế vị Thánh Phêrô tông đồ.  Chúng ta cầu nguyện cho Ngài và cho các vị chủ chăn trên toàn thế giới, được ơn can đảm, khôn ngoan để có thể dẫn đưa Dân Chúa đến đồng cỏ xanh tươi và đến suối mát trong lành, tức là hưởng trọn vẹn tình yêu ngọt ngào của Chúa, là phần thưởng cho những ai tin cậy yêu mến Người.  Xin Chúa ban cho Giáo Hội hoàn vũ và các Giáo Hội địa phương luôn vững mạnh trước phong ba bão táp trần gian.

“Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn.”  Thế giới hôm nay đang hoảng loạn trước đại dịch COVID-19, giống như đang qua bờ vực thẳm.  Hơn ba triệu người đã lây nhiễm.  Mấy trăm ngàn người đã chết vì dịch bệnh.  Lòng trông cậy Chúa sẽ giúp chúng ta tìm được sự an bình giữa cơn đại nạn, đồng thời tin tưởng Chúa sẽ cứu với nhân loại.

“Hỡi bạn là Kitô hữu, hãy luôn tự hào vì danh xưng ấy” (Thánh Lê-ô cả Giáo Hoàng).  Mỗi chúng ta hãy cảm thấy vinh dự và vui mừng vì được mang danh Chúa Giêsu, đồng thời hãy góp phần mình làm cho đàn chiên Giáo Hội luôn vững mạnh, tỏa sáng giữa lòng đời.  Giữa một cuộc sống còn nhiều góc khuất do tội lỗi và hận thù gây, hãy làm cho Giáo Hội thực sự là Ánh Sáng Muôn Dân, rạng soi thế giới.

Nguyện xin Chúa Giêsu Kitô, vị Mục tử nhân lành, dẫn đưa nhân loại ra khỏi vực thẳm của tội lỗi và của dịch bệnh đang đe dọa thế giới.  Xin Người cho chúng ta được ơn an bình.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim