Thánh Catarina ở Siena (1347 — 1380)- ngày 29/04

Thanhlinh.net

Trong cuộc đời ngắn ngủi, Thánh Catarina đặt trọng tâm vào việc hoàn toàn phó thác cho Ðức Kitô. Ðiều đáng khâm phục về thánh nữ là ngài coi việc phó thác cho Chúa như một mục đích phải đạt được qua thời gian.

Thánh Catarina, tên thật là Catarina Benincasa, sinh ở Siena và là người con út trong một gia đình có đến 23 người con. Ngay từ khi bảy tuổi, cô đã dâng hiến tâm hồn cho Ðức Kitô. Nơi cô sinh trưởng rất gần San Domenico, trung tâm truyền giáo của Dòng Ða Minh, và khi lớn lên cô bày tỏ ý muốn đi tu, nhưng gia đình lại muốn cô kết hôn. Ðể nói lên ý chí quyết liệt của mình, cô đã cắt tóc và sau cùng, với sự đồng ý của cha mẹ, Catarina gia nhập tổ chức Mantellate, là hội phụ nữ có liên hệ đến Dòng Ða Minh, họ mặc áo dòng nhưng sống ở nhà, phục vụ người nghèo và người đau yếu. Trong vòng hai năm liên tiếp cô không bao giờ rời phòng, trừ khi đi xem lễ và xưng tội, và cũng không nói chuyện với một ai ngoại trừ cha giải tội. Trong thời gian này, Catarina luyện tập tâm linh qua lối sống khắc khổ.

Sau đó, cô tự phá vỡ đời sống cô độc và bắt đầu hăng say chia sẻ công việc trong nhà, săn sóc người bệnh và giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên cô vẫn dành thời giờ trong thinh lặng và chiêm niệm.

Dần dà, người ta nhận thấy dường như Catarina đọc được tâm hồn của họ và dân chúng thuộc đủ mọi thành phần — giầu và nghèo, tu sĩ và giáo dân, thợ thuyền và lính tráng – bắt đầu tuốn đến với cô để được khuyên bảo. Từ đó một tổ chức tông đồ giáo dân được thành hình. Các lá thư của cô, hầu hết là các lời khuyên bảo tinh thần và khuyến khích các người mến mộ, ngày càng được công chúng đón nhận.

Vì sự hòa đồng với người đời một cách không sợ sệt cũng như lời nói bộc trực và uy quyền của một người hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, Catarina đã bị dị nghị và dèm pha. Nhưng mọi điều cáo buộc cô đã bị bác bỏ trong Tổng Công Hội Dòng Ða Minh năm 1374.

Cô có ảnh hưởng rất lớn vì sự thánh thiện hiển nhiên, cũng như vì ảnh hưởng sâu đậm đối với đức giáo hoàng. Cô làm việc không biết mệt trong cuộc thập tự chinh chống với người Thổ Nhĩ Kỳ và trong việc hòa giải thành phố Florence với đức giáo hoàng.

Cô thành công trong việc thuyết phục Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô XI trở về Rôma, nhưng không bao lâu đức giáo hoàng từ trần và Ðức Urbanô VI lên ngôi. Khi cuộc Ðại Ly Giáo bùng nổ, Ðức Urbanô VI mời Catarina đến Rôma, vì đức giáo hoàng cần sự hỗ trợ của cô. Năm 1378, cô đến Rôma và thường xuyên viết thư gửi các nhà lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội để bảo vệ cho quyền giáo hoàng của Ðức Urbanô. Hàng ngày, cô đi bộ đến Ðền Thánh Phêrô và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.

Một vài tuần trước khi chết, cô đang cầu nguyện trước một bức khảm ở Ðền Thánh Phêrô, cô trông thấy con thuyền của Thánh Phêrô dường như rời khỏi bức khảm và đậu trên vai của cô. Con thuyền xô cô ngã quỵ và người ta phải khiêng cô về nhà. Catarina hầu như bất toại cho đến khi từ trần, ngày 24 tháng Tư  1380, lúc ấy mới ba mươi ba tuổi.

Cô được Ðức Giáo Hoàng Piô II phong thánh năm 1461, và được coi là một trong những vị thần nghiệm và văn sĩ linh đạo của Giáo Hội. Vào năm 1970, Ðức Phaolô VI tuyên xưng thánh nữ là Tiến Sĩ Hội Thánh. Thánh Catarina là người phụ nữ thứ hai (sau Thánh Têrêsa ở Avila) được vinh dự này.

Trong khi các thư của Thánh Catarina thường được coi là cửa ngõ để biết đến con người của ngài, nhưng người ta thường nhắc đến tác phẩm “Ðối Thoại” mà ngài chỉ coi đó là “cuốn sách của tôi,” gồm các lời giảng dạy của thánh nữ để lại cho các người mến mộ. Cha Raymond, vị linh hướng của thánh nữ cho biết tác phẩm này ghi lại những lời đối thoại với Thiên Chúa khi ngài ngất trí.

Trích từ NguoiTinHuu.com

Tại sao 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận?

Tác giả: Tiểu Thạch

Người Việt quốc gia đã chọn ngày 30 tháng 4 là ngày Quốc Hận. Từ “hận” [恨] có nghĩa là “oán giận” (theo Hán-Việt Tự-Điển của Đào Duy Anh, 1963; Hán-Việt Tự-Điển của Nguyễn Văn Khôn, 1960). Trong nghĩa giận còn có ý “oán” [怨] nữa, nghĩa là trách móc như trong câu oán thiên vưu nhân 怨天尤人, trách trời giận người (Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn, Paris 2015). Giận vì Miền Nam đã thua Miền Bắc và oán trách vì người bạn đồng minh của mình đã phản bội.

Nhưng thua thì chịu thua. Tại sao lại phải giận? Và đồng minh đã phản bội như thế nào?
Đúng là thua, nhưng giận vì thua không hợp lý: Tự Do Dân Chủ mà phải thua Độc Tài Cộng Sản; Chính Nghĩa mà phải thua cái Ác; và nhất là đứng về mặt quân sự, sự thất bại của vụ tổng tấn công tổng khởi nghĩa của cộng sản Miền Bắc năm 1968, của cuộc tổng tấn công của toàn bộ lực lượng chính quy của cộng sản Miền Bắc trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, cũng như sự kiên trì anh dũng giữ nước của quân lực Việt Nam Cộng Hoà từ 1972 đến 1975 đã hùng hồn chứng minh sự vượt trội của quân lực Miền Nam.
Gallery: 50 Years Ago - Vietnam War's Tet Offensive | Tampa Bay Times
Trong vụ tổng tấn công trong dịp Tết Mậu Thân 1968, cộng sản Miền Bắc, bất chấp thoả hiệp đình chiến 36 tiếng để dân chúng đón Tết, đã tấn công ồ ạt trên mọi tỉnh thành Miền Nam. Nhưng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, dù quân số chỉ còn lại khoảng 1/61 vì đa số đã được nghỉ phép về quê ăn Tết, vẫn có thể anh dũng đẩy lui cuộc tấn công của toàn bộ quân đội miền Bắc.
Về quân sự, Tết Mậu Thân là một thất bại lớn cho diều hâu chiến tranh Lê Duẫn. Trong vụ tấn công này của cộng sản Miền Bắc, người ta tìm thấy nhiều trẻ em chết bên cạnh những ổ súng máy, chân bị xiềng2 vào ổ súng để chúng phải chiến đấu cho đến chết; có đứa bị xiềng chân vào cổ xe thiết giáp3 để khỏi đào thoát; những tên bắn sẻ thì bị cột chặt vào thân cây4. Những người này đã bị chết một cách thảm thương. Một vài bài viết của người cộng sản Miền Bắc mô tả quân đội Miền Bắc đã tấn công toà đại sứ Mỹ và đã lên đến tầng thứ ba của toà đại sứ với ý định giết đại sứ Mỹ. Nhưng sự thực ở Sài Gòn, ai cũng chứng kiến cảnh mười mấy tên đặc công cộng sản vừa xông vào sân toà đại sứ thì đã bị hạ gục ngay.
Thua về quân sự trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế, cộng sản Miền Bắc khi tháo lui đã giết hại tổng cộng 5327 người dân Huế bằng cách bắn chết tại chỗ, chôn sống hằng ngàn người trong những nấm mồ tập thể rải rác khắp ngoại ô thành phố Huế, tại Khe Đá Mài.v.v…sau khi đã dùng cuốc đập vào đầu họ trong khi họ đang bị trói cánh khuỷu lại thành chùm với nhau. Trong số những người này có 4 giáo sư người Đức đang dạy y khoa tại đại học Huế. Ngoài con số 5327 người đã bị sát hại, chúng còn bắt đi biệt tích 1200 người dân Huế vô tội nữa. Về tâm lý quần chúng tại Việt Nam, vụ Mậu Thân 1968 cũng là một thất bại nặng nề cho Đảng Cộng Sản Miền Bắc. Chiến dịch Mậu Thân được gọi là “Tổng Tiến Công Tổng Nổi Dậy” vì Đảng Cộng Sản Miền Bắc có ảo tưởng là nhân dân Miền Nam sẽ đứng lên chống lại, lật đổ chính quyền Miền Nam khi họ tiến quân vào Miền Nam. Họ không ý hội được là nhân dân miền Nam ghê tởm cộng sản, nghe cộng sản đến đâu là nhân dân né tránh, chạy về phía quân lực Việt Nam Cộng Hoà để được che chở, bảo vệ. Ngay người dân miền Bắc cũng ghê tởm họ. Năm 1954 đã có hơn một triệu người Miền Bắc di cư vào Miền Nam để lánh nạn cộng sản. Nếu không có những khó khăn vì di chuyển và những ngăn chặn bằng bạo lực do đảng cộng sản ác độc chủ trương thì hẳn con số di cư còn cao hơn gấp bội.
Lá Thư Nói Thẳng Nói Thật Số 5 - Tượng Đài Cổ Thành Quảng Trị - Mùa Hè ...
Trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, sau khi gần như toàn bộ quân đội Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Việt Nam chỉ còn lại yểm trợ của không lực của Hoa Kỳ, thế mà quân lực Việt Nam đã đẩy lui trên 200,000 quân đội chính quy của Miền Bắc đồng loạt tấn công vào tất cả mọi thị thành ở Miền Nam.
Quảng Trị – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 – dòng sông cũ
Sau 1972, khi quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn rút khỏi Việt Nam; yểm trợ không lực của Hoa Kỳ cũng không còn nữa trong lúc Miền Bắc vẫn được sự tiếp tế đầy đủ của Nga và Tàu. Tàu đã đưa qua Miền Bắc trên 300,000 quân giữ hậu cần để cho quân chính quy Bắc Việt tiến công vào Miền Nam. Thế mà quân lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn giữ được nước mãi cho đến tháng 4 năm 1975 với những trận đánh quyết tử Xuân Lộc và An Lộc, trong hoàn cảnh hoàn toàn thiếu thốn đạn dược và xăng nhớt cho xe cộ và máy bay.
Giận vì sự ác độc của người cộng sản còn được thể hiện rõ nét sau khi đã cưỡng chiếm được Miền Nam, họ đã đày đoạ hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân và cảnh sát trong các trại tập trung từ vài ba năm cho đến hai chục năm, ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên rừng thiêng nước độc để những tù nhân oan trái này phải chết dần, chết mòn vì lao động kiệt lực, vì bệnh hoạn, và nhất là vì bị bỏ đói. Trong lúc đó thì của cải của những người này bị tước đoạt, nhà cửa bị trưng dụng, và trong một số không ít trường hợp, vợ của họ cũng bị cán bộ lấy.
Một lý do nữa để cho người Việt quốc gia phải căm giận là cả hơn hai triệu người phải liều chết để trốn thoát khỏi sự tàn bạo, cay nghiệt, độc ác của người cộng sản Miền Bắc. Khi trốn thoát bằng đường biển — trên những chiếc ghe nhỏ bé không thích hợp để vượt biển, có khi chỉ bằng những ruột xe hơi buộc lại với nhau — hằng trăm ngàn người hoặc đã bị sóng biển dập vùi xuống lòng đại dương, hoặc đã bị cướp biển Thái Lan chặn bắt, cướp đoạt tài sản, giết đàn ông, hiếp dâm phụ nữ. Những vụ cưỡng dâm con gái đã có lúc xảy ra trước mặt cha mẹ, vợ trước mặt chồng con. Những cảnh đau lòng này cũng thường xảy ra đối với những người vượt biên qua đường rừng núi Cao Miên, khi họ gặp phải quân lính Khmer Đỏ. Những đau xót này đã in dấu ấn đậm nét trong lòng người Việt quốc gia may mắn thoát được ngục tù cộng sản và đến được bến bờ tự do của những nước dân chủ.
Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH ...
Ngoài sự căm giận, người Việt quốc gia chúng ta còn oán trách Mỹ, người bạn đồng minh đã phản bội lại chúng ta.
Đúng ra, người Mỹ chỉ là bạn đồng minh bất đắc dĩ.
Trước tiên, chúng ta cần phải khẳng định rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải là do người Mỹ đưa lên mà chính vua Bảo Đại đã bổ nhiệm ông làm thủ tướng lúc ông qua Pháp sau khi vận động thất bại ở Mỹ. Trước năm 1953, nước Việt Nam, trên danh nghĩa, đã độc lập; nhưng trên thực tế vẫn chịu sự quản trị và khống chế của người Pháp. Do đó Ông Ngô Đình Diệm đã từ chức thượng thư bộ lại của triều nhà Nguyễn và xuất dương tìm đường cứu nước. Ông bắt đầu qua Nhật, tiếp xúc với Ông Cường Để với hy vọng thành lập một chính phủ quân chủ lập hiến, nhưng không thành công. Trong dịp này ông gặp được một giáo sư khoa chính trị học người Mỹ tên là Wesley Fishel, đang làm việc cho CIA. Ông này móc nối cho ông Diệm làm quen với một số chính khách Mỹ như chánh án Tối Cao Pháp Viện William O. Douglas, đức Hồng Y Francis Spellman, dân biểu Mike Mansfield thuộc tiểu bang Montana, dân biểu John F. Kennedy thuộc tiểu bang Massachusetts. Tuy nhiên, Ông Ngô Đình Diệm không tạo được sự hỗ trợ chính thức của Hoa Kỳ. Lý do chính là vì ông là người công giáo, nên người Mỹ nghĩ là ông không thể điều hành một quốc gia mà họ nghĩ đa số là người Phật giáo.
Ông Ngô Dình Diệm trở về Việt Nam ngày 7 tháng 7 năm 1954 trong cương vị Thủ Tướng cho toàn cõi Nam Trung Bắc Việt Nam, do quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève đã được ký, chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17. Vùng đất thuộc bắc vĩ tuyến 17 do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ông Ngô Đình Diệm trách người Pháp đã giao Miền Bắc cho cộng sản. Tại Miền Nam Ông Ngô Đình Diệm được sự hỗ trợ của những đảng phái quốc gia chống cộng, của giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo; ông dẹp loạn Bình xuyên do Bảy Viễn cầm đầu, loại trừ được sự chống đối của tướng Nguyễn Văn Hinh do Pháp xúi dục làm đảo chánh.
Late 1960s Photographs of Saigon Going about Its Business While the ...
Với quân đội do người Pháp trao trả, với sự hỗ trợ của các đảng phái quốc gia chống cộng và của Cao Đài và Hoà Hảo, ông Ngô Đình Diệm đã phá tan gần hết hạ tằng cơ sở của cộng sản để lại Miền Nam sau khi đã tập kết ra Bắc theo các điều khoản của Hiệp Định Genève. Ông Ngô Đình Diệm đã thiết lập được một thế đứng chính trị vững chắc cho nền Đệ Nhất Cộng Hoà.
Nhưng sự khai sinh của một Nền Cộng Hoà non trẻ thay cho một nền hành chánh thủ cựu, quan liêu của triều nhà Nguyễn cần sự hỗ trợ về tài lực, kinh tế, kỹ thuật, và quản trị. Đây là thời điểm mà ông Diệm cần sự giúp đỡ của người Mỹ. Và người Mỹ đã đến Việt Nam dưới hình thức cố vấn trong những năm 50 đến những năm đầu của thập kỷ 60. Số cố vấn Mỹ càng ngày càng tăng theo thời gian. Nhưng điều quan trọng là cái nhìn của chính phủ Ngô Đình Diệm không trùng hợp với cái nhìn của người Mỹ về phương diện chính trị. Ông Ngô Đình Diệm chú trọng vào sự thịnh vượng của đất nước và độc lập quốc gia, còn hình thái chính thể thì chưa thể tự do hoàn toàn như các nước Tây phương được. Cái nhìn của người Mỹ thì bao quát cả thế giới qua sự tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng giữa lý thuyết tự do và lý thuyết cộng sản.
Nam Ròm: Hình Ảnh của thời Đệ Nhất VNCH (Nguồn http://thangtien.de/ )
Từ góc nhìn tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng, người Mỹ thấy cần phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản quốc tế xuống Việt Nam và sự lan toả của làn sóng này ra toàn cõi Đông Nam Á, bao gồm cả Lào, Cao Miên, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Indonesia, New Zealand và cả Australia. Để ngăn chặn sự bành trướng này, người Mỹ nhận thấy khẩn thiết cần phải đưa quân đội vào Việt Nam. Nhưng đây là điểm khác biệt chính yếu về quan điểm giữa ông Ngô Đình Diệm và chính phủ Hoa Kỳ. Đối với ông Ngô Đình Diệm, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ (1) làm mất đi chủ quyền quốc gia Việt Nam, và (2) sẽ làm mất chính nghĩa quốc gia, đem lại cơ hội cho lãnh đạo miền Bắc kết án là Mỹ xâm lược, là Miền Nam Việt Nam làm lính đánh thuê cho Mỹ; và Miền Nam cần được “giải phóng” khỏi ách nô lệ của người Mỹ. Đồng thời Miền Bắc có lý do để yêu cầu sự hỗ trợ của các nước cộng sản anh em, Nga và Tàu. Nhưng trên quan điểm của người Mỹ thì dĩ nhiên chủ quyền quốc gia của một nước nhỏ, chậm tiến như Việt Nam không thể cân bằng hay nặng ký hơn quyền lợi của nước Mỹ. Chính nghĩa quốc gia thì đã có “bảo hiểm” bằng sức mạnh của Hoa Kỳ rồi!
Không chinh phục được ông Diệm, tình báo Mỹ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tướng lãnh Việt Nam lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm bằng cách khai thác yếu tố dân chủ và đào sâu sự hiềm khích tiềm ẩn giữa Công giáo và Phật giáo mà trong đó một thành phần lớn có ảnh hưởng đã bị cộng sản thẩm nhập. Vụ đảo chánh đã kết thúc bằng cái chết tàn bạo, dã man của hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.
Tháng 3 năm 1965, quân đội Mỹ tiến vào Đà Nẵng mà không cần hỏi ý kiến của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Đến năm 1967, có trên 500,000 quân nhân Hoà Kỳ và một số ít quân đội Phi Luật Tân, Nam Hàn, và Thái Lan, v.v… trên đất nước Việt Nam. Trên thực tế, thực sự không ai biết rõ lý do tại sao quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam. Trên mặt chính thức thì quân đội Mỹ được công bố là được dùng để chặn làn sóng cộng sản quốc tế toả rộng xuống toàn cõi Đông Nam Á và như một hệ luận, để bảo vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam. Nhưng cũng có người nghĩ rằng đó chỉ là một chiêu bài của nhóm tư bản tài phiệt thông đồng với giới kỹ nghệ để tiêu dụng các vũ khí của Đại chiến II còn sót lại và đồng thời dùng Việt Nam để thử nghiệm những khí giới mới được chế tạo. Quân đội VNCH vẫn sử dụng súng M1-Garand – thứ súng mà quân đội Mỹ dùng trong Đại chiến II – trong những năm 1967-1968. Đến khi Việt cộng sử dụng AK-47 (kalashnikov) thì quân đội VNCH mới được nhận M-16.
Cuộc chiến kéo dài gần như bất phân thắng bại mãi cho đến khi tổn thất kinh phí cũng như tổn thất nhân mạng lên quá cao đối với sức chịu đựng của nhân dân Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến bầu cử tổng thống thì lãnh đạo Hoa Kỳ phải cố tìm lối thoát: Hiệp Định Paris 1973. Theo Hiệp định này thì Miền Bắc không được dùng võ lực để xâm chiếm Miền Nam. Nếu Miền Bắc vi phạm điều này thì Hoa Kỳ sẽ trả đũa thích đáng bằng võ lực. Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Tổng thống Thiệu khẳng định điều này. Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự. Về quân sự nếu VNCH hư hao, phế thải một quân cụ hay khí tài nào thì sẽ được thay thế ngay.
Như chúng ta đã thấy, Miền Bắc đã xâm chiếm Miền Nam bằng võ lực. Hoa Kỳ không những không phản ứng mà còn ngưng viện trợ kinh tế cho Miền Nam. Võ khí, đạn dược hoàn toàn không được thay thế, chiến xa và máy bay tác chiến không có xăng nhớt để hoạt động. Trong lúc đó, Miền Bắc được tiếp viện 300,000 quân lính Trung cộng để giữ hậu cần; súng ống, đạn dược, xăng nhớt được Nga và Tàu cung cấp đầy đủ. Dĩ nhiên là người Việt quốc gia mất Miền Nam không phải là vì hèn yếu, vì thiếu khả năng giữ nước, mà vì người bạn đồng minh đã phản bội. Họ đến không cần hỏi ý kiến và khi quyền lợi của họ đã được đáp ứng bằng cách kết cấu với Tàu cộng thì họ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam.
Ngoài việc mất Miền Nam một cách tức tưởi, còn hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân, cảnh sát bị đày ải bao nhiêu năm trời ở nơi thâm sơn cùng cốc, phải lao động cật lực, bệnh hoạn liên miên, bị hành hạ thân xác, bị bỏ đói quanh năm, chết dần, chết mòn; còn năm, bảy trăm ngàn người bị chết trên biển cả vì thời tiết, vì ghe nhỏ không chịu nổi chuyến vượt biển, vì cướp biển giết, vì cướp biển hãm hiếp, vì Khmer Đỏ giết hay bị mìn nổ trong rừng núi Cao Miên. Tất cả những tang thương này đã xảy ra chỉ vì dân quân Miền Nam bị người Mỹ, người bạn đồng minh của mình “đem con bỏ chợ.” Làm sao không oán trách!
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, là ngày người Việt quốc gia phải căm giận về cái thua phi lý của VNCH cũng như về sự tàn ác tột cùng của đảng CSVN và oán trách người bạn phản bội. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể căm thù mãi mãi người bạn này được vì dù sao trên 3 triệu người Việt đã thoát được gông cùm cộng sản và được tiếp đón nồng hậu bởi Hoa Kỳ cũng như bởi những quốc gia tự do khác. Và con cái chúng ta có cơ hội giáo dục tốt, phát triển đời sống chuyên môn và cá nhân của chúng trong một bầu không khí tự do cởi mở. Khi chuyến máy bay đầu tiên chở các trẻ em mồ côi từ Việt Nam sang Hoa Kỳ, chính Tổng thống Ford đã ra tận sân bay đón tiếp. Tổng Thống Carter đã cho phép hàng trăm ngàn người Việt nhập cư. Hơn nữa chúng ta cần phải phân biệt lãnh đạo Mỹ và nhân dân Mỹ. Đa số người dân Mỹ rất tốt, đầy lòng nhân ái. Lãnh đạo Mỹ thì cũng có người tốt đối với người Việt Nam như Tổng thống Ford, Tổng thống Carter. Nhưng chính quyền Mỹ nói chung, cũng như lãnh đạo của bất cứ quốc gia nào khác, chỉ hành động vì quyền lợi quốc gia của họ mà thôi, và quyền lợi này biến đổi theo từng giai đoạn thời gian. Như cựu Thủ Tướng nước Anh Henri John Temple, 3rd Viscount Palmerston đã từng tuyên bố trước quốc hội Anh ngày 1 tháng 3 năm 1948 là: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, và chúng ta cũng không có kẻ thù trường cửu. Chỉ có quyền lợi của chúng ta mới là vĩnh cửu và liên tục, và chúng ta có bổn phận phải đeo đuổi những quyền lợi này” (“We have no eternal allies, and we have not perpetual enemies. Our interests are eternal and perpetual, and those interests it is our duty to follow.”). Lỗi là lỗi lãnh đạo VNCH không hiểu rõ điều này để tiên liệu cho quyền lợi của đất nước mình.
Vietnam War Important Dates Timeline | Timetoast timelines
Ý thức được điểm quan trọng này, một quốc gia nhỏ bé không thể tin tưởng vào lòng tốt, vào sự hứa hẹn hay vào một phạm trù luân lý hay một lý thuyết chính trị để phán đoán lập trường của một quốc gia khác hùng mạnh hơn, cũng như không thể tin tưởng như thế để hành động đưa đến những quyết định liên hệ tới sự sống còn của đất nước mình. Một quốc gia nhỏ bé đang trên đà phát triển luôn luôn cần đến sự hỗ trợ của các quốc gia giàu mạnh hơn. Nhưng trước tiên, quốc gia nhỏ bé này phải có khả năng tự lực cánh sinh qua sự hỗ trợ của đại đa số quần chúng nhân dân để thiết lập một thể chế chính trị vững chắc. Sau đó mới có thể gầy dựng thế liên lập thế giới trên căn bản trao đổi bình đẳng.
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, ngày nhắc nhở một kinh nghiệm thương đau và xót xa cho toàn thể những người Việt quốc gia, nhưng đồng thời cũng là một bài học quý giá cho chúng ta trên con đường cứu nước và dựng nước.
Tiểu Thạch
Pennsylvania 30/4/2019

Thành quả sau 30-4: Tà Án Cộng Sản, Ăn tiền người chết COVID, Ăn rác, Ăn thuốc, Ăn giấy, Ăn phân, Ăn đủ thứ

Sau 30-4 quốc nạn, bất công tràn lan trong hệ thống tòa án, tòa phán quyết theo đảng ủy chỉ đạo chứ không theo luật pháp và công lý.

Trương Quốc Huy chỉ ra các điển hình tai tiếng và kỳ quặc của chế độ “tà án” Cộng Sản.

Tình trạng ăn đủ thứ ở Việt Nam kể cả ăn của người chết vì COVID

Chiếm miền Nam, cướp cả tên trường!(RFA)

Báo Tiếng Dân

Blog RFA

Gió Bấc

Sau tháng Tư đen, không chỉ Sài Gòn mà hầu hết những ngôi trường học tiếng tăm, có truyền thống lịch sử lâu đời đều bị cướp tên.

Đường lối “hòa hợp hòa giải dân tộc” được thực thi nghiệt ngã đến độ hàng trăm trường phổ thông tư thục Bồ Đề, Thánh Mẫu của các Phật giáo, Thiên Chúa giáo khắp các tỉnh thành miền Nam đều “tự nguyện” giải thể, hiến tặng hoặc cho nhà nước mượn không có ngày hoàn trả. Các Viện đại học tư như Vạn Hạnh, Minh Đức, Hòa Hảo…. cũng cùng chung số phận.

Rộng lớn nhất là các trường trung tiểu học công lập đươc xem là loại chiến lợi phẩm và chính quyền quân quản, tùy tiện thay tên đổi họ theo ý thích, theo quan điểm chính trị mà không hề xem xét các yếu tố giáo dục, tâm lý xã hội, giá trị nhân văn.

Việc đặt tên trường ở thời VNCH hướng đến giá trị giáo dục, cho các học sinh noi gương tiền nhân trong học tập, tạo ra bản sắc của hiệu đoàn. Tên trường không chỉ danh xưng mà bao hàm những giá trị hiệu đoàn tiếp nối nhau qua nhiều năm tháng. Tên trường là niềm tự hào, yêu thương của mỗi thành viên, là hoài niệm hồi ức khi đã xa trường.

Các tên trường thường là những danh nhân lịch sử gắn với giá trị văn hóa và hoàn toàn phi chính trị. Không có quan chức, tướng lãnh nào dù là tử trận hay đương chức được đặt tên trường học. Không có trường Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay Đỗ Cao Trí, Nguyễn Viết Thanh…. Chỉ có Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…

Ấy mà sau tháng Tư đen những cái tên trường đã bị nhuộm đỏ.

Thử điểm qua một số ngôi trường lớn của Sài Gòn. Trường trung học đầu tiên của cả miền Nam từ thời Pháp thuộc đã được Việt hóa với tên Petrus Ký, nhà bác học, người chuẩn hóa và phổ cập chữ Quốc Ngữ, bị thay bằng Lê Hồng Phong, một lãnh tụ cộng sản học hành lèm bèm chủ nghĩa Mác Lê, không có chút đóng góp nào cho giáo dục.

Tương tự, trường nữ trung học đầu tiên mang tên Gia Long, vị vua thống nhất đất nước, khai hóa học thuật cho Nam Kỳ, bị gán vào tên Nguyễn Thị Minh Khai, công lao lớn nhất là phát động cuộc khởi nghĩa đẫm máu ở Nam Kỳ.

Nữ sinh trường Gia Long. Nguồn: gialong.org

Trường trung học đầu tiên của Lục tỉnh là Phan Thanh Giản Cần Thơ, vị Tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ, chủ biên nhiều bộ sử, địa chí trong triều Nguyễn, bị thay bằng Châu Văn Liêm, cũng một cán bộ cộng sản chuyên kích động nổi loạn.

Trường Tống Phước Hiệp mang tên vị quan Trấn Thủ Vĩnh Long thời mở cõi bị thay bằng tên Lưu Văn Liệt, một học sinh lớp 10 bị tuyên truyền sách động, mang lựu đạn vào quán bar gây án vào lúc đông người.

Những cái tên được nhà cầm quyền sính sử dụng để đặt cho trường học thường là hình tượng những tên khủng bố có thật hoặc do tưởng tượng như Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Mai Thi Non….

Theo nhà thơ Nguyễn Duy, Võ Thị Sáu là cô bé thất học, tâm thần bị kích động, đi ném lựu đạn giết một quan chức hành chính địa phương. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Lê Văn Tám thiếu nhi lấy thân làm đuốc sống đốt kho xăng Nhà Bè là sản phẩm tưởng tượng của sử gia cộng sản Trần Huy Liệu. Mai Thị Non cũng là một nữ sinh bị lừa mang mìn hẹn giờ trong cặp sách vào đồn lính, mìn nổ sớm trước giờ, Non chết mà không giết được ai.

Những hình tượng mà chính quyền cộng sản áp đặt vào đầu óc non nớt của học trò không khác chi hành vi của những kẻ khủng bố đánh bom liều chết, bị cả thế giới loài người lên án. Chỉ khác chăng là bọn đánh bom liều chết hướng đến dân tộc khác, quân đội nước ngoài, còn các chiến sĩ cộng sản anh hùng nhà ta liều chết với những người Việt, ngay trên miền Nam ruột thịt của mình.

Không thể thống kê hết tên trường ở các địa phương Miền Nam được dán nhãn bằng tên gọi là anh hùng nhưng thực tế là những tấm gương khủng bố: Hồ Thị Kỷ, Phan Ngọc Hiển…

Thử hỏi tại sao suốt chiều dài lịch sử của Miền Nam ngay từ thời Pháp thuộc đến hai nền cộng hòa, học sinh có bãi khóa, có biểu tình nhưng không có khái niệm “bạo lực học đường” diễn ra hàng ngày như trong thời đại Hồ Chí Minh ‘rực rỡ tên vàng’ hiện nay? Ấn tượng từ tấm gương Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám … những bài học về chủ nghĩa anh hùng cách mạng tất yếu sinh ra bạo lực học đường, bạo lực xã hội và cả gia đình. Đưa tấm gương khủng bố lên tên trường học, dạy trẻ con bắn giết mà không tạo ra những băng đảng khủng bố mới là chuyện lạ.

Một sự thay đổi tên trường hết sức tùy tiện khác là đổi theo sự thay đổi đia danh hành chính. Tỉnh Kiến Tường trước 1975 có trung học Kiến Tường, sau 1975, tỉnh Kiến Tường trở thành Huyện Mộc Hóa và Trung Học Kiến Tường cũng bị đổi tên theo. Ở Gò Công trước 75 có trường trung học Hòa Tân, sau 1975 Gò Công bị hạ xuống thành huyện và trường Hòa Tân bị đổi tên thành Tân Tây. Cứ như vậy có nhiều ngôi trường bị đổi đi đổi lại nhiều lần.

Với miền Nam, ngôi trường không chỉ thể chỉ xem xét cơ học là cái nhà để cho người ta ngồi học nhồi nhét kiến thức, tranh giành mảnh bằng. Trường học là không gian sống học tập, yêu thương, sáng tạo của tuổi hoa niên đẹp đẻ nhất đời người. Đó là tình cảm bạn bè, thầy trò sáng trong vun đắp từ từng giờ chơi, tiết học, kết nối các thành viên thành khối hiệu đoàn.

Tùy theo từng trường họ có thể tạo ra bản sắc văn hóa riêng, một truyền thống riêng. Trường nữ trung học Trưng Vương Sài Gòn được giao nhiệm vụ dẫn đầu đoàn diễu hành trong lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng hàng năm, đã sáng tạo ra những nhạc cảnh Đêm Mê Linh, Đêm Lam Sơn hoành tráng. Những nữ sinh Trưng Vương trưởng thành theo nghề sư phạm, đã gieo mầm các nhạc cảnh này cho khắp miền Nam. Trường Võ Trường Toản nổi tiếng tổ chức ấn hành nội san học đường khơi dậy phong trào sáng tác học sinh. Trường khác có thế mạnh thể thao, võ thuật.

Ngôi trường, mùa hè, mùa thi đã trở thành đề tài của biết bao tác phẩm thi ca, văn học làm nao lòng người và vẫn còn sức sống sau hơn 60 -70 năm tuổi. Đó là: “Ngựa chứng trong sân trường”, “Vòng tay học trò”, “Trường cũ tình xưa”, “Nỗi buồn hoa phượng”, “Ngày xưa Hoàng Thị”….

Trong điều kiện ấy, tên trường không chỉ là tên gọi hành chính mà hàm chứa kỷ niệm, tình cảm gắn bó suốt cả đời người. Trong hồi ký chiến tranh Về Kontum, trung tá Pháo binh Nhảy Dù kể lại câu chuyện khó khăn tưởng chừng bất khả thi khi phối hợp với Không quân bốc cánh quân Bravo của tiểu đoàn 9 Dù trong rừng gần căn cứ Võ Định về Kontum. Đơn vị này đang bị một đại đơn vị quân Bắc Việt bám sát, lưới lửa phòng không dày đặc, hợp đoàn trực thăng nhiều lần tiếp cận nhưng không thể đáp được. Biết tính khí của sĩ quan chỉ huy hợp đoàn trực thăng quý trọng tình nghĩa với trường cũ Chu Văn An, ông Lạc phải nói dối là “Đường – Đại úy Dù chỉ huy cảnh quân Bravo – cũng học Chu Văn An sau mình hai khóa! Rán cứu nó!” Nghe đến thằng em Chu Văn An, viên sĩ quan không quân đã liều chết đưa hợp đoàn trực thăng bốc toàn bộ cánh Bravo hơn 200 quân của Tiểu Đoàn 9 về Kontum không sót một người. (1)

Không chỉ tình cảm bạn bè cùng trường, tình thầy trò, và đồng nghiệp cùng trường cũng rất sâu dày. Báo chí Việt Nam còn đăng câu chuyện thầy Nguyễn Hữu Hệ từng dạy ở ba trường Trung học Kiến Tường, Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức và Marie Curie, lớn tuổi vẫn sống độc thân, được các cựu học sinh cả ba trường thường xuyên thăm viếng. Được tin thầy bệnh tâm thầ,n cả ba nhóm đến thăm, nuôi bệnh, thì phát hiện ra cô osin đã lừa thầy sang tên ngôi nhà cho cô ấy cùng với toàn bộ số tiền vài trăm triệu mà họ đã quyên góp hỗ trợ thầy. Ba nhóm cựu học sinh phải cử người rước thầy về nhà riêng nuôi dưỡng, tìm kiếm người thân con cháu của thầy và kiện cáo đòi lại căn nhà. Họ tự điều tra, có đầy đủ bằng chứng vụ lừa đảo nhưng công an, tòa án cứ làm lơ. (2)

Đó không phải là câu chuyện cá biệt về tình cũ trường xưa mà trong bối cảnh đau thương của miền Nam bị giải phóng, đất nước bị thống nhất vào tay bên thắng cuộc, trường cũ bị xóa tên, người miền Nam bị ly tán tha hương khắp nơi trên thế giới họ vẫn kết nối nhau trong những hội đoàn cựu học sinh và đều có website riêng. Một số trường có bề dày truyền thống như Trung học Chu Văn An, Võ Trường Toản, lại có nhiều hội đoàn ở nhiều quốc gia, châu lục khác nhau. Cá biệt trường Petrus Ký có đến 10 hội đoàn Ái hữu Petrus Trương Vĩnh Ký ở bắc Mỹ, nam Mỹ, Canada, Âu, Úc, Việt Nam (3)

Ở tỉnh đồng bằng, Trường Tống Phước Hiệp có hội Ái hữu Cựu học sinh Tống Phước Hiệp (4).

Kiến Tường là tỉnh mới lập trong vùng Đồng Tháp Mười heo hút, chỉ hơn 10 năm đã bị xoá tên nhưng các cựu học sinh Kiến Tường vẫn lập hội nối hai đầu cầu Việt – Mỹ và sinh hoạt rất mạnh mẽ (5).

Hầu hết các hội đoàn này đều hoạt động sôi nổi, quan hệ gặp gỡ, tương thân tương ái, chia sẻ kiến thức, sáng tác, hồi ức kỷ niệm ….

Nhiều thành viên của các hội đoàn là những người thành đạt, có kiến thức, có vai trò nhất định trong xã hội, là những nguồn lực khả dĩ có thể hỗ trợ các thế hệ nối tiếp ở ngôi trường cũ, tình cảm nhiệt huyết của họ cũng không thiếu. Nhưng rất tiếc, trường cũ bị xóa tên, đổi tên, ngôi trường bây giờ không còn là trường của họ. Mối liên hệ thương yêu đã bị cắt đứt thành nỗi đau từ năm 1975 nên họ khó có lý do, động lực để quay lại ngôi trường. Họ thừa nhiệt tình để tìm kiếm, thăm hỏi hỗ trợ nhau dù khoảng cách địa lý rất xa đến nửa vòng trái đất, nhưng hầu hết đều đóng khung sự chia sẻ, tương thân trong các thành viên trước 1975.

Việc xóa tên, đổi tên trường của chính quyền cộng sản không chỉ phá hủy không gian văn hóa đẹp của nền giáo dục miền Nam, cướp đi ký ức đẹp của các cựu học sinh miền Nam mà còn phá hủy mối dây liên hệ, tước đi cơ hội tiếp nhận sự hỗ trợ từ thế hệ học sinh trước đây với thế hệ ngày nay.

_______

Chú thích:

1- https://danviet.vn/bi-an-lao-vo-su-ban-nha-6-ty-gia-700-trieuky-2-chau-gai-la-ai-7777712475.htm

2- https://www.youtube.com/watch?v=ygp5XR97O_M&t=366s

3- http://www.petrusky.de/index.php/lienkethoidoan

4- https://tongphuochiep-vinhlong.com/2017/07/hoat-dong-cua-ho%CC%A3i-ai-hu%CC%83u-chs-tong-phuoc-hie%CC%A3p/

5- https://trunghockientuong.com/

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tuẫn tiết

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

28/04/2023

Bên Thắng Cuộc phát hành cuối năm 2012, và được bỉnh bút Nguyễn Hùng (BBC) liệt kê là một trong “mười chuyện nổi bật” nhất trong năm. Cùng lúc, biên tập viên Mặc Lâm (RFA) cũng nhận xét rằng “cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nước” và đã khiến cho “người đọc ngỡ ngàng” vì “cái nhìn” của tác giả – một người sinh trưởng “từ bên kia” chiến tuyến:

“Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết…

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: ‘Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó.”

Mãi đến bốn mươi sáu năm sau, độc giả của nhật báo Người Việt – số phát hành vào hôm 6/12/2021 – mới có dịp biết đến tên tuổi của một số “quân nhân vô danh” này qua bài viết (“Những Anh Hùng Tuẫn Tiết Trong Ngày Tàn Cuộc Chiến Tại Việt Nam”) của ký giả Vann Phan :

“Ngoài ‘Ngũ Hổ Tướng’ ra, còn có các sĩ quan khác cùng các hạ sĩ quan trong Quân Lực VNCH và Cảnh Sát Quốc Gia đã chọn cái chết để đền nợ nước trước, trong và sau ngày 30 Tháng Tư, thay vì đầu hàng quân Cộng Sản…

Còn một số quân nhân thuộc nhiều binh chủng khác nhau trong Quân Lực VNCH thì đã tự sát tập thể để khỏi rơi vào tay quân địch, bằng cách cùng nhau mở lựu đạn hoặc đồng loạt nổ súng vào đầu nhau trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975, thật vô cùng bi tráng.”

Nỗi “bi tráng vô cùng” này đã được nhà văn Cao Xuân Huy ghi nhận bằng đôi mắt ráo hoảnh, cùng những câu chữ trần trụi và khô khốc:

“Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.”

Cựu quân nhân Nguyễn Hữu Luyện bình luận: “Khi một binh nhì kê súng vào đầu mình để bóp cò, người ấy chỉ có một nguyên nhân uất hận được bộc lộ qua khí phách của quân nhân QLVNCH. Do đó, hành động tự sát của anh binh nhì nói lên cái khí phách tột đỉnh và tấm lòng son sắt vô song …”

Khí phách cùng tấm lòng sắt son của những người lính trận – buồn thay – vẫn thường bị lãng quên, nhất là khi họ thuộc bên thua cuộc:

“… những người lính chết trận và mất tích ở phía VNCH, chính thể đã sụp đổ vào tháng 4/1975, ít được biết tới và nhiều lúc đã trở thành đề tài cấm kỵ tại Việt Nam thời hậu chiến. Bị chính quyền mới ghẻ lạnh, đồng minh Mỹ lãng quên, các quân nhân VNCH tử trận chỉ được người thân, đồng đội cũ tưởng nhớ và kiếm tìm.” (Bùi Thư. “Hành Trình Tìm Hài Cốt Lính VNCH: 39 Năm, Anh Em Nằm Dưới Nền Đất Lạnh.” BBC – 28.04.2020)

Ở vào hoàn cảnh của những kẻ thuộc phe bại trận thì việc thu nhặt hài cốt hay tìm kiếm những nấm mồ vô thừa nhận của bạn đồng đội – tất nhiên – chả dễ dàng chi, và cũng không mấy khi có được kết quả như mong đợi. Tuy thế, thỉnh thoảng, vẫn có những sự kiện ấm lòng :

  • Ngày 19 tháng 4 năm 2022, FB Dominic Pham cho biết thêm một tin vui: “Người dân Vũng Liêm, Tam Bình, Vĩnh Long đã đào được hài cốt người lính VNCH, với tấm thẻ bài: Nguyễn Văn Hài SQ 50/680.585LM A RH+. Hài cốt của anh đã được đưa vào Chùa. Xin vui lòng gọi 038 663 3049, 093 284 8449 để biết thêm chi tiết.”
  • Hôm 15 tháng 03 năm 2022 , trên trang FB Tìm Hài Cốt Chiến Sĩ VNCHcũng cho biết một tin mừng khác, đã được thực hiện từ 10 năm trước. Xin lược thuật :

Ngày 19-08-2011, ba cựu quân nhân VNCH đã đến Thị Xã Bà Rịa-Vũng Tàu vì nghe nơi đây có bốn ngôi mộ không bia của đồng đội, nằm trong vườn nhà ông Hai Lì – một cán bộ địa phương… Ông Hai Lì kể:

 “Tôi là dân Gia Đình Cách Mạng, mấy Ông Rằn Ri này gan lì lắm, mấy Ổng chống đến cùng dù có lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh 30-04-1975, mấy Ổng chiến đấu cho đến trưa 01-05-1975 rồi cùng nhau tự sát và chính tôi là người chôn cất mấy Ổng, giấy tờ từng Ông tôi bỏ vào một cái hộp chôn theo các Ông.”

 Công việc bốc mộ được tiến hành, tất cả mọi người cùng hồi hộp chờ đợi từ nhát cuốc đầu tiên chạm vào ngôi mộ, sau đó hé lộ dần những hình hài của Các Anh đã chôn vùi nơi đây hơn 36 năm dài đằng đẵng…không Quan Tài, mà cũng chẳng có PONCHO bọc xác, chẳng còn gì với cát bụi thời gian, ngoài những mảnh xương tàn, quần áo đã mục nát …

 Chúng tôi cố tìm những mảnh giấy tờ đã được chôn theo Các Anh sau khi đã lượm lặt từng khúc xương còn sót lại, rồi cho vào từng hũ sành, ghi tên Các Anh, gởi vào Chùa và cầu xin cho Các Anh được siêu thoát khỏi chốn dương trần đầy khổ đau, tủi nhục này và điều mong muốn mãnh liệt nhất là thân nhân Các Anh sớm tìm gặp lại Các Anh sau bao năm dài vắng bặt tin tức…

Tất cả mọi người cùng ứa lệ mừng vui khi tìm được những tấm thẻ bài, giấy tờ, tên tuổi Các Anh …và đây là những vị Anh Hùng của chúng ta:

  • Ngôi mộ thứ nhất: Có Thẻ Bài tên TRƯƠNG VI CỬ SQ: 75/115.815.
  • Ngôi Mộ thứ hai: có Thẻ Bài tên VÕ QUANG HẰNG SQ: 68/123.320.
  • Ngôi Mộ thứ ba: (gồm có 02 người) trong đó Một Vô Danh không Thẻ Bài. Người có Thẻ Bài tên: TRẦN VĂN HÀ SQ: 67/824.827.

Sau khi Bốc mộ xong, chúng tôi đã đem 04 hũ cốt gởi Chùa Báo Ân. Địa chỉ: Khu Công Nhân, Thị Trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu. Còn các Di Vật và giấy tờ liên quan kể trên, chúng tôi nhờ MĐ Đẹp giữ. Nếu tình cờ Quý Vị nào hoặc ai đọc được tin tức này hoặc cần biết thêm chi tiết cụ thể, xin vui lòng liên lạc theo số Phone, dưới đây: Nguyễn Văn Thành ĐT: 01645462458 hay

Lê Văn Đẹp ĐT: 01684118839.

Dù không phải là kẻ vô thần, tôi là một người vô đạo (hay khô đạo) bất kể đạo gì! Tuy thế, những dòng thông tin muộn màng (ghi trên) về bạn đồng đội vẫn khiến cho tôi cảm thấy có đôi chút an tâm và vô cùng an ủi.

Xin cảm ơn Trời, Đất, Chúa, Phật, Thánh Thần… Xin cảm ơn tất cả mọi người đã không ngại công khó, đã lập đài tưởng niệm, đã cải táng, đã lập mộ (cùng khói nhang ấm áp) cho những kẻ thuộc bên thất trận – dù chúng tôi đã không chu toàn được trách nhiệm bảo quốc an dân.

Tưởng Năng Tiến

Hưng Nguyên và Nghệ An

Báo Tiếng Dân

Thái Hạo

Trong vụ án cô giáo Lê Thị Dung đang làm rúng động dư luận cả nước, có những tình tiết đặc biệt quan trọng liên quan trực tiếp đến việc bắt giữ và kết tội bà. Đó là lá đơn tố cáo của bà trước khi bị bắt, chứ không phải chỉ là những khiếu nại đối với án kỷ luật bà như báo chí đã đưa tin.

Xin nhắc lại một chút về những việc xung quanh án kỷ luật này. Ban đầu là Sở GD Nghệ An “tuyển dụng chui” rồi đẩy người về cho Trung tâm, trong khi nơi này đã đủ giáo viên, và ép giám đốc (cô Dung) phải nhận người. Cô không ký hợp đồng không thời hạn, và rồi sau đó bị kỷ luật. Án kỷ luật ấy không có cơ sở, cô Dung khiếu nại, UBND tỉnh Nghê An thừa nhận cô Dung đúng, nhưng lạ thay, án kỷ luật vẫn không bị thu hồi. Cô Dung tiếp tục khiếu nại.

Đến ngày 16 tháng 9 năm 2021, thì cô giáo Lê Thị Dung đã làm đơn tố cáo Ban thường trực huyện ủy Hưng Nguyên nhiệm kỳ 2015-2020 về nhiều nội dung, gửi lên Bí thư tỉnh ủy Nghệ An.

Phải chăng đây chính là lý do trực tiếp và quan trọng nhất dẫn đến việc bà bị bắt và kết án 5 năm tù giam, chứ không phải là vấn đề của số tiền gần 45 triệu đồng “thất thoát” trong 6 năm kia?

Tại sao nói như thế? Căn cứ vào lời tự bào chữa tại tòa của cô Lê Thị Dung sau khi cả 2 luật sư của cô đều đã bị đuổi ra khỏi phòng xét xử, dư luận khó mà nghĩ khác được. Cụ thể, cô Dung nói: “Có người nói tôi rút đơn đi [chính là lá đơn tố cáo nói trên], không có là lệnh bắt này! Như vậy, ngay từ đầu đã có sự xây dựng để kết tội. Trước xét xử cũng tiếp tục hỏi và định mức án cho tôi là 5 năm. Đã xét xử đâu, đã biết đúng sai đâu nhưng vẫn mức án bỏ túi 5 năm! Căn cứ buộc tội thì không đúng pháp luật, trình tự tố tụng sai phạm từ đầu đến cuối, nhưng vẫn bất chấp luật, vẫn kết tội… Khủng khiếp quá” (Trích lời tự bào chữa của bị cáo Lê Thị Dung tại tòa án Hưng Nguyên – Nghệ An).

Chính vì nhiều lý do của cuộc sống cá nhân và những áp lực này (không phải chỉ từ cấp huyện), cô Dung đã rút đơn tố cáo. Nhưng, chỉ khoảng 1 tuần sau khi rút đơn thì cô Dung bị bắt và bị giam hơn 1 năm trời cho đến cuối tháng Tư này thì bị đưa ra xét xử và bị kết án 5 năm tù bằng một phiên tòa có nhiều tình tiết làm dậy sóng như đã thấy.

Phải chăng, từ những gì đã thấy, việc kêu oan cho cô Dung khó mà có kết quả nếu chỉ khu biệt lại và luẩn quẩn trong phạm vi các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An?

Lời bàn: Mọi người Việt Nam đều là tù nhân dự khuyết ngay cả đang là đảng viên.!

VĂN HÓA XHCN HAY TÔI KHÔNG TIN ĐƯỢC!

– Tôi tin được không khi cán bộ đội  chống ma tuý  là trùm  buôn bán  ma tuý?

– Tôi tin được không  khi sĩ quan cao cấp công an  chống cờ bạc  lại là  trùm cờ bạc ?

– Tôi tin được không  khi một  thượng toạ chức sắc của  Phật giáo  lại không hiểu gì  đạo Phật?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng Giáo dục  lại là  kẻ đạo văn và xài bằng giả ?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng y tế  lại là  chỗ dựa lưng  cho bọn buôn thuốc dỏm giá cao?

– Tôi tin được không  khi một  tổng biên tập tờ báo  lớn miệng luôn mồm yêu nước, thương dân, sống chết với đồng bào, gắn bó với đảng, ray rứt với hiện tình đất nước, sau khi  thu vén được món tiền to  liền đem hết vợ con, cháu chắt chuồn qua Mỹ, mua nhà, sắm xe, mở công ty?

– Tôi tin được không  những cán  bộ lương chẳng bao nhiêu  mà xây nhà hàng trăm tỷ,  con học  nước ngoài, vợ toàn xài hàng hiệu,  rượu uống  một chai hàng chục triệu?

– Tôi tin được không  khi những  quan chức ngành giáo dục  khắp nơi trên đất nước  bán chỗ dạy  học cho các giáo viên với giá hàng trăm triệu?

– Tôi tin được không  những  cán bộ, nhân viên  có nhiệm vụ giữ rừng  lại là những tên lâm tặc  phá rừng?

– Tôi tin được không những cán bộ giữ cánh cửa biên giới  lại  là những kẻ buôn lậu hoặc tiếp tay  cho buôn lậu mang những chất độc giết người vào cho nhân dân tiêu thụ đầu độc người dùng?

– Tôi tin được không những  cán bộ thanh tra, lực lượng chống tham nhũng  lại là  những kẻ tham nhũng  kinh khiếp nhất?

– Tôi tin được không những  tổng biên tập báo , những  nhà báo chống tiêu cực  lại là  thành viên thân cận với những quan chức tham ô, hối lộ, những doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng, những đám xã hội đen, những tập đoàn mafia.

– Tôi tin được không khi những  cảnh sát giao thông  không làm đúng chức trách của mình là giữ gìn và điều tiết giao thông  mà chỉ  đi thu tiền mãi lộ?

– Tôi tin được không  khi  những lãnh đạo hôm qua còn hò hét quốc kế dân sinh  hô hào  phong trào yêu nước, chống tội phạm…  hôm nay đã là kẻ phạm tội  đứng trước vành móng ngựa?

– Tôi tin được không  khi  lãnh đạo giáo dục  bắt các cô giáo phải đi  hầu rượu  quan chức như gái bia ôm?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân vào cấp cứu  với bệnh trạng thập tử nhất sinh, muốn được thăm khám  phải đóng đủ tiền  thì các cán bộ y tế mới cho phép tiến hành cứu người?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân  phải nằm bốn người trên một giường và  bộ trưởng y tế  khi đến thăm lại  lấy làm ngạc nhiên  với tình trạng quá tải ấy?

– Tôi tin được không  khi hàng ngàn Tiến sĩ không rành về lãnh vực mình được cấp bằng, cũng chẳng biết một ngoại ngữ nào và gần 60% là quan chức hoặc công chức. Người ta  còn có dự án  tiêu chuẩn hoá Tiến sĩ  xuống tận cấp phường.  Muốn có bằng, họ phải tốn tiền hàng trăm triệu cho đến tiền tỷ?

– Tôi tin được không  khi biết rằng  đa số thực phẩm  đều có chứa chất độc nhưng  rồi cũng phải tiêu thụ nó  để tiếp tục sống dù biết đó là con đường ngắn nhất đi đến nghĩa trang ?

– Tôi tin được không  khi  những người viết sử  có thể lãng quên những anh hùng liệt sĩ của cuộc chiến tranh chống xâm lược phương Bắc,  bóp méo lịch sử  vì sợ mất lòng kẻ thù ?

– Tôi tin được không  khi  người lãnh đạo cao cấp nhất của quân đội  lại ra lệnh cho chiến sĩ của mình  không được nổ súng  khi kẻ thù chiếm đảo để biến họ thành những tấm bia cho quân xâm lược tập bắn ?

– Tôi tin được không  trong thời đại này  người ta có thể đưa hết  con cháu, bà con xa gần, sui gia, dâu rể  ra làm quan, nắm hết chức vụ quan trọng  trong địa phương mình phụ trách ?

– Tôi tin được không  khi  người ta có thể đăng tin cung cấp luận án tốt nghiệp, bán bằng giả  trên mạng xã hội với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Và đa số cán bộ đều sử dụng loại bằng này. Trong lúc  hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp chính quy  phải thất nghiệp, lái xe ôm ?

– Tôi tin được không  khi có thứ  chính quyền đi cướp đất của dân, mua đất của dân  giá rẻ mạt, không mua được thì cưỡng chế, sau đó  bán lại  cho doanh nghiệp với giá gấp trăm lần để bỏ túi ?

– Tôi tin được không  khi người ta  bị bắt  vào đồn công an  sau đó  bị chết vì lý do tự tử bằng sợi dây thun ?

– Tôi tin được không  khi có  những người đảng viên , đang làm quan chức lại  đã, đang và sẽ  có trong mình cái thẻ xanh sẵn sàng định cư ở ngoại quốc ?

– Tôi tin được không  những  người cộng sản  lại giàu có và ăn chơi, tiêu xài gấp trăm lần những tài phiệt tư bản. Họ  vung tiền  khiến cho những đại gia tư bản phải xanh mặt. Ca sĩ, diễn viên nổi tiếng thế giới phải cúi đầu?

– Tôi tin được không  khi có  những vùng  mưa chưa tới, bão chưa qua mà lãnh đạo địa phương  đã ngồi lại làm báo cáo thiệt hại ?…

***

Trong xã hội Việt Nam ngày nay,  còn vô số điều tương tự, không thể tin được  mà “vưỡn” phải tin đấy Em à!

From: TRUONG LE

MỞ RA MỘT TẦM NHÌN MỚI

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống muôn đời!”.

Alvin Jennings nói, “Nhiều Kitô hữu ngày nay sống một cuộc sống như trong ‘sương mù’. Họ để cho vô số rắc rối che khuất tầm nhìn và làm suy yếu tinh thần. Nhưng “Thiên Chúa chẳng ban cho chúng ta một thần khí gây nhát đảm, mà là một Thần Khí khiến chúng ta mạnh mẽ”. Đừng để sương mù che khuất! Hãy để ánh nắng Chúa Kitô ‘mở ra một tầm nhìn mới’ cho bạn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy để ánh nắng Chúa Kitô ‘mở ra một tầm nhìn mới’ cho bạn!”. Lời Chúa hôm nay ‘mở ra một tầm nhìn mới’ về Bí Tích Thánh Thể; nhờ đó, chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn Bí Tích Tình Yêu này. Chúa Giêsu nói, “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống muôn đời!”.

Trước những lời này, người Do Thái sửng sốt. Thật dễ hiểu! Họ sợ máu! Với họ, máu thật linh thiêng, là nguồn gốc sự sống, không bao giờ được chạm vào. Vậy phải hiểu thế nào? Đừng hiểu theo nghĩa đen! Để biết sâu sắc hơn ý muốn của Chúa Giêsu, những lời này phải được soi rọi dưới ánh sáng đức tin. Trong đêm bị trao nộp, giữa bữa Tiệc Ly, Ngài đã hiến mình để nên lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta; vì thế, Mình Thánh chúng ta đón nhận đích thực là thịt máu Giêsu, Chiên Thiên Chúa. Mỗi khi rước Ngài, “ăn thịt và uống máu Tôi”, chúng ta đồng hoá ‘toàn bộ con người, toàn bộ suy nghĩ, toàn bộ hành động’ của mình vào chính Ngài. Ngài đã không nói “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong tôi và Tôi ở lại trong người ấy” sao? Như vậy, đón lấy Ngài không chỉ hiểu trong bối cảnh “rước lễ”; nhưng như một dấu chỉ ‘mở ra một tầm nhìn mới’ của một ‘quan hệ rộng hơn’, ‘gắn bó hơn’; nghĩa là toàn bộ cuộc sống!

Thánh Thể trước hết là một cử hành cộng đồng về những gì ‘chúng ta là’, ‘chúng ta có’, ‘chi thể của Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô’. Qua Lời truyền phép, bánh rượu trở nên Thịt Máu Chúa, đến với chúng ta, ‘mở ra một tầm nhìn mới’ trong tình bác ái hiến dâng; Ngài đến qua từng kinh nghiệm yêu thương chúng ta có với nhau. Tắt một lời, Thánh Thể không chỉ là việc rước Chúa trong nhà thờ, nhưng là ‘cả cuộc sống’ dù chúng ta ở đâu, đang làm gì.

Thật thú vị, bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay cho biết, không bao giờ Phaolô hình dung con đường mình sẽ đi vào mấy mươi năm cuối đời; nhưng Chúa Phục Sinh thì có! Ngài ‘mở ra một tầm nhìn mới’ cho Phaolô; từ một người bắt bớ Hội Thánh, Phaolô được chọn làm sứ giả của Thánh Thể; Bí Tích này được Phaolô ghi lại chi tiết trong thư Côrintô. Như vậy, kế hoạch Chúa dành cho Phaolô, cho mỗi người chúng ta có thể táo bạo hơn nhiều so với những gì chúng ta tưởng; để rồi, cùng Phaolô, chúng ta “Đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng” Thánh Thể như lời Thánh Ca Phúc Âm gợi ý.

Anh Chị em,

“Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống muôn đời!”. Khổ thay, những của ăn mau hư nát thế tục lại chi phối và quấn lấy tâm trí chúng ta như lớp sương mù che khuất tầm nhìn, khiến chúng ta không thấy gì xa hơn. Hãy để ánh nắng Chúa Kitô ‘mở ra một tầm nhìn mới!’. Hãy để Lời Chúa ‘mở ra một tầm nhìn mới!’. Vì vậy, mỗi khi rước Chúa, chúng ta trao cho Ngài cơ hội để Ngài uốn nắn và đồng hoá chúng ta với Ngài như đã đồng hoá và uốn nắn Phaolô. Có như thế, phong thái, suy nghĩ và toàn thể con người chúng ta sẽ hoà tan trong Đấng chúng ta rước lấy; và cuối cùng, mỗi người trở nên một Giêsu khác, tấm bánh bẻ ra cho muôn người!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, mỗi lần rước Chúa, cho con ý thức, Chúa sống trong con, con sống trong Chúa. Ước gì con thuộc trọn về Chúa, làm điều Chúa muốn, muốn điều Chúa ưa thích!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen