Chính nghĩa Cờ Vàng tiếp tục tỏa sáng – Thống Đốc Tiểu Bang Michigan công nhận ngày tưởng niệm 30-4

  • Tin phấn khởi đến từ tiểu bang Michigan mà chủ tịch cộng đồng Việt Nam ở đó đã gọi là một món quà vô giá của Thống Đốc tiểu bang tặng cho đồng bào Việt Nam.
  • Tiểu bang Michigan lấy ngày 30-4 làm ngày tưởng niệm chiến sĩ Hoa Kỳ, Việt Nam và đồng bào thuyền nhân đã bỏ mình cho lý tưởng tự do.
  • Chính nghĩa VNCH ngày càng tỏa sáng sau một thời gian ngủ im.
  • Hoa Kỳ, Âu Châu thức tỉnh trước hiểm họa đe doa của Tàu Cộng, chính điều này giúp họ quan tâm hơn đến lý tưởng tự do nói chung.

Cộng sản Trung Quốc dùng ứng dụng trên phone để giám sát công dân tham dự các buổi lễ tôn giáo

Hình ảnh nổi bậtPhụ nữ cầu nguyện trong nhà thờ chui ở Trung Quốc.

BẮC KINH ( LifeSiteNews ) – Trung Quốc đã đưa việc giám sát và kiểm soát tôn giáo của mình lên một tầm cao mới với việc triển khai ứng dụng “ Tôn giáo thông minh – Smart Religion ” mới, ứng dụng này sẽ cho phép chính phủ Cộng sản biết chính xác ai tham gia vào bất kỳ nghi lễ tôn giáo nào được công nhận chính thức. 

Ứng dụng mới, được phát triển bởi Ủy ban Dân tộc và Tôn giáo của tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, sẽ cần thiết để tuân theo nhiệm vụ mới của chính phủ yêu cầu công dân Trung Quốc đăng ký và đặt chỗ trực tuyến để tham dự bất kỳ nghi lễ tôn giáo nào trong các nhà thờ do chính phủ phê chuẩn , nhà thờ Hồi giáo, hoặc đền thờ.  

Đăng ký thông qua ứng dụng sẽ yêu cầu thông tin cá nhân của người nộp đơn, bao gồm tên, số điện thoại, số ID chính phủ, hộ khẩu thường trú, nghề nghiệp và ngày sinh . Sau khi đăng ký, bạn sẽ phải đặt chỗ trước cho nghi lễ tôn giáo cụ thể . 

Chỉ trích nhiệm vụ mới, nhóm bênh vực quyền tôn giáo ChinaAid tuyên bố: “Các biện pháp quản lý này không xuất phát từ ý định bảo vệ quyền tôn giáo của những người theo đạo mà là phương tiện để đạt được mục đích chính trị . ” 

ChinaAid lưu ý rằng một báo cáo ngày 24 tháng 2 từ Nhật báo Hà Nam nói rằng “ Zhang Leiming , Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Nam và Trưởng Ban Công tác Mặt trận Thống nhất, đã đến Ủy ban Dân tộc và Tôn giáo của tỉnh để điều tra và chỉ ra rằng cần quản lý chặt chẽ tôn giáo một cách toàn diện, đoàn kết và hướng dẫn đại bộ phận tín đồ tôn giáo kiên định đi theo Đảng Cộng sản Trung Quốc.” 

Vào năm 2017, một nhà thờ Công giáo ở Hà Nam vẫn đang được xây dựng đã bị chính quyền Cộng sản dỡ bỏ , họ tuyên bố nhà thờ là “công trình kiến ​​trúc bất hợp pháp” và ra lệnh phá dỡ . Ba trăm cảnh sát đã đến cùng với các thanh tra để đảm bảo rằng nhà thờ đã bị phá bỏ .  Các giáo dân đã cố gắng ngăn chặn việc phá dỡ nhưng đã bị cảnh sát đánh đập và 40 người bị giam giữ. Tài sản của nhà thờ sau đó bị tịch thu , cùng với tài sản của giáo dân và công nhân xây dựng . 

Báo cáo Mở cửa năm 2023 về đàn áp tôn giáo ở Trung Quốc nêu rõ rằng “việc giám sát (ví dụ, bởi chính quyền trường học và ủy ban khu phố) diễn ra phổ biến trên toàn quốc .” Theo báo cáo, “ Giám sát ở Trung Quốc thuộc hàng áp bức và tinh vi nhất trên thế giới .” Trình bày chi tiết cách thức mà ĐCSTQ nhắm mục tiêu vào cả những nơi gặp gỡ và những Cơ đốc nhân “ cao cấp ” , những người rơi vào sự giám sát đặc biệt của ĐCSTQ vì đã lên tiếng chỉ trích chế độ hoặc vì những hành vi bị cáo buộc có quan hệ đối với các nhóm nước ngoài , Open Doors báo cáo rằng chính phủ Trung Quốc “ vận hành một hệ thống khen thưởng để khuyến khích nhân viên bảo vệ trong cộng đồng báo cáo bất kỳ điều gì bất thường; hệ thống quản lý lưới điện tử này chặt chẽ và được sử dụng cho một số mục đích, bao gồm giám sát cả các khu vực lân cận (nhà thờ) .” 

“ Tất cả các cộng đồng Cơ đốc nhân đang bị giám sát … Mọi hoạt động của nhà thờ không chỉ bị giám sát bởi sự hiện diện của các đặc vụ, mà còn bởi các camera CCTV theo dõi bục giảng, hội chúng và khu vực xung quanh nhà thờ … Ngày càng có nhiều nhà thờ tư gia bị quấy rối và cản trở khi hoạt động của họ đã được phát hiện. Hầu hết đã bị buộc phải chia thành các nhóm nhỏ và tụ tập ở các địa điểm khác nhau và thường xuyên thay đổi, giữ kín để không bị phát hiện bởi cán bộ cấp quận hoặc ủy ban khu phố. ” 

Nhận xét về tình hình , chuyên gia Trung Quốc Steven Mosher nói với LifeSiteNews rằng với ứng dụng giám sát mới , “ ĐCSTQ đang sử dụng công nghệ hiện đại để tạo ra chế độ độc tài kỹ thuật số công nghệ cao đầu tiên trên  thế giới . ” Mosher cho biết chính phủ Cộng sản “ muốn theo dõi mọi người ở Trung Quốc trong thời gian thực bằng cách sử dụng (ứng dụng) tự động báo cáo, camera giám sát và AI.  Kẻ cả, anh Lớn, không chỉ theo dõi mà còn muốn ép bạn báo cáo bất kỳ và tất cả ‘ hoạt động lật đổ ‘ mà bạn có thể tham gi,  bao gồm cả việc đi dự Thánh lễ .  

“ Đây có thể là số phận của chúng ta nếu chúng ta không cẩn thận ,” Mosher cảnh báo.  “ Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc không chỉ ‘ làm việc với ĐCSTQ ‘ , mà còn là một nhóm bình phong cho ĐCSTQ giống như cách mà Hiệp hội Yêu nước Công giáo là một nhóm bình phong cho ĐCSTQ ,” Mosher tiếp tục. “  

Xã Hội Chủ Nghĩa hóa Tôn Giáo

Vào tháng 12 năm 2021, Tổng Bí thư ĐCSTQ Tập Cận Bình đã có bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về Công tác Tôn giáo. Ông Tập nhấn mạnh rằng ‘ tôn giáo và các tổ chức tôn giáo phải được hướng dẫn tích cực để thích nghi với xã hội xã hội chủ nghĩa ‘ , và rằng những người làm công tác ‘ tôn giáo ‘trong Đảng phải lấy việc Hán hóa tôn giáo làm nhiệm vụ chính. Và để tránh có bất kỳ sự hiểu lầm nào rằng Hán hóa chỉ đơn giản có nghĩa là thích nghi một cách khiêm tốn với văn hóa Trung Quốc, ông đã phát biểu như sau: ‘ Hán hóa có nghĩa là tất cả các cộng đồng tôn giáo phải do Đảng lãnh đạo, do Đảng kiểm soát và ủng hộ Đảng. ‘

Theo một báo cáo từ một nhóm nhân quyền có trụ sở tại Hoa Kỳ, các Kitô hữu ở tỉnh Hà Nam đông dân của Trung Quốc hiện được yêu cầu phải đăng ký trên một ứng dụng của chính phủ để tham dự các buổi thờ phượng và phải đặt chỗ trực tuyến trước khi tham gia thờ phượng.

Ứng dụng có tên “Tôn giáo thông minh” do Ủy ban Dân tộc và Tôn giáo của tỉnh Hà Nam phát triển, yêu cầu các tín đồ cung cấp thông tin cá nhân, bao gồm tên, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, hộ khẩu thường trú, nghề nghiệp và ngày sinh để được phê duyệt. để tham dự một dịch vụ, ChinaAid  đưa tin  trong tuần này.

Đó là một yêu cầu không chỉ đối với các nhà thờ mà cả các nhà thờ Hồi giáo và chùa chiền Phật giáo, nhóm này cho biết, ghi lại cuộc đàn áp tôn giáo ở Trung Quốc và hỗ trợ các tù nhân lương tâm Trung Quốc.

Hà Nam có một trong những quần thể Kitô giáo lớn nhất ở Trung Quốc. Những người theo đạo Cơ đốc địa phương cho biết các thủ tục đăng ký rườm rà đã làm giảm số lượng tín đồ đến nhà thờ. Theo tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Texas, nhiều người cao tuổi và những người ít hiểu biết về công nghệ có thể gặp khó khăn khi truy cập ứng dụng. Tuy nhiên, các quan chức nói rằng những người như vậy sẽ được hỗ trợ.

Các nhà cung cấp Đài Loan của Apple dẫn đầu chuyển đổi trục sản xuất mới đi ra khỏi Trung Quốc

Theo Báo Nikkei Á Châu

Một dây chuyền sản xuất tại một cơ sở của Foxconn ở Thâm Quyến. Công ty, còn được gọi là Hon Hai Precision Industry, là một trong số những công ty bắt đầu chuyển hoạt động ra khỏi Trung Quốc đại lục. © AP

ĐÀI BẮC/HÀ NỘI – Việc các nhà sản xuất theo hợp đồng của Đài Loan làm cho các công ty Mỹ như Apple đang chú ý đến các cơ sở sản xuất rẻ hơn và ít rủi ro địa chính trị hơn, chẳng hạn như Việt Nam và Ấn Độ.

Nhà sản xuất điện tử Quanta Computer, nhà sản xuất theo hợp đồng hàng đầu về MacBook của Apple, đã ký một thỏa thuận trong tháng này để xây dựng nhà máy đầu tiên của Việt Nam tại tỉnh Nam Định phía bắc.

Giám đốc CT Huang của Quanta cho biết tại lễ ký kết tuần trước: “Chúng tôi quyết tâm hoàn thành dự án này. “Chúng tôi muốn khởi động nhà máy mới càng nhanh càng tốt.”

Những động thái như thế này nhằm đa dạng hóa sản xuất, rời khỏi Trung Quốc, đã được thực hiện trong nhiều năm đối với các nhà sản xuất đang chứng kiến ​​mức lương ở đó tăng lên. Động lực tiếp theo đến từ căng thẳng thương mại và công nghệ giữa Washington và Bắc Kinh, vốn đã gia tăng vào năm 2018 do thuế quan do chính quyền của Tổng thống Mỹ khi đó là Donald Trump áp đặt.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được phê duyệt vào Việt Nam tăng đều đặn, chủ yếu do các quốc gia như Hàn Quốc và Nhật Bản thúc đẩy, lên 38 tỷ USD vào năm 2019 – tăng khoảng 80% so với một thập kỷ trước. Xu hướng này đã bị đình trệ trong một vài năm khi COVID-19 quét qua toàn cầu, nhưng hiện đang tiếp tục.

Kế hoạch đầu tư vào Việt Nam của các nhà sản xuất theo hợp đồng Đài Loan phản ánh ác cảm của khách hàng Mỹ đối với rủi ro Trung Quốc.

Quanta đã đánh cược cơ sở sản xuất tập trung ở Trung Quốc của mình để tăng trưởng nhanh chóng, đạt doanh thu hơn 41 tỷ đô la vào năm 2022. Nhưng vị trí này đã chống lại nó một năm trước khi lệnh phong tỏa Thượng Hải bùng phát COVID-19 buộc nó phải đóng cửa một nhà máy 40.000 công nhân . Với chuỗi cung ứng bị cắt đứt, Quanta không thể tạo ra MacBook Pro trụ cột, khiến việc giao hàng bị trì hoãn hơn hai tháng và làm gián đoạn các kế hoạch của Apple.

Việc mở rộng sang Việt Nam đánh dấu một bước đột phá thực sự khỏi sự phụ thuộc lâu năm vào Trung Quốc. Trong ba năm cho đến năm 2025, dự kiến ​​sẽ nâng sản lượng bên ngoài quốc gia này lên khoảng 30% tổng sản lượng, theo ước tính của TrendForce có trụ sở tại Đài Bắc và các nguồn khác.

Số lượng dự án FDI của Đài Loan tại Việt Nam đã tăng 87% so với cùng kỳ năm ngoái trong quý đầu tiên của năm 2023. “Đặc biệt, miền Bắc Việt Nam đã trở thành cơ sở sản xuất mới cho các sản phẩm của Apple”, Ryotaro Hagiwara, người tiến hành nghiên cứu thực tế tại Viện Nghiên cứu Thực tế cho biết. (Văn phòng Hà Nội của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản.)

Nhà lắp ráp iPhone hàng đầu Hon Hai Precision Industry, còn được gọi là Foxconn, đang đầu tư mạnh vào tỉnh Bắc Giang. Truyền thông địa phương đưa tin vào mùa hè năm ngoái về kế hoạch của Foxconn chi thêm 300 triệu đô la và thuê 30.000 người, và vào tháng 2, họ đã ký hợp đồng thuê một khu đất rộng 45 ha cho đến năm 2057. Khoảng 30% sản lượng của họ dự kiến ​​sẽ được thực hiện bên ngoài Trung Quốc vào năm 2025 , ước tính cho thấy.

Pegatron, công ty đứng thứ hai về sản xuất iPhone, đã đầu tư lớn vào thành phố biển Hải Phòng, và Wistron số 4 có vẻ sẽ thành lập một nhà máy sản xuất máy tính cá nhân vào năm tới.

Một bảng mạch in đang được chế tạo tại một nhà máy ở Vũ Hán. Thành phố của Trung Quốc, là một trung tâm sản xuất linh kiện hàng đầu, mặc dù các công ty lớn đang bắt đầu mở rộng ở những nơi khác, như Thái Lan. ( ảnh của bộ phận Trung Quốc, AP)

Bên cạnh vị trí của Việt Nam trên biên giới Trung Quốc, thuận lợi cho việc tiếp cận các bộ phận, chi phí lao động thấp là một phần hấp dẫn lớn của nó. Theo JETRO, lương cơ bản hàng tháng cho công nhân sản xuất trung bình là 277 đô la, thấp hơn một nửa so với mức trung bình 607 đô la của Trung Quốc. Dân số của đất nước được dự báo sẽ đạt 100 triệu người trong năm nay, điều mà Hagiwara cho biết đang thúc đẩy nhiều hy vọng về nhu cầu địa phương.

Việt Nam đã xây dựng mô hình kinh doanh mua linh kiện và hàng hóa trung gian từ Trung Quốc để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh cho Mỹ. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút đầu tư lớn từ Intel và các công ty lớn của Trung Quốc, các nhà cung cấp có mạng lưới rộng khắp của riêng họ, như Foxconn, được mong đợi để có nhiều sự hiện diện hơn trong tương lai.

Chính phủ đang mong muốn tận dụng tối đa cơ hội này. Ngày 22/4, Thủ tướng Phạm Minh Chính nói với đại diện các công ty nước ngoài rằng thành công của các nhà đầu tư có nghĩa là thành công của Việt Nam.

Ông thúc ép các quan chức chính phủ khác tại cuộc họp lắng nghe những lo ngại của các công ty nước ngoài. “Đừng nói không. Đừng nói là khó,” ông nói.

Đầu tư vào Ấn Độ, dự kiến ​​sẽ vượt Trung Quốc trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới vào cuối tháng, cũng đang tăng lên.

Chủ tịch Hon Hai Liu Young đã gặp Thủ tướng Narendra Modi tại Ấn Độ vào cuối tháng Hai. Liu cho biết nền kinh tế Ấn Độ chắc chắn sẽ cất cánh và Đài Loan cần nắm bắt cơ hội này tại một sự kiện của ngành công nghiệp Đài Loan vào tháng sau.

Foxconn lắp ráp iPhone 14 tại thành phố Chennai của Ấn Độ. Nó đã đảm bảo các địa điểm cho các nhà máy mới ở các bang Karnataka và Telangana khi nó muốn mở rộng dấu ấn của mình trong nước.

TrendForce dự đoán đến năm 2028, 30% đến 35% tổng số iPhone sẽ được sản xuất bên ngoài Trung Quốc. Nhà phân tích Mia Huang cho biết, sản xuất trong nước là điều cần thiết để khai thác nhu cầu ở Ấn Độ, do mức thuế cao mà nước này áp đặt đối với điện thoại thông minh nhập khẩu.

Sự thay đổi cũng đang diễn ra trong các bảng mạch in, là những thành phần quan trọng trong máy tính và thiết bị gia dụng. Một giám đốc điều hành ngành điện tử Đài Loan cho biết, hoạt động sản xuất đã bắt đầu chuyển từ trung tâm hiện tại ở Vũ Hán sang Thái Lan, đồng thời dự đoán rằng Thái Lan cuối cùng sẽ vượt qua Trung Quốc về sản lượng bảng mạch in.

Trung Quốc đã chịu trách nhiệm cho khoảng một nửa sản lượng toàn cầu của thành phần này. Nhưng chỉ trong tháng 3 và tháng 4, các nhà cung cấp của Apple là Unimicron Technology và Compeq Manufacturing đã tuyên bố gia nhập thị trường sản xuất của Thái Lan.

Hơn 90% đầu tư trực tiếp của các công ty Đài Loan bên ngoài Đài Loan trong quý từ tháng 1 đến tháng 3 đã đến những nơi khác ngoài Trung Quốc đại lục. Đầu tư vào Đông Nam Á và Ấn Độ tăng gần năm lần trong năm, ngay cả khi đầu tư vào Trung Quốc giảm khoảng 10%.

Các công ty Đài Loan bắt đầu thâm nhập vào Trung Quốc từ những năm 1990 khi nước này mở cửa, đóng vai trò then chốt trong việc biến đại lục thành công xưởng của thế giới. Ba thập kỷ trôi qua, Đài Loan hiện đang đi đầu trong việc chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu ra khỏi Trung Quốc.

PHỎNG VẤN: Đô đốc Mỹ ‘sẵn sàng’ hỗ trợ tiếp tế cho Philippines ở Biển Đông

Theo báo Nikkei Á Châu

Một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc chặn tàu BRP Malapascua của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines khi nó di chuyển vào cửa của Bãi cạn Thomas thứ hai mà người dân địa phương gọi là Bãi cạn Ayungin ở Biển Đông. © AP

WASHINGTON – Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Philippines khi Trung Quốc can thiệp vào nỗ lực tiếp tế của Manila cho một tàu hải quân bị mắc cạn ở Biển Đông, Đô đốc Samuel Paparo, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, tuyên bố sẽ kiềm chế các hành động khiêu khích trên biển của Bắc Kinh.

Paparo nói với Nikkei trong một cuộc phỏng vấn trực tuyến hôm thứ Sáu rằng Trung Quốc “thường xuyên can thiệp vào các hoạt động tiếp tế đó” và những hành động này “rõ ràng là trái pháp luật”, đề cập đến các hoạt động gây hấn của Cảnh sát biển Trung Quốc xung quanh BRP Sierra Madre ở Bãi cạn Ayungin, còn được gọi là Second Thomas. bãi cạn.

Manila điều hành các nhiệm vụ tiếp tế cho một đội quân nhỏ trên con tàu của Hoa Kỳ thời Thế chiến thứ hai, con tàu này đã cố tình mắc cạn vào năm 1999 để củng cố các yêu sách lãnh thổ của Philippines.

“Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ Philippines trong việc thực hiện các quyền chủ quyền của họ,” ông Paparo nói.

“Chúng tôi ủng hộ quyền chủ quyền của Philippines, trong EEZ [vùng đặc quyền kinh tế],” ông nói.

Đô đốc Samuel Paparo, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ. (Ảnh do Hải quân Mỹ cung cấp)

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sẽ gặp người đồng cấp Philippines Ferdinand Marcos Jr. vào thứ Hai trong chuyến thăm Nhà Trắng đầu tiên của một tổng thống Philippines sau gần 11 năm.

Đứng đầu chương trình nghị sự sẽ là làm thế nào để chống lại các động thái ngày càng hung hăng của Trung Quốc, nước đang cố gắng tăng cường kiểm soát ở Biển Đông và tiếp tục thực hiện các hành động cưỡng chế đối với Đài Loan.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, với “đường chín đoạn” kéo dài hơn 1.500 km ra khỏi đất liền, bao gồm cả Bãi Cỏ Mây.

Vào cuối tháng 4, cảnh quay về một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc tiến đến khoảng cách khoảng 40 mét với một trong hai tàu tuần tra của Philippines gần bãi cạn đã được công bố. Hãng thông tấn AP, có ba nhà báo trên tàu phía Philippines, đã đưa tin về “một vụ suýt va chạm đáng sợ.”

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cũng tuyên bố vào tháng 2 rằng một tàu Trung Quốc đã chiếu tia laser màu xanh lá cây vào một trong các tàu của họ.

Dù từ chối cung cấp thông tin chi tiết, Paparo cho biết Mỹ đã cung cấp thông tin tình báo cho phía Philippines để hỗ trợ nỗ lực tiếp tế cho Sierra Madre. Những nỗ lực như vậy có thể liên quan đến việc cung cấp vị trí của các tàu Trung Quốc thu được thông qua máy bay do thám hoặc vệ tinh.

Một tòa án quốc tế ở The Hague đã ra phán quyết vào năm 2016 rằng yêu sách của Trung Quốc đối với các quyền lịch sử trong đường chín đoạn là không có cơ sở pháp lý và Bãi Cỏ Mây nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Hoa Kỳ đã ủng hộ quyết định một cách dứt khoát.

Paparo nói rằng Philippines cho đến nay vẫn chưa yêu cầu hỗ trợ từ các tàu Hải quân hoặc Cảnh sát biển Hoa Kỳ nhưng “chúng tôi sẵn sàng”, báo hiệu rằng Hoa Kỳ sẵn sàng can thiệp nếu xung đột nổ ra. Washington và Manila đã ký một hiệp ước phòng thủ chung vào năm 1951.

Đô đốc bày tỏ sự quan tâm đến một khuôn khổ đa phương bao gồm cả Nhật Bản và Úc để duy trì an ninh ở Biển Đông.

“Khi chúng tôi hoạt động cùng nhau, chất lượng răn đe của các cuộc tuần tra từ các tàu đó tăng lên gấp nhiều lần, bởi vì nó thể hiện sự đoàn kết của các liên minh,” ông nói.

Biden và Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol gần đây đã đồng ý ở Washington, để Mỹ gửi một tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân đến quốc gia châu Á này.

“Nó ở đó [dưới biển] để ngăn chặn bất kỳ cường quốc hạt nhân nào nếu không sẽ đe dọa đến an ninh, tự do và hạnh phúc của Hoa Kỳ và các đồng minh của họ,” Paparo nói về tác dụng răn đe của chuyến thăm – một gợi ý rằng nó có thể giúp ngăn chặn không chỉ Bắc Triều Tiên, mà cả Trung Quốc.

Điều động một tàu ngầm hạt nhân là một cách đơn giản để Mỹ thể hiện khả năng hạt nhân của mình. Về mặt quân sự, việc gửi một tàu ngầm hạt nhân thực hiện các cuộc tấn công thứ hai từ các địa điểm xa xôi đến Hàn Quốc, nước láng giềng của Trung Quốc và Triều Tiên, không có nhiều ý nghĩa.

Paparo từ chối giải thích chi tiết về thời điểm gửi đi. “Nó chắc chắn tiếp tục là một miền im lặng,” ông nói.

Theo quan hệ đối tác an ninh Úc-Anh-Mỹ được gọi là AUKUS, Hải quân Hoa Kỳ có kế hoạch triển khai tới 4 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân ở Tây Úc vào đầu năm 2027.

Ông Paparo nói: “Nó thể hiện nhiều khả năng hơn, phản ứng nhanh hơn ở Tây Thái Bình Dương, tạo điều kiện cho một lực lượng tàu ngầm phản ứng nhanh hơn, có thể nhanh chóng gây ra cái giá phải trả cho bất kỳ bên nào muốn gây hấn, đe dọa Hoa Kỳ hoặc các đồng minh và đối tác của chúng tôi”.

Khi Trung Quốc nâng cấp khả năng quân sự của mình bằng cách dự trữ tên lửa có độ chính xác cao với tầm bắn xa hơn, các tàu và máy bay của Mỹ có thể phải đối mặt với các cuộc tấn công của Trung Quốc trong trường hợp xảy ra xung đột ở eo biển Đài Loan hoặc ở Biển Đông. Tàu ngầm, vốn có thể tránh bị phát hiện, có thể sẽ đóng một vai trò lớn hơn.

Hai Bờ Đại Dương (truyện ngắn)

Hai Bờ Đại Dương (truyện ngắn)

Tuấn lái xe chạy dọc đường Bolsa, qua khỏi ngã tư đường Euclid, quẹo trái vô bãi đậu xe, ngừng lại trước tiệm hoa. Tuấn bước vô tiệm, chọn mua một bó hoa và một cái vòng đeo cổ kết bằng hoa lan. Vòng hoa này, người Mỹ gọi là lei, thường được dùng để tặng cho những sinh viên để mang trên cổ trong ngày ra trường. Mua hoa xong Tuấn lái xe lên đường cao tốc 57 đi về hướng Pomona, nơi có ngôi trường đại học bách khoa California State University Pomona. Hôm nay là ngày lễ tốt nghiệp của Vũ, con trai của Tuấn.

Trời California hôm nay nắng ấm, đã bước sang mùa hè, bầu trời trong xanh không một gợn mây. Đoạn đường cao tốc này, Tuấn đã đi nhiều lần, nhưng hôm nay cảnh vật có vẻ vui tươi, có lẽ vì trong lòng Tuấn đang vui. Mười lăm năm kể từ ngày đặt chân đến Mỹ, hôm nay có lẽ là ngày vui nhất của Tuấn, vì con trai tốt nghiệp đại học. Tuấn nghĩ thầm trong lòng: hôm nay chắc Ngọc sẽ rất vui khi thấy đứa con trai yêu dấu của mình đã thành đạt.

Tuấn và Ngọc gặp nhau trong khói lửa chiến tranh. Ngày ấy Tuấn là một sĩ quan thiếu úy vừa tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, được sung vào Sư đoàn 3 Bộ binh, đóng ở căn cứ Ái Tử thuộc tỉnh Quảng Trị vào đầu năm 1972. Quảng Trị là tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến của cuộc chiến hai miền Nam-Bắc. Phía bắc Quảng Trị là sông Bến Hải, nơi phân chia hai miền. Mặc dù ở địa đầu giới tuyến nhưng tình hình Quảng Trị lúc đó yên tĩnh. Theo tinh thần của Hiệp định Geneve được ký kết năm 1954 thì vùng giới tuyến là vùng phi quân sự, hai bên cam kết sẽ không có những hoạt động quân sự gần vùng này. Vì vậy mà các đơn vị đóng ở đây được coi là an nhàn.

Những lần rảnh rỗi, Tuấn thường qua khu vực gần thành cổ Quàng Trị (còn gọi là thành Đinh Công Tráng) bên kia sông Thạch Hãn, nơi có phố phường đông đúc, để ăn uống, dạo chơi, và nhất là ngắm các cô nữ sinh giờ tan trường. Một lần, đang ngồi uống cafe tại một quán nhỏ bên lề đường, Tuấn nhìn thấy một cô nữ sinh mặc áo dài trắng cắp cặp đi thong thả. Cô này có mái tóc đen nhánh chảy xuống bờ vai, cặp mắt long lanh, môi xinh như cánh hoa hống, dáng người thon thả, thướt tha trong tà áo dài trắng. Vừa nhìn thấy, Tuấn đã bị thu hút bởi vẻ đẹp của cô gái. Từ hôm đó, mỗi khi có dịp, Tuấn lại ra quán ngồi đúng giờ tan trường để được ngắm người đẹp.

Tuấn cố suy nghĩ cách nào để làm quen với người đẹp, nhưng nghĩ hoài không ra. Mặc dù là quân nhân, nhưng đằng sau bộ quân phục Tuấn vẫn là một chàng thanh niên nhút nhát trước phụ nữ. Rồi một lần, một sự việc xảy ra như cơ duyên đưa đẩy.

Hôm đó ngồi ờ quán như thường lệ, Tuấn thấy bóng dáng cô nữ sinh từ xa, nhưng lần này lại có hai thanh niên lái xe gắn máy đi kè kè sát lề. Hai thanh niên này để tóc dài, mặc quần ống loe theo mốt hippy, có vẻ con nhà giàu, đang kè theo cô gái để tán tỉnh. Cô gái cỏ vẻ hơi khó chịu, nhưng vẫn cố giữ vẻ mặt bình thản, mắt nhìn thẳng và tiếp tục đi. Khi đi ngang chỗ Tuấn ngồi, chàng bất chợt đứng dậy, bước ra mé đường và nói với hai thanh niên kia: “Hai chú làm ơn để yên cho cô em của tôi được không?” Nhìn thấy Tuấn trong bộ quân phục sĩ quan, hai thanh niên kia hết hồn, rồ máy đi thẳng. Cô gái đứng lại, tần ngẩn nhìn Tuấn, cúi đầu nói lí nhí: “Dạ em cảm ơn anh.”

Tuấn gật đầu, rồi cũng không biết nói gì. Cô gái cúi đầu chào rồi đi tiếp. Tuấn đứng bâng khuâng nhìn theo cho đến khi cô gái đi khuất rồi cũng rời quán. Tự nhiên Tuấn thấy giận mình sao quá ngu ngơ, lẽ ra nên nhân cơ hội này hỏi thăm vài câu làm quen, hay ít nhất cũng hỏi tên cô gái.

Từ sau lần đó, mỗi lần đi ngang quán nhìn thấy Tuấn, cô gái hơi mĩm cười và khẽ cúi đầu chào. Tuấn cũng gật đầu đáp trả, cố làm ra vẻ bình thản, dù trong lồng ngực con tim đang đập rộn ràng reo vui. Nhưng sự việc có vẻ như chỉ giới hạn ở mức đó. Tuấn cố moi óc tìm cách nào để tiến xa hơn nữa. Cứ mỗi lần thấy cô gái từ xa, trong lòng Tuấn lại thôi thúc: “Đứng dậy đi. Đứng dậy bước ra hỏi thăm nàng vài câu đi!” Nhưng rồi cũng chỉ một nụ cười và một cái gật đầu, rồi bóng nàng lại xa khuất.

Một lần đi ngang, nàng chợt làm rớt cây viết máy mà không biết, cứ tiếp tục đi. Tuấn vội đứng dậy, lượm cây viết, rảo bước theo và nói: “Em ơi, em làm rớt cây viết.” Cô gái đứng lại, nhận cây viết từ Tuấn, mĩm miệng cười duyên dáng: “Dạ em cảm ơn anh.”

Một thoáng giây im lặng, cô gái dường như có ý chờ đợi. Tuấn thu hết can đảm, hỏi: “Em học trường nào?” Tuấn chợt thấy câu hỏi của mình hơi thừa vì trên ngực áo nàng có mang huy hiệu trường. Nhưng nàng dường như không quan tâm tới cái sự thừa thãi đó, vẫn trả lời: “Dạ em học trường Trung Học Nguyễn Hoàng.” Trường Trung Học Nguyễn Hoàng là một trong những ngôi trường khang trang nhất Quảng Trị lúc đó.

“Em học lớp mấy?” Tuấn hỏi tiếp.

“Dạ lớp mười hai.”

Cô gái nhìn cái lon thiếu úy có bông mai vàng trên cổ áo Tuấn, hỏi: “Anh ở đơn vị mô?”

“À anh thuộc Sư đoàn 3, đóng ở căn cứ Ái Tử.”

Đến đây thì Tuấn không biết hỏi gì hơn. Cái tính nhút nhát trước phụ nữ của Tuấn vẫn không thay đổi. Cô gái lại cúi chào rồi quay đi. Tuấn nhìn theo và sực nhớ là mình quên chưa hỏi tên cô gái. Còn cô thì không cần hỏi chắc cũng biết được tên Tuấn vì trên ngực áo quân nhân ai cũng có in tên.

Những lần sau đó, Tuấn đã bắt đầu dạn dĩ hơn. Mỗi khi nàng đi ngang, Tuấn đứng dậy đi theo nàng một quãng. Tuấn biết được tên nàng là Ngọc. Ngọc có ba đứa em. Ba mẹ Ngọc không giàu nhưng đủ sức nuôi các con ăn học. Ngoài giờ học Ngọc còn phụ giúp mẹ buôn bán. Biết được địa chỉ nhà Ngọc, Tuấn định bụng hôm nào sẽ đến thăm. Nhưng Tuấn chưa thực hiện được ý định đó thì một biến cố xảy ra, như một trận cuồng phong nổi lên làm đảo lộn mọi thứ.

Tuấn bật đèn báo hiệu, đổi qua làn đường bên phải, rồi thoát khỏi cao tốc. Đến đường Temple, Tuấn quẹo trái, đi một quãng nữa là tới trường. Trường nằm cạnh một trang trại nuôi ngựa của dòng họ Kellogg. Dòng họ này nổi tiếng với công ty Kellogg’s chuyên sản xuất các thức ăn chế biến từ ngũ cốc. Con đường dẫn vô trường đi ngang qua một cánh đồng rộng có những con ngựa được thả chạy rông, giống ngựa cao lớn, chân thon dài dùng để chạy đua. Ngoài ngựa, trang trại còn nuôi một số gia súc, trồng hoa và một số cây ăn trái. Sinh viên học ngành nông nghiệp của trường dùng trang trại này làm nơi thực tập.

Đến bãi đậu xe của trường, Tuấn theo bảng chỉ dẫn tìm chỗ đậu gần lối đi vào nơi cử hành lễ rồi xuống xe đi bộ. Trường rất rộng, diện tích hơn 5 cây số vuông, nếu không có bảng chỉ dẫn thỉ có thể đi lạc, mất nhiều thì giờ tìm nơi mình muốn tới. Trong trường rộn rịp sinh viên mặc áo choàng thụng, đầu đội mũ chóp vuông có gắn tua. Thân nhân, bạn bè của sinh viên cũng tới dự lễ rất đông, trên tay nhiều người cầm hoa và bong bóng. Đi qua khỏi thư viện trường là tới một cái sân cỏ rộng, có dựng khán đài. Tuấn đưa mắt tìm kiếm. Vũ đã tới trường từ sớm. Thật khó mà tìm được người thân trong cái sân rộng mênh mông có hàng ngàn người đi lại. Tuấn đành nghĩ thầm, thôi để tới lúc các sinh viên xếp hàng tiến vào nơi hành lễ thì mình sẽ đứng một chỗ canh tìm.

Trưa ngày 30-3-1972, đạn pháo kích của quân Cộng Sản dội như mưa vào Quảng Trị, mở màn cho một chiến dịch quân sự đẫm máu kéo dài sáu tháng mà Cộng Sản gọi là “Chiến dịch Xuân-Hè 1972”, quân sử Việt Nam Cộng Hòa sau này gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Căn cứ Ái Tử là một trong những nơi đầu tiên hứng đạn pháo kích nặng nề. Các đơn vị đóng khắp Quảng Trị cũng lần lượt hứng đạn pháo kích và sau đó là những đợt tấn công liên tiếp bằng biển người. Dân chúng khắp nơi chạy loạn, gồng gánh kéo nhau vào thị xã Quảng Trị, nương nhờ sự che chở của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi khi có chiến sự xảy ra thì dân chúng luôn chạy tìm nơi có quân Cộng Hòa đóng để được che chở hoặc giúp phương tiện di tản.

Cuộc tấn công ở Quảng Trị là một đòn bất ngờ cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hiệp định Geneve quy định rằng khu vực hai bên sông Bến Hải, lằn ranh phân chia hai miền Nam-Bắc, là vùng phi quân sự. Hai bên cam kết không tiến hành bất cứ hoạt động quân sự nào trong vòng 5 km ở mỗi bên. Phía Việt Nam Cộng Hòa luôn giữ cam kết này, vì vậy mà Sư đoàn 3 bộ binh đóng ở đây đa số là các binh sĩ ít có kinh nghiệm chiến đấu. Phía Cộng Sản thì ký kết là một chuyện, giữ lời là một chuyện hoàn toàn khác. Hơn 40 ngàn quân Cộng Sản đã vượt sông Bến Hải tấn công Quảng Trị trong những ngày đầu tiên của chiến dịch. Ngoài ra, quân Cộng Sản còn tấn công ở Kontum và Bình Long, cũng ác liệt không kém.

Tuấn cùng đồng đội của mình chiến đấu cố thủ tại căn cứ Ái Tử gần một tháng, sau đó đơn vị của Tuấn rút vào Thành cổ Ðinh Công Tráng bên kia sông Thạch Hãn. Nhân dịp này Tuấn vội vã tìm tới nhà Ngọc. Đây là lần đầu tiên Tuấn gặp ba mẹ và các em của Ngọc. Trong cơn dầu sôi lửa bỏng, sự xuất hiện của Tuấn như một ngọn nến thắp lên trong đêm đen, đem lại niềm hy vọng cho gia đình Ngọc. Trong con mắt Ngọc, Tuấn giờ là một người hùng. Còn Tuấn, suốt gần một tháng đứng dưới chiến hào chịu trận mưa bom đạn, đầu óc quay cuồng giữa sự sống và sự chết, nay nhìn thấy bóng dáng yêu kiều của Ngọc, chàng bỗng nhận ra rằng cuộc chiến đấu của mình không vô nghĩa. Chàng đang liều chết để bảo vệ cho tình yêu của mình.

Gia đình Ngọc muốn di tản về Huế nhưng chưa có phương tiện. Ngay hôm đó Tuấn liền liên lạc với các đồng đội, nhờ họ thu xếp cho gia đình Ngọc được đi chung xe với các gia đình khác. Hôm sau, gia đình Ngọc rời Quảng Trị. Trước khi đi Ngọc trao cho Tuấn một mảnh giấy ghi địa chỉ người thân ở Huế.

Ngày 1 tháng 5, chuẩn tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh Sư đoàn 3, tuyên bố rút quân khỏi Quảng Trị. Khi nghe tin này, dân chúng đã ùn ùn chạy theo đoàn quân rút lui trên quốc lộ 1 về hướng Mỹ Chánh, tạo ra cảnh hỗn loạn, dân chúng đi lẫn với quân đội, gây khó khăn trong việc rút quân. Trong cơn hoảng loạn, một tai ương khác lại ập đến: pháo kích của Cộng quân đổ chụp lên đoàn người đang rút chạy. Cả lính và dân đều hứng đạn, chết la liệt. Những chiếc xe quân xa và xe chở thường dân bị trúng đạn bốc cháy, xác người chết và bị thương nằm rên la suốt một đoạn đường dài 10 cây số từ phía nam Quàng trị đến cầu Mỹ Chánh. Cộng Sản biết thừa có nhiều dân chúng đi lẫn với binh lính, nhưng họ không quan tâm. Đối với Cộng Sản, mạng người dân không đáng kể, chỉ có chiến thắng mới quan trọng. Trong số những cảnh thương tâm, hình ảnh gây xúc động nhất cho Tuấn là cảnh một em bé nằm trên xác người mẹ đã chết cố nút vú mẹ. Một người lính đã bế em bé lên và tiếp tục đi về phía Nam. Đoạn đường này về sau phóng viên Ngy Thanh của báo Sóng Thần khi làm phóng sự đã gọi là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Thành ngữ này đã ghi đậm vào ký ức của người dân miền Nam lúc đó.

Qua khỏi cầu Mỹ Chánh, tình hình an toàn hơn vì có một lữ đoàn Thủy quân Lục chiến trấn giữ nơi đây. Tuấn đi thẳng về Huế, tìm tới địa chỉ mà Ngọc đã đưa. Người nhà cho biết không có tin tức gì của gia đình Ngọc, không biết họ đang ở đâu. Trong lòng Tuấn dấy nên một nỗi lo sợ, không biết gia đình Ngọc có bị trúng đạn pháo kích trên đường chạy loạn không. Biết đâu trong số xác những người nằm trên Quốc lộ 1 có gia đình của Ngọc? Lòng Tuấn rối bời, không biết phải làm sao.

“Ba tới lâu chưa?” Tiếng của Lan làm Tuấn giật mình. Quay lại nhìn Lan, tuấn đáp: “Ba mới vừa tới, anh Vũ đâu con?” Lan đáp: “Dạ ảnh đang đứng ở gần chỗ Student Union, để con dẫn ba tới.” Tuấn đưa bó hoa cho Lan cầm, “Con giữ đi, chút nữa cuối lễ đưa cho anh.” Sáng này Lan đã đi cùng anh tới trường trước. Lan vừa học hết năm thứ hai tại trường đại học UC Irvine. Lan học ngành Biology (Sinh học). Ước muốn của Lan là sau khi tốt nghiệp cử nhân sẽ nộp đơn vào ngành y. Còn Vũ thì tốt nghiệp ngành Computer Science (Khoa Học Vi Tính).

Tuấn đi theo Lan về phía tòa nhà có hàng chữ “Student Union”. Tòa nhà này dành cho các sinh hoạt của sinh viên ngoài giờ học. Trong đó có  cafeteria bán thức ăn (giống như căn-tin ở Việt Nam), có phòng hội họp, hội trường, phòng chơi game. Hôm nay không phải ngày học nên tòa nhà đóng cửa. Vũ và một số bạn bè mặc áo thụng, đội nón chóp vuông đang đứng trên bậc tam cấp chụp hình. Tuấn bước tới, choàng vòng hoa vào cổ Vũ. Vũ ôm Tuấn, nói: “Cám ơn ba.” Tuấn vỗ vai Vũ: “Bữa nay chắc mẹ vui lắm.” Vũ nhìn Tuấn, chưa kịp nói gì thì tiếng loa vang lên, yêu cầu các sinh viên đến địa điểm tập trung để chuẩn bị tiến về khán đài. Vũ vội chào ba rồi đi theo đám bạn.

Tuấn và Lan đi tìm chỗ ngồi. Trên sân cỏ đã sắp sẵn hàng ngàn chiếc ghế, chia ra thành nhiều khu vực. Khu vực gần khán đài dành riêng cho các khách mời, giáo sư và sinh viên. Thân nhân và bạn hữu thì ngồi xa hơn phía sau. Tuấn và Lan may mắn tìm được chỗ ngồi gần lối sinh viên sẽ đi qua. Tuấn định bụng sẽ chụp mấy tấm hình lúc Vũ đi ngang. Số người đi dự quá đông nên nhiều người không có chỗ ngồi, phải đứng đàng sau. Tiếng loa vang vang, tuyên bố buổi lễ bắt đầu, một điệu nhạc vui tươi nổi lên. Đoàn người bắt đầu tiến về phía khán đài. Đi đầu là ban giám hiệu, đến các giáo sư, rồi đến các sinh viên. Đoàn người đông đến gần cả ngàn. Trường có vài chục ngàn học sinh theo học. Mỗi năm số sinh viên ra trường đến vài ngàn, vì vậy mà lễ tốt nghiệp của mỗi ngành phải chia ra nhiều giờ và ngày khác nhau.

Tuấn ở Huế được mấy ngày thì nghe tin trung tướng Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm làm tư lệnh Quân Đoàn I thay thế tướng Hoàng Xuân Lãm. Quân Đoàn I có nhiệm vụ trấn giữ Vùng 1 chiến thuật, bao gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín và Quãng Ngãi. Điều đó có nghĩa là tướng Trưởng sẽ là người có trách nhiệm điều quân đánh chiếm lại Quảng Trị.

Lệnh ban ra: tất cả binh sĩ đang ở Huế phải lập tức trình diện để được tái phối trí. Sư đoàn 3 của Tuấn là đơn vị trực thuộc Quân đoàn I, nhưng vì binh sĩ đã bị phân tán nên phải rút về Đà Nẵng để tổ chức lại. Tuấn không đi theo sư đoàn mà ở lại Huế trình diện và được bổ sung vào một đơn vị tại chỗ, chuẩn bị tham gia vào cuộc chiến tái chiếm lại Quảng Trị.

Ngày 28 tháng 6, 1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa bắt đầu cuộc Hành Quân Lam Sơn 72 tái chiếm lại Quảng Trị với các đơn vị chủ lực của Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Kích Dù. Quân Cộng Sản cũng quyết tâm giữ Quảng Trị nên đã điều động nhiều sư đoàn bộ đội vượt sông Bến Hải sang tăng viện. Cuộc chiến ác liệt kéo dài 81 ngày đêm. Đến ngày 16 tháng 9, quân Cộng Hòa chiếm lại được cổ thành Quảng Trị. Kể từ trận chiến Tết Mậu Thân 1968 đến nay, đây là trận chiến ác liệt nhất, với con số thương vong mỗi bên hàng chục ngàn binh sĩ, chưa tính tới thường dân. Tuy chiếm lại được cổ thành Quảng Trị, nhưng vùng đất bên kia sông Thạch Hãn trở ra sông Bến Hải vẫn do phe Cộng Sản chiếm giữ.

Còn về phần tướng Vũ Văn Giai, ông ta bị cách chức Tư lệnh Sư đoàn 3 và bị đưa ra tòa án binh vì tội để mất Quảng Trị. Lẽ ra nếu tướng Giai cố gắng tổ chức phòng thủ cổ thành Quảng Trị thì có thể giữ được, nhưng ông ta đã vội vàng cho lệnh rút quân, dù có lệnh của Quân Đoàn I là phải cố thủ Quảng Trị. Khi tuyên bố rút khỏi Quảng Trị, ông ta đã hứa với thuộc cấp là sẽ cùng anh em binh sĩ đi đường bộ, nhưng rốt cuộc ông ta cùng bộ tư lệnh sư đoàn lên trực thăng bay thẳng về Đà Nẵng, khiến đoàn quân rút lui như rắn mắt đầu, hứng chịu thảm cảnh trên Quốc Lộ 1. Tướng Giai bị lãnh án 5 năm tù.

Giữa lúc này, có tin đồn Hoa Kỳ sắp rút hết quân khỏi Việt Nam. Người Mỹ đã mệt mỏi vì cuộc chiến. Dân Mỹ đã chán ngán chiến tranh và không muốn con em của mình phải chết trên một đất nước xa lạ. Kể từ năm 1970, quân đội Hoa Kỳ đã bắt đầu rút bớt quân khỏi Việt Nam. Cho đến cuối năm 1972, số lính Mỹ chỉ còn lại khoảng gần 30 ngàn người. Trong cuộc Hành Quân Lam Sơn, Hoa Kỳ chỉ yểm trợ pháo binh và không quân, các cuộc chiến trực tiếp trên bộ đều do các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đảm trách. Lý do người Mỹ chưa thể rút hết quân khỏi Việt Nam là vì còn mấy trăm tù binh Mỹ đang bị giam giữ ở miền Bắc. Những người này là các phi công lái máy bay ném bom bị bắn rơi. Người Mỹ muốn ký một thỏa hiệp với Cộng Sản miền Bắc để họ trao trả tù binh, đổi lại Mỹ sẽ rút hết quân khỏi miền Nam.

Chiến dịch chấm dứt, Tuấn trở lại Huế thì được người nhà của Ngọc cho hay gia đình Ngọc đã đi thắng đến Đà Nẵng trong cuộc di tản. Tuấn vội vàng xin cấp trên cho trở về Sư đoàn 3 đang đóng ở Đà Nẵng. Cấp trên đồng ý, vậy là Tuấn đi ngay tới Đà Nẵng. Tuy biết là gia đình Ngọc về được Đà Nẵng, nhưng Tuấn không biết có ai nằm lại trên đường không, vì vậy mà trên đường đi Tuấn luôn thấy bồn chồn lo lắng.

Lần theo địa chỉ, Tuấn tới trước một căn nhà trong hẻm, bấm chuông. Trong nhà thấp thoáng một người con gái đi ra, dáng dấp quen thuộc. Trong lòng Tuấn hồi hộp. Cửa mở, Ngọc xuất hiện, nhìn Tuấn ngỡ ngàng. Vẫn dáng dấp yêu kiều ấy, vẫn mái tóc dài tha thướt, nhưng Ngọc gầy và trông mệt mỏi. Nàng như cánh hoa đang bị cơn gió lốc chiến tranh cuốn đi. Tuấn thấy lòng dâng lên một niềm thương yêu không bờ bến. Chàng muốn ôm ghì nàng vào lòng, nhưng không dám. Tuấn thu hết can đảm, nắm lấy tay Ngọc. Bàn tay thon nhỏ, ấm mềm của Ngọc nằm gọn trong lòng bàn tay sắt thép của người lính trận vừa trở về từ vùng máu lửa. Bốn mắt nhìn nhau, chan chứa ân tình. Khóe mắt của Ngọc long lanh giọt lệ.

Trước khi chiến sự xảy ra, Ngọc chỉ còn mấy tháng nữa là hoàn tất trung học, nhưng đành phải bỏ dở. Thời chiến tranh, học đến lớp 12 đã là một cố gắng vượt bực rồi, nay còn phải phụ giúp gia đình ổn định lại cuộc sống và giúp các em đi học trở lại, Ngọc đành thôi học. Mấy tháng sau, vào đầu năm 1973, Tuấn và Ngọc thành hôn. Ba má Tuấn từ Sài Gòn đáp máy bay của hãng hàng không Air Vietnam ra Đà Nẵng dự đám cưới.

Lúc này một sự kiện chính trị quan trọng xảy ra: Hiệp Định Hòa Bình Paris (Paris Peace Accords). Theo hiệp định này thì Hoa Kỳ đồng ý rút hết quân khỏi Việt Nam, đổi lại, phía Cộng Sản trao trả hết tù binh Hoa Kỳ và cam kết không dùng vũ lực để tấn công miền Nam. Tháng Ba năm đó, người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Tuy gọi là hiệp định hòa bình, nhưng nó không đem lại hòa bình như tên gọi. Phía Cộng Sản không bao giờ ngừng tấn công, cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Với việc rút quân của người Mỹ, cuộc chiến giờ đây chính thức là cuộc nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc.

Hè năm 1974, con trai đầu lòng là Vũ ra đời. Thời gian này cuộc sống của hai vợ chồng Tuấn tạm thời bình yên. Ngoài những chuyến công vụ, Tuấn không phải rời xa Ngọc.

Cho tới đầu năm 1975, một cơn bão thời cuộc lại nổi lên, và lẩn này nó đảo lộn tất cả.

Tuấn và Lan dõi mắt nhìn đoàn người đi qua, cố tìm Vũ. Khi thấy Vũ trong đoàn người, Tuấn đưa máy ảnh lên, bấm liên tiếp mấy cái. Vũ nhìn thấy ba và em, tươi cười vẫy tay. Đoàn người lần lượt đến các dãy ghế, ngồi theo thứ tự được sắp đặt trước. Sau khi tất cả đã ngồi vào ghế, các nghi thức bắt đầu. Đầu tiên là một nhóm các em Boy Scouts (Hướng Đạo Sinh) rước lá cờ Hoa Kỳ lên khán đài. Sau khi cắm cây cờ vào giá, lễ chào quốc kỳ và hát quốc ca bắt đầu. Không giống như nhiều nước khác, quốc ca Hoa Kỳ chỉ do một người hát. Ai muốn thì cứ hát theo, nhưng chỉ có một người cầm microphone hát đơn ca là chính.

Sau nghi thức chào cờ là phần phát biểu của thầy hiệu trưởng, một vài giáo chức và khách mời danh dự. Các bài diễn văn thường rất ngắn, chỉ chừng 3-5 phút. Người Mỹ rất thực tế, họ biết thừa rằng ít ai muốn nghe những bài diễn văn dài lê thê. Diễn văn càng dài thì khán giả càng ít muốn nghe, vì vậy ai cũng phát biểu ngắn gọn. Tiếp đó là phần phát biểu của sinh viên thủ khoa và một vài sinh viên có thành tích hoạt động nổi bật. Rồi đến phần phát bằng ban khen cho một số giáo sư và sinh viên. Cuối cùng là phần xướng danh các sinh viên và từng người sẽ lần được bước lên khán đài để được bắt tay, chụp hình và trao một tấm giấy tượng trưng cho bằng tốt nghiệp. Đây là phần chính của buổi lễ, là giây phút mong đợi của tất cả các sinh viên.

Đầu tháng 3, 1975, quân Cộng Sản mở chiến dịch tấn công Tây Nguyên và Huế-Đà Nẵng. Chiến cuộc lần này cũng quy mô và ác liệt không kém cuộc chiến năm 1972. Ngọc và gia đình lại một lần nữa phải chạy trốn chiến tranh. Gia đình di tản về Sài Gòn. Tuấn ở lại cùng đơn vị chiến đấu. Đến ngày 29 tháng 3 thì Đà Nẵng rơi vào tay quân Cộng Sản. Tuấn cùng đơn vị rút về Sài Gòn.

Người dân Sài Gòn lúc này sống trong hoảng loạn, lo sợ. Những ai có phương tiện rời Việt Nam được thì họ bắt đầu nhốn nháo thu xếp để ra đi. Người Mỹ bắt đầu di tản những ai trước kia đã từng làm việc với quân đội Mỹ, họ sợ những người này ở lại sẽ gặp nguy hiểm nếu quân Cộng Sản chiếm được Sài Gòn. Chính cuộc di tản này đã gây thêm tâm trạng hoang mang trong dân chúng. Tình hình biến chuyển xấu đi rất nhanh. Ngày 21 tháng 4, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho phó tổng thống Trần Văn Hương. Bảy ngày sau, Trần Văn Hương từ chức, trao quyền lại cho đại tướng Dương Văn Minh. Những ngày này, dân chúng tìm mọt cách để rời khỏi Việt Nam. Trước cổng tòa đại sứ Mỹ tràn ngập người muốn vào để được trực thăng di chuyển ra Đệ thất Hạm đội ngoài khơi Thái Bình Dương. Nhiều người không thuộc diện được Hoa Kỳ chọn lựa nhưng họ vẫn chen lấn, cố vào cho được tòa đại sứ, vì họ biết rằng một khi vào được bên trong thì sẽ được bốc đi. Người Mỹ không bỏ rơi bất cứ ai đang ở trong tầm tay của họ. Bến Bạch Đằng cũng tràn ngập người chen nhau lên các con tàu. Nhiều người chạy xuống tận Vũng Tàu tìm ghe đi.

Hai ngày sau, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, yêu cầu quân lực Việt Nam Cộng Hòa buông vũ khí. Đó là ngày định mệnh 30 tháng 4, 1975.

Lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh làm Tuấn và các đồng đội bàng hoàng. Nhiều người gục đầu xuống khóc. Chỉ mới hai tháng trước đây, không ai nghĩ rằng chế độ Việt Nam Cộng Hòa có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Quân đội còn đó, vũ khí còn đó, lòng dân còn đang mong mỏi quân đội lật ngược tình thế, nhưng giới lãnh đạo lại hèn nhát, người thì từ chức, bỏ chạy, kẻ thì vội vàng tuyên bố đầu hàng. Cho tới giờ phút đó, chưa một đơn vị nào của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phất cở trắng, kể cả những đơn vị bị vây khốn nguy cấp, mà kẻ lãnh đạo cao nhất đã tuyên bố đầu hàng! Một vài đồng đội của Tuấn đã tự sát vì không muốn sống trong sự nhục nhã. Tuấn không đủ can đảm tự sát vì chàng không muốn Ngọc và đứa con trai của mình phải sống bơ vơ. Chàng cởi bỏ quân phục, trở về cùng Ngọc.

Những ngày sau đó, Tuấn hỏi dò tin tức của các bạn đồng đội, có người bỏ về quê, có người đã di tản ra Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở ngoài khơi Thái Bình Dương. Đau xót nhất là tin tức về những sĩ quan, binh lính đã tự sát, trong đó có năm vị tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai va Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ. Ngoài ra còn nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy, hạ sĩ quan và binh lính, không thể kể hết.

Các sinh viên lần lượt xếp hàng hai bên hông khán đài. Khi được xướng danh, từng người bước lên sân khấu, bắt tay hiệu trường, giáo sư trưởng khoa, và một vài giáo chức khác, rồi nhận tấm giấy cuốn tròn, tượng trưng cho bằng tốt nghiệp (bằng tốt nghiệp chính thức sẽ được gởi về nhà sau). Tuấn mở tập sách nhỏ được phát cho mọi người dự lễ, trong sách này có in chương trình lễ và danh sách các sinh viên được xướng danh theo thứ tự. Vừa nghe xướng danh, vừa rà danh sách để xem khi nào đến lượt Vũ.

Khi đến lượt Vũ bước lên khán đài, Tuấn giơ máy ảnh lên chụp. Chụp cho có lệ, chứ ở khoảng cách xa như vậy, khi lên hình khó nhận ra mặt mũi ai. Nhà trường có thuê một công ty chụp hình, có các thợ đứng gần sân khấu chụp từng người. Mỗi sinh viên khi nhận bằng chính thức sẽ được nhận kèm một tấm hình lúc đứng trên khán đài.

Sau khi tất cả các sinh viên đã được xướng danh, một giáo chức lên đọc bài diễn văn bế mạc. Sau bài diễn văn, vị hiệu trưởng long trọng tuyên bố: các sinh viên giờ có thể gạt cái tua trên mũ từ bên phải qua bên trái. Đây là nghi thức đánh dấu giây phút các sinh viên đã chính thức tốt nghiệp.

Màn cuối cùng, cũng là màn vui nhất, là các sinh viên cởi mũ tung lên trời. Tiếng reo hò, vỗ tay vang dậy. Tung mũ xong, mạnh ai nấy chạy đi tìm nhặt lại, nhiều người lẫn lộn mũ của nhau, không khí vui nhộn. Rồi nhạc nổi lên, đoàn sinh viên lần lượt rời ghế, xếp hàng đi ngược hướng lúc nãy. Khi các sinh viên đã rời khu vực hành lễ, mọi người đứng dậy, đi tìm con em của mình.

Sau ngày 30 tháng 4, Tuấn hạn chế ra đường, chỉ ở nhà với Ngọc. Mở TV lên coi thấy cảnh bộ đội được dân chúng Sài Gòn chào đón với những bó hoa và khuôn mặt hớn hở, Tuấn biết đó là những cảnh được dàn dựng. Nhưng Tuấn không quan tâm mấy đến điều này, điều Tuấn quan tâm là: chính quyền mới sẽ đối xử ra sao với những quân nhân như Tuấn?

Mấy tuần sau, có thông báo của chính quyền mới tuyên bố khoan hồng cho những quân nhân của chế độ “ngụy quyền”—danh từ họ dùng để gọi chế độ cũ. Họ kêu gọi những binh lính và sĩ quan cấp thấp ra trình diện để được “học tập cải tạo tư tưởng”. Một số người ra trình diện, nhiều người lo sợ vẫn trốn tránh. Những người này được tập trung học tập trong vài ngày rồi ra về. Sau đó, chính quyền lại kêu gọi những người chưa được học tập phải ra trình diện. Lần này số người ra trình diện đông hơn, cũng được học tập rồi về. Đến giữa tháng Sáu, có lệnh tất cả các sĩ quan từ cấp úy trở lên đều phải trình diện và đem theo vật dụng “đủ dùng trong 10 ngày”. Tuấn ra trình diện. Đúng lúc đó, Ngọc có dấu hiệu mang thai.

Lần này, số người ra trình diện rất đông, vì ai cũng nghĩ, đi học tập 10 ngày thì không có gì phải trốn tránh. Nhưng có ai ngờ đâu, đó là một cái bẫy. Chính quyền chỉ dặn đem đồ đủ dùng 10 ngày, chứ không hề nói là đi học tập 10 ngày. Hàng trăm ngàn người bị lùa vào các trại tập trung, vài tháng sau chuyển ra Bắc trong nhiều đợt. Những người tù cải tạo bị lùa xuống tàu, nhốt dưới hầm như nhốt súc vật, một số người chết ngộp trong hầm. Đến Hải Phòng, họ bị nhét vào các toa xe lửa, loại toa không có ghế ngồi thường dùng để chở hàng hóa hay súc vật, tiếp tục di chuyển. Đích đến là vùng đồi núi Hoàng Liên Sơn lạnh lẽo heo hút.

Ấn tượng đầu tiên của Tuấn khi đặt chân lên miền Bắc là quang cảnh khốn khó, nghèo nàn, không như miền Nam trù phú, sung túc. Tuấn chợt thấy một cảm giác chua xót. Xưa nay trong lịch sử, người giàu có sung túc mới đi giải phóng kẻ nghèo khổ, chứ có bao giờ kẻ nghèo khổ lại đi “giải phóng” người giàu có bao giờ. Càng nghĩ, Tuấn càng cảm thấy buồn, điều đó có nghĩa là miền Nam rồi đây cũng sẽ rơi vào cảnh nghèo khổ như miền Bắc.

Khi tới phà Ô Lâu để qua Yên Bái thì mọi người xuống tàu để qua phà. Một đám đông dân chúng đứng chờ sẵn. Họ ném đá vào đoàn người tù và chửi bới: “Quân Mỹ-Ngụy ăn thịt người.” Tuy không ai bị thương nhưng sự việc này gây tác động tâm lý rất nặng cho đoàn tù. Về sau khi vào các trại cải tạo, nói chuyện với nhiều người, Tuấn mới biết hầu như ai cũng trải qua cảnh đó. Trong những lần hiếm hoi tiếp xúc với người dân miền Bắc, Tuấn được biết rằng người miền Bắc luôn được tuyên truyền rằng người miền Nam sống khổ cực dưới sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy, rằng quân Mỹ-Ngụy tàn ác lắm, ăn cả thịt người. Tuấn đoán rằng đó nguyên nhân của các cuộc ném đá. Tuy nhiên, sự việc này xảy ra cho hầu hết những chuyến xe chở tù cải tạo khiến Tuấn không thể cho đó là sự ngẫu nhiên, mà chắc nó phải có sự sắp đặt của chính quyền. Đây có lẽ là một cách để phủ đầu bọn tù cải tạo, cho họ biết rằng từ đây họ chỉ là những tên tội phạm, và đã là tội phạm thì không được đối xử như con người.

Những năm tháng tù đày trong các trại cải tạo trên vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, ăn uống thiếu thốn, lao động cực nhọc. Hàng ngày bọn Tuấn phải đi làm các công việc đồng áng hoặc lên rừng chặt cây, tối về bị nhốt vào các căn nhà trại chật chội, hôi thối. Mặc dù làm việc đồng áng quanh năm, nhưng hoa màu thu hoạch được phần lớn chở đi đâu hết, người tù chỉ ăn toàn khoai sắn, chỉ những ngày lễ, tết mới được ăn cơm, cái đói luôn dày vò. Nhiều người tự “cải thiện” bẳng cách dấu diếm những củ khoai, củ sắn hoặc ếch, nhái, rắn bắt được trong lúc đi lao động để đem vể trại lén nấu ăn. Nhưng khi về trại bị khám xét, nếu bị bắt được thì họ sẽ bị cán bộ đánh bằng báng súng. Trong trại hầu như không có thuốc men gì. Ai bị bệnh chỉ được phát cho một loại thuốc duy nhất: xuyên tâm liên. Ngoại trừ những người bị bệnh nằm liệt không đi được, ai bệnh mà còn đi được thì vẫn phải đi lao động. Nhiều người tù đã gục ngã, bỏ xác nơi vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn. Thỉnh thoảng có người trốn trại, nếu bị bắt lại thì hoặc là bị xử tử, hoặc là bị đánh bằng báng súng đến ngất xỉu rồi bị giam vào hầm đá.

Trong những năm tháng đen tối đó, tình yêu của của Ngọc là nguồn động lực giúp Tuấn vượt qua tất cả. Những lá thư, những gói quà của Ngọc chắt chiu gởi từ miền Nam ra, là minh chứng cho lòng chung thủy và tình yêu của nàng. Ngọc đã hạ sinh Lan, đứa con gái mà Tuấn chưa hề được gặp mặt. Sau bốn năm ở trong trại, một ngày nọ Tuấn được thông báo: có người ra thăm nuôi. Tuấn đoán ngay đó là Ngọc.

Tuấn và Lan rời ghế, đi tìm Vũ. Đang loanh quanh giữa đám đông thì có người vỗ vai, Tuấn quay lại nhìn thì thấy Hiệp, một người bạn lớn tuổi hơn Tuấn. Anh ta hỏi: “Con mày học ở đây à?” Tuấn gật đầu: “Ừ, hôm nay cháu nó tốt nghiệp. Còn anh, cũng có con học ở đây à?” Hiệp lắc đầu: “Không, hôm tay tao đi vì đứa cháu.”

Hiệp và Tuấn quen nhau trong trại cải tạo. Câu chuyện của Hiệp cũng khá ly kỳ. Hiệp là sĩ quan hải quân. Vào những ngày Sài Gòn đang hấp hối, Hiệp đang ở trên chiến hạm gần đảo Phú Quốc. Khi nghe tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, người hạm trưởng ra lệnh cho tàu chạy thẳng ra phía Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Hải quân Hoa Kỳ đã hướng dẫn tàu đi đến đảo Guam, nơi có căn cứ quân sự của Hoa Kỳ. Trên đảo lúc này có hàng trăm ngàn người Việt đã được di tản đến đây. Trong những tháng kế tiếp, phần lớn những người này đã được đưa vào Hoa Kỳ định cư, duy còn lại hơn một ngàn người không chịu đi mà muốn quay lại Việt Nam, trong số đó có Hiệp. Mặc cho các đồng hương và các sĩ quan Hoa Kỳ cố gắng thuyết phục, những người này nhất quyết quay về. Nhiều người trong số họ đã ra đi bất đắc dĩ, như trường hợp của Hiệp, vợ con của họ còn bị kẹt lại ở Việt Nam nên họ muốn quay về, bất kể số phận sẽ ra sao.

Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã phải đứng ra dàn xếp cho chuyến hồi hương này. Họ liên lạc với chính quyền Cộng Sản Việt Nam nhưng không nhận được câu trả lời dứt khoát, trong khi đó những người muốn hồi hương thì biểu tình, tuyệt thực, đòi về gấp. Cuối cùng hải quân Hoa Kỳ phải sắp xếp cho họ quay về trên chiếc tàu Việt Nam Thương Tín. Đây là chiếc tàu sắt vận tải lớn đã chở hơn 600 người Việt di tản vào ngày 30 tháng Tư từ Sài Gòn đến đảo Guam. Tàu được sữa chữa và trang bị các tiện nghi đầy đủ cho đoàn người hồi hương. Tàu cũng được cung cấp lương thực và nhiên liệu dư thừa, để trong trường hợp những người hồi hương đổi ý thì họ có thể quay trở lại Guam. Trung Tá Hải Quân Trần Đình Trụ được chỉ định làm thuyền trưởng. Tàu rời Guam ngày 16 tháng 10, 1975, đem theo hơn 1600 người, trong đó có nhiều sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa.

Lần đầu tiên gặp lại Ngọc sau 4 năm xa cách, Tuấn cố giữ vẻ mặt bình tĩnh. Chàng không muốn Ngọc lo nghĩ nhiều về mình. Khi đối diện với Ngọc, Tuấn không kềm được nỗi niềm thương xót. Ngọc vẫn đẹp như xưa, nhưng nhan sắc giờ phảng phất một màn sương u tối. Mái tóc dài giờ đã cắt ngắn, môi như cánh hồng phai, mắt đượm vẻ buồn. Phần Tuấn, chàng trai trẻ lính chiến dạn dày sương gió xưa kia giờ là một tên tù gầy gò, má hóp, mắt trũng sâu, da thâm đen. Cũng như lần gặp gỡ trước ở Đà Nẵng, tay trong tay, bốn mắt nhìn nhau, nhưng lần này trong lòng hai người là những cơn bão, nước mắt muốn tràn mi nhưng bị kềm giữ. Trước những đôi mắt dò xét của các cán bộ trại, Tuấn không muốn bộc lộ cảm xúc của mình.

Cuộc gặp gỡ diễn ra vài giờ trong phòng thăm nuôi, có sự hiện diện của cán bộ. Hai người chỉ thầm thì trao đổi, không dám nói những điều nhạy cảm, cấm kỵ. Ngọc chỉ đi một mình vì hai con còn nhỏ. Khi chia tay, Tuấn nói với Ngọc: “Em ra thăm anh lần này là đủ rồi, không cần đi thăm nữa đâu. Em cứ ở nhà lo cho con là anh vui rồi.”

Năm 1981, Tuấn được thả về sau 6 năm bị giam giữ.

Ngày đoàn tụ gia đình, lòng Tuấn vui buồn lẫn lộn. Vui vì được về với gia đình, buồn vì thời thế đổi thay. Tuấn giờ đây thành một tên “ngụy” bị chính quyền mới coi như một công dân hạng bét. Không những vậy, các con của Tuấn, cũng như con cái của hàng triệu quân nhân của chế độ cũ, bị đối xử phân biệt. Cái lý lịch “gia đình ngụy” không bao giờ gột rửa được.

Tuấn đã từng đọc lịch sử Hoa Kỳ, biết rằng sau năm 1865, khi cuộc nội chiến Nam-Bắc chấm dứt, chính quyền Hoa Kỳ đã áp dụng chính sách hòa giải dân tộc. Không có những trại tù cải tạo, không phân biệt đối xử với gia đình, con cái những người trong quân đội miền Nam, không có những từ ngữ khinh miệt, gọi chế độ cũ là “ngụy”. Chỉ trong vòng một thập niên, nước Mỹ gần như xóa bỏ mọi vết tích chiến tranh, dân tộc đoàn kết, đất nước phát triển.

Điều làm Tuấn lo sợ hơn hết là các thế hệ thanh thiếu niên bị nhồi nhét vào đầu những điều dối trá, sai lệch về chế độ cũ, về những gì cha anh họ đã chiến đấu để bảo vệ. Tuấn đã được xem phim “Mùa Gió Chướng”, một cuốn phim được sản xuất sau năm 1975. Cuốn phim này hoàn toàn xuyên tạc hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa và chế độ miền Nam cũ. Trong phim còn có cảnh một cán bộ nằm vùng Cộng Sản bị chính quyền miền Nam bắt và chôn sống, một điều không hề xảy ra trong chế độ cũ. Đối với Tuấn, con đường duy nhất mà Tuấn phải chọn lựa cho cá nhân và gia đình là vượt biên, thoát khỏi chế độ này.

Khi chiếc tàu Việt Nam Thương Tín về đến Vũng Tàu thì nó không được cập bến mà phải neo đậu ngoài khơi. Hôm sau, chính quyền ra lệnh cho tàu hướng về phía Nha Trang. Khi cập bến ở Nha Trang, tất cả mọi người sau khi bị khám xét và tịch thu gần hết đồ đạt, bị đưa thẳng vào nơi giam giữ. Sau đó họ bị thẩm vấn liên tục trong nhiều tháng. Nhiều người đã hối hận vì quyết định sai lầm của mình. Vài tháng sau họ được phân chia ra từng nhóm. Một số phụ nữ và trẻ em được thả về, một số bị đưa vào các trại giam. Khoảng một phần ba trong số họ là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, số này đã bị đưa vào các trại cải tạo. Đa số bị giam từ 5 đến 10 năm. Trung Tá Trần Đình Trụ bị giam 13 năm. Hiệp bị giam cùng trại với Tuấn.

Có lần Tuấn hỏi Hiệp: “Anh đã tới đảo Guam rồi, sao không đi Mỹ phứt đi, nghĩ sao mà lại đòi quay về?” Hiệp trầm ngâm nói: “Lúc đó vợ con tao còn ở Việt Nam, không biết sống chết ra sao, tao không nỡ bỏ đi. Vả lại tao nghĩ, cùng là người Việt với nhau, hết chiến tranh rồi, còn gì nữa mà thù hận nhau. Tao có ngờ đâu là có những trại cải tạo như vầy.” Tuấn vỗ vai Hiệp, nói: “Không phải chỉ có mình anh, mà có cả triệu người đã lầm.”

Phong trào vượt biên lúc đó đang rầm rộ ở miền Nam. Ai có tiền bạc, phương tiện đều tìm cách ra đi. Tuấn không có tiền để đi, chàng đang cố nghĩ cách thì nhận được tin Hiệp được ra trại. Là cựu sĩ quan hải quân, những người như Hiệp thường được các nhóm tổ chức vượt biên cho đi miễn phí vì họ cần người có kinh nghiệm đi biển để hướng dẫn tàu. Tuấn rủ Hiệp, cùng liên lạc với một nhóm tổ chức. Tuấn phải liên lạc, móc nối với những người muốn đi, chịu đóng góp vàng cho đủ số lượng yêu cầu. Hè năm 1982, Tuấn và Ngọc dắt hai con xuống tàu vượt biên cùng với gia đình Hiệp. Hiệp được chỉ định làm thuyền trưởng.

Tàu chở gẩn trăm người, đi từ Bến Tre, xuôi dòng ra cửa biển, chạy thẳng ra hài phận quốc tế rồi nhắm hướng Nam. Mục tiêu của tàu là đến Indonesia hay Malaysia. Nếu không có gì trở ngại thì khoảng 2-3 ngày sẽ đến nơi. Nhưng chạy được hơn một ngày đêm thì tàu chết máy, lênh đênh giữa đại dương.

Trong mấy ngày lênh đênh đó, thỉnh thoảng có những chiếc tàu hàng khổng lồ chạy xa xa. Bọn Tuấn ra sức vẫy, đốt lửa báo hiệu, nhưng họ vẫn chạy thẳng. Có thể họ không thấy, hoặc cũng có thể họ biết là tàu vượt biên nên lờ đi vì không muốn cưu mang. Sang đến ngày thứ ba, một chiếc tàu đánh cá giương cờ Thái Lan chạy tới. Mọi người trên tàu hồi hộp, không biết lành dữ ra sao. Ai cũng đã từng nghe kể những câu chuyện người vượt biên bị tàu đánh cá Thái Lan cướp, hãm hiếp và giết chết. Ngược lại, cũng có những người may mắn được tàu Thái Lan giúp đỡ.

Chiếc tàu Thái lượn một vòng như dò xét. Trên tàu lô nhô những thanh niên cởi trần, da ngăm đen, đầu quấn khăn rẳn, miệng cười nham nhở. Một số tên cầm mã tấu, một tên cầm súng trường. Mọi người bắt đầu lo sợ. Phụ nữ vội vã trốn xuống hầm tàu, họ lấy dầu máy bôi vào mặt cho dơ dáy, xấu xí đi. Chiếc tàu Thái cặp sát, một nhóm người nhày sang, lăm lăm mã tấu và súng. Chúng ra hiệu cho đàn ông đứng sang một phía, trẻ em và phụ nữ một phía, rồi bắt đầu lục soát tìm vàng bạc. Sau khi thu gom được một số vàng, chúng lôi gần chục người phu nữ sang tàu chúng, trong số đó có Ngọc.

Trò chuyện với Hiệp vài câu, rồi Tuấn và Lan lại đi tìm Vũ. Thấy Vũ đứng túm tụm với đám bạn để chụp hình, Lan bước tới, trao bó hoa cho Vũ, rồi mấy cha con cùng chụp hình. Nhìn Vũ hân hoan vui sướng, Tuấn thấy lòng mình cũng vui lây. Mười lăm năm từ ngày đặt chân tới Mỹ, Tuấn đã trông đợi giây phút này. Bao nhiêu tháng năm vất vả làm lụng nuôi con, hôm nay là ngày Tuấn mãn nguyện nhất.

Đám bạn của Tuấn rủ nhau ra bars liên hoan. Thấy Vũ ngần ngừ, Tuấn hiểu ý, nói: “Con cứ đi chơi với bạn. Tối nay gia đình mình sẽ cùng chung vui với nhau sau.” Vũ cúi đầu nói: “Dạ con cám ơn ba.”

Tuấn nhìn bó hoa Vũ đang ôm trên tay, rồi chợt nói: “Cho ba rút một cành nhe!” Vũ chưa kịp trả lời thì Tuấn nói luôn: “Mẹ rất thích hoa Thạch Thảo, ba muốn dành một cành cho mẹ.” Vũ nhìn Tuấn, im lặng không nói gì. Tuấn nhẹ rút một cành hoa, rồi vỗ vai Vũ: “Thôi con đi chơi với bạn đi, chiều gặp lại.” Tuấn quay qua bảo Lan: “Con đi với anh cho vui đi. Ba về trước.” Lan dạ.

Tuấn đứng nhìn Ngọc bị lôi kéo kêu khóc mà đành bất lực. Mấy ngày lênh đênh trên biển, đói khát, say sóng, bao nhiêu sức lực tiêu hao hết. Trong tay lại không một tấc sắt, không thể chống lại bọn cầm mã tấu, súng trường. Một người đàn ông nóng lòng vì vợ mình bị lôi đi, xông lại giằng co, bị chúng chém một mã tấu gục tại chỗ.

Lôi các phụ nữ sang tàu mình xong, chúng rời xa một khoàng, neo lại, rồi bắt đầu giở trò thú tính. Tiếng kêu khóc, gào thét của những người phụ nữ làm mọi người trên tàu xé lòng. Độ vài giờ sau, lại có thêm mấy chiếc tàu Thái kéo đến nữa. Chúng dùng máy vô tuyến liên lạc để thông báo cho nhau. Những tên mới đến lại tiếp tục giở trò đồi bại. Tuấn ngồi gục đầu, ôm hai con, cố tìm cách bưng tai để không nghe những tiếng kêu khóc rền rĩ, nhưng không tài nào thoát được. Lòng Tuấn tan nát như mảnh giấy bị dao đâm rách toang.

Sau một ngày đêm, chúng ném trả những người phụ nữ sang tàu lại rồi bỏ đi. Trước khi đi chúng còn dùng tàu húc vào chiếc tàu vượt biên khốn khổ mấy lần, ý như muốn đánh chìm, nhưng may mắn tàu chỉ bị sứt mẻ một bên.

Ngọc nằm mê man trong tay Tuấn, thân xác rã rời, tan nát.

Chia tay hai con xong, Tuấn lững thững đi về hướng bãi đậu xe. Chợt Tuấn đổi ý, thay vì đi thẳng ra xe, lại đi lòng vòng, thơ thẩn dạo trong khuôn viên trường. Nhìn những tòa nhà đẹp đẽ uy nghi, Tuấn chạnh nhớ lại ước mơ thởi trẻ của mình. Hồi còn đi học, Tuấn ước ao sẽ được bước chân vào trường đại học, được ngồi trong giảng đường nghe các giáo sư giảng những kiến thức cao xa. Nhưng giấc mơ đó không bao giờ thành. Chiến tranh đã làm tan biến bao nhiêu ước vọng của cả một thế hệ thanh niên thời đó. Tuấn cũng như bao nhiêu người lúc đó, đã mong ước một ngày hòa bình, một ngày quê hương không còn tiếng súng. Rồi ngày hòa bình đó cũng tới. Nó tới một cách bất ngờ, hụt hẫng, không như cách người ta mong đợi. Thay vì hạnh phúc, hòa hợp,  nó đem lại bao điều cay đắng, chia rẽ.

Tuấn lái xe theo đường cũ quay về. Thoát khỏi cao tốc, Tuấn không về nhà mà chạy thẳng ra hướng biển. Tuấn theo đường Magnolia về hướng nam, chạy chửng 15 phút là tới biển. Tìm chỗ đậu xe xong, Tuấn cầm cành hoa, băng qua bãi cát trắng, rồi thong thả đi bộ dọc bờ biển.

Biển hôm nay trong xanh hiền hòa, sóng rì rầm. Tuấn tìm một đụn cát, ngồi xuống, nhìn ra xa xăm. Bên kia bờ đại dương là quê hương, nơi Tuấn và Ngọc đã rời bỏ để đi tìm tự do. Ngọc đã không đến được bờ bến nơi nàng mong muốn. Nàng đã nằm lại dưới lòng đại dương. Khi chiếc tàu hàng của Hoa Kỳ phát hiện ra tàu của Tuấn và ra tay cứu vớt thì Ngọc đã tắt thở. Nàng không chịu đựng được nỗi đau thân xác và sự ô nhục. Nàng và người đàn ông bị chém chết đã được thủy táng.

Đôi khi Tuấn tự hỏi lòng, nếu ngày đó Tuấn không dẫn gia đình đi vượt biên, chấp nhận ở lại sống với chế độ mới, thì sẽ ra sao? Ngọc sẽ sống, sẽ vẫn còn bên Tuấn. Nhưng đổi lại, các con Tuấn sẽ bị nhổi nhét những điều dối trá, sẽ học những bài học lịch sử bị bóp méo, xuyên tạc. Chúng sẽ hiểu sai lạc về chế độ miền Nam cũ, chế độ mà cha anh của chúng đã chiến đấu, hy sinh để bảo vệ, nhưng thất bại. Chúng sẽ luôn bị đối xử như những công dân hạng bét. Cái lý lịch con cái “ngụy” sẽ không bao giờ được bỏ qua. Thời phong kiến có luật tru di tam tộc, một người phạm tội cả ba họ bị hành hình. Dưới chế độ mới, dù không bị hành hình nhưng cái lý lịch ba đời nó đeo bám người ta suốt đời. Cái chết của Ngọc là cái giá phải trả để đánh đổi cho tương lai các con. Nếu không ra đi, các con Tuấn đã không có ngày hôm nay.

Tuấn đến sát mé nước, ngắt từng cánh hoa ném xuống biển. Hoa bập bềnh theo sóng trôi đi. Không biết những cánh hoa này có trôi được ra đại dương, về phía bờ bên kia, đến nơi Ngọc đang nằm lại không. Ngọc rất yêu hoa Thạch Thảo, những cánh hoa màu tím, giống như màu trời lúc hoàng hôn. Tuấn chợt nhớ bài hát “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy, bài hát có nhắc đến hoa Thạch Thảo:

Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!
…
Em nhớ cho,
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này
Từ nay mãi mãi không thấy nhau
…
Em nhớ cho, rằng ta vẫn chờ em
Vẫn chờ em, vẫn chờ em…

Tuấn cởi giày, lội xuống nước, vung tay ném cành hoa ra xa. Cành hoa dập dềnh một lát rồi trôi đi. Sóng biển mơn man dưới chân. Tuấn hơi cúi người, thì thầm với sóng: “Anh và em không còn thấy nhau trên cõi đời này nữa, nhưng anh vẫn chờ em. Anh chờ gặp lại em ở thế giới bên kia.”

(Hết)

***

Viết tặng những ai đã từng trải qua hành trình tìm tự do.
Xin thắp nén hương lòng cho những người đã nằm lại dưới lòng đại dương.
(Bản thân người viết cũng có người thân nằm lại.)

Tháng Tư, 2023
Vương Hoàng Minh

(blogger Người Vá Trời)

 

Những gã khổng lồ Công Nghệ Tin Học của Ấn Độ chuẩn bị cho sự suy giảm mạnh sau đại dịch

Theo Nikkei Châu Á

SAYAN CHAKRABORTY, Biên tập viên

Dịch vụ Tư vấn Tata cho biết nhu cầu của Hoa Kỳ trong năm nay đã giảm so với kỳ vọng khi khách hàng cắt giảm chi tiêu tùy ý. © Getty Images

BENGALURU – Các nhà xuất khẩu phần mềm hàng đầu của Ấn Độ đang chuẩn bị đối mặt với tình trạng tăng trưởng giảm mạnh trong năm nay do các khách hàng ở Mỹ, thị trường lớn nhất của họ, cắt giảm chi tiêu cho công nghệ trong bối cảnh kinh tế bất ổn.

Infosys và HCL, lần lượt là công ty công nghệ thông tin lớn thứ hai và thứ ba của Ấn Độ, đã cho biết trong những tuần gần đây rằng tăng trưởng doanh thu sẽ giảm xuống một con số trong năm tài chính kết thúc vào tháng 3 năm 2024 từ mức hai con số trong 12 tháng trước đó.

Tata Consultancy Services, công ty Công nghệ Tin Học lớn nhất Ấn Độ, không cung cấp hướng dẫn về doanh thu nhưng đã vẽ ra một bức tranh ảm đạm tương tự, nói với các nhà phân tích vào tháng trước rằng khách hàng đang cắt giảm chi tiêu cho “các dự án tùy dụng” và “không cốt lõi”.

Giám đốc điều hành Rajesh Gopinathan cho biết: “Mặc dù thị trường Mỹ trong quý 3 (tháng 10 đến tháng 12) có sự suy giảm, nhưng chúng tôi dự đoán rằng [nhu cầu] sẽ tăng đáng kể trong năm mới”. “(Nhưng) trên thực tế, nó đã trở nên ngày càng tiêu cực hơn.”

Trong quý gần đây nhất, Bắc Mỹ chiếm 52,4% doanh thu tại TCS, 61% tại Infosys và khoảng 63% tại HCL.

Sự chậm lại diễn ra sau sự bùng nổ trong đại dịch COVID-19 khi TCS, Infosys và HCL được hưởng lợi từ nhu cầu gia tăng từ các công ty đang đẩy nhanh kế hoạch số hóa hoạt động của họ.

Tuy nhiên, chi tiêu của khách hàng đã giảm trong những tháng gần đây do lãi suất cao hơn ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế và góp phần vào sự sụp đổ của Ngân hàng Thung lũng Silicon ở Mỹ và việc bán Credit Suisse cho UBS ở Châu Âu.

Các nhà phân tích Kawaljeet Saluja, Sathishkumar S và Vamshi Krishna của Kotak Institutional Equities đã viết vào tháng trước: “Sự chậm lại mạnh hơn dự kiến. “Cuộc khủng hoảng ngân hàng tại các ngân hàng khu vực Hoa Kỳ và ngân hàng châu Âu vào tháng 3 năm 2023 đã gây ra sự thận trọng lớn hơn và có thể ảnh hưởng đến quý 6 năm 2023.”

Infosys dự đoán rằng doanh thu trong năm tài chính 2024 sẽ tăng từ 4% đến 7% tính theo đồng tiền không đổi, giả định tỷ giá hối đoái cố định, giảm từ 15,4% vào năm 2023 và 19,7% vào năm 2022. Trong năm tài chính 2023, tổng doanh thu của công ty là 18,21 tỷ USD.

Vào tháng 1, các quan chức của Infosys đã lạc quan đến mức họ đã nâng dự báo tăng trưởng doanh thu trong năm tài chính 2023 lên từ 16% đến 16,5%. Con số thực tế 15,4% nằm trong khoảng 15% đến 16% mà họ đã dự đoán vào tháng 10.

Giám đốc điều hành Infosys Salil Parekh nói với các phóng viên vào tháng Tư: “Trong quý này, chúng tôi đã chứng kiến ​​một số đợt giảm doanh số đột ngột, không nằm trong kế hoạch và xảy ra ở các lĩnh vực khác nhau. “Chúng tôi đã thấy một số suy giảm trong viễn thông, chúng tôi thấy một số trong công nghệ cao, một số trong bán lẻ và trong các dịch vụ tài chính liên quan đến thế chấp, quản lý tài sản và ngân hàng đầu tư.”

HCL ước tính rằng doanh thu của họ sẽ tăng từ 6% đến 8% trong năm tài chính 2024, sau khi đạt mức tăng 13,7% trong năm tài chính 2023 lên 12,58 tỷ USD.

Các nhà phân tích kỳ vọng TCS sẽ phát triển nhanh hơn Infosys, công ty đã vượt qua đối thủ cạnh tranh lớn hơn trong hai năm qua. Các nhà phân tích của HDFC Securities cho biết TCS sẽ được hưởng lợi từ danh mục đầu tư thuận lợi hơn.

HÃY XEM CÁCH NGƯỜI MỸ KẾT THÚC NỘI CHIẾN

(Nhân ngày 30-4 copy về đọc để suy ngẫm)

Cách đây đúng 150 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã làm hơn 7 trăm ngàn người thiệt mạng. Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này.

Cuộc chiến Nam Bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận đánh đẫm máu giữa quân đội của hai phe: quân miền Bắc do tướng Ulysses Simpson Grant chỉ huy và quân miền Nam do tướng Robert Edward Lee cầm đầu. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.

Đã có những lời khuyên tướng Lee nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích nhưng tướng Lee đã nói: nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần. Ông đã nhắn cho tướng Grant là ông chuẩn bị đầu hàng. Tướng Grant nhắn lại, đề nghị tướng Lee chọn địa điểm bàn thảo việc qui hàng. Và căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn. Ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House.

Đến ngày hẹn, tướng Lee bận một bộ lễ phục mới tinh và đeo kiếm, còn tướng Grant xuất hiện muộn hơn trong bộ đồ tác chiến thường ngày còn dính bùn đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico. Câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:

  1. Không bị coi là phản quốc và không phải ở tù.
  2. Chính phủ coi binh lính miền Nam là những công dân bình thường nếu họ chấp hành tốt luật lệ.
  3. Được mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình cày cấy vào mùa xuân.

Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta.” Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích cho binh lính miền Nam.

Khi tin phe miền Nam đầu hàng bay đến doanh trại, quân miền Bắc định bắn đại pháo chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay lập tức các hoạt động ăn mừng. Ông nói với các sĩ quan dưới quyền: “Chiến tranh đã kết thúc. Giờ đây họ đã là đồng bào của chúng ta”. Ông cho rằng hai bên không còn là kẻ thù, và cách tốt đẹp nhất để bày tỏ niềm vui của miền Bắc là không vui mừng trước thất bại của miền Nam.

Reconciliation at the 75th Anniversary of Gettysburg Then and Now ...

Ngày 12 tháng 4 năm 1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí. Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta.”

Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm… Một sự im lặng đến nghẹt thở.

Xem thêm chi tiết – http://cuucshuehn.net/…/Xem-cach-nguoi-My-ket-thuc-cuoc…

Tướng Ulysses Simpson Grant – Tướng Robert Edward Lee

MỘT NGÀY LỊCH SỬ (30/4)

Xuyên Sơn

MỘT NGÀY LỊCH SỬ.

 

Hôm nay (30/4) là một ngày lịch sử.

Bốn mươi sáu năm trước đúng vào ngày này, chánh thể VNCH sụp đổ,

và thay vào đó là một thể chế mới mà hậu quả còn kéo dài cho đến ngày hôm nay.

Nhiều khi tôi tự hỏi:

nếu không có ngày 30/4/1975 thì tôi và nhà tôi đã ra sao?

Khó đoán ngược lịch sử ở bình diện lớn, nhưng ở cấp độ gia đình thì đoán được.

  • Không phải là ‘Ngày giải phóng’ Tôi chắc rằng nếu không có ngày định mệnh đó, ba má tôi đã mua thêm 1-2 chiếc máy cày để bổ sung cho 2 chiếc đang phục vụ cho cả làng.

Ba má tôi cũng có thể có thêm vài chục, thậm chí cả trăm công đất để canh tác.

Nói chung là gia đình làm ăn khấm khá.

Anh Hai tôi chắc chắn đã không vượt biển để rồi mất tích cùng 20 người khác trên Biển Đông.

Anh Hai sẽ vẫn là ‘star’ của cả dòng họ vì học giỏi, đẹp trai và là kỹ sư tài ba.

Cả dòng họ ai cũng tự hào vì ảnh.

Tôi và ông anh cùng nhỏ em gái chắc chắn cũng sẽ không ở Úc như ngày hôm nay.

Tôi sẽ tốt nghiệp và có công ăn việc làm khá giả ở trong nước, tuy không phải là star như anh Hai, nhưng không đến nỗi phải đi lột củ hành ở Sydney.

Anh tôi sẽ thay thế ba tôi điều hành cái business gia đình, và sẽ cùng với mấy người anh họ mở rộng business.

Mấy người em gái tôi tốt nghiệp trung hay đại học và có thể phụ giúp điều hành cái ‘business’ của gia đình.

Tụi nó có thể sẽ dọn ra Rạch Giá hay lên Sài Gòn.

Thế nhưng ngày 30/4/75 đã đến.

Theo sau đó là biết bao nhiêu đổi thay. Ba má tôi bị nhà nước lấy hết ruộng đất, chỉ để lại chừng 20 công đủ sống.

Máy cày thì bị tịch thu, và mất luôn.

Cả nhà lâm vào cảnh khốn khó chỉ sau 1-2 năm với chế độ mới.

Tuy không đến nỗi ăn bo bo như nhiều gia đình khác, nhưng kinh tế gia đình suy sụp thấy rõ.

Anh Hai tôi vượt biển và mất tích, làm cho Má tôi suy sụp một thời gian. Tôi và anh em cũng vượt biên nhưng may mắn sống sót.

Tụi tôi ở nước ngoài phải ‘chi viện’ mỗi tháng cho gia đình bên VN,

 

vì lúc đó ba má tôi không còn business nữa và ruộng thì chỉ làm đủ sống.

Từ một gia đình sung túc bổng trở thành nghèo khó chỉ trong vòng 2 năm gì đó.

Do đó, đối với nhà tôi thì ngày 30/4 không phải là ngày giải phóng.

Đó là ngày mà cả kinh tế gia đình bị suy thoái đến mức khốn khó.

Mà, không phải chỉ gia đình tôi đâu, nhìn chung quanh ai cũng vậy.

100% đều bị lâm vào cảnh khốn khó. 100%.

Thành ra, gọi là ngày giải phóng không chỉ là áp đặt, ngạo mạn,

mà còn rất bậy bạ.

  • Nhìn ‘bức tranh lớn’ Có thể nói rằng chế độ mới đã kéo lùi sự tiến bộ của Việt Nam (hay nói đúng hơn là miền Nam Việt Nam) cả nửa thế kỷ.

Phải đi vòng quanh các nước như Singapore, Thái Lan, và Mã Lai mới thấy Việt Nam mình nghèo và lạc hậu ra sao.

Sau 30/4/1975, Chính Quyền VNCH Để Lại Nhiều Vàng Và USD, Tại Sao Nước ...

Ngay cả hôm nay, Việt Nam tuy có khá hơn chút, nhưng nhìn kỹ thì không khá chút nào đâu vì kinh tế lệ thuộc vào vài ba tập đoàn nước ngoài, và chúng ta đa phần chỉ là những kẻ gia công lương thấp mà thôi.

Chỉ một công ty Samsung mà đã chiếm 28% tổng GDP quốc gia!

Nếu công ty này (và cả Formosa) hắt hơi thì chắc kinh tế Việt Nam sẽ bị cảm lạnh.

Trong nửa thế kỷ đó, người hưởng lợi nhiều nhứt là các đồng hương miền Bắc và người bị hại nhiều nhứt là người miền Nam.

Từ đó gây ra một sự chia rẽ mà thể chế mới không chịu ghi nhận.

Ngay từ những ngày sau 1975, người miền Nam đã bị đối xử như công dân hạng hai trên quê hương mình, và theo thời gian tình hình tạo ra một lợi thế cho bên gọi là ‘thắng cuộc’.

Ông Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng trước 1975.

Ông là người gốc Hà Nội nhưng từng ở Long Xuyên trong một thời gian dài, nơi ông soạn nhiều quyển sách có giá trị.

Ông tự nhận là người “có cảm tình với ‘cách mạng'”.

Nhưng sau 1975 thì ông vỡ mộng, và có viết hồi ký.

Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi ký viết về những gì xảy ra sau 1975 [2].

Trong cuốn hồi ký ông ghi lại những thất bại sau 1975.

Đó là sự mất đoàn kết,

phân chia giai cấp,

thiếu kỷ luật,

suy sụp kinh tế.

Ông viết về một xã hội sa đoạ, với tham nhũng tràn lan, ăn cắp,

và buôn lậu, và kỳ thị Bắc – Nam.

Ông tóm tắt về một thời mà có lẽ ngày nay ít ai quan tâm hay biết đến:

  • Sự ngạo mạn của những người ‘thắng cuộc’: những biện pháp nhằm san bằng chế độ cũ để không để lại dấu vết nào cả.

“Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ”.

Nhưng khổ nỗi những nhân viên cũ là những người có học và thực tài,

còn người mới thì vừa dốt, vừa ngạo mạn, nên chẳng làm được gì!

Dot sach

  • Chia rẽ Nam – Bắc: ngay từ thời đó (1980) dấu hiệu chia rẽ Nam – Bắc đã rõ nét.

Ông viết:

“Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến,

cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó,

chẳng những dốt về văn hóa, kỹ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học

– thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau…

Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến.”

  • Ngay cả cùng phe cũng chẳng có đoàn kết:

“Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5;

hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn ‘nằm vùng’ cũng không ưa bọn tập kết về đó.”

  • Khinh miệt:

ông so sánh: “[…] Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ:

nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kỹ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc […]

cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ,

ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên.

Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!”

Cách đây vài năm, một bài báo trên Bloomberg chỉ ra những

‘khoảng cách’ Bắc Nam:

  • Khoảng 70% thành viên nội các chánh phủ là người miền Bắc,

chỉ có 30% là từ miền Nam và Trung;

  • Khoảng 68% (2 phần 3) đảng viên đảng cộng sản Việt Nam là từ Quảng Trị trở ra phía Bắc;
  • 25 tập đoàn kinh tế được đặt tổng hành dinh ở Hà Nội, nhưng họ làm ăn trong Nam.

Ngay cả cái trụ sở uỷ hội sông Cửu Long cũng được đặt ở Hà Nội, cho nên thỉnh thoảng nghe các vị ấy phát biểu người miền Tây chỉ cười ngất.

Do đó, không ngạc nhiên khi những vị trí lãnh đạo các ngành mà người trong nước gọi ‘thơm’ đều do người miền Bắc nắm giữ:

hàng không,

hải quan,

dầu khí, v.v.

Người miền Nam chỉ làm phụ hay được bổ nhiệm cho có ‘hoa lá cành’.

Trớ trêu một điều là những người làm thất thoát cho Nhà nước nhiều nhứt cũng là người Bắc.

Những ai có dịp ra ngoài Bắc sẽ thấy cơ sở hạ tầng (như đường xá) được đầu tư rất tốt.

Từ Ninh Bình đi Hà Nội chỉ mất chừng hơn 1 giờ đồng hồ vì đường xá rất tốt mà ít xe.

Có một tấm hình người dân ngồi nhậu trên xa lộ miền Bắc!

Ngược lại, ở trong Nam thì chỉ có 2 đường cao tốc ngắn mà lúc nào cũng kẹt xe.

Con đường từ Sài Gòn về Kiên Giang chỉ 260 km mà phải mất 6 giờ đường! Thành ra, ở trong nước người dân miền Nam chỉ ra rằng ngoài Bắc thừa đường mà thiếu xe, nhưng trong Nam thì thiếu đường mà thừa xe.

Nhưng ai mà nói ra trên mặt báo là bị phạt vì ‘chia rẽ Bắc Nam’.

Thực tế đã là chia rẽ rồi. Ví dụ như người dân Sài Gòn làm 100 đồng thì chỉ được giữ 18 đồng (con số năm 2017)

thì tiền đâu mà chi cho cơ sở hạ tầng. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1000 km đường cao tốc, nhưng chỉ có chừng 106 km là ở miền Nam.

Giải thích như thế nào về sự khác biệt đó cũng không thể thuyết phục người dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi đóng góp mỗi năm hơn 15 tỉ USD cho xuất khẩu và ngân sách Nhà nước.

Trong bài báo trên Bloomberg, người ta trích dẫn nhận định của một nhà báo kỳ cựu Huy Đức

(tác giả quyển sách ‘Bên thắng cuộc’) rằng:

‘This present regime has never seriously thought of true reconciliation issues, […] They always affirm themselves as the winner of the war and the master of the nation’

(dịch: chế độ này chưa bao giờ nghĩ đến hoà giải dân tộc thật sự […]

Họ luôn tự khẳng định mình là kẻ thắng cuộc trong chiến tranh và là chủ nhân ông của đất nước).

Không thể nào ngồi xuống nói chuyện khi mà một bên vẫn dùng những cách nói và từ ngữ xúc phạm, ngông ngênh, không có thật.

Không thể nào có hoà giải và hoà hợp, khi một bên vẫn còn khuấy sâu một cách thích thú vào nỗi đau của phía bên kia.

Phía bên kia cũng chẳng ai xa lạ, mà chỉ là anh em trong một nhà.

Viết ra những điều này chẳng phải thù oán gì cả, mà chỉ đặt sự thật lịch sử để mọi bên có thể hiểu với nhau.

***

Nhiều người tre trẻ, thậm chí có tuổi ở miền Bắc, hay than phiền rằng những kẻ như tôi hay thế hệ tôi hay nhớ chuyện xưa.

Họ nói rằng người trong nước không ai còn nghĩ chuyện xưa đó nữa.

Sai.

Ở trong nước người ta vẫn ăn mừng ‘chiến thắng’ đó chớ,

vẫn nói về ‘giải phóng miền Nam’ (ôi! mỉa mai làm sao),

vẫn ra rả chửi chánh thể VNCH

(nhưng lại vui vẻ nhận thành tựu của nó).

Tôi nghĩ đó là một kiểu chạy trốn lịch sử.

Nó chẳng khác gì kẻ làm cho nạn nhân đau khổ, lấy nhà người ta, lấy đất của nạn nhân, thậm chí giết chết thân nhân, rồi quay lại vỗ vai dạy nạn nhân rằng ‘hãy quên quá khứ.’

Một sự xúc phạm đến nạn nhân.

Một sự ngạo mạn với lịch sử.

Thật ra ở trong nước có vài thế hệ bị tẩy não lịch sử, nên họ chẳng biết gì về một giai đoạn đầy biến động và tang thương.

Ngay cả nhiều người trong chánh phủ hiện nay (sanh ra sau 1975) cũng chẳng biết gì về một giai đoạn bi thảm mà hàng trăm ngàn người Việt bỏ mạng trên biển, hàng vạn người chết trong các trại tập trung gọi là ‘cải tạo’, hàng triệu người bị đày vào rừng sâu và sống lây lất vì chánh sách

‘vùng kinh tế mới’,

hàng trăm ngàn người bị cướp tài sản và tiền bạc.

Ôi, viết ra những thảm hoạ này thì đòi hỏi cả pho sách, và có lẽ là việc làm của các sử gia trong tương lai.

Những người gây ra những tang thương đó đã qua đời,

nhưng con cháu họ thì ngày nay vẫn còn và đang tận hưởng ‘thành tích’ của cha ông họ.

Họ thường là những người hay nói ra những lời nói nồng nàn nhưng vô nghĩa.

Điều cần thiết nhứt hiện nay là sự thành thật với lịch sử,

là tử tế với người miền Nam,

và trả lại sự công bằng cho miền Nam.

nguồn fb Nguyen Tuan

____

[1] https://www.bloomberg.com/…/vietnam-s-divide-slow…

[2] https://nguyenvantuan.info/…/ngay-30-4-doc-lai-hoi-ki…/

Lễ tưởng niệm Quốc Hận 30-4 tại Thành phố Houston, Tiểu bang Texas

  • Thời gian không làm lu mờ, ngày lễ tưởng niệm Quốc Hận 30-4 tại Houston càng trang trọng và lớn lao hơn với đông đảo quan chức Việt Tỵ Nạn, Mỹ và đồng bào Houston.
  • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston cùng với liên hội Cựu Quân Nhân QLVNCH và các đoàn thể cùng tổ chức vừa đoàn kết vừa nhịp nhàng phối hợp.
  • Chương trình văn nghệ với các bản nhạc yêu nước, yêu quê hương hùng tráng của VNCH

GS Vũ Tường: VNCH chỉ thua về quân sự nhưng “thắng hầu hết” các lĩnh vực khác

Đài Á Châu Tự Do

Có thể thất bại về mặt quân sự, nhưng rõ ràng Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng phe Cộng Sản Bắc Việt trên hầu hết các mặt trận khác, và thất bại về mặt quân sự cuối cùng đó mặc dù vậy, chỉ là một thất bại trên mặt quân sự mà thôi,” nhà nghiên cứu chính trị học, Giáo sư Vũ Tường, Chủ nhiệm Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Oregon của Hoa Kỳ trong dịp này nói với Đài Á Châu Tự Do.

“Qua sự nghiên cứu về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, nghệ thuật v.v…, chúng tôi thấy câu hỏi phải đặt ra là tại sao Việt Nam Cộng Hòa lại chiến thắng về những mặt đó?

Tức là tất cả những mặt đó, Việt Nam Cộng Hòa đều hơn phe cộng sản cả, và di sản của Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại cho đến ngày nay và vẫn đang phát triển, mặc dù sau bao nhiêu năm bị đàn áp, như vậy câu hỏi đã hoàn toàn lật ngược lại.”

#RFAVietnamese #Vietnam #VIetnamCongHoa #VNCH #Saigon

RFA.ORG

GS Vũ Tường: VNCH chỉ thua về quân sự nhưng “thắng hầu hết” các lĩnh vực khác

Di sản của Việt Nam Cộng Hòa mặc dù qua năm thập niên bị đàn áp, vẫn trường tồn và phát triển

 

‘Cú sốc’ giáo dục

Nguyễn Tuấn

Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào ‘tiếp quản’ Sài Gòn lúc đó (1975). Bài này (đăng ngày 30/4/2018) do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.

Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH). Ông kể rằng khi được phân công vào ‘tiếp quản’ nơi đây, ông đã bị sốc. Cú sốc đầu tiên là ông ‘không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như vậy.’

Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội. Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng viên, ông nhận xét rằng:

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn.”

Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam. Ông nói:

“Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi. Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên. Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình

[…]

Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”

Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học, giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:

“Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”

Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ có câu trả lời. Hồi đó, triết lí giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

  • Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lí nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
  • Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
  • Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa có một triết lí giáo dục. Theo tôi, cứ lấy triết lí Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng làm nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.

Ps. Xin giới thiệu bài Hành Khúc Học Sinh của nhạc sĩ Lê Thương. Thời đó, học sinh nào cũng thuộc bài này: