4 dầm cầu cao tốc Bắc-Nam qua tỉnh Nghệ An đang xây bị đổ sập

Báo Nguoi-viet

June 21, 2023

NGHỆ AN, Việt Nam (NV) – Bốn dầm cầu của dự án cao tốc Bắc-Nam đoạn qua tỉnh Nghệ An đang thi công đã bất ngờ đổ sập, báo trong nước loan tin.

Hôm 20 Tháng Sáu, trên mạng xã hội chia sẻ hình ảnh các dầm cầu thuộc “Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020,” đoạn Diễn Châu-Bãi Vọt, tỉnh Nghệ An, đang bắc lên thì có tới hai dầm đổ sập, gãy làm đôi.

Các dầm cầu bị sập tại dự án đoạn Diễn Châu-Bãi Vọt, tỉnh Nghệ An, lan truyền trên mạng những ngày qua. (Hình: HT/VietNamNet)

Theo báo VOV, hình ảnh toàn bộ 4/7 phiến dầm trên nhịp từ trụ T3-T4 nghiêng gãy đổ làm đôi, nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công luận, phần lớn mọi người đều tỏ ra thắc mắc trước phẩm chất thi công của công trình trọng điểm này.

Liên quan đến sự việc, hôm 21 Tháng Sáu, đại diện doanh nghiệp thi công dự án là công ty Cổ Phần Đầu Tư Phúc Thành Hưng cho biết nguyên nhân là do lỗi kỹ thuật trong lúc thi công cẩu, lắp dầm Super T tại cầu Nghi Mỹ, từ sơ suất của công nhân vận hành cần cẩu “thao tác không nhịp nhàng dẫn tới va chạm giữa các phiến dầm đang gác cuối cùng của nhịp T3-T4 với các phiến dầm đã gác.”

Theo đó, khoảng 1 giờ 30 phút hôm 19 Tháng Sáu, trong lúc đang cẩu lắp phiến dầm nối tiếp thì xảy ra va chạm giữa phiến dầm đang cẩu lắp với phiến dầm đã lắp, ở cùng trong nhịp số 4. Từ đó, dẫn đến hiện tượng một số phiến dầm bị nghiêng theo hướng về bên phải của cầu theo hướng tuyến.

Sau khi xảy ra sự việc, các bên đã đánh giá thiệt hại “do sơ suất trong thao tác kỹ thuật của thợ lái máy cẩu, làm hư hại bốn phiến dầm, không có thiệt hại về người và nhà thầu cam kết sẽ chịu mọi chi phí phát sinh.”

“Tại thời điểm xảy ra sự việc, do thời tiết khu vực tỉnh Nghệ An nắng nóng kéo dài với nền nhiệt cao khoảng 40 độ C, công nhân lái máy cẩu và người lao động làm việc ngoài trời với thời gian tương đối dài dẫn đến thiếu tập trung, gây sơ suất trong lúc thao tác cẩu lắp phiến dầm,” đại diện công ty Phúc Thành Hưng giãi bày.

Những dầm cầu cao tốc Bắc-Nam bị gãy đổ. (Hình: HT/VietNamNet)

“Việc xảy ra là sơ suất nằm ngoài mong muốn của nhà thầu. Nhà thầu cam kết tự bỏ kinh phí để khắc phục, đúc lại các phiến dầm đã hỏng (mỗi phiến dầm trị giá khoảng 300 triệu đồng ($12,760),” đại diện Phúc Thành Hưng cho biết thêm.

Đoạn Diễn Châu-Bãi Vọt là một trong ba dự án thuộc dự án xây dựng cao tốc tuyến Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020, có tổng chiều dài khoảng 49 km, đi qua hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, với tổng vốn đầu tư khoảng 11,157 tỷ đồng ($474.5), trong đó có ngân sách nhà nước hơn 6,067 tỷ đồng ($258 triệu), được đầu tư theo phương thức BOT (đối tác công-tư), có thời gian bảo hành trong suốt thời gian thi công và khai thác vận hành là 21 năm. (Tr.N) 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Báo chí cách mạng

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

 

Bác sỹ Tom Dooley qua đời năm 1961. Mãi đến vài chục năm sau, tôi mới biết đến tác phẩm đầu tay của ông (Deliver Us from Evil) do Farrar, Straus & Cudahy xuất bản từ 1956. Đây là một tập bút ký, có hình ảnh minh hoạ đính kèm, về cuộc di cư ồ ạt (vào giữa thế kỷ trước) của hằng triệu người dân Việt. Họ ra đi chỉ với hành trang duy nhất là niềm tin vào tình người, và không khí tự do, ở bên kia vỹ tuyến.

Rồi họ đã được tiếp đón, hoà nhập và sinh sống ra sao nơi miền đất mới? Câu trả lời có thể tìm được – phần nào – qua một tác phẩm khác (Sài Gòn – Chuyện Đời Của Phố) của Phạm Công Luận, do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2013. Xin trích dẫn đôi ba đoạn ngắn:

“Những người trong giới trí thức, nghệ sĩ miền Bắc chuyển vào Sài Gòn ấp ủ bao nhiêu hoài bão để thực hiện ở quê hương mới. Tuy nhiên, dù có nổi tiếng thì họ cũng phải đối diện với bao khó khăn để hòa nhập vào đô thị mà họ sẽ sống lâu dài này. Báo Đời Mới năm 1954 đã làm một chuỗi phóng sự hồi mới vào của các văn nghệ sĩ, có nhiều chuyện cảm động đáng suy gẫm về những gì họ đã gặp.

Nhà văn Thượng Sỹ, một nhà văn nổi danh từ thời tiền chiến mà trong cuốn Bốn mươi năm nói láo, nhà văn Vũ Bằng thường nhắc tới. Gia đình ông vào Sài Gòn định cư chỉ có bốn người, gồm hai vợ chồng, đứa con nhỏ và chị giữ em. Tuy nhẹ gánh gia đình, tên tuổi từng nổi tiếng là nhà phê bình văn chương, cả nhà ông cũng gặp những khó khăn ban đầu…

 Một bữa, ra chợ mua đồ, bà vợ ông gặp một chị không quen, hỏi thăm qua lại thế nào mà chị nói ngay: ‘Thôi, chị cứ theo tôi về nhà ba má tôi. Chị nhận là bạn cũ của tôi, thế nào ông bà cũng cho ở đậu’. Cả nhà lại đến đó ở, một căn nhà lá rộng rãi ở đường Quang Trung, Gò Vấp. Ông bà chủ nhà đã lớn tuổi, còn làm việc được, chuyên nghề đúc ống cống xi măng.

Ông bà nói ngay với khách lạ :‘Thầy cô cứ ở đây với tôi, khỏi phải mua giường chiếu, mùng mền, đồ bếp, tôi có sẵn cả. Tôi để thầy cô dùng chung. Gạo củi, mắm muối, cứ tự nhiên nấu cơm mà ăn!’ Bà chủ còn nói là bà không lấy một xu nhỏ.

Gia đình Thượng Sỹ ở đó, không muốn lạm dụng lòng tốt của ông bà chủ nhà nên bà Thượng Sỹ xin tự lo ăn uống, chỉ ở nhờ thôi. Ông chủ nhà nói lên điều xuất phát từ đáy lòng : ‘Cô Hai chớ nề hà. Con gái tôi nói cho tôi hay thầy Hai làm báo, nên tôi quý thầy lắm. Vì bấy lâu nay đọc báo, tôi thấy các ông nhà báo luôn bênh vực anh em lao động chúng tôi. Tôi có phải nhịn ăn mà giúp thầy cô, tôi cũng vui lòng!”

Sau này, nhà văn Thượng Sỹ nói với tác giả bài tường thuật thượng dẫn : ‘Tôi cứ tưởng sảy nhà ra thất nghiệp… nào ngờ tôi lại hai lần ‘sa’ vào hai cảnh gia đình lao động. Ấy cũng là tôi hái quả của một cây mà các anh vun bón cho tươi tốt…”

“Các anh” trong câu văn thượng dẫn – tất nhiên – là những nhà báo miền Nam, những người mà độc giả dù có phải “nhịn ăn mà giúp” vẫn cảm thấy “vui lòng” vì họ luôn đứng về phía những người cô thế. Miền Bắc cũng không thiếu những người cầm bút với quan niệm tương tự:

Tam Lang viết Tôi Kéo Xe năm 1932, Ngô Tất Tố sáng tác Tắt Đèn năm 1937, Nguyên Hồng xuất bản Bỉ Vỏ năm1938. Tác phẩm Con Trâu của Trần Tiêu đăng từng kỳ trên báo “Ngày Nay” từ số 140 (ra ngày 10/12/1938) trước khi được in thành sách, vào năm 1940.

“Ngày 14-12-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ‘Sắc lệnh về chế độ báo chí’, buộc người dân ra báo phải xin phép, chấm dứt trên miền Bắc thời kỳ ai muốn làm báo chỉ cần đăng ký mà người dân An Nam được hưởng gần một thế kỷ dưới thời thực dân Pháp.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013). Bắt đầu từ đây thì sách báo hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, và những người cầm bút buộc phải đứng cùng phe với những kẻ cầm quyền.

Ngày 21 tháng 1 năm 1960, hai công dân Việt Nam (Nguyễn Hữu Đang và Thụy An) bị kết án 15 năm tù vì tội “phá hoại chính trị” và “làm gián điệp” bởi Toà Án Nhân Dân Hà Nội. Vì đây là một phiên “toà kín” nên không ai biết hai nhân vật này đã “phá hoại chính trị” ra sao, và đã “làm gián điệp” cho “thế lực thù địch” nào – ngoài những người làm báo:

  • Báo Thời Mới(21/01/1960): Năm tên gián điệp phản cách mạng, phá hoại hiện hành cúi đầu nhận tội …Nguyễn Hữu Đang và Thụy An, đầu sỏ chủ mưu, bị phạt giam 15 năm và mất quyền công dân 5 năm sau khi hết hạn giam”.
  • Báo Nhân dân (21/01/1960): Trước tòa án, với những bằng chứng đầy đủ, bọn gián điệp nói trên đã nhận hết tội lỗi của chúng.
  • Báo Thủ đô Hà Nội ( 21/01/1960): Tên Nguyễn Hữu Đang thú nhận: “Báo Nhân văn có tính chất chính trị ngay từ số 1. Mục đích của tờ báo là khích động quần chúng cùng với chúng tôi chống lại lãnh đạo”.
  • Báo Văn học (05/02/1960): Nguyễn Hữu Đang thú nhận: “Tư tưởng của chúng tôi là phản động nên chúng tôi ra tờ báo Nhân văn để chống đối lãnh đạo, kích động quần chúng làm áp lực đấu tranh”. Ngoài báo Nhân văn, Nguyễn Hữu Đang còn dùng nhà xuất bản Minh Đức làm một công cụ để chống cách mạng. Y cung khai:“Tôi đã biến nhà xuất bản Minh Đức thành một công cụ chống lãnh đạo.”

 

Không phải là vô cớ mà nhà văn Võ Thị Hảo kết luận : “Cấm báo chí tư nhân là tội ác.” Sự “ác độc” này được duy trì và nuôi dưỡng xuyên suốt gần hai phần ba thế kỷ qua :

  • Ngày 29/11/2006, T.T. Nguyễn Tấn Dũng ban hành chỉ thị 37/2006 kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức.
  • Ngày 3/4/2019, T.T. Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 362/QĐ quy định báo chí là phương tiện thông tin, quan trọng đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Cái cách mà Đảng và Nhà Nước xử dụng “công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng” từ hơn nửa thế kỷ qua, xem ra, đã trở thành thảm họa :

  • S. Tuấn Khanh: “Cũng cần có lúc, các nhà nghiên cứu về lịch sử nên đặt lại câu hỏi, vì sao ngày 21-6 hàng năm, được gọi là ngày Báo chí Việt Nam, chứ không phải gọi đúng tên là ngày báo chí của đảng Cộng sản Việt Nam?
  • FB Huynh Ngoc Chenh: “Người cộng sản rất tự hào mình là cộng sản tại sao nền báo chí của đảng không mang đúng tên lại phải lấp liếm qua thành báo chí cách mạng?”
  • Nhà báo Phan Anh: “Báo chí nước ta nó đã băng hoại tới mức độ không thể cứu vãn nổi, và nhiều kẻ điều hành nó cũng như những kẻ tham gia đóng góp cho nó đa phần là một lũ vừa ngu dốt vừa vô liêm sỉ đến cùng cực…”

Ông có nói quá chăng?

Câu trả ‘lời’ có thể tìm được qua tiêu đề của dăm/bẩy bản tin, xuất hiện trên “làng báo  cách mạng” vào những ngày tháng gần đây :

Tuổi Trẻ & Thanh Niên sa đọa tới cỡ đó lận sao? Cái được mệnh danh là những “nhà báo cách mạng”, hiện nay, chả lẽ chỉ rặt là một phường vô lại?



 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chim hót ngoài lồng

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Trong ký ức thơ ấu của tôi, Đà Lạt không phải là nơi có nhiều chim chóc. Ngoài những bầy sẻ ríu rít đón chào nắng sớm trên mái ngói, và những đàn én bay lượn khắp nơi vào lúc hoàng hôn – thỉnh thoảng – tôi mới nhìn thấy vài chú sáo lò cò giữa sân trường vắng, hay một con chàng làng lẻ loi (và trầm ngâm) trên cọc hàng rào.

Chào mào tuy hơi nhiều nhưng chỉ ồn ào tụ họp, giữa những cành lá rậm ri, khi đã vào hè và trái mai (anh đào) cũng đà chín mọng. Họa hoằn mới thấy được thấy đôi ba con chim lạ, đỏ/vàng rực rỡ (chả biết tên chi) xa tít trên những cành cây cao ngất, giữa đồi thông vi vút.

Ở California thì chim chóc nhiều hơn, và cũng dạn dĩ hơn. Tiếc vì vốn liếng tiếng Anh giới hạn (và cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên cũng thế) nên tôi chỉ gọi tên được dăm ba loại chim thôi: robin, blue bird, hummingbird, mockingbird, house sparrow – sẻ nhà. Nơi đâu có người là có chim se sẻ, tiếng kêu gần gũi thân quen của chúng vào lúc chiều tàn – ở bất cứ phương nao – cũng đều khiến cho tôi cảm thấy được an ủi (phần nào) trong suốt những tháng ngày lưu lạc.

Mãi cho đến những năm gần đây (khi không còn phải bận bịu với chuyện áo cơm) tôi mới có dịp tìm biết thêm ít/nhiều về thế giới của loài chim, qua những tập phim tài liệu, và qua ống kính của giới birder (hay con gọi là birdwathcher) chuyên nghiệp tự quê nhà.

Hôm đầu năm nay, người ngắm chim Huynh Ngoc Chenh mới trình làng một chú Sơn Ca (trông) rất bảnh.

Bên dưới bức ảnh là lời bình của FB Nghiem Vietanh:

“Sơn ca có nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ theo địa phương, như chiền chiện; Huế gọi là Cà lơi; Quảng Nam, Quảng Ngãi gọi là Chà chiện, ở bãi sông Hồng còn một loại nữa cũng giống sơn ca nhưng nhỏ hơn và không biết hót, à con sẻ mía. Con của ông Chênh, bắc cờ kêu chiền chiện, con này cũng hót nhưng chỉ hót khi chúng bay trên không trung, nuôi trong lồng chúng không hót …”

Tôi nghe tên Sơn Ca từ khi còn thơ ấu nhưng mãi đến nay mới được thấy hình, và được biết thêm đôi điều lạ lẫm: “Bắc cờ kêu chiền chiện, con này cũng hót nhưng chỉ hót khi chúng bay trên không trung, nuôi trong lồng chúng không hót …”

Hay nhỉ?

Hoá ra có những con chim không hót trong lồng! Chi tiết thú vị này khiến tôi nhớ đến những dòng chữ của Huy Đức trong Bên Thắng Cuộc:

Ngày 14-12-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký “Sắc lệnh về chế độ báo chí”, buộc người dân ra báo phải xin phép, chấm dứt trên miền Bắc thời kỳ ai muốn làm báo chỉ cần đăng ký mà người dân An Nam được hưởng gần một thế kỷ dưới thời thực dân Pháp… Ngày 5-6-1958, dưới sự chủ trì của Tố Hữu, “800 văn nghệ sỹ” đã ký vào một nghị quyết “hoan nghênh kết quả thắng lợi của cuộc đấu tranh chống Nhân Văn Giai Phẩm”. Ngày 7-7-1958 Ban Chấp hành Hội Nhà văn ra thông báo “kỷ luật nhóm Nhân Văn” ….

Lê Đạt gọi thời kỳ “hậu Nhân Văn” là những ngày “khôn ngoan không dám làm người”. Phần lớn các nạn nhân, vốn là những văn nhân tài hoa, đều phải cúi đầu, tự mình viết bài xỉ vả mình. Họ được ở lại Hà Nội và sau một thời gian lao động phần lớn được trở lại hành nghề. Cũng có những nhà văn, nhà thơ bỏ về rừng như Hữu Loan, Nguyên Hồng. Nhưng, cái giá mà họ và gia đình họ phải trả là vô cùng đau đớn.

Tôi có đọc “Lời Tự Thuật Của Hữu Loan” nên cũng biết qua về “cái giá” mà nhà thơ và cả gia đình phải trả cho quyết định “về rừng” của ông. Kể thì “đau đớn” và khốn nạn thật nhưng vẫn chưa đến nỗi nào, nếu so với tình cảnh của nhiều người cầm cầm bút độc lập hiện nay. Xin ghi lại đôi ba trường hợp.

Trương Duy Nhất sinh năm 1964, bắt đầu viết báo từ năm1987. Đến năm 2011, ông đột nhiên tuyên bố “nghỉ báo viết blog để viết theo lẽ phải!” Nói cách khác, và nói theo cách riêng của TDN, là ông ngang nhiên ra khỏi cái “Hợp Tác Xã Tư Tưởng” của Đảng và Nhà Nước VN.

Tôi không hiểu –  vào thế kỷ trước, ở miền Bắc – khi một nông dân bỏ Hợp Tác Xã Nông Nghiệp thì sẽ bị trừng phạt ra sao nhưng thấy cái giá mà TDN phải trả hiện nay thì cay nghiệt quá, “một đòn thù chính trị đê hèn”: hai cái án tù, tổng cộng là 12 năm chẵn. Cả hai vụ án này – chắc chắn – đã không xẩy ra, nếu bạn Nhất vẫn chịu hót… trong lồng!

Trường hợp chia tay với làng báo quốc doanh của Đoan Trang thì hơi khác, nhẹ nhàng và kín đáo hơn. Nhân vật này lặng lẽ rời bỏ cái Hợp Tác Xã Tư Tưởng VN không một lời tuyên bố hay tuyên ngôn gì ráo. Tuy thế, cái giá mà ĐT phải trả – xem ra – cũng không rẻ lắm. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho RFA, vào hôm 5 tháng 3 năm 2020, cô cho biết:

“Từ khi tôi trở về nước vào năm 2015, về được 3 tháng thì tôi bị công an tấn công trong một cuộc tuần hành cây xanh, chấn thương 2 chân. Sau liveshow ca sĩ Nguyễn Tín năm 2018 thì tôi bị chấn thương ở tay. Sức khỏe của tôi gần như xuống dốc không phanh nên tôi không biết còn chịu được bao lâu.”

Nói tóm lại và nói cho chính xác là ĐT chỉ bị truy sát và truy lùng thôi chứ chưa mất mạng và (cuối cùng) thì chỉ bị tù thôi .

Phạm Chí Dũng, Chủ Tịch Hội Nhà Báo Độc Lập, cũng thế!

Năm 2012 ông bị bắt khẩn cấp vì bị tình nghi biên soạn tài liệu “nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.” Qua năm 2019, ông lại bị khởi tố và bắt giam lần nữa với cáo buộc là đã “đăng 63 bài báo xuyên tạc sự thật, kích động các cá nhân trỗi dậy và lật đổ chính quyền nhân dân, kích động hận thù và cực đoan, đánh lừa mọi người về tình hình kinh tế xã hội nhằm mục đích gây lo lắng công cộng và bất ổn xã hội.”

Tuy không rành rẽ về bói toán hay lý số, tôi vẫn có thể đoán (chắc) được rằng lòng bàn tay của ông Chủ Tịch Hội Nhà Báo Độc Lập có đường tù ngục vì đường này cũng có thể thấy ngay được qua cái chức vụ của ông. Cái gì chứ Độc Lập với Tự Do là “hai món” mà đám cầm quyền ở VN hiện nay tối kỵ (họ nuốt không trôi) nên PCD vướng vòng lao lý là chuyện tất nhiên.

Sau P.C.D đến lượt Phạm Thành, nguyên Phó Trưởng Phòng Đài Phát Thanh Tiếng Nói Việt Nam, vừa bị “tó” tại nhà, với cáo buộc là đã vi phạm Điều 117 Bộ Luật Hình Sự. Điều này có khoản ghi rõ như sau:

“Người phạm tội có hành vi làm ra, tạo ra, xác lập thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân … tạo ra hình ảnh méo mó, phản cảm, sai lệch về việc làm, hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị…”

BBC, nghe được vào hôm 22 tháng 5 năm 2020 ái ngại loan tin:

Blogger ‘Bà Đầm Xòe’, cây bút chỉ trích TBT Nguyễn Phú Trọng bị bắt Cuốn sách “Nguyễn Phú Trọng: Thế thiên hành đạo hay Đại nghịch bất đạo” do ông tự xuất bản năm 2019 đã gây xôn xao dư luận. Nội dung chính cuốn sách “ngoài luồng” này tập trung vào thái độ và hành động của ông Nguyễn Phú Trọng trước Trung Quốc… Trước đó, ông từng tự xuất bản một số cuốn sách khác như “Hậu Chí Phèo”, “Nền Kinh tế Thị trường Định hướng XHCN Xuống hố cả lũ.”

Phen này Phạm Thành chắc chết, chết chắc, với Đảng và Nhà Nước ta chứ chả phải bỡn đâu!

Lê Đạt gọi thời kỳ “hậu Nhân Văn” là những ngày “khôn ngoan không dám làm người.” Xét ra thì thời kỳ “hậu đổi mới” còn ti tiện và tàn tệ hơn nhiều. Dân Việt, tuy thế, vẫn chưa bao giờ thiếu vắng những nhân vật cầm bút vẫn nhất định làm người. Xin chân thành cảm ơn qúi vị.

Quần áo rách nát và trên người đầy băng bó, các tù binh Nga mô tả cuộc tấn công của Ukraine

Báo Tiếng Dân

Wall Street Journal

Tác giả: Marcus Walker

Cù Tuấn, dịch

20-6-2023

Tóm tắt: Những người lính Nga bị quân Ukraine bắt làm tù binh kể chuyện về tinh thần kém và sự tàn bạo của chỉ huy quân Nga.

KRAMATORSK, Ukraine—Các tù binh chiến tranh người Nga đi chân trần, khập khiễng trên sân nhựa đường lỗ chỗ, dưới sự giám sát của quân cảnh Ukraine.

Đôi ủng của người tù binh nhuốm đầy máu của những đồng đội đã ngã xuống. Anh ta gỡ bỏ ủng và sau đó đánh mất chúng trong sự bối rối khi bị chuyển đến trung tâm giam giữ tạm thời này ở miền đông Ukraine.

Tù binh Nga ở miền đông Ukraine.

Khoảng 20 lính bộ binh Nga nằm liệt giường, đang co ro trong nhà để xe. Họ phải trải qua nhiều ngày nồng nặc mùi hôi thối trong chiến hào và bị nhốt trong thùng những chiếc xe tải Ukraine, khi bị chuyển đến nhà tù mới.

Những trận chiến đầu tiên trong cuộc tấn công lớn của Ukraine, nhằm chiếm lại đất đai ở phía nam và phía đông của đất nước do Nga chiếm đóng, đang đều đặn mang lại một lượng tù nhân Nga. Cuối cùng, nhiều người sẽ bị trao đổi để lấy các binh lính Ukraine bị quân Nga bắt làm tù binh.

Những người lính Nga bị giam Kramatorsk đã đầu hàng sau những cuộc đọ súng tàn khốc, khi lực lượng Ukraine tấn công tuyến phòng thủ đầu tiên của Nga, gần thị trấn Velyka Novosilka ở vùng Donetsk phía đông. Quân đội Ukraine đã đạt được những bước tiến nhỏ nhưng ổn định trong khu vực này.

Các vị trí tiền phương của Nga nhằm níu giữ quân Ukraine, cho phép các chỉ huy Nga di chuyển lực lượng dự bị đến nơi mà họ nghĩ rằng lực lượng của Kyiv sẽ cố gắng chọc thủng các công sự kiên cố hơn tiếp theo của quân Nga.

Quân Ukraine vẫn chưa tiếp cận được tuyến phòng thủ chính của Nga. Các cuộc tấn công sớm vào các vị trí tiền phương đã gây ra thương vong đáng kể cho Ukraine, theo các binh sĩ tham gia cuộc tấn công.

Tuy nhiên, bộ binh Nga được giao nhiệm vụ chống đỡ các cuộc tấn công ban đầu trong các chiến hào và các bụi cây đang chịu tổn thất nặng nề hơn, theo những người đang tham gia chiến đấu của cả hai bên.

Nhiều người lính Nga đang phải đối mặt với các lữ đoàn Ukraine được trang bị vũ khí phương Tây mạnh hơn bất cứ lúc nào, kể từ khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ra lệnh xâm lược Ukraine vào đầu năm ngoái.

Một số tù nhân nói chuyện với The Wall Street Journal, mô tả tinh thần của phía Nga là kém. Các tù binh được trích dẫn trong bài báo này mô tả việc họ tự nguyện đầu hàng, và đó là một tội ở Nga. WSJ đã xác minh danh tính của họ và chỉ nêu tên của họ vì mục đích an toàn.

Anton, một tay súng trường từ St. Petersburg, bị hai vết đạn trước khi đầu hàng.

Anatoly, tay súng không mang giày, cho biết, những người trong đơn vị của anh hầu như không nói chuyện với nhau khi họ chờ đợi cuộc tiến công của Ukraine. “Mọi người đều im lặng, nghĩ về những suy nghĩ của riêng mình, tự hỏi quân Ukraine sẽ đến từ bên nào”, anh nói. “Chúng tôi thực sự sợ hãi. Không ai muốn chết. Chúng tôi đã hy vọng cuộc phản công sẽ không xảy ra”.

Là lính hợp đồng đến từ dãy núi Altai ở miền nam Siberia, Anatoly cho biết anh là công nhân xây dựng ở quê nhà. Anh nói rằng, anh gia nhập quân đội để chiến đấu ở Ukraine vì bạn bè và người quen đã đi hết cả. “Tuyên truyền nói Ukraine rất tồi tệ, người dân ở đây là bọn phát xít, v.v… Chúng tôi nghe điều đó khắp mọi nơi”. Anatoly nói rằng, anh là một tài xế, sửa chữa phương tiện và vận chuyển những người điều khiển máy bay không người lái là chính, nhưng một tháng trước, anh được lệnh đến một vị trí tiền tuyến trong một hàng cây phía tây Velyka Novosilka.

Tuần trước, Anatoly nói, “chiến trường im lặng trong hai ngày. Nhưng sau đó một cuộc tấn công mạnh mẽ bắt đầu. Mọi thứ trở nên hỗn loạn, đạn bay tứ tung, mọi người bắt đầu bỏ chạy. Trong khoảng giữa thời gian pháo kích và súng cối, tôi cố gắng nhìn vào cánh đồng để tìm xem kẻ thù ở đâu. Nhưng tôi không thể nhìn thấy bất cứ ai”.

Anh nói, trong vòng vài phút, quân Ukraine đã xông vào hàng cây và ném lựu đạn vào chiến hào của anh. Năm người lính Nga bên cạnh anh đã thiệt mạng, gồm cả người bạn tốt của Anatoly là Georgy, anh cho biết. “Tôi ra khỏi chiến hào và bắt đầu hét lên, ‘Tôi xin hàng, tôi xin hàng!’”, Anatoly nói.

Các tù nhân tại Kramatorsk là sự kết hợp của các chuyên gia, lính nghĩa vụ và lính đánh thuê. Một số đến từ các dân tộc thiểu số ở Siberia, những người khác đến từ St. Petersburg hoặc Vladivostok. Nhiều người mặc các bộ chiến trận tả tơi. Một số đã được băng bó vết thương.

Anton, một chiến binh thuộc nhóm bán quân sự Storm Z của Nga, đã bị mảnh đạn bắn vào đầu và tay chân hồi tháng Ba. Vết thương ở đầu đặc biệt nặng, khiến anh bị tật nói lắp. Một bác sĩ nói rằng, Anton không đủ sức để tiếp tục chiến đấu ở Ukraine, nhưng chỉ huy của anh đã ra lệnh cho Anton và những người bị thương khác trở lại mặt trận.

Anton cho biết, các chiến binh Storm Z thường là những tù nhân được tuyển mộ từ các nhà tù của Nga, không được phép rút lui, nếu không sẽ bị chính đội trưởng của họ bắn chết.

Từng là quân nhân phải ngồi tù vì buôn bán ma túy, Anton đăng ký tham gia chiến đấu sáu tháng ở Ukraine và hứa sẽ được ân xá. Nhưng các chỉ huy coi mạng sống của những người tù này như đồ dùng một lần. Anton nói: “Điều tôi bắt đầu nhận ra là trong cuộc chiến này, chúng ta không đứng về phía lẽ phải”.

Được lệnh đến một vị trí tiền tuyến gần Velyka Novosilka vào tuần trước, Anton cho biết, anh và những người khác đã bị bắn trước khi họ đến đó. Anh cho biết, một viên đạn găm vào chân và một viên khác vào tay khi anh đang băng bó vết thương.

Anton và những người đàn ông khác, hầu hết đều bị thương, hét về phía những người lính Ukraine giấu mặt, rằng họ muốn đầu hàng: “Nếu chúng tôi quay lại, họ sẽ bắn chúng tôi!” Sau đó, họ ngồi và đợi quân Ukraine đến, anh nói.

“Tinh thần binh sĩ là khá thấp”, Dmitry, một lính nghĩa vụ đến từ vùng viễn đông của Nga, cho biết. “Chúng tôi liên tục phải chiến đấu và không có luân chuyển. Hóa ra, theo giấy tờ, chúng tôi đáng ra đã được luân chuyển một tháng trước, nhưng điều đó đã không xảy ra”, anh nói.

Dmitry cho biết, anh đã được triển khai tới mặt trận Donetsk chỉ sau một khóa huấn luyện tối thiểu, bao gồm một số bài tập bắn súng trên thực địa và sơ cứu cơ bản. Đơn vị của anh, bảo vệ khu định cư Staromaiorske ở phía nam Velyka Novosilka, đang thiếu lính lái xe cho một số xe tăng và xe bọc thép, anh nói.

Giọng anh run run khi mô tả mình phải ở dưới làn đạn dày đặc. Dmitry nói: “Họ tấn công chúng tôi bằng xe tăng, súng cối, pháo binh. Sau đó, xe bọc thép MaxxPro do Mỹ sản xuất đã bắn vào hàng cây trên đầu họ và khiến bộ binh tuyệt vọng”.

“Tôi không biết phải làm gì, tôi sợ hãi, tôi hoảng loạn”, Dmitry nói. Anh và một đồng đội bước ra khỏi chiến hào với hai tay giơ cao. Khi những người bắt giữ Dmitry đặt họ xuống đất và trói tay họ, một người lính Nga khác đã nhảy ra khỏi chiến hào và ném lựu đạn, khiến một số người lính Ukraine bị thương trước khi người lính Nga bị giết.

Dmitry cho biết, anh hy vọng mình sẽ không bị gửi trở lại Nga trong một cuộc trao đổi tù nhân, vì sợ cơ quan an ninh FSB sẽ đối xử tệ với anh. “Cách thức hoạt động của các hệ thống ở Nga hiện nay là vậy, nên nếu có cơ hội, tôi sẽ từ chối trao đổi”, anh nói.

 


 

 

Thánh Luy Gonzaga ( 09-03-1568 đến 21-06-1591)

Hôm nay 21/06 Giáo hội mừng kính thánh Luy Gonzaga, quan thầy của giới trẻ và các sinh viên. Chúc mừng chúc mừng những ai có tâm hồn trẻ trung nhé!

Cha Vương

Thứ 4: 21/06/2023

Thánh Luy Gonzaga chào đời ngày 09-03-1568 trong một gia đình quyền quý và danh  giá, thuộc xứ Castiglione, miền bắc nước Ý. Cha ngài là bá tước Ferdinand, người muốn hướng Luy vào nghề binh nghiệp; còn mẹ ngài là một người đạo đức, biết dạy con yêu mến Chúa, sùng kính đức Maria và thương giúp người nghèo. Với gương sáng đạo hạnh của người mẹ, thánh Luy đã sớm khát khao bước đi trên con đường trọn lành như Chúa muốn.

Chúng ta có thể tóm lược cuộc đời thánh nhân qua hai điểm sau:

(1) Sùng kính và dâng hiến cuộc đời cho Đức Maria—Nhờ hương thơm thánh thiện của người mẹ, thánh Luy đã sớm có lòng sùng kính Đức Maria cách đặc biệt. Tại Florence, vào năm 1577, thánh nhân đã khấn giữ mình trinh trong trước tượng Đức Mẹ Đồng Trinh, tại nhà nguyện Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ.

Ngài luôn lánh xa mọi dịp tội, hay bất cứ sự gì có thể làm cho mình cắt đứt mối hiệp thông thân tình với Thiên Chúa. Ngài chuyên chăm cầu nguyện, sống nghiêm nhặt và khắc khổ. Sau khi trở về quê nhà Castiglione, ngài còn tăng thêm các việc lành đạo đức, và coi đó như một bổn phận: quỳ đọc kinh Nhật Tụng về Đức Mẹ, các Thánh Vịnh sám hối và các kinh nguyện khác.

Ngày 15-08-1583, đang khi cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ trong nhà thờ, thánh Luy cảm thấy như mình được Chúa kêu gọi dâng hiến cuộc đời cho Ngài trong đời sống tu trì. Sau đó, thánh nhân quyết định bước theo tiếng gọi của Chúa và  gia nhập dòng Tên, dù bị người cha phản đối. Có thể nói, cuộc đời thánh Luy đã trao hiến hoàn toàn cho Đức Mẹ và để cho Mẹ dẫn dắt đời mình theo Thiên Ý. Do đó, người ta thường gọi thánh nhân là “Thiên thần con”.

(2) Hy sinh phục vụ—Bước vào nhà dòng, thánh Luy chỉ muốn quyên mình, sống khiêm tốn, nhiệt tâm phục vụ cộng đoàn, thương giúp những người nghèo hèn và bệnh tật. Ngài làm các công việc nhỏ nhặt như: làm bếp, rửa chén bát, lau nhà… hầu như thánh nhân không nề hà công việc gì, dù công việc đó có khó khăn, nặng nhọc và nguy hiểm đến tính mạng.

Năm 1591, nước Ý lâm vào cảnh đói kém và cơn bệnh dịch lan tràn tại Roma và các vùng khác đã làm cho nhiều người chết. Trước cảnh khốn cùng của người dân, thánh Luy cùng với nhiều người khác đi quyên góp quần áo, thực phẩm và thuốc men để giúp đỡ những ai đang gặp gian nguy. Với những người đang hấp hối trên đường phố, thánh nhân đưa đến bệnh viện, tận tình chăm sóc, tắm rửa và giúp họ lãnh nhận các bí tích sau cùng. Chính lòng bác ái với người khác, nên thánh nhân cũng bị nhiễm bệnh.

Trên giường bệnh, thánh nhân đã viết thư cho mẹ với tất cả niềm trin ân và niềm tin tưởng vào Chúa: “Thưa mẹ, con thú thật với mẹ rằng: mỗi khi con suy nghĩ về lòng tốt của Chúa, giống như biển không đáy không bờ, linh hồn con như rơi xuống vực sâu ấy, chìm trong cảnh bao la bát ngát, lạc lõng và không biết đáp lại làm sao, vì sau một thời gian làm việc vắn vỏi và sơ  sài như thế mà con đã được Chúa ban cho nghỉ ngơi muôn đời”.

Ngày 21-06-1591, thánh Luy lãnh nhận các bí tích sau cùng, và ra đi bình an khi mới 23 tuổi đời.

Đức Giáo Hoàng Phaolô V tuyên phong chân phước cho ngài vào ngày 19-10-1605; và ngày 31-12-1726, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIII đã nâng ngài lên bậc hiển thánh.

Santuario Basilica San Luigi GonzagaVƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG SAN LUIGI GONZAGA, gần thành phố Brescia nước Ý.

Thánh địa, được xây dựng bởi những người cha Dòng Tên bắt đầu từ năm 1608, luôn là điểm tựa cho lòng sùng kính vị thánh của những người trẻ tuổi, họ đến trung tâm hành hương này từ khắp nơi trên thế giới.

Lạy Chúa! Chúa đã ban cho thánh Luy Gonzaga đầy hương thơm thánh thiện, luôn giữ mình trinh trong, tôn sùng Đức Maria và thương giúp kẻ nghèo. Nhờ lời chuyển cầu của thánh nhân, xin Chúa ban cho mỗi người chúng con biết giữ mình khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, sống yêu thương và quảng đại phục vụ anh chị em. Amnen.

(Nguồn: Simonhoadalat—hạnh các thánh)

 

Tiểu Sử Thánh Luy Gonzaga chi tiết, (Trang Mạng Dòng Tên)

Thánh LU-Y GONZAGAOggi celebriamo San Luigi Gonzaga, che rinuncio a molte ricchezze

Sinh năm 9.3.1568 tại Dastiglene, nước Ý.

Vào Dòng, ngày 25.11.1585 tại Rôma

Qua đời, ngày 21.6.1591 tại Rôma;

Phong thánh ngày 31.12.1726.

Lễ nhớ 21.6

Đến ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 1488, Lu-y đã chắc chắn phải theo con đường nào: Dòng Tên.

Khi được biết quyết định ấy, Hầu tước Ferrantê Gonzaga nổi giận lôi đình, ông buộc Lu-y phải bỏ ngay ý định “quái gở” ấy đi, nếu không ông sẽ cho một trận đòn nên thân ngay trước mặt bá quan văn võ ở triều đình Tây Ban Nha. Lu-y không chút nao núng: “Con sẽ sung sướng chịu trận đòn ấy vì yêu mến Chúa.” Hầu tước cho gọi lần lượt tất cả mọi người mà ông nghi ngờ đã thổi cho Lu-y ý định vào Dòng Tên, và nặng lời trách móc, kể cả bà Hầu tước cũng như cha linh hướng của Lu-y.

Nhưng ai nấy đều chối không hề xúi giục anh làm chuyện đó. Hầu tước đành gọi Lu-y đến: “Ít ra đáng lẽ con phải nghĩ đến một đàng khác hi vọng được quyền cao chức trọng trong Giáo hội cho khỏi bẽ mặt dòng họ nhà mình.” Lu-y giải thích: “Thưa cha, đó chính là lý do tại sao con chọn Dòng Tên. Con muốn dứt hẳn đường danh vọng, nếu ham danh vọng thì con chỉ cần ở nhà nối nghiệp cha, tội gì con lại đi thả mồi bắt bóng!”

Cái gì đã dẫn Lu-y Gongaga đến một quyết định hệ trọng như thế năm mới 15 tuổi?

1.     ÔNG HOÀNG CON

Ngày 9.3.1568, Lu-y mở mắt chào đời. Hôm sau tất cả dân xứ Castigline miền bắc nước Ý tưng bừng mở hội ăn mừng Hầu tước đã có thế tử. Chuông tất cả các nhà thờ đồng loạt đổ trong 3 ngày vào đúng 11 giờ, đồng thời ban nhạc trình diễn lưu động trên khắp các đường phố, thôn xóm. Suốt một ngày, Hầu tước thết tiệc mọi người, tự do ăn uống no say thỏa thích. Các cuộc chơi được tổ chức khắp nơi. Ban đêm mở hội hoa đăng và bắn pháo bông. Hình như Hầu tước đặt tất cả hi vọng của mình cũng như cả dòng họ nơi “cậu Hoàng con.” Sau này khi Lu-y vào Nhà Tập, ông viết cho cha Tổng quyền Dòng Tên: “Tôi trao cho cha kho tàng quí báu nhất của tôi trên cõi đời này.”

Sinh trong gia đình một lãnh chúa thời Phục Hưng ở châu Âu, Lu-y đã sống đúng như một ông hoàng ngay từ thời thơ ấu. Hầu tước yêu quí anh vô chừng, nên anh được săn sóc cực kỳ chu đáo. Ông cũng mong anh nối nghiệp mình và còn đưa lại vinh dự cho dòng họ Gonzaga hơn nữa.

 

Năm lên 5 tuổi, anh được ông cho mặc đồ sĩ quan, và sống với ông trong trại quân. Lu-y rất thích mang súng và bắn súng. Một hôm khi cả trại quân đang ngủ, cậu hoàng con đã lẻn đi ăn cắp thuốc súng và khai hỏa một khẩu đại pháo. Tiếng nổ dữ dội khiến Hầu tước tưởng là một cuộc khởi loạn. Lệnh báo động tức tốc được ban hành và cuộc truy nã bắt đầu. Ít phút sau quân lính đem đến trình bày trước thủ phạm. Ông ra lệnh: “Đã là quân nhân thì dù 6 tuổi hay 60 tuổi cũng phải bị phạt theo quân luật!” Dầu sao hôm ấy ông rất hãnh diện thấy Lu-y đầy hi vọng nối nghiệp mình.

June 21 – He Was More Angel than Man - Nobility and Analogous ...

Ở trại lính về, Lu-y làm mọi người sửng sốt vì cách ăn nói kỳ dị. Thật vậy, bây giờ anh dùng ngôn ngữ của những người ăn nói bừa bãi nhất. Tiếng lóng pha trộn với những tiếng chửi thề nhiều khi tục tĩu làm cho bà Hầu tước và nhiều người phải đỏ mặt. Viên thái sư được lệnh ngay lập tức, phải tập lại cho thế tử ngôn ngữ của hàng vương giả.

Sau này, khi đã lớn, Lu-y rất hối hận vì những chuyện không hay xảy ra trên đây, và phần nào đã cho thấy phải đổi môi trường sống để có được một đời sống thánh thiện.

Lên 7 tuổi, Lu-y cùng với em là Rôđôlphô bắt đầu gược gởi đi thọ giáo tại các triều đình danh tiếng. Đâu đâu anh cũng thấy những cảnh vinh hoa có thể làm nhiều người lóa mắt. Đời sống ở các triều đình có thể tóm tắt trong hai chữ: hưởng thụ. Người ta không biết làm gì hơn là tổ chức những bữa tiệc linh đình, đàn ca múa hát cho qua ngày. Những cuộc chơi được tổ chức liên miên. Những buổi bàn luận có vẻ đúng đắn thỉnh thoảng được tổ chức để tỏ ra vẻ là những nhà tri thức. Thời gian còn lại dùng để chuyện trò. Đề tài các câu chuyện hầu hết là những chuyện tình tứ, nhiều khi chẳng đúng đắn bao nhiêu.

Sống trong xã hội ấy, Lu-y phải tập giữ đúng phong cách một ông hoàng, cách cư xử tao nhã, cách xưng hô cầu kì, nói chuyện kiểu cách… anh cũng học khiêu vũ và nhiều thứ trò chơi khác, đi đâu thì lên xe xuống ngựa, kẻ đưa người đón, về đến nhà, anh được hầu hạ đủ mọi cách, đến nỗi sau này lúc vào Dòng, anh lúng túng khi phải tự mặc quần áo lấy. Dĩ nhiên bàn ăn của anh luôn đầy đủ mọi thứ cao lương mỹ vị. Trong nhà kẻ hầu người hạ không bao giờ thiếu, ra đường được người ta kính nể cúi đầu.

 

2.     HẠT GIỐNG NƯỚC TRỜI

Nhưng giữa vùng đất hoang lạnh ấy, hình như hạt giống nước trời đã nãy mầm trong lòng cậu hoàng con.

The Mother of St. Aloysius Gonzaga, Martha Tana Santena (1550-1605)

Bà Hầu tước là một người đạo đức sốt sắng. Ngay từ những ngày thơ ấu, Lu-y đã được hun đúc trong trường cầu nguyện của bà, từ những mẫu kinh đơn giản cho đến những cuốn sách thiêng liêng. Khoảng năm 12 tuổi, anh bắt đầu cầu nguyện theo cuốn “Suy niệm hằng ngày” của thánh Phêrô Kanis. Lời văn sáng sủa, luận lý mạch lạc, và nhất là lòng nhiệt thành của vị Thánh Tiến sĩ đã góp phần không nhỏ vào việc tạo cho anh một vài nét chấm phá về con người anh ngày mai. Tuy nhiên, anh có vẻ đóng kín, theo tính tự nhiên, nay lại đóng kín cả về vấn đề đạo đức, anh chỉ thích ở một mình để cầu nguyện, điều này được sửa chữa phần nào khi chẳng bao lâu sau, anh đọc cuốn “Lá thư Ấn Độ” tường thuật những chuyện táo bạo và anh hùng của các thừa sai ở Ấn độ. Từ đây, không bao giờ anh quên những miền truyền giáo, và sau này sẽ nóng lòng muốn đi loan báo Tin Mừng cho lương dân, anh bắt đầu thực tập ngay. Bị gương các nhà truyền giáo thu hút, anh quy tụ một số trẻ em và giảng giáo lý cho chúng, rồi anh đơn sơ trò chuyện với những người nghèo, thăm hỏi những người đau yếu, giúp đỡ những người thiếu thốn, nhờ đó anh cũng khám phá ra cảnh đối chọi giữa những người dân lam lũ đầu tắt mặt tối kiếm cơm ăn, trong khi hàng vương giả và quí tộc sống phè phỡn đến phát ngượng.

Rồi anh may mắn được tiếp xúc với một vị thánh khác: Thánh Carôlô Bôrômêô. Đây là một Hồng Y Tổng Giám Mục dòng dõi quí phái, có liên hệ thân thuộc với gia đình Gonzaga, hiện làm kinh lược Tông tòa ở quê hương anh. Chỉ sau một lần hội kiến, anh liền được ngài cho phép xưng tội rước lễ lần đầu. Được đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể do một vị thánh như thế, hẳn Lu-y đã nghĩ đến một đời sống nhiều ý nghĩa hơn là sống hưởng thụ nơi cung điện. Từ đây, hễ có dịp, anh thường lui tới các nhà dòng. Có lẽ vào thời gian này, anh đã có ý định từ bỏ địa vị để tìm đến một đời sống cầu nguyện và hãm mình. Từ năm 13 tuổi, anh thực sự đã chăm chỉ cầu nguyện và làm việc đền tội nặng nề: ăn chay, đánh tội, mùa đông không sưởi ấm, đặt một khúc cây vào giường nằm cho đau. Anh tưởng đó là con đường nên thánh. Anh cầu nguyện liên lỉ: “Lạy Chúa, xin hướng dẫn con, xin hướng dẫn con sống tốt hơn.”

Cũng vào thời gian ấy, anh cùng với cả gia đình sang sống tại triều đình Tây Ban Nha. Ở đây anh được thấy tận mắt cách sống ngạo nghễ diêm dúa của hàng quí tộc. Sự lười biếng không những được coi là thanh tao, nhưng còn được biến thành một thứ nghệ thuật nữa. Tây Ban Nha lúc ấy là quê hương của những khám phá về thế giới ngoài Châu Âu, nên nhờ học hỏi tầm mắt của anh cũng mở rộng hơn. So sánh đời sống vương giả của mình với những con người xấu số ở các phương trời xa, anh bắt đầu cảm thấy không ổn. Vua Philip nước Tây Ban Nha lúc đó có thể nói là người quyền thế nhất trên mọi địa cầu. Dưới quyền ông là 22 nước, gồm cả những vùng đất xa lắc xa lơ, một quân đội hùng mạnh, nhiều đoàn tàu biển xông xáo đi tìm nguồn lợi. Chính tại triều đình này, Lu-y đã khám phá ra một điểm động trời: Chỉ có một vị vua toàn hảo đáng ta xả thân phục vụ là Đức Kitô. Và chỉ có một nước đáng cho người xây dựng là Nước Trời. Từ nay, mọi thứ vinh hoa thế gian đối với anh chỉ còn là phù vân, giả trá. Và đây anh cũng thâm tín hơn về lời chính anh đã nói với những người hầu cận năm anh mới 10 tuổi: “Được làm tôi Chúa còn hơn làm tôi vua cả thế gian.”

Santa Maria

Vấn đề của Lu-y bây giờ chỉ còn là chọn dòng nào. Và anh đã chọn Dòng Tên. Lý do là vì Dòng Tên mới thành lập còn đầy sức sống và lòng nhiệt thành tông đồ. Thứ đến, trong Dòng Tên có lời khấn từ chối mọi phẩm tước trong Giáo Hội, anh cũng ước mong một ngày kia được gởi đi làm thừa sai để góp phần vào việc truyền giáo. Vào hôm lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 1563, trong một giờ cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ trong nhà nguyện Dòng Tên ở Madrid, anh hoàn toàn xác tín về ơn gọi. Lập tức, anh đi bàn hỏi với cha linh hướng và cha linh hướng ngài xác nhận ơn gọi của anh, chỉ còn phải có phép của Hầu tước, vì anh mới 15 tuổi.

3.     CHO TỚI CÙNG

Dù ông Hầu tước nhất định không chịu nghe anh nói chuyện về ơn kêu gọi, anh cứ ngày ngày đến nài nỉ cha. Hình như ông hơi xiêu lòng, nhưng vẫn không muốn để anh ra đi. Nhân dịp cha Phanxicô Gonzaga, Bề Trên Cả Dòng Phanxicô, là người trong gia đình, đang đi kinh lược tại Tây Ban Nha, ông xin ngài khảo sát trường hợp của Lu-y. Sau khi gặp và trao đổi cặn kẽ với ngài, cha Phanxico xác nhận anh được Chúa gọi. Nhưng, ông Hầu tước vẫn dùng dằng, một hôm Lu-y cùng với em là Lodolphô đi dạo một vòng qua đường phố Madrid. Trên đường về, khi đến học viện Dòng Tên, anh nhất định ở lại đó chứ không chịu về nữa, quyết định của anh làm cả nhà dòng cũng như đoàn tùy tùng đều hết sức bối rối. Hôm ấy, ông Hầu tước đang đau nên không thể đến bắt anh về được, ông sai người đến đưa anh về, nhưng anh cương quyết: “Trước sau thế nào tôi cũng vào ở đây, thay vì để ngày mai thì hôm nay đến cũng vậy!” Cha anh điên đầu vì chuyện này. Ông cho rằng anh làm mang tiếng cả dòng họ, nhắn anh muốn vào dòng thì phải vào một cách đàng hoàng hơn, được lời hứa ấy, anh chịu trở về cung điện lại. Ông Hầu tước thấy rằng ở Tây Ban Nha này rầy rà nhiều chuyện rắc rối quá, nên quyết định đưa cả gia đình về lại quê nhà. Ông hi vọng với thời gian và nhờ thay đổi nơi chốn, cả ý định của Lu-y cũng sẽ thay đổi thôi. Ông đâu ngờ rằng Lu-y đang áp dụng triệt để điều anh đã học được nơi ông. Chính anh nói: “Tôi đã học nơi cha tôi nguyên tắc này, là khi bắt tay vào việc gì, thì phải cố gắng hết sức làm cho tới cùng!”

Và đến Ý, Hầu tước sai Lu-y cùng với Rôdolphô đi thăm viếng một vòng các vị lãnh chúa và quan chức trong miền. Ngầm ý của ông là làm cho Lu-y quên đi vấn đề ơn kêu gọi. Nhưng Lu-y đã thay đổi phong thái. Anh đã mặc đơn giản còn để cho em ăn mặc rất sang trọng. Trong các buổi dạ hội tổ chức tiếp đón, anh từ chối khiêu vũ. Trái lại, anh luôn luôn chăm chú cầu nguyện, và gia tăng hãm mình đền tội. Khi đi hết một vòng về đến quê nhà, anh đã 17 tuổi. Hai năm trời đi đó đây càng làm cho anh thêm xác tín về ơn gọi. Ông Hầu tước một lần nữa vận động mọi người có thể thuyết phục Lu-y bỏ ơn gọi, hay ít là bỏ ý định vào Dòng Tên. Công tước, Giám mục, Hồng y đều được ông nhờ đến, nhưng Lu-y không một chút lay chuyển. Một hôm giận dữ, ông quở trách anh nặng lời, rồi đuổi anh đi, anh lẳng lặng ra lệnh cho đám tùy tùng dọn dẹp đồ đạc ra ở nhà nghỉ mát gần nhà dòng Phanxico cách cung điện chừng hai cây số, khi biết tin ấy Hầu tước cho người đi triệu anh về, anh thưa : “Con tưởng ba đuổi con thì con phải đi.” Bị la mắng, anh về phòng cầu nguyện và đánh tội, tha thiết xin Chúa can thiệp để theo được ơn gọi, Hầu tước được các người hầu cận dẫn đi xem những tận mắt những vết máu của thế tử. Quá xúc động ông cho biết ông đồng ý để Lu-y đi. Anh lập tức viết thư báo tin cho Cha Tổng Quyền, xin cho nhận anh vào Dòng. Đồng thời, các thủ tục giấy tờ nhường ngôi cung được soạn thảo. Nhưng khi mọi thứ đã xong đâu vào đấy, ông Hầu tước lại nói không bao giờ ông hứa cho phép anh vào Dòng Tên. Đau khổ, anh chỉ còn biết cầu nguyện. Bỗng một hôm, anh đường đột vào phòng Hầu tước và tuyên bố: “Con hoàn toàn tùy thuộc nơi ba, ba muốn làm sao thì làm, con đoan chắc là con được Chúa gọi vào Dòng Tên, ba không cho phép con đi là ba chống lại Chúa!” Nói xong, anh biến ngay khỏi phòng không chờ đợi câu trả lời. Trước thái độ ấy, Hầu tước không biết làm gì hơn là để cho nước mắt tự do chảy dàn dụa trên má. Ông khóc mãi. Cuối cùng, ông cho gọi Lu-y đến và nói: “Lu-y con, con làm ba đứt từng khúc ruột… ba đã đặt mọi hi vọng nơi con. Nhưng vì Chúa gọi con, thôi ba để con đi, ba chúc lành cho con!”.

Ngày 8.11.1585, thế tử Lu-y chính thức nhường ngôi cho em. Hôm sau, anh từ giã gia đình đi Roma, cùng đi với anh là cả một đoàn tùy tùng gồm: cha tuyên úy của gia đình, viên thái sư, một tu sĩ, những hầu cận… Trên đường, một người trong đoàn tùy tùng nói với anh: “Chắc công tử Rôdolphô thích lắm!” Anh trả lời: “Chắc chưa thích bằng tôi.”

4.     NHÀ CHÚA

Đến Roma, sau vài ngày nghỉ tại dinh Đức Thượng Phụ Giêrusalem là Scipio Gonzaga, anh vào Nhà Tập thánh Anrê ngày 15.11.1586. Trước khi từ giã đoàn người tháp tùng anh đến Roma, Lu-y còn gởi lời nhắc Hầu tước: “Chúa bảo hãy quên dân tộc và nhà cha người.” Nhận phòng ở Nhà Tập, anh tự nhủ đây là nơi mình được an nghỉ mãi mãi, vì chính mình đã chọn. Rồi anh quì gối, mắt rưng rưng, anh cảm tạ Chúa đã “đưa anh ra khỏi Ai Cập, và dẫn vào Đất Hứa – đất chảy sữa và mật.”

“Tôi là thanh sắt cong, phải vào Dòng để được uốn nắn lại cho thẳng.” Nhưng thật ra, khi vào Nhà Tập Lu-y là một con người chín chắn, có lẽ hơi quá nữa là khác. Nếp sống trong Dòng đã không giống như anh vẫn tưởng. Trước kia anh tự do làm theo lòng sốt sắng cá nhân, giờ đây mọi sự đều phải vào khuôn khổ. Anh không được cầu nguyện lâu giờ như trước kia nữa, trái lại phải nói chuyện gấp mười lần. Các việc hãm mình đền tội của anh đều phải giảm xuống cho có chừng mực. Thật là một thử thách lớn lao cho một ông hoàng trẻ quen ra lệnh và gần như không bao giờ phải theo một kỉ luật nào. Nhưng sẵn ý chí cương nghị, anh cương quyết giữ tỉ mỉ mọi điều trong chương trình huấn luyện, biết rằng đó là cách để “thanh sắt cong được uốn thẳng.”

 

Ngay từ Nhà Tập, anh đã học được thói quen tích cực xây dựng đời sống cộng đoàn. Dù sống nhiệm nhặt, nhưng anh vẫn vui tươi, anh thích đi trao đổi những câu chuyện thiêng liêng với các bạn. Theo lời chứng của nhiều người, sau khi nói chuyện với anh, người ta thấy lòng sốt sắng hơn cả giờ cầu nguyện. Nhưng anh thường để ý đặc biệt đến những người ít được để ý: những anh em ốm đau hay những anh em mới đến, những lần thăm hỏi, những câu chuyện trao đổi với anh đã làm cho nhiều người cảm thấy phấn khởi mãnh liệt trong đời sống thiêng liêng. Ở Nhà Tập thánh Anrê, cũng như ở học viện Roma sau này, anh rất thích trao đổi đơn sơ với các thầy trợ sĩ. Nhờ gương sáng và việc làm của anh, anh đã trở thành một nhân tố quan trọng kết hợp cả cộng đoàn huynh đệ trong Chúa Kitô.

Anh muốn thực sự quên hẳn địa vị của mình trong xã hội. Không gì làm anh đau khổ hơn là khen anh thuộc về một dòng họ vương giả. Trong nhà anh thích làm những công việc tầm thường, mà trước kia anh không bao giờ đụng tay đến. Anh rất thích làm các việc vệ sinh như lau nhà, quét màng nhện, rửa chén. Có lẽ trước kia anh đã được người khác làm cho hưởng, nay anh tập làm cho người khác hưởng, dù nhiều khi anh vụng về. Ra đường, anh không bao giờ chịu mặc áo dòng đẹp, mà gia đình đã may. Người ta không tài nào nhận ra giữa các tập sinh có ông hoàng. Một lần kia, vì không nhận ra anh một nhà quí phái tỏ ý thương hại ông hoàng con Gonzaga khi không đi đem chôn mình trong Dòng Tên. Anh bình thản trả lời: “Anh ấy chưa chết đâu, trái lại vẫn sống và sống hạnh phúc nữa.”

Nhờ vào trí thông minh, tính cần mẫn, óc tinh tế và vì đã được học khá nhiều từ trước, nên anh đã hoàn tất giáo trình triết lý và bắt đầu giáo trình thần học ngay khi chưa mãn Nhà Tập.

San Luis Gonzaga | San luis gonzaga, Santoral, San luis

Sau hai năm Nhà Tập, anh tuyên khấn và nhập học viện Roma. Anh sung sướng được chỉ định ở trong căn phòng nhỏ và xấu nhất nhà. Sau này, chính thánh Gioan Berchmans cũng cho là được một đặc ân khi dọn đến ở trong căn phòng ấy. Anh không muốn giữ gì trong phòng để dùng riêng. Đến nỗi ngoài cuốn Kinh Thánh, anh chỉ còn giữ bộ Tổng Luận Thần Học của thánh Tôma. Nhưng khi được bỏ cả bộ Tổng Luận vào tủ sách chung vì nhà thiếu sách, anh cũng rất vui lòng. Thế là anh chỉ còn giữ một cuốn Kinh Thánh.

Ham thích đọc Kinh Thánh, anh đặc biệt say mê cuộc tử nạn của Chúa. Hình như ngay từ nhỏ, anh đã có ý thức rất mạnh về tình trạng tội lỗi của con người, Trước mắt anh là cảnh sống vắng bóng Chúa nơi các triều đình. Chính dòng tộc Gonzaga cũng được biết đến nhiều vì những cuộc tranh chấp đẫm máu, những cuộc tàn sát ghê rợn. Tóm lại, anh thấy chỉ vì danh lợi, người ta dễ dàng đặt Chúa ra ngoài lề cuộc sống, hoặc biến Ngài thành một thứ đồ trang sức không hơn không kém. Vì thế, ngay từ nhỏ, hình ảnh cây thập giá đã ăn sâu vào tâm trí anh. Cầu nguyện, hãm mình, hi sinh, đánh tội… chưa đủ. Anh thấy phải đáp lại tình yêu thập giá bằng một tình yêu thập giá. Anh mơ ước chịu tử đạo, hay ít nữa, sống cực nhọc vì yêu Chúa. Để chuẩn bị ngày mai ấy, anh đã làm tất cả những gì phải làm và có thể làm được.

 

Nghĩ rằng sau này mình sẽ đi truyền giáo ở châu Á, anh tích cực chuẩn bị hành trang thừa sai. Anh xin phép đi dạy giáo lý cho trẻ em, nhưng Bề Trên từ chối vì tình trạng sức khỏe. Bù lại, anh được trao phó nhiệm vụ dạy giáo lý cho những người giúp việc trong học viện. Anh nhiệt thành với công việc, và thân thiết với từng người, làm cho ai nấy đều học được không những chỉ giáo lý, mà cả những gương sống động nữa. Nhiều anh em trong học viện nói anh làm như thể cả công cuộc cứu rỗi thế gian được tóm gọn trong việc dạy giáo lý cho nhóm người bình dị ấy.

Khi trong gia đình anh xảy ra một vài chuyện rắc rối, chính Cha Tổng Quyền đã sai anh đi làm việc hòa giải. Em anh và ông chú tranh nhau một tòa lâu đài, rồi chuyện hôn nhân gây tai tiếng của Rođôlphô. Anh đã thành công tốt đẹp không những vì lòng ngay thẳng, vì trí phán đoán mà còn vì gương mẫu đời sống bác ái và khiêm tốn.

San Luigi Gonzaga Reggio Emilia - thaqabia

5.     TÌNH YÊU CAO CẢ

Đầu năm 1591, cả nước Ý lâm nạn đói kém. Hậu quả của nạn đói là bệnh dịch lan tràn. Dân chúng khắp nơi đổ xô về Roma để tìm thầy chạy thuốc. Các nhà thương đều chật ních. Cảnh chết chóc làm cho cả kinh thành sống trong tình trạng kinh hoàng. Anh em Giêsu hữu ra sức góp phần xoa dịu vết đau thương. Hằng ngày người ta thấy họ trên các đường phố, đi lạc quyên giúp người đói, hay săn sóc những người bị bệnh dịch. Cha Tổng Quyền Aquavia đã cho thành lập thêm một nhà thương mới. Ngay từ những ngày đầu tiên mới phát hiện, đã có nhiều học viên đến xin Cha Viện Trưởng cho phép đi cứu trợ, trong số đó có anh Lu-y. Các anh đi đây đó khắp nơi trong thành phố thu góp quần áo, đồ ăn, đem về giúp người đói rét. Riêng Lu-y nhờ quen biết hàng quí tộc, đã xung phong ăn mặc lem luốc đến từng nhà sang trọng xin đồ cứu trợ. Cả đến gia đình anh cũng gởi vào giúp theo lời yêu cầu của anh. Khi gặp người bị bệnh các anh không ngại vác trên vai đưa về tận nhà thương săn sóc chu đáo.

21 junio San Luis Gonzaga, comienzo del solsticio de verano

Anh Lu-y hình như rất thích công việc nguy hiểm này. Anh dành lấy những người bị bệnh nặng nhất, và không từ khước một việc khó khăn hay ghê tởm nào. Khi bệnh dịch lan tràn mạnh hơn, hầu như tất cả học viện Roma trở thành một trung tâm cứu trợ. Nhưng chẳng bao lâu sau, các Bề Trên nhận thấy các học viên ngả như rạ: nhiều anh bị lây bệnh và vài anh đã chết. Cùng với nhiều học viên khác, anh Lu-y bị cấm đặt chân đến nhà thương. Nhưng muộn rồi. Dù theo lời năn nỉ của anh, Bề Trên đã cho phép anh đi giúp những người bệnh (bệnh nhẹ và không lây nhiễm) ở nhà thương Đức Mẹ An Ủi. Tuy vậy, anh vẫn ngã bệnh. Một hôm trên đường đến nhà thương, anh gặp một người nằm giữa đường, anh tới xốc người bệnh lên và cõng vào nhà thương. Trước khi ra về anh cũng săn sóc họ cẩn thận. Đến nhà, anh liệt giường luôn. Hôm ấy là ngày 3.3.1591. Chỉ mấy ngày sau, anh chịu các bí tích sau hết, anh Lu-y vui vẻ dù cả cộng đoàn đều rướm lệ. Nhưng vài ngày sau, có vẻ anh thoát nguy hiểm: cơn bệnh kéo dài thay vì giết bệnh nhân ngay lập tức.

Trong thời gian chữa trị, anh chịu đựng cơn đau hay đúng hơn, anh chờ đón cái chết với một đức tin mãnh liệt, một tinh thần siêu nhiên sáng ngời. Anh thường trao đổi chuyện thiêng liêng với những người thăm viếng. Cả đến cha linh hướng của anh là thánh Robertô Bellarminô, hay Hồng y thượng phụ Seipio Gonzaga cũng phải nhìn nhận chưa từng thấy một người vui lòng chấp nhận cái chết đến thế.

Sau 3 tháng rưỡi bị cơn bệnh hành hạ, đêm 20.8.1591, vào khoảng 11 giờ 15 phút, anh ôm chặt thánh giá trên ngực, miệng lặp đi lặp lại: “Tôi vui sướng ra đi, tôi vui sướng ra đi.” Và anh tắt thở, trên môi còn điểm một nụ cười tươi.

 

Trích trong Chư Thánh Dòng Tên


 

TUỔI GIÀ, KHI THIẾU MỘT NGƯỜI BẠN ĐỜI.

Nguyễn Kim Thủy-Những câu chuyện Nhân Văn

Trong cuộc sống, nhất là khi về già, một trong những điều quan trọng nhất, đó là có cho mình một người bạn đời. Nếu người ta không may, vì mộ lý do nào đó, ví dụ như ly hôn, hay một trong hai người kia ra đi quá sớm, mà phải sống cuộc đời còn lại một mình đơn lẻ, thì quả là một điều bất hạnh.

Bởi vì, người bạn đời là một trong những yếu tố quan trọng, để quyết định cho bạn có một cuộc sống trong quãng thời gian còn lại, hạnh phúc và viên mãn kể cả khi bạn nghèo, thậm chí nó còn giúp cho bạn kéo dài thêm tuổi thọ.

Thật vậy, các bạn thử nghĩ xem, khi con người ta bắt đầu bước sang cái tuổi xế chiều, với những năm tháng của cuộc đời, mà phải sống trong cô đơn và im lặng, thì sẽ buồn như thế nào.

Đến bữa ngồi ăn một mình, và tối đến đi ngủ cũng một mình, đêm đêm khi tỉnh giấc, nhìn sang bên cạnh cũng chẳng có ai, sáng sáng tỉnh dậy, cũng vẫn chỉ một mình…thì đó là một điều đáng sợ và buồn tủi.

Cuộc đời này, người sống bên bạn lâu nhất, không phải là bố mẹ và con cái, cũng không phải anh em hay bạn bè, càng không phải là đồng nghiệp hay người yêu, mà chính là người bạn đời. Đấy mới thực sự là người duy nhất chung sống bên bạn suốt đời.

Bạn bè, dù có chân thành đến mấy, cũng không thể ở bên bạn mãi mãi. Bố mẹ, dù có tốt đến mấy, cũng không thể sống với bạn cả đời. Con cái, có thân thương là vậy, cũng không thể sống mãi bên cạnh bạn, rồi cũng có lúc chúng vỗ cánh bay đi, để có một cuộc sống riêng.

Anh em, dù có là máu mủ ruột thịt thân tình, cũng không thể ở bên bạn mỗi ngày, cũng không thể chăm sóc bạn những khi “Tối lửa tắt đèn”. Chỉ có vợ chồng, người mà ta vẫn thường gọi là bạn đời, mới có thể chung sống và bên bạn lúc sớm chiều.

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi khi nhìn thấy những cụ ông, cụ bà với mái tóc bạc phơ, dắt tay nhau từng bước đi bộ trên đường, tôi rất ngưỡng mộ.

Lúc đó, tôi mới hiểu được rằng, con người ta có được những khoảnh khắc hạnh phúc như vậy, họ đã phải cùng nhau trải qua không biết bao nhiêu những sóng gió gian truân của cuộc đời, để rồi, họ vẫn còn ở bên nhau, tay nắm tay, và cùng nhau đi nốt quãng đời còn lại, cho đến hết cuộc đời của mình.

Đừng vì một điều gì trong cuộc sống, mà đánh mất đi người vợ hay người chồng của mình, người mà hằng ngày vẫn hết mực yêu thương mình nhất. Vì suy cho cùng, họ mới chính là người sẽ ở lại bên bạn, và sống với bạn trong cuộc đời này.

Chính vì thế, hãy thật trân trọng người bạn đời của mình, và trân trọng những gì mình đang có khi còn có thể !!!

( Sưu tầm ).

Luật Sư đi trốn – Hành vi 331 của Trọng Lâm phá hoại hệ thống tòa án Việt Nam.

Luật sư bào chữa vụ Tịnh Thất Bồng Lai đến Hoa Kỳ

Luật sư Nguyễn Văn Miếng và Luật sư Đặng Đình Mạnh tại thủ đô Washington, D.C Hoa Kỳ hôm 16/6/2023. Ảnh của RFA

Cộng Sản thời điện toán của thế kỷ thứ 21 thật là “lọa”, chúng sáng chế ra luật 331, “Lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm lợi ích Nhà Nước”.

  • Độc đáo của Luật này là biến bất kỳ ai, nhà tu, nhà giáo, thậm chí Luật Sư, nhà báo, … tất tần tật thành nghi phạm, tội phạm.
  • Luật đã giúp Côn An bỏ tù bất kỳ ai mà Đảng muốn một khi họ dám lên tiếng phản biện về xã hội trước công luận qua báo chí, qua các kênh Youtube, qua mạng Facebook, …
  • Luật 331 là chiếc đũa thần vạn năng của Đảng có sức hô biến thiện thành ác, trắng thành đen quả là kỳ diệu.
  • Luật 331 dư sức biến quyền của Luật Sư trước tòa thành quyền của củ khoai, Đảng ta muốn ăn tươi nuốt sống củ khoai lang lúc nào cũng được.
  • Điều không may cho Đảng là, nay đang có 2 ông Luật Sư cứng cựa, can trường sau khi cãi miễn phí cho các sư Thiền Am ở Long An xong thì bị Côn An tức khí điều tra vì họ dám phê phán mình điều tra sai, điều tra không đúng, không đủ.
  • Các Luật sư này láo phải cho chúng biết tay, thế là Côn An ra nhiều giấy, nhiều lần triệu tập với lý do,  Luật sư có dấu hiệu vi phạm điều thần diệu 331, lợi dụng quyền “tự ro ngôn nuận”.
  • Thế mà có hai ông Luật Sự lại dám không thèm trình diện theo lệnh của Côn An Long An. Họ chạy trốn sang Mỹ. Đó là hai ông luật sư Nguyễn Văn Miếng và Đặng Đình Mạnh.
  • Còn đâu là uy danh vang lừng của Côn An nữa, Luật Sư coi bộ chả coi lệnh của Côn An ra cái gì, các Luật Sư còn nói Côn An không làm đúng pháp luật, trình tự tố tụng, cho nên Luật Sư không có lý do gì phải gặp và giải trình với Côn An.
  • Không đâu oai bằng CHXHCN Việt Nam, đến Luật sư cũng phải đi trốn, hệ thống pháp luật ê chề như luật lệ Đại Bàng trong nhà tù hình sự.

Tiến sĩ Trọng, Tiến sĩ Tô Lâm thích nhá, muốn bắt ai thì bắt, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Chỉ có điều trong mắt nước ngoài, coi chừng họ coi các Ngài chỉ là tội phạm vừa hèn với giặc, vừa ngu ác đến mức hành vi 331 của Trọng Lâm đủ sức phá tan hệ thống tòa án Việt Nam.

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Luật sư Đặng Đình Mạnh, người đã giúp tranh tụng cho các vụ án nhân quyền như vụ cướp đất ở Đồng Tâm, vụ án tôn giáo như Thiền Am, tịnh thất Bồng Lai, … (Hình của Ls Mạnh)

Luật sư Đặng Đình Mạnh sáng 19 tháng 6 năm 2023 cho biết:

“Tôi có biết về quyết định truy tìm đối với tôi của công an tỉnh Long An. Vì quyết định ấy không căn cứ theo những quy định của tố tụng hình sự, cho nên, tôi đánh giá rằng tôi không có trách nhiệm phải chấp hành.

Hơn nữa, việc tôi xuất cảnh, đi lại, cư trú và chọn nơi lao động như thế nào là quyền của tôi. Đây là quyền tự do của công dân theo hiến pháp. Không một cơ quan nào có thể cản trở những quyền này của tôi cả. Thực tế, tôi đang thực hiện các quyền tự do của công dân theo Hiến pháp quy định mà thôi.”

Nói với luật sư Nguyễn Văn Miếng về cáo trạng đối với Nguyễn Quốc Đức ...

Luật sư Nguyễn Văn Miếng trình bày:

“Tôi đến Hoa Kỳ vào trưa ngày 16/6/2023 trong cơn mưa nhè nhẹ tại phi trường Dulles, tiểu bang Virginia. Tôi như trút được một gánh nặng sau 100 ngày bị săn đuổi, ngay khi máy bay tiếp đất, lăn bánh trên phi đạo…”

Còn một Luật Sư nữa, ông Đào Kim Lân cũng đến được bến bờ tự do và đang ở Mỹ.

Vụ Tịnh thất Bồng Lai: Một luật sư bị điều tra - Báo Tiền Phong

Số phận các Luật Sư tham dự Tòa còn như vậy huống hồ gì dân đen.

Tội nghiệp cho dân Việt nước tôi.

12 người đàn ông giận dữ hay câu chuyện về sự đồng thuận của bồi thẩm đoàn

Chau Nguyen Thi

Tại Mỹ, bồi thẩm đoàn là 12 thường dân được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Việc lựa chọn ngẫu nhiên giúp cho cả hai phía nguyên cáo và bị cáo không thể nào tác động đến quyết định của 12 con người này. 12 người này sẽ có học vấn khác nhau, quan điểm khác nhau, nhận thức khác nhau về công lý và thậm chí cũng không quen biết nhau trước đó. Những người dân bình thường tham gia bồi thẩm đoàn cũng không quen biết thẩm phán, không quen biết luật sư bào chữa và công tố viên nên sẽ ra quyết định một cách độc lập mà không chịu sức ép từ bên ngoài.

Tại sao Luật pháp Mỹ cho phép làm vậy? Là vì họ cho rằng đó chính là cách giúp cho Công lý được tìm ra và thực thi. Bởi 12 thành viên này chính là một mô hình xã hội thu nhỏ. Sau khi nghe các thành phần trong phiên tòa cung khai, bào chữa và phán quyết, họ, những người dân thường có đồng thuận hay không. Và dù muốn, sẽ không thể nào hối lộ được toàn bộ những người nằm trong danh sách những người có khả năng được chọn làm bồi thẩm đoàn. Vì họ là những lựa chọn ngẫu nhiên.

301 Moved Permanently

Và khi muốn ra phán quyết, chỉ cần một trong 12 người này nói Không, thì lập tức Bồi thẩm đoàn sẽ phải sẽ phải xem xét điều tra lại.

Vào năm 1957, nước Mỹ đã làm ra bộ phim 12 người đàn ông giận dữ. Câu chuyện bắt đầu ở một tòa án ở Thành phố New York, nơi một thanh niên 18 tuổi từ một khu ổ chuột đang bị xét xử vì tội đâm chết người cha. Đến lúc bồi thẩm đoàn phải đưa phán quyết, quan toà yêu cầu đoàn bồi thẩm xác định bị cáo có tội hay không, và thông báo thêm rằng nếu họ kết tội, bị cáo sẽ phải chịu hình phạt tử hình.

Ban bồi thẩm được đưa đến một phòng riêng, lúc đầu họ bỏ ra một thời gian ngắn để nói lời xã giao trước khi bắt đầu công việc. Có thể thấy rõ vào đầu các bồi thẩm viên đã quyết định rằng bị cáo có tội, và họ có ý định đưa phán quyết này mà không cần bàn thảo – chỉ trừ một người là Bồi thẩm #8 , người duy nhất biểu quyết “vô tội” trong cuộc biểu quyết đầu tiên. Ông ta giải thích rằng đây là một việc hệ trọng cho nên không thể đưa ra phán quyết mà không bàn thảo.

Lá phiếu của ông đã làm tức giận các bồi thẩm viên khác, đặc biệt là Bồi thẩm #7 người đang để tâm trí vào một trận bóng chày tối hôm đó, và Bồi thẩm #10, người tin rằng hầu hết mọi người xuất thân từ các khu ổ chuột có khả năng phạm tội cao hơn người bình thường.

Nhưng chỉ vì một lá phiếu vô tội đó, từ từ sự thật được hé lộ trong 96 phút suy nghĩ, bàn thảo, xem lại các chứng cứ- luận cứ của vụ án và bỏ phiếu. Kết quả, toàn bộ 12 thành viên Bồi thẩm đoán bỏ phiếu Vô tội cho chàng thanh niên.

Bộ phim này đã mô tả thực trạng của tư pháp Mỹ. Và tới nay nó là 1 trong 100 bộ phim kinh điển hay nhất nước Mỹ qua mọi thời đại. Trong học đường, trẻ con trung học cũng dựng kịch 12 người đàn ông giận dữ để học hỏi.

Tại một buổi chiếu phim ở Trường luật Đại học Fordham, thẩm phán Sonia Sotomayor của Tối cao pháp viện Hoa Kỳ nói rằng bà đã chịu ảnh hưởng từ bộ phim khi xem nó trong lúc học đại học, khiến bà muốn theo ngành luật. Bà nhận cảm hứng từ lời nói của bồi thẩm viên số 11 vốn là một người nhập cư, về lòng tôn kính của ông đối với hệ thống tư pháp Mỹ.

Hãy nghĩ về phán quyết vô tội với thanh niên 18 tuổi từ 12 người đàn ông giận dữ này.

Indiana Repertory Theatre

Hệ thống bồi thẩm đoàn của họ được xây dựng dựa trên niềm tin vào lương tri của những thường dân trong xã hội, dựa vào những người có khả năng cảm nhận đúng – sai một cách thông thường hơn là dựa vào trình độ chuyên môn.

Nếu như những con người bình thường mà không chấp nhận những phán quyết vô lý từ một vụ án quy tội sát nhân cho một thanh niên, thì phỏng việc coi anh ta là sát nhân có ích gì? Anh ta có thể chết nhưng niềm tin vào Công lý, vào Công bằng, Liêm Chính và sự Nghiêm cẩn khi phải phán một người tội chết, sẽ tan tành mây khói.”

Ảnh của

Fb Phung Chi Kien


 

Đừng cố học giỏi ở Việt Nam

LÂU LÂU ĐỌC ĐƯỢC 1 BÀI VIẾT HAY

Bài viết gây bão cộng đồng mạng:

“Ăn thì phải no, học thì phải giỏi, yêu là phải cưới, cưới là phải sinh con, sinh con thì con cũng phải học giỏi, học giỏi là phải trường chuyên, trường chuyên nhưng còn phải lớp xịn, lớp xịn là phải đỗ đại học, đại học là phải top đầu, top đầu là phải… không thất nghiệp, và không thất nghiệp… rất có thể phải “chạy” – điều mà những người Giỏi thực sự không bao giờ làm.  Bạn thấy đấy, rất nhiều nghịch lý luẩn quẩn hiện có trong xã hội của chúng ta đều ít nhiều liên quan đến một từ: GIỎI. Tuy nhiên, đã bao giờ bạn nghĩ chúng ta chẳng nên cố bằng mọi giá để học quá giỏi? Dưới đây là 5 lý do mà bạn có thể sẽ cực kỳ “phản đối”!

  1. Để học giỏi ở Việt Nam cần phải tốn quá nhiều thời gian cho việc học, học trên lớp, học ở nhà, học thêm, học phụ đạo… Trong khi một ngày mãi mãi cũng chỉ có 24 giờ do đó, thời gian dành cho những thói quen lành mạnh như chơi thể thao, thư giãn rèn luyện thân thể không có nhiều và càng học lên cao càng bị cắt ngắn, dẫn đến nguy cơ lâu dài: sức khoẻ yếu. Sức khoẻ yếu, học giỏi vô nghĩa!
  2. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải “học đều” – một khái niệm đặc sản nhưng không hề thơm ngon của nền giáo dục Việt Nam, tức là phải học giỏi tất cả các môn, đầu tư thời gian dàn trải để giỏi tất cả các môn đồng nghĩa là rất khó cho bạn để có chặng nghỉ nghĩ về những gì mình yêu thích nhất và có tiềm năng phát triển nhất. Rất nhiều học sinh giỏi cái gì cũng giỏi nhưng chẳng thật sự giỏi cái gì. Rất nhiều học sinh khi được hỏi “Em thích làm gì nhất?”, trả lời “Em không biết.” Một hành trang quá cồng kềnh và bị nhồi nhét chỉ làm cho cuộc hành trình của bạn thêm mệt mỏi. Hãy biết chọn lọc!
  3. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn cần phải hấp thụ rất nhiều kiến thức bạn học xong không biết để làm gì? Không là kỹ sư, không theo nghiệp kỹ thuật, bạn sử dụng đạo hàm, sử dụng hàm số, sử dụng tích phân để làm gì……….? Mà muốn sử dụng, bây giờ có vô số phần mềm và ứng dụng làm thay con người những tính toán đó. Bạn có định tự kéo cày trong khi nhà có trâu và có máy? Người ta hay nhắc bạn tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, nhưng không ai nhắc bạn tiết kiệm tài nguyên não của chính bạn.
  4. Để học giỏi ở Việt Nam, ít nhiều bạn bị mất một chút tự do, và buộc phải là bản sao tư duy của ai đó. Nói đến Tấm là phải ngoan hiền, nói đến Cám là phải gian ác, trong khi bạn đang nghĩ đến điều ngược lại, nhưng không được đâu, cô không thích điều này! Bạn chưa hiểu, bạn cần học lại, học kỹ hơn, không được, lớp cần 90% học sinh giỏi, chỉ tiêu chỉ được 10% học sinh khá, và tuyệt nhiên không được ai ở lại lớp. Bạn cần phải là một bông hoa đẹp trong vườn hoa toàn Học sinh Giỏi của cả lớp, của trường, trong cánh rừng học sinh giỏi của Thành phố. Việc chấp nhận mất tự do tư duy từ nhỏ trong học đường làm cho bạn dễ chấp nhận hơn với việc mất tự do trong cuộc sống sau này.
  5. Để học giỏi ở Việt Nam, cuộc sống của bạn rất dễ bị mẻ, bị nứt, bị lệch và rất có thể bị vỡ nữa. Bạn còn quá trẻ và non nớt, vì thế nên bạn cần đi học để trưởng thành lên theo năm tháng, nhưng bố mẹ và thầy cô luôn cần bạn phải là số 1, không được là số 2, nhất định phải là số 1, và họ thi nhau chất lên lưng bạn những áp lực nặng nề mà chính bạn cũng không thể biết được đâu là tới hạn. Đến khi bạn kém giao tiếp, ứng xử lúng túng, không biểu đạt ngay cả những gì mình muốn nói, không tự tin giữa đám đông chỉ vì ngoài giờ học bạn không còn người bạn thân nào hơn Facebook, Zalo và máy tính và điện thoại, không có thời gian để quan sát cuộc sống tươi đẹp xung quanh. Coi chừng! Rất có thể, đấy là cách những tờ giấy khen Học sinh giỏi âm thầm đánh cắp tuổi thơ của bạn.

Bố mẹ Việt đang nhầm lẫn tai hại giữa: học Tốt và học Giỏi, nhiều phụ huynh cứ có niềm tin mù quáng là con cứ học giỏi là chắc chắn là có vé đi ga “Tương Lai Hạnh Phúc” thế là cứ cố nhồi con học cho đến khi họ nhận ra sự thật bẽ bàng: học giỏi mà không hạnh phúc thì còn bất hạnh hơn học dốt mà biết cái gì là tốt.

Vấn đề không nằm ở Bộ Giáo dục, mà nằm ngay trong chính tâm thức mỗi ông bố bà mẹ: có dám để cho con mình học dốt – học theo đúng năng lực của mình hay không, hay sợ dư luận chê cười? Sợ đến chết!

Bên cạnh quyền được Khổ, quyền được Dốt cũng là một trong những quyền của học sinh đang bị phụ huynh Việt xâm phạm thô bạo.

Nếu con bạn là cây Tùng xin đừng trồng trong chậu, chăng đủ thứ đồ trang trí lên và gọi nó là cây Thông Noel”.

________________

Bài viết của tác giả Hoàng Huy.

Bạn nghĩ sao?

Khoảng lặng…

Khoảng lặng…

LS Ngô Anh Tuấn

Luật sư Nguyễn Văn Miếng và Luật sư Đặng Đình Mạnh tại thủ đô Washington, D.C Hoa Kỳ hôm 16/6/2023. Ảnh: RFA

Chỉ trong một thời gian ngắn, một số người bạn mà tôi yêu quý đã lần lượt rời bỏ đất nước ra đi. Nguyễn Anh Tuấn, một người bạn trẻ tuổi nhưng chín chắn, chững chạc, một người tri thức có tầm ảnh hưởng thực sự trong giới đấu tranh cho sự tiến bộ xã hội đã tới Canada. Luật sư Đặng Đình Mạnh, một luật sư mạnh mẽ, khôn ngoan, kiên định, một người đồng nghiệp thân thiết trong rất nhiều vụ án chính trị đã tới Hoa Kỳ. Hai luật sư thân tín khác là luật sư Nguyễn Văn Miếng và Đào Kim Lân cũng đã tới Hoa Kỳ. Tôi mừng cho cá nhân những người bạn của mình nhưng tôi lo cho những người ở lại. Liệu rằng làn sóng ra đi sẽ chấm dứt hay sẽ tiếp tục có những người sẽ ra đi? Liệu rằng những tiếng nói phản biện vẫn sẽ còn tồn tại hay sẽ tắt dần theo thời gian?

Những người bất đồng chính kiến dám thể hiện ra hành động (dù chỉ là thông qua lời nói), vốn đã rất ít. Những luật sư dám đứng ra bảo vệ những người này vốn đã ít nay càng ít hơn, khi mà một số người bị tước thẻ hành nghề, một số người dừng cuộc chơi giữa chừng, số khác thì phải đi nước ngoài. Tổng trên cả nước, những luật sư dám đứng ra bảo vệ thân chủ trong các vụ án có màu sắc chính trị, đếm đi đếm lại không quá hai bàn tay, nay bị bớt đi gần một nửa. Số lượng giảm, chất lượng chưa biết giảm đi bao nhiêu nhưng tinh thần người trong cuộc là giảm đi rõ rệt. Còn nhớ, khoảng 3 năm trước, trong một vụ án đình đám, khi kết thúc phiên toà dài ngày, tôi bị cưỡng ép để lấy luôn USB dữ liệu điện tử ghi nhận diễn biến phiên toà, luật sư Mạnh và luật sư Miếng chạy lại hỗ trợ, bảo vệ tôi nhưng bị cản trở, xô ngã. Phiên toà mới đây ở Đà Nẵng, tôi bị buộc ra khỏi phiên toà một cách tức tưởi dù không vi phạm nội quy phiên toà. Dù rất muốn lên tiếng, nhưng đồng nghiệp tôi phải ngồi im, vì nếu anh ấy phản ứng lại và theo chân tôi thì không còn ai ở lại bảo vệ thân chủ nữa. Nếu như trước đây, có nhiều luật sư cùng tham gia thì nếu có 1-2 người bị mời ra thì cũng bình thường vì những người còn lại vẫn có thể tiếp tục phần việc của mình. Thế nhưng, những ngày tươi đẹp ấy có vẻ như đã thành dĩ vãng xa rồi.

Những người ra đi: hoặc là họ bị dồn nén tới mức phải dứt áo ra đi hoặc là họ không còn động lực để ở lại. Không ít nghi vấn: nhiều người lên tiếng đấu tranh với mục đích là kiếm được “tấm vé” xuất ngoại; tôi nghĩ có thật, nhưng vô cùng hiếm hoi. Nhiều lần tôi tự hỏi, thay vì dồn ép những người bất đồng chính kiến tới mức họ phải đưa ra những lựa chọn cực đoan thì tại sao chính quyền không lắng nghe, đối thoại với họ để tháo gỡ mâu thuẫn, tận dụng tri thức của họ để góp phần xây dựng đất nước dân chủ, tiến bộ hơn? Tôi tự hỏi rồi cũng tự trả lời.

Với một số người khác đang nằm trong “danh sách đen”, có lẽ cả hai điều trên chưa có nên họ vẫn còn ở lại đây. Nếu chỉ sống cho bản thân thì quá dễ dàng với không ít người– họ có thể xuất ngoại mà không phải chọn con đường tị nạn chính trị. Tuy vậy, vì nhiều lý do riêng mà họ không chọn cách ra đi. Thế nhưng, điều họ muốn chưa hẳn đã là điều người ta muốn; nên việc họ muốn ở lại chưa chắc đã là thứ quyết định việc họ buộc phải ra đi. Trên mảnh đất này, bạn không thể tự quyết được mọi điều bạn muốn đâu! Vậy nên, hãy cứ sống tốt, sống vui được ngày nào thì hãy cứ cố gắng để mai này không phải ân hận khi ngước nhìn về quá khứ, thế là đủ. 

N.A.T.

Nguồn: FB Tuan Ngo

HƠN CẢ MỘT CHỌN LỰA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy yêu thương thù địch!”.

“Hãy quên mọi việc tử tế ngay khi bạn vừa làm xong. Quên những lời khen ngợi ngay khi bạn vừa giành được. Quên những lời phỉ báng trước khi bạn có thể lặp lại nó! Hãy nhớ mọi lời hứa và giữ đúng lời. Nhớ đến những ai đã giúp đỡ bạn và hãy trở thành một con nợ biết ơn! Quên từng ưu phiền; để hy vọng và tha thứ. Và hãy nhớ, thiên đường ở trên
bạn!”.

Holy Spirit Catholic Church Fountain Valley

Kính thưa Anh Chị em,

Hơn cả những lời khuyên để biết “Thiên đường ở trên bạn!”, lời khuyên của Chúa Giêsu cho biết, “Thiên đường ở trong bạn!”. Cả hai bài đọc hôm nay nói đến “Agapê”, tình yêu; và hơn nữa, “Hãy yêu thương thù địch!”. Đây là một mệnh lệnh, còn ‘hơn cả một chọn lựa!’.

Thư Côrintô nói đến ‘Agapê’ theo khía cạnh quảng đại. Đó là lòng bác ái, Phaolô gọi đây là ‘công việc của lòng thương xót’. Để thúc đẩy lòng quảng đại của các tín hữu, Phaolô nhắc đến sự rộng rãi của giáo đoàn Macêđônia; bên cạnh đó, Phaolô nhắc đến sự quảng đại vô song của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, Đấng ‘giàu có’ đã ‘nên nghèo khó’, “Để nhờ việc nghèo khó của Ngài, anh em nên giàu có”. Nêu gương Ngài, Phaolô kêu gọi tín hữu hãy cho đi như Thiên Chúa đã cho, trao tặng ‘Agapê’ như Thiên Chúa đã trao tặng.

 

Trong cuốn “Tình Yêu và Trách Nhiệm”, Karol Wojtyla nhận xét, “Yêu một người bằng tình nhân ái thực sự, là ‘ước ao Thiên Chúa’ cho người đó, vì Thiên Chúa là điều tốt lành tối cao của con người”. Chính vì tình yêu tốt lành này mà Chúa Kitô yêu cầu những ai theo Ngài đi một bước xa hơn, bằng cách đem những thù địch của mình về cho Thiên Chúa; hoặc nói như thánh Giáo Hoàng, “ước ao Thiên Chúa” cho chính họ. Lời kêu gọi này là một mệnh lệnh, ‘hơn cả một chọn lựa!’. Vì thế, cầu nguyện cho kẻ thù là phương thế giúp đạt tới chiều sâu của tình yêu;

Dominusvobiscuit: THE PRESIDENT, THE POPE AND THE UNCONSCIOUS WIFE

Chúa Giêsu không chỉ dạy “đừng chống lại với kẻ hung ác” nhưng còn phải cầu nguyện cho họ. Việc cầu nguyện này sẽ biến đổi tận bên trong linh hồn mỗi người để chúng ta có thể hân hoan ca tụng Chúa; Thánh Vịnh đáp ca biểu lộ, “Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa!”. Và như thế, chúng ta nên “hoàn hảo như Cha trên trời, Đấng hoàn hảo!”.

Anh Chị em,

“Hãy yêu thương thù địch!”. Yêu thương thù địch, cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ, vu khống, hãm hại chúng ta… quả là một điều vượt sức người. Tự sức, chúng ta không thể làm được! Chỉ trong cầu nguyện chân thành, với sự trợ giúp của Chúa; kín múc sức mạnh từ Thánh Lễ, trong Lời Chúa, chúng ta mới có thể chiến thắng chính mình để yêu thương như Ngài, Đấng đã sống trọn vẹn ‘Agapê’, đến nỗi chết cho người mình yêu. Vì thế, “Yêu thương thù địch” phải là một ‘bầu khí’, một ‘tính cách’, ‘hơn cả một chọn lựa’ nếu chúng ta muốn dõi bước theo Ngài. Và đừng quên, việc cầu nguyện cho những ai bắt bớ và làm khổ chúng ta sẽ là phương tiện đưa chúng ta đến gần Chúa hơn, giống Chúa hơn; và đó cũng là con đường ngắn nhất để bạn và tôi nên thánh.

Suy niệm Tin Mừng – Thứ Bảy Tuần I Mùa Chay (24.02.2018): Yêu thương kẻ ...

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy cho con yêu mến những ai đang ‘bắt bớ con’ cách này cách khác; và như thế, con đang ở trong thiên đàng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Kim Bang Nguyen


 

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC:-“Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan”

Đức Tâm (TBKTSG Online)

Sáng ngày 17-9, nhà văn Nguyên Ngọc có buổi nói chuyện cùng các bạn trẻ TPHCM về Tây Nguyên, mảnh đất mà ông đã gắn bó hơn nửa cuộc đời. Câu chuyện nói về Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm trong bối cảnh hôm nay. TBKTSG Online lược ghi.

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.

Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật.

Tây Nguyên - YouTube

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.

Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên, cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không?

Để khôi phục rừng Tây Nguyên, chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua, mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu.

Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của “Cuộc cách mạng một cọng rơm”, không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây, dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên, họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh, nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau, chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ.

Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy, rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần, đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số, trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng, rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên cũng rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao?

Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết, “Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều”.

Xin nói qua từ mọi. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ mọi và càng sai khi dùng từ mọi rợ theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên.

Thật ra, từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoi trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar – Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahanr Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố tơ bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng.

Nói tiếp chuyện văn minh. Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá.

Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong chờ bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: “Nói tầm bậy”. Và những thanh niên trong xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.

Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên giải thích rằng với họ, làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành.

Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt – Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với trời đất.

Emerging Ethnobiologists: Forest of Bhutan I. The biodiversity of the ...

Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày ngay, xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người, ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá.

Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi  mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

Ảnh: NV Nguyên Ngọc và Anh hùng Núp.

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen