“LÒ CỦI” LÀ LỘNG QUYỀN

Kim Dao Lam

Fb Cao Van (2022)

Dân Việt rất hiếu học nhưng toàn học những thứ vô ích.

Một anh bạn người Hàn Quốc sống khá lâu ở Việt Nam đã nhận xét về câu chuyện “lò củi” như thế này:

Lúc đầu “tao” nghĩ đây là một chiến dịch chống tham nhũng do nhà nước phát động, lấy biệt danh “lò củi” là tên của chiến dịch.

Nhưng sau tìm hiểu mới biết đây là hình ảnh ví von của dân gian về công cuộc chống tham nhũng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng – Còn được phong danh là “người đốt lò vĩ đại”

Thẳng thắn ra mà nói, dân Việt kém hiểu biết.

Tại sao lại hy vọng vào câu chuyện của của “chiếc lò” và một cá nhân trong công cuộc chống tham nhũng?

Ở Hàn Quốc chống tham nhũng rất hiệu quả, đến mức không kẻ tham nhũng nào có thể yên ổn, dù là tổng thống cũng bị sờ gáy.

Vì Hàn Quốc chống tham nhũng bằng hoàn thiện thể chế nhà nước, và hệ thống Pháp luật.

Không có ai trở thành Bao Công “ngày xử án dương gian, đêm xử án âm phủ” vừa là kẻ điều tra, luận tội và xử án.

Muốn điều tra, bắt ai, xử ai là quyền của ông ấy.

Một đất nước như thế là một đất nước không có pháp luật, ông ấy là kẻ lộng quyền ngồi xổm trên luật pháp.

“Tao” đọc báo thấy nhiều người dân rất tôn trọng và hy vọng vào “người đốt lò vĩ đại”.

Họ chân thành đến mức thần tượng hoá như ông ấy là một thánh nhân, kẻ cứu rỗi cho đất nước khỏi thảm họa tham nhũng.

Có nhiều người còn so sánh ông ấy với Hồ Chí Minh, và gọi ông ấy bằng “bác” một danh xưng không có ngoại lệ của ông Hồ Chí Minh.

Một số khác còn gọi ông ấy là Bao Công.

Sao người Việt Nam cổ hủ và u mê kinh hoàng như vậy?

Nhận thức của những người về đấng cứu rỗi như thế thực sự là thảm họa- một thảm họa về thiếu hiểu biết, trong một lòng tin mù quáng- bị nhân vật Bao Công huyễn hoặc.

Bao Công thực chất là một hình tượng điện ảnh- Đó chỉ là giấc mơ của giai cấp lao động cần lao về một vị quan liêm chính.

Xét dưới góc độ của nhà nước pháp quyền thì Bao Công là một kẻ lộng quyền, một mình ông ta cầm cả ba quyền: Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp.

Nói theo ngôn ngữ chính trị ông ta là kẻ độc tài, thâu tóm mọi quyền lực – muốn bắt ai, tha ai là quyền của ông ấy.

“Tao” có theo dõi một số phiên toà, và rất ngạc nhiên là một số quan chức ở Việt Nam khi bị kết án khóc nức nở ân hận xin lỗi ông TBT.

Điều này cho thấy vai trò của ông ấy có khi còn lấn át cả pháp luật.

Điều này sẽ tạo ra một suy nghĩ rất tồi tệ cho những người có chức có quyền là họ không sợ pháp luật bằng người lãnh đạo của họ- Đây chính là mầm mống của căn bệnh xu nịnh cấp trên để được bao dung, che chở.

Khiến cho những kẻ càng có chức vụ cao, quyền lực lớn càng dễ ngộ nhận về quyền lực vô song của mình, trà đạp lên luật pháp và coi thường dư luận xã hội.

“Tao” được biết ở Việt Nam còn thành lập “Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương”, Ban này không biết có thuộc hệ thống pháp luật theo quy định trong hiến pháp hay không?

Quyền lực của Ban này lớn như thế, thì quyền lực của của hệ thống luật pháp chẳng nhẽ vô nghĩa và bị vô hoá hay sao? Hệ thống luật pháp Việt Nam như thế quả là có vấn đề, bị lấn áp không phát huy được tính đại diện cho quyền lực của nhân dân… xem ra Việt Nam còn quá nhiều lỗi hệ thống- Công cuộc chống tham nhũng ở Việt Nam sẽ rất nhiều gian nan, không có hồi kết.

Một xã hội mà người dân tin vào Bao Công là một xã hội thụt lùi, vì người ta không tin vào luật pháp, hoặc là xã hội đó không có luật pháp.

Tâm lý và nhận thức có chuyện gì xảy ra phải chạy đến ông quan này, vị có chức có quyền kia, hy vọng tìm kiếm công lý đã phổ biến trong xã hội Việt Nam bây giờ.

Khi người dân không tìm đến hệ thống luật pháp để tìm công lý, phải mong chờ vào đấng cứu rỗi thì chẳng khác gì đẩy xã hội quay về bóng tối của thời tiền sử.

Ở mức độ cao hơn rất nguy hiểm đó là tôn thờ thần tượng- “Người đốt lò vĩ đại” chính là điển hình cho tâm lý của người dân sống trong đất nước không có pháp luật hoặc không tin tưởng vào pháp luật.

Niềm tin vô vọng đã biến người ta bị định hướng, bị dẫn dắt, lạm dụng một cách mù quáng.

Ở Hàn Quốc việc xây dựng nhà nước pháp quyền, và hoàn thiện thể chế nhà nước khiến cho người dân tin rằng, không có kẻ có chức quyền nào dù là tổng thống trở thành Bao Công, người dân tin tưởng vào pháp luật không phải tin vào kẻ “vĩ đại” nào.

Không có “kẻ vĩ đại” nào ngồi trên pháp luật.

Việc tổng thống bị truy tố là câu chuyện rất bình thường ở Hàn Quốc.

Xây dựng hình tượng Bao Công trong một nhà nước pháp quyền chứng tỏ nhà nước đó đã bị lũng đoạn, quyền lực của họ đã khuynh đảo xã hội.

Quyền sinh, sát còn trong tay họ thì chống tham nhũng thất bại chẳng có gì lạ.

Nguồn Facebook


 

Cái Học Ngày Nay Đã Hỏng Rồi

Cái Học Ngày Nay Đã Hỏng Rồi
                             ***
Cái học ngày nay đã hỏng rồi
Chín thằng mi học, tám thằng chơi
Một thằng chẳng học làm quan lớn
Sai thằng có học chạy tơi bời

Cái học ngày nay vậy hỏng rồi
Tám thằng đi học, bảy thằng lười
Hai thằng không học thì vinh hiển
Quyền cao chức trọng đã lên đời

Cái học ngày nay thật hỏng rồi
Bảy thằng tới lớp, sáu thằng thôi
Ba chàng thất học thành ông xếp
Vổ ngực rằng tao tiến sĩ rồi

Cái học ngày nay đã nói rồi
Sáu thằng xách cặp, năm muốn thôi
Bốn đứa trèo cao, có chức lớn
Đày người ăn học chạy hụt hơi

Cái học ngày nay hỏng quá rồi
Năm thằng đang học, bốn xin thôi
Năm thằng chẳng học nhờ ơn đảng
Tham quan, tham nhũng hưởng lộc trời

Cái học ngày nay chuyện cũ rồi
Bốn em tới lớp, ba em chơi
Sáu người vô học thành ông chủ
Rủng rỉnh tiền đô hưởng sự đời

Cái học ngày nay hết biết rồi
Chỉ hai ba đứa tới lớp ngồi
Nhưng chỉ một thằng còn chăm chỉ
Nhìn tới nhìn lui lại muốn thôi

Cái học thì ai cũng biết rồi
Không danh không thế, thì ôi thôi
Chẳng quyền, chẳng lực, ngồi trơ mỏ
Nằm nhà chỏng cẳng để vợ nuôi.

Thì ra “Cái học ngày nay đã hỏng rồi!!!”

Vô Danh
Nguồn internet – ĐH sưu tầm

Khúc cây của một ông tìm được dưới ruộng bị tỉnh Kon Tum chiếm đoạt

Báo Nguoi-viet

June 22, 2023

KON TUM, Việt Nam (NV) – Sau hơn một năm được ông Lê Quang Nam, ở thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy, tìm thấy dưới lòng đất, khúc cây “nổi tiếng bậc nhất của tỉnh Kon Tum” đã bị giới hữu trách tỉnh này xác lập “sở hữu toàn dân,” tức của nhà nước.

Theo báo Người Lao Động, hôm 22 Tháng Sáu, ông Nguyễn Ngọc Sâm, phó chủ tịch tỉnh Kon Tum, đã ký quyết định “xác lập quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản vùi lấp được tìm thấy.”

Số gỗ bị Công An Huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, tạm giữ hơn một năm qua. (Hình: Trần Hướng/Tuổi Trẻ)

Theo đó, “căn cứ các quy định của pháp luật,” Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kon Tum “xác lập sở hữu toàn dân đối với bốn tấm gỗ tổng cộng hơn 4.2 khối và sáu tấm bìa đã mục nát” được ông Nam, 44 tuổi, ở thị trấn Sa Thầy, xẻ ra từ một khúc cây đào lên từ dưới ruộng.

“Ủy Ban Nhân Dân huyện Sa Thầy phải chỉ đạo Phòng Tài Chính-Kế Hoạch phối hợp với Công An Huyện Sa Thầy và các đơn vị có liên quan thực hiện bảo quản tài sản trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án xử lý tài sản theo quy định,” nội dung quyết định nêu.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, trước đó hôm 23 Tháng Ba, 2022, trong lúc được thuê làm đất ruộng cho ông A Khái ở xã Sa Sơn, cùng huyện, ông Nam phát hiện một khúc cây dài khoảng 12 mét, đường kính khoảng 0.7 mét và đã bị vỡ nát phần gốc bị vùi lấp dưới lòng đất. Ông Khái thỏa thuận để ông Nam lấy khúc cây này thay cho tiền công san lấp.

Cuối Tháng Ba, ông Nam đến Ủy Ban Nhân Dân xã Sa Sơn, huyện Sa Thầy, trình báo sự việc và xin phép được đào khúc cây trên để về làm đồ gia dụng.

Ủy ban xã đã tổ chức đến hiện trường xác minh. Qua đó, giới chức xã này đã lập biên bản xác định nơi phát giác khúc cây trên “không phải đất rừng” và cây gỗ này “không xác định được thời gian, khối lượng cũng như nguồn gốc.”

Trong biên bản ghi rõ, ông Nam sau khi đào lên hoàn thành thì báo về xã để cử lực lượng hữu trách xuống kiểm tra cụ thể, phúc trình cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định.

Được sự cho phép của xã, ông Nam huy động nhiều phương tiện, nhân công để đào khúc cây mang về với chi phí khoảng 90 triệu đồng ($3,879).

Đến hôm 8 Tháng Tư, 2022, sau khi đào xong, ông Nam có báo cho ủy ban xã Sa Sơn. Đến ngày 20 Tháng Năm, 2022, không thấy cơ quan hữu trách đến, nghĩ rằng khúc cây không có giá trị nên ông Nam cho vận chuyển về xưởng đồ gỗ, nội thất Đoàn Đức Đạt để xẻ gỗ gia công làm đồ gia dụng.

Ông Lê Quang Nam và lệnh xử phạt vi phạm hành chính. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Thế nhưng sau đó, Công An huyện Sa Thầy bất ngờ ập tới lập biên bản, tạm giữ, với lý do số gỗ trên “có hồ sơ, nguồn gốc lâm sản không đầy đủ, chưa rõ ràng.” Số gỗ đã cưa xẻ liền được đưa về trụ sở Công An Huyện Sa Thầy, đồng thời cán bộ công an ra quyết định “tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính…” và xử phạt hành chính 4 triệu đồng ($170) với cáo buộc “chiếm giữ tài sản của người khác.”

Nói với báo Thanh Niên, ông Nam kêu oan cho rằng mình đã bỏ rất nhiều công sức, chi phí để đào khúc gỗ. Nếu số gỗ trên bị tịch thu, xử phạt thì ông chịu thiệt hại rất lớn. Thế nhưng công an nói “không oan” vì ông “cố chiếm đoạt số gỗ đã phát hiện mà không đợi xử lý.” (Tr.N)


 

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tien – Một chút tình riêng về miền sơn cước

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Chẳng hiểu em nói cái gì
nhìn môi một cụm xuân thì cũng thương
em xinh như đóa hướng dương
mọc hoang theo lối về buôn bản nghèo (H’na Cô Gái Tây Nguyên – PTN)

 Tác giả những câu thơ vừa dẫn, thi sĩ Phan Ni Tấn, là một người vô cùng may mắn. Vô số kẻ đã đến miền sơn cước nhưng có lẽ chỉ riêng mình thằng chả là có mối duyên tình với nàng sơn nữ (”xinh như một đóa hướng dương”) dù rằng hai bên bất đồng ngôn ngữ.

Tôi biết một nhân vật khác, cũng lặn lội lên đến cao nguyên, và đến nơi rất sớm nhưng không có cái diễm phúc tương tự. Ông tên là Văn Trí, người viết bản nhạc Hoài Thu (“Mùa thu năm ấy / Trên đường đến miền Cao nguyên …) vào năm 1951.

Ðà Lạt (ở thời điểm này) theo như lời mô tả của tác giả là một nơi “núi rừng thâm xuyên,” với những “bầy nai ngơ ngác, lá vàng rơi đầy miên man,” và… chấm hết! Tuyệt nhiên, không hề thấy bóng dáng bất cứ một cô sơn nữ nào ráo trọi!

Tôi ra đời sau tác phẩm Hoài Thu và dưới một ngôi sao xấu. Dù sinh trưởng ở miền sơn cước, tôi chưa bao giờ có hân hạnh được trao (hay nhận) những lời yêu thương đến cô gái H’ Na – như Phan Ni Tấn. Tương tư suông, nghĩa là yêu đơn phương, cũng miễn có luôn.

Tôi cũng không được cái vinh dự nhìn thấy nét man dại, trinh nguyên của một vùng đất mới như ông Văn Trí. Sự hoang dã của cao nguyên Lâm Viên, đối với những kẻ sinh sau đẻ muộn như tôi (có chăng) chỉ còn là dư âm – qua những câu chuyện kể – đại khái như:

– “Hồi đó, ở Ðà Lạt, cọp thiếu mẹ gì. Nhiều bữa, con nít đang lơn tơn đến trường bỗng thấy mấy ông cọp bự nằm chơi phơi nắng. Vậy là đám lật đật nín thở, nhè nhẹ quay lưng, và chầm chậm… đi về.”

Khoẻ!

Sự gần gũi (giữa cọp và người) như thế – tiếc thay – không kéo dài luôn, và cũng chả kéo dài lâu. Trong những tháng ngày thơ ấu, mỗi sáng đi học, tôi đều cầu nguyện và van xin (Phật, Chúa,Thánh, Thần…) để được nhìn thấy vài ông cọp bự  – cũng đang ngồi chơi phơi nắng giữa đường – như “những ngày xưa thân ái” đó.

Dù tôi hết sức chí tình, sự khẩn cầu này – tiếc thay – chưa bao giờ ứng nghiệm. Lòng tin của tôi vào các đấng thiêng liêng giảm sút (không ngừng) kể từ thưở ấy.

Khi tôi được “bế” lên Ðà Lạt, vào giữa thập niên 1950, thành phố này đã bị đô thị hóa.Voi, cọp, heo, beo, gấu, khỉ, vượn, nhím, mển, gà, công, trĩ, hươu, nai, trăn, rắn, sóc, chồn… không còn chung sống với người. Người Thượng (nói chung) và những cô sơn nữ (nói riêng) cũng không mấy khi xuất hiện trên đường phố. Họ ở cách xa, nơi những bản làng heo hút.

Văn hóa miền núi, tất nhiên, có nhiều nét dị biệt với miền xuôi; do đó, trong giao tiếp giữa người Thượng và người Kinh (đôi lúc) đã có những hiểu lầm vô cùng đáng tiếc!

Thuở ấu thơ, tôi đã có lần chứng kiến cảnh một chàng thanh niên từ miền sơn cước xuống chợ miền xuôi, và bị “tiếng sét ái tình” với một cô gái bán hàng. Chàng đứng ngẩn ngơ, chân không thể bước. Trước tình huống đó, có người buột miệng nói đùa:

– Người Kinh không có “bắt chồng” như người Thượng đâu. Muốn “bắt vợ” thì tuần trăng sau phải mang hai con trâu tới đây mới được.

Chàng trai miền núi mừng rỡ gật đầu, hăm hở quay về. Không hiểu phải qua bao nhiêu đường đất, và gặp bao nhiêu khó khăn ở thôn bản của mình nhưng đúng hẹn chàng trở lại. Nhác trông thấy người xưa – dắt theo hai con trâu, như giao ước –  cô gái vội vàng bỏ trốn!

Chờ hoài không thấy cố nhân, chàng thẫn thờ (mãi) rồi lặng lẽ dắt trâu đi. Một chuyện tình buồn thảm thiết như thế mà khi kể xong vẫn có người cười. Nói thiệt: sao tôi cười… không nổi! Cách đùa cợt đó, ngay từ khi còn bé, tôi đã cảm thấy có cái gì rất là không ổn. Sau này, lúc đã cắp sách đến trường, cũng đã có lần tôi suýt khóc khi đọc một câu thơ trào phúng:

Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe!

Tú Xương sinh năm 1870 và mất năm 1907. Câu thơ (thượng dẫn) có thể được viết từ cuối thế kỷ XIX. Vào thời điểm này, khi mà mọi phương tiện truyền thông và giao thông đều vô cùng giới hạn nên cách nhìn lệch lạc của thi sĩ về một người đồng bào miền núi – tôi cố nghĩ – có thể thông cảm được.

Đến đầu thế kỷ XXI, theo bài viết về “Mọi” của Duy Ngọc (đọc được trên talawas) thì tình cảm của người Việt đối với “những đồng bào thuộc sắc tộc ít người’ (hoàn toàn) không có gì thay đổi: “Thử lên Tây Nguyên sống vài tháng sẽ thấy cái nhìn kỳ thị như thế trong rất nhiều người Kinh đối với các cộng đồng người dân tộc thiểu số vẫn còn nặng nề như thế nào.”

Khỏi phải “thử lên Tây Nguyên sống vài tháng” làm chi, cho má nó khi. Cứ ngồi nhà google vài chữ – “thằng mọi, thằng mán, thằng mường” – là sẽ tìm được vô số định kiến vô cùng đáng tiếc. Tự thâm tâm, có lẽ, những người thuộc dân tộc Kinh ở Việt Nam chưa bao giờ coi đồng bào Thượng là đồng bào (thiệt) cả.

Bà Tòng Thị Phóng (khi còn là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương) cũng đã lớn tiếng kêu gọi:

“Quan tâm đặc biệt đến vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến trước đây; tăng cường cơ sở khám bệnh, cán bộ y tế cho các xã, thôn ấp, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian; từng bước ngăn chận tình trạng suy giảm dân số, suy giảm đời sống của một số dân tộc thiểu số.”

Bà Phóng (cũng) nói cho nó đã miệng vậy thôi chớ sáu năm sau, theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới thì “các sắc dân thiểu số ở Việt Nam có tỉ lệ người nghèo cao hơn 5 lần tỉ lệ của người Kinh.”

Cách đây chưa lâu báo Tiền Phong cũng (buồn bã) loan tin: “THPT Đinh Tiên Hoàng nằm sâu trong hẻm núi xã Sơn Dung, huyện Sơn Tây, nơi phần lớn là người dân tộc K’dong sinh sống, cách thành phố Quảng Ngãi hơn 100 km, không có học sinh nào đậu tốt nghiệp trong kỳ thi vừa qua.”

Nguyên do, theo lời của thầy hiêu trưởng Nguyễn Hải Thịnh: “Đây là hệ quả tất yếu của một hệ thống đào tạo có chất lượng thấp.” Nói cách khác là “gạo nào cơm nấy,” thế thôi.

Còn ông Phạm Tấn Hoàng, chủ tịch UBND huyện, cho biết thêm: “Sơn Tây có 6/6 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, tỉ lệ nghèo đói còn 78% trên tổng số 3.706 hộ. Do địa bàn cách trở giao thông, điều kiện kinh tế học sinh khó khăn, nơi ăn ở cho học sinh chưa có nên các em không an tâm học tập.”

An tâm gì nổi, hả Trời! Đời sống có những ưu tiên sắp sẵn: ăn – mặc, ăn – học. Cơm áo lo chưa xong, nói chi đến học – mấy cha?

Theo tường trình của Ủy ban Dân tộc thì “người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu chỉ  còn lại… vài trăm!” Nhà văn Nguyên Ngọc, trong bài “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” cho biết thêm: “Người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80…”

Ngoài bờ biển phía Đông ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc bản địa tự ngàn xưa. Với cuộc sống đơn giản và hài hoà với thiên nhiên, họ đã giữ cho môi trường sinh thái được quân bằng và tạo một “vòng đai xanh” cho cả nước.  Cũng chính họ là những tuyến đầu, và là vòng đai an ninh cho tố quốc. Cớ sao toàn Đảng (cũng như toàn dân) tỏ thái độ khinh thị, và cương quyết tìm mọi cách đẩy họ đến bước đường cùng như thế?

“Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” (Lý Hồng Xuân. Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn. Văn Nghệ: California 2000).

“Bọn bành trướng Bắc Kinh” (xem chừng) đang sắp sửa muốn tràn sang lần nữa, và “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì mỗi lúc lại càng tệ hại hơn!

Hơn 30 năm nhìn lại, nhân dân và đất nước Việt Nam vẫn là nạn nhân của “giải pháp tạm bợ” của đảng CSVN

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

23-6-2023

“Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là giải pháp tạm bợ đưa ra để cứu đảng trong nhứt thời, trong hoàn cảnh thế giới XHCN sụp đổ. Bởi vì “kinh tế thị trường” thì không ai có thể “định hướng” được hết cả.

“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là giải pháp tạm bợ, là phương tiện để Việt Nam hội nhập cộng đồng quốc tế. Tạm chấp nhận “Nhà nước pháp quyền” mang nội hàm của “Etat de Droit”, thì “Etat de Droit” chỉ có thể xây dựng trên một xã hội dân sự, dân chủ tự do (chớ không thể xây dựng trên nền tảng XHCN).

Phỏng vấn Dân Oan LÊ THỊ KIM-THU – VẤN NẠN DÂN OAN – Đài Phát Thanh Đáp ...

Vấn đề là đảng CSVN đã lấy cái tạm bợ để làm cái vĩnh cửu.

“Chính sách ngoại giao cây tre” hay “quốc phòng bốn không” của Việt Nam thể hiện cụ thể cho chính sách (ngoại giao và quốc phòng) tạm bợ đó.

“Đưa người cửa trước rước người cửa sau”. Đây không phải là cái cách hành xử của một quốc gia có uy tín trên quốc tế. Nếu Việt Nam là quốc gia độc lập có chủ quyền thì việc tiếp đón hàng không mẫu hạm Mỹ ở Đà nẵng là chuyện của Việt Nam. Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng thời gian (tàu Mỹ cặp bến Việt Nam) lại công du qua Trung Quốc.

Không hề có loại ngoại giao “quan hệ trên nhiều chân kiềng”! Khi nói “chân kiềng” là người ta nghĩ đến những gì chắc chắn, vĩnh cửu. Có gì vĩnh cửu khi lợi ích của các quốc gia luôn biến hóa?

Cá chết, ngư dân ít ra khơi, tàu Trung Quốc xâm phạm lãnh hải

Tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam với sự trợ lực của Hải Cảnh TQ

Về nội trị, giải pháp tạm bợ đã trở thành “chủ nghĩa tạm bợ”. Cán bộ lãnh đạo vì vậy không có trách nhiệm về bất cứ cái gì. Ba mươi năm qua, tài sản của quốc dân, thể hiện qua các xí nghiệp nhà nước (xí nghiệp quốc doanh), do hệ quả của “chủ nghĩa tạm bợ” lần hồi trở thành tài sản của tài phiệt đỏ, hoặc phục vụ cho lợi ích của tài phiệt đỏ.

Nếu có “tầm nhìn” thì đã không để xảy ra hiện tượng thiếu năng lượng (khiến các xí nghiệp nước ngoài bỏ Việt Nam qua các nước khác).

Nếu có tầm nhìn, làm cái gì cũng lâu dài, thì làm gì có vụ thanh niên, sinh viên Việt Nam bỏ học đi làm nhân công nước ngoài?

xuat-khau-lao-dong-nhat-ban-kho-sang-de-ve - Luật Minh Bạch

Vốn quí của quốc gia là “con người” chớ không phải là mỏ dầu, mỏ titan nọ kia.

Đi hết, người tài giỏi bỏ nước ra sống nước ngoài hết, thì lấy ai xây dựng đất nước?

Hệ quả của “giải pháp tạm bợ” thiệt là kinh khủng. Vấn đề là giải pháp này có lợi cho giai cấp cầm quyền. Kẻ có quyền thì có tiền.

Không biết tài sản quốc gia nay còn lại cái gì?

Họa sĩ biếm triển lãm tranh biếm họa về phòng, chống tham nhũng


 

Một phòng mạch ở Orange County xây trung tâm mổ miễn phí

Báo Nguoi-viet

June 22, 2023

ORANGE, California (NV) – Một phòng mạch ở Orange County vừa khởi công xây dựng trung tâm mổ miễn phí cho cư dân California hôm Thứ Tư, 21 Tháng Sáu, theo đài ABC7.

Lestonnac Free Clinic, tổ chức bất vụ lợi ở Orange, sẽ sửa lại một khu vực của họ cho trung tâm này.

Phòng mạch Lestonnac Free Clinic ở Orange, California. (Hình minh họa: Facebook Lestonnac Free Clinic)

Hôm Thứ Tư, thay vì lễ động thổ, họ làm lễ đập tường, dùng búa đập bể bức tường có hàng chữ “Rào Cản Chăm Sóc Sức Khỏe.”

“Hôm nay là ngày tuyệt vời. Bước đầu tiên của dịch vụ mổ miễn phí. Chuyện chưa từng xảy ra ở Mỹ cho tới hôm nay. Chúng tôi rất vui vì có cơ hội hoàn thành dự án giúp người dân chữa lành bệnh,” ông Edward Gerber, giám đốc điều hành Lestonnac Free Clinic, cho hay tại buổi lễ.

Lestonnac Free Clinic có mặt từ năm 1979 tới nay, chuyên làm dịch vụ chăm sóc sức khỏe, răng và mắt miễn phí. Hơn năm năm qua, tổ chức này cũng mổ miễn phí nhưng tại bệnh viện ở Los Angeles County. Nay, có trung tâm giải phẫu riêng ở Orange, họ có thể giúp đỡ thêm nhiều bệnh nhân cần mổ miễn phí, như ông Fabio Martinez Figueroa.

“Điều này rất tốt cho tất cả người nghèo như tôi đang cần những phòng mạch như thế này giúp đỡ. Không có họ giúp đỡ, người nghèo sẽ không thể sống,” ông Figueroa cho biết.

Trung tâm mổ miễn phí tại Lestonnac Free Clinic được xây dựng nhờ số tiền đóng góp $3 triệu của tổ chức Thompson Family Foundation. Ban tổ chức cho hay trung tâm này dự trù làm được khoảng 70 loại giải phẫu quan trọng cho cư dân California, bất kể cư dân có giấy tờ hay không. Bác sĩ giải phẫu là người tình nguyện.

“Tôi không thể tưởng tượng còn gì tệ hơn là người trong gia đình bị tai nạn hay bị bệnh. Và không phải A: Tìm được nơi điều trị. Mà là B: Nếu tìm được nhưng không đủ tiền trả vì không có bảo hiểm. Chúng tôi chỉ muốn giúp đỡ đôi chút. Tất cả công việc là do bác sĩ làm,” ông Bill Thompson của Thompson Family Foundation nói.

Theo kế hoạch, trung tâm mổ miễn phí của Lestonnac Free Clinic khai trương mùa Xuân năm sau. (Th.Long)

Một tháng lương của Sơ là bao nhiêu?

Make Chrisntiaity Great As Always

 “Một tháng lương của các sơ là bao nhiêu?”. Đó là câu hỏi mà anh tài xế taxi hỏi mình. Bạn ấy là người không cùng tôn giáo, nhưng gia đình bạn ở gần cổng một nhà Dòng nên cũng có chút khái niệm về các sơ.

Anh taxi tuyệt nhất quả đất: Tại sao lại phải cáu với vợ khi vợ gọi ...

“Mình cũng chẳng biết các sơ mỗi tháng được bao nhiêu tiền lương nữa! – Tôi trả lời. Nhưng mình thấy Nhà Dòng thì có trường Mầm Non, các sơ làm việc ở đó để có của nuôi sống nhau. Mọi sự, các sơ đều để vào làm của chung nên thường thì các sơ cũng không quan tâm mình có bao nhiêu lương cả! Các sơ đi tu không chỉ để kiếm tiền nuôi thân mà còn phải nghĩ đến người khác, giúp những người nghèo, những người bệnh, những người đau khổ cần sự giúp đỡ của các sơ…”.

Về tới nhà, tôi vẫn mải suy tư …“một tháng lương của sơ là bao nhiêu?” Tôi cười thầm, nghĩ bụng: “Lương của các sơ là niềm vui khi giúp được các em học sinh nghèo có cơ hội đến trường, những người bệnh tật nhận được sự ủi an, những người cô đơn nhận được sự cảm thông, những người nghèo đói nhận được sự chia sẻ… Lương của các sơ sau một ngày vất vả với sứ vụ là sự bình an nhẹ nhàng của các giờ kinh nguyện, là niềm vui nho nhỏ của tình yêu cộng đoàn, là tiếng cười của hạnh phúc, hay nhiều khi là nước mắt của khổ đau thân phận kiếp con người. Nước mắt ấy đến từ những khác biệt của nhau về quan điểm sống, về tính cách, về văn hóa. Nước mắt ấy cũng có thể rơi xuống do cuộc chiến đấu nội tâm của mỗi cá nhân… Lương của các sơ cao nhất vẫn là sự bình an, là sức khỏe, là thì giờ Chúa ban. Và niềm vui mỗi khi nhận được số lương ấy thể hiện ở hoa trái thu hoạch được, ấy là sự thăng tiến về đời sống thiêng liêng; hay nói cách khác, là mỗi ngày các sơ cảm thấy mình gần Chúa hơn. Đó chẳng phải là số lương khổng lồ sao?”

the advocate | WCW: Mother Teresa

Nhờ câu hỏi của anh bạn, tôi khám phá lương tháng của các sơ không hề tính bằng tiền. Đặc biệt hơn nữa, lương thưởng tháng Mười Ba của các sơ là những ngày nghỉ Tết với người thân tại quê nhà, là niềm vui được nghỉ ngơi với nhau, đón phúc lành của Chúa Xuân vào cộng đoàn, làm ấm thêm tình yêu thương khắng khít mà các sơ dành cho nhau, cho nhà Dòng….

Lương tháng của các sơ thật là “độc lạ”! Các sơ ơi! Các sơ hạnh phúc lắm đó!

=Trần Tây Sơn, MTG Tại Thế=

———-

Ảnh: Các sơ Hội Dòng Đức Mẹ Hiệp Nhất đang tham gia chống dịch tại Bắc Giang.

Ai được lãnh bí tích Thêm sức?-Cha Vương

Ước mong bạn cảm nhận được Chúa là nguồn nước mát lòng giữa trời nắng nóng. Đừng quên cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 22/6/2023

GIÁO LÝ: Ai được lãnh bí tích Thêm sức? Họ phải chuẩn bị thế nào? Những ai là Kitô hữu (đã lãnh bí tích Rửa tội), có ơn nghĩa Chúa, đều được nhận lãnh bí tích Thêm sức. (YouCat, số 206)

SUY NIỆM: “Có ơn nghĩa Chúa” là không phạm tội nặng. Phạm tội nặng là rời khỏi Chúa, và chỉ có thể làm hòa với Chúa nhờ bí tích Giao hòa. Một bạn trẻ Kitô hữu sửa soạn lãnh bí tích Thêm sức là bước vào một giai đoạn trong những giai đoạn quan trọng nhất của cuộc đời mình. Bạn sẽ phải làm mọi sự để hiểu đức tin bằng cả tâm hồn và trí lực mình, bạn phải cầu nguyện Chúa Thánh thần, một mình và với người khác, phải làm hòa với bản thân, với người thân cận, và với Chúa, nhờ việc xưng tội cũng giúp bạn gần gũi với Chúa khi bạn không phạm tội nặng. (YouCat, số 206 t.t.)

❦ Điều quan trọng đó là bắt đầu một cách quyết tâm.—Thánh Têrêsa Avila

LẮNG NGHE: Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được. (Mt 6:24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, mỗi ngày trôi qua sẽ mãi mãi không quay trở lại, vì vậy ngay từ bây giờ, xin giúp con làm hòa với bản thân, với người thân cận, và với Chúa để sống vui vẻ trong ơn nghĩa Chúa mỗi ngày.

THỰC HÀNH: Ngày hôm nay tôi sẽ quyết tâm sống bác ái yêu thương hơn.

From: Đỗ Dzũng

HỒNG ÂN CHÚA NHƯ MƯA 

Luật sư Đào Kim Lân sẽ báo cáo gì với Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc?

Đài Á Châu Tự Do 

Hai năm qua, các luật sư tham gia bào chữa cho các nạn nhân bị cáo oan ở Tịnh Thất Bồng Lai (TTBL) đã nhiều lần kiến nghị đến các cơ quan pháp luật và lãnh đạo Đảng và Nhà nước cao nhất về sai phạm của Công An (CA) huyện Đức Hòa và tỉnh Long An nhưng không được xem xét giải quyết. CA Long An lại tạo dựng đơn thư tố cáo các luật sư vi phạm Điều 331 Bộ luật Hình sự (Lợi dụng các quyền tự do dân chủ), tạo cớ “mời”, ra “thông báo truy tìm” các luật sư để điều tra. Luật sư Đào Kim Lân đã bị cấm xuất cảnh không được tham dự lễ khai giảng ở trường cũ mà Luật sư từng học tập và tốt nghiệp. CA cũng đến tận nhà đe dọa, trấn áp tinh thần người thân luật sư Lân. Nguy cơ bị khởi tố, bị bắt giam đang hiển hiện.

Mong muốn làm sáng tỏ vụ việc, liên tiếp từ ngày 13-6 đến 18-6, Luật sư Đào Kim Lân đã có nhiều buổi livestream trần tình với cộng đồng mạng đang chuẩn bị hồ sơ để báo cáo sự việc lên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Trong trạng thái xúc động, livestream khá dài, để mọi người dễ theo dõi chúng tôi xin tóm tắt dưới đây những nội dung chính.

#RFAVietnamese #tinhthatbonglai #daokimlan

RFA.ORG

Luật sư Đào Kim Lân sẽ báo cáo gì với Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc?

ĐỪNG SỢ-TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Cuộc sống xung quanh chúng ta có biết bao nỗi sợ.  Từ trong nhà ra ngoài phố, chúng ta có thể gặp nguy hiểm bất kỳ lúc nào.  Nguy hiểm do thiên tai, do bạo lực, do tai nạn giao thông.  Ngoài những nỗi lo cơm áo gạo tiền, con người còn phải lo sợ trước sự bon chen, mưu mô, thủ đoạn của người đời.  Trước những lo sợ bủa vây tứ phía, người ta đối phó bằng nhiều cách khác nhau: có những người buông xuôi phó mặc cho dòng đời trôi dạt, hoặc thỏa hiệp với sự dữ, làm điều bất chính.  Có những người can đảm vững tâm, vượt thắng mọi sợ hãi, thanh thoát giữa đời.  Giữa bối cảnh đầy lo âu này, người tín hữu được Chúa Giêsu trấn an khích lệ: “Đừng sợ!”

Ông Bà ta thường nói: “Cây ngay không sợ chết đứng.”  Điều này có nghĩa là chúng ta cứ sống theo sự thật, vì sự thật sẽ giải thoát và minh oan cho chúng ta.  Một cuộc sống gian dối, bao che sẽ đến lúc phơi bày ra ánh sáng.  Ngôn sứ Giêrêmia là một người công chính, nhưng ông bị bách hại, đe dọa và vu khống đủ điều.  Những kẻ thù ghét ông đã gọi ông là “Lão tứ phía kinh hoàng.”  Tuy vậy, ông vẫn một lòng cậy trông vào Chúa.  Ông tin rằng, Chúa sẽ phù trợ ông.  Ngài cũng sẽ minh oan cho ông, vì ông sống ngay thẳng.  Bài đọc I là lời cầu nguyện của ngôn sứ Giêrêmia trong cơn bách hại.  Đó cũng là lời khuyên những ai sống công chính mà bị ghen ghét, hãy cậy trông vào Chúa và hãy sống ngay lành trong bất kỳ hoàn cảnh nào.  “Đức Chúa hằng ở bên con, như một trang chiến sĩ oai hùng…”  Thiên Chúa là Đấng phán xét công minh.  Ngài thấu hiểu lòng dạ con người.  Ngài thương xót và cứu vớt những ai sống ngay lành thánh thiện.  Những ai cậy trông Chúa, Ngài chẳng bỏ rơi bao giờ.

Chúa Giêsu tiếp nối giáo huấn của Cựu ước.  Người khuyên chúng ta đừng sợ những người chỉ giết được thân xác mà không giết được tâm hồn.  Chúa nhắc chúng ta, “hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục.”  Đấng ấy chính là Thiên Chúa.  Tuy vậy, sự “sợ hãi” này không giống như sợ hãi trước sự đe dọa khủng bố hoặc bách hại.  Sự sợ hãi mà chúng ta dành cho Chúa đi kèm với sự “kính mến,” nên chúng ta còn gọi đó là sự “kính sợ.”  Sự kính sợ này không làm cho chúng ta xa cách Chúa, trái lại, giúp chúng ta vững chí cậy tin.  Vì vậy, liền sau đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy nhận ra sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, đồng thời phó thác trọn vẹn cuộc sống của chúng ta nơi Ngài, để Ngài dẫn dắt và che chở chúng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống.  Hai hình ảnh được Chúa Giêsu nêu để chứng minh sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, đó là con chim sẻ và sợi tóc trên đầu.  Những vật xem ra là tầm thường và vô giá trị, mà cũng được Chúa quan tâm.  Con người chúng ta đáng giá bội phần, vì mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa, có ý chí, tự do và trách nhiệm về những hành vi cử chỉ của mình.

Sự kính sợ Chúa còn dẫn chúng ta đến việc mạnh dạn tuyên xưng đức tin nơi Ngài.  Người tín hữu là người tuyên xưng đức tin trong mọi lãnh vực, mọi hoàn cảnh của cuộc sống.  Việc mạnh mẽ can đảm tuyên xưng đức tin như một điều kiện cần thiết cho hạnh phúc đời sau.  Bởi lẽ, nếu chúng ta tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, thì chính Người sẽ “bảo lãnh” cho chúng ta trước tòa Chúa Cha.  Thánh Phaolô quảng diễn điều này khi so sánh Đức Giêsu với ông Ađam.  Do ông Ađam mà sự chết thống trị.  Nhờ Đức Kitô mà thế gian được sống.  Đức Kitô là nguồn ân sủng dồi dào của Thiên Chúa.  Những ai đón nhận Người, thì được ngụp lặn trong nguồn ân sủng phong phú đó.  Nhờ đó, họ không còn sợ hãi, nhưng vững lòng cậy tin (Bài đọc II).

Một vấn nạn thường được đặt ra: tại sao có nhiều người làm điều ác mà vẫn phát đạt và vẫn cứ nhởn nhơ?  Người Á đông chúng ta tin vào thuyết nhân quả, “gieo gió gặt bão”; Giáo huấn của Cựu ước khẳng định “Sống làm sao, Chúa sẽ trả cho như vậy;” Chúa Giêsu dạy “đong đấu nào sẽ nhận đấu ấy.”  Đây là điểm gặp gỡ chung giữa các tôn giáo và một số nền văn hóa.  Mỗi chúng ta, thay vì bức xúc trước những vấn nạn trên, thì hãy chuyên tâm làm việc lành.  Bởi lẽ, người làm việc lành chắc chắn được Thiên Chúa ghi nhận và ban ơn.  Thực tế đã chứng minh điều ấy.  Hơn nữa, người tín hữu vững tin nơi Đức Giêsu là Đấng Cứu độ trần gian.  Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào cho những ai tin tưởng và cậy trông nơi Người.

Giữa bao nỗi sợ của cuộc sống hằng ngày, người tín hữu sẽ tìm được nơi ẩn náu nhờ sự phó thác cậy trông vào Chúa.  Nhờ ơn nâng đỡ của Ngài, chúng ta không còn sợ hãi.  Nhờ phúc lành của Chúa, những lo lắng ưu sầu của cuộc sống sẽ biến thành niềm vui và hy vọng.  Thực tế đã chứng minh cho chúng ta, người tin tưởng vào Chúa luôn lạc quan, vì họ xác tín rằng Chúa luôn đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.  Khi khích lệ chúng ta: Đừng sợ!  Chúa cũng sai chúng ta lên đường để kể lại những điều lạ lùng Chúa đã và đang làm cho mỗi chúng ta.  Như thế, chúng ta sẽ góp phần giảm thiểu những nỗi sợ hãi đang ám ảnh nhiều người trong cuộc đời.

“Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ

trong con, hồn lặng lẽ an vui.

Cậy vào Chúa, Israel ơi!

Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm” (Tv 130,2-3).

Sống ngay lành và thánh thiện; vững vàng phó thác và cậy trông nơi Chúa quan phòng, đó chính là thông điệp mà Lời Chúa hôm nay muốn gửi đến chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim