Ai được lãnh Bí tích Truyền Chức Thánh?-Cha Vương 

Lạnh quá đi! Xin Chúa sưởi ấm tâm hồn những người nguội lạnh. Bảo trọng nhé.

Cha Vương 

 Thứ 4: 29/11/2023

GIÁO LÝ:  Ai được lãnh Bí tích Truyền Chức Thánh? Chỉ người nam giới, đã được Rửa tội trong đạo Công giáo, được Hội thánh kêu gọi lên lãnh các chức Phó tế, Linh mục, Giám mục, thì mới lãnh các chức vụ này thành phép. (YouCat, số 256)

Nếu chỉ có nam giới được lãnh bí tích Truyền Chức Thánh thì nữ giới có bị kỳ thị không? Luật nói rằng: chỉ nam giới được lãnh chức thánh, không làm hạ phẩm giá nữ giới. Đối với Thiên Chúa, nam hay nữ đều có phẩm giá như nhau, nhưng mỗi giới có những bổn phận và đoàn sủng khác nhau. Hội thánh quen chọn người nam, chính vì Chúa Giêsu đã chỉ chọn người nam khi lập chức linh mục trong bữa Tiệc ly. Năm 1994, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên bố rằng: “Hội thánh không có quyền truyền chức linh mục cho nữ giới, và mọi tín hữu của Hội thánh phải dứt khoát tuân giữ quyết định đó “. (YouCat, số 257)

 SUY NIỆM: Thời xưa không có ai đề cao phụ nữ bằng Chúa Giêsu (điều mà thời đó được coi là khiêu khích), Người đã đồng ý làm bạn với họ và bảo vệ họ. Nhiều phụ nữ đi theo Chúa Giêsu và Người đánh giá đức tin họ rất cao. Người đầu tiên làm chứng nhân cho việc Chúa Giêsu sống lại là phụ nữ, bà Maria Madalena. Vì thế người ta nói rằng bà là “một phụ nữ tông đồ giữa các tông đồ”. Dầu vậy việc truyền chức linh mục cũng như trách nhiệm mục vụ luôn luôn được truyền lại cho người nam. Các linh mục người nam phải thay mặt Chúa Giêsu để tập họp Hội thánh. Chức linh mục là một chức vụ đặc biệt đòi hỏi người nam phải thi hành vai trò của người nam làm cha. Không có sự ưu thế nào của nam trên nữ. Các phụ nữ có vai trò trong Hội thánh, như ta thấy qua Đức Maria một vai trò trung tâm không thua kém người nam, nhưng là vai trò của nữ giới. Bà Eva trở thành mẹ của mọi người đang sống (St 3,20). Xét theo là mẹ của mọi người đang sống, các phụ nữ có những tư chất và khả năng đặc biệt. Nếu không có cách thế riêng biệt mà chỉ phụ nữ mới có như dạy dỗ, loan báo Tin Mừng, sống bác ái, sống đạo đức và mục vụ, thì Hội thánh “bị cắt cụt một nửa”. Khi những người nam trong Hội thánh dùng chức vụ linh mục như công cụ của quyền lực, hoặc khi các người nữ không lo tận dụng những đặc sủng của mình, thì cả hai đã xúc phạm đến tình yêu và đến Thánh Thần của Chúa Giêsu. (YouCat, số 257 t.t.)

❦  Đấng Đáng kính Fulton Sheen từng nói: “Nếu Chúa muốn truyền chức cho phụ nữ thì chắc chắn Ngài đã truyền chức cho chính Mẹ của Ngài là Đức Mẹ, Mẹ không vướng mắc tội, nhưng Ngài đã không làm như vậy”.

LẮNG NGHE: … chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. (Mt 22:16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gìn giữ Hội thánh Chúa.

THỰC HÀNH: Làm một việc bác ái âm thầm cầu nguyện cho Hội thánh nhé.

From: Do Dzung

Chúa là tất cả đời con..ck chạm đến trái tim


Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn qua đời, hưởng thọ 87 tuổi

Ba’o Nguoi-Viet

November 28, 2023

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, tác giả bài hát nổi tiếng “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” và từng một thời phụ trách chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn trước năm 1975, vừa qua đời lúc 7 giờ 15 phút tối Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, tại bệnh viện Fountain Valley, California, hưởng thọ 87 tuổi.

Tin này được anh Nguyễn Đình Thư, con trai cố nhạc sĩ, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn. (Hình: Người Việt)

Theo Wikipedia, ông Nguyễn Đình Toàn sinh ngày 6 Tháng Chín, 1936 tại huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông còn có bút hiệu Tô Hải Vân khi viết văn và Hồng Ngọc khi viết nhạc.
Năm 1954, ông di cư vào Nam.

Ông đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới nhiều dạng như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, và bút ký. Tác phẩm “Áo Mơ Phai” của ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam Cộng Hòa năm 1973.

Ông cũng viết nhiều truyện dài đăng thành nhiều kỳ trên các báo miền Nam Việt Nam như tạp chí Văn, Văn Học và các nhật báo như Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, và Tiền Tuyến.

Sau năm 1975, ông bị bắt và giam học tập cải tạo 10 năm mới được thả. Năm 1998 ông cùng gia đình xuất cảnh sang Mỹ, định cư ở Nam California, và tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. (Đ.D.)


 

ĐẤT NƯỚC MÌNH

Đất nước mình lạ quá phải không em

Đến tù nhân giờ cũng đầy học thức

Nhiều giáo sư tiến sĩ nơi tù ngục

Chắc thế giới ít nơi nào có được

Đất nước mình kỳ quá phải không em

Có biết bao người lao động chân tay

Dám nghĩ dám làm chế tạo máy bay

Còn Giáo sư, Tiến sĩ cứ chơi hoài

Đất nước mình ngộ quá phải không em

Lương công chức mà xây toàn biệt phủ

Bao ” Đầy tớ ” giờ trở thành tỷ phú

Gánh nợ công để ” Chủ ” gánh hết đời

Đất nước mình rồi sẽ đi về đâu

Nạn tham nhũng cứ hoành hành tác quái

Bao tỷ đồng chảy vào túi những ai ?

Lò Bác Trọng vẫn đốt hoài đâu hết !

NVM (28/11/2023)

Ảnh sưu tầm

Cay Nghiệt -Truyện ngắn hay

Sỏi Ngọc

Thằng bé mới một tuổi rưỡi, nhảy tưng tưng trên đùi mẹ, nó đưa mấy ngón tay bụ bẫm lên sờ mặt mũi mẹ, vừa bập bẹ nana… nana, nó đang mọc răng nên dãi nhớt chảy đầy miệng, nhỏ xuống dưới người mẹ, bà lấy khăn chùi miệng cho nó, xiết nó vào lòng, hôn lên đôi má bầu của nó:

–         Thằng chó cưng của bà! Không bao giờ ngồi yên được cả… Thôi ra chơi với mẹ mày đi!

Bà bế đưa cho tôi:

–         Con trông nó nhé, mẹ sửa soạn đi công chuyện đây…

Tôi đang ngồi học bài, ngẩng đầu lên nhìn mẹ:

–         Con đã nói với mẹ bao nhiêu lần rồi… Mẹ muốn “giữ” nó thì mẹ trông nó đi! Con mắc học thi, không có thì giờ với nó đâu!… Mẹ muốn con rớt khóa này hay sao?

–         Mẹ sẽ cho nó bú một bình sữa, ru nó ngủ, con không cần làm gì cả, chỉ khi nào nó thức dậy nửa chừng, khóc thì con hãy bế nó, chơi với nó một chút, chờ mẹ về…mẹ trông cháu cho…

–         Thật phiền quá… Con đã nói là bỏ nó đi từ hồi bên đảo rồi mà!

Mẹ nhìn tôi với cặp mắt trách móc nhưng dịu lại ngay, vẫn không nói gì; bà cố gắng chịu đựng những lời nói cay đắng như xát muối vào tim của tôi vì bà muốn đền bù cho tôi đã phải cực khổ mang cái bào thai của những tên đầu trâu mặt ngựa mất nhân tính trên đảo khi tàu chúng tôi được tàu Thái Lan vớt và đưa vào một đảo của đất nước này.

Tôi biết những lời nói của tôi thật hỗn hào, làm nhói lòng mẹ, nhưng tôi không thể kiềm chế mình được, không thể tự chủ được mỗi lần mẹ bảo tôi trông nó! Nó dễ thương thật nhưng… nhìn thấy thằng bé, tôi không thể nào quên được quá khứ nhục nhã ấy.

Lúc ấy tôi mới chỉ 15 tuổi, cái tuổi mới lớn dậy thì của đứa con gái Việt Nam, chưa hiểu hết về vấn đề tình dục, nhìn tôi bé nhỏ ai cũng tưởng tôi chỉ 10 tuổi thôi. Thế mà tôi đã bị những tên man rợ trên đảo hãm hiếp trong một buổi chiều khi tôi đi giặt đồ ở suối cuối con đường của những lều dân tỵ nạn. Tôi đi với mấy chị nữa, khi giặt xong chúng tôi cùng về, nhưng vừa đứng lên thì một chiếc dép của tôi bị đứt quai, tôi đành phải ngồi lại để cột; chỉ trễ có năm phút thôi, tôi thấy từ xa có hai tên cầm dao đi đến, mặt mày đỏ như gấc, mùi rượu nồng nàn.

Tôi hết hồn vơ cái chậu quần áo bỏ chạy, vì đôi dép mới cột chưa chắc lắm, làm tôi trợt chân, té sóng soài trên bờ đá, lăn xuống ngay trước mặt hai tên ấy. Chúng vừa thấy tôi, như con hổ lâu năm bị nhốt trong chuồng, đói và thiếu thốn, nay được xổ chuồng, chúng nắm lấy tôi ngay, cười khoái trá, con dao kè cổ, tôi không dám kêu la sợ bị giết chết… Hai tên đó coi như tôi không là con người, chúng cứ tha hồ vui sướng trên thân thể nhỏ bé mỏng manh của tôi, tôi ráng chống cự hết sức bình sinh, nhưng làm sao có thể chống lại hai tên khỏe mạnh ấy! Đến khi tôi không thể chịu đựng nổi nữa, đã ngất đi bên bờ suối, và khi người trong làng đem tôi về lều cho mẹ thì trong lòng tay tôi còn mãi nắm sợi dây đeo cổ bằng những sợi dây chỉ thết lại của một trong hai tên dã man khốn kiếp ấy.

Khi biết mình mang thai, tôi đã khóc vật vã, muốn phá cái thai, muốn dứt bỏ nó, tôi luôn tay đập vào bụng mình, tôi gào thét, ném đồ, đã bao lần cắt tay tự vẫn…nhưng mẹ đã cầu xin tôi, nắm chặt hai cánh tay tôi, nài nỉ van lơn tôi hãy giữ nó lại làm phước, đừng giết một mạng người, nó còn chưa ra đời nữa mà!

Những đứa trẻ con chạc tuổi tôi trên đảo, họp lại với nhau chơi đủ thứ trò, la hét cười đùa trước lều; chỉ riêng tôi, dù còn nhỏ tuổi nhưng như bà lão, gầy còm cõi, đôi mắt thất thần, ướt mượt chỉ muốn khóc thôi, tôi chán nản đến câm nín, không muốn ăn uống, không muốn soi gương, chỉ rúc mình vào xó nhà, ngồi bệt xuống đất nghĩ làm sao cho mình chết quách đi!

Khi nó được chào đời, được một tháng tuổi, tôi đã lén mẹ trong một buổi trưa khi mẹ vắng nhà, đi một khoảng khá xa làng tôi ở, đặt nó dưới một gốc cây, rồi vội vã quay trở về làng. Vừa đi vừa chạy thật nhanh vì sợ nó khóc, người ta sẽ tìm ra tôi… Tôi vừa chạy vừa khóc, hai tay bịt tai sợ nghe tiếng khóc của nó, nước mắt đầm đìa, trong lòng tôi hình ảnh bé nhỏ đỏ hỏn của nó hiện ra, đôi mắt nhắm thật yên bình, đôi môi mấp máy mút mút như đang bú sữa vậy, tôi có ác quá không? Quá tàn nhẫn khi bỏ nó một mình dưới gốc cây? Lỡ nó bị ai lấy đi và đem bán cho người xấu thì sao? Bao nhiêu câu hỏi lo lắng đầy lấp tâm trí tôi. Không nỡ tâm, tôi lại lính quýnh quay lại nơi tôi đã bỏ nó. Thằng bé vẫn nằm yên đó, nhắm mắt ngủ thật an lành!

Tôi nhặt nó lên, nhìn kỹ vào mặt nó, nó không mang một chút nét nào của tôi, như một kẻ xa lạ, vết hận trong lòng vẫn bừng bừng ngút ngàn, muốn ném nó ra xa khỏi tôi, nhưng nó vẫn chỉ là một đứa bé vô tội! Ý nghĩ giằng xé trong tôi, nên bỏ hay đem nó về?!

Hình như tôi có nợ với nó! Tôi lại bế nó về lều, không hé môi kể chuyện này cho mẹ nghe.

Tôi không phải thù ghét nó, nhưng cứ nhìn thấy nó là kỷ niệm nhơ nhuốc kia lại hiện ra. Tôi không biết tôi giận ai, giận cái gì! Chỉ biết tôi ghét cái thân thể đã bị vùi dập này, tôi thù cuộc đời cay nghiệt này, tôi không thể nào ôm nó vào lòng nựng nịu như tôi đã từng bế và yêu con búp bê bằng bông của tôi khi chưa có nó!

Nhưng kỳ diệu thay, từ ngày có nó, gia đình ba người của tôi gặp nhiều điều rất may mắn: dòng giáo dân ở Mỹ, thuộc tiểu bang Pennsylvania muốn tạo phước lành, họ nhận nuôi bảo trợ một vài gia đình đi tàu vượt biên có con nhỏ nhất ở đảo Thái Lan, họ sẽ chịu trách nhiệm nuôi ăn ở, sinh hoạt trong vòng 7 năm. Không biết rõ đây là chương trình gì nhưng rất ít gia đình được chọn lựa đến, thế mà tên của ba người chúng tôi có trên danh sách ấy và được đi ngay trong vòng một tháng sau khi làm thủ tục giấy tờ.

Họ đưa chúng tôi đến Pittsburgh, thành phố lớn của Pennsylvania, cảnh yên bình thật đẹp, với những sông ngòi, tàu bè và nhất là những chiếc lá thu đổi màu từ xanh sang đỏ vàng mà lần đầu tiên tôi được ngắm.

Chúng tôi được dòng cha xứ cho rất nhiều quần áo cũ của nhà thờ, dẫn chúng tôi đến ở một cái ấp khá rộng rãi chỉ có một phòng ngủ thôi, nhưng chúng tôi kê thêm giường ngoài phòng khách cho tôi ngủ để đừng bị thằng bé khóc làm phiền, sáng hôm sau tôi phải dậy sớm đi đưa báo từ 6 giờ sáng và tối thì đi học để sau này ra trường sẽ tự lập và nuôi gia đình.

Khi làm giấy tờ bên đảo để đi Mỹ, lúc bấy giờ mẹ mới đặt tên cho thằng bé là Kora (để kỷ niệm tên đảo Koh Kra, Thái Lan)

Vì sợ thằng bé làm phiền đến danh phận của tôi, nên ai hỏi mẹ cũng đứng ra nhận đại nó là con trai của mẹ cho qua chuyện! Mẹ còn rất trẻ mới gần 40 nên ai cũng tin nó là con của mẹ, em tôi! Mẹ dậy nó gọi tôi là dì, gọi mẹ bằng bà, nhưng trên giấy tờ thì nó thực sự là con tôi. Mẹ nói bây giờ nó còn nhỏ thì cứ cho là vậy, sau này lớn lên đi học, thì tính tiếp!

Ở xứ tự do, không khí trong lành này, thằng Kora lớn như thổi, thông minh, láu cá, nó ăn nhiều và rất ngoan, ít khóc và hiểu chuyện, nó dần chuyển hóa tình cảm của tôi đối với nó. Mỗi lần nghe tiếng chìa khóa lách cách mở cửa, đang chơi đồ chơi, nó ném hết xuống, vội vàng chạy ra mở cửa cho tôi, chưa biết nói nhiều, nó ê a lấy tay đập đập vào chiếc ghế gần đấy ý bảo tôi hãy ngồi xuống, rồi nó chạy đi tìm đôi dép cho tôi thay, xong chạy vào bếp lấy ly nước cho tôi uống đỡ khát. Nó mới gần 3 tuổi thôi nhưng biết để ý người lớn làm gì rồi bắt chước làm lại cho người khác, rất dễ yêu. Ai thấy nó đều không thể nào không khen được!

Sự dễ yêu của Kora làm các bạn trong nhà trẻ yêu mến, làm nhiều lúc tôi cũng quên đi nó chính là con của kẻ đã hại tôi. Sự ghét bỏ, lạnh nhạt với nó ngày càng vơi đi, nhưng tôi vẫn cảm thấy không thể nào ôm lấy nó hôn như những cử chỉ âu yếm của người mẹ đối với con được, cái tình mẫu tử thiêng liêng vẫn chưa nẩy nở trong trái tim tôi.

Ngày tháng trôi qua, tôi bận rộn từ sáng sớm đưa báo đến tối về thật trễ vì lấy cours đêm học, nhiều lúc không có thì giờ nhìn mặt thằng bé, sáng thì thằng bé chưa dậy, còn về đến nhà thì nó đã đi ngủ. Cuối tuần tôi lại bận rộn đi chợ búa nhanh nhanh với mẹ rồi phóng lên thư viện học bài cho những lần thi cử…

Thằng bé quấn lấy bà ngoại như người duy nhất có thể bảo vệ nó, nó sợ làm phiền tôi, sợ bị tôi la, sợ bị tôi hất hủi. Tôi nhớ có một lần tôi đang mải mê học bài trong phòng, bỗng nghe tiếng vỡ toang của ly nước sau lưng, quay lại thấy nó, mặt xanh mét đứng yên, tôi la lên:

–         Tại sao lại vào đây? Ai cho phép vào! Đi ra!

Thằng bé òa khóc nức nở, nói trong tiếng nấc :

-��        Con muốn… con muốn đem…nước… vào cho dì…

–         Có ai nhờ đem nước đâu! Có thấy là vỡ ly rồi đó không! Thiệt là…

Nó khóc to hơn nữa vì sợ hãi và muốn cầu cứu, mẹ tôi chạy vào thấy cảnh thằng bé bị la đến nỗi thất thần, đã tè ra nhà, đứng chết trân, môi xám nghoét vì sợ và khóc ngất, ly nước bể toang dưới chân, mảnh chai văng tung tóe trên sàn, còn tôi thì đứng la um sùm.

Mẹ mới bế nó vào lòng vỗ về:

–         Con yêu của bà, nín đi, không sao rồi, ai bảo con đem nước vào phòng dì vậy?
–         Con thấy dì…học bài… mệt nên… đem nước cho dì… con xin lỗi… bể ly…
–         Con ngoan lắm, để bà sẽ nói dì mà, con nín đi và đừng làm phiền dì nhe, dì bận học nên la con thôi…
–         Tại sao dì… ghét con hả bà?
–         Không đâu! Dì không ghét con đâu, con thật là một cậu bé ngoan lắm, chỉ tại dì bận học, bây giờ phải quét vụn thủy tinh vỡ rơi đầy nhà nữa thấy chưa! Con làm cho dì phải bận thêm nữa…

–         Con…xin lỗi… Bà ơi… bà đừng ghét con như dì nhe bà!… đừng ghét con!

Thằng bé mếu máo gào to hơn và ôm chặt cổ bà để tìm sự thương yêu nơi bà.

Lúc ấy trái tim tôi se lại, một chút tình tội nghiệp nào đó len lén vào tim, nhưng tôi vẫn không thể đưa tay ra ôm, vỗ về nó như mẹ tôi đang làm được, tôi cảm thấy chút gì căm hận, xa lạ thế nào ấy! Lại quay mặt đi, trốn nhìn cảnh đáng thương của thằng bé.

Năm tôi 21 tuổi, sắp ra trường đại học về hành chánh, thằng bé Kora lên 6 vào lớp một, tôi vừa bước vào nhà vì đi học và đi làm về muộn, thấy nó vẫn chưa ngủ, ngồi vẽ trong phòng dường như đợi tôi. Khi thay quần áo xong, tôi bưng bát cơm vào vừa ăn vừa thăm nó:

–         Sao giờ này con chưa ngủ mà còn vẽ gì thế? Ngày mai con phải dậy sớm đi học nữa mà!

Nó phụng phịu nhìn tôi:

–         Dì ơi! Con… không muốn đi học nữa!
–         …Tại sao? Ai ăn hiếp con hả?
–         Không ai dám ăn hiếp con đâu… chỉ là…
–         Là sao??…
–         Con muốn nhờ dì…
–         Làm gì?
–         Nhờ dì làm. Mẹ con…
–         … ??
–         Sắp đến ngày họp lớp, các bạn con đều có cha mẹ nó đi họp! chỉ mình con chẳng có ai… vậy mẹ con ở đâu hả dì?…
–         … Ngày đó … dì đi học và làm cả ngày, để dì sẽ nói bà đi họp lớp cho con nhé!
–         Không được đâu, cô giáo nói phải là cha mẹ cơ… tại sao con không có cha cũng chẳng có mẹ chứ?…Dì có biết cha mẹ con ở đâu không?

Khi nghe nó nhắc đến cha, niềm căm phẫn tự dưng dâng trào:

–         Cha con đã chết mất xác rồi! Dì không có tin của ông ta, còn mẹ con…

Thằng bé mở to mắt đầy hy vọng, tôi quanh co:

–         Mẹ con … đi làm thật xa, nên dì và bà mới nuôi con đây!
–         Vậy có bao giờ mẹ về không dì?
–         Khi nào rảnh, hết việc mẹ mới về chứ!
–         Sao… con chả bao giờ thấy mẹ hết công việc vậy? Mẹ… làm gì mà bận vậy?

Thằng bé vẫn cứ nài nỉ:

–         Hay dì đóng kịch giả làm…mẹ con nhe dì?

Tôi gắt ngang:

–         Dì sẽ nói bà đi họp cho con!
–         Không! Con muốn… nhờ dì…
–         Đã nói là dì bận mà!… Dì không muốn đi!

Thằng bé cúi mặt nhìn xuống đất, hai tay xoắn vào nhau, không dám cãi lời tôi, nó phụng phịu ngồi yên vẽ những con rồng phun nước với những chiếc móng nhọn hoắt như trái tim nó đang bị cào cấu, hờn dỗi. Phải chăng nó đã quen với những lời nói thẳng thừng chẳng chút tình cảm nào của tôi từ bé đến bây giờ, nên không dám nài nỉ hay trả treo như những đứa con được yêu thương khác.

Tôi bước ra khỏi phòng, vừa cảm thấy bị phiền toái, vừa cảm thấy lương tâm cắn rứt! Trong thâm tâm nó, tôi chỉ là một người dì không hơn không kém, nên nó đâu thể mè nheo với tôi được. Nghĩ cũng tội nghiệp, từ nhỏ đến lớn đã thiếu tình thương của cha, cả người mẹ ở ngay trước mặt nó, mà nó cũng chẳng hay biết! Đã sáu năm nó vẫn sống trong sự hất hủi của chính người mẹ ruột, sáu năm nó cố gắng làm hết sức để mua chuộc tình cảm của mẹ nó mà vẫn mãi bị từ chối! Nó có tội tình gì không? Hay nó cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc đời nghiệt ngã thôi? Càng nghĩ tôi càng thấy một chút xót xa dâng lên se thắt trái tim.

Buổi tối, tôi học bài rất khuya đến 1, 2 giờ sáng, bỗng nghe mẹ tôi nói to bên phòng bên cạnh:

–         Kora, Kora bà đây dậy đi! Dậy uống thuốc nhe, con nóng quá rồi nè.

Tôi vội vàng chạy qua phòng, thấy mẹ đang bồng Kora dậy, cho nó uống Tylenol để hạ sốt, miệng nó vẫn cứ nói sảng:

–         Con muốn mẹ! Con muốn có mẹ!

Mẹ nhìn tôi, mắt đỏ hoe:

–         Hay là… con hãy nhận cháu nó đi, tội nghiệp nó, nó đã lớn, đã đi học, biết thế nào là thiếu tình mẫu tử, con không thể nào giấu mãi thân phận mình. Cháu nó sốt cao quá, nếu có mệnh hệ nào, suốt đời này mình sẽ ân hận lắm…

Tôi không nói gì, sờ lên trán nóng hổi của thằng bé, chiếc miệng đỏ au vì sốt cao, mắt nhắm nghiền nhưng nó vẫn không ngừng:

–         Con không muốn đi học nữa! … Con muốn mẹ!

Ngày họp phụ huynh đã đến, tôi tới trễ, cả lớp các học sinh ai cũng có cha mẹ dẫn đi, duy chỉ có Kora là đi với bà ngoại, tất cả các em cùng phụ huynh ngồi bên ngoài, chờ cô giáo điểm danh mới bước vào phòng trong để nghe cô giáo nói về hạnh kiểm và học lực của mỗi em cho phụ huynh biết.

Thằng bé thấy tôi bước vào, khuôn mặt bật vui tươi rạng rỡ đứng dậy, tôi nhẹ nhàng vào ngồi bên cạnh nó, ánh mắt nó sáng ngời nhìn tôi trong vui sướng và đầy biết ơn, mẹ tôi quay qua hỏi:

–         Sao hôm nay con được nghỉ buổi chiều à?
–         Vâng! Con đã xin nghỉ để….đi họp cho Kora!

Mẹ ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi, vì đã 6 năm nay tôi chẳng bao giờ đi họp cho nó, có nhắc đến tôi cũng tỉnh bơ bỏ qua coi đó không phải là chuyện của tôi!
Mẹ nói:

–         Con có chắc chắn sẽ … họp với nó chứ? Con…

Mẹ chưa hết câu thì tiếng cô giáo đã gọi:

–         Kora Nguyen

Thằng bé đứng bật dậy, mắt nó nhìn tôi cầu khẩn. Cả mẹ và tôi cùng đứng lên một lúc, chúng tôi nhìn nhau. Tiếng cô giáo lại vang lên:

–         Who is Kora’s mother? (Ai là mẹ của cháu Kora?)

Cả hai chúng tôi đểu trả lời:

–         Me! (tôi)

Cô giáo ngạc nhiên nhìn mẹ và tôi, sau đó mẹ tôi mới chỉ vào tôi nói:

–         I’m sorry, it’s her! (xin lỗi, chính bà này mới là mẹ của Kora)
–         Go inside please (Xin mời vào bên phòng trong)

Kora sung sướng nhét bàn tay bé xíu của nó vào lòng bàn tay tôi, níu tôi vào bên trong phòng, nó tự tin ra mặt và nói ngay với cô giáo:

–         Thưa cô, đây là mẹ con!

Cô giáo nhìn tôi một lúc rồi hỏi:

–         Bà là mẹ của Kora?
–         ….Vâng!
–         Mấy lần tôi hỏi Kora về mẹ của nó… nó thường trốn tránh trả lời câu hỏi này của tôi, bà không gần gũi cháu vì bận làm à?
–         ….

Rồi cô giáo khen thằng bé học giỏi, thông minh, biết chia sẻ kiến thức và giúp đỡ bạn bè… thằng bé lúc nào cũng đứng nhất lớp nhưng nó lại rất ít kể về tình gia đình, cô giáo nói với tôi rằng ở tuổi của nó phải được cười đùa cùng lũ bạn, đàng này cô thấy nó thỉnh thoảng rút lui vào một góc, vẽ những bức tranh kỳ quái nói lên tâm hồn của nó bị dầy vò vì một điều gì khó tả lắm! Cô giáo khuyên tôi nên bên cạnh nó, tâm sự và đi chơi nhiều hơn với nó vì nếu không sau này nó sẽ không có niềm tin vào gia đình, sẽ làm những việc không tốt cho xã hội. Tuổi thơ phải gắn liền với một gia đình hạnh phúc! Nghe cô giáo người Mỹ nói, tôi cảm thấy có lỗi với nó vô cùng, tôi đã hành động sai, thật đáng bị phạt.

Họp xong, dắt tay Kora ra khỏi lớp, nó rút nhẹ bàn tay bé nhỏ ra khỏi tay tôi.

Tôi giữ chặt lại không để nó rút ra, ngồi xuống nhìn thẳng vào mắt nó:

–         Sao… con lại không muốn để tay con trong tay dì?
–         Vì… mình đã đóng kịch xong rồi mà! Con cám ơn dì đã giả làm… mẹ con thật hay lắm!
–         Con có muốn dì mãi mãi là mẹ thật của con không?
–         Làm sao có thể được? …Con sẽ làm phiền dì, dì cũng… không thích con mà!?

Nước mắt nhạt nhòa trên mặt, ôm nó vào lòng, lần đầu tiên tôi ôm chặt lấy thân thể bé nhỏ của nó; lẽ ra tôi đã bỏ, đã vứt, đã muốn giết nó khi nó mới chỉ là phôi thai, tôi cảm thấy cả trái tim thổn thức, cả tâm hồn lay động, tôi thật hối hận, tôi đã lầm lỗi bao lâu nay! Phải chi tôi ôm nó một lần trong quá khứ thì chắc nó sẽ chuyển hóa được tình cảm của tôi rồi, trái tim nhỏ của nó đập nhẹ nhàng bên cạnh lồng ngực tôi, tôi thì thầm:

–         Kora yêu quý của mẹ!
–         ….!!
–         Kora hãy tha thứ cho mẹ… mẹ rất yêu con, mẹ chính là mẹ ruột của con, chứ không phải là dì như từ trước đến giờ con gọi dì đâu! Con có muốn gọi mẹ là mẹ không?
–         … Thật không? Có thật dì là… mẹ con không? Con không nằm mơ chứ? Con mong có được một người mẹ lắm… Mẹ ơi, mẹ ơi…

Nó choàng hai tay bụ bẫm quanh cổ tôi, không hề hỏi han tại sao dì bỗng nhiên biến thành mẹ nó như thế, nó mừng vui đến nỗi vừa khóc ré lên, lại vừa cười sung sướng trong tiếng nấc:

–         Từ đây… con sẽ có mẹ rồi, mẹ hứa ở bên con mỗi ngày nhe mẹ! Con sẽ nói với các bạn rằng con là đứa con ngoan ngoãn nhất nên ông Trời đã cho con một người mẹ hiền và đẹp nhất trong đám bạn… Mẹ ơi…

Cả hai trái tim chúng tôi cùng một nhịp đập, tôi ôm nó thật chặt như sợ sẽ không bao giờ còn dịp để giữ chặt nó bên tôi nữa.

Sỏi Ngọc

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen


 

Thánh James ở Marche (1394-1476)- Cha Vương

Một ngày ấm áp trong tình yêu Chúa nhé. Hôm nay mời bạn tìm hiểu câu chuyện của vị thánh ngoài lịch, Thánh James ở Marche (1394-1476). Xin thánh nhân cầu bầu cho chúng ta nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 28/11/2023

Thánh James sinh ở Marche thuộc tỉnh Ancona miền trung nước Ý, dọc theo bờ biển Adriatic. Sau khi lấy tiến sĩ giáo luật và dân luật tại Ðại Học Perugia, ngài gia nhập dòng Phanxicô, và bắt đầu một cuộc sống thật khắc khổ. Ngài ăn chay chín tháng trong một năm, và mỗi đêm chỉ ngủ có ba tiếng. Ngài hãm mình đến độ Thánh Bernardine ở Siena phải bảo ngài giảm bớt lại.

Thánh James học thần học với Thánh John ở Capistrano. Ðược thụ phong linh mục năm 1420, Thánh James bắt đầu cuộc đời rao giảng, và bởi đó, ngài đã đi khắp nước Ý cũng như đến 13 quốc gia thuộc Trung và Ðông Âu Châu. Sự hăng say của ngài đã giúp nhiều người trở lại đạo (người ta ước lượng khoảng 250.000 người), và giúp lan tràn việc sùng kính Thánh Danh Chúa Giêsu. Bài giảng của ngài thúc giục giáo dân cải thiện đời sống, và nhiều thanh niên gia nhập dòng Phanxicô vì sự ảnh hưởng của ngài.

Cùng với Thánh John ở Capistrano, Thánh Albert ở Sarteano và Thánh Bernardine ở Siena, Thánh James được coi là một trong “bốn cột trụ” của phong trào Nghiêm Thủ (Observant) của dòng Phanxicô. Các ngài nổi tiếng vì sự rao giảng.

Ðể chống với tệ nạn xã hội về số phân lời quá cao, Thánh James thiết lập một tổ chức gọi là “montes pietatis” (núi bác ái) – đó là một tổ chức bất vụ lợi, để cầm đồ với lãi suất thật thấp. Dĩ nhiên, các tay cầm đồ ác đức không hài lòng với tổ chức này, nên đã hai lần họ thuê người đến giết ngài, nhưng cứ mỗi lần đối diện với ngài là các hung thủ đều quên hết dự tính ở trong đầu. Ngài từ trần ở Naples ngày 28.11.1476, và được phong Thánh năm 1726.

LỞI BÀN: Thánh James muốn lời Chúa ăn sâu trong tâm hồn của người nghe. Lời giảng của ngài là để chuẩn bị mảnh đất tâm hồn, bằng cách lấy đi những sỏi đá, và làm mềm lòng những cuộc đời đã khô cằn vì tội lỗi. Chúa muốn lời của Người bén rễ trong đời sống chúng ta, nhưng để được như thế, không những chúng ta cần người rao giảng đầy sùng tín, nhưng chính chúng ta cũng phải tích cực lắng nghe.

LỜI TRÍCH: “Lời Chúa thật thánh thiện và đáng yêu quý dường nào! Chỉ có lời Chúa mới soi tỏ mọi tâm hồn tín hữu, làm thoả mãn người đói khát, an ủi kẻ đau khổ; lời Chúa giúp linh hồn tạo được công nghiệp và giúp mọi nhân đức phát triển; lời Chúa gìn giữ linh hồn khỏi nanh vuốt ma quỷ, giúp người độc ác nên thánh thiện, và mọi người trên mặt đất trở thành công dân nước Trời” (Trích Bài giảng của Thánh James).

From: Do Dzung

Hãy đi rao giảng Tin Mừng _ Quý Báu

THÀNH TỰU KHOA HỌC HOA KỲ

Mai Nguyen

Phát minh robot chui vào cơ thể tiêu diệt khối ác tính trong cơ thể và thông các mạch máu bị tắc hay cầm máu bên trong…

Hy vọng phát minh này sẽ giúp được nhiều cho nhân loại.

Con robot hình cua này bé tí xíu, chỉ nửa mm. Nhưng nó có thể chui vô cơ thể người để tìm và diệt các khối u ác tính, thông các mạch máu bị tắc hay cầm máu bên trong. Nó vừa được nhóm nghiên cứu tại đại học Northwestern tại Mỹ phát minh ra và công bố. John A. Rogers, một giáo sư về khoa học vật liệu và kỹ thuật là người đứng đầu nhóm nghiên cứu này.

Thêm vào đó, bởi vì toàn bộ cơ thể robot nhỏ hơn một milimet không cần dây điện hoặc điện để hoạt động, nó thậm chí có thể đi lang thang trong cơ thể con người vào một ngày nào đó, hoạt động giống như một trợ lý y tế sáu chân.

Túm lại, đây là một thành tựu mới cho Y khoa thế giới từ các bước tiến vượt bậc của khoa học vật liệu và robot.

Vì ở nhiều xứ sách giáo khoa là miễn phí, đi học phổ thông từ nhỏ tới hết lớp 12 cũng miễn phí, nên hỏng xảy ra các vụ tranh cãi mất thời gian làm gì. Rảnh thì ráng làm cái gì cả nhân loại đều cần như con robot tí hon này sẽ đem lại nhiều lợi lạc cho thế gian hơn nhiều.

Hình từ đại học Northwestern


 

Con chính là cả cuộc đời của mẹ – Truyen ngan

Nhớ lại dạo tôi chuẩn bị gửi mẹ vào viện dưỡng lão. Mẹ tôi mắc chứng đãng trí từ nhiều năm, để bà ở nhà có thể ảnh hưởng đến an toàn của bà và cả nhà, vì đã có lần bà bật bếp ga rồi quên không đóng.

Mẹ tôi thường ngồi một mình trong phòng khách, ôm chiếc hộp sắt và lẩm bẩm điều gì đó một mình. Nhìn thấy tôi hoặc con dâu, bà chỉ khẽ cười.

Đôi khi tôi hỏi mẹ đang nói gì vậy thì bà trả lời:

“Mẹ có nói gì đâu!”

Vợ tôi thường phàn nàn:

“Em sợ cái cảnh này quá”!

Thậm chí có những đêm, vợ tôi thức dậy đi vệ sinh, bất chợt nhìn thấy một cái bóng đen đen lù lù trong phòng khách, thì sợ đến nỗi hồn bay phách lạc. May đúng lúc đó, tôi cũng tỉnh dậy, ra bật điện, thấy mẹ đang ngồi đó không nói năng gì.

Tôi hỏi:

“Mẹ ơi, sao mẹ lại ngồi đây thế?”

Bà đứng dậy, lắc đầu, đến bản thân bà cũng không biết vì sao mình lại ngồi đây.

Quay về phòng, vợ tôi vẫn thao thức.

Cô giận dỗi:

“Ngày nào cũng như thế này thì làm sao mà sống nổi đây”.

Nói xong, cô đề nghị:

“Hay chúng ta gửi mẹ vào viện dưỡng lão đi, trong đó có nhiều người già, mẹ cũng có thêm bạn. Còn vợ chồng mình một tuần vào thăm mẹ một lần, như vậy cũng không thể coi là bất hiếu”.

Tôi suy nghĩ mãi rồi vẫn phải lắc đầu, thở dài, quyết định thế nào cũng không xong.

Từ nhỏ tôi đã mồ côi cha, chỉ có mẹ tôi một mình tần tảo nuôi tôi nên người. Tôi nhớ khi ấy có rất nhiều người đến mai mối, khuyên mẹ nên đi bước nữa, và đó đều là những đàn ông tương xứng với mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi nhất quyết cự tuyệt, mẹ tôi sợ rằng lấy người khác rồi thì tôi sẽ chịu ấm ức.

Mẹ tôi hàng ngày bán rau kiếm cơm nuôi tôi, một đời ngậm đắng nuốt cay, chặng đường vô vàn gian nan khó bước. Rồi mẹ tôi cũng nuôi tôi học đến đại học, dạy tôi thành trang nam tử, cho tôi kĩ năng phấn đấu trong sự nghiệp. Đến nay mẹ tôi vẫn chưa được hưởng ngày vui nào trọn vẹn, vậy mà chẳng lẽ tôi lại nhẫn tâm đưa mẹ vào viện dưỡng lão sao? Vợ tôi thấy chồng nói vậy thì thôi không nói gì, nhưng trong tâm thì không hài lòng, thường quay mặt tránh nhìn tôi.

Hôm sau khi nấu cơm, bà lại để xảy ra chuyện. Cơm đã chín, nhưng bà lại ấn nút nấu thêm một lần nữa, kết quả cả nồi cơm cháy đen thui.

Vợ tôi vừa nhìn nồi cơm vừa trách:

“Mẹ, sao mẹ lại ấn nút hai lần?”

Bà nín nhịn hồi lâu, cuối cùng nói một câu:

“Mẹ quên”.

Lần khác, mẹ tôi ra ngoài, khi về thì vào nhầm nhà, may mà người ta đưa về.

Sự việc này sau khi xảy ra nhiều lần, trong tâm tôi cũng bắt đầu dao động.

Tôi nghĩ:

“Hay cứ để mẹ vào viện dưỡng lão xem sao, có khi sẽ tốt hơn cho mẹ, trong đó nhiều người già, mẹ sẽ không còn cô đơn nữa…”

Hôm đó, nhân lúc tâm trạng của mẹ vui vẻ, tôi bèn nói ra suy nghĩ trong lòng.

Mẹ tôi ngồi lặng thinh, không nói lời nào.

Vợ anh ngồi bên, được thể nói:

“Mẹ, mẹ đến đó rồi, nếu thực sự không quen, thì chúng con lại đón mẹ về nhà mà”.

Bà thở dài gật đầu, tối đó bà thu dọn. Đồ đạc được chuẩn bị cũng rất đơn giản. Bà còn mang theo chiếc hộp sắt, trên đó có một chiếc khóa nho nhỏ. Mẹ tôi ôm chặt nó vào lòng.

Vợ tôi nói:

“Mẹ, để nó ở nhà đi”.

Bà đáp trả:

“Không, mẹ phải mang nó theo!”

Từ khi mắc bệnh thì cái gì mẹ tôi cũng quên. Chỉ có chiếc hộp sắt là không lúc nào bà quên mang theo bên mình.

Đôi khi vợ lôi tôi ra, chỉ vào trán hỏi:

“Anh có ngốc không? Có biết có cái gì trong hộp không”?

Tôi lắc đầu, từ trước tới giờ tôi thấy mẹ tôi luôn coi chiếc hộp đó như một bảo vật, tôi chỉ biết có vậy thôi.

Vợ tôi nói:

“Cả đời người, ai chả có một bảo vật, hay chút tiền vàng trong tay. Trong chiếc hộp của mẹ anh chắc chắn là những thứ đó”.

Tôi vừa nghe vậy, tự nhiên thấy động lòng. Tôi biết, nhà ngoại tôi trước kia là địa chủ giàu có. Nếu thực sự trong hộp có thứ gì đáng giá, đưa mẹ tôi mang theo rồi bị mất hay bị kẻ trộm lấy thì thật đáng tiếc.

Cho nên tôi vô tình đưa tay ra nói:

“Mẹ, mẹ đưa hộp đây con xem được không?”

Bà lắc đầu, giữ khư khư bên mình và nhất quyết không đưa cho tôi.

Vợ tôi nhìn thấy vậy thì lầm bầm vài câu. Hôm đó vợ chồng tôi chưa đưa mẹ tôi đến nhà dưỡng lão. Đến đêm khi mẹ tôi đã ngủ say, tôi và vợ mới nhẹ nhàng mở hộp ra, bất chợt tôi nhìn thấy những vật trong đó mà tuôn trào nước mắt.

Hôm sau, vợ chồng tôi cũng không đưa mẹ tôi đến viện dưỡng lão, và kể từ đó về sau chúng tôi cũng không bao giờ nhắc đến chuyện đó nữa.

Trong chiếc hộp sắt không phải cất giữ tiền, cũng không phải vàng, mà là một nhúm tóc tơ và vài chiếc răng sữa. Bên trong còn có một tờ giấy ghi lại thời gian tôi thay răng và lần đầu tiên cắt tóc. Ở quê tôi có một phong tục, đó là răng sữa và tóc tơ của con cái thì không được phép vứt đi mất, nếu không giữ cẩn thận, đứa trẻ đó sẽ ốm yếu triền miên và chết yểu…

Mẹ có già, có lẫn, mẹ có thể quên đi hết mọi thứ trên đời, quên đi cả chính bản thân mình nhưng tình yêu dành cho con thì vẫn luôn hiện hữu trong trí nhớ của mẹ.

Con chính là cả cuộc đời của mẹ.

From Tu-Phung


 

NHỮNG LỜI CHIÊM NIỆM THEN CHỐT – Rev. Ron Rolheiser, OMI  

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Gần đây tôi có dự một buổi ở Hội Suy niệm trong Ý thức, với James Finley là diễn giả chính.  Ông là chuyên gia trong lãnh vực này.  Ông đã có gần bốn mươi năm kinh nghiệm chuyên gia trị liệu, là diễn giả được nhiều nơi mời, đã viết nhiều và sâu sắc về chủ đề chiêm niệm, và khi còn trẻ có theo học mấy năm với Thomas Merton.  Ông biết mình nói gì.

Tôi muốn chia sẻ ở đây vài tư tưởng sáng suốt của ông bằng cách sắp đặt những câu then chốt, mỗi câu, khi đứng riêng tự nó đã có một giá trị, nhưng khi phối với nhau, cũng thể hiện một vài ánh sáng trên bản chất Thiên Chúa, bản chất chiêm niệm và các đấu tranh của chúng ta trong đức tin cũng như chiêm niệm.

Đây là một vài quan điểm của Finley:

Các nhà thần nghiệm là chứng nhân cho bản chất thiêng liêng hoàn hảo của hiện hữu con người, cho sự việc, rằng chúng ta được yêu thương vô bờ và được tồn tại nhờ tình yêu, có những lúc chúng ta thoáng thấy và cảm nghiệm điều này trong đời mình.  Nhà thần nghiệm là người đã được biến đổi nhờ trải nghiệm đó.

Chúng ta lo lắng là do không cảm nhận được tình yêu của Chúa ở trong lòng mình.

Tại sao chúng ta mất quá nhiều giờ để tách mình ra khỏi gia tài phong phú của cuộc sống mình, như thử mình là người ngoài cuộc, đứng bên ngoài căn nhà nhìn vào qua cửa sổ?  Hoặc tệ hơn, tại sao chúng ta ở trong nhà nhưng lại rơi vào trạng thái tâm thần, nghĩ mình đang sống ở ngoài?  Chúng ta phải làm gì để tỉnh khỏi cơn mê này trước khi từ giã cuộc đời?

Đời sống chúng ta thường xuyên chịu áp lực, do đó nhiệm vụ mãi mãi sẽ là: Giữa cuộc sống đầy áp lực của mình, làm sao chúng ta tặng cho mình một tình yêu, để tình yêu đó ôm trọn chúng ta?  Chúng ta không thể tạo ra giây phút ân sủng, nhưng có thể làm để đặt mình vào vị thế mà ở đó, chúng ta ít kháng cự nhất, để từ đó giây phút ân sủng đó có thể chiếm trọn chúng ta.

Suy niệm trong ý thức không khó tìm, nhưng đừng chạy trốn nó mới là chuyện khó.

Suy niệm trong ý thức là thấy sự việc theo bản chất của nó.  Là nghỉ ngơi trong Chúa.  Đi sâu vào suy niệm trong ý thức là ngồi như “đứa trẻ chưa biết gì,” trong một khoảng thời gian “vô niệm.”

Khi ngồi yên chúng ta học được an bình.  Chiêm niệm tùy thuộc vào lòng trung tín.  Nếu bạn trung thành với việc bạn làm, thì việc bạn làm sẽ trung thành với bạn.

Có một vài nguyên tắc đơn giản cho việc thực hành chiêm niệm.  Ngồi yên.  Ngồi thẳng.  Nhắm hay khép hờ mắt.  Thở chậm sâu tự nhiên.  Để tay thoải mái.  Rồi sẵn sàng, mở rộng lòng, và tỉnh thức: Đừng bám cũng như đừng loại bất kỳ điều gì đến trong suy nghĩ của bạn.  Khi một suy nghĩ xuất hiện, cứ để nó xuất hiện, nếu nó kéo dài, cứ để nó kéo dài, nếu nó qua đi, cứ để nó qua đi, nhưng đừng để ý nghĩ đó kéo bạn theo.  Cử động chầm chậm và nhẹ nhàng trong khi cầu nguyện – đừng thô bạo với sự yên bình của cơ thể.

Một bài tập nên theo: Vào phòng ngay trước khi mặt trời lặn, lý do duy nhất là để được ở đó với Chúa khi hoàng hôn xuống.  Đừng vướng bận bất kỳ việc gì trong đầu trừ việc nhìn ráng chiều.  Ngồi đúng một giờ trọn.  Ngồi trong sức mạnh tối thượng của buổi cuối ngày.  Ngồi trong sự tuân phục triệt để ánh sáng chập choạng.  Bạn sẽ biết được cô tịch.

Những người thường xuyên cầu nguyện thì không cầu nguyện giỏi… nhưng họ trở nên người nhờ cậy Thiên Chúa để làm cho lời cầu nguyện của họ được nên tốt.  Và những người thường xuyên cầu nguyện, sẽ như tất cả những người khác, tiếp tục trải nghiệm nỗi buồn và cái chết, nhưng nỗi buồn và cái chết không còn là bạo chúa hành hạ họ.

Có một sự khác biệt giữa “dịu ngọt” tâm hồn và “an ủi” tâm hồn.  “Dịu ngọt” là cảm giác tốt đẹp khi cầu nguyện, “an ủi” là cảm nhận tâm hồn bạn được mở rộng (và vì thế có thể đau khổ).

Tôi trích lại đây lời của Gabriel Marcel: Chúng ta biết mình yêu ai đó khi thoáng thấy nơi người đó một điều gì quá đẹp đến có thể chết được.

Còn thánh Têrêxa Avila nói:
Khi bạn chạm đến mức cao nhất của trưởng thành nhân bản, bạn sẽ chỉ có một câu hỏi:  Tôi sẽ có ích đến đâu.

Tình yêu nghĩa là hai người ngồi trong phòng và nói chuyện với nhau.  Dù cả hai đều chẳng biết nói gì, nhưng đều nhận biết nhau.

Tại sao Phật tử nói về “vô niệm” khi nói đến quan niệm về Thượng đế?  Họ nói như vậy để nhắc đến sự tối đơn giản của Thượng đế, nghĩa là một Thượng đế có trước tất cả mọi dấu hiệu nhận biết về Ngài.  “Vô niệm” là đứng trước sự khôn tả thấu của Thiên Chúa, hoàn toàn bị chiếm trọn bởi một sự quá trọn vẹn.

Làm sao chúng ta có thể giúp đỡ cho những ai đang đau khổ, nếu chúng ta cảm thấy mình bất lực không làm được chuyện đó?  Khi người ta chia sẻ sự yếu đuối mong manh và nỗi đau của mình với người biết lắng nghe thật sự, thì chính người lắng nghe đang hé mở “viên ngọc quý” trong chính tâm hồn họ.

Và vẫn còn nữa:

Lòng quảng đại của Đấng Vô Hạn là vô hạn.  Giữa những chuyện khác, lời này có nghĩa chúng ta phải trao ban chính mình cho một sự chính truyền quảng đại.

Không để cho Thiên Chúa biết mình là giữ quá nhiều chuyện cho riêng mình!

Với Thiên Chúa, chỉ một chút chân thành là đi được cả một con đường dài!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen


 

RẤT ỦI AN – Lm. Minh Anh, Tgp.Hue

Lm. Minh Anh, Tgp. Hue

“Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Những ngày cuối năm phụng vụ, Lời Chúa nói đến sự tàn phá và mất mát! Bài đọc Đaniel nói đến sự chia cắt giữa các quốc gia; Tin Mừng nói đến sự sụp đổ của Giêrusalem và các hiện tượng dữ. Nhưng qua đó, ‘rất ủi an’, Chúa Giêsu dạy chúng ta, “Đừng sợ!”.

Giấc mơ của Nabucôđônôsor được Đaniel giải thích, tiên báo sự chia cắt lãnh thổ các nước; và sau đó, “Đức Chúa Trời sẽ lập một vương quốc không bao giờ bị tiêu diệt, vương quốc ấy không bị giao cho một dân khác… đến muôn đời nó sẽ đứng vững”. Đaniel đang nói tiên tri về một Vương Quốc mới mà Đức Kitô, Con Thiên Chúa sẽ thiết lập. Để từ đó, thần dân Ngài có thể “Muôn ngàn đời ca tụng suy tôn” như tâm tình Thánh Vịnh đáp ca.

Với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nói về số phận mai ngày của Giêrusalem, một trong bảy kỳ quan thế giới vào thời Ngài, “Sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào!”. Theo nghĩa đen, điều này đã xảy ra năm 70. Ngài còn nói đến các hỗn loạn: tiên tri giả, chiến tranh, động đất, nạn đói và ôn dịch, với “Những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời”. Tại sao Chúa Giêsu nói tiên tri về những điều này?

“Cuộc sống không phải là một bát anh đào!”. Trước bao biến động, Kitô hữu dễ bị cám dỗ để sợ hãi, tức giận hay tuyệt vọng. Chúa Giêsu không cố ý làm chúng ta sợ hãi, cũng không muốn ai trở nên lầm lạc khi những sự việc đó xảy ra. Ngài nói, “Coi chừng kẻo bị lừa gạt!”, và “Đừng sợ!”. Thế giới hôm nay tỏ ra hỗn loạn, lừa dối, lạm dụng, tai tiếng, xung đột và những thứ tương tự hơn bao giờ hết; cũng thế, những mâu thuẫn gia đình, bất ổn dân sự hoặc thậm chí, chia rẽ trong Hội Thánh trở nên gay gắt. ‘Rất ủi an!’, Chúa Giêsu muốn chúng ta cố giữ lấy bình an và tuyệt đối tin cậy vào Ngài giữa bao hỗn mang.

Một người cha và đứa con gái đang đi dạo giữa một thảo nguyên bát ngát. Bỗng từ xa, một đám cháy bùng lên, trời nổi gió. Người cha nhận ra rằng, lửa sẽ sớm nuốt chửng hai cha con. Ông lập tức chạy quanh, gom cỏ khô và phóng hoả đốt cháy một góc thảo nguyên. Lửa đến, hai cha con đã ở trong phần đất đã cháy. Cô gái kết sức hoảng sợ, nhưng người cha trấn an, “Đừng sợ, lửa không thể đến được. Chúng ta đang ở trong vùng an toàn!”.

Anh Chị em,

“Chúng ta đang ở trong vùng an toàn!”. Trước bao bi thảm và tàn phá, thái độ của Kitô hữu là biết mình “đang ở trong vùng an toàn!”. Lý do, Thiên Chúa ở cùng chúng ta; và điều này giúp chúng ta không bị choáng ngợp bởi các biến cố. Theo Đức Phanxicô, “Đó là thời điểm để làm chứng, chúng ta không thể tiếp tục làm nô lệ cho sợ hãi và lo lắng; thay vào đó, được kêu gọi gắn kết với lịch sử, ngăn chặn sức mạnh huỷ diệt của sự dữ, với niềm tin rằng, hành động tốt lành của Thiên Chúa luôn đi kèm với sự dịu dàng quan phòng ‘rất ủi an’ của Ngài. Đây là dấu hiệu hùng hồn cho thấy Vương Quốc của Thiên Chúa đang đến gần, tức là hiện thực hoá thế giới như Ngài mong muốn. Chính Ngài, Đấng nắm giữ mọi sự tồn tại, cũng là Đấng biết rõ mục đích cuối cùng của mọi sự và các biến động!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con choáng ngợp trước các biến cố. Và ngay cả ngày tận thế của con có ập xuống, cái chết, con vẫn biết mình đang ở trong vùng an toàn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Hue

From: KimBang Nguyen


 

60% người Mỹ nghĩ tiền bạc mua được hạnh phúc, nhưng giá bao nhiêu?

Ba’o Nguoi-Viet

November 26, 2023

NEW YORK, New York (NV) – Trên thực tế, khi hầu hết các cá thể trong xã hội có đủ tiền trong ngân hàng, họ đều cảm thấy thoải mái hơn, vì những căng thẳng và các mối lo lắng thường ngày được giảm bớt. Qua đó, mức độ hạnh phúc, một cách tổng quát, được cải thiện.

Các cuộc nghiên cứu chứng minh rằng mức thu nhập nhiều hơn tương quan với mức độ hài lòng trong cuộc sống cao hơn và người Mỹ có xu hướng đồng ý quan điểm này khi có đến sáu trong 10 người nói rằng tiền có thể mua được hạnh phúc, theo một cuộc khảo sát gần đây từ công ty dịch vụ tài chính Empower.

Tuy nhiên, “giá hạnh phúc” như thế không hề rẻ. Khi được hỏi cần bao nhiêu tiền để có được hạnh phúc, người Mỹ cho biết trung bình cần có mức tài sản ròng khoảng $1.2 triệu, theo CNBC cho biết hôm Thứ Bảy, 25 Tháng Mười Một.

Tuy nhiên, thế hệ Millennials (sinh từ 1980 đến 1996) cho biết họ cần có tài sản ròng khoảng $1.7 triệu để có thể hạnh phúc.

Thế hệ X (sinh trong thập niên 1960 và cuối thập niên 1970) sẽ cần khoảng $1.2 triệu và những người thuộc thế hệ Baby Boomer (sinh cuối thập niên 1940 đến cuối thập niên 1950) cũng cho ý kiến tương tự rằng sẽ có hạnh phúc khi mức tài sản ròng khoảng $1 triệu.

(Hình minh họa: Joerg Koch/Getty Images)

Thế hệ Z (sinh trong khoảng 1997 và 2012, thời điểm bùng phát internet) là ngoại lệ. Trong số những thế hệ đạt tuổi trưởng thành trẻ nhất, nhóm Z chỉ cần tài sản ròng trung bình khoảng $487,000 là đủ để có được hạnh phúc tài chính, theo nghiên cứu của Empower.

Những con số vừa nêu cho thấy giá hạnh phúc cao nhất đối với thế hệ Millennials.

Khoảng 72% thế hệ Millennials đồng ý rằng tiền có thể mua được hạnh phúc hơn bất kỳ thế hệ nào khác. Họ cũng là thế hệ liệt kê mức lương hàng năm cao nhất cần có để được hạnh phúc, cao hơn gấp 4 lần so với con số của mọi thế hệ khác.

Đây là mức lương trung bình mà mỗi thế hệ cho rằng họ cần có để được hạnh phúc và ít căng thẳng hơn, theo Empower.

Thế hệ Z: $128,084

Thế hệ Millennial: $525,947

Thế hệ X:$ 130,344

Thế hệ Baby Boomers: $124,165

Những người được hỏi cho biết mức thu nhập trung bình hàng năm là $95,000 một năm sẽ khiến họ bớt căng thẳng hơn.

Mặc dù nói rằng cần phải kiếm được mức lương cao hoặc có tài sản ròng rất cao để cảm thấy hạnh phúc, nhưng ngay chính những điều đó không phải là điều khiến hầu hết người Mỹ hạnh phúc.

Thay vào đó, việc thanh toán tất cả các hóa đơn đúng hạn và đầy đủ sẽ xác định hạnh phúc tài chính cho 67% người Mỹ, Empower nhận thấy.

Không mắc nợ, 65% và tận hưởng những tiện nghi nhỏ nhặt hàng ngày, 54%, là hai cách phổ biến nhất mà người Mỹ cho rằng họ có thể hạnh phúc về mặt tài chính.

Nói chung, hầu hết người Mỹ đều hạnh phúc với 75% xếp hạng mức độ hạnh phúc tổng thể của họ ở mức 7 hoặc cao hơn trên 10.

Nhưng tài chính là lĩnh vực mà người Mỹ tìm thấy có thể thay đổi để tìm hạnh phúc nhiều nhất, theo Empower. (MPL)