Để con ‘thua ở vạch xuất phát’, người Đức sở hữu một nửa giải Nobel thế giới

Quỳnh Chi

Cha mẹ ngày nay rất coi trọng việc giáo dục con cái. Một số người đã dạy con học thơ, viết chữ, toán, ca hát và khiêu vũ… ngay từ khi con còn đang học mẫu giáo. Ở Đức, việc các bậc phụ huynh ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học bị cấm. (Ảnh: Shutterstock)
Posted by GLN

82 triệu người Đức đã giành được một nửa giải Nobel, còn hơn 6 tỷ người còn lại trên Trái đất chỉ đạt được một nửa còn lại. Rốt cuộc họ làm sao bồi dưỡng được nhiều nhân tài xuất sắc như vậy?

Cha mẹ ngày nay rất coi trọng việc giáo dục con cái. Một số người đã dạy con học thơ, viết chữ, toán, ca hát và khiêu vũ… ngay từ khi con còn đang học mẫu giáo. Tóm lại, trẻ học càng nhiều, cha mẹ càng vui… Đặc biệt, một số cha mẹ sẽ so sánh con cái họ với nhau, rằng con của họ đã viết được bao nhiêu chữ, thuộc bao nhiêu bài thơ…

Nhưng người Đức thì không làm vậy. Họ dám để con “thua ở vạch xuất phát”.

Ở Đức, việc các bậc phụ huynh ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học bị cấm. Tất nhiên, không phải là người Đức không lo lắng gì đến tương lai của con em mà là họ có những lý giải riêng về việc học đối với những đứa trẻ.

Trẻ em ở Đức đi học mẫu giáo ở khắp mọi nơi

Nhà trẻ ở Đức không giống nhiều quốc gia khác, họ không phân lớp rõ ràng, thông thường đều quản lý chung. Ở Đức, trẻ em không đến trường mẫu giáo để học một số tri thức, ví như đọc thuộc lòng, biết chữ, v.v. mà chúng được “chơi” và học ở khắp mọi nơi.

Mỗi ngày sau khi đến nhà trẻ, các bé sẽ tự chơi, tự kết bạn, tự chọn những thứ đồ chơi mà mình thích. Bởi vì đối với trẻ nhỏ thì “chơi” là nhiệm vụ quan trọng. Đôi khi thầy cô sẽ đưa các em đi tham quan những nơi như: tiệm bánh mì, trại trẻ mồ côi, sở cảnh sát và thậm chí là nhà tang lễ, thầy cô sẽ mời người làm việc ở những nơi này chia sẻ một số thường thức cơ bản cho các bé.

Mỗi ngày sau khi đến nhà trẻ, các bé sẽ tự chơi, tự kết bạn, tự chọn những thứ đồ chơi mà mình thích. Bởi vì đối với trẻ nhỏ thì “chơi” là nhiệm vụ quan trọng. (Ảnh: Shutterstock)

Ví dụ: Cho trẻ đến đồn cảnh sát, học cách báo cảnh sát, cách đối phó với người xấu, v.v. hay đến thư viện, học cách mượn sách và trả sách; học cách trả tiền, đi chợ mua đồ, phân biệt các cửa hàng; học cách đi xe buýt, học nhớ đường về nhà; đi đến công viên và học cách nhận biết hoa cỏ cây cối; vào mùa thu hoạch, đi đến các vùng nông thôn để hái trái cây và nấu ăn cùng các giáo viên…

Hình thức giáo dục mẫu giáo này chính là tự do “chơi” và “sống”.

Nếu hỏi trẻ em mẫu giáo ở Đức đã học được những gì, thì những gì chúng đã học được thể hiện ở ba khía cạnh: Thứ nhất, học ý thức xã hội cơ bản; Thứ hai, rèn luyện kỹ năng thực hành của trẻ; Thứ ba, tôn trọng bản chất của trẻ em, bảo vệ cảm xúc và cải thiện trí tuệ cảm xúc của chúng. Những điều này rất khác so với một số trường mẫu giáo ở các đất nước khác.

Dám để trẻ “thua ở vạch xuất phát” và không khai thác quá mức trí thông minh của trẻ

Nhiều bậc phụ huynh có lẽ sẽ nói rằng, nếu chiếu theo loại hình giáo dục mẫu giáo như ở nước Đức, thì trẻ em chắc chắn sẽ “thua ở vạch xuất phát”. Đúng vậy, nhưng người Đức dám để đứa trẻ “thua ở vạch xuất phát”, nguyên nhân là vì trí thông minh của trẻ không thể bị khai thác quá mức.

Họ cho rằng trẻ em nên lớn lên khỏe mạnh và hạnh phúc, nếu phát triển trí thông minh sớm sẽ biến bộ não của trẻ thành một đĩa lưu trữ, điều này sẽ làm giảm trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ.

Thậm chí, để tôn trọng bản tính vui chơi của trẻ em, luật pháp của họ còn cấm việc ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học; Không làm những điều vi phạm quy tắc tăng trưởng của trẻ em, cho phép trẻ tự do phát huy trí tưởng tượng của mình.

Trẻ em nên lớn lên khỏe mạnh và hạnh phúc, nếu phát triển trí thông minh sớm sẽ biến bộ não của trẻ thành một đĩa lưu trữ, điều này sẽ làm giảm trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ. (Ảnh: Shutterstock)

Người Đức bác bỏ việc học hành trước tuổi, hơn nữa càng chú ý bảo vệ trí tưởng tượng của trẻ

Không có gì ngạc nhiên khi người Đức sở hữu một nửa giải thưởng Nobel thế giới, nguyên do là họ đã bác bỏ việc ép trẻ em học kiến thức trước tuổi, để bảo vệ trí tưởng tượng của trẻ. Còn ở các trường mẫu giáo của đất nước chúng ta, rất nhiều kiến thức lớp 1 gần như đã được hoàn thành trước. Việc này khiến quá nhiều thứ được lưu trữ cố định trong não của trẻ, sẽ ảnh hưởng đến trí tưởng tượng của chúng.

Điều này cũng giống như việc cho trẻ em xem TV. Khi một đứa trẻ đã được xem phim hoạt hình “Bạch Tuyết”, nếu bạn yêu cầu nó vẽ bức tranh về Bạch Tuyết, thì rất có thể đứa trẻ sẽ vẽ hình dáng công chúa Bạch Tuyết như những gì nó đã được xem trên TV. Còn nếu đứa trẻ chưa được xem phim Bạch Tuyết, chúng sẽ biết tưởng tượng hình ảnh công chúa Bạch Tuyết từ những mô tả trong câu chuyện cổ tích mà chúng đã được nghe, và sẽ vẽ Bạch Tuyết theo trí tưởng tượng của riêng mình. Khi này, những bức tranh được vẽ tất nhiên sẽ đa dạng, phong phú, không cố định ở một hình mẫu Bạch Tuyết trên phim hoạt hình ở TV.

Theo người Đức, nếu ép trẻ học hành sớm, kiến thức cơ bản của trẻ có thể sẽ vững chắc, nhưng trí tưởng tượng và khả năng tư duy độc lập của chúng thì đã bị phá hủy.
Các bậc cha mẹ, bạn có nghĩ rằng bạn có thể để con bạn “thua ở vạch xuất phát” không?

Quỳnh Chi biên dịch

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen

 


 

VƯƠN TẬN TRÙNG KHƠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy đi theo tôi!”.

“Những người tự mãn thường đạt điểm thấp trong các bài kiểm tra đo lường hạnh phúc. Hãy tìm một điều gì đó cao cả hơn; ‘một Ai đó’ vĩ đại hơn! Đừng chỉ hài lòng với những con cá quèn của ao đầm! Hãy vươn tận trùng khơi cho những gì vô biên hơn!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy ‘vươn tận trùng khơi’ cho những gì vô biên hơn!”. Thật thú vị, ý tưởng của nhà tu đức trên được gặp lại qua Lời Chúa ngày lễ kính thánh Anrê tông đồ.

Trong cái nhìn của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta luôn được nhắm tới cho một điều gì đó cao cả hơn, vĩ đại hơn, và cũng vĩnh cửu hơn. Không chỉ biển hồ Galilê, Chúa Giêsu muốn Anrê, các bạn chài của ông, và mỗi chúng ta ‘vươn tận trùng khơi’ bao la để “lưới người như lưới cá”. Ngoài biển hồ Galilê, còn có một đại dương bao la hơn, mênh mông hơn, có tên là “Thế Giới” đã vẫy gọi Anrê, đang vẫy gọi bạn và tôi. Bởi lẽ, thế giới chúng ta đang sống vẫn là một thế giới mà Thiên Chúa còn khá xa lạ, nếu không nói, một thế giới đang cố loại trừ Ngài.

Trong thư Rôma hôm nay, Phaolô viết, “Làm sao kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao tin Đấng họ không được nghe? Làm sao nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?”. Như Anrê, chúng ta được sai đi từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội; để rồi, cùng Anrê và bao chứng nhân mọi thời, chúng ta ‘vươn tận trùng khơi’ để “lưới người như lưới cá”. Thánh Vịnh đáp ca xác nhận sứ vụ lớn lao này, “Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu!”.

Và dẫu sứ vụ cao cả đến thế, ơn gọi đến với Anrê và các bạn chài xem ra vẫn không mấy ấn tượng. Chúa Giêsu không tỏ mình cho họ cách đặc biệt; thay vào đó, ngay trong nghề nghiệp của họ, Ngài gọi họ. Cũng thế, với mỗi người chúng ta, chính giữa cuộc sống thường nhật của mình, bạn và tôi khám phá Ngài. Ở đó, Ngài tỏ mình và làm cho tình yêu Ngài được cảm nhận trong mỗi trái tim; cũng ở đó, Ngài biến đổi từng trái tim.

Chúa Giêsu không nhìn các môn đệ về mặt thể chất nhưng về mặt tâm linh, không nhìn về ngoại hình nhưng ‘thấy sâu hơn’ tấm lòng. Ngài chọn họ trước tiên không phải vì họ là tông đồ nhưng vì họ có thể trở thành tông đồ; không vì con người thật của họ mà vì con người họ có thể trở thành. Ngài không từ chối những điều tốt đẹp chưa định hình, không chọn những gì họ có, những gì họ là; Ngài chọn những trái tim!

Anh Chị em,

“Hãy theo tôi!”. Đức Phanxicô nói, “Trên bờ hồ Galilê, một vùng đất không thể tin được, cộng đồng môn đệ Kitô đầu tiên ra đời. Ước gì sự hiểu biết về những khởi đầu này khơi dậy trong chúng ta ước muốn mang Lời, tình yêu và sự dịu dàng của Chúa Kitô đến mọi vùng ngoại vi, trong mọi bối cảnh, ngay cả những bối cảnh khó khăn và kháng cự nhất. Mọi không gian sinh hoạt của con người đều là những mảnh đất để gieo hạt Lời, chúng sẽ trổ sinh hoa trái cứu độ!”. Biết bao linh hồn đang ở tận trùng khơi. Đừng hài lòng với những con cá quèn, bạn được kêu gọi cho một điều gì đó cao cả hơn, ‘một Ai đó’ vĩ đại hơn, một biển lớn mất hút chân trời!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường tự mãn với những gì trong ao đầm. Cho con dám ‘vươn tận trùng khơi’, hầu có thể đánh bắt cho Chúa từ mẻ này đến mẻ khác, mẻ các linh hồn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

PHÚC ĐỨC TẠI MẪU!-Truyện ngắn

Mẹ không được học hành nhiều, vậy mà khi con học xa nhà, có một lần mẹ đã cố gắng viết cho con mấy dòng ngắn ngủi, nét chữ run rẩy và to như trẻ con học mẫu giáo tậρ viết. Mẹ viết: “Mẹ ít học hơn con nên mẹ tin con hiểu đời nhiều hơn mẹ. Mẹ chỉ muốn dặn con một điều rằng con đi xa hãy nhớ: Ăn một miếng của người ta, con tạc ân vào lòng vào dạ. Học một chữ ở đời, con xem nặng nhẹ bao nhiêu…!”

Lời dặn của mẹ đã làm con khóc….!Con tâm niệm điều đó suốt cả cuộc đời, và nó đã trở thành lẽ sống của con… Hôm con đi ρhỏng vấn xin việc ở công ty của Nhật cùng với ba chục người khác. Con không giỏi vi tính và ngoại ngữ như họ, nhưng người được lựa chọn lại là con. Mẹ có biết họ hỏi con câu gì không…?

Họ hỏi con rằng câu nói nào và của ai gây ấn tượng và có tác động mạnh đến cuộc sống của con; con đã thuật lại lời mẹ dặn…

Họ bảo: “Vi tính và ngoại ngữ cần, nhưng bạn có thể học trong vài tháng. Chúng tôi cần hợρ tác với một người nặng lòng biết ơn và biết chắt lọc trong học hỏi…

-“Mẹ ơi, chính mẹ đã để ρhúc đức cho con…!”

Con và chồng con có xung đột vì con nghi ngờ anh ấy vẫn lén gặρ bạn gái cũ. Con giận, bỏ nhà chồng về khóc lóc với mẹ. Tối ấy mẹ mở chiếc hộρ cũ lấy ra một tậρ thư đã ố vàng. Đó là những lá thư của người yêu cũ gửi cho bố con trước đây. Mẹ bảo khi bố quyết định lấy mẹ, bố toan đem hết mớ thư từ và ảnh người yêu cũ ra đốt sạch để chứng minh bố một lòng một dạ với mẹ. Nhưng mẹ đã ngăn lại và bảo:

“Thư anh đốt mà lòng anh còn nhớ cũng chẳng ích gì. Hãy cứ để em giữ lại làm kỷ niệm. Thỉnh thoảng anh đọc lại cũng thấy vui. Dù sao đấy cũng là những kỷ niệm gắn bó với anh một thời, sao lại cạn tàu ráo máng như vậy…?”. Bố sững sờ và ôm chầm lấy mẹ cảm động lắm…!

Thỉnh thoảng bố mẹ còn đọc lại những lá thư ấy, và bố cả đời thủy chung với mẹ. Hôm ấy con đã khóc thật nhiều và con trở về nhà làm lành với chồng. Mẹ nói ít nhưng mẹ dạy nhiều. Chính mẹ đã đem lại cho con hạnh ρhúc…!

Khi em trai con đưa người yêu về ra mắt, con không ưng ý lắm. Mẹ im lặng không nói gì… Sau hôm gặρ mẹ cô ấy, mẹ nhận xét: “Mẹ cô ấy hiền hậu, ρhúc đức lắm. Người mẹ như thế chắc chắn cô con gái sẽ là đứa con ngoan, dâu hiền…!”.

Mẹ đã không lầm. Hôm mẹ chồng tương lai của con sang chơi với mẹ, cụ cũng nhận xét về con y như thế. Hóa ra nhiều người nhìn nết mẹ mà đoán tính cách của con….!
Năm trước con đọc báo thấy có chuyện một cô gái đang tâm đẩy con chồng xuống sông Hồng. Một thời gian sau thấy báo đưa tin có bà dì ghẻ bắt con chồng tự khâu miệng mình lại. Con nhận xét rằng ρhụ nữ nhiều người ác quá. Mẹ lại bảo “Phúc đức tại mẫu. Những người như thế rồi lại ác giả ác báo thôi…!”

Mẹ nói với con rằng những người ác chỉ là số ít, đừng vì thế mà vơ đũa cả nắm. Mẹ chỉ cho con thấy bao nhiêu người mẹ đã hy siпh hết lòng vì con, không ít người ρhụ nữ đã nhận nuôi hàng mấy chục trẻ mồ côi mặc dù bản thân mình còn khó khăn, vất vả. Trong đời có hai vùng sáng tối, mẹ bảo con nhìn ánh sáng mà đi….!

Thấy con ρhàn nàn về sự chểnh mảng học tậρ của các cháu, mẹ bảo: “Con giục các cháu đi học bài, mà vợ chồng con cứ ngồi xem ti vi. Con chê các cháu lười học tiếng Anh mà bản thân con cũng không biết ngoại ngữ thì dạy bảo chúng nó thế nào…?” Ngẫm kỹ lời mẹ nói, con đã quyết định đi học lớρ tiếng Anh buổi tối cùng cháu. Tối về, mẹ con trao đổi bài rôm rả. Đúng như mẹ nói, khi thấy cả bố và mẹ đều miệt mài làm việc, các cháu cũng tự động lấy sách ra làm bài. Đến nay chúng con rất yên tâm về việc học hành của các cháu. Sao có mỗi bài học đơn giản rằng muốn con chăm thì mẹ ρhải siêng; muốn con hiền thì mẹ ρhải thảo mà con không nhớ, ρhải để mẹ nhắc nhở…!

Mẹ nghèo không có tiền bạc cho con, nhưng mẹ đã cho con hiểu giá trị của sự tần tảo, lòng bao dung, đức hy siпh. Mẹ không đi học, không được như con, nhưng mẹ dạy con biết sống đúng mực, trọng ân tình. Cuộc đời con lúc nào cũng có mẹ ở bên. Con có cuộc sống hạnh ρhúc hôm nay là do bàn tay mẹ tạo dựng. Đến bây giờ con đã hiểu rằng công sinh thành dưỡng dục do cả mẹ cả cha chung sức. Không ρhải vô cớ mà trong nhạc, trong thơ,… đâu đâu cũng thấy vang lên những “Huyền thoại mẹ”, “Tình mẹ”, “Lòng mẹ”,….
Con à…, Mẹ đã tạo Phúc Đức cho chính các con của mẹ…!

Sưu tầm.

From: giang pham & KimBang Nguyen

 

CHÚA KITÔ NHƯ LÀ VŨ TRỤ – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Pierre Teilhard, một trong các cuộc đối thoại của ông với Bộ Tín điều về Đức tin ở Rôma, đã được hỏi: “Ông đang cố gắng làm điều gì?”  Câu trả lời của ông như thế này: Tôi đang cố gắng viết một học thuyết Kitô học sao cho đủ lớn để bao gồm trọn vẹn Chúa Kitô vì Chúa Kitô không chỉ là Đấng cứu thế thiêng liêng được phái đến để cứu con người; Chúa Kitô còn là cấu trúc trong một vũ trụ thực thể, một con đường cứu rỗi cho chính trái đất.

Điều này có nghĩa là gì?  Làm sao Chúa Kitô lại là một cấu trúc trong một tạo vật thực thể?

Có lẽ phần bị bỏ quên nhiều nhất trong hiểu biết của chúng ta về Chúa Kitô, mặc dù được giảng dạy rõ ràng trong Kinh Thánh, là ý niệm mầu nhiệm Chúa Kitô lớn hơn những gì chúng ta nhìn thấy hữu hình trong cuộc đời Chúa Giê-su và trong đời sống lịch sử của các giáo hội Ki-tô.  Chúa Kitô đã là một phần của chính tạo vật thực thể và là trọn vẹn của sáng tạo đó.  Như chúng ta thấy điều này được nói lên trong Thư gởi tín hữu thành Côlôxê: Khi mô tả thực tại Chúa Giê-su, tác giả viết: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình.

Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.  Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người.  Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu (Cl 1: 15-18).

Cũng vậy, trong thư gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng cũng giống y như người phàm trần rên rỉ trong những giới hạn sinh tử của mình và khao khát được bất tử, tất cả các tạo vật thực thể đều như vậy.  Trái đất cũng khao khát được cứu rỗi.  Và mầu nhiệm Chúa Kitô là con đường dẫn tới bất tử, giống như đó là con đường dẫn tới cùng đích của chúng ta.

Mầu nhiệm Chúa Kitô rộng hơn, sâu hơn, và bao gồm nhiều hơn những gì có thể được nhìn thấy đơn thuần trong cuộc sống hữu hình của Chúa Giêsu và trong lịch sử hữu hình của các giáo hội Ki-tô.  Cứ công nhận là, những gì chúng ta thấy một cách rõ ràng trong cuộc đời Chúa Giê-su và lịch sử các giáo hội là điều rất đáng quý và vinh dự.  Các giáo hội Ki-tô (như Maria, mẹ Chúa Giêsu) là nơi mà Chúa bước vào thế giới này một cách rõ ràng, cụ thể, hữu hình, như trong quá trình lịch sử đã cho thấy.

Nhưng như Thánh Kinh và thần học Ki-tô khẳng định, mầu nhiệm Chúa Kitô bao gồm nhiều hơn những gì chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng từ trong lịch sử.  Nó còn bao gồm những gì mà Thư gởi tín hữu Côlôxê dạy, đó là bản thân tạo vật thực thể đã được tạo ra thông qua Chúa Kitô theo cách nào đó, rằng Chúa Kitô gắn kết chúng lại với nhau, và rằng Chúa Kitô ban cho nó một tương lai vĩnh viễn.  Mầu nhiệm Chúa Kitô không chỉ là về việc cứu rỗi chúng ta, những người trên hành tinh này, mà còn về việc cứu lấy chính hành tinh này.

Đưa điều này vào cái hiểu của chúng ta sẽ đem lại những hệ quả lớn lao trong cách chúng ta hiểu hành tinh của mình lẫn cách hiểu các tôn giáo khác.  Nếu mọi sự vật đều được sáng tạo thông qua Chúa Kitô và vì Chúa Kitô thì hành tinh trái đất chúng ta, và tất cả các tạo vật thực thể đều có giá trị trong tự thân mà không phải chỉ có giá trị trong mối liên hệ với chúng ta.  Trái đất cũng là con của Chúa, không tự có ý thức như chúng ta, nhưng có những quyền chính đáng của nó và quyền được tôn trọng.  Nói một cách đơn giản, trái đất không chỉ là một sân khấu để chúng ta diễn trên đó.  Nó còn là một phần của mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm cứu rỗi.  Chúng ta phải tôn trọng nó vì chính nó, mà không phải vì sức khỏe của chúng ta tùy thuộc vào sức khỏe của nó.  Những gốc rễ sâu xa cho bất kỳ thuyết thần học-sinh thái nào nằm sâu hơn mối quan ngại thực tiễn về làm sao tiếp tục có đủ nguồn cung cấp không khí, nước và thức ăn tốt cho sức khỏe.  Thiên nhiên cũng nằm bên trong mầu nhiệm của Chúa Kitô.

Từ đó rút ra những ý nghĩa lớn lao trong cách chúng ta nhìn nhận những tôn giáo khác.  Là Ki-tô hữu, chúng ta cần nghiêm túc tiếp nhận lời dạy của Chúa Giêsu rằng Chúa Kitô chính là con đường (duy nhất) đưa tới cứu rỗi và không ai đi đến Chúa Cha mà không qua Chúa Kitô.  Như vậy, những người không phải Ki-tô hữu và những con người có tấm lòng chân thực khác thì như thế nào, xét thực tế là vào bất kỳ thời điểm nào, 2/3 thế giới cũng đều không liên quan gì đến Chúa Giêsu hay giáo hội Ki-tô giáo lịch sử?

Trừ khi chúng ta hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô sâu sắc hơn và rộng hơn mức chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng và dựa vào lịch sử từ trước đến nay, thì tình thế khó khăn này chắc chắn sẽ dẫn chúng ta tới chỗ hoặc từ bỏ lời dạy của Chúa Giê-su về chuyện quy chuẩn hoặc đi đến thái độ loại trừ vốn đi ngược lại ý chí cứu rỗi phổ quát của Chúa.  Nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta chỉ nói duy nhất đến Chúa Giêsu hữu hình và giáo hội hữu hình, thì chúng ta bị vướng trong thế lưỡng nan không lời giải đáp.  Tuy nhiên, nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô là ý nói về mầu nhiệm việc Chúa tái sinh bên trong tạo vật thực thể, đã bắt đầu trong sự sáng tạo nguyên sơ, tiếp tục là linh hồn liên kết tạo vật thực thể này thành một chỉnh thể, và hiện diện ở đó vừa như là nguồn năng lượng thu hút tạo vật về phía Đấng sáng tạo ra nó vừa là sự hoàn thành tạo vật đó, thì tất cả mọi thứ đều liên quan đến Chúa Kitô, dù chúng có nhận ra điều đó hay không, và tất cả sự thờ phụng chân thực đều dẫn đến Chúa Cha, cho dù chúng ta có nhìn thấy điều đó hay không.  Nói như Kenneth Cragg: Cần trọn thế giới để hiểu trọn Giê-su.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen


 

THẾ GIỚI CẦN THIÊN CHÚA – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Thế giới của chúng ta hiện nay, Đông cũng như Tây, đang mắc một căn bệnh trầm kha: đó là bệnh lãng quên Thiên Chúa.  Không những chỉ lãng quên, mà con người còn chủ ý gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời.  Thỉnh thoáng chúng ta nghe những anh chị em Phật giáo nói đến “thời mạt pháp,” tức là thời mà quan điểm về luân lý của con người trở nên hỗn loạn.  Họ không còn giảng dạy hoặc không tuân theo giáo pháp chân chính nữa.  Khi gạt bỏ Thiên Chúa, hoặc gạt bỏ vai trò của tôn giáo nói chung, thế giới trở thành một mớ hỗn độn, luân thường đạo lý suy đồi.  Con người sống vô cảm, thậm chí là hoang dã đối với đồng loại.  Những vụ đại án vô cùng nghiêm trọng đã và đang xảy ra ở đất nước chúng ta cho thấy: một xã hội để được văn minh phát triển, chỉ có “pháp trị” thôi thì không đủ, mà còn cần đến “đức trị” nữa!  Người ta có thể tìm thấy “đức trị” ở đâu?  Thưa, không ở nơi các vĩ nhân, các triết gia và các lãnh đạo, mà là nơi thế giới tâm linh.  Trong một xã hội chỉ quản lý và điều hành bằng luật pháp, con người dễ dàng gian dối, lừa đảo.  Cần có Thượng Đế hay Thần Linh để kiểm soát hành vi tư tưởng của con người.

Trong bối cảnh thế giới như được diễn tả ở trên, chúng ta cùng bước vào Mùa Vọng.  Mùa Vọng nhắc chúng ta về nhu cầu cần đến Thiên Chúa.  Ngài là nền tảng của hòa bình đích thực, và là nguyên lý xây dựng tình liên đới giữa các dân tộc.  Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã viết trong Thông điệp Về niềm hy vọng Ki-tô giáo (Spe Salvi – năm 2008) như sau: “Thiên Chúa là nền tảng của hy vọng: không phải bất cứ thần minh nào khác, nhưng chính là Thiên Chúa Đấng có một dung mạo loài người và đã yêu thương chúng ta đến cùng, mỗi người chúng ta và nhân loại trong tổng thể của nó.  Nước Ngài không phải là một hình ảnh tưởng tượng đời sau, tọa lạc đâu đó trong tương lai mà chẳng bao giờ đến; nhưng Nước Ngài hiện diện bất cứ nơi nào Ngài được yêu thương và bất cứ khi nào tình yêu của Ngài đến được với chúng ta” (Số 31).

Thiên Chúa yêu thương nhân loại và Ngài luôn hiện diện giữa trần thế.  Đức Giê-su là Ngôi Lời nhập thể làm người để ở với chúng ta.  Người là bằng chứng sống động cho tình thương vô bờ của Thiên Chúa.  “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).  Đức Giê-su là niềm hy vọng của thế giới.  Nơi bản thân và cuộc đời của Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã đến viếng thăm con người và ở lại với họ, đem cho họ niềm vui và lòng thương xót của Ngài.

Sống tinh thần Mùa Vọng cách cụ thể, trước hết là cảm nhận nhu cầu cần thiết có Thiên Chúa.  Con người cần Thiên Chúa như cây cần ánh mặt trời; như cá cần nước và như thân xác cần lương thực hằng ngày.  Không có Thiên Chúa, thế gian sẽ thành bãi chiến trường, như chúng ta đã kinh nghiệm trong thực tế xã hội hiện nay.  Ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc I đã nói lên niềm khát vọng của con người mong có Chúa: “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống…  Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ…”  Đó là tiếng rên xiết của cả nhân loại, mong ngóng Chúa đến để được giải thoát khỏi tình trạng đọa đầy đau khổ.

Sống tinh thần Mùa Vọng là vững tin vào Đức Giê-su, Đấng đã đến trong lịch sử và đang sống giữa chúng ta.  Đức Giê-su là nguồn cậy trông và là mẫu mực lý tưởng của chúng ta.  Con đường tiến tới hoàn thiện của chúng ta sẽ trở thành vô vọng, nếu không có Người trợ giúp.  Thánh Phao-lô khuyên giáo dân Cô-rin-tô: “Anh em hãy nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong ngày của Chúa chúng ta là Đức Giê-su.”  Như thế, cuộc sống của chúng ta là những nỗ lực không ngừng để sống trung thành với Chúa Giê-su và được nên giống như người cách trọn vẹn.

Sau cùng, sống tinh thần Mùa Vọng là chu toàn bổn phận của mình trong cuộc sống cụ thể, đối với Chúa và đối với tha nhân.  Mỗi người sinh ra ở đời đều có một sứ mạng.  Chính Thiên Chúa là Đấng trao cho chúng ta sứ mạng ấy và Ngài kiểm soát chúng ta.  Mỗi người đều phải chu toàn bổn phận mà Chúa trao.  Hình ảnh một ông chủ trước khi đi xa trao cho các đầy tớ chăm sóc cơ nghiệp, diễn tả việc Thiên Chúa trao cho chúng ta sứ mạng phải hoàn thành.  Chúng ta không biết lúc nào Ông Chủ về.  Không biết lúc nào Chúa đến gọi chúng ta.  Ở địa vị người đầy tớ hay người quản lý, chúng ta phải luôn tỉnh thức và trung thành.  Đó là tinh thần sẵn sàng để có thể đón Chúa.  Mỗi chúng ta đóng vai trò “người giữ cửa” để chờ đợi và đón chủ đi xa sẽ về lúc bất chợt.  Người giữ cửa, không chỉ để đợi chủ, mà còn phải canh chừng để không cho những thù địch tấn công cướp phá gia nghiệp của chủ mình.

Maranatha, Amen, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!  Đó là lời cầu nguyện kết thúc toàn bộ Kinh Thánh (Kh 22,20).  Đó cũng là niềm khát vọng của toàn thể vũ trụ. Đó là tâm tình đặc biệt của Ki-tô hữu, không chỉ trong Mùa Vọng, mà trong suốt cuộc đời, vì thế giới của chúng ta cần Thiên Chúa.  Duy chỉ có Ngài là Đấng lấp đầy những khát vọng thâm sâu của chúng ta.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

Kissinger: kẻ phản bội dân quân VNCH vừa qua đời

Theo Báo Chí Quốc Tế và đài ABC TV

Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Nixon và Ford, người được cho là một trong những nhà hoạch định chính sách đối ngoại có ảnh hưởng và gây tranh cãi nhất ở Hoa Kỳ thời hậu chiến, đã qua đời. Anh ấy đã 100 tuổi. Thông tin này đã được công ty tư vấn của Kissinger xác nhận vào tối thứ Tư.

Kissinger Associates, Inc. cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Tư,  Kissinger sẽ được an táng tại một buổi lễ gia đình riêng và sẽ có lễ tưởng niệm vào một ngày sau đó tại thành phố New York.

Bức Tử VNCH năm 1975

Dựa theo đoạn văn ghi trên về ” sự ám ảnh với bí mật ngoại giao cá nhân” của ông Kissinger veef“ về hồ sơ năm 1975″, có thể hiểu ” bí mật ngoại giao” này  là  chuyến đi bí mật đến Bắc Kinh vào mùa Hè 1971 của TS Kissinger.

Theo biên bản cuộc họp giữa TS Kissinger và TT Chu Ân Lai, ông Kissinger hứa hẹn Mỹ  sẽ chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam theo như yêu cầu của Thủ tướng (Chu Ân Lai) – ” I can assure you that we want to end the war in Vietnam through negotiations, and that we are prepared to set a date for the withdrawal of all our forces from Vietnam and Indochina as you suggested before “ – « Sate.Gov/ Memorandum of Conversation, Beijing, July 9, 1971 »;   Về  “ hồ sơ 1975 “ với kết quả cuộc ” bí mật ngoại giao cá nhânl” đã  dẫn đến VNCH bị bức tử vào năm 1975.

Tướng Westmoreland đến Nam Cali và dành cho đài Radio Little Sài gòn cuộc phỏng vấn về vụ Tết Mậu Thân 1968 – và vụ tiến quân ra Bắc, do MC Việt Dũng phỏng vấn 9/1995, sau đó bài phỏng vấn được loan tải trên báo Hồn Việt (SD-Cali) 10/1995:

Tướng Westmoreland: “Chúng tôi đã biết trước cuộc tổng công kích sẽ xảy ra. Và tôi sẽ thú tội với mọi người khi nghĩ lại, là tôi đáng lý ra đã phải loan báo những tin tức này đến mọi người... Ông Averell rất là cứng rắn khi cho rằng cuộc chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam và điều này đã trở thành chủ trương của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tham gia cuộc chiến tại miền Nam, là chúng ta không được phát triển cuộc chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ này. Chúng tôi đã có những cuộc xâm nhập bí mật vào đường mòn HCM và tấn công những đơn vị Bắc Việt dùng con đường này để tiếp tế cho Miền Nam, nhưng chúng tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này dù chúng tôi dư sức làm điều đó, vì con đường mòn này là mạch sống của địch quân và việc cắt đứt con đường này  sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều”.

Đài BBC phỏng vấn ông Frank Snepp, trùm tình báo CIA ở Việt Nam và được xác nhận rằng Mỹ bỏ rơi VNCH để lấy Trung Cộng.  Ông Frank Snepp nhận định rằng việc bỏ rơi này khởi đầu với Henry Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Richard Nixon, và sau đó Gerald Ford.

Frank Snepp: Kissinger đã bỏ rơi VNCH vì lý do chính trị. Tôi đặt tựa cho cuốn sách mình viết là ‘Decent Interval’ (Khoảng cách Coi được). Tựa đó nhắc đến sự kiện năm 1972, khi Kissinger đàm phán hòa bình, dẫn đến việc ngừng bắn, điều duy nhất ông quan tâm là đưa Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến, thoát khỏi vũng lầy xấu hổ. Kissinger muốn phải có một khoảng thời gian coi được giữa việc rút quân của Hoa Kỳ ra khỏi VN, và chiến thắng tất yếu sẽ đến của Cộng sản, để Hoa Kỳ không bị đổ lỗi cho việc thất trận.

Khi Kissinger gặp Chu Ân Lai năm 1971 để sắp xếp cho chuyến công du bí mật của Nixon đến Trung Quốc, ông nói với Bắc Kinh rằng nếu có ngừng bắn ở Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ không tái can thiệp quân sự. Và chỉ cần có một khoảng thời gian hợp lý giữa cuộc ngừng bắn đến lúc Hoa Kỳ rút quân, và sự tiếp tục xâm lược của cộng sản, chúng tôi sẽ không quan tâm nếu đồng minh Bắc Việt của quý vị tấn công Nam VN, miễn là họ không tấn công ngay sau khi chúng tôi rút đi. Đó là khởi đầu của lý thuyết ‘Khoảng cách Coi được’ (Decent Interval) mà ngày nay nhiều người nhận định là sự phản bội VNCH của Hoa Kỳ.

Kissinger đến Paris vào mùa hè năm 1972 để đàm phán với Lê Đức Thọ về những gì sau đó trở thành Hiệp định Hòa bình. Lúc đó Kissinger bàn với Nixon rằng nếu mọi thứ chỉ cần kéo dài đến tháng 10 tới, tức vài tháng nữa, hay nói cách khác, qua cuộc bầu cử tổng thống kế tiếp, thì sẽ không ai thèm quan tâm đến điều gì xảy ra cho VN một năm sau đó, tức 1974. Sẽ không ai còn quan tâm và Mỹ thì đã rút khỏi cuộc chiến từ lâu.

________________________
Kissinger vẫn được trọng vọng ở Mỹ

Kissinger vẫn hoạt động chính trị trong nhiều thập kỷ kể từ khi còn đương chức và đã đảm nhận vai trò đàn anh được kính trọng đối với một số đảng viên Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Ông đã gặp Thống đốc lúc bấy giờ của Alaska. Sarah Palin vào năm 2008 và Mitt Romney được cho là đã nói chuyện qua điện thoại với Kissinger trong chiến dịch tranh cử năm 2012. Kissinger gặp Donald Trump ngay sau khi Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 và sau đó hai người gặp nhau tại Nhà Trắng vào năm 2017.

Hillary Clinton, người tranh cử với Trump vào năm 2016, đã gọi Kissinger là “một người bạn” và nói rằng bà “dựa vào lời khuyên của ông ấy” khi giữ chức ngoại trưởng từ năm 2009 đến năm 2013.

FILE - President Donald Trump shakes hands with former Secretary of State Henry Kissinger during their meeting in the Oval Office of the White House in Washington, DC, Oct.10, 2017.

 Tổng thống Donald Trump bắt tay cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger trong cuộc gặp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 10 tháng 10 năm 2017.© Mandel Ngân/AFP qua Getty Images, FILE

Những năm đầu

Cựu ngoại trưởng tên khai sinh là Heinz Kissinger ở Fuerth, Đức, vào ngày 27 tháng 5 năm 1923. Cha mẹ ông, Louis và Paula Kissinger, đã trốn khỏi Đức Quốc xã và di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1938, và chính tại quốc gia mới được ông tiếp nhận, con trai của một giáo viên người Đức gốc Do Thái đã học rất xuất sắc.

Ông đăng ký vào Quân đội Hoa Kỳ năm 1943 và khi đóng quân ở Nam Carolina ở tuổi 20, Kissinger đã nhập tịch Hoa Kỳ. Kissinger đã tham chiến cùng sư đoàn bộ binh 84 và tình nguyện làm nhiệm vụ tình báo trong Trận chiến Bulge.

Kissinger sau này nói về thời gian trong Quân đội, “Đó là một quá trình Mỹ hóa… Đây là lần đầu tiên tôi không đứng về phía người Do Thái ở Đức, tôi đã có được niềm tin vào Quân đội.”

Ông tiếp tục nhận bằng cử nhân khoa học chính trị tại Đại học Harvard vào năm 1951 và bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ của trường đại học này trong những năm sau đó.

Năm 1955, Kissinger được Hội đồng Quan hệ Đối ngoại tuyển dụng để đứng đầu một nhóm nghiên cứu xem xét ý nghĩa của lời kêu gọi “trả đũa ồ ạt” của Ngoại trưởng John Foster Dulles như chiến lược Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ chống lại Liên Xô. Chiến lược đe dọa hủy diệt hạt nhân tại các thành phố của Liên Xô chỉ vì những vi phạm nhỏ, đã bị Kissinger chỉ trích nặng nề trong báo cáo xuất bản dưới tựa đề “Vũ khí hạt nhân và Chính sách đối ngoại” năm 1957, một cuốn sách bán chạy bất ngờ.

A color portrait of Henry A. Kissinger in a dark suit jacket, white shirt and striped tie, his right hand pressed against his chin. A wall map of the world fills the space behind him.

Kissinger sau đó làm cố vấn cho một số cơ quan chính phủ và các viện nghiên cứu, bao gồm Văn phòng Nghiên cứu Hoạt động, Cơ quan Kiểm soát Vũ khí và Giải trừ Quân bị, Bộ Ngoại giao và Tập đoàn RAND, trước khi ông được bổ nhiệm làm cố vấn an ninh quốc gia của Nixon vào tháng 1 năm 1969.

Vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ

Là cố vấn an ninh quốc gia từ 1969 đến 1975 và ngoại trưởng từ 1973 đến 1977 dưới thời Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, Kissinger đã cung cấp khuôn khổ khái niệm để qua đó những sáng kiến ​​táo bạo như détente (giảm bớt mối quan hệ căng thẳng) với Liên Xô và Chiến lược Các cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí (SALT) đã được theo đuổi.

SALT – một loạt các hội nghị song phương và hiệp ước quốc tế giữa Hoa Kỳ và Liên Xô – bắt đầu vào năm 1969 dưới thời Nixon. Hai hiệp ước tương ứng – được hai nước ký kết vào năm 1972 và 1979 – đặt ra giới hạn về số lượng tên lửa đạn đạo tầm xa mà mỗi bên có thể sở hữu và sản xuất.

Kissinger cũng tìm cách mở rộng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Một trong những thành công lớn nhất của mình là Kissinger đã sắp xếp một chuyến thăm cấp nhà nước giữa Nixon và lãnh đạo Trung Quốc Chu Ân Lai vào năm 1972. Những nỗ lực này đã dẫn đến Thông cáo Thượng Hải, trong đó đưa ra những hướng dẫn về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Kissinger cũng là người có công trong việc chấm dứt Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, một cách mà ông nhắm đến để giải quyết xung đột là thông qua các vụ đánh bom bí mật vào Campuchia và thủ đô Hà Nội của Việt Nam cũng như một cuộc xâm lược trên bộ vào Campuchia vào năm 1970 trong một nỗ lực rõ ràng nhằm gây áp lực lên các lực lượng Bắc Việt hoạt động giữa hai nước…

Tuy nhiên, sau khi Kissinger và lãnh đạo Bắc Việt Lê Đức Thọ gặp nhau bí mật nhiều lần ở Paris, họ đã đàm phán một hiệp định Paris đình chiến ngắn ngủi. Điều này dẫn đến việc hai nhà lãnh đạo nhận được giải Nobel Hòa bình năm 1973, mặc dù Thọ từ chối giải thưởng.

Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , hơn hai năm sau, 30 sư đoàn Bắc Việt đã chinh phục miền Nam Việt Nam, chấm dứt xung đột một cách chóng vánh .

…

Theo Isaacson, để làm chứng trước Quốc hội khi các lực lượng cộng sản đang hoàn tất việc tiếp quản Campuchia vào năm 1975, Kissinger thừa nhận rằng Hoa Kỳ đã nhẫn tâm coi thường Campuchia trong khi cố gắng đạt được các mục tiêu của mình ở Việt Nam. Kissinger nói: “Tội lỗi, trách nhiệm của chúng tôi, hay bất cứ điều gì bạn có thể gọi nó đối với người Campuchia là chúng tôi đã tiến hành các hoạt động của mình ở Campuchia chủ yếu để phục vụ các mục đích của chúng tôi liên quan đến Việt Nam và giờ đây họ đã bị bỏ rơi trong một hoàn cảnh rất khó khăn.”

Tuy nhiên, nhiều năm sau Kissinger đã nhận xét với Time rằng: “Nếu không có sự xâm nhập của chúng tôi, những người cộng sản đã chiếm được Campuchia nhiều năm trước đó”.

Di sản đang được xem xét kỹ lưỡng

Về cuối đời, lời kêu gọi Kissinger phải ra làm chứng hoặc chịu trách nhiệm về những quyết định của mình khi còn đương chức ngày càng lớn hơn.

Năm 2001, nhà báo người Anh Christopher Hitchens xuất bản cuốn “Vụ xét xử Henry Kissinger”, trong đó ông lập luận rằng Kissinger đã cho phép các chính trị gia tàn bạo liên minh với Hoa Kỳ giết chết hàng nghìn thường dân vô tội. Đến năm 2002, những giao dịch trong quá khứ của Kissinger ở Mỹ Latinh khi còn đương chức dường như quyết tâm ám ảnh ông, nếu không muốn nói là hủy hoại danh tiếng của ông.

Sau đó đã có lệnh triệu tập Kissinger ở năm quốc gia để tìm kiếm thông tin về vai trò của ông trong Chiến dịch Condor (ở Nam Mỹ), một âm mưu bị cáo buộc giết người, tra tấn và bắt cóc do các nhà độc tài Mỹ Latinh tổ chức vào những năm 1970, kéo dài qua biên giới Chile, Argentina, Paraguay, Brazil. , Bolivia và Uruguay. Với tư cách là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, Kissinger bị nghi ngờ là có đầy đủ kiến ​​thức về hoạt động này.

Cuộc tranh cãi lại bùng lên vào năm 2010 khi một bức điện đề ngày 16 tháng 9 năm 1976 được giải mật và phát hành bởi các cơ quan báo chí. Trong bức điện, Kissinger dường như đã từ chối đưa ra cảnh báo được đề xuất cho chính phủ Uruguay về các hoạt động của Condor và ra lệnh rằng Bộ Ngoại giao “không thực hiện thêm hành động nào về vấn đề này”, theo Los Angeles Times .

FILE - Former Secretary of State Henry Kissinger speaks in the Oval Office of the White House, Oct. 10, 2017, in Washington.

Henry Kissinger trong dịp được mời đến Tòa Bạch Ốc, 10-2017 ảnh của © Evan Vucci/AP, FILE

Nhưng Kissinger cho biết ngay sau khi công bố bức điện rằng ý nghĩa của nó đã bị “bóp méo” và nó chỉ nhằm mục đích phản đối một cách tiếp cận cụ thể đối với chính phủ Uruguay chứ không hủy bỏ kế hoạch đưa ra cảnh báo cho các quốc gia khác bị nghi ngờ tham gia vào mạng lưới Condor. LA Times đưa tin.

Trong một cuộc phỏng vấn với George Stephanopoulos của ABC News vào tháng 7 năm 2022, Kissinger đã bình luận về những tranh cãi xung quanh thời gian ông nắm quyền.

“Nixon và tôi, chúng tôi có xu hướng không ủng hộ việc leo thang. Nhưng chúng tôi cảm thấy rằng nếu phải leo thang, chúng tôi nên leo thang đến mức rất gần với mức mà phía bên kia có thể chấp nhận để tránh rơi vào tình thế khó khăn. một cuộc chiến tranh hạt nhân thông qua một loạt các bước nhỏ. Bước cuối cùng hóa ra là hạt nhân.”

Kissinger, khi được hỏi trong cuộc phỏng vấn về bất kỳ quyết định chính sách quan trọng nào mà ông sẽ rút lại, đã nói: “Tôi chưa đưa ra được câu trả lời tuyệt vời nào cho vấn đề đó. Bởi vì tôi đã suy nghĩ về những vấn đề này suốt cuộc đời mình. Đó là sở thích của tôi… đó là của tôi.” nghề nghiệp. Những khuyến nghị tôi đưa ra là điều tốt nhất mà tôi có thể làm được lúc đó.”

A black-and-white photo of Mr. Kissinger, in profile, seated on a cushioned chair at right while President Nixon, seated next to him, confers with him. Both have opened loose-leaf binders on their laps. A group of men in suits stand behind them. Ông Kissinger với Tổng thống Richard M. Nixon tại New York vào tháng 11 năm 1972 sau khi ông Kissinger trở về sau cuộc đàm phán bí mật ở Paris với nhà đàm phán Bắc Việt Lê Đức Thọ trong Chiến tranh Việt Nam.Tín dụng…Báo chí liên quan

Cuộc sống sau khi rời bỏ vị trí trong chính phủ

Sau khi rời chính phủ vào năm 1977, Kissinger thành lập một công ty tư vấn, Kissinger Associates, và yêu cầu những khoản thù lao lớn với tư cách là một diễn giả. Ông là thành viên của nhiều ủy ban tổng thống khác nhau và tiếp tục viết các chuyên mục báo chí và đưa ra ý kiến ​​​​của mình trên truyền hình. Năm 1994, Kissinger được thuê làm cố vấn cho hội đồng quản trị của cả MGM và Credit Lyonnais.

Ngoài giải Nobel Hòa bình, Kissinger còn là người nhận Huân chương Tự do của Tổng thống năm 1977 và Giải thưởng Woodrow Wilson cho Dịch vụ Công cộng năm 2006. Năm 1995, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy Hiệp sĩ Danh dự theo Huân chương Thánh Michael xuất sắc nhất. và Thánh George của Nữ hoàng Elizabeth II.

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của mình, Kissinger nói với Stephanopoulos, “Khi tôi 15 tuổi ở Đức, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó tôi có thể trở thành ngoại trưởng Hoa Kỳ và có đủ khả năng để làm điều này. Đó là một sự tri ân đáng kinh ngạc đối với nước Mỹ rằng điều này có thể thực hiện được… Tôi là thành viên của một nhóm thiểu số bị phân biệt đối xử, vì vậy điều đó không phù hợp với tư duy nghề nghiệp.”

Anh nói thêm: “Đó là một số phận phi thường – và do đó là nghĩa vụ – phải làm điều tốt nhất mà tôi có thể làm được”. Đến năm 1980, ông nói với tạp chí Time rằng: “Tôi càng rời nhiệm sở lâu, tôi càng thấy mình không thể sai lầm”.

Cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo gọi Kissinger là “một hình mẫu phục vụ và một người Mỹ vĩ đại”.

“Ông ấy đã để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử nước Mỹ và thế giới”, ông Pompeo viết trong một bài đăng trên X, trước đây là Twitter. “Tôi sẽ luôn biết ơn những lời khuyên và sự giúp đỡ ân cần của ông ấy trong thời gian tôi làm thư ký.”

Kissinger để lại vợ ông, Nancy Maginnes Kissinger, và các con của ông, Elizabeth và David, từ cuộc hôn nhân trước với bà Alfred Kissinger. Tuy nhiên, tại nhiều thời điểm trước cuộc hôn nhân thứ hai, theo người viết tiểu sử của ông, Walter Isaacson, Kissinger đã hẹn hò với các nữ diễn viên Jill St. John, Shirley MacLaine, Marlo Thomas, Candice Bergen và Liv Ullman.


CÔ GÁI NGHÈO THƯƠNG CÁC LINH HỒN 

Một thiếu nữ nghèo nhưng được học giáo lý từ ngày còn nhỏ. Bởi nhà nghèo nên cô phải đi ở mướn. Cô có thói quen tốt lành là tháng nào cũng xin lễ cho các linh hồn nơi luyện ngục.

Khi rời miền quê theo ông chủ lên ở tỉnh thành, cô cũng vẫn giữ thói quen đó. Hơn nữa chính cô còn đi dự lễ hợp lời cầu nguyện với linh mục chủ tế để cầu cho các linh hồn mau chóng được ra khỏi luyện ngục.

Chúa muốn thử lòng cô gái nghèo bằng một cơn bệnh. Không những cô đau đớn bởi bệnh, mà cô còn bị mất luôn việc làm và tiêu xài hết cả món tiền nhỏ đã dành dụm được.

Khi khỏi bệnh, trong túi cô chỉ còn một đồng bạc cuối cùng. Làm sao bây giờ? Cô ngửa mặt cầu xin Chúa ban cho một chỗ làm khác. Nghe nói có một nhà cuối phố muốn tìm người ở mướn, cô liền tìm đến xin việc làm. Khi đi được nửa đường, gặp nhà thờ, cô vào để kính viếng Chúa.

Cô nhớ lại cả tháng nay không được dự lễ, nên nảy ra ý định lấy đồng bạc cuối cùng để xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn, nhưng bụng đói quá làm sao chịu được. Cuối cùng cô vào phòng mặc áo lễ với niềm tin “Chúa biết mọi sự, bởi vinh Danh Chúa, Chúa không bỏ con”. Cô đã xin một lễ cầu cho linh hồn nơi luyện ngục, rồi cô sốt sắng tham dự Thánh lễ đó.

Dự lễ xong cô tiếp tục đi về cuối phố, phó thác tương lai cho Chúa. Đang khi cô lủi thủi bước đi thì một thanh niên dáng vẻ xanh xao đi ngược chiều. Gặp cô, chàng hỏi:

– Có phải cô đang đi tìm việc làm không? Cô cứ đến nhà đường này, số này, vào tìm bà này… bà ta sẽ nhận cô và sẽ cư xử tử tế với cô.

Nói xong chàng biến đâu mất, cô chưa kịp cám ơn chàng. Tìm đến đúng đường và đúng số nhà, cô ấn chuông cổng. Một cô gái khác đã bị bà chủ đuổi, sắp phải ra đi, vẻ tức giận càu nhàu ra mở cổng nói xẵng:

– Vào mà gõ cửa, bà ta sẽ mở cho! Rồi cô ta xách gói đồ của mình đi thẳng ra phố.

Bà chủ nhà nghe tiếng gõ cửa, ra mở và thấy cô thiếu nữ nghèo, bà hỏi ai chỉ cho mà biết đường tới đây xin việc. Cô thật thà kể lại tình cảnh. Thấy chuyện hay hay, bà bảo cô kể lại từ đầu, kể xong cô nhìn bức ảnh trên tường reo lên:

– A! Thưa bà, chính anh này bảo con tìm đến nhà bà.

Bà chủ nhà rất xúc động thấy cô nhà nghèo có lòng thương các linh hồn , đã bỏ ra đồng bạc cuối cùng để xin lễ, và như có sức thúc giục, bà ôm chầm lấy cô, nói trong nghẹn ngào:

– Con ơi, con không phải là người làm mướn của ta nữa, con là con ta. Chính con trai ta đã chỉ cho con tới đây, nó chết 2 năm nay rồi, và con đã cứu nó. Ta tin rằng nó về chỉ lối cho con. Từ nay hai chúng ta sẽ hợp nhau cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục chóng lên Thiên đàng.
_____________
(Sưu tầm)
Tháng 11, Cầu Nguyện cho Các Linh Hồn
Bạn và tôi, chúng ta có làm việc lành phúc đức, hy sinh cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục đang đợi chờ chúng ta không?
From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen


 

Câu chuyện bệnh ở Việt Nam – Bác sĩ Thắng Trần

Dưới đây Bác sĩ Thắng Trần chia sẻ chia sẻ suy nghĩ của mình về số phận các người bệnh tại Việt Nam 

BS Thắng Trần, Na-Uy

Cơ may cho tôi được tìm hiểu thêm về hệ thống y tế Việt Nam CS đến thật bất ngờ và đã cho tôi nhiều suy nghĩ về số phận con người.

Hospital overcrowding reveals cracks in medical system – VietNam ...

Sau 42 năm sống xa xứ, lần đầu tiên tôi quyết định về Việt Nam “ĂN TẾT”. Về Sài Gòn 5 ngày trước tết để sắp sửa trước khi về quê ăn Tết với người thân. Tết ở Sài Gòn năm nay không có không khí như tôi nghĩ. Chợ hoa vắng người, sức mua sắm giảm nhiều vì kinh tế khó khăn và tình trạng thất nghiệp gia tăng.

Chuyện không vui xảy ra vào sáng mùng 1 tết, người thân tôi té sau khi đi từ nhà tắm ra và bà đã gãy cổ xương đùi.

Sau khi xác định qua chụp hình X-ray, tôi phải liên lạc bạn bè đồng nghiệp và cũng là bạn học thời trung học để lo cho bà đi mổ. Bác sĩ M. học cùng trường và quen thân, là bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình đã tận tình giúp đỡ: giới thiệu bịnh viện và liên lạc bác sĩ mỗ giỏi. Anh góp ý nên đi bệnh viện tư ở Sài Gòn. Từ quê lên Sài Gòn mất 4-5 giờ xe. Các bệnh viện chỉ mổ những ca thật cấp thiết vì bác sĩ và y tá ( ở Việt Nam gọi là điều dưỡng) nghỉ tết. Tôi được khuyên đừng đưa bà lên trước mùng 6. Vì bà dùng thuốc loãng máu nên cũng phải đợi. Ở Na-Uy những trường hợp này sẽ phải mổ trong vòng 48 giờ.

 

BỆNH VIỆN

T.A là bệnh viện tư nhân người thân tôi nằm. Thủ tục đầu tiên là nộp giấy chứng minh thư, giấy bảo hiểm sức khỏe, tiền ứng cho tiền phòng. Có nhiều mức giá: phòng 6,3, 2 hay 1 người, ngoài ra có phòng VIP. Chúng tôi chọn phòng 1 người với giá 980.000 ngày. Đặc cọc trước 5 ngày. Trong phòng có 1 giường cho bịnh nhân và 1 giường cho người thân đi NUÔI bịnh nhân. Vì 2 vợ chồng tôi ở lại, nên mướn thêm ghế bố 30.000 mỗi ngày. Tiền phòng bao gồm cháo buổi sáng, 3 món trưa và tối cho người bệnh, 1 lần lau sàn nhà và 1 lần lấy rác. Thay ra mền vệ sinh cho bệnh nhân là trách nhiệm người nhà (!!!)

Phòng và nhà vệ sinh tệ.( Xem hình dưới đây)

ĐIỀU DƯỠNG

Trách nhiệm điều dưỡng: đưa thuốc cho người nhà để cho bệnh nhân uống, thay băng, thử máu, chích thuốc. Ngoài những việc khác người nhà phải lo cho bệnh nhân. Cây kim chích, băng thay, từng miếng bông gòn đều được ghi để tính tiền. Khi họ vào họ không giới thiệu họ là ai, phần hành gì. Khi cần gọi họ đến, nhưng không làm gì, chỉ trả lời là họ sẽ hỏi bác sĩ đã. Trong 2 ngày đầu họ coi thường chúng tôi lắm. Sau khi mổ xong người thân tôi mê sảng và sốt. Tôi yêu cầu đo nhiệt độ, thử máu và xem xét cho trụ sinh. Họ không làm ngay, tôi yêu gặp bác sĩ D, người mổ và người tôi quen. Điều dưỡng thông báo là bs bận mổ. Tôi không đồng ý và tôi tự gọi bs. D xuống ngay. Từ khi bs thông báo cho họ biết tôi là ai, họ đã làm theo yêu cầu của tôi không cần thông qua bs D. Tôi thật sự rất khó chịu tính quan liêu và kiêu ngạo.

Bệnh nhân gãy xương và sau khi mổ với cơn đau dữ dội nhưng họ chỉ cho Paracet để giảm đau. Tôi phải yêu cầu dùng morfin và chấp nhận trả tiền họ mới cho. Rõ khổ.

 

BÁC SĨ

Ngoài bs D quen biết và biết tôi làm gì, còn những bs khác thì hỡi ơi!
Hôm bà bị mê sảng, có 1 bs đến. Ông vào phòng với 1 điều dưỡng. Ông không tự giới thiệu mình là ai và vào làm gì. Ông hỏi bệnh nhân tên gì, tại sao vào đây? Khi nghe bị gãy cổ xương đùi, ông ta chỉ xoáy vào việc là có phải do choáng váng, mất thăng bằng và té. Ông chỉ muốn xác định là do tai biến đưa đến té. Ông hỏi có dùng thuốc loãng máu vì sao? Tôi giải thích là do trước đây vài năm có triệu chứng tai biến và khi dùng thuốc loãng máu, triệu chứng không còn sau khi uống thuốc vài phút, từ đó bs bệnh viện cho dùng tiếp. Ông ta không nhìn tôi mà chỉ chăm chăm hỏi bà cụ. Tôi không thể hiểu ông đang làm gì. 1 người đang mê sảng không thể nhớ hay có khả năng trả lời. Tôi phải ngắt lời và hỏi ông là ai? Ông báo là bs chuyên khoa thần kinh, tên S, ông muốn bà cụ phải chụp hình MRI để xác định đã bị tai biến và khi ấy mới tiếp tục dùng thuốc loãng máu. Tôi cũng xin phép tự giới thiệu về mình và giải thích yếu tố phòng hộ ban đầu đủ để bà cụ dùng thuốc loãng máu ( tiểu đường, cao áp huyết, triệu chứng tai biến). Xác định có tai biến để dùng thuốc loãng máu là phòng hộ thứ hai, người mê sảng không thể nằm yên 30 phút’ để chụp MRI và không bs nào đi lấy bệnh án người mê sảng khi không nói chuyện với người nhà. Tôi trả lời tôi không đồng ý chụp MRI, tôi tự quyết định cho bà dùng thuốc loãng máu và tôi không cần bs S ở đây. Tôi không đồng ý trả tiền cho sự có mặt của bs.

Tôi đã quen với môi trường làm việc bệnh viện Na-Uy 30 năm. Khi bệnh nhân nằm viện, mọi thứ đều được bs, y tá và trợ tá lo. Người thân không được ở lại bệịnh viện. Ở Việt Nam hoàn toàn trái ngược. Ở Việt Nam 3 y tá lo cho 30 bịnh nhân cũng không mệt. Bên Na-Uy 1 y tá lo cho 2 bịnh nhân là bù đầu bù cổ.
Tôi nghĩ những phòng 3-6 bịnh nhân, người thân lo cho bịnh nhân họ sẽ nằm ở đâu. Nằm dưới gầm giường  chắc?

Cùng là số phận con người và bệnh nhân, nhưng bệnh nhân ở Na-Uy được đối xử đàng hoàng và đúng tình con người. Tôi thật sự không thể tưởng tượng hoàn cảnh bệnh nhân ở bệnh viện công ở Việt Nam thì sao?

Cảnh chờ đợi ở bệnh viện tâm thần Sài Gòn

Chi phí tôi phải trả cho 5 ngày nằm viện và mổ là 37 triệu và bảo hiểm trả 52 triệu. Với số tiền gần 80 triệu có thể là cả gia tài cho 1 gia đình.

 

Qua đây tôi càng thương cho số phận những người dân trong nước. Còn nhiều người lo không đủ cho chỗ ở, miếng ăn. Chắc nhiều người lo sợ bị bệnh và người thân bị bệnh. Không có quen biết và kém tài chính sẽ khó khăn lắm.

Dr. Thắng Trần

**********************************************************

Kẻ đi Tìm thông tin thêm

Dao mổ rạch ba lần mới đứt của Trung Quốc

PGS Đào Xuân Cơ – Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), cho biết, sau Thông tư 14, các bệnh viện sẽ không còn phải mua vật tư giá rẻ nhất, bác sĩ sẽ được dùng thiết bị theo nhu cầu khám chữa bệnh.

Trước đây, theo quy định, các cơ sở phải tìm nơi bán giá rẻ nhất để mua. Tuy nhiên, trong y tế, với mức giá thấp nhất thì không thể mua vật tư và thuốc tốt nhất cho người bệnh.

Với Thông tư 14, các bác sĩ sẽ được dùng thiết bị theo nhu cầu khám chữa bệnh. Ảnh: Hoàng Hà.

 

PGS Cơ cho rằng bệnh viện sẽ tránh được tình trạng mua phải xông hút giá thấp nhất gây biến chứng chảy máu phế quản bệnh nhân, dao rạch 3 lần mới qua da như Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM). Các máy móc, thiết bị hỏng hóc trước mua sắm linh kiện thay thế rất khó, Thông tư 14 giải quyết tất cả vấn đề này.

Về nỗi lo có tình trạng “thổi giá” trang thiết bị, PGS Cơ cho rằng trong thời gian qua, việc chống tham nhũng nhất là trong phòng chống dịch đã được làm chặt, các công ty nâng khống giá bị “tuýt còi”.

Cơ chế ơi là chế cơ, dân ta quá khổ vì XHCN chúng bay! Ôi thiên đường Cộng Sản, xã hội đáng sống là đây sao?


 

Hiện tượng ‘mất trí nhớ’ và ‘ bệnh Alzheimer’

Ba’o Nguoi-Viet

November 29, 2023

Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh

Nhiều người tưởng lầm là sự mất trí nhớ và bệnh Alzheimer. (Hình minh hoạ: JEAN-PHILIPPE KSIAZEK/AFP via Getty Images)

Tình trạng mất trí nhớ – dementia thường xảy ra cho người già, nhưng không phải mọi người khi già đều mất trí nhớ.

Nhiều người tưởng lầm là sự mất trí nhớ và bệnh Alzheimer cùng là một thứ bệnh, nhưng thật ra không phải như vậy.

Trung bình chỉ có 10% số người trên 65 tuổi bị bệnh Alzheimer, nhưng cho những cụ trên 85, tỷ số là 1/3.

Hiện nay, theo ước tính, có khoảng năm triệu người Mỹ trên 65 tuổi bị bệnh Alzheimer và trên toàn thế giới có khoảng 35.6 triệu người bị mất trí nhớ.

Nói đúng ra, trí nhớ của tất cả mọi người đều không hoàn hảo. Có những dữ kiện chúng ta tưởng là nhớ đúng 100% nhưng trên thực tế theo thời gian, trí nhớ bị phai mờ với những “lỗ hổng.”

Bộ não chúng ta sẽ tìm cách điền vào những “chỗ trống” đó bằng những hư cấu không có thực hay không chính xác.

Vì thế khi chúng ta lớn tuổi, chuyện giảm trí nhớ xảy ra cho tất cả mọi người, nhưng mức độ và tốc độ suy sụp tùy theo bản chất của mỗi cá nhân.

Riêng những người bị Alzheimer, tốc độ suy sụp rất nhanh, có khi trong vòng vài tháng đã thấy sự khác biệt.

Thế thì, những dấu hiệu khác biệt đó là gì?

Hầu hết các sách y khoa đều nói rằng dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là mất trí nhớ. Khổ nỗi là sự mất trí nhớ không xảy ra qua đêm trong thời gian đầu nên rất khó mà nhận biết. Mà nếu có chút lãng trí xảy ra thì thường bị bỏ qua hay bị người thân phán cho những chữ như “già rồi, lẩm cẩm” là xong câu chuyện.

Một khi sự mất trí nhớ xảy ra có thể nhận thấy được thì thường là quá trễ.

Người có triệu chứng Alzheimer thường bắt đầu lặp lại những câu chuyện hay câu hỏi nhiều lần và bất chợt.

– Thí dụ, có khi họ đang nói chuyện thời năm 1975, đùng một cái nhảy qua nói chuyện đánh football năm 2015, rồi quay lại thời cụ Diệm bị đảo chánh và vài ngày sau lại nhắc lại những chuyện đó. Hoặc, họ có vấn đề theo dõi câu chuyện của người khác.

– Thí dụ người ta đang bàn chuyện đám cưới, người có vấn đề lại “đóng góp” chuyện lính Mỹ đổ bộ ở Normandy!

Nghĩa là, nhớ đâu nói đó, không có thứ tự. Không nên nhầm lẫn với thói quen suy nghĩ của người bệnh. Đa số, thường bị bỏ qua là “lâu nay tánh vẫn thế!” Cùng lúc với chuyện lãng trí, quên chỗ này, chỗ kia, dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là việc đi đứng không vững và hay té ngã.

Dĩ nhiên là khi người lớn tuổi hay bị té ngã có thể do nhiều nguyên do khác nhau đưa đến, nhưng không nên bỏ qua mà phán cho câu “già yếu nên như vậy.”

Có người đang ngồi trên ghế vẫn bị té lăn quay xuống đất vì không giữ được thăng bằng, như vậy không phải hoàn toàn là yếu.

Người bị Alzheimer thường có dáng đi như lê lết trên mặt đất như chim cánh cụt. Họ không nhấc được bàn chân khỏi mặt đất và hai chân thường hay bị quíu như không biết chân nào phải bước trước và chân nào theo sau. Có khi họ như lúng túng muốn bước hai chân tới trước cùng một lúc. Đó là lý do tại sao họ dễ bị té.

Ngoài ra, lý do dễ mất thăng bằng và hay bị té là khả năng nhìn vật thể chung quanh theo định thức không gian ba chiều không còn chính xác nữa.

Thí dụ cái bàn, cái ghế có thể bị nhìn méo đi hay khoảng cách ước lượng từ điểm A đến điểm B không còn đúng nữa.

Họ mất khái niệm về thời gian và không gian. (Hình minh hoạ: CLEMENT MAHOUDEAU/AFP via Getty Images)

Khoa học vẫn chưa tìm ra gene di truyền gây ra bệnh Alzheimer. Người ta đã tìm khắp bộ DNA của con người và ghi nhận được 33 điểm khả nghi.

Tuy nhiên, những người có gene apolipoprotein E (APOE) ở trên nhiễm sắc thể số 19 sẽ có nguy cơ tăng cao. Ngoài ra, nguy cơ có thể thay đổi qua sự tương tác giữa gene và môi trường.

Căn nguyên của bệnh Alzheimer là do những vảy – plaques chung quanh tế bào não, tương tự như vảy đóng trong mạch máu.

Khác với vảy cholesterol trong máu, những vảy trong não này được tạo thành bởi chất protein.

Những vảy protein như những chất cách điện, hệ quả là những tín hiệu được truyền đi từ một tế bào thần kinh này đến tế bào khác bị ngăn chặn.

Hiện tượng cách ly này không chỉ xảy ra giữa tế bào này với tế bào khác, mà còn ở ngay trong tế bào thần kinh, như những chùm tơ nhện, gọi là “tangles of Tau protein.”

Ngoài việc cách ly sóng điện, những vảy protein còn tiết ra chất độc để hủy diệt tế bào thần kinh, vì thế não bộ dần dần teo nhỏ lại.

Hiện tượng đóng vảy không xảy ra qua đêm mà kéo dài có khi cả chục năm trước khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Nói cho dễ hiểu, “người thường” không có bệnh Alzheimer cũng bị đóng vảy trong não chút đỉnh khi… già yếu.

Nhưng đối với người có bệnh, tốc độ suy sụp, đổ dốc sẽ rất nhanh. Dĩ nhiên, triệu chứng mấu chốt của bệnh mất trí nhớ phải là sự mất khả năng tư duy, khả năng nhớ, nhưng những triệu chứng khác do sự suy yếu của não bộ đưa đến, ví dụ như khả năng nói và vệ sinh cá nhân sẽ xảy ra cùng lúc, chứ không theo thứ tự.

Như thế, sự suy yếu xảy ra một cách toàn bộ, từ trí nhớ, đến suy yếu thị giác và khả năng giữ thăng bằng.

Khi bệnh càng nặng, người bệnh sẽ mất khả năng tư duy, không còn nhận biết người quen, không nhớ những chuyện mới xảy ra gần như tức thì.

Họ sẽ có vấn đề hiểu câu hỏi, sử dụng từ ngữ để diễn tả hay tốn nhiều thì giờ để trả lời một câu hỏi có khi rất đơn giản.

Khuôn mặt như khờ đi, không biểu lộ được cảm xúc.

Họ mất khái niệm về thời gian và không gian.

Tâm tính của người bị mất trí nhớ cũng thay đổi, có khi họ trở nên trầm cảm, cô đơn nhưng có lúc hung dữ, bướng bỉnh vì trong tư duy hạn hẹp, không ai hiểu được họ.

Cuối cùng là mất luôn khả năng vệ sinh cá nhân như tiểu tiện và đại tiện.

Người bệnh chỉ nhận biết được một vài người thân săn sóc cho họ.

Khi thiếu những người này hay khi phải rời xa những môi trường quen thuộc, thường sẽ bị kích động những cơn sợ khủng hoảng tinh thần, gọi là panic attacks, làm cho họ cứng người đi, càng dễ bị té ngã thêm.

Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi sâu vào việc chẩn bệnh và thuốc chữa trị. Tuy nhiên, dựa trên những kiến thức cơ bản ở trên, tôi hy vọng bạn đọc có thể phát hiện ra bệnh tình của người thân và đưa họ đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.

Nên nhớ tất cả các loại “thuốc chữa” hiện nay không có khả năng chữa dứt bệnh mà chỉ làm cho tốc độ phát triển của bệnh chậm đi.

Họ trở nên trầm cảm, cô đơn. (Hình minh hoạ: PATRICK HERTZOG/AFP via Getty Images)

Và nếu thuốc chữa càng sớm thì phẩm chất đời sống của bệnh nhân cũng như của người thân săn sóc cho bệnh nhân sẽ đỡ khổ hơn nhiều.

Nói chung, mọi người khi lớn tuổi đều có nguy cơ bị mất trí nhớ. Để giảm bớt nguy cơ bị mất trí nhớ, một số biện pháp cần thực thi ngay từ bây giờ:

Trước hết, bạn phải có một chế độ ăn uống cân bằng, điều độ, nhiều rau trái, tập thể dục đều đặn, như đi bộ ba tới năm giờ mỗi tuần và ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày.

Ngủ đêm không đủ thì tranh thủ ngủ ngày! Những người ngủ đầy đủ và có ngủ trưa thường sống lâu và ít bị mất trí nhớ. Ta nói nôm na là tập… “nhảy đầm.” Nghiên cứu đăng trên tờ New England Journal of Medicine năm 2003 cho biết khiêu vũ vừa là một môn thể dục thể thao, vừa là một trò chơi đòi hỏi suy nghĩ, tiến thoái trong mỗi bước.

Khi khiêu vũ, lượng máu không những chỉ dồn về bắp thịt mà còn đổ về phía não bộ nhiều hơn vì khiêu vũ đòi hỏi cả thể lực lẫn trí tuệ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy người chơi nhạc cụ trên 10 năm sẽ có trí nhớ tốt hơn một người không chơi nhạc.

Trong trường hợp bạn không có đủ thời giờ hay năng khiếu âm nhạc, nên tập nghe và thưởng thức âm nhạc.

Một nghiên cứu đăng trên tờ Neurology năm 2013 cho biết những người nói thông thạo hai thứ tiếng, khả năng bị mất trí nhớ chậm đi bốn năm rưỡi so với người chỉ biết một thứ tiếng.

Một nghiên cứu của Pháp năm 2013 cho thấy những ai chơi cờ, hay chơi các loại game như bingo, xì lát, poker… Nhưng đừng ghiền quá và cũng tránh “ngồi computer” hay TV nhiều nhé, khả năng bị mất trí nhớ giảm đi 15%.

Nghiền ngẫm nội dung của sách, truyện. Đọc truyện mới lạ có lợi hơn là đọc chuyện cũ đã biết.

BRIDGEHAMPTON, NEW YORK – JULY 29: A view of the venue during Fork It Alzheimer’s, A Summer Party To Benefit The Alzheimer’s Association on July 29, 2023 in Bridgehampton, New York. (Photo by Dave Kotinsky/Getty Images for The Alzheimer’s Association)

Nhiều nghiên cứu cho thấy người chơi nhạc cụ trên 10 năm sẽ có trí nhớ tốt hơn một người không chơi nhạc. (Hình minh hoạ: Dave Kotinsky/Getty Images for The Alzheimer’s Association)

Đừng đọc Thiên Long Bát Bộ hay Tam Quốc Chí đến lần thứ 10!

Thí dụ khi ăn thì đừng xem TV! Ngoài ra nên biết dùng thời giờ một cách hữu hiệu.

Khảo sát thống kê năm 2013 cho biết những người có những thú vui kể trên, trí óc minh mẫn hơn những người không có “thú vui” để tiêu khiển.

Sống lạc quan, yêu đời và có giao thiệp với bạn bè người thân làm bớt tình trạng cô độc, sầu muộn.

Viết văn, viết truyện, viết thơ cho bạn bè, viết nhật ký, viết hồi ký… làm giảm khả năng mất trí nhớ về sau.

Những người làm lụng chân tay, làm việc trong nhà ít bị mất trí nhớ hơn người ngồi một chỗ xem TV hay nhìn “bóng câu qua khung cửa sổ.”

Nói chung là phải tích cực “động não” chứ “không động kinh !!!” Tất cả các hoạt động trên đây nên bắt đầu từ hôm nay, bất kỳ ở lứa tuổi nào. Không nên đợi tới 60, 70 mới lo ngăn ngừa mất trí nhớ!

– Học khiêu vũ.

– Học chơi một thứ nhạc cụ hoặc nghe nhạc.

– Học một ngôn ngữ khác.

– Học đánh cờ hay chơi video game.

– Đọc sách.

– Chú tâm làm một việc cho xong, đừng ôm đồm nhiều thứ vô một làm hai ba việc cùng một lúc.

– Học đan, may vá hay làm vườn.

– Sống có mục đích.

– Tập viết.

– Cuối cùng, tập làm việc nhà.


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nhân Văn Giai Phẩm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Cuối năm 1973, nhà văn Bùi Ngọc Tấn được thả khỏi tù. Lúc đến văn phòng làm thủ tục giấy tờ phóng thích, ông chợt nhìn thấy tác phẩm của mình trên bàn giấy của những nhân viên công an ở trại:

“Tên hắn in trên bìa sách chứng tỏ điều đó. Như có một ma lực, hắn bước đến chỗ ấy. Hắn buộc miệng kêu to như gặp lại con mình:

  • Thưa các ông các bà, đây là sách tôi viết.

Mọi người ngơ ngác…

  • Cái gì? Anh nói cái gì?

Hắn cầm lấy cuốn truyện. Bìa có đóng dấu trại. Hắn nhìn mãi vào những tên hắn in trên bìa sách. Thật không tin được. .. Hắn lắp bắp như người ngẹn thở:

  • Quyển sách này của tôi.

Cô trung sĩ nhìn giấy tờ của hắn. Rồi lại nhìn tên hắn in trên bìa sách. Cô đưa tờ lệnh tha cho ông Thanh Vân đọc. Ông ngẩng lên nhìn hắn chăm chú từ đầu đến chân. Rồi với giọng hiểu biết:

  • Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?

Báo cáo ông, Nhân văn Giai Phẩm có từ năm 1956, tôi bị bắt năm 1968.

  • Thế anh bị bắt về tội gì? ( Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 127- 129).

Từ 1956 đến 1973 là một khoảng thời gian khá dài, đủ dài để nhà nước CHXHCNVN biến bốn từ “Nhân Văn Giai Phẩm ” thành một … tội danh : “Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?”

Và thêm mười năm sau nữa thì “Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch” – theo như tường thuật nhà phê bình văn học Thụy Khuê , trong phần lời tựa tác phẩm (*) của bà :

“Năm 1984, khi trở về Hà Nội, tôi muốn tìm lại, dù chỉ một dấu vết nhỏ, chứng minh sự hiện diện của Nhân Văn Giai Phẩm trong lòng người dân Bắc. Nhưng vô ích. Tất cả đều đã bị xóa sổ. Kín đáo dò hỏi những người thân trong gia đình sống ở Hà Nội, thuộc thế hệ ‘phải biết’ Nhân Văn, xem có ai còn nhớ gì không? Nhưng không, tuyệt nhiên chẳng ai ‘nghe nói’ đến những cái tên như thế bao giờ: linh hồn Nhân Văn đã bị xóa trong ký ức quần chúng, và như vậy, ‘nọc độc’ Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch.

Ðó là lý do chính khiến vài năm sau, khi thực sự bước vào nghề cầm bút, tôi đã coi Nhân Văn Giai Phẩm là một trong những nghi vấn văn học hàng đầu, cần phải tìm hiểu. Bài viết đầu tiên của tôi về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đăng trên nguyệt san Văn Học, California, số 27, tháng 4 năm 1988; tiếp theo là những buổi phát thanh trên đài RFI, trong nhiều chương trình từ 1991 đến 2004, trong số đó có những buổi phỏng vấn các tác nhân chính của phong trào: Lê Đạt, Hoàng Cầm và Nguyễn Hữu Đang.

Cuốn sách này tổng kết công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm, từ 1988 đến ngày nay.”

Thụy Khuê mô tả thành quả “công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm” của mình bằng tên gọi (khiêm tốn và giản dị) chỉ là một cuốn sách. Thực ra, đây là một công trình biên khảo (dầy đến 957 trang giấy) và chỉ cần xem qua thư mục cũng như phần phụ lục – gồm 164 trang – cũng đủ khiến cho bất cứ ai còn quan tâm đến phong trào Nhân Văn cảm thấy ấm lòng, và bồi hồi xúc động.

Trong buổi tọa đàm bỏ túi – tại toà soạn Diễn Đàn Giáo Dân, vào sáng hôm 03/ 03/ 2012 – những người hiện diện (Trần Văn Cảo, Nguyễn Đình Cường, Nguyễn Chí Thiện, Trần Nguyên Thao, Trần Phong Vũ … ) đều lặng nhìn tác phẩm, còn thơm mùi mực của Thụy Khuê, với rất nhiều xúc cảm. Cái cảm xúc của những kẻ được chứng kiến cảnh một chiếc tầu chìm (mang theo hàng ngàn sinh mạng, cùng với những di sản vô giá) đã nằm im lìm dưới lòng đại dương – hơn nửa thế kỷ qua – vừa được trục vớt ra khỏi biển sâu.

Nhờ vào sự tận tụy của Thụy Khuê, và một số những đồng nghiệp của bà (trong cũng như ngoài nước: Lại Nguyên Ân, Phạm Thị Hoài …)  những tiếng kêu uất nghẹn và những mảnh đời oan khuất – tưởng đã tiêu trầm với thời gian (nay) vẫn còn tươi rói và nguyên vẹn, gần như không thiếu một ai (**).

Thụy Khuê chia tác giả của Nhân Văn Giai Phẩm ra làm hai thành phần khác biệt:

“Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủ và tự do tư tưởng.”

Cả hai, tất nhiên, đều phải trả giá bằng những đòn thù hung bạo và ti tiện như nhau. Trong khuôn khổ của một trang sổ tay, chúng tôi xin phép sẽ không nhắc đến tên những hung thủ hay thủ phạm (họ không đáng gì để chúng ta phải bận tâm) và chỉ ghi lại đôi nét chính, về vài ba nhân vật (theo thứ tự alphabétique) mà số phận bi đát nhất so với những người đồng cảnh, qua ngòi bút của Thụy Khuê:

– “Thụy An (1916 – 1989) là một khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, và cho đến nay, chưa mấy ai hiểu được những khúc mắc ở bên trong.”

“Thụy An là ai?

“Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong ‘hàng ngũ phản động’, bà bị quy kết là ‘gián điệp quốc tế’, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang…”

“Về việc bà chọc mù mắt, dư luận chính thức loan rằng bà bị tai nạn ở mắt, khi đi lao động cải tạo. Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất thân với bà trong suốt hành trình Nhân Văn Giai Phẩm: có phải trong Hỏa Lò chị Thụy An tự chọc mù mắt ? Lê Đạt lặng lẽ gật đầu, không thêm một lời nào cả…”

“Tháng 10/1974 Thụy An được thả theo diện ‘Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris’, cùng với Nguyễn Hữu Đang. Bà bị trả về quản thúc ở Hoà Xá. Trên đường giải về làng, khi bị đẩy xuống xe tù, bà bị ném đá. Bà mất ngày 10/6/1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ, Sài gòn.”

– “Phùng Cung (1928-1998) đại diện cho tất cả những người bị tù không có án, thậm chí không có lý do, hoặc lý do mơ hồ, khó hiểu, trong danh sách hàng trăm người bị xử lý nặng, hoặc hàng ngàn người, đã ‘liên hệ’ xa gần với NVGP, với nhóm ‘Xét lại chống đảng’ những năm sáu mươi. Mỗi cá nhân là một trường hợp, là một chân dung bị xoá, bị đưa đi biệt tích, trong cô đơn, đau khổ…”

“Dưới mắt Phùng Cung, chính sách đấu tranh giai cấp của đảng cộng sản, được mô tả dưới dạng phân chia giai cấp giữa Chó và Người. Giai cấp mà ông gọi là chó thuộc thành phần những kẻ ‘úp mặt hôn mê liếm lộc’, những kẻ ‘cưỡng bức ngữ ngôn’, những kẻ ‘tình nguyện trọn kiếp bút nô’, những kẻ ‘ngợi ca tội ác’… Và trong bối cảnh, chó đô hộ người, các công tác dò thám, hãm hại, thủ tiêu, đạt đỉnh điểm. Sự triệt tiêu văn hoá trở thành quốc sách. Chưa một ngòi bút nào đi xa đến thế trong việc mô tả xã hội độc trị…”

“Bài Nghe đêm gói trọn nỗi cô đơn cuối đời của con người bị lưu đầy, vì chữ nghĩa, từ tuổi thanh niên đến lúc đầu bạc:

Đêm chợt nghe
Trong gối vọng tiếng ru
Lắng tai mới rõ
Tiếng tóc mình chuyển bạc …

Đó là sự cô đơn của kẻ một mình một ngựa trên hành trình mở nước và dựng nước về phía văn hóa, tình nước và tình người.”

– “Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) là một trong những khuôn mặt trí thức dấn thân tranh đấu cho tự do dân chủ can trường nhất trong thế kỷ XX. Là cột trụ của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản thúc và mất quyền tự do phát biểu trong 49 năm, từ tháng 4/ 1958 đến tháng 2/2007, khi ông mất…”

“Sau thời kỳ quản thúc ở Thái Bình, được về sống tại Cầu Giấy, ngoại ô Hà Nội, ông vẫn bị ‘chăm sóc’ kỹ càng. Điện thoại của ông, cũng như của các thành viên cựu Nhân Văn đều bị kiểm soát, nhưng riêng ông, ông không được phục hồi quyền phát biểu, tức là không được quyền trả lời phỏng vấn công khai như những người khác…”

“Nguyễn Hữu Đang là một khuôn mặt chính trị, văn hoá và đấu tranh, hiếm có trên chính trường Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Một người theo đảng từ lúc 16 tuổi, hiểu rõ hơn ai hết quy luật tuân thủ của một cán bộ cộng sản. Nhưng ông đã đi ra ngoài trật tự ấy. Nguyễn Hữu Đang luôn luôn giữ vị trí tự do trong hành động cũng như tư tưởng của mình. Chính trong tư thế tự do ấy, ông đã đứng lên lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đã tạo được một thời kỳ sôi nổi, trong vòng bốn tháng, trí thức và văn nghệ sĩ, dám nói, dám viết những điều mình nghĩ, dám chủ trương cải tiến xã hội Việt Nam thành một nước dân chủ theo đà tiến của thế giới bên ngoài.”

“Nhưng Nguyễn Hữu Đang đã thất bại. Sự thất bại của Nguyễn Hữu Đang cũng là sự thất bại chung của một dân tộc. Và hậu quả kéo dài đến ngày nay: nước Việt là một trong những nước cuối cùng, ở thế kỷ XXI, vẫn còn chưa biết nhận diện, để đòi hỏi những quyền cơ bản và tất yếu nhất của con người, đầu tiên là quyền tự do tư tưởng.”

Công trình biên khảo của Thụy Khuê không chỉ giới hạn vào phong trào Nhân Văn. Trong phần lời tựa, bà cho biết thêm :

“Trong quá trình làm việc, có những ngã rẽ bất ngờ: khảo sát về Phan Khôi, tôi thấy sau khi đi Pháp về, Phan Châu Trinh giao cho Phan Khôi nhiệm vụ viết lại lịch sử đời mình, từ đó, phải tìm hiểu về những ngày Phan Châu Trinh ở Pháp, dẫn đến mối tương quan giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, người tự nhận là lãnh tụ đầu tiên của phong trào Việt kiều Yêu Nước.”

“Tôi tìm đọc nguyên văn tiếng Pháp các bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc, mới thấy tác giả những bài viết này phải là người biết tiếng Pháp rất sâu và có văn tài; không thể là người mà Trần Dân Tiên mô tả trong cuốn hồi ký ‘Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch’. Vậy có một sự giả mạo lịch sử quan trọng cần phải tìm hiểu đến nguồn cội. Đó là lý do tại sao có phần biên khảo về Vấn đề Nguyễn Ái Quốc trong cuốn sách này.”

“Sự giả mạo lịch sử quan trọng” này, và công việc “tìm hiểu đến nguồn cội” của Thụy Khuê đã đưa đến lời khẳng định của bà, ở đầu chương 16, như sau:

“Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này … chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.”

Về cú “knockout” vô cùng ngoạn mục này của Thụy Khuê (kể như đã chấm dứt vĩnh viễn sự nghiệp giả trá của một nhân vật lịch sử vào bậc quan trọng nhất ở Việt Nam) chúng tôi xin…

03/2012

—————

(*) Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy Khuê, sách dầy 976 trang, bìa cứng, Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012, giá bán 40 M.K, có thể đặt mua theo địa chỉ sau: Tủ Sách Tiếng Quê Hương, P.O.Box 4653, Fall Church, VA  22044, email:  info@tiengquehuong.com

(**) Theo chỗ hiểu biết của chúng tôi, trong  công trình biên khảo này, chị Thụy Khê đã không nhắc đến một số tên tuổi quen thuộc khác, cũng có liên quan ít nhiều đến phong trào Nhân Văn như Bùi Quang Đoài, Thanh Châu, Hoàng Huế, Hoàng Yến, Hữu Loan,  Tạ Hữu Thiện … Tuy nhiên, nếu nói theo Lê Đạt (“…ở đất nước Việt Nam, những người đau khổ vì Nhân Văn chắc rất nhiều, không thể đếm xuể được”) thì sự sai sót – dù vì bất cứ lý do gì – là điều rất khó tránh khỏi.


 

Ai được lãnh Bí tích Truyền Chức Thánh?-Cha Vương 

Lạnh quá đi! Xin Chúa sưởi ấm tâm hồn những người nguội lạnh. Bảo trọng nhé.

Cha Vương 

 Thứ 4: 29/11/2023

GIÁO LÝ:  Ai được lãnh Bí tích Truyền Chức Thánh? Chỉ người nam giới, đã được Rửa tội trong đạo Công giáo, được Hội thánh kêu gọi lên lãnh các chức Phó tế, Linh mục, Giám mục, thì mới lãnh các chức vụ này thành phép. (YouCat, số 256)

Nếu chỉ có nam giới được lãnh bí tích Truyền Chức Thánh thì nữ giới có bị kỳ thị không? Luật nói rằng: chỉ nam giới được lãnh chức thánh, không làm hạ phẩm giá nữ giới. Đối với Thiên Chúa, nam hay nữ đều có phẩm giá như nhau, nhưng mỗi giới có những bổn phận và đoàn sủng khác nhau. Hội thánh quen chọn người nam, chính vì Chúa Giêsu đã chỉ chọn người nam khi lập chức linh mục trong bữa Tiệc ly. Năm 1994, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên bố rằng: “Hội thánh không có quyền truyền chức linh mục cho nữ giới, và mọi tín hữu của Hội thánh phải dứt khoát tuân giữ quyết định đó “. (YouCat, số 257)

 SUY NIỆM: Thời xưa không có ai đề cao phụ nữ bằng Chúa Giêsu (điều mà thời đó được coi là khiêu khích), Người đã đồng ý làm bạn với họ và bảo vệ họ. Nhiều phụ nữ đi theo Chúa Giêsu và Người đánh giá đức tin họ rất cao. Người đầu tiên làm chứng nhân cho việc Chúa Giêsu sống lại là phụ nữ, bà Maria Madalena. Vì thế người ta nói rằng bà là “một phụ nữ tông đồ giữa các tông đồ”. Dầu vậy việc truyền chức linh mục cũng như trách nhiệm mục vụ luôn luôn được truyền lại cho người nam. Các linh mục người nam phải thay mặt Chúa Giêsu để tập họp Hội thánh. Chức linh mục là một chức vụ đặc biệt đòi hỏi người nam phải thi hành vai trò của người nam làm cha. Không có sự ưu thế nào của nam trên nữ. Các phụ nữ có vai trò trong Hội thánh, như ta thấy qua Đức Maria một vai trò trung tâm không thua kém người nam, nhưng là vai trò của nữ giới. Bà Eva trở thành mẹ của mọi người đang sống (St 3,20). Xét theo là mẹ của mọi người đang sống, các phụ nữ có những tư chất và khả năng đặc biệt. Nếu không có cách thế riêng biệt mà chỉ phụ nữ mới có như dạy dỗ, loan báo Tin Mừng, sống bác ái, sống đạo đức và mục vụ, thì Hội thánh “bị cắt cụt một nửa”. Khi những người nam trong Hội thánh dùng chức vụ linh mục như công cụ của quyền lực, hoặc khi các người nữ không lo tận dụng những đặc sủng của mình, thì cả hai đã xúc phạm đến tình yêu và đến Thánh Thần của Chúa Giêsu. (YouCat, số 257 t.t.)

❦  Đấng Đáng kính Fulton Sheen từng nói: “Nếu Chúa muốn truyền chức cho phụ nữ thì chắc chắn Ngài đã truyền chức cho chính Mẹ của Ngài là Đức Mẹ, Mẹ không vướng mắc tội, nhưng Ngài đã không làm như vậy”.

LẮNG NGHE: … chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. (Mt 22:16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gìn giữ Hội thánh Chúa.

THỰC HÀNH: Làm một việc bác ái âm thầm cầu nguyện cho Hội thánh nhé.

From: Do Dzung

Chúa là tất cả đời con..ck chạm đến trái tim