VỀ TỪ CHỐN LƯU ĐÀY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi!”.

“Chúa Kitô có thể được sinh ra hàng ngàn lần ở Bêlem – nhưng tất cả đều vô ích cho đến khi Ngài được sinh ra trong tôi!” – Angelus Silesius.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng, “Cho đến khi Ngài được sinh ra trong tôi!” khác nào nói, cho đến khi tôi được thực sự tự do để đón Ngài; được giải thoát khỏi mọi hình thức nô lệ, được trở ‘về từ chốn lưu đày’. Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta – hưởng ứng lời Gioan Tẩy Giả – chỉnh đốn con người mình hầu có thể mở ra những con đường cho Chúa ngự đến.

Marcô thật tài tình khi mở đầu Phúc Âm bằng việc giới thiệu Gioan, vị tiền hô báo trước cuộc tiến vào ‘đất hứa mới’, “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con”. Đó là một lời hứa của Thiên Chúa, một biểu thị bảo vệ, báo trước chiến thắng và kết thúc của cuộc lang thang trong sa mạc. Marcô muốn độc giả của mình biết rằng, Gioan Tẩy Giả là tiền hô của một Môsê mới, Đức Kitô; một cuộc xuất hành mới, tiến vào Vương Quốc Ngài!

Đó là sự khởi đầu của một chiến dịch mở ra những con đường chống lại các thế lực thù địch vốn đang chế ngự đất lưu đày. “Con đường”, “hodos”, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là đường đi hoặc hành trình; nhưng trong Tân Ước, nó thường đề cập đến “lối sống mà Thiên Chúa đòi hỏi”. Năm 586 trước Công Nguyên, Giêrusalem rơi vào tay Babylon, hàng ngàn người Do Thái bị lưu đày ở đó. 47 năm sau, Cyrus, vua Ba Tư, đánh bại Babylon, cho phép người Do Thái hồi hương về Israel. Vì thế, Marcô khôn khéo sử dụng Isaia – bài đọc thứ nhất – để nói đến cuộc xuất hành mới. Nói cách khác, “dọn đường cho Chúa” nghĩa là bắt đầu một cuộc xuất hành khỏi ách nô lệ tội lỗi. Đó là ‘về từ chốn lưu đày’; đúng hơn, một lối sống, một hành động phù hợp với lối sống Thiên Chúa đòi hỏi.

Mùa Vọng, mùa chuẩn bị cuộc trở về, một cuộc hoán cải. Mùa Vọng, mùa tái định hướng triệt để cuộc sống của mình hướng về Thiên Chúa. Phêrô – bài đọc hai – cũng có một lời kêu gọi tương tự, “Ngài muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải”. Vì thế, “Anh em phải cố gắng sao cho Ngài thấy anh em tinh tuyền!”.

Với Đức Phanxicô, “Để chuẩn bị những con đường cho Chúa đến, cần lưu ý đến yêu cầu cần hoán cải mà Gioan mời gọi. Những yêu cầu cần hoán cải là gì? Trước hết, hãy lấp đầy những “thung lũng” do sự lạnh lùng và thờ ơ gây ra, mở lòng mình ra với người khác bằng những tâm tình như tâm tình của Chúa Giêsu, nghĩa là với sự thương cảm và quan tâm huynh đệ vốn đáp ứng mọi nhu cầu của anh chị em mình”.

Anh Chị em,

“Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa!”. Để dọn đường cho Chúa, hãy lấp đầy các thung lũng do ‘giá lạnh’ gây ra. Người ta không thể yêu thương, bác ái và huynh đệ nếu vẫn còn những “khoảng không” cũng như những ổ gà trên các con đường. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thay đổi thái độ. Sau đó, cần phải hạn chế sự thờ ơ do kiêu ngạo và tự phụ. Như Gioan đã mở ra những con đường trong sa mạc, bạn và tôi chỉ ra những viễn cảnh hy vọng, ngay trong những bối cảnh hiện sinh đầy gian khổ của thế giới vốn đang bị đánh dấu bởi những thất bại này đến những thất bại khác!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đang ở đâu? Liệu Chúa đã được sinh ra trong con? Xin đưa con ‘về từ chốn lưu đày’ nếu con đang bị đày ải ở đâu đó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Hãy dọn sẵn con đường của ĐỨC CHÚA, sửa lối cho thẳng để Người đi. (Mc 1:3)

Mong bạn có một lòng ao ước “cần Chúa hơn bao giờ hết” hôm nay.

Cha Vương

CN: 10/12/2023

TIN MỪNG: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của ĐỨC CHÚA, sửa lối cho thẳng để Người đi. (Mc 1:3)

SUY NIỆM: Trong Mùa Vọng, bạn được kêu gọi chuẩn bị cho sự giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế. Bạn đã và đang làm gì để sẵn sàng? Bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở bạn hãy “sửa lối cho thẳng để Người đi”.  Điều này có nghĩa là bạn phải chuẩn bị tâm hồn cho sạch sẽ để Chúa đến với bạn một cách dễ dàng hơn. Bạn chuẩn bị qua việc dành nhiều thời gian hơn với Chúa và đặt Chúa làm ưu tiên hàng đầu trong ngày. Hãy nhớ rằng ở đâu có Chúa thì ở đó không có xấu xa tội lỗi. Điều này cũng nhắc nhở rằng bạn cần phải sám hối, tức là định hướng lại cuộc đời mình để trở về với Chúa. Nó bao gồm ba khía cạnh: (1) Trở về với Thiên Chúa bằng cả trái tim. (2) Từ bỏ sự ác của tội lỗi và tránh xa những điều không phù hợp với giới răn của Chúa. (3) Quyết tâm thay đổi cuộc đời.

Lời cầu nguyện duy nhất của mình, trong Mùa Vọng này, là bạn hãy đến với Chúa thường xuyên hơn qua Bí tích Thánh Thể nếu có thể, không chỉ một lần mỗi tuần hay hai lần một năm. Bí tích Thánh Thể là sự kết hiệp mật thiết và là cuộc gặp gỡ thân mật nhất với Chúa Giêsu. Ngài là nguồn mạch của sự hoán cải. Ngài sẽ thêm sức và nâng đỡ bạn vượt qua mọi khó khăn và cạm bẫy của ma quỷ đó.

LẮNG NGHE: Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi! Đứng trên nơi cao mà nhìn: Kìa THIÊN CHÚA đem hoan lạc đến cho ngươi. (Br 5:5;4:36)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin hãy đến và tẩy sạch tâm hồn, con yêu mến Chúa, xin ở lại với con luôn mãi. Con cần Chúa!

THỰC HÀNH: Điều gì đang ràng buộc và ngăn cản bạn trở về với Chúa? Hãy cầu nguyện và xin ơn can đảm để từ bỏ nó nhé.

From: Do Dzung

CON CẦN CHÚA || THÁNH CA GIANG ÂN 

CÁC NHÀ BÁC HỌC NÓI VỀ THIÊN CHÚA

Antonio Son Tran

– Louis Pasteur : “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Đức Chúa Trời.. Thật là mĩa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết, hoặc chết là trở về với hư vô … Một chút khoa học sẽ gạt bỏ Chúa, giàu khoa học sẽ quay về với Chúa” .

…

– Albert Einstein: “Sự gian ác là do vắng bóng Thiên Chúa trong linh hồn … khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt….Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo.”

…

– James Simpson : “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu .”

…

– Andre Marie Ampere “Con người chỉ vĩ đại khi quỳ xuống cầu nguyện với Thiên Chúa .”

…

– Blaise Pascal :”Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài. Nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả, nếu ta không tin”

…

– Victor Hugo nói: “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare; còn Kinh Thánh làm nên nước Anh”.

…

– Isaac Newton : “Cái huy hoàng của thái dương hệ, các hành tinh, sao chổi, chỉ có được là do sự điều hành của Một Đấng Thông Minh, Toàn Năng …Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính ….Thánh Kinh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó …Trong đời mình tôi nhận biết được hai sự thật: thứ nhất – tôi là kẻ đại tội nhân, và thứ hai – Jêsus Christ vĩ đại vô lượng là Đấng Cứu Chuộc tôi …Lực hút Trái đất chỉ giải thích sự chuyển động của các hành tinh nhưng không thể làm rõ ai, khi nào và bằng cách nào đã đưa các hành tinh vào vị trí chuyển động như vậy. Chính Chúa trời là người điều khiển và sắp đặt vạn vật. Người là bất diệt, là vĩnh cửu…”.

…

– Becquerel: “Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin .”

…

– Bourgeois: “Không có gì cản trở tinh thần khoa học hòa hợp với tín ngưỡng đã được suy nghĩ sáng suốt. Trái lại, khoa học càng được đào sâu, thì tôn giáo lại càng được tăng thêm sức mạnh và bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, lại càng được sáng to hơn .”

…

– Duclaux: “Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự bò lên sườn núi .”

…

– Alessadro Volta : “Niềm tin như điện, bạn không thể thấy nó, nhưng có thể thấy ánh sáng .”

…

– Moreux : “Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hầu hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa .”

…

– Charles Nicolle :“May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm; đó là dấu ấn của Thiên Chúa .”

…

– Thomas Alva Edison : “Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tât cả kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa .”

…

– Chevreul : “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài”

…

– Diderot : “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần .”

…

– LaBruyère: “Tôi muốn thấy một người trong sạch và tiêt độ tuyên bố rằng không có Thượng đế, nhưng không thấy ai cả .”

…

– Wernher Von Braun : “Sự bao la huy hoàng của vũ trụ đã làm cho đức tin vào Đấng Tạo Hóa của tôi được tăng thêm. Khoa học và đạo không thể mâu thuẫn nhau, nhưng là chị em ruột thịt, vì khoa học tìm thấy sự huy hoàng của vạn vật, mà đạo thì tìm thấy Đấng Tạo Hóa quyền năng đã dựng nên vạn vật tốt đẹp lạ lùng”

…

– Bacon: “Kiến thức nông cạn đưa người ta xa tôn giáo, ngược lại kiến thức sâu sa đưa người ta lại gần tôn giáo .”

…

– Francois Coppée: “Làm sao từ nay tôi không tin có phep lạ, sau khi đã được phép lạ do sách Phúc Âm làm nơi tôi? Linh hồn tôi trước kia mù tịt trước ánh sáng đức tin, bây giờ đã thấy ánh sáng này với tât cả vẻ huy hoàng của nó. Linh hồn tôi trước kia điếc đặc trước Lời Chúa, nay đã nghe rõ ràng và vui sướng cảm phục. Linh hồn tôi trước kia tê liệt vì không tìm hiểu tôn giáo, lúc này đã nóng nảy hăng hái bay lên trời. Qủy dơ bẩn mà linh hồn tôi bị ám ảnh, nay đã bị đuổi đi .”

…

– T. Termier: “Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu…khoa học dẫn đến Thiên Chúa; và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa .”

…

– A. Eynieu : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin có Thiên Chúa.

…

– Bossuet : “Những chân lý đời đời không thay đổi [của luân lý] buộc ta phải tin rằng có một Đấng Tạo Hóa”.

…

– Victor Gess : “Một nhà khoa học chân chính có thể tin vào Đức Chúa Trời được không? Tôi nghĩ là có … Tôi phải thừa nhận rằng qua suốt bấy nhiêu năm nghiên cứu khoa học của mình trong lĩnh vực vật lý và địa chất tôi chưa bao giờ nhận thấy những kết quả nghiên cứu khoa học có điều gì trái nghịch với đức tin vào Đức Chúa Trời – Đấng Tạo Hóa.”

…

– Charles Dickens : “Kinh Thánh Tân Ước chính là quyển sách tốt nhất đã từng và sẽ được biết đến trên thế giới”.

…

– Platon : “Những ai có một chút trí khôn, đều phải kêu cầu Đức Chúa Trời trước khi bắt đầu công việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ”.

…

– Chateaubriand : “Tiêu hủy sự tin kính theo Phúc âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình”.

– và tôi haha:

Kẻ vô thần không tin có đời sau

Vậy đời này chúng cần gì tích đức

Lời nói, việc làm từ trong vô thức

Cõi tâm hồn sâu thẳm hư không.

Nguồn : Sưu tầm

 


 

LORETO VÀ PHÉP LẠ THIÊN THẦN CHUYỂN NHÀ

Anne Bernet (Aleteia) – Lê Hưng (TGPSG) chuyển ngữ

Đức Bà Loreto, được Giáo Hội mừng lễ vào ngày 10-12, là Đức Bà phù hộ các phi công, các lữ khách đi máy bay… và của cả các công nhân chuyển nhà nữa.  Nhưng tại sao lại có sự bảo trợ này?

Gần thánh phố Ancône, trong vùng Marches nước Ý, có một trong những ngôi đền thờ được tôn kính nhiều nhất trong thế giới Công giáo: đền thờ Đức Bà Loreto.

Câu chuyện về nơi này thật lạ lùng và có thật, tuy dù cũng có đôi chút tô điểm cho thêm phần dễ thương.

Tất cả khởi sự từ đầu thế kỷ 14, khi Rôma được tin người ta vừa khai sinh thêm một cuộc hành hương Đức Mẹ, ở một nơi gọi là Loreto, “một cánh rừng nguyệt quế nhỏ;” nơi đây người ta tôn sùng một tượng Đức Mẹ đen cổ kính có nguồn gốc phương Đông được tạc từ gỗ thông tuyết và một ảnh thánh Đức Mẹ được cho là do thánh Luca vẽ.

Đến đây thì mọi chuyện khá bình thường: những đền thờ như vậy thì rất nhiều trong thế giới Kitô giáo nên người ta không thắc mắc lắm về tính lịch sử của những thánh tích được tôn sùng – sự sùng kính của khách hành hương thường phủ một lớp ân điển lên những vật được trưng bày để tôn kính.

Tuy nhiên sự độc đáo của địa điểm này không nằm ở nơi ảnh thánh và bức tượng nói trên, mà ở nơi ngôi nhà đặt ảnh tượng đó.  Nếu tin những gì người ta nói tại chỗ thì, ngôi nhà nguyện nhỏ vừa kể thật ra chính là ngôi nhà ở Nazarét, nơi thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Maria – là nơi ơn cứu độ nhân loại được thể hiện…  Đó là lý do tại sao các tín hữu đã tuôn đến và sờ vào những viên đá linh thánh đó một cách thành kính, trào nước mắt xúc động vì còn được đến tận nơi.

Một nỗi đau không thể tưởng tượng

Đến tận nơi ư?  Đúng vậy, vì từ năm 1291 với sự thất thủ của thành Saint-Jean d’Acre – cứ điểm cuối cùng của vương quốc La tinh tại Giêrusalem, bị phe đạo Hồi chiếm giữ – Miền Đất Thánh gần như đóng cửa hoàn toàn với khách hành hương và hối nhân.  Nhà cầm quyền Hồi giáo chỉ cấp giấy phép nhỏ giọt để vào những địa điểm thánh và những Kitô hữu hiếm hoi dám bước vào đây lại gặp vô vàn nguy hiểm.

Chúng ta ngày nay quá thiếu sốt sắng nên khó đo lường được sự thiếu thốn như vậy nặng nề ra sao đối với những bậc tiền bối của chúng ta.  Không còn có hy vọng đến thăm xứ Galilê để cầu nguyện trong căn phòng mà Đức Maria đã thưa lời Fiat (Xin Vâng), không được theo dấu chân Chúa Giêsu, không được quỳ trong vương cung thánh đường Bêlem trên cái ngôi sao đánh dấu nơi đặt máng cỏ, không được tắm trên sông Giođan, không bao giờ được nhìn ngắm Giêrusalem, không được canh thức trong vườn Giêtsêmani, không được vừa đi vừa cầu nguyện vừa khóc trên con đường khổ nạn, không được leo núi Golgotha, không được ôm hôn hòn đá của ngôi mộ trống… mà biết rằng tất cả đều bị giao cho kẻ ngoại đạo, đó là một nỗi đau mà chúng ta không thể hình dung nổi.

Giáo Hội xót xa khi biết điều đó, nhưng làm gì được bây giờ?  Thánh chiến thì không còn hợp thời.  Do đó, để xoa dịu cái tang của giới Công giáo, Hội Thánh đưa ra những giải pháp khác cho các tín hữu đang than khóc.  Trước hết là hướng họ về điều cốt yếu: sùng kính Bí tích Thánh Thể.  Không cần thiết phải đi qua đầu kia của thế giới để tìm thấy Chúa Kitô vì Người có mặt hằng ngày trên bàn thờ và trong nhà tạm, dù là ở một nhà nguyện nhỏ bé nhất.  Chính trong bối cảnh đó mà lòng tôn kính Mầu Nhiệm Thánh Thể phát triển chưa từng thấy.

Thánh tích và đền thờ thay thế

Một cách khác là khiến người ta chú trọng đến những thánh tích của cuộc Khổ Nạn – có rất nhiều và đôi khi vô giá – như một mảnh của cây Thánh Giá mà nữ hoàng Radegonde đã có được cho tu viện của bà tại Poitiers (Pháp), mão gai được vua Thánh Louis mua, hay Khăn Liệm Chúa được trưng bày ở Lirey vùng Champagne (Pháp), hay những mảnh của máng cỏ đặt tại vương cung thánh đường Đức Bà Cả ở Rôma; những đồ vật này được đưa tới Châu Âu theo dòng thời gian, chủ yếu là đến Pháp vì các vua dòng họ Capet rất xem trọng chúng.  Vì không đến Miền Đất Thánh được nữa, nên đi viếng những chứng tích của mầu nhiệm Nhập Thể,  của cuộc Thương Khó và cuộc Phục Sinh của Chúa được xem như tương đương.

Cũng vậy đối với việc cố gắng tìm đến những linh địa khiêm tốn hơn nhiều với chỉ một cục sỏi nhặt được ở Palestine, thậm chí chỉ ít bụi từ nơi này…  Có những lãnh chúa hay những giám mục khá giả không ngần ngại xây dựng những đền thờ thay thế – được cho là tái hiện cách chân thật ít nhiều – những kiến trúc ở Miền Đất Thánh, như bản sao của Mộ Thánh ở Neuvy-Saint-Sépulcre, vùng Berry (Pháp), hay tái tạo ở Ý những nơi đáng chú ý nhất của Giêrusalem lúc đó.

Phải chăng đền thờ Loreto chỉ đơn giản là một trong những cách bắt chước mang tính đạo đức sùng mộ như vậy?  Hay, như những người sùng kính nơi đó tin tưởng, đây đúng là ngôi nhà ở Nazarét, được mang từ Palestine về, nhờ một phép lạ nào đấy?  Vấn đề này đã làm chảy không biết bao nhiêu mực.

Một điều có thực: đền thờ đã mọc lên trên một thửa đất của gia đình De Angelis – một gia đình thương nhân và chủ tàu giàu có thành Ancône, đã làm giàu nhờ buôn bán giữa phương Đông và phương Tây, thời kỳ có mặt người Franc tại Palestine.  Cho rằng vương quốc La tinh sẽ tồn tại được ở Giêrusalem – điều này xem ra không phải là ý hay – nhà De Angelis đã đầu tư một phần vốn liếng vào bất động sản ở đây; có thể họ đã mua nhiều miếng đất ở Nazarét, trong đó có đất của ông bà Gioakim và Anna, cùng với đó là căn nhà của ông bà – căn nhà mà vào buổi sáng ngày Truyền Tin, thiên sứ Gabriel đã hiện ra với Đức Maria.

Một ngôi nhà từ trời rơi xuống

Người ta phản bác rằng, vào thời Chúa Kitô, những căn nhà địa phương chủ yếu là nhà hang, nghĩa là được đào trong đá, và mặt khác họ còn chỉ ra cho thấy căn nhà được coi là của Đức Maria ở Nazarét.  Tuy nhiên, có thể vào một lúc nào đó, căn nhà ấy đã được cơi nới với một căn phòng ở mặt tiền, có diện tích nhỏ, xây bằng gạch và bao quanh là ba mặt tường; cái nhà hang nguyên thủy trở thành căn phòng cuối nhà.  Chính cái phòng ngoài của căn nhà đã được nhà De Angelis – đang lo ngại vì diễn biến của tình hình và tin chắc vào sự tái chiếm của người Hồi giáo trong nay mai – cẩn thận tháo dỡ và chất lên một trong những tàu buôn của họ đem về cất ở Ý, vào khoảng năm 1290.

Mới đầu, không hiểu vì lý do gì, cái kiện hàng tuy linh thánh nhưng cồng kềnh đó lại cập bến cảng ở Trast ở Croatia – nơi nhà De Angelis có một cửa hàng thương mại.  Đáng lẽ Ngôi Nhà Linh Thánh đó sẽ ở lại đây – ở Trast người ta vẫn còn tôn kính kỷ niệm về lần “dừng chân” đó.  Nhưng các chủ tàu vì linh cảm thấy rồi ra đạo Hồi sẽ tràn ngập vùng Balkans nên quyết định chở ngôi nhà về Ý năm 1294 và dựng lại y như cũ trên miếng đất của mình ở Loreto.  Sự kiện đã xảy ra như thế.  Rất mau chóng, các phép lạ diễn ra hàng loạt, danh tiếng của đền thờ vang xa, còn người hành hương thì ngày càng đông.

Cuối thế kỷ 15, ông Pietro Tolomei de Terramo – “sử gia” đầu tiên của Loreto – trình bày phiên bản của riêng mình về chuyện đó; ông khẳng định ngôi nhà linh thánh này được đưa đến đây trực tiếp từ hành trình trên không qua trung gian của các thiên thần.  Thực ra trong tiếng la tinh, De Angelis có thể dịch như vậy (nhờ thiên thần); như vậy thì không phải gian dối mà chỉ là một trò chơi chữ khôn khéo, kiểu đùa nghịch ngoan đạo của các nhà La tinh học uyên bác.  Tuy nhiên, có một điều có thể tạo sức nặng nào đó cho phiên bản nói về phép lạ này, khiến người ta phải bối rối, đó là ngôi nhà ở Loreto lại không có nền móng: nhà nằm ngay trên mặt đất, như thể các thiên thần đã đặt nó ở đó và bay đi mất mà không quan tâm gì đến nó nữa.

Nơi Ngôi Lời làm người

Tất nhiên, phiên bản quá thơ mộng này khiến giới Tin Lành, sau cuộc Cải Cách, cười nhạo không ít; mà không chỉ có họ, đến ngay trong lòng Giáo Hội, những bậc tu hành rất thông thái cũng từ chối không tin vào điều đó, cho rằng cái nhà được cho là của Đức Maria, nhờ một sự quảng cáo khôn khéo, đã kịp thời thúc đẩy lại nền thương mại địa phương đang gặp khó vì mất Miền Đất Thánh…

Một số người khác, cũng thông thái không kém, lại ủng hộ sự thật về sự chuyển dịch nhiệm lạ, khẳng định rằng chỉ có một sự kiện khác thường nào đó mới có thể giải thích được sự thành công của đền thờ Loreto.  Sự kiện xuất hiện tức thời và siêu việt của ngôi nhà ấy phải chăng là đã được chính các thiên thần đặt xuống ở nơi đó, hay để xây dựng lại ngôi nhà thật ở Nazarét?  Vấn đề này còn lâu mới có sự đồng thuận, nhưng có điều chắc chắn là các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những nét giống nhau thật sự giữa ngôi nhà thánh này và địa điểm Truyền Tin tại Nazarét.

Sự sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến tới mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là tại Pháp, Áo và vùng Bavière, Đức.

Dù sao đia nữa, ngay giữa lúc bùng nổ lòng sùng kính Đức Mẹ, đền thờ Loreto đã được khoác lên một sự tôn vinh toàn cầu.

Năm 1450, Đức Giáo hoàng Phaolô II đã tặng cho ngôi nhà nhỏ này một “cái hộp đựng” tuyệt đẹp và giao cho kiến trúc sư Bramante việc dựng lên một đại thánh đường hoành tráng ôm trọn căn nhà.  Trước mặt tiền vừa xây xong, Đức Giáo hoàng Sixto V cho khắc dòng chữ: “Đây là nhà của Mẹ Thiên Chúa nơi Ngôi Lời nhập thể làm người.”

Năm 1669, lễ mừng sự di dời của ngôi nhà linh thánh Loreto được ghi vào lịch phụng vụ, ngày 10-12, với phụng vụ giờ kinh riêng.  Mặc dù từ dạo đó đã có nhiều lời kinh khác do các Đức Giáo hoàng thêm vào để tăng phần phong phú, những kinh cầu cùng Đức Mẹ, được soạn theo hình thức hiện hành chính là tác phẩm của Giám mục Giulio Candiotti – giám quản vương cung thánh đường này – đã soạn chúng năm 1578, lấy cảm hứng từ những phiên bản cổ khác nhau, nên được gọi là những kinh cầu Loreto.  Những kinh cầu này được Đức Giáo hoàng Grêgôriô 13 chúc lành và được các tu sĩ dòng Tên đọc để cầu nguyện, đặc biệt là Thánh Phêrô Canisius; thánh nhân xem đây là vũ khí hữu hiệu nhất chống lại cuộc Cải Cách (Tin Lành), và phổ biến những kinh này ra toàn thế giới.  Việc sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến đến mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là ở Pháp, Áo và xứ Bavière, Đức.

Cuối cùng, do truyền thuyết chuyển dời ngôi nhà trên đôi cánh các thiên thần, Đức Bà Loreto trở thành quan thầy của các phi công và tất cả những ai đi máy bay.  Và cũng hợp lý thôi khi cũng là quan thầy của những công nhân chuyển nhà.

Anne Bernet (Aleteia) – Lê Hưng (TGPSG) chuyển ngữ

Nguồn: https://tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Thánh Juan Diego (1474-1548)

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548, vị thánh được ít người Việt biết đến. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thư 7: 9/12/2023

Lúc đầu người ta gọi ngài là Cuauhtlatohuac (“Con đại bàng cất tiếng”), tên Juan Diego thì mãi mãi đi liền với Ðức Mẹ Guadalupe vì chính ngài là người được Ðức Mẹ hiện ra ở đồi Tepeyac lần đầu tiên vào ngày 9/12/1531.

Ông là một thổ dân nghèo hèn, 57 tuổi, goá vợ, tên thật là Cuatitlatoatzin và sau khi rửa tội có tên là Juan Diego. Vào buổi sáng thứ Bảy, 9 tháng Mười Hai 1531, ông đến nhà nguyện gần đó để tham dự lễ kính Ðức Mẹ. Khi đang đi trên ngọn đồi gọi là Tepeyac thì ông nghe có tiếng nhạc du dương như tiếng chim hót. Sau đó một đám mây sáng chói xuất hiện, đứng trên đám mây là một trinh nữ người thổ dân mặc y phục như công chúa của bộ lạc Aztec. Trinh nữ nói chuyện với ông bằng tiếng bản xứ và sai ông đến với Ðức Giám Mục của Mexico, là một tu sĩ dòng Phanxicô tên Juan de Zumarraga, và yêu cầu đức giám mục xây cất một nguyện đường nơi Trinh Nữ hiện ra.

Dĩ nhiên vị giám mục không tin, và bảo Juan Diego xin Trinh Nữ cho một dấu chỉ. Trong thời gian này, người chú của ông bị bệnh nặng. Ðiều đó khiến ông cố tránh né không muốn gặp Trinh Nữ. Tuy nhiên, đức trinh nữ tìm ông, đảm bảo với ông là người chú sẽ khỏi bệnh, và bảo ông hái các bông hồng quanh đó để làm bằng chứng với vị giám mục. Lúc ấy là mùa đông thì không thể có bông hoa nào mọc được, nhưng lạ lùng thay, gần chỗ Trinh Nữ hiện ra lại đầy dẫy những hoa hồng tuyệt đẹp. Và ông đã dùng chiếc áo tơi của mình để bọc lấy các bông hồng đem cho vị giám mục.

Trước sự hiện diện của đức giám mục, ông Juan Diego mở áo tơi ra và bông hồng đổ xuống tràn ngập khiến vị giám mục phải quỳ gối trước dấu chỉ lạ lùng ấy. Lạ lùng hơn nữa, trên chiếc áo tơi lại có in hình Ðức Trinh Nữ như ngài đã hiện ra với ông ở đồi Tepeyac. Ðó là ngày 12 tháng 12 năm 1531.

Sau đó, người ta không đề cập gì nhiều đến Juan Diego. Có lúc ông sống gần một ngôi đền được dựng ở Tepeyac, được mọi người kính trọng như một giáo lý viên thánh thiện, vô vị lợi và đầy lòng nhân ái qua lời nói cũng như gương mẫu. Ông Juan Diogo qua đời vì già yếu bệnh tật ngày 30 tháng 5 năm 1548 tại Guadalupe, Mexico.

Juan Diego được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước tại Vatican ngày 09 tháng 4 năm 1990. Trong chuyến công du đến Mễ Tây Cơ ngày 06 tháng 5 năm 1990, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xác nhận lại một nghi thức có từ lâu đời nhằm vinh danh Juan Diego qua việc phong chân phước cho ông. Ngài được nâng lên bậc hiển thánh ngày 31 tháng 7 năm 2002 trong một buổi lễ được tổ chức long trọng tại Vương cung Thánh đường Ðức Mẹ Guadelupe, Mexico với khoãng 4.3 triệu người tham dự.

Trong bài giảng Lễ tuyên phong Chân Phước, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Cũng như các nhân vật trong phúc âm xưa đại diện chung cho mọi dân tộc, chúng ta cũng có thể nói rằng Juan Diego đại diện cho những người thổ dân đã chấp nhận Tin Mừng của Ðức Giêsu, nhờ sự trợ giúp của Mẹ Maria, là người luôn luôn sát cánh với hành động của Con Mẹ và sự phát triển của Giáo Hội, như khi ngài hiện diện với các Tông Ðồ trong ngày Hiện Xuống”

(Nguồn: Người Tín Hữu Online) 

From: Do Dzung

Maria ngày xa xưa ấy 

Người Bạn Đời, Bạn Đường Của Một Tổng Thống Mỹ – Đỗ Quân

Đỗ Quân 

Hôm thứ Tư tuần trước, trên chiếc xe lăn đặt sát bên dãy băng ghế đầu tiên của nhà thờ Maranatha Baptist Church ở Plains, (Georgia) có một ông già 99 tuổi ngồi để tiễn đưa người bạn đời 77 năm chung sống.

Ông già đó là Jimmy Carter, vị tổng thống thứ 39 của Hoa kỳ, năm nay 99 tuổi và đang trong tình trạng được chăm sóc cuối đời.

Bà Rosalynn Carter qua đời hôm 19 tháng 11 vừa qua, hưởng thọ 96 tuổi. Bà ra đi để lại người bạn đời và 4 người con, 25 cháu chắt.

Chuyện Mỗi Tuần kỳ này được dành cho bà Eleanor Rosalynn Carter, kể vài nét về cuộc đời, những thành tựu – và thăng trầm, mà hai ông bà chia sẻ với nhau trong gần 8 thập niên. Trong một xã hội mà cá nhân chủ nghĩa được tôn sùng đến mức tối đa, cách giải quyết thông thường nhất khi có mâu thuẫn trong hôn nhân là ly dị, chuyện tuần này có thể bị coi là nhạt, rất nhạt.

Rosalynn nói tại lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của Jimmy: “Qua nhiều năm, chúng tôi không chỉ trở thành bạn bè, người yêu mà còn là người cộng sự. Ông ấy luôn nghĩ rằng tôi có thể làm bất cứ điều gì và vì điều đó, tôi/chúng tôi đã có những cuộc phiêu lưu và thử thách tuyệt vời.”

Biết em từ thuở (anh) lên ba

Eleanor Rosalynn Smith sinh ngày 18 tháng 8 năm 1927 tại Plains, Georgia. Cô là chị cả trong một gia đình có 4 người con. Khi cha cô qua đời vì bệnh bạch cầu, cô mới được 13 tuổi, cô đảm nhận vai trò chăm sóc ba đứa em, đồng thời giúp vào công việc kinh doanh may mặc của gia đình.

Cùng ở thị trấn nhỏ 600 dân đó với Rosalynn là người chồng tương lai của cô. Hai gia đình là hàng xóm. Ngày Rosalynn ra đời, bà Lilian Carter- mẹ của Jimmy, là người y tá đã đến hộ sinh cho bà Smith. Sau đó, bà dẫn cậu Jimmy lúc đó lên ba tuổi đến thăm cô.  Bà Carter kể: “Anh ấy nhìn qua các thanh nôi và trông thấy tôi.”

Hải quân Thiếu úy Jimmy Carter và bà Rosalynn Carter sau hôn lễ

Để rồi họ trở thành đôi vợ chồng sống chung với nhau lâu nhất trong lịch sử các đời tổng thống Mỹ. Họ vừa kỷ niệm lần thứ 77 ngày thành hôn hôm 7 tháng 7 năm nay. Ông Carter cũng giữ kỷ lục vị cựu tổng thống sống thọ nhất,

Rosalynn chú ý đến chàng Jimmy ngay từ thuở thiếu thời. Khi đến chơi với cô bạn thân Ruth Carter, nàng luôn chú ý đến bức ảnh mà Ruth treo trên tường phòng ngủ. Bức ảnh chụp ông anh của Ruth trong đồng phục sinh viên sĩ quan Hải quân. Bà Carter từng thú nhận: “Tôi yêu bức ảnh đó.”

Vào một buổi tối tháng 7 năm 1945, khi Jimmy về nhà trong kỳ nghỉ trước năm cuối cùng tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland, anh cùng cô em gái Ruth, và người bạn trai của cô lái xe vòng vòng trong thị trấn. Jimmy ngồi ở băng ghế gấp phía sau – rumble seat, của chiếc xe Ford mui trần. Hôm đó, anh có một mình. Người đẹp ở thị trấn gần đó mà anh đang hẹn hò lại kẹt trong một buổi họp mặt gia đình.

“Chúng tôi đi vòng vòng quanh thị trấn, tìm việc gì đó để làm, cố gắng tìm một người đẹp để đi chơi chung,”

Họ dừng xe lại bên kia đường trước nhà thờ United Methodist. Jimmy chỉ tay về phiá nhà thờ. Anh trông thấy Rosie đang đứng ở đó, cô vừa dự xong một cuộc họp của giới trẻ. Cô đồng ý với lời mời của Jimmy và nhảy lên băng sau của chiếc Ford.

Họ đi xem phim. Cả hai người đều không ai nhớ tên cuốn phim đêm đó.

Bà Carter kết thúc câu chuyện về đêm đó trong quyển tự truyện “First Lady from Plains”: “Trăng tròn trên bầu trời, cuộc trò chuyện trở nên dễ dàng, và tôi đang yêu… và trên đường về nhà, anh đã hôn tôi!”

Buổi sáng hôm sau, khi được mẹ hỏi đi chơi có vui không, Jimmy trả lời: “Con đi xem xi-nê.”

“Với ai”

“Rosalynn Smith”

“Con nghĩ sao về cô ta?”

“Nàng là người mà con sẽ cưới.”

Chuyện không dễ như thế. Một ngày sau đó, Rosalynn đã tiễn anh tại ga xe lửa để anh trở về  Học viện Hải quân. Họ bắt đầu viết thư cho nhau. Chỉ vài tuần sau, vào tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Rosalynn đã dâng lời cầu nguyện tạ ơn để mừng người yêu sẽ không phải ra trận.

Khi anh về phép vào dịp lễ Giáng sinh cuối năm đó, Jimmy đã ngỏ lời cầu hôn và nàng… từ chối. Trong hồi ký Rosalynn viết: “Mọi chuyện quá nhanh.”  Nàng cho rằng mình còn quá “trẻ và ngây thơ” để lấy chồng. Nhưng chỉ vài tuần sau, khi cùng đi với cha mẹ Jimmy đến Annapolis để thăm anh, Jimmy lại cầu hôn. Lần này nàng gật đầu.

Nàng viết: “Ngay khi tôi về đến nhà, anh ấy đã gửi cho tôi một cuốn sách hướng dẫn ‘The Navy Wife’ (Người vợ hải quân), mà tôi đã nghiên cứu đến từng chi tiết.”

Hàng chục năm sau ngày họ lấy nhau Jimmy Carter vẫn còn thích nhắc đến chuyện mình bị từ chối trong lần cầu hôn thứ nhất và chiến dịch thuyết phục Rosalynn. Năm 2002, khi đoạt giải Nobel Hòa bình, cựu ông Carter nói với Katie Couric trên “The Today Show” rằng thành tích đáng tự hào nhất của ông không phải là giải Nobel hay chức vụ tổng thống Mỹ mà là “Khi Rosalynn nói rằng nàng sẽ lấy tôi.”

Tháng 7 năm 1946, một tháng sau khi Jimmy Carter tốt nghiệp Học viện Hải quân, họ kết hôn. Nàng 18 tuổi và chàng 21 tuổi.

Hôn lễ được tổ chức tại nhà thờ Methodist, chính nơi chàng và nàng có lần hò hẹn đầu tiên.

Ông chủ gia đình 

Rosalynn Carter (phải) làm việc tại văn phòng của đệ nhất phu nhân. Ảnh chụp năm 1977. Photo: Jimmy Carter Presidential Library

Gia đình Carters bắt đầu cuộc sống chung tại căn cứ Hải quân ở Norfolk, sau đó là công việc ở Honolulu và San Diego. Rosalynn thường ở nhà một mình với các con trong khi ông chồng làm việc trên một chiến hạm và sau đó trên các tàu ngầm.

Đời sống gia đình của họ là điển hình của thời kỳ đó, Jimmy xác nhận anh là “boss”. “Phần đầu tiên của cuộc đời chúng tôi, tôi thống trị mọi thứ,  chỉ trừ việc trong nhà…”- ông nói.

Ông Carter nói rằng mãi đến nay ông vẫn còn bị sốc vì chuyện đã không hỏi ý kiến Rosalynn về những lần chuyển việc đầu tiên của mình. “Bây giờ tôi khôn ra rồi!”

Ba con trai của họ – Jack, James III và Donnel – ra đời trong những năm Jimmy còn ở trong Hải quân; cô con gái Amy chào đời 15 năm sau.

Jimmy Carter đã viết trong cuốn sách “Sharing Good Times” (Chia sẻ những lúc vui) của mình rằng trong những năm đầu đó, ông “chưa bao giờ thấy cần thiết phải hỏi ý hoặc sự chấp thuận” của vợ.

Năm 1953, ông trở lại quê nhà để sống bên người cha đang trong những ngày cuối của cuộc đời, và ông Jimmy quyết định rời Hải quân và chuyển gia đình về Plains sinh sống mà không hỏi ý kiến Rosalynn.

Ở Plains, họ chỉ đủ sức dọn vào một ngôi nhà được chính phủ trợ cấp. Và khi Jimmy lãnh việc điều hành nhà kho đậu phộng của người cha, ông ý thức rằng mình không thể tự mình làm tất cả công việc, từ sổ sách văn phòng đến các chuyến thăm nông dân. Thế nên, “Rosalynn bắt đầu điều hành văn phòng cho tôi. Nàng đã theo học một khóa kế toán hàm thụ.”

“Tôi biết nhiều về công việc kinh doanh hơn ông ấy,” Rosalynn nói.

Mở mắt ra 

Cựu TT Jimmy Carter (người đứng) chào mừng người tị nạn Việt Nam.

Bà Carter ngồi sau Tổng thống Gerald Ford. Ảnh chụp năm 1980. Photo: Getty Images

Khi quyết định tranh cử vào Thượng viện tiểu bang vào năm 1962, ông Carter đã không cho vợ biết.

Ông kể rằng vào một buổi sáng khi ông thay quần áo, khoác bộ suit thay vì cái quần jeans xanh thường ngày thì bà bước vào phòng ngủ. Bà hỏi, ‘Jimmy, ai chết vậy? Anh sắp đi dự đám tang à?’”

Bốn năm sau, trong lần tranh cử thống đốc Georgia đầu tiên của ông, mọi chuyện cũng lại diễn ra đúng như thế. Khi ông đang nói chuyện điện thoại ở nhà thì bà Rosalynn đi ngang, ông gọi với ra, bảo vợ sắp valy cho tuần vận động tranh cử sắp tới của ông.

“Đi mà làm lấy đi.”

Câu trả lời đốp chát đó đã gây ngạc nhiên, tức giận và bối rối cho ông Carter, nhưng cũng khiến ông phải nghĩ lại về thái độ của mình. Thế là từ sau đó, ông xác nhận, không có phần nào trong “đời sống kinh doanh, cá nhân hoặc chính trị của chúng tôi mà chúng tôi không chia sẻ trên căn bản tương đối bình đẳng”.

Bắt đầu với nhiệm kỳ thống đốc năm 1970 của Jimmy Carter, bà Rosalynn là cố vấn chính về chính trị và chính sách.

Anh con trai James Carter nhận xét về cha mẹ: “Cha bắt đầu thay đổi khi tranh cử thống đốc, vì mẹ là một chính trị gia giỏi hơn ông rất nhiều. Bà quan tâm đến việc ông được bầu và tái đắc cử, còn ông quan tâm đến Kênh đào Panama.”

Bạn có nhớ?

“WASHINGTON, ngày 5 tháng 7 – Tổng thống Carter đã ra lệnh cho các tàu Mỹ đón những người tị nạn chạy trốn khỏi Đông Dương bằng thuyền và sẽ cho phép những người tị nạn tái định cư ở Hoa Kỳ nếu họ muốn, một giới chức cấp cao của Bộ Ngoại giao cho biết hôm nay.

Một giới chức yêu cầu giấu tên cho biết: “Họ sẽ được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể để xác định xem họ muốn đi đâu. Cơ quan Di trú và Nhập tịch sẽ xúc tiến nhanh hành trình của họ đến các điểm đến, bao gồm cả nơi họ chọn, đến Hoa Kỳ.” …

Trích bản tin trên tờ The New York Times số ra ngày 5 tháng 7, 1978

Năm 1979, tổng thống Jimmy Carter tuyên bố ông sẽ tăng gấp đôi số người tị nạn từ Việt Nam, Campuchia và Lào được nhận vào Hoa Kỳ, từ 7.000 người mỗi tháng lên 14.000 người. Một cuộc thăm dò từ CBS và The New York Times ngày đó cho thấy 62% người Mỹ không tán thành. 

Ngày 17 tháng 3 năm 1980, Tổng thống Jimmy Carter đã ký ban hành Đạo luật Hỗ trợ Người tị nạn và Di cư Đông Dương. Đạo luật này sửa đổi Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch trước đó và thiết lập các thủ tục tiếp nhận người tị nạn vào Hoa Kỳ. Nó cũng quy định việc thiết lập một hệ thống toàn diện và thống nhất để giải quyết và tái định cư người tị nạn. 

Trong nhiệm kỳ của Jimmy Carter, Hoa Kỳ đã tái định cư khoảng 200.000 người tị nạn Việt Nam. 

Các chính sách của Carter không chỉ cung cấp sự cứu trợ ngay lập tức cho những người chạy trốn sự đàn áp mà còn thiết lập một khuôn khổ cho việc tiếp nhận người tị nạn trong tương lai. Những nỗ lực tái định cư đã dẫn tới việc hình thành các cộng đồng người Việt sôi động trên khắp nước Mỹ. Ngoài ra, hành động của Carter đã tạo tiền lệ cho cách giải quyết của Hoa Kỳ đối với các cuộc khủng hoảng người tị nạn và ảnh hưởng đến các chính sách nhập cư và tị nạn sau này. 

Liệu Jimmy Carter có thể đi đến những quyết định đó mà không có ý kiến  của bà Rosalynn Carter?

Người quyền lực thứ hai ở Hoa kỳ trong nhiệm kỳ của Jimmy Carter

Sau khi Rosalynn Carter trở thành làm đệ nhất phu nhân được hai năm, tạp chí Time đã gọi bà là “người quyền lực thứ hai ở Hoa Kỳ”. Nhiều lần, ông Carter gọi bà là equal partner – một người cộng sự bình đẳng. Ông cũng nói rằng bà là một “sự mở rộng hoàn hảo của bản thân tôi”. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1977, Carter thừa nhận rằng bà đã cãi nhau với ông về nhiều chính sách của ông nhưng ông hành động căn cứ trên quyết định của mình và bà  chối không ảnh hưởng đến  những quyết định quan trọng của ông. Về sau, cũng trong một cuộc phỏng vấn, bà Carter nói rằng bà không công khai bày tỏ sự bất đồng với các chính sách của chồng vì tin rằng “sẽ mất hết hiệu quả của tôi với ông ấy” cũng như cho rằng  cử chỉ đó sẽ không giúp thay đổi quan điểm của ông theo quan điểm của bà. Bà nói rằng đệ nhất phu nhân có thể gây ảnh hưởng đến các quan chức hoặc công chúng bằng cách thảo luận hoặc chú ý đến một vấn đề.

Các nhà báo của tờ Washington Post được vợ chồng Carter xác nhận rằng họ thường xuyên bất đồng quan điểm khi ông còn là tổng thống nhưng luôn giữ kín chuyện đó.

“Bà ấy phản đối chính sách của tôi rất nhiều khi tôi còn ở Bạch ốc, nhưng chưa bao giờ công khai”, ông nói.

Bà Carter bắt tay Tổng thống Anwar el-Sadat của Ai Cập trong cuộc đàm phán hòa bình với Thủ tướng Menachem Begin của Israel tại Trại David năm 1979.

Photo: Corbis, via Getty Images

Bà Carter xác nhận: “Chúng tôi thường ngồi trên Ban công Truman vào buổi chiều và nói về những gì chúng tôi đã làm. Tôi đã nói với ông ấy điều tôi nghĩ.” Bà nhất quyết đòi ăn trưa riêng với ông vào thứ Năm hàng tuần tại Phòng Bầu dục.

Ông bắt đầu gọi bà là cố vấn đáng tin cậy nhất của mình và mời bà tham dự các cuộc họp Nội các.

Sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Carter là thành lập một ủy ban tổng thống về sức khỏe tâm thần. Ông đã cố gắng bổ nhiệm Rosalynn làm người đứng đầu ủy ban này, vai trò mà bà đã đảm nhận khi còn là đệ nhất phu nhân Georgia. Nhưng khi các cố vấn đặt câu hỏi về tính hợp pháp và chính trị của việc bổ nhiệm một thành viên gia đình vào vai trò này, họ đã phải thỏa hiệp, Rosalynn trở thành “chủ tịch danh dự” của Ủy ban này.

Bà Carter đã thành lập một Văn phòng Đệ nhất phu nhân chính thức hoàn chỉnh với đội ngũ nhân viên 18 người ở East Wing của Bạch ốc – “Lúc đầu, tôi phải đi ra cửa sau cho đến khi mọi người quen với sự cò mặt của văn phòng này ở đó.”

Bà trở thành đệ nhất phu nhân thứ hai từng ra điều trần tại Quốc hội, sau bà Eleanor Roosevelt.

Gerald Rafshoon, giám đốc truyền thông của Bạch ốc thời Carter cho biết người ta đã đánh giá thấp bà Rosalynn: “Bà ấy thực sự là tai mắt của Jimmy Carter. Và bà là người mà chúng tôi sẽ tìm đến nếu cần giúp Jimmy giải quyết vấn đề gì đó.”

Trong thời gian ở Bạch ốc và cả sau này, bà Carter đóng vai trò cố vấn chính trị cho tổng thống, nhà ngoại giao quốc tế, người đấu tranh cho những người chăm sóc và ủng hộ việc chăm sóc sức khỏe tâm thần – vào thời điểm mà việc điều trị bệnh tâm thần ngang bằng với bệnh thể chất còn là một ý tưởng mới lạ.

Theo Scott Kaufman, giáo sư lịch sử tại Đại học Francis Marion, tác giả quyển “Rosalynn Carter: Equal Partner in the White House” (Cộng sự bình đẳng trong Bạch ốc” năm 2007, nói rằng Carter là một “người mở đường thực sự” và “người đột phá”, đồng thời là “một trong những nhà hoạt động tích cực nhất” trong số những đệ nhất phu nhân trong lịch sử nước Mỹ.

Cách hoạt động của Rosalynn Carter ở vị trí đệ nhất phu nhân được so sánh với Eleanor Roosevelt, người đã xác định lại vai trò của mình hơn 25 năm trước khi gia đình Carters chuyển đến Washington.

Roosevelt là đệ nhất phu nhân đầu tiên điều trần trước Quốc hội – và Rosalynn Carter là người thứ hai, đại diện cho Ủy ban Sức khỏe Tâm thần của Tổng thống với tư cách là chủ tịch danh dự vào năm 1979. Rosalynn Carter là phu nhân Bạch ốc đầu tiên thường xuyên tham dự các cuộc họp nội các của tổng thống, nơi những người đứng đầu các bộ phận điều hành tạo nên vòng tròn cố vấn sâu nhất của họ. Bà cũng là người đầu tiên tự mình gặp gỡ các nhà lãnh đạo nước ngoài, dành 13 ngày ở bảy quốc gia Mỹ Latinh và Caribean.

Kaufman nói rằng mặc dù các đệ nhất phu nhân trước đây đã từng đi công du nước ngoài, nhưng họ thường được coi là “những phái đoàn thiện chí” với những cuộc gặp gỡ xã giao. Rosalynn Carter là “người đầu tiên thảo luận về chính sách kinh tế, kiểm soát vũ khí và buôn bán ma túy” với tư cách là sứ giả của tổng thống. Ông nói: “Đây là những điều mà những người chỉ trích bà cho rằng là vượt quá giới hạn đối với một đệ nhất phu nhân. Nhưng bà Carter biết về các vấn đề đó – thậm chí còn học tiếng Tây Ban Nha để chuẩn bị – và không lùi bước.

Bà Carter đã vận động hành lang để thông qua Equal Rights Amendment (Tu chính án về quyền bình đẳng) để bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả người Mỹ dựa trên giới tính, nhưng do phản ứng dữ dội của phe bảo thủ đối với phong trào nữ quyền ru chính án đó không được thông qua. Bà đã thúc đẩy việc thành lập Văn phòng Đệ nhất phu nhân, giúp xác định lại vai trò đó trong tương lai. Văn phòng này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Bà khuyến khích phụ nữ phục vụ ở tất cả các cấp chính quyền, cả trong và ngoài chính quyền của chồng bà. Jimmy đã bổ nhiệm một số lượng phụ nữ kỷ lục vào ghế thẩm phán liên bang, trong đó có Ruth Bader Ginsburg, người tiếp tục phục vụ tại Tòa án Tối cao.

Với tư cách là chủ tịch ủy ban tổng thống, bà đã ủng hộ việc thông qua Đạo luật Hệ thống Sức khỏe Tâm thần, không ngần ngại kêu gọi các nhà lập pháp chủ chốt của Capitol Hill thúc đẩy việc thông qua đạo luật này. Năm 1987, bà thành lập Rosalynn Carter Institute for Caregivers tại trường cũ của bà, Đại học Southwestern Georgia, tập trung vào việc “xây dựng sự cộng tác giữa các khu vực” và “ủng hộ cho chính sách công” để hỗ trợ cho 53 triệu người chăm sóc của đất nước. Carter cũng viết một số cuốn sách về bệnh tâm thần và cách chăm sóc, gồm quyển “Helping Yourself Help Others: A Book for Caregivers” (Tự giúp mình giúp đỡ người khác: Sách dành cho người chăm sóc) và “Within Our Reach: Ending the Mental Health Crisis.” (Trong tầm tay của chúng ta: Chấm dứt khủng hoảng sức khỏe tâm thần).

Tại Thượng viện Hoa kỳ năm 2011 trước Ủy ban Đặc biệt về Người cao tuổi của Thượng viện, bà Carter đã nói: “Tôi muốn nói rằng trên thế giới chỉ có bốn loại người: Những người từng là người chăm sóc; những người hiện đang là người chăm sóc; những người sẽ là người chăm sóc; và những người sẽ cần đến những người chăm sóc.”

Về bệnh tâm thần, bà nói: “Các bệnh tâm thần cũng là bệnh như bao thứ bệnh khác. Chúng có thể được chẩn đoán và điều trị, và phần lớn những người mắc các bệnh này có thể có cuộc sống trọn vẹn, làm việc, đi học và trở thành thành viên hữu ích trong cộng đồng của họ.”

Bí quyết hôn nhân của gia đình Carter

Kevin Sullivan và Mary Jordan, hai ký giả của tờ Washington Post trong bài viết về vợ chồng cựu tổng thống Carter năm 2021 đã kể rằng ông nhận ra “sự dịu dàng của bà ấy khi chúng tôi tranh cãi” và thấy dễ chịu khi ở bên bà. Ông nói, những bất đồng của họ phần lớn là những chuyện nhỏ nhặt, chẳng hạn như nên xem gì trên TV. “Nhưng chúng tôi không bao giờ đi ngủ trong trạng thái giận dữ.”

Hai ông bà Rosalynn và Jimmy Carter nắm tay nhau trong một dự án làm việc kéo dài một tuần với các thiện nguyện viên khác cho Humanity Habitat năm 2018.
(Robert Franklin/South Bend Tribune/AP)

“Chúng tôi đã nhận ra từ lâu rằng chúng tôi cần chia sẻ mọi thứ. Tôi đã cho bà ấy nhiều riêng tư. Bà ấy làm điều bà ấy muốn, còn tôi làm điều tôi muốn. Nhưng sau đó chúng tôi đã tìm kiếm những thứ mà chúng tôi có thể cùng nhau làm được.”

Sau một nhiệm kỳ ở Bạch ốc, vợ chồng Carter quay trở lại Plains và ngôi nhà mà họ đã xây vào năm 1961. Họ vẫn con trẻ, chỉ mới ngoài 50 và quyết định rằng họ vẫn còn nhiều việc phải làm. Sau đó, họ đã quyên góp được hàng triệu đô la và đi khắp thế giới cho Trung tâm Carter, nơi cổ động cho các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, các sáng kiến y tế cho người nghèo và bình đẳng cho phụ nữ.

Ông được giải Nobel Hòa bình năm 2002 về những gì ông đã làm trong nhiều năm cho hòa bình và nhân quyền.

Ông bà Carter cũng giúp tổ chức bất vụ lợi Habitat for Humanity xây nhà cho những người nghèo trên khắp thế giới.

Ông Carter chơi tennis nên bà cũng đã học chơi. Khi bà 59 tuổi và ông 62 tuổi, họ thử trượt tuyết xuống dốc. Họ cùng nhau đi câu cá từ Montana đến Mông Cổ. Họ đã cùng xác định đến 1.300 loài chim trong nhiều chuyến đi ngắm chim.

Ông nói, sau này thỉnh thoảng ông ở nước ngoài vài ngày mà không có bà vì công việc của Trung tâm Carter. Nhưng họ vẫn giữ thói quen đọc Kinh Thánh cùng nhau hàng đêm trước khi đi ngủ. Họ thường đọc cho nhau nghe trên điện thoại. Hoặc, nếu gặp khó khăn vì chênh lệch múi giờ, họ sẽ đọc một mình, mỗi người biết rằng người kia đang đọc chính xác cùng một câu.

Chương cuối cuộc đời đệ nhất phu nhân đáng kính

Rosalynn và Jimmy Carter trở về nhà sau khi dự tiệc mừng Năm mới 2020
cùng các thân hữu ở Plains, Georgia. Photo: Jill Stuckey

Những gì diễn ra tại Atlanta phản ánh những chương lớn nhất của cuộc đời bà Carter. Hàng ngàn người đưa tang đã đến viếng linh cữu của bà tại thư viện tổng thống Carter, cách Trung tâm Carter mà họ đồng sáng lập chỉ vài bước chân sau khi rời Bạch ốc. Sau đó, tại nhà thờ trường đại học Emory (Atlanta), bà đã được vinh danh trong một buổi lễ tràn ngập âm nhạc với sự có mặt của những đồng đại sứ của tổ chức Habitat for Humanity. Hơn 1.000 giáo dân tập trung chật kín ngôi nhà thờ trang nhã với Tổng thống Joe Biden, cựu Tổng thống Bill Clinton và năm đệ nhất phu nhân cùng với Jimmy Carter và 4 đứa con của họ ngồi ở hàng ghế đầu.

Cuộc chia ly của Rosalynn Carter và Jimy Carter sau 77 năm chung sống chỉ là tạm thời. Tại tang lễ của bà Carter, Amy Carter, con gái của họ, đã thay mặt cha đọc một đoạn trong bức thư mà ông đã viết cho bà cách đây 75 năm:

“Em yêu, mỗi lần anh xa em, anh đều rất xúc động khi quay trở lại và nhận ra em tuyệt vời đến  thế nào. Khi đi xa, anh đã cố thuyết phục mình  rằng em thực sự không thể ngọt ngào và xinh đẹp như anh nhớ. Nhưng khi nhìn thấy em, anh lại yêu em lần nữa. Điều đó có vẻ lạ đối với em không? Nó không xa lạ với anh. Tạm biệt em yêu. Hẹn ngày mai nhé!

Jimmy”

Mộ của bà nằm trong tầm nhìn từ hiên trước ngôi nhà, nơi tổng thống thứ 39 của Hoa kỳ hiện đang sống.

Đỗ Quân 

(tổng hợp từ Washington Post, New Your Times, AP, CNN)


 

Sống chung với tuổi già – Lương Thái Sỹ

Lương Thái Sỹ

Ai cũng tới lúc già đi, hãy sẵn sàng “sống chung với tuổi già”. (minh họa: Unsplash)
“Ôi cái bụng bự của tôi”, “Dạo này cứ 3, 4 giờ sáng là thức”, “Giời ạ, cứ nhớ trước quên sau, hay bị mất trí nhớ rồi ta!”… Đó là dấu hiệu bạn đang bước vào quá trình lão hóa.
Sanh-lão-bệnh-tử, bình thường, ai cũng phải qua bốn bước. Vậy bạn phải chấp nhận tuổi già sẽ ập đến.
Bao nhiêu người trong chúng ta muốn có một hướng dẫn đáng tin cậy với bằng chứng cụ thể về quá trình lão hóa, khi cơ thể và tâm trí sẽ thay đổi theo tuổi già và cách thích ứng với “bình thường mới”? Đó là một thách thức lớn. Lý do, quá trình lão hóa làm thay đổi con người diễn ra dần dần qua nhiều thập niên và được định hình bởi hoàn cảnh kinh tế xã hội của mỗi cá nhân; khu vực sống, cách sống và các yếu tố khác nữa.
Ngoài ra, dù chúng ta có các vấn đề sinh lý chung khi già đi, nhưng không theo cùng lộ trình mù mịt phía trước. Bác sĩ Rosanne Leipzig, phó Chủ tịch giáo dục tại Khoa Lão khoa và Y học Giảm nhẹ Brookdale tại Trường y Icahn School of Medicine ở Mount Sinai, New York, nhận định: “Những thay đổi có thể dự đoán được không nhất thiết phải xảy ra cùng lúc hoặc theo cùng một trình tự. Những người lớn tuổi là nhóm không đồng nhất nhất trong các nhóm tuổi khác nhau”.
Leipzig, 72 tuổi, đang dành ra toàn thời gian để giảng dạy nội trú và nghiên cứu sinh cũng như khám bệnh cho bệnh nhân vừa xuất bản cuốn sách mới “Honest Aging: An Insider’s Guide to the Second Half of Life” được đánh giá là “Cuộc kiểm tra toàn diện nhất về những gì sẽ xảy ra trong nhiều chục năm khi chúng ta già dần”.
Leipzig có hai mục tiêu khi viết hướng dẫn này. Thứ nhất là “Để vượt qua tất cả những suy nghĩ tiêu cực về lão hóa”. Thứ hai là “Để giúp mọi người hiểu rằng có rất nhiều điều người già có thể làm trong việc thích nghi với trạng thái bình thường mới để có cuộc sống chất lượng hơn và có ý nghĩa”.
Khi được hỏi tại sao tựa sách lại có cụm từ “Honest Aging” (Tuổi già trung thực), bà giải thích: “Bởi vì có quá nhiều thứ dạy cách thích nghi với tuổi già là không đáng tin cậy. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên tự nhủ: Già đi chính là ‘mặc định’ của loài người và thừa nhận chúng ta thật may mắn khi có thêm được ngần ấy năm sống với tuổi già”.
Mức tăng tuổi thọ của con người là phi thường trong thời kỳ hiện đại. Với những tiến bộ trong y học và sức khỏe cộng đồng, số người từ 60 tuổi trở lên đông hơn rất nhiều so với đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, đa số chúng ta đều thiếu hiểu biết rõ ràng về những gì xảy ra với cơ thể mình trong một khoảng thời gian đôi khi rất dài sau tuổi trung niên.
Khi được hỏi, những câu hỏi nào người lớn tuổi thường hỏi nhất? Leipzig đưa ra một danh sách: Tôi có thể làm gì với cái bụng phệ này? Làm thế nào tôi có thể cải thiện giấc ngủ? Tôi gặp khó khăn khi nhớ tên và đây có phải là chứng mất trí nhớ? Tôi có thực sự cần nội soi hoặc chụp quang tuyến vú không? Tôi nên làm gì để lấy lại vóc dáng? Tôi có cần phải ngừng lái xe?”
Đằng sau những câu hỏi này là sự hiểu biết kém về những thay đổi ‘không thể tránh khỏi’ về thể chất và tinh thần mà tuổi già mang lại – bà nói và khẳng định – Các giai đoạn lão hóa không thể chia nhỏ theo từng thập niên. Những người ở độ tuổi 60 và 70 có sự khác biệt đáng kể về sức khỏe và chức năng.

Người cao tuổi tập thể dục với tạ gỗ trong sự kiện nâng cao sức khỏe nhân ‘Ngày tôn trọng người cao tuổi’ của Nhật Bản tại quận Sugamo, Tokyo vào ngày 19 Tháng Chín, 2016 ở Tokyo, Nhật Bản. (ảnh: Yuya Shino / Getty Images)

Thông thường, những thay đổi có thể dự đoán được liên quan đến quá trình lão hóa diễn ra nhiều hơn ở độ tuổi từ 75 đến 85”. Leipzig lên danh sách các vấn đề liên quan đến tuổi tác cần chú ý:
-Người lớn tuổi thường có các triệu chứng khác với người trẻ tuổi khi bị bệnh. Ví dụ, người lớn tuổi bị đau tim có thể khó thở hoặc lú lẫn thay vì đau ngực. Người lớn tuổi bị viêm phổi có thể bị ngã hoặc chán ăn thay vì sốt và ho.
-Người già thường phản ứng khác với người trẻ với thuốc và rượu. Do những thay đổi về thành phần cơ thể và chức năng gan, thận, ruột, người lớn tuổi nhạy cảm hơn với thuốc và thường dùng liều lượng thấp hơn, kể cả các loại thuốc sử dụng đã nhiều năm.
-Người già giảm dự trữ năng lượng. Khi tuổi càng cao, tim hoạt động càng kém hiệu quả; phổi chuyển ít oxy vào máu hơn và cần nhiều protein hơn để tổng hợp cơ. Khối lượng cơ và sức mạnh cũng giảm. Kết quả, người già có ít năng lượng hơn lúc còn trẻ, ngay cả lúc cần nhiều năng lượng hơn để làm các công việc hàng ngày.
-Đói và khát cũng giảm dần. Vị giác và khứu giác của con người giảm sút, khiến món ăn bớt sức hấp dẫn. Chán ăn phổ biến hơn ở người cao tuổi và người già dễ no hơn dù ăn ít hơn. Nguy cơ mất nước tăng lên.
-Nhận thức chậm lại. Người lớn tuổi xử lý thông tin chậm hơn và phải mất nhiều thời gian hơn để hiểu thông tin mới. Đa nhiệm cũng khó khăn hơn, phản ứng chậm hơn và khó tìm đúng từ (đặc biệt là danh từ) hơn. Những thay đổi về nhận thức do thuốc và bệnh tật xảy ra thường xuyên hơn nhưng đa số là bình thường và không phải dấu hiệu của bệnh mất trí nhớ.
-Hệ thống cơ xương kém linh hoạt. Do các gai ngắn lại, các đĩa đệm ngăn cách các đốt sống cứng hơn và bị nén nhiều hơn, người lớn tuổi thường giảm chiều cao từ 1 đến 3 inch. Khả năng giữ thăng bằng bị giảm do những thay đổi ở tai trong, não và hệ thống tiền đình (một hệ thống phức tạp điều chỉnh sự cân bằng và ý thức về cảm giác). Người già định hướng không gian đường phố kém dần. Các cơ ở chân, hông và mông suy yếu và phạm vi chuyển động của các khớp hẹp dần. Gân và dây chằng không còn khỏe nữa. Té ngã và gãy xương thường xuyên hơn do xương giòn hơn.
-Thị lực và thính giác thay đổi. Người già cần nhiều ánh sáng để đọc hơn người trẻ. Họ khó nhìn thấy đường viền của các vật thể hoặc khó phân biệt giữa các màu gần giống vì khả năng nhận thức về màu sắc và độ tương phản đã suy giảm.
Do những thay đổi ở giác mạc, thủy tinh thể và chất lỏng trong mắt, mắt sẽ mất nhiều thời gian hơn để thích nghi với ánh sáng mặt trời cũng như bóng tối. Do các tế bào lông ở tai trong bị tổn thương nên người già khó nghe hơn, đặc biệt là ở tần số cao. Cũng khó hiểu được câu nói nhanh, câu nói chứa nhiều thông tin hoặc nói trong môi trường ồn ào.
-Giấc ngủ rời rạc. Người lớn tuổi mất nhiều thời gian hơn để chìm vào giấc ngủ và thức giấc nhiều hơn vào ban đêm.
Để giảm nhẹ các ảnh hưởng trên, Leipzig đề nghị các điều chỉnh người già nên làm.
-Đừng bỏ qua những thay đổi đột ngột trong chức năng vận động mà cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
-Mỗi lần đến gặp bác sĩ, hãy hỏi thuốc đang dùng liều lượng đã phù hợp chưa và có thể ngừng loại thuốc nào.
-Hãy chịu khó vận động thể chất nhẹ.
-Hãy chắc chắn đã ăn đủ chất đạm, uống đủ nước ngay cả khi không thấy khát.
-Giảm bớt đa nhiệm và làm việc theo khả năng của mình.
-Thực hiện các bài tập thăng bằng.
-Hãy kiểm tra mắt hàng năm.
-Dùng trợ thính nếu thấy khó trò chuyện.
-Không tập thể dục, uống rượu và ăn nhiều trong hai đến ba giờ trước khi đi ngủ.
Cuối cùng, “Đừng bao giờ nói ‘không bao giờ’ vì luôn có cách cải thiện tình trạng thể chất và tinh thần khi chúng ta già đi. Vấn đề là bạn phải luôn sẵn sàng sống chung với tuổi già,” Leipzig kết luận.

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen


 

TRƯỚC LÚC RA ĐI !

Trước khi qua đời ở tuổi 40 vì chứng bệnh ungthư dạ dày, nhà thiết kế và tác giả thời trang nổi tiếng thế giới “Kyayda Rodriguez” đã viết:
1. Tôi có chiếc ô tô thương hiệu đắt nhất thế giới trong ga ra của mình nhưng giờ tôi phải di chuyển bằng xe lăn.
2. Nhà tôi có đầy đủ các loại quần áo hàng hiệu, giày dép và đồ có giá trị. Nhưng giờ cơ thể tôi được bọc trong một tấm vải nhỏ do bệnhviện cung cấp.
3. Tôi có nhiều tiền trong ngân hàng. Nhưng giờ tôi không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ số tiền này.
4. Ngôi nhà của tôi giống như một cung điện nhưng giờ tôi đang nằm trên chiếc giường đôi trong bệnhviện.
5. Tôi có thể đi từ khách sạn năm sao này sang khách sạn năm sao khác. Nhưng giờ tôi dành thời gian trong bệnh viện để di chuyển từ phòng xét nghiệm này sang phòng xét nghiệm khác.
6. Tôi đã tặng chữ ký cho hàng trăm người nhưng giờ đây, ghi chú của bác sĩ là chữ ký dành cho tôi.
7. Tôi có bảy người thợ làm tóc để trang điểm cho mái tóc của mình nhưng bây giờ – tôi không còn một sợi tóc nào trên đầu.
8. Trên chuyên cơ riêng, tôi có thể bay đến bất cứ đâu tôi muốn. Nhưng bây giờ tôi cần sự giúp đỡ của hai người để dìu đến cổng bệnhviện.
9. Dù có nhiều thức ăn nhưng bây giờ khẩu phần ăn của tôi chỉ là ngày hai viên và tối nhỏ vài giọt nước muối.
Ngôi nhà này, chiếc xe hơi này, chiếc máy bay phản lực này, đồ đạc này, rất nhiều tài khoản ngân hàng, rất nhiều danh vọng và tiếng tăm, không có cái nào phù hợp với tôi cả. Không gì trong số này có thể giúp tôi nhẹ nhõm. “Không có gì là thật ngoài cái chết.”.
CUỐI CÙNG THÌ ĐIỀU QUÝ GIÁ NHẤT CHÍNH LÀ SỨC KHỎE.
ST
Mong bình an cho mình cho gia đình mình cho mọi người cho cả thế giới

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen


 

BAY CAO VÚT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng!”.

Trong “Living for Eternity”, “Sống Cho Vĩnh Cửu”, Dave Breese so sánh: “Giá mà Ađam Eva giữ được trạng thái ban đầu! Tiếc thay, họ đã khuất phục con rắn! Trước đó, trong trạng thái nguyên sơ đẹp đẽ, họ tồn tại ở một mức độ cao hơn nhiều so với loài người bây giờ. Thật khó để hình dung con người lúc đó! Giờ đây, xem ra nó đang cố tạo lại phiên bản gốc của mình như tái tạo một chiếc máy bay từ đống đồng nát. Và nếu không biết gì về việc bay, khó có thể ngờ rằng, nó đã từng bay! Vật liệu giống nhau; tuy nhiên, khả năng bay không còn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Vật liệu giống nhau; tuy nhiên, khả năng bay không còn!”. Nhận xét của Breese thật sâu sắc, tinh tế! Tuy nhiên, với ân sủng của Thiên Chúa, mọi vật vẫn có thể được tái tạo, có thể bay trở lại và ‘bay cao vút!’. Đó là một sự thật hấp dẫn khơi gợi niềm cảm hứng và hy vọng cho bạn và tôi trong ngày mừng kính Đức Trinh Nữ Maria, Vô Nhiễm Nguyên Tội!

Các bài đọc tường thuật hai cuộc đối thoại của hai bà mẹ với Chúa. Eva, mẹ của ‘cuộc đối thoại mất mát’ khi đang trần truồng, phải ẩn núp vì sợ ánh sáng. Đó là cuộc đối thoại chạy tội đầy sợ hãi. Ađam đổ lỗi cho Eva, Eva đổ lỗi cho con rắn và kết quả, hai ngài bị đuổi khỏi địa đàng. Một cuộc đối thoại xúi quẩy mà kết quả là nguyên tổ và hậu duệ “mất khả năng bay!”. Tuy nhiên, giữa khoảnh khắc bẽ bàng đó, Thiên Chúa vẫn không tài nào giấu được cảm xúc và lòng thương xót khi Ngài nói với con rắn, “Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó, người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi”. Đó là ‘tiền Phúc Âm’, một lời hứa. Và Thiên Chúa đã thực hiện điều Ngài hứa!

Maria, người mẹ thứ hai, mẹ của ‘cuộc đối thoại được lại’, khoác phẩm phục chói ngời nhân đức của “Đấng đầy ân sủng”. Mẹ mở toang cửa nhà, mở rộng cõi lòng, thưa “Xin vâng!”. Để từ đó, con người đã bị đuổi được vào lại nhà Cha, nhờ sự chết và phục sinh của Đấng Mẹ cưu mang. Thiên Chúa là tình yêu! Thiên Chúa lớn hơn con người; tình yêu lớn hơn sự chết; lòng thương xót lớn hơn tội lỗi! Đó là một cuộc tái tạo “phiên bản gốc”, cuộc tạo dựng mới mẻ kỳ vĩ! Thánh Vịnh đáp ca diễn tả, “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công!”. Với cuộc đối thoại thứ hai, con người biết rằng, với ân sủng Chúa, nó vẫn có khả năng bay trở lại và ‘bay cao vút!’. Phaolô xác thực niềm vui đó qua bài đọc hai, “Trong Đức Kitô… trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người!”.

Anh Chị em,

“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng!”. Không chỉ Đức Mẹ đầy ân sủng, cả chúng ta cũng đầy ân sủng! Từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, mặc lấy Chúa Kitô, chúng ta “không thiếu một ơn nào”. Vì thế, chừng nào sống trong ơn nghĩa Chúa, nghĩa là sống trong tình trạng sạch tội và quyết tâm làm theo ý muốn của Ngài, chúng ta vẫn có thể ‘bay cao vút’ như Đức Mẹ. Qua mọi thời, các thánh đã bay cao, bao tâm hồn quảng đại không sống cho mình nhưng chỉ sống cho Chúa đã bay cao. Ngược lại, một khi nuông chiều xác thịt, liều lĩnh đánh mất ơn nghĩa Chúa và phạm tội, thì tuy “vật liệu giống nhau, khả năng bay đã không còn!”. Mùa Vọng, mùa tìm lại khả năng bay!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con chỉ là một đống đồng nát. Những ngày Mùa Vọng, giúp con tìm đến suối Hoà Giải, tắm gội trong ân sủng, hầu con có thể tiếp tục bay trở lại, ‘bay cao vút!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Kim Bang Nguyen


 

KÍN ĐÁO VÀ THẦM LẶNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thấy đoàn lũ dân chúng, Ngài động lòng xót thương họ!”.

Từ nhật ký của một tử tù, người ta đọc được những lời này, “Lạy Chúa, Ngài làm con bầm dập; nhưng con vô cùng mãn nguyện, vì việc con phải bầm dập đến từ tay Ngài! Chúa kín đáo sửa phạt con, nhưng thầm lặng chữa lành con! Ôi, Đấng ‘kín đáo và thầm lặng’ yêu thương con miên viễn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Đấng ‘kín đáo và thầm lặng’ yêu thương con miên viễn!”. Sẽ khá bất ngờ khi tâm tình của người tử tù được gặp lại qua hai bài đọc hôm nay. Lời Chúa phản ánh rõ nét một trong những tính cách của Thiên Chúa, ‘kín đáo và thầm lặng!’. Ngài kín đáo sửa dạy, Ngài thầm lặng chữa lành! Matthêu viết, “Thấy đoàn lũ dân chúng, Ngài động lòng xót thương họ!”.

Bài đọc Isaia tiết lộ, Thiên Chúa âm thầm chữa lành dân, một dân ngỗ nghịch đã bị Ngài đánh phạt, “Ngươi sẽ không còn phải khóc nữa. Khi ngươi kêu cứu, Người sẽ thi ân giáng phúc!’”. Đó là ngày “Chúa băng bó vết thương cho dân, và chữa lành những chỗ nó bị đánh”. Thánh Vịnh đáp ca viết, “Hạnh phúc thay mọi kẻ đợi chờ Chúa!”; họ chờ đợi Ngài hồi hương, băng bó và chữa lành!

Với bài Tin Mừng, lời Thiên Chúa hứa trở nên hiện thực. Matthêu cho biết, Chúa Giêsu thường xuyên di chuyển! “Ngài đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”. Ngài bày tỏ lòng trắc ẩn sâu xa đối với tất cả những ai bị loại trừ, những kẻ mất phương hướng. Đó là những ai đang “lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn”. Ngài là vị mục tử dẫn dắt họ về nơi họ thuộc về.

Thứ đến, Chúa Giêsu kín kẽ thổ lộ với các môn đệ về một mùa gặt lớn đang đợi họ. Có thể nói, Ngài cần sự giúp đỡ. Vụ mùa vẫn bội thu và nhu cầu thợ gặt vẫn lớn hơn bao giờ hết. Đó không là công việc của riêng ai, nhưng là sứ vụ chung của mọi Kitô hữu. Từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, mỗi chúng ta là thợ gặt vốn có thể đến một góc của cánh đồng vốn không ai có thể thay thế. Những người này bao gồm gia đình tôi, hàng xóm, đồng nghiệp và những con người bước vào đời tôi. Tôi có thể là người duy nhất âm thầm mang sự chữa lành và lòng trắc ẩn của Chúa vào cuộc sống họ.

Anh Chị em,

“Ngài động lòng xót thương họ!”. Để có thể ‘ra tận cánh đồng’, nhất định chúng ta phải có một tấm lòng thương xót như Chúa Giêsu! Thật tuyệt vời, Ngài còn tiết lộ cho chúng ta một bí quyết ‘ra tận cánh đồng’ không kém hiệu quả khác. Đó là cầu nguyện, “Hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về!”. Lửa truyền giáo còn được khám phá trong việc âm thầm cầu nguyện. Nhờ cầu nguyện mỗi ngày, bạn gần Chúa Giêsu hơn; và Ngài cũng nói với bạn như đã nói với các môn đệ, “Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ!”. Với bạn, ai là người bại liệt; ai là người chết, phong hủi và quỷ ám? Rất có thể họ là những người chung quanh bạn, ở mức độ này hay mức độ khác. Hãy tìm họ, ‘kín đáo và thầm lặng’ tiếp cận họ, chia sẻ Chúa Kitô với họ, và ở đó vì họ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, gửi con ‘ra tận cánh đồng’ cho những ai bầm dập nhất. Cho con xác tín, Chúa đang ‘kín đáo’ dõi mắt nhìn họ, đang ‘thầm lặng’ ngước mắt nhìn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

MẸ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Tác giả:  Trần Mỹ Duyệt

Mẹ triển dương như cây hương nam trên núi Libanô.

Như cây trắc bá trên đồi Sion.

Mẹ đứng cao như cây thiên tuế xứ Cades.

Như vườn hồng Jêricô.

Mẹ triển dương như Ôliva ngoài đồng,

Như cây tiêu bên suối nước công viên.

Mẹ tỏa hương thơm ngát như trầm hương.

Cao quý như mộc dược cung kính.

Ôi! Maria! [1]

Giáo Hội Công Giáo theo nghi lễ Latin đang hân hoan cử hành thánh lễ trọng thể kính đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ. Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội là một trong 4 đặc ân mà Thiên Chúa chỉ ban cho một mình Đức Mẹ, gồm: Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội, Trọn Đời Đồng Trinh, Mẹ Thiên Chúa, và Hồn Xác Về Trời. Với lý luận tự nhiên, con người không dễ đón nhận những đặc ơn này, và vì thế, Giáo Hội đã tuyên tín, và buộc rằng đây là những điều phải tin mặc dù trí khôn cũng như sự hiểu biết thông thường không thể giải thích được.

Nhiều người vẫn thường hiểu lầm giữa việc Đầu Thai Vô Nhiễm Tội với việc Mẹ sinh Chúa Giêsu mà vẫn còn đồng trinh. Ngoài ra, thêm một hiểu lầm nữa cho rằng, với đặc ân này, Mẹ Maria thụ thai mà không cần sự phối hợp sinh lý của cha mẹ.

Con người tự nhiên khi thụ thai là lúc linh hồn do Thiên Chúa tạo dựng được phú vào thân xác. Qua đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria được miễn trừ khỏi mọi tỳ vết của tội Nguyên Tổ ngay từ giây phút đầu tiên của hành động kết hợp này. Và nhờ ơn thánh hóa đã được ban cho trước khi tội Nguyên Tội có thể ảnh hưởng đến linh hồn của Mẹ. Vì vậy, ngay từ giây phút đầu thai, Mẹ đã được miễn trừ khỏi lây vướng Tội Nguyên Tổ. Thánh Kinh không trực tiếp nói về tín điều thụ thai Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ. Nhưng Giáo Hội đã suy niệm và tìm thấy trong Kinh Thánh những dấu chỉ liên quan đến sự việc này. Và việc Mẹ Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội chính là để bảo đảm việc Mẹ mang thai và sinh hạ Chúa Giêsu sau này.

Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội là một tín điều chỉ rằng Đức Trinh Nữ Maria được Chúa cho miễn trừ khỏi Tội Nguyên Tổ ngay từ giây phút đầu thai. Tín Điều này đã được tuyên tín năm 1854, bởi Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX trong Sắc Lệnh Ineffabilis Deus.

Vậy Tội Nguyên Tổ là gì? Và tại sao Đức Maria lại được ơn đầu thai Vô Nhiễm Nguyên Tội?

TỘI NGUYÊN TỔ LÀ GÌ?

Tội Nguyên Tổ là từ ngữ được sử dụng để chỉ tội đầu tiên do Adong và Evà đã phạm vì bất phục tùng Thiên Chúa. Nó được gọi là “nguyên tổ” bởi nó là tội đầu tiên do nguyên tổ loài người phạm phải.

Thừa hưởng di sản từ nguyên tổ, con người khi sinh ra đã không có khả năng chống lại các cơn cám dỗ và ham muốn dục vọng. Tội Nguyên Tổ như một căn bệnh thiêng liêng vì nó kháng cự lại lề luật của Thiên Chúa. Hậu quả trước hết của nó là làm mất ơn thánh hóa, tách lìa sự sống thần linh khỏi Thiên Chúa. Thứ đến, nó dẫn đến việc thiếu hiểu biết, thiếu ý chí, và dễ sa ngã trước những đam mê thấp hèn. “Tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác thì yếu đuối” (Mt 26,41). Hậu quả sau cùng là sự chết, là mất sự sống đời đời. [2]

Tội Nguyên Tổ là một giáo lý của Kitô giáo, nó cho biết rằng con người từ khi sinh ra đã thừa hưởng một bản chất hư hoại bằng sự nối kết với hành động của nguyên tội truyền từ đời này sang đời khác. Niềm tin này bắt nguồn từ Thánh Kinh qua Sáng Thế Ký 3, trong Thánh Vịnh 51:5, và trong Thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Roma 5:12-21.

Theo Thánh Augustine, mọi người đều được sinh ra trong tội. Điều này có nghĩa là con người ta sinh ra với bản năng để làm điều xấu và bất tuân phục Thiên Chúa. Đây là một giáo lý quan trọng của Kitô giáo. Ý tưởng về Tội Nguyên Tổ được diễn tả bởi Thánh Augustine và được hình thành như một phần của giáo lý Công Giáo bởi Công Đồng Trent vào thế kỷ thứ 16. Nó không chỉ là một căn bệnh di truyền thiêng liêng nơi bản chất con người; nó cũng còn là một lời ‘nguyền rủa’ đi liền với hành động này.

Là một sự bất toàn tinh thần và điều kiện tâm lý của con người. Ngay ở một trẻ sơ sinh, tuy không làm gì nhưng cũng đã b vướng lây. Nguyên Tội là kết quả của sự bất tuân phục của Ađam và Evà khi họ ăn trái cấm trong vườn Địa Đàng. Như vậy, Đầu Thai Vô Nhiễm Tội đối với Đức Maria có nghĩa là Mẹ tuy được thụ thai và đem vào thế gian này một cách tự nhiên, nhưng không mang tỳ vết và hậu quả của Nguyên Tội. Từ ngữ  “tinh khiết” (immaculate) có nghĩa là: không tỳ vết. [3]

MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Giáo Lý Công Giáo dạy rằng: “Để trở thành mẹ của Đấng Cứu Thế, Maria ‘được làm giầu bởi Thiên Chúa bằng những ơn huệ thích hợp cho địa vị này.” Trong giây phút truyền tin, Tổng Thần Gabriel đã chào mừng Mẹ “đầy ơn phúc”. Thật vậy, để Đức Maria được tự do chấp thuận bằng đức tin của mình đối với lời truyền tin về ơn gọi của Mẹ, cần thiết rằng, Mẹ phải được sinh ra hoàn hảo bằng ân sủng của Thiên Chúa” (Số 490). Và “Qua nhiều thế kỷ, Giáo Hội đã nhận ra rằng Đức Maria, “đầy ơn phúc” nhờ ơn Thiên Chúa, đã được cứu độ từ giây phút thụ thai của Mẹ (Số 491). Tín lý về Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria đã được Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX tuyên tín năm 1854:

 Trinh Nữ Maria rất thánh, ngay từ giây phút đầu hoài thai, bởi một ân sủng đặc biệt và một đặc ân của Thiên Chúa Toàn Năng, và bởi nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế của nhân loại, được gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi vết nhơ của tội Nguyên Tổ.

Mẹ Maria không bao giờ phạm tội. Bởi vì ơn cứu độ đã được áp dụng cho Mẹ ngay từ lúc hoài thai. Mẹ không chỉ được che chở khỏi vương mắc tội Nguyên Tổ, nhưng còn cả tội riêng của mình. “Các Giáo Phụ theo truyền thống Đông Phương đã gọi Mẹ Thiên Chúa “Đầy Thánh Đức” (Panagia) và tán dương Mẹ như “không vương bất cứ tỳ vết nào của tội, được bao bọc bởi Chúa Thánh Thần, và được tạo dựng như một tạo vật mới”. Bởi ân sủng của Thiên Chúa, Đức Maria giữ mình khỏi mọi tội riêng trong suốt đời sống của người. “Xin hãy thực hiện nơi tôi như lời ngài…” (Số 493)

“Vinh quang của sự thánh thiện hoàn toàn đặc biệt” bởi đó Đức Maria “đầy tràn từ giây phút đầu tiên của việc Mẹ được hoài thai” đến một cách đầy đủ từ Chúa Kitô: Mẹ được “cứu chuộc, và trong sự bao bọc phi thường, bởi nguyên nhân đáng hưởng của Con của mẹ”. Cũng trong Sách Giáo Lý dạy rằng: “Từ những con cháu của Evà, Thiên Chúa đã chọn Đức Trinh Nữ Maria làm mẹ của Con của Ngài. “Đầy ơn phúc”, Đức Maria là “hoa trái tuyệt vời nhất của ơn cứu chuộc” (SC 103): từ giây phút đầu tiên hoài thai, Mẹ đã được hoàn toàn miễn trừ khỏi vết nhơ tội Nguyên Tổ và ở giữa trong sạch khỏi mọi tội riêng mình trong suốt cuộc đời Mẹ” (Số 508).

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết về Ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ dưới nhãn quan Thánh Mẫu Học: “Khi suy niệm mầu nhiệm này trong một nhãn quan Thánh Mẫu, chúng ta có thể nói rằng, “Đức Maria, theo Con của mình, là một hình ảnh tinh tuyền nhất của sự tự do và giải thoát của nhân loại và của vũ trụ. Vì mẹ như Người Mẹ và Mô Phạm mà Giáo Hội phải nhìn lên để hiểu cách hoàn toàn ý nghĩa của nó trong sứ vụ riêng của Mẹ”. [4]

Và: “Chúng ta hãy ngắm nhìn lên Mẹ Maria, biểu tượng của Giáo Hội lữ hành trong một lịch sử hoang vu, nhưng trên con đường của Mẹ dẫn tới một đích đến vinh quang của Giêrusalem trên trời, nơi đó, Giáo Hội sẽ chiếu sáng như Tân Nương của Con Chiên, Chúa Kitô”. [5]

Vì không bị mắc Tội Tổ Tông, nên những đam mê, dục vọng của Đức Mẹ luôn được kiểm soát bởi sự hiểu biết và ý chí của Người. Cái chết và việc đánh mất sự sống đời đời là những hậu quả sau cùng của tội nguyên tổ. Thiên Chúa đã ban tặng cho con người món quà tuyệt vời là sự sống đời đời mà vì sự hủ bại của tội đã đánh mất điều đó. Vì vậy đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội là một đặc ân mà Ngài chỉ dành riêng cho một mình Đức Mẹ, đấng làm mẹ và sinh ra Chúa Giêsu, Chúa Cứu Chuộc con người khỏi ách tội lỗi, khỏi sự thống trị của Satan.

__________

Tài liệu tham khảo:

  1. Mẹ triển dương. Lm. Vinh Hạnh.
  2. https://dcvphanxicoxavie.com/vn/Than-Hoc/Toi-Nguyen-To-La-Gi.html
  3. Catholic Answers

https://www.catholic.com › tract › immaculate-concept.

4.Congregation for the Doctrine of the Faith, Libertatis conscientia, 22 March, 1986, n. 97; cf. Redemptoris Mater, n. 37.

5.General Audience, March 14, 2001.


 

Thái Hạo: Khi nhà khoa học nước ngoài không được lưu trú tại tư gia ở Việt Nam

Tiếng Dân News  ·

Có một vị giáo sư đầu ngành và nổi tiếng thế giới về Ngôn ngữ học, là người Mỹ gốc Việt, nhân dịp xuất bản hai cuốn sách về tiếng Việt, thì được các trường đại học lớn của Việt Nam như ĐH Sư Phạm Hà Nội, ĐHSP Đà Nẵng, ĐH Ngoại ngữ Huế, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM… tha thiết mời nói chuyện học thuật cho sinh viên, giảng viên.

Hôm nay, sau khi nói chuyện ở trường đại học Hồng Đức (Thanh Hóa) vị ấy cùng đại diện nhà xuất bản ghé qua nhà tôi chơi, ngồi chưa ấm chỗ thì công an tới làm việc về vấn đề cư trú.

Vị giáo sư ấy năm ngoái cũng được trường Hồng Đức mời nhưng không thể thu xếp được, lần này mới “bén duyên”. Chị nói, nếu không có tôi (Thái Hạo) ở Thanh Hóa thì cũng chẳng bao giờ có cơ hội đến trường Đại học Hồng Đức để nói chuyện được. Hôm nay chị chia sẻ đề tài “Giọng Thanh Hóa trong tương quan với vần Quảng Nam và thanh điệu Bắc”. Sau buổi nói chuyện, một vị phó giáo sư còn có đề nghị rằng mong muốn tác giả sẽ đóng góp cho tỉnh Thanh Hóa bằng một công trình, và sẽ liên hệ với lãnh đạo tỉnh để thu xếp đề án này.

Sáng nay nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Công cũng đến dự buổi trao đổi học thuật của vị giáo sư đã nhắc, và anh nói với tôi rằng, những phát hiện của nhà khoa học này quá độc đáo và nó cần một công trình nghiên cứu xứng đáng. Hơn nữa, theo anh, đề tài này phải được cấp tỉnh quan tâm và đầu tư nghiêm túc…

Thế nhưng…

Chiều nay, trên cổng thông tin của Đại học Hồng Đức, khi những lời cảm ơn còn chưa ráo mực thì bây giờ, sau khi công an vào làm việc, lập biên bản và nêu quy định tại nhà tôi, vị giáo sư ấy đã vừa phải đi thuê khách sạn rồi, vì theo lời cán bộ công an (tên là Nguyễn Văn Sơn), ở khu vực này, người nước ngoài không được lưu trú tại tư gia người khác.

Nếu luật quy định như thế (?) thì với tinh thần luôn tôn trọng luật pháp, mọi người đã chấp hành. Tuy nhiên, là một học giả thường xuyên về Việt Nam để trao đổi học thuật và đã lưu trú ở nhiều địa điểm khác nhau, vị giáo sư rất bất ngờ trước “quy định” này. Bản thân tôi cũng lần đầu tiên nghe đến, nên thật sự băn khoăn về một quy định nhiều bất cập như thế (nếu nó có thật), nên đăng lên đây để tham khảo ý kiến của những người am hiểu luật pháp.

Dù thế, vị giáo sư là bạn tôi thì vẫn bất ngờ và buồn mãi. Vì chị đã bước vào nhà tôi với tâm trạng vui mừng, phấn chấn bởi một buổi nói chuyện nhiều ý nghĩa và cả những tiếp đón chu đáo hết mực của Đại học Hồng Đức. Chị cũng đã nghĩ đến việc viết một cuốn sách về “tiếng Thanh Hóa” sau đề nghị của vị phó giáo sư trường sở tại, nhưng giờ chị bảo không còn tâm trạng nào nữa…

BAOTIENGDAN.COM

Khi nhà khoa học nước ngoài không được lưu trú tại tư gia ở Việt Nam | Tiếng Dân