Tương Phản trong hệ thống thuế khóa của California và Texas

Bài phân tích của báo Điện Tín Anh – Telegraph

California không bị phá sản. Chưa. Nhưng nó đang tiếp tục theo cách sẽ thúc đẩy nó bị rơi vào tình trạng giống như vậy. Vấn đề cơ bản là những người cấp tiến điều hành tiểu bang – và chính trị truyền thống của dân California không chọn bất cứ điều gì nếu không thuộc về chính sách của nhóm tiến bộ – đã không tìm ra điều cơ bản nhất về thu nhập dựa vào hệ thống thuế. Bạn không thể cứ chi tiêu tăng theo lũy tiến trên một hệ thống đánh thuế lũy tiến.

Vấn nạn hiện tại là nghiêm trọng đáng kể. Thâm hụt dự kiến cho năm tới là 68 tỷ đô la. Hầu hết chúng ta không có thước đo về quy mô của sự thâm hụt ngân sách này, đó là 30% thâm thủng ngân sách đối với tất cả mọi thứ họ sẽ chi tiêu. Đây cũng là một sự đảo ngược so với thặng dư dự đoán 100 tỷ USD chỉ mới có hai năm trước.

Làm thế nào mà điều đó xảy ra?

Vấn đề chiến thuật nhỏ dẫn đến sự đảo ngược này không phải là lần đầu xảy ra, đó là thói quên cho phép các chính trị gia có sổ séc ở bất cứ mục chi tiêu nào. Một khi có dòng tiền chảy vào ngân sách bằng cách đánh thuế lũy tiến thì mọi nhóm lợi ích và cử tri trong hệ thống chính trị đều được phân bổ nhiều tiền thuế hơn để chi tiêu. Đó là cách hệ thống chính trị hoạt động, yêu cầu các chính trị gia tiết kiệm giống như khăng khăng đòi những đứa trẻ giữ đồ ăn ngọt để dành cho đến tuần tới. Vì vậy, mỗi khi kho bạc California nhận được một số tiền, có vô số kế hoạch chi tiêu tất cả những thứ đó và hơn thế nữa. Những kế hoạch đó luôn tăng chi tiêu hàng năm và đòi hỏi nó cần phải được duy trì trong tương lai. Vì vậy,  khi doanh thu giảm, thâm hụt trở thành một con yêu tinh, như đang thấy bây giờ. Cắt giảm chi tiêu là vô cùng khó khăn vì bây giờ nó có nghĩa là gây thất vọng cho quần chúng và chiến đấu chống lại mọi nhóm lợi ích và cử tri chính trị phái tiến bộ-Progressive.

Vấn đề lớn hơn, mang tính cấu trúc, là hệ thống thuế California theo tiến bộ quá lố. Toàn bộ 50% thuế thu nhập tiểu bang (bản thân nó có thể lên tới 13,3%, trên mức cao nhất của Liên bang là 37%) đến từ 1% người nộp thuế hàng đầu. Hầu hết trong số đó, 33%, chỉ đến từ 0,1% hàng đầu. Đòi tiền người giàu là hành động tiến bộ khủng khiếp, tất nhiên là như vậy. Nhưng nó cũng hoàn toàn không thể cậy dựa vào. Đối với những người có thu nhập cao nhất, họ không làm tiền từ lương, chúng là thu nhập trong kinh doanh. Nền kinh tế suy thoái và những khoản thu nhập cao nhất đó giảm mạnh. Thị trường chứng khoán giảm và tăng vốn chuyển sang thua lỗ. Lãi suất tăng và giao dịch nhà đất giảm, giết chết nguồn thu từ thuế giao dịch. Chính xác những gì đang xảy ra ngay bây giờ, làm giảm đáng kể dòng tiền chảy vào để trả cho tất cả những lời hứa chính trị đó.

…Các chính trị gia California đã nhìn vào nền dân chủ xã hội châu Âu và thấy rằng nó là tốt. Nhưng họ đã thất bại trong việc học bài học về thuế. Bạn không thể mua quà tặng được tài trợ bằng thuế cho tất cả mọi thành phần xã hội bằng cách chỉ đánh thuế người giàu. Bạn phải đánh thuế tất cả mọi người, theo phong cách châu Âu – thuế suất VAT hấp dẫn, thuế biên chế, thuế thu nhập đáng kể của tầng lớp trung lưu. Hệ thống thuế của châu Âu ít tiến bộ hơn so với Hoa Kỳ vì lý do này – đó là cách bạn tài trợ cho nền dân chủ xã hội. Đối với thu nhập của người giàu, do đó, doanh thu thu được từ việc đánh thuế họ, rất khác nhau.

Như các nhà chính trị California đang nhận thấy, khi họ tăng lãi suất để bù đắp cho thâm hụt ngân sách, hậu quả là những người giàu có, và doanh nghiệp của họ, khởi hành đến tiểu bang Texas.

Chúng ta có thể nghĩ rằng điều này đang chiếu sáng, có thể là điều đáng buồn, nhưng bạn không thể tạo tiến bộ xã hội chỉ bằng cách sử dụng ví tiền của người giàu. Một bài học mà tất cả các chính trị gia, không chỉ những người ở California, có thể rút ra một cách hữu ích.

Kẻ đi tìm:

Một vài con số thành công của Tiểu Bang Texas, thặng dự ngân sách 32,7 tỷ USD cho dù Tiểu Bang không có thu nhập từ thuế lợi tức đánh vào cư dân của Texas. Đó là khoản thặng dư ngân sách khổng lồ mà Texas sẽ có vào cuối năm 2023.

Thặng dư 32,7 tỷ USD của Texas tương đương với quy mô ngân sách của Nam Carolina. Nó lớn hơn ngân sách của 24 bang.

 


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Hồn Nước

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhạc phẩm Bên Bờ Đại Dương là sáng tác chung của Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương, do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành vào năm 1957 (khi đất nước đã bị cắt chia) nên có thể là nhiều người chưa từng nghe đến lần nào:

Đất nước tôi màu thắm bên bờ đại dương
Bắc với Nam, tình nối qua lòng miền Trung
Đất nước tôi từ mái tranh nghèo Bắc Giang
Vượt núi rừng già Trường Sơn
Vào tới ruộng ngọt phương Nam

Dân nước tôi từng đấu tranh diệt ngoại xâm
Trong máu xương từng hát ca bài thành công
Dân nước tôi nòi giống hùng cường Lạc Long
Làm gái toàn là Trưng Vương
Làm trai rạng hồn Quang Trung …

 Nếu được hân hạnh ngồi chung bàn với nhị vị tác giả của tác phẩm thượng dẫn (và nếu uống đủ nhiều) tôi “dám” sẽ đề nghị hai ông sửa đổi lại đôi câu:

Làm trai toàn là Quang Trung
Làm gái rạng hồn Trưng Vương …

Chả hiểu tại sao nhưng tôi cứ đinh ninh rằng hồn thiêng sông núi luôn luôn tiềm ẩn trong tim của những người phụ nữ, chứ không phải là nam giới. Sự chủ quan này –  phần nào – là do kinh nghiệm cá nhân vì tôi đã may mắn gặp được cái hồn của dân tộc mình rồi, và không chỉ một lần.

Lần đầu tiên tôi gặp “nó” trong hẻm Ánh Hồng (Hà Nội) cạnh một nhà xí công cộng, nơi cư trú của một kẻ bần cùng: chị Sợi. Chị có một mẹt hàng ở đầu ngõ, bầy bán các thứ linh tinh: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích qui. Vì không có vốn nên hàng hoá lèo tèo, thảm hại.

Chị ấy bán hàng không đủ thu nhập để nuôi mình, và nuôi người mẹ bệnh đang nằm chờ chết nên (đôi lúc) còn buộc phải bán thân. Mẹt hàng, cũng như thân xác “xuống cấp” của người đàn bà đã quá thời xuân sắc này, chỉ hấp dẫn được một loại khách hàng duy nhất: đám ăn mày.

“Trong số những người chồng hờ ấy, chị đặc biệt yêu quý một anh ăn mày trẻ, còn ít tuổi hơn chị. Anh ta đến với chị không như người đến với gái làng chơi.

Anh đã kể cho chị nghe chuyện chân anh. Còn chị kể cho anh chuyện mẹ chị. Khi bị ngã gẫy xương hông, nằm liệt, ba năm đầu cụ hát. Ba năm sau cụ chửi. Và một năm nay cụ yên lặng. Mỗi khi có khách lên gác lửng cùng chị, cụ nhắm mắt giả cách ngủ.

Anh thương chị. Chị thương anh. Chính anh đã mượn cưa, bào ở đâu về cưa, bào, đo, cắt mộng mấy tấm gỗ cốp pha, ráp thành cái áo quan cho cụ. Và cũng chính anh, dù què một chân cũng đã bắc ghế trèo lên, xây thêm hai hàng gạch quanh tường bao cho nó cao thêm, chắn bớt cái hơi nhà xí tạt vào.

Người thứ hai chị Sợi yêu quý là một phụ nữ… một bà già thấp bé, lại còng, mặt chằng chịt vết nhăn, chẳng biết bao nhiêu tuổi nữa … Bà ở vùng Hà Nam, Phong Cốc. Anh con trai duy nhất của bà a dua với bọn xấu trong làng đi ăn trộm lợn. Án xử hai năm. Trong tù bị bọn đầu gấu đánh chết. Người con dâu bỏ đi lấy chồng, để lại cho bà hai đứa cháu gái, đứa chín tuổi, đứa bảy tuổi.

Một lần bà Mít đến, nắm lấy bàn tay chị:

– Em ơi. Chị nhờ em một cái này được không.

Bà ngập ngừng. Chị Sợi không hiểu chuyện gì. Nhưng rõ ràng là một việc hệ trọng, rất hệ trọng đối với bà… Thì ra bà muốn gửi chị tiền.

Tiền là vàng, là cuộc sống của hai đứa cháu côi cút của bà ở quê. Để nhiều tiền trong người, bà sợ. Suốt ngày đi bộ rạc cẳng mà đêm cứ ngủ chập chờn. Nên nghe chừng thấy nằng nặng hầu bao, bà phải mang tiền về quê … Chị nắm chặt tay bà: Bà yên tâm. Tiền bà gửi con không suy suyển một xu.

Nhưng cả tháng sau bà Mít vẫn không quay lại…  Chị Sợi kiểm lại số tiền bà Mít gửi một lần nữa. Cho tất cả vào một cái túi xách. Bây giờ chị không chờ bà Mít nữa. Chị chờ anh què đến. Chị bảo anh:

  • Bà Mít chết thật rồi. Anh phải giúp em. Ở đây trông nom, cơm nước, rửa ráy cho mẹ em vài ngày. Em phải đi đây.
  • Em biết quê bà ở đâu mà tìm?
  • Cứ về Hà Nam, Phong Cốc hỏi. Thế nào cũng ra … Phải đem chỗ tiền này về cho hai đứa trẻ mồ côi. Phải thực hiện nguyện ước của bà cụ, kể cả việc mua hai bộ quần áo mới cho chúng nó… Phải đi ngay kẻo lỡ mất chuyến tàu”. (Bùi Ngọc Tấn. “Truyện Không Tên.” 05/17/2009).

Sau khi đọc xong câu chuyện này, tôi viết thư cảm ơn tác giả vì đã giúp cho tôi cảm được cái hồn của dân tộc mình. Nhà văn hồi đáp rằng ông không viết truyện mà chỉ kể lại chuyện đời, theo đúng y như lời tâm sự của chị Sự chứ không thêm bớt chi cả.

Bùi Ngọc Tấn đã ra người thiên cổ nhưng chị Sợi, anh Què chắc vẫn quanh quẩn nơi những con hẻm tối tăm (nào đó) giữa lòng Hà Nội. Ở đây, không phải lúc nào ra ngõ cũng gặp anh hùng hay một vị tiến sỹ mà (đôi khi) chúng ta còn gặp được những mảnh hồn của đất nước nữa nhưng không có cơ duyên để nhận biết thôi.

Mới đây, tôi lại may mắn gặp cái hồn của đất nước mình tại một nơi chốn khác –qua câu chuyện kể của một người chủ tiệm cơm tấm ở Hóc Môn, Sài Gòn:

Cách đây không lâu, mình thấy hai bà cháu ngồi xin ăn bên đường nên đã đem làm 2 phần cơm qua ủng hộ. Mỗi phần cơm tấm quán bán trị giá 45 nghìn.

Lúc qua thì thấy bé cầm sẵn tiền lẻ, bà ngồi bên có nói là nó thèm cơm, đang định qua mua nhưng mà chỉ có tờ 1 nghìn, 2 nghìn, tiền cũng bị rách nữa, sợ qua chủ quán không chịu bán.

Lần thứ 2, mình dặn nhân viên đem cơm qua, nói là quán tụi con cũng hay cho cơm vậy lắm, bà đừng ngại gì hết.

Rồi lần thứ 3, hôm đó trời mưa, quán mình cũng vắng khách, em bé mới cầm tiền qua, nói hôm nay con mua ủng hộ chú, nay bà cháu con xin được nên có tiền rồi”. (Thủy Tiên. “Đem xấp tiền lẻ tới mua cơm, cậu bé bán vé số thuật lại lời dặn của bà khiến chủ tiệm bối rối.” Soha 24/09/2023).

“Lòng tự trọng của hai bà cháu” cũng khiến tôi bối rối theo, và bối rối lắm, khi liên tưởng vụ án VTP đang làm dậy sóng dư luận suốt mấy tuần qua. Nhân vật chính bị cáo buộc đã chiếm đoạt một số tiền kếch xù khiến nhiều người rất băn khoăn:

  • Trần Ngọc Tuấn: “Bạn nào giỏi toán tính hộ mình: số tiền của Vạn Thịnh Phát xây được bao nhiêu ngôi nhà, cho người cơ nhỡ, tàn tật không nơi nương tựa?”
  • Nguyễn Bước BD: “Con số 304 ngàn tỷ đồng rất lớn và lớn đến mức nào? Để dễ mường tượng, ta quy ra tương đương:
  • Viết đầy đủ: 304.000.000.000.000 VND.
  • Quy ra USD: 12 tỷ đô la Mỹ.
  • Quy ra vàng 24K: 170 tấn.
  • Quy ra lương tối thiểu 5 triệu đồng/người/tháng, mỗi lao động làm việc chừng 25 năm thì thu nhập của khoảng 200.000 đời người không tiêu xài…”
  • Nguyên Tống: “Để dễ hình dung 300,000 tỷ mà Vạn Thịnh Phát chiếm dụng lớn cỡ nào, ta cần chia nó ra tờ 500,000 để bớt các số 0 đi mới bấm được máy tính. Nó là 600 triệu tờ. Mỗi tờ tiền này có trọng lượng chính xác là 1g. Vậy là số tiền này sẽ nặng 600,000kg, hay 600 tấn…
  • Nguyen Nhoc: “VTP nguyên dòng họ ăn cả đời ko hết, mà sao lấy chi mà lắm vậy.”

Vậy mà giữa cái ngõ Ánh Hồng Hà Nội vẫn có người phụ nữ tuy phải bán thân nuôi miệng (và nuôi mẹ) nhưng không tơ hào một đồng xu cắc bạc nào của tha nhân. Trong một con hẻm tăm tối ở Sài Gòn vẫn có người ăn mày đủ “tự trọng” để từ chối những phần ăn được trao tặng miễn phí (cho cả hai bà cháu) khi túi có đủ tiền để chi trả đàng hoàng, sòng phẳng.

Bao giờ mà quê hương còn những tấm lòng thơm thảo như thế thì chúng ta vẫn còn có thể hy vọng vào hậu vận của dân tộc này, mặc cho bao bầu trời đã sụp và đang sụp!


 

Các con bà Mohammadi đang ở tù Iran, nhận Giải Nobel Hòa Bình của mẹ

Ba’o Nguoi-Viet

December 10, 2023

TEHRAN, Iran (NV) – Hai người con song sinh của nhà hoạt động Narges Mohammadi, đang bị chính quyền Iran bỏ tù, đã nhận Giải Thưởng Nobel Hòa Bình thay cho mẹ, Đài BBC loan tin vào hôm Chủ Nhật, 10 Tháng Mười Hai.

Bà Mohammadi, đang thọ án 10 năm tù tại Tehran, đoạt giải thưởng năm nay vì công lao chống nạn đàn áp phụ nữ ở Iran.

Trong diễn từ nhận giải được đưa lén ra ngoài và do hai con của bà đọc lên, bà Mohammadi tố cáo chính quyền “độc tài chuyên chế” của Iran.

Khôi Nguyên Nobel Hòa Bình, nhà hoạt động người Iran Narges Mohammadi (trong khung hình) được đại diện bởi con gái Kiana Rahmani, con trai Ali Rahmani, nhận giải thưởng từ Chủ Tịch Ủy Ban Trao Giải Nobel Berit Reiss Andersen tại Tòa Thị Chính Oslo, Na Uy, hôm 10 Tháng Mười Hai, 2023 (Hình: Rune Hellestad/Getty Images)

“Với lòng kiên trì tranh đấu, dân tộc Iran sẽ chiến thắng thế lực đàn áp và chế độ độc tài,” bà Mohammadi viết. “Khỏi phải nghi ngờ gì cả, điều này chắc chắn sẽ xảy ra.”

Giải thưởng quốc tế danh giá này đã được phát ra tại Oslo vào hôm Chủ Nhật, cùng với các giải thưởng Nobel khác về văn chương, khoa học và kinh tế.

Từ nhiều năm qua, bà Mohammadi đã là một gương mặt tranh đấu cho nhân quyền nổi bật tại Iran. Người phụ nữ 51 tuổi này đã ở tù hầu như liên tục kể từ năm 2010, và bà đã bị nhà cầm quyền bắt giữ tổng cộng 13 lần, bị kết án năm lần, và bị kết án một tổng số là 31 năm tù ở.

Bà hiện vẫn còn đang ngồi tù về tội “loan truyền thông tin phản động.”

Chồng bà, nhà hoạt động chính trị Taghi Rahmani, đang sống lưu vong tại Paris cùng với hai con, và hai vợ chồng này không gặp mặt nhau từ nhiều năm qua.

Một đoạn khác trong diễn từ được đưa lén ra ngoài của khôi nguyên Giải Nobel Hòa Bình Narges Mohammadi viết: “Cuộc đối kháng [chống chế độ cai trị hiện tại ở Iran] vẫn tồn tại, và cuộc tranh đấu vẫn không hề bị suy suyển. Đối kháng và bất bạo động là chiến lược tốt nhất của chúng ta — cũng là những khó khăn mà dân tộc Iran đã trải qua cho đến ngày nay — nhờ vào ý thức truyền thống và sức mạnh tập thể.” (TTHN) 


 

7 PHƯƠNG PHÁP GIÚP BẠN THÔNG THÁI HƠN

Gieo Mầm Ơn Gọi

  1. Đọc sách và ngẫm nghĩ nhiều hơn:

Đọc sách, là khoản đầu tư có lãi nhất của đời người. Sách chính là nguồn sáng soi tỏ con đường đi của những người thành công. Hãy nhìn xem, những vị tỷ phú hàng đầu thế giới như Bill Gates, Mark Zuckerberg, Mark Cuban… đều là những người đam mê đọc sách và luôn dành ít nhất 3 tiếng mỗi ngày để thu nạp tri thức nhân loại.

Nhưng đọc sách không phải để lấy thành tích, mà cần đọc chọn lọc, đào sâu suy ngẫm và biến những lý thuyết khô khan kia trở nên sống động, hiệu quả khi áp dụng vào thực tiễn đời sống.

  1. Mạnh dạn và phát biểu ý kiến:

Ngại đưa ra ý kiến cá nhân là hiện trạng của không ít bạn trẻ hiện tại. Vì sợ sai, sợ phô bày sự thiếu hiểu biết của bản thân. Việc “giấu dốt” ấy vô cùng nguy hiểm, có khả năng hủy hoại tương lai của chính bạn. Đừng sợ hãi nói lên tiếng nói, chính kiến của mình, chỉ có trao đổi kiến thức mới giúp mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết mà thôi.

  1. Tập trung vào những gì đã biết:

“Một nghề cho chín, còn hơn chín nghề”. Việc phát huy sở trường, thế mạnh của bản thân rõ ràng tốt hơn việc khởi đầu mông lung với con số 0.

  1. Luôn tự chất vấn chính mình:

“Tôi làm việc như vậy đã hiệu quả chưa?”, “Làm thế nào để gia tăng năng suất, sản lượng?”, “Cần rút lại bài học gì sau cuộc gặp gỡ đối tác ngày hôm nay…”, hãy liên tục để đầu óc vận động, tư duy bằng các câu chất vấn chính mình. Vạch những câu hỏi ấy trong đầu và nhất định tự tìm ngay câu trả lời thỏa đáng. Việc tự chất vấn, vừa là cách giúp bạn nhìn nhận lại thiếu sót, rút ra được kinh nghiệm quý báu, mà cũng là cách gia tăng độ linh hoạt cho bộ não.

  1. Coi trọng việc học ngoại ngữ:

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên thế giới phẳng, tất nhiên, ngoại ngữ là tối quan trọng. Ngoài ngôn ngữ toàn cầu là tiếng Anh, các bạn trẻ hãy bỏ túi thêm những ngoại ngữ khác, phụ trợ cho công việc tương lai của mình: tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Pháp, Tây Ban Nha…

  1. Bớt phụ thuộc vào công nghệ:

Công nghệ, một mặt nâng tầm đời sống, biến đổi cuộc sống của chúng ta một cách chóng mặt. Nhưng, cũng chính công nghệ khiến mối quan hệ giữa người – người, thậm chí, mối quan hệ của chính bản thể dần trở nên xa cách. Quá phụ thuộc vào công nghệ khiến chúng ta lười tư duy, lười động não… khiến bản thân dễ rơi vào trạng thái thụ động, trì trệ.

  1. Kiên trì luyện tập thể dục thể thao:

Là cách vừa nâng cao sức khỏe, tăng cường khả năng sáng tạo. Hãy dành ít nhất 1 tiếng mỗi ngày để vận động, tập thể dục hoặc chơi một môn thể thao nào đó.

ST


 

VỀ TỪ CHỐN LƯU ĐÀY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi!”.

“Chúa Kitô có thể được sinh ra hàng ngàn lần ở Bêlem – nhưng tất cả đều vô ích cho đến khi Ngài được sinh ra trong tôi!” – Angelus Silesius.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng, “Cho đến khi Ngài được sinh ra trong tôi!” khác nào nói, cho đến khi tôi được thực sự tự do để đón Ngài; được giải thoát khỏi mọi hình thức nô lệ, được trở ‘về từ chốn lưu đày’. Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta – hưởng ứng lời Gioan Tẩy Giả – chỉnh đốn con người mình hầu có thể mở ra những con đường cho Chúa ngự đến.

Marcô thật tài tình khi mở đầu Phúc Âm bằng việc giới thiệu Gioan, vị tiền hô báo trước cuộc tiến vào ‘đất hứa mới’, “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con”. Đó là một lời hứa của Thiên Chúa, một biểu thị bảo vệ, báo trước chiến thắng và kết thúc của cuộc lang thang trong sa mạc. Marcô muốn độc giả của mình biết rằng, Gioan Tẩy Giả là tiền hô của một Môsê mới, Đức Kitô; một cuộc xuất hành mới, tiến vào Vương Quốc Ngài!

Đó là sự khởi đầu của một chiến dịch mở ra những con đường chống lại các thế lực thù địch vốn đang chế ngự đất lưu đày. “Con đường”, “hodos”, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là đường đi hoặc hành trình; nhưng trong Tân Ước, nó thường đề cập đến “lối sống mà Thiên Chúa đòi hỏi”. Năm 586 trước Công Nguyên, Giêrusalem rơi vào tay Babylon, hàng ngàn người Do Thái bị lưu đày ở đó. 47 năm sau, Cyrus, vua Ba Tư, đánh bại Babylon, cho phép người Do Thái hồi hương về Israel. Vì thế, Marcô khôn khéo sử dụng Isaia – bài đọc thứ nhất – để nói đến cuộc xuất hành mới. Nói cách khác, “dọn đường cho Chúa” nghĩa là bắt đầu một cuộc xuất hành khỏi ách nô lệ tội lỗi. Đó là ‘về từ chốn lưu đày’; đúng hơn, một lối sống, một hành động phù hợp với lối sống Thiên Chúa đòi hỏi.

Mùa Vọng, mùa chuẩn bị cuộc trở về, một cuộc hoán cải. Mùa Vọng, mùa tái định hướng triệt để cuộc sống của mình hướng về Thiên Chúa. Phêrô – bài đọc hai – cũng có một lời kêu gọi tương tự, “Ngài muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải”. Vì thế, “Anh em phải cố gắng sao cho Ngài thấy anh em tinh tuyền!”.

Với Đức Phanxicô, “Để chuẩn bị những con đường cho Chúa đến, cần lưu ý đến yêu cầu cần hoán cải mà Gioan mời gọi. Những yêu cầu cần hoán cải là gì? Trước hết, hãy lấp đầy những “thung lũng” do sự lạnh lùng và thờ ơ gây ra, mở lòng mình ra với người khác bằng những tâm tình như tâm tình của Chúa Giêsu, nghĩa là với sự thương cảm và quan tâm huynh đệ vốn đáp ứng mọi nhu cầu của anh chị em mình”.

Anh Chị em,

“Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa!”. Để dọn đường cho Chúa, hãy lấp đầy các thung lũng do ‘giá lạnh’ gây ra. Người ta không thể yêu thương, bác ái và huynh đệ nếu vẫn còn những “khoảng không” cũng như những ổ gà trên các con đường. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thay đổi thái độ. Sau đó, cần phải hạn chế sự thờ ơ do kiêu ngạo và tự phụ. Như Gioan đã mở ra những con đường trong sa mạc, bạn và tôi chỉ ra những viễn cảnh hy vọng, ngay trong những bối cảnh hiện sinh đầy gian khổ của thế giới vốn đang bị đánh dấu bởi những thất bại này đến những thất bại khác!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đang ở đâu? Liệu Chúa đã được sinh ra trong con? Xin đưa con ‘về từ chốn lưu đày’ nếu con đang bị đày ải ở đâu đó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Hãy dọn sẵn con đường của ĐỨC CHÚA, sửa lối cho thẳng để Người đi. (Mc 1:3)

Mong bạn có một lòng ao ước “cần Chúa hơn bao giờ hết” hôm nay.

Cha Vương

CN: 10/12/2023

TIN MỪNG: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của ĐỨC CHÚA, sửa lối cho thẳng để Người đi. (Mc 1:3)

SUY NIỆM: Trong Mùa Vọng, bạn được kêu gọi chuẩn bị cho sự giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế. Bạn đã và đang làm gì để sẵn sàng? Bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở bạn hãy “sửa lối cho thẳng để Người đi”.  Điều này có nghĩa là bạn phải chuẩn bị tâm hồn cho sạch sẽ để Chúa đến với bạn một cách dễ dàng hơn. Bạn chuẩn bị qua việc dành nhiều thời gian hơn với Chúa và đặt Chúa làm ưu tiên hàng đầu trong ngày. Hãy nhớ rằng ở đâu có Chúa thì ở đó không có xấu xa tội lỗi. Điều này cũng nhắc nhở rằng bạn cần phải sám hối, tức là định hướng lại cuộc đời mình để trở về với Chúa. Nó bao gồm ba khía cạnh: (1) Trở về với Thiên Chúa bằng cả trái tim. (2) Từ bỏ sự ác của tội lỗi và tránh xa những điều không phù hợp với giới răn của Chúa. (3) Quyết tâm thay đổi cuộc đời.

Lời cầu nguyện duy nhất của mình, trong Mùa Vọng này, là bạn hãy đến với Chúa thường xuyên hơn qua Bí tích Thánh Thể nếu có thể, không chỉ một lần mỗi tuần hay hai lần một năm. Bí tích Thánh Thể là sự kết hiệp mật thiết và là cuộc gặp gỡ thân mật nhất với Chúa Giêsu. Ngài là nguồn mạch của sự hoán cải. Ngài sẽ thêm sức và nâng đỡ bạn vượt qua mọi khó khăn và cạm bẫy của ma quỷ đó.

LẮNG NGHE: Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi! Đứng trên nơi cao mà nhìn: Kìa THIÊN CHÚA đem hoan lạc đến cho ngươi. (Br 5:5;4:36)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin hãy đến và tẩy sạch tâm hồn, con yêu mến Chúa, xin ở lại với con luôn mãi. Con cần Chúa!

THỰC HÀNH: Điều gì đang ràng buộc và ngăn cản bạn trở về với Chúa? Hãy cầu nguyện và xin ơn can đảm để từ bỏ nó nhé.

From: Do Dzung

CON CẦN CHÚA || THÁNH CA GIANG ÂN 

CÁC NHÀ BÁC HỌC NÓI VỀ THIÊN CHÚA

Antonio Son Tran

– Louis Pasteur : “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Đức Chúa Trời.. Thật là mĩa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết, hoặc chết là trở về với hư vô … Một chút khoa học sẽ gạt bỏ Chúa, giàu khoa học sẽ quay về với Chúa” .

…

– Albert Einstein: “Sự gian ác là do vắng bóng Thiên Chúa trong linh hồn … khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt….Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo.”

…

– James Simpson : “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu .”

…

– Andre Marie Ampere “Con người chỉ vĩ đại khi quỳ xuống cầu nguyện với Thiên Chúa .”

…

– Blaise Pascal :”Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài. Nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả, nếu ta không tin”

…

– Victor Hugo nói: “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare; còn Kinh Thánh làm nên nước Anh”.

…

– Isaac Newton : “Cái huy hoàng của thái dương hệ, các hành tinh, sao chổi, chỉ có được là do sự điều hành của Một Đấng Thông Minh, Toàn Năng …Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính ….Thánh Kinh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó …Trong đời mình tôi nhận biết được hai sự thật: thứ nhất – tôi là kẻ đại tội nhân, và thứ hai – Jêsus Christ vĩ đại vô lượng là Đấng Cứu Chuộc tôi …Lực hút Trái đất chỉ giải thích sự chuyển động của các hành tinh nhưng không thể làm rõ ai, khi nào và bằng cách nào đã đưa các hành tinh vào vị trí chuyển động như vậy. Chính Chúa trời là người điều khiển và sắp đặt vạn vật. Người là bất diệt, là vĩnh cửu…”.

…

– Becquerel: “Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin .”

…

– Bourgeois: “Không có gì cản trở tinh thần khoa học hòa hợp với tín ngưỡng đã được suy nghĩ sáng suốt. Trái lại, khoa học càng được đào sâu, thì tôn giáo lại càng được tăng thêm sức mạnh và bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, lại càng được sáng to hơn .”

…

– Duclaux: “Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự bò lên sườn núi .”

…

– Alessadro Volta : “Niềm tin như điện, bạn không thể thấy nó, nhưng có thể thấy ánh sáng .”

…

– Moreux : “Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hầu hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa .”

…

– Charles Nicolle :“May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm; đó là dấu ấn của Thiên Chúa .”

…

– Thomas Alva Edison : “Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tât cả kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa .”

…

– Chevreul : “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài”

…

– Diderot : “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần .”

…

– LaBruyère: “Tôi muốn thấy một người trong sạch và tiêt độ tuyên bố rằng không có Thượng đế, nhưng không thấy ai cả .”

…

– Wernher Von Braun : “Sự bao la huy hoàng của vũ trụ đã làm cho đức tin vào Đấng Tạo Hóa của tôi được tăng thêm. Khoa học và đạo không thể mâu thuẫn nhau, nhưng là chị em ruột thịt, vì khoa học tìm thấy sự huy hoàng của vạn vật, mà đạo thì tìm thấy Đấng Tạo Hóa quyền năng đã dựng nên vạn vật tốt đẹp lạ lùng”

…

– Bacon: “Kiến thức nông cạn đưa người ta xa tôn giáo, ngược lại kiến thức sâu sa đưa người ta lại gần tôn giáo .”

…

– Francois Coppée: “Làm sao từ nay tôi không tin có phep lạ, sau khi đã được phép lạ do sách Phúc Âm làm nơi tôi? Linh hồn tôi trước kia mù tịt trước ánh sáng đức tin, bây giờ đã thấy ánh sáng này với tât cả vẻ huy hoàng của nó. Linh hồn tôi trước kia điếc đặc trước Lời Chúa, nay đã nghe rõ ràng và vui sướng cảm phục. Linh hồn tôi trước kia tê liệt vì không tìm hiểu tôn giáo, lúc này đã nóng nảy hăng hái bay lên trời. Qủy dơ bẩn mà linh hồn tôi bị ám ảnh, nay đã bị đuổi đi .”

…

– T. Termier: “Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu…khoa học dẫn đến Thiên Chúa; và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa .”

…

– A. Eynieu : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin có Thiên Chúa.

…

– Bossuet : “Những chân lý đời đời không thay đổi [của luân lý] buộc ta phải tin rằng có một Đấng Tạo Hóa”.

…

– Victor Gess : “Một nhà khoa học chân chính có thể tin vào Đức Chúa Trời được không? Tôi nghĩ là có … Tôi phải thừa nhận rằng qua suốt bấy nhiêu năm nghiên cứu khoa học của mình trong lĩnh vực vật lý và địa chất tôi chưa bao giờ nhận thấy những kết quả nghiên cứu khoa học có điều gì trái nghịch với đức tin vào Đức Chúa Trời – Đấng Tạo Hóa.”

…

– Charles Dickens : “Kinh Thánh Tân Ước chính là quyển sách tốt nhất đã từng và sẽ được biết đến trên thế giới”.

…

– Platon : “Những ai có một chút trí khôn, đều phải kêu cầu Đức Chúa Trời trước khi bắt đầu công việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ”.

…

– Chateaubriand : “Tiêu hủy sự tin kính theo Phúc âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình”.

– và tôi haha:

Kẻ vô thần không tin có đời sau

Vậy đời này chúng cần gì tích đức

Lời nói, việc làm từ trong vô thức

Cõi tâm hồn sâu thẳm hư không.

Nguồn : Sưu tầm

 


 

LORETO VÀ PHÉP LẠ THIÊN THẦN CHUYỂN NHÀ

Anne Bernet (Aleteia) – Lê Hưng (TGPSG) chuyển ngữ

Đức Bà Loreto, được Giáo Hội mừng lễ vào ngày 10-12, là Đức Bà phù hộ các phi công, các lữ khách đi máy bay… và của cả các công nhân chuyển nhà nữa.  Nhưng tại sao lại có sự bảo trợ này?

Gần thánh phố Ancône, trong vùng Marches nước Ý, có một trong những ngôi đền thờ được tôn kính nhiều nhất trong thế giới Công giáo: đền thờ Đức Bà Loreto.

Câu chuyện về nơi này thật lạ lùng và có thật, tuy dù cũng có đôi chút tô điểm cho thêm phần dễ thương.

Tất cả khởi sự từ đầu thế kỷ 14, khi Rôma được tin người ta vừa khai sinh thêm một cuộc hành hương Đức Mẹ, ở một nơi gọi là Loreto, “một cánh rừng nguyệt quế nhỏ;” nơi đây người ta tôn sùng một tượng Đức Mẹ đen cổ kính có nguồn gốc phương Đông được tạc từ gỗ thông tuyết và một ảnh thánh Đức Mẹ được cho là do thánh Luca vẽ.

Đến đây thì mọi chuyện khá bình thường: những đền thờ như vậy thì rất nhiều trong thế giới Kitô giáo nên người ta không thắc mắc lắm về tính lịch sử của những thánh tích được tôn sùng – sự sùng kính của khách hành hương thường phủ một lớp ân điển lên những vật được trưng bày để tôn kính.

Tuy nhiên sự độc đáo của địa điểm này không nằm ở nơi ảnh thánh và bức tượng nói trên, mà ở nơi ngôi nhà đặt ảnh tượng đó.  Nếu tin những gì người ta nói tại chỗ thì, ngôi nhà nguyện nhỏ vừa kể thật ra chính là ngôi nhà ở Nazarét, nơi thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Maria – là nơi ơn cứu độ nhân loại được thể hiện…  Đó là lý do tại sao các tín hữu đã tuôn đến và sờ vào những viên đá linh thánh đó một cách thành kính, trào nước mắt xúc động vì còn được đến tận nơi.

Một nỗi đau không thể tưởng tượng

Đến tận nơi ư?  Đúng vậy, vì từ năm 1291 với sự thất thủ của thành Saint-Jean d’Acre – cứ điểm cuối cùng của vương quốc La tinh tại Giêrusalem, bị phe đạo Hồi chiếm giữ – Miền Đất Thánh gần như đóng cửa hoàn toàn với khách hành hương và hối nhân.  Nhà cầm quyền Hồi giáo chỉ cấp giấy phép nhỏ giọt để vào những địa điểm thánh và những Kitô hữu hiếm hoi dám bước vào đây lại gặp vô vàn nguy hiểm.

Chúng ta ngày nay quá thiếu sốt sắng nên khó đo lường được sự thiếu thốn như vậy nặng nề ra sao đối với những bậc tiền bối của chúng ta.  Không còn có hy vọng đến thăm xứ Galilê để cầu nguyện trong căn phòng mà Đức Maria đã thưa lời Fiat (Xin Vâng), không được theo dấu chân Chúa Giêsu, không được quỳ trong vương cung thánh đường Bêlem trên cái ngôi sao đánh dấu nơi đặt máng cỏ, không được tắm trên sông Giođan, không bao giờ được nhìn ngắm Giêrusalem, không được canh thức trong vườn Giêtsêmani, không được vừa đi vừa cầu nguyện vừa khóc trên con đường khổ nạn, không được leo núi Golgotha, không được ôm hôn hòn đá của ngôi mộ trống… mà biết rằng tất cả đều bị giao cho kẻ ngoại đạo, đó là một nỗi đau mà chúng ta không thể hình dung nổi.

Giáo Hội xót xa khi biết điều đó, nhưng làm gì được bây giờ?  Thánh chiến thì không còn hợp thời.  Do đó, để xoa dịu cái tang của giới Công giáo, Hội Thánh đưa ra những giải pháp khác cho các tín hữu đang than khóc.  Trước hết là hướng họ về điều cốt yếu: sùng kính Bí tích Thánh Thể.  Không cần thiết phải đi qua đầu kia của thế giới để tìm thấy Chúa Kitô vì Người có mặt hằng ngày trên bàn thờ và trong nhà tạm, dù là ở một nhà nguyện nhỏ bé nhất.  Chính trong bối cảnh đó mà lòng tôn kính Mầu Nhiệm Thánh Thể phát triển chưa từng thấy.

Thánh tích và đền thờ thay thế

Một cách khác là khiến người ta chú trọng đến những thánh tích của cuộc Khổ Nạn – có rất nhiều và đôi khi vô giá – như một mảnh của cây Thánh Giá mà nữ hoàng Radegonde đã có được cho tu viện của bà tại Poitiers (Pháp), mão gai được vua Thánh Louis mua, hay Khăn Liệm Chúa được trưng bày ở Lirey vùng Champagne (Pháp), hay những mảnh của máng cỏ đặt tại vương cung thánh đường Đức Bà Cả ở Rôma; những đồ vật này được đưa tới Châu Âu theo dòng thời gian, chủ yếu là đến Pháp vì các vua dòng họ Capet rất xem trọng chúng.  Vì không đến Miền Đất Thánh được nữa, nên đi viếng những chứng tích của mầu nhiệm Nhập Thể,  của cuộc Thương Khó và cuộc Phục Sinh của Chúa được xem như tương đương.

Cũng vậy đối với việc cố gắng tìm đến những linh địa khiêm tốn hơn nhiều với chỉ một cục sỏi nhặt được ở Palestine, thậm chí chỉ ít bụi từ nơi này…  Có những lãnh chúa hay những giám mục khá giả không ngần ngại xây dựng những đền thờ thay thế – được cho là tái hiện cách chân thật ít nhiều – những kiến trúc ở Miền Đất Thánh, như bản sao của Mộ Thánh ở Neuvy-Saint-Sépulcre, vùng Berry (Pháp), hay tái tạo ở Ý những nơi đáng chú ý nhất của Giêrusalem lúc đó.

Phải chăng đền thờ Loreto chỉ đơn giản là một trong những cách bắt chước mang tính đạo đức sùng mộ như vậy?  Hay, như những người sùng kính nơi đó tin tưởng, đây đúng là ngôi nhà ở Nazarét, được mang từ Palestine về, nhờ một phép lạ nào đấy?  Vấn đề này đã làm chảy không biết bao nhiêu mực.

Một điều có thực: đền thờ đã mọc lên trên một thửa đất của gia đình De Angelis – một gia đình thương nhân và chủ tàu giàu có thành Ancône, đã làm giàu nhờ buôn bán giữa phương Đông và phương Tây, thời kỳ có mặt người Franc tại Palestine.  Cho rằng vương quốc La tinh sẽ tồn tại được ở Giêrusalem – điều này xem ra không phải là ý hay – nhà De Angelis đã đầu tư một phần vốn liếng vào bất động sản ở đây; có thể họ đã mua nhiều miếng đất ở Nazarét, trong đó có đất của ông bà Gioakim và Anna, cùng với đó là căn nhà của ông bà – căn nhà mà vào buổi sáng ngày Truyền Tin, thiên sứ Gabriel đã hiện ra với Đức Maria.

Một ngôi nhà từ trời rơi xuống

Người ta phản bác rằng, vào thời Chúa Kitô, những căn nhà địa phương chủ yếu là nhà hang, nghĩa là được đào trong đá, và mặt khác họ còn chỉ ra cho thấy căn nhà được coi là của Đức Maria ở Nazarét.  Tuy nhiên, có thể vào một lúc nào đó, căn nhà ấy đã được cơi nới với một căn phòng ở mặt tiền, có diện tích nhỏ, xây bằng gạch và bao quanh là ba mặt tường; cái nhà hang nguyên thủy trở thành căn phòng cuối nhà.  Chính cái phòng ngoài của căn nhà đã được nhà De Angelis – đang lo ngại vì diễn biến của tình hình và tin chắc vào sự tái chiếm của người Hồi giáo trong nay mai – cẩn thận tháo dỡ và chất lên một trong những tàu buôn của họ đem về cất ở Ý, vào khoảng năm 1290.

Mới đầu, không hiểu vì lý do gì, cái kiện hàng tuy linh thánh nhưng cồng kềnh đó lại cập bến cảng ở Trast ở Croatia – nơi nhà De Angelis có một cửa hàng thương mại.  Đáng lẽ Ngôi Nhà Linh Thánh đó sẽ ở lại đây – ở Trast người ta vẫn còn tôn kính kỷ niệm về lần “dừng chân” đó.  Nhưng các chủ tàu vì linh cảm thấy rồi ra đạo Hồi sẽ tràn ngập vùng Balkans nên quyết định chở ngôi nhà về Ý năm 1294 và dựng lại y như cũ trên miếng đất của mình ở Loreto.  Sự kiện đã xảy ra như thế.  Rất mau chóng, các phép lạ diễn ra hàng loạt, danh tiếng của đền thờ vang xa, còn người hành hương thì ngày càng đông.

Cuối thế kỷ 15, ông Pietro Tolomei de Terramo – “sử gia” đầu tiên của Loreto – trình bày phiên bản của riêng mình về chuyện đó; ông khẳng định ngôi nhà linh thánh này được đưa đến đây trực tiếp từ hành trình trên không qua trung gian của các thiên thần.  Thực ra trong tiếng la tinh, De Angelis có thể dịch như vậy (nhờ thiên thần); như vậy thì không phải gian dối mà chỉ là một trò chơi chữ khôn khéo, kiểu đùa nghịch ngoan đạo của các nhà La tinh học uyên bác.  Tuy nhiên, có một điều có thể tạo sức nặng nào đó cho phiên bản nói về phép lạ này, khiến người ta phải bối rối, đó là ngôi nhà ở Loreto lại không có nền móng: nhà nằm ngay trên mặt đất, như thể các thiên thần đã đặt nó ở đó và bay đi mất mà không quan tâm gì đến nó nữa.

Nơi Ngôi Lời làm người

Tất nhiên, phiên bản quá thơ mộng này khiến giới Tin Lành, sau cuộc Cải Cách, cười nhạo không ít; mà không chỉ có họ, đến ngay trong lòng Giáo Hội, những bậc tu hành rất thông thái cũng từ chối không tin vào điều đó, cho rằng cái nhà được cho là của Đức Maria, nhờ một sự quảng cáo khôn khéo, đã kịp thời thúc đẩy lại nền thương mại địa phương đang gặp khó vì mất Miền Đất Thánh…

Một số người khác, cũng thông thái không kém, lại ủng hộ sự thật về sự chuyển dịch nhiệm lạ, khẳng định rằng chỉ có một sự kiện khác thường nào đó mới có thể giải thích được sự thành công của đền thờ Loreto.  Sự kiện xuất hiện tức thời và siêu việt của ngôi nhà ấy phải chăng là đã được chính các thiên thần đặt xuống ở nơi đó, hay để xây dựng lại ngôi nhà thật ở Nazarét?  Vấn đề này còn lâu mới có sự đồng thuận, nhưng có điều chắc chắn là các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những nét giống nhau thật sự giữa ngôi nhà thánh này và địa điểm Truyền Tin tại Nazarét.

Sự sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến tới mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là tại Pháp, Áo và vùng Bavière, Đức.

Dù sao đia nữa, ngay giữa lúc bùng nổ lòng sùng kính Đức Mẹ, đền thờ Loreto đã được khoác lên một sự tôn vinh toàn cầu.

Năm 1450, Đức Giáo hoàng Phaolô II đã tặng cho ngôi nhà nhỏ này một “cái hộp đựng” tuyệt đẹp và giao cho kiến trúc sư Bramante việc dựng lên một đại thánh đường hoành tráng ôm trọn căn nhà.  Trước mặt tiền vừa xây xong, Đức Giáo hoàng Sixto V cho khắc dòng chữ: “Đây là nhà của Mẹ Thiên Chúa nơi Ngôi Lời nhập thể làm người.”

Năm 1669, lễ mừng sự di dời của ngôi nhà linh thánh Loreto được ghi vào lịch phụng vụ, ngày 10-12, với phụng vụ giờ kinh riêng.  Mặc dù từ dạo đó đã có nhiều lời kinh khác do các Đức Giáo hoàng thêm vào để tăng phần phong phú, những kinh cầu cùng Đức Mẹ, được soạn theo hình thức hiện hành chính là tác phẩm của Giám mục Giulio Candiotti – giám quản vương cung thánh đường này – đã soạn chúng năm 1578, lấy cảm hứng từ những phiên bản cổ khác nhau, nên được gọi là những kinh cầu Loreto.  Những kinh cầu này được Đức Giáo hoàng Grêgôriô 13 chúc lành và được các tu sĩ dòng Tên đọc để cầu nguyện, đặc biệt là Thánh Phêrô Canisius; thánh nhân xem đây là vũ khí hữu hiệu nhất chống lại cuộc Cải Cách (Tin Lành), và phổ biến những kinh này ra toàn thế giới.  Việc sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến đến mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là ở Pháp, Áo và xứ Bavière, Đức.

Cuối cùng, do truyền thuyết chuyển dời ngôi nhà trên đôi cánh các thiên thần, Đức Bà Loreto trở thành quan thầy của các phi công và tất cả những ai đi máy bay.  Và cũng hợp lý thôi khi cũng là quan thầy của những công nhân chuyển nhà.

Anne Bernet (Aleteia) – Lê Hưng (TGPSG) chuyển ngữ

Nguồn: https://tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Thánh Juan Diego (1474-1548)

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548, vị thánh được ít người Việt biết đến. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thư 7: 9/12/2023

Lúc đầu người ta gọi ngài là Cuauhtlatohuac (“Con đại bàng cất tiếng”), tên Juan Diego thì mãi mãi đi liền với Ðức Mẹ Guadalupe vì chính ngài là người được Ðức Mẹ hiện ra ở đồi Tepeyac lần đầu tiên vào ngày 9/12/1531.

Ông là một thổ dân nghèo hèn, 57 tuổi, goá vợ, tên thật là Cuatitlatoatzin và sau khi rửa tội có tên là Juan Diego. Vào buổi sáng thứ Bảy, 9 tháng Mười Hai 1531, ông đến nhà nguyện gần đó để tham dự lễ kính Ðức Mẹ. Khi đang đi trên ngọn đồi gọi là Tepeyac thì ông nghe có tiếng nhạc du dương như tiếng chim hót. Sau đó một đám mây sáng chói xuất hiện, đứng trên đám mây là một trinh nữ người thổ dân mặc y phục như công chúa của bộ lạc Aztec. Trinh nữ nói chuyện với ông bằng tiếng bản xứ và sai ông đến với Ðức Giám Mục của Mexico, là một tu sĩ dòng Phanxicô tên Juan de Zumarraga, và yêu cầu đức giám mục xây cất một nguyện đường nơi Trinh Nữ hiện ra.

Dĩ nhiên vị giám mục không tin, và bảo Juan Diego xin Trinh Nữ cho một dấu chỉ. Trong thời gian này, người chú của ông bị bệnh nặng. Ðiều đó khiến ông cố tránh né không muốn gặp Trinh Nữ. Tuy nhiên, đức trinh nữ tìm ông, đảm bảo với ông là người chú sẽ khỏi bệnh, và bảo ông hái các bông hồng quanh đó để làm bằng chứng với vị giám mục. Lúc ấy là mùa đông thì không thể có bông hoa nào mọc được, nhưng lạ lùng thay, gần chỗ Trinh Nữ hiện ra lại đầy dẫy những hoa hồng tuyệt đẹp. Và ông đã dùng chiếc áo tơi của mình để bọc lấy các bông hồng đem cho vị giám mục.

Trước sự hiện diện của đức giám mục, ông Juan Diego mở áo tơi ra và bông hồng đổ xuống tràn ngập khiến vị giám mục phải quỳ gối trước dấu chỉ lạ lùng ấy. Lạ lùng hơn nữa, trên chiếc áo tơi lại có in hình Ðức Trinh Nữ như ngài đã hiện ra với ông ở đồi Tepeyac. Ðó là ngày 12 tháng 12 năm 1531.

Sau đó, người ta không đề cập gì nhiều đến Juan Diego. Có lúc ông sống gần một ngôi đền được dựng ở Tepeyac, được mọi người kính trọng như một giáo lý viên thánh thiện, vô vị lợi và đầy lòng nhân ái qua lời nói cũng như gương mẫu. Ông Juan Diogo qua đời vì già yếu bệnh tật ngày 30 tháng 5 năm 1548 tại Guadalupe, Mexico.

Juan Diego được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước tại Vatican ngày 09 tháng 4 năm 1990. Trong chuyến công du đến Mễ Tây Cơ ngày 06 tháng 5 năm 1990, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xác nhận lại một nghi thức có từ lâu đời nhằm vinh danh Juan Diego qua việc phong chân phước cho ông. Ngài được nâng lên bậc hiển thánh ngày 31 tháng 7 năm 2002 trong một buổi lễ được tổ chức long trọng tại Vương cung Thánh đường Ðức Mẹ Guadelupe, Mexico với khoãng 4.3 triệu người tham dự.

Trong bài giảng Lễ tuyên phong Chân Phước, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Cũng như các nhân vật trong phúc âm xưa đại diện chung cho mọi dân tộc, chúng ta cũng có thể nói rằng Juan Diego đại diện cho những người thổ dân đã chấp nhận Tin Mừng của Ðức Giêsu, nhờ sự trợ giúp của Mẹ Maria, là người luôn luôn sát cánh với hành động của Con Mẹ và sự phát triển của Giáo Hội, như khi ngài hiện diện với các Tông Ðồ trong ngày Hiện Xuống”

(Nguồn: Người Tín Hữu Online) 

From: Do Dzung

Maria ngày xa xưa ấy 

Người Bạn Đời, Bạn Đường Của Một Tổng Thống Mỹ – Đỗ Quân

Đỗ Quân 

Hôm thứ Tư tuần trước, trên chiếc xe lăn đặt sát bên dãy băng ghế đầu tiên của nhà thờ Maranatha Baptist Church ở Plains, (Georgia) có một ông già 99 tuổi ngồi để tiễn đưa người bạn đời 77 năm chung sống.

Ông già đó là Jimmy Carter, vị tổng thống thứ 39 của Hoa kỳ, năm nay 99 tuổi và đang trong tình trạng được chăm sóc cuối đời.

Bà Rosalynn Carter qua đời hôm 19 tháng 11 vừa qua, hưởng thọ 96 tuổi. Bà ra đi để lại người bạn đời và 4 người con, 25 cháu chắt.

Chuyện Mỗi Tuần kỳ này được dành cho bà Eleanor Rosalynn Carter, kể vài nét về cuộc đời, những thành tựu – và thăng trầm, mà hai ông bà chia sẻ với nhau trong gần 8 thập niên. Trong một xã hội mà cá nhân chủ nghĩa được tôn sùng đến mức tối đa, cách giải quyết thông thường nhất khi có mâu thuẫn trong hôn nhân là ly dị, chuyện tuần này có thể bị coi là nhạt, rất nhạt.

Rosalynn nói tại lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của Jimmy: “Qua nhiều năm, chúng tôi không chỉ trở thành bạn bè, người yêu mà còn là người cộng sự. Ông ấy luôn nghĩ rằng tôi có thể làm bất cứ điều gì và vì điều đó, tôi/chúng tôi đã có những cuộc phiêu lưu và thử thách tuyệt vời.”

Biết em từ thuở (anh) lên ba

Eleanor Rosalynn Smith sinh ngày 18 tháng 8 năm 1927 tại Plains, Georgia. Cô là chị cả trong một gia đình có 4 người con. Khi cha cô qua đời vì bệnh bạch cầu, cô mới được 13 tuổi, cô đảm nhận vai trò chăm sóc ba đứa em, đồng thời giúp vào công việc kinh doanh may mặc của gia đình.

Cùng ở thị trấn nhỏ 600 dân đó với Rosalynn là người chồng tương lai của cô. Hai gia đình là hàng xóm. Ngày Rosalynn ra đời, bà Lilian Carter- mẹ của Jimmy, là người y tá đã đến hộ sinh cho bà Smith. Sau đó, bà dẫn cậu Jimmy lúc đó lên ba tuổi đến thăm cô.  Bà Carter kể: “Anh ấy nhìn qua các thanh nôi và trông thấy tôi.”

Hải quân Thiếu úy Jimmy Carter và bà Rosalynn Carter sau hôn lễ

Để rồi họ trở thành đôi vợ chồng sống chung với nhau lâu nhất trong lịch sử các đời tổng thống Mỹ. Họ vừa kỷ niệm lần thứ 77 ngày thành hôn hôm 7 tháng 7 năm nay. Ông Carter cũng giữ kỷ lục vị cựu tổng thống sống thọ nhất,

Rosalynn chú ý đến chàng Jimmy ngay từ thuở thiếu thời. Khi đến chơi với cô bạn thân Ruth Carter, nàng luôn chú ý đến bức ảnh mà Ruth treo trên tường phòng ngủ. Bức ảnh chụp ông anh của Ruth trong đồng phục sinh viên sĩ quan Hải quân. Bà Carter từng thú nhận: “Tôi yêu bức ảnh đó.”

Vào một buổi tối tháng 7 năm 1945, khi Jimmy về nhà trong kỳ nghỉ trước năm cuối cùng tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland, anh cùng cô em gái Ruth, và người bạn trai của cô lái xe vòng vòng trong thị trấn. Jimmy ngồi ở băng ghế gấp phía sau – rumble seat, của chiếc xe Ford mui trần. Hôm đó, anh có một mình. Người đẹp ở thị trấn gần đó mà anh đang hẹn hò lại kẹt trong một buổi họp mặt gia đình.

“Chúng tôi đi vòng vòng quanh thị trấn, tìm việc gì đó để làm, cố gắng tìm một người đẹp để đi chơi chung,”

Họ dừng xe lại bên kia đường trước nhà thờ United Methodist. Jimmy chỉ tay về phiá nhà thờ. Anh trông thấy Rosie đang đứng ở đó, cô vừa dự xong một cuộc họp của giới trẻ. Cô đồng ý với lời mời của Jimmy và nhảy lên băng sau của chiếc Ford.

Họ đi xem phim. Cả hai người đều không ai nhớ tên cuốn phim đêm đó.

Bà Carter kết thúc câu chuyện về đêm đó trong quyển tự truyện “First Lady from Plains”: “Trăng tròn trên bầu trời, cuộc trò chuyện trở nên dễ dàng, và tôi đang yêu… và trên đường về nhà, anh đã hôn tôi!”

Buổi sáng hôm sau, khi được mẹ hỏi đi chơi có vui không, Jimmy trả lời: “Con đi xem xi-nê.”

“Với ai”

“Rosalynn Smith”

“Con nghĩ sao về cô ta?”

“Nàng là người mà con sẽ cưới.”

Chuyện không dễ như thế. Một ngày sau đó, Rosalynn đã tiễn anh tại ga xe lửa để anh trở về  Học viện Hải quân. Họ bắt đầu viết thư cho nhau. Chỉ vài tuần sau, vào tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Rosalynn đã dâng lời cầu nguyện tạ ơn để mừng người yêu sẽ không phải ra trận.

Khi anh về phép vào dịp lễ Giáng sinh cuối năm đó, Jimmy đã ngỏ lời cầu hôn và nàng… từ chối. Trong hồi ký Rosalynn viết: “Mọi chuyện quá nhanh.”  Nàng cho rằng mình còn quá “trẻ và ngây thơ” để lấy chồng. Nhưng chỉ vài tuần sau, khi cùng đi với cha mẹ Jimmy đến Annapolis để thăm anh, Jimmy lại cầu hôn. Lần này nàng gật đầu.

Nàng viết: “Ngay khi tôi về đến nhà, anh ấy đã gửi cho tôi một cuốn sách hướng dẫn ‘The Navy Wife’ (Người vợ hải quân), mà tôi đã nghiên cứu đến từng chi tiết.”

Hàng chục năm sau ngày họ lấy nhau Jimmy Carter vẫn còn thích nhắc đến chuyện mình bị từ chối trong lần cầu hôn thứ nhất và chiến dịch thuyết phục Rosalynn. Năm 2002, khi đoạt giải Nobel Hòa bình, cựu ông Carter nói với Katie Couric trên “The Today Show” rằng thành tích đáng tự hào nhất của ông không phải là giải Nobel hay chức vụ tổng thống Mỹ mà là “Khi Rosalynn nói rằng nàng sẽ lấy tôi.”

Tháng 7 năm 1946, một tháng sau khi Jimmy Carter tốt nghiệp Học viện Hải quân, họ kết hôn. Nàng 18 tuổi và chàng 21 tuổi.

Hôn lễ được tổ chức tại nhà thờ Methodist, chính nơi chàng và nàng có lần hò hẹn đầu tiên.

Ông chủ gia đình 

Rosalynn Carter (phải) làm việc tại văn phòng của đệ nhất phu nhân. Ảnh chụp năm 1977. Photo: Jimmy Carter Presidential Library

Gia đình Carters bắt đầu cuộc sống chung tại căn cứ Hải quân ở Norfolk, sau đó là công việc ở Honolulu và San Diego. Rosalynn thường ở nhà một mình với các con trong khi ông chồng làm việc trên một chiến hạm và sau đó trên các tàu ngầm.

Đời sống gia đình của họ là điển hình của thời kỳ đó, Jimmy xác nhận anh là “boss”. “Phần đầu tiên của cuộc đời chúng tôi, tôi thống trị mọi thứ,  chỉ trừ việc trong nhà…”- ông nói.

Ông Carter nói rằng mãi đến nay ông vẫn còn bị sốc vì chuyện đã không hỏi ý kiến Rosalynn về những lần chuyển việc đầu tiên của mình. “Bây giờ tôi khôn ra rồi!”

Ba con trai của họ – Jack, James III và Donnel – ra đời trong những năm Jimmy còn ở trong Hải quân; cô con gái Amy chào đời 15 năm sau.

Jimmy Carter đã viết trong cuốn sách “Sharing Good Times” (Chia sẻ những lúc vui) của mình rằng trong những năm đầu đó, ông “chưa bao giờ thấy cần thiết phải hỏi ý hoặc sự chấp thuận” của vợ.

Năm 1953, ông trở lại quê nhà để sống bên người cha đang trong những ngày cuối của cuộc đời, và ông Jimmy quyết định rời Hải quân và chuyển gia đình về Plains sinh sống mà không hỏi ý kiến Rosalynn.

Ở Plains, họ chỉ đủ sức dọn vào một ngôi nhà được chính phủ trợ cấp. Và khi Jimmy lãnh việc điều hành nhà kho đậu phộng của người cha, ông ý thức rằng mình không thể tự mình làm tất cả công việc, từ sổ sách văn phòng đến các chuyến thăm nông dân. Thế nên, “Rosalynn bắt đầu điều hành văn phòng cho tôi. Nàng đã theo học một khóa kế toán hàm thụ.”

“Tôi biết nhiều về công việc kinh doanh hơn ông ấy,” Rosalynn nói.

Mở mắt ra 

Cựu TT Jimmy Carter (người đứng) chào mừng người tị nạn Việt Nam.

Bà Carter ngồi sau Tổng thống Gerald Ford. Ảnh chụp năm 1980. Photo: Getty Images

Khi quyết định tranh cử vào Thượng viện tiểu bang vào năm 1962, ông Carter đã không cho vợ biết.

Ông kể rằng vào một buổi sáng khi ông thay quần áo, khoác bộ suit thay vì cái quần jeans xanh thường ngày thì bà bước vào phòng ngủ. Bà hỏi, ‘Jimmy, ai chết vậy? Anh sắp đi dự đám tang à?’”

Bốn năm sau, trong lần tranh cử thống đốc Georgia đầu tiên của ông, mọi chuyện cũng lại diễn ra đúng như thế. Khi ông đang nói chuyện điện thoại ở nhà thì bà Rosalynn đi ngang, ông gọi với ra, bảo vợ sắp valy cho tuần vận động tranh cử sắp tới của ông.

“Đi mà làm lấy đi.”

Câu trả lời đốp chát đó đã gây ngạc nhiên, tức giận và bối rối cho ông Carter, nhưng cũng khiến ông phải nghĩ lại về thái độ của mình. Thế là từ sau đó, ông xác nhận, không có phần nào trong “đời sống kinh doanh, cá nhân hoặc chính trị của chúng tôi mà chúng tôi không chia sẻ trên căn bản tương đối bình đẳng”.

Bắt đầu với nhiệm kỳ thống đốc năm 1970 của Jimmy Carter, bà Rosalynn là cố vấn chính về chính trị và chính sách.

Anh con trai James Carter nhận xét về cha mẹ: “Cha bắt đầu thay đổi khi tranh cử thống đốc, vì mẹ là một chính trị gia giỏi hơn ông rất nhiều. Bà quan tâm đến việc ông được bầu và tái đắc cử, còn ông quan tâm đến Kênh đào Panama.”

Bạn có nhớ?

“WASHINGTON, ngày 5 tháng 7 – Tổng thống Carter đã ra lệnh cho các tàu Mỹ đón những người tị nạn chạy trốn khỏi Đông Dương bằng thuyền và sẽ cho phép những người tị nạn tái định cư ở Hoa Kỳ nếu họ muốn, một giới chức cấp cao của Bộ Ngoại giao cho biết hôm nay.

Một giới chức yêu cầu giấu tên cho biết: “Họ sẽ được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể để xác định xem họ muốn đi đâu. Cơ quan Di trú và Nhập tịch sẽ xúc tiến nhanh hành trình của họ đến các điểm đến, bao gồm cả nơi họ chọn, đến Hoa Kỳ.” …

Trích bản tin trên tờ The New York Times số ra ngày 5 tháng 7, 1978

Năm 1979, tổng thống Jimmy Carter tuyên bố ông sẽ tăng gấp đôi số người tị nạn từ Việt Nam, Campuchia và Lào được nhận vào Hoa Kỳ, từ 7.000 người mỗi tháng lên 14.000 người. Một cuộc thăm dò từ CBS và The New York Times ngày đó cho thấy 62% người Mỹ không tán thành. 

Ngày 17 tháng 3 năm 1980, Tổng thống Jimmy Carter đã ký ban hành Đạo luật Hỗ trợ Người tị nạn và Di cư Đông Dương. Đạo luật này sửa đổi Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch trước đó và thiết lập các thủ tục tiếp nhận người tị nạn vào Hoa Kỳ. Nó cũng quy định việc thiết lập một hệ thống toàn diện và thống nhất để giải quyết và tái định cư người tị nạn. 

Trong nhiệm kỳ của Jimmy Carter, Hoa Kỳ đã tái định cư khoảng 200.000 người tị nạn Việt Nam. 

Các chính sách của Carter không chỉ cung cấp sự cứu trợ ngay lập tức cho những người chạy trốn sự đàn áp mà còn thiết lập một khuôn khổ cho việc tiếp nhận người tị nạn trong tương lai. Những nỗ lực tái định cư đã dẫn tới việc hình thành các cộng đồng người Việt sôi động trên khắp nước Mỹ. Ngoài ra, hành động của Carter đã tạo tiền lệ cho cách giải quyết của Hoa Kỳ đối với các cuộc khủng hoảng người tị nạn và ảnh hưởng đến các chính sách nhập cư và tị nạn sau này. 

Liệu Jimmy Carter có thể đi đến những quyết định đó mà không có ý kiến  của bà Rosalynn Carter?

Người quyền lực thứ hai ở Hoa kỳ trong nhiệm kỳ của Jimmy Carter

Sau khi Rosalynn Carter trở thành làm đệ nhất phu nhân được hai năm, tạp chí Time đã gọi bà là “người quyền lực thứ hai ở Hoa Kỳ”. Nhiều lần, ông Carter gọi bà là equal partner – một người cộng sự bình đẳng. Ông cũng nói rằng bà là một “sự mở rộng hoàn hảo của bản thân tôi”. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1977, Carter thừa nhận rằng bà đã cãi nhau với ông về nhiều chính sách của ông nhưng ông hành động căn cứ trên quyết định của mình và bà  chối không ảnh hưởng đến  những quyết định quan trọng của ông. Về sau, cũng trong một cuộc phỏng vấn, bà Carter nói rằng bà không công khai bày tỏ sự bất đồng với các chính sách của chồng vì tin rằng “sẽ mất hết hiệu quả của tôi với ông ấy” cũng như cho rằng  cử chỉ đó sẽ không giúp thay đổi quan điểm của ông theo quan điểm của bà. Bà nói rằng đệ nhất phu nhân có thể gây ảnh hưởng đến các quan chức hoặc công chúng bằng cách thảo luận hoặc chú ý đến một vấn đề.

Các nhà báo của tờ Washington Post được vợ chồng Carter xác nhận rằng họ thường xuyên bất đồng quan điểm khi ông còn là tổng thống nhưng luôn giữ kín chuyện đó.

“Bà ấy phản đối chính sách của tôi rất nhiều khi tôi còn ở Bạch ốc, nhưng chưa bao giờ công khai”, ông nói.

Bà Carter bắt tay Tổng thống Anwar el-Sadat của Ai Cập trong cuộc đàm phán hòa bình với Thủ tướng Menachem Begin của Israel tại Trại David năm 1979.

Photo: Corbis, via Getty Images

Bà Carter xác nhận: “Chúng tôi thường ngồi trên Ban công Truman vào buổi chiều và nói về những gì chúng tôi đã làm. Tôi đã nói với ông ấy điều tôi nghĩ.” Bà nhất quyết đòi ăn trưa riêng với ông vào thứ Năm hàng tuần tại Phòng Bầu dục.

Ông bắt đầu gọi bà là cố vấn đáng tin cậy nhất của mình và mời bà tham dự các cuộc họp Nội các.

Sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Carter là thành lập một ủy ban tổng thống về sức khỏe tâm thần. Ông đã cố gắng bổ nhiệm Rosalynn làm người đứng đầu ủy ban này, vai trò mà bà đã đảm nhận khi còn là đệ nhất phu nhân Georgia. Nhưng khi các cố vấn đặt câu hỏi về tính hợp pháp và chính trị của việc bổ nhiệm một thành viên gia đình vào vai trò này, họ đã phải thỏa hiệp, Rosalynn trở thành “chủ tịch danh dự” của Ủy ban này.

Bà Carter đã thành lập một Văn phòng Đệ nhất phu nhân chính thức hoàn chỉnh với đội ngũ nhân viên 18 người ở East Wing của Bạch ốc – “Lúc đầu, tôi phải đi ra cửa sau cho đến khi mọi người quen với sự cò mặt của văn phòng này ở đó.”

Bà trở thành đệ nhất phu nhân thứ hai từng ra điều trần tại Quốc hội, sau bà Eleanor Roosevelt.

Gerald Rafshoon, giám đốc truyền thông của Bạch ốc thời Carter cho biết người ta đã đánh giá thấp bà Rosalynn: “Bà ấy thực sự là tai mắt của Jimmy Carter. Và bà là người mà chúng tôi sẽ tìm đến nếu cần giúp Jimmy giải quyết vấn đề gì đó.”

Trong thời gian ở Bạch ốc và cả sau này, bà Carter đóng vai trò cố vấn chính trị cho tổng thống, nhà ngoại giao quốc tế, người đấu tranh cho những người chăm sóc và ủng hộ việc chăm sóc sức khỏe tâm thần – vào thời điểm mà việc điều trị bệnh tâm thần ngang bằng với bệnh thể chất còn là một ý tưởng mới lạ.

Theo Scott Kaufman, giáo sư lịch sử tại Đại học Francis Marion, tác giả quyển “Rosalynn Carter: Equal Partner in the White House” (Cộng sự bình đẳng trong Bạch ốc” năm 2007, nói rằng Carter là một “người mở đường thực sự” và “người đột phá”, đồng thời là “một trong những nhà hoạt động tích cực nhất” trong số những đệ nhất phu nhân trong lịch sử nước Mỹ.

Cách hoạt động của Rosalynn Carter ở vị trí đệ nhất phu nhân được so sánh với Eleanor Roosevelt, người đã xác định lại vai trò của mình hơn 25 năm trước khi gia đình Carters chuyển đến Washington.

Roosevelt là đệ nhất phu nhân đầu tiên điều trần trước Quốc hội – và Rosalynn Carter là người thứ hai, đại diện cho Ủy ban Sức khỏe Tâm thần của Tổng thống với tư cách là chủ tịch danh dự vào năm 1979. Rosalynn Carter là phu nhân Bạch ốc đầu tiên thường xuyên tham dự các cuộc họp nội các của tổng thống, nơi những người đứng đầu các bộ phận điều hành tạo nên vòng tròn cố vấn sâu nhất của họ. Bà cũng là người đầu tiên tự mình gặp gỡ các nhà lãnh đạo nước ngoài, dành 13 ngày ở bảy quốc gia Mỹ Latinh và Caribean.

Kaufman nói rằng mặc dù các đệ nhất phu nhân trước đây đã từng đi công du nước ngoài, nhưng họ thường được coi là “những phái đoàn thiện chí” với những cuộc gặp gỡ xã giao. Rosalynn Carter là “người đầu tiên thảo luận về chính sách kinh tế, kiểm soát vũ khí và buôn bán ma túy” với tư cách là sứ giả của tổng thống. Ông nói: “Đây là những điều mà những người chỉ trích bà cho rằng là vượt quá giới hạn đối với một đệ nhất phu nhân. Nhưng bà Carter biết về các vấn đề đó – thậm chí còn học tiếng Tây Ban Nha để chuẩn bị – và không lùi bước.

Bà Carter đã vận động hành lang để thông qua Equal Rights Amendment (Tu chính án về quyền bình đẳng) để bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả người Mỹ dựa trên giới tính, nhưng do phản ứng dữ dội của phe bảo thủ đối với phong trào nữ quyền ru chính án đó không được thông qua. Bà đã thúc đẩy việc thành lập Văn phòng Đệ nhất phu nhân, giúp xác định lại vai trò đó trong tương lai. Văn phòng này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Bà khuyến khích phụ nữ phục vụ ở tất cả các cấp chính quyền, cả trong và ngoài chính quyền của chồng bà. Jimmy đã bổ nhiệm một số lượng phụ nữ kỷ lục vào ghế thẩm phán liên bang, trong đó có Ruth Bader Ginsburg, người tiếp tục phục vụ tại Tòa án Tối cao.

Với tư cách là chủ tịch ủy ban tổng thống, bà đã ủng hộ việc thông qua Đạo luật Hệ thống Sức khỏe Tâm thần, không ngần ngại kêu gọi các nhà lập pháp chủ chốt của Capitol Hill thúc đẩy việc thông qua đạo luật này. Năm 1987, bà thành lập Rosalynn Carter Institute for Caregivers tại trường cũ của bà, Đại học Southwestern Georgia, tập trung vào việc “xây dựng sự cộng tác giữa các khu vực” và “ủng hộ cho chính sách công” để hỗ trợ cho 53 triệu người chăm sóc của đất nước. Carter cũng viết một số cuốn sách về bệnh tâm thần và cách chăm sóc, gồm quyển “Helping Yourself Help Others: A Book for Caregivers” (Tự giúp mình giúp đỡ người khác: Sách dành cho người chăm sóc) và “Within Our Reach: Ending the Mental Health Crisis.” (Trong tầm tay của chúng ta: Chấm dứt khủng hoảng sức khỏe tâm thần).

Tại Thượng viện Hoa kỳ năm 2011 trước Ủy ban Đặc biệt về Người cao tuổi của Thượng viện, bà Carter đã nói: “Tôi muốn nói rằng trên thế giới chỉ có bốn loại người: Những người từng là người chăm sóc; những người hiện đang là người chăm sóc; những người sẽ là người chăm sóc; và những người sẽ cần đến những người chăm sóc.”

Về bệnh tâm thần, bà nói: “Các bệnh tâm thần cũng là bệnh như bao thứ bệnh khác. Chúng có thể được chẩn đoán và điều trị, và phần lớn những người mắc các bệnh này có thể có cuộc sống trọn vẹn, làm việc, đi học và trở thành thành viên hữu ích trong cộng đồng của họ.”

Bí quyết hôn nhân của gia đình Carter

Kevin Sullivan và Mary Jordan, hai ký giả của tờ Washington Post trong bài viết về vợ chồng cựu tổng thống Carter năm 2021 đã kể rằng ông nhận ra “sự dịu dàng của bà ấy khi chúng tôi tranh cãi” và thấy dễ chịu khi ở bên bà. Ông nói, những bất đồng của họ phần lớn là những chuyện nhỏ nhặt, chẳng hạn như nên xem gì trên TV. “Nhưng chúng tôi không bao giờ đi ngủ trong trạng thái giận dữ.”

Hai ông bà Rosalynn và Jimmy Carter nắm tay nhau trong một dự án làm việc kéo dài một tuần với các thiện nguyện viên khác cho Humanity Habitat năm 2018.
(Robert Franklin/South Bend Tribune/AP)

“Chúng tôi đã nhận ra từ lâu rằng chúng tôi cần chia sẻ mọi thứ. Tôi đã cho bà ấy nhiều riêng tư. Bà ấy làm điều bà ấy muốn, còn tôi làm điều tôi muốn. Nhưng sau đó chúng tôi đã tìm kiếm những thứ mà chúng tôi có thể cùng nhau làm được.”

Sau một nhiệm kỳ ở Bạch ốc, vợ chồng Carter quay trở lại Plains và ngôi nhà mà họ đã xây vào năm 1961. Họ vẫn con trẻ, chỉ mới ngoài 50 và quyết định rằng họ vẫn còn nhiều việc phải làm. Sau đó, họ đã quyên góp được hàng triệu đô la và đi khắp thế giới cho Trung tâm Carter, nơi cổ động cho các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, các sáng kiến y tế cho người nghèo và bình đẳng cho phụ nữ.

Ông được giải Nobel Hòa bình năm 2002 về những gì ông đã làm trong nhiều năm cho hòa bình và nhân quyền.

Ông bà Carter cũng giúp tổ chức bất vụ lợi Habitat for Humanity xây nhà cho những người nghèo trên khắp thế giới.

Ông Carter chơi tennis nên bà cũng đã học chơi. Khi bà 59 tuổi và ông 62 tuổi, họ thử trượt tuyết xuống dốc. Họ cùng nhau đi câu cá từ Montana đến Mông Cổ. Họ đã cùng xác định đến 1.300 loài chim trong nhiều chuyến đi ngắm chim.

Ông nói, sau này thỉnh thoảng ông ở nước ngoài vài ngày mà không có bà vì công việc của Trung tâm Carter. Nhưng họ vẫn giữ thói quen đọc Kinh Thánh cùng nhau hàng đêm trước khi đi ngủ. Họ thường đọc cho nhau nghe trên điện thoại. Hoặc, nếu gặp khó khăn vì chênh lệch múi giờ, họ sẽ đọc một mình, mỗi người biết rằng người kia đang đọc chính xác cùng một câu.

Chương cuối cuộc đời đệ nhất phu nhân đáng kính

Rosalynn và Jimmy Carter trở về nhà sau khi dự tiệc mừng Năm mới 2020
cùng các thân hữu ở Plains, Georgia. Photo: Jill Stuckey

Những gì diễn ra tại Atlanta phản ánh những chương lớn nhất của cuộc đời bà Carter. Hàng ngàn người đưa tang đã đến viếng linh cữu của bà tại thư viện tổng thống Carter, cách Trung tâm Carter mà họ đồng sáng lập chỉ vài bước chân sau khi rời Bạch ốc. Sau đó, tại nhà thờ trường đại học Emory (Atlanta), bà đã được vinh danh trong một buổi lễ tràn ngập âm nhạc với sự có mặt của những đồng đại sứ của tổ chức Habitat for Humanity. Hơn 1.000 giáo dân tập trung chật kín ngôi nhà thờ trang nhã với Tổng thống Joe Biden, cựu Tổng thống Bill Clinton và năm đệ nhất phu nhân cùng với Jimmy Carter và 4 đứa con của họ ngồi ở hàng ghế đầu.

Cuộc chia ly của Rosalynn Carter và Jimy Carter sau 77 năm chung sống chỉ là tạm thời. Tại tang lễ của bà Carter, Amy Carter, con gái của họ, đã thay mặt cha đọc một đoạn trong bức thư mà ông đã viết cho bà cách đây 75 năm:

“Em yêu, mỗi lần anh xa em, anh đều rất xúc động khi quay trở lại và nhận ra em tuyệt vời đến  thế nào. Khi đi xa, anh đã cố thuyết phục mình  rằng em thực sự không thể ngọt ngào và xinh đẹp như anh nhớ. Nhưng khi nhìn thấy em, anh lại yêu em lần nữa. Điều đó có vẻ lạ đối với em không? Nó không xa lạ với anh. Tạm biệt em yêu. Hẹn ngày mai nhé!

Jimmy”

Mộ của bà nằm trong tầm nhìn từ hiên trước ngôi nhà, nơi tổng thống thứ 39 của Hoa kỳ hiện đang sống.

Đỗ Quân 

(tổng hợp từ Washington Post, New Your Times, AP, CNN)


 

Sống chung với tuổi già – Lương Thái Sỹ

Lương Thái Sỹ

Ai cũng tới lúc già đi, hãy sẵn sàng “sống chung với tuổi già”. (minh họa: Unsplash)
“Ôi cái bụng bự của tôi”, “Dạo này cứ 3, 4 giờ sáng là thức”, “Giời ạ, cứ nhớ trước quên sau, hay bị mất trí nhớ rồi ta!”… Đó là dấu hiệu bạn đang bước vào quá trình lão hóa.
Sanh-lão-bệnh-tử, bình thường, ai cũng phải qua bốn bước. Vậy bạn phải chấp nhận tuổi già sẽ ập đến.
Bao nhiêu người trong chúng ta muốn có một hướng dẫn đáng tin cậy với bằng chứng cụ thể về quá trình lão hóa, khi cơ thể và tâm trí sẽ thay đổi theo tuổi già và cách thích ứng với “bình thường mới”? Đó là một thách thức lớn. Lý do, quá trình lão hóa làm thay đổi con người diễn ra dần dần qua nhiều thập niên và được định hình bởi hoàn cảnh kinh tế xã hội của mỗi cá nhân; khu vực sống, cách sống và các yếu tố khác nữa.
Ngoài ra, dù chúng ta có các vấn đề sinh lý chung khi già đi, nhưng không theo cùng lộ trình mù mịt phía trước. Bác sĩ Rosanne Leipzig, phó Chủ tịch giáo dục tại Khoa Lão khoa và Y học Giảm nhẹ Brookdale tại Trường y Icahn School of Medicine ở Mount Sinai, New York, nhận định: “Những thay đổi có thể dự đoán được không nhất thiết phải xảy ra cùng lúc hoặc theo cùng một trình tự. Những người lớn tuổi là nhóm không đồng nhất nhất trong các nhóm tuổi khác nhau”.
Leipzig, 72 tuổi, đang dành ra toàn thời gian để giảng dạy nội trú và nghiên cứu sinh cũng như khám bệnh cho bệnh nhân vừa xuất bản cuốn sách mới “Honest Aging: An Insider’s Guide to the Second Half of Life” được đánh giá là “Cuộc kiểm tra toàn diện nhất về những gì sẽ xảy ra trong nhiều chục năm khi chúng ta già dần”.
Leipzig có hai mục tiêu khi viết hướng dẫn này. Thứ nhất là “Để vượt qua tất cả những suy nghĩ tiêu cực về lão hóa”. Thứ hai là “Để giúp mọi người hiểu rằng có rất nhiều điều người già có thể làm trong việc thích nghi với trạng thái bình thường mới để có cuộc sống chất lượng hơn và có ý nghĩa”.
Khi được hỏi tại sao tựa sách lại có cụm từ “Honest Aging” (Tuổi già trung thực), bà giải thích: “Bởi vì có quá nhiều thứ dạy cách thích nghi với tuổi già là không đáng tin cậy. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên tự nhủ: Già đi chính là ‘mặc định’ của loài người và thừa nhận chúng ta thật may mắn khi có thêm được ngần ấy năm sống với tuổi già”.
Mức tăng tuổi thọ của con người là phi thường trong thời kỳ hiện đại. Với những tiến bộ trong y học và sức khỏe cộng đồng, số người từ 60 tuổi trở lên đông hơn rất nhiều so với đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, đa số chúng ta đều thiếu hiểu biết rõ ràng về những gì xảy ra với cơ thể mình trong một khoảng thời gian đôi khi rất dài sau tuổi trung niên.
Khi được hỏi, những câu hỏi nào người lớn tuổi thường hỏi nhất? Leipzig đưa ra một danh sách: Tôi có thể làm gì với cái bụng phệ này? Làm thế nào tôi có thể cải thiện giấc ngủ? Tôi gặp khó khăn khi nhớ tên và đây có phải là chứng mất trí nhớ? Tôi có thực sự cần nội soi hoặc chụp quang tuyến vú không? Tôi nên làm gì để lấy lại vóc dáng? Tôi có cần phải ngừng lái xe?”
Đằng sau những câu hỏi này là sự hiểu biết kém về những thay đổi ‘không thể tránh khỏi’ về thể chất và tinh thần mà tuổi già mang lại – bà nói và khẳng định – Các giai đoạn lão hóa không thể chia nhỏ theo từng thập niên. Những người ở độ tuổi 60 và 70 có sự khác biệt đáng kể về sức khỏe và chức năng.

Người cao tuổi tập thể dục với tạ gỗ trong sự kiện nâng cao sức khỏe nhân ‘Ngày tôn trọng người cao tuổi’ của Nhật Bản tại quận Sugamo, Tokyo vào ngày 19 Tháng Chín, 2016 ở Tokyo, Nhật Bản. (ảnh: Yuya Shino / Getty Images)

Thông thường, những thay đổi có thể dự đoán được liên quan đến quá trình lão hóa diễn ra nhiều hơn ở độ tuổi từ 75 đến 85”. Leipzig lên danh sách các vấn đề liên quan đến tuổi tác cần chú ý:
-Người lớn tuổi thường có các triệu chứng khác với người trẻ tuổi khi bị bệnh. Ví dụ, người lớn tuổi bị đau tim có thể khó thở hoặc lú lẫn thay vì đau ngực. Người lớn tuổi bị viêm phổi có thể bị ngã hoặc chán ăn thay vì sốt và ho.
-Người già thường phản ứng khác với người trẻ với thuốc và rượu. Do những thay đổi về thành phần cơ thể và chức năng gan, thận, ruột, người lớn tuổi nhạy cảm hơn với thuốc và thường dùng liều lượng thấp hơn, kể cả các loại thuốc sử dụng đã nhiều năm.
-Người già giảm dự trữ năng lượng. Khi tuổi càng cao, tim hoạt động càng kém hiệu quả; phổi chuyển ít oxy vào máu hơn và cần nhiều protein hơn để tổng hợp cơ. Khối lượng cơ và sức mạnh cũng giảm. Kết quả, người già có ít năng lượng hơn lúc còn trẻ, ngay cả lúc cần nhiều năng lượng hơn để làm các công việc hàng ngày.
-Đói và khát cũng giảm dần. Vị giác và khứu giác của con người giảm sút, khiến món ăn bớt sức hấp dẫn. Chán ăn phổ biến hơn ở người cao tuổi và người già dễ no hơn dù ăn ít hơn. Nguy cơ mất nước tăng lên.
-Nhận thức chậm lại. Người lớn tuổi xử lý thông tin chậm hơn và phải mất nhiều thời gian hơn để hiểu thông tin mới. Đa nhiệm cũng khó khăn hơn, phản ứng chậm hơn và khó tìm đúng từ (đặc biệt là danh từ) hơn. Những thay đổi về nhận thức do thuốc và bệnh tật xảy ra thường xuyên hơn nhưng đa số là bình thường và không phải dấu hiệu của bệnh mất trí nhớ.
-Hệ thống cơ xương kém linh hoạt. Do các gai ngắn lại, các đĩa đệm ngăn cách các đốt sống cứng hơn và bị nén nhiều hơn, người lớn tuổi thường giảm chiều cao từ 1 đến 3 inch. Khả năng giữ thăng bằng bị giảm do những thay đổi ở tai trong, não và hệ thống tiền đình (một hệ thống phức tạp điều chỉnh sự cân bằng và ý thức về cảm giác). Người già định hướng không gian đường phố kém dần. Các cơ ở chân, hông và mông suy yếu và phạm vi chuyển động của các khớp hẹp dần. Gân và dây chằng không còn khỏe nữa. Té ngã và gãy xương thường xuyên hơn do xương giòn hơn.
-Thị lực và thính giác thay đổi. Người già cần nhiều ánh sáng để đọc hơn người trẻ. Họ khó nhìn thấy đường viền của các vật thể hoặc khó phân biệt giữa các màu gần giống vì khả năng nhận thức về màu sắc và độ tương phản đã suy giảm.
Do những thay đổi ở giác mạc, thủy tinh thể và chất lỏng trong mắt, mắt sẽ mất nhiều thời gian hơn để thích nghi với ánh sáng mặt trời cũng như bóng tối. Do các tế bào lông ở tai trong bị tổn thương nên người già khó nghe hơn, đặc biệt là ở tần số cao. Cũng khó hiểu được câu nói nhanh, câu nói chứa nhiều thông tin hoặc nói trong môi trường ồn ào.
-Giấc ngủ rời rạc. Người lớn tuổi mất nhiều thời gian hơn để chìm vào giấc ngủ và thức giấc nhiều hơn vào ban đêm.
Để giảm nhẹ các ảnh hưởng trên, Leipzig đề nghị các điều chỉnh người già nên làm.
-Đừng bỏ qua những thay đổi đột ngột trong chức năng vận động mà cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
-Mỗi lần đến gặp bác sĩ, hãy hỏi thuốc đang dùng liều lượng đã phù hợp chưa và có thể ngừng loại thuốc nào.
-Hãy chịu khó vận động thể chất nhẹ.
-Hãy chắc chắn đã ăn đủ chất đạm, uống đủ nước ngay cả khi không thấy khát.
-Giảm bớt đa nhiệm và làm việc theo khả năng của mình.
-Thực hiện các bài tập thăng bằng.
-Hãy kiểm tra mắt hàng năm.
-Dùng trợ thính nếu thấy khó trò chuyện.
-Không tập thể dục, uống rượu và ăn nhiều trong hai đến ba giờ trước khi đi ngủ.
Cuối cùng, “Đừng bao giờ nói ‘không bao giờ’ vì luôn có cách cải thiện tình trạng thể chất và tinh thần khi chúng ta già đi. Vấn đề là bạn phải luôn sẵn sàng sống chung với tuổi già,” Leipzig kết luận.

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen


 

TRƯỚC LÚC RA ĐI !

Trước khi qua đời ở tuổi 40 vì chứng bệnh ungthư dạ dày, nhà thiết kế và tác giả thời trang nổi tiếng thế giới “Kyayda Rodriguez” đã viết:
1. Tôi có chiếc ô tô thương hiệu đắt nhất thế giới trong ga ra của mình nhưng giờ tôi phải di chuyển bằng xe lăn.
2. Nhà tôi có đầy đủ các loại quần áo hàng hiệu, giày dép và đồ có giá trị. Nhưng giờ cơ thể tôi được bọc trong một tấm vải nhỏ do bệnhviện cung cấp.
3. Tôi có nhiều tiền trong ngân hàng. Nhưng giờ tôi không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ số tiền này.
4. Ngôi nhà của tôi giống như một cung điện nhưng giờ tôi đang nằm trên chiếc giường đôi trong bệnhviện.
5. Tôi có thể đi từ khách sạn năm sao này sang khách sạn năm sao khác. Nhưng giờ tôi dành thời gian trong bệnh viện để di chuyển từ phòng xét nghiệm này sang phòng xét nghiệm khác.
6. Tôi đã tặng chữ ký cho hàng trăm người nhưng giờ đây, ghi chú của bác sĩ là chữ ký dành cho tôi.
7. Tôi có bảy người thợ làm tóc để trang điểm cho mái tóc của mình nhưng bây giờ – tôi không còn một sợi tóc nào trên đầu.
8. Trên chuyên cơ riêng, tôi có thể bay đến bất cứ đâu tôi muốn. Nhưng bây giờ tôi cần sự giúp đỡ của hai người để dìu đến cổng bệnhviện.
9. Dù có nhiều thức ăn nhưng bây giờ khẩu phần ăn của tôi chỉ là ngày hai viên và tối nhỏ vài giọt nước muối.
Ngôi nhà này, chiếc xe hơi này, chiếc máy bay phản lực này, đồ đạc này, rất nhiều tài khoản ngân hàng, rất nhiều danh vọng và tiếng tăm, không có cái nào phù hợp với tôi cả. Không gì trong số này có thể giúp tôi nhẹ nhõm. “Không có gì là thật ngoài cái chết.”.
CUỐI CÙNG THÌ ĐIỀU QUÝ GIÁ NHẤT CHÍNH LÀ SỨC KHỎE.
ST
Mong bình an cho mình cho gia đình mình cho mọi người cho cả thế giới

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen