S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lê Trí Anh

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Thuở ấu thơ tôi đã được nghe nói đến “giường Hồng Kông” nhưng không hình dung ra được là nó thoải mái hay êm ái hay ra sao cả? Lớn thêm chút xíu thì có dịp chiêm ngưỡng dung nhan nguyên đám tài tử Hồng Kông (Miêu Khả Tú, Trịnh Phối Phối, Lý Tiểu Long, Địch Long, Khương Đại Vệ, Vương Vũ …) trên màn ảnh nhưng cảm thấy ái ngại hơn là ái mộ!

Mãi cho đến lúc già, tình cờ đọc bài báo ngắn (“Hong Kong’s ‘rebel’ tycoon Jimmy Lai has no regrets”) của Jerome Taylor mới chợt phát hiện ra là mình có tình cảm chứa chan đối với một vị phú gia Hương Cảng:

Ông trùm truyền thông triệu phú Jimmy Lai biết rằng sự ủng hộ của ông đối với các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ở Hồng Kông có thể sớm đưa ông đến sau song sắt, nhưng ông tự hào mô tả mình là “kẻ gây rối” nói rằng ông không hối tiếc.

“Tôi chuẩn bị sẵn tinh thần vào tù”, người đàn ông 72 tuổi nói với AFP từ văn phòng của Next Digital, tập đoàn truyền thông dân chủ lớn nhất và rầm rộ nhất Hồng Kông. “Nếu nó đến, tôi sẽ có cơ hội đọc những cuốn sách tôi chưa đọc. Điều duy nhất tôi có thể làm là suy nghĩ thật tích cực.”

 Câu chuyện cuộc đời của Lai là điển hình của nhiều cuộc hành trình làm giàu từ cơ hàn của các ông trùm Hồng Kông. Ông sinh ra ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc đại lục trong một gia đình giàu có, người đã mất tất cả khi cộng sản lên nắm quyền vào năm 1949.  Vượt biên đến Hồng Kông khi 12 tuổi …

 Nhưng con đường của ông đã tách khỏi những người cùng thời vào năm 1989, khi Trung Quốc điều xe tăng đến đè đè bẹp các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ở Quảng trường Thiên An Môn của Bắc Kinh. Ông đã thành lập ấn phẩm đầu tiên của mình ngay sau đó và các bài viết thường xuyên chỉ trích các nhà lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc. (“Ngạo Khí Của Một Nhà Triệu Phú.” Bản dịch của ThesaigonPost – 6/18/2020).

Cái giá mà Lê Trí Anh phải trả cho “ngạo khí” của mình – tất nhiên – không rẻ, theo tường trình của thông tín viên Florence de Changy (RFI) từ Hương Cảng :

Năm người có trách nhiệm của Apple Daily bị bắt tại nhà, đều vào khoảng 7 giờ sáng nay. Họ bị cáo buộc “âm mưu thông đồng với các thế lực nước ngoài”, một tội danh được xác định theo điều 29 của luật an ninh mới, có hiệu lực tại Hồng Kông từ ngày 30/06 năm ngoái…

Đằng sau Apple Daily, rõ ràng là nhà sáng lập tờ báo bị nhắm đến. Tỉ phú Lê Trí Anh 73 tuổi, là một trong những người chỉ trích đảng Cộng Sản Trung Quốc dữ dội nhất. Ông bị khởi tố với một loạt tội danh, và bị giam giữ từ tháng 12. Tháng trước, cảnh sát đã phong tỏa nhiều tài khoản ngân hàng của Lê Trí Anh liên quan đến các công ty của ông, trong khi ai cũng biết rằng sự tài trợ của nhà tỉ phú rất cần thiết cho sự sống còn của Apple Daily.

Nhà báo Đào Trường Phúc (phonhonews) cho biết thêm đôi ba tình tiết:

Tất cả các hãng thông tấn và cơ quan truyền thông quốc tế đều gọi Thứ Năm 24 tháng 6-2021 là một ngày đau buồn của 7.5 triệu người dân Hồng Kông, khi Apple Daily – tờ báo ủng hộ phong trào dân chủ có nhiều độc giả nhất – phát hành số báo cuối cùng và quyết định đình bản sau khi bị chính quyền phong tỏa toàn bộ tài sản và vốn liếng…

 Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontières) cử hành “tang lễ tờ Apple Daily” trước sứ quán Trung Cộng tại Paris để thể hiện thái độ phản đối. Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden gọi ngày Thứ Năm 24 tháng 6 là “một ngày đau buồn cho tự do báo chí tại Hồng Kông và toàn thế giới.”

Cùng thời điểm này, Vietnamnet cũng có một mẩu tin ngăn ngắn (“6 tỷ phú Việt Nam sở hữu gần 17 tỷ USD”) cập nhật về tình trạng tài chánh của những người giầu nhất hiện nay:

Dẫn đầu danh sách là chủ tịch Vingroup Phạm Nhật Vượng xếp vị trí 344 với 7,3 tỷ USD. Đây là năm thứ 9 liên tiếp ông Vượng có tên trong top người giàu của Forbes. Năm ngoái, doanh nhân này xếp hạng 286 với tài sản 5,6 tỷ USD.

Đứng thứ 2 và thứ 3 lần lượt là CEO Vietjet Nguyễn Thị Phương Thảo (2,8 tỷ USD) và Chủ tịch Hòa Phát Trần Đình Long (2,2 tỷ USD).

Ba tỷ phú còn lại của Việt Nam là Chủ tịch Techcombank Hồ Hùng Anh (1,6 tỷ USD), Chủ tịch Thaco Trần Bá Dương (1,6 tỷ USD) và Chủ tịch Masan Nguyễn Đăng Quang (1,2 tỷ USD).

Trong số 6 tỷ phú của Việt Nam, có 4 người lập nghiệp tại Đông Âu gồm ông Vượng, bà Thảo, ông Quang và ông Hùng Anh. Chỉ duy nhất tỷ phú Trần Bá Dương là chưa đưa doanh nghiệp chủ chốt của mình lên sàn.

“Các ‘đại gia’ đó đã trở về Việt Nam từ thập niên 1990 khi đất nước bắt đầu mở cửa để đổi mới. Họ đầu tư chủ yếu vào bất động sản và xây dựng quan hệ là hai thứ tài sản có lợi nhất trong thời quá độ. Với túi tiền và kinh nghiệm tham nhũng ở Liên Xô và Đông Âu cũ, họ là những người cơ hội (như ‘carpetbaggers’) đặc trưng của thời kỳ tích tụ tư bản hoang dã.

Đó là vắn tắt bối cảnh thời kỳ quá độ của kinh tế thị trường và chủ nghĩa thân hữu ở Việt Nam. Hầu hết các tập đoàn tư nhân đầu tư vào bất động sản, tuy một số đa dạng hóa đầu tư vào lĩnh vực khác như ngân hàng (VP, VIB, Liên Việt), hàng không (Vietjet), thực phẩm (Masan), siêu thị (Vinmart), y tế (Vinmec), giáo dục (Vinschool), và xe hơi (Vinfast).

Các tập đoàn này đã đóng góp đáng kể vào xây dựng hạ tầng, đặc biệt là bất động sản (property development). Từ các triệu phú, nay một số đã nhanh chóng trở thành tỷ phú đầu tiên của Việt Nam. Nhưng có một nghịch lý đáng buồn là trong khi họ làm giàu nhanh thì đa số người dân nghèo đi, và đất nước vẫn tụt hậu, với năng xuất lao động càng thấp.” (Nguyễn Quang Dy. “Chủ Nghĩa Thân Hữu Ăn Sâu Bám Rễ và Đầu Tư Nước Ngoài Chệch Hướng.” Bauxite Việt Nam 06/20/2020).

Nói thế sợ chưa hết lẽ. Giới tài phiệt ở đất nước này hiện đang tạo ra vô số “nghịch lý,” chứ nào chỉ một mà thôi:

Chả trách thiên hạ không ít lời ta thán:

  • Đoan Trang & Trịnh Hữu Long: “Truyền thông chính thống dường như không có bất kỳ bản tin bất lợi nào cho các tập đoàn lớn như Vingroup, Sungroup, hay FLC, mặc dù mạng xã hội luôn có nhiều tin đồn và nghi vấn về các vụ tai nạn, hỏa hoạn hay các vụ thâu tóm đất đai của các tập đoàn này.”
  • Tạ Phong Tần: “Chẳng có quốc gia nào mà dân chúng lại thù ghét người giàu như Ðông Lào, khoảng cách giàu – nghèo càng ngày càng lớn. Hễ ai giàu đều bị nghi là ‘cấu kết nhà nước làm ăn bất chính, cướp đất của dân,’ giàu nhờ lừa đảo.”
  • Trần Hoan : “Tui nói thật dưới xã hội cộng sản tất cả các đại gia tỷ phú đều giàu lên từ buôn bán bất động sản, từ việc phá tài nguyên thiên nhiên như rừng núi, khoáng sản, làm ô nhiễm sông, biển.. hay từ lừa đảo, làm ăn phi pháp…chứ có đại gia tỷ phú nào sáng chế ra được cái gì để giúp dân bớt khổ hay cống hiến được gì cho nhân loại chưa?”
  • Xuyên Việt: “Một trăm thằng đại gia thì có 99 thằng lừa đảo và làm ăn phi pháp.”

Nói thế e có hơi quá lời chăng? Chả lẽ một dân tộc với cả trăm triệu dân lại không xuất hiện được một vị tỷ phú nào ráo trọi mà chỉ có lác đác dăm ba ông (hay bà) trọc phú, chuyên thừa nước đục thả câu, thôi sao?


 

 3 người bị bắt ở Florida liên quan tới bạo loạn Quốc Hội

 Ba’o Nguoi-Viet

January 6, 2024

GROVELAND, Florida (NV) – Cơ Quan Điều Tra Liên Bang (FBI) bắt được ba bị cáo trong vụ bạo loạn Quốc Hội hôm Thứ Bảy, 6 Tháng Giêng, đúng kỷ niệm ba năm sự kiện lịch sử này, FBI loan báo, theo CBS News.

Ba bị cáo Jonathan Daniel Pollock, Olivia Michele Pollock và Joseph Daniel Hutchinson III bị FBI bắt ở Florida sau thời gian dài truy nã.

Ủng hộ viên cựu Tổng Thống Donald Trump xô xát với cảnh sát và bảo vệ để cố xông vô Quốc Hội hôm 6 Tháng Giêng, 2021, ở Washinton, DC. (Hình minh họa: Roberto Schmidt/AFP via Getty Images)

Bị cáo Jonathan Pollock, 23 tuổi, bị cáo buộc tấn công hàng loạt cảnh sát viên bằng vũ khí sát thương vào ngày bạo loạn 6 Tháng Giêng, 2021. Anh Pollock bị truy nã từ Tháng Chín, 2022, theo thông báo của FBI.

Bị cáo Olivia Pollock, chị của anh Pollock, và bị cáo Hutchinson từng bị bắt năm 2021 sau khi bị truy tố tội tấn công nhân viên công lực và nhiều tội khác. Tháng Ba năm ngoái, cả hai tháo thiết bị theo dõi đeo ở cổ chân rồi bỏ trốn trước khi chuẩn bị hầu tòa, CBS News đưa tin trước đây.

Ba bị cáo này bị bắt khi đặc vụ FBI ở Tampa thi hành lệnh bắt giữ của liên bang tại trang trại ở Groveland, Florida, sáng sớm Thứ Bảy, FBI ra thông báo cho hay.

FBI không nói rõ họ bắt được ba người này như thế nào, hay lý do FBI biết ba bị cáo ở đó.

Cả ba sẽ ra tòa liên bang ở Ocala, Florida, Thứ Hai tuần tới, theo FBI.

FBI vẫn đang truy nã hơn 80 người bị nghi dính líu tới vụ bạo loạn Quốc Hội, ông Matthew Graves, công tố viên liên bang ở Washington, DC, nói với CBS News.

Tính tới nay, hơn 1,200 người bị truy tố liên quan tới vụ bạo loạn, theo hồ sơ tòa án mà CBS News đọc được. Trong số bị cáo đó, hơn 700 người nhận tội và hơn 100 người bị kết tội. (Th.Long)


 

 “Gọi tên gì cho cuộc chiến Việt Nam – Campuchia 1979”?

Ba’o Tieng Dan

Trương Nhân Tuấn

6-1-2024

Trên RFA có bài phỏng vấn GS Vũ Tường bên Mỹ về chủ đề “Gọi tên gì cho cuộc chiến Việt Nam – Campuchia 1979?”.

Theo nhận xét của tôi thì bài này có [rất] nhiều sự kiện cần được bàn luận lại. Hiện thời trong nước có rất nhiều sử gia, nhiều nhân chứng “có tham dự” cuộc chiến Việt Nam – Campuchia. Dĩ nhiên có rất [nhiều người] thông thạo về cuộc chiến này. Hy vọng họ sẽ lên tiếng để “rộng đường dư luận”.

Cá nhân tôi, “chuyên gia nghiệp dư về biên giới và lãnh thổ”, cũng có một số kiến thức về cuộc chiến này. Theo tôi thì Việt Nam gọi cuộc chiến này là “Chiến tranh biên giới Tây Nam”. Một số học giả quốc tế gọi đây là “chiến tranh ủy nhiệm. Khmer đỏ đánh Việt Nam là đánh cho Trung Quốc. Việt Nam lấy danh nghĩa ‘tự vệ chính đáng’ nhưng khi đánh qua Campuchia là đánh cho Liên Xô”.

Cá nhân tôi cho rằng cả hai cái tên này đều đúng. Nhưng nguyên nhân sâu xa khiến chiến tranh xảy ra là vấn đề lãnh thổ. Trung Quốc luôn lợi dụng mâu thuẫn giữa Việt Nam và Campuchia về lãnh thổ để ngư ông đắc lợi. Bài viết sau đây trích lại từ một khảo luận của tôi về biên giới Việt Nam – Campuchia từ hai thập niên trước. Đăng lại cũng để “rộng đường dư luận”.

***

Biên giới Việt-Miên từ năm 1862 đến năm 1945:

Năm 1856, vua Khmer là Norodom (Nặc Ông Dương) thỉnh cầu được sự bảo hộ của Pháp. Ngày 11 tháng 8 năm 1863 hai bên ký hiệp định, vương quốc Khmer, lúc đó có tên mới là Cambodge, được đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp. Từ đó Pháp đại diện cho vương quốc Khmer trong các lãnh vực đối ngoại và đối nội.

[Trong] nội dung kết ước này vua Norodom không hề nói tới lãnh thổ, biên giới của vương quốc mình có từ đâu tới đâu.

Lãnh đạo Pháp ở địa phương, đô đốc Pierre-Paul de La Grandière, quyết định phân định biên giới (Việt Nam – Campuchia và Campuchia – Thái Lan), mục đích xác định lãnh vực thuộc quyền quản trị của Pháp. Nhưng sự mù mờ của biên giới, cùng với sự thiếu hiểu biết tình hình địa chính trị của khu vực, ông này đã làm cho phía Thái Lan hưởng lợi.

Pháp (đại diện bên Campuchia) ký kết hiệp ước với Xiêm vào ngày 15 tháng 6 năm 1867, theo đó Xiêm cam kết từ bỏ quyền “thuợng quốc” của Xiêm đối với Khmer. Đổi lại, Pháp phải nhượng cho Thái lãnh thổ Khmer vùng hữu ngạn sông Cửu Long, tức ½ lãnh thổ Campuchia hiện nay, gồm các tỉnh Battambang, Sisophon và Siemreap hiện nay.

Việc phân định biên giới Thái Lan – Khmer phù hợp với thực tế “biên giới hiện trạng”. Trước khi Pháp vào Campuchia, vương quốc Khmer phải chịu thần phục cả hai bên Việt Nam và Thái Lan. Tả ngạn sông Cửu long thuộc ảnh hưởng triều đình Huế và hữu ngạn thuộc Thái Lan.

Lập trường ở Paris, khi ký hiệp ước 1862 với triều đình nhà Nguyễn, nước Pháp có thẩm quyền thay thế nhà Nguyễn về quyền thượng quốc ở vương quốc Khmer. Kết ước giữa Pháp với Nặc Ông Dương ký năm 1863, chỉ có ý nghĩa tượng trưng chứ không mang tính bó buộc của pháp lý. Tức là có hay không có kết ước 1863 thì lãnh thổ Khmer vẫn chịu sự bảo hộ của Việt Nam. Việt Nam chịu bảo hộ của Pháp thì Khmer cũng chịu sự bảo hộ này. Điều này hoàn toàn phù hợp với “luật lệ quốc tế” trong thời kỳ.

Về lãnh thổ của Khmer nhượng cho Thái theo hiệp ước 1867, Pháp sửa chữa lại nhân ký hiệp ước Pháp – Xiêm 1893 phân định lãnh thổ. Các tỉnh của Campuchia nhượng cho Thái trước kia được Pháp lấy lại.

Biên giới Việt – Miên được phân định qua hai thời kỳ: Năm 1870 và năm 1873. Cuộc phân định năm 1870 có sự hiện diện của quan chức Khmer, cắm được 60 mốc. Vùng đất gọi là “Mỏ vịt” (tỉnh Sveyrieng) thuộc về Việt Nam. Sau đó phía Miên phản đối, đòi lại vùng đất này. Pháp đồng ý vạch lại biên giới, trả lại vùng này cho Campuchia. Cuộc phân định năm 1873 gồm 64 mốc.

Năm 1887, khối Đông Dương được thành lập. Campuchia là một thành phần, cùng với Cochinchine (Nam Kỳ), An Nam (Trung Kỳ) và Tonkin (Bắc Kỳ). Quốc gia Lào chỉ được thành lập năm 1893, do yêu cầu của ông August Pavie.

Đường biên giới giữa Cochinchine (miền Nam) và Campuchia trở thành đường biên giới hành chánh, nội bộ của Đông Dương, thuộc thẩm quyền của quan Toàn Quyền người Pháp.

Vùng Darlac thì được sáp nhập vào Việt Nam năm 1895. Điều này xảy ra do việc trao đổi đất đai: Việt Nam nhượng đất Trấn Ninh cho Lào, đồng thời Lào nhượng vùng đất phía nam nước này cho Campuchia. Năm 1923, vùng Kontum cũng được nhập vào Darlac, đồng thời với vùng đất đỏ phía nam là Buôn Mê Thuộc.

Về lãnh thổ trên biển thì được xác định năm 1939, do nghị quyết của Toàn quyền Brévié. Đó là một đường thẳng 140° so với bờ biển, theo đó các đảo phía bắc đường này thuộc Campuchia và các đảo phía nam thuộc Việt Nam, trong đó bao gồm đảo Phú Quốc.

Đến năm 1939, biên giới trên đất liền hai bên Việt – Khmer được phân định hoàn tất. Biên giới này là biên giới thuộc địa, thuộc nội bộ của nước Pháp, chứ không phải là đường biên giới quốc tế giữa quốc gia với quốc gia.

Một số học giả Campuchia hiện nay cho rằng, Pháp đã thiên vị Việt Nam lúc phân định biên giới. Vì vậy họ có khuynh hướng không nhìn nhận đường biên giới này. Dĩ nhiên điều này không phù hợp với các luật lệ cũng như tập quán quốc tế.

Theo nguyên tắc “Uti possidetis” của công pháp quốc tế, áp dụng cho lãnh thổ các nước thuộc địa sau khi lấy lại được nền độc lập. Trong thời kỳ thuộc địa, lãnh thổ đó do bên này quản lý, thì sau khi dành được độc lập, vùng đất đó sẽ tiếp tục do bên này quản lý.

Vì vậy, lập luận của một vài học giả Campuchia hiện nay, khi lên tiếng đòi lại đất của VN, như đảo Phú Quốc, vùng lãnh thổ gọi là Khmer Krom (tức là vùng đất hiện nay thuộc tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu…), đều không thuyết phục, nếu không nói là trái ngược với luật lệ và tập quán quốc tế.

Thử tưởng tượng, ai cũng có thể đòi lại đất như vậy, thì nước Mỹ, nước Úc, Canada v.v… sẽ biến mất, vì đất đó là của người dân bản địa, chứ không phải của dân da trắng hiện nay. Cũng như nhiều nước Nam Mỹ, các nước Châu Phi… sẽ không còn tồn tại. Nên biết là đường biên giới các nước Phi Châu là do hai đế quốc thực dân Anh và Pháp phân định. Để ý thì thấy là đường biên giới ở đây thường đi theo đường thẳng, đường kinh tuyến, vĩ tuyến… nguyên nhân vì hai bên phân định trong văn phòng, trên bản đồ. Hậu quả của việc phân định như thế làm cho nhiều dân tộc không có quốc gia, hay một dân tộc bị chia cắt ra, mỗi phần ở trên một quốc gia khác nhau. Và ta thấy rằng các đường biên giới đó vẫn còn giá trị pháp lý cho đến hôm nay.

Vì thế, đòi hỏi của các học giả Khmer đi ngược lại tinh thần của quốc tế công pháp. Điều cần nhấn mạnh là các cuộc phân giới, mặc dầu do quan người Pháp điều khiển, nhưng các quan chức người Miên và người Việt đều có hiện diện. Vấn đề là họ không phản đối lúc phân định mà chỉ phản đối khi phân định đã hoàn tất. Sau này ta sẽ thấy, lập luận của Sihanouk về biên giới luôn thay đổi. Ông này lúc thì dựa vào Nhật, lúc thì dựa vào Trung Quốc để yêu sách Việt Nam về lãnh thổ.

Năm 1945, khi Nhật đến thì Sihanouk lập tức nhảy sang Nhật. Khi thấy thế lực Trung Cộng nổi lên, Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch tháng 10 năm 1949, Sihanouk lại có khuynh hướng dựa vào Trung Cộng. Trong thời gian hội nghị Genève 1954, Sihanouk nghĩ rằng sẽ được Trung Quốc giúp đỡ lấy lại đất, do đó đưa ra những yêu sách rất phi lý. Trong thời chiến tranh Việt Nam, Sihanouk lại thiên về phía CSVN, giúp phe này, hy vọng khi họ chiến thắng sẽ trả lại đất đai. Rồi sau 1975, các phe Campuchia, kể cả Sihanouk, cũng lại chống Việt Nam vì họ cho rằng lãnh đạo CSVN không giữ lời hứa trả lại đất.

Từ đó cho đến nay, vấn đề biên giới, lãnh thổ, hải phận… giữa Việt Nam và Campuchia, lúc nóng, lúc lạnh tùy thuộc vào sự tốt lành quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Biên giới Việt-Miên 1945-1954

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Sihanouk đơn phương tuyên bố Campuchia độc lập.

Tháng 6 năm 1945, Sihanouk đưa kiến nghị lên lãnh đạo Nhật, xin Nhật trả lại Nam Kỳ cho Campuchia, thay vì trả cho triều đinh Huế.

Nên biết, lúc đó Nam Kỳ có quy chế là thuộc địa của Pháp, tương tự các lãnh thổ hải ngoại của Pháp hiện nay như Calédonie, Gyuane hay Réunion.

Quan chức Nhật chưa quyết định gì thì thua trận Đại chiến trước Đồng minh.

Pháp vào lại Việt Nam, gặp nhiều sự kháng cự của kháng chiến Việt Nam, trong khi chính phủ của ông Hồ tuyên bố thành lập nước VNDCCH ngày 2-9-1945 ở miền Bắc. Pháp vào lại Việt Nam, tổ chức lại các nước Đông Dương trở thành Khối liên hiệp Pháp.

Về phía Việt Nam, Bảo Đại được Pháp đề nghị trả lại lãnh thổ mà nhà Nguyễn đã ký giao cho Pháp trước kia. Bảo Đại hứa đồng ý nếu Pháp trả Nam Kỳ và Pháp nhìn nhận nước Việt Nam là một nước thống nhất ba miền Bắc, Trung, Nam. Pháp đồng ý nguyên tắc này và điều này được lập lại trong Hiệp định Genève 1954.

Quốc gia Việt Nam được thành lập vào năm 1949, đúng với thể thức quốc tế công pháp. Việt Nam cùng với Lào và Campuchia, trở thành những “quốc gia liên kết” trong khối Liên hiệp Pháp.

Phái đoàn của Campuchia được gởi qua Paris điều trần ngày 2 tháng 4 năm 1949, mục đích thuyết phục quốc hội Pháp trả lại Nam Kỳ cho Campuchia. Lý lẽ của phái đoàn Campuchia là lúc ký hiệp định bảo hộ với Pháp năm 1863, nội dung kết ước không nói đến số phận của Nam Kỳ vì vương quốc này nhường đất này cho Pháp sử dụng. Bây giờ Pháp không cần đến lãnh thổ này nữa, hợp lý là phải trả lại cho Campuchia chớ không thể trả cho triều đình Huế.

Lý lẽ này không thuyết phục được chính giới Pháp vì lẽ, các tỉnh Nam Kỳ là do triều đình Huế nhượng cho Pháp theo các hiệp ước 1862 và 1874. Trong khi hiệp định 1863 giữa Pháp và Miên thì không hề có một điều bảo lưu nào về lãnh thổ.

Quốc hội bác yêu sách này với đa số. Nhưng yêu sách về lãnh thổ của Campuchia thì được một số dân biểu cánh tả của quốc hội Pháp ủng hộ.

Thấy đòi nguyên cả Nam Kỳ không xong, ngày 2-5-1949 Quốc hội Campuchia cho ra một kiến nghị yêu cầu nhà nước Pháp phân định lại biên giới. Những người này cho rằng, biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia chưa bao giờ được phân định. Các cuộc phân định trước hoàn toàn mang tính cách thiên vị, gây thiệt hại cho Campuchia. Kiến nghị này cũng bị quốc hội Pháp bác bỏ.

Căm hận Pháp đã không thỏa mãn các yêu sách của mình, Sihanouk có khuynh hướng nghiêng về Trung Cộng, là một thế lực đang lên, đứng sau chính phủ Hồ Chí Minh, đối đầu với Pháp trong vấn đề Việt Nam. Ông này nghĩ rằng TQ sẽ dùng chính phủ của ông chống lại Pháp ở mặt trận phía tây.

Hội nghị Genève 1954, Sihanouk công bố trước các đại cường yêu sách về lãnh thổ của Campuchia gồm 6 giải pháp, nội dung dẫn lại sơ lược như sau:

Hoặc trả lại cho Campuchia toàn vùng đất phía hữu ngạn sông Hậu Giang, bao gồm thêm các tỉnh Trà Vinh, đảo Phú Quốc và vùng đất giới hạn giữa kinh Tân Châu và sông Tiền Giang, đồng thời tàu bè Campuchia có quyền quá cảnh ở Sài Gòn.

Hoặc là trả lại các vùng lãnh thổ trải dài cho tới hữu ngạn sông Tiền Giang, gồm các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc và đảo Phú Quốc, quyền được quá cảnh ở Sài Gòn đồng thời dân Khmer sống trên đất Việt Nam phải được bảo vệ.

Hoặc phải “quốc tế hóa Nam Kỳ”, kinh Vĩnh Tế và hải cảng Sài Gòn có quy chế tự do, bãi miễn thuế quan. Còn không là phải đặt Nam Kỳ và đảo Phú Quốc dưới sự quản trị của LHQ.

Các đòi hỏi phi lý này không được nước nào ủng hộ. Tuy vậy, kết cuộc hội nghị nhìn nhận Campuchia được quyền thông lưu trên sông Cửu Long để ra biển cũng như được quyền sử dụng thương cảng Sài Gòn. Nhưng các điều này bị VNCH bảo lưu, lý do cần xem xét lại luật lệ quốc tế để xem rằng Campuchia có chính đáng được hưởng các quyền này hay không? Cuối cùng thì các quyền này của Campuchia bị Việt Nam bác bỏ dưới thời ông Diệm.

Biên giới Việt Nam – Campuchia 1954 đến 1975

Sau thất bại ở hội nghị Genève 1954, Sihanouk nuôi dưỡng ý định trả thù. Ông này dung dưỡng mọi thế lực chống lại chính phủ Bảo Đại, sau này là Ngô Đình Diệm.

Một số thí dụ, các lực lượng tôn giáo chống ông Diệm được Sihanouk cho phép lập sào huyệt trên đất Miên. Vì vậy để tảo thanh, quân VNCH buộc phải đi vào đất của Campuchia. Các xung đột này bắt đầu từ năm 1955. Dĩ nhiên, Sihanouk lợi dụng các việc này vừa tố cáo Việt Nam, trong khi trên thực địa thì cho người dời cột mốc phân giới sang phía Việt Nam. Để trả đũa, ông Diệm tuyên bố hủy bỏ mọi “quyền lịch sử” của Campuchia trên lãnh thổ Việt Nam.

Đến năm 1960 lực lượng Mặt trận Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) được thành lập. Tổ chức này cũng xây dựng sào huyệt trên lãnh thổ Campuchia, dĩ nhiên dưới sự đồng ý ám thị của Sihanouk. Theo một số tài liệu, phía VNDCCH “nhìn nhận đường biên giới hiện trạng của Campuchia”, trong khi MTGPMN, cũng như nhiều cán bộ cấp cao của CSVN, thì hứa hẹn, nếu thắng được VNCH thì sẽ thương lượng lại với Campuchia về vấn đề lãnh thổ.

Vì các hứa hẹn này các đường mòn gọi là đường mòn Hồ Chí Minh được Sihanouk đồng ý cho thiết lập. Con đường huyết mạch tiếp tế lương thực và vũ khí cho quân MTGPMN cũng như quân chính quy miền Bắc sau này.

Quan hệ giữa Sihanouk và VNDCCH thân thiết đến mức độ vào tháng 8 năm 1963, Campuchia tuyên bố chấm dứt ngoại giao với VNCH.

Sau khi ông Diệm bị đảo chánh ngày 1-11-1963, quan hệ hai bên VNCH và Campuchia vẫn không ấm áp trở lại, mà còn tệ hai hơn. Nguyên nhân, người Mỹ chính thức đổ quân vào Việt Nam, các cuộc hành quân, càn quét, dội bom trên đất Campuchia nhằm phá hoại đường mòn Hồ Chí Minh… các việc này gây ra những thiệt hại đáng tiếc cho phía thường dân Campuchia.

Tháng 7 năm 1965, Sihanouk kiện VNCH lên LHQ về việc xâm phạm lãnh thổ. LHQ có điều tra nhưng chỉ kết luận rằng VNCH có vào lãnh thổ Campuchia sau đó rút về, vì lý do bên Campuchia có dung chứa các lực lượng đối kháng, chứ VNCH không có xâm chiếm lãnh thổ của Campuchia.

Không hài lòng kết quả điều tra của LHQ, Sihanouk lên tiếng kêu gọi quốc tế ủng hộ Campuchia, nhìn nhận “đường biên giới hiện trạng” của nước này. Một số nước ủng hộ, trong đó có Pháp. Năm 1966, Pháp ủng hộ Campuchia “trung lập”. Nhưng việc này không thuyết phục vì trên lãnh thổ Campuchia vẫn còn nguyên các sào huyệt của MTGPMN cũng như các con đường tiếp tế từ bắc vào nam gọi là đường mòn Hồ Chí Minh.

Cuối cùng thì Sihanouk bị tướng Lon Nol lật đổ năm 1970. Sau khi lên nắm quyền, Lon Nol yêu cầu tất cả các lực lượng của CSVN rút khỏi Campuchia. Cũng như bất kỳ một người Campuchia nào khác, Lon Nol cũng rất bài Việt.

Trong khi đảo chánh xảy ra, các cuộc thảm sát thường dân Việt Nam đã diễn ra, thây người thả đầy trên sông Cửu Long. Một số lớn người Việt phải hồi hương. Việc này càng tạo thêm gánh nặng và sự bất ổn trong xã hội miền Nam.

Lực lượng Khmer đỏ được thành lập dưới sự yểm trợ và huấn luyện của CSVN. Trên thực tế, vùng phía bắc lãnh thổ Campuchia hoàn toàn do quân đội CSVN kiểm soát. Nhưng trong nội bộ của Khmer đỏ lại có nhóm có khuynh hướng bài Việt. Những nhóm này cũng giết chóc, khủng bố, đồng thời trục xuất người Việt, như những lãnh đạo không cộng sản khác của Campuchia.

Tóm lại, thời kỳ này đường biên giới, cũng như kiều dân Việt Nam sống trên đất Campuchia, trở thành con tin bị các phía Campuchia trao đổi quyền lợi chính trị. Trong thời chiến, vấn đề biên giới không kiểm soát được, nhưng dân chúng Việt Nam là nạn nhân trực tiếp của các tranh chấp này.

Từ năm 1975 đến nay

Từ năm 1975 cho đến 1990, ta có thể nói rằng khu vực Đông Dương vừa là một chiến trường, vừa là một bàn cờ địa chiến lược của các thế lực quốc tế, gồm có các nước liên hệ trong khu vực và các đại cường Trung Cộng, Liên Xô và dĩ nhiên là Mỹ.

Vấn đề biên giới, Campuchia không chỉ có tranh chấp với Việt Nam mà còn có tranh chấp với Thái Lan về chủ quyền ngôi đền Préah Viheart, cũng như ranh giới ngoài biển, từ sau khi lấy lại độc lập năm 1953. Trong thời gian này vấn đề biên giới giữa các bên không chính thức đặt ra, nhưng nó luôn là cái cớ để chiến tranh bùng nổ. Nhất là đối với hai nước Việt – Miên.

Sau khi quân Pol Pot tiến vào Nam Vang, cũng như quân miền Bắc chiếm Sài Gòn, tháng 6 năm 1975, một phái đoàn của Khmer đỏ gởi đến Hà Nội để nhắc lại những cam kết của CSVN: “Nhìn nhận đường biên giới hiện trạng của Campuchia” trong thập niên 1960 về vấn đề lãnh thổ của Campuchia. Những người này, theo dự kiến là sẽ ký kết ước với Hà Nội để bảo đảm sự “toàn vẹn lãnh thổ” của hai nước.

Nhưng nhóm Khmer đỏ thân Trung Quốc trong phái đoàn bất đồng ý kiến với nhóm thân Hà Nội. Phe thân Bắc Kinh lên tiếng đòi Việt Nam trả lại cho họ vùng lãnh thổ gọi là “Khmer Krom”.

Điều nên biết, chiến thắng ngày 30-4-1975 của CS miền Bắc đã làm cho lãnh đạo Bắc Kinh tức tối. Chủ trương của Trung Quốc từ xưa nay là chống lại Việt Nam thống nhất, cũng như chống lại việc Việt Nam quá thân thiện hay lệ thuộc vào Liên Xô. Phía bắc, áp lực của Liên Xô đã trầm trọng, quân Liên Xô đóng dài dài trên biên giới gây áp lực. Biển Hoa Đông thì bị Nhật, Đài Loan án ngữ. Biển Đông thì hạm đội Liên Xô đã có mặt tại Cam Ranh. Nếu Campuchia hòa hoãn hay thân thiện với Việt Nam thì Trung Quốc sẽ không có cách gì để phá vỡ thế cô lập.

Mặt khác, quyền lợi của Mỹ cũng bị đe dọa, các nước chung quanh như Thái Lan, Mã Lai v.v… sẽ sụp đổ, theo như thuyết Domino của Mỹ. Vì vậy Bắc Kinh, cũng như “đồng minh bất đắc dĩ” của Trung Quốc là Mỹ, chắc chắn phải tìm cách đẩy hai bên Việt Nam và Campuchia vào thế đối đầu. Vì thế, cả hai đại cường, Mỹ và Trung Quốc, một tư bản, một cộng sản, do cùng mục tiêu ngăn chặn Liên Xô bành trướng, lại hợp tác với nhau, ra mặt ủng hộ Pol Pot chống lại Việt Nam.

Dĩ nhiên, nguyên nhân bên ngoài là tranh chấp đất đai, nhưng bên trong là sự tranh giành ảnh hưởng địa chiến lược trong khu vực của các đại cường. Vì vậy, như đã nói, lãnh thổ trong quảng thời gian này là cái cớ để chiến tranh bùng nổ.

Để kích thích Việt Nam vào vòng chiến, trong lúc phái đoàn Khmer đỏ còn ở Hà Nội thì quân Khmer đỏ đã đánh chiếm cù lao Poulo Wai trong vịnh Thái Lan. Dọc biên giới thì quân Khmer đỏ đã sẵn sàng dàn quân ứng chiến. Như thường lệ, những người dân Việt Nam sinh sống ở Campuchia lại trở thành nạn nhân. Trên 150.000 người bị ngược đãi, trục xuất về Việt Nam. Con số bị giết không biết là bao nhiêu, nhưng chắc chắn không nhỏ.

Tháng 6 năm 1976, Việt Nam gởi sứ giả sang Nam Vang hy vọng làm dịu tình hình, nhưng phía Khmer đỏ đòi phải phân định lại biên giới, thay đổi đường biên giới theo các bản đồ của Sở địa dư Đông Dương ấn hành năm 1954, trong khi phía Việt Nam thì nhìn nhận đường biên giới hiện trạng là đường biên giới thể hiện trên bộ bản đồ này. Mặt khác, hai bên cũng không đồng thuận về biên giới trên biển.

Phía Khmer đỏ gia tăng khiêu khích, từ năm 1975 đến 1978, bọn này đã tiến sang Việt Nam đánh phá và tàn sát dân chúng ở 25 huyện và 96 xã, gây ra trên 257.000 nạn nhân màn trời chiếu đất. Trong năm 1977, Pol Pot cho quân lính tiến sang Tây Ninh tàn sát dân chúng sinh sống ở đây, nhưng sự phản ứng của quân Việt Nam, do thiện chiến hơn, đã làm cho quân Khmer thiệt hại nặng. Và cũng để trả đũa những vụ tàn sát dân lành vô tội sinh sống các tỉnh dọc biên giới, tháng 12 năm 1977, Việt Nam mở một cuộc hành quân thần tốc vào tỉnh Svay Rieng, khiến quân Khmer đỏ thiệt hại nặng nề. Cuối năm, Pol Pot tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Chiến tranh Việt – Miên bùng nổ. Dưới sự quan sát của các học giả quốc tế, cuộc chiến này là một cuộc chiến “ủy nhiệm”. Pol Pot đánh Việt Nam là đánh cho Trung quốc. Còn Việt Nam đánh [Khmer đỏ] là đánh cho Liên Xô.

Tháng 12 năm 1978, quân Việt Nam tiến vào Nam Vang, đánh đuổi Pol Pot và thành lập chính phủ thân Việt Nam ở đây. Cùng với chính phủ này, Việt Nam đã ký kết các hiệp định “các nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới”. Trên đất liền ký năm 1982, trên biển ký năm 1983.

Trả lời phỏng vấn báo chí, Nguyễn Cơ Thạch cho rằng, Việt Nam tôn trọng đường biên giới hiện trạng theo bộ bản đồ Đông Dương 1/100.000. Nhưng Sihanouk, năm 1984, tố cáo trước dư luận, qua thủ tướng Thái Lan, rằng Việt Nam đã chiếm vùng “mỏ vịt”, tức là tỉnh Svay Rieng.

Về biên giới trên biển, theo nội dung các văn bản tham khảo được thì hai bên cùng đồng ý “lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia các đảo trong khu vực này”, hai bên đồng thuận về “vùng nước lịch sử” trong khu vực đảo Phú Quốc và “sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp… để hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước”.

Đảo Wai được Việt Nam trả lại cho Campuchia

Tháng 12 năm 1985 hai bên ký lại “Hiệp ước hoạch định biên giới”. Ngày 10-10-2005 ký thêm “Hiệp ước bổ sung” về biên giới. Hai bên bắt đầu cắm mốc từ năm 2006. Ta thấy tỉnh Svay Riêng, tức vùng Mỏ vịt, vẫn thuộc lãnh thổ của Campuchia. Tức là lời tố cáo của Sihanouk là không đúng.

Điều nên biết, sau khi quân Pol Pot vào Nam Vang thành lập chính quyền thì Sihanouk được mời về làm quốc trưởng. Nhưng liền sau đó thì bị bạc đãi, tính mạng bị đe dọa. Bắc Kinh tìm cách can thiệp và đưa ông này đi Trung Quốc. Ở Bắc Kinh, Sihanouk được đối đãi như là một thuợng khách. Bởi vì lãnh đạo Trung Nam Hải biết được giá trị ở con cờ Sihanouk. Ông vua này có thể làm bất cứ điều gì để chống lại Việt Nam.

Cũng vì lý do này mà đất nước Campuchia điêu linh, thần dân của ông bị nhà nước Khmer đỏ tiêu diệt gần 1/3, trong đó có họ hàng thân thích của ông. Điều trớ trêu là, nhà nước này do Trung Quốc dựng lên, lúc đó ông là một thành phần của nhà nước này.

Tuy vậy, hiện nay Trung Quốc vẫn là một đồng minh được ưa chuộng tại Campuchia. Người Việt ở đây bị kỳ thị bao nhiêu thì người Hoa được ưu đãi bấy nhiêu. Toàn thể huyết mạch kinh tế Trung Quốc hiện nay là do 10 dòng họ người Hoa nắm giữ. Liên minh Trung Hoa – Khmer hứa hẹn sẽ bền chặt lâu dài mà chất keo hàn gắn hai bên là tinh thần bài Việt. Vấn đề lãnh thổ luôn được các bên sử dụng như là một cái cớ để khích động dân chúng chống đối Việt Nam.


 

Sắp hầu tòa vụ ‘diễn xiếc trên mô tô,’ người mẫu Ngọc Trinh ‘xin khoan hồng’

Ba’o Nguoi-Viet

January 6, 2024

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Công An ở Sài Gòn loan báo vừa hoàn tất bản kết luận điều tra và lệnh truy tố cô Trần Thị Ngọc Trinh, 34 tuổi, tức người mẫu Ngọc Trinh, với cáo buộc “gây rối trật tự công cộng.”

Ngọc Trinh được công luận biết đến là người mẫu nội y và những phát ngôn gây tranh cãi như “Yêu mà không có tiền thì cạp đất mà ăn à?” Cô cũng từng khiến công luận bàn tán khi có quan hệ yêu đương chóng vánh với “đại gia” Việt kiều Mỹ Hoàng Kiều.

Hình ảnh mới nhất của người mẫu Ngọc Trinh trong trại giam. (Hình: Dân Trí)

Theo báo Dân Trí hôm 6 Tháng Giêng, cùng bị truy tố với cô Ngọc Trinh trong vụ án nêu trên là ông Trần Xuân Đông ở quận 4, Sài Gòn, nhưng ông này được tại ngoại hậu tra.

Bản tin cho biết, sau thời gian bị bắt tạm giam, cô Ngọc Trinh “đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật” và “bày tỏ mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật.”

Hồ sơ của công an cho hay, hôm 8 Tháng Mười năm ngoái, mạng xã hội lan truyền đoạn video clip ghi lại cảnh cô Ngọc Trinh “diễn xiếc” khi lái mô tô tại khu vực hầm Thủ Thiêm: Cô được nhìn thấy trình diễn một loạt động tác nguy hiểm như quỳ, bò, ngồi hai chân một bên, dang cả hai tay khi chạy xe với tốc độ cao…

Video clip này được hiểu là nhằm để quảng cáo cho một thương hiệu xe mô tô.

Sau khi đoạn clip gây tranh cãi, Công An Thành Phố Thủ Đức, Sài Gòn, đã triệu tập và xử phạt hành chính đối với cô Ngọc Trinh về hành vi chưa có bằng lái xe A2 nhưng vẫn lái mô tô phân khối lớn với các động tác nguy hiểm.

Tuy vậy, việc Công An ở Sài Gòn sau đó bắt giam cô Ngọc Trinh hôm 19 Tháng Mười cùng năm khiến công luận dấy lên chỉ trích về chuyện áp đặt tội danh “gây rối trật tự công cộng” trong lúc hành vi của nữ người mẫu là đăng tải video clip trên mạng xã hội.

Người mẫu Ngọc Trinh đã bị bắt tạm giam gần ba tháng. (Hình: Dân Trí)

Đề cập về tội danh nêu trên, Luật Sư Đặng Đình Mạnh bình luận trên trang cá nhân: “…Việc nới rộng, bành trướng khái niệm ‘nơi công cộng’ bao gồm cả không gian mạng đã thể hiện tham vọng lẫn ý đồ không hề đơn giản của cơ quan an ninh. Họ sẽ vươn đôi tay trừng phạt dài hơn, sâu rộng hơn để bảo đảm trấn áp mọi tiếng nói, nhất là tiếng nói đang thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng. Theo đó, cô Ngọc Trinh, một nhân vật đầy lý tưởng cho vai trò nạn nhân đầu tiên để mở màn cho sự bành trướng của cơ quan an ninh.”

Hiện chưa rõ thời điểm cô Ngọc Trinh sẽ phải hầu tòa cùng với đồng phạm Trần Xuân Đông. Tuy vậy, theo thủ tục tố tụng ở Việt Nam, từ lúc có lệnh truy tố bị can đến khi mở phiên tòa thường là khoảng một tháng. (N.H.K)


 

Ăn mặc không kín đáo

PHỞ TUẤN – 250, Giếng Đồn, TP Hạ long – Những câu chuyện vui

Một cô gái ăn mặc không được kín đáo đi vô tiệm. Ông chủ tiệm là một người nghiêm nghị, uyên bác; ông nhìn cô xong bèn mời cô ngồi.

Ông nhìn thẳng vào mắt cô và nói đôi điều mà suốt đời cô không bao giờ quên:

“Cô à, mọi thứ thật giá trị do thượng đế tạo ra đều được che đậy, khó tìm kiếm. Ví dụ:

1/ Hột xoàn được tìm thấy ở đâu?

Trong lòng đất, được bao phủ, lấp kín.

2/Ngọc trai được tìm thấy ở đâu?

Dưới lòng biển sâu được che chở bảo bọc bởi hai vỏ cứng đẹp đẽ.

3/ Vàng được tìm thấy ở đâu?

Dưới lòng đất, dưới nhiều lớp đất đá, muốn lấy được vàng ta phải đào xới khổ nhọc.

Ông nhìn vào cô lần nữa và phán “Cơ thể cô là bất khả xâm phạm là độc nhất vô nhị của thượng đế.

Giá trị của cô quá quí báu hơn cả vàng, kim cương hay ngọc trai, thế nên cô cũng cần phải che đậy nữa chứ. Nếu cô giữ kỹ các mỏ đá quí như vàng, kim cương hay ngọc trai…thì những người chuyên đào mỏ với nhiều máy móc cần thiết sẽ làm việc/khai thác cả nhiều năm trời:

1/Trước hết, họ phải xin phép chánh quyền (cha mẹ)

2/Thứ hai, họ phải ký hợp đồng hẳn hoi (hôn thú)

3/Thứ ba, họ phải biết khai thác quặng mỏ một cách chuyên nghiệp và biết tinh luyện để lấy những phẩm chất quí giá đó (hạnh phúc trong hôn nhân).

Nhưng nếu cô cứ để “những mỏ quí” của cô nằm khơi khơi trên mặt đất (khoe khoang với mọi người), thì cô đã khuyến khích những người khai thác mỏ bất hợp pháp đi vào. Họ sẽ tìm tòi, đào xới bất hợp pháp và sẽ lấy đi những thứ quí giá mà thượng đế ban tặng.

Nhớ nhen, các cô là tài sản quí báu.


 

TỰ NHỦ LÒNG…

Gieo Mầm Ơn Gọi

Tự nhủ lòng học cách sống bình yên

Chẳng hơn thua chuyện thiệt hơn trần thế

Bởi cuộc đời vốn chông chênh dâu bể

Cãi tranh chi để vướng bận trong lòng?

 

Cứ bình thản đón nhận những bão giông

Xuân muốn đến cần trải đông giá lạnh

Nếu có lỡ gặp khổ đau bất hạnh

Chớ nản lòng cứ mạnh mẽ vượt qua.

 

Rồi ai cũng đến tuổi bóng xế tà

Thác về đất thân hòa vào cát bụi

Chén canh đắng quên muộn sầu buồn tủi

Nơi thế nhân chẳng nhung nhớ điều gì.

 

Xa tranh giành chen lấn chốn thị phi

Như những cánh thiên di không ngừng nghỉ

Cứ bay đến khắp vùng trời thiên ý

“Bĩ cực rồi” cũng tới lúc ” thái lai”.

 

Tự nhủ mình một kiếp dẫu ngắn dài

Chân thiện sống như ngày mai sẽ chết

Buông bỏ hết muộn phiền không cần thiết

Để tâm hồn thật vui vẻ an nhiên.

ST


 

“Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.”… “Cứ đến mà xem!” (Ga 1:45-56)

Thứ 6 rồi bạn ơi, chúc bạn có một đôi tay mở rộng yêu thương có tầm vóc lực sĩ để gánh được những gánh nặng đang đè nặng trên vai của những người chung quanh Bạn nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 05/01/2024

TIN MỪNG: Ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói: “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.”… “Cứ đến mà xem!” (Ga 1:45-56)

SUY NIỆM: Ông Phi-líp-phê sau khi đáp lời mời gọi theo Chúa thì việc đầu tiên ông ta làm là chia sẻ Tin Mừng với nhóm bạn bè của ông đó là ông Na-tha-na-en. Bạn có thể tưởng tượng được sự nhiệt tình và ngạc nhiên của những người bạn này khi họ gặp Đấng Mê-si-a mà họ đã chờ đợi từ lâu. Niềm vui của họ chắc hẳn đã lan tỏa và thu hút người khác đến với Chúa Giêsu. Việc chia sẻ và rao truyền Tin Mừng phải vượt xa lời nói suông, nó phải được thể hiện qua những hành động cụ thể. Yêu thương người khác không chỉ đơn thuần là một cảm xúc mà nó là một sự lựa chọn đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của ý chí. Yêu thương không phải là một “danh từ-noun” mà là “động từ-verb”. (Love is not a “noun” but a “verb”!) Bạn đã và đang làm gì để chia sẻ Tin Mừng đến cho nhóm bạn bè của bạn?

LẮNG NGHE: Muôn lạy CHÚA, lời Ngài bền vững đến ngàn đời, trên cõi trời cao. (Tv 119:89)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, truyền giáo không phải chỉ là rao giảng một mớ giáo lý và lý thuyết nhưng mà là chia sẻ cuộc sống yêu thương, xin giúp con sống đời sống Công giáo đích thực bằng cách dùng cả cuộc sống của con để làm cho người ta biết và yêu mến Chúa.

THỰC HÀNH: Hãy nắm lấy những cơ hội đi lại đây đó, khi thi hành công tác, khi làm ăn, khi thăm viếng… để nói hay làm chứng về Chúa qua lời nói, thái độ và cách đối xử đầy tình yêu thương của bạn hôm nay nhé.

From: Do Dzung


 

Vụ Việt Á: Toàn bộ quan chức đều nhận hối lộ bằng đô la Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

January 5, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Một tình tiết bên lề trong phiên tòa xử vụ Việt Á khiến công luận chú ý là toàn bộ quan chức, từ bộ trưởng, thứ trưởng đến bí thư tỉnh, chủ tịch thành phố đều nhận hối lộ của doanh nghiệp này bằng đô la Mỹ, chứ không phải tiền đồng.

Theo báo VNExpress hôm 5 Tháng Giêng, tại phiên tòa, khi được hỏi về nguồn tiền đô la Mỹ dùng trong các lần “lót tay” cho quan chức từ trung ương đến địa phương, bị cáo Phan Quốc Việt, tổng giám đốc công ty Việt Á, khai mình thường rút tiền mặt tại ngân hàng đổi sang ngoại tệ.

Bị cáo Phan Quốc Việt (giữa), tổng giám đốc công ty Việt Á, bị dẫn giải đến tòa vào sáng hôm 5 Tháng Giêng. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Chẳng hạn, trong lần hối lộ ông Phạm Công Tạc, cựu thứ trưởng Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam $50,000, bị cáo Việt khai khi đó mình đang ở thành phố Đà Nẵng, “ra ATM rút 5.1 tỷ đồng,” rồi đem số tiền này đi đổi được $200,000 rồi đưa người phó, Vũ Đình Hiệp cất giữ để “khi nào cần ‘ngoại giao’ thì dùng dần.”

Bị cáo Hiệp sau đó xác nhận điều Việt khai, khẳng định các lần “đi ngoại giao” quan chức đều sử dụng đô la Mỹ.

Tuy vậy, bị cáo Phạm Công Tạc phủ nhận con số $50,000 và khai rằng mình chỉ nhận 100 triệu đồng ($4,103).

Trong số 38 bị cáo của vụ án Việt Á, ông Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế Việt Nam, bị cáo buộc nhận nhiều tiền nhất từ Việt Á – $2.2 triệu, để “can thiệp, chỉ đạo” giúp công ty Việt Á được Bộ Y Tế cấp số đăng ký lưu hành bộ kit xét nghiệm COVID-19 với giá cao gấp 3.5 lần giá thực tế.

Cũng tại phiên tòa Việt Á, theo báo ZNews hôm 5 Tháng Giêng, một chi tiết gây bàn tán là bị cáo Chu Ngọc Anh, cựu chủ tịch thành phố Hà Nội, cựu bộ trưởng Khoa Học và Công Nghệ, khai rằng mình đã làm “thất lạc” khoản tiền $200,000 mà Phan Quốc Việt hối lộ.

“Túi quà của Phan Quốc Việt đưa, ban đầu bị cáo [tôi] không biết bên trong có tiền. Nhận xong, bị cáo để trên sàn nhà trong phòng làm việc, mãi sau này mở ra xem mới thấy có tiền và bị cáo suy nghĩ việc nhận này dù thế nào cũng là sai lầm,” ông Ngọc Anh được dẫn lời.

Bị cáo Nguyễn Huỳnh (giữa), thư ký của ông Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế

Việt Nam, là người kết nối khoản hối lộ $2.2 triệu của Phan Quốc Việt. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Cựu chủ tịch thành phố Hà Nội nói thêm rằng mình đã bỏ số tiền nêu trên vào một chiếc vali nhờ người chở về nhà riêng và sau đó, do “bận đi công tác lâu ngày” nên không nhớ rõ cái vali để ở đâu.

Ông Ngọc Anh đưa ra lý do này để giải thích chuyện mình đã nộp tiền “khắc phục hậu quả” bằng khoản tiền đồng tương đương $200,000, hòng được cho bản án nhẹ khi tòa công bố phán quyết. (N.H.K)


 

Nếu luật pháp không nghiêm minh thì tất yếu sẽ loạn

Ba’o Tiengg Dan

Thái Hạo

5-1-2024

Sáng dậy thấy một loạt báo đưa tin, đọc, nhưng không biết vì sao ông Thích Trúc Thái Minh bị kỷ luật, cũng không hiểu vì sao ông này phải sám hối! Đây cũng là các câu hỏi tràn ngập mạng xã hội từ đêm qua đến giờ, và hầu như ai cũng tỏ ra khó hiểu, thất vọng.

Xin hỏi lại, ông Thích Trúc Thái Minh phạm vào tội lỗi gì? Nếu vì tổ chức hoạt động trưng bày trái quy định thì chủ yếu là vi phạm pháp luật, mà vi phạm pháp luật thì phải bị chế tài theo luật nhà nước, chứ sao lại chỉ bị Giáo hội kỷ luật và chỉ “sám hối”?

Rốt cuộc, cái cọng ngọ ngậy kia là gì, có đúng là xá lợi tóc phật như ông Thích Trúc Thái Minh tuyên truyền không? Hoặc ít nhất, nó có đúng là một trong tám “sợi tóc xá lợi” thuộc quốc bảo của Myanmar không, hay ông Thích Trúc Thái Minh mua ở một cửa hàng kinh doanh đồ thờ được gọi là “bảo tàng xá lợi”? Điều này nhà chức trách hoàn toàn có thể làm sáng tỏ trong một nốt nhạc.

Và nếu nó là giả mạo, không đúng như lời tuyên truyền, lại thêm sự hợp tác với người nước ngoài để lừa dối Phật tử thì phải chịu trách nhiệm thế nào trước pháp luật?

Có hay không sự lừa dối để trục lợi? Và những người bị thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần sẽ phải được trả lại công bằng như thế nào?

Việc bên giáo hội thì chiếu theo giáo luật, việc xã hội thì chiếu theo pháp luật, không thể qua loa chiếu lệ cho xong chuyện.

Rồi lại hỏi: Sau khi nhận lỗi (không biết lỗi gì!), ông Thích Trúc Thái Minh sẽ nói gì với Phật tử chùa Ba Vàng? Hay ông lại nói như các đệ tử của ông đang lang thang “tác chiến” trên khắp các mặt trận, rằng những kẻ kỷ luật và phê phán ông là vô minh và phải chịu quả báo? Ông sẽ tiếp tục tuyên truyền, bơm thổi gì vào đầu óc tín đồ?

Đây không phải lần đầu tiên ông Thích Trúc Thái Minh vi phạm và bị xử lý. Với tư cách là một tu sĩ Phật giáo, trụ trì một ngôi chùa lớn, nếu cứ vi phạm hết lần này đến lần khác và chỉ bị phạt một cách hời hợt như thế, xin hỏi trách nhiệm của Giáo hội đã đầy đủ chưa và ông Thích Trúc Thái Minh có xứng đáng đứng trong tăng đoàn nữa không?

Luật (cả giáo luật và pháp luật) nếu không NGHIÊM MINH thì loạn là tất yếu, không gì cứu vãn được.


 

TẬP….

Gieo Mầm Ơn Gọi

TẬP….

Tập cảm thông tha thứ
Trước lỗi lầm đắng cay
Vì đời cần biết mấy
Yêu thương trong tim này

Tập điềm nhiên tĩnh lặng
Trước điều tiếng thị phi
Sóng gió dù đủ kiểu
Rồi cũng sẽ tan đi

Tập khiêm nhường nhẫn nhịn
Trước giành giật hơn thua
Lá xanh dù thắm mấy
Cũng vàng phai theo mùa

Tập lắng lòng tĩnh táo
Trước thế sự đảo điên
Có nhiều khi em ạ
Mọi sự để tùy duyên