Ký ức 30-4: Giấc mộng kinh hoàng

Ba’o Nguoi-Viet

April 7, 2024

Phan Đức Minh/SGN

Một triết gia đã nói: Nhìn lại quá khứ gian lao để biết yêu quý hiện tại và tin tưởng ở tương lai…

Ba hồi kẻng báo thức vang lên, tôi bật dậy như cái máy.

Suốt cuộc đời ba chìm bảy nổi, chín cái lênh đênh, từ lúc 15 tuổi bỏ trường học đi kháng chiến, đánh Tây, chui hầm, rúc hố, hai lần bị Tây bắt nhốt vào tù, rồi 23 năm lính, hơn 12 năm tù cải tạo, phiêu bạt giang hồ qua bao nhiêu trại giam, toàn là rừng với núi âm u, hiểm hóc, giáp biên giới Lào, bao phen chết lên chết xuống, cho tới lúc này, 90 tuổi rồi, đang sống ở Mỹ, tôi vẫn không ghét cái gì bằng ghét những tiếng kẻng báo thức ác ôn, khốn nạn đó.

Nó báo hiệu bắt đầu một ngày lao động kinh khủng trong cái đói khát, khổ sở, nhọc nhằn đến tận cùng của cuộc đời.

Tất cả chung quanh đều tối om. Ngọn đèn dầu duy nhất là chiếc lọ đựng thuốc, đốt bằng dầu cặn, lớn cỡ quả trứng gà, thường treo ở góc tường phía trước cầu tiêu cuối phòng đã tắt ngủm từ lúc nào vì lượng dầu không đủ cho một đêm thắp sáng. Có tiếng la chí choé vì thằng nọ đái vào thằng kia.

Vì tên ngồi trên bồn cầu tiêu chưa kịp lên tiếng thì đã bị thằng đứng phía dưới, kẹt quá… đi một đường vòng, tưới ướt sũng từ cổ trở xuống. May mà tay kia vì ngồi trên cao cho nên mắt mũi, mồm miệng chưa phải lãnh cái thứ nước ghê gớm đó của tù cải tạo, tích tụ cả đêm.

Cảnh náo loạn này thường xuyên xảy ra vì tay nào cũng khôn ngoan, kinh nghiệm đầy mình, cứ thức dậy sớm hơn người khác một tí là phải lò mò, rón rén trong cái tối đen như mực Tầu, lần vào cái cầu tiêu duy nhất ở cuối phòng…

Nếu không, khi kẻng báo thức vang lên là gần một trăm tên tù cải tạo của nhà 10, cái nhà nhốt những tên bị coi là “ác ôn côn đồ thượng hạng”: chức vụ cao, có thành tích “chống phá cách mạng,” nhiều phen bị nhốt chuồng cọp vì đủ thứ việc… sẽ đổ xô vào cái nhà cầu chỉ có hai bàn cầu dành cho việc “đại sự,” còn “tiểu sự” thì cứ tưới xuống cái rãnh trước bồn nước, do tên tù trực phòng gánh nước giếng đổ vô đó từ chiều hôm trước.

Đèn điện bật sáng 10 phút cho đám tù dọn dẹp đủ thứ trên cái “lãnh thổ” dành cho mỗi tên: chiều dài hai mét theo bệ xi-măng, chiều ngang đo đúng ba gang tay của tôi. Khi ngủ mà nằm ngửa là đụng hoặc đè lên đứa bên cạnh cho nên ban đêm chỉ có cách nằm nghiêng mà thôi.

Cái bệ xi-măng làm giường ngủ là ở trình độ cao cấp nhất, do công an “phát minh” ra. Những năm đầu, quân đội nhân dân quản lý tù, người ta cho tù ngủ trên những cái sạp đan bằng nứa, tre rừng hoặc cây nhỏ. Xài kiểu giường này, dân tù nhà ta dù có đập chết vẫn tìm cách giấu giếm, gùi nhét đâu đó vài ba mẩu giấy linh tinh, mấy thứ đồ “quốc cấm, nguy hiểm, bí mật”. Công an phát minh giường bằng bệ xi-măng thì tù chỉ còn có nước… khóc mà thôi, nhét cái gì xuống bệ xi-măng được bây giờ?

Tíếng khóa mở cửa, rồi tiếng kéo cây sắt chặn ngang bên ngoài kêu rầm rầm. Tên tù trong Ban trật tự trại (có gốc con ông, cháu cha nón cối, hay có dây mơ rễ má với cán bộ của trại) quát to: “Nhà 10 ra tập họp điểm danh, mau lên!”.

Những con người vọt ra, đứng sau hàng rào kẽm gai, vặn mình vặn mẩy, vung tay vung chân cho khỏi mỏi sau một đêm ngủ theo cái kiểu co quắp, úp thìa (xếp muỗng) vì vùng núi ban đêm thường lạnh. Mùa đông thì thôi, lạnh khỏi nói, lạnh muốn chết luôn.

Ba hồi còi rít lên, tất cả dân tù ngồi chồm hỗm xuống đất, mười tên một hàng cho cán bộ trực trại điểm danh, ghi sổ. Xong màn điểm danh, một số chạy vô trong nhà lo dọn dẹp, chuẩn bị lãnh khoai sắn, đồ đem theo đi lao động. Riêng tôi, cái bao cát có quai đeo, của vợ con gửi cho khi “thăm nuôi” đã sống chết theo sát bên tôi bao nhiêu năm rồi, không nhớ nữa. Công an mà nghe nói “thăm nuôi” là có chầu bị “hỏi thăm sức khoẻ” vì Đảng và Nhà Nước có để cho ai đói đâu mà phải “nuôi”, phải nói là “đi thăm” mới đúng chính sách.

Trong túi là phần khoai sắn ăn trưa nhét trong cái lon ghi-gô đen sì, nham nhở vì đã qua nhiều phen “trận mạc, khói lửa”. Đó là cái lon đựng sữa bột Guigoz cho con nít trước 1975 được tôi dùng làm nồi niêu, soong chảo, nấu nướng đủ thứ trên đời, bất cứ thứ gì kiếm được và ăn được.

Ngoài ra trong cái bao còn có bi đông nước, lãnh theo tiêu chuẩn nhà bếp, uống cho một ngày, một túi ni lông để nếu hoàn cảnh cho phép thì “cải thiện” tức là kiếm chác tí rau hoang, cà dại, con cóc, con nhái bỏ vô, đến trưa nghỉ giải lao, tìm cách xoay sở biến thành thức ăn bồi dưỡng, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, miễn sao đừng ngộ độc là được rồi!

Một số anh em vọt ra phía cầu tiêu công cộng, có khi để “giải quyết bầu tâm sự” mà cũng có khi liên lạc, trao đổi dấm dúi cái này cái nọ với bạn bè ở nhà khác hay với đám tù hình sự… Phải đóng tuồng cho khéo, kẻo công an hay đám ăng-ten (bọn tù được công an tuyển chọn, cho hưởng đặc ân: lon gạo, miếng thịt, miếng cá mỗi tháng để giao nhiệm vụ theo dõi và báo cáo về mọi hành động lén lút, vi phạm nội quy) biết được thì cuộc đời khốn nạn ngay.

Rồi một hồi kẻng dài điểm thêm ba tiếng kẻng đằng sau là chúng tôi ào ra cổng trại, ngồi chồm hổm trên cái sân đất rộng, xếp hàng điểm số, đi lao động. Tên công an trực trại, ngồi trong “lô cốt” dò sổ rồi kêu: Nhà 10! Chúng tôi bật dậy, ra cổng, thứ tự hàng một theo sự điều khiển của tên tù Đội Trưởng hay Đội Phó (được công an tuyển theo tiêu chuẩn của chúng), đếm số rồi bước ra khỏi cổng.

Mấy tên trực dụng cụ chạy vào kho nhận và vác theo mấy bó dao đi rừng. Hôm nay, Nhà 10 chúng tôi có nhiệm vụ đi lấy mây, tiêu chuẩn tối thiểu 70 cây, dài hai mét. Nghe qua thì coi bộ ngon ăn, nhưng tìm cho ra khu rừng nào có mây hay còn mây sau hàng chục năm bị tù càn lui, quét tới, quả thực không phải chuyện dễ.

Dao rừng phải cột lại thành từng bó, tới địa điểm do công an quyết định mới được tháo ra, phát cho từng người. Phát trước, sợ tù dùng làm vũ khí… “hỏi thăm sức khỏe” bọn công an áp giải. Trại của chúng tôi đã có một vụ âm mưu nổi loạn, cướp súng, giết công an, đốt trại rồi kéo nhau qua biên giới Lào, ngay sau vụ Trung Cộng kéo quân sang đánh phá sáu tỉnh miền Bắc hồi đầu năm 1979 (vì Trung Cộng muốn dạy cho Hà Nội “một bài học” khi dám theo đuôi sư phụ Liên Xô đem quân sang Căm-Bốt oánh cho bọn cầm quyền Khờ-Me đỏ, con đẻ của Trung cộng, rách như cái mền).

Âm mưu nổi loạn ở trại bị bại lộ, cộng sản đã lập “Tòa án nhân dân” ngay tại trại, xử tử hình tay sĩ quan cầm đầu, còn lại thì lãnh án từ 15 năm tù trở lên cho đến chung thân khổ sai.

Tôi nhớ trung úy Nguyễn Văn Sĩ, Biệt Động Quân, Trưởng Ban tuyên truyền, khi bị bắt đã không khai ra tôi, chắc nó thương tôi, chớ không phải nó quên. Vì quên làm sao được khi có tin tức chi, công việc ra sao, nó cũng chớp nhoáng cho tôi hay để lo liệu, ở ngay góc đống rác cạnh hàng rào kẽm gai ngăn Nhà 10 của tôi với Nhà 11 của nó, khi chập choạng tối, sau khi điểm danh và trước khi tù phải vào phòng để khoá cửa sắt…

Ít lâu sau nó được thả ra, về Sài Gòn rồi cưới vợ, cưới cô con gái thương yêu nó hết mình. Chưa cưới hỏi chi cả mà cứ sáu tháng một lần, cô ấy từ Sài Gòn ra Trung, lên núi thăm nó, mối tình sao mà cao đẹp đến thế! Vậy mà khi điều tra ra, nó bị công an Sài Gòn bắt lại, từ giã người vợ thương yêu, bị đưa về trại cũ, đánh đập, tra khảo tàn nhẫn, bắt khai ra số người đã liên lạc với nó, nhưng nó đã không khai tôi vào số đó.

Tôi chỉ biết thầm cảm ơn và cầu xin trời đất phù hộ cho nó mà thôi vì sau đó, nó bị tống vô xà-lim. Tôi chẳng bao giờ gặp nó nữa, trừ một lần cuối cùng nó bị điệu ra trước “Tòa án nhân dân” lập ngay trong trại, xét xử theo “luật rừng”.

Mỗi khi lên rừng lấy mây, tôi thường đi đôi với thằng bạn thân, đại úy H. trước làm ở Tiểu khu Quảng Nam. Nó ít tuổi hơn tôi, cấp chức cũ cũng nhỏ hơn nên nó gọi tôi là bác. Còn tôi cứ gọi hắn bằng tên cho thân mật. Thằng bạn này thuộc loại “số đỏ” bởi vì có hai vợ mà khi đi tù, cả hai bà đều “nhất trí cao” coi nhau: vợ cả, vợ hai, hai vợ đều là vợ cả. Hai bà vẫn một lòng chia sẻ với nhau anh chồng chung như thuở nào, thay phiên đi thăm nuôi đàng hoàng.

Bữa nay, anh bạn đại úy H. bị đau, ói mửa cả đêm. Trạm y tế cho nằm nhà, nhưng phải quét dọn vệ sinh trong phòng và chung quanh. Cán bộ bảo “Đi học tập cải tạo là không được phép đau. Mà nếu đau thì cũng phải cố gắng lao động nhẹ, chớ nằm một chỗ là con người hư hỏng, bết bát rồi chết luôn”.

Nói đến H, tôi chợt nhớ đến câu chuyện về hai người bạn hay đi lao động cùng toán với tôi:

– Anh thứ nhất: to cao, có lòng giúp đỡ bạn bè, khi đi nhổ sắn, về gần đến cổng trại, anh thường dúi vào gánh của tôi vài củ sắn, cho… đạt chỉ tiêu. Lại nhớ có một hôm anh em đeo ba-lô đi gùi những mảnh sắt thép tại một địa điểm có vài chiếc xe của quân đội miền Nam cũ phá bỏ, nằm ụ đống. Công an cho một nhóm tù có tay nghề tới tháo, cưa kéo thành những mảnh nhỏ rồi gùi, cõng về trại để thợ rèn làm thành những con dao đi làm rừng. Một bữa đi cõng sắt vụn về trại, dọc đường hắn thấy tôi mệt muốn lè lưỡi, bèn ghé sát cạnh tôi mà phán: “Coi bộ ngài quan tòa nhà ta sắp xụm bà chè mất rồi. Thôi! Để mình gùi bớt cho một mảnh!”

– Anh thứ hai: một bữa đi nhổ sắn, lúc gánh lên đỉnh đồi, ngồi nghỉ, lấy sức xuống dốc, tìm gói đồ ăn quý hóa gia đình gửi cho, buộc ở thắt lưng bằng dây rừng, thì gói đồ ăn đã rơi đâu mất tiêu. Chắc là mất trong khi len lỏi trong rẫy sắn, chặt cây, nhổ gốc, chặt củ, xếp vô quang gánh đầy ụ, gần 50 kílô, ngày làm hai chuyến.

Bọn chúng tôi ngồi quanh đó phải bóp mồm, bóp miệng, mỗi đứa góp cho cậu ta miếng khoai, miếng sắn để “cứu nguy dân tộc”. Buồn quá, anh ta bèn hát mấy câu đầu của bài “Quốc Tế Ca”: “Vùng lên! Hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn…”. Vậy mà tối về trại, công an quản giáo lôi anh ra hỏi tội: “Tại sao anh lại hát như thế?”…

Ấy chết! Đang nói chuyện lên rừng lấy mây. Thằng bạn đau nằm nhà, tôi lên rừng một mình theo hướng đi thường lệ. Bắt đầu tới con suối nhỏ, tôi quan sát thấy mấy đám cát trắng bên bờ giáp bìa rừng có vô số dấu chân thú rừng, ban đêm mò xuống suối uống nước.

Theo kinh nghiệm của dân vùng núi mà tôi học được thì dấu chân hầu hết là của bầy heo rừng, nhưng cũng có cả dấu chân của “ông Ba Mươi” tức là Cọp. Tôi hơi ngán, nhưng hoàn cảnh này không ai cho phép ngán cả. Tôi leo lên núi, đi dọc theo con suối chừng gần cây số, ngó lên cao thấy có bóng dáng lá mây quen thuộc.

Tôi dừng lại ở điểm đó, không vào sâu nữa, rồi leo ngược dốc đi thẳng lên, lấy tiếng suối róc rách làm hướng cho khỏi lạc, thỉnh thoảng vung con dao rừng chặt một mảng vỏ thân cây lớn đánh dấu đường đi, để còn biết đường mà ra. Càng leo lên núi cao, cây cối càng chằng chịt, nhưng như thế mới dễ có mây. Trời đất không nỡ hại tôi, một vùng mây chằng chịt hiện ra trước mắt.

Mây nằm la liệt dưới mặt đất, mây leo lên tuốt cây cao, toàn mây là mây thôi. Đúng là “kho vàng của Hoàng đế Salomon thời Cổ La Mã rồi!”. Tôi mừng hết lớn, bèn ngồi xuống hòn đá to bự để thở. Bỗng có tiếng sột soạt càng lúc càng rõ ở hướng trước mặt tôi. Chết! Thú dữ đuổi theo con mồi nào đó! Tôi núp vào sau một thân cây to, dựa lưng vào cây, thủ con dao rừng thật chắc trong tay, sẵn sàng liều mạng. Tôi chợt thoáng nhớ tới câu “Plutôt souffrir que mourir – Thà khổ cực còn hơn là chết” của La Fontaine thì phải, trong bài thơ “La Mort et le bûcheron” (“Thần chết và người tiều phu đốn củi”), coi bộ thích hợp trong hoàn cảnh này.

May quá, con thú dữ đuổi mồi đã vòng theo hướng khác, xa dần… Tôi ra khỏi chỗ núp, quan sát rồi bắt đầu lấy mây. Với con dao rừng, tôi rút những sợi dây mây nằm ngổn ngang dưới đất, lẫn lộn với lá rừng đã khô, mục nát vì mưa gió, róc bỏ vỏ ngoài, chặt một đoạn dài 10 gang tay, tức là dài hai mét đó.

Đo đạc kiểu tù mãi cũng quen và chính xác đáo để! Cứ kéo rồi róc vỏ và chặt một hồi, vứt mỗi chỗ mươi đoạn, tôi đoán chừng đã được già nửa số ấn định. Đói và mệt quá, tôi tìm một hòn đá ngồi thở ra và lôi mấy miếng sắn luộc lạnh ngắt, thâm sì trong lon ra ăn, không có nó thì chỉ có nước chết mà thôi.

Thấy đã hồi sức, tôi lại rút mây, lấy dao róc vỏ khô và chặt tiếp. Khi kiểm lại thấy đủ số, tôi chặt dây rừng, buộc chặt làm ba bó nhỏ rồi cứ vác từng bó phóng dần xuống phía chân núi, nghe loáng thoáng có tiếng nước suối chảy róc rách. Có bó theo dốc trượt xuống ngon lành từng quãng. Có bó mắc dịch, mới trượt được vài mét đã mắc kẹt vào cây chằng chịt, làm tôi lại phải tới nơi, lôi ra và phóng xuống.

Hình ảnh những anh hùng vị quốc vong thân, đặt tại đài tưởng niệm trong khu Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ. (ảnh: Paul Bersebach/MediaNews Group/Orange County Register via Getty Images)

Con suối đây rồi! Ba bó mây nằm ba chỗ, chênh vênh trên những mỏm đá. Đồng hồ đeo tay đã bị công an tịch thu khi mới vô trại cho nên tôi không đoán rõ được giờ giấc, chỉ biết… cố gắng phấn đấu di chuyển từ mỏm đá này sang mỏm đá khác, gom ba bó mây lại, cột chung thành một bó to bự, cột chặt hai đầu, thêm vòng dây cột ở khúc giữa cho chắc ăn.

Nghỉ một lát lấy sức tôi thả bó mấy bự xuống suối cho dòng nước đẩy đi và chỉ việc giữ cho chắc hai sợi dây rừng để điều chỉnh cho bó mây trôi xuôi, ra ngoài rừng. Thật là khó khăn, trơn trợt với mấy mỏm đá rêu xanh, lắm lúc muốn té ngữa.

Mấy miếng sắn luộc thâm sì, lạnh ngắt, chua lè được đưa vào bao tử hẳn hoi, đàng hoàng mà sao lúc này chúng nó đi đâu mất. Đói lại hoàn đói, đói muôn năm… Ngó quanh, ngó quẩn chẳng thấy có giống chi ăn được, tôi bẻ đại một chùm trái cây lạ hoắc sà xuống bờ suối, trái to bằng đầu ngón tay. Tôi làm thử một trái rồi nghe ngóng. Làm tiếp trái thứ hai, trái thứ ba… chẳng chết thằng Tây đen nào cả sau vài ba phút. Tôi dư biết là dù có chết, cũng chưa đủ thời gian để cho cái chết nó tới. Cái đói nó xúi tôi: cứ ăn đại, ăn tới đi, đói chịu chi cho nổi, ra khỏi rừng còn phải vác bó mây dài, to tổ bố về trại nữa mà. Thế là tôi làm luôn một bụng…

Hình như tất cả mọi sự học hành lẩm cẩm ở nhà trường ngày xửa ngày xưa, chỉ có hai điều giúp ích cho tôi trong cuộc sống trong các trại tù cải tạo của bọn nón cối, dép râu. Đó là cái “Principe d’Archimède – Nguyên Lý Archimède” cuả môn Physique – Vật lý ở bậc trung học. Nó chỉ cho tôi biết cách lợi dụng sức nước đẩy lên đối với một vật được thả xuống nước.

Do đó, khi di chuyển cây cối làm cột nhà hay di chuyển bó mây dài và to bự như thế này, mà cứ vác trên vai, đi suối, đi rừng, rồi hàng chục cây số, không nhờ tới nước suối giúp đỡ để nâng lên và đẩy đi, kéo được quãng nào hay quãng đó, thì chắc là tôi đã chết quách từ lâu rồi.

Điều thứ hai là cái bài học “Dilatation des corps – Sự giãn nở của các chất”. Nhờ cái này mà tù chúng tôi, khi làm đường, làm nhà, chỉ bằng chân tay, với con dao, con rựa, cái búa, cái liềm mà có thể phá tan những tảng đá to như một cái xe hơi. Tù chúng tôi chất cây khô chung quanh tảng đá, tìm cách đốt lửa lên. Đốt cho… đã đời ông địa thì tảng đá cũng phải giãn nở ra chớ! Coi bộ được rồi, tù nhà ta lấy thùng gánh nước suối tới, đứng xa xa một tí rồi hiên ngang, anh dũng hắt vào tảng đá. Thế là đá cứ việc tự nhiên mà nứt, mà bể ra, kêu đôm đốp! Tù cứ việc dọn dẹp, gồng gánh cho đến khi tảng đá bự chảng biến mất.

***

Tôi giật mình thức dậy, hai tay quờ quạng chung quanh. Cái giường nệm êm êm, rộng rãi, cái mền ấm áp, chớ không phải sàn tre, sàn nứa, không phải bệ xi-măng của những trại tù cải tạo hơn 12 năm kinh khủng đã đi sâu vào dĩ vãng… Miền Nam sụp đổ, tôi cũng như hàng triệu người khác, trong hàng ngũ chống cộng sản đã bị đẩy vào những trại tù cải tạo như thế.

Không ai thoát, chỉ có kẻ lâu, người mau, về hay chết luôn trên rừng trên núi mà thôi. Lâu lâu, tôi lại thấy cái cảnh lao động khổ sai kinh hoàng và cuộc sống thua kém cả súc vật vẫn trở lại với tôi trong những giấc ngủ không mấy ngon lành.

Tôi đã 90 năm được sống làm người rồi còn chi! Khi thức giấc, thấy mình đã thoát khỏi cảnh kinh hoàng ghê gớm đó, thấy mình đang sống trong khung cảnh tự do trên đất Mỹ, không còn bị cảnh đói khát, rét mướt cắt da, mưa nắng dãi dầu, lao động quá sức chịu đựng, không còn bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, hết bị những cặp mắt cú vọ của công an và cả một số bạn bè bị công an tẩy não, hù dọa, biến thành “ăng-ten, do thám”, tôi lại âm thầm cảm tạ Thượng Đế đã cho tôi sống, cho tôi cơ hội dạy học trở lại suốt năm năm chờ đi định cư nước ngoài, không phải tiếp tục lao động khổ sở để kiếm sống như một số bạn tù cũ của tôi.

Tôi cảm ơn vợ con, gia đình, bạn bè, đã tiếp cho tôi nghị lực, thức ăn, đồ uống, niềm hi vọng, để đủ sức mà sống trong những ngày tháng đó, dù nhiều phen tôi thật sự vô cùng tuyệt vọng.

Khi tôi từ giã rừng núi trở về, mọi người thân yêu còn đủ, không mất vợ, mất con, gia đình tan nát như một vài người bạn bất hạnh khác. Con cái tôi ngoan ngoãn, hiếu thảo, một lòng gắn bó, chung sức với mẹ để cùng gánh vác gia đình trong những tháng ngày ba chìm, bảy nổi.

Tôi cảm ơn chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay đón nhận chúng tôi là những người tị nạn cộng sản, cho thế hệ chúng tôi được sống yên lành những ngày còn lại, trước khi tàn lụi và qua đi, nhường lại cho thế hệ con cháu cơ hội sống, làm người, hữu ích cho Quê Hương Đất Nước Việt Nam mai sau, cho xã hội loài người văn minh, tiến bộ, tốt đẹp hơn trên con đường tương lai.

(San Diego, California)


 

SỐNG Ở ĐỜI…!!!


Tâm An Nhiên

Ánh mắt giống nhưng góc nhìn khác biệt

Đầu như nhau, nhận biết lại tùy người

Miệng tương đồng, vẫn nói ngược nói xuôi

Nghe cũng thế, hiểu mỗi người một cách.

 

Sống ở đời, ráng giữ mình trong sạch

Nhưng đừng mong tất cả mến yêu mình

Tốt thế nào cũng kẻ trọng người khinh

Bởi cuộc sống vốn thường tình như thế.

 

Mong hết thảy hài lòng là không thể

Chớ vì ai mà tự rẻ rúng mình

Hãy cứ là con của mẹ cha sinh

Có nguyên tắc và tự tôn riêng biệt.

 

Tốt hay xấu chỉ cần mình ta biết

Miễn sao không trái đạo lý ở đời

Khi bản thân đã làm hết sức rồi

Không hối hận, không cầu người hiểu thấu.

 

Như hoa dại vẫn tỏa hương bên suối

Mà không cần chờ đợi những lời khen

Đám cỏ kia biết cách tự vươn lên

Dù chẳng được bàn tay người chăm sóc.

 

Như đại bàng chốn thâm sơn cùng cốc

Vẫn tự tin sải cánh giữa trời xanh

Dẫu chẳng ai cổ vũ ở xung quanh

Bởi vì chúng tin bản thân là chính.

 

Lúa cúi đầu là những bông lúa chín

Mặt hồ yên là bởi nước hồ sâu

Tin chính mình mới thực sự bền lâu

Đã đến lúc thấm nhuần sâu điều đó…!!!

#NMN


 

NHỜ ĐÂU BIẾT ĐƯỢC CHÚA GIÊ SU THẬT SỰ SỐNG LẠI-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Luca (24, 35-48) Chúa nhật III phục sinh)

Hôm ấy, đang khi các môn đệ họp nhau trong phòng, Chúa phục sinh bất thần hiện ra giữa các ông. Mọi người kinh hồn bạt vía, vì tưởng là ma!

Chúa Giê-su phải dùng đủ cách để tỏ cho họ biết Ngài đã thật sự sống lại, chứ không phải là ma.

Trước hết, Ngài cho họ xem thương tích nơi tay chân, để chứng tỏ Ngài đã thực sự bị đóng đinh vào thập giá, nay sống lại.

Vì họ vẫn còn nghi ngờ không tin nên Ngài đề nghị họ sờ tay chân Ngài để biết chắc Ngài có xương có thịt chứ chẳng phải là ma.

Thế nhưng họ vẫn còn hoài nghi, nên Ngài lại ăn miếng cá nướng và mật ong trước mặt họ để tỏ cho mọi người thấy ma đâu có nhai có nuốt như vầy.

Ngoài ra, Chúa Giê-su còn vận dụng Kinh thánh để tỏ cho các môn đệ biết Ngài là Đấng Kitô đã phải trải qua đau khổ rồi mới phục sinh.

Nhờ đó, các môn đệ mới tin là Chúa Giê-su đã sống lại thật.

Hôm nay, ngoài những sự việc kể trên, chúng ta còn có một bằng chứng khác rất thuyết phục, khó chối cãi về việc Chúa sống lại, đó là các tông đồ sẵn sàng chết để làm chứng Chúa phục sinh.

Bằng chứng của các Tông đồ

Nếu Chúa Giêsu chết mà không sống lại như lời Ngài báo trước, thì các Tông đồ sẽ xử trí ra sao?

Thứ nhất: Các ông sẽ ngộ ra rằng Thầy Giêsu mà họ đem lòng tin tưởng, yêu mến và ngưỡng mộ bấy lâu không phải là Con Thiên Chúa vì Ngài cũng chết như bao người khác, có gì hơn đâu? Như thế, các ông rất thất vọng về Ngài, sẽ oán hận Ngài vì Ngài đã lừa dối các ông, đã dẫn đưa các ông vào ngõ cụt, làm cho cuộc đời các ông dang dở: bỏ công theo Ngài ba năm trời, giờ chẳng được tích sự gì!

Thứ hai: Các ông sẽ không bịa đặt chuyện Chúa Giêsu sống lại rồi đi rao truyền khắp nơi lừa bịp người khác; vì khi làm như thế, các ông chẳng những không được lợi lộc gì mà còn mất tất cả, kể cả mạng sống mình.

Thứ ba: Các ông sẽ không điên rồ đến nỗi tiếp tục từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, lại phải chịu đòn vọt, xiềng xích, tù đày và chịu chết để đi loan truyền một điều dối trá trắng trợn là Chúa Giêsu sống lại.

Trong thực tế, các Tông đồ đã không hành động như thế, bởi vì các ngài đã tận mắt chứng kiến Chúa phục sinh, được tiếp xúc, đàm đạo, ăn uống với Ngài sau khi sống lại, biết chắc Ngài là Con Thiên Chúa, rồi lại được Chúa Giê-su truyền đi khắp nơi rao giảng Tin mừng… nên mới sẵn sàng dâng đời mình cho Chúa, tiếp tục hy sinh tất cả, từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, chấp nhận đòn vọt, tù đày và chấp nhận chết đau thương để làm chứng cho mọi người biết Chúa Giêsu đã thực sự sống lại để cứu độ muôn người.

Có ai trên đời điên rồ đến nỗi chịu đánh mất tất cả những gì trân quý nhất trong cuộc sống … để lừa dối người khác tin vào điều bịa đặt không? Tuyệt đối không!

Trong khi đó, tất cả các Tông đồ, ngoại trừ Gioan bị lưu đày ra đảo Patmos, đã từ bỏ tất cả mọi thứ trân quý trên đời và vui lòng lãnh lấy án chết… để minh chứng rằng Chúa Giêsu thực sự sống lại.

Khi người làm chứng sẵn sàng chịu mất tất cả và chịu chết để minh chứng mình nói thật, thì lời chứng của người đó là chân thật. Như vậy, sự kiện Đức Giêsu sống lại là hoàn toàn chắc chắn!

Lạy Chúa Giê-su,

Các tông đồ đã hy sinh cuộc đời và hiến mạng sống mình để minh chứng cho mọi người biết Chúa đã sống lại. Xin cho chúng con cũng biết hy sinh công sức và thời gian để giới thiệu cho người khác nhận biết Chúa đã phục sinh.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

TIN MỪNG LUCA 24, 35-48

“Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

Mọi người còn đang bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: “Bình an cho các con! Thầy đây, đừng sợ”. Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: “Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây”. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: “Ở đây các con có gì ăn không?” Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: “Ðúng như lời Thầy đã nói với các con, khi Thầy còn ở với các con, là cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh”. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh.

Người lại nói: “Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại. Rồi phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy”.

From: NguyenNThu


 

Cúi Xuống Để Tìm Cơ Hội Ngóc Đầu Lên

Có một vị tổng giám đốc của một công ty lớn nảy ra một ý nghĩ thú vị, anh ta muốn đi trải nghiệm cuộc sống của những người dân thường trên xe buýt, không ngờ lại bị một cô gái xấu xí làm cho mất mặt…

Vị giám đốc mỗi ngày đều chen lên xe buýt ngồi, mặc dù cũng có chút kham khổ nhưng trong lòng anh lại cảm thấy rất lạ lẫm và vui vẻ.
Thế rồi, có một chuyện không bình thường đã xảy ra…

Hôm ấy anh ta cũng lên xe buýt và ngồi xuống ghế. Trong lúc còn đang nhìn ngó quanh quẩn thì đột nhiên, một giọng nói như thét vào mặt anh:

“Anh không thể nhường ghế cho người khác à? Không đáng mặt đàn ông gì cả!”

Anh ngước lên thì thấy một người phụ nữ trạc ngoài hai mươi tuổi đang bế cậu con trai nhỏ. Còn người vừa lên tiếng mắng anh là một cô gái có phần “xấu xí”. Lúc anh còn đang sững sờ thì cô gái ban nãy lại to tiếng:

“Nhìn cái gì mà nhìn? Tôi nói anh đấy!”

Tất cả những người trên xe buýt đều hướng về phía anh với đôi mắt tò mò, thậm chí “lườm lườm”. Mặt anh bỗng đỏ bừng lên mà không nói được lời nào…

Không còn cách nào khác, anh từ từ đứng lên và nhường ghế ngồi cho hai mẹ con cô gái kia.

Đến trạm dừng xe tiếp theo, anh vừa chật vật vừa xấu hổ “trốn” khỏi chiếc xe buýt ấy. Anh không ngờ rằng mình lại gặp phải một việc như vậy. Trước khi xuống xe, anh cũng đã kịp nhìn qua mặt của cô gái “xấu xí” ấy một lần để ghi nhớ.

Không ngờ, một tuần sau đó cô gái “xấu xí” kia lại có mặt trong vòng phỏng vấn tuyển dụng nhân viên của công ty anh. Hơn nữa, anh lại là người trực tiếp phỏng vấn và quyết định tuyển.

Cô gái kia vừa nhìn thấy anh cũng phát hiện ra, nét mặt cô có phần lo lắng, dường như trên trán cô vã cả mồ hôi…

Vị tổng giám đốc nói:

“Cô lau qua một lượt giày của ban tuyển dụng, thì có thể được nhận vào làm”.

Cô gái đứng ở đó một lúc và do dự thật lâu. Cô nghĩ:

“Kinh tế trong nhà mình đã khó khăn lắm rồi, mình quá cần công việc này!”

Thực tế, cô ấy rất có năng lực và những thành tích mà cô đạt được cũng rất cao. Tuy nhiên, bởi vì cô có dung nhan hơi xấu nên dù đã đến dự tuyển ở một số công ty nhưng đều bị từ chối.

Cô lại phân vân:

“Bây giờ cơ hội bày ra trước mặt mình, chỉ cần mình buông tự tôn, lau giày cho họ thì sẽ có việc làm. Thế nhưng mà mình sao có thể đổi sự tôn nghiêm của mình đây?”

Vị tổng giám đốc cũng cho rằng: “Cô ta ngang ngược thế chắc sẽ không hạ mình đâu!” Thế là anh ta nhắc lại một lần nữa như để khiêu khích cô, thúc giục cô.

Cô gái lập tức ngồi xổm xuống, cầm giẻ lau và bắt đầu lau giày cho những vị giám khảo kia.

Vị tổng giám đốc thắc mắc: “Cô không phải là lợi hại lắm sao? Sao lại không có phản ứng gì thế?”

Khi cô gái bắt đầu lau đến giày của anh, anh ta còn cố ý ngồi bắt chéo và giơ chân lên. Tuy nhiên, bất giác anh ta lại cảm thấy mình có chút gì đó quá đáng. Anh thầm nghĩ: “Cô ta dù làm mất mặt mình trên xe buýt nhưng cũng là vì việc tốt, có chút nghĩa hiệp!”
Nghĩ vậy, anh ta liền xem hồ sơ của cô, không ngờ trước mắt anh là những thành tích tốt mà cô đạt được, vượt xa những người khác.
Từ mọi phương diện, dường như cô đều xuất sắc, hơn nữa không thể nuốt lời được. Thế là, sau khi cô gái đã lau hết giày cho mấy vị tuyển dụng, anh tuyên bố trước mặt mọi người:

“Cô đã trúng tuyển!”

Cô gái cũng không bộc lộ vẻ vui mừng mà chỉ hướng về phía giám khảo nói lời nhỏ nhẹ:

“Tôi xin cảm ơn!”

Sau đó, cô quay người sang phía vị tổng giám đốc và nói:

“Tính cả giày của ngài là 5 đôi, mỗi đôi tôi lấy 20.000, tổng cộng là 100.000. Sau khi ngài trả xong tiền, tôi mới bắt đầu đi làm.”

Vị tổng giám đốc không biết nói thế nào, mà cũng không thể rút lại quyết định của mình, nên đành phải trả cho cô gái 100.000.
Tuy nhiên, điều khiến anh ta kinh ngạc hơn là cô gái sau khi nhận 100.000 ra về.

Lúc cô vừa đi đến cổng công ty thì cô liền đưa hết số tiền đó cho một ông lão nhặt ve chai.

Vị tổng giám đốc từ sau hôm đó lại có phần nể phục cô gái.

Và cũng từ sau khi được tuyển vào công ty, cô gái làm việc rất xuất sắc, đã thay vị tổng giám đốc ký được nhiều hợp đồng lớn.

Có một hôm, vị tổng giám đốc nhịn không được liền hỏi cô:

“Hôm cô đến phỏng vấn, tôi làm khó cho cô như vậy, cô có oán trách tôi không?”

Cô gái trả lời ngay lập tức:

“Tôi cúi người xuống, chỉ vì muốn đổi một cơ hội để có thể ngóc đầu lên!”

*****     Nhất thời “cúi người” không có nghĩa là đánh mất tôn nghiêm, càng biết lúc cần “cúi người” thì tương lai càng ngẩng được cao đầu!

Theo Daikynguyenvn

Thân mến

From: TRUONG LE

NGÀY 30/4/1975 – TIỂU TỬ

TIỂU TỬ

Năm nay tôi 80 tuổi. Vợ tôi thường nói với mấy con: ” Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá ! Bây coi: ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua! Chi vậy hổng biết? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ! Trời đất ! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam … “

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình: ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ “cái ngày đó” nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già, tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…

* * *

…Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Singapore vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…

Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi còm-măng Singapore một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Navy Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sàigòn để cập kho Nhà Bè!

Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bày ngày tác chiến của không quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời: ” Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút ! “. Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là ” Xếp ” – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói :” Bonjour! çà va ?” ( Chào ông ! Mạnh hả ?)

Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa !

Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết: “Rất tiếc ! Chúng tôi không giúp được ! Thôi! Chúng tôi về! “. Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp: “Allez vous en ! ” (Ông hãy đi, đi !) Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ” Allez vous en !  (Ông hãy đi, đi!) …

Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì ” họ ” dán… đầy đường cái nhãn ” hai bàn tay nắm lấy nhau” để chứng tỏ sự thật tình “khắn khít”, rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng ” thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình “!

Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng: “Chánh quyền Mỹ từ chối !”. Sau đó, tôi đánh điện qua Singapore, cũng chỉ bằng một câu: “Không có hộ tống “. Họ trả lời ngay: ” OK ! Good Luck!” ( Nhận được ! Chúc may mắn ! ) Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xót !

Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên: “Sao về vậy anh? “. Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc . Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc: “Ờ…Khóc đi anh ! Khóc đi ! “

Ngày đó, tháng tư năm 1975…Đúng là ngày nầy !

Tiểu Tử


 

Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết. (Rm 14: 8-9)-Cha Vương

Nguyện xin Chúa Phục Sinh sưởi ấm tâm hồn bạn hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 3 Bát Nhật Phục Sinh: 09/04/2023

GIÁO LÝ:  Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  Không. Thánh Phaolô viết: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì lời chúng tôi rao giảng sẽ vô ích, và đức tin của bạn cũng vô ích” (1Cr 15,14). Vậy, Làm thế nào mà các môn đệ Chúa Giêsu đã đi đến chỗ tin Người sống lại? Đầu tiên, các ông mất hết hi vọng, nhưng dần dần, các ông đã đi đến chỗ tin Chúa sống lại, vì sau khi Người chết, họ đã thấy Người trong nhiều dịp khác nhau, các ông đã nói chuyện với Người, đã có kinh nghiệm rõ ràng là Người đang sống. (YouCat, số 104 & 105)

SUY NIỆM: Những biến cố Phục Sinh diễn ra ở Giêrusalem khoảng năm 30 không phải là chuyện bày đặt ra. Bị sốc vì cái chết của Chúa và vì sự nghiệp chung thất bại, các môn đệ đã trốn mất. Chúng tôi hy vọng rằng Người là Đấng sẽ giải thoát Israel (Lc 24,21). Hoặc các ông ẩn núp sau những cửa đóng kín. Chỉ nhờ được gặp gỡ Chúa Kitô sống lại họ mới được giải thoát khỏi bị ức chế và được đầy niềm tin phấn khởi vào Chúa Giêsu, Chúa của sự sống và sự chết. (YouCat, số  105 t.t.)

❦   Biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại trở thành tâm điểm của Kitô giáo. Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bảy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi, và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người. (Đức Bênêđictô XVI, 19-10-2006)

❦  Ai hiểu biết lễ Vượt Qua thì không thể thất vọng nữa. (Dietrich Bonhoeffer, 1906–1945, thần học gia Tin lành và chống Hitler bị xử tử trong trại tập trung Flossenbürg)

LẮNG NGHE: Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết. (Rm 14: 8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Kitô phục sinh, Chúa là Đường  để con bước đi, là Sự Thật để con tín thác, là Sự Sống để con được sống muôn đời. Xin đừng để con xa lìa Chúa bao giờ.

THỰC HÀNH: “Đấng Cứu Thế đã bảo đảm cho chúng ta về sự hiện diện hữu hình của Người ở giữa chúng ta, ngang qua Lời Chúa và bí tính Thánh thể.” Trong Mùa Phục Sinh này mời bạn hãy tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng hơn.

From : Do Dzung

Ngọn Nến Phục Sinh (Imprimatur) | Sáng tác: Sr. Têrêxa | Phương Thảo 

Người Mỹ gốc Việt (Bài 5)-Lê Thanh Hoàng Dân

Lê Thanh Hoàng Dân

Di sản ngày 30 tháng Tư là hơn 4 triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi, hiện đang sống khắp thế giới. Thử tìm hiểu một vài cộng đồng này.

“… Mặc dầu điểm khởi đầu thua, người gốc Việt đã chứng tỏ khả năng của mình, trở thành một trong những cộng đồng thiểu số “đi lên” mau nhất từ dưới đáy của xã hội.

Phân tách các dữ kiện thống kê dân số, chúng ta thấy gì?

Năm 1989 34% số dân gốc Việt sống dưới mức nghèo (Poverty line). Mười năm sau vào năm 1999, tỷ lệ này chỉ còn 16%, so với 12% cho người Mỹ nói chung.

Thống kê cho thấy những người từng bị Cộng Sản kỳ thi và phân biệt đối xử (kỳ thị 3 đời, 49 năm sau con cháu vẩn còn), không được học đại học, không có nghề nghiệp chuyên môn gì đáng kể khi tới Mỹ, người Việt đã cố gắng hơn, cần cù hơn, và đi lên mau hơn xã hội Mỹ nói chung.

Sự hội nhập của người Việt vào xã hội, lợi tức và hoạt động kinh tế của họ tùy thuộc vào tầng lớp của họ ở Việt Nam trước khi tới Mỹ.

Nhìn chung, họ thuộc hai tầng lớp, số người có học, và ít học.

Năm 1975 phần lớn số người Việt đến đây đều có khả năng chuyên môn. Họ bắt đầu cuộc đời bằng những việc làm chân tay, lao động với lương tối thiểu. Tuy nhiên sau khi họ học lại hoặc thi lại, bằng cấp được nhìn nhận (hoặc bằng cấp của Mỹ nếu họ học lại môn chuyên môn mới), họ có chứng chỉ hành nghề, họ đã làm giàu mau chóng.

Đây là giới thượng lưu của người Việt. Lợi tức của thế hệ nầy khoảng hơn $100,000 USD mỗi năm (thời giá 10 năm trước). Các bác sĩ và nha sĩ thu nhập từ vài trăm ngàn đến cả triệu đô la một năm.

Những đợt tỵ nạn thứ hai và ba, đến đây sau năm 1978, khó khăn hơn.

Sống càng lâu với chế độ Cộng Sản, họ càng gặp nhiều khó khăn hội nhập hơn. Họ đến Mỹ không có học vấn cao, không nghề nghiệp chuyên môn, không biết gì nhiều về xã hội Mỹ. Do đó họ chỉ tìm được việc làm chân tay, sống quay quần với người Việt tại các Phố Sài Gòn Nhỏ, khó hội nhập vô xã hội Mỹ rộng lớn…” (Còn tiếp)

(Trích sách “Tiểu Bang California” thuộc bộ sách 9 quyển “Nước Mỹ nơi tôi đang sống” của Lê Thanh Hoàng Dân, đã phát hành trên Amazon và BookBaby)

Sách bán trên Amazon rất mắc, các bạn đừng mua, tôi sẽ từ từ trích đăng các bạn đọc miển phí.

#Lethanhhoangdan #NhữngNgàyHưuTrí #30thángTư #myfamilygiađìnhtôi #ThànhPhốNewYork #NướcMỹnơitôiđangsống #42nămsốngởMỹ


 

Người Mỹ gốc Việt (Bài 4)-Lê Thanh Hoàng Dân

Lê Thanh Hoàng Dân

Bò đỏ thường vô FB của tôi nói chúng tôi khổ lắm, tộc Nails, homeless, về Việt Nam sống sướng hơn. Sự thật ra sao? Bài này nghiên cứu về lợi tức của người Mỹ gốc Việt.

“… Mặc dầu cần cù làm việc, nhưng lợi tức của người Việt tương đối thấp. Median Income (Lợi tức điểm giữa) của một gia đình Việt Nam ở Mỹ là $59,831 đô la một năm.

Median Income là lợi tức điểm giữa, có nghĩa là phân nửa số gia đình người Việt có lợi tức trên $59,831 USD và phân nửa có lợi tức thấp hơn số này. Số nầy tuong đối thấp hơn xã hội Mỹ nói chung, ở đó Median Income là $61,173 USD…”

Người gốc Việt tại Mỹ làm việc cần cù, nhưng lợi tức thấp hơn người Mỹ.

Theo một công trình nghiên cứu năm 2007, khoảng 64.9% người lớn hơn 16 tuổi tìm được việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp của người Việt Nam khoảng 5.4% so với tỷ lệ của người Mỹ nói chung là 6.3%.

Đây là một điểm son của người Việt chúng ta, cần cù và cố gắng làm việc, không chấp nhận sống nhờ phúc lợi xã hội (Welfare). Thu Nhập bình quân (Average Income) của người Việt là $22,074 USD mỗi người một năm, tương đối thấp hơn của người Mỹ.

Theo một nghiên cứu năm 2012, Median Income (Lợi tức điểm giữa) của một gia đình Việt Nam được $55,736 USD. Nếu so sánh gia đình người Việt với gia đình những di dân khác nói chung, chúng ta tương đối khá hơn. Median Income của di dân khác ở Mỹ là $46,983 USD.

Hầu hết người Việt tại Mỹ đã đến đây sau cuộc chiến, với tánh cách tỵ nạn chánh trị.

Đa số họ đã sống dưới chế độ Cộng Sản từ 3 năm trở lên, nên sự ăn học và khả năng chuyên môn sau năm 1975 rất lôi thôi.

Do đó có thể nói họ thua di dân các nước khác rất xa trên phương diện học vấn, kiến thức, và tài chánh. Di dân nhiều nước khác tại Mỹ đến đây với nhiều khả năng chuyên môn (bác sĩ, Y tá, chuyên viên Kế toán v.v..), và một số đến đây với nhiều tiền theo dạng kinh doanh (di dân từ Hồng Kông và Đài Loan chẳng hạn). (Còn tiếp)

#Lethanhhoangdan #NhữngNgàyHưuTrí #30thángTư #myfamilygiađìnhtôi #ThànhPhốNewYork #NướcMỹnơitôiđangsống #42nămsốngởMỹ


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chiều Tảo Mộ

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

“Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Đam. Người Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có người chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nước ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả.

Đó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với người chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần.” (Trần Đăng Khoa. Chân Dung và Đối Thoại. Nxb: Thanh Niên, 1988).

Bãi mả, thực ra, không phải là “một tục lệ rất đặc biệt của người Eđê” mà là tập tục chung của nhiều sắc dân bản địa – ở Việt Nam :

“Đối với người Roglai – sắc dân sống rải rác các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Đồng – lễ cúng bỏ mả có nghĩa là người sống từ giã người chết. Lễ này được cử hành sau mùa gặt hái đầu tiên, tính từ ngày người chết qua đời.

Mùa gặt hái hoàn tất, mọi người đều rảnh rang nên lễ cúng bỏ mả làm linh đình lắm. Có giết trâu mổ bò, mời thầy cúng làm lễ cho người khuất rồi đãi làng nước. Sau lễ bỏ mả là hết, ngôi mộ không được ai chăm sóc nữa.

Người Rhadé, đa số sinh sống tỉnh Darlac và Quảng Đức, cũng có lệ bỏ mả vào mùa gặt năm sau. Người nhà ra mộ khóc lóc một lần cuối rồi mộ bị bỏ hẳn. Kỷ niệm của người chết cũng chìm dần vào quên lãng.

Người Bahnar – sắc dân sống ở Đông Nam Kômtum, Tây Bắc Pleiku, và phía Tây Bình Định – cũng chỉ chăm sóc mộ phần một năm… Sau đó họ làm lễ tạ rồi san phẳng, và từ đây không còn ai ngó tới.” (Toan Ánh. “Tang Lễ Của Đồng Bào Thượng.” Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, Sài Gòn 01 Sept 1963).

Bỏ mả, hay bãi mả là điều bắt buộc trong nếp sống du canh. Tục tảo mộ hằng năm, chắc chắn, chỉ bắt đầu khi nhân loại tiến đến giai đoạn định canh. Còn tôi thì phải  mãi cho đến cuối năm 2014, mới được rủ đi tảo mộ (lần đầu) khi đang lơ ngơ giữa một chiều Xuân, nơi đất lạ.

Nắng chiều dễ khiến cho lữ khách chùng lòng, dù ở bất cứ đâu. Nhưng phải trải qua một buổi chợ chiều, chợ tết, ở một làng quê nơi đất lạ thì mới hiểu ra thế nào là nỗi buồn xa xứ.

Dân Việt túm tụm dọc mé sông Tonle Sap, đoạn chảy qua xã Phsar Chhnang (tỉnh Kampong Chhnang) có thể đông đến vài ngàn. Tuy thế, cái đám người trôi sông lạc chợ nhếch nhác, te tua, rách nát này không tạo nổi không khí Tết cho khu chợ cạnh bờ.

May mà vẫn còn vài cái cặp đèn lồng đỏ, năm bẩy cây quất, và mấy chậu cúc vàng của những gia đình gốc Hoa nên hè phố trông cũng đỡ phần ảm đạm. Tôi cứ nhìn mãi một em gái nhỏ, đứng bán đôi cành mai đã héo mà không khỏi cảm thấy có đôi chút bận lòng.

Như mọi người Việt khác ở bến sông này, tôi cũng là kẻ phiêu bạt không nhà nên chả có chỗ để cắm hoa. Muốn biếu em một số tiền nho nhỏ, đủ để sắm sửa một bữa cơm chiều cuối năm tươm tất cho gia đình nhưng đang loay hoay chưa biết cách sao cho tế nhị thì chợt nghe tiếng đồng hương quen thuộc :

  • Sao ông thầy lang thang gì mình ên vậy ? Đi tảo mộ với tụi em nha, gần xịt thôi hà.

Thấy tôi hơi ngần ngừ, bà vợ rụt rè thêm:

  • Dạ, sẵn bữa nay có làm gà với mua được xị rượu để cúng nên mới dám mời ông thầy …

Nghe cách xưng hô thì tôi đoán là họ có con đang theo học ở trường làng Kandal, dưới bến sông. Không ai biết tôi tên gì cả, họ chỉ thấy ông già thường lui tới ngôi trường này và hay chơi đùa với lũ trẻ con nên gọi tôi bằng “thầy” cho nó tiện việc sổ sách – thế thôi.

Phải nhìn thấy cảnh nuôi gà trên những túp lều nổi tả tơi, và những bữa cơm đạm bạc quanh năm (toàn với khô hay cá vụn nhỏ li ti) của những người suốt đời sống lênh đênh thì mới hiểu được rằng được mời ăn gà là một hân hạnh không thể chối từ – dù tôi chả mặn mà gì với cả gà lẫn vịt!

May mà từ chợ đến nghĩa địa gần thật, chỉ chừng hơn cây số. Đang là mùa khô, nước rút nên mới lộ ra vài chục tấm mộ bia thô kệch và xấu xí. Chả ai sống qua tuổi sáu mươi. Khi còn tại thế (chắc) họ chưa bao giờ được giáp mặt với một ông nha sĩ, hay bác sĩ – dù chỉ một lần.

Sau khi thắp hương, nhổ cỏ, vun xới mộ phần, mọi người ngồi quanh chuyện trò ăn uống. Dường như ai cũng cảm thấy mãn nguyện vì đã làm xong chút bổn phận, cuối năm, với kẻ đã khuất.

Khó có thể ngờ rằng được đó là lần tảo mộ cuối cùng của cộng đồng người Việt ở xã Phsar Chhnang. Năm sau, từ Phnom Penh, thông tín viên Sơn Trung ̣(RFA) tường thuật: “Làng nổi của người Việt bị di dời… Theo thông báo của chính quyền tỉnh Kampong Chhnang thì việc di dời sẽ được thực hiện từ ngày 10 tháng 10 và chấm dứt trước ngày 25 tháng 10 năm 2015.”

Tháng 10 thì Á Châu vẫn còn mưa, và mưa tầm tã. Bia mộ vẫn còn chìm sâu dưới nước. Với cái “thông báo” bất ngờ (và bất nhơn) trên thì chắc chắn không ai có cơ hội tạ mả, trước khi tiếp tục trôi xuôi theo kiếp lục bình.

Ở trời Âu, có những kẻ may mắn hơn nên được nằm yên mãi mãi trong những mộ phần và được thăm viếng thường xuyên :

“Tôi vào tiệm tạp hóa Tàu ở Luân Đôn mua một thẻ nhang ngắn rồi xuống Portsmouth, bắt phà qua Normandy… Bây giờ là mùa đông. Khi phà tiến gần vào bờ cho đến khi cặp bến Ouistreham nằm phía cực đông của bờ biển Normandy, trời còn rất tối. Sao Mai sáng long lanh, các ngọn đèn rải thưa quanh bến tàu, ánh sáng vàng đứng bóng, không hắt hiu…

Tôi đi bộ dọc bờ biển từ hướng đông, bắt đầu từ chỗ giáp mép biển của con kênh đào từ Caen (cách biển chừng 16 cây số). Cứ khoảng 100 thước, một tấm biển tưởng niệm, hình ảnh thế hệ các người lính thuộc binh chủng đã đổ bộ, và tên tuổi của một người lính tử trận ngày 6.6.1944…

Từ nơi này đi bộ hai cây số đến nghĩa trang đồng minh ở làng Ranville, ngôi làng đầu tiên trên đất Pháp được giải phóng sau khi người lính Dù chiếm giữ cầu Pegasus. Trên bản đồ là nghĩa trang của Anh, nhưng ở góc bên trái từ cổng vào có 330 bia mộ người lính Đức, chia cùng mảnh đất nghĩa trang với 2.235 người lính nhảy dù thuộc quân đội Anh, Úc, New Zealand, Bỉ, Pháp, Ba Lan…

Mỗi ngôi mộ người lính Đức đều có bia như các ngôi mộ của người lính đồng minh, tên tuổi, ngày sinh và ngày chết, chỉ khác là huy hiệu binh chủng được thay bằng dấu Thập tự Sắt. Dưới bầu trời xám đục, đài thánh giá trắng có hình cây kiếm mũi hướng xuống đất nổi bật ngay giữa nghĩa trang.

Những linh hồn nơi đây không còn chiến tranh nữa. Kiếm đã cắm hay cất. Không có một chữ ‘hòa giải’ nào trong nghĩa trang chung này. Nhưng các bia mộ của người lính Đức và người lính đồng minh nằm bên nhau. Người sống không thù hận nên người chết yên lành.” (Hồ Đắc Túc. “Những Mộ Phần Bên Nhau”. Việt Báo 01/01/201̣9).

Cùng lúc với Hồ Đắc Túc, Ngô Thanh Tú cũng đi tảo mộ ở quê nhà (Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà) nhưng với tâm trạng hoàn toàn không thư thái :

“Cứ mỗi bước chúng tôi đi đều phải chịu sự giám sát của ít nhất hai bảo vệ nơi này. Ánh mắt soi mói, những câu hỏi vô duyên, như : chụp hình để làm gì? Có động cơ gì không? làm chúng tôi vô cùng khó chịu. Người bạn đi cùng tôi nói, dường như cái chủ trương truy cùng giết tận còn được áp dụng cho cả người chết. Chế độ này ko chỉ trả thù người chết mà còn sợ họ đội mồ sống dậy nên kiểm soát rất chặt chẽ.”

FB Từ Đức Minh cho biết thêm : “Với bản chất thú tính, bất chấp luân lý và tình người. Người Cộng Sản không cần biết thế nào là nghĩa tử, nghĩa tận. Họ chủ động giáo dục cho đám con trẻ gọi mộ người lính Việt Nam Cộng Hòa là ‘mả ngụy’, ‘mả giặc’. Người ta canh tác rau trên mộ, tưới nước phân dơ bẩn, thả trâu bò lội giẫm đạp lên mộ. Khốn nạn hơn nữa, họ cho người đào giữa ngôi mộ và trồng lên đó những cây to. Mấy năm sau cây lớn làm xập mộ…”

Người đang sống ở Lộc Hưng mà họ còn ủi cho xập nhà, xập cửa thì xá gì đến chuyện mộ bia ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà!


 

 Hàng triệu người Mỹ hứng thú xem cảnh ‘đêm giữa ban ngày’ 2024

Ba’o Nguoi-Viet

April 8, 2024

AUSTIN, Texas (NV) – Hiện tượng nhật thực toàn phần diễn ra vào hôm Thứ Hai, 8 Tháng Tư, thu hút hàng triệu người Mỹ, gây hào hứng lẫn kinh ngạc khi chứng kiến cảnh “đêm giữa ban ngày.”

Mặc dù ban đầu nhiều vùng trên nước Mỹ bị mây che phủ nhưng phần lớn đám đông hiếu kỳ vẫn may mắn được chứng kiến hiện tượng hiếm hoi này, theo AP.

Hiện tượng nhật thực nhìn từ Đài Kỷ Niệm Washington ở DC hôm Thứ Hai, 8 Tháng Tư, 2024. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

Nhật thực quét qua Mexico, Hoa Kỳ và Canada, thu hút một lượng khán giả chưa từng có, với cả trăm triệu người cư trú trong hoặc gần đường đi của nhật thực.

Từ Georgetown, Texas, nơi bầu trời quang đãng đúng lúc để có một khung cảnh hoàn hảo, đến khu vực trung tâm thành phố Mesquite, nơi tiếng reo hò vang dội khi những đám mây tan ra trong khoảnh khắc trước khi nhật thực toàn phần, cảnh tượng này để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng những người quan sát.

Một người tên Ahmed Hussein, cư dân Austin, Texas, nói với phóng viên AP: “Tôi không bao giờ bỏ qua cơ hội được chứng kiến hiện tượng này.”

Đây cũng chính là tâm trạng của nhiều người đã háo hức chờ đợi sự kiện này trong nhiều tháng.

Chương trình xem nhật thực ở Austin kết thúc sớm trước các cảnh báo về một cơn bão kéo đến vào buổi chiều.

Cư dân Rushville, Indiana, vỗ tay reo hò khi chứng kiến ​​đèn đường sáng lên khi màn đêm buông xuống lúc diễn ra hiện tượng nhật thực toàn phần.

Đối với một số người, nhật thực không chỉ là một hiện tượng chuyển động của các thiên thế mà là thời điểm đánh dấu những khoảnh khắc quan trọng trong cuộc đời.

Ở Trenton, tiểu bang Ohio, các cặp tình nhân tận dụng khoảng thời khắc đặc biệt này để trao nhau lời thề nguyện trong một buổi lễ cưới tập thể, trong khi ở St. Louis, nhiều người lên chiếc thuyền Tom Sawyer để được tận hưởng một khung cảnh độc đáo giữa dòng sông Mississippi.

Đám đông tập trung tại công viên gần tòa nhà Quốc Hội ở DC để cùng chiêm ngưỡng hiện tượng nhật thực toàn phần hôm Thứ Hai. (Hình: Kent Nishimura/Getty Images)

Ở khu vực phía Đông thành phố Dallas, hàng trăm người tập trung tại khu vực trung tâm thành phố Mesquite để cổ vũ và huýt sáo khi mây tan trong những phút cuối cùng trước khi nhật thực toàn phần.

Khi mặt trời bị che khuất hoàn toàn, đám đông ngày càng ồn ào hơn, tháo kính xem nhật thực ra để đắm mình trong khung cảnh khó quên khi nhìn thẳng vào mặt trời mà không sợ bị ánh sáng chói chang và được thấy sao Kim lấp lánh giữa ban ngày.

Miền Đông Bắc nước Mỹ từ New England đến Canada nơi bầu trời trong xanh suốt cả thời gian hiện tượng kỳ vĩ này diễn ra.

Bà Holly Randall, cư dân Colebrook, New Hampshire, cho biết việc trải nghiệm hiện tượng nhật thực nằm ngoài dự đoán: “Tôi không ngờ mình sẽ khóc.” Người phụ nữ nói với phóng viên với nước mắt chảy dài trên khuôn mặt.

Khán giả xem nhật thực tại thác Niagara, New York, cũng được thưởng thức cảnh trời tối sầm đi nhưng không có quang cảnh hào quang tuyệt đẹp vì mây che phủ. Khi mọi người rời khỏi công viên hơn một giờ sau, mặt trời mới ló dạng hoàn toàn.

Trong thời gian toàn phần, mặt trăng che khuất hoàn toàn mặt trời, để lộ ánh chạng vạng đầy mê hoặc mà chỉ có thể nhìn thấy quầng sáng của mặt trời. Khoảnh khắc siêu thực này kéo dài tới 4 phút 28 giây, khiến các hành tinh và ngôi sao tỏa sáng rực rỡ và khiến các loài động vật phải im lặng để đáp lại.

 Cảnh mặt trời bị mặt trăng che trong hiện tượng nhật thực ở thành phố Indianapolis hôm 8 Tháng Tư, 2024. (Hình: Joel Kowsky/NASA via Getty Images)

4 phút 28 giây, khoảng thời gian này dài gần gấp đôi so với thời gian xảy ra nhật thực hồi bảy năm trước vì mặt trăng ở gần trái đất hơn.

Chỉ mất 1 giờ 40 phút để bóng của mặt trăng vượt qua 4,000 dặm (6,500 km) xuyên lục địa nước Mỹ.

Đường đi của nhật thực toàn phần, rộng khoảng 115 dặm (185 km), lần này bao trùm một số thành phố lớn, bao gồm Dallas, Indianapolis, Cleveland, Buffalo, New York và Montréal.

Ước tính có khoảng 44 triệu người sống trên đường đi trực tiếp của nhật thực và thêm vài trăm triệu người nữa trong phạm vi 200 dặm (320 km) dọc theo lộ trình này.

 Người dân New York đứng trên một cao ốc xem cảnh nhật thực. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)

Các chuyên gia và nhà nghiên cứu từ NASA và các trường đại học, không để lỡ cơ hội, đã phóng nhiều hỏa tiễn và làm những cuộc thí nghiệm dọc theo đường đi của hiện tượng nhật thực toàn phần lần này.

Những ai lỡ cơ hội được trực tiếp trải nghiệm kinh nghiệm nhật thực trong năm 2024 này có thể phải đợi hơn 20 năm nữa, vào năm 2045, để chứng kiến hiện tượng thiên thể chuyển động kỳ vĩ này. (MPL) [kn]


 

Lời tiên tri của Baba Vanga dần dần thành hiện thực trong 2024

Ba’o Nguoi-Viet

April 8, 2024

LOS ANGELES, California (NV) – Năm 2024 mới chỉ trả qua bốn tháng nhưng thế giới đã nhiều phen rung chuyển.

Nhà tiên tri mù người Bulgaria, Baba Vanga, nổi danh với năng lực dự đoán các diễn tiến nổi trội trên thế giới như vụ khủng bố 11 Tháng Chín, thảm kịch Chernobyl và cái chết của Công Nương Diana, đưa ra những lời tiên tri cho năm 2024 trước khi bà tạ thế năm 1996 khi được 85 tuổi – có vài lời tiên tri dường như đang thành hiện thực, FOX 11 Los Angeles cho biết.

Thường được so sánh với nhà chiêm tinh người Pháp Nostradamus, người có những lời tiên tri giúp ông nổi danh lúc còn sống lẫn sau khi qua đời trong thời kỳ Phục Hưng, Baba Vanga cũng là một nhà tiên tri tài giỏi.

Thời tiết nóng lên, nhiệt độ có thể tới mức kỷ lục trong năm 2024 (Hình: Sarmad Mughal/Pexels)

Baba Vanga báo trước rằng năm 2024 sẽ có những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và thiên tai.

Các đợt nắng nóng toàn cầu đang diễn ra thường xuyên hơn với tỷ lệ 67%, theo một nghiên cứu trên tạp chí Science Advances. Nghiên cứu cho thấy nhiệt độ cao nhất trong các đợt nắng nóng ấm hơn 40 năm trước và ngày càng có thêm nhiều khu vực hứng chịu nắng nóng. Từ 1979 tới 1983, các đợt nắng nóng toàn cầu trung bình kéo dài tám ngày, nhưng từ 2016 tới 2020 số ngày nắng nóng lên tới 12 ngày, nghiên cứu cho biết. Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới WMO cho biết năm 2024 “rất có thể” sẽ lại là một năm nóng kỷ lục.

Tuy năm 1996 khi bà qua đời, internet vẫn còn phôi thai, nhưng Baba Vanga đã tiên đoán các hacker sẽ tăng cường đánh phá, nhất là vào các hạ tầng cơ sở quan trọng, tao nên nguy cơ an ninh.

Mới đây, AT&T vừa công bố một hồ sơ dữ liệu được tìm thấy trên “web đen” chứa nhiều thông tin gồm có một vài mã số an sinh xã hội và mật mã của khoảng 7.6 triệu người đang thọ hưởng trợ cấp và 65.4 triệu chủ trương mục cũ. Nguồn dữ liệu đó “bị tuồn từ chính AT&T hay từ một trong những nhà cung ứng của họ” vẫn chưa được kiểm chứng, AT&T, đặt trụ sở tại Dallas lưu ý – đồng thời cho biết thêm rằng họ đang tiến hành điều tra sự việc. AT&T cũng bắt đầu loan báo cho những khách hàng có dữ liệu cá nhân bị xâm phạm.

Apple, Meta và X, từng là Twitter, đồng loạt tiết lộ các cuộc tấn công an ninh mạng trong 12 tháng qua.

Dường như Baba Vanga từng dự đoán một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng hơn vào năm 2024 do sự thay đổi quyền lực kinh tế trên toàn cầu và căng thẳng địa chính trị leo thang, cũng như mức nợ tăng vọt.

Trong năm nay, hàng triệu người Mỹ đang phải khổ sở với tình trạng lạm phát dai dẳng, cản trở kế hoạch cho tương lai tài chánh của họ, theo một nghiên cứu Allianz Life mới công bố.

Trong cả năm 2023, nền kinh tế Hoa Kỳ — vĩ đại thế giới — tăng trưởng 2.5%, từ mức 1.9% vào năm 2022. Trong khoảng thời gian từ Tháng Giêng tới Tháng Ba hiện tại, nền kinh tế được cho là sẽ tăng trưởng với tốc độ thường niên chậm hơn nhưng vẫn ở mức khá, 2.1%, theo mô hình dự báo do Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Atlanta công bố.

Ngược lại, Nhật Bản chứng kiến nền kinh tế suy thoái trong ba tháng cuối cùng của năm 2023 do tiêu thụ trong nước suy yếu. Tại Anh Quốc, lãi suất cao và năng suất thấp là thủ phạm dẫn tới nền kinh tế dưới tiêu chuẩn của quốc gia. Trung Quốc cũng đang phải đau đầu với những thách thức kinh tế.

Baba Vanga cảnh cáo về các hoạt động khủng bố gia tăng tại Âu Châu và dự báo thế giới có thể chứng kiến một “quốc gia lớn” tham gia thử nghiệm hoặc tấn công võ khí sinh học. Hiện nay, cuộc chiến giữa Israel và Hamas và hành động Nga xâm lược Ukraine vẫn không có hồi kết.

Baba Vanga dự đoán thế giới sẽ có vài đột phá y học chống lại bệnh nan y, gồm có cả bệnh Alzheimer và ung thư vào năm 2024.

Trong những tuần gần đây, giới y học xác nhận rằng vaccine ung thư phổi đang được phát triển. Tiến trình phát triển vaccine ngừa ung thư phổi dựa trên DNA tại Anh Quốc nhận được tài trợ cho hai năm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và sản xuất 3,000 liều đầu tiên, theo thông cáo báo chí từ University of Oxford, Anh Quốc.

Trong khi đó, tại Nga, một loại vaccine ngừa ung thư được cho là đang được phát triển. Tổng Thống Vladimir Putin cho biết trong các bình luận trên truyền hình rằng “Nga tiến rất gần tới việc tạo ra vaccine ung thư và thuốc điều hòa miễn dịch thế hệ mới,” Reuters đưa tin.

Baba Vanga còn tiên đoán một điềm gở liên quan tới một người Nga nỗ lực thủ tiêu Putin.

Lời tiên tri của Baba Vanga dừng lại ở năm 5079 – đó là lúc bà dự đoán thế giới sẽ diệt vong. (TTHN)