44 câu trả lời của Thầy Thích Minh Tuệ-Ngộ Trí Tâm/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

May 26, 2024

Ngộ Trí Tâm/SGN

  1. Giữa Tháng Bảy 2015, con đi làm vô tình nghe được Phật pháp. Con phát nguyện ăn chay ngày một bữa, tìm đọc kinh sách Phật và giữ giới trong sáu tháng.
  2. Con thấy mục đích Phật dạy rất cao cả, nên con muốn đi tu và quyết định xuất gia.
  3. Cha mẹ con lúc đầu không cho. Sau đó, thì cũng chấp thuận. Con được cha mẹ chia phần tài sản như các anh em trong nhà, nhưng con từ chối, con chỉ xin cha mẹ ký giấy cho con xuất gia thôi.
  4. Lúc đầu tu học thì con không hiểu được gì nhiều. Con như người học lớp Một, rồi học lớp Hai, từ từ học lên nữa, người ta cũng chỉ cho con, con mới hiểu nhiều hơn.
  5. Con học tu ở chùa một thời gian, có pháp danh là Thích Minh Tuệ. Sau đó, con thấy không hợp, nên con rời bỏ chùa, lên núi ẩn cư một mình trong hốc đá, hàng ngày đi khất thực. Dù Phật không có nói, nhưng con chọn ngủ ngồi ba năm rồi, không có nằm. Con ngủ ngồi là con muốn bỏ cái ngủ đi. Khi nào mệt quá thì ngồi dựa vào gốc cây hay bờ tường cũng được.
  6. Sau thời gian ở một chỗ con thấy mình không có cơ hội xúc chạm để thử thách tham-sân-si, nên con quyết định bộ hành từ Nam ra Bắc, rồi ngược lại. Con không dám nói trước cho đến lúc nào thì con dừng.
  7. Con muốn giữ lại pháp danh cũ, nên con nói tên con là Thích Minh Tuệ, thay vì nói tục danh con (là Lê Anh Tú). Bình thường như con khi chưa phát tâm tu hành chánh đẳng , chánh giác thì không sao, nhưng khi phát tâm tu hành rồi thì đầy đủ các thứ đánh đập, chửi bới bệnh đau nó đến để thử thách lòng mình có vượt qua được không, có chiến thắng với bốn nỗi khổ: sinh, già, bệnh, chết không. Ví dụ bệnh đau là cái đầu tiên vẫn đến để xem mình có sợ nó không.
  8. Trước khi đi tu, con cũng có việc làm như bao người, nhưng con không hạnh phúc, bởi con tư duy thấy rằng cho dù ai có việc làm, có công chức, cuộc sống ổn định nhưng rồi cũng bệnh, cũng già và chết như nhau. Con sẽ giống họ.
  9. Con muốn học những điều Phật dạy cao siêu, vi diệu, tối ưu , thiền định, trí tuệ , thoát được khổ đau, và an lạc hạnh phúc.
  10. Phật bày như thế nào, con làm theo thế ấy, để có an lạc hạnh phúc, chứ không phải tự mình mà biết. Con chưa vào định được. Con còn đang học.
  11. Con đi tu là để cầu giải thoát. Khi đắc đạo chánh đẳng, chánh giác, con mới đền đáp được công ơn cha mẹ.
  12. Ngày nào con cũng xin ăn không quá một bữa cơm mỗi ngày để nuôi thân tu hành. Con không tích chứa để dành, hoặc xin thêm.
  13. Con tuyệt đối không nhận tiền, vàng và vật phẩm của ai, dưới bất cứ hình thức nào.
  14. Y áo con mặc được may từ vải con nhặt ở nghĩa địa, hay thùng rác ven đường.
  15. Con không sử dụng y áo có màu giống với các tu sĩ, và nói mình ở chùa nào, vì con không muốn mượn hình ảnh để xúc phạm đến sư thầy và các nhà chùa. Người ta có thể nói con lợi dụng để lừa đảo, hay làm điều sai trái, làm ảnh hưởng đến họ.
  16. “Bình bát” để nhận thức ăn là do con sửa chế từ nồi cơm điện người ta cho con. Đó không phải là “y bát” của quý sư thầy.
  17. Đời là vô thường, sống nay chết mai đâu ai biết, nên con phải sớm đi tu, lỡ mai chết mất thân này thì con đâu còn cơ hội.
  18. Có người hỏi con ngủ ở nghĩa địa có thấy gì không? (ma). Con nói không thấy cũng không đúng. Có khi con thấy bóng đen nào đó đi qua, nhưng không ảnh hưởng gì đến con thì con nói thấy hay không thấy cũng vậy.
  19. Giờ đây con coi mọi người đều là anh em, cha mẹ con.
  20. Trong lòng con không còn ích kỷ, thù hận. Con coi tất cả mọi người trong thế gian đều bình đẳng.
  21. Giờ nếu anh có chửi con, con vẫn coi anh là bạn.
  22. Người ta có đánh con, con vẫn chúc mọi điều tốt đẹp đến với họ.
  23. Con nguyện ước chúc cho mọi người được hạnh phúc.
  24. Mọi người không nên học bói toán, vì có cái đúng, cái không đúng. Đức Phật không có dạy xem bói. Hơn nữa, nếu họ tài giỏi thì họ đã bói cho họ rồi.
  25. Thay vì học bói toán, mọi người nên học đạo đức, giới luật. Cố gắng giữ năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống bia rượu, sẽ được hạnh phúc.
  26. Việc giữ giới là quan trọng đầu tiên trong Giới-Định-Tuệ. Không giữ giới thì không tu được thành Phật.
  27. Ăn chay mà giữ giới thì cũng thành đạt trong việc tu Phật được.
  28. Người ta cho con chay, mặn có đủ. Khi ăn, con chọn thức ăn chay.
  29. Mọi người đừng lạy con mà hãy lạy Phật – Pháp – Tăng.
  30. Con không kêu gọi hay lập ê kíp đi theo quay phim con. Nhưng con cũng không xua đuổi họ.
  31. Nếu họ vì quay phim con mà được lợi ích, thì con cũng chúc họ hạnh phúc.
  32. Đối với con, ở đâu cũng là chùa. Nên con không quan trọng lý do vì sao chùa này mở cửa, chùa kia đóng cửa.
  33. Con đi bộ, không đi xe, là để rèn luyện sức khoẻ.
  34. Con đi chân trần là để cảm nhận được những gì ở phía dưới chân, mình có dẫm đạp lên các côn trùng, sinh vật không? Hơn nữa giày, dép mau hư hơn chân con.
  35. Ai không có thứ gì đáng giá trên người, mới là hạnh phúc, vì họ không phải lo giữ gì cả.
  36. Con không có gì hết nên con không sợ bị ai đánh đập hay giết mình để lấy của. Con không sợ chết, bởi con đâu có thứ gì tiếc uổng, cần phải sống để giữ nó.
  37. Có người hỏi con ngủ trong chòi lá, rừng cây lạnh lẽo, rét buốt làm sao ngủ ngon bằng ở phòng kín, chăn ấm, nệm êm? Con nói vẫn ngon, vì theo lời Đức Phật dạy ngủ ở đâu cũng ngon, nếu không có khởi tâm dâm dục.
  38. Đọc chú đại bi phải có mục đích nào đó. Nếu vì muốn mình an ổn, cần phải đọc chú đại bi, ví dụ xua đuổi con quỷ chẳng hạn, thì mình cư xử ác với nó rồi. Con không muốn giành lấy chỗ ở hay sự an ổn của ai, (ví dụ của con quỷ) nên con không học chú đại bi.
  39. Ai nói xấu con hay chửi mắng con thì con không giận họ và chúc họ may mắn. Ai nói tốt con hay khen tặng con thì con bình tâm, không để mình bị dính mắc vào ngã mạn, và con cũng chúc họ được hạnh phúc.
  40. Nói tốt, nói xấu hoặc khen, chê con thì rồi cũng vậy. Nhưng con phát hiện ra hai tâm trạng: người cho con thức ăn thì con thấy họ rất vui và hạnh phúc, còn người chửi con thì con thấy họ đỏ mặt không tự nhiên.

41.Con không phải là sư, là thầy gì cả. Con là công dân Việt Nam giống như mọi người thôi. Con chỉ muốn học tu. Con không có mục đích tuyên truyền hay rao giảng gì cả. Tất cả lời Phật dạy đều có trên mạng.

  1. Khi nào con thành tựu được chánh đẳng chánh giác con mới giảng pháp cho mọi người được. Bây giờ người nào muốn học thì cứ lên mạng nghe giảng của các sư thầy. Kinh sách nào của Phật cũng đều có cả.
  2. Những người tu hành, già cả hay nghèo khổ mình nên bố thí cho họ cơm ăn, y áo vật thực hay cái gì đó.

Những người sa ngã, ăn chơi, hư hỏng, mình bày cho họ đừng sát sanh, trộm cắp, sống lương thiện, giữ trọn năm giới, đó là bố thí pháp.

44.Sáu năm qua con không là nhân sự ở chùa nào. Con không là Nam tông hay Bắc tông, cũng không phải là tu sĩ của GHPGVN, bởi con tự thấy đạo đức của con chưa đạt đến cảnh giới đó.

Từng bước chân của nhà sư Thích Minh Tuệ đang được nhiều Phật tử dõi theo. (Hình: Tiền Phong)

(Ghi chép sau khi xem các clip về Thầy Thích Minh Tuệ)


 

Nhìn theo những bước chân của Thầy Minh Tuệ. Ta học được điều gì?

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Nhờ sống trong thời đại “internet” toàn cầu, sức lan toả của mạng xã hội khắp nơi trên thế giới, nhờ các youtuber, hình ảnh của Thầy Minh Tuệ đã tác động đến nhiều người trong toàn xã hội.

Một nhà sư đi chân đất, đi bộ từ Nam ra Bắc và từ Bắc vô Nam, ngủ ngồi, ăn ngày một bữa, không nhà cửa, không tài sản, không tiền bạc nhưng tâm thái vui tươi và rất hạnh phúc khi trả lời báo chí.

Những việc làm của Thầy Minh Tuệ đã tác động đến toàn xã hội, để mọi người soát xét lại suy nghĩ và việc làm của mình.

-Các quan tham cũng phải suy nghĩ một người dám từ bỏ tất cả, ngược lại, các quan tham đã tìm cách thu vén, vơ vét nhiều tài sản cho cá nhân và gia đình, xài mấy đời cũng không hết. Các quan tham đầy quyền lực, giàu có đang ở tù (dĩ nhiên không hạnh phúc) và các quan tham khác (chưa bị lộ) cũng không hạnh phúc vì không biết ngày nào tới phiên mình bị lộ và đi tù.

– Sư Minh Tuệ tu hạnh đầu đà, thực hiện lý tưởng của mình, từ bỏ tất cả tiện nghi vật chất mà nhiều người ham muốn và theo đuổi, vậy tại sao Sư Minh Tuệ lại có được hạnh phúc, bình an tuyệt đối nơi tâm hồn.?

Trong một xã hội luôn luôn đánh giá sự thành công của con người qua chức vụ họ có, qua tài sản họ kiếm được, con người đặt nặng về tài sản, tiền bạc, qua sự giàu có, xe sang, nhà cao cửa rộng, hiện có bao nhiêu tiền trong ngân hàng, kiếm một tháng bao nhiêu tiền?

Việc làm của Thầy Minh Tuệ đã nói với chúng ta điều gì?

1) Buông bỏ tuyệt đối: Thầy đã từ bỏ tất cả nhà cửa, tiền bạc, chỉ ăn một ngày một bữa. Thầy ngủ ngồi, có thể ngủ bất cứ nơi nào dưới gốc cây, trong hang đá… (dĩ nhiên không có tiện nghi ngủ trên giường, trong nhà có thể có máy lạnh như đa số người bình thường)

2) Khiêm tốn: Thầy Minh Tuệ xưng con với tất cả mọi người tiếp xúc với thầy. Thầy Minh Tuệ không nhận mình là tu sĩ, không nhận mình là thầy để hướng dẫn ai hết, thầy đang học tập tu hành. Chúa Giê su cũng nói: “hãy bắt chước ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

3) Nhẫn nại, yêu thuơng, tha thứ…Không giận hờn, luôn tha thứ. Có ai chửi rủa đánh đập Thầy cũng chấp nhận tất cả cũng như Chúa Giê su dạy “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em” (Mt 5 câu 44).

Còn tha thứ cần phải tha 70 lần 7 nghĩa là tha hoài, tha vĩnh viễn, tha mãi mãi.

4) Thực hành.  Điều khó khăn nhất Thầy Minh Tuệ đã thực hiện trong 6 năm qua. Thầy nói như thế nào thì làm như vậy. Thầy thực hiện “Tri hành hợp nhất”.

Nhưng từ biết và đem ra thực hành có khoảng cách. Khó khăn nhất là thực hành.

Tri dị, hành nan. Biết dễ, làm mới khó. Làm sao để có Bình an, Vui vẻ, Hạnh phúc.

Trong hoàn cảnh ăn ngày một bữa, do bá tánh bố thí khi đi khất thực, áo quần một bộ trên người, ngủ ngồi ở gốc cây hay dựa vách tường nào đó trong 6 năm qua.  Không phải ai cũng làm được.

5) Thầy Minh Tuệ không sợ chết. Tôi cũng có ý nghĩ và thường nói với bạn bè: “làm sao vui để đợi chết”?

Có những điều Thầy Minh Tuệ thực hành ta có thể học tập, làm việc đạo đức, tu sửa bản thân thường xuyên.

Việc Thầy Minh Tuệ làm đáng được kính trọng và rất đáng khâm phục.

-Ở Mỹ cũng có người Amish, biết từ bỏ đời sống tiện nghi như không dùng điện thoại, máy tính, không dùng xe hơi, không nhà cao cửa rộng, người Amish có cuộc sống hết sức đơn giản. Đa số chỉ học hết lớp 8 là nghỉ học. Đến năm 14 tuổi trẻ em có quyền nghỉ học. Họ có khoảng 300.000 người sống rải rác ở các bang Pennsylvania, Ohio, Indiana. New York.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Mời xem thêm:

-Người Amish từ bỏ đời sống tiện nghi.

https://vov.vn/the-gioi/cuoc-song-do-day/amish-toc-nguoi-choi-bo-the-gioi-hien-dai-giua-long-nuoc-my-827390.vov

– “Ôi đất nước u mê ngàn năm…”-Minh Thùy

https://baotiengdan.com/2024/05/25/oi-dat-nuoc-u-me-ngan-nam/

-Một linh mục công giáo nói về Thích Minh Tuệ:

https://keditim.net/187489-2/

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Buồn

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh …  Đó là chưa kể những nỗi buồn buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa …

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn dữ dội, buồn thê thảm, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn …

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật (cũng) buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận.

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng:

Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai
Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta
Buồn về một nỗi tháng ba
Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ
Buồn về một nỗi tháng tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn
Buồn về một nỗi tháng năm
Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu

Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn quá.

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu:

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm:

  • Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”.
  • Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!”
  • Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.”
  • Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.”
  • Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?”

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương:

Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng.

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành…

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại.Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành.

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mĩ và quốc dân Mĩ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai…

Và rồi nước Mĩ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mĩ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên…

Đã 75 năm sau trận “Trân Châu cảng”. Nhật Bản và nước Mĩ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử…  Thứ gắn kết chúng ta chính là “sức mạnh của hòa giải”, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định “bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn”. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay.

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 49 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc?

Trương Nhân Tuấn trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”.

Nghe thế có buồn không?

Buồn chớ và buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngãy bẩy, ngã ba buồn về.


 

GIÁO HOÀNG MỞ ĐƯỜNG PHONG THÁNH CHO THẦN ĐỒNG MÁY TÍNH

 BBC News Tiếng Việt 

Một thiếu niên sắp trở thành một vị thánh của Công giáo.

Carlo Acutis, gốc Ý, sinh năm 1991 tại London (Anh) và qua đời năm 2006 ở tuổi 15.

Điều này có nghĩa là Carlo sẽ trở thành người thuộc thế hệ Millennial (sinh ra trong khoảng 1981-1995) được phong thánh.

Trong những tháng cuối đời khi bị bệnh máu trắng, Carlo đã sử dụng internet để kể về phép lạ và truyền bá đức tin, khiến cậu được mệnh danh là “Người có ảnh hưởng của Chúa”.

Năm 2020, Giáo hoàng Francis phong Carlo là Chân phước khi Carlo được cho là đã giúp một cậu bé bị dị tật tuyến tụy bẩm sinh bất ngờ khỏi bệnh sau khi chạm vào một trong những chiếc áo còn sót lại của cậu.

Phép lạ thứ hai, giúp Carlo đủ điều kiện được phong thánh liên quan đến việc một sinh viên đại học người Costa Rica khỏe lại sau khi ngã xe đạp và chấn thương nặng ở đầu.

Tòa thánh Vatican vẫn chưa công bố ngày cũng như kế hoạch phong thánh cụ thể cho Carlo.

#BBCNewsTiengViet #GiaohoangFrancis #phongthanh

Lễ Chúa Ba Ngôi- Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Chúa Ba Ngôi, ước mong tim bạn được tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi nhé. XIN THÔNG BÁO: Mình sẽ đi vắng đến 19/6 mới về nên không có bài. Nhớ nhau trong lời kinh nguyện nhé.

Cha Vương

 CN: 26/05/2024

TIN MỪNG: Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, (Mt 28:19)

 SUY NIỆM: Là một Ki-tô hữu Công Giáo, bạn không sao tránh khỏi những lần làm Dấu Thánh Giá một cách qua loa hời hợt. Nếu Dấu Thánh Giá là lời nguyện tắt đẹp nhất và nếu Dấu Thánh Giá được coi là quy luật sống của mỗi người kitô-hữu thì bạn không thể làm một cách hời hợt được. Dấu thánh giá còn nhắc nhở bạn về bí tích Thánh Tẩy của mình, bởi vì bạn đã được rửa tội “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”. Nói cách khác bạn được Thánh Tẩy bởi Tình Yêu cao cả phát xuất từ Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Augustinô nói: “Khi nói đến tình yêu là nói đến Thiên Chúa Ba Ngôi, một ngôi yêu, một ngôi được yêu và một ngôi là nguồn mạch của tình yêu.” “Thiên Chúa là tình yêu, và hễ ai ở trong tình yêu thì ở trong Chúa, và Chúa ở trong người ấy”(1 Ga 4:16).

– Trong tình yêu giữa vợ chồng với nhau mà không có tình yêu của Thiên Chúa, thì tình yêu ấy sẽ không tìm thấy hạnh phúc.

– Trong tình yêu bạn hữu với nhau mà không có tình yêu của Chúa, thì đó là sự lợi dụng nhau và sẽ đi đến phản bội nhau khi không còn lợi dụng nhau được nữa.

– Trong tình yêu nam nữ, nếu không thấy được tình yêu của Chúa qua người mình yêu, thì đó là tình yêu hoàn toàn để thỏa mãn xác thịt, và những ham muốn khác.

– Khi phục vụ tha nhân mà không có tình yêu Chúa, thì sự phục vụ ấy chỉ là khoe khoang đánh bóng bản thân mình mà thôi, và khi người khác phê bình chỉ trích thì nóng giận và không thèm phục vụ nữa…

Để yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi lần bạn làm Dấu Thánh Giá thì nên khoan thai, cung kính và yêu mến mà làm dấu, vì đó chính là lúc bạn tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Và cứ dấu ấy mà người ta nhận biết bạn và tôi là người Ki-tô hữu, là con của Thiên Chúa đó.

LẮNG NGHE: Vậy hôm nay, anh em phải biết và để tâm suy niệm điều này: trên trời cao cũng như dưới đất thấp, chính Đức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa. (Đnl 4:39)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ba Ngôi cực thánh là nguồn mạch của Tình Yêu, nguồn mạch của sự Hiệp Nhất, xin hãy đến và ở lại với con và ban thêm tình yêu, hiệp nhất xuống trên từng người trong gia đình, trong cộng đoàn để gia đình, cộng đoàn luôn đầy ắp niềm vui, luôn đầy ắp tiếng cười.

THỰC HÀNH: Mỗi lần làm dấu Thánh Giá là bạn ý thức và làm cách nghiêm trang để tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như sau:

+ Nhân danh Cha—Con tạ ơn Chúa vì Chúa đã dựng nên con

+ và Con—con tạ ơn vì Chúa đã cứu chuộc con

+ và Thánh Thần—Lạy Chúa xin thánh hoá đời sống con.

From: Do Dzung

Dấu Thánh

BỨC ẢNH ĐẸP NHẤT CỦA SỰ CHẤP NHẬN…

 

Hình ảnh này được coi là một trong những bức ảnh đẹp nhất trong 10 năm qua, vì nó khiến người chụp rơi vào trạng thái….trầm cảm.

Câu chuyện xảy ra:

2 con báo cheetah này đã tấn công con linh dương vào lúc nó đang chơi đùa với con nhỏ.

Thực tế là con linh dương có cơ hội trốn thoát. Khoảng cách và lối thoát cho mạng sống là có lợi cho bản thân nó. Nhưng nó quyết định đầu hàng 2 con báo hoa mai theo cách này.

Tại sao???

Để cho những đứa con nhỏ của nó có cơ hội trốn thoát … Bởi vì nếu nó rời đi trước, sẽ không có thời gian cho những đứa con nhỏ của nó trốn thoát.

Hình ảnh này là khoảnh khắc cuối cùng của linh dương mẹ, với cổ họng rơi vào hàm 2 con báo cheetah, khi nó nhìn lại để đảm bảo những đứa con nhỏ của mình thoát ra ngoài an toàn trước khi nó bị nuốt chửng.

Mẹ là người duy nhất trên thế giới này có thể hy sinh cuộc sống của mình cho bạn một cách vô hạn.

Lược dịch từ – Nature Merveilleuse

From: Tu-Phung

Ở CÙNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Và đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Một buổi tối, Franklin D. Roosevelt và người bạn thân của ông – cố vấn Bernard Baruch – nói chuyện đến khuya tại Toà Bạch Ốc. Cuối cùng, Tổng thống đề nghị họ ra Vườn Hồng ngắm sao trước khi đi ngủ. Họ ra ngoài, lặng lẽ nhìn lên bầu trời nhiều phút, ngắm nhìn một tinh vân với hàng ngàn ngôi sao lấp lánh. Sau đó, Tổng thống nói: “Được rồi, tôi nghĩ bây giờ chúng ta cảm thấy ‘đủ nhỏ’ để vào nhà và đi ngủ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Các bài đọc Chúa Nhật Chúa Ba Ngôi hôm nay giúp chúng ta hiểu rằng, con người không chỉ cần ‘đủ nhỏ’ để thấy Thiên Chúa hiện hữu, nhưng còn cần ‘đủ lớn’ để nhận biết Ngài là một Thiên Chúa ‘ở cùng’, gần gũi, yêu thương, đồng hành và quan tâm đến câu chuyện đời sống cá nhân của từng người trong chúng ta.

Thánh nữ Catarina Siêna nói, “Con đã nếm và nhìn bằng ánh sáng trí tuệ trong ánh sáng của Chúa, vực thẳm của Chúa, Ba Ngôi vĩnh cửu và vẻ đẹp của mọi tạo vật, vì khi nhìn vào Chúa, con thấy mình là hình ảnh của Chúa. Chúa ở cùng con, con ở cùng Chúa!”. Đúng thế, Ngài là “Thiên Chúa ở trên trời” nhưng cũng là Thiên Chúa “ở dưới đất” – bài đọc một. Vì vậy, tin Ngài không phải là tin vào một thực thể xa xôi, thờ ơ nào đó. Không! Trái lại, trong tình yêu, Ngài là Chúa Cha dựng nên vũ trụ; là Chúa Con sinh ra trong một dân tộc, trở nên xác phàm ‘ở cùng’ chúng ta, đã chết và sống lại vì chúng ta; và là Thánh Thần, với tư cách Đấng Bảo Trợ, biến đổi và dẫn dắt mọi sự đến viên mãn. Ba Ngôi trong một bản thể – Thiên Chúa – duy nhất là vậy!

Phaolô và Gioan, những con người đã trực tiếp trải nghiệm vẻ phong phú của sự gần gũi này. Đó là một Thiên Chúa Tình Yêu; là ‘Cha của chúng ta’ – những đứa trẻ phó mình trong tay của người đã cho nó sự sống với lòng tin tưởng tuyệt đối. Ngài đang hoạt động trong chúng ta – Phaolô nhắc lại – Chúa Thánh Thần bảo đảm rằng, Chúa Kitô không bị giản lược thành một nhân vật của quá khứ, nhưng Ngài ‘ở cùng’, đương thời với chúng ta, và chúng ta cảm thấy niềm vui được làm những con trai con gái yêu thương của Thiên Chúa, được gọi Ngài là Cha – Abba, Cha ơi – bài đọc hai.

Ba Ngôi Chí Thánh không phải là sản phẩm của lý trí con người mà là khuôn mặt của một Thiên Chúa muốn tỏ mình ra, không phải từ ngai vàng, mà là bước đi với nhân loại. Chính Chúa Giêsu, Đấng mạc khải Chúa Cha cũng là Đấng đã hứa ban Thánh Thần, Đấng dạy dỗ chúng ta mọi điều chúng ta chưa biết; và từ bên trong hướng dẫn chúng ta, ban cho chúng ta những ý tưởng tuyệt vời và những nguồn cảm hứng tốt.

Anh Chị em,

“Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Lễ Chúa Ba Ngôi dẫn chúng ta đến chiêm ngưỡng mầu nhiệm Thiên Chúa – Đấng còn có tên là Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng. Từ đó, chúng ta “đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, giúp mọi tạo vật chào đón Ngài, phản chiếu tia sáng vẻ đẹp, sự tốt lành và chân lý của Ngài. Vì thế, Kitô hữu không bao giờ là người cô độc; chúng ta thuộc về gia đình Ngài. “Hạnh phúc thay dân nào Chúa chọn làm gia nghiệp!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con cảm thấy luôn ‘đủ nhỏ’ để hằng phụ thuộc vào Chúa; đồng thời, ‘đủ lớn’ để phản ánh xuất sắc vinh quang Chúa cho anh chị em con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*******

LỄ CHÚA BA NGÔI, lễ trọng 

Kết thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

16 Khi ấy, mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17 Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18 Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”


 

Lại cháy lớn ở Hà Nội, 14 người trong nhà trọ tử vong

24/05/2024

Vụ cháy xảy ra vào rạng sáng ngày 24/5 khi mọi người đang ngủ ở hai ngôi nhà nằm sâu 200 mét trong ngõ nhỏ số 119 phố Trung Kính, Quận Cầu Giấy

Thêm một vụ cháy thảm khốc nữa vừa xảy ra ở một khu dân cư ở Quận Cầu Giấy, Hà Nội, khiến cho 14 người chết và 3 người bị thương, báo chí trong nước đưa tin, một lần nữa làm dấy lên quan ngại về những khu nhà trọ đông đúc, thiếu an toàn ở các thành phố lớn ở Việt Nam.

Vụ cháy xảy ra vào rạng sáng ngày 24/5 khi mọi người đang ngủ ở hai ngôi nhà nằm sâu 200 mét trong ngõ nhỏ số 119 phố Trung Kính, Quận Cầu Giấy, trang mạng VnExpress cho biết.

Trang mạng này cho biết căn nhà phát ra đám cháy là nhà ở đơn lẻ nhưng được chủ nhà mở dịch vụ cho thuê và sửa chữa xe máy điện, xe đạp điện ở tầng dưới. Bên cạnh căn nhà này là nhà trọ cho thuê cao 3 tầng với 12 phòng. Tờ Tuổi Trẻ cho biết gia đình gia chủ có 7 người và căn nhà trọ có 17 người đang thuê ở.

Giữa hai căn nhà là khoảng sân để xe máy, xe máy điện và xe đạp điện. Ngọn lửa bùng phát vào lúc 00h30 ‘từ khu vực để xe máy, xe đạp điện ở tầng 1 của chủ nhà, sau đó lan ra căn nhà trọ sát bên’, theo VnExpress.

Lực lượng cứu hỏa đã đến nơi ‘sau khoảng 10 phút’. Khi đó, các loại xe điện để trong sân ‘đã bị cháy trụi’ còn ‘khung thép, mái tôn sân trước đổ sập’ trong khi ngọn lửa đã bao trùm cả căn nhà trọ từ tầng 1 đến tầng 3 với khói đen khắp trên mái, cầu thang bộ và hàng lang ngôi nhà 3 tầng, trang mạng này tường thuật.

Đến gần 1:30 sáng, đám cháy được dập tắt và đến hơn 3h sáng, nhiều thi thể được bọc trong túi vải, đặt trên cáng đưa ra ngoài, theo Tuổi Trẻ.

Tờ báo này dẫn lời lãnh đạo Công an quận Cầu Giấy xác nhận có 14 người tử vong và 3 người bị thương đang được cấp cứu.

Lực lượng cứu hỏa đã phá khóa cổng chính, phá ô cửa sổ để vào trong căn nhà cháy và đã cứu được 7 người mắc kẹt, trong đó có 3 người bị thương, cũng theo Tuổi Trẻ.

Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương, phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Thứ trưởng Công an Trần Quốc Tỏ, người tạm quyền điều hành Bộ Công an, Thứ trưởng Công an Nguyễn Văn Long, Bí thư Hà Nội Đinh Tiến Dũng, Chủ tịch Hà Nội Trần Sỹ Thanh đã đến hiện trường vụ cháy để chỉ đạo công tác cứu hộ, báo chí trong nước cho biết.

Hiện Công an Hà Nội đang ‘khẩn trương điều tra nguyên nhân vụ cháy’ để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, theo Tuổi Trẻ.

Đây là vụ cháy thảm khốc thứ hai ở Hà Nội chỉ trong vòng chưa tới một năm, sau vụ cháy hồi tháng 9 năm ngoái ở một chung cư tư nhân ở phố Khương Hạ, quận Thanh Xuân, khiến 56 người thiệt mạng.

Vụ cháy ở Thanh Xuân xuất phát từ tầng hầm để xe của chung cư, nơi có nhiều xe đạp điện, xe máy điện được sạc qua đêm. Vụ cháy này sau đó dẫn đến thái độ kỳ thị đối với loại hình xe điện ở các nơi cho thuê trọ mặc dù nguyên nhân chính thức được công an công bố là ‘chập mạch đường dây dẫn điện của bình ắc quy thuộc phần đầu xe máy tay ga (chạy xăng)’, theo tìm hiểu của VOA.

Vụ cháy cũng đặt ra vấn đề về tính hợp pháp và sự an toàn của loại hình chung cư mini và nhà trọ tư nhân do các chủ nhà xây lên để cho thuê trọ – nơi những người dân thu nhập thấp sống chen chúc trong những hẻm nhỏ, đông dân cư ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

YouTube player

 

Sau tuyên thệ của Tô Lâm, ‘cuộc chiến cung đình’ có đảo chiều?-Trần Đông A

Ba’o Tieng Dan

Blog VOA

Trần Đông A

23-5-2024

Ông Tô Lâm tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước Việt Nam tại Quốc hội Việt Nam ngày 22-5-2024. Nguồn: AFP

Nếu trường hợp Quốc hội sẽ phê chuẩn Phan Đình Trạc làm Bộ trưởng Công an thì ‘chung kết’ giữa Đình Trạc, Tô Lâm và Minh Chính sẽ kịch chiến. ‘Tấn trò đời’ (La Comédie Humaine) từ ĐCSVN sẽ có nhiều tập hay hơn của Balzac.

Khúc khuỷu đường dẫn đến lễ tuyên thệ

Sáng 22/5/2024, Đại tướng Công an Tô Lâm đã tuyên thệ để trở thành Chủ tịch nước (CTN) mới của Việt Nam. Ông Lâm cam kết sẽ thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của CTN đã được Hiến định (1).

Đáng chú ý là buổi lễ tại Quốc hội có sự tham dự của đầy đủ các lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam, nhưng lại vắng mặt Tổng bí thư (TBT) Nguyễn Phú Trọng vốn theo thông lệ trước giờ đều phải có mặt tại những buổi lễ như thế này, đồng thời cũng không có cả sự hiện diện của cựu Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng để chúc mừng người kế nhiệm (2).

Sau khi bầu ông Lâm làm CTN, Quốc hội (QH) đã xúc tiến quy trình miễn nhiệm chức Bộ trưởng Công an (BTCA) cũng trong buổi sáng cùng ngày.

Tin nội chính của Việt Nam những ngày này xoay như chóng chóng. Mới sáng hôm 19/5, báo chí nhà nước vẫn ‘đồng ca’ bài ‘chưa phê chuẩn hoặc miễn nhiệm Bộ trưởng Bộ Công an tại kỳ họp thứ 7’ (3). Bời lẽ, sau bế mạc Hội nghị Trung ương bất thường (TW9) ngày 18/5 trước đó, các bên vẫn chưa thể thống nhất được, chọn ra ai sẽ ngồi vào ghế BTCA thay Đại tướng Tô Lâm.

Việc CTN kiêm nhiệm BTCA tưởng như đã là thắng lợi chắc chắn của Đại tướng Tô Lâm. Ấy vậy nhưng trưa ngày 21/5, ‘gió đã đột ngột đảo chiều’. Truyền thông nhà nước đồng loạt thông tin, QH căn cứ ý kiến ‘cấp có thẩm quyền’ (Bộ Chính trị và cuộc họp của các lãnh đạo chủ chốt), căn cứ quy định pháp luật, sẽ bổ sung thêm nội dung miễn nhiệm chức vụ BTCA đối với Tô Lâm, sau khi ông sẽ được bầu làm CTN trong buổi sáng 22/5. Tức là vào phút 89 của trận đấu, ‘cơ quan có thẩm quyền’ lại lật kèo, từ chỗ đồng ý cho ‘ngồi hai ghế’ đến quyết định chỉ cho ‘ngồi một ghế’, cứu cho Hiến Pháp khỏi bị khủng hoảng.

Trước đó, trả lời BBC ngày 19/5, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) nói rằng, theo quy định hiện hành của Hiến pháp, CTN không thể kiêm nhiệm chức vụ BTCA. Việc kiêm nhiệm như thế sẽ dẫn đến xung đột thẩm quyền và vi phạm nguyên tắc phân công, phân nhiệm, phân quyền trong bộ máy nhà nước (4).

Tấm hình Tô Đại tướng mà tất cả báo chí nước ngoài chuyển tải trưa 20/5, không thể nào ‘chua’ bên dưới là ‘Nụ cười chiến thắng’ của Tô Lâm! Chưa thấy Nguyên thủ quốc gia nào nhậm chức mà thiểu não đến như vậy!

Sáng 22/5, Thượng tướng – Thứ trưởng Công an Trần Quốc Tỏ đã được Thủ tướng Phạm Minh Chính phân công điều hành hoạt động của BCA cho đến khi ‘cấp có thẩm quyền’ – tức Bộ Chính Trị, kiện toàn chức danh BTCA. Chỉ có thể giải thích sự ‘lật kèo’ này bằng quyết định trong cuộc họp của lãnh đạo chủ chốt nói trên.

Ở đây mới thấy hết ‘tài thao lược’ của TBT Nguyễn Phú Trọng. Khi BCT đã ‘trám’ được 4/6 ghế trống trong cơ quan quyền lực cao nhất nước, tức BCT đã có 16 thành viên, lại hầu hết là người bên Đảng, đủ để thay đổi tương quan lực lượng trong BCT, nên đã ‘thuyết phục’ được ông Tô Lâm ‘buông ghế’ BTCA!

Trong tay ‘Cơ quan có thẩm quyền’ có Phan Đình Trạc, Trần Cẩm Tú, Nguyễn Hòa Bình. Tất cả đều là Ủy viên BCT, đã từng lãnh đạo ngành, địa phương và đều đang là đại biểu Quốc hội, 100% đạt tiêu chuẩn BTCA, nhưng phía ông Tô Lâm chưa chịu buông. Trong khi đó, các Thứ trưởng của Tô Đại tướng lại ‘còn non xanh’, tuy đều Ủy viên trung ương nhưng chưa tròn một khóa, lại không phải là đại biểu QH, thì rõ ràng đã không thể ‘trám vào’ một trong hai ghế trống của BCT như ý muốn của Tô Đại tướng trước khi chấp nhận rời BCA.

Không ‘trám’ được hai chiếc ghế trống

Đằng sau câu chuyện BCT không ‘trám đủ’ số ghế trống có thể hé lộ mấy điều sau đây.

Thứ nhất, phơi bày một sự thật là TW9 vừa qua đã vỡ trận! Vấn đề nhân sự cấp cao xưa nay phần lớn bàn trong BCT là xong, chỉ đưa ra Trung ương để bỏ phiếu lấy lệ (Ít khi nào Trung ương chống lại BCT). Trường hợp đưa ra mà không kỷ luật nổi Nguyễn Tấn Dũng cách đây mấy năm là một ngoại lệ hiếm hoi. Nếu có vị trí nào liên quan bên nhà nước hoặc Chính phủ thì đưa thêm ra Quốc hội để ‘bấm nút’. ‘Đảng chỉ tay, Quốc hội giơ tay, Mặt trận vỗ tay’ là quy trình chán ngắt đến mức người dân chẳng mấy ai quam tâm. Nhưng câu chuyện của tuần qua lại hoàn toàn khác, nó không thể ngụy tạo như từ trước tới nay rằng, ‘Trung ương 9 đã thành công tốt đẹp’.

Thứ hai, hệ lụy của việc ‘để trống’ hai vị trí trong BCT sẽ kéo dài cuộc đấu đá giữa ‘các lãnh đạo chủ chốt’ chưa biết đến bao lâu. Các bè phái trong Đảng phải tiếp tục dàn quân để cho người của mỗi cánh phải ‘trám’ được vào những vị trí béo bở. Theo tin nội bộ không muốn nêu danh tính, QH sẽ phê chuẩn Phan Đình Trạc làm Bộ trưởng Công an. Nếu thế thì ‘cuộc chung kết’ giữa Phan Đình Trạc, Tô Lâm và Phạm Minh Chính có thể kịch chiến.

Thứ ba, không ‘trám đủ’ chỗ trống còn liên quan đến việc tái phân công, phân nhiệm phạm vi công tác của bốn ‘tân Ủy viên BCT’. Ai được kiêm nhiệm công tác cũ, ai phải đưa lại phần việc cho người khác? Lại một cuộc ‘xáo bài’ mới sẽ tiếp diễn…

Nhưng việc ‘trám’ được hai ghế trống ‘nóng’, để Tô Lâm và Trần Thanh Mẫn tuyên thệ nhậm chức cũng lại gây nên nhiều dư âm trong dân. Theo báo chí nhà nước mô tả, “dưới cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước”, hai tân thành viên ‘Tứ trụ’ đã thề bồi bằng những đoạn văn mẫu.

Lâu nay, thề bồi là quy trình bắt buộc nhưng chả mấy ai để ý. Quốc hội, đồng bào và cử tri cả nước từng nghe quá nhiều các lời thề như thế từ mấy ông Nguyễn Xuân Phúc, Võ Văn Thưởng, Vương Đình Huệ… đọc thuộc lòng các ‘đoạn văn mẫu’ ấy và cũng như những phát biểu theo các công thức định sẵn. Chẳng có cách nào thẩm định được các lời thề ấy có xuất phát tự đáy lòng hay không và ràng buộc người đứng ra thề bồi như thế nào?

Điều nghịch lý trớ trêu là những người dân chưa bao giờ được biết, các ‘Tứ trụ’ bị ‘rớt đài’ từng thề thốt trước ống kính và ‘dưới cờ đỏ thiêng liêng’ cho đến nay, đã mắc phải những tội danh cụ thể gì? Nặng nhẹ đến mức nào? Phạm tội vì không giữ được liêm chính trong thực thi công vụ hay phạm tội do phản bội nhân dân, phản bội Tổ quốc? Người dân giễu nhại ‘thề cá trê chui ống’ (trôi tuột và khó nắm bắt) có phải hàm ý như vậy không? Bởi vì tất cả thề trước dân nhưng dân không biết chuyện gì thực sự đã xảy ra ở ‘những chỗ lõm…. lồi trên mặt trăng sao, những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao?’ (Thơ Việt Phương).

Thể chế vẫn chưa đến điểm tới hạn

Trước khi ông Tô Lâm chính thức trở thành CTN, Tiến sĩ Bill Hayton đã viết trên trang web của Chatham House, Viện nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh quốc rằng, Việt Nam sẽ ngày càng tô đậm ấn tượng về một ‘nhà nước công an trị’ (5).

‘Tứ Trụ’ giờ đây quy tụ hai người đi lên từ ngành công an là CTN Tô Lâm và Thủ tướng Phạm Minh Chính. Tính cả các nhân vật khác như các ông Trạc, Tú và Bình thì Bộ Chính trị có năm nhân vật xuất thân từ tướng tá công an. Nếu tính thêm hai ông Đại tướng (Giang và Cường) và một Thượng tướng (Nghĩa) có gốc gác quân đội thì BCT có tám Ủy viên là từ các lực lượng vũ trang. Tám trên mười sáu, đúng 50%.

Bốn nhân vật vừa bổ sung chủ yếu cũng lại là người làm công tác Đảng, trừ Lê Minh Hưng có chuyên môn về Ngân hàng. Nhưng có lẽ ông Hưng giờ đây chẳng muốn ai nhắc lại thời ông làm Thống đốc Ngân hàng, vì đó là những năm tỷ phú Trương Mỹ Lan ‘tác oai tác quái’ trên địa bàn của ông như chỗ không người. Cũng chưa ai chất vấn ông về ‘trách nhiệm người đứng đầu’ từ ngày ông về đầu quân làm Trợ lý cho TBT.

Với một thể chế mà đội ngũ “tinh hoa” gồm những thành phần ‘ưu việt’ như trên thì không có gì lạ là những ngày qua, khối ngoại đã bán ròng hơn 5.000 tỷ VND. Nếu tính từ đầu năm đến nay, nhóm này bán ròng 25.000 tỷ VND tương đương với gần 1 tỷ USD, vượt cả giá trị bán ròng trong suốt cả năm 2023 (6).

Bên cạnh việc vốn ngoại ồ ạt rút khỏi sàn chứng khoán, Việt Nam đã mất ít nhất 2,5 tỷ USD viện trợ nước ngoài trong ba năm qua và có thể mất thêm 1 tỷ USD nữa do tình trạng tê liệt bộ máy hành chính. Thông tin này từ lá thư do người đứng đầu Liên Hợp quốc và Ngân hàng Thế giới gửi Thủ tướng Phạm Minh Chính, kèm theo chữ ký của 18 Đại sứ, trong đó có Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và người đứng đầu Ngân hàng Phát triển Châu Á tại Hà Nội (7).

Trong một diễn biến liên quan, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái hôm 20/5 đã thừa nhận nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng và cho biết chính phủ sẽ cố gắng duy trì các chính sách hỗ trợ tăng trưởng, dù sản xuất công nghiệp phục hồi chậm. Sản xuất nông nghiệp, nhất là tại vùng đồng bằng sông Cửu Long gặp nhiều khó khăn do hạn hán, xâm nhập mặn kéo dài và nặng nề hơn (8).

Với những thách thức kể trên, thể chế lạc lõng của Việt Nam vẫn chưa đến điểm tới hạn. Mặc dầu có nhiều dự báo bi quan, nhưng với một thể chế lấy ‘thành tích’ bạo lực và đàn áp dân chúng làm tiêu chí duy nhất để ‘ổn định xã hội’, thể chế đó vẫn còn không gian tồn tại trong một thời gian dài. Dân chúng tuy đã chán ngấy dàn lãnh đạo hiện nay, nhưng tâm lý chung là vẫn nhẫn nhịn và cam chịu.

Chế độ toàn trị không chỉ diệt hết mọi tư duy sáng tạo, mà còn triệt tiêu tất cả mầm mống phản biện và đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống hàng ngày. Cả xã hội hầu như nghẹt thở và lay lắt với những nỗi lo cơm áo. Trình độ cả dân lẫn quan không khá hơn thời kỳ cụ Phan Chu Trinh kêu gọi ‘Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh’ cách đây trăm năm.

Phải nhìn thẳng vào sự thật như thế để tránh mọi ảo tưởng! Đừng thấy lãnh đạo đánh nhau trên thượng tầng mà ngộ nhận rằng, đất nước đứng trước bước ngoặt. Các cuộc tiến hóa không từ trên trời rơi xuống, nó phải từ người dân đi lên. Chừng nào người dân còn thái độ cam chịu, thì không có lý do gì để hy vọng vào bước ngoặt hay sự chuyển đổi hệ thống một cách ngoạn mục.


 

NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC – Phạm Tín An Ninh

Cuộc sống của một người VN vượt biên qua Norway

Trong hình là hai vợ chồng nhà văn quân đội Phạm Tín An Ninh và sáu đứa con tại Trại Hawkins Road , Singgapore sau khi vượt biên thoát khỏi Việt Nam trong thập niên 80. Nhà văn Phạm Tín An Ninh vừa là huynh trưởng vừa là chiến hữu cùng màu cờ sắc áo trong quân đội VNCH với tôi . Bà xã anh Phạm Tín An Ninh tên Trương Thu Thức và tôi là bạn học cùng lớp cùng trường thời trung học tại trường Trần Bình Trọng Ninh Hoà . Nhìn hình thấy bà bạn của mình mới bây lớn mà có tới sáu đứa con cao gần ngang vai thật là đáng nể . Chắc trong thời chiến tranh đơn vị của anh bị việt cộng pháo kích quấy rối ngủ không được nên mới nhiều con như thế. Tại hạ xin bái phục bà bạn của mình

Nhà văn Phạm Tín An Ninh là tác giả của những tác phẩm : Ở Cuối Hai Con Đường – Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân – Sau Cuộc Biển Dâu rất nổi tiếng nơi hải ngoại. Trong những câu chuyện anh viết giống như thể anh đang bơi giữa dòng sông đầy cánh lục bình . Anh quơ tay gom lại nhưng vì hai tay ngắn quá nên vẫn còn nhiều đám trôi dật dờ sức anh gom không xuễ . Tôi bắt gặp những niềm đau man mác của chính tôi giống như là tất cả những uẩn khúc trong lòng được anh thấu hiểu mặc dù truyện của anh được kết nối từ những mãng sống trôi trên dòng đời của chính anh

Mời quý bạn đọc bài viết mới nhất của anh viết về Na Uy quê hương thứ hai của mình . Bài viết tuy dài nhưng sinh động qua cách kể chuyện của anh khiến người đọc đã không đọc thì thôi chứ đã bắt đầu vô đọc rồi sẽ bị cuốn hút theo .

Quan Dương

NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC

Phạm Tín An Ninh

Như vậy là tôi sẽ phải rời xa Na-Uy, đất nước đã cưu mang tôi và sẽ còn mãi in đậm những dấu chân tôi trong cả một quãng đời hơn 30 năm lưu lạc? Cũng như tâm trạng của những ngày tìm cách vượt biên, rời khỏi Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, câu hỏi này đã làm tôi ưu tư trằn trọc nhiều đêm, như sắp phải cắt đi một phần máu thịt ràng buộc với chính sự sống của mình.

Sau bậc trung học ở Na-Uy, bốn đứa con lần lượt được học bổng sang Mỹ du học từ năm 1990. Có việc làm sau khi tốt nghiệp, nên ba cháu đã chọn ở lại đây lập nghiệp và trở thành công dân Mỹ, mong muốn bảo lãnh cha mẹ, khi về hưu, sang sống với các cháu những năm cuối đời, và với khí hậu ấm áp của vùng biển Cali sẽ làm người già đỡ căn bệnh đau nhức các khớp xương khi mùa đông Bắc Âu mang cái lạnh trở về. Mấy năm nay, sau khi về hưu, chúng tôi cũng chỉ sang Cali ở với các con sáu tháng mùa đông, còn sáu tháng mùa hè về lại với Na-Uy. Vậy mà trong những ngày mùa đông nắng ấm Cali, tôi vẫn da diết nhớ về Na-Uy với cả khung trời ngập đầy tuyết trắng, những hàng cây trước nhà, vào đêm Giáng Sinh, đóng băng, trở thành những cây thủy tinh lung linh dưới ánh đèn đường. Tôi nhớ cả cái không khí yên bình tĩnh mịch và những người bản xứ láng giềng tốt bụng. Nhiều lúc tôi ngồi bất động, thả hồn về Na-Uy, tìm lại từng dấu chân lưu lạc của mình.

Hơn ba mươi năm trước, khi phải đành lòng bỏ lại quê hương, bao nhiêu người thân và mồ mả cha mẹ ông bà, ra đi trên chiếc thuyền đánh cá mong manh, cũng như rất nhiều người, tôi không hề nghĩ là mình sẽ đến một đất nước xa lạ có tên Na-uy. Cái tên Norway, Norvège, tôi chỉ nhớ loáng thoáng qua phim The Vikings mà tôi đã xem qua lúc còn đi học, và cái giải Nobel Hòa Bình năm 1973 trao lầm cho Kissinger – Lê Đức Thọ, đã từng gây cho tôi cái ác cảm với đất nước xa xăm lạ lẫm này. Đặc biệt, năm 1978, khi đang ở tù ngoài Yên Bái, nhân một ngày lễ lớn của Cộng sản, tổ tù chúng tôi được phát một hộp thịt cá voi. Thấy ngoài hộp thiếc có ghi “Made in Norway”, bọn tôi càng ghét thêm cái tên này, vì nghĩ đó là một quốc gia thân Cộng

Chiếc thuyền nhỏ chở theo 52 người, gần một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Cả bầu trời phủ kín mây đen. Những ngọn sóng bạc đầu từ trên cao phủ xuống, như muốn nuốt chửng con thuyền nhỏ mong manh. Mệnh số 52 con người chỉ còn biết phó thác cho trời nước mênh mông. Bóng tối tử thần bủa vây khắp phía. Con thuyền bây giờ như cánh bướm nhỏ rơi giữa dòng thác lũ, chìm xuống ngoi lên tả tơi, thoi thóp. Chưa khi nào con người lại quá nhỏ bé và bất lực trước thiên nhiên như lúc này đây. Người điều khiển chiếc thuyền là anh bạn tù, một sĩ quan Hải Quân trước 75. Dù từng làm hạm trưởng, giàu kinh nghiệm hải hành, nhưng bây giờ chỉ còn biết cố giữ cho chiếc thuyền không nằm ngang để bị sóng đánh vỡ. Khả năng đó trong lúc này đã là một điều tuyệt vời, nhưng lại quá nhỏ nhoi trước sức mạnh của phong ba. Đám thanh niên thi nhau tát nước tràn vào liên tục có lúc gần ngập cả con thuyền. Chỉ sau một ngày đêm, tất cả đều mệt lã, đuối sức. Mọi người chỉ còn biết nhắm mắt, miệng lâm râm lời cầu nguyện. Bất ngờ có người hét lên và chỉ ra phía trước mặt. Tất cả nhốn nháo nhìn về hướng ấy. Một cái gì to lớn màu đỏ chói chập chờn xuất hiện giữa trùng khơi sóng gió. Mới đầu chỉ thấy mấy cái bồn lớn, tưởng như những cây trụ cao to trong một ngôi chùa vĩ đại, cho mọi người cái cảm giác như đang ở trên một thế giới nào đó, huyễn hoặc, mơ hồ. Khi nhận ra chiêc tàu thật lớn, ai cũng thầm nghĩ là có điều gì màu nhiệm được Thượng Đế gởi đến để cứu vớt chúng tôi trong cơn khốn nguy tuyệt vọng.

Chiếc tàu mang cái tên với vài mẫu tự rất lạ (Høegh). Có người nghĩ là chữ Nga. Nhưng trong hoàn cảnh này dù là tàu nước nào, cũng phải sống trước đã. Nhưng khi chúng tôi cố gắng cho thuyền đến gần tàu, thì họ lại tránh ra xa. Bao lần như vậy làm chúng tôi thất vọng và thầm oán trách. Nhưng cuối cùng chiếc tàu ngừng hẳn lại, hụ còi làm dấu hiệu cho thuyền chúng tôi chạy đến. Khi chiếc thuyền con cặp vào thành tàu cao chót vót, một số thủy thủ trên tàu thòng những chiếc thang giây và đu mình xuống để bồng những đứa con nít hoặc cõng trên vai những người đàn bà yếu mệt lên tàu. Một số khác, có cả vài người đàn bà, đứng trên thành tàu, đưa tay đón lấy từng người. Chúng tôi đã nhận ra đây phải là những con người từ tâm, đến từ một quốc gia giàu lòng nhân đạo.

Tôi và anh bạn Hải Quân là hai người cuối cùng lên tàu. Khi nói chuyện với vị thuyền phó, được biết chiếc tàu này thuộc Vương Quốc Na-Uy (Kingdom Of Norway) và đang trên hải trình công tác chở dầu từ Nhật sang Singapore. Và cơn bão chỉ mới bắt đầu. Trận bão chính khuya nay mới tới. Nếu tàu không vớt, chắc chắn chúng tôi không thể nào sống sót qua đêm nay. Ông cũng cho biết sở dĩ ông không cho chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lại gần khi tàu lớn đang chạy, vì lo ngại thuyền sẽ bị nhận chìm bởi sóng từ chiếc tàu lớn tạo ra, nên ông phải cho tàu dừng hẳn lại trước khi cho chúng tôi cặp vào

Chúng tôi đem tặng cho ông thuyền trưởng chiếc hải bàn, nói lời cám ơn và để làm kỷ niệm. Ông đưa hai chúng tôi ra sàn tàu để chứng kiến và từ biệt chiếc thuyền con, khi ông cho nhận chìm bằng cách cho rú mạnh máy tàu. Đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt, lòng chúng tôi thật bùi ngùi, khi nghĩ là chiếc thuyền mong manh ấy đã đưa chúng tôi vượt bao sóng gió, từng chạm mặt với tử thần, nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đã được an bình để tới bến bờ, còn chiếc thuyền thì lại bị nhận chìm vào đáy của đại dương . Và cũng kể từ giờ phút ấy, hai tiếng Na-Uy gắn liên với phần đời còn lại của chúng tôi

Sau khi tắm rửa xong, đám đàn ông con trai thì được phát cho những bộ quần áo kaki màu vàng của thủy thủ, phụ nữ thì những chiếc áo blue trắng của các cô y tá. Còn đám con nít thì được áo thun đủ màu và quần short. Chúng tôi được đưa xuống các phòng ngủ nghỉ ngơi, và chiều hôm đó được ăn một bữa cơm Tây thịnh soạn. Vị thuyền trưởng cho biết là sẽ đưa chúng tôi sang gởi tại trại tị nạn Singapore, và cho mỗi người được gởi ba cái điện tín về ba địa chỉ khác nhau để báo tin cho gia đình. Ông còn cho biết thêm, trước đây chiếc tàu này do ông làm hạm trưởng cũng đã từng cứu vớt bốn chiếc thuyền tỵ nạn từ Việt Nam. Đọc danh sách những thuyền nhân trong bốn chiếc thuyền này, hầu hết phát xuất từ miền Tây, chúng tôi không nhận ra có người quen biết.

Hai ngày đêm trên tàu với chúng tôi là cả một thiên đường. Mặc dù bên ngoài, cơn bão cấp sáu nhiều lúc làm con tàu lắc lư, nhưng trên tàu chúng tôi cảm thấy thật yên ả hạnh phúc. Chúng tôi được bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc, ăn uống thịnh soạn Đám con nít có quà, bắt đầu đừa giỡn, vui chơi.

Đêm cuối cùng, ông thuyền trưởng mong muốn có một buổi cơm chung với tất cả thủy thủ trên tàu cùng những người tỵ nạn. Chúng tôi thành lập một tổ nhà bếp. Họ cung cấp mọi thực phẩm theo yêu cầu. Một bữa ăn với thực đơn hoàn toàn Việt Nam. Vừa thích thú vừa cảm động.

Sau hơn hai ngày đêm, tàu cặp vào cảng Singapore. Tất cả thủy thủ đoàn đứng thành hai hàng dài từ đài chỉ huy xuống tận cầu tàu, bắt tay và ôm từng người chúng tôi tiễn biệt. Nhiều người đã bật khóc. Tôi vừa cảm động vừa đau đớn trong lòng. Cảm động vì phải chia tay những ân nhân của mình, nhưng đau đớn vì nghĩ họ là những người xa lạ, không cùng ngôn ngữ, màu da màu tóc, mà đã cứu vớt, hết lòng yêu thương lo lắng cho chúng tôi, trong lúc những người anh em cùng một nhà lại thẳng tay đàn áp hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng, đến nỗi phải đánh đổi cả mạng sống để bỏ nước ra đi. Nếu không có chiếc tàu Na-Uy này cứu vớt, chắc chắn 52 người chúng tôi đã bỏ mình trên biển khơi, cũng giống như hàng trăm ngàn người bất hạnh khác, không một ai hay biết.

Chúng tôi được gởi vào trại tị nạn Hawkins Road, một doanh trại cũ của quân đội Anh tại Singapore. Tòa đại sứ Na-Uy tại đây đến thăm nom, chăm sóc và gởi hai cô giáo thiện nguyện đến để sinh hoạt và dạy ngôn ngữ Na-Uy. Sau ba tháng, chúng tôi được chuyển sang trại chuyển tiếp Bataan ở Phi Luật Tân. Trại chia ra 9 Vùng. Riêng Vùng I được dành cho những người được tàu Na-uy vớt, và hầu hết sẽ đi định cư tại Na-Uy. Ông Đại sứ Na-Uy tại Phi Luật Tân thường xuyên đến thăm nom giúp đỡ chúng tôi. Có lẽ không có một vị đại sứ nào hiền lành, phúc hậu, và bình dị như ông đại sứ Na-Uy này. Một toán cô thầy giáo được chọn lọc, từ Na-Uy sang để dạy tiếng Na-Uy cũng như hướng dẫn chúng tôi về lịch sữ, địa lý, văn hóa, tập quán và nhiều hiểu biết khác về xã hội và đất nước này. Một số người tỵ nạn được chọn ra, học riêng thêm một số giờ, để làm phụ giảng và thông dịch.Tôi là một trong vài người may mắn được chọn

Sau tám tháng, chúng tôi lần lượt được đưa sang định cư chính thức tại Na-Uy. Gia đình tôi lúc ấy có 10 người, gồm vợ chồng tôi, 6 đứa con và 2 đứa cháu, đến phi trường Fornebu Oslo vào buổi chiều cuối hè. Trời nắng đẹp. Chúng tôi được hai người đàn bà thuộc văn phòng Thư ký Tỵ nạn và Phòng Xã Hội kommune Skedsmo, địa hạt nơi tôi đến định cư, đón chúng tôi tại khu nhận hành lý của phi trường. Khi bước ra cổng, tôi được một số phóng viên báo chí và đài truyền hình phỏng vấn. Hai người đàn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Tàu. Khi về đến nhà, bất ngờ chúng tôi thấy các phóng viên lúc nãy đang chờ trước cổng. Căn nhà rộng, loại rekkehus (townhouse) hai tầng, có cả sân trước sân sau được trồng hoa và lát cỏ, trang bị đầy đủ nội thất, có cả một TV mới và trong tủ lạnh đầy đủ thức ăn nước uống. Các phóng viên mời chúng tôi vào phòng khách, vừa uống cà phê vừa để họ quay phim, chụp hình và phỏng vấn. Họ hỏi về nhiều đề tài, đặc biệt là chiến tranh Việt Nam và chuyện tù đày, khổ ải của người miền Nam sau ngày VNCH thất thủ vào tay Cộng Sản, cùng cảm tưởng khi đến Na-Uy. Với mớ vốn liếng tiếng Na-Uy và cả tiếng Anh ít ỏi, tôi cố gắng trình bày và chỉ hy vọng họ hiểu được những điều chính yếu mà mình muốn nói. Trước khi từ giả, mọi người đều cảm động ôm lấy chúng tôi cùng với những lời chúc tốt lành cho một đời sống mới. Tôi rất ngạc nhiên, khi bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa chúng tôi một xâu chìa khóa, và trao cho chúng tôi tờ giấy chủ quyền ngôi nhà, mà bà cho biết kommune đã đứng ra mượn tiền mua trước, và họ sẽ trả mọi thứ tiền cho đến khi nào chúng tôi đi làm và có khả năng tự trả được. (Vì họ được mượn từ quỹ gia cư của chính phủ nên tiền lời rất thấp)

Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Na Uy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Na Uy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu Châu, và đã can đảm dắt theo mấy đứa con nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, sống chết với bọn hải tặc, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.

Khi cả nhà ngủ vùi sau hai ngày di chuyển mệt nhọc (từ trại Bataan đến Manila và từ Manila đến Na-Uy), tôi một mình xuống ngồi ở phòng khách, suy nghĩ thật nhiều về những tháng ngày sắp tới, ưu tư cho chính bản thân mình và nhất là đám con nhỏ dại, sẽ lớn lên và chấp nhận xứ sở xa lạ này như một quê hương mới. Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghĩ đến quê nhà, hồi tưởng một quá khứ có quá nhiều biến đổi thăng trầm và mất mát, dù đã xa khuất sau lưng, nhưng chắc chắn mãi mãi không thể nào mờ nhạt. Tôi cũng nghĩ tới thân phận của những người bạn tù còn ở lại,rồi cuộc đời sẽ không biết ra sao. Thầm cầu mong cho họ sẽ gặp được nhiều may mắn.

Hôm nay, cả gia đình tôi đang ở trên một đất nước tận vùng Bắc Âu xa lạ để gầy dựng lại cuộc đời. Các đứa con thơ dại sẽ lớn lên ở đây. Tất cả sẽ bắt đầu học ngôn ngữ mới, tập quán mới. Tôi thực sự đã mất quê hương. Tất cả, nếu có còn chỉ nằm sâu một nơi nào trong tâm tưởng. Nhưng chúng tôi may mắn được đất nước này mở rộng vòng tay, để được nhận nơi đây làm quê hương mới. Cái diễm phúc ấy hy vọng sẽ xoa dịu vết thương còn đang đau đớn trong lòng, mà tôi biết sẽ mãi mãi không bao giờ lành được. Sáng hôm sau, bà trưởng phòng tỵ nạn trở lại thăm chúng tôi, dắt theo hai người đàn bà khác, mà bà giới thiệu là đến từ phòng giáo dục và phòng xã hội Thị Xã. Hai người sẽ đến thăm gia đình tôi thường xuyên trong hai tuần, để lo việc học hành cho các con, đưa chúng tôi đi khám bệnh, làm răng và sắm sửa thêm những gia dụng theo nhu cầu. Bà đưa tôi đến một ngân hàng gần nhà, mở cho tôi một trương mục, bỏ vào đó tiền ăn và mọi khoản chi tiêu dành cho gia đình chúng tôi trong hai tháng đầu. Sau đó, bà sẽ gởi tiếp, nhưng bà dặn bất cứ khi nào cần cứ ra rút tiền. Và nếu tiền hết vì bà chưa kịp gởi vào, ngân hàng này sẽ phải ứng trước theo giao ước của bà.

Thêm một điều rất may mắn cho tôi. Thời gian ở trại tị nạn, tôi đã được các thầy cô giáo dạy riêng thêm ngôn ngữ Na-Uy để giúp làm phụ giảng và thông dịch, nên khi sang Na-Uy tôi đã có một ít vốn liếng tiếng Na-Uy, dù chưa thông thạo lắm. Ngày đầu tiên khi chúng tôi cùng một số gia đình tỵ nạn khác được bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa đến Phòng Cảnh Sát Ngoại Kiều Thị Xã để được phỏng vấn làm thủ tục di trú. Vào giờ chót người thông dịch không đến được, nên tôi đã tình nguyện đứng ra giúp. Không ngờ đó lại là một cơ hội cho tôi sau này. Tôi được giới thiệu theo học khóa “Ngôn ngữ Mùa Hè” tại Đại Học Oslo. Sau đó được làm thông dịch cho Văn Phòng Xã Hội và Phòng Cảnh Sát, và được gởi theo học một khóa tài chánh kế toán trong 13 tháng, mà đa số học viên là những công chức hoặc nhân viên của các phòng sở, công ty gởi đến. Biết thân phận là người tị nạn, nên tôi cố gắng hết sức để theo kịp, nên khi mãn khóa nhận được chứng chỉ với số điểm ưu hạng.

Khi cả nhà đang hái dâu ở vùng Drammen, vừa tiêu khiển vừa kiếm thêm tiền gởi vể Việt Nam giúp cha mẹ vợ, bà cô, cùng một số bạn tù ngày trước, tôi nhận được thư của kommune thu nhận tôi làm việc tại Kommune Kasseren (Phòng Tài Chánh Thị Xã) trong một năm. Công việc thật nhàn nhã, nên tôi được phép đi làm thông dịch thêm theo yêu cầu của các cơ quan khác và được nhận thêm tiền trả riêng. Đặc biệt việc di chuyển đều được dùng Taxi do cơ quan ấy đài thọ. Có những ngày chẳng có việc gì làm, tôi lại ngồi đọc sách để học thêm ngôn ngữ mới. Sau một năm, tôi nôp đơn xin theo học và làm trong ngành Ngân hàng Bưu Điện (Postbanken) cho đến ngày về hưu

Đến Na-Uy tôi mới biết đây là một Vương quốc có dân số chỉ hơn bốn triệu rưởi, nhưng đời sống khá cao và giàu lòng nhân đạo. Gia đình tôi được chăm lo đủ thứ. Tiền phụ cấp hằng tháng quá đầy đủ. Với chúng tôi có thể nói là thừa thãi. Ngay sau khi học xong, tôi được việc làm. Khi đi học vẫn được nhận đủ lương lại còn thêm phụ cấp. Vơ tôi được đi học thêm ngôn ngữ tại một trường trung học dành cho người lớn và sau đó học nghề tại trung tấm huấn nghệ dành cho người tỵ nạn, và ngay sau khi học xong cũng cnhận dược việc làm chuyên môn về điện tử tại Siemens, một công ty lớn của Đức. Lương bỗng hằng tháng của hai vợ chồng cộng lại chỉ hơn một nửa số tiến trợ cấp trước kia. Phòng Xã Hội có nhã ý giúp chúng tôi thêm vì có đông con, nhưng chúng tôi từ chối vì thấy đã đủ trả mọi chi phí cho đời sống gia đình. Điều thú vị hơn, đất nước này gồm rừng núi, sông hồ thơ mộng và quanh năm tĩnh mịch, thích hợp với những người cần sự yên tĩnh để chữa nhiều vết thương trong lòng còn đang đau đớn như tôi.

Mùa đông đầu tiên, khi tuyết bắt đầu rơi trắng bầu trời, chúng tôi được cấp áo quần, dụng cụ trượt tuyết, và có người đến dạy các con tôi trượt tuyết. Sau một năm, trong một kỳ thi dành cho tuổi thiếu niên, cậu con trai út của tôi được lãnh cúp hạng nhất, trở thành cậu bé trượt tuyết có tiếng trong vùng.Sau đó, chúng tôi còn được biết thêm, Nauy là quốc gia thường chiếm nhiều huy chương vàng nhất tại các Thế Vận Hội Mùa Đông. Định cư được hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, hơn nữa các con đã lớn cần một ngôi nhà rộng rãi có đủ phòng ốc hơn, chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà lớn nằm dưới thung lũng nhỏ Harabakken, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia sông là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì. Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Và cũng chính nơi đây, tôi đã bắt đầu tập tễnh cầm bút viết lại cuộc đời mình, thế hệ mình, cuộc chiến bất hạnh và cuộc tang thương dâu biển mà cả miền Nam Việt Nam đã trải qua.

Ở đất nước bé nhỏ này và với số người Việt tị nạn khi ấy khoảng 10.000 người, nhưng có một số nhà văn, nhà thơ tiếng tăm: Nguyễn Thị Vinh, Dương Kiền, Hoài Mỹ, Nguyễn Hữu Nhật, Tâm Thanh, Khánh Hà, Cung Vĩnh Viễn, Nguyễn Văn Thà… Bán ngôi nhà cũ của kommune mua giúp lúc ban đầu mới đến, chúng tôi may mắn lời được một khoản tiền đủ để trả hơn một nửa số tiền mua ngôi nhà mới. Ngôi nhà này nằm ở một kommune khác. Khi vừa dọn về nhà mới được hai tuần, tôi nhận được một Ngân Phiếu Trả Tiền (Utbetalingskort) gởi từ Phòng Xã Hội của kommune cũ, cấp cho tôi một số tiền gần bằng 10 tháng lương của tôi lúc ấy. Tôi ngạc nhiên, vì số tiền khá lớn nên nghĩ là có điều gì nhầm lẫn. Cầm tấm Ngân Phiếu Trả Tiền, tôi đến gặp ông Trưởng Phòng Xã Hội. Ông cho biết đó là món tiền mà Sở Tỵ Nạn cấp để lo cho gia đình tôi, nhưng kommune không chi tiêu hết cho chúng tôi, vì con đông nên không đủ phòng ốc và đồ dùng ở ngôi nhà cũ, hơn nữa chúng tôi đã đi làm quá sớm sau khi đến Na-Uy, nên ông quyết định gởi cho chúng tôi để sắm sửa cho ngôi nhà mới. Đã vậy ông còn xin lỗi, vì đã không lo lắng đủ cho chúng tôi trong thời gian mới tới. Tôi bắt tay ông từ giã mà trong lòng cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ là ở trên quê hương mình bây giờ biết tìm đâu ra những công chức chính quyền thanh liêm và giàu tấm lòng như thế?

Trong thung lũng nhỏ này chỉ có bốn ngôi nhà. Ngoài gia đình tôi, một gia đình người bản xứ, còn có gia đình người Thụy Điển và một gia đình người Đức. Tất cả những người láng giềng này rất tốt bụng, sau này đều trở thành những người bạn thân thiết của gia đình tôi.

Gần 30 năm làm việc, tôi may mắn được sắp xếp làm ở những chi nhánh rất gần nhà. Được hưởng bậc lương tính theo thâm niên từ khi bắt đầu làm việc tại Việt Nam. Hầu hết những đồng nghiệp người bản xứ đều luôn thân tình, giúp đỡ. Điều làm tôi cảm phục hơn là sự thành thật và tin tưởng lẫn nhau của họ. Công việc mỗi ngày liên quan tới tiền bạc. Có thời gian mấy năm tôi được giao cho trách nhiệm thủ quỹ. Vào những ngày trước Giáng Sinh hay thời điểm trả thuế, số tiền trong tủ sắt lên đến nhiều chục triệu kroner. Mới đầu, tôi rất ngạc nhiên, khi giao một số tiền lớn cho mỗi kasse (quày), mà họ chẳng bao giờ kiểm lại. Có khi, một vài cô cậu sinh viên làm thêm vào các ngày thứ bảy, hay ngày lễ, làm mất đến mấy chục ngàn, họ vẫn không bị la rầy hay đuổi việc. Chúng tôi được học và dặn dò, nếu có cướp (cho dù biết vũ khí là đồ giả), hãy luôn làm theo yêu cầu của kẻ cướp, đừng bao giờ có ý chống lại. Nhưng điều này chưa hề xảy ra. Họ rất quý sinh mạng con người. Không phải như dưới chế độ Cộng Sản trên quê tôi, sính mạng con người chẳng khác gì cỏ rác!

Trong gần 30 năm làm việc, tôi chưa hề thấy những ông “sếp” nặng lời với bất cứ một nhân viên nào cho dù khi họ làm sai, thất thoát ít nhiều tiền bạc. Chỉ cần viết một đôi dòng giải thích là đủ. Ngược lại, đôi lần, trong các buổi họp, tôi thấy một vài nhân viên lại khiển trách “sếp” chỉ vì một đôi điều không được hài lòng. Phải nói, đây là một quốc gia có tinh thần dân chủ cao độ. Tôi nhớ mãi chuyện vợ chồng ông chủ tịch quốc hội bị nhân viên quan thuế phi trường Oslo chặn lại và buộc nộp tiền phạt khi hai ông bà đi công cán ở nước ngoài về, và bà vợ mang trên tay một chiếc nhẫn hột xoàn quên khai báo. Một bà bộ trưởng quốc phòng, mặc bộ quân phục khi đến thăm binh sĩ Na-Uy đang tham gia chiến trường khói lửa A Phú Hãn, bị nhiều quân nhân phê phán, bảo bà không phải là quân nhân, nên không có quyền mặc quân phục. Bà đã phải lên truyền hình chính thức xin lỗi. Tôi nghĩ chẳng có quốc gia nào dân chủ hơn . Điều này làm tôi rất hãnh diện để được trở thành công dân của đất nước này. Và biết đến khi nào mới có được trên quê tôi?

Sau bậc trung học, bốn đứa con của chúng tôi muốn sang Mỹ du học. Khi được một đại học ở Mỹ chấp nhận, tất cả đều được chính phủ Na-Uy cấp học bổng đủ để trả học phí, tiền bảo hiểm và di chuyển, đến bậc Cao Học.Vợ tôi làm công nhân cho một công ty điện tử. Có lẽ vì nhiều năm chỉ làm một động tác, nên vai cánh tay phải bị đau nhức. Bác sĩ xí nghiệp cho nghỉ một năm có lương để điều trị và sau đó được một hội đồng giám định y khoa quyết định cho nghỉ vĩnh viễn với hưu bệnh. Lại được công ty bảo hiểm của xí nghịệp bồi thường một số tiền sai biệt so với lợi tức hằng tháng trước đó . Bây giờ, tuổi đã già, nhìn lại quá khứ thăng trầm khốn khó, nhớ lại từng bước chân lưu lạc, lòng tôi bùi ngùi xúc động. Quê hương vẫn còn mịt mờ xa, khốn đốn trong bàn tay cai trị của bọn người CS không còn nhân tính. Mai này, tôi cũng sẽ gởi lại trên quê hương thứ hai này nắm xương tàn, hướng đầu về cố quốc mà tạ tội cùng núi sông tiên tổ.

Những đứa cháu nội, ngoại của chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Na-Uy, dù không có một kỷ niệm nhỏ nhoi nào với Việt Nam. nhưng vẫn mãi có những ràng buộc máu thịt, bởi cha ông là người Việt. Dù nói được tiếng Việt, nhưng các cháu không thể thấy gần gũi với quê cha đất tổ. Nhiều lúc tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ rồi các thế hệ sau này càng lúc càng xa dần nguồn cội. Nhưng tôi cũng tự an ủi mình, vì các cháu lớn lên, nhận đất nước này là quê hương, sẽ cố gắng chăm chỉ học hành để vừa đóng góp phần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, vừa trả cái ơn cưu mang từ những ngày đầu thời ông bà cha mẹ lưu lạc đến đây. Quan trọng hơn, sẽ học tấm gương những người Do Thái, nối tiếp công việc dang dở của cha ông, góp sức đấu tranh cho no ấm tự do trên quê hương tiên tổ.

Xin cám ơn Na-Uy, đất nước xa xôi, lạnh lẽo, nhưng rất nồng ấm tình người. Nơi in đậm mãi những dấu chân lưu lạc của tôi và cả gia đình. Đã cho chúng tôi, nhất là các con cháu tôi, một tương lai tốt đẹp như hôm nay, mà nếu còn ở lại trong nước sẽ phải khốn cùng dưới chế độ phân biệt đối xử của chinh quyền Cộng Sản. Xin cám ơn Na-Uy, nơi mà tất cả những người Việt tỵ nạn đến đây sung sướng và hãnh diện để được nhận là quê hương thứ hai của mình sau ngày phải đành lòng bỏ nước ra đi.

Một ngày buồn cuối tháng 4, sau đúng 38 năm lưu lạc

Phạm Tín An Ninh

From: haiphuoc47 & NguyenNThu

Vài suy nghĩ nhân lễ tốt nghiệp trung học “high school” của cháu nội.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trường Alief Kerr High School-Class năm 2024 làm lễ tốt nghiệp ngày 23 tháng 05 năm 2024 vừa qua tôi thấy: mười cháu đứng đầu (Top 10) của trường này, chín (9) cháu là người Việt Nam.

Tôi thật không ngờ các cháu người Việt Nam rất giỏi, đã làm hãnh diện cho cha mẹ, ông bà còn làm hãnh diện cho người Việt Nam.

Trường Alief Kerr high school, là trường trung học dành cho các em học sinh học khá của các trường khác qui tụ về đây. Học sinh “Top Ten” của trường giỏi là những cháu thật sự học giỏi. Ở nuớc Mỹ này không có trường hợp chạy chọt, lo lót để vào trường giỏi, lo lót để có tên trong “Top Ten” này.

Vì sao vậy? Vì các cháu còn phải học 4 năm nữa ở Đại Học và các cháu chọn ngành học ưa thích để còn ra đời làm việc, kiếm sống. Trường Đại học rất nhiều, ngành nghề học cũng không thiếu, các em có thể chọn học ngành nào, trường nào mà các em thích và cũng tùy theo khả năng tài chánh của gia đình các em.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, tất cả công chức, quân nhân chế độ cũ có trình độ đều bị đi tù dài hạn – người ở tù lâu nhất là 17 năm – Những người giỏi, ưu tú của miền Nam đa số đều tìm cách vượt biên ra nước ngoài, nhất là đến Mỹ để sinh sống.

Những người ưu tú bị bạc đãi không được trọng dụng, bị nghi ngờ, nên họ tìm cách ra nước ngoài để được tự do làm việc, sinh sống.

Con cháu của họ cũng được hưởng hoàn cảnh tự do đó, được học miễn phí ở các trường tiểu học và trung học, được xe đưa rước miễn phí từ nhà đến trường.

Tinh thần ham học hỏi, “gen” ưu tú, di truyền của ông bà, cha mẹ đã thúc đẩy các cháu chịu khó học tập. Hơn nữa chế độ lương bỗng đãi ngộ xứng đáng cho các em trong tương lai đã thúc đẩy các em chịu khó hoc tập.

Tôi bị tù gần 8 năm ở các miền rừng núi, chỉ nghe tiếng chim “trói cô bắt cột” trong các thung lũng âm u ở miền Bắc Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh.  Bị bỏ đói triền miên.

Được thả về đầu năm 1983 không còn đói nữa nhưng tôi đã bị mất tự do. Lúc nào cũng sợ bị bắt lại bất cứ vì lý do gì? Đang làm ăn buôn bán cũng sống được, nhưng tôi phải ra đi với hai bàn tay trắng, để bắt đầu lại cuộc đời mới mà lúc đó tôi cũng không hình dung được, cuộc đời mình sẽ ra sao?

Cũng như Abraham ngày xưa, Chúa bảo bỏ tất cả mà ra đi, tôi cũng bỏ tất cả mà ra đi.

Cuối cùng rồi tôi và gia đình được sống tự do, không sợ bị bắt bớ lại, được hưởng sự bình an trong ba mươi năm qua ở vùng đất mới.

Tạ ơn Chúa, cám ơn bà con, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn ban đầu khi đến Mỹ.

Phùng Văn Phụng