Australia: Cần gây sức ép để Việt Nam chấm dứt vi phạm nhân quyền

Ba’o Tieng Dan

Human Rights Watch

29-7-2024

Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính (bên trái) bắt tay với Thủ tướng Australia Anthony Albanese tại Hội nghị Cấp cao Đặc biệt ASEAN – Australia ở Melbourne, Australia, ngày 5-3-2024. Nguồn: © 2024 Hamish Blair/AP Photo

Vận dụng Đối thoại Nhân quyền để xác lập các mốc đánh giá cải cách

(Sydney) – Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu trong một tờ trình gần đây gửi chính phủ Australia rằng Australia cần gây sức ép với chính quyền Việt Nam bằng cách xác lập các mốc rõ ràng, cụ thể và dễ đánh giá về tiến bộ trong các cuộc gặp sắp tới.  Cuộc Đối thoại Nhân quyền Australia – Việt Nam lần thứ 19 sẽ diễn ra vào ngày 30 tháng Bảy năm 2024 ở Canberra.

Tình hình nhân quyền tồi tệ của Việt Nam tiếp tục xấu đi khi nhà cầm quyền các cấp ở Việt Nam gia tăng sách nhiễu, bắt giữ và truy tố các nhà hoạt động ôn hòa. Hiện có hơn 160 người đang bị giam giữ ở Việt Nam vì lên tiếng phê phán chính quyền, kể cả những người chỉ lên tiếng trên mạng xã hội. Các nhà hoạt động môi trường càng ngày càng dễ trở thành đối tượng bị chính quyền đặt vào vòng ngắm. Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát toàn bộ truyền thông trong nước và Việt Nam hiện đứng thứ ba thế giới về số lượng nhà báo bị cầm tù.

“Trong hai thập niên qua, Australia đã tổ chức 18 cuộc đối thoại nhân quyền hầu như vô hiệu với Việt Nam và cần có cách tiếp cận mới,” bà Daniela Gavshon, Giám đốc quốc gia Australia của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Thay vì tiếp cận theo kiểu thụ động về nhân quyền, chính phủ Australia nên gây sức ép để có những cải tổ mang tính hệ thống, dựa trên các mốc đánh giá rõ ràng.”

Trong tờ trình của mình, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền khuyến nghị chính phủ Australia tập trung vào năm lĩnh vực ưu tiên về tình hình nhân quyền ở Việt Nam: phóng thích các tù nhân chính trị và những người bị giam giữ tùy tiện; chấm dứt đàn áp các nhà hoạt động môi trường; tôn trọng quyền của người lao động; 4) bảo đảm trình tự tố tụng công bằng đối với các nghi can và bị cáo hình sự; và chấm dứt đè nén quyền tự do thực hành tôn giáo và tín ngưỡng.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng Chính phủ Australia cần nêu đích danh vụ việc của các nhà hoạt động nhân quyền, gồm có Đặng Đăng Phước, Bùi Tuấn Lâm, Trần Văn Bang, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Chí Tuyến, cùng nhiều vụ khác. Ngày mồng 1 tháng Sáu, công an Việt Nam bắt giữ nhà báo nổi tiếng Huy Đức và luật sư Trần Đình Triển vì đăng những bài viết ủng hộ dân chủ trên Facebook. Cả hai người đều bị cáo buộc tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” theo điều 331 nhiều tai tiếng của bộ luật hình sự Việt Nam.

Tháng Ba năm nay, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã đến thăm Canberra để nâng cấp quan hệ hai nước thành Đối tác Chiến lược Toàn diện. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng chính phủ Australia không nên để mối quan hệ được nâng cấp này trở thành một trở ngại cho việc đề cập đến tình trạng nhân quyền của người dân Việt Nam.

“Chính phủ Australia không cho biết nhiều về các vấn đề nhân quyền đã nêu với phía Việt Nam trong các cuộc đối thoại trước, nhưng rõ ràng những cuộc đối thoại đó không có tác động gì mấy,” bà Gavshon nói. “Chính phủ Australia cần cân nhắc một cách tiếp cận mới và có hiệu quả hơn, đồng thời đặt nhân quyền vào vị trí trung tâm trong tất cả các cuộc thương lượng với chính phủ Việt Nam thay vì chỉ giới hạn trong một cuộc đối thoại song phương thường niên tách biệt và không mấy quan trọng.” 


 

Tha’nh Mácta (Martha)-Cha Vương

Ngày Thứ 2 zui zẻ phục vụ với một bầu nhiệt huyết nhé. Mừng quan thầy Mácta (Martha) đến những ai chọn ngài làm quan thầy.

Cha Vương

Thứ 2: 29/7/2024

“Ðức Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc đáo này trong Phúc  âm của Thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Ðức Giêsu và Mácta, người em Maria, và người anh Lagiarô của ngài.

Hiển nhiên, Ðức Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Ðức Giêsu được nhắc đến trong Phúc  am Luca 10:38-42, Gioan 11:1-53, và Gioan 12:1-9.

Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của Thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Ðức Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình. Thử tưởng tượng xem ngài bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Ðức Giêsu. Thay vì nói với cô em, Mácta xin Ðức Giêsu can thiệp. Câu trả lời ôn tồn của Ðức Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Ðức Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Ðức Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta – thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Ðức Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Ðức Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.

Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Ðức Giêsu đang có mặt ở trong vùng. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Ðức Giêsu.

Cuộc đối thoại của Mácta với Ðức Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Ðức Giêsu, tin vào sự phục sinh, và nhất là tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Và sau đó Ðức Giêsu đã cho Lagiarô sống lại từ cõi chết.

Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Phúc  m đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Ðức Giêsu trở lại Bêtania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Lagiarô là người mà ai cũng biết khi được sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Ðức Giêsu. Về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Ngài không nổi bật, ngài không thi hành những việc có tính cách phô trương, ngài không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Ngài chỉ hầu hạ Ðức Giêsu.

Có truyền thuyết nói rằng ba chị em làng Bêtania đã bị người Do thái bắt thả trôi trên một con thuyền không buồm, không chèo, không lái. Nhưng họ đã trôi dạt và cặp bến Marseille nước Pháp. Ladarô đã trở thành Giám mục tiên khởi Chúa thành này. Riêng Martha, Ngài đã rao giảng Tin Mừng ở Aix Avignon và Tarascon.

Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người hầu hạ và đầu bếp. (Nguồn: Người Tín Hữu online)

From: Do Dzung

************

Phục Vụ Trong Yêu Thương – Đệ Tử Mân Côi

Tôi khóc cho những người thấp cổ bé họng- Hiệp Trần/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2024

Hiệp Trần/SGN

Đã làm chính trị là anh phải chấp nhận sự khen chê của người đời, nếu anh không chịu được sự khen chê thì đừng làm chính trị.

Vì anh làm chính trị tức là anh sống bằng tiền thuế của người dân, bằng mồ hồi, xương máu của nhân dân. Mỗi quyết định của anh ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người dân trên đất nước cả trong hiện tại và tương lai.

Vậy nên việc đánh giá, nhận xét, khen chê, phê bình, chỉ trích, thậm chí là chửi bới của người dân đối với lãnh đạo là hết sức bình thường! Và người dân có quyền được khen chê, cũng không có kẻ nào có quyền cấm người khác khen chê một người làm lãnh đạo cả.

Người lãnh đạo mà dùng quyền lực của mình để bắt nhốt, trả thù những ai lên tiếng chỉ trích phê bình mình là người lãnh đạo rất tồi tệ, nói thẳng ra là bất nhân, bất nghĩa, bất trung. Làm lãnh đạo là sống bằng tiền của dân, tiền đó nuôi sống bản thân mình, nuôi cha, nuôi mẹ, nuôi vợ, nuôi con cái ăn học… Vậy mà khi có người dân phản đối, phê bình, chỉ trích mình lại đem trả thù, bắt nhốt người ta thì không phải là loại bất nhân, bất nghĩa thì là cái gì?

Làm chính trị là đem tài năng, đức độ của mình phục vụ người dân, đem lại sự ấm no, hạnh phúc cho người dân, đó là một niềm vinh dự lớn của những người làm lên tới quyền cao chức trọng. Nếu anh là người lãnh đạo tốt, có tâm thì chắc chắn người dân sẽ yêu quí, khi chết còn để lại được tiếng thơm muôn đời, con cháu dòng họ sau này nở mày nở mặt, phúc lộc đầy nhà. Nhưng nếu anh là người lãnh đạo tồi tệ thì khi chết người dân sẽ hả hê, ăn mừng và phỉ nhổ muôn đời.

Tôi rất thích lời thề nguyện của ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát “Địa ngục còn người ta chưa thành Phật.” Lời thề nguyện đó muốn nói rằng ngài Địa Tạng không để bất cứ ai còn sót lại ở Địa Ngục. Người làm lãnh đạo đất nước cũng phải có được tinh thần đó, không được để bất cứ người dân nào bị oan ức, bất công, đó mới thực sự là một người lãnh đạo VÌ DÂN!

Anh làm lãnh đạo, anh làm vài việc tốt, chúng tôi ghi nhận, nhưng đầy những việc xấu, đầy rẫy những tiếng kêu than khóc, oan ức, đau khổ của người dân… nếu nhắm mắt làm ngơ cho qua không biết gì thì anh cũng là những kẻ ác mà thôi. Cũng là cá mè một lứa mà thôi! Người ác không phải là người đích thân ra tay làm ác, mà những người ủng hộ cho cái ác, vỗ tay reo hò khi thấy người khác làm ác, thấy người khác làm ác mà KHÔNG RA TAY NGĂN CẢN… Thì cũng đều là kẻ ác cả mà thôi. Cổ nhân cũng có câu, “cả đời làm thiện, thiện chưa đủ, một ngày làm ác, ác đã đủ đầy.”

(Hình minh họa: Kayla Ng)

Người Việt cũng có câu “Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.” Hãy sống làm sao cho tốt, không để lại được tiếng thơm thì xin cũng đừng để lại tiếng thối. Và cũng đừng trách sao cuộc đời này quá tàn nhẫn, khắt khe với mình. Hãy tự soi rọi mình đã làm gì để người ta phải chửi rủa, phỉ nhổ… bởi cuộc sống rất công bằng và sòng phẳng!

Xin nhắc lại một lần nữa, là làm chính trị là anh phải chấp nhận sự khen chê của người đời, nếu anh không chịu được sự khen chê thì đừng làm chính trị. Và người dân có quyền được khen chê, cũng không có kẻ nào có quyền cấm người khác khen chê một người làm lãnh đạo cả.

Hôm nay người dân khóc thương cho sự ra đi của ông nhưng tôi lại khóc thương cho những tiếng kêu gào của những người dân thấp cổ bé họng, đã, đang phải chịu những bất công. Họ phải từng quỳ xuống kêu gào, gọi tên ông để được sự giúp đỡ.


 

NGHỊCH CẢNH NƯỚC TA-Thái Bá Tân

Thái Bá Tân

*

Lương viên chức nhà nước

Chỉ ba bốn triệu đồng.

Nhưng người ta mua nó

Với giá trăm triệu đồng.

*

Muốn thông tin chính xác,

Phải đọc báo nước ngoài.

Biểu tình chống Trung Quốc

Cũng phải ra nước ngoài.

*

Lãnh đạo của đất nước

Là giai cấp công nông.

Nhưng tất cả lãnh đạo

Chẳng ai là công nông.

*

Ông chủ đi xe máy.

Đầy tớ đi ô tô.

Đầy tớ chăn hoa hậu.

Ông chủ chăn trâu bò.

*

Sinh viên học bài bản,

Ra trường phải ngồi không,

Để Con Cháu Các Cụ

Được vào biên chế công.

*

Càng hô chống tham nhũng,

Tham nhũng càng gia tăng.

Càng hô giảm biên chế,

Biên chế càng gia tăng.

*

Công ty nhà nước lỗ,

Mà lương giám đốc cao.

Hơn thế, còn nghe nói

Càng lỗ, lương càng cao.

*

Tham nhũng và ăn cắp

Đã thành chuyện bình thường.

Nhưng thương dân, yêu nước

Lại là không bình thường.

*

Nước nào cũng chối bỏ

Cái thằng Formosa.

Thế mà nó, thật lạ,

Được rước vào nước ta.

*

Người dân bị bóc lột,

Đánh đập và moi tiền.

Thế mà luôn nhẫn nhục.

Đúng, dân ta thật hiền.

*

Đất nước thì nghèo đói.

Ngân sách thiếu dài dài.

Thế mà quan lớn nhỏ,

Nhà to như lâu đài.

*

Trường học, bệnh viện thiếu,

Không lo xây cho dân,

Lại xây tượng nghìn tỉ

Là cái không ai cần.

*

Có tám nghìn lễ hội

Trong một năm, ối trời.

Dân ta là thế đấy,

Đã nghèo còn ham chơi.

Riêng cái hội bầu cử,

Tức Lễ Hội Non Sông

Một ngày mà tiêu tốn

Gần bốn nghìn tỉ đồng.

*

Có nhiều sự lạ lắm.

Càng kể càng thấy lo.

Mà muốn kể cho hết

Phải đến tết Công-gô.

Thái Bá Tân

TÂM HỒN THUẦN KHIẾT-Truyen rat ngan HAY

Nghệ Lâm Hồng

Một lần, nhà từ thiện Kenneth Belling đi ngang qua khu vịnh San Francisco, Hoa Kỳ vào những năm 1990 của thế kỷ 20, đột nhiên ông thấy mình đánh rơi chiếc ví khi nào không hay. Trợ lý của ông đã lo lắng nói: “Có lẽ chiếc ví đã bị rơi khi chúng ta đi bộ qua các khu nhà ổ chuột ở Berkeley vào buổi sáng, giờ chúng ta phải làm gì?” Belling miễn cưỡng nói: “Chỉ có thể chờ người nhặt được ví tiền gọi lại cho chúng ta mà thôi.”

Mấy giờ qua đi, người trợ lý thất vọng nói: “Thôi, chúng ta đừng chờ nữa, đừng hy vọng gì ở những người sống trong khu nhà ổ chuột.” Tuy nhiên, ông Belling lặng lẽ nói: “Không, tôi vẫn muốn chờ đợi xem thế nào.”

Người trợ lý nghe thấy vậy thì rất ngạc nhiên: “Trong ví có danh thiếp của ngài, nếu muốn trả lại thì họ đã gọi rồi, chỉ mất vài phút thôi. Tuy nhiên, chúng ta đã chờ đợi cả một buổi chiều mà vẫn không thấy tin tức gì. Dường như người nhặt được không có ý định trả lại.”

Tuy nhiên, Belling vẫn khăng khăng chờ đợi. Trời bắt đầu tối và điện thoại vang lên. Cuộc điện thoại này là của người nhặt được chiếc ví. Người đó nói là đợi ông trên đường Kata.

Thấy vậy, người trợ lý hét lên: “Hãy cẩn thận! Đây có phải là cái bẫy không? Liệu có phải họ muốn gõ cửa tống tiền?”

Belling vẫn bỏ qua lời cảnh báo và lái xe đi. Ông tới nơi thỏa thuận thì một cậu bé mặc chiếc áo rách, trên tay cậu cầm chiếc ví tiến lại gần. Người trợ lý vội cầm lấy chiếc ví và kiểm tra, anh thấy bên trong vẫn còn nguyên số tiền. Chờ đợi một lát, cậu bé ấp úng nói: “Cháu có một lời cầu xin, các ngài có thể cho cháu một ít tiền không?”

Lúc này, người trợ lý cười lớn: “Biết ngay mà …” Belling vội ngắt lời trợ lý rồi mỉm cười hỏi cậu bé muốn bao nhiêu.

“Chỉ cần cho cháu xin 1 đô la thôi.” Cậu bé ngượng ngùng nói: “Cháu đã tìm kiếm rất lâu để đến được bốt điện thoại công cộng nhưng không có tiền, cháu phải vay 1 đô la để thực hiện cuộc gọi.”

Nhìn vào đôi mắt trong sáng ngây thơ của cậu bé, người trợ lý đã phải cúi đầu vì cảm thấy xấu hổ. Còn Belling đã vội ngồi xuống ôm cậu bé vào lòng.

Hành động này của cậu bé đã khiến Belling thay đổi kế hoạch từ thiện. Ông quyết định xây mấy trường học ở Berkeley để các bé nghèo không có tiền đi học được đến trường.

Trong ngày khai giảng, Belling nói: “Chúng ta không nên tự phán xét về người khác. Chúng ta cần tạo ra không gian và cơ hội để đón tiếp học sinh có tâm hồn thuần khiết và tốt bụng. Điều này rất đáng để chúng ta đầu tư.”

(st)


 

Nghị Lực Của Bà Mẹ Có 1400 Đứa Con

Cuộc sống của Sindhutai đã sớm đong đầy nước mắt. (Ảnh chụp màn hình phim Mee Sindhutai Sapkal)

Sindhutai Sapkal bắt đầu cuộc đời  là một đứa trẻ ngoài ý muốn, 10 tuổi phải cưới chồng và 20 tuổi bị đuổi  khỏi nhà khi đang mang thai đến tháng thứ 9. Những nghịch cảnh ấy không  khiến người phụ nữ này gục ngã hay oán trách cuộc đời. Ngược lại, những  điều đã qua khiến bà Sindhutai thấu hiểu nỗi đau mà những đứa trẻ không  cha mẹ đang trải qua. Để rồi, bà dành cả cuộc đời mình cho những sinh  mệnh bé nhỏ, thiếu may mắn ấy.

Một tuổi thơ buồn và cuộc hôn nhân khi mới 10 tuổi Bà Sindhutai  sinh ra trong một gia đình làm nghề chăn thả tại làng Wardha, thuộc quận Maharashtra, Ấn Độ. Là một đứa trẻ ngoài mong đợi, bà không được  nhận nhiều sự yêu thương, chăm chút như những đứa trẻ khác. Trong khi  cha bà quyết định dạy dỗ con gái nên người, mẹ bà  một phụ nữ Ấn Độ  truyền thống nhiều định kiến đã phản đối kịch liệt chuyện này. Mẹ của  Sindhutai cho rằng vị trí của một người phụ nữ đích thực là vợ trong một  gia đình. Đó là lý do, Sindhutai bị gả cho một người đàn ông 30 tuổi  khi bà mới là một cô bé con 10 tuổi.

Cuộc sống của Sindhutai đã sớm đong đầy nước mắt. (Ảnh chụp màn hình phim Mee Sindhutai Sapkal)

Đến  khi bước sang tuổi 20, bà đã hạ sinh 3 cậu con trai và đang có mang ở  tháng thứ 9. Đây cũng là dấu mốc những khổ đau thực sự đến và làm thay  đổi toàn bộ cuộc đời của cô gái trẻ. Xuất  phát từ việc ganh đua trong công việc buôn bán, một người trong làng đã  lan truyền tin đồn ác ý về Sindhutai và xúi giục người chồng ruồng bỏ  bà. Không may, cha của các con bà đã làm theo sự chỉ dẫn của người  ngoài. Khi trở về nhà, ông đánh túi bụi người vợ đang sắp đến kỳ sinh  nở, thậm chí đạp cả vào bụng cô rồi nhốt cô vào chuồng bò. Sindhutai  tiếp tục nếm trải sự cay đắng và tủi nhục khi không có một ai bên mình,  trong lúc khó khăn và có thể là nguy hiểm nhất này.

Cô chỉ có một mình cùng sự tủi nhục và đau đớn trong ngày sinh nở. (Ảnh chụp màn hình phim Mee Sindhutai Sapkal)

Sinh con trong chuồng bò, ăn bánh nướng trong lò hỏa thiêu và cuộc hành trình mới bắt đầu Ở  nơi tối tăm và hôi bẩn ấy, Sindhutai đã một mình sinh hạ một bé gái. Cô  đã tự cắt dây rốn cho con bằng một viên đá nhọn nhặt được trên sàn.  Không một ai trong gia đình chồng đoái hoài đến sự sống chết của  Sindhutai và đứa trẻ. Sindhutai quyết định trở về quê mẹ, nơi cô nghĩ  rằng ít nhất cô sẽ tìm được một nơi trú ngụ.

Mẹ ruột cũng không đón nhận cô gái trẻ. (Ảnh chụp màn hình phim Mee Sindhutai Sapkal)

Nhưng  cả làng đều quay lưng lại với người phụ nữ ấy. Cả mẹ cô cũng đóng sầm  cánh cửa nhà trước mắt cô gái trẻ đang một mình ôm đứa con đỏ hỏn.

Cô theo một cách nào đó cũng trở thành “trẻ mồ côi”. (Ảnh chụp màn hình phim Mee Sindhutai Sapkal)

Không  gia đình, không có một ai để nương tựa, không một nơi để trở về,  Sindhutai chỉ còn biết bế con trú vào một lò hỏa thiêu. Ở đó, cô đã nhìn  thấy cảnh người ta thiêu đi một cơ thể không còn sự sống. Sau buổi lễ,  người nhà của người đã khuất để lại một ít bột mì theo nghi lễ. Vì cái  đói đang hành hạ, cô đã lấy phần bột ấy nhào thành bánh và nướng trên  ngọn lửa vẫn đang tiếp tục nhiệm vụ hỏa thiêu của mình.

Khoảnh khắc bế tắc. (Ảnh chụp màn hình phim Mee Sindhutai Sapkal)

Có  những lúc, cái đói, cái vất vả và cay đắng của cuộc đời đã khiến  Sindhutai muốn buông xuôi. Một lần, cô đã buộc chặt đứa con nhỏ vào mình  để chuẩn bị kết thúc sự sống. Bất ngờ, một người ăn xin tới bên hai mẹ  con. Ông ấy dường như đang rất ốm và rất cần sự giúp đỡ. Giây phút ấy,  người phụ nữ trẻ tìm lại được mục đích sống của mình. Cô cần phải tiếp  tục, bởi trên cuộc đời còn rất nhiều người cần bàn tay chăm sóc của cô. Dành cả cuộc đời để trở thành Mẹ của 1400 đứa trẻ không nhà Trời  phú cho Sindhutai một giọng ca đẹp đẽ và ở tuổi 20, cô đã bắt đầu cất  lên giọng ca da diết ấy để xin ăn nơi các nhà ga, bến tàu, những ngôi chùa. Cô di chuyển từ nơi này qua nơi khác bằng tàu hỏa. Rất nhiều những  con đường đã in dấu bàn chân và tiếng hát của người phụ nữ trẻ nghị  lực. Cô hát và xin ăn không ngừng nghỉ để nuôi và chăm sóc đứa con bé  bỏng của mình. Trên những chuyến hành trình, Sindhutai đã xin gia nhập nhiều đoàn ăn xin, nhưng không chỉ xin  cho bản thân, cô dùng những gì kiếm được để chăm sóc cho những người  trong đoàn. Trái tim của Sindhutai khi ấy đã thấu hiểu được nỗi khổ đau  của những người cùng cảnh ngộ. Và nguồn nghị lực mạnh mẽ nội tại đã giúp  cô biến sự thương cảm thành lòng tận tụy và sự chăm sóc, yêu thương.Cô  đã tìm lại được mục đích sống của mình.

– Chăm sóc những số phận thiếu  may mắn khác. (Ảnh chụp màn hình phim Mee Sindhutai Sapkal)

Nhưng  người phụ nữ ấy dành sự thương cảm nhiều nhất cho những đứa trẻ mồ côi.  Những đứa bé sinh ra đã không được ai yêu  thương, che chở, mới vài tuổi  mà đã tự phải lăn lộn trong cuộc đời. Đã từng là một đứa trẻ không được  yêu thương, cô hiểu hơn ai hết những trẻ mồ côi này cần vòng tay chăm  sóc tới nhường nào. Từ đó, trên những chuyến hành trình xin ăn, cô bắt  đầu nhận những đứa trẻ không nhà làm con và tự nguyện chăm sóc chúng.“Khi  đi xin ăn trên những con phố và chiến đấu mỗi ngày để có thể sống sót,  tôi nhận thấy rằng có quá nhiều đứa trẻ mồ côi ngoài kia, chúng không có  một ai để nương tựa. Tôi quyết định sẽ chăm sóc và nuôi dạy chúng như  những đứa con của mình”.Với  quyết định chắc chắn ấy, Sindhutai đi xin ăn một cách nghiêm túc hơn   nhiều lần. Bà đã làm mọi điều có thể để nuôi nấng những đứa trẻ. Từ một  cô gái trẻ bị gia đình ruồng bỏ, người phụ nữ ấy quyết định dành cả cuộc  đời mình để trở thành mẹ, thành người mang đến tổ ấm cho hàng trăm  người khác.

Sindhutai đã trở người nuôi dưỡng những đứa trẻ tội nghiệp. (Nguồn ảnh: sindhutaisapakal.org) 

Trong suốt 40 năm sau đó, Sindhutai đã nỗ lực hết mình để nuôi nấng và dạy dỗ 1400 đứa trẻ vô gia cư, không chốn nương thân. “Nhờ ơn của các Thánh Thần, tôi có được một khả năng giao tiếp tuyệt vời.  Tôi có thể đi nói chuyện với mọi người và ảnh hưởng tới họ. Cái đói đã  dạy tôi biết nói năng. Tôi đã đi diễn thuyết ở rất nhiều nơi, nhờ đó tôi  có một chút tiền để nuôi dạy những đứa trẻ của mình”.Tới  nay, bà Sindhutai đã có bốn trại trẻ mồ côi. Tất cả những đứa trẻ được  bà nhận nuôi đều nhận được sự quan tâm và chăm sóc mà chúng cần. Không  một đứa trẻ nào bị gửi đi một gia đình khác.

Bà chăm lo từng bữa ăn cho những đứa trẻ. (Nguồn ảnh: sindhutaisapakal.org)

Không  chỉ chăm lo chuyện cơm ăn, áo mặc, bà Sindhutai còn rất quan tâm đến  việc chỉ dạy cho lũ trẻ trong việc học hành và trong cả cách làm người.

Nhưng bà cũng luôn quan tâm đến việc học hành của những đứa trẻ. (Nguồn ảnh: sindhutaisapakal.org)

Đặc  biệt, không giống như ở các trại trẻ mồ côi thông thường, dưới mái nhà  của bà Sindhutai, những đứa trẻ đều ở lại với bà ngay cả khi các em đã  tròn 18. Bà chỉ để các con rời đi khi chúng đã tìm được một công việc,  xây dựng gia đình và có thể tự mình ổn định cuộc sống trong thành phố.

Một người mẹ thành công 

chân dung của Sindhutai Sapkal. (Nguồn ảnh: sindhutaisapakal.org)

“Tôi  đã lớn lên thiếu thốn tình cảm huyết thống ruột thịt và thật sự thấy  điều đó cũng chẳng hề quan trọng. Đối với tôi, tình người mới là tất cả.  Tôi nhận ra ngôi nhà là anh chị em và tất cả những mối quan hệ của  những người xa lạ nhưng luôn dành tình cảm cho nhau”, bà Sindhutai tâm  sự. Tình người  mà bà trao đi đã giúp cho những đứa trẻ bị tưởng chừng như không có  tương lai ấy trở thành những lạp tử quan trọng trong xã hội. Nhiều người  trong số họ trở thành luật sư, bác sĩ và giảng viên đại học. Sindhutai  đã không chỉ trao cho những đứa trẻ thiếu may mắn một mái nhà, những bữa  ăn ngon, sự quan tâm. Mà hơn hết thảy, bà trao cho chúng cơ hội để làm  những con người tốt và có ích. Đó chính là điều lớn lao nhất mà những  bậc cha mẹ có thể làm cho con cái.

Giờ bà đã có 207 con rể, 36 con dâu và gần 1000 đứa cháu.

Bà còn dựng vợ gả chồng cho những đứa trẻ. (Nguồn ảnh: sindhutaisapakal.org)

Ngoài  tên gọi đầy trìu mến và tôn kính mà những đứa trẻ được bà nhận nuôi  dành tặng “Mẹ của những trẻ mồ côi”, bà Sindhutai đã dành được 750 giải  thưởng cho cống hiến của mình. Đúng như quyết định năm xưa, bà sử dụng  toàn bộ số tiền thưởng được nhận vào việc xây dựng và hoàn thiện những  trại mồ côi, để những đứa trẻ có thêm điều kiện sống đầy đủ và phong phú  hơn. Hiện nay, con gái và các con trai cũng chung tay giúp đỡ bà quản  lý các trại trẻ này.

Người phụ nữ mang đến mái nhà cho biết bao người. (Nguồn ảnh: sindhutaisapakal.org)

Chưa  bao giờ người phụ nữ nghị lực Sindhutai Sapkal để tâm trạng hay cuộc  sống riêng làm bà thất vọng hay xuống tinh thần. Hơn 40 năm, bà vẫn kiên  định đi trọn vẹn con đường để thực hiện sứ mệnh mà cuộc đời đã đặt vào  trái tim mình.

Nguồn ảnh: sindhutaisapakal.org

 Hy Văn

https://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2018/05/nghi-luc-cua-ba-me-co-1400-ua-con.html?m=0

3 “Liều Thuốc” Hạnh Phúc lúc Cuối Đời của Vị Tỷ Phú

 
Đời người tựa giấc chiêm bao, giàu sang phú quý, khi chết đi cũng chẳng mang theo được thứ gì. Nếu bạn vẫn đang đọc được những dòng chữ này, hãy thử nghĩ xem, điều gì mới thực sự nên trân trọng?

Có một tỷ phú sống trong căn biệt thư xa hoa. Nhưng một ngày kia mắc bệnh hiểm nghèo, ông chợt nhận ra rằng tất cả những danh vọng, tiền tài và vật chất, thực ra đều hư ảo như mây khói.

Vì lo sợ sẽ không sống được bao lâu nữa, ông bèn tìm đến một vị danh y để xin lời khuyên.

Sau khi bắt mạch, danh y nói với ông rằng: “Bệnh của ông ngoài cách này ra thì không thuốc nào có thể chữa khỏi. Tôi sẽ kê cho ông ba đơn thuốc, ông cứ theo đó mà làm, hết đơn thứ nhất thì chuyển sang đơn tiếp theo”.

Vị tỷ phú về nhà, trong lòng phấp phỏng hy vọng. Ông lấy đơn thuốc đầu tiên ra và đọc: “Hãy đến một bãi biển và nằm đó khoảng 30 phút, làm liên tục như vậy 21 ngày”.

Mặc dù thấy khó hiểu, nhưng ông vẫn quyết định ra bờ biển. Ông lang thang một vòng rồi ngả lưng nằm trên bãi cát. Bất chợt một cảm giác nhẹ nhàng và khoan khoái vô cùng bao trọn thân thể ông.

Vì trước đây công việc bận rộn nên ông không có cơ hội nghỉ ngơi. Nay ông có thể tĩnh tâm lại để lắng nghe tiếng gió thổi vi vu, tiếng sóng biển rì rào hòa lẫn với tiếng kêu thánh thót của đàn hải âu gọi bầy… Trái tim ông bỗng thổn thức, chưa bao giờ ông có được cảm giác thoải mái như bây giờ.

Ngày thứ 22, ông mở đơn thuốc thứ hai, trong đó viết: “Hãy tìm 5 con cá hoặc tôm rồi thả chúng xuống biển, liên tục như vậy trong 21 ngày”.

Trong lòng ông đầy rẫy những băn khoăn, nhưng vẫn cặm cụi đi mua tôm cá rồi thả chúng ra biển. Ngắm nhìn từng con vật bé nhỏ được trở về với biển khơi, trong lòng ông không nén nổi nỗi xúc động.

Ngày thứ 43, ông đọc đơn thuốc thứ ba: “Tìm một cành cây và viết những điều khiến ông cảm thấy không hài lòng lên bãi cát”.

Nhưng khi ông vừa viết xong, thủy triều lại cuốn tất cả xuống biển. Ông lại viết, sóng lại cuốn đi, lại viết, lại cuốn đi, rồi lại viết, và lại cuốn đi… ông bật khóc nức nở vì chợt hiểu ra tất cả.

Khi về nhà ông cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng, tinh thần chưa bao giờ thoải mái và tự tại đến thế, thậm chí ông cũng không còn sợ cái chết nữa.
Thì ra con người ta chỉ cần học được 3 điều trên thì sẽ vui vẻ hạnh phúc:

Thứ nhất: Nghỉ ngơi
Thứ hai: Cho đi
Thứ ba: Buông xuống

Tham lam là một liều thuốc độc, và dục vọng là con dao hai lưỡi; có một cuộc sống ổn định rồi vẫn muốn theo đuổi sự thoải mái; có cuộc sống thoải mái rồi lại muốn hưởng thụ những vật chất xa hoa…

Nếu dục vọng không có điểm dừng thì con người vĩnh viễn không bao giờ cảm thấy đủ, không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, và cũng không bao giờ tìm kiếm được niềm vui. Hãy trân trọng những gì bạn đang có, bạn sẽ thấy rằng bản thân mình là người giàu có nhất trên cõi đời này.

From: Anh Dang & KimBang Nguyen


 

“VÂNG, CON TIN!” – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Con có tin điều đó không?”; “Thưa Thầy, vâng, con tin!”.

“Niềm tin, về nhiều mặt, như chiếc xe cút kít. Cách đơn sơ, bạn phải thực sự đẩy nó để nó có thể hoạt động. Nếu không sống nó; bạn không tin nó!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

“Nếu không sống nó; bạn không tin nó!”. Lời Chúa lễ các thánh Matta, Maria và Lazarô đặt ra một câu hỏi căn bản: “Con có tin điều đó không?”, Chúa Giêsu hỏi và Matta nhanh nhẩu đáp, “Vâng, con tin!”. Hôm nay, Ngài hỏi bạn và tôi, “Con có tin tất cả những điều đó không?”; và thách thức của chúng ta trong thời hậu hiện đại này, là mau mắn thưa, “Vâng, con tin!”.

Nhưng tất cả những điều đó là điều gì? Trước hết, bạn có tin loài người phải gánh chịu hậu quả thảm khốc cách bí ẩn khi nguyên tổ bất tuân lệnh Chúa? Bạn có tin các tín điều trong Kinh Tin Kính? Và quan trọng nhất, bạn có tin Đức Kitô, Con Thiên Chúa, đã chết sống lại, chiến thắng tội lỗi, sự chết và đang sống để lôi kéo mọi người về với Ngài như Đấng Cứu Độ? Phải, thách thức lớn nhất của bạn và tôi là thưa lên, “Vâng, con tin!”.

Một trong những khó khăn lớn của chúng ta là giữ cho đức tin mình thật ‘đơn sơ’ như đức tin rất mực ‘chơn chất’ của Matta! Khuynh hướng của chúng ta là thích hướng tới sự ‘tinh vi và phức tạp’. Và dẫu suy nghĩ và lập luận tốt là một quà tặng, nhưng cần lưu ý, khuynh hướng chủ nghĩa duy lý bẩm sinh có thể không phải là khởi đầu tốt cho một đức tin chân chính. Một đức tin đơn sơ rất đẹp lòng Chúa, bởi Ngài có nhiều thời giờ hơn để làm một điều gì đó ‘trong chúng ta và qua chúng ta’; nghĩa là Ngài không cần mất thời giờ để thuyết phục chúng ta tin như đã không mất thời giờ với Matta.

Đức tin đơn sơ này – bài đọc một – được Gioan tóm tắt, “Hễ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa”. Thế thôi! Đó là những ai mạnh dạn thưa “Vâng, con tin!” với Ngài và đơn sơ sống giới răn yêu thương của Ngài! “Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy”. Thánh Vịnh đáp ca cũng phảng phất nét giản dị đó, “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!”.

Anh Chị em,

“Thưa Thầy, vâng, con tin!”. Đức tin đơn sơ của Matta có thể thúc bách chúng ta tiến về phía trước và hướng ra các chân trời; đồng thời, khơi dậy và biến chúng ta thành những chứng tá của Vương Quốc trước nhu cầu cấp bách cứu các linh hồn. “Niềm tin đó như chiếc xe cút kít, và bạn phải thực sự đẩy nó để nó có thể hoạt động!”. Như vậy, đức tin của những ai sẵn sàng thưa “Vâng, con tin!” và quyền năng của Thiên Chúa đã ‘tìm kiếm’ nhau; và cuối cùng, ‘gặp nhau!’. Chính đức tin đơn sơ của Matta đã đưa Lazarô em cô ra khỏi mồ; và qua sự kiện kỳ vĩ này, hẳn Matta đã lôi kéo không ít người tin vào Chúa Giêsu, Đấng sẽ ban cho họ không chỉ sự sống ngắn hạn như đã ban cho Lazarô, nhưng còn ban cho họ sự sống dài hạn, đời đời, sự sống miên viễn thiên đàng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin loại khỏi đức tin con bao phức tạp, cho nó thật dung dị, hầu có thể đem ra khỏi huyệt những ai đang cố nán lại trong ‘nấm mồ’ riêng của họ!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

****************

Ngày 29 tháng 7

Các thánh Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô

lễ nhớ bắt buộc

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

19 Khi ấy, nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô là La-da-rô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”


 

Người bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.”- Cha Vương

Reng reng! Thức dậy đi Lễ chứ! Chúc bạn weekend đầy nhiệt huyết trong tinh thần phục vụ Chúa và tha nhân. Cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

CN: 28/7/2024

TIN MỪNG: Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. (Ga 6:12-13)

SUY NIỆM: Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu không chỉ nuôi dưỡng, ban sức mạnh cho bạn, mà Người còn ban cho bạn mỗi ngày càng nhiều ơn hơn nữa để sống cuộc sống thánh thiện và đẹp lòng Chúa. Giống như phép lạ trong Phúc Âm hôm nay, khi bạn đến với Chúa, bạn chẳng có gì là mất mát và thiệt thòi cả, bạn chỉ có thêm và càng nhiều thêm thôi. Một trong những “miếng thừa” của Thánh Lễ là ân sủng. Ân sủng thuộc về Thiên Chúa. Nó là sự sống của Thiên Chúa ở trong bạn. Nguồn gốc của ân sủng là Thiên Chúa – một cách đặc biệt nhất, đó là công trạng của Đức Giêsu Kitô trên thập giá – và ân sủng là tuyệt đối cần thiết để đạt được sự sống. Nó nuôi dưỡng bạn suốt cả tuần và mở lòng trí bạn ra để bạn chia sẽ tình yêu thương của Chúa với những người bạn gặp gỡ. Một “miếng thừa” khác nữa là lòng biết ơn. Thánh Lễ là hy lễ tạ ơn. Chúa đã nuôi dưỡng bạn bằng Lời Chúa, và đặc biệt hơn là chính Mình và Máu Thánh của Ngài. Ngài biến bạn trở thành người biết ơn hơn. Chỉ có người biết ơn mới có lòng chia sẻ. Còn người phụ ơn thì lại vơ vét vào thêm. Là người biết ơn bạn được thúc đẩy để chăm sóc những nhu cầu về mặt tinh thần và vật chất của người khác. Mỗi khi bạn đến với Chúa trong Bí Tích Thánh Thể, là linh dược kỳ diệu, là nguồn dự trữ ân sủng, và là sự dồi dào của lòng tạ ơn, bạn được cung ứng đủ sức mạnh để đáp ứng những cơn đói sâu thẳm nhất của nhân loại và của chính bạn. Vì vậy, sau mỗi Thánh lễ bạn được sai đi bình an, tôn vinh Chúa bằng chính cuộc sống của bạn.

LẮNG NGHE: Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. (1 Cr 10:31)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, “này con đây, hãy sai con đi”, xin giúp con biết đáp lại lời mời gọi của Chúa bằng cả con tim để con trở thành khí cụ của ân sủng và bình an trong công việc xây dựng Nước Chúa trong môi trường sống hằng ngày của con.

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ một cách chu đáo và nghiêm trang hơn.

From: Do Dzung

************************

Nguồn Suối Yêu Thương (Sáng tác: Sr. Clara Chu Linh . OP) – Kiều Bích Hiền 

BÀ DƯ THỊ VIỆT NAM

Phạm Thanh Nghiên

Muốn biết thế nào là tận cùng nỗi đau khổ, oan ức, hãy nhìn vào bà ấy. Bà là Dư Thị Thành, vợ của ông Lê Đình Kình, một đảng viên cộng sản đã bị chính đồng chí của mình đang đêm lùa quân

xông vào tận giường ngủ bắn chết.

Các con, các cháu của hai ông bà hiện vẫn đang bị đày trong ngục với hai bản án tử hình, một án chung thân và nhiều năm tù cho những người nông dân Đồng Tâm khác.

Ông Kình, nghe nói vẫn chưa được làm giấy chứng tử dù đã chết mấy năm nay rồi. Người ta ép bà Thành phải “khai” rằng chồng bà chết ngoài Đồng Sênh, nhằm giũ bỏ sự thật hôm nay và không để lại một dấu vết tội ác nào có thể bị lưu lại trong sử sách ngày mai.

Tôi gọi bà ấy là Dư Thị Việt Nam.

#dongtam.


 

Kết thúc thời đại Nguyễn Phú Trọng: Tương lai chế độ thế nào?

RFA

Bình luận của Huỳnh Trần
2024.07.23

Các tấm biển quảng cáo cho Đảng Cộng sản VN ở đường phố Hà Nội hôm 23/1/2019 (minh họa)

 REUTERS/Kham

Thời kỳ cầm quyền của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết thúc. Dấu ấn và di sản của ông tiếp tục được nhìn nhận đa chiều, trong đó có ý kiến cho rằng ông để lại hai di sản dở dang là bảo vệ tư tưởng đảng và  chống tham nhũng.[1]  Không đề xuất được người kế vị, ông tân Chủ tịch nước Tô Lâm, nguyên Bộ trưởng Công an, thay ông điều hành Đảng. Trong bối cảnh khủng hoảng nhân sự, cải cách ‘thụt lùi’ và tăng trưởng khó khăn tương lai chế độ thế nào là câu hỏi lớn được đông đảo quan tâm?

(IV)

Tương lai chế độ thế nào

Việt Nam có chế độ chính trị tương đồng với Trung Quốc – Đảng cộng sản toàn trị. Hơn thế, do cùng chung hệ tư tưởng Mác – Lênin nên sự tương đồng được nhận thấy trong nhiều chính sách của hai đảng, đặc biệt là quan niệm về chủ nghĩa xã hội, chống tham nhũng và tập trung quyền lực trong thời kỳ cầm quyền của cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (2011-2024) và ông Tổng bí thư Tập Cận Bình (2012- nay). Cả hai nhà lãnh đạo xuất hiện trên chính trường đều với tư cách những người “cứu Đảng” với chính sách an ninh quốc gia, trong đó nhấn mạnh an ninh chế độ, an ninh ý thức hệ. Ngoài ra, cả hai Đảng đã coi cùng xây dựng “cộng đồng chia sẻ tương lai” là có ý nghĩa chiến lược”, dấu mốc lịch sử trọng đại.[2] Đặc điểm này ảnh hưởng quan trọng đến những suy đoán về tương lai của chế độ đảng trị.

Trước hết, từ khi lên nắm quyền lãnh đạo tối cao, ông Tập Cận Bình thực hành hàng loạt các chính sách đối nội siết chặt kiểm soát xã hội và đối ngoại kiểu “chiến lang” khiến phương Tây lo ngại. Các nhà quan sát cho rằng Trung Quốc trỗi dậy hung hăng, ông Tập đang quản lý đất nước theo kiểu thời Mao và tư tưởng thực dụng khởi xướng bởi Đặng Tiểu Bình đã chấm dứt… Trong bối cảnh mô hình Trung Quốc “thoái trào”[3] tương lai thay đổi chế độ đã được suy đoán, trong đó có ba các kịch bản thu hút được sự chú ý, và có thể tham khảo cho trường hợp Việt Nam. Đây là ba phương án được đưa ra dựa trên sự tổng hợp các luồng ý kiến của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà quan sát phương Tây:[4] Thứ nhất là, Dân chủ hoá; Thứ hai là, Nội loạn kéo dài; Và thứ ba là, Chính thể độc tài mới.

Kịch bản thứ nhất cho rằng mô hình đảng CS toàn trị thời cải cách và mở cửa là ‘biệt lệ’ và sớm muộn gì sẽ trở về con đường phát triển tất yếu đến chế độ dân chủ. Nghĩa là một hình thức chế độ chính trị được đảm bảo bởi thể chế tam quyền phân lập, pháp quyền, quyền con người, trong đó tự do báo chí, tự do hội đoàn. Trong quá trình phát triển kinh tế những yếu tố này, tuy mạnh yếu, ít nhiều khác nhau, nhưng tiềm ẩn trong xã hội và sẽ bùng phát dẫn đến thay đổi. Tuy nhiên, nó chỉ diễn ra từ trên xuống (top-down)[5] và, việc thâu tóm, tập trung quyền lực đảng có thể trở thành chướng ngại vật cho tiến trình dân chủ hoá đất nước.

Kịch bản thứ hai lo ngại về bạo lực và hỗn loạn kéo dài khi chuyển tiếp chế độ khi những thách thức vượt tầm kiểm soát của đảng như kinh tế suy thoái do quá thái vật chất, khủng hoảng cơ cấu, suy giảm động lực, đời sống khó khăn, khoảng cách giàu nghèo nới rộng, ô nhiễm môi trường, già hoá nhân khẩu học… Ngoài ra, nạn tham nhũng trầm kha, mang tính hệ thống đang huỷ hoại chế độ. Tuy nhiên, chống tham nhũng nhưng lại lợi dụng loại bỏ các đối thủ chính trị để củng cố quyền lực tuyệt đối, tập trung đối đầu với phương Tây thay vì cải cách chính trị để thích nghi với bối cảnh quốc tế đang phân mảnh, phân cực. Theo đó, Đảng thúc đẩy an ninh quốc gia, an ninh chế độ, chủ nghĩa dân tộc…

Kịch bản thứ ba đề xuất Đảng CS có thể chấp nhận một chính thể pháp quyền tham vấn (consultative rule of law), chấp nhận tư pháp độc lập, chấp nhận đa nguyên nhưng không có bầu cử cạnh tranh. Có thể lãnh đạo chóp bu sẽ học hỏi mô hình của Singapore – bán dân chủ, nửa độc tài. Cố thủ tướng Lý Quang Diệu, người sáng lập ra Singapore hiện đại, từng giải thích rằng dân chủ là rào cản cho sự phát triển, vì thế, chế độ độc tài là cần thiết cho sự thịnh vượng quốc gia. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai quốc gia là quá lớn, chẳng hạn Singapore được quản lý với quy mô chỉ như là một thành phố. Hơn thế, sự khác biệt về ý thức hệ sẽ là yếu tố quan trọng xác định mô hình thể chế độc tài kiểu này hay khác.

YouTube player

Việc phân tích tương lai là thách thức. Nhà biên kịch vĩ đại William Shakespeare (1564 – 1616) đã coi dự đoán là việc liều lĩnh, và việc đó được ông ví như một kẻ ngu ngốc kể chuyện. Thật khó khẳng định chắc chắn kịch bản nào ứng với chế độ trong tương lai chế độ. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế những gì đang diễn ra và quá trình vận hành chế độ như đã nêu trong các phần trước có thể ‘liều lĩnh’ đề xuất cách tiếp cận riêng.

Trước hết, tránh rơi vào kịch bản thứ hai là điều mong đợi hơn là có sự thay đổi ‘đột biến’. Một giai đoạn ‘chờ thời’ hiện hữu trong bối cảnh hỗn độn về nhân sự. Tiếp tục di sản của cố Tổng bí thư (bảo vệ tư tưởng đảng và  chống tham nhũng) sẽ là điều không dễ dàng với lãnh đạo ‘không được quy hoạch.’ Chế độ phải mất chí ít một nhiệm kỳ để ổn định chính trị, cũng như vạch ra đường hướng phát triển. Gần ba nhiệm kỳ dưới sự lãnh đạo của cố Tổng bí thư với đầy biến động, bất ổn, di sản và ngổn ngang ‘dấu ấn’, trong đó nguyên tắc tập thể lãnh đạo bị sói mòn, Bộ chính trị đã rệu rã và Ban chấp hành trung ương – cơ quan quyền lực nhất của đảng CS đã yếu đi. Dù đã có thời gian chuẩn bị nhưng chưa nhiều, ông tân Chủ tịch nước với quyền điều hành đảng cũng không thể ‘lấn lướt’ tập thể này. Ông ấy có thể sẽ được bầu vì sự ổn định, nghĩa là vì cá nhân họ thay vì ‘tâm phục, khẩu phục’.

Sau đó, chế độ có thể sẽ trải qua một chu kỳ vận hành mới khó lường. Trước hết, một khả năng nhãn tiền là phải tính đến xu hướng chuyển sang Trung Quốc hơn và giữ khoảng cách với phương Tây vì những lý do sau. Một là, đường lối cứng rắn ‘mới’ với trụ cột là an ninh chế độ ưu tiên chuyên chế cần thiết có đồng minh ý thức hệ; Hai là, thách thức “tứ bề thọ địch”, trong đó Trung Quốc đạo diễn khiến Việt Nam phải nhượng bộ: Biên giới phía Bắc tiềm ẩn bất ngờ, biển Đông nguy cơ căng thẳng do tranh chấp, từ phía Tây và Nam Campuchia ‘kết thân’ và Lào phụ thuộc ngày càng sâu về kinh tế;  Ba là, chính sách chống các quyền tự do dân chủ khiến các nhà đầu tư nước ngoài có thể hạ thấp kỳ vọng của họ về môi trường kinh doanh và làm trầm trọng thêm những ‘bước lùi’ cải cách. Bốn là, Việt Nam dường như phải đặt cược rủi ro nhiều hơn trước xu hướng đa dạng hóa đầu tư của phương Tây ra khỏi Trung Quốc. Trung Quốc tăng cường đầu tư, chiếm vị trí dẫn đầu vào Việt Nam và, cảnh báo được đưa ra liệu một trung tâm trung chuyển hàng hoá Trung Quốc sang Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác. Năm là, ‘ngoại giao tre’ của Việt Nam bị níu kéo bởi ý thức hệ CS có thể dễ  ‘uốn cong’ ngả theo hướng tới các đối tác độc tài “truyền thống”  cùng xây dựng cộng đồng chung tương lai. Việc “bỏ phiếu trắng” trên các diễn đàn Liên hiệp quốc tế đang gây quan ngại đáng kể…

Tuy nhiên, về lâu dài sẽ là sự  ‘tất yếu’ hướng tới dân chủ như kịch bản thứ nhất nêu trên với những lý do sau. Một là, dân chủ được phát triển đồng thời với kinh tế thị trường. Nó là sự kết tinh của tiến hoá nhân loại, nó sẽ không thể đảo ngược hoặc thay thế. Những động lực tăng trưởng mới như kinh tế xanh, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo… suy cho cùng cũng từ cơ chế thị trường, nơi sản sinh sức sáng tạo, kiến thức, năng lượng cho sự phát triển; Hai là, tăng trưởng đảm bảo tính chính danh cho đảng ngày càng giảm khi kinh tế thị trường phát triển, mức sống ngày càng nâng cao của người dân và sự đòi hỏi thoả mãn nhu cầu tinh thần, trong đó có sự tham gia chính trị; Ba là, nền kinh tế mở là kết quả của chính sách hội nhập với thế giới để phát triển theo xu thế thời đại đã nâng vị thế Việt Nam, vượt qua khác biệt về ý thức hệ, và khó có thể thay đổi…

Thực tế phát triển kinh tế thị trường những năm qua đã cho thấy Việt Nam bị ràng buộc vào hệ tư tưởng cộng sản, phong trào xã hội chủ nghĩa quá sâu và quá lâu để có thể độc lập vươn lên. Ngoài ra, cân nhắc “5 lý do vì sao chủ nghĩa cộng sản sống thọ” [6] để cải cách thể chế sao cho khát vọng thịnh vượng của người dân không trở nên ‘viển vông’ . Cuối cùng, điều cốt lõi là tương lai đất nước và tương lai chế độ phải do tất cả người dân có ý chí và quyền tự do quyết định.

___________

Tham khảo:

[1]  Benoît de Tréglodé (19/7/2024). https://www.rfi.fr/vi/việt-nam/20240720-bảo-vệ-tư-tưởng-đảng-chống-tham-nhũng-hai-di-sản-dang-dở-của-tbt-nguyễn-phú-tr%E1%BB%8Dng

[2]  https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/xay-dung-cong-dong-chia-se-tuong-lai-viet-nam-trung-quoc-mang-y-nghia-chien-luoc-la-dau-moc-lich-su-trong-dai-119231213192702546.htm

[3]  https://www.rfa.org/vietnamese/news/comment/blog/china-model-out-of-trend-what-lesson-for-vn-part-1-04162024111025.html

[4]  Anh Khoa (2018). https://www.luatkhoa.com/2018/09/ba-kich-ban-cho-tuong-lai-the-che-cua-trung-quoc/

[5]  Fukuyama Fransis (2020). http://www.the-american-interest.com/2020/05/18/what-kind-of-regime-does-china-have/

[6]  https://www.youtube.com/watch?v=nSloLMlyMvY


 

Hãy chôn cất Chủ nghĩa Cộng sản-Ngô Nhân Dụng

VOA

26/07/2024

Tại một hội chợ sách ở Bắc Kinh, 2005. Các hình chân dung, từ trái: Marl Marx, Friedrich Engels, Lenin.

Trong bài trước, mục này đề nghị đảng Cộng sản Việt Nam hãy chôn cất chủ nghĩa Mác – Lê nin. Hơn nữa, từ nay phải chấm dứt không tôn thờ một thứ chủ nghĩa hay lý thuyết kinh tế, chính trị nào nữa. Đó là một căn bệnh tâm thần từ châu Âu lan ra thế giới từ thế kỷ 19, mà chính các nước Tây phương nay đã trị gần hết bịnh rồi.

Ông Nguyễn Phú Trọng phí bộ óc thông minh của mình cả đời cổ động cho lý thuyết chính trị lỗi thời của Karl Marx và Vladimir Lenin. Ông viết: “… điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin” (Trong bài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,” năm 2022.)

Ông Trọng ca ngợi “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin.” Nói “cách mạng triệt để” thì đúng, nhưng từ trăm năm nay ai cũng biết “chủ nghĩa” đó không hề có tính chất khoa học, từ khi loài người hiểu thế nào là khoa học.

Trước kia, các hiểu biết thường được gọi là khoa học nếu có thể xác nhận qua các bằng chứng hoặc thí nghiệm cụ thể. Nhưng Karl Popper, trong cuốn “Logik der Forschung” (Quy luật của Khám phá Khoa học), in năm 1934, cho thấy một đặc tính cốt yếu của các giả thuyết khoa học là chúng có thể bị chứng minh ngược lại (falsifiability). Điều nào không thấy chứng cớ bác bỏ được thì tạm coi là đúng, cho đến khi thấy bằng chứng mới. Karl Marx trình bày các lý do khiến kinh tế tư bản sẽ sụp đổ, các phát biểu này không thể dùng thí nghiệm để phủ nhận. Cuối cùng, ông chỉ phỏng đoán ra một tương lai, hoàn toàn tưởng tượng. Cho đến khi giấc mơ của ông được thi hành, bắt đầu từ nước Nga, cả loài người biết Marx sai lầm. Bây giờ mà còn tôn thờ chủ nghĩa đó thì đúng là mê tín, phản khoa học.

Một điều ông Nguyễn Phú Trọng luôn luôn khẳng định là: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc.” Có rất nhiều bằng chứng ngược lại. Sau Đại chiến Thứ Hai, bao nhiêu dân tộc đã giành lại độc lập, từ châu Á đến châu Phi, không ai dùng tới chủ nghĩa cộng sản. Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba theo nên sau đó chậm phát triển, phải quay ngược chiều, bắt chước kinh tế tư bản.

Năm 2008, nói trên đài ti vi ở Hà Nội ông Nguyễn Phú Trọng đã báo tin rằng chỉ trong ba năm nữa thôi “Hội đồng Lý luận Trung ương” sẽ hoàn tất việc nghiên cứu để tìm ra một “Học thuyết xây dựng chiến lược Việt Nam trong thế kỷ 21.” Từ đó tới nay, cái “chiến lược” đó vẫn chỉ gồm những khẩu hiệu.

Trong bài phát biểu ngày 19 tháng 5, 2021, ông Nguyễn Phú Trọng tự trả lời cho câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì?” Ông mô tả đó là “… một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; … có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.” Tất cả chỉ là những ước vọng, ai muốn hô lên cũng được không thể gọi là chiến lược hay kế hoạch. Chỉ có một điều cụ thể là ông xác nhận “nhà nước” phải “do Đảng Cộng sản lãnh đạo!” Ông Kim Jong Un cũng từng nói giống hệt như vậy với dân Bắc Hàn; ông Pol Pot nếu còn sống cũng hô hào không khác! Phải do Đảng của tui lãnh đạo!

Trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam đang ca tụng ông Nguyễn Phú Trọng “để lại một di sản lý thuyết” lớn lao về chủ nghĩa Mác – Lênin, thì người Việt biết rằng chúng tôi không cần cái di sản tác hại đó! Hàng trăm năm qua loài người vẫn cứ thế tiến tới, không nhờ một chủ nghĩa nào chỉ đường dẫn lối cả. Bởi vì trước hết loài người phải sống đã, không ai chờ có một chủ thuyết nào rồi mới bắt đầu sống!

Cái bệnh đi tìm chủ thuyết phát sinh ở nước ta là do ảnh hưởng phương Tây. Các “ông Tây” sống duy lý từ mấy trăm năm trước đã xây dựng nhiều chủ thuyết để dẫn dắt người khác theo mình; nó thành một thứ bệnh truyền nhiễm.

Bệnh nặng nhất là ông Karl Marx, truyền xuống ông Lenin, lây dần dần sang nhiều người khác. Vì chủ nghĩa đó mà thế giới chia đôi, hai khối đánh nhau, người Trung Hoa, người Hàn quốc, người Congo, người Việt Nam chết nhiều nhất. Từ giữa thế kỷ 20 loài người bắt đầu trị bệnh chủ nghĩa, và đến mười năm sau cùng của thế kỷ thì hầu như mọi người đã trừ được loài vi khuẩn đó. Ngoại trừ ở những nước vẫn bế quan tỏa cảng, ngăn cấm thông tin, không cho dân được mở cái đầu ra, nhiều người vẫn còn mơ màng về một thứ chủ thuyết nào đó. Khi thấy chế độ cộng sản ở Nga và Âu châu sụp đổ, có những người ở Việt Nam lo lắng một cách thành thật rằng sau khi dẹp bỏ lý thuyết Mác Lê thì không biết mình sẽ nương tựa vào một ý thức hệ nào để mà sống! Đúng là lo… con bò trắng răng!

Con người sinh ra để sống chứ không phải để chuẩn bị sống, như một nhân vật của Boris Pasternak nói. Hay nói như Trang Tử, vì có người đi nên mới có đường đi (Đạo hành chi nhi thành); không phải vì có con đường rồi nên mọi người mới biết lối đi. Biết vậy, nhưng vẫn phải chờ tới khi chế độ cộng sản hoàn toàn thất bại ở Nga, thất bại hiển nhiên khi kinh tế suy sụp, thì loài người mới vỡ lẽ ra rằng tất cả câu chuyện chủ nghĩa là chuyện tầm phào!

Nếu vậy thì trong kinh tế tư bản người ta không cần một chủ nghĩa nào chỉ đạo hay sao? Đúng như vậy. Kinh tế tư bản chỉ dựa trên vài nhận xét của nhà đạo đức học xứ Scotland, Adam Smith. Ông ta thấy rằng bất cứ ai, một bà nướng bánh hay một ông hàng thịt, họ làm việc chính vì muốn kiếm lời; nhưng khi ai cũng làm như thế thì người chung quanh cũng được hưởng. Smith cũng thấy một điều là người ta thường chỉ trao đổi với nhau nếu cả hai bên thấy mình có lợi. Đó là hai ý kiến căn bản của kinh tế tư bản, có ai muốn gọi đó là một chủ nghĩa hay không?

Thức ra mọi môn khoa học đều không cần một chủ nghĩa và không nên có. Vì các kiến thức khoa học đều là những giả thuyết, người ta tạm dùng cho đến khi nào bị đánh đổ nếu có chứng cớ trái ngược. Trong thiên văn bây giờ mọi người tin ở thuyết Big Bang nhưng không ai tôn thờ nó như một chủ nghĩa. Trái lại, ai tìm ra được một kẽ hở nào trong lý thuyết đó sẽ được cả làng thưởng công! Trong kinh tế học cũng vậy, không có lý thuyết vĩ đại nào với tham vọng giải quyết mọi vấn đề nhân sinh, mà chỉ có những tìm tòi và khám phá cụ thể.

Một tấm gương là Leonid Hurwicz, nhà kinh tế lỗi lạc đã qua đời. Ông sinh ở Matx Cơ Va trước Cách mạng Tháng Mười, chạy qua Ba Lan năm 1919 để tránh chế độ cộng sản. Tốt nghiệp luật khoa ở Đại học Warsaw, ông sang Anh học về kinh tế, rồi năm 1940 sang Mỹ. Hurwicz chịu ảnh hưởng của những giáo sư kinh tế nổi danh ở London khi ông theo học ở đó, như Friedrich Hayek, Nicholas Kaldor, và Ludwig von Mises. Vào những thập niên 1930, 40, có những nhà kinh tế thất vọng trước cuộc thí nghiệm của Liên Xô đã cổ động việc cải thiện hệ thống xã hội chủ nghĩa. Tuy không đồng ý với lý thuyết kinh tế của Karl Marx và cũng không thích chế độ độc tài kiểu Stalin, Oskar Lange đã nẩy ra ý tưởng kết hợp kinh tế thị trường với Chủ nghĩa Xã Hội.

Trong khi đó, Hayek và von Mises nhìn thấy nhược điểm cơ bản của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, là vấn đề thông tin. Sống trong thời đại tin học chúng ta hiểu vấn đề này nhanh, nhưng vào thập niên 1940 thì đây là một khám phá. Đời sống kinh tế dựa trên tin tức, các quyết định kinh tế dựa trên thông tin. Trước khi trao đổi sức lao động, hàng hoá, tiền bạc, người ta thế nào cũng tìm hiểu tin tức. Không một uỷ ban kế hoạch nhà nước nào có thể thu lượm đầy đủ thông tin về nhu cầu cũng như khả năng của tất cả mọi người trong xã hội. Ngược lại, trong một hệ thống thị trường thì mọi người đều “tự động tiết lộ” những thông tin về nhu cầu và khả năng cung ứng của họ: Chỉ cần coi giá cả lên hay xuống khi họ mua bán, trao đổi với nhau! Giá cả là động cơ điều tiết thị trường.

Hơn thế nữa, như Friedrich Hayek đã biện luận, khi kinh tế được tập trung chỉ huy thì cuối cùng sẽ thất bại. Vì thất bại cho nên phải cưỡng chế, dẫn đến cảnh nô lệ hoá mọi người. Một chế độ kinh tế tập trung chỉ huy cuối cùng sẽ tước bỏ hết các quyền tự do. Từ đó, đến nhân phẩm cũng mất.

Leonid Hurwicz thoát khỏi giấc mơ Chủ nghĩa Xã Hội và các thứ “Chủ nghĩa” nói chung. Ông không xây dựng một chủ thuyết nào cả mà chỉ nêu những vấn đề thực tế, giải quyết từng chuyện cụ thể một. Một trong các đề tài ông theo đuổi là “động cơ kinh tế của mỗi cá nhân.” Làm cách nào để mọi người tham dự một cuộc chơi kinh tế tự tiết lộ những tin tức mình có, chứ không giữ kín. Hay là làm thế nào để mọi người cố gắng hết lòng cho xong công việc chứ không chỉ làm lấy lệ. Trong tất cả các vụ đó, phải vẽ ra những cách thưởng, phạt để người ta thấy có lợi nếu nói thật, và có lý do muốn làm hết sức mình.

Một thí dụ về phương pháp tạo động cơ thích hợp là câu chuyện chia đôi cái bánh. Bà mẹ có thể cắt cái bánh thật công bằng, chia cho hai con. Có thể trao nhiệm vụ cắt bánh cho anh, khuyên nhủ anh phải chia đều với em. Nhưng thế nào mỗi đứa con cũng thấy phần của mình nhỏ hơn, có thể trong lòng sẽ ganh tị. Bây giờ có thể bày ra một “cơ chế” như vầy: Một đứa con sẽ cắt bánh làm hai phần, nhưng đứa kia sẽ được chọn phần bánh trước. Với “cơ chế” như vậy, đứa trẻ có nhiệm vụ cắt bánh sẽ cố cắt hết sức công bằng, không cần phải nghe lời Đức Khổng Tử dạy hay là bị quản giáo nhồi sọ về một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh.”

Chính khi đi tìm những động cơ thích hợp để giúp một cơ chế kinh tế đạt kết quả, Hurwicz đã giúp người ta hiểu tại sao kinh tế cộng sản thất bại. Với những phương pháp thiết lập “động cơ thích hợp” nền kinh tế có thể hoạt động tự do mà xã hội vẫn theo đuổi được những mục tiêu ngoài kinh tế, như tôn trọng công bằng xã hội, trọng người già hoặc giúp trẻ em, vân vân, mà không cần“giáo dục” hay cưỡng bức ai cả. Điều quan trọng là không cần biến một thứ chủ nghĩa nào thành tôn giáo buộc mọi người tin theo.

Tự do dân chủ không phải là tên một chủ nghĩa. Dân chủ chỉ là những “luật chơi,” giống như luật đá banh vậy. Khi có tự do, người ta được chọn, khi cần phải cùng nhau chọn, đặt ra những quy tắc chọn lựa chung, thí dụ như bỏ phiếu. Cứ như vậy, loài người sẽ sống hạnh phúc hơn mà không cần tôn thờ một chủ nghĩa như lối người cộng sản trong thế kỷ trước.

Đa số những người cộng sản ở Việt Nam bây giờ, không tin vào chủ nghĩa nào nữa, chỉ tin ở thế lực kim tiền! Nhưng nhiều người vẫn còn muốn dân chúng tiếp tục tôn thờ chủ nghĩa Marx, để bảo vệ địa vị và tài sản của họ! Phải chấm dứt trò gian dối đó.