ĐAU KHỔ LÀ MỘT MẦU NHIỆM – Bửu Uyển -Truyện ngắn HAY

 Bửu Uyển 

Năm 1993, khi mới đến Mỹ, gia đình chúng tôi đến  văn phòng Hội USCC San Diego để làm một số giấy tờ của người mới định cư. Trong khi đang chờ đợi bỗng có một nhân viên ở đó đưa cho tôi tờ nhắn tin như sau:

“Quí vị nào biết gia đình ông Bửu Uyển ở đâu, xin liên lạc  với:

Lê Văn Thành, điện thoại số 2514468353

Địa chỉ 428 E Church St., Atmore, AL 36502

Tôi vô cùng ngỡ ngàng và cảm động vì Thành là bạn thân của tôi từ lúc chúng tôi còn nhỏ.

Khi hoàn tất các giấy tờ ở Hội USCC, tôi vội vàng trở về nhà, gọi điện thoại ngay cho Thành. Ở đầu dây bên kia, giọng Thành cảm động:

-Cậu đó hả! Tạ ơn Chúa, tạ ơn Đức Mẹ, cuối cùng mình cũng gặp lại nhau.  Mình tìm kiếm cậu khắp nơi từ bao lâu nay.  Thế gia đình cậu qua Mỹ lúc nào vậy?

-Mình mới qua được 5 ngày.

-Được rồi, đọc lại số điện thoại của cậu  và cho mình địa chỉ, vợ chồng mình sẽ qua thăm cậu.

Một tuần sau, vợ chồng Thành qua San Diego thăm chúng tôi.  Thành ôm chầm lấy tôi, xúc động nói:

-Thật vui mừng được gặp lại cậu,  Trông chờ mãi, lắm lúc mình nghĩ có lẽ không bao giờ gặp lại nhau.  Cậu ốm qua, nhưng không sao, qua Mỹ một thời gian sẽ mập ra thôi.

Thành quay ra giới thiệu: “Đây là Thoa, vợ mình.”

Tôi hơi ngạc nhiên, Thành nói ngay:

-Đây là vợ sau của mình.  Câu chuyện dài dòng lắm, để lát nữa mình sẽ kể cho cậu nghe.

Tôi trò chuyện với Thành, còn Thoa vui vẻ chỉ dẫn cho vợ tôi một vài kinh nghiệm sống ở Mỹ.  Mới gặp nhau lần đầu nhưng Thoa và vợ tôi thân mật như đôi bạn quen nhau từ lâu.

Thành kéo tay tôi: “Để cho hai bà nói chuyện áo quần, bếp núc.  Tụi mình đi kiếm gì ăn, rồi mua về cho mấy cháu.”

Ngồi trong một tiệm ăn Việt Nam, khi chờ thức ăn mang lên, Thành nhìn qua cửa sổ, trầm buồn nói với tôi:

-“Anh nhớ không, từ nhỏ, tụi mình thân nhau như anh em ruột; cùng sinh hoạt Hùng Tâm, Dũng Chí ở Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Huế, cùng giúp lễ cho cha Đài, cha Ngà, cha Nghiễm, cha Phục.  Năm 1964, tôi bị động viên vào Thũ Đức, ra chuẩn úy, về phục vụ Sư đoàn 1. Năm 1968, tôi lập gia đình với Chi.  Hai năm sau, chúng tôi có con gái đầu long, là bé Oanh. Sau đó chúng tôi có thêm một cháu trai và một cháu gái nữa,

Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Huế,

Ngày 30-4-1975 ập đến, như một cơn lốc cuồng loạn, thổi phăng hạnh phúc của gia đình chúng tôi.

Tôi quyết định không trình diện cải tạo, ở lang thang nay đây mai đó trong thành phố Đà Nẵng, hành nghề xe đạp ôm để phụ với vợ nuôi con.  Còn Chi thì mua bán áo quần cũ ở Chợ Cồn.  Vì cuộc sống vất vả, ăn uống thiếu thốn, lại lo buồn cho chồng, cho con, một năm sau, Chi nhuốm bệnh.

Không được bồi dưỡng, không thuốc thang, nên năm 1978, Chi qua đời.  Đám tang của Chi là một đám tang nghèo nàn, tẻ nhạt và cô đơn hơn  tất cả những đám tang trên thế gian này. Chồng của Chi là tôi, đi theo sau quan tài của vợ mà phải đi xa xa, sợ công an phát hiện. Nhìn 3 đứa con với vành khăn tang trên đầu, khóc lóc đi sau quan tài của mẹ, tôi muốn điên.”

Thành quá xúc động, lấy khăn tay lau nước mắt, rồi anh kể tiếp:

-Sau đó, 3 đứa con tôi được các Soeurs dòng Thánh Phao Lồ đem về nuôi như những trẻ mồ côi khác.

Buồn khổ quá, tôi thất thểu đạp xe vào nhà thờ Đà Nẵng, đi đến trước hang đá.  Tôi ngước lên nhìn tượng Đức Mẹ, bỗng nhiên nước mắt tôi chảy ra ràn rụa, tôi khóc; khóc thành tiếng, mặc cho người chung quanh nhìn tôi, tôi thấy lòng vơi bớt sầu khổ. Tôi lại nhìn lên tượng Đức Mẹ. Tôi nghe như Đức Mẹ an ủi tôi: “Hởi con, hãy can đảm lên, phấn đấu để sống cho con và các con của con; chúng rất cần sự yêu thương của con.  Con hãy trông cậy vào Chúa.  Chúa không bỏ con đâu”.

Tôi như bừng tỉnh. Tôi tạ ơn Đức Mẹ.

Cuộc sống của tôi thật vô cùng khốn khổ nhưng ngày nào tôi cũng đến viếng Đức Mẹ và cầu xin Đức Mẹ từ bi  nhơn hậu phù hộ, cứu giúp cho cha con chúng tôi.

Bỗng một hôm, mẹ vợ của tôi đến gặp tôi khi tôi đang đón khách ở chợ Cồn.  Bà hốt hoảng bảo tôi: Con nên rời khỏi đây ngay, họ đã biết có con ở đây.  Mấy hôm nay họ đã lùng sục ở mấy nhà quen rồi, hiện nhà mình bị canh chừng kỹ lắm.  Con nên đi vô Nam, trong đó đất rộng, người đông, không ai biết ai, dễ sống. Ba đứa nhỏ đã có các Soeurs và mẹ lo, con cứ yên tâm đi đi.

Tôi về ngay nhà trọ, lấy vội cặp áo quần cũ với vài vật dụng linh tinh, cho vào một giỏ đệm, treo lên ghi đông xe đạp, rồi đạp xe đi về hướng Nam.  Nghĩ lại, thật nực cười cho tôi vì tôi tính đi vào Sài Gòn bằng chiếc xe đạp cũ kỹ của mình.

Nhưng ngày qua ngày. Tôi đến Tam Kỳ, rồi Quảng Ngãi. Đi đến đâu, hành nghề xe đạp ôm đến đó để sống.

Tôi đi lần vào Nam. Hơn một tháng sau, tôi đến thị trấn Tam Quan, tình cờ khi tôi đang lân la ở bến xe để đón khách, tôi xin một xe chở hàng cho tôi đi quá giang vào Nha Trang.  Xe đến Nha Trang lúc 7,8 giờ tối gì đó.

Tôi mua một ổ bánh mì, ăn vội, rồi lửng thửng đạp xe đi trong một thành phố hoàn toàn xa lạ đối với tôi.  Khi đi ngang qua một nhà thờ, tôi ghé vào nhưng nhà thờ đã đóng cửa, tôi đi ra hang đá ở cuối nhà thờ, quì xuống. Tôi lại khóc.  Không hiểu sao cứ mỗi lần nhìn tượng Đức Mẹ và cầu nguyện với Đức Mẹ là tôi khóc, khóc sướt mướt như một đứa trẻ làm nũng với Mẹ vậy.

Trong hoàn cảnh tuyệt vọng của tôi, nếu không có trông cậy vào Đức Mẹ, chắc tôi không sống nỗi.

Rời hang đá trong gia đình của những người con Đức Mẹ,tôi tiếp tục đạp xe đi lang thang trong thành phố Nha Trang đã lên đèn.

Quá mệt mõi và chán nản, tôi dừng xe trước  một căn nhà đã đóng cửa đi ngủ.  Nhà ấy có một mái hiên khá kín đáo, có thể giúp tôi ngủ qua đêm được.  Dựng xe đạp vào vách tường, tôi nằm lăn ra ngủ.  Đến quá nửa đêm , tôi giật mình thức giấc vì người trong nhà ấy đã thức dậy.  Tôi ngạc nhiên  vì trời còn tối (có lẽ khoảng 3,4 giờ sáng gì đó), họ thức dậy làm gì mà sớm vậy! Nhưng chỉ một lát sau, khi nhìn những túi xách nhỏ, gọn gàng của họ; nhìn những gương mặt ngơ ngác, lo lắng, sợ sệt của những người trong gia đình …tôi hiểu ngay: họ đang chuẩn bị vượt biên.  Một người đàn ông ra mở cửa để đi, họ thấy tôi ngồi đó, ai cũng ngỡ ngàng , pha chút bối rối.  Tôi đánh bạo nói: Các bác đi đâu cho tôi theo với.

Người đàn ông quay nhìn vợ, ngần ngừ một lát rồi ông ta quyết định:

-Được rồi! Anh muốn đi, tôi cho đi, cùng sống cùng chết với nhau.

Ngay lúc đó, một chiếc xe Lam 3 bánh dừng lại trước nhà, đưa gia đình ấy và tôi  đến một bãi biển khá xa thành phố. Mọi người lên một ghe nhỏ, chèo tay, đưa ra một ghe lớn đậu tít  ngoài khơi.  Trước lúc trời sáng, ghe nổ máy ra đi.  Người đàn ông chủ ghe tên Đông, giao cho tôi nhiệm vụ tát nước, khi dưới khoang thuyền có nước.  Khoảng 15 phút sau, ghe chạy đều đều trên biển, tôi làm dấu thánh giá và đọc kinh, tạ ơn Đức Mẹ. Tôi biết, tôi tin, chỉ có Đức mẹ mới sắp xếp được cho tôi  một chuyến vượt biên kỳ lạ như vậy.

Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi được tàu kéo đến trại Palawan bình yên.  Ở trại một thời gian, tôi được IOM cho đi định cư ở Mỹ. Vì tôi không có thân nhân ở Mỹ nên Hội USCC đã nhờ Linh mục  Michael  ở Alabama bảo trợ cho tôi.  Cha Michael là cha xứ của Họ đạo “Our Lady of Perpetual  Help Church” ở thành phố Atmore.  Cha Michael  cho tôi làm công việc chăm sóc cây cảnh, vườn cỏ của giáo xứ với mức lương tôi không dám mơ ước: 600 đô la một tháng!  Mỗi tháng, tôi gởi một ít tiền về cho cơ sở  Dòng Thánh Phao Lồ ở Đà Nẵng để quí Soeurs lo cho các trẻ mồ côi, trong đó có 3 con của tôi.  Trong những ngày chăm sóc cây cảnh cho giáo xứ, tôi thấy một bé gái khoảng 9,10 tuổi thường đến xem tôi làm việc.  Thấy cháu bé có nét mặt người Việt Nam, tôi tò mò hỏi: cháu tên gì? Em bé ngạc nhiên, vui mừng nhìn tôi và hỏi lại : Bác là người Viêt Nam hả? Từ đó tôi có một người bạn nhỏ và duy nhất  vì trong giáo xứ toàn người Mỹ.  Tên của cháu bé là Kathrine.

Giáo xứ có một nhà kho khá rộng, cha Michael sơn quét sạch sẽ rồi cho tôi làm chỗ ở. Mùa đông 1981 tôi bị cảm cúm nặng, nằm liệt giường. Một hôm, tôi thấy  bé Kathrine đi thơ thẩn  ngoài vườn hoa của giáo xứ, có lẽ cháu đi tìm tôi. Tôi cố gắng ngồi dậy, mở cửa gọi cháu. Kathrine chạy đến, thấy tôi tiều tụy xanh xao, bé ôm lấy tôi và khóc rưng rức. Tôi kể cho bé Kathrine, tôi bị cảm cúm mấy hôm nay, nhưng không biết nhờ ai đi bác sĩ. Bé Kathrine chạy vội về nhà, một lát sau trở lại với một bà đứng tuổi, tôi đoán là mẹ của cháu. Vừa gặp tôi, bà ấy nói ngay: Bác là bác Thành phải không? Tôi thường nghe con gái tôi nói về bác, cháu nó mến bác lắm. Cháu vừa cho biết bác bị cảm cúm mà không ai đưa đi bác sĩ. Tôi là người đồng hương với bác, để tôi giúp bác.

Từ đó, tôi có thêm một người bạn, ngoài cháu Kathrine. Bà ấy tên là Thoa. Năm 1969, bà ấy kết hôn với một sĩ quan Không quân Mỹ ở Biên Hòa. Năm 1971, bà theo chồng về Mỹ.  Không may cho gia đình ấy, năm 1976, chồng bà qua đời vì một tai nạn xe cộ.

Ngừng một lát, Thành kể tiếp:

Biết được hoàn cảnh của cha con tôi, bà ấy thường gởi tiền về nuôi các con của tôi.  trước các dịp lễ lớn, như Noel, Tết…, bà gởi  về cho các con tôi những thùng quà rất giá trị . Quí Soeurs ở Việt Nam thường gởi thư qua cảm ơn vì quà của bà gởi về, ngoài 3 con của tôi được hưởng, Soeurs còn phân phát cho các em khác nữa. Tôi mang ơn bà ấy. Tôi còn nhớ, trong một party của giáo xứ nhân ngày đầu năm, Cha Michael gặp chúng tôi, nửa đùa nửa thật, cha nói với chúng tôi: Có gì ngăn trở đâu, sao ông bà không kết hôn với nhau?! Tôi nhìn bà ấy, bà mỉm cười.  Sau khi chúng tôi kết hôn với nhau, Thoa làm đơn bảo lãnh 3 con của tôi qua Mỹ.  Vì Thoa có quốc tịch Mỹ, lại có đầy đủ tài chánh nên chỉ một thời gian ngắn, cả 3 con của tôi đã đoàn tụ với tôi ở Mỹ. Việc đoàn tụ một cách lạ lùng của 3 cha con chúng tôi làm cho tôi tin rằng: Không có việc gì mà Đức Mẹ không làm được, nếu ta thành khẩn kêu xin.

Tôi nhớ lại ngày xưa, Cha Ngà (Dòng Chúa Cứu Thế) thường giảng rằng;  Đau khổ là một mầu nhiệm.  Lúc ấy, tôi không hiểu Ngài muốn dạy điều gì.  Nhưng sau mấy chục năm gian khổ của cuộc sống, với ơn Chúa giúp, với sự phù hộ của Đức Mẹ, tôi đã có thể chịu đựng và vượt qua mọi đau khổ, nhờ vậy, tôi thấy mình lớn lên trong đức tin, bền đỗ trong đức cậy và dạt dào lòng yêu mến Chúa.

Tôi cũng bắt đầu cảm nhận rằng: Lòng Mẹ Maria yêu thương tôi không những chỉ là những hồng ân tốt đẹp mà Mẹ đã ban cho tôi, mà ngay cả những đau khổ, khốn khó tôi đã gánh chịu, cũng nói lên lòng Đức Mẹ  yêu thương tôi biết dường nào!

“Xin tạ ơn Chúa, tạ ơn Đức Mẹ.”

BƯỦ UYỂN

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

Ánh sáng trong mắt người mù – Nguyễn Thảo Nam-Truyện ngắn

Nguyễn Thảo Nam

Tôi đến Nebraska vào đầu mùa Đông giá lạnh. Người đón ở phi trường là một người chưa bao giờ gặp mặt. Tên anh là Thomas. Một vài câu chào nhau lạnh lùng giữa mùa đông lạnh. Lặng lẽ, anh dẫn tôi ra khỏi phi trường và lao mình trên chiếc xe truck trong cơn gió tuyết. Mùa Đông Nebraska quá khắc nghiệt hơn tôi dự đoán.

Từng cơn gió tuyết réo rắt đến rợn người. Một màu trắng xoá trải dài, dài như vô tận. Những khu nhà thưa thớt của dân nghèo da đen gần phía phi trường phủ ngập tuyết. Tuyết phủ cao có khi lấp hẳn cả những chiếc xe nằm bất động bên đường. Không gian tĩnh mịch. Trong lòng đơn côi. Tôi hoang mang sợ hãi! Không biết mình có vượt qua nổi mùa Đông khắc nghiệt này không? Lần đầu tiên trong đời chạm trán với Mùa Đông Nebraska với mười mấy độ âm. Những ngày trước đây còn háo hức cho chuyến thực tập này bao nhiêu thì bây giờ cảm thấy ớn lạnh bấy nhiêu. Nỗi cô đơn xâm chiếm, một hoang mang vây quanh. Tại sao mình lại chọn mảnh đất xa xăm này? Tại sao lại bỏ gia đình ấm cúng để đi vào trong chốn đơn côi? Một hoang mang khơi dậy trong hồn.

Về đến nhà trời đã sẩm tối. Đón ở cửa là một người đàn ông mù trạc tuổi 60. Ông có mái tóc bạc trắng đều đặn và một khuôn mặt phúc hậu. Ông mở to đôi mắt, nhưng ông lại chẳng thấy. Lúc đầu chẳng để ý, nhưng khi nhìn ông quờ quạng chiếc gậy dành cho người mù bên cạnh, tôi mới biết ông ta mù. Cái tối ngoài trời, xen lẫn cái tối trong nhà, lại thêm cái tối của một người mù làm cho bầu khí thêm ảm đạm. Rồi một tiếng nói vọng lên trong góc tối và một bàn tay vươn ra để bắt tay:
– Tôi là Cha Gilick, rất vui được gặp anh. Ngài tự giới thiệu và nở một nụ cười nồng ấm.
– Con là Thảo Nam, rất hân hạnh được gặp cha.
– Chúc mừng anh đến cộng đoàn này. Tôi là Cha bề trên ở đây và sẽ là linh hướng của anh trong thời gian anh ở đây. Hãy coi tất cả như người nhà nhé. Ngài niềm nở tiếp đón. Tôi bối rối tự hỏi: Sao ông mù này lại là Cha bề trên ở đây? Chắc cái cộng đoàn này hết người sáng mắt hay sao mà lại đặt một ông mù làm bề trên của một cộng đoàn mắt sáng?
Thắc mắc. Nghi ngờ. Rồi bắt đầu đón nhận. Một hành trình mới đi vào thế giới người mù.

Mỗi một người mù có lối sống đặc biệt của riêng mình. Đây không phải là lần đầu tiên tôi sống với linh mục mù. Trước đây tôi đã có dịp chung sống với hai linh mục mù khác, và đây là vị mù thứ ba. Chẳng hiểu có bí ẩn gì đây mà sao lại có duyên ‘‘làm bạn’’ với lắm Cha mù như thế. Câu hỏi ấy vẫn mãi là một chuỗi suy tư.

Những ngày ở Việt Nam, tôi giúp lễ nhiều năm cho một Linh mục mù về hưu tại nhà riêng. Năm giờ sáng, ngài thức dậy. Quờ quạng. Cầu nguyện. Rồi dâng lễ mỗi ngày. Ngài đã dâng lễ đều đặn suốt hơn mười năm mù lòa như thế. Thánh lễ trong suốt mười năm là một thánh lễ duy nhất: Lễ về Đức Maria. Ngài đã thuộc lòng kinh tiền tụng, không cần sách lễ. Tôi dọn bàn thờ, chọn áo lễ và khoác cho ngài. Rồi hai cha con dâng lễ. Một linh mục, một giáo dân suốt bao năm dài đăng đẳng.

Những thánh lễ êm đềm trong nắng ấm ban mai. Cô quạnh, nhưng cũng tràn đầy ủi an. Có mệt mỏi, nhưng có ân sủng đỡ nâng. Có những ngày muốn bỏ lễ, nhưng rồi lại tiếp tục vươn lên. Tuổi già, lại thêm mù lòa là một thách đố lớn cho đời Linh mục. Tôi không dâng lễ, nhưng cảm nghiệm nỗi mệt mỏi trong từng thánh lễ của người Linh mục mù ấy. Tôi ngần ngại. Liệu sau này mình có rơi vào trong cảnh đơn coi này không?

Rồi những ngày đến Cali, tôi lại có dịp sống với Linh mục mù thứ hai. Ngài không mù hẳn, nhưng mắt bị lóa. Phải viết chữ thật to ngài mới đọc nổi, và ngài chỉ có thể nhận ra anh em trong nhà qua giọng nói.
Bây giờ, nơi vùng đất xa xăm của Nebraska, vị linh mục mù thứ ba này lại đến với tôi như một ngạc nhiên quá lớn. Sững sờ. Rung động. Ngỡ ngàng. Không ai cho tôi biết về người mù này trước khi đến, nên lần gặp gỡ bất ngờ này đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh, một xúc cảm nội tâm sâu xa. Ngài không mù vì tuổi già, nhưng mù từ lúc bé. Vào dòng chỉ ước mong đơn sơ làm ông thầy vĩnh viễn. Rồi tình yêu Chúa nhiệm mầu, lớn hơn cả lòng người ước mong, dẫn đưa ngài đến chức linh mục với đôi mắt mù. Ai có thể hiểu nổi những huyền nhiệm trong cuộc đời!

Cộng đoàn ở đây có chừng mười người. Một số cha dạy học, còn lại một số anh em vẫn cắp sách đến trường. Cha mù bề trên chuyên lo về linh hướng, chỉ đường thiêng liêng cho anh em sáng mắt. Chao ôi, người mù lại chỉ đường thiêng liêng cho người sáng mắt. Dẫn nhau đi trong u tối cuộc đời để vào ánh sáng huyền nhiệm. Mắt thể xác mù lòa, nhưng đôi mắt tâm hồn thì sáng rực. Ngài còn làm lễ tại giáo xứ, và đi giảng tĩnh tâm trên khắp nước Mỹ.

Có lần cha quản lý khuyên tôi:
– Nếu có gì thắc mắc thì đến hỏi cha mù ấy, ngài mù nhưng lại thấy nhiều sự lắm. Mù mà thấy nhiều sự thì chẳng phải là mù. Tật nguyền đôi mắt không làm cản ngăn lối bước đi về chân lý. Hành trình cuộc đời là hành trình tìm về chân lý, nhưng chân lý lại không phải vật chất để đôi mắt có thể lý trông thấy, nên ánh mắt tâm hồn mới là đèn soi cho mọi khát khao kiếm tìm. Có đôi mắt sáng chưa hẳn là tìm được lối đi. Nhiều khi ta vẫn đi trong đêm tối tội lỗi với ánh mắt sáng ngời.

Đã bao năm, tôi vẫn tự hào mình có đôi mắt sáng, nay đối diện với vị linh mục mù này tôi mới thấy mình mù loà và cần ngài hướng dẫn, chỉ đường. Cuộc sống vẫn luôn có những nghịch lý thú vị.

Những ngày đầu gặp gỡ, tôi cảm thấy tội nghiệp và thương tâm cho Ngài. Những ngày sau chung sống, tiếp xúc và học hỏi, tôi lại thấy thương hại cho chính mình, vì mình có đôi mắt sáng mà chẳng thấy những gì cần thấy và đáng thấy. Trong khi vị mù này lại có thể thấy những điều từ đáy sâu thẳm của tâm hồn, thấy được ý nghĩa sâu xa của cuộc sống tâm linh và thân phận con người. Thấy Chúa trên cao. Thấy Chúa trong lòng cuộc sống. Thấy Chúa trong hạnh phúc cũng như trong từng nỗi đau.

Mù mà thấy nhiều sự quá!

Văn phòng của ngài ở ngay trong trường đại học của nhà dòng. Phải mất khoảng mười phút mới có thể tản bộ tới đó; phải băng qua hai con đường xe chạy tấp nập. Vậy mà ngài đã đi qua về lại trên con đường ấy suốt hai mươi năm qua không hề hấn gì. Tôi vẫn thích tản bộ tới trường với ngài mỗi buổi sáng trên con đường ấy. Ngài vẫn thích có ai đi bên cạnh để chuyện trò, níu vai, để khỏi phải quờ quạng chiếc gậy.
Có lần ngài nắm vai tôi vừa đi vừa nói: – Có cậu đi bên cạnh thì chiếc gậy mù này thất nghiệp!

Tôi cũng nhẹ nhàng đáp lại: – Vậy từ hôm nay con sẽ là cái gậy của cha mỗi sáng trên con đường này nhé. Trong thâm tâm, tôi không nghĩ mình giống chiếc gậy, nhưng giống những con chó đã được huấn luyện để dẫn dắt người mù. Công việc chút xíu như thế cũng có ích cho đời lắm chứ! Và mình lại thấy vui với ý tưởng đó.

Rồi quay lại với ngài tôi tiếp tục bông đùa: – Con thấy mình giống con chó dẫn dắt người mù hơn là chiếc gậy cha ạ, đời con bất tài nên làm công việc này chắc thích hợp đấy.
Ngài cũng tinh nghịch phản ứng: – Phải mất hai mươi lăm ngàn dollars mới huấn luyện được con chó đó, cậu có được bằng giá đó không?

Rồi cả hai cùng cười khúc khích, biết đùa với nhau là cả một món quà.
Sống với ngài được một tuần, ngài bắt đầu nhờ tôi chở đi làm lễ ở một giáo xứ vào mỗi sáng Chúa nhật. Lần đầu tiên ngài nói: – Ngày mai cậu chở cha đi làm lễ nhé!
– Thưa cha, nhà thờ ở đâu, có xa không? Tôi hỏi.
– Chừng ba mươi phút lái xe. Ngài đáp.
Tôi bắt đầu do dự. Đường sá chưa rành, tuyết phủ khắp nơi, chở người sáng mắt thì người ta còn chỉ đường, chứ chở người mù chắc dẫn nhau ra nghĩa địa quá! Trong đầu do dự, nhưng lại không muốn từ chối lòng tín nhiệm của ngài.
Rồi tôi hỏi: – Cha có bản đồ không?
– Hình như không. Ngài trả lời.
Hỏi xong tôi thấy mình ngớ ngẩn. Ngài đâu thấy đường đâu mà hỏi bản đồ, và nếu có bản đồ thì ngài cũng chẳng chỉ đường được. Tôi quay lại nói tiếp: – Nhưng mà con chưa biết đường!
– Lo gì! Cha sẽ chỉ cho. Ngài tự tin trả lời.
Tôi thấy nghi nghi trong lòng. Làm sao ngài biết đường? Nhưng rồi tôi cũng đánh liều nhận lời.

Ngày hôm sau, lấy chìa khoá và đề máy xe. Trong lòng run lắm. Ngày Chúa nhật trong nhà đi vắng cả nên chẳng kịp hỏi ai. Lòng nghĩ thầm, ông cha mù này liều quá, dám nhờ mình chở đi đường tuyết phủ ở nơi lạ lẫm thế này.

Đề máy xong, ngài chỉ đường bằng miệng: – Con ra khỏi cổng, quẹo trái; đến stop sign đầu tiên quẹo phải; qua hai đèn xanh đèn đỏ, quẹo phải, rồi vào xa lộ. Và cứ tiếp tục như thế… Tôi lái xe, ngài chỉ đường; qua bao con đường ngoằn ngoèo để đến nhà thờ. Tôi sửng sốt. Làm sao ngài có thể nhớ đường?

Rồi tôi tò mò hỏi: – Làm sao cha biết đường hay vậy?
– Cha có bản đồ. Ngài vừa cười vừa đáp.
– Sao cha nói với con là cha không có bản đồ. Tôi phản ứng.
– Bản đồ ở trong đầu. Ngài lại cười đùa giỡn.

Thì ra, người mù lại có một bản đồ thật chính xác trong đầu.
Giáo xứ ngài đến dâng lễ là một giáo xứ giàu. Ngôi thánh đường xây bằng gạch đỏ tươi trên một khu đất khá cao. Chung quanh là những khu nhà khá sang trọng, nên nó làm cho ngôi thánh đường thêm đẹp. Mùa đông không có những vườn cỏ, cây xanh hoa lá, nhưng nhìn cách chăm nom và trang trí khu vực thánh đường cũng đủ biết là dân có tiền nhiều. Có lần tôi tinh nghịch hỏi ngài: -Thưa cha, tại sao cha khấn khó nghèo mà cha lại đi giao du với dân giàu?

Ngài vui vẻ đáp lại: – Có người giàu vật chất, nhưng tâm linh nghèo lắm. Phải học biết chia sẻ thì tinh thần mới giàu. Vật chất là ơn huệ Chúa ban. Biết chia sẻ nó tức là đã sống tinh thần nghèo. Cũng như đôi mắt là ơn huệ. Biết nhìn nhau trong yêu thương là đã mở lối cho chân lý đi về.

Rồi một chiều lạnh giá tuyết phủ, ngài đến bên tôi nhẹ nhàng đề nghị: – Ngày mai con chở cha ra phi trường nhé!
– Cha đi đâu vậy? Tôi hỏi.
– Cha đi giảng tĩnh tâm cho một Giám mục. Ngài trả lời.
Tôi sửng sốt tròn xoe đôi mắt nhìn ngài. Hoá ra, ngài vẫn thường xuyên đi giảng tĩnh tâm cho các Giám mục và linh mục Hoa Kỳ ở nhiều giáo phận, vì thế sân bay đã trở nên quá quen thuộc đối với ngài. Sau chuyến đi này, sẽ có một Tổng Giám Mục Anh Giáo đến tại cộng đoàn này để xin ngài hướng dẫn cắm phòng. Vị Giám mục này vẫn đến đây hàng năm để xin kẻ mù này soi dẫn, và họ đã trở nên bạn thân với nhau suốt bao năm qua.

Tôi lặng im. Một xúc cảm mãnh liệt dâng trào. Lạ quá, Chúa vẫn làm phép lạ hàng ngày trong những hạnh phúc đan quyện nỗi đau, trong những lãnh nhận và trong từng mất mát. Ngài vẫn hiện hữu trong từng đôi mắt sáng và trong những ánh mắt mù lòa.

Làm sao có thể nghi ngờ về sự hiện hữu của Thượng đế khi tiếp xúc với những con người như vị linh mục mù này. Lòng tin của tôi thì yếu ớt, nhưng khi gặp Ngài, tâm hồn như được nung lên trong niềm tin. Tôi vẫn mãi suy tư, dưới một cái nhìn nào đó, Thiên Chúa đang dùng một người mù để hướng dẫn bao vị lãnh đạo mắt sáng.

Hôm sau, tôi tiễn ngài ra phi trường. Ngài ra đi và rồi đã trở lại như bao con người bình thường khác. Dù thế, tôi vẫn cảm thấy có cái gì đó thật phi thường trong những cái bình thường ấy. Phi thường của tình yêu, sức mạnh, của ân sủng, của tất cả những gì mà Thiên Chúa có thể làm được cho con người và qua con người, ngay cả trong những con người tàn tật nhất.

Sáu tháng ở Nebraska qua đi thật nhanh. Tôi phải chia tay ngài trong nuối tiếc, trong lòng kính trọng và yêu thương. Vẫn ước mong một ngày nào đó được ghé lại thăm ngài. Có lẽ lần tới khi trở lại, mình sẽ không còn hoang mang lo sợ như lần đầu mới đến, vì biết rằng nơi mảnh đất xa xôi đó, đang rực lên một tia sáng huyền nhiệm trong ánh mắt của một linh mục mù.

Nguyễn Thảo Nam

From: Anh Dang & KimBang Nguyen


 

ĐỜI ĐÁ, ĐỜI CÁT-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào Nước Trời!”.

“Julius Caesar chinh phục 800 thành phố, nhuộm cẩm bào bằng máu của một triệu kẻ thù; thế mà ngay sau chiến thắng vĩ đại nhất, Caesar bị đâm chết bởi những người bạn chí thiết! Thành công tạm thời thường đội vương miện cho những kẻ vô thần. Khi những thành tựu rực rỡ nhất không được nhìn thấy dưới ánh sáng vĩnh cửu, đặt nền móng trên Thiên Chúa ngàn năm bền vững, chúng chỉ kéo dài và có giá trị như bọt nước!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Cũng thế, niềm tin vào Thiên Chúa nếu không đặt nền móng trên Chúa Kitô, nó chỉ kéo dài và có giá trị như bọt nước. Nó phải thâm nhập trong trí, ấp ủ trong tim và thể hiện trong hành động. Lời Chúa hôm nay tiết lộ, ai xây dựng đời mình – ‘đời đá’ – trên Chúa Kitô, và thi hành ý muốn của Chúa Cha, “Người ấy mới được vào Nước Trời!”.

Để có thể đặt một nền móng kiên cố cho toà nhà đức tin, phải khổ công; đòi hỏi kiên định trong cầu nguyện, bền bỉ trong bác ái và miệt mài trong tự hiến; nó cũng đòi hỏi một sự khiêm tốn và một ý ngay lành. Bởi lẽ, chuẩn bị nền móng không bao giờ là một công việc hào nhoáng. Chẳng có gì đẹp đẽ với một hố sâu, hoang hoác, bì bõm bùn lầy tại công trường! Cũng thế, việc đào móng cho đời sống đức tin, rao giảng đức tin, buộc bạn và tôi phải xuống sâu, đối mặt với các tính hư nết xấu, loại bỏ những tội lỗi tồi tệ nhất. Quá trình này thường không mấy lý thú! Không có bước quyết định này, chúng ta có nguy cơ xây dựng và rao giảng đức tin đời mình, một ‘đời cát’ không hơn không kém!

Toà nhà có vẻ vững khi mọi sự xem ra bình lặng. Thời tiết tốt không nói hết độ chắc của nó; thách thức thực sự chỉ đến khi thiên nhiên trở nên hung hãn. Tương tự như thế, khi an bình bảo bọc, cuộc sống dễ dàng nở hoa; chính khi khủng hoảng ập xuống mới là lúc bạn nhận thức ‘độ cứng’ của đức tin mình. Vậy làm sao để có thể đối mặt với những cám dỗ, thất bại hay một khủng hoảng nghiêm trọng?

Câu trả lời ở đây: “Chúng ta có thành trì vững chắc: Chúa đã đặt tường trong luỹ ngoài để chở che” – bài đọc một. Tường luỹ đó chính là Chúa Kitô. “Chính nhờ Người, với Người và trong Người”, toà nhà đức tin của bạn và tôi, ‘lời của bạn và tôi’ mới đứng vững.

Anh Chị em,

“Chúng ta có thành trì vững chắc!”. “Thành trì vững chắc, đá tảng là Chúa Kitô. Lời của chúng ta có sức mạnh, ban sự sống, kiên cường, có thể chịu đựng bất kỳ cuộc tấn công nào nếu nó bắt nguồn từ Chúa Kitô!”. Tuy nhiên, “Một lời Kitô giáo mà gốc rễ mang lại sự sống không bắt nguồn từ Chúa Kitô là một lời Kitô giáo lừa dối, chúng chỉ gây hại!” – GK. Chesterton. “Khi những lời Kitô giáo thiếu Chúa Kitô, chúng bắt đầu đi vào con đường điên rồ, dẫn đến phù phiếm, tự tôn, kiêu hãnh và quyền lực. Chúa sẽ hạ bệ những người này!” – Phanxicô. Mùa Vọng, mùa “khởi sự lại với Chúa Kitô”, đặt móng trên Ngài. Theo cách này, bạn để cho Lời và Thánh Thần hướng dẫn trong mọi hành vi bác ái yêu thương; và như thế, xây đời mình, một ‘đời đá’ trên Đá Tảng Kitô, đời chúng ta không còn là ‘đời cát!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đội vương miện của kẻ vô thần vốn chỉ kéo dài như bọt nước – ‘đời cát’. Giúp con dựng xây đời con – một ‘đời đá’ – trên chính Chúa và nó sẽ ngàn năm bền vững!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

******************************

Thứ Năm Tuần I Mùa Vọng:

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là sẽ được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.

24 “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. 25 Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. 26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. 27 Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”. 


 

NIỀM VUI TRỞ VỀ – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Sắc áo tím của Phụng vụ mùa Chay có thể làm nhiều người hiểu mùa Vọng là thời gian khổ chế.  Ngược lại, mùa Vọng là mùa của niềm vui.  Niềm vui vì Chúa sắp đến.  Niềm vui vì ta được trở về với Ngài.

Mặc dù xuất phát ở những bối cảnh khác nhau, các Bài đọc Kinh Thánh đều diễn tả niềm vui.  Trước hết đó là niềm vui mà ngôn sứ Ba-rúc đã loan báo.  Ông kêu gọi dân cư Giê-ru-sa-lem hãy cởi bỏ tang chế, và mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu.  Các chuyên viên Kinh Thánh đều kết luận sách ngôn sứ Ba-rúc được viết vào khoảng từ năm 582-550, tức là vào cuối thời lưu đày của người Do Thái tại Ba-bi-lon.  Giống như ngôn sứ I-sai-a, ngôn sứ Ba-rúc loan báo ngày Thiên Chúa sẽ giải phóng dân Ngài.  Ngài sẽ dẫn đưa họ về quê cha đất tổ.  Đất nước của họ sẽ trở lại tươi sáng như xưa.  Giê-ru-sa-lem sẽ sầm uất kẻ đến người đi.  Đô thành Hòa Bình này sẽ phủ bóng rừng xanh với muôn loài sản vật.

Niềm vui ngôn sứ Ba-rúc loan báo đã được thực hiện vào năm 539.  Vua Ky-rô, người Ba Tư đã ký sắc lệnh cho người Do Thái hồi hương.  Họ tin Ky-rô là người Thiên Chúa sai đến giải phóng dân Ngài.  Thánh vịnh 125 được đọc trong phần Đáp ca diễn tả niềm vui vỡ òa của dân tộc.  Bao năm tha hương, nay họ trở về quê cha đất tổ.  Nhiều người tưởng chừng như đang ngủ mơ.

Thiên Chúa luôn dẫn chúng ta trên con đường trở về với Ngài.  Sám hối canh tân chính là điều kiện cần thiết để chúng ta tìm được niềm vui trong cuộc sống cũng như trong tâm hồn.  Ông Gio-an Tẩy giả xuất hiện từ hoang địa.  Ông là một sứ giả đến loan báo niềm vui mà dân Do Thái bao đời mong đợi: Đấng Thiên sai sắp đến.  Sống cách thời điểm này quá xa về thời gian và không gian, chúng ta không cảm nhận được niềm vui của người Do Thái trước lời loan báo Đấng Thiên sai sắp đến.  Về bối cảnh xã hội, lúc đó dân đang bị ách Rô-ma cai trị.  Về khía cạnh tôn giáo, lời cầu nguyện xin Chúa gửi Đấng Thiên sai luôn luôn vang vọng trong các buổi đọc Kinh Thánh.  Vì thế, dân chúng đông đảo đến nghe ông Gio-an rao giảng, và sẵn sàng cúi mình xuống để xin ông làm phép rửa trong dòng sông Gio-đan.

Người Ki-tô hữu cần cảm nhận được niềm vui trong đức tin.  Chúng ta vui vì có Chúa đang ở với chúng ta.  Đức Ki-tô đã hứa với các môn đệ: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.”  Vì vậy, lời loan báo của ngôn sứ Ba-rúc và thánh Gio-an Tẩy giả vẫn luôn mang tính thời sự đối với chúng ta.  Chúa Giê-su đã đến trong lịch sử, cách đây hơn hai ngàn năm.  Hiện tại, Người hiện diện giữa chúng ta một cách huyền nhiệm linh thiêng.  Vào cuối cùng của thời gian, Người sẽ đến trong vinh quang “để phán xét kẻ sống và kẻ chết” như chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin kính.  Ki-tô hữu là người luôn tỉnh thức và đợi chờ biến cố Chúa Giê-su tái lâm, tức là đến lần thứ hai trong vinh quang.  Người vừa hiện diện giữa chúng ta, vừa dường như vắng bóng trong cuộc đời.  Bởi lẽ sự hiện diện của Chúa là linh thiêng và huyền nhiệm.

“Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.  Mọi thung lũng phải lấp cho đầu; mọi núi đồi phải bạt cho thấp; khúc quanh co phải uốn cho ngay; đường lồi lõm phải san cho phẳng.”  Những gì ông Gio-an Tẩy giả khuyên người Do Thái năm xưa, vẫn đang giúp chúng ta nhìn lại bản thân để xét mình trước mặt Chúa.  Trong nội tâm chúng ta, vẫn còn đó những đồi cao của kiêu ngạo; thung lũng của yếu đuối; quanh co của mưu đồ.  Để đón Chúa đến trong tâm hồn, cần phải sám hối canh tân và buông bỏ những gì là bất xứng.

Niềm vui xuất phát từ tình yêu mến.  Đó là điều thánh Phao-lô đã cảm nhận, như ông tâm sự với giáo dân thành Phi-líp-phê.  Những tín hữu của cộng đoàn này yêu mến ông Phao-lô và điều đó, tạo cho ông niềm vui thân thương.  Ông cũng yêu mến họ và vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho họ.  Ông đã viết: “Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình yêu thương của Đức Ki-tô Giê-su.  Điều tôi khẩn khoản nài xin là cho lòng mến của anh em ngày càng thêm dồi dào… để nhận ra cái gì là tốt hơn.”  Theo thánh Phao-lô, khi sống với nhau bằng tình yêu mến, chúng ta sẽ tiến xa trong sự hiểu biết Thiên Chúa và hiểu biết nhau.  Như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận ý Chúa và cùng nhau xây dựng một thế giới an bình.

Niềm vui của mùa Vọng là niềm vui trở về.  Như dân Do Thái hồi hương sau những năm dài sống nơi lưu đày, chúng ta được trở về với Chúa, để được gặp Ngài và nhờ đó được tiến triển trong tình yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchietim


 

Hoàng Nguyễn đắc cử dân biểu, trở thành nhà lập pháp gốc Việt đầu tiên của Utah

Ba’o Nguoi-Viet

December 4, 2024

SALT LAKE CITY, Utah (NV) – Cộng đồng Việt Nam tại tiểu bang Utah vừa có một sự kiện lịch sử xảy ra trong cuộc bầu cử vừa qua, đó là lần đầu tiên có một nhà lập pháp người Mỹ gốc Việt tại Quốc Hội. Người đó là bà Hoàng Nguyễn, vừa đắc cử dân biểu tiểu bang đại diện Địa Hạt 23.

Theo ASAM News hôm 29 Tháng Mười Một, đây là lần đầu bà ứng cử, và con đường chính trị của bà có nhiều điểm rất đáng chú ý.

Bà Hoàng Nguyễn, dân biểu đắc cử đại diện Địa Hạt 23, Hạ Viện Utah. (Hình: Hoang for House)

Bà Hoàng sinh ra ở Việt Nam, sau đó cùng gia đình vượt biên đến Hoa Kỳ tị nạn. Bây giờ, bà là người Mỹ gốc Việt và là người tị nạn đầu tiên trở thành nhà lập pháp của Utah, chứng minh sự kiên trì của bản thân và sự thèm khát có đại diện của cộng đồng.

Theo bà chia sẻ trên trang web vận động tranh cử, vị dân biểu đắc cử này sinh ra ở Việt Nam, sau đó cùng gia đình vượt biên đến Hoa Kỳ tị nạn năm 1983. Ngay khi đến nước Mỹ, cha bà bị giết trong một vụ cướp. Mẹ bà phải bươn chải nuôi bảy người con trong lúc bị trở ngại ngôn ngữ, tuy nhiên, cả gia đình cũng vượt qua được khó khăn.

Bà đắc cử vì muốn có công bằng và hiểu rõ những khó khăn của các cộng đồng thiểu số. Là chủ doanh nghiệp nhỏ, bà vận động các nhà lập pháp đưa ra những chính sách giảm nhiều trở ngại và tạo cơ hội công bằng cho doanh nghiệp nhỏ. Kinh nghiệm này đưa bà vào chính trường và còn giúp bà có cách nhìn về chính sách tập trung vào việc rút ngắn cách biệt trong xã hội và đấu tranh cho thay đổi có ý nghĩa.

Là một thành viên đảng Dân Chủ ở tiểu bang Utah đa số Cộng Hòa, bà phải đối mặt với nhiều khó khăn để thông qua những chính sách quan trọng, nhưng đã chứng minh khả năng sử dụng những hệ thống chính trị phức tạp và muốn đấu tranh cho công bằng qua cách vận động, cũng như tiếp xúc với cộng đồng.

Các chính sách mà bà muốn đưa ra tập trung vào cải cách giáo dục, bảo vệ môi trường và tạo ra công bằng trong kinh tế. Những chính sách đó bắt nguồn từ sự hiểu biết cộng đồng và tìm được sự đồng cảm từ nhiều cử tri cho rằng bà sẽ là tiếng nói mang lại nhiều thay đổi tích cực, giúp bà chiến thắng áp đảo trong cuộc tranh cử, thu được đến 71% phiếu.

Nhật báo The Daily Utah Chronicle cho biết bà đắc cử vào lúc tiểu bang Utah có những chính sách làm giảm đại diện và đa văn hóa trong giáo dục. Trong một bài xã luận gửi đến nhật báo The Salt Lake Tribune, bà Hoàng Nguyễn cho hay bà từng nhận được nhiều lợi ích từ học bổng bảo vệ sự đa văn hóa, và luôn ủng hộ việc mở rộng giáo dục công bằng.

Sau khi đắc cử, bà chia sẻ lý do ra tranh cử: “Tôi tranh cử vì nhiều người có nguồn gốc như tôi ít khi nào được giữ chức vụ này. Tôi may mắn lắm mới làm được điều đó.”

Theo bà, đây là cơ hội cho những người không được chú ý đến trong tiến trình lập pháp. Việc bà đắc cử không chỉ là một bước ngoặt cho người Mỹ gốc Việt ở Utah, mà còn là sự thay đổi về tính đa dạng chính trị của tiểu bang này.

Bà Hoàng Nguyễn là đối tác quản trị Sapa Investments và là giám đốc điều hành Holding Dragons khi công ty thành lập năm 2019. Tháng Ba, 2023, bà tạm ngưng công việc điều hành doanh nghiệp để tập trung vận động tranh cử.

Bà có bằng cử nhân và bằng cao học kinh doanh đại học University of Utah. (TL) [đ.d.]


 

Học hỏi từ Nhật Bản sau 1945: Con đường dẫn tới tự do, dân chủ và thịnh vượng cho Việt Nam

Bao Tieng Dan

Vũ Đức Khanh

4-12-2024

  1. Một bài học từ lịch sử

Năm 1945, Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối nhất lịch sử sau thất bại trong Thế chiến II. Đất nước bị tàn phá, kinh tế sụp đổ, và người dân chìm trong cảnh đói nghèo. Tuy nhiên, chỉ trong vài thập niên, Nhật Bản đã trỗi dậy thành một cường quốc kinh tế và nền dân chủ kiểu mẫu. Thành công ấy đến từ đâu? Từ sự khiêm nhường đối diện với sai lầm quá khứ, sự quyết liệt trong cải cách và sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ.

Câu chuyện Nhật Bản đặt ra một câu hỏi lớn cho Việt Nam hôm nay: Chúng ta có thể học được gì để vượt qua những thách thức hiện tại, hướng tới một tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng?

  1. Tình trạng hiện nay: Một thực trạng đáng lo ngại
  2. Sự trì trệ của thể chế

Gần 50 năm sau ngày thống nhất, Việt Nam vẫn duy trì một hệ thống chính trị tập trung quyền lực vào một đảng duy nhất. Điều này đã dẫn đến những hạn chế nghiêm trọng trong quản trị quốc gia: tham nhũng tràn lan, thiếu minh bạch, và bất công xã hội.

  1. Bẫy lệ thuộc

Quan hệ đối ngoại của Việt Nam, thay vì cân bằng và đa dạng, lại quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Điều này không chỉ đe dọa chủ quyền quốc gia mà còn khiến Việt Nam bị cô lập trên trường quốc tế.

  1. Một dân tộc đang mất niềm tin

Người dân ngày càng mất niềm tin vào khả năng của hệ thống chính trị hiện tại trong việc đáp ứng những khát vọng cơ bản: tự do, công bằng và cơ hội phát triển.

III. Bài học từ Nhật Bản: Cải cách là con đường sống còn

Nhật Bản sau 1945 đã thực hiện ba bước đột phá lớn:

  1. Xây dựng một nền dân chủ thực sự

Với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Nhật Bản ban hành Hiến pháp 1947, đảm bảo quyền lực thuộc về người dân, thượng tôn pháp luật và tam quyền phân lập.

  1. Cải cách kinh tế toàn diện

Từ một nền kinh tế chiến tranh, Nhật Bản chuyển sang kinh tế thị trường hiện đại, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân và phát triển giáo dục đại chúng.

  1. Chính sách đối ngoại độc lập và hòa bình

Nhật Bản từ bỏ chủ nghĩa quân phiệt, cam kết hòa bình và hợp tác quốc tế dựa trên luật pháp toàn cầu.

Những cải cách này không chỉ đưa Nhật Bản ra khỏi bóng tối mà còn biến họ thành một hình mẫu thành công.

  1. Một con đường cho Việt Nam: Hòa giải và cải cách toàn diện
  2. Thay đổi tư duy lãnh đạo

Giống như Nhật Bản, Việt Nam cần đối mặt với sai lầm quá khứ bằng sự khiêm nhường và cầu thị. Đổi mới phải bắt đầu từ việc thay đổi tư duy lãnh đạo:

– Chấp nhận rằng hệ thống hiện tại đã lỗi thời.

– Nhìn nhận rằng quyền lực thực sự phải thuộc về nhân dân.

  1. Hòa giải dân tộc

Một Việt Nam thống nhất không chỉ là sự thống nhất lãnh thổ, mà còn là thống nhất lòng người. Chúng ta cần:

– Chấm dứt mọi sự phân biệt đối xử với những người từng phục vụ thời Việt Nam Cộng Hòa.

– Tôn vinh mọi đóng góp của người dân ở cả hai miền Nam-Bắc trong công cuộc xây dựng đất nước.

– Tạo không gian cho đối thoại quốc gia, nơi mọi ý kiến được lắng nghe và tôn trọng.

  1. Cải cách chính trị

– Ban hành một Hiến pháp mới với nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân.

– Thành lập cơ chế tam quyền phân lập để đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình.

– Thúc đẩy tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền lập hội.

  1. Cải cách kinh tế

– Chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường thực sự, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân và bảo vệ quyền sở hữu cá nhân.

– Đầu tư vào giáo dục và công nghệ để chuẩn bị nguồn nhân lực cho kỷ nguyên số.

  1. Chính sách đối ngoại độc lập

Thay vì “đa phương hóa, đa dạng hóa,” Việt Nam cần một chính sách ngoại giao độc lập dựa trên các giá trị phổ quát và luật pháp quốc tế. Chúng ta phải:

– Phát triển quan hệ đối tác chiến lược với các nước dân chủ như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU.

– Đặt Việt Nam vào trung tâm của các sáng kiến toàn cầu về hòa bình, thương mại tự do và phát triển bền vững.

  1. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay?

Thế hệ lãnh đạo hôm nay đứng trước một ngã rẽ lịch sử. Họ có thể tiếp tục bảo vệ hiện trạng, chấp nhận sự tụt hậu, hoặc họ có thể trở thành những người mở đường cho một Việt Nam tự do, dân chủ và thịnh vượng.

Nhật Bản đã làm được. Hàn Quốc đã làm được. Đài Loan đã làm được. Vậy tại sao Việt Nam không thể?

Thay đổi không phải là sự phá hủy quá khứ, mà là sự tiếp nối và cải thiện. Hãy biến những sai lầm của thế hệ trước thành bài học, và để thế hệ tương lai tự hào rằng chúng ta đã dũng cảm chọn con đường đúng đắn.

Tương lai đang chờ đợi chúng ta. Hãy cùng nhau mở cánh cửa ấy!


 

Nhân sinh như mộng

ĐẸP và HAY

Ta đã đi hơn quá nửa cuộc đời

Và đã qua một cái thời tuổi trẻ

Nhiệt huyết, đam mê, tình yêu, sức khỏe…

Đã không còn có thể được như xưa.

 

Ta bây giờ như hạt nắng sau mưa

Không chói chang như buổi trưa oi ả

Mà nhạt nhòa như ráng chiều mùa hạ

Đang nhẹ nhàng ,thong thả đón hoàng hôn.

 

Hơn nửa đời người chạy đáo chạy đôn

Đến lúc này cũng chân chồn, gối mỏi

Bao khát khao từng tan vào sương khói

Để lại gì ,ngoài tiếc nuối trong ta ?.

 

Ta giờ đây bước sang tuổi chớm già

Thường trầm tư bên tách trà ngẫm nghĩ

Cũng có một gia đình mà trân quý

Và cũng còn đây những khổ lụy muộn phiền.

 

Tuổi này rồi ta chỉ muốn an yên

Không muốn ganh đua, chẳng muốn phiền ai cả

Có đôi lúc những đúng, sai, thật, giả

Bản thân mình cũng không quá quan tâm.

 

Tuổi trẻ ta từng có những sai lầm

Từng trải qua bao thăng trầm, vinh ,nhục

Giờ chỉ muốn chút bình an, hạnh phúc

Bên gia đình cho đến lúc lìa xa.

 

Đôi lúc ta muốn tìm lại chính ta

Sống đúng là mình khi tuổi già đang chớm

Cuộc sống bon chen, quanh năm bận rộn

Cứ từng ngày ngốn hết cả thời gian.

 

Những ước mơ vừa mới nở đã tàn

Bao khát vọng cũng tan bởi ngàn vướng bận

Bởi trách nhiệm nên phải đành chấp nhận

Cơm, áo, gạo, tiền, cứ luẩn quẩn quanh ta.

 

Ngồi ngẫm về những việc đã trải qua

Lúc mỉm cười, lúc xót xa tặc lưỡi

Một đời trải bươn, để rồi sau cuối

Có được những gì khi tuổi đã chênh vênh ?

CHỚM GIÀ

– Nhẫn AV –

#ĐẹpvàHay


 

 Ernest Hemingway- Dịch bởi LiliPham

 Ernest Hemingway từng nói: “Bạn không thể cứu bất kỳ ai. Bạn chỉ có thể đứng bên cạnh họ, trao đi sự hiện diện, sự ổn định và bình yên của chính mình. Bạn có thể chia sẻ hành trình, bài học và góc nhìn yêu thương của mình. Nhưng nỗi đau là của họ, con đường là của họ, và câu trả lời cũng phải là của họ. Dù bạn quan tâm đến đâu, bạn không thể che chắn họ khỏi khó khăn hay buộc họ nhìn ra ánh sáng khi họ chưa sẵn sàng.”

Điều bạn có thể làm là trở thành nơi nương tựa trong giông bão của họ. Sự vững vàng của bạn có thể nhắc nhở rằng bình yên vẫn hiện hữu, ngay giữa hỗn loạn. Sự hiện diện của bạn có thể giúp họ cảm nhận rằng họ không đơn độc. Nhưng việc chữa lành? Đó là hành trình của riêng họ. Sự thay đổi thực sự chỉ đến từ bên trong. Bạn không thể gánh thay nỗi đau của họ, vì như thế sẽ lấy đi sức mạnh và sự trưởng thành mà họ có được từ chính thử thách của mình.

Yêu thương một người trong nỗi đau của họ là tôn trọng hành trình của họ, dù đôi khi khó lòng chứng kiến. Đó là giữ khoảng cách đúng mực, không kiểm soát kết quả, và tin rằng họ đủ mạnh mẽ để tìm thấy con đường riêng. Bạn có thể động viên, chia sẻ và cảm thông, nhưng sự trưởng thành của họ cần đến những quyết định, những lần vấp ngã, và cả những bước đột phá từ chính họ.

Sẽ có lúc bạn cảm thấy bất lực trước nỗi đau của người khác, nhưng hãy nhớ: vai trò của bạn không phải là sửa chữa họ. Vai trò của bạn là yêu thương, hỗ trợ, và tin tưởng họ. Đôi khi, tình yêu lớn nhất là biết lùi lại, buông bỏ mong muốn can thiệp, và tin rằng họ sẽ tìm ra ánh sáng – ngay cả khi con đường của họ khác xa những gì bạn hình dung.

Khi buông bỏ áp lực phải cứu giúp, bạn giải thoát cho cả bản thân lẫn họ. Bạn trao cho họ cơ hội đối mặt và trưởng thành, còn bạn giữ được năng lượng để làm chỗ dựa bình yên thay vì cạn kiệt trong cố gắng vô ích.

Vậy nên, hãy hiện diện. Hãy tử tế. Hãy cảm thông. Nhưng cũng hãy hiểu rằng trưởng thành, chữa lành và bình yên là điều họ phải tự mình giành lấy. Món quà quý giá nhất bạn có thể trao là sự cân bằng, ánh sáng và niềm tin rằng họ đủ sức vượt qua. Bởi vì họ có thể. Và khi làm được, sức mạnh đó sẽ càng ý nghĩa hơn bởi nó đến từ chính họ.

Bạn đã học được gì từ việc để người khác tự bước đi trên hành trình của họ?

Nguồn bài và ảnh: Matrixeducation

Dịch bởi LiliPham

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

Này tôi đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng tôi và mở cửa, tôi sẽ vào nhà người ấy, (Kh 3:20)

Một ngày tràn đầy tình yêu và hơi ấm của Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 4 T1MV: 4/12/2024 

TIN MỪNG: ĐỨC CHÚA các đạo binh là Thiên Chúa của Ít-ra-en phán: Hãy cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này. (Gr 7:3)

SUY NIỆM: Một bức ảnh nổi tiếng của nghệ sĩ William Holman Hunt (1827-1910), người Anh được nhiều người dùng để làm tâm điểm cho  những buổi chiêm niệm cầu nguyện. Bức hình mô tả Chúa Giê-su đang đứng bên ngoài gõ trên một cách cửa không có tay cầm. Nó chỉ có thể mở ra được ở bên trong. Điều này muốn nhắc nhở bạn rằng vì yêu thương bạn nên Chúa kiên nhẫn đứng chờ để bạn mở cửa lòng ra để cho Chúa vào. Trong con tim của Chúa, Ngài không muốn gì hơn là bạn được ở với Ngài mãi mãi. Ngài sẵn sàng chấp nhận mọi sự, ngoài trừ tội lỗi, để thoả mãn nỗi khát khao của lòng bạn. NHƯNG! Bạn phải chọn Chúa, phải mở cánh cửa tâm hồn đóng kín, mở cánh cửa tâm trí ngoan cố để mời Chúa vào, và hết lòng cậy trông vào Chúa để được hạnh phúc ở đời này và đời sau.

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Này tôi đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng tôi và mở cửa, tôi sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa tối với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với tôi.” (Kh 3:20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Xin ban cho con một trí khôn để con nhận biết Chúa, một trái tim để con yêu mến Chúa, một đức khôn ngoan để biết tìm ra Chúa, một tác phong biết làm vui lòng Chúa, một dạ trung thành bền bỉ biết chờ đợi Chúa, và một lòng hy vọng cuối cùng được ôm lấy Chúa. (Thánh Tôma Aquinô)

THỰC HÀNH: Phong cách, tác phong, lối sống của bạn có làm Chúa vui lòng không? Hãy cải thiện lối sống và hành động của bạn qua việc dọn mình đi xưng tội Mùa Vọng nhé.

From: Do Dzung

****************************

Chúa Chờ Con Dưới Mưa (Sáng Tác: Thiên Phúc) – Angelo Band

Nữ văn sĩ Quỳnh Dao qua đời

Tổng hợp báo chí Việt Đài

Tiểu thuyết gia lãng mạn Đài Loan Quỳnh Dao qua đời ở tuổi 86. Ảnh: Weibo/@会火

Nhà văn lãng mạn người Đài Loan Quỳnh Dao đã qua đời ở tuổi 86.

Bà đã tự tử tại nhà riêng ở Đạm Thủy, thành phố Tân Bắc, vào ngày 4 tháng 12, truyền thông Đài Loan đưa tin.

Năm 2017, bà cũng từng đăng công khai bức thư dặn dò con cháu. Cụ thể, bà muốn được thực hiện “quyền được chết” và mong muốn người nhà không đăng cáo phó, không làm lễ truy điệu, không lập linh đường, không đốt vàng mã, không làm giỗ, không cúng bái tiết Thanh Minh.

Quỳnh Dao kết hôn hai lần và có con trai với người chồng thứ nhất. Quỳnh Dao và ông Bình Hâm Đào – người chồng thứ hai nhưng không có con chung.

Trong bức thư tuyệt mệnh, tác giả của bộ phim Hoàn Châu Cách Cách , được chuyển thể thành phim truyền hình năm 1998 và đưa các diễn viên chính Triệu Vy, Lâm Tâm Như và Phạm Băng Băng trở thành những ngôi sao lớn, được cho là đã viết rằng bà muốn kiểm soát thời điểm và cách mình chết thay vì chịu đựng sự yếu đuối đi kèm với tuổi già và “phó mặc cho số phận”.

“Tôi là ‘tia lửa’ và tôi đã cháy hết mình. Bây giờ, trước khi ngọn lửa tắt, tôi chọn cách này để về nhà một cách thanh thản.”

Phạm Băng Băng vào vai Kim Túc trong bộ phim truyền hình chuyển thể từ tiểu thuyết Hoàn Châu cách cách của Trương Nghệ Mưu. Ảnh: Weibo/@怜疚
Phạm Băng Băng vào vai Kim Túc trong bộ phim truyền hình chuyển thể từ tiểu thuyết Hoàn Châu cách cách của Trương Nghệ Mưu. Ảnh: Weibo/@怜疚

Trong bài đăng trên Facebook một ngày trước sinh nhật của mình vào tháng 4 năm nay, Quỳnh Dao viết rằng đang nghĩ đến việc ngừng sử dụng trang mạng xã hội này vì cô đang phải trải qua nhiều bệnh tật về thể chất. Tuần trước, bà đã quay lại trực tuyến để dành hai bài đăng cho người chồng quá cố của mình, nhà xuất bản và nhà sản xuất người Đài Loan Ping Hsin-tao, người đã qua đời vì bệnh vào năm 2019. Họ đã kết hôn được 40 năm.

Chiung Yao và chồng Ping Hsin-tao. Ảnh: Facebook/@Chiung Yao.
Chiung Yao và chồng Ping Hsin-tao. Ảnh: Facebook/@Chiung Yao.

“Tốt hơn là quay lại,” cô than thở trong một bài đăng dài đính kèm với một đoạn video ghép ảnh cũ của họ bên nhau. “Em nhớ anh nhiều biết bao, cả tốt lẫn xấu!”

Cả hai là một cặp đôi quyền lực trong giới văn học, với Ping xuất bản nhiều tiểu thuyết lãng mạn của Chiung thông qua công ty Crown Publishing của anh. Cặp đôi này cũng đã cùng nhau chuyển thể tiểu thuyết của Chiung thành phim truyền hình và phim điện ảnh, thường đảm nhận vai trò nhà sản xuất hoặc biên kịch, như họ đã làm với My Fair Princess .

Ping bị đột quỵ vào năm 2016 và được chẩn đoán mắc chứng mất trí nhớ do mạch máu nghẽn. Theo Chiung, ông muốn chết một cách đàng hoàng, nhưng các con ông nhất quyết đặt nội khí quản cho ông, dẫn đến bất hòa giữa họ.

Chiung Yao thời trẻ trong một bức ảnh không đề ngày tháng. Ảnh; Tài liệu phát tay
Quynh Dao thời trẻ trong một bức ảnh không đề ngày tháng. Ảnh; Tài liệu phát tay

Quỳnh Dao, tên thật là Trần Triệt, sinh ra tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc vào năm 1938. Gia đình bà chuyển đến Đài Loan sau cuộc Cách mạng Cộng sản năm 1949, nơi bà lớn lên.

Tiểu thuyết đầu tay của bà, Outside the Window, được xuất bản vào năm 1963, khi bà 25 tuổi, và được chuyển thể thành phim vào năm 1973 với sự tham gia của Lâm Thanh Hà , một trong số nhiều ngôi sao điện ảnh nổi tiếng đã có sự nghiệp ban đầu nhờ những cuốn sách của Trương Chiêu.

Quỳnh Dao đã viết tổng cộng 65 cuốn tiểu thuyết, và “lãng mạn theo phong cách Quỳnh Dao” có nghĩa là những chuyện tình cảm động và đan xen bi kịch.

Trong một thời gian dài, các học giả dán nhãn các tác phẩm của bà là “thoát ly, quá kịch tính và làm chẩy nước mắt”, Phó Giáo sư Lin Peiyin, Trưởng khoa Trung văn tại Đại học Hồng Kông, cho biết. Nhưng tác phẩm của bà vẫn tiếp tục gây được tiếng vang với độc giả và ý nghĩa xã hội học của việc lưu hành và tiêu thụ tác phẩm của bà hiện đã được công nhận, bà nói thêm.

Bởi vì bà nói về tình yêu, nên sách của bà có tính phổ quát

Lei Chin-pang, giảng viên văn học và nghiên cứu văn hóa

Là một trong những tác giả tiếng Hoa bán chạy nhất thế giới, ảnh hưởng của bà đối với cả văn học đại chúng và văn hóa đại chúng là “cực kỳ quan trọng“, Lei Chin-pang, giảng viên văn học và nghiên cứu văn hóa tại Đại học Giáo dục Hong Kong, cho biết….

Ngoài Outside the Window , nhiều tiểu thuyết khác của bà đã được chuyển thể thành phim và phim truyền hình vào những năm 1970 ở Đài Loan và được trình chiếu rộng rãi ở Hồng Kông và các cộng đồng nói tiếng Hoa khác. “Vì bà ấy nói về tình yêu, nên sách của bà ấy có tính phổ quát”, Lei nói.

Brigitte Lin, người đóng vai chính trong bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết đầu tay của Chiung, nhận giải thành tựu trọn đời tại Giải thưởng Kim Mã lần thứ 60 ở Đài Bắc, Đài Loan, vào năm 2023. Ảnh: CNA
Brigitte Lin, người đóng vai chính trong bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết đầu tay của Chiung, nhận giải thành tựu trọn đời tại Giải thưởng Kim Mã lần thứ 60 ở Đài Bắc, Đài Loan, vào năm 2023. Ảnh: CNA

Đối với một nhà văn, bà đã tham gia một cách khác thường vào quá trình chuyển thể tác phẩm của mình và thậm chí còn viết lời cho các bài hát chủ đề, chẳng hạn như “Fantasies Behind the Pearly Curtain” năm 1975. Người soạn nhạc là nhạc sĩ người Đài Loan Liu Chia-chang, người cũng đã qua đời vào tuần này.

Ở Trung Quốc đại lục, những câu chuyện tình yêu dịu dàng của bà được coi là làn gió mới, đặc biệt là sau khi tiểu thuyết của bà lần đầu tiên được xuất bản tại đó vào năm 1985, Lin cho biết.

“Mặc dù tác phẩm của Quỳnh Dao không phải là tiên phong, nhưng nó là một thành phần quan trọng của nền văn hóa đại chúng ‘mềm mại’ của Hồng Kông-Đài Loan, được đón nhận nồng nhiệt vào thời điểm đó [ở đại lục] là ‘hiện đại’ và ‘thời thượng’. Nhưng đồng thời, có lẽ hơi nghịch lý, tác phẩm của bà lại lấy cảm hứng từ văn học cổ điển Trung Quốc.”

Nhà văn Quỳnh Dao qua đời: Hành trình khép lại của "bà hoàng ngôn tình" Trung Quốc - Ảnh 2.

Quỳnh Dao từng bày tỏ di nguyện không muốn tổ chức bất kỳ nghi thức tang lễ nào khi bà qua đời

Trong số các tác phẩm của Quỳnh Dao, một số người cho rằng những tác phẩm ban đầu của bà đa phần khám phá cuộc sống, bản chất con người, tình yêu, cuộc sống và các khía cạnh khác, trong khi ở giai đoạn sau, bà tập trung vào sự kết hợp giữa kinh doanh và văn chương. Tất nhiên, đây là sự thay đổi do thời đại. Quỳnh Dao cũng đã thay đổi cách tư duy sáng tạo để đáp ứng xu hướng thời đại.

Tiểu thuyết, tác phẩm điện ảnh và truyền hình của Quỳnh Dao và Quỳnh Dao cuối cùng sẽ là một phần quan trọng trong lịch sử văn hóa và nghệ thuật Trung Hoa, và sẽ trở thành một huyền thoại khó có thể lãng quên.

Các nền tảng mạng xã hội Trung Quốc tràn ngập những lời tri ân từ người hâm mộ và người nổi tiếng.

 Trên Weibo, phiên bản X của Trung Quốc, nam diễn viên Đài Loan Alec Su, người đóng vai chính trong các bộ phim chuyển thể của My Fair Princess và Romance in the Rain , đã viết: “Anh từng nói, ‘Em như một tia lửa, bùng cháy với đam mê, và một ngày nào đó em sẽ trở thành một bông tuyết, lặng lẽ rơi xuống.’ Bây giờ em đã duyên dáng trở về, để lại một kho báu vĩnh cửu của thời đại.” Bài đăng của anh đã nhận được hơn 36.000 lượt thích trong vòng hai giờ.

Cuộc cạnh tranh CHIP AI tới hồi gay cấn: Cerebas đang vượt lên qua mặt NVDIA

Tổng Hợp Báo Kỹ Thuật Hoa Kỳ

Công ty khởi nghiệp  Cerebras Systems đã phát triển bộ xử lý có kích thước chỉ bằng cỡ máy tính bảng iPad, nó được gọi là Wafer Scale Engine.

Hôm 27 tháng 8, 2024 , họ đã công bố một dịch vụ cho phép khách hàng sử dụng chip của mình cho các chương trình AI của công ty. Sự khác biệt chính là công nghệ của họ có thể chạy các chương trình AI nhanh hơn tới 20 lần nhưng với chi phí chỉ bằng một phần năm so với GPU H100 của hãng Nvidia.

Được gọi là Cerebras Inference, dịch vụ này đề cập đến khả năng tạo dữ liệu mới của chương trình AI, như dự đoán từ tiếp theo trong khi viết một đoạn văn bản. Cerebras cho biết nền tảng riêng của họ là “giải pháp suy luận AI nhanh nhất trên thế giới”. Để chứng minh điều này, công ty đang sử dụng chip Wafer Scale Engine để cung cấp năng lượng cho mô hình ngôn ngữ lớn mã nguồn mở Llama 3.1 của Meta. Kết quả có thể làm cho Llama 3.1 cung cấp câu trả lời dường như không có độ trễ.

Công cụ quy mô wafer 3

Wafer Scale Engine, hình của hãng Cerebas System

Cụ thể, Cerebras cho biết chip của họ có thể chạy phiên bản tham số 8 tỷ của Llama 3.1 để tạo ra 1.800 mã thông báo mỗi giây, với mỗi mã thông báo đại diện cho khoảng bốn ký tự bằng tiếng Anh. Nói cách khác, chương trình AI có thể tạo ra một bài báo dài 1.300 từ trong một giây.

Trong khi đó, các chip tương tự cũng có thể chạy phiên bản tham số 70 tỷ mạnh hơn của Llama 3.1 để tạo ra 450 mã thông báo mỗi giây. Trong cả hai điểm chuẩn, Cerebras tuyên bố công nghệ của họ vượt xa hiệu suất mã thông báo mỗi giây của các nhà cung cấp đám mây AI, bao gồm AWS của Amazon, Microsoft Azure và Groq.

Cerebras đã xây dựng chip Wafer Scale Engine của mình bằng TSMC của Đài Loan, nhà sản xuất chip hợp đồng đứng sau GPU AI của Nvidia. Vào tháng 3, Cerebras đã giới thiệu chip thế hệ thứ ba, WSE-3, tự hào có 4 nghìn tỷ bóng bán dẫn, cùng với 900.000 lõi AI.

 

Tạp Chí Forbes nhận định:

Trong thế giới kinh doanh, khả năng chạy suy luận với tốc độ chưa từng có mở ra những cơ hội mới cho việc phân tích và ra quyết định theo thời gian thực.

Các công ty có thể triển khai các hệ thống AI phân tích xu hướng thị trường, hành vi của khách hàng và dữ liệu hoạt động trong thời gian thực, cho phép họ phản ứng với những thay đổi trên thị trường một cách nhanh nhẹn và chính xác. Điều này có thể dẫn đến một làn sóng chiến lược kinh doanh dựa trên AI mới, với các công ty tận dụng thông tin chi tiết theo thời gian thực để đạt được lợi thế cạnh tranh.

Tạp Chí Motley 

 Cerebras nhỏ hơn nhiều so với Nvidia. Năm 2023, Cerebras báo cáo doanh thu 78,7 triệu USD – tăng 220% so với cùng kỳ năm ngoái. Hơn nữa, công ty đã tạo ra doanh thu 136 triệu đô la trong sáu tháng đầu năm 2024.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng này rất ấn tượng, nhưng công ty không ở gần quy mô và quy mô của Nvidia. Trên hết, gần 90% doanh thu của Cerebras bắt nguồn từ một khách hàng.

Nó cho thấy rằng mặc dù kiến trúc WSE có rất nhiều tiềm năng, nhưng chưa nhất thiết đạt được nhiều chú ý. Về lâu dài, tôi nghĩ rằng các công ty có thể quan tâm đến việc áp dụng các thiết kế chip mới khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tiếp tục tăng trong những năm tới. Nhưng hiện tại, tôi không thấy khách hàng Nvidia lũ lượt rời đi qua đêm để thử một loại chip tương đối mới và có phần nào rủi ro.

Tạp Chí The Register – Ghi Danh Số

Tính khả dụng của WSE Chip


Tương tự như Groq, Cerebras có kế hoạch cung cấp dịch vụ suy luận thông qua API tương thích với OpenAI. Ưu điểm của phương pháp này là các nhà phát triển đã xây dựng ứng dụng xung quanh GPT-4, Claude, Mistral hoặc các mô hình đám mây khác không phải cấu trúc lại mã của họ để kết hợp dịch vụ suy luận của Cerebra.

Về chi phí, Cerebras cũng đang hạ giá so với các đối thủ cạnh tranh, hãng cung cấp Llama3-70B với mức giá 60 xu cho một triệu mã thông báo. Và, nếu bạn thắc mắc, thì đó là giả sử tỷ lệ đầu vào so với đầu ra là 3:1.

Để so sánh, Cerebras tính chi phí phục vụ cùng một mô hình trên H100 trên các đám mây cạnh tranh là 2,90 đô la/triệu mã thông báo. Tuy nhiên, như thường lệ với suy luận AI, có rất nhiều nút và đòn bẩy để xoay tác động trực tiếp đến chi phí và hiệu suất phục vụ một mô hình, vì vậy hãy xem xét kỹ các tuyên bố của Cerebra.

Tuy nhiên, không giống như Groq, Feldman cho biết Cerebras sẽ tiếp tục cung cấp các hệ thống tại chỗ cho một số khách hàng nhất định, chẳng hạn như những khách hàng hoạt động trong các ngành được quản lý chặt chẽ trong nhà.

Mặc dù Cerebras có thể có lợi thế về hiệu suất so với các máy gia tốc cạnh tranh, nhưng dịch vụ cung cấp vẫn còn hạn chế về các mô hình được hỗ trợ. Khi ra mắt, Cerebras hỗ trợ cả phiên bản tám và 70 tỷ tham số của Llama 3.1. Tuy nhiên, công ty khởi nghiệp này có kế hoạch bổ sung hỗ trợ cho 405B, Mistral Large 2, Command R+, Whisper, Perplexity Sonar cũng như các mô hình được tinh chỉnh tùy chỉnh. ®

Đàm Vĩnh Hưng Rút Đơn Kiện Tỉ Phú Công Nghệ Gerard Richard Williams III

Ba’o Dat Viet

December 4, 2024

Ngày 3/12 thông qua văn phòng truyền thông Grace Media Consultant Group, tỉ phú công nghệ Gerard Richard Williams III chính thức xác nhận rằng phía ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng đã rút đơn kiện chống lại ông, chỉ một ngày trước đó.

Theo thông cáo báo chí được gởi ra bởi Grace Media, từ tháng 7.2024, phía Đàm Vĩnh Hưng đã bắt đầu đưa ra các yêu cầu bồi thường đối với tỉ phú Gerard. Đến tháng 10.2024, ca sĩ này quyết định nộp đơn khởi kiện ông lên tòa thượng thẩm California. Tuy nhiên, sự kiện này không chỉ đơn thuần là một vụ kiện dân sự mà còn hé lộ nhiều câu chuyện bên lề gây chú ý.

Mọi chuyện bắt đầu từ một tai nạn xảy ra tại nhà riêng của tỉ phú Gerard vào tháng 2.2024. Khi tham gia một sự kiện tại đây, Đàm Vĩnh Hưng bị thương do mảnh vỡ từ đài phun nước rơi trúng chân. Sau gần 9 tháng, anh quyết định khởi kiện và yêu cầu chủ nhà bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, vào ngày 26.11, một đoạn clip từ buổi tiệc được tung lên mạng xã hội đã khiến dư luận bất ngờ. Video cho thấy nam ca sĩ  vừa ca hát vừa nhảy múa, thậm chí leo lên phần mâm của đài phun nước. Cảnh tượng này đã tạo nên nhiều ý kiến trái chiều, đặt ra nghi vấn về trách nhiệm trong vụ việc.

Tỉ phú công nghệ Gerard, sau khi nhận được đơn kiện, cho biết ông cảm thấy “sốc và thất vọng”. Đội ngũ luật sư của ông nhanh chóng thu thập bằng chứng để phản bác cáo buộc. Đáng chú ý, ông Gerard cũng nộp đơn kiện ngược lại Đàm Vĩnh Hưng, yêu cầu bồi thường thiệt hại vì đài phun nước bị hư hỏng.

Tuy nhiên, mức bồi thường mà tỉ phú Gerard đưa ra lại khiến nhiều người ngạc nhiên: chỉ 1 USD, kèm theo một lời xin lỗi công khai từ Đàm Vĩnh Hưng nếu ông thắng kiện. Đây được xem như một hành động thể hiện quan điểm hơn là vì vấn đề tài chính.

Đến ngày 2.12, phía Đàm Vĩnh Hưng bất ngờ rút đơn kiện. Quyết định này được đưa ra chỉ vài ngày sau khi đoạn video té ngã tại nhà ông Gerard, có sự xuất hiện của ca sĩ Bích Tuyền, lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội.

Cùng thời điểm, Đàm Vĩnh Hưng đăng tải một tâm thư trên trang cá nhân, chia sẻ về những áp lực mà anh đang phải đối mặt. Nam ca sĩ bày tỏ mong muốn nhận được sự cảm thông từ khán giả và thấu hiểu những khó khăn anh đang trải qua.

Theo một luật sư tại California, việc rút đơn kiện dân sự thường sẽ giúp nguyên đơn tránh được việc phải trả án phí và các khoản phí tổn cho đội ngũ luật sư. Tuy nhiên, nếu tòa xác định đơn kiện ngược của tỉ phú Gerard được nộp trước, vụ việc có thể vẫn tiếp tục theo hướng mới.