“Bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa” hay là bảo vệ chế độ “thực dân nội địa”?-Truơng Nhân Tuấn

Ba’o Tieng Dan

29/09/2026

Truơng Nhân Tuấn

Dân Việt Nam xưa nay đều hiểu “tổ quốc” theo nghĩa rất giản dị: “Tổ” là tổ tiên, “quốc” là đất nước. Tổ quốc là “đất của tổ tiên”.

Khi khái niệm “quốc gia” ra đời, “tổ quốc”, ngoài ý nghĩa là một vùng lãnh thổ do tổ tiên để lại, còn mang một ý nghĩa tình cảm sâu xa: Sự gắn bó giữa những con người cùng chia sẻ một không gian sống, một – lịch sử và những giá trị văn hóa. Đối với mỗi người, tổ quốc là nơi chốn thân thuộc, nơi mình có nguồn gốc, nơi nuôi dưỡng tâm hồn và tình cảm. Sách Lịch sử

Cho đến khi ông Hồ mang chủ nghĩa Mác-Lê nin vào Việt Nam, diễn ngôn

 chính trị chính thống của VN về “tổ quốc” là “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Chưa chắc ai đã hiểu nội hàm của cụm từ này là gì, nhưng nó được định vị như một chân lý thiêng liêng tuyệt đối, bất khả xâm phạm. Từ đó mỗi đứa học trò đều được dạy rằng “yêu tổ quốc là yêu chủ nghĩa xã hội” và việc “bảo vệ tổ quốc” trở thành việc “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”.

Khái niệm này có lúc còn mở rộng ra thành “bảo vệ thành trì xã hội chủ nghĩa”. Rốt cục việc “bảo vệ chủ nghĩa xã hội” trở thành việc “bảo vệ chế độ”. Tội lớn nhứt (án chung thân tới tử hình) là tội “chống chế độ xã hội chủ nghĩa” và “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Vấn đề là khi đối chiếu khẩu hiệu này với bức tranh phân bổ tài sản, quyền lực và cơ chế vận hành xã hội trong thực tế, một nghịch lý cay đắng hiện ra: Phải chăng lời kêu gọi “bảo vệ Tổ quốc XHCN” thực chất đang bị lợi dụng để bảo vệ quyền lợi cho một tầng lớp thống trị mang đầy đủ đặc tính của một chế độ “thực dân nội địa”?

  1. Bằng việc gắn thêm đuôi “xã hội chủ nghĩa” và thể chế hóa quyền cai trị tuyệt đối (tiêu biểu như Điều 4 Hiến pháp), bộ máy cầm quyền đã thực hiện một cú “tráo bài ba lá” để hoán đổi bản chất: Đánh đồng “Tổ quốc” với “Chế độ” và nhặp nhằng “Chế độ” với “Đảng cầm quyền”.

Qua thủ thuật “tráo bài ba lá” này, bất kỳ hành vi chất vấn hay phản biện nào của ngườ idaan đối với sai lầm của bộ máy công quyền đều dễ dàng bị quy chụp là “phản bội Tổ quốc” hoặc “xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Quyền tự quyết chính trị của hơn 100 triệu người dân bị tước đoạt hoàn toàn vì họ chưa từng có cơ hội bỏ phiếu lựa chọn thể chế qua một cuộc bầu cử tự do và cạnh tranh thực chất. Có khi nào người dân bỏ phiếu cho phép “đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội”? Chưa bao giờ cả. Nhân danh “Tổ quốc”, quyền lực đã bị biến thành tài sản riêng của một nhóm người.

  1. Sự bóc lột mang hình thái “thực dân nội địa”: Khái niệm “thực dân nội địa” (internal colonialism) mô tả tình trạng một nhóm chóp bu thống trị ngay bên trong quốc gia sử dụng bộ máy quyền lực để ăn cướp tài nguyên và bóc lột của cải và sức lao động phần còn lại của xã hội. Thực tiễn kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay cho ta thấy điều này:

Dữ liệu cho thấy nhóm 1% dân số giàu nhứt nước đang thâu tóm từ 26% đến 30% tổng tài sản quốc gia, trong khi 50% dân số ở đáy chỉ sở hữu dưới 10%. Đáng chú ý, sự giàu lên của nhóm thiểu số này hiếm khi xuất phát từ phát minh công nghệ hay giá trị gia tăng sản xuất, mà chủ yếu nhờ đầu cơ đất đai, chiếm dụng địa tô và khai thác tài nguyên công. Người ta nói nhiều về hiện tượng “móc ngoặc” này và gọi nó là hiện tượng “tư bản thân hữu – crony capitalism”.

Phát triển Quốc gia (Cách dịch này không đúng cho Việt Nam vì Việt Nam vừa không có chủ nghĩa tư bản chân chính vừa không có vụ “thân hữu”. Mỗi hợp đồng quan chức nhà nước ký với tài phiệt nước ngoài – đặc biệt về mua sắp quốc phòng, y tế hay công nghệ – thì hoá đơn “lại quả” rất là lớn. Còn khi cán bộ nhà nước ký giao đất đai cho tài phiệt nội địa khai thác thì mức “ăn chia” có thể lên tới 10% đến 20%). Tôi gọi đây là mối quan hệ “đồng ký sinh”, giữa tài phiệt và giới nắm quyền lực (để hút cạn kiệt sinh khí quốc gia).

  1. Thử nhận diện cơ chế “đồng ký sinh” với hiện tượng bòn rút nhiều lớp: Trong khi hàng loạt tập đoàn nhà nước thua lỗ hàng chục ngàn tỉ đồng và ngân sách thất thoát bởi các “đại án” tham nhũng ngàn tỉ, vì những con “ký sinh trùng”, thì gánh nặng tài chánh lại được trút ngược lên vai thường dân qua chánh sách thuế “vặt lông vịt” (thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, giá xăng dầu cõng tầng tầng lớp lớp phí…). Đỉnh điểm của sự suy đồi là trong đại dịch Covid-19, cả một nội các chính phủ là những tên tội phạm, bằng những cỗ máy “ăn trên xác chết và nỗi sợ của đồng bào” mang tên “chuyến bay giải cứu” hay “test kit Việt Á”…

Người dân đến nay ai cũng thấy rõ hiện tượng giai cấp càng có nhiều đặc quyền thì con đường đi đến công lý càng xa vời. Trong xã hội định hình dần dần một giai cấp thống trị mới với tư duy trịch thượng “biết bố mày là ai không?”. Xã hội dầy dẫy bất công bởi vì pháp luật chỉ áp dụng một cách bất đối xứng: Khoan hồng đối với người trong hệ thống (kiểu vợ chồng bộ trưởng say xỉn lái BMW ngược đường tông chết người và gốc cây 55), nhưng cán bộ thi hành luật lại độc ác và vô lương đối với dân thường khi họ đòi quyền lợi đất đai hay kế sinh nhai.

  1. Khi so sánh với thời kỳ thực dân Pháp, nhiều người nhận ra một nghịch lý: Dù chế độ thực dân cũ vô cùng tàn bạo về mặt áp bức dân tộc, nhưng họ không thiết lập được mạng lưới kiểm soát toàn diện và thâm sâu như cỗ máy toàn trị hiện đại. Nghiên cứu Dân tộc Thực dân Pháp cai trị dựa trên ưu thế chủng tộc, nhưng họ không tạo ra chính sách “xét lý lịch ba đời” để tước đoạt cơ hội học tập, việc làm của nhiều thế hệ con cháu phía bên kia chiến tuyến như giai đoạn sau năm 1975. Các chiến dịch tịch thu tài sản, đánh tư sản và xua đuổi hàng trăm ngàn gia đình vào nơi rừng thiên nước độc để làm “kinh tế mới” đã xé nát cấu trúc sở hữu tư nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc căn bản của con người.

Dưới ách thực dân, người dân không bị án tù khi họ nói lên sự thật. Dưới thời hiện đại, các điều luật mang tính khái niệm mơ hồ như Điều 117 hay Điều 331 Bộ luật Hình sự trở thành chiếc vòng kim cô treo lơ lửng trên đầu mọi tiếng nói độc lập. Người dân không chỉ bị tước quyền tự do ngôn luận, mà bất kỳ ai dám nói lên sự thật trái tai đều có thể đối mặt với những bản án tù nặng nề mà không cần phải có hành vi bạo lực nào.

Nỗi đau đớn cùng cực của người dân Việt Nam không dừng lại ở thể xác hay vật chất, mà nằm ở sự xúc phạm nhân phẩm. Nếu người dân Việt Nam dưới chế độ thực dân có ý thức rõ ràng mình là nô lệ bị áp bức, thì ngày nay, xã hội lại bị ép buộc họ phải liên tục “ơn đảng, ơn nhà nước”, tức mang ơn những kẻ đã bóc lột họ tận xương tuỷ. Tiền thuế của nhân dân không biết từ khi nào lại biến thành những “ân huệ” do bên cai trị ban phát.

  1. Kết luận: “Bảo vệ Tổ quốc” là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân khi giang sơn bị đe dọa bởi ngoại xâm. Nhưng khi khái niệm “Tổ quốc” bị gắn liền với “Xã hội chủ nghĩa” để phục vụ cho mục tiêu duy trì quyền lực độc tôn, thì việc “bảo vệ tổ quốc” trở thành một tấm bình phong bao che ý thức hệ. Mua sách triết học

Kêu gọi bảo vệ một “Tổ quốc”, nơi quyền làm chủ của đa số bị tước đoạt, nơi tài nguyên bị rút ruột bởi các nhóm lợi ích “cộng ký sinh”, và là nơi mà sự thật bị bóp nghẹt bằng ngục tù… thực chất là kêu gọi nhân dân tiếp tục cúc cung bảo vệ một chế độ thực dân nội địa đang thống trị mọi thứ để “vặt lông vịt” mọi nguồn lực của nhân dân.

Nhận diện rõ bản chất của cấu trúc “thực dân nội địa” này là bước đi đầu tiên để trả khái niệm Tổ quốc về đúng với ý nghĩa thiêng liêng nguyên bản của nó: Tổ quốc của Nhân dân, do Nhân dân và vì sự tự do đích thực của Con người.


 

Được xem 2 lần, bởi 2 Bạn Đọc trong ngày hôm nay