Việt Nam ‘thay đổi chiến thuật’ trong vụ bắt blogger Hồng Lê Thọ?

Việt Nam ‘thay đổi chiến thuật’ trong vụ bắt blogger Hồng Lê Thọ?

Blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một trong những thành viên sáng lập Mạng lưới Blogger Việt Nam

Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một trong những thành viên sáng lập Mạng lưới Blogger Việt Nam

VOA Tiếng Việt

02.12.2014

Các nhà quan sát từ trong nước cho rằng Việt Nam dường như đang thay đổi cách thức bắt giữ những người có tiếng nói trái chiều với chính quyền, sau vụ tạm giữ blogger Hồng Lê Thọ.

Ông Thọ bị bắt hôm 29/11, và theo thông báo đăng tải trên trang web của Bộ Công an Việt Nam, “cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt quả tang” blogger này “theo tin tố giác của quần chúng”.

Chưa rõ ai là người “tố giác” ông Thọ và ông bị “bắt quả tang”ra sao.

Mạng lưới Blogger Việt Nam hôm qua, 1/12, đã lên tiếng phản đối vụ bắt giữ này, và cho rằng việc “mượn ‘tin tố giác của quần chúng’ để xâm phạm nhà riêng, khám xét và tạm giữ hình sự blogger Hồng Lê Thọ là vi phạm trắng trợn Hiến pháp Việt Nam, vi phạm Công ước nhân quyền của Liên hiệp quốc, chà đạp thô bạo quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của người dân”.

Blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một trong các thành viên sáng lập mạng lưới này, nói:

“Cái cách bắt giữ bây giờ không phải là bắt khẩn cấp nữa mà là theo tin tố giác của quần chúng, rồi nó không đọc lệnh bắt khẩn cấp mà là tạm giữ hình sự. Cách bắt giữ này nó khá khác so với lệnh bắt giữ các blogger khác. Tôi nghĩ rằng cái việc sử dụng tin tố giác quần chúng nó là một cách mượn lý do, lại càng mơ hồ hơn điều 258 của Bộ Luật hình sự, và nó cho thấy sự tùy tiện trong việc sử dụng luật pháp để bảo vệ uy tín của đảng và nhà nước”

Blogger còn được biết tới với tên Mẹ Nấm cho biết thêm rằng trước vụ bắt ông Hồng Lê Thọ, bà đã bị chính quyền “mời lên làm việc” vì trang Facebook của bà “bị tố giác là xấu và cơ quan an ninh điều tra phải làm việc” với bà.

Theo Bộ Công an Việt Nam, ông Thọ, chủ trang blog “Người lót gạch”, bị bắt theo điều 258 Bộ luật Hình sự “vì đăng tải các bài viết trên mạng Internet có nội dung xấu, thông tin sai lệch”, nhưng không nói cụ thể về các cáo buộc này.

Bà Quỳnh cho biết lý do vì sao Mạng lưới Blogger Việt Nam lên tiếng:

“Mục tiêu của Mạng lưới Blogger Việt Nam, ngay từ đầu, đó là phản đối điều 258 Bộ luật Hình sự, điều luật tùy tiện, và mơ hồ dùng để bắt những người bất đồng chính kiến khi sử dụng mạng xã hội để bày tỏ một cách ôn hòa. Vì vậy, chuyện bắt blogger Hồng Lê Thọ cũng nằm trong mục tiêu tranh đấu về tự do ngôn luận của Mạng lưới Blogger Việt Nam nên chúng tôi lên tiếng. Chúng tôi sẽ có những hành động tiếp theo để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của blogger nói chung và blogger Hồng Lê Thọ nói riêng”.

Bà Quỳnh cho biết bà “không hy vọng” sẽ có sự hồi đáp từ chính quyền Việt Nam, nhưng bà mong chờ các đại sứ quán và tổ chức quốc tế sử dụng áp lực ngoại giao để đòi Hà Nội phải có câu trả lời. Tin cho hay, blogger Thọ có quốc tịch Nhật.

Dù thông tin về vụ bắt giữ đã được công bố trên trang web của Bộ Công an, không rõ lý do vì sao báo chí Việt Nam chưa đăng tải thông tin về vụ bắt giữ ông Thọ.

Trang blog ‘Người lót gạch’ tổng hợp tin tức, bài viết của nhiều tác giả, tương tự như một trang khác là ‘Anh ba sàm’. Người chủ trang này, ông Nguyễn Hữu Vinh, trước đó cũng đã bị bắt.

Hàng chục ngàn vụ phá rừng, chỉ 10 vụ được xử

Hàng chục ngàn vụ phá rừng, chỉ 10 vụ được xử

Nguoi-viet.com

VIỆT NAM (NV)Rừng ở Việt Nam đang bị khai thác cạn kiệt lan tràn, song số vụ xử phạt xâm hại rừng vẫn vô cùng ít ỏi.

Tờ Lao Ðộng cho biết, các vụ phá rừng không chỉ chặt hết gỗ quý, săn bắt động vật hoang dã, đào bới khai khoáng mà còn chiếm đất rừng để chuyển sang các mục đích sử dụng khác, vụ lợi cá nhân…


Hiện trường vụ phá rừng tại huyện Phước Sơn chỉ xử lý cho có. (Hình: báo Lao Ðộng)

Ðó là một trong những nội dung “làm nóng” hội nghị tổng kết công tác quản lý và bảo vệ rừng năm 2014 do Tổng Cục Kiểm Lâm, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tổ chức tại Ðà Nẵng ngày 1 tháng 12.

Theo Tổng Cục Kiểm Lâm Việt Nam, chỉ trong 10 tháng đầu năm 2014, cả nước có trên 21,000 vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng. Tuy nhiên chỉ có 195 vụ được đưa ra xử lý hình sự. Và trong số 195 vụ đó, cũng chỉ 10 vụ được đưa ra xét xử, chiếm 5%.

Vẫn theo Tổng Cục Kiểm Lâm, có đến 2,000 vụ phá rừng trái phép với diện tích trên 600 hecta; 10,345 vụ vi phạm lâm luật về khai thác, chế biến vận chuyển và mua bán trái phép gỗ rừng, tịch thu trên 22,600 m3 gỗ; gần 400 vụ vi phạm về quản lý, mua bán vận chuyển tiêu thụ động vật hoang dã với trên 5,000 các thể động vật bị xâm hại…

Ông Ðỗ Trọng Kim, phó tổng cục trưởng Cục Lâm Nghiệp, cho biết, việc khai thác lâm sản trái phép vẫn diễn ra ở những nơi còn nhiều diện tích rừng tự nhiên, còn nhiều gỗ thương mại cao; những vùng rừng giáp ranh giữa các địa phương. Các “điểm nóng” là Ðắk Nông, Ðắk Lắk, Quảng Nam, Quảng Bình, Sơn La, Bắc Cạn… với nhiều vụ phá rừng phòng hộ, rừng sản xuất để chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng.

Ngoài việc lâm tặc đốn hạ gỗ quý, buôn bán động vật hoang dã, phá rừng để khai khoáng,… tình hình phá rừng để lấy đất trồng rừng, trồng cây công nghiệp hoặc để chiếm dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đang diễn biến phức tạp tại các địa phương.

Ông Hà Công Tuấn, thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cho biết, dù đã có nhiều tiến bộ, số vụ vi phạm lâm luật giảm, song diện tích và lâm sản bị triệt hạ, buôn bán lại gia tăng.

Ðặc biệt là các vụ việc chiếm đất rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng diễn ra ở các lâm phận, các nông trường, các chính quyền cơ sở được nhà nước giao đất để quản lý xảy ra khá gay gắt thời gian qua, nhất là ở các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước. Số vụ chống người thi hành công vụ, ngăn cản lực lương chức năng… diễn ra nhiều, phức tạp và tồn đọng kéo dài. (Tr.N)

Campuchia trục xuất người Thượng theo yêu cầu của Việt Nam

Campuchia trục xuất người Thượng theo yêu cầu của Việt Nam

Nguoi-viet.com

PHNOM PENH (NV) .- Ông Nguon Koeun, một thiếu tướng cảnh sát của Campuchia vừa cho biết sẽ đáp ứng yêu cầu của Việt Nam, trục xuất những người thiểu số đang lánh nạn ở Campuchia.

Một khu tái định cư cho những người thiểu số bị mất nhà, mất đất vì các dự án thủy điện ở Tây Nguyên. Phần lớn những khu tái định cư này bị bỏ hoang vì chất lượng quá tồi tệ, dân chúng không chịu ở. (Hình: Lao Động)

Việt Nam đã gửi một danh sách ghi tên 16 người thiểu số, cư trú tại Tây Nguyên, tháng trước đã chạy sang Campuchia lánh nạn và đề nghị Campuchia bắt giữ, trục xuất những người thiểu số này. Báo chí Campuchia cho biết, cả 16 người đang tạm trú tại vùng Lumphat, thuộc tỉnh Ratanakkiri. Một tỉnh nằm ở phía Bắc Campuchia.

Tuy tuyên bố sẽ thực hiện yêu cầu của Việt Nam, song tướng Koeun phủ nhận thông tin cho rằng, cảnh sát Campuchia đã bắt giữ 16 người thiểu số này.

Trước thông tin vừa kể, bà Vivian Tan, một nhân viên của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tại Campuchia, cho biết, UNHCR đang làm việc với  chính quyền Campuchia để xác định 16 người mà Việt Nam đề nghị Campuchia trục xuất có hội đủ điều kiện để được xem là người tỵ nạn hay không.

Theo bà Tan, UNHCR đã khuyến cáo Campuchia khoan trục xuất những người này vì có thể họ sẽ gặp nguy hiểm khi bị trả về Việt Nam. Tướng Sok Phal, nhân vật đứng đầu Văn phòng Di trú của Bộ Nội vụ Campuchia, vừa khẳng định, chỉ chính phủ Campuchia mới quyết định 16 người thiểu số vừa kể có phải là người tỵ nạn hay không.

Xưa nay, Campuchia vẫn là nơi mà nhiều người thiểu số ở Tây Nguyên chạy sang lánh nạn khi bị chế độ Hà Nội đàn áp vì không chịu từ bỏ niềm tin tôn giáo của họ và tranh đấu đòi quyền sống.

Các nghiên cứu của một số chuyên gia khoa học xã hội tại Việt Nam nhiều lần khẳng định, những sắc tộc bản địa ở Tây Nguyên không còn không gian sinh tồn riêng và rất nghèo khổ vì bị tước đoạt đất đai. Nam ngoái, một báo cáo của Ủy ban Dân tộc thuộc nhà cầm quyền CSVN xác nhận, tại Tây Nguyên hiện có hơn 20,000 gia đình thiếu cả đất để ở lẫn đất canh tác.

Người thiểu số ở Tây Nguyên đã nổi dậy hai lần. Ngoài lần đầu tiên vào năm 2001 và sau đó có hàng ngàn người vượt biên sang Cambodia xin tị nạn chính trị, họ còn đồng loạt nổi dậy thêm một lần nữa vào tháng 4 năm 2004.

Hiệp hội người thiểu số Việt Nam tại Hoa Kỳ đã nhiều lần lên tiếng tố cáo về việc nhà cầm quyền CSVN đang giam giữ từ vài trăm đến hàng ngàn người thiểu số tham gia các cuộc nổi dậy này. Đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp để những tù nhân đó không “chết dần, chết mòn” trong tù.

Tuy chế độ Hà Nội đã đề ra nhiều chính sách, kế hoạch để ngăn chặn, hóa giải bất ổn song các chuyên gia nhận định, những chính sách, kế hoạch đó “chồng chéo, phân tán, không phù hợp với đặc điểm của từng sắc tộc”. Nguồn lực đầu tư phát triển từ các chính sách, kế hoạch mang tầm vóc quốc gia khi xuống đến các địa phương chỉ còn là những công việc “vụn vặt” để lấy “thành tích”.

Năm ngoái, Bộ Công an CSVN đã dùng các vụ nổi loạn của người thiểu số ở vùng Tây Bắc Việt Nam và Tây Nguyên để vận động Ủy ban Thường vụ của Quốc hội gia tăng đầu tư cho cảnh sát cơ động – lực lượng vũ trang của công an, chuyên thực hiện nhiệm vụ trấn áp.

Ngoài trang bị cá nhân, hơn hẳn quân nhân, năm ngoái, cảnh sát cơ động được trang bị thêm cả B.40, xe bọc thép. Qua “Pháp lệnh Cảnh sát cơ động”, Ủy ban Thường vụ của Quốc hội CSVN còn cho phép lực lượng này mua phi cơ, tàu thủy và “nổ súng trấn áp bạo loạn, tụ tập đông người phá rối an ninh”. (G.Đ)

Tổng thống Đài Loan thôi lãnh đạo đảng

Tổng thống Đài Loan thôi lãnh đạo đảng

BBC

Ông Mã Anh Cửu rời phòng phiếu sau bầu cử địa phương ở Đài Loan hôm 30/11

Quốc Dân Đảng có thất bại lớn nhất trong lịch sử hôm 29/11

Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu sẽ từ chức Chủ tịch đảng Quốc Dân Đảng sau thất bại thảm hại trong bầu cử địa phương hôm thứ Bảy, theo truyền thông Đài Loan.

Ông Mã được cho là sẽ thông báo quyết định tại cuộc họp của ban chấp hành trung ương đảng vào ngày mai, 3/12/2014.

Trong bầu cử địa phương lớn nhất trong lịch sử Đài Loan, Quốc Dân Đảng ̣(KMT), vốn thân với Bắc Kinh, đã mất hơn một nửa số vị trí thị trưởng trong đó có cả chức thị trưởng Đài Bắc, địa hạt truyền thống của Quốc Dân Đảng.

Phe Dân Tiến Đảng (DPP) đối lập đã chiến thắng tại 13 trong tổng số 22 thành phố lớn nhất ở Đài Loan.

Tại Đài Bắc, ứng viên của Dân Tiến Đảng, ông Kha Văn Triết đắc cử vào chức đô trưởng.

Đối thủ của ông Kha là ứng viên Quốc Dân Đảng, Liên Thắng Văn (Sean Lien), con trai cựu thủ tướng Liên Chiến, đã chỉ được có 17 điểm dù Đài Bắc từng là “thành trì’ của Quốc Dân Đảng.

Thắng lợi vang dội

Tại các thành phố lớn khác của Đài Loan, phe Dân Tiến Đảng cũng thắng cử vang dội.

Đảng Dân Tiến từng có xu hướng độc lập nay nắm cả Đài Trung mà tân thị trưởng là Lâm Gia Long sau khi các ứng viên của họ cũng tái đắc cử ở Đài Nam và Cao Hùng.

Ở hai đô thị này, Dân Tiến Đảng giành 73 và 69 phần trăm phiếu.

Ông Lâm Gia Long thuộc Dân Tiến Đảng thắng cử tại Đài Trung

Hôm thứ Hai, toàn bộ nội các Quốc Dân Đảng của Thủ tướng Giang Nghi Hoa đã từ chức theo sau thất bại lớn nhất trong bầu cử địa phương của Quốc Dân Đảng ở Đài Loan.

Các nhà bình luận cho rằng dù đây chỉ là cuộc bầu cử cấp địa phương, mọi chỉ dấu cho thấy sự thay đổi tâm lý xã hội Đài Loan chưa đầy một năm trước cuộc bầu cử tổng thống.

Sau nhiệm kỳ nhiều vấn đề của Tổng thống Trần Thủy Biển, người bị tù vì tội biển thủ công quỹ, Dân Tiến Đảng đã thay đổi nhân sự và phục hồi mạnh mẽ.

Ngược lại, Quốc Dân Đảng có vẻ rơi vào khủng hoảng nặng hơn cả các chỉ dấu bề ngoài biểu lộ.

Chẳng hạn tại Đào Nguyên, thành phố phía Bắc, ứng viên Quốc Dân Đảng dẫn 20 điểm trong các cuộc điều tra dư luận trước ngày đầu phiếu nhưng cuối cùng đã thua.

Di sản của ông Mã̉ Anh Cửu hiện được đánh giá tồi tệ ở cả hai mặt.

Một là chính sách hòa hoãn với Trung Quốc. Tuy được Bắc Kinh và Washington hoan nghênh, lại gây phản ứng khác nhau từ nhiều giới.

Việc mở cửa thị trường cho Trung Quốc đầu tư khiến không ít doanh nghiệp Đài Loan lo ngại và bị phong trào Hoa Hướng Dương của sinh viên phản đối.

Các cuộc chiếm nghị viện của sinh viên đã thu hút sự chú ý của dư luận châu Á.

Đài Loan là xứ sở duy nhất thuộc khu vực văn hóa Trung Hoa có bầu cử tự do

Gần đây, để tỏ ra độc lập hơn với Trung Quốc, ông Mã Anh Cửu đã lên tiếng ủng hộ phong trào đòi dân chủ ở Hong Kong nhưng với nhiều người Đài Loan, ông vẫn có tiếng là thân Trung Quốc.

Hai bên Trung Quốc và Đài Loan đã ký một loạt thỏa thuận mậu dịch quan trọng năm 2010 nhằm thông thương kinh tế.

Tuy nhiên, hiện nay việc đưa nhiều thỏa thuận đó vào thực hiện đang bị dư luận và viện lập pháp ngăn lại.

Một số điều tra dư luận ở Đài Loan nói người dân ủng hộ hòa hoãn với Trung Quốc về chính trị nhưng tin rằng chỉ các doanh nhân Đài đầu tư vào lục địa là nhóm được hưởng lợi nhất từ thỏa thuận mậu dịch.

Ngoài ra, chính sách hòa hoãn cũng không được Bắc Kinh đáp trả nồng hậu và hy vọng về cuộc gặp của Mã Anh Cửu với Chủ tịch Tập Cận Bình tại APEC Bắc Kinh đã không thành hiện thực.

Nay, có vẻ như vị thế của bà Thái Anh Văn, chủ tịch Dân Tiến Đảng đang tăng lên cùng cơ hội tranh cử tổng thống năm 2016.

Có tên chính thức là Trung Hoa Dân Quốc, Đài Loan là nơi duy nhất thuộc khu vực văn hóa Trung Hoa có bầu cử hoàn toàn tự do, dân chủ.

Câu hỏi về biệt thự cựu Chủ tịch Hà Nội

Câu hỏi về biệt thự cựu Chủ tịch Hà Nội

BBC

Các báo Việt Nam đặt câu hỏi về căn nhà của ông Hoàng Văn Nghiên

Báo trong nước tiếp tục đặt câu hỏi về việc thành phố Hà Nội không thu hồi nhà của cựu Chủ tịch UBND sau tám năm tranh cãi.

Biệt thự số 12 Nguyễn Chế Nghĩa được ông Hoàng Văn Nghiên, Chủ tịch UBND TP Hà Nội giai đoạn 1994-2004, thuê từ năm 2001.

Tranh cãi phát sinh từ năm 2006 khi một loạt tờ báo cho rằng ông Nghiên phải trả lại nhà sau khi thôi chức vì đây là nhà công vụ.

Trong diễn biến mới nhất, ngày 1/12, Sở Xây dựng Hà Nội nói với báo Tiền Phong rằng ông Nghiên chấp nhận trả nhà này, nhưng lại có nhu cầu mua chỗ khác.

“Tôi khẳng định là bắt buộc phải thu hồi biệt thự 12 Nguyễn Chế Nghĩa vì đây là biệt thự nằm trong danh mục không được bán,” đại diện Sở Xây dựng nói.

Người này giải thích thành phố Hà Nội đang tìm nhà khác cho ông Nghiên mua.

Đã có những địa điểm được giới thiệu, nhưng ông Nghiên chưa đồng ý, theo báo Tiền Phong.

‘Sao không đi đến cùng?’

Vụ việc lên báo từ năm 2006, khi ông Nghiên làm đơn xin mua lại biệt thự này theo Nghị định 61.

Thành phố từ chối bán lại, nhưng vẫn chưa thu hồi căn nhà sau tám năm.

Vụ việc được nêu lại trong bối cảnh nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương của Đảng yêu cầu trả nhà, đất mà ông đã xin mặc dù không đủ tiêu chuẩn.

Nói với báo Tiền Phong ngày 1/12, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đặt vấn đề về căn nhà của ông Hoàng Văn Nghiên.

“Thành phố Hà Nội đã nói là sẽ xử lý, nhưng rồi lại để đấy. Sao lại không đi đến cùng được?” ông Quốc than phiền.

Nói với báo Tuổi Trẻ hôm 24/11, ông Nguyễn Đình Hương, nguyên phó trưởng Ban Tổ chức trung ương, nói “từ thời bao cấp những chuyện không hay về nhà đất của một số cán bộ cấp cao đã âm ỉ trong dư luận”.

Ông Hương nói: “Hàng triệu công chức, viên chức, người lao động đang ở nhà thuê nghĩ gì khi đọc danh sách nhà đất liên quan đến ông Truyền? Rõ ràng là đặc quyền, đặc lợi.”

Trong bài phỏng vấn này, ông Hương cũng đề cập số 12 Nguyễn Chế Nghĩa như ví dụ về việc “còn nhiều quan chức ở các cấp khác nhau dính vấn đề đất đai”.

Hồi tháng 10, ông Hoàng Văn Nghiên được nhắc đến trên truyền thông khi ông được trao Huân chương Độc lập hạng Nhì.

Thời Mạt Vận Của CS

Thời Mạt Vận Của CS

Vietbao.com

Gió đã đổi chiều đưa hai chế độ CS ở Trung Quốc và VN vào thời kỳ mạt vận. Đất lành chim đến, đất dữ chi đi. Dân Sàigòn là dân của thủ đô kinh tế của CSVN, một chế độ CS còn sót lại lớn hàng thứ hai, lại là 1 trong 5 thành phố trên thế giới người dân đem vốn qua Mỹ đầu tư theo qui chế đầu tư EB5 để được nhập cư ở lại như thường trú nhân, đông nhất trong năm 2014. Và Trung Cộng là chế độ CS lớn nhứt Á châu nhưng người dân đầu tư ra ngoại quốc nhiều nhứt.

Một, liên quan đến dân Saigon, tin của truyền hình IBC-TV, trích dẫn từ Hiệp hội Đầu tư Hoa Kỳ, theo một phúc trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, cho biết Sàigòn, cựu thủ đô của VN Cộng Hoà, hiện là thủ đô kinh tế của VNCS được xếp hàng thứ 4 trong 5 thành phố trên thế giới có người được cấp visa nhập cảnh đầu tư EB5 vào Mỹ đông nhứt. Ba thành phố dẫn đầu gồm Quảng Châu của Trung Quốc; Seoul của Nam Hàn, và Đài Bắc của Đài Loan. Thành phố Quảng Châu của Trung Quốc chiếm hàng đầu với 8.237 trường hợp được cấp visa vào Hoa Kỳ theo diện đầu tư nhập cư. Seoul có 149 trường hợp; Đài Bắc 97 trường hợp và Sài Gòn, Việt Nam với 92 trường hợp. Hạng thứ 5 là thành phố Abu Dhabi của Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất với 78 trường hợp.

Điều đáng lưu ý là Việt Nam và Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất qua mặt Nhật Bản và Mexico để lọt vào danh sách 5 thành phố hàng đầu của thế giới có nhiều thương nhân đầu tư vào Hoa Kỳ. Phúc trình này cũng tiên đoán rằng, các nhà đầu tư Trung Quốc ghi danh nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện EB5 sẽ dẫn đầu danh sách này trong năm 2015.

Hai, dân ở Trung Cộng ra ngoại quốc đầu tư, hiện nay số vốn người TQ đầu tư ở hải ngoại lớn hơn số của các nước ngoài đầu tư vào TQ. Đầu tư của TQ ra ngoại quốc tăng lên 18% trong mười tháng đầu năm 2014. Đây là một cuộc đảo lộn của phong rào ngoại quốc đầu tư vào TQ vì nhân công rẻ. Bên cạnh những lý do tâm lý, chánh trị, TC đang bài Nhựt, cạnh tranh với Mỹ, bành trướng đụng chạm với nhiều nước Á châu Thái bình dương, còn có lý do kinh tế. Tiền lương của TQ tăng nên ngoại quốc không đưa việc làm vào TQ nữa.

Phong trào xuất ngoại đầu tư kinh doanh sản xuất này đa dạng và đa diện, khác hơn giai đoạn Đảng Nhà Nước TC mua các công ty ngoại quốc ở các nước để có đủ nguồn cung nguyên liệu quặng mỏ, lúa gạo nhập cảng vào TQ, nhứt là dầu lửa nên kinh tế TC cần đầu tư như con người cần hơi thở. Bây giờ người dân TQ lẫn các công ty của nhà nước bung ra mua lại các công ty ngoại quốc trong đủ mọi lãnh vực, từ thực phẩm đến kỹ nghệ cơ khí, và các công nghệ tiên tiến hàng đầu. Tổng số tiền TQ đầu tư ở các nước năm 2013 là 625 tỉ đô la. Con số thống kê chính thức của Nhà Nước TC cho thấy, trong vòng 10 năm, số đầu tư Trung Quốc ra ngoại quốc đã tăng gấp 30 lần.

TQ trở thành nhà đầu tư lớn thứ ba trên thế giới, chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Mỹ và Úc là hai nước được TQ đầu tư nhiều nhất. Nhưng đầu tư của TQ ở ngoại quốc cũng có nhiều bất trắc, không phải do ngoại quốc mà do trong nước nhà, Đảng Nhà Nước kiểm soát tài chánh, đòi hỏi điều kiện đầu tư quá nhiều. Thí dụ như điều kiện đưa nhiều công nhân và chuyên viên qua, các công trường, công ty của TC có lối sống đễ gây bất mãn cho người địa phương. Nên khoảng 80% đầu tư của TQ vào các mỏ ở nước ngoài đều thất bại.

Ba và sau cùng, Mỹ là đất lành cho người Việt nhập cư và quốc gia để người ngoại quốc vào đầu tư an toàn và lợi lộc bền vững nhứt. Tiêu biểu như 39 năm người Việt của VNCH ở Miền Nam đến Mỹ định cư trong cuộc hành trình đầy gian khổ, chết chóc nhưng cuộc định cư đầy thành đạt làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam D’Outre Mer) đã thành hình, như một nước Pháp Hải Ngoại (France d’ Outre- Mer) trong thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà. Mà Mỹ là trung tâm điểm vì có gần hai triệu người, hơn phân nửa số người tỵ nạn CS trên thế giới. Tại Mỹ là trung tâm chuyển ánh sáng tự do, dân chủ, nhân quyển về VN, có Little Saigon người Việt hải ngoại thân thương gọi là thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS. Little Saigon là nơi phát khởi phong trào Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của VNCH được hàng chục tiểu bang, hàng trăm quận hạt, thành phố của hơn phân nửa dân số Mỹ thừa nhận là biểu tượng của người Việt Nam tự do.

Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại mạnh hơn của chế độ CS Hà nội vì CS Hà Nội chiếm được lãnh thổ, cướp được chánh quyền, mà không lãnh đạo được nhân dân, không thống nhứt được non sông mà đoàn kết được dân tộc. Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ của người Việt Hải Ngoại, trong thời đại kinh tế toàn cầu và dân chủ hóa hoàn vũ được văn minh Tin Học yểm trợ. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới, nhứt là tại Mỹ đã đi vào dòng chánh chánh trị, chánh quyền, quân đội. khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.

Về kinh tế, VN hải ngoại, người Việt đã vượt qua thời kỳ chân ướt chân ráo nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên mấy tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới 5%, số tiền kiếm được. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước chưa đến 450 Đô/năm

Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trường đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật tân tiến nhứt hoàn cầu. “Chất xám” của người Việt Hải Ngoại là cái CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại với CS thì không.

Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triễn theo đà tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt của người Việt Quốc Gia trong bao thời kỳ độc lập VN, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Đệ nhứt, Đệ Nhị Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau 3 lần Bắc Thuộc, 1 lần Pháp Thuộc, và CS đọa đày. Những “từ CS” như “hồ hỡi, phấn khởi, sô vanh, ưu việt, đồng tình”, thành tử ngữ (langue morte). Ở hải ngoại người Việt còn phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975. Báo chí, truyền thông sách vở hải ngoại phát triễn ngoài sức tưởng tượng. Điều đó cho thấy quyền lực mềm của tự do, dân chủ đã làm gió đổi chiều đưa đẩy CS vào thời kỳ mạt vận./.(Vi Anh)

Bắc Triều Tiên : Thêm một đợt thanh trừng nhắm vào giới lãnh đạo

Bắc Triều Tiên : Thêm một đợt thanh trừng nhắm vào giới lãnh đạo

Thanh Hà

media

Ông Jang Song-Thaek lúc ra trước Tòa án quân sự, Ảnh ngày 12 /12/ 2013.REUTERS/Yonhap

Hàng chục đảng viên đảng Lao động Bắc Triều Tiên đã bị hành quyết hoặc cách chức trong những tháng qua. Nhật báo Hàn Quốc Korea Joongan, ấn bản ngày 01/12/2014 xem đây là đợt thanh trừng thứ nhì nhắm vào những vây cánh của ông Jang Song Thaek, dượng rể của Kim Jong Un. Ông Jang đã bị hành quyết cách nay một năm.

Theo tờ Korea Joongan, hôm nay Trung tâm Chiến lược và An ninh quốc gia của Hàn Quốc, trực thuộc cơ quan tình báo, công bố một báo cáo quan trọng với nội dung : Bình Nhưỡng đang mở ra một đợt thanh trừng thứ nhì nắm vào những người thân cận với cố phó chủ tịch Ủy ban quốc phòng Bắc Triều Tiên, Jang Song Thaek.

Ông này từng được coi là một trong những cột trụ của chế độ cha truyền con nối ở Bình Nhưỡng. Tháng 12/2013, Bình Nhưỡng đã cách chức và tử hình ông Jang, dượng rể của chính lãnh đạo số 1 Kim Jong Un.

Báo cáo của Trung tâm Chiến lược và An ninh Hàn Quốc, cho biết thêm là đợt thanh trừng thứ nhì đã mở màn từ tháng 5/2014 sau vụ một khu nhà tập thể 23 tầng tại Bình Nhưỡng bị sập, làm hơn 400 người chết. Kim Jong Un coi tai nạn nói trên là hành vi của « bè lũ » Jang Song Thaek, vì trước đây ông này từng kiểm soát bộ An ninh.

Tháng 7 vừa qua, một số quan chức cao cấp Bắc Triều Tiên đã bị hành quyết vì tội « phản bội ». Tổng cộng có khoảng 20 quan chức nhà nước đã bị sử bắn, hoặc nhẹ hơn thì bị đày ra khỏi thủ đô. Tiếp theo đó, vào tháng 9 vừa qua, lại có thêm gần 20 nhân viên trong Cơ quan tuyên truyền Bắc Triều Tiên bị xử bắn với tội « chống đảng và nhà nước », « tham nhũng » hay « quan hệ bất chính với phụ nữ ». Vẫn theo báo cáo của ngành tình báo Hàn Quốc, lại có thêm 10 đảng viên khác bị tử hình vào tháng 10/2014 với lý do từng có liên hệ với dượng rể của lãnh tụ họ Kim hay chỉ vì tội lén xem phim Hàn Quốc.

Báo Korea Joonggang bình luận : hàng loạt các vụ thanh trừng nói trên đang khiến các đảng viên của đảng Lao động Bắc Triều Tiên run sợ. Trích lời một chuyên gia, tờ báo này cho biết thêm : Bản thân đương kim Ngoại trưởng Bắc Triều Tiên Ri Su Yong cũng đang lo sợ cho tính mạng của mình. Tuy đã từng dẫn dắt lãnh tụ Kim Jong Un trong thời gian cậu ấm của triều đại họ Kim du học tại Thụy Sĩ, nhưng vừa qua ông Ri đã không ngăn cản được Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đòi đưa một số lãnh đạo Bắc Triều Tiên ra trước Tòa án hình sự Quốc tế vì phạm tội ác chống nhân loại.

Một phụ nữ Việt bị giết ở Nam Hàn

Một phụ nữ Việt bị giết ở Nam Hàn

Các vụ phụ nữ Việt bị sát hại làm chấn động dư luận Hàn Quốc

Nguồn tin Sứ quán Việt Nam ở Hàn Quốc cho hay một phụ nữ Việt Nam vừa bị sát hại sáng sớm Chủ nhật 30/11 ở đảo Jeju.

Cô Nguyễn Thị Thanh Ngân, sinh năm 1992, đã bị một người Hàn Quốc sát hại vào hồi 03:00 ngày 30/11, nguồn tin cho hay.

Cô Ngân, từ TP HCM, đã kết hôn với một người Hàn Quốc và sang nước này sinh sống từ tháng 6/2012 nhưng nay đã ly hôn.

Được biết hiện cô thuộc diện lưu trú bất hợp pháp tại đây.

Cảnh sát Hàn Quốc đã xác định người sát hại cô Nguyễn Thị Thanh Ngân tên là Kim Hee Cheol, sinh năm 1973. Hai người mới gặp nhau trong ngày.

Ông Kim đã tự thú và hiện đã bị cảnh sát bắt để điều tra động cơ giết người.

Nguồn tin đại sứ quán nói họ đang “duy trì liên lạc với cảnh sát miền Tây tỉnh đảo Jeju và gia đình cô Ngân tại Việt Nam để tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ xử lý vụ việc”.

Tại Hàn Quốc hiện có ước chừng khoảng 50.000 cô dâu Việt. Mỗi năm trung bình có khoảng 3-5 vụ phụ nữ Việt lấy chồng bị sát hại mà cơ quan lãnh sự được biết.

Lấy chồng Hàn Quốc

Việc cô dâu Việt lấy chồng Hàn bị ngược đãi, thậm chí sát hại, đã trở thành đề tài được báo chí Hàn Quốc và Việt Nam phản ánh nhiều năm nay.

Năm 2010, một vụ cô dâu Việt bị người chồng tâm thần giết chết đã được chính Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là ông Lee Myung-bak đề cập đến.

Trong 10 năm qua, số lượng ngày càng tăng nam giới Hàn Quốc, nhất là từ những làng nông nghiệp mà dân số ngày càng ít đi, đã ra nước ngoài tìm vợ. Thông qua các công ty mai mối, họ làm quen với những phụ nữ trẻ muốn ổn định kinh tế, đa số là từ các nước Đông Nam Á và Trung Quốc.

Tổng thống Lee khi đó hứa chính phủ sẽ có hành động để trợ giúp tốt hơn cho các gia đình đa văn hóa và sẽ theo dõi cũng như quản lý tốt hơn các hãng mai mối.

Cái chết trên cạn của một người vượt biển

Cái chết trên cạn của một người vượt biển

Chuacuuthe.com

67_7_1329058282_81_nguoiduatin-xacchet

VRNs (27.11.2014) – Sài Gòn-

Người đàn ông cô đơn đó chết sớm nửa năm. Chỉ còn sáu tháng nữa thôi là anh bước vào năm thứ bốn mươi của một người di tản bất hạnh. Anh sẽ được nghe những người đồng hương trong thành phố anh đang lang thang, nhắc đến cái ngày kinh hoàng đó.

Anh chết tình cờ, chết bất ngờ, chết không kịp quay đầu nhìn lại. Vào ngày đầu tháng 10 trong tiệm bánh ngọt quen thuộc, trong một giờ khắc gần như cố định, anh đang cho đường vào tách cà phê hay anh đang ngửa cổ nhấp ngụm đầu tiên. Một chiếc xe rất to, tông vào tiệm, tông vào anh, anh chết.

Có một vài người đồng hương quen biết anh, trò chuyện với anh, nhưng biết tận tường về anh thì không có ai. Khi anh chết người ta hoàn toàn không có thêm một chi tiết gì về anh, ngoài cái tên “Người không nhà”. Trước đây anh có nhà chứ, có cha mẹ nữa, có cả quê hương nữa. Anh có thố lộ một lần. Trước 1975 anh là một học sinh trung học, và anh đã vượt biển cùng với gia đình. Cả nhà chết chỉ mình anh sống. Anh đã chứng kiến những gì thêm trong cái thảm kịch đó, anh không nói tiếp.

Anh chết ở tuổi 53, không biết anh vượt biển năm nào, nếu ta trừ đi 40 năm thì khi anh vượt biển anh khoảng 14, 15 tuổi. Ngoài cha mẹ chết, làm sao ta biết anh còn phải chứng kiến cảnh kinh hoàng nào trong chuyến vượt biển đó, trầm trọng đến thế nào? Chuyến tầu anh đi có bao nhiêu người, anh có chứng kiến hải tặc hiếp mẹ anh và giết cha anh không?

Anh không nhớ được nữa, họ chết hết chỉ còn anh thôi sao? Trí óc anh mù lòa hay anh nhớ quá rõ ràng cũng là một bất hạnh cho anh.

Em thơ dại sao mà em may mắn/Cả một thuyền chết hết chỉ còn em.(*)

Nếu cả một thuyền chết hết, chỉ còn một cậu bé thì cậu phải nhận gánh tất cả bất hạnh của thảm họa đó vào người. Làm sao cậu chất cho hết được vào cái thân thể bé nhỏ đó.

Cậu lang thang trong các thành phố gần 40 năm. Mỗi năm cậu đánh rơi một mảnh bất hạnh xuống những con phố cậu đi qua, những công viên cậu ngủ trên ghế đá, những quán cà phê, những tiệm buôn bán nhỏ của người đồng hương. Cậu đánh rơi xuống, cậu lại nhặt lên. Giống như những cái lon cậu nhặt trên mặt đường, bán đi lấy tiền sinh sống. Những bất hạnh đó là cơm gạo, là thức ăn nuôi cậu bé thành một người đàn ông.

Người đàn ông đó được những người quen biết gọi là: “Người vô gia cư lương hảo”. Vì anh thân thiện, hiền lành, không làm phiền ai dù anh không có nơi ăn ở.

Người ta nghĩ anh là một người thầm lặng, kín đáo. Vì còn rất nhiều điều không ai biết về anh. Khi cái chết bất ngờ xẩy đến, người ta chỉ tìm thấy trong túi anh vài trăm bạc, một cái phôn tay. Trong phôn anh không có gọi cho ai và cũng không ai gọi anh để có số phôn lưu lại.

Một người đàn ông thật sự cô đơn!

Anh không có giấy tờ gì cả, có người cho biết anh sinh năm 1961 và tên là Nguyễn Tuấn. Có biết bao nhiêu người Việt Nam tên là Nguyễn Tuấn và sinh năm 1961. Cuối cùng, sở giảo nghiệm thành phố (Coroner) coi cái chết của anh như  hàng trăm cái chết của kẻ không nhà, không thân thích, không cả họ tên. Người ta cài vào xác anh cái thẻ John Doe No.278 trong một nhà xác công cộng của thành phố Los Angeles, với số cư dân gần 10 triệu.

Nhưng có thật anh là người không lý lịch, vô gia cư vô tổ quốc không?

Thật ra, tất cả những tờ giấy hợp pháp chúng ta mang theo trên mình để chứng minh chúng ta là ông nọ, bà kia chỉ có một cái nghĩa giới hạn nào thôi.

Một người như anh Nguyễn Tuấn không có một giấy tờ tùy thân, không có địa chỉ, số phôn, nhưng khi anh chết, chính cái “Không có gì” của anh nói lên được tất cả tiểu sử của một người Việt Nam di tản. Nói lên thảm nạn của chiến tranh Việt Nam đã mang đến những đau thương, bất hạnh gì cho người dân Việt.

Cái chết cô đơn trên cạn của một thuyền nhân (Có thể anh là người chết cuối cùng trong chuyến vượt biển ấy) sau gần 40 năm là một vết đen trong trang sử nội chiến Bắc Nam, không bao giờ xóa được.

Anh Nguyễn Tuấn anh gặp lại mẹ cha rồi đó. Bây giờ anh đã có một mái ấm gia đình.

Trần Mộng Tú

Tháng 11/9/2014

(*) Thơ tmt

Ghi Chú: ký giả David Montero, đã viết về cái chết của Nguyễn Tuấn (10/8th/2014) trên tờ Los Angeles Daily News.

LỜI CHÚA- ĐIỂM TỰA VÀ SỨC MẠNH CỦA CUỘC ĐỜI

LỜI CHÚA- ĐIỂM TỰA VÀ SỨC MẠNH CỦA CUỘC ĐỜI

Maria Trần Thị Lệ Xuân

Có lẽ không ai trong chúng ta không từng có những giây phút trải qua những thử thách và những đau khổ trong cuộc sống, và không ít người có những lần đi tìm niềm hy vọng trong bóng tối của cuộc đời mình… Những lúc đối diện và chìm ngập giữa những thử thách và đau khổ như thế trong cuộc đời, có lẽ hầu như mọi người chúng ta đều nghĩ về Thiên Chúa và tìm đến với Ngài như một điểm tựa, một niềm tin, một bến bờ, một chiếc phao cứu mạng trong những lúc chúng ta bị “chìm sâu” giữa lòng biển cả của cuộc đời đầy dẫy những gian truân và thử thách….

Tôi muốn chia sẻ những điều mới đây đã xảy đến trong gia đình tôi và những cảm nghiệm của chính tôi khi chúng tôi cùng nhau sống Lời Chúa với niềm tin vững mạnh và để niềm vui của Phúc Âm loan tỏa và soi sáng, hướng dẫn chúng tôi ngay trong những hoàn cảnh tưởng chừng như tuyệt vọng nhất của con người khi đối diện với cơn bệnh hiểm nghèo mà cuộc sống và niềm hy vọng của con người trở nên thật mong manh, nhỏ bé!

Trước hết, xin được chia sẻ về hoàn cảnh cá nhân của mình. Tôi là người con thứ sáu trong gia đình, ba tôi đã được Chúa gọi về cách đây hơn 7 năm bởi căn bệnh ung thư ruột già và sau đó một năm thì mẹ tôi cũng đã về với Chúa do cơn đột trụy về tim (heart attack) sau những năm tháng nằm liệt trên giường bệnh… Kể từ đó, tôi sống chung cùng với vợ chồng người em gái có ba cháu nhỏ mà đứa lớn nhất được 12 tuổi và đứa nhỏ nhất được 8 tuổi, cùng với vợ chồng người anh mà chúng tôi đã bảo lãnh từ bên Việt Nam qua được hơn 6 năm. Kể từ sau ngày ba mẹ tôi về với Chúa, gia đình chúng tôi tổ chức những buổi đọc kinh tối mỗi ngày để cầu nguyện cho linh hồn của những người quá cố. Truyền thống này được giữ gìn kể từ đó cho đến nay khi mà các đứa cháu của tôi lớn dần lên theo năm tháng cho đến độ tuổi như đã kể trên… Khi các cháu đến tuổi đi học giáo lý và Việt ngữ thì gia đình chúng tôi tập cho các cháu đọc Phúc Âm bằng tiếng Việt…Khởi đầu là các sách Phúc Âm bằng tranh ảnh cho đến hiện nay, các cháu đã có thể đọc rành rẽ Phúc Âm bằng tiếng Việt. Cứ mỗi buổi tối, gia đình chúng tôi sum họp và cùng nhau đọc kinh tối, chia sẻ Lời Chúa qua một đoạn Phúc Âm ngắn và tôi cố gắng giải thích ý nghĩa của Lời Chúa trong đoạn Phúc Âm đó cho các cháu hiểu….

Cuộc sống cứ bình yên trôi qua như thế cho đến một ngày cách đây hơn ba tháng…Rất tình cờ trong một lần đi khám sức khỏe định kỳ, người bác sĩ đã vô tình tìm ra một cái bướu nhỏ trên cơ thể của người em tôi (là mẹ của ba cháu nhỏ). Khi tiến hành xét nghiệm bioxy thì được biết đó là một khối u ác tính… Người bác sĩ đã gửi em tôi đi làm thêm các xét nghiệm về quang tuyến khác để xác định tình trạng tiến triển của khối u ác tính này… Sau tất cả các xét nghiệm thì kết quả được phát hiện là em tôi đã ở vào giai đoạn thứ ba trong bốn giai đoạn của căn bệnh ung thư bạch cầu (lymphoma). Quả là một tin sét đánh ngang tai cho một  người mẹ trẻ mới ngoài 40 tuổi đời với ba đứa con còn thơ dại mới được 8 , 9 và 12 tuổi đầu… Những đứa cháu của tôi đang ở vào lứa tuổi của hồn nhiên và hy vọng, lứa tuổi của những vui tươi, ngây thơ và chưa hiểu, chưa cảm nhận được thế nào là nỗi đau của sự mất mát người mẹ hay người cha…. Khi cái tin “ung thư máu ở thời kỳ thứ ba” được bác sĩ chẩn đoán và lập lại cho người em tôi thì nó cũng đồng nghĩa như một bản án “tử hình” đã được phán quyết và đã để lại sức nặng “ngàn cân” trong lòng của từng người trong gia đình chúng tôi…Chúng tôi dường như quỵ ngã và không tin được vào những gì mà thực tế đang xảy ra trước mắt, ở trong hoàn cảnh rất đau đớn và thương tâm khi nhìn và nghĩ tới hình ảnh của những đứa trẻ sắp sửa mất mẹ ở vào độ tuổi quá nhỏ bé và ngây thơ này…. Chúng tôi chưa thể và chưa quen được với những viễn ảnh thật buồn đang hiện ra ở trước mắt khi nghĩ về tương lai của các cháu…. Thế rồi, sau những giờ phút “choáng váng” vì cái tin “sét đánh” này, gia đình chúng tôi tập làm quen dần với cơn bệnh và tập sống chung với cơn bệnh qua những giờ phút cùng cầu nguyện bên nhau và phó dâng tất cả mọi nỗi đau đớn trong tâm hồn cho Chúa…Chúng tôi vẫn tiếp tục những buổi đọc kinh và chia sẻ Lời Chúa mỗi tối trong bầu không khí thân thương của gia đình, để cố gắng nuôi dưỡng và giữ gìn bầu không khí an bình và phó thác cho Chúa tất cả mọi sự…. Chúng tôi cảm nhận được sự khác biệt của những lần cầu nguyện này so với những lần cầu nguyện lúc trước là: Sự cầu nguyện trở nên thiết tha hơn, sốt sắng hơn và chúng tôi chạy đến cầu khẩn với Đức Mẹ tha thiết hơn với tất cả tấm lòng và con tim để nài xin tình yêu và lời cầu bầu của Đức Mẹ trước ngai tòa của Thiên Chúa, sao cho một phép lạ nào đó sẽ xảy ra để những đứa cháu của tôi không mất đi một người mẹ, và để chúng có thể hưởng những ngày tháng vui vẻ, hồn nhiên của tuổi thơ một cách trọn vẹn….

Lời cầu nguyện của chúng tôi như những tiếng vọng tha thiết bay theo ngàn gió và vang vọng giữa ngàn mây, chứa đựng sức mạnh của một niềm tin tưởng tuyệt đối và một niềm phó thác trọn vẹn vào sự quan phòng và tình yêu bao la vô bờ bến của Thiên Chúa…. Mỗi một lời kinh chúng tôi đọc hàng ngày, mỗi một Lời Chúa dạy trong Kinh Thánh như thấm sâu mãi vào tâm hồn trong trắng của từng đứa cháu bé nhỏ ngây thơ, và thấm sâu vào tâm khảm, tim óc của từng thành viên trong gia đình thân thương của chúng tôi… Lời nguyện cầu ngày một chất ngất, ngày một cao vời cứ mãi dâng lên như trầm hương bay tỏa trước Thánh nhan Thiên Chúa… Chúng tôi đã làm tất cả những gì mà y học và khả năng con người có thể làm được, phần còn lại chúng tôi đã phó dâng trọn vẹn vào quyền lực và sự che chở của Thiên Chúa tình yêu….. Trong vòng hơn ba tháng, những chuỗi kinh Mân côi được liên lỉ dâng lên trước ngai tòa Đức Mẹ, những chuỗi kinh kính lòng thương xót Chúa được tha thiết khẩn cầu, cùng với niềm phó thác trọn vẹn vào tình yêu và lòng thương xót của Chúa như lời kinh “Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin Cha thương xót chúng con và toàn thế giới”….

Và rồi sức mạnh của niềm tin và lời cầu nguyện đã được đáp trả…. Một phép lạ nhiệm mầu đã được thể hiện để danh Chúa mãi mãi được tỏa sáng và được tôn vinh như lời của Thánh Vịnh 136: “Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” … Một tuần lễ trước đây, với chỉ sau ba lần em tôi được điều trị bằng hóa trị (chemotherapy), kết quả các cuộc xét nghiệm đã cho thấy “Negative”… Tất cả các cục bướu ác tính trước đây trên cơ thể em tôi mà các phim ảnh cho thấy chúng đã lan ra khắp nơi từ vùng ngực, vùng bụng và vùng bên dưới của người phụ nữ, mà các bác sĩ đã xác định bệnh đang ở vào thời kỳ thứ ba trong bốn thời kỳ của căn bệnh ung thư, thì nay đã hoàn toàn biến mất trên phim ảnh xét nghiệm…. Chúng tôi vô cùng xúc động và thật vui mừng trước kết quả mới nhất của cuộc thử nghiệm… Trên đường lái xe từ bệnh viện “City of Hope” về nhà, lòng chúng tôi tràn ngập niềm hân hoan vui mừng và vô cùng cảm tạ, tri ân, ngợi khen Thiên Chúa cao cả…. Ngài đã gửi đến cho chúng tôi những thử thách trong cuộc đời, những đau đớn của sức nặng “ngàn cân” trong cơn bệnh hiểm nghèo, những thử thách của niềm tin vào tình yêu và lòng thương xót của Chúa….Tất cả và tất cả những gì Chúa đã gửi đến thì giờ đây, Ngài đã giang cánh tay nhân từ và mở rộng lòng thương xót vô biên của Ngài để cứu chữa và ban phát tình yêu cùng sự bình an trong tâm hồn của từng người trong gia đình chúng tôi…..Tôi cảm nghiệm được rằng: Tất  cả những điều Ngài đang thi ân xuống cho gia đình chúng tôi trong cả cuộc đời của chúng tôi, và đặc biệt trong biến cố vừa qua, để danh Thánh của Thiên Chúa luôn được mãi mãi tôn vinh và tỏa sáng trước con mắt của người đời….Nếu người đời cho những gì là KHÔNG THỂ, thì Thiên Chúa sẽ làm chúng trở thành CÓ THỂ; nếu người đời cho những gì là TUYỆT VỌNG, thì Thiên Chúa biến chúng trở thành NIỀM HY VỌNG; nếu người đời cho những gì là ĐAU KHỔ, thì Thiên Chúa biến chúng trở thành NIỀM VUI; nếu người đời cho những gì là TẬN CÙNG CỦA CHẾT CHÓC, thì Thiên Chúa biến chúng trở thành SỰ SỐNG VĨNH CỬU MUÔN ĐỜI….

Giây phút này đây, khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi muốn được trải lòng mình ra để nói về một Thiên Chúa của tình yêu, một Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn, rất nhân từ và giàu tình xót thương để cảm tạ, để tri ân và để ngợi khen danh Ngài mãi mãi vì “…Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương….” Lời Chúa phán với đám đông dân chúng và các môn đệ theo Ngài vẫn đang vang vọng trong tâm hồn và trí óc của tôi: “Hãy đến với Ta hỡi tất cả những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ bổ sức cho các con.” (Mt 11,28)

Năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi từng người chúng ta hãy “Sống niềm vui Phúc Âm trong gia đình”, hãy để cho Lời Chúa trở thành kim chỉ nam và là ngọn đuốc soi đường cho chúng ta giữa muôn nẻo đường chông gai và tăm tối của cuộc đời…. Lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở mỗi người chúng ta cần phải biết Sống theo Lời Chúa, cần phải biết mang Lời Chúa để thực thi hàng ngày, nơi gia đình, trong các môi trường xã hội và các nẻo đường mà chúng ta dấn bước trong cuộc đời, để chúng ta luôn tiến bước với một niềm tin vững chắc và để ánh sáng Phúc Âm, ánh sáng của Lời Chúa luôn mang niềm vui và sức mạnh nâng đỡ chúng ta trên muôn vạn nẻo đường…

Ước mong mỗi người chúng ta luôn gặp gỡ được Thiên Chúa qua từng biến cố, từng sự kiện xảy đến trong cuộc đời…Và cũng ước mong mỗi người chúng ta có thể sống niềm vui của Phúc Âm, niềm vui của Tin Mừng và Hy vọng ngay trong chính gia đình của mình, qua từng biến cố xảy đến trong cuộc đời của mình, để ánh sáng của Lời Chúa luôn là ngọn đuốc soi đường cho chúng ta dấn thân và tiến bước như lời của Chân phước Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận: “Chúng ta là những người lữ hành trên con đường hy vọng.”

Xin kính chúc cộng đoàn dân Chúa sống năm “Phúc Âm Gia Đình” tràn ngập Ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa, một năm tràn đầy những niềm vui và hy vọng khi chúng ta sống và mang được Lời Chúa vào trong mỗi gia đình, nơi từng cá nhân nhỏ bé trong gia đình thân yêu của chúng ta.

St. Columban, Ngày Lễ Các Thánh 01/11/2014

Maria Trần Thị Lệ Xuân

Thôi cũng đành một kiếp trăm năm,

“Thôi cũng đành một kiếp trăm năm,

đời người sẽ qua.”
“Cũng đành một thoáng chiêm bao,tình người cũng xa.
Cũng phôi pha,những điêu ngoa theo vết môi cười tàn tạ.

(Từ Công Phụng – Chiếc Que Diêm)

(Lc 19-29-31/1Cr 12: 13)

Trần Ngọc Mười Hai

“Một kiếp trăm năm” ư? Ối chao, mọi sự rồi cũng xong và “đời người rồi (cũng) sẽ qua”. “Một thoáng chiêm bao” sao? Ối chà! Quả thật “tình người cũng xa”, “vết môi cười (rồi cũng) tàn tạ”, mà thôi.

Vâng. Đúng là như thế! Đời người và tình người, nào khác xa những thứ và những sự như tình của người đời, giống truyện kể để mào đầu cho chuyện thần-học, khô lông lốc. Trước hết, ta hãy nghe câu truyện kể cũng ngắn gọn, ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Có chàng trai nọ, đi đây đó rất nhiều ngày trong đời mình. Ấy thế mà, anh vẫn không cẩn trọng, để đến nỗi gẫy mất ống quyển ở chân trái, đành phải bó bột cũng khá lâu. Thoạt vào lúc tháo băng, bác sĩ có xem xét rồi dặn dò anh đừng nên đi cầu thang nữa, kẻo bị lại như lần trước. 4 tháng sau, anh trở lại phòng mạch bác sĩ nói trên để tái khám, đã vội hỏi:

-Thưa bác sĩ, nay tôi đi cầu thang được chưa?

-Được thì vẫn được! Nhưng, anh vẫn phải thật cẩn thận đó, kẻo nguy to.

Nghe vậy, anh bèn thở phào nhẹ nhõm rồi tuyên bố với phân trần, rằng:

-Đỡ quá chừng chừng. Mấy tháng nay, làm thằng bé cứ phải trẻo qua cửa sổ rồi tuột theo đường ống nước, đến là cực!”

“Đến là cực”, còn là trải-nghiệm vẫn nhận thấy đằng sau câu hát của ai đó, hay của người nghệ-sĩ vẫn hát những câu sau đây:

“Thôi cũng đành một kiếp phong ba, lệ tình cũng xa.
Xuống đời ta những nguôi ngoai, rồi người cũng xa.
Cũng xa ta, cũng xa ta theo dòng nghiệt ngã mù lòa.
Vì lời em sớm muộn gì cũng một lần gian dối.
Tình anh sớm muộn gì cũng đưa vào tăm tối.
Đời anh sớm muộn gì…
Đời em sớm muộn gì…
Tình ta sớm muộn gì… cũng hấp hối!…
Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau,
những men nồng tình sâu rã rời.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Những câu như thế, hát hoài hát mãi vẫn không chán. Nhưng, sao nghệ sĩ nhà mình lại cứ thêm những câu chưa quen tai, như thể để ví von đời mình, như:

“Thôi cũng đành như chiếc que diêm một lần lóe lên.
thắp đời em sáng lung linh, buồn một cõi riêng.
Những đêm sâu, những canh thâu,
nghe nước mắt nặng giọt sầu.
Thôi cũng đành như kiếp rong rêu, một lần hóa thân.
cuốn về phong kín tim ta một đời chói chang.
Những đam mê, những ngô nghê.
với tình người nhỡ lời thề,
Thôi cũng đành như tấm gương tan, mờ phai vết xưa.
Xót giùm cho tấm thân ta ngựa bầy đã xa.
Những đêm mơ thấy tan hoang.
Hương tình vừa chớm muộn màng.

(Từ Công Phụng – bđd)

Ấy đấy! Đời người và đời mình đẹp như thế, mà sao người xưa vẫn cứ hát hò và so sánh với que diêm hay que củi, đến là tàn tạ.

Vốn là nghệ sĩ, thôi thì anh có ví-von so-sánh với đời người thế nào cũng được. Đằng này, đường đường một đấng anh-hào, ở nhà đạo, mà anh lại cứ “nhi nhô” dăm ba câu tuyên bố với giảng giải những điều mà mọi người đều nghe từ thời đức thày Alexandre de Rhodes, thế mới chết không.

Vâng. Nhắc đến cố đạo thời cổ, bần đạo lại nhớ đến sự-kiện xảy đến vào năm 2012 khi ghé viếng thủ-phủ mang tên Esfahan ở Iran, bất chợt gặp được mộ-phần của vị cố đạo vinh-quang một thời làm thừa sai tiên-phong ở miền đất rất A-na-mít, nhưng lại lìa trần chốn lặng thinh lặng ở miền đất, rất đạo Hồi. Cố đạo Alexandre De Rhodes (1591-1660), mà tiếng Việt mình lại phiên-âm là: A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ nghe chẳng khác nào A-lịch-Sơn Đại Đế, đến là thế.

Phải công nhận, là: cố đạo A-Lịch-Sơn rất Đắc Lộ từng có công-đầu đậm-sâu với nền ngôn-ngữ La-Bồ-Việt một thời. Nhưng, về thần-học, đức thày lại chuyên-chở mãi hình-thức sống đạo rất ư “buồn tình” mà người đời nay cứ diễn tả bằng những “câu chuyện đời” đầy ý-nghĩa của chuyện anh đã hứa, như thứ văn hoá của những hứa hẹn như sau:

“Hứa và hẹn rằng:

“Anh sẽ nhận em làm vợ, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em. Khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, lúc ốm đau hay khi khỏe mạnh, lúc hoạn nạn hay khi bình an, anh hứa sẽ yêu thương và tôn trọng em mỗi ngày, suốt đời anh.”

Đám cưới diễn ra một cách tốt đẹp. Cô đồng ý lấy anh, một nhân viên IT khô khan và ít lãng mạn. Còn cô là giáo viên dạy vũ đạo, duyên dáng và xinh đẹp, các chàng trai theo đuổi cô không ít. Và, cũng không ai lọt vào mắt xanh của cô. Nhưng khi anh đến, anh yêu cô bằng tình yêu chân-thành và hoàn-toàn lấy lòng gia đình cô, bạn bè cô cũng ủng-hộ anh. Anh làm việc lương không cao, cũng không đẹp trai, thậm chí anh không phải là mẫu người cô thích, thế mà cô lại lấy anh. Đôi lúc, cô cũng không hiểu vì sao cô lại đồng ý lấy anh.

Sau đám cưới, anh và cô ra riêng, cuộc sống của hai người dù ít tiếng cười nhưng chưa bao giờ có chuyện cãi cọ, buồn phiền; và, cô thấy anh cũng không đến nỗi khô-khan như cô nghĩ, những ngày lễ như valentine, 8/3…. Cô đều có hoa quà từ nơi anh. Có thể nói, anh là người chồng rất tốt. Hàng ngày anh chở cô đến chổ dạy, rồi mới đến công-ty làm việc. Cuối tuần, anh chở cô về bên ngoại, hoặc gặp-gỡ bạn-bè. Và, anh luôn cố gắng làm cho cô hạnh-phúc.

Nhưng rồi cuộc sống đã không cho họ hạnh-phúc được lâu dài, lại phải đối mặt với cuộc sống mới, một cuộc sống thật khó chấp nhận… Một hôm, đang làm việc, anh nhận được điện-thoại của cô, nhưng không phải là cô mà là giọng nói khác:

-Xin lỗi, anh có phải là chồng của chị Diễm không ạ?

-Ai đang dùng điện thoại của vợ tôi vậy.

-Em cùng làm với Diễm, anh…anh vào bệnh viện ngay đi, Diễm mới bị tai nạn, đang cấp cứu ở bệnh viện Chợ Rẫy.

-Sao…Sao vậy, có chuyện gì với Diễm vậy, giọng anh như lạc đi, nghẹn ngào, anh không tin vào chuyện đang xảy ra.

-Anh vào bệnh viện nhanh đi.

Nói rồi người đó cúp máy mà không giải thích gì thêm. Anh lo lắng, hoảng hốt chạy vào bệnh viện, một lúc sau ba mẹ anh và ba mẹ cô ấy cũng đến, mọi người đều không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Sáng nay, anh và cô đang vui vẻ ăn sáng với nhau, thế mà….

Sáu tiếng phẩu thuật là sáu tiếng anh đứng ngồi không yên, lòng như lửa đốt. Thấy vị bác sĩ trọng tuổi bước ra khỏi phòng phẫu-thuật, anh hỏi:

-Vợ tôi sao rồi, bác sĩ?.

-Tạm thời cô ấy đã qua cơn nguy kịch, còn phải ở lại bệnh-viện để kiểm tra thêm- ông thở dài- nhưng có lẽ cô ấy khó mà đi lại được. Thông báo của bác sĩ làm anh chết lặng, cô là giáo viên vũ đạo, nếu không đi lại được thì chắc cô chết mất, anh đến bên cô, nhưng không biết nên nói gì. Lúc đó anh ao-ước, giá như anh chịu đựng được những gì cô đang gánh chịu… Nhưng đó là điều không thể xảy ra.

Sau ba tuần ở bệnh viện, cô về nhà trên chiếc xe lăn, khuôn mặt phờ phạc, cả ngôi nhà như u-ám hẳn đi. Từ khi cô biết cô không thể đi lại được nữa, thì mọi thứ xung quanh cô dường như đã chết. Cô không thể nhảy múa được nữa, nghĩa là không thể làm những gì cô yêu thích; với cô, như thế chẳng khác nào chết nửa cuộc đời..

Và cũng từ đó, anh cố gắng để thấy cô cười, bây giờ, mọi việc trong nhà đều do anh một tay sắp xếp, từ giặt dũ đến nấu ăn. Cô thì vẫn thế, lúc nào cũng u buồn.

Mỗi buổi sáng, anh cố gắng dậy sớm, dọn điểm tâm cho cô ăn, anh luôn gọi cô dậy sau khi mọi thứ đã chuẩn bị xong.

-Bà xã!, dậy ăn sáng đi, anh chuẩn bị xong hết rồi- anh vừa nói vừa lay cô dậy

-Anh để em yên. Em không thích ăn gì hết, để em yên- cô gắt lên.

Anh để chiếc xe lăn bên cạnh giường và chuẩn bị đi làm, chính anh cũng không biết nên làm gì để cô thoát khỏi hoàn-cảnh hiện-tại. Bây giờ gánh nặng gia-đình đặt cả lên vai anh, tai nạn của cô cũng đã tiêu-tốn hết số tiền mà hai vợ chồng dành-dụm được, giờ anh phải làm việc thật cật-lực, để có tiền lo cho cô, nhưng anh chưa bao giờ bỏ cuộc hay gục ngã, ngoài công việc ở công-ty anh còn nhận thêm các công việc khác như: thiết-kế trang “web”, lập-trình phần mềm, bất cứ việc gì có thể làm ra tiền anh đều làm, đêm nào anh cũng thức đến nửa đêm. Và, anh vẫn luôn yêu cô như ngày nào. Và, cô nhờ anh cũng dần dà lấy lại được niềm tin trong cuộc sống.

Anh cố gắng tiết-kiệm để mua thêm cho cô một cái “laptop” để cô tiện nói chuyện với bạn bè, khỏi lạc lõng những lúc vắng anh. Mỗi chiều đi làm về, anh đều đưa cô dạo quanh khu phố, để cô tìm được chút niềm vui. Anh nấu những món ăn cô thích, ở đâu có bác sĩ giỏi anh đều sắp-xếp thời-gian đưa cô đi chữa bệnh. Anh chưa bao giờ từ bỏ, luôn động-viên cô phải cố-gắng, nỗ lực. Công việc chăm-sóc của anh làm cho cô thấy ấm lòng, cô không còn tự-ti vì đôi chân tàn-tật nữa, cô bắt đầu học cách chấp-nhận nó. Nhưng đôi khi, vì sự chăm sóc của anh khiến cô thấy tủi thân, cô thấy mình mắc nợ anh nhiều quá

Một hôm, đang giặt quần áo thì nghe tiếng xoong chảo leng keng trong nhà bếp, anh chạy vào thì thấy cô đang cố gắng để nấu món gì đó

– Em đang làm gì vậy?

– Hì, em định nấu bữa tối- cô nhoẻn miệng cười.

– Thôi, em nghỉ ngơi đi, mấy chuyện này để anh lo.

– Nhưng mà em muốn nấu- cô phụng phịu

– Cái bếp cao vậy sao em nấu được, cứ để đó cho anh, em không thấy là anh phải lo đủ chuyện rồi sao, đừng làm anh lo lắng thêm nữa…

Cô lặng lẽ đẩy xe vào phòng, mắt nhòe đi. Cô thấy mình thật vô dụng, những việc tầm-thường của đàn bà con gái mà cũng không giúp được anh. Mấy ngày sau cô vẫn buồn vì chuyện đó.

Anh càng chăm sóc cô, cô càng thấy mình vô dụng, đôi lúc ý-định tự-sát chợt lóe lên trong đầu cô, nhưng cô đã không làm thế, vì cô rất yêu anh. Mỗi đêm, anh ôm cô và thì thầm: “Ngủ ngon em nhé, mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi”. Nhưng cô chưa kịp say giấc thì anh lại trở dậy, lại lọc cọc/lạch cạch với máy tính khô-khan, tự nhiên lòng cô quạnh thắt, rồi những suy-nghĩ mong-lung cứ chập chờn trong đầu cô: “Nếu không vì mình, anh đâu phải khổ-cực như vậy, tất cả là tại mình, giờ mình nên làm gì đây. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu cô: LY HÔN.

Chiều hôm sau, khi anh vừa đi làm về, trên bàn đã có sẵn tờ giấy, anh cầm lên đọc, nét mặt sa sầm lại, đó là đơn ly-hôn, cô đã viết và đã ký.

– Cái này là sao đây- anh chìa tờ giấy ra trước mặt cô

– Em không muốn làm khổ anh nữa, anh ký đi

Anh suy nghĩ một lúc rồi hỏi lại cô: “em thực sự muốn anh ký thật chứ?”. Cô nhìn anh gật đầu. Anh im lặng, đi chuẩn bị bữa tối, ăn xong thì anh đi đâu mất. Tối đó, cô ở một mình, rất lâu rồi cô mới ở một mình trong đêm tối, tự nhiên cô thấy lạc lõng, nỗi cô đơn như đang gặm nhấm dần trái tim cô.

Đã nửa đêm, anh vẫn chưa về, “anh đi đâu?” Cô bắt đầu lo lắng và không biết nên làm gì ngoài việc khóc, cô thấy nhớ anh vô cùng, rồi cô ngủ thiếp đi. Khi thức giấc đã là 9h sáng, anh vẫn chưa về, cô trở mình, phải khó khăn lắm cô mới lên được chiếc xe lăn, cô đẩy xe đi một vòng quanh nhà, sao mà cảm giác u-ám quá, cô muốn ăn cái gì đó, nhưng chẳng ai giúp được cô lúc này. Đành vậy, cô quay về phòng, chẳng biết làm gì, đầu óc trống rỗng.

Khoảng 11h thì anh về, tay cầm ít rau củ, để nấu bữa trưa. Sau một lúc thì xong, anh đẩy cô ra bàn ăn. Cô chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ ăn, cũng không dám nhìn anh. Đang ăn thì anh nhìn quanh và nói:

– Anh mới vắng nhà có một đêm, sao mà bừa bộn quá vậy, chén bát chẳng ai rửa, quần áo cũng chẳng ai giặt, nhà cửa cũng chẳng ai lau, nói rồi anh thở dài…

Tự nhiên cô thấy miếng cơm trong miệng chát đắng, cô biết anh đang trách móc cô, nhưng biết làm gì hơn. Rồi anh nói tiếp:

– Còn em nữa, chân em như vậy, bộ muốn anh ký vào tờ giấy đó thật hả?

– Dạ…em trả tự do cho anh, em không muốn anh phải khổ vì em nhiều nữa

– Thế anh ký rồi em sẽ ra sao, em suy nghĩ kỹ chưa?

– Rồi anh à

– Không hối hận chứ? anh ngừng đũa hỏi.

– Thì em đã ký rồi, giờ chỉ còn anh quyết định thôi.

Anh rời bàn ăn, một lúc sau anh quay trở lại, trên tay anh cầm một con lật đật bằng gỗ, ngày xưa anh tặng cô, anh để con lật đật xuống bàn rồi đẩy nó ngã xuống, nó lại đứng bật dậy như chưa từng ngã, anh nói:

– Cuộc sống có đôi lúc làm chúng ta gục ngã, nhưng chúng ta phải biết cách đứng dậy em à, em tàn tật thì sao chứ, không đi được thì sao chứ, hãy để anh làm đôi chân cho em nhé, đừng có tự-ti nữa.

Mắt cô bắt đầu nhòe đi vì những lời anh nói.

– Nhưng em….

– Không có nhưng nhị gì hết, em có nhớ những gì anh đã nói trong hôn lễ không, anh hứa sẽ yêu thương và tôn trọng em suốt đời anh, dù có chuyện gì xảy ra- anh nắm lấy tay cô- hãy để anh thực-hiện điều đó em nhé, Anh Yêu Em!!!.

Cô òa khóc như một đứa trẻ, những giọt nước mắt hạnh-phúc lăn dài trên má cô

– Em xin lỗi, em không bao giờ để anh phải buồn nữa đâu, em cũng yêu anh.

Anh đưa tay gạt đi những giọt nước mắt trên má cô:” Đừng khóc nữa, nước mắt hòa với cơm mặn lắm đó, em biết không hả?” (Truyện kể do tác già “St” sưu-tầm và phổ-biến)

Đọc đến đây, hẳn sẽ có ai đó nhạt-nhoà nước mắt? Nghe truyện kể do nhứng người từng sống trong đời kể về đời người, nhà Đạo mình hẳn sẽ tưởng tượng tình-huống ấy, như những thứ mà cố đạo xưa lại gọi đó là “luyện ngục” hoặc tệ hơn, là: “hoả ngục cuộc đời”, tức: toàn những ngục và ngục, thôi.

Những là, ngục-thất, ngục-tù hoặc ngục … ngã đểu chỉ về nơi chốn con người chôn-chặt con người bằng hận-thù, tức: một hình-ảnh nào đó hiểu theo nghĩa bóng, chứ làm gì có thật.

Thế nhưng, nghe “cố đạo” thời nay giảng-giải ở nhà thờ hoặc trên báo/đài cổ-lỗ-xĩ, hẳn người đọc và người nghe tưởng chừng “cố đạo” A-Lịch-Sơn Đắc-lộ vẫn còn sống ở đâu đó, xứ Ba Tư lừ-đừ Iran/Iraq, đến sợ. Quả thật, không gì sợ bằng, mãi đến hôm nay, mà đức thày John Flader ở Tuần Báo Công Giáo Sydney, vẫn “sát khí đằng đằng” một lời kể, như sau:

“Khi có ai lại ngờ-vực về một khía-cạnh của niềm tin qua đó ta không tìm ra chứng cớ nhãn tiền về chuyện đó, thì cũng khó mà thuyết-phục được họ, dù cho ta có sử-dụng bao nhiêu là luận cứ hoặc “bằng chứng”, cũng đành thôi.

Chắc bà con mình còn nhớ dụ ngôn Chúa kể để tả về người giàu có nọ và ông Lazarô trong đó người giàu có ấy nay đang ở hoả-ngục, cố nài-nỉ Abraham gửi Lazarô về lại nhà cha mình như sau:

Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” Ông Ápraham đáp: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”.  Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối”. Ông Ápraham đáp: “Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”. (Lc 16: 29-31)

Vì thế nên, ta không thể trông mong những người đa-nghi ấy lại có thể tin vào là có hoả-ngục cho dù ta có bảo họ là: đã có nhiều người từng thấy cảnh hoả-ngục. Quả thật, trên đời này vẫn còn những người như thế…” (xem Lm John Flader, Is there a hell? You can sadly bet on it, The Catholic Weekly 23/11/2014 tr. 26)

Nếu bạn và tôi, ta gọi những-người-không-tin là hoả-ngục-có-thật một nơi chốn, họ đều là những người đa-nghi cứ nghi-kỵ, nghi-ngờ hoặc nghi-vấn nhiều thứ, thì ngày nay con số những người như thế chừng như lên đến gần 6 hoặc 7 tỷ rồi, phi trừ trường-phái tin và hiểu theo kiểu đức thày nhà đạo tên John họ là Flader ở Sydney, thôi.

Thôi thì, đức thày nay đã già lại cứ chuyên chăm chuyện giảng dạy giáo-lý/sách phần của “thời cổ” thì một ngày rất gần đây, đức ngài cũng sẽ “diện kiến” ngục thất đầy những lửa mà chữ nho hoặc tiếng nôm ta gọi cách nho-nhã là “hoả-ngục”, cũng chẳng sao.

Vấn-đề là: ngày nay, làm sao thuyết-phục được giới-trẻ đến nhà thờ để nghe “cố đạo” thời-đại vẫn níu kéo nền thần-học cổ-lỗ đến chết được. Chết nhiều hơn và nhiều nhất, vẫn là câu kết của đức thày ở bài viết trên, có câu “thòng” rất ư là chắc nịch, như sau:

“Vậy thì, có hoả-ngục thật đấy. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai mà ta nghĩ là đang sống xa vời Chúa để họ ăn-năn hối cải và đừng tới nơi đó. Có thể lời cầu của ta sẽ cứu họ.” (xem Lm John Flader, bđd)

Thôi thì, cãi vã tranh luận mà làm gì, khi ngôn-từ và ý-niệm khô-khan, trừu-tượng của thần-học cổ-lỗ mà lắm khi bạn và tôi, ta cứ tưởng đó là lối học về thần rất chính-mạch có chính-đáng chăng?

Tốt hơn hết, có lẽ ta nên sống thực lời dạy theo đúng ý tác-giả Tin Mừng viết và sống những 40 hoặc 70 năm sau thời đại Đức Giêsu từng sống. Các tác-giả Tin Mừng từng đặt vào miệng Thày Giêsu mình những câu khuyên/lời dạy chỉ mang tính văn-hoá của người xưa, rất Do-thái, mà thôi.

Thôi thì, ta cũng nên đi vào lời khuyên/dạy đầy hưng-phấn của các đấng bậc rất thánh trong Đạo từng đúc-kết ý-nghĩa Lời Thày dạy, bằng câu nói để đời nhưu sau:

“Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn,

mai sau tôi sẽ được biết hết,

như Thiên Chúa biết tôi.

Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến,

cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.”

(1Cr 13: 13)

Với người đời, chí ít là người ngoài đạo, thì sống “đức mến cao trọng hơn cả”, là sống bằng những tư-tưởng rất đúng đạo-làm-người, như truyện kể làm kết-luận ở bên dưới:

“Tại vùng trang trại xa xôi, có người nông-dân nọ, năm nào cũng trồng được những cây ngô rất tốt. Năm nào ông cũng mang ngô tới hội-chợ liên-bang và năm nào ngô của ông cũng đạt giải nhất. Ai cũng cho rằng ông có những bí-quyết riêng độc-đáo. Có lần, một phóng-viên đến phỏng-vấn ông phát-hiện ra rằng: nông-dân này luôn san-sẻ những hạt giống ngô tốt nhất của mình với hàng xóm ở trang trại xung quanh.

Ông bèn hỏi:

– Tại sao bác lại chia những hạt giống tốt nhất đi, trong khi năm nào họ cũng đem sản-phẩm đến cùng một hội chợ liên-bang để cạnh-tranh với sản-phẩm của bác vậy?
– Anh không biết ư, gió luôn thổi phấn hoa và cuốn chúng từ trang trại này sang trang trại khác, từ cánh-đồng này sang cánh-đồng khác. Nếu những người hàng xóm quanh tôi chỉ trồng được những cây ngô xấu thì việc thụ phấn do gió rõ ràng sẽ làm giảm chất-lượng ngô của chính trang-trại của tôi. Tức là, nếu tôi muốn trồng được ngô tốt, tôi cũng phải giúp những người xung quanh trồng được ngô tốt đã!

Cuộc sống cũng như vậy. Những người muốn được hạnh-phúc phải giúp những người sống quanh mình hạnh-phúc. Những người muốn thành-công phải giúp những người quanh mình thành-công. Giá trị cuộc sống của bạn được đo bằng những cuộc sống mà bạn “chạm” tới. (trích truyện kể do một vị ký tên là “St” từng sưu-tầm, mới vừa gửi lên mạng).

Nghe kể thế rồi, thiết tưởng bạn cũng như tôi, ta cứ âm-thầm cất lên lời ca tiếng hát rất vang vọng một nhắn-nhủ, bảo rằng:

“Tình ta sớm muộn gì… cũng hấp hối!…
Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau,
những men nồng tình sâu rã rời.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Vâng. Hãy “rót cho đầy hồn nhau”, “những men nồng tình sâu”, rồi ra cuộc sống của bạn và của tôi, cũng sẽ đong đầy nhiều ý-nghĩa. Những ý và nghĩa của thứ tình thương-yêu rất đẹp trong đời. Dành cho hết mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn không tin hoả ngục

như nơi chốn

nhưng còn tin vào thiên-đàng

như tình-huống đàng hoàng