VƯỜN CÂY DẦU

VƯỜN CÂY DẦU

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Cách đây vài năm, diễn viên Mel Gibson đạo diễn và sản xuất một bộ phim được công chúng đặc biệt hưởng ứng.  Với tựa đề, Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, bộ phim khắc họa lại cuộc vượt qua của Chúa Giêsu, từ vườn Cây Dầu cho đến cái chết trên Núi Sọ, tác giả nhấn mạnh đến các đau đớn thể xác của Ngài.  Bộ phim thể hiện sống động từng chi tiết các đau đớn mà một người bị đóng đinh thập giá phải chịu, khi bị đánh, bị tra tấn, và bị sỉ nhục.

Trong khi hầu hết các phái trong Giáo hội tán thưởng bộ phim, cho rằng cuối cùng thì cũng có người làm một bộ phim khắc họa thật về những đau đớn của Chúa Giêsu, thì nhiều học giả Kinh thánh và nhiều ngòi bút thiêng liêng khác lại lên tiếng chỉ trích.  Tại sao lại thế?  Có gì sai khi chiếu một bộ phim dài với chi tiết sống động, những máu me của việc đóng đinh thập giá, vốn thực sự rất hãi hùng?

Có gì sai (hay nhẹ hơn là không hợp) khi đây chính là những gì mà Kinh thánh đã không ghi lại về cái chết của Chúa Giêsu.  Tất cả bốn Tin mừng đều cố gắng không tập trung vào đau đớn thể xác của Chúa Giêsu.  Các mô tả trong Tin Mừng về những đau đớn thể xác của Ngài đều hết sức ngắn gọn: “Họ treo ngài giữa hai phạm nhân.”  Philatô cho “đánh đòn Đức Giêsu rồi giao ngài cho người ta đem đi đóng đinh.”  Tại sao lại rút gọn như thế?  Tại sao không mô tả chi tiết?

Lý do mà các tác giả tin mừng không tập trung vào những đau đớn thể xác của Chúa Giêsu là họ muốn chúng ta tập trung vào một điều khác, cụ thể là những đau đớn trong cảm xúc và tinh thần của Ngài.  Cuộc thương khó của Chúa Giêsu, xét theo chiều sâu thực sự, là một tấn kịch tinh thần, chứ không phải tấn kịch thể lý, là đau khổ của một người đang yêu, chứ không phải đau đớn của một vận động viên.

Do đó, chúng ta thấy khi Chúa Giêsu tiên liệu cuộc khổ nạn của mình, những gì Ngài lo lắng không phải là đòn roi hay mũi đinh đóng vào tay mình.  Mà Ngài đau đớn và lo lắng cho sự cô độc mình sẽ phải đối diện, cho kết cuộc bị những người đã nói yêu mến Ngài phản bội và bỏ rơi, và cho tình cảnh, theo cách diễn đạt của Gil Bailie là, “bị tất cả loại bỏ.”

Như thế cuộc thương khó của Chúa Giêsu rõ ràng là một tấn kịch tình yêu.  Nó bắt đầu với mồ hôi máu đổ ra trong vườn Cây Dầu, và kết thúc với việc mai táng Ngài trong vườn.  Chúa Giêsu đang đổ mồ hôi máu trong vườn, chứ không phải trên đấu trường.  Vậy, việc ở trong vườn, có gì đặc biệt?

Về mặt tượng hình, vườn không phải là nơi trồng rau và dĩ nhiên cũng không phải là nơi trồng hoa.  Vườn là nơi của những người yêu nhau, là nơi cảm nhận hạnh phúc, nơi uống rượu, nơi Adong và Evà đã trần truồng mà chẳng biết, nơi người ta yêu nhau.

Và các tác giả Phúc Âm đặt khởi đầu và kết thúc cuộc thương khó của Chúa Giêsu trong vườn để nhấn mạnh rằng, Chúa Giêsu, một người đang yêu (chứ không phải Chúa Giêsu Vua, Pháp sư, hay Ngôn sứ), đang trải qua tấn kịch này.  Và chính xác tấn kịch này là gì?  Khi Chúa Giêsu đổ mồ hôi máu trong vườn và van xin Chúa Cha đừng bắt Ngài “uống chén này,” thì lựa chọn thực sự của Ngài không phải là: Ta sẽ để mình phải chết hay sẽ dùng đến sức mạnh thần thiêng để cứu mạng mình? Nhưng đúng hơn, lựa chọn của Ngài là: “Ta sẽ chết cách nào?  Ta sẽ chết trong giận dữ, cay đắng, và không tha thứ, hay Ta sẽ chết với một tấm lòng nồng ấm thứ tha?”

Tất nhiên, chúng ta biết Chúa Giêsu đã đi qua tấn kịch này như thế nào, Ngài đã chọn lấy lòng bao dung và tha thứ cho những người hành hình mình, và trong toàn bộ những u ám đó, Ngài vẫn giữ vững những gì Ngài đã giảng dạy trong suốt đời rao giảng, chính là tình yêu, tình thương, và tha thứ sẽ tuyệt đối chiến thắng.

Hơn nữa, những gì Chúa Giêsu đã làm trong tấn kịch tâm hồn này là những gì chúng ta phải noi theo hơn là đơn thuần ngưỡng mộ, vì tấn kịch này cũng hoàn toàn là tấn kịch tình thương trong đời chúng ta với vô vàn cách thể hiện khác nhau.  Cụ thể là:

Đến cuối đời, chúng ta sẽ chết thế nào đây?  Lòng chúng ta sẽ giận dữ, bám víu, bất dung, và cay đắng vì sự bất công của cuộc đời?  Hay, lòng chúng ta sẽ khoan dung, biết ơn, cảm thông, nồng ấm, như tấm lòng Chúa Giêsu khi Ngài thưa với Chúa Cha là xin theo ý Cha đừng theo ý Con?

Hơn nữa, đây không phải là chọn lựa cốt yếu và duy nhất mà chúng ta phải đối diện trong giờ chết, nhưng là chọn lựa chúng ta phải đối diện hằng ngày, nhiều lần mỗi ngày.  Biết bao lần khi va chạm hàng ngày với người khác, với gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, và cả xã hội nói chung, chúng ta đã phải chịu những lạnh lùng, hiểu lầm, bất công, và cả bạo hành chủ ý nữa.  Từ sự lãnh đạm của một thành viên trong gia đình trước lòng tốt của chúng ta, cho đến một lời bình luận ác ý chủ tâm làm tổn thương chúng ta, đến một sự bất công hết sức ở nơi làm việc, đến việc bị thành kiến và xúc phạm, và bàn ăn, nơi làm việc, phòng họp, và cả trên đường, tất cả đều là những nơi chúng ta cảm nghiệm hàng ngày, ít hay nhiều, những gì Chúa Giêsu đã trải qua trong vườn Cây Dầu, cảm giác, bị tất cả loại trừ.  Trong bóng đêm đó chúng ta có đi theo ánh sáng của mình?  Đối diện với những thù ghét đó, chúng ta có theo tiếng gọi của tình yêu hay không?

Đó đích thực là tấn kịch trong Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, và ở đó những đòn roi, đinh nhọn không phải là tâm điểm.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

KHOẢNG CÁCH THẾ HỆ

KHOẢNG CÁCH THẾ HỆ

Tác giả: Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.

Chuyên viên kinh tế Văn Khánh tâm sự với bạn bè: “Năm nay mình hơn bốn chục tuổi rồi mà ông bố vẫn coi mình như còn con nít. Có chuyện vui chia sẻ với cụ thì cụ sẵn sàng dồn cho mấy lời khuyên bảo, mà chẳng bao giờ để ý tới cách thức mình đã giải quyết khó khăn”…

Bà mẹ của cô con gái 29 tuổi tới thăm cháu ngoại. Bà tự động dọn dẹp phòng của cháu, thay đổi hướng giường, nói là nằm thế này để tránh gió độc. Trước khi ra về, bà còn dặn con gái là phải ăn uống thế này thế kia cho có nhiều sữa. Và chớ có cho cháu ngoại của bà ăn nhiều rau cải kẻo nó đi tướt…

Thực là lòng cha mẹ thương con cháu như trời như biển. Chăm lo cho con từ lúc nằm ngửa, phơi chim, cho tới khi trưởng thành, nên ông nên bà.

Vậy mà cũng có con than phiền, bảo rằng chẳng để chúng yên, xía vào đời tư của chúng, coi chúng như còn thơ dại.

Các cụ coi có tức hay không cơ chứ!!!

Vâng, đó là những cảnh ngộ thường thấy trong mọi xã hội. Người ta nói tới khoảng cách giữa người già và người trẻ ngoài xã hội, giữa cha mẹ và con cái trong gia đình.

Sử gia kiêm chính khách Pháp Alexis de Tocqueville (1805-1859) có nói: “Trong các quốc gia dân chủ, mỗi thế hệ là một bộ lạc mới (people)”.

Tại các quốc gia Âu Mỹ, có 4 lớp thế hệ được nêu ra:

-Thế hệ cựu chiến binh sinh ra từ 1922-1943,  tôn trọng truyền thống và sống thích hợp với hậu quả của Thế chiến I.

-Thế hệ trẻ em bùng phát, (babyboomers), nhiều lý tưởng sanh từ 1946-1964

-Thế hệ X, tự lập, thành thạo kỹ thuật mới, rất linh động  sinh từ 1965-1979,

-Thế hệ Y, millennis ra đời trong thời gian 1980-1994 có thái độ lạc quan, tự tin, thực tế, đa dạng và nghĩ tới cá nhân nhiều hơn.

Danh từ Generation Gap, Khoảng Cách Thế Hệ được dùng tại các xã hội Âu Mỹ vào thập niên 1960. Mỗi thế hệ cách nhau từ 20-30 năm là thời gian trung bình để trẻ em lớn lên và thành người lớn thực thụ.

Tự điển Oxford định nghĩa generation gap là sự khác biệt về “thái độ” (Attitude) giữa những người ở thế hệ khác nhau. Thái độ bao gồm sự suy nghĩ và thấy thế nào về một sự việc hoặc một người nào đó. Như là:

-Sự khác nhau trong quan điểm về nếp sống hoặc thiếu sự hiểu biết lẫn nhau giữa lớp thanh niên và lớp người già.

– Khác biệt tuổi tác, giữa những người ở giai đoạn khác nhau của cuộc đời.

-Khác biệt thế hệ, giữa những người sinh trưởng trong  thời gian khác nhau, hình thành trong điều kiện xã hội khác nhau.

Khoảng cách tạo ra những khác biệt về tâm lý, hành động, và đối xử.Vì họ không hiểu nhau, có những không giống nhau về chính kiến, kinh nghiệm và bản chất.

Thực ra, chuyện này cũng chẳng có gì mới lạ. Nó đã hiện diện trong nếp sống con người từ lâu, nhưng rõ ràng hơn kể từ khi có những tiến bộ về khoa học, kỹ thuât.

Thái độ người già

Thuở xưa, khi nhu cầu đời sống được đáp ứng bằng sức lực và sự khôn ngoan của con người, thì người già, nói chung, được trọng nể vì kinh nghiệm của họ.

Với tuổi đời, họ tích lũy được những hiểu biết về canh tác săn bắn, về cách sống, về sự đối phó với khắc nghiệt của thiên nhiên, về quan hệ xã hội cũng như về văn hóa, nghệ thuật. Các kinh nghiệm này rất cần thiết cho con cháu, mới vào đời, cho nên vai trò của họ được coi như kim chỉ nam cho giới trẻ trong việc mưu sinh, lập nghiệp.

Ngoài ra, họ cũng là người nắm giữ tài sản gia đình giòng họ, có quyền sắp đặt, phân phát cho nên sự nhờ vả, tôn trọng của giới trẻ đối với họ là điều dễ hiểu.

Trong xã hội, có những tôn-ti-trật-tự, kính-trên-nhường-dưới, nuôi già, dạy trẻ, kính già, già để tuổi cho. Cha mẹ nào cũng muốn con cái theo gương cha mẹ, để “chẳng giống lông cũng giống cánh” và để giữ sự kế tục, danh dự dòng họ. Mà nói đến kế tục thì nhiều cụ thấm nhuần Nho học đều muốn ‘hãy nối tiếp, làm theo và không được thay đổi” những gì tiền nhân để lại.

Do đó, cha mẹ nào cũng thích khuyên nhủ, dậy dỗ con cái. Có nhiều lý do được nại ra để trao cho con những kinh nghiệm từ bản thân của họ. Vì đã biết rõ con từ tấm bé khi con chưa biết gì, nên cứ giữ ý kiến là con bây giờ cũng còn non dại.

Vì lo lắng cho con, sợ con phạm lầm lỗi.

Vì muốn cho là mình còn cần thiết cho con cái.

Vì nghĩ rằng khuyên con vẫn còn là trách nhiệm và quyền hạn của cha mẹ.

Và cũng vì vẫn muốn kiểm soát con cái.

Tuy nhiên, phải vô tư mà thấy rằng, kinh nghiệm của người già có thể có tính cách chủ quan, cá nhân về một lãnh vực nào đó. Vậy mà nhiều cụ cứ cho là có thể áp dụng trong mọi trường hợp, vào mọi thời điểm với hoàn cảnh khác nhau.Do đó họ khư khư bảo vệ ý kiến mình, không chịu chấp nhận ý kiến của  trẻ, có thể hợp thời đại hơn.

Ngày nay, khoa học kỹ thuật quá tiến bộ, bất cứ kiến thức mới nào cũng dễ dàng tìm kiếm qua báo chí, internet, do đó giới trẻ cũng bớt lệ thuộc vào giới già ở học hỏi kinh nghiệm. Khi đưa ra ý kiến, nhiều khi các cụ có thái độ gia trưởng, truyền lệnh. Thay vì “nên thế này thế kia” thì họ lại “bố mẹ muốn như vậy”.

Họ cũng đa nghi, cho là ý tưởng của giới trẻ không có căn bản nên không chịu bàn giao công việc, trách nghiệm…

Họ cũng không muốn thay đổi, đảo lộn những sinh hoạt mà họ đã quen thuộc từ nhiều năm. Thực ra có thể là họ không thích ứng được với hoàn cảnh mới, kỹ thuật mới và không theo kịp với mức độ nhậm lẹ của sự việc. Từ đó, hành động của các cụ quá đắn đo, dè dặt.

Không ít cụ rất dễ xúc động, có mặc cảm tự ty, cho rằng mình bây giờ đã về hưu, bớt lợi tức, đâu còn quyền uy đối với con cái. Ngày xưa thì cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó. Giờ đây đổi đòi, con cái đặt đâu, cha mẹ ngồi đó. Chúng tự do lựa chọn phối ngẫu tương lai rồi thông báo mẹ cha. Đám cưới chúng giới hạn số bạn bè mình được mời. Muốn tới thăm cháu, phải hẹn trước. Rồi các cụ hờn dỗi, tủi thân vì nhiều  chuyện vẩn vơ, không đâu.

Thái độ giới trẻ

Bản chất giới trẻ cũng có một số điều cần lưu ý, như là:

-Có thể nông cạn về lẽ sống

-Nhẹ tình cảm gia đình, quê hương, cội nguồn dân tộc.

-Nhiều hoài bão, không thỏa mãn với cái đã có.

Trước hết, phải thừa nhận là con cái bây giờ có nhiều điểm thuận lợi hơn cha mẹ già. Các con có kiến thức cao, suy luận thực tế, khoa học hơn, tính tình cởi mở, dám nghĩ dám làm việc khó, việc lớn

Các con khỏe mạnh hơn, nhiều nhiệt huyết hơn, có thể làm  nhiều việc trong một thời gian định sẵn. Tầm nhìn của con cái thoáng rộng và thực tế hơn. Họ có nhiều dự tính cho tương lai và luôn luôn nghĩ tới sự tranh đua, phấn đấu.

Đối với cha mẹ, các con cũng có một cái nhìn hơi e ngại dè dặt, ít thổ lộ, ít tiếp xúc. Lý do là văn hóa giáo dục khác biệt. Một bên nghiêm khắc, kín đáo, một bên ồn ào cởi mở. Một bên dùng những ngôn từ “thời đại” mà phía kia, mù tịt, chẳng hiểu ất giáp gì. Như là “phần mềm, ổ cứng”…trong máy computer.

Tuy nhiên, con người dù tài ba đến mấy chăng nữa cũng phải có nguồn gốc, có cha mẹ:

Con người có bố, có ông

Như cây có cội, như sông có nguồn”

Vì thế cũng nên luôn luôn nhớ câu “uống nước, nhớ nguồn”, dù cha mẹ có không hoàn hảo, vẹn toàn.

Vả lại:

“Tuổi già hiu hắt ngọn đèn

Trước cơn gió lớn, sức bền còn không”.

Và:

“Sống thì con chẳng cho ăn

Chết thì xôi thịt, làm văn tế ruồi”.

Nhiều cháu có thể có cả một kho tàng kiến thức nhưng nếu được kết hợp với sự thấu đáo, kinh nghiệm, với sự khôn ngoan của mẹ cha thì kiến thức của mình sẽ đạt được nhiều thành công hơn.

Các cháu nhiều sức lực, trí óc tươi trẻ nên hành động nhanh nhẹn hơn. Nhưng “đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp phải đá, mà quàng phải dây”. Cha mẹ chậm chạp, nhưng đôi khi chậm mà chắc.

Một số cháu cứ nghĩ rằng cha mẹ già yếu, trở thành vô dụng.

Thực ra già vẫn còn sức mạnh của sự già: sức mạnh của kiên nhẫn, tôi luyện từ nhiều chục năm lăn lội trường đời. Họ vẫn còn khả năng làm việc, nhưng để hoàn tất, họ cần thời gian lâu hơn. “Có còn hơn không”, phải không các cháu?.

Nhìn chung

Nói ra thì nhiều, nhưng đi vào thực tế, phải công nhận là có một khoảng cách dài ngắn, những khác biệt nào đó giữa các thế hệ khác nhau trong cộng đồng, giữa cha mẹ, con cái. Khác biệt về suy nghĩ, hành động, về quan niệm sống, về cách diễn tả tình cảm, tâm trạng.

Sông có khúc, người có lúc thì mỗi lứa tuổi cũng có đặc điểm, cá tính của mỗi thế hệ, mỗi lớp tuổi.

Không nên coi khác biệt đó là mâu thuẫn gây trở ngại cho hài hòa gia đình, xã hội mà là một lẽ đương nhiến trong đời sống, có già có trẻ. Tre già sát cánh măng non. Cũng như có âm thì có dương, có sáng thì có tối, có tốt phải có xấu.

Chẳng nên tìm cách xóa bỏ cách biệt mà nên “biết người biết mình”, để hòa hợp chung sống.

Thích nghi, chấp thuận với khác biệt của nhau, miễn là những khác biệt này không mang tính cách hủy hoại lẫn nhau.

Giúp nhau gọt rũa khác biệt cho dần dần ăn khớp với nhau.

Sẵn sàng lắng nghe nhau, phân tích dị biệt, bàn cãi thẳng thắn rồi chấp nhận nhau.

Tổng kết các điểm đã thông cảm, thỏa thuận thành đường lối chung cho đại gia đình.

Mọi người nên nghĩ đời sống  là một cái vòng luẩn quẩn, như diễn tả của bác sĩ  Milton Greenblatt (1914-1994), nhà tiền phong Hoa Kỳ vể chăm sóc sức khỏe tâm bệnh:

“Trước hết, chúng ta là con của cha mẹ

Rồi là cha mẹ của bầy con

Sau đó sẽ  trở lại làm cha mẹ của cha mẹ

Cuối cùng là con của bầy con »

Để mà thông cảm, chung sống với nhau.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

www.bsnguyenyduc.com

http://www.youtube.com/user/Drnguyenyduc/video

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa được trao giải Tự Do Ngôn Luận 2014

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa được trao giải Tự Do Ngôn Luận 2014

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu tù nhân lương tâm đã bị giam cầm 6 năm và hiện vẫn trong tình trạng bị quản chế.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu tù nhân lương tâm đã bị giam cầm 6 năm và hiện vẫn trong tình trạng bị quản chế.

23.03.2015

Hội Nhà Văn Na Uy lần đầu tiên trao tặng giải Tự Do Ngôn Luận cho một nhà văn Việt Nam, vinh dự đó đã về tay nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu tù nhân lương tâm đã bị giam cầm 6 năm và hiện vẫn trong tình trạng bị quản chế.

Ông Nghĩa năm nay 64 tuổi, là nhà thơ, nhà văn, ký giả và nhà bình luận. Ông từng là hội viên Hội Nhà Văn Hải Phòng và là một trong những sáng lập viên của Khối 8406, một phong trào dân chủ bị cấm hoạt động.

Đây là giải thưởng quốc tế thứ Tư mà ông Nguyễn Xuân Nghĩa đã nhận được. Năm 2013, ông được trao giải Lưu Hiểu Ba dành cho một nhà văn can trường do Hội Văn Bút Độc lập của Trung Quốc trao tặng.

Năm 2003 ông bị bắt cùng với nhiều nhà hoạt động khác, trong đó có nhiều nhà văn, ký giả và blogger trong một chiến dịch đàn áp giới bất đồng chính kiến có quan điểm đối lập với nhà nước Việt Nam.

Lễ trao giải diễn ra tại hội nghị thường niên của Hội Nhà Văn Na Uy trong hai ngày 21 và 22 tháng 3 năm 2015 tại Khách sạn Bristol ở Oslo.

Giải Tự Do Ngôn Luận 2014 của Hội Nhà Văn Na Uy được thành lập năm 1893. Năm 1993, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập, Bộ Văn Hóa Na Uy đã quyết định tặng một số tiền hàng năm để làm giải thưởng trao cho các nhà văn Na Uy hoặc nước ngoài từng có những thành tích đấu tranh cho tự do ngôn luận.

Du lịch Việt Nam hết hấp dẫn du khách ngoại quốc

Du lịch Việt Nam hết hấp dẫn du khách ngoại quốc

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Việt Nam đã không còn sức hấp dẫn du khách ngoại quốc, mặc dù đây là mùa mà các năm trước du khách kéo đến rất đông và nhộn nhịp.

Du khách nước ngoài cầm tổ ong mật tại một điểm du lịch ở cồn Thới Sơn, tỉnh Tiền Giang. (Hình: Tuổi Trẻ)

Tờ Tuổi Trẻ trích dẫn phúc trình của Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, cho hay số du khách ngoại quốc đến Việt Nam trong hai tháng đầu của năm 2015 đã giảm 10.6% so với cùng kỳ của năm 2014.

Dư luận chung tại Việt Nam trong nhiều năm qua cho rằng, du lịch Việt Nam không còn hấp dẫn du khách ngoại quốc vì dịch vụ tại nhiều điểm du lịch ở các tỉnh miền Tây gần như không có gì thay đổi, trong khi đó tại nhiều nơi khác, du khách than phiền tình trạng ô nhiễm, thiếu thông tin…

Bà Ngô Nguyễn Thúy Oanh, hướng dẫn viên công ty du lịch sinh thái Tiền Giang than thở với báo Tuổi Trẻ rằng, “Khách vắng lắm, khách Nhật chẳng thấy mà khách Tây còn thưa thớt hơn trong khi giờ này năm ngoái tụi tui bận rộn dữ lắm.”

Bà Oanh giải thích vì sao khách ngoại quốc đến ít dần: “Dịch vụ mình kém quá, hơn 20 năm làm hướng dẫn viên qua lại cồn Thới Sơn ở, đây tôi không thấy có sản phẩm du lịch gì mới cho du khách, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có uống trà mật ong, ăn trái cây, nghe ca vọng cổ, chèo xuồng… trong khi du lịch theo tôi hiểu đa dạng dịch vụ lắm.”

Ông Carlo Campisrn, một du khách người Ý, được báo tuổi trẻ dẫn lời cho biết là ông cùng bạn gái có 4 tuần đi dọc Việt Nam từ Sa Pa, Hà Nội, vịnh Hạ Long, Huế, Hội An và ông nhận thấy các di tích tại Việt Nam có nhiều nhưng chưa hấp dẫn nên chỉ xem qua một lần là đủ.

Khi được hỏi là liệu có quay lại Việt Nam không, ông Carlo cho hay, hiện chưa hề nghĩ đến dù phong cảnh Việt Nam đẹp nhưng luôn bị những người bán hàng rong chèo kéo, mời chào. Di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng tàu, xe công cộng chưa thật sự thuận tiện vì thiếu thông tin.

“ Du lịch Việt Nam đã quá lạc hậu vì thái độ làm du lịch không nghiêm túc và dịch vụ không được cải thiện, điểm đến ô nhiễm,” đó là nhận xét của ông

Phạm Hà, giám đốc công ty Luxury Travel, Hà Nội, khi giải thích vì sao du khách ngoại quốc ít chọn Việt Nam.

Vẫn theo báo Tuổi Trẻ, “Thống kê của Tổng Cục Du Lịch Việt Nam cho thấy, riêng thị trường khách Nga hai tháng đầu năm 2015 chỉ có hơn 68,000 lượt đến Việt Nam, giảm 25.7% so với hai tháng cùng kỳ năm ngoái.”

“Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có khách đến Việt Nam cũng giảm nhiều. Cụ thể, Trung Quốc giảm 40.3%; Đài Loan giảm 27.4%; Hồng Kông giảm 51%, Campuchia giảm 13.1%; Thái Lan giảm 11.1%; Malaysia giảm 14.8%…” (Tr.N)

Thủ tướng Lý Quang Diệu và các đề nghị của ông cho Việt Nam

Thủ tướng Lý Quang Diệu và các đề nghị của ông cho Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-03-23

03232015-pm-l-k-yew-n-sug-for-vn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Người dân Singapore cầu nguyện trước hình ảnh của cố cựu thủ tướng Lý quang Diệu (Lee Kuan Yew) được dựng lên nhiều nơi ở trung tâm cộng đồng Tanjong Pagar sau khi ông mất tại Singapore vào ngày 23 tháng 3 năm 2015.

Người dân Singapore cầu nguyện trước hình ảnh của cố cựu thủ tướng Lý quang Diệu (Lee Kuan Yew) được dựng lên nhiều nơi ở trung tâm cộng đồng Tanjong Pagar sau khi ông mất tại Singapore vào ngày 23 tháng 3 năm 2015.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Theo thông báo của văn phòng Thủ tướng Singapore thì ông Lý Quang Diệu người được hầu hết dân chúng đảo quốc ngưỡng mộ như một vị lập quốc, đã qua đời vào lúc 3 giờ 18 phút sáng ngày 23 tháng 3 năm 2015. Mặc Lâm ghi nhận ý kiến của các chuyên gia thông qua những đề nghị của ông đối với Việt Nam.

Nói đến Singapore, không thể không nhắc đến tên tuổi của ông Lý Quang Diệu người đã biến khu vực đất đai không một chút giá trị trồng trọt, không có nước ngọt để uống và mọi sự bắt đầu gần như một con số không, chỉ sau vài thập niên đã vươn mình đứng dậy thành một đất nước phú cường về kinh tế, hùng mạnh về quốc phòng, ổn định về chính trị và tiếp tục là mô hình cho các nước đang phát triển noi theo.

Triết lý trọng dụng người tài

Những thành công vượt mức ấy có được từ sự dẫn dắt của ông Lý Quang Diệu, người mang kiến thức từ Anh quốc trở về áp dụng linh động trên phần đất hoang sơ được trao trả từ Anh. Ông đã áp dụng chính sách tận dụng nguồn nhân lực trí thức cao của nhân tài người Hoa khắp nơi quay về đảo quốc cũng như kêu gọi sự đóng góp của chuyên gia thuộc mọi quốc tịch trên thế giới để biến nền kinh tế tài chính nơi đây thành vị trí hàng đầu, cùng với kỹ nghệ sản xuất vật liệu cao cấp trong ngành y khoa và đào tạo nhân lực với nền giáo dục tiên tiến bậc nhất trong khu vực.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho biết sự lớn mạnh của Singapore là kết quả từ tận tậm tận lực và nhất là tầm nhìn của ông Lý Quang Diệu:

” Ông Lý Quang Diệu đã có tầm nhìn đúng đắn và cái điểm nổi bật của ông là dựa trên triết lý trọng dụng và tận dụng người tài. Ông luôn luôn lắng nghe ý kiến của người khác, thu hút người tài về Singapore.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh”

-Điều đó cho thấy là ông Lý Quang Diệu đã có tầm nhìn đúng đắn và cái điểm nổi bật của ông là dựa trên triết lý trọng dụng và tận dụng người tài. Ông luôn luôn lắng nghe ý kiến của người khác, thu hút người tài về Singapore. Ông đã lắng nghe khi Singapore có những biểu hiện tiến chậm hơn, ông đã mời các chuyên gia hàng đầu trên thế giới đến để góp ý. Điểm thứ hai ông rất thực dụng, rất tỉnh táo điều gì cản trở bước tiến của Singapore vì không thích hợp thì ông sẽ tìm cách sửa đổi, tìm cách thay thế. Điều thứ ba là ông hết sức trung thực. Ông coi trọng một bộ máy trung thực, ông trung thực đối với ông và ông trung thực đối với những người khác.

Ông Lý Quang Diệu là một chính khách trong thế giới tư bản có quan hệ rất mật thiết với Việt Nam. Ông được mời tư vấn kế hoạch phát triển kinh tế trong thời của chính phủ Võ Văn Kiệt. T.S Lê Đăng Doanh kể lại:

-Tôi có dịp được tiếp xúc với ông khi ông Lý Quang Diệu được Thủ tướng Võ Văn Kiệt mời sang để góp ý kiến cho Việt Nam thì ông Lý Quang Diệu đã có yêu cầu một cơ quan Việt Nam cung cấp số liệu về kinh tế đã nhờ Đại sứ Singapore tại Hà Nội và ông này đã đến gặp tôi lúc bấy giờ tôi là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, tôi đã soạn thảo một bộ tài liệu và viết ra thành tiếng Anh và sau đó khi sang Việt Nam ông Lý Quang Diệu đã rất cám ơn và sử dụng số liệu đó để góp ý kiến.

Tôi cũng có dịp hội họp với ông Lý Quang Diệu, trao đổi trực tiếp với ông trong những lần ông Lý Quang Diệu sang Việt Nam thì tôi đều được tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với ông. Ông mơ ước được một đất nước như là Việt Nam, có tiềm năng, có dân số, có vị thế chiến lược, có những con người thông minh luôn luôn học giỏi hàng đầu ở Singapore và các nơi trên thế giới. Họ chịu khó làm việc và ông nghĩ rằng đất nước Việt Nam phải là một trong đất nước hàng đầu ở châu Á này.

” Ông Lý Quang Diệu từng cho rằng “Tự do báo chí, tự do truyền thông tin tức đều phải lệ thuộc vào nhu cầu bảo vệ sự toàn vẹn của Singapore”. Đây là cách mà Việt Nam đang áp dụng với câu chữ là định hướng báo chí “

Ông cũng mong muốn Việt Nam phồn vinh và cường thịnh vì một Việt Nam phồn vinh và cường thịnh sẽ có lợi cho Đông Nam á, có lợi cho hòa bình và ổn định của khu vực và cũng có lợi cho Singapore. Vì vậy cho nên ông nhiệt thành cố vấn, ủng hộ sự cải cách cho Việt Nam, ủng hộ phát triển kinh tế tư nhân, ủng hộ hội nhập.

Ông Lý Quang Diệu là một trong những người có công đóng góp cho sự thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Với vận động của ông, các nước thành viên đã đồng thuận cho Việt Nam tham gia vào tổ chức này vào tháng 7 năm 1995. TS Lê Đăng Doanh nhận xét những đặc tính mà ông Lý được mến mộ khi đóng góp cho Việt Nam:

-Cá nhân ông đã dùng các uy tín và khả năng thuyết phục để thuyết phục các nước ASEAN chấp nhận Việt Nam tham gia vào tổ chức ASEAN. Ông cũng rất thẳng thắn, khi ông thấy những tiến bộ của Việt Nam chậm hơn ông mong muốn. Ông cũng rất thẳng thắn khi thấy rằng những cải cách của Việt Nam không được như ông kỳ vọng và trong hồi ký và các ý kiến lúc cuối đời ông cũng thẳng thắn nói lên những điều đó. Tôi nghĩ đó là một người bạn chân thành, một người bạn trung thực của Việt Nam và tôi tưởng nhớ ông, kính trọng ông và cám ơn ông về những gì ông đóng góp cho Việt Nam.

Quan niệm định hướng báo chí

Mặc dù là một nước thành công vượt bậc trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế tới quân sự, từ xây dựng một nền văn hóa nhân bản tới phát triển du lịch trong khuôn khổ của sự tôn trọng, cũng như phát triển các loại hình nghệ thuật căn cứ trên tính phổ quát nhân văn, nhưng một lĩnh vực rất quan trọng thuộc về quyền tối thượng của người dân thì Singapore lại tỏ ra yếu kém nhất, đó là quyền tự do báo chí.

Ông Lý Quang Diệu từng cho rằng “Tự do báo chí, tự do truyền thông tin tức đều phải lệ thuộc vào nhu cầu bảo vệ sự toàn vẹn của Singapore”. Đây là cách mà Việt Nam đang áp dụng với câu chữ là định hướng báo chí. Cũng không khác mấy với Việt Nam khi bị chỉ trích, ông Lý đã cho rằng các tờ báo chống ông được tài trợ bởi các thế lực thù nghịch ở nước ngoài.

Quan điểm cho rằng một số quyền tự do cần phải bị hy sinh để phát triển quốc gia của ông Lý Quang Diệu cũng từng gây tranh cãi nhất là quan điểm mô hình phương Tây về tự do dân chủ là không thể áp dụng được.

” Kiến nghị của ông Lý Quang Diệu cho đến nay chưa được thực hiện một cách có hiêu quả. Thí dụ như chuyện bộ máy nhà nước trọng dụng người tài. Thí dụ như xây dựng bộ máy công khai minh bạch. Thí dụ như xây dựng bộ máy không có tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng và không thể tham nhũng

TS Lê Đăng Doanh”

Luật sư Nguyễn Trần Bạt, tác giả của nhiều cuốn sách bàn luận chính trị cho biết nhận xét của ông về sự thiếu vắng tự do báo chí của Singapore, ông nói:

-Tôi cho rằng báo chí có hoạt động tự do hay không thì cuối cùng những thành tựu quan trọng nhất trong tất cả các hoạt động xã hội chính là cái xã hội ấy nó phát triển và no ấm. Có một câu nói rất hay mà tôi nghĩ rằng có thể áp dụng được: ở chỗ nào ngay sự ngốc nghếch đã được hạnh phúc rồi thì khôn ngoan là thừa! Tôi nghĩ rằng người Singapore đang no ấm chúng ta còn hồi hộp xem sự no ấm của họ có bền vững không? Và nếu sự no ấm này có dấu hiệu nào đó không bền vững thì chúng ta buộc phải nghiên cứu các nguyên nhân của nó trong đó có thể không có tự do báo chí hay tự do chưa thỏa đáng có thể là một nguyên nhân để chúng ta nghiên cứu.

Những điều chưa thực hiện được

Trong một bài trả lời phỏng vấn đăng trên Straits Times dưới tiểu tựa: “Việt Nam: mắc kẹt trong tư duy xã hội chủ nghĩa”, ông Lý Quang Diệu đã nói: về cải cách của Việt Nam đã thay đổi đáng kể từ chỗ khá lạc quan khi ông có các chuyến thăm đầu tiên vào những năm 1990. Giờ ông tin rằng thế hệ các nhà lãnh đạo cộng sản lớn tuổi của Việt Nam không có khả năng phá vỡ tư duy xã hội chủ nghĩa một cách cơ bản. Lúc đầu họ đồng ý bắt tay vào chặng đường cải cách bởi vì họ thấy rằng đất nước đang chẳng đi đến đâu. Nhưng từ đó đến giờ họ vẫn chưa thể hiện được quyết tâm thật sự trong việc đại tu hệ thống, điều mà người ta đã chứng kiến ở Trung Quốc.

Nhận xét về phát biểu này, Giáo sư TS Nguyễn Đình Cống, từng giảng dạy tại Đại học Xây dựng, có những bài viết nhận định về lý thuyết Mác Lê nin cũng như con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội chỉ là không tưởng, cho biết:

-Quá đúng! cái đất nước này muốn phát triển lên được thì phải từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin có nghĩa là từ bỏ những lý thuyết của cộng sản. Phải từ bỏ việc xây dựng chủ nghĩa xã hội vì những thứ ấy là không tưởng. Không những là không tưởng mà nó còn có nhiều độc hại. Cái Đại hội 12 này nếu như người ta hiểu ra được như thế, nếu người ta bỏ những thứ ấy thì không còn đảng cộng sản nữa thì mới có thể đưa dân tộc phát triển đúng hướng chứ còn cứ bám lấy những thứ ấy thì chỉ có đưa cả dân tộc này vào một hệ thống lệ thuộc vào Tàu thôi.

Mặc dù tiếp thu ý kiến của ông Lý Quang Diệu trên vấn đề hội nhập và phát triển cũng như chuyển đổi kinh tế, nhưng công cụ quản lý thành công của một nhà nước pháp quyền qua đóng góp của ông vẫn không được Việt Nam áp dụng, TS Lê Đăng Doanh chia sẻ:

-Kiến nghị của ông Lý Quang Diệu cho đến nay chưa được thực hiện một cách có hiêu quả. Thí dụ như chuyện bộ máy nhà nước trọng dụng người tài. Thí dụ như xây dựng bộ máy công khai minh bạch. Thí dụ như xây dựng bộ máy không có tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng và không thể tham nhũng! Tất cả những điều đó chúng ta chưa làm được và tôi nghĩ đấy là điều mà ông Lý Quang Diệu cũng tiếc và cá nhân tôi cũng rất tiếc cho đất nước của mình.

Ông Lý Quang Diệu được cộng đồng thế giới ngưỡng mộ, người dân Singapore tiếc thương có lẽ từ tư cách, tài năng và lòng yêu thương mảnh đất mà ông góp công đầu tạo dựng. Ông mất đi nhưng vẫn còn để lại những bài học mà nhiều nước đang học dở dang nhất là Việt Nam nơi từng được ông trực tiếp chia sẻ kinh nghiệm thành công của mình.

Widodo: ‘Đường chín đoạn không có căn cứ’

Widodo: ‘Đường chín đoạn không có căn cứ’

Đây là lần đầu ông Joko Widodo thăm Nhật Bản theo tư cách tổng thống

Tổng thống Indonesia Joko Widodo được dẫn lời nói đòi hỏi Biển Đông của Trung Quốc không có căn cứ luật pháp quốc tế.

Ông Widodo hôm 23/3 rời Jakarta đi Nhật Bản, sau đó sẽ thăm Trung Quốc và Malaysia.

Trả lời phỏng vấn báo Nhật Yomiuri bản tiếng Anh, ông nói: “Chúng ta cần hòa bình và ổn định ở châu Á- Thái Bình Dương.”

“Cần có ổn định chính trị và an ninh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì thế chúng tôi ủng hộ Bộ quy tắc ứng xử và đối thoại giữa Trung Quốc và Nhật, Trung Quốc và Asean.”

Nhưng trong bản tiếng Nhật, ông có phát biểu tranh cãi hơn khi nói: “’Đường chín đoạn’ mà Trung Quốc nói đánh dấu biên giới biển của họ không có căn cứ luật pháp quốc tế.”

Cương vực của Trung Quốc trên Biển Đông, vẽ theo cái gọi là ‘đường chín đoạn’, bao trọn khoảng 90% diện tích mặt nước ở Biển Đông.

Khi được Reuters yêu cầu giải thích, cố vấn đối ngoại của Tổng thống Indonesia, Rizal Sukma, nói rằng ông Widodo không ám chỉ yêu sách chung của Trung Quốc trên biển mà chỉ đề cập đến bản đồ dựa trên ‘đường chín đoạn’.

“Năm 2009, Indonesia đã gửi lập trường chính thức về vấn đề cho Ủy ban Phân định thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc, khẳng định đường 9 đoạn không có cơ sở pháp lý.”

“Không có gì thay đổi,” ông này nói.

Đường chín đoạn, còn gọi là đường lưỡi bò, được chính phủ Quốc dân đảng công bố lần đầu năm 1947 và sau này cũng được Đảng Cộng sản Trung Quốc dùng lại.

Trong chuyến thăm Nhật lần đầu theo tư cách tổng thống, ông Widodo sẽ gặp Thủ tướng Shinzo Abe.

Bộ trưởng quốc phòng hai nước dự kiến ký một thỏa thuận quốc phòng.

Đây là nỗ lực mới nhất của Nhật muốn thắt chặt quan hệ an ninh với Đông Nam Á.

Sống Theo Cách Của Chính Mình

Sống Theo Cách Của Chính Mình

Khi bạn im lặng,

những người yêu thương bạn sẽ bảo bạn biết lắng nghe,

những kẻ ghét bạn sẽ bảo bạn … khinh người !!!

Khi bạn nói,

những người yêu thương bạn sẽ bảo bạn biết chia sẻ,

những kẻ ghét bạn sẽ bảo bạn nói nhiều !!!  (Biết rồi, khổ lắm, nói mãi … )

Khi bạn nói về những điều to lớn,

những người yêu thương bạn sẽ bảo bạn đang truyền cho họ cảm hứng,

những kẻ ghét bạn sẽ bảo bạn đang “nổ” đó .
Khi bạn nói về những điều rất đời thường,

những người yêu thương bạn sẽ bảo bạn giản dị,

những kẻ ghét bạn sẽ bảo bạn tầm thường.
Khi bạn sống thật,

những người yêu thương bạn sẽ tha thứ và yêu thương bạn nhiều hơn,

những kẻ ghét bạn sẽ lại càng căm ghét bạn hơn.
Khi bạn hy sinh,

những người yêu thương bạn sẽ nói “cảm ơn”,

những kẻ ghét bạn sẽ nói “đạo đức giả”.

Hãy đơn giản sống theo cách của chính mình.
Không ai hoàn hảo cho nên mình sống không ích kỷ,

sống tử tế, và ”tự mình biết riêng mình, và ta biết riêng ta” là được rồi !
Jos-Ant.MG
Tâm Ngôn dịch

Phép lạ tại Napoli nhân dịp Đức Thánh Cha viếng thăm thành phố

Phép lạ tại Napoli nhân dịp Đức Thánh Cha viếng thăm thành phố

dongten.net

Pope_Francis_and_Cardinal_Sepe_with_St_Januarius_relic_in_Naples_cathedral_March_21_2015_Credit_CTV_CNA

NAPOLI. Hôm thứ 7, 21.3 vừa qua, khi Đức Thánh Cha Phanxicô đang chia sẻ với các tu sĩ, linh mục và chủng sinh tại Napoli, một phép lạ đã xảy ra: bình đựng máu khô của một vị thánh từ thế kỷ thứ tư đã hóa lỏng.

Hiện tượng này được cho là thường xảy ra tại đây ba lần trong một năm, vào ngày 1.5, ngày 19.9 (lễ kính thánh nhân) và ngày 16.12.

Lần cuối cùng hiện tượng này xảy ra đối với một vị giáo hoàng là vào năm 1848 với Đức Piô IX. Phép lạ này đã không xảy ra khi Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến viếng thăm thành phố Napoli vào tháng 10.1979 và cả dịp Đức Biển Đức XVI vào tháng 10.2007.

Máu này là máu của thánh Januarius, từng là giám mục Napoli và tử đạo vào thế kỷ thứ IV, bây giờ là bổn mạng xứ Napoli. Xương của ngài vẫn còn được bảo tồn trong Nhà thờ Chánh Tòa. Người ta tin rằng ngài đã chịu tử đạo trong thời kỳ bách đạo dưới thời Hoàng đế Roma Diocletian, người thoái vị vào năm 305.

Vào ngày 21.3, vào cuối buổi gặp gỡ các linh mục, tu sĩ và chủng sinh tại nhà thờ chánh tòa ở Napoli, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chúc lành cho thánh tích này. Khi Đức Hồng Y của giáo phận, Đức Crescenzio Sepe, nhận lại thánh tích, máu đã hóa lỏng một nửa.

Khi Đức Thánh Cha vừa quay đi, Đức Hồng Y nói với ngài rằng: “Dường như thánh Januarius yêu mến Đức Thánh Cha, vì máu thánh đã hóa lỏng một nửa rồi.”

Để phép lạ xảy ra, cần phải đợi vài phút trước khi khối máu đỏ và khô tiếp xúc với một phía của bình đựng hóa thành máu lỏng lan ra toàn bộ bình thủy tinh.

Đức Phanxicô hóm hỉnh trả lời: “Các bạn thấy là thánh nhân chỉ yêu mến chúng ta một chút thôi. Chúng ta cần phải hoán cải nhiều hơn.” Mọi người cười rộ lên.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

(theo http://www.catholicnewsagency.com)

Đường vào Harvard của Khoa Vũ: ‘Hãy để ước mơ dẫn đường’

Đường vào Harvard của Khoa Vũ: ‘Hãy để ước mơ dẫn đường’

Nguoi-viet.com

Thiên An/Người Việt

BERKELEY, California (NV) – Một sáng cuối năm 2010, trên tuyến xe bus đường Garden Grove có một anh chàng 21 tuổi tên Khoa Vũ mới sang Mỹ đang ngày ngày đến lớp học Tiếng Anh miễn phí. Một sáng năm 2015, chàng trai đó đang đứng giữa hội trường rộng lớn của trường UC Berkeley, trước hàng trăm kiến trúc sư và giáo sư, để được vinh danh về mẫu thiết kế anh vẽ cho mùa học trước. Giải thưởng này chưa phải là điều khiến anh vui nhất ngày hôm đó. Anh vừa nhận được thư chúc mừng và mời vào học của ngôi trường mơ ước: Đại học Havard.

“Đừng bỏ cuộc, hãy để ước mơ dẫn đường.” (Hình: Khoa Vũ)

Chưa ở Mỹ đến 5 năm, chàng trai cao mảnh khảnh và có gương mặt rất hiền sau cặp kiếng dày cộm đã có nhiều giải thưởng đáng nể trong giới sinh viên kiến trúc. Từ nay, “tấm vé” vào bậc cao học tại đại học Harvard sẽ mở ra thêm rất nhiều cơ hội nữa cho anh.

Chưa ở Mỹ đến 5 năm, với các khó khăn mà mọi bạn trẻ không sinh ra và lớn lên tại Mỹ thường đối mặt, Khoa Vũ đã làm thế nào để theo đuổi mơ ước?

Sau đây là cuộc trò chuyện Khoa Vũ dành cho trang Người Việt Trẻ.


Người Việt (NV): Bạn nộp hồ sơ và nhận được tin từ Đại học Harvard thế nào?

Khoa Vũ: Hạn chót nộp đơn là vào Tháng 12, ngay tuần thi. Đây cũng là năm cuối nên mình khá bận với các giờ studio. Hôm nhận được thư của Havard là một ngày tuyệt vời. Lúc đó là giờ ăn trưa và còn hai tiếng nữa thì mình phải thuyết trình về dự án của mình trước hàng trăm kiến trúc sư. Bạn bè mình bắt đầu nhận được thư trả lời từ các trường mà mình thì cứ canh chừng hộp thư mà chưa thấy. Hôm đó là ngày các trường trả lời, bạn bè mình cứ hỏi kết quả, nên mình càng hồi hộp. Đã gần tới phiên mình phải thuyết trình, tay mình run run khi mình vào kiểm tra kết quả của trường Havard. Khi thấy dòng chữ “Congratulation” thì mình la lên sung sướng. Bạn bè quay sang hỏi chuyện gì vậy thì mình giải thích. Và sau đó gọi ngay cho bố mẹ để báo tin thật nhanh trước khi phải bắt đầu phần thuyết trình. Chắc nhờ vui và tự tin lên hẳn nên mình là một trong hai sinh viên được giải thưởng trong ngày hôm đó.

Một thiết kế khi mới bắt đầu học tại đại học cộng đồng. (Hình: Khoa Vũ)

NV: Việc đi học của bạn từ ngày sang Mỹ?

Khoa Vũ: Khoa qua Mỹ cách đây khoảng bốn năm rưỡi. Khoa qua với bố mẹ. Bố mẹ lớn tuổi nên cũng khó khăn khi phải bắt đầu cuộc sống ở đây. Năm đầu tiên thì Khoa chờ để vào cư dân chính thức của tiểu bang, để tiền học rẻ hơn. Năm đó mình đi học Anh Văn ở một trường ở Garden Grove. Mọi thứ đều mới mẻ, mình phải cố gắng để hòa nhập cuộc sống. Giờ nghĩ lại, thấy hồi đó công nhận mình không biết gì hết về Mỹ, tiếng Anh không rành, cũng stress lắm, không biết phải làm gì, đi học lại ra sao. Mỗi ngày đi học tiếng Anh, xung quanh toàn là những người lớn tuổi. Phải nói là lúc đó mình thấy rất mất phương hướng. Nhưng có một điều duy nhất mình luôn chắc chắn, đó là mình phải theo đuổi ngành kiến trúc.

Khó khăn là Khoa phải kiếm việc làm để phụ với bố mẹ. Gia đình Khoa cũng được họ hàng giúp đỡ phần nào, nhưng cũng phải tự cố gắng và cũng nhiều khó khăn. Ở Mỹ 6 tháng thì Khoa kiếm được việc làm rồi thì mới mua xe đi. Cũng may mắn tìm được một việc toàn thời gian. Rồi sau một năm ở Mỹ thì Khoa vào học ở trường đại học cộng đồng OCC, vừa đi học vừa tiếp tục đi làm. Từ từ mình thấy mọi việc suông sẻ hơn, quen dần với cuộc sống.

Khoa tiếp tục theo đuổi ngành kiến trúc, vì đó là ngành Khoa đang học ở Việt Nam. Học ở OCC thì Khoa cố gắng để được chuyển lên vào một trường tốt. Vừa đi học vừa đi làm thì cũng khó khăn về thời gian, để giữ điểm tốt và có thiết kế tốt. Cũng có lúc mình nghĩ đến việc nghỉ làm để tập trung vào việc học, nhưng lại không muốn để ba mẹ phải cực khổ thêm nên thôi. Mình cố giúp đỡ bố mẹ, ít nhất là về tiền bạc.

Sau hai năm ở OCC thì Khoa may mắn được nhận vào UC Berkeley. Ở đây, môi trường học khó hơn, cạnh tranh hơn, nhưng có nhiều cơ hội cho mình học hỏi. Mình chuyển sang làm việc part-time, dành giờ cho việc học. Một ngày thì hầu hết thời gian là mình ở tại trường, trong studio để làm project. Trong studio mình dần quen với nhiều bạn bè. Hồi ở college thì mình đi học xong là chạy đi làm, không quen nhiều bạn bè. Giờ thì mình có nhiều thời gian để làm quen với bạn bè, và nhất là với các giáo sư.

Năm cuối, mình còn đang phân vân là nên học tiếp cao học hay đi làm trước rồi sau này mới học cao học, thì nhận được thư từ một giáo sư cũ của mình ở OCC, khuyên mình cứ mạnh dạn nộp đơn vào Harvard. Thầy nói hãy nộp đơn vào trường giỏi nhất, nếu không được thì đi làm, và nộp đơn cho đến khi nào được thì thôi.

Khoa trả lời thầy, nói rằng việc học rất bận và có rất nhiều dự án phải nộp, sợ không có giờ để chuẩn bị hồ sơ vì phải có “portfolio” các mẫu thiết kế và phải có thư giới thiệu và nhiều thủ tục khác nữa. Thầy vẫn khuyên dành thời gian để nộp đơn, thầy sẽ giúp hướng dẫn. Giờ Khoa rất cám ơn thầy, vì nhờ thầy mà Khoa quyết định viết đơn.

Trong lúc đi học ở Berkeley, Khoa có theo một giáo sư để giúp về việc nghiên cứu, và sau này cũng được thầy giúp viết thư giới thiệu.

Khoa nộp đơn hai trường, UC Berkeley và Havard, và cả hai trường đều nhận vào học.

“Đến trường, ngoài giờ trong lớp học thì còn lại mình ở trong studio làm đến 2, 3 giờ sáng.” (Hình: Khoa Vũ)

NV: Hiện một ngày của bạn diễn ra như thế nào?

Khoa Vũ: Dậy sớm, uống cà phê, đến trường, ngoài giờ trong lớp học thì còn lại mình ở trong studio làm đến 2, 3 giờ sáng. Không chỉ Khoa và dân kiến trúc là vậy, cuộc sống mình là trong studio. Khoa dành hai ngày Thứ Sáu và Thứ Bảy để làm việc, và giúp tổ chức các hoạt động của câu lạc bộ sinh viên kiến trúc. Khoa cũng làm việc rất gần với giáo sư mà mình phụ nghiên cứu.

NV: Đâu là một số điều khó khăn khi theo đuổi việc học và bạn làm cách nào để vượt qua?

Khoa Vũ: Khoa, cũng như nhiều người không lớn lên ở Mỹ, mỗi ngày khi thức dậy mình đều có cảm giác đây là một môi trường mới mẻ mà mình phải cố hòa nhập. Thói quen, văn hóa, ngôn ngữ… đó là những khó khăn. Bạn bè mình có nhiều lợi thế hơn, như sinh ra ở đây, có giúp đỡ từ gia đình… Một khó khăn khác của Khoa là thời gian. Đa số mọi người trong ngành kiến trúc dành toàn bộ thời gian để làm dự án, vì ai cũng muốn có sản phẩm xuất sắc. Mình vẫn đi làm, kiếm tiền, và đi phụ nghiên cứu.

Trước khi sang Mỹ, mình cũng không mơ tới là mình sẽ vào UC Berkeley hay Harvard. Có người thì có mục đích và tiến tới, với Khoa thì mọi thứ nó xảy ra từng bước một. Khoa nghĩ điều khiến Khoa cố gắng từng ngày một và vượt qua khó khăn chính là niềm đam mê thực sự dành cho kiến trúc.

Nếu mình thực sự thích những gì mình đang học, đang làm, thì mình sẽ vượt qua những khó khăn bên ngoài, như sự khác biệt ngôn ngữ và văn hóa. Và khi mình thực sự có đam mê trong công việc, bạn bè và thầy cô có thể cảm nhận được và họ sẽ trân trọng điều đó và ủng hộ mình.

Những khó khăn của Khoa vẫn còn, và Khoa vẫn cố gắng để vượt qua và làm tốt hơn. Khó khăn nhưng cũng là điểm tốt, vì mình biết hoàn cảnh mình thì mình có động lực để làm việc nhiều hơn.

“Nhiều lúc tự nhiên sợ một ngày nào đó bỗng quên cách cầm bút.” (Hình: Khoa Vũ)

NV: Theo bạn, đâu là những điều giúp bạn được nhận vào Đại học Harvard?

Khoa Vũ: Thế mạnh của Khoa là đam mê cho ngành kiến trúc. Các thiết kế của Khoa cũng được các thầy yêu thích. Ngành kiến trúc khác với nhiều ngành khác, sản phẩm sẽ thể hiện khả năng của người thiết kế. Khoa cũng làm việc rất nhiều, cố gắng rất nhiều, vì mình biết hoàn cảnh mình khó khăn hơn.

Nếu có ai hỏi Khoa về những gì đạt được hiện tại, Khoa thường khuyên rằng: Hãy tự hỏi mình là mình có thực sự thích ngành học mình đang học hay không. Cho bất kỳ ngành nghề gì, sự yêu thích công việc rất rất quan trọng. Khi biết được mình thích làm gì và mình có thể làm gì, hãy cố gắng hết sức để đạt thành quả.

Đừng nghĩ rằng: “mình mới qua, mình được trung bình cũng là tốt rồi.” Có thể bạn phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn, nhưng tất cả sẽ vượt qua được. Đừng không dám mơ ước chỉ vì nghĩ hoàn cảnh mình thua người khác. Đừng hạ thấp ước mơ và tiêu chuẩn của mình.

NV: Nếu gặp lại chàng trai tên Khoa đang đứng đợi ở trạm xe bus để đi học tiếng Anh hơn bốn năm trước, Khoa sẽ nói gì?

Khoa Vũ: Khi đó mình muốn làm nhiều thứ lắm, nhiều kế hoạch trong đầu lắm, nhưng cứ sợ không thực hiện được và có ý nghĩ bỏ cuộc. Nếu gặp lại mình của bốn năm trước, mình sẽ nói rằng: “đừng bỏ cuộc, hãy để ước mơ dẫn đường.”

NV: Cám ơn Khoa đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này.

Khoa Vũ: Cám ơn Người Việt.–

Liên lạc tác giả: vu.an@nguoi-viet.com

Cà Mau: Học trò bị công an xã đánh phải nhập viện

Cà Mau: Học trò bị công an xã đánh phải nhập viện

Nguoi-viet.com

CÀ MAU (NV) – Chỉ vì nghi ngờ một học sinh lớp 7 ăn cắp tiền, công an xã Thạnh Phú đã đánh người đến chấn thương ở phần đầu phải nhập viện điều trị.

Em Ngô Hoàng Hải được điều trại tại Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Cà Mau. (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo Báo Tuổi Trẻ, sáng 20 tháng 3, nhiều phụ huynh học sinh của Trường Trung Học Cơ Sở Trần Quốc Toản, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, đã đến trụ sở công an xã Thạnh Phú yêu cầu làm rõ việc công an đánh các em học sinh trong quá trình làm việc. Tại đây, nhiều người quá bực tức nên đã to tiếng với lực lượng công an.

Tiếp xúc với phóng viên Tuổi Trẻ tại Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Cà Mau, bà Lê Thị Hân, mẹ của em Ngô Hoàng Hải (13 tuổi), học sinh lớp 7B, Trường Trần Quốc Toản cho biết, “Sáng ngày 18 tháng 3, khi con tôi vừa ngủ dậy thì có người đến nhà nói đưa đến công an xã do nghi ngờ cháu xài tiền ăn cắp chung với bạn. Thấy đã lâu mà con chưa về, tôi đến công an xã xem sao nhưng họ không cho vào.

Đến khoảng 15 giờ 40 khi chồng tôi đi làm về chạy đến trụ sở công an thì đã nghe tin con bị đánh. Thấy hai bên má con bị đánh đỏ tươi, hai bàn tay thì co rút lại mở ra không được, cảm thấy không ổn, ông xã tôi đã xông vào bế con đưa qua Bệnh Viện Sản Nhi điều trị. Tại đây, khi bác sĩ khám xong thì khuyên gia đình nên chuyển qua Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh Cà Mau. Khi chụp CT bác sĩ nói, cháu bị chấn thương ở phần đầu nên phải nhập viện điều trị.”

Trên giường bệnh, em Hải kể lại sự việc, “Khi con đến công an xã, mới đầu mấy chú công an bắt con ngồi chéo một chân lên trên, hai tay hầu lại và ngồi thẳng lưng không được nhúc nhích. Chú công an kêu con ký là có nhận của bạn Nhân 4 triệu đồng. Con không chịu ký, thì chú công an đánh hai bên má, tay nắm đầu đập mạnh xuống, lúc đánh thì kéo con ra phía sau. Hiện con thấy đau nhức ở đầu và trong người rất khó chịu.”

Mặc dù sự việc khá nghiêm trọng, song ông Võ Tùng Vel, phó công an xã Thạnh Phú cho biết, khoảng 8 giờ ngày 19 tháng 3, hai công an viên của xã là Trần Quốc Bảo và Nguyễn Thanh Thảo có tiếp nhận phản ảnh của ông Lê Hoàng Hải, cậu của em Trần Hữu Nhân (13 tuổi) học sinh lớp 7B, trường Trần Quốc Toản, nghi em Nhân lấy 5 triệu đồng.

Qua truy xét, em Nhân thừa nhận có lấy số tiền trên và khai có đưa cho một số bạn học cùng lớp. Trong lúc làm việc, người nhà của em Nhân có chở một số em khác đến trụ sở công an để đối chất. Tại đây, trong quá trình công an làm việc, người nhà các em nói công an đánh người nên đã đưa các em đi?

“Trong quá trình làm việc có đánh các em hay không tôi chưa thể kết luận được. Tôi có hỏi hai công an viên làm việc với các em và được báo lại là không có đánh. Do hôm đó tôi không trực nên chưa nắm hết sự việc,” ông Vel né trách nhiệm. (Tr.N)

Tình như thoáng mây,

“Tình như thoáng mây”,
Tình đến cùng ta, âm thầm không ngờ
Tình như cánh hoa, tình chiếm hồn ta đâu ngờ là tình.

Tình như mưa gió, thoảng vào trong tim.
Tình như cánh chim, bay đến trong ta sao nghe bồi hồi?

(Nhạc: Nino Rota Speak Softly Love – Lời: Trường Kỳ: Thú Yêu Thương)

(1Timothê 4: 4-6)

Trần Ngọc Mười Hai

Nói gì thì nói, nếu cứ nói những chữ như “thương” như “yêu” của cuộc tình, thì đó có thể vẫn là điều thích thú, dù ta có gọi đó là thú yêu thương hay đau thương, gì cũng được.

Hát gì thì hát, nếu cứ hát những lời chỉ về cái “thú yêu thương” như người viết lời Việt ở đây từng ỉ ôi hát rằng: “Tình đến cùng ta, âm thầm không ngờ”, lại sẽ là điều cần nói và hát. Nói không nhiều lời, nhưng bằng tiếng ai ca, với giọng hát như sau:

“Có biết đau thương mới hay là tình.

Say đắm trong đời thì mới là yêu.

Tình như đớn đau.

Tình xé lòng nhau, muôn đời không lành.

Tình như ngất ngây.”

(Lời Việt Trường Kỳ – bđd)

Nói hoặc hát vào lúc khề khà phiếm Đạo hoặc lạo xạo những nói năng, là nói và hát cũng rất nhiều điều. Những điều như đấng bậc chóp bu nhà Đạo, từng nói về nhóm hội Đạo mình có những căn bệnh toàn những nói năng, cũng rất nhiều. Nhiều, ở chỗ: có những 15 căn bệnh hiểm nghèo cũng nghe quen. Nhưng hôm nay, thiết tưởng bạn và tôi cũng chỉ nên tập-trung vào một hai điều tiêu biểu gọi là “căn bệnh”, như sau:

“Lên tiếng trong dịp Giáng sinh 2014, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến sự kiện Giáo triều Rôma tạo thành một cơ thể duy nhất, và cũng như mọi cơ thể, có thể có những bệnh tật cần được chữa. Ngài nói: “Giáo triều được kêu gọi cải tiến, và tăng trưởng tình hiệp thông, thánh thiện và khôn ngoan để chu toàn sứ mạng. Nhưng, cũng như thân thể con người, giáo triều cũng có thể bị bệnh, hoạt động không tốt, bị yếu liệt. Và ở đây tôi muốn liệt kê một vài căn bệnh có thể mắc phải, tức bệnh của giáo triều, là những bệnh tật và cám dỗ làm suy yếu việc phục vụ Chúa.

Trước tiên là bệnh tưởng mình là bất tử, miễn nhiễm, hoặc thậm chí là không thể thay thế và lơ là kiểm điểm. Một giáo triều không tự phê, canh tân, không tìm cách cải tiến, thì đó là một cơ thể đau yếu. Nếu có cơ hội ghé thăm nghĩa trang, ta sẽ thấy tên của rất nhiều người, cả những người mà ta nghĩ họ bất tử, miễn nhiễm, và không thể thay thế! Đó là bệnh của người thanh niên giàu có trong Phúc Âm nghĩ rằng mình sống vĩnh cửu (Lc 12:13-21) và của những người trở thành chủ nhân ông, thấy mình cao trọng hơn ai hết, chứ không là kẻ phục vụ mọi người. Bệnh này xuất phát từ bệnh “cửa quyền”, tự cho mình là kẻ ưu-việt có thái độ tự-ái/vị-kỷ, say mê ngắm nhìn con người mình mà không thấy hình ảnh của Thiên Chúa hằn in nơi diện-mạo của người khác, đặc biệt là những người yếu đuối và túng cực.

Thuốc chữa bệnh này là ân-huệ lành thánh biết mình là kẻ yếu kém nên thành tâm nói: “Ta chỉ là đầy tớ vô dụng. Ta làm những việc mình phải làm” (Lc 17:10). (trích phát biểu của Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến các vị lãnh đạo Giáo triều Rôma hôm 22/12/2014)

Bệnh, thì ai cũng mắc bệnh dù ít/nhiều, nặng/nhẹ, dù không chỉ và không phải là bệnh nói nhiều và hát nhiều. Nhưng vấn đề, là: ta có làm như người nghệ sĩ từng làm bằng lời hát, sau đây không thôi:

“Tình đến cùng nhau, mang nhiều tuyệt vời.

Tình như giông bão, dập vùi yêu thương

Tình như tiếng ca

Theo gió phương xa cho nhau lời chào.

Có biết đau thương mới hay là tình

Say đắm trong đời thì mới là yêu.

Đời không thiết tha vì có tình yêu,

Không còn là đời

Người không sót xa vì mất tình yêu

Không còn là người.”

(Lời Việt: Trường Kỳ – bđd)

“Tình đến cùng nhau, mang nhiều tuyệt vời”, ôi thôi, phải chăng đó là “thú yêu thương”, hay “thú đau thương”? Có thể cả hai đều có nghĩa và đúng ý. Thế nhưng, hãy cứ nghe câu hát cuối, hạ hồi sẽ rõ:

“Đời ta muôn kiếp đã trôi theo tháng ngày
Tình như khói sương bay thoảng trong mơ
Ngàn đời vu vơ…”

(Lời Việt: Trường Kỳ – bđd)

Có thể là, ca-từ ở trên diễn-tả nhiều ý-nghĩa trong nhiều trường, cũng rất hợp và rất trùng.

Có thể là, lời phát-biểu của đấng bậc trên cao ở nhà Đạo cũng khá trùng và khá hợp với trường-hợp của cơ-quan/chức-sắc nào đó trong nhà Đạo, chứ không chỉ mỗi Giáo triều Rôma, mà thôi.

Có thể là, ngôn-từ và ý-nghĩa của lời Đức “ngài” nói cũng làm đau nhói cơ-phận thể-lý của ai đó, rất con người.

Có thể là, Đức Phanxicô nói thay và nói giùm cho đấng bậc lành thánh nào đó từng căn dặn, nhắn nhủ bà con, anh chị em đồng Đạo/đồng thuyền rất chí tình như sau:

“Thật vậy,

tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt,

và không có gì phải loại bỏ,

nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ,

vì lời Thiên Chúa và lời cầu nguyện thánh hoá những thứ đó.

Nếu anh trình bày cho anh chị em những điều ấy,

thì anh sẽ là người phục vụ tốt của Đức Giêsu Kitô,

một người thấm nhuần lời đức tin

và giáo lý cao đẹp mà anh đã trung thành noi theo.”

(1Timôthê 4: 4-6)

“Và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình tri-ân, cảm tạ” phải chăng là châm-ngôn, tâm-tình và là thực tế cuộc sống ở đời, nhiều năng-nổ. “Vì lời Thiên-Chúa và lời cầu-nguyện thánh-hoá những thứ đó.”

Thật quá đúng, khi thánh-nhân còn nhấn-mạnh: “Nếu anh trình-bày cho anh chị em những điều ấy, thì anh sẽ là người phục-vụ tốt của Đức Giêsu Kitô”… Bởi, ta và người chỉ có thể bảo mình và bảo mọi người là kẻ phục-vụ tốt của Đức Giêsu Kitô, khi biết dùng lời nói hay tiếng hát “trong tâm-tình tri-ân, cảm tạ”.

Thật quá đúng, khi đấng bậc được gọi là Đức-thánh-là-Cha Phanxicô lại dám nói thêm căn bệnh thứ 7 khác, được gọi bằng danh từ “cạnh tranh và háo danh” với lời lẽ cũng rất thật, như sau:

“Khi cái vẻ bề ngoài, qua mầu áo và huy-hiệu sặc-sỡ trở-thành đối-tượng ưu-tiên của cuộc sống, lại quên đi lời thánh Phaolô từng dặn dò: ” Anh em đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”(Phillípphê 2: 3-4). Đó là căn bệnh đưa chúng ta trở-thành những con người giả dối và sống một thứ thần bí giả hiệu, một chủ thuyết yên tĩnh giả tạo. Chính thánh Phaolô đã định nghĩa họ là ”những kẻ thù của Thập Giá Chúa Kitô” vì họ “kiêu hãnh về những điều mà lẽ ra họ phải hổ thẹn và chỉ nghĩ đến những điều thuộc về trần-thế này, mà thôi.” (Philípphê 3: 19)

Xem như thế, kể cũng đúng. Bệnh cạnh tranh, kiêu hãnh và háo danh, vẫn là bệnh là tật của nhiều người, vào mọi thời. Không chỉ ở mỗi Giáo triều Rôma mà thôi, nhưng còn ở mọi đấng-bậc có quyền hành dù vẫn mang danh “đầy-tớ của các tôi-tớ Chúa” nơi Giáo-hội sở tại, rất địa phương.

Xem thế thì, căn-bệnh quái-ác kể trên còn gặp thấy ở nhiều người có quyền ăn quyền nói và quyền được hành kẻ thuộc cấp, rất bé mọn.

Xem thế thì, chỉ mỗi hai căn-bệnh quái-ác trên đây cũng đã làm kiệt quệ guồng máy cồng kềnh bảo là để phục vụ mọi người trong thánh hội, nhưng thực tế là như căn-bệnh cuối cùng trong danh-sách được liệt kê hôm ấy như sau:

“Sau cùng là bệnh “tìm kiếm lợi-lộc trần-tục và phô trương”.

Khi vị tông-đồ biến việc phục-vụ của mình thành quyền lực, và biến quyền lực của mình thành hàng-hóa để kiếm tìm lợi-lộc phàm-tục được nhiều quyền thế hơn. Đó là bệnh của những người tìm cách gia-tăng quyền-lực cách vô độ. Và, nhằm đạt được mục tiêu đó, họ vu khống, mạ lỵ và làm mất thanh-danh người khác, thậm chí cả trên truyền-thông/báo chí, dĩ nhiên chỉ để biểu-dương chứng-tỏ mình có khả-năng hơn người. Bệnh này cũng gây hại rất nhiều cho chính bản thân mình, vì nó làm cho con người đi tới độ biện-minh/biện-hộ cho việc mình có thể sử-dụng bất kỳ phương-thế nào hầu đạt được mục tiêu mình đặt ra, thường họ nhân-danh công-lý và sự minh bạch. Ở đây, tôi nhớ đến linh mục nọ đã gọi các ký giả đến để kể cho họ một điều do chính vị linh-mục này bịa đặt về chuyện riêng tư của linh mục khác và của giáo dân. Linh mục này, chỉ muốn xuất-hiện trên trang nhất của báo-giới mà thôi; và như thế, đã thấy mình quyền-năng và chiến-thắng, nhưng lại tạo ra bao nhiêu đau khổ cho người khác và cho cả Giáo Hội nữa! Thật đáng thương!

Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng Phanxicô còn nhận xét rằng các căn bệnh và cám dỗ kể ở trên lại cũng là nguy cơ cho mỗi Kitô hữu, giáo xứ, cộng-đoàn, dòng tu, phong-trào đoàn-thể trong Giáo Hội, trên bình diện cá nhân và cộng đoàn, nữa”. (trích lời phát-biểu của Đức Phanxicô như đã dẫn)

Trích-dẫn ở trên, hôm nay, không để kể tội của ai đó nơi quyền cao chức trọng của Giáo-hội, nhưng chỉ để nói lên đôi điều như nhận-định của một người vừa chuyển cho nhau những điều hệ-trong trong cuộc sống, bằng lời lẽ như sau:

22 câu nói có thể làm thay-đổi cuộc đời của bạn. Bởi thế nên, xin bạn hãy chú ý học-tập mọi điều ở bên dưới, đặc biệt là 1, 2, 3 và 19 rất hay, cần chú ý:

  1. 1. Đồng tiền xu luôn gây ra tiếng động… nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Vì thế khi

giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình luôn khiêm tốn và nói ít đi!

2. Càng nói ít, càng nghe được nhiều. – Alexander Solshenitsen

3.  Khi người khác hỏi những điều mà bạn không muốn trả lời, xin hãy cười và nói

“tại sao bạn lại muốn biết điều đó?”

4. Không ai cần đến một nụ cười nhiều như người không thể cho đi nụ cười.

5. Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần bị vấp ngã!

6. Rất nhiều người không dám nói lên những gì họ muốn. Đó là lý do tại sao họ không có được chúng.- Madonna

7. Khi trưởng thành, tôi ngày càng ít quan tâm đến những gì mọi người nói. Tôi chỉ xem những gì họ làm được.– Andrew Carnegie

8. Kiên trì làm việc tốt sẽ mang lại nhiều thứ. Như mặt trời có thể làm tan băng, lòng tốt có thể làm bốc hơi sự hiểu lầm, hoài nghi và thù địch.- Albert Schweitzer

9. Cuộc sống giống như một cuốn sách. Một vài chương khá buồn, một số chương hạnh phúc và một số chương rất thú vị. Nhưng nếu bạn chưa bao giờ lật thử một trang bạn sẽ không bao giờ biết được những gì ở chương tiếp theo!

10. Bạn có thể kết bạn được nhiều hơn trong vòng hai tháng bằng cách quan tâm đến người khác hơn là hai năm cố gắng bắt người khác quan tâm đến bạn. – Dale Carnegie

11. Tình bạn là một tâm hồn trú ngụ trong hai cơ thể. – Aristotle

12. Tôi tiến bộ bằng cách ở cạnh với những người tốt đẹp hơn mình và lắng nghe họ. Và tôi giả sử rằng mọi người đều tốt đẹp hơn tôi ở một mặt nào đó.– Henry J. Kaiser

13. Tranh cãi với một kẻ ngốc sẽ chứng minh rằng có hai kẻ ngốc.– Doris M. Smith

14. Những người làm việc cùng bạn phản ánh chính thái độ của bạn.- Beatrice Vincent

15. Đừng quá khắt khe với chính mình. Thậm chí những sai lầm cũng có nghĩa là bạn đang cố gắng!

16. Không có hành động tử tế nào, dù nhỏ, lại bị xem là lãng phí.– Aesop

17. Bất luận lúc nào khi bạn nghe điện thoại, khi nhấc điện thoại lên xin bạn hãy cười lên, vì đối phương sẽ cảm nhận được nụ cười của bạn!

18. Cuộc sống vốn không công bằng, hãy tập quen dần với điều đó!- Bill Gates

19. Lưỡi không xương nhưng đủ cứng để làm vỡ nát một trái tim… vì thế hãy cẩn thận với ngôn từ của bạn!

20. Đừng bao giờ cố giải thích con người bạn với bất cứ ai. Vì những người tin bạn không cần điều đó, còn những người không thích bạn sẽ không tin lời bạn đâu!

21. Nhu cầu cơ bản nhất của con người là nhu cầu thấu hiểu và được thấu hiểu.- Ralph Nichols

22. Hãy ghi nhớ 3 điều: Cố Gắng, Kiên Định, Tin Tưởng. Cố gắng cho một tương lai tốt hơn,  KIÊN ĐỊNH với công việc, TIN TƯỞNG vào bản thân. (trích từ điện thư bạn bè gửi cho nhau, đến quá nhiều)

Hôm nay đây, bần đạo có trích dẫn nhiều, cũng chỉ để đề-nghị với bạn và tôi, ta cứ hiên ngang mà hát mãi lời ca ở bên dưới làm lời cuối cho nhau hầu kết-luận đôi giòng chảy lững lờ một chuyện phiếm rất hững hờ rằng:

“Tình đến cùng nhau, mang nhiều tuyệt vời.

Tình như giông bão, dập vùi yêu thương

Tình như tiếng ca

Theo gió phương xa cho nhau lời chào.

Có biết đau thương mới hay là tình

Say đắm trong đời thì mới là yêu.

Đời không thiết tha vì có tình yêu,

Không còn là đời

Người không sót xa vì mất tình yêu

Không còn là người.”

(Lời Việt: Trường Kỳ – bđd)

Quả thật rất đúng. “Tình đến cùng nhau, mang nhiều tuyệt vời!” cũng giống hệt như câu nói của ai đó, hình như là thánh Augustinô đại để vẫn cứ bảo: “Hãy yêu nhau đi, rồi muốn làm gì thì làm”. Nói thế là bởi, tình yêu con người sẽ làm nên nhiều điều rất tuyệt vời. Ở mọi nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn công-nhận

những chuyện như thế

ở đời mình.