“Quyền lực dẫn đến tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối”.

 Lê Vi

Nhà độc tài Gaddafi, trước khi bị giết chết đã hỏi những người nổi dậy (hay “nổi loạn”) rằng: “Tôi đã làm gì các người?”

Có lẽ, cho đến lúc chết, nhà độc tài cũng chưa hiểu được lý do tại sao mình bị lật đổ và giết chết một cách tàn bạo không qua xét xử như vậy.

Gaddafi đã làm một cuộc đảo chính quân sự không đổ máu, lật đổ Vua Idris bị coi là kẻ bán rẻ tài nguyên quốc gia cho ngoại bang. Nhưng rồi trong suốt hơn 40 năm nắm quyền, tuy vẫn tuyên bố là một nhà nước “Jamahiriya” – nghĩa là “nhà nước của quần chúng” – ông đã tạo ra một chế độ độc tài và tàn bạo : dựng lên thói sùng bái lãnh tụ, lập ra một nhà nước cảnh sát kiểm soát toàn bộ xã hội, quốc hữu hóa thâu tóm và tham nhũng tất cả tài nguyên quốc gia, cấm doanh nghiệp tư nhân, đốt sách vở, ám sát những cá nhân bất đồng chính kiến, tiêu diệt các hội đoàn chính trị đối lập, dẹp bỏ tự do ngôn luận, đàn áp đẫm máu các cuộc biểu tình ở trong nước, tài trợ khủng bố và tổ chức khủng bố ở ngoài nước … vv …

“Quyền lực dẫn đến tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối”.

“Nhà cách mạng” Gaddafi khi nắm lấy quyền lực độc tài đã trượt dài xuống con dốc tha hóa tuyệt đối.

Khi dân chúng bắt đầu nổi dậy, ông tuyên bố sẽ dùng tất cả sức mạnh quân sự để “bảo vệ thành quả cách mạng”, và gọi phe nổi dậy là “lũ chuột”. Khi bị lật đổ và trốn chạy, ông đã phải trốn trong một ống cống.

Khi bắt được ông, những người nổi dậy đã nói : “Ông ta gọi chúng tôi là những con chuột, song hãy xem chúng tôi bắt được ông ta ở đâu !”, sau đó đánh đập một cách tàn nhẫn rồi giết chết, kéo lê xác trên đường phố rồi bỏ trong một phòng lạnh chứa thịt gia súc.

Ông đã tạo ra một chế độ vô pháp và tàn bạo, để rồi bị giết chết một cách vô pháp và tàn bạo.

Nhân – Quả không chỉ là tín ngưỡng hay tôn giáo, mà còn là một quy luật khách quan.

“Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu”. Quy luật trời đất chính là quy luật khách quan, “gieo Nhân nào gặt Quả ấy”, tất cả đều bình đẳng và công bằng, không có ngoại lệ hay thiên vị, không sự vật hiện tượng hay cá nhân tập thể nào tránh thoát được. Phật cũng không tránh thoát được quy luật Nhân – Quả, nếu Phật gieo Nhân thì Phật cũng phải gặt Quả, nếu không muốn gặt Quả thì chỉ có cách đừng gieo Nhân mà thôi.

Đất nước Libya sau cuộc nổi dậy ( hay “nổi loạn” ) vẫn chìm trong loạn lạc triền miên. Dân chúng vẫn không có đủ dân trí để có thể chuyển biến xã hội thành dân chủ và ôn hòa, đó cũng là hậu quả của việc bị cai trị dưới chế độ độc tài và tàn bạo.

Vô pháp và tàn bạo mang lại hậu quả vô pháp và tàn bạo cho chính nhà độc tài, và cho cả dân tộc – quốc gia.

Hãy lấy đó làm răn!

Db Canh Le

Sức mạnh của tấm lòng lương thiện

+3

GÓC SUY GẪM – Một câu chuyện có thật.

***

Sức mạnh của tấm lòng lương thiện…

Vào một ngày chủ nhật của năm 1880 tại tiểu bang Pennsylvania nước Mỹ, một cô gái nhỏ với dáng vẻ thất vọng đứng gần cửa ra vào của nhà thờ, nơi cô bị đẩy ra vì trong đó đã quá đông, cô không thể tham dự lớp học chủ nhật của nhà thờ.

Lúc đó một vị mục sư đi ngang qua nhìn thấy cô bé, ông đặt cô bé lên vai mình rồi len lỏi vào trong, rất khó khăn cuối cùng cũng tìm được một chỗ ngồi trong góc tối cho cô bé.

Cách một ngày sau đó, vị mục sư lại nhìn thấy cô bé. Vị mục sư an ủi cô: “Đợi đến lúc gom đủ kinh phí, ta nhất định sẽ xây dựng một lớp học chủ nhật to hơn nữa”.

Mãi cho đến khi vị mục sư lại nhìn thấy cô bé lần nữa, cô bé đang mắc bệnh nặng và không bao lâu sau cô bé qua đời.

Sau khi làm những thủ tục mai táng cuối cùng, gia đình nhà cô bé đã đưa cho vị mục sư một chiếc ví tiền nhỏ vừa sờn rách vừa cũ nát, bên trong có 57 đồng xu (vào khoảng cuối thế kỉ thứ 19) đó là số tiền lớn đối với một gia đình nghèo nàn như nhà cô bé. Gia đình nhà cô bé đã nói với mục sư rằng đó là số tiền cô bé tiết kiệm trong 2 năm với tình yêu trong sáng. Cô bé hi vọng với số tiền này sẽ giúp xây dựng một nhà thờ to hơn chút nữa để có thêm nhiều trẻ em được đến học vào ngày chủ nhật.

Khi mục sư biết được những điều đó, ông mang chiếc ví rách với 57 xu lên bục giảng Kinh, ông kể lại câu chuyện về cô bé khiến cho tất cả mọi người vô cùng xúc động.

Nhà thờ này đã quyết định huy động quyên góp tiền từ 57 đồng xu, rất nhanh đã có thể huy động được 250 USD. Một vài năm sau đó, 57 đồng xu của cô bé, đã huy động được đến 30.000 USD.

Nhà thờ đã quyết định mua mảnh đất để xây dựng nhà thờ lớn hơn, nhưng tiền đất đã lên tới 30.000 USD và không còn đủ tiền xây dựng được. Lúc này, vị mục sư nghĩ đến tâm nguyện của cô bé không thể vì vấn đề này mà khiến cho việc xây dựng nhà thờ bị hoãn lại, do đó, ông quyết định đi tìm chủ đất trình bày rõ lí do.

Chủ đất trước đây chưa từng đến nhà thờ nghe xong câu chuyện đã rất cảm động và nói với vị mục sư rằng: giá bán đất là 25.000 USD, đồng thời sẽ chấp nhận số tiền 57 xu làm tiền đặt cọc (sau đó chủ đất đã tặng lại 57 đồng xu đó cho nhà thờ)

Qua một thời gian, khi vị mục sư trở về nhà vào một buổi tối phát hiện trong nhà có rất nhiều người, thì ra mọi người đã lại góp được 10.000 USD….

Khi bạn đến thăm thành phố Philadelphia, hãy đến thăm Nhà thờ Temple Baptist nơi có thể chứa tới 3.300 người. Và cũng đừng quên ghé thăm Đại học Temple, bệnh viện Good Samaritan và lầu học chủ nhật, bạn sẽ thấy rõ ước mơ tâm nguyện của cô bé đã thành sự thật.

Tất cả đều được xây dựng lên từ 57 đồng xu của cô bé, điều đó là minh chứng cho sức mạnh từ tấm lòng lương thiện.

Đến thăm một trong các phòng ở tòa nhà trường học ngày chủ nhật này, bạn sẽ nhìn thấy có treo bức ảnh dễ thương của cô bé nhỏ Hattie May Wiatt đã hiến tặng 57 xu cho nhà thờ –

Phỏng dịch từ tài liệu của nhà thờ Temple Baptist….

NƯỚC MẮT SÀI GÒN

 
May be an image of outdoors and monument

NƯỚC MẮT SÀI GÒN .

Sài-Gòn khóc nỗi cô đơn

Chưa bao giờ lại phải buồn như nay

Bùng binh, đường ngắn, đường dài

Ngã ba, ngã bảy, lối này, hẻm kia

Nơi nào cũng thấy hoang vu

Cửa nhà đóng kín, bơ vơ phố phường

Ưu tư trĩu nặng giáo đường

Nhìn nhau chỉ thấy rưng rưng mắt buồn

Giống như trẻ nhỏ dỗi hờn

Từng cơn nấc nghẹn, xác thân rã rời

Tâm hồn cảm thấy chơi vơi

Bao người khốn đốn, tả tơi nặng sầu

Sài-Gòn rưng rức niềm đau

Vì sao mà khổ gieo neo thế này?

Cầu xin Đức Mẹ Sao Mai

Soi đường dẫn lối tháng ngày cách ly

Gỡ dây phong tỏa đường đi

Cầu thay nguyện giúp, chở che Sài-Gòn

Nữ Vương ban sự bình an

Xin thương cứu giúp lúc gian nan này

NGUYỆN XIN MẸ THƯƠNG CỨU GIÚP CHÚNG CON VÀ TOÀN THẾ GIỚI… AMEN…! .

TRẦM THIÊN THU

Từ Cô Bé “Ở Đợ” tới Nước Mỹ Ngày Ấy

Từ Cô Bé “Ở Đợ” tới Nước Mỹ Ngày Ấy

Tự truyện: Trương Thị Thu Huyền

Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của tác giả là tự truyện của một bé gái nhà nghèo, từ 8 tuổi đã phải đi ở đợ, được người tốt dạy chữ, giúp học đánh máy, làm sở Mỹ ở Chu Lai, kết hôn, theo chồng định cư tại Mỹ từ 1972, nuôi dạy hai con ăn học thành bác sĩ, mang được 30 thân nhân từ Việt Nam sang Mỹ… Dù đã thành công, tác giả không chối bỏ quá khứ nghèo khó. Phần đầu là một tự sự ngắn nhờ Việt Báo đăng từ ba năm trước giúp tìm lại được hai người thầy ơn nghĩa từ thời nhỏ.

Phần 2, “Nước Mỹ Ngày Ấy”, là chuyện kể của cô dâu Việt Nam bơ vơ tại một miền quê nghèo vùng Đông Băc nước Mỹ hơn 60 năm trước.

*******

Cô dâu Huyền,1972.

  1. Về Những Người Thầy…

Hôm nay đọc bài “Thầy Tôi” trên báo, tôi chạnh nhớ lại mình cũng có một vị Thầy không phải dạy ở nhà trường, vì tại Việt Nam từ tuổi ấu thơ, tôi chưa bao giờ được cắp sách đến trường.

Tôi vốn sinh ra trong gia đình nghèo ở làng Bến Lá, tỉnh Quảng Trị. Năm lên 8 tuổi tôi đã rời xa gia đình vào Huế ở giúp việc (gọi là ở đợ) cho gia đình ông Đỗ Trí, Trung úy Trưởng Ty An ninh ở Thành Nội Huế cho đến năm 1962. Trong nhà có một cậu Gia sư tên là Phú, đến ở trọ dạy kèm để chờ ngày thi Tú tài. Châu là cô bé 11 tuổi con gái đầu lòng của ông bà Trí, nhỏ thua tôi ba tuổi.

Một bữa nọ, Châu không thuộc bài, tôi bồng đứa em nhỏ của Châu ngồi chơi trước thềm, tôi trả bài dùm cho Châu. Cậu Phú nhìn ra thấy tôi và hỏi rằng “Hoa ơi, làm sao em thuộc bài?”- Thì em nghe Cậu giảng đêm hôm qua mà. Thế là từ dạo ấy cậu Phú thương tình âm thầm đưa bài vở của Châu học cho tôi sao chép.

Để đáp lại công ơn cậu Phú, tôi giặt áo dùm, đôi lúc thấy bữa ăn còn lại ít quá, tôi nhường lại phần ăn của mình cho cậu ấy.

Ngày tháng trôi qua tôi không nhớ rõ là bao. Nhưng một ngày buồn lại đến! Cậu nói là cậu đi nhập ngũ, chúc Hoa dùng chút vốn liếng chữ nghĩa ấy mà tiến lên với đời nhé. Cậu còn dặn là hãy đọc truyện nhiều là em biết chữ thôi! Rất tiếc ngày ấy tôi không xin địa chỉ Cậu, và hỏi quê quán Cậu ở đâu. Cậu dáng người cao, da ngăm, hơi rỗ một tí.

Cậu ơi, hiện giờ Cậu ở đâu? Có còn sống không, hay đã bỏ mình ngoài chiến trận như bao anh hùng khác? Cậu là bậc Thầy rất vĩ đại của em, Cậu có biết không? Em mang theo hình bóng Cậu suốt cả cuộc đời mình. Khi Cậu đi rồi em cũng thôi ở nhà ông Trí, về quê học may. Năm 1966 quê em lại chiến tranh khói lửa. Ba em lúc ấy ở Tiểu Đoàn 22 Pháo Binh, nên gia đình em vào Tam Kỳ.

Ở đó, em gặp được người Thầy thứ hai là Chị Lý Thị Bích Thuỷ.

Quán may em ở gần trường dạy đánh máy chữ. Không có hàng may, em thường đứng trước trường nhìn vào mà ước mơ… mình cũng được như họ.

Vài ngày như thế trôi qua, một hôm em đang mơ màng thì một bàn tay đặt nhẹ trên vai em, “Ê bồ, sao ngày nào cũng đứng nhìn vậy? Em mắc cỡ bỏ chạy, thì Chị Thuỷ níu lại hỏi cho rõ chuyện. Tủi thân, em oà khóc… Từ đó Thuỷ làm bạn, và trả tiền cho em đi học. Vài tháng sau em được Thuỷ xin cho đi làm Thơ Ký đánh máy cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ tại Chu Lai. Trước khi đi làm, Thuỷ dạy cho em, thuộc hết vần ABC và đếm từ One đến One hundred.

Năm 1968, Chị Thuỷ và Huyền (tức là Hoa, tên em hồi đó) mất liên lạc! Năm 2000, khi từ Mỹ về thăm Việt Nam, Huyền có vào Chu Lai và tìm được Chị Toàn. Chị cho địa chỉ Thuỷ ở Fort Lauderdale. Về lại Mỹ, Huyền hết sức vất vả mà cũng không tìm ra được Thuỷ!

Với tâm nguyện của Huyền, ước mong một phép lạ, cho Huyền gặp được hai người Thầy mà Huyền đã mang theo hình bóng từ 40-50 năm nay. Mỗi lần đi đâu đông người Việt, Huyền không quên hỏi tên của hai vị, nếu không gặp được hai vị trong những ngày còn lại cuối cuộc đời, Huyền vẫn mãi mang theo hình bóng hai vị Thầy khả ái đến kiếp hậu lai. Hiện tại, nếu còn thở Huyền vẫn còn hy vọng…

Ngoài ra, nhắn tin:

“Em Đỗ Thị Minh Châu, bây giờ em và gia đình ở đâu? Chị không biết tên của Mẹ em, chỉ biết tên và cấp bậc của Ba em mà thôi! Châu rất đẹp, ông bà Đỗ Trí, người Bắc di cư 1954, cũng rất đẹp và rất phúc hậu. Đọc câu chuyện nầy, ai có biết tin, xin cho Huyền tin để được liên lạc.”

Tự truyện này cũng là lời nhắn tin rất tha thiết, mong được hồi âm.

Trương Thị Thu Huyền (tức Hoa) – 724.667.2345 (cell)

***

Và bà mẹ thành công, với hai con là bác sĩ.

  1. Và “Nước Mỹ Ngày Ấy”

Ngày ấy là ngày 15 tháng 2 năm 1972, tôi ôm hai đứa con thơ, theo chồng về Mỹ.

Vùng đông bắc Hoa Kỳ lúc ấy đang cuối mùa Đông, chưa sang Xuân nên trời vẫn còn lạnh, mà từ quê nhà mới qua, tôi đâu có biết nó lạnh đến cỡ nào.

Chỉ mấy ngày sau khi ngủ đủ sức rồi là tôi háo hức đòi chồng tôi đưa đi chợ. Sửa soạn thật đẹp, với quần ống bát, áo vải mỏng, bông hoa loè lẹt, guốc Việt Nam cao gót… Vừa từ trên gác bước xuống gặp bà mẹ chồng ngay dưới cầu thang, bà la lên hoảng hốt, – “Ôi! Chúa ơi! Con tưởng là con đang ở Việt Nam ư? Con có biết ngoài trời chỉ có 10 độ F thôi không?”

Không hiểu hết điều bà nói, thấy anh chồng gãi đầu gãi tai lúng túng, tôi vội kéo tay anh ra khỏi nhà cho gấp kẻo đụng lỡ hai đứa con nhỏ khóc lên thì sợ mẹ chồng đổi ý, không cho đi.

Anh bảo tôi đứng tại cửa để anh đi lấy xe, khi xe đến trước cửa, tôi vội chạy ra, không may té một cái đau quá trời đất nhưng cũng gượng đứng dậy bước tới xe được. Anh chồng lo bật máy sưởi trong xe không thấy tôi bị té. Khi vào trong xe rồi nó lạnh run lập cập, chồng tôi phải cởi áo ấm của anh ấy choàng cho tôi, lại tới phiên anh ấy run lập cập.

Xe ra đến phố rồi anh bảo tôi ngồi trong xe để anh vào trong Sear mua áo lạnh cho tôi. Khoảng mười lăm phút sau, thấy anh đi ra với cái áo ấm, tôi chê bai đủ điều nhưng anh bảo thì mặc cho đỡ đi rồi mai mốt đi mua áo đẹp hơn.

Anh chạy xe một vòng quanh phố. Tôi hỏi sao anh đi đâu mà không đưa em đi phố? Anh bảo đây là phố. Ôi, Trời đất ơi, phố xá chi lạ vậy? Sao không thấy người đi, sao không thấy phố mở cửa, sao vắng hoe vậy, sao nghèo nàn quá vậy? Anh có đùa với em không? Anh nhìn tôi với vẻ thất vọng. Cuối cùng tôi làm mặt giận, tôi nói thôi đưa em đi chợ.

Lại nữa, tôi cảm thấy hụt hẫng vô cùng khi bước chân vào siêu thị. Toàn là đồ hộp, cá thì không thấy, chỉ thấy toàn là thịt bò, thịt heo, thịt gà, gói gói lại hết, và cũng rất ít, không phải như siêu thị bây giờ, rau rợ thì cũng chỉ vài bó loe hoe, thấy buồn hiu buồn hắt! Thế thì hình ảnh mà tôi thường xem trong phim ở đâu? Hay tôi đang lạc vào quê hương xứ sở nghèo nàn của nước nào? Đang thất vọng não nề, chân cẳng thì lạnh tê buốt vì đi đôi guốc vụng về mà người ta ai đi ngang qua cũng nhìn mình một cách quái gở.

Trong lúcđang tức bực thất vọng thì một bà lão mỉm cười và hỏi:

– Cô từ đâu đến?

– Thưa bà tôi đến từ Việt Nam.

Bà ấy nhìn tôi rồi mỉm cười hỏi lại:

– Việt Nam ở đâu?

Ôi, đúng lúc cho tôi xả bỏ cơn tức bực tức vô lối ấy. Bà không biết Việt Nam ư? Tôi huơ tay múa may nói thật to, với số vốn tiếng Anh ít ỏi, lại phát âm theo giọng Quảng Trị cho mọi người đang vây quanh nghe: Việt Nam mà bà không biết, Việt Nam của tôi lớn lắm bà biết không, ai mà không biết Việt Nam, sao bà không biết vậy hả? Thế là chồng tôi cuống lên, kéo tay tôi đi thật nhanh, ra ngoài cửa rồi anh ấy nhấc bổng tôi lên, liệng vào xe và cho nổ máy xe chạy thật nhanh về nhà, không nói lời nào hết.

Còn tôi thì tức tối quá nên khóc bù loa, và đòi anh hãy đưa tôi về lại Việt Nam, ngay bây giờ, tôi không muốn ở đây nữa. Anh tấp xe vào đoạn đường vắng và dỗ dành. Tôi vẫn trách móc anh đủ thứ, cuối cùng thì anh nói rằng, thôi được em không muốn ở đây thì 4 tháng sau khi anh mãn hạn công tác tại Việt Nam rồi, chúng ta đi xứ khác. Ở Mỹ có nhiều nơi cũng đẹp lắm. Thôi em nín đi đừng khóc nữa kẻo về nhà Ba Mẹ thấy thế ba mẹ buồn. Nghe thế tôi cũng yên tâm, lau nước mắt bước vào nhà.

Mẹ chồng hỏi sao, con có thích không? Tôi bỏ chạy lên gác nằm khóc. Anh phải lo cho hai đứa nhỏ, và nói gì với Mẹ tôi cũng không biết, nhưng khi tôi đói bụng xuống nhà lục đồ ăn thì thấy mẹ chồng mặt mày buồn hiu. Tôi ân hận lắm, nên lại ôm bà, và bà cũng ôm tôi thật chặt. Bà nói chi nhiều lắm tôi không hiểu hết được.

Ngày hôm sau chồng tôi đưa cho xem quả địa cầu và chỉ cho tôi thấy vị trí của Việt Nam trên đó. Anh chỉ tay, nói đây là nước Mỹ, đây là nước Tàu, đây là nước Nga… và đây là Việt Nam của em nè. Tôi lại nổi cơn điên lên, cái tự ái lại cao hơn bình thường và thầm nghĩ, anh xỉ nhục tôi, nên tôi liệng quả địa cầu cái rầm trong phòng khách. May cho tôi khi ấy chỉ có hai đứa em và mẹ chồng ở nhà thôi. Bà mẹ chồng tưởng đâu tôi sẩy tay, chứ không biết đứa con dâu của bà hung dữ như quỷ sứ.

Sau đó, có những lúc cả nhà đi vắng tôi lấy quả địa cầu ra xem lại. So với nước Mỹ thì VN ta chỉ tương đương với tiểu bang Texas. So với nhiều nước thì… mà thôi, tôi mỉm cười và tự bào chữa cho mình: Ừ, thì quê hương tôi nhỏ bé như thế đấy, nhưng ở đó có tới bốn ngàn năm văn hiến chứ bộ. Bây giờ đôi khi nghĩ lại ngày ấy, tôi thấy mình hồ đồ mà tự thẹn với mình.

Tuy ở Mỹ tại Tiểu bang Pennsylvania nhưng nhà chồng tôi chỉ là một gia đình gốc Tiệp Khắc di dân rất nghèo, lại sống tại vùng quê, nhà này cách nhà kia rất xa. Trong nhà chỉ có một buồng tắm, một toilet thôi, nên 8 người mà một buồng tắm thì rất bất tiện. Ngoài vườn cũng có một cái nhà vệ sinh như bên Việt Nam mình vậy, mùa hè thì đàn ông đi ngoài đó nhiều hơn. Áo quần giặt xong những ngày có nắng cũng phơi bên ngoài như ở quê nhà, nhìn ra bên ngoài thì chỉ thấy bò và bò, ôi chao là buồn!

Thế rồi một tháng trôi qua, chồng tôi phải trở lại Việt Nam, bởi với công tra làm việc đã ký, anh ấy còn bốn tháng nữa mới hết hạn. Tôi và hai con ở lại với nhà chồng. Trước ngày rời nướcMỹ, anh nói với mẹ chồng tôi là nhờ mẹ thường ngày đừng để vợ con đi lấy thư, kẻo có chuyện nguy hiểm.

Số là bên kia đường của nhà chồng tôi là một gia đình hàng xóm có người con trai tử trận tại Việt Nam. Chồng tôi người hàng xóm biết tôi đến từ Việt Nam, ông ta có thể giết tôi để trả thù cho con họ. Vì thế, hàng ngày cha chồng tôi thường ra lấy thư.

Sau nhiều ngày lo sợ khi nhìn sang nhà hàng xóm, tôi nghĩ rằng mình phải đối diện với sự thật một lần. Tôi bỏ công lôi cuốn tự điển Anh Việt – Việt Anh của Lê Bá Kông mà tôi mang theo khi về Mỹ, ghép lại thành từng câu và học thuộc lòng. Sau đó, tôi lấy hết can đảm tự mình sang nhà hàng xóm, xin gặp bà chủ nhà. Tôi tỏ bày với họ như vầy:

“Thưa bà, tôi xin chia sẻ niềm đau mất mát với bà. Xin bà đừng ghét tôi, vì tôi cũng có cha và em trai đang đánh giặc ngoài chiến trường. Cha và em trai của tôi cũng có thể chết sống trong tích tắc bất cứ lúc nào. Mẹ tôi và biết bao bà mẹ Việt Nam khác nữa cũng chỉ là nạn nhân trong cuộc chiến nầy như bà. Quê hương tôi cũng khổ đau lắm, riêng tôi rất yêu thương và quý trọng người Mỹ, đã nhân danh tự do, giúp đất nước tôi chận đứng làn sóng đỏ từ phương Bắc đổ xuống. Nếu không vì cộng sản Nga Tàu thì quê hương tôi không có chiến tranh, nhân dân tôi sống yên bình và người Mỹ đến đó chỉ là khách du lich…

Tôi chưa kịp nói hết những gì mình đã học và muốn bày tỏ nỗi lòng, thì hai ông bà đều sang ôm tôi vào lòng khóc nức nở, tôi cũng khóc với nỗi đau của họ và nỗi đau của chính mình !

Vậy mà, không hiểu sao, ngày hôm sau nhiều người đến gõ cửa nhà mẹ chồng tôi để gặp thăm tôi, họ là những người của xóm Mount Jackson này đến để đón chào người con dâu Việt Nam đến với xóm làng họ. Thế là từ đấy tôi không còn lo sợ và lẻ loi nữa, khi thì người này đến chở đi ăn kem, khi thì người khác mang chút quà lại cho hai con nhỏ của tôi. Mỗi khi có ai đưa đi đâu thì nhiều người xúm lại hỏi han thân thiện. Với khu xóm vậy là tôi yên ổn, nhưng với chính mình và gia đình nhà chông thì còn nhiều sóng gió.

Khi còn ở Việt Nam, công ty của anh ấy cho biết rằng ai có vợ Việt hãy đưa gia đình rời khỏi trước Tết âm lịch, đó là tin “mật”. Sau đó là trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa xảy ra ngay trên quê hương tôi. Sau này, khi đã tới nước Mỹ, tôi mới hiểu vì sao… Thì ra chính phủ Mỹ đã sắp đặt bỏ rơi miền Nam Việt Nam. Ôi còn đau đớn nào bằng. Quê hương tôi giờ đây là Đại Lộ Kinh Hoàng, là Mùa Hè Đỏ Lửa… Khi hiểu ra điều này, tôi oán trách nước Mỹ. Tôi ghét luôn cả người chồng của tôi, cả gia đình dòng họ, xóm làng của họ luôn.

Cũng cùng thời gian này, cha chồng tôi thấy tôi, lúc nào cũng như gây chiến tranh với ông. Ông đã không thích tôi từ đầu, bây giờ lại càng khó chịu hơn. Tôi cũng không vừa gì với ông, hai bên cứ căng thẳng như thế. Hàng ngày cha chồng tôi phải ra thùng thư lấy thư.

Một hôm, ông cầm thư vào không chịu đưa cho tôi, mà còn la lối um sùm, nào là thằng con bất hiếu, nó xem vợ lớn hơn cha mẹ nó, gửi thư cho vợ hàng ngày mà không gửi cho cha mẹ. Tôi thì cũng hỗn với Ông. Tôi nói thẳng rằng, ông độc tài quá, ông đã bỏ xứ Tiệp Khắc cộng sản sang đây rồi mà ông cũng không bỏ được máu cộng sản trong ông, là ích kỷ và độc tài.

Thì mày cũng thế, mày là con cháu Hồ Chí Minh tàn tệ đấy thôi, ông đáp lại. Thế là trận chiến bùng nổ dữ dội, tới mức có lúc tôi đã phải gọi người bạn bên Dayton, Ohio sang chở tôi về bên đó cho đến ngày chồng tôi về lại Mỹ. Câu chuyện nầy dài dòng không thể kể hết. Nhưng cũng may là tôi có được bà mẹ chồng tuyệt vời, bà luôn coi tôi như là đứa bé không hơn không kém nên hết lòng che chở.

Chuyện “chiến tranh” giữa cha chồng và tôi sau cùng được thu xếp tốt đẹp. Tôi là người đứng ra xin lỗi ông, bởi lúc nầy tiếng Mỹ của tôi cũng tạm được đề giải bày uẩn ức của mình với ông, và cũng cám ơn ông bà đã sinh ra người con trai mà hôm nay là người chồng tốt của tôi, người cha mẫu mực của hai đứa con của tôi. Sau khi biết nói lời xin lỗi, tôi đã được ông tha thứ. Dần dà, tôi còn được ông đặc biệt thương yêu còn hơn hai nàng dâu bản xứ của ông.

Cũng từ đấy, tôi bắt đầu vào đời với công việc làm ăn bận rộn vất vả để tự nuôi sống cho chính gia đình nhỏ bé của mình, nuôi hai con một gái một trai, ăn học, rồi lo cho chúng vào đại học, vào y khoa. Cả hai đều học hành đến nơi đến chốn và tốt nghiệp bác sĩ.

Ngoài việc lo làm ăn nuôi con, tôi còn lo giúp đỡ gia đình bên quê nhà, nào là lo nào là lo cho mẹ tôi bịnh bán thân bất toại, rồi lo cho các em đi vượt biên, bao nhiêu lần không được, lại lo cho cuộc sống trong thời gian chờ đợi bảo lãnh đoàn tụ…

Rồi một ngày, các em và gia đình của chúng cũng được sang Mỹ đoàn tụ, tất cả 15 người giờ thì hơn 30 rồi. Kế tiếp là những đứa cháu ngoại như thiên thần xuất hiện. Thế là tôi chẳng còn thời gian để dời đi xứ đẹp, xứ ấm, phố phường đồ sộ nữa, mà lạ thay hạnh phúc từ đó vững mạnh và vươn cao.

Quảng Trị vẫn in dấu trong tôi, tôi vẫn nhớ thương nơi chôn nhau cắt rún… Nhưng tại quê hương mới, gia đình chúng tôi đã như cây cổ thụ, gốc rễ đã mọc ra chằng chịt bám vào mảnh đất này. Mẹ chồng tôi năm nay 91 tuổi vẩn khỏe và rất minh mẫn, vẫn thương yêu tôi như ngày nào. Người chồng quê mùa chất phác, mà khi qua chiến đấu tại chiến trường Việt Nam khi chỉ mới học xong high school năm xưa bị tôi hờn trách, hôm nay vẫn còn bên cạnh cuộc đời như chuyện tình “đôi dép”. Con gái mở phòng mạch tại đây. Thằng con trai hơn 40 tuổi không lấy vợ vì bận rộn với công việc và không thích ràng buộc.

Gần 10 năm nay vùng quê Mỹ nghèo của tôi nay đã có được Walmart và Highway 376. Trong nhà đã có microwave để hâm nóng thức ăn, mà hồi đó, 43 năm trước không có.

Kể từ 1972 khi đứa con gái từ quê nhà Quảng Trị một mình phiêu bạt qua đất Mỹ, lòng ngổn ngang trăm mối. Thời ấy, số người Á Đông tại nước Mỹ còn rất nhỏ, đâu được như ngày nay, riêng cộng đồng người Việt đã có tới hơn một triệu bảy trăm ngàn người.

Viết đến đây tâm hồn tôi cảm thấy tràn ngập tình thương và biết ơn với nguời chồng khác chủng tộc, cũng như với người Mỹ, nước Mỹ quê hương thứ hai của mình. Xin đa tạ anh, nguời bạn đời yêu quý, và xin tạ lỗi với nước Mỹ ngày ấy bị tôi trách móc, hận thù.

Trương Thị Thu Huyền

Người Con Lai và Chiếc Vỏ Ốc

Người Con Lai và Chiếc Vỏ Ốc

Tác giả tên thật Võ Ngọc Thanh, một dược sĩ thuộc lớp tuổi 30, cư dân Westminster, Orange County, đã nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2010 với bài viết về Lễ Tạ Ơn mang tựa đề “Chỉ với một nụ cười…” Sau đây là bài viết mới của Hoàng Thanh, với lời đề tặng nhân vật có thật của câu chuyện “Thân tặng chị Amy – người con gái da đen có tấm lòng vàng.”

Bước vào tiệm food to go, tôi thoáng thấy một phụ nữ da đen – mà tôi nghĩ ngay là người Mỹ đen hay Phi châu, đứng trước quầy thức ăn dường như đang lựa chọn. Như thường lệ, tôi đứng đợi tới phiên mình. Bỗng dưng nghe cô ta nói rất rõ ràng bằng tiếng Việt “Bán cho tui một phần cơm chiên nhỏ”, làm tôi ngạc nhiên quay lại nhìn, vì không ngờ cô ta nói tiếng Việt rành thế. Da cô này rất đen, đúng điệu là dân lai Mỹ đen chính hiệu. Khi tôi ra bàn ngồi ăn, cô gái bước đến rụt rè chỉ vào chiếc ghế bên cạnh tôi và hỏi “Tui ngồi đây được không?” Tôi gật đầu.

Trời Cali vào đông lành lạnh, ngồi gắp từng đũa mì Nam vang nóng mà nghe ấm cả lòng. Đang múc muỗng nước lèo thì chị da đen lên tiếng “Trời lạnh quá, ăn cái này ngon lắm mà không chắc bụng”. Tôi quay sang nhìn thì bắt gặp cô đen vừa đưa tay chỉ chỉ vào tô mì tôi đang ăn, vừa nói với ánh mắt có vẻ thèm thuồng. Chị đen nói với cái giọng chân chất rất nhà quê “Cơm chiên nó hổng ngon bằng nhưng nó chắc cái bụng, tui mới khiêng đồ nặng nổi”. Thấy ái ngại, tôi nói ngay “Chị ăn không, tôi kêu tặng chị một tô”. Chị đen lắc đầu “Giờ ăn hổng kịp đâu, trễ xe bus là cả tiếng nữa mới có chuyến sau”. Tôi hỏi “Chị làm gì mà phải khiêng nặng?”. Chị đáp “Tui lau chùi cầu tiêu, lau sàn nhà, chùi rửa hết tất cả phòng, sắp xếp đồ đạc lại ngay ngắn, khiêng bàn ghế, nhiều bàn ghế nặng lắm, cái gì tui cũng làm hết đó, để mười giờ người ta vô thì mọi thứ phải sạch sẽ đâu vô đó”. Rồi chị tiếp “Tui ở xa, nên 7 giờ phải dậy rồi, đi xe bus tới đây thì phải đổi xe bus khác mới tới. Nhưng đói quá nên tui phải xuống mua đồ ăn cho no bụng cái đã rồi mới lấy bus đi tiếp đến chỗ làm”. Tôi cứ nghĩ chắc chị đen này đi làm thêm overtime ngày cuối tuần, nên tôi nói “Chị làm thêm cuối tuần vậy, họ trả chị khá không?” Chị nói ngay “Tôi đâu có lãnh lương, làm cho nhà thờ mà, cái này là tui tự nguyện làm, tui làm là cho Chúa, mà tui làm nhiều năm nay rồi…”.

Vừa thấy tội nghiệp cho chị đen, tôi vừa thầm khâm phục chị đã có can đảm mà đứng chờ hai chuyến bus từ 7 giờ sáng, ngày chủ nhật – là lúc mà ai nấy đều đang ngon giấc với khí trời rất lạnh ở bên ngoài. Chị không những đã làm được điều phi thường đó, không có lương, một cách vui vẻ, mà lại từ nhiều năm qua…

Bỗng dưng tôi muốn làm quen “Chị tên gì? Mà tại sao chị lại tự nguyện làm công việc này từ bao lâu nay, nhà thờ không có người nào phụ chị sao?”. Thấy có người quan tâm, chị đen có vẻ xúc động, nỗi xúc động mà tôi linh cảm như của một con người thường bị hất hủi bỏ rơi. Chị nói nhỏ lại “Tui tên Amy, là tên Mỹ đó, còn tên Việt nam, tui không thích nó…”. Chị có tên Việt nam? “Ừa, mà tui ghét nó lắm…”. Tôi ngạc nhiên “Tại sao chị lại ghét tên mình?” Chị đen im lặng, và rồi chị kể, bằng cái giọng quê mùa một mạc ….

… ” Khi Má sinh ra tui thì mọi người ai cũng đã ghét tui rồi. Chỉ vì tui ra đời dưới ngôi sao xấu, bởi vì cái màu da đen đúa không sao che dấu được của tui. Tui đâu có quyền được chọn màu da gì để sinh ra, cả Má tui cũng không chọn được cho tui. Nhà tui nghèo lắm, ở ven bờ một con sông. Gia đình tui gồm có sáu người: Má và năm chị em, chị Hai, chị Ba, chị Tư , tui, rồi đến em trai Út. Mấy chị và em trai là da vàng, chỉ có tui là đen thui thôi. Nhà tui nghèo mạt rệp, cả căn nhà dột nát không có cả cái bàn hay cái giường, cái ghế. Một mình Má đi mò ốc cả ngày để bán lấy tiền mua đồ ăn cho sáu miệng ăn. Mới ba, bốn tuổi là tụi con nít đã ghét tui. Tui tên Tí, họ Mai là họ của Má, vì Ba bỏ Má từ khi Má mới có bầu tui. Tụi con nít cả đám cứ đi theo sau tui hát nhạo là “Cút về Mỹ đi con Tí đen”. Có đứa còn lấy que tre vít cứt chim, cứt gà rồi kêu cả bọn xúm lại đè tôi xuống, trét vô miệng tui, tới khi nào tui lạy, tui khóc thì tụi nó mới tha. Năm sáu tuổi, Má cho tui với mấy chị đi học trường làng, nhưng tụi học trò khinh ghét tui lắm. Có lần tụi nó hè hội đồng tống một đống cứt gà vô miệng, tui không chống cự được nên nuốt vô cổ họng, nghe thúi ình và chua loét. Tui oẹ ra, tụi nó bóc nhét vô lại. Tui vùng vẫy, la hét. Thấy tui khóc dữ quá, mấy chị và em trai xúm lại binh, thì tụi nó đánh mấy chị, vừa đánh tụi nó vừa chửi ” Đồ Mỹ đen không cha cút về nước đen mà sống “. Lần đó tui chạy về khóc với Má sưng cả mắt. Má cứ im lặng và rồi bà cho tui nghỉ học luôn. Nhiều lúc tui thèm được đi học, thèm được chơi chung, bất cứ trò chơi nào với chúng bạn, vậy mà đứa nào cũng chê là tui đen, tui dơ, tui thúi… hổng ai thèm chơi.

Tui tủi thân lắm nên hỏi Má. Má bảo là “Ba bỏ Má từ lúc tui chưa sinh ra nữa”. Tôi ức lắm, hỏi lại “Thế Ba tên gì? Sao Má không đi tìm?”. Má im lặng, rồi Má khóc. Tui thương Má quá, và tui ghét Ba lắm. Tui thề sẽ có một ngày tui tìm gặp Ba và hỏi Ba cho ra lẽ…”. Im lặng. Chị đen tiếp “Tại Ba mà giờ này tui vẫn chưa biết đọc, biết viết. Người ta nói là tui mù chữ. Mắt tui sáng mà, tui thấy đường, nhìn tờ báo thì tui chỉ thấy hình, chớ không biết đọc”…

Rồi từ đó tui thui thủi chơi một mình. Nhà nghèo quá làm gì có tiền mua đồ chơi, nên tui cứ quanh quẩn bên bờ biển mà lượm mấy cái vỏ ốc, hốt cát bỏ vô đó, rồi đổ đi, rồi lại hốt vào. Hễ có lượm được cái vỏ ốc nào đẹp đẹp, tui để dành vô cái thùng giấy, lâu ngày có nhiều, tui đem ra ngắm một mình , thích lắm. Tui nhớ lần nọ tui đem ra khoe con bạn, nó lại kêu mấy đứa khác tới coi. Tui khoái lắm, trong bụng chắc mẫm thế nào bọn nó cũng khen cho coi. Ai dè, tự dưng thằng Tọc giựt mạnh một cái làm rách thùng giấy, rồi nó quăng tung tóe hết cả chục cái vỏ ốc của tui ra biển. Tui hoảng hốt giơ hai tay chụp lại nhưng không kịp, thế là mất hết đống vỏ ốc ” gia tài ” mà tui gom góp gần cả năm trời. Tui đứng đó khóc ròng, cúi xuống nhìn thì chỉ còn sót lại trên cát một cái vỏ ốc to bằng nửa bàn tay, một bên màu đen còn nửa bên kia màu trắng. Tui lật đật lượm lên, dấu vào túi áo. Đám trẻ xúm quanh la to “Cút về Mỹ mà lượm vỏ ốc. Ở đây không có thứ gì cho mầy đâu, đồ da đen”. Tui tủi thân quá chạy về nhà khóc với Má. Lần đó Má cũng khóc. Hôm đó Má nói “Làm cái vỏ ốc mà còn sướng hơn Má con mình, bởi nó không biết buồn, không biết khóc, nó tự do khi thì nằm trên cát, lúc lại nhập vào biển cả bao la. Còn Má con mình, suốt đời chỉ sống nhục mãi ở đây thôi”. Tui quý cái vỏ ốc trắng đen này lắm, cứ lâu lâu đem ra nhìn. Phần nửa màu đen, sao mà đen thủi đen thui giống da của tui, còn bên kia màu trắng lại óng ánh như có pha lê. Nhớ có lần Má tui dạy “Con người ta giống cái vỏ ốc này vậy, có đen có trắng, có tốt có xấu. Da con dù có đen như bên này, nhưng con phải sống tốt, sao cho cuộc đời mình có ý nghĩa mà óng ánh như nửa bên kia”…

Một hôm bỗng dưng Má nói “Tí đen ơi, đúng là Trời thương Má con mình, mình sắp hết khổ rồi…”. Thì ra là chính phủ nước của Ba tui (chính phủ Mỹ) cho nhà tui đi theo diện con đen (con lai). Má và tui mừng hơn bắt được vàng. Lúc vô phỏng vấn, tui run quá nên cứ khóc, mà tay chân thì lạnh ngắt. Tui cứ sợ ông Bill – tên ông hỏi chuyện Má tui, mà thấy tui đen, tui xấu, tui hôi, tui dơ… ổng không cho đi thì tui phải ở đây suốt đời tui khổ lắm. Má tui cũng khóc, năn nỉ cô thông dịch xin ông Bill cho đi Mỹ. Lúc đó tui nghe ai cũng nói ở Mỹ sướng lắm, con nít được đi học, dù mình đen cũng không ai đánh mình, không ai nhét cứt vô miệng mình… Khi đó chị Hai và chị Ba có chồng rồi, còn chị Tư và em trai thì chưa. Má định nếu được đi Mỹ rồi thì Má sẽ nhờ người làm đơn xin chính phủ cho chị Tư và em tui đi sau. Đêm trước hôm phỏng vấn, Má lo quá không ngủ được, mấy mẹ con cứ ngồi ôm nhau khóc cả đêm. Với gia đình tui, thì nước Mỹ là thiên đàng, chỉ tới Mỹ thì chúng tui mới hết khổ. Khi ông Bill biết rằng chị Tư và em trai còn độc thân, ông nói “Chiến tranh đã làm cho Bà và các con cực khổ, nên nay vì nhân đạo, chúng tôi cho Bà, cô con gái lai và cả hai người con độc thân cùng đi để qua Mỹ đùm bọc nhau mà sống”. Cả nhà tui khóc, vì mừng quá, đến nỗi quên cả nói lời cám ơn ông Bill…

Đặt chân đến “thiên đàng” Virginia, bốn Má con tui không biết một chữ tiếng Anh, nói không được câu nào, mà đọc cũng rặn không ra, còn viết thì một chữ bẻ đôi cũng không biết. Một người quen cùng làng ngày xưa nhận ra Má nên giúp tìm dùm cho chúng tôi thuê một căn appartment nhỏ xíu một phòng ngủ để cả nhà ở chung.

Cả nhà tui đi làm đủ thứ nghề nặng nhọc đễ đắp đỗi qua ngày. Tui còn nhớ lần thi vô quốc tịch, tui lo quá chừng, cứ học thuộc lòng những câu hỏi như con vẹt, vì tui có đọc và hiểu được chữ nào đâu. Có một chị người Việt đọc cho tui nghe các câu hỏi rồi biểu tui học cho thuộc, hễ người ta hỏi câu nào thì trả lời y như đã thuộc. Vậy mà may mắn ghê, tui đậu. Khi họ hỏi tui muốn có tên Mỹ không, hay vẫn muốn giữ cái tên Việt nam là Tí Mai, thì tui khóc. Không biết nói tiếng, tui nhờ cô thông dịch nói dùm với ổng là “Tui ghét lắm cái tên Tí đen, vì nó đen như màu da tui, đen như tuổi thơ nghèo hèn của tui”. Ông Mỹ trắng hỏi tui muốn tên gì. Lúc đó tui chỉ nhớ đến đứa cháu họ xa, đi lính cho quân đội Mỹ. Có một lần về thăm Má con tui ở Virginia, nó nói lý do nó đi lính là vì nó muốn đền ơn chính phủ. Tui nhớ mang máng nó có nói quân đội Mỹ gọi là… “AMI”… gì đó thì phải. Thiệt tình khi đó tui không biết chữ “AMI” viết làm sao nữa, nên tui nói đại với cô thông dịch là “Tui muốn cám ơn chính phủ Mỹ, cám ơn ông Bill đã thương mà cho Má con tui đi, nên tui muốn có tên Mỹ là AMI, có nghĩa là quân đội”. Tui còn nhớ khi nghe tui nói vậy thì cô này cười, dễ thương lắm, và cô viết tên tôi lên tờ giấy đưa cho ông Mỹ. Thế là passport của tui có cái tên Amy Mai từ đó. Mãi sau này tui mới biết là cô đã quên chữ e rờ (R), vì quân đội viết là “army”, nhưng sao có người lại nói với tui là cô ta cố tình quên…?

Sau đó vài năm thì phát hiện ra là Má tui bị có nước trong phổi. Bác sĩ sau khi hỏi cặn kẽ thì giải thích rằng “Do Má ngâm nước lạnh hằng mấy chục năm liền khi đi mò ốc, nên giờ phổi Má yếu lắm”. Mấy chị em sợ quá, đứa nào cũng đi làm quần quật mà không sao đủ tiền mua thuốc cho Má. May mà Trời thương, nên lại có người hàng xóm ngày xưa biết chuyện, bảo chị em tui qua Cali ở đi thì khí hậu ấm sẽ tốt hơn cho sức khỏe của Má. Nhưng tiền đâu mà mua vé máy bay? Cô Anh bảo “Khi xưa lúc chồng cô mới chết, cô một mình với con nhỏ, sức khỏe yếu nên không sao ngâm nước nổi, nhờ Má cho cô bữa bịch ốc, khi mấy con tôm mà sống qua ngày, nên cô muốn đền ơn Má bằng cách mua bốn vé máy bay cho chúng tôi qua Cali, cô cũng đã thuê sẵn một appartment nhỏ (cô Anh đã trả trước một tháng tiền nhà) cho Má con tui.

Thế là cả nhà kéo nhau qua Cali. Cả tháng trời không ai xin được việc làm. Khi chỉ còn vài ngày là hết tháng, tụi tui lo lắm vì tiền đâu để trả cho tháng tới? Gọi phone cho cô Anh thì cô và gia đình đi đâu rồi nên không sao liên lạc được. Một buổi tối trước ngày Giáng sinh, mấy Má con đứng đón bus về nhà. Trời lại lạnh , bụng ai cũng đói, nên không còn sức để mà đi, cứ đứng mà run. Chúng tôi thấy nhiều người đi vào một nhà thờ nhỏ. Vì lạnh quá, nên chúng tôi cũng đi vô đại định tìm một chỗ trú cho ấm chút rồi sẽ về. Đó là buổi tối đánh dấu một bước ngoặc lớn trong cuộc đời chúng tui. Trên kia, mục sư Bảo đang giảng về tình yêu của Chúa. Ông nói “Chúa luôn dang rộng vòng tay yêu thương cho mọi người”. Có lẽ lúc ấy, vì quá buồn, mỏi mệt và tủi thân, nên bốn Má con đứng khóc ròng. Một người đàn bà bước lại hỏi thăm ( sau này tui mới được biết làvợ mục sư Bảo). Má con tui thật lòng kể hết. Vợ chồng mục sư cùng một vài cô chú ở nhà thờ thấy tội nghiệp nên chở dùm mấy Má con về nhà, rồi hôm sau người ta đem đồ đến cho, bàn ghế, quần áo, tiền bạc, thức ăn. Rồi đích thân vợ chồng mục sư giúp điền đơn dùm Má con tui để xin tiền bệnh, tiền trợ cấp. Cũng chính nhờ sự động viên, nâng đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần mà má con tui mới sống nổi qua ngày…

Và từ đó chúng tui đi nhà thờ mỗi chủ nhật. Cám ơn Chúa. Cầu nguyện cho Má mau hết bệnh. Cầu nguyện cho mấy chị em có công ăn việc làm. Các cô chú trong nhà thờ đối xử rất tốt với tui, không ai nhìn màu da tui mà khinh khi hết. Tui vui lắm khi mọi người cứ kêu “Amy, đến phụ cô làm cái này đi!”, “Amy, ăn chút gì cho có sức rồi hẵng làm chứ cháu ..”. Và tui biết là ở nơi nào có Chúa, thì tui có tình thương…

Mang ơn vợ chồng mục sư Bảo và các cô chú trong nhà thờ, nên mấy chị em tui tình nguyện làm bất cứ việc gì nhà thờ cần. Tiền thì không có, nên chúng tui đóng góp bằng công sức và thời gian. Tui không bao giờ buồn vì công việc mình làm hết. Mà cầu tiêu ở Mỹ sạch sẽ lắm kìa, không có dơ, không có thúi như mấy đống cứt gà mà hồi nhỏ tui phải nuốt đâu. Tui vui lắm, dù công việc có cực nhọc cách mấy, vì tui biết mình làm là đền đáp công ơn Chúa…

Và rồi một ngày Chúa gọi Má tôi về với Ngài. Bà chết khi trong túi mấy chị em cộng lại hết vẫn chưa được một đồng. Lúc còn sống, Má cứ ước có tiền về Việt nam thăm chị Hai, chị Ba và các cháu. Vậy mà mơ ước chưa thành, Má đã ra đi. Tui còn nhớ lúc biết mình sẽ không qua khỏi, Má nói với các chị em tui “Ngày xưa Má cứ ước ao cả nhà mình qua đến được thiên đàng, nhưng nếu như Má có mất thì mấy con ráng lo cho Má về Việt nam mà chôn cất, dù gì nằm bên bờ sông ngày xưa với mấy con ốc, Má vẫn thấy ấm lòng hơn…”. Cả nhà ai cũng đều biết ước nguyện cuối cùng của Má là được chôn nơi miền quê cha đất tổ, mà đào đâu ra tiền để chở xác Má về Việt nam? Tụi tui chỉ biết khóc, vì không mua nổi một quan tài cho Má. Vợ chồng mục sư Bảo biết rõ ước nguyện của Má, nên tối nào mục sư cũng lên đài kêu gọi mọi người giúp một tay. Đêm nào mấy chị em cũng ngồi trên đài với mục sư Bảo và tụi tui cứ khóc, thương Má, mang ơn vợ chồng mục sư và tất cả những người hảo tâm. Nhiều người mang tiền đến tận nhà giúp. Cuối cùng quyên góp được 16 ngàn đồng – cả một gia tài mà mấy chị em tui không bao giờ dám mơ tới. Phải, 16 ngàn đồng – con số này suốt đời tui không thể nào quên. Đó là công ơn của hằng trăm người, mà nhiều nhất là vợ chồng mục sư Bảo và bác sĩ Nguyễn Hùng. Anh Tuấn ở nhà quàn biết hoàn cảnh nhà tui, nên anh bớt cho hai ngàn tiền chi phí chuyên chở xác Má về Việt nam. Em trai tui được mua vé đi cùng về Việt nam với Má. Rồi số tiền còn lại thì mục sư đưa cho em tui về mua đất và lo chôn cất Má. Thế là cuối cùng Má cũng được về yên nghĩ vĩnh viễn bên vùng ven biển ngày nào với những con ốc nhỏ ngày xưa. Tạ ơn Chúa. Tạ ơn những tấm lòng…

Hôm đưa em trai ra phi trường, tui đưa nó gói giấy trong đó có cái vỏ ốc trắng đen. Tui dặn nó nhớ thảy xuống huyệt khi chôn Má. Nó không chịu, hỏi lại là ” Chị quý nó lắm mà ? “. Tui gật đầu. Nhưng tui biết Má thích biển, và đặc biệt là cái vỏ ốc này, Má cũng quý nó như tui. Lời Má dạy con ghi nhớ, con không tiền, không có gì tặng Má. Thôi con gửi Má cái vỏ ốc này, Má mang theo mà về với Chúa. Mong Má nói với Ngài rằng ” Con Tí đen vẫn luôn cố gắng sống tốt, sao cho cuộc đời đẹp và có ý nghĩa nhưng nửa trắng óng ánh bên kia của vỏ ốc…

Chị Amy ngừng kể. Tôi im lặng, vì tôi biết có nói gì cũng sẽ là rất thừa thãi vào giây phút này. Bất chợt chị nói ” Tui không biết tên Ba, phải chi tui được gặp lại ông Bill năm nào phỏng vấn, có thể tui nhờ ổng tìm ra Ba tui… “

– Chị mong gặp lại Ba chị à? Chị không giận Ba sao ?

– Ngày xưa tui ghét Ba lắm. Nhưng Chúa dạy rằng “Mình phải biết tha thứ và yêu thương. Tui chỉ mong gặp Ba, để nhìn ông và kêu một tiếng “BA” một lần trong đời”. Ngừng một chút, chị tiếp “Và tui sẽ nói rằng “Ba đã làm Má khổ và con buồn. Vậy thôi…”

Gió ngoài trời lành lạnh, báo hiệu một mùa Giáng sinh nữa lại sắp đến. Tôi hỏi “Năm nay Giáng sinh, chị sẽ làm gì?”. Chị Amy buồn buồn đáp “Tui đến nhà thờ dọn nhà cầu, khiêng bàn ghế, lau chùi các phòng, dự Thánh lễ rồi về nhà… nhớ Má. Má mới mất năm ngoái thôi, nên tui nhớ bả lắm, nhớ cả cái vỏ ốc trắng đen ngày xưa…”. Chị lại tiếp “Năm nào tui cũng đâu có tiền mà mua gì dâng tặng nhà thờ, hay tặng vợ chồng mục sư – người mà gia đình tui mang ơn cả đời, nên tui chỉ biết cầu nguyện cho mọi người. Nhiều lúc tui buồn lắm, vì không năm nào có tiền mua món quà gì dâng Chúa…”

– Những gì chị làm, chắc chắn là Ngài sẽ biết mà. Tôi tin chắc là thời gian, công sức và tấm lòng của chị, sẽ là một trong những món quà mà Ngài ưng ý nhất…

Chị Amy chỉ cười, không nói. Tự dưng chị hỏi “Khi nào cuộc đời tui đăng lên báo, chị cho tui xin ba tờ được không?”

– Được chứ. Tôi đáp ngay.

– Tui sẽ mang biếu vợ chồng mục sư Bảo một tờ, bác sĩ Nguyễn Hùng một tờ, còn một tờ tui sẽ nhờ ai đó đọc cho tui nghe, tại tui không biết chữ, rồi thì tui sẽ giữ nó mãi suốt đời. Phải chi Má còn sống, nghe đọc tờ báo này, chắc Má tui vui lắm…”.

Chị Amy nhờ tôi gửi bài viết này kính tặng vợ chồng Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, bác sĩ Nguyễn Hùng cùng tất cả những tấm lòng nơi Thánh đường Sàigòn. Chị nói “Đây là món quà – từ trái tim, chị dâng tặng mọi người nhân mùa lễ Giáng Sinh “.

Trước khi chia tay, tôi hứa sẽ mang tặng chị Amy ba tờ báo, và sẽ đọc cho chị nghe. Chị nói “Cám ơn người đẹp”. Tôi ngượng ngùng “Chị đừng gọi tôi là người đẹp, kỳ lắm”. Amy đáp “Đẹp chứ, bởi vì chị trắng hơn tui..”…

Tôi quay đi. Chạnh cả lòng. Nhìn xuống làn da mình, tôi tự hỏi “Cuộc đời này có được bao người thật sự “trắng da” hơn chị?”

Hoàng Thanh

PHƯƠNG PHÁP ỨC CHẾ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẾ BÀO UNG THƯ:

Sonny Doan

PHƯƠNG PHÁP ỨC CHẾ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẾ BÀO UNG THƯ:

Hy vọng tất cả mọi người đã và đang bị ung thư phổi , áp dụng phương pháp điều trị này của tôi sẽ tìm được niềm vui và sức khỏe sẽ mau chóng hồi phục.

Sau gần 3 tháng điều trị bệnh, hôm qua tôi đi tái khám lại, bác sĩ đã cho biết tế bào ung thư chỉ còn khoảng 30% …

  1. Ăn và uống thuốc đúng giờ
  2. Tập thể dục thường xuyên và luôn giữ cho trọng lượng cơ thể nằm ở mức lành mạnh.
  3. Luôn lạc quan và yêu đời
  4. Không nóng giận

5 Giữ cho tâm an bình, bằng cách đọc những sách hay về Tâm linh và chiêm niệm…

  1. Không uống bia, rượu và hút thuốc lá.
  2. Sắc và uống thêm là đu đủ, một ngày nên ăn một trái thăng long.
  3. Bớt ăn những đồ ăn chiên, xào và mở động vật
  4. Nên ăn nhiều rau xanh và uống vitamin.
  5. Và nhất là năng cầu nguyện và rước Mình Thánh Chúa mỗi ngày.

Nhân quyền Việt Nam: 3 tháng, ít nhất 30 người bị bắt và xử án

Nhân quyền Việt Nam: 3 tháng, ít nhất 30 người bị bắt và xử án

Chỉ trong ba tháng vừa qua chính quyền Việt Nam đã bắt giam và xét xử ít nhất 30 người vì dám lên tiếng chỉ trích chế độ, phần lớn bị quy vào tội “tuyên truyền chống nhà nước”, theo số liệu mới nhất từ nhóm các gia đình tù nhân lương tâm Việt Nam.

Trong bản thông tin Qúy II 2021, nhóm Đại gia đình Tù nhân Lương tâm Việt Nam cho biết có đến 16 người bị bắt giam hay khởi tố và 15 người bị đưa ra xét xử.

Bản tin được tập hợp từ các gia đình này cho biết họ xem “những người dân dám lên tiếng và hành xử theo lương tâm của mình mà bị tù đày là những tù nhân lương tâm (TNLT), trong khi cơ quan ngôn luận của Bộ Công an lại tiếp tục bác bỏ khái niệm này, cho rằng ở Việt Nam “không có tù nhân lương tâm.”

– Trong số các blogger, nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền bị bắt theo cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” (Điều 117 Bộ Luật Hình sự) có ông Đỗ Nam Trung, ông Lê Văn Dũng, bà Nguyễn Thúy Hạnh ở Hà Nội.

Một số khác bị bắt vì cáo buộc “trốn thuế” (Điều 200 Bộ Luật Hình sự) như trường hợp của nhà báo Mai Phan Lợi, nhà hoạt động thiện nguyện Đặng Đình Bách.

Đáng lưu ý là việc chính quyền bắt giam các thành viên của nhóm Báo Sạch vào tháng 4 với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” (Điều 331 Bộ luật Hình sự) bao gồm các ông Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang và Nguyễn Phước Trung Bảo, sau khi một thành viên khác là nhà báo Trương Châu Hữu Danh bị bắt với cùng cáo buộc vào tháng 12 năm ngoái.

– Ông Huỳnh Ngọc Chênh, chồng của nhà hoạt động Nguyễn Thúy Hạnh, người bị bắt vào tháng 4/2021, nói với VOA:

“Từ thời ông Nguyễn Phú Trọng lên vào 2016 và đồng thời tình hình thế giới có những khủng hoảng thì [chính quyền Việt Nam] ra sức bắt bớ từ thời đó tới bây giờ. Bắt bớ nhiều lắm, có tội nặng, có tội nhẹ, không có tội gì cũng bắt. Trong xu hướng đó, bắt được ai thì họ cứ bắt. Có cớ này, cớ khác để bắt. Tôi nghĩ Nguyễn Thúy Hạnh chả làm gì sai pháp luật cả.”

– Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết, bạn gái của nhà hoạt động Đỗ Nam Trung, nói:

“Theo cá nhân tôi, việc bắt bớ anh Trung là điều vô lý vì anh Trung không làm cái gì gọi là “tuyên truyền chống phá nhà nước” cả.”

Vào tháng trước, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, một tổ chức nhân quyền có trụ sở ở bang California, Hoa Kỳ, công bố báo cáo dài hơn 100 trang trong đó có nêu danh sách 288 tù nhân lương tâm hiện đang bị chính quyền Việt Nam giam cầm, tính đến cuối tháng 5/2021.

“Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm những nhân quyền cơ bản, từ phân biệt đối xử, bắt và giam giữ tùy tiện, vi phạm các đảm bảo về xét xử công bằng, đến hạn chế quyền tự do tôn giáo, tự do quan điểm và biểu đạt, tự do lập hội,” báo cáo viết.

TL VOA

Nghiên cứu cho thấy vắc-xin COVID-19 có thể đã cứu sống 279.000 người ở Mỹ

May be an image of 2 people

Nghiên cứu cho thấy vắc-xin COVID-19 có thể đã cứu sống 279.000 người ở Mỹ

Một nghiên cứu mới cho thấy, chương trình tiêm chủng chống lại COVID-19 của Mỹ có thể đã cứu sống 279.000 người và ngăn ngừa 1,25 triệu ca nhập viện .

Các nhà nghiên cứu tại Yale và Quỹ Thịnh vượng chung đã sử dụng các mô hình dựa trên số ca nhiễm COVID-19, số lần nhập viện và tử vong để xác định tác động của nỗ lực tiêm chủng của Hoa Kỳ. Các tác giả phát hiện ra rằng nếu không có nó, Hoa Kỳ sẽ chứng kiến ​​một “sự gia tăng mùa xuân” do biến thể điều khiển trong các trường hợp dẫn đến khoảng 4.500 ca tử vong mỗi ngày.

Hoa Kỳ đã chứng kiến ​​tỷ lệ 4.000 ca tử vong mỗi ngày trong tháng Giêng, trước khi có những nỗ lực tiêm chủng.

Tiến sĩ Alison Galvani, tác giả chính của nghiên cứu và là giáo sư của dịch tễ học tại Trường Y Yale.

Nếu nỗ lực tiêm chủng diễn ra với tốc độ một nửa so với tốc độ hàng ngày, thì nghiên cứu dự báo có thể có thêm 121.000 ca tử vong.

Nghiên cứu cho thấy nếu không có nỗ lực tiêm chủng mạnh mẽ, quốc gia có thể đã báo cáo thêm 26 triệu trường hợp.

Hoa Kỳ đã báo cáo hơn 33,8 triệu trường hợp nhiễm COVID-19 và 607.150 trường hợp tử vong kể từ đầu đại dịch. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ đã quản lý 334 triệu liều vắc xin, với 65% người lớn đã được tiêm ít nhất một liều .

Theo một tuyên bố chung do CDC và Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm đưa ra hôm thứ Năm, hầu như tất cả các trường hợp nhập viện COVID-19 đều không được tiêm chủng .

Tiến sĩ Kawsar Talaat, chuyên gia y khoa tại Đại học Y khoa Johns Hopkins cho biết: Tiêm vắc xin rất quan trọng trong việc ngăn ngừa sự phát triển của các biến thể nguy hiểm hơn.

SỨC MẠNH CỦA NGUYỆN CẦU

SỨC MẠNH CỦA NGUYỆN CẦU

Một phụ nữ bước vào cửa tiệm tạp hóa lớn, cô ngó quanh dáo dát rồi đến bên quầy tính tiền nói với ông chủ.

“Thưa ông, tôi cần mua một ít thức ăn, nhưng tôi không có tiền ngày hôm nay. Ông có thể cho tôi mua chịu được không? Tôi hứa sẽ đem tiền đến trả ngay khi sớm nhất có thể.”, cô cuối đầu ngượng ngùng nói.

“Oh, không được đâu. Tôi đâu biết cô là ai? Làm sao tôi có thể bán chịu cho cô khi cô chưa từng là khách quen ở cửa tiệm tôi?”, ông chủ lắc đầu.

Nước mắt lưng tròng, người phụ nữ van xin: “Chồng tôi bị bệnh nặng, không thể đi làm được. Chúng tôi có 5 đứa con, và chúng đang rất đói. Xin ông hãy rủ lòng thuơng giúp đỡ cho một lần này thôi. Tôi hứa khi có tiền sẽ đem đến trả ông ngay!”.

Ông chủ tiệm chỉ tay ra phía cửa nói: “Cô vui lòng ra khỏi đây ngay. Đừng cản trở tôi mua bán chứ. Khách đang xếp hàng sau lưng cô kia kìa …”.

Từ phía sau người phụ nữ, một người đàn ông nãy giờ đã nghe 2 người đối thoại bước lên. Ông nói: “Hãy để tôi ứng tiền cho cô ấy, ông cứ để cô ấy lấy những gì cô ấy cần.”

Người chủ tiệm nhìn 2 người, lưỡng lự một chút, rồi ông ta chợt nảy ra ý tưởng hay. Ông hỏi người phụ nữ: “Cô có biết cô cần mua gì không? Nếu biết thì hãy viết ra giấy đưa cho tôi.”.

Người phụ nữ mừng rỡ nói: “Vâng, thưa ông. Tôi sẽ viết ngay đây.”

Nhưng ông chủ tiệm lại tiếp: “Viết xong đưa tờ giấy đó cho tôi, tôi sẽ bỏ lên bàn cân này. Nó nặng bao nhiêu thì cô cứ lấy những gì cô cần cho đến khi đủ. Tôi sẽ không tính tiền những gì cô lấy!”. Ông chủ tiệm cúi xuống gầm lôi lên bàn một cái cân to tướng, và chỉ vào một phía.

Người phụ nữ và ông khách phía sau ngạc nhiên trước thái độ ông chủ, nhưng cô không còn lựa chọn nào khác. Người phụ nữ lục trong túi xách một mảnh giấy nhàu nát, cô run run viết lên tờ giấy đó .. Rồi cô gấp đôi tờ giấy lại đưa cho ông ta.

Ông chủ tiệm nhếch mép cười, rồi bỏ tờ giấy lên một bên cân. Nhưng lạ thay, mảnh giấy từ từ chìm xuống cho đến đụng đáy trước sự ngạc nhiên của 3 người. Người phụ nữ vội đi gom thức ăn bỏ vào bên thau bên kia, nhưng dù cô có bỏ lên bao nhiêu, phía bên tờ giấy vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tiệm nhìn kỹ 2 bên cân, nhưng rõ ràng nó không có gì khác thường …

Cho đến khi thau đồ đã đầy, ông chủ tiệm đành để người phụ nữ ôm túi đầy thức ăn bước ra tiệm mà không thể tính tiền trước sự ngạc nhiên của người khách lạ.

Ông chủ tiệm lật hẳn cái cân lên coi, thì ra phía dưới một bên cân đã gãy. Ông tức tối nhặt tờ giấy người phụ nữ gấp lại mở ra để xem cô đã lấy đi những gì của ông, thì ra cô chẳng hề viết list đồ cô cần mua, mà chỉ vỏn vẹn có giòng chữ:

“Lạy Chúa, Người biết chúng con đang cần gì, con xin phó thác tất cả trong tay người.”

Ông chủ tiệm nhắm mắt ngước lên Trời, giờ thì ông đã hiểu …

Bạn, xin hãy đừng đánh giá thấp một lời cầu nguyện. Chỉ có Chúa mới biết được lời nguyện cầu nặng bao nhiêu.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Giữa một thế giới mê đắm bạc tiền,

 Lời nguyện

Giữa một thế giới mê đắm bạc tiền,
xin được sống nhẹ nhàng, thanh thoát.
Giữa một thế giới lọc lừa, dối trá,
xin được sống chân thật, đơn sơ.
Giữa một thế giới trụy lạc, đam mê,
xin được sống hồn nhiên, thanh khiết.
Giữa một thế giới hận thù, tuyệt vọng, dửng dưng,
xin được chia sẻ yêu thương, an bình và hy vọng.

Lạy Chúa Giêsu mến thương,
xin dạy chúng con biết cách làm chứng cho Chúa giữa cuộc đời.
Xin giúp chúng con tìm ra những cách mới để người ta tin và yêu Chúa.
Ước gì hơn hai tỷ người kitô hữu
vẫn giữ được vị mặn của muối và sức biến đổi của men,
để chúng con làm cho thế giới này mặn mà tình người,
và làm cho trần gian trở thành tấm bánh thơm ngon.
Xin cho Thiên Chúa Cha được tôn vinh
qua những việc tốt đẹp chúng con làm cho những người bé nhỏ.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Các ‘thuyết âm mưu’ nguy hiểm (VOA)

Các ‘thuyết âm mưu’ nguy hiểm

14/07/2021

Một thân nhân an ủi con trai của một người vừa qua đời vì Covid. Hình minh họa.

Một thân nhân an ủi con trai của một người vừa qua đời vì Covid. Hình minh họa.

Dân Mỹ nghĩ rằng bệnh dịch Covid-19 đang nguội dần. Nhưng có nhiều triệu chứng bất ổn. Trong một tuần qua, số người mắc bệnh đã tăng lên 47% so với tuần trước, theo Center for Health Security của Đại học Johns Hopkins, nơi vẫn theo dõi số thống kê từ năm ngoái.

Nhật báo Wall Street Journal cho biết mỗi ngày trung bình có thêm 23,000 người mắc bệnh, cao gấp đôi số trung bình ba tuần trước. Số người vào bệnh viện trung bình 13,200 mỗi tuần, cuối tháng Sáu chỉ có 12,000 người. Trong Quận Los Angeles, số bệnh nhân mới đã tăng hơn 1,000 người trong ba ngày liên tiếp sau nhiều tháng giảm bớt.

Tại 43 trong số 50 tiểu bang ở Mỹ, số người nhập viện lại tăng. Sau mấy tuần lễ số người chết vì Covid sẽ tăng theo.

Cơ quan phòng bệnh quốc gia CDC cho biết 99% những người qua đời đều chưa chích ngừa các loại vaccines thông dụng. Bác sĩ Jennifer Nuzzo, Johns Hopkins, nhận thấy hai phần ba các quận hạt (county) có nhiều người bị bệnh đều nằm tại những tiểu bang ít chích ngừa vaccines; số bệnh tăng nhiều nhất tập trung trong năm quận. Trong số 10 tiểu bang chích ngừa ít nhất, bảy tiểu bang thuộc miền Nam nước Mỹ. Tại Mississippi, chỉ có 33% dân đã chích ngừa, số người mắc bệnh tăng gần 60%, từ 192 người mỗi ngày hôm 28 tháng Sáu lên 303 người hôm 12 tháng Bảy. Tại Louisiana, 35.8% dân đã chích ngừa, con số tăng 39%, từ 389 lên tới 840 người.

Theo CDC hiện ở Mỹ mới có 152 triệu người được chích ngừa đầy đủ, chiếm 59% dân số. Nhiều người Mỹ vẫn không chịu chích ngừa, trong khi biến thái Delta của loài vi khuẩn có sức lan truyền nhanh gấp đôi, đã gây thêm bệnh khắp thế giới. Những người không chích vaccine tự để cho mình dễ bị lây bệnh rồi lây lẫn cho nhau. Nhưng họ còn gây tai họa cho những người khác; vì loài vi khuẩn sẽ có môi trường biến thái dễ và nhanh chóng, trở thành nguy hiểm hơn.

Những người này phải nói là không có tinh thần trách nhiệm đối với chính mình, với những người trong gia đình và bạn bè tiếp xúc thường xuyên với họ, và tất cả mọi người chung quanh. Họ đã để cho xu hướng chính trị của mình khiến họ bịt mắt trước những sự thật là: Vaccine có thể ngăn ngừa bệnh dịch; và khăn che miệng có thể đề phòng bệnh dịch.

Có những người trở thành cuồng tín tin theo những “thuyết âm mưu.” Dân biểu Marjorie Taylor Greene (Georgia) coi việc chính quyền khuyến cáo che miệng và chích ngừa giống như chế độ Đức Quốc Xã bắt dân Do Thái đeo ngôi sao David sáu cạnh. Bà Greene và Dân biểu Lauren Boebert (Colorado) so sánh đội quân y tế chích ngừa với công an Quốc Xã. Nhà bình luận Tucker Carlson trên đài FOX luôn luôn chỉ trích chiến dịch chích ngừa, ông mời các chuyên gia phản đối chích ngừa lên đài nói chuyện. Khi CDC khuyến cáo các trường yêu cầu học sinh, sinh viên phải chích ngừa trước khi mở cửa, Charlie Kirk, thuộc tổ chức cực hữu Turning Point USA, đã lên ti vi phản đối.

Những người đó dẫn đầu một phong trào chống đeo mạng và chống chích ngừa lợi dụng tình trạng chia rẽ chính trị ở nước Mỹ bằng các “thuyết âm mưu.” Họ vẽ ra một thế giới chỉ có trắng và đen, không thể nào thỏa hiệp. Trong thế giới đó họ làm chủ cái thiện, còn tất cả những người nói trái ý kiến họ đều bị cái ác chi phối. Do đó, những người đối lập phải bị tiêu diệt trong các lãnh vực mà họ đang tìm cách thu hút quần chúng. Lãnh vực đang gây sôi nổi là vấn đề ngăn ngừa, phòng chống bệnh dịch Covid. Nhiều người coi công tác kêu gọi chích ngừa là một “âm mưu quốc tế” nhằm kiểm soát trí óc người Mỹ; một âm mưu không khác gì các chế độ phát xít và cộng sản trước đây muốn thống trị loài người.

Những người cuồng tín thường dùng mối đe dọa từ bên ngoài để khích động công chúng, để đạt mục tiêu chính trị của họ. Năm 1964, trong bài viết nổi tiếng, “The Paranoid Style in American Politics,” Richard Hofstadter thuật lại nhiều lần nước Mỹ đã sống qua các “thuyết âm mưu” như thế.

Thời 1951, Nghị sĩ Joseph R. McCarthy đã gây nên một phong trào truy tầm gián điệp cộng sản. Sau khi Stalin cho nổ bom nguyên tử và Trung Cộng chiếm quyền ở Trung Quốc, ông đã tố giác chính phủ Mỹ chứa đầy cộng sản. Ông McCarthy coi nước Mỹ đã sa sút từ 1945 đến 1950, do một “âm mưu phản bội” được thi hành từng bước một, “một âm mưu lớn nhất trong lịch sử nhân loại.” Ông tố cáo Ngoại trưởng George C. Marshall là phản bội quyền lợi nước Mỹ, thực hiện mưu đồ của Liên Xô; trong khi Kế hoạch Marshall tái thiết Tây Âu thành công đã ngăn không cho Liên Xô bành trướng.

Thời 1960, phong trào chống Cộng lên cao ở Mỹ. Ông Robert Welch, người sáng lập tổ chức bảo thủ John Birch Society đã tố cáo Tổng thống Dwight Eisenhower và Ngoại trưởng John Foster Dulles đều là cán bộ cộng sản quốc tế. Ông Welch nói rằng ông có đầy đủ bằng cớ để buộc tội! Trong cuốn sách The Politician, do ông Welch viết, ông dành hàng trăm trang chú thích và tài liệu tham khảo. Ngay cả Tối cao pháp viện Mỹ cũng bị ông tố cáo là tay sai cộng sản.

Bản tin của John Birch Society cho biết họ nhận được rất nhiều bức thư phản đối hãng United Airlines dùng huy hiệu của Liên Hiệp Quốc. Ông John Rousselot, một người lãnh đạo trong tổ chức giải thích: “Chúng tôi không muốn một công ty của nước Mỹ lại đi cổ động cho Liên Hiệp Quốc, trong khi chúng ta biết rằng nó là một khí cụ trong âm mưu của cộng sản Xô Viết.” Trước áp lực đó, sau cùng công ty hàng không đã phải thay đổi nhãn hiệu.

Những “thuyết âm mưu” thường xuất hiện khi xã hội Mỹ thay đổi, khiến cho nhiều người lo sợ, muốn chặn lại. Trong một thế hệ vừa qua, sức mạnh kinh tế và chính trị ở Mỹ đang chuyển từ nông thôn lên thành phố. Dân số Mỹ thay đổi, tỷ số số người da trắng giảm bớt, các người gốc di dân tăng lên, một hiện tượng còn tiếp tục. Di dân là một lực lượng giúp nước Mỹ đông đúc, giàu mạnh hơn, trong lúc dân số các nước khác, từ Trung Quốc, Nga, đến Nhật Bản, Âu châu đều giảm sút. Nhưng nhiều người không muốn nước Mỹ thay đổi như vậy. Năm 2008, một người da đen đầu tiên đắc cử tổng thống. Đối với nhiều người Mỹ đó cũng là một dấu hiệu không lành; họ càng bị tác động mạnh mẽ hơn.

Trong bốn năm qua, mối lo lắng của những người đó có cơ hội bùng lên. Họ không cần phải che giấu cơn giận dữ của mình nữa. Họ tự coi mình là những người “ái quốc” duy nhất. Họ thấy cần bảo vệ một nước Mỹ “thuần túy” như cũ. Những người nói những lời lẽ càng cực đoan thì càng được hoan nghênh. Nhiều người quy tụ trong các nhóm Oath Keepers và Proud Boys. Và các “thuyết âm mưu” được dịp phát triển. Những tin đồn đại thổi phồng trên mạng QAnon đã được cả các dân biểu và nghị sĩ, tin theo và nhắc lại. Đó là một nguồn gốc lớn của phong trào chống đeo mạng che miệng và chống chích ngừa.

Covid-19 đã làm hơn 606,000 người chết. Những “thuyết âm mưu” mới còn được nuôi dưỡng sẽ khiến thêm nhiều người Mỹ nhiễm bệnh dịch, sẽ giết thêm hàng ngàn người khác trong mấy tháng sắp tới. Chúng ta có thể tin rằng những “thuyết âm mưu” này sẽ tàn dần dần, như những nhân vật nổi danh Joseph R. McCarthy hay Robert Welch mà bây giờ không mấy người Mỹ còn biết tên.