Thánh Timôtêo và Thánh Titô, tông đồ

 Thánh Timôtêo và Thánh Titô, tông đồ

Chúc bình an! Hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 vị thánh Timôtêo và thánh Titô, tông đồ, mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Mời bạn nghe bài nhạc tân cổ, hay quá! Tình Chúa tình người nối nhịp con tim…, Gai càng nhọn lời ca càng thánh thót…

Qua Tân Ước, những gì chúng ta biết được về cuộc đời Thánh Timôtê thì giống như của một giám mục bận rộn ngày nay. Ngài được vinh dự tháp tùng Thánh Phaolô, và cả hai đều được ưu tiên rao giảng phúc âm và chịu đau khổ.

***

❦ Thánh Timôtê có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Do Thái tên là Eunice. Là kết quả của một hôn nhân “hỗn hợp”, nên ngài bị người Do Thái coi là bất hợp pháp. Chính bà ngoại thánh nhân, bà Lois, là người đầu tiên trở lại Kitô Giáo. Sau đó, Timôtê được Thánh Phaolô rửa tội khoảng năm 47, và sau đó cùng tiếp tay với ngài trong công cuộc tông đồ. Chính ngài và Thánh Phalô cùng sáng lập Giáo Hội Côrintô. Trong 15 năm làm việc với Thánh Phaolô, Timôtê trở nên người bạn trung tín nhất của Phaolô. Ngài được Thánh Phaolô gửi đi truyền giáo — thường phải đương đầu với những xáo trộn trong các giáo đoàn mà Thánh Phaolô thành lập.

     Khi Timôtê đang ở với Phaolô thì bị bắt tại Rôma. Trong một thời gian, chính Timôtê cũng bị tù (Do Thái 13:23). Và Thánh Phaolô đã bổ nhiệm Timôtê làm đại diện cho ngài ở Êphêsô. Timôtê quá trẻ so với trách nhiệm nặng nề phải đảm trách. (“Ðừng để ai coi thường anh vì sự trẻ trung” Thánh Phaolô viết trong thư I gửi Timôtê 4:12a). Một vài đoạn khác cho chúng ta biết dường như Timôtê hay bẽn lẽn. Và một trong những câu của Thánh Phaolô thường được trích dẫn là câu viết cho Timôtê: “Ðừng chỉ uống nước lã, nhưng hãy dùng thêm chút rượu, vì anh đau dạ dày và ốm yếu luôn” (1 Tim 5:23).

❦ Thánh Titô có nét đặc biệt là người bạn thân và là môn đệ của Thánh Phaolô cũng như tiếp tay trong công cuộc truyền giáo. Ngài là người Hy Lạp, hiển nhiên xuất thân từ Antiôkia. Mặc dù ngài là dân ngoại, Thánh Phaolô đã không để ngài phải chịu cắt bì ở Giêrusalem. Titô được coi như người hòa giải, người quản đốc, người bạn rất tốt. Trong lá thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô, Thánh Phaolô cho chúng ta thấy tình bạn sâu đậm giữa ngài với Titô, và tình đồng đội giữa hai người khi rao giảng Tin Mừng: “Khi tôi đến Troas, tinh thần tôi không được khuây khỏa vì không được gặp Titô, người anh em của tôi. Do đó tôi từ giã họ và tiếp tục đến Macedonia. Ngay cả khi đến Macedonia, thể xác chúng tôi cũng chưa được yên, mà phải chịu đau khổ đủ mọi cách — xung đột bên ngoài, lo sợ bên trong. Nhưng Thiên Chúa, Ðấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách sai Ti-tô đến” (2 Côrintô 2:12a, 13; 7:5-6).

     Trong thư  gửi Titô, lúc ấy Titô được coi như quản đốc của cộng đồng Kitô Giáo trên đảo Crete, có trách nhiệm tổ chức, chấn chỉnh những lạm dụng và bổ nhiệm các giám mục phụ tá.

     Qua đời sống của Thánh Titô, chúng ta có được chút hiểu biết về đời sống Giáo Hội thời tiên khởi: hăng say trong việc tông đồ, kết hợp mật thiết với Ðức Kitô, triển nở tình bạn. Tuy nhiên, luôn luôn có những vấn đề của bản tính con người và những chi tiết không hấp dẫn chút nào trong đời sống hàng ngày: cần phải sống bác ái và kiên nhẫn trong “sự cãi cọ với người khác, lo sợ trong tâm hồn”. Qua tất cả những điều ấy, tình yêu của Ðức Kitô đã gìn giữ họ. (Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Đỗ Dzũng

TNLT Lê Quý Lộc tố bị tra tấn trong trại An Phước bởi 11 cán bộ

Đài Á Châu Tự Do 

Trong cuộc gặp, ông Lê Quý Lộc nói rằng hồi tháng 5 năm 2021, ông đã bị đánh đập cùng lúc bởi 11 cán bộ tại trại giam An Phước. Lý do là vì ông đã lên tiếng đòi hỏi quyền được ra ngoài chơi thể thao vào thứ Bảy cho những người tù chính trị.

Thay vì đáp ứng đòi hỏi của ông này, thì phía cán bộ trại giam trừng phạt bằng việc chuyển ông sang giam giữ ở khu vực dành cho tù hình sự. Và cũng ở đây ông đã bị cán bộ trại giam đánh đập.

Theo bà Thủy mô tả thì trận đòn đã khiến mặt của ông Lê Quý Lộc bị bầm tím và sưng phù, ông này sau đó đã tuyệt thực trong tám ngày để phản đối việc mình bị hành hung.

Phóng viên Đài Á Châu Tự Do nhiều lần gọi vào số điện thoại của trại giam An Phước được công bố trên báo chí nhà nước, tuy nhiên một giọng nữ tự động thông báo “đường dây đang sửa chữa” nên không thể liên lạc được.

Một luật sư nhân quyền giấu tên vì lý do an ninh nhận xét về vụ việc:

“Theo quan điểm của tôi thì theo Luật Thi hành án Hình sự thì người phạm nhân có quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, và họ được quyền tham gia vui chơi, hoạt động thể thao, và sinh hoạt văn hoá văn nghệ.

Trong trường hợp trại giam không đáp ứng những yêu cầu của phạm nhân là trái quy định của pháp luật. Và những yêu cầu của phạm nhân, cụ thể ở đây là phạm nhân chính trị, là những yêu cầu hết sức chính đáng.”

#RFAVietnamese #lequyloc #Vietnam #Vietnamhumanrights

SÀI GÒN TRONG TÔI!

SÀI GÒN TRONG TÔI!

Sài Gòn Đậm Đắng

Năm tháng qua, thời gian trôi như chó chạy ngoài đồng…chợt nhìn lại…Sài gòn sao quá đẹp, quá đỗi thân thương.

Sài gòn như mang trong nó cái bản mệnh vốn có Hòn ngọc Viễn Đông… tuy có lắng có trầm nhưng lúc nào cũng vậy, Sài gòn luôn là nơi tấp nập, đông đúc, nơi mà cơ hội kinh doanh làm giàu luôn luôn có…hiện hữu…chỉ là bạn có dám làm và dấn thân cho lý tưởng mình đã chọn hay không???

Sài gòn không ngủ…vốn dĩ nó luôn thế… nhộn nhịp; náo nhiệt; đầy sức sống…

Người Sài Gòn thân thiện phóng khoáng, luôn đón chào người từ thập phương đến làm ăn sinh sống…và trở thành nơi chôn rau cắt rốn…quê hương thứ hai.

Từ tính cách ấy, Sài gòn có văn hóa vỉa hè… 2 cái ghế đẩu, 1 bình trà, hay 2 ly cafe pha phin nóng đá là đủ… có thể ngồi từ sáng tới trưa, từ trưa tới tối.

Văn hóa vỉa hè không phân biệt sang hèn, tuổi tác, giới tính…ông chủ lớn cũng có thể ngồi… anh thợ đi làm tạt ngang cũng làm ly cafe rồi đi… cô gái trẻ bên ly chanh muối mật ong… đường phèn. Họ cùng chung 1 thứ văn hóa đó là Phóng khoáng… và sống đời… Nó Thật… họ chỉ quan tâm 1 điều đó là cafe phải ngon…nước phải chất…thì ngồi đâu cũng được…ghế đẩu cũng được.

Như vô tình mà hữu ý… ngày ấy… đường Sài gòn trồng đầy cây me… mộc mạc… khẳng khiu… lá nhỏ nhưng đầy sức sống… quả thì từ chua tới ngọt… lại phải chấm 1 chút muối cay…Nó mới là vị của cuộc sống…chua cay ngọt bùi… như Hỷ nộ ái ố.

Cái văn hóa vỉa hè… nhìn dòng người tấp nập qua lại… trong cái động có cái tĩnh…trong cái tĩnh có cái động… mỗi thời mỗi khắc… ta lại như như hiểu mình, hiểu người nhiều hơn…như một chữ Ngộ…!!!

Như ai đó đã từng nói…Sài Gòn đẹp lắm vào mỗi sớm, cà phê vỉa hè nhộn nhịp người ngồi. Giọt cà phê đen rơi chậm như những thước phim chậm hồi ức của một người.

Sài gòn đa màu đa sắc, ở Sài Gòn tôi thấm…hiểu…cuộc đời là những chuyến đi…là dấn thân…Chỉ có thế, ta mới hiểu sắc màu cuộc sống là thế nào. Luôn nở nụ cười và học cách tìm niềm vui trong nỗi buồn, tìm hy vọng trong tuyệt vọng, tìm thành công trong thất bại.

Sài gòn đẹp lắm! Đậm đắng…rồi sẽ Ngọt Bùi… Không Quên!

Sài Gòn Đậm Đắng

Thánh Phaolô trở lại…

 Thánh Phaolô trở lại…,

Chúc một ngày an lành mọi sự tốt đẹp trong bàn tay quan phòng của Chúa. Hôm nay 25/1 Giáo Hội mừng kính Lễ Thánh Phaolô trở lại, ta hãy xin cho được sự hoán cải trong tâm hồn. Xin một hy sinh nhỏ để cầu nguyện cho những người tội lỗi được ăn năn trở lại.

Cha Vương

Toàn thể cuộc đời của Thánh Phaolô có thể nói hệ tại ở một biến cố — ngài được gặp Ðức Giêsu trên đường đi Damascus. Ngay khoảng khắc đó, mọi sự hăng say của một người nhiệt huyết như ngài đều trở nên vô ích, như quả đấm ngàn cân của một tay quyền anh bị hụt hẫng. Có lẽ ngài chưa bao giờ được gặp Ðức Giêsu, mặc dù chỉ lớn hơn Ðức Giêsu vài tuổi. 

Nhưng ngài ghét cay ghét đắng những gì Ðức Giêsu chủ trương khi ngài bắt đầu bắt bớ Giáo Hội: “đi vào từng nhà và bắt bỏ tù những người đàn ông cũng như đàn bà” (CVTÐ 8:3b). Bây giờ, chính ngài được “đi vào”, được chiếm ngự, mọi năng lực của ngài được khai thác cho một mục đích — trở nên một người nô lệ cho Ðức Kitô trong sứ vụ hòa giải, thành một khí cụ giúp người khác cảm nhận được Ðấng Cứu Thế.

Câu nói sau đã xác định lập trường đức tin của ngài: “Ta là Giêsu, người mà ngươi đang bách hại” (CVTÐ 9:5b). Một cách huyền nhiệm Ðức Giêsu đã đồng hóa với dân của Ngài – là những người mà Thánh Phaolô trước đây đã từng săn đuổi như các tội nhân. Ngài nhìn thấy nơi Ðức Giêsu, sự hoàn tất một cách huyền nhiệm những gì ngài đang theo đuổi cách mù quáng.

Từ đó trở đi, công việc của ngài là “giúp mỗi người trở nên hoàn thiện trong Ðức Ki-tô. Vì đó mà tôi phải vất vả chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi” (Colossê 1:28b-29). “Vì tin mừng được loan báo cho anh chị em không chỉ bằng lời nói, mà còn trong quyền năng và trong Thánh Thần và với niềm xác tín sâu xa (1 Thess. 1-5a).

Cuộc đời Thánh Phaolô trở nên sự rao truyền không mệt mỏi và ngài sống sứ điệp thập giá: qua sự rửa tội, người Kitô chết cho tội lỗi và được mai táng với Ðức Kitô; họ là người chết đối với những gì sai trái và không giúp đưa đến sự cứu chuộc của thế gian. Họ được tạo thành một tạo vật mới, được chia sẻ vinh quang của Ðức Kitô và một ngày nào đó họ sẽ được sống lại từ cõi chết như Người. Qua Ðức Kitô phục sinh, Thiên Chúa Cha tuôn đổ Thánh Thần trên họ, biến họ trở nên hoàn toàn mới.

Do đó thông điệp vĩ đại của Thánh Phalô cho thế giới là: Bạn đã được Thiên Chúa cứu chuộc, không do bởi bất cứ gì bạn thi hành. Ðức tin cứu độ là món quà tặng cho những ai tận hiến cho Ðức Kitô một cách tuyệt đối, tự nguyện và cá biệt, mà sự tận hiến ấy mang lại kết quả trong “công việc” nhiều hơn là những gì luật lệ mơ tưởng. (Nguồn: Người Tín Hữu)

❦  “Tình yêu thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Côrintô 13:4-7).

Lạy Chúa, xin hãy dẫn dắt con đi từ cõi chết đến sự sống, từ lầm lạc đến chân lý. Xin hãy dẫn dắt con đi từ thất vọng đến hy vọng, từ sợ hãi đến tín thác. Xin hãy dẫn dắt con đi từ ghen ghét đến yêu thương, từ chiến tranh đến hòa bình. Xin hãy đổ đầy bình an trong trái tim chúng con, trong thế giới chúng con, trong vũ trụ chúng con. (Nguồn:TGP Saigon)

From: Đỗ Dzũng

 Đọc hồi ức của bà quả phụ Ngô Quang Trưởng

Van Pham

 Đọc hồi ức của bà quả phụ Ngô Quang Trưởng

Trần Thị Nguyệt Mai

Tôi rất hân hạnh được là một trong những độc giả đầu tiên khi cuốn sách “Tháng Ngày Qua” – Hồi ức của Nhà văn Nguyễn Tường Nhung, chỉ mới là những trang bản thảo rời. Tác giả là trưởng nữ của Nhà văn Thạch Lam và cũng là phu nhân của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một trong những vị tướng lãnh xuất sắc và trong sạch của Quân Lực VNCH.

Cuốn sách hé mở cho chúng ta rõ hơn không chỉ về thân thế của hai gia đình rất nổi tiếng – Thạch Lam và Ngô Quang Trưởng – mà còn như một cuốn phim quay lại hình ảnh xã hội thời kỳ chiến tranh Việt Pháp và chiến tranh Việt Nam cận đại, hiển hiện nỗi khổ đau tận cùng khi mất mát cả tài sản lẫn những người thân yêu nhất trong đời, nỗi lo âu của người vợ lính khi chồng ra chiến trận và phút giây lãng mạn hạnh phúc khi chinh nhân trở về…

Những ngày Tết Mậu Thân 1968 kinh hoàng thảm thương ở Huế cũng được ghi lại một cách sống động.

Khi viết về văn chương Thạch Lam, nhà văn Mai Thảo đã dùng những lời ngợi khen đẹp nhất: “bút pháp chuốt lọc, trong sáng và chính xác nhất của văn xuôi tiền chiến” (1). “Bút pháp chính xác ông mãi mãi là một vinh dự cho tiếng Việt, theo ý tôi” (2). “Những trang tiểu thuyết đôn hậu và chứa chan tình cảm của Thạch Lam” (3) đã đi vào và ở mãi trong tâm hồn người đọc với Gió Lạnh Đầu Mùa, Nhà Mẹ Lê, Hai đứa trẻ, v.v… Đọc “Tháng Ngày Qua” càng thấy rõ hơn “văn chính là người”, để càng yêu mến Ông hơn.

Trong đậm sâu trí nhớ của tác giả ngày ấy, khi còn là một cô bé 6 tuổi, vẫn còn hiện rõ hình ảnh Bố Thạch Lam:

Bố tôi rất cao, da trắng hồng trông như lai Tây vậy. Ông hay mặc bộ vét màu kem nhạt may bằng hàng vải đũi, đầu luôn đội cái mũ phớt, chân đi giày tây, lúc nào cũng bóng loáng. Quần áo của bố tôi lúc nào cũng phải là thẳng tắp. Bố tôi rất ngăn nắp, thứ tự và rất quý sách. Ông có một tủ sách bìa mạ chữ vàng được xếp rất ngăn nắp. (sđd, tr. 20)

Và Mẹ, bà Thạch Lam, người vợ mà Ông rất yêu thương:

Mẹ tôi hơn bố tôi vài tuổi. Bà tuy hơi thấp so với bố tôi, nhưng bà rất đẹp và rất khéo chiều bố tôi. Bà hiểu rõ rất tỉ mỉ từng chi tiết, những sở thích của bố tôi và tôn trọng tất cả những gì mà bố tôi quyết định. Cà phê mà bố tôi uống mỗi buổi sáng phải chính tay mẹ tôi pha. (sđd, tr. 22)

Cô vẫn nhớ như in sở thích ăn uống rất giản dị của Bố:

Thức ăn bố tôi không đòi hỏi phải nhiều thịt, cá hay thịnh soạn, nhưng món gì cũng phải thật tinh khiết, sạch sẽ, bày cho gọn và đẹp mắt. Bố tôi thích những món ăn thanh như canh giò sống nấu rau ngót, cải xanh nấu cá rô, rau muống luộc, đậu hũ chiên tẩm hành lá hay cá chép rán vàng, và tuyệt đối không bao giờ được dọn món ăn mà đã ăn ngày hôm trước. (sđd, tr. 23)

Cộng thêm thói quen đơn sơ nhưng rất hạnh phúc của Ông sau bữa cơm chiều:

Ăn cơm xong bố tôi có thói quen ra ngồi ngoài hiên trước nhà để ngắm cảnh. Tuy đã về chiều nhưng cũng còn một vài chiếc thuyền, trên chở những cặp tình nhân. Họ chèo thật chậm nhìn ngắm mặt trời lặn và thủ thỉ những lời âu yếm. Bố tôi lúc nào cũng rủ mẹ tôi ra cùng ngồi và trò chuyện tâm tình cùng mẹ. Bố tôi ít nói, nhưng khi nói thì đã diễn tả hết ý mình. (sđd, tr. 22)

Đặc biệt là tính thương người vô cùng tận của Ông, để thấy tại sao văn chương Thạch Lam cũng giống như người:

Bố tôi rất khó tính và ít khi cười nhưng lại rất thương người. Có thời gian nhà có một anh phu xe để kéo xe cho bố tôi đi làm hàng ngày. Nhưng khi trời mưa thì bố tôi bảo mưa ướt tội nghiệp, khi nắng thì bố tôi cũng bảo nóng quá kéo xe mệt, và thấy anh kéo xe đổ mồ hôi thì cũng không đành. Rút cuộc bố tôi lại đi xe ngoài để đi làm. (sđd, tr. 23)

Nhà văn Thạch Lam mất rất sớm lúc mới ngoài 30 tuổi, khi văn tài đang vào độ sung mãn. Ngày ấy tác giả chỉ mới 6 tuổi, có hai em trai, một lên 3 và một mới sinh được 3 ngày. Đang từ một cô bé được bố rất yêu chiều:

Tối nào sau khi ăn cơm xong bố tôi cũng gọi tôi vào phòng sách chỗ bố tôi ngồi hàng đêm để viết văn. Trên bàn viết của bố tôi ngoài những giấy, bút, đặc biệt có một lọ kẹo tây. Những viên kẹo đủ màu sắc hồng lạt, đỏ, xanh, trắng, đựng trong chiếc lọ bằng thủy tinh trông thật đẹp mắt và thật là muốn ăn. Bố tôi mở nắp lọ, mùi kẹo bay thật thơm. Bố tôi lấy ra cho tôi một cái… (sđd, tr. 23 & 24)

Cô trở thành đứa trẻ mồ côi cha. Sau đám tang vài tháng, “bà nội tôi cho người lên Hà Nội đón mẹ và ba chị em chúng tôi về trại Cẩm Giàng. Trại rộng hai mẫu tây, khang trang, nằm cách ga tàu hỏa khoảng hơn cây số. Hai cánh cổng chính của trại khá to, sơn màu xanh, giàn hoa tỉ muội màu hồng nhạt leo chung quanh” (sđd, tr. 27). Từ đây, gia đình cô rời bỏ “căn nhà nhỏ nhưng rất thơ mộng ở tại đầu làng Yên Phụ, ngay cạnh hồ Tây có cây liễu rủ, tàn liễu sà xuống gần mặt nước hồ… Đường từ ngoài vào làng toàn lót bằng gạch đỏ. Trên đường đi chỗ nào cũng nhìn thấy nước hồ… Đi sâu vào trong làng rất đẹp, hai bên là những hàng rào trồng bằng cây duối, được cắt thật bằng phẳng. Khi tới mùa quả duối chín vàng trông xa như những sợi tơ tằm óng ánh… Từ đó tôi chưa có dịp trở về lại làng Yên Phụ nữa” (sđd, tr. 25)

Hình ảnh Bà Nội, người Mẹ hiền sinh ra những người con thuộc nhóm khai sáng Tự Lực Văn Đoàn đã góp công rất lớn trong việc hiện đại hóa xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua báo chí và tiểu thuyết, với “tôn chỉ” được công bố trên báo Phong Hóa số 101 ngày 8 tháng 6 năm 1934 gồm 10 điểm, đúc kết lại trong nội dung: “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam” (4):

Bà Nội dáng người cao to, nước da trắng hồng, gò má hơi cao, đôi mắt sáng, sâu, trông như lai, toát ra một vẻ oai nghiêm cương nghị. Bà rất nghiêm khắc và ít khi cười. Nhưng khi bà cười thì nụ cười thật tươi, lộ hàm răng đen. Bà nói giọng Huế nghe hay hay và lạ. … Bà ăn uống cầu kỳ, kiểu cách. Bát ăn bằng men xanh trắng viền chỉ vàng, đũa ngà, mâm bằng đồng thau sáng loáng. Khi ăn phải từ tốn, thức ăn cũng phải sắp thứ tự, rau muống luộc để ra đĩa, cọng và lá không lẫn lộn, cắt ra làm hai, khi chấm chỉ vừa đụng vào nước chấm, cơm chỉ được xới một nửa bát… (sđd, tr. 30 & 31)

Bà rất kiên cường, thật giỏi, can đảm. Khi ông mất bà còn rất trẻ, chưa tới 40. Một tay bà phải chăm sóc mẹ chồng và bảy người con còn niên thiếu mà vốn liếng chỉ là một tiệm tạp hóa nhỏ, bán những thứ lặt vặt như kim chỉ, muối, đường, diêm, nến, vài lọ kẹo bột, kẹo gừng, v.v… lời lỗ chẳng được bao nhiêu. Nhưng nhờ vào việc cân gạo, cứ mỗi sáng sớm tinh mơ, những dân ở các làng lân cận đem gạo lên bán, từng gánh hoặc thúng có khi chỉ mươi đấu đựng trong cái bị đan bằng cói. Bà gom mua lại để bán lẻ, khách hàng là những gia đình nghèo sống rải rác quanh phố chợ. Nhờ tài quán xuyến bà đã cho các con ăn học… (sđd, tr. 32 & 33) Một tay bà đã gây dựng được một gia đình làm rạng danh cho dòng họ, những văn tài đã để lại cho những thế hệ nối tiếp (sđd, tr. 46). Sau này, khi các con trai đã thành danh, bà xuống tóc xuất gia cửa Phật và ít khi về lại trại. (sđd, tr. 33)

Cuộc sống êm đềm yên ả chẳng bao lâu thì loạn lạc xảy ra, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Năm 1946, một đêm phố chợ Cẩm Giàng bùng lên bốc cháy, khói bay mù mịt cả một góc trời (sđd, tr. 82). Giữa đêm đang ngủ, U (là vú em, người nuôi cậu em kế) lay cô dậy để cùng Mẹ, hai em và U gánh gồng đi lánh nạn, đến tạm cư ở Xóm Đìa, cách Nhã Nam khoảng 5, 7 cây số, “một xóm rất nghèo, chỉ có khoảng mươi căn, phần đông đều lợp bằng lá, và sống bằng ruộng nương nhưng là ruộng thuê lại gọi là cấy rẽ” (sđd, tr. 35). Đến đây, U từ biệt về quê. Và cuộc đời của cô bắt đầu lật sang một trang mới với rất nhiều vất vả, khó khăn.

“Khi đến Xóm Đìa, vài nhà quanh xóm cũng đã có mấy người tản cư tá túc. Chúng tôi được chủ nhà tên Nhâm cho ở nhờ. Ông cho dọn dẹp cho chúng tôi ở nhờ trong cái kho nhỏ, thường để chứa những dụng cụ nhà nông như cuốc, xẻng, cày, bừa, dao liềm, v.v… và chỗ nằm của con vện đen. Cái kho lợp bằng rạ, vách trát bùn trộn rơm đã cũ, vách có nhiều lỗ thủng, cửa là cái phên đan bằng nứa có gắn một thanh tre để chống lên chống xuống. Bên trong, vẻn vẹn chỉ có một cái giường bằng gỗ vừa đủ cho bốn mẹ con nằm, bên cạnh giường kê ba hòn gạch chụm lại gọi là ông đồ bếp (theo ngôn ngữ lúc đó) để thổi nấu. Tắm rửa hàng ngày thì ra ngoài ao. Nước uống và nước thổi cơm thì phải vào tận cuối xóm gánh về; cả xóm đều dùng nước giếng ấy (sđd, tr. 35).

Những ngày đầu thật bỡ ngỡ. Một khung cảnh quá cách biệt. Chúng tôi như rơi vào một cơn ác mộng. Căn nhà kho chứa đồ vật dụng bẩn thỉu, chật hẹp, một chỗ thua cả chuồng chó ở trại Cẩm Giàng của gia đình chúng tôi (sđd, tr. 64). Mùa đông đến đem theo hơi lạnh, gió rét của miền rừng núi. Bốn mẹ con co ro trên một cái phản gỗ, đắp một cái chiếu cũng đã cũ. Mẹ đầu bên này, tôi đầu bên kia, kéo qua kéo lại. Con ấm thì mẹ lạnh và ngược lại. Hai cậu em thì còn nhỏ ngủ vô tư. (sđd, tr. 69).

“Những năm đầu Mẹ còn có chút tiền đem theo, chúng tôi có cơm gạo trắng, có chút ít thịt, cá” (sđd, tr. 64). Đến khi hết tiền và bán đi tất cả những thứ đã mang theo, thì “Mẹ sắp xếp cho tôi theo mấy cô trong xóm đi buôn cà chua và su hào, mỗi tuần hai phiên chợ ngoài thị trấn Nhã Nam. Phải dậy từ sáng tinh mơ vào vườn cà chua hoặc su hào họ đã hái sẵn rồi tùy sức của mỗi người gánh được nhiều hay ít… tiền lãi cũng tạm để mua gạo có cơm trộn khoai hay sắn. Các em thì vào rừng nhặt củi khô và nấm hạt dẻ (sđd, tr. 36).

Thấy con quá vất vả mà chẳng kiếm được bao nhiêu, nên khi được chủ nhà cho mượn toàn bộ đồ nghề và có người cho mua thóc chịu, hai mẹ con chuyển qua nghề làm hàng xáo, tức là “xay thóc, sàng bỏ trấu đi. Sau đó bỏ vào cối giã rồi vần, sảy cho cám và tấm rớt ra” (sđd, tr. 67) cũng cực nhọc nhưng “lãi được tấm để ăn, cám bán lấy tiền mua rau, muối, tương, cà. Nếu được thóc tốt thì thừa ra một ít gạo. Những lần như vậy mấy mẹ con mừng lắm, nhưng cũng phải độn thêm khoai hoặc sắn. Khi mùa gặt đến chúng tôi đi mót lúa… Thỉnh thoảng tôi đi theo mấy đứa bạn đi hôi cá… Từ khi mẹ hết tiền chưa hôm nào được ăn no và được ăn không độn. Thịt lợn, thịt bò thì xa lánh hẳn, gặp mùa gà bị toi là lúc mới thấy mùi gà.

*********

Ngày tháng vẫn trôi qua. Mẹ tôi không dám tự mình hồi cư vì mịt mù tin tức, sợ bị Tây bắt. Thấm thoắt đã gần ba năm, chị em chúng tôi mỗi người chỉ có hai bộ áo quần đã rách tả tơi” (sđd, tr. 37).

Trong lúc ấy, Bà Nội “rất lo lắng vì từ khi chạy tản cư đã gần ba năm mấy mẹ con chúng tôi biệt vô âm tín”, nên “thuê người đi tìm mẹ con chúng tôi” (sđd, tr. 38). Bà Nội đã giữ gìn cho các cháu: “Nếu không có Bà Nội có thể tôi đã là một nữ cán bộ và các em có thể là bộ đội hay bệnh hoạn vùi thây nơi rừng thiêng nước độc này!” (sđd, tr. 39).

Về lại Phố Chợ Cẩm Giàng, gặp lại bạn cũ, cũng là lúc cô “thật ngỡ ngàng không thể tin được. Một trang trại rộng lớn đẹp như thế … bây giờ chỉ là bãi đất hoang.” Bạn cô cho biết, “Khi Việt Minh rút đi họ đã đốt, đập phá hủy tất cả những dinh thự họ gọi là tiêu thổ kháng chiến. Nghe nói vậy tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao Việt Minh lại làm như vậy. Phá mất đi một trang trại nổi tiếng là đẹp, nên khi những chuyến tàu chạy ngang đây có nhiều người giơ máy chụp ảnh, và tôi không còn được ở đây nữa.” (sđd, tr. 41).

“Bắt đầu từ khi rời khỏi trại Cẩm Giàng, líu ríu dắt ba đứa con chạy tản cư, hồi cư về thành, cơ nghiệp không còn gì. Mẹ rất nghèo, nhờ Bà Nội giúp một phần, mẹ tần tảo, bươn chải nuôi con ăn học” (sđd, tr. 92). Và năm 1953 Bà Nội đã “đích thân đến nhà ông Thám (Tổng Giám đốc Bưu điện Việt Nam) để xin cho mẹ tôi một việc làm… Lương tuy thấp nhưng cũng đủ sống cả mấy mẹ con và lại có nhà ở hai buồng nhỏ, có bếp, bể chứa nước, trong cư xá Bưu điện đằng sau Nhà Hát Lớn, trước cửa Nhà Bác Cổ Hà Nội.” (sđd, tr. 46 & 47)

Sau này, người thiếu nữ ấy gặp Trung úy Ngô Quang Trưởng và khi kết hôn với nhau thì ông đã lên cấp Đại úy, Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 Nhảy Dù. Cuốn sách đã chia sẻ cuộc đời binh nghiệp của ông Ngô Quang Trưởng bắt đầu từ lúc này. “Anh tham gia trận chiến nhiều hơn làm việc ở văn phòng. Mỗi lần đi hai tới ba tuần mới trở lại đơn vị. Khi trở về anh đã gầy lại gầy hơn, mặt sạm đen, đôi khi bị nổi ngứa khắp cả người. (sđd, tr. 130). Sau đó, được “đổi về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đóng ở Sài Gòn (sđd, tr. 139). “Khoảng thời gian này anh không phải ra trận liên miên như khi còn ở Tiểu Đoàn. Chỉ đi thị sát, và đôi lần anh phải bay ra miền Trung để cùng chỉ huy tham dự những trận đánh do quân Bắc Việt tấn công.” (sđd, tr. 140)

Hơn một năm sau, “khoảng đầu năm 1966, ngay tại thành phố Huế, tình hình khá gay cấn. Dân chúng biểu tình chống đối chính quyền bằng cách đem bàn thờ Phật để ngoài đường phố… Anh được Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTU) bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/BB, Bộ Tư Lệnh đóng tại Thành Nội Huế. (sđd, tr. 150)

Ở Huế 5 năm, Ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ở Cần Thơ và “rất bận rộn, thời gian ở trên trực thăng nhiều hơn dưới đất. Chỉnh đốn lại Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, thăm các tỉnh, các quận, đồn bót, v.v…” (sđd, tr. 196)

Sau hơn hai năm trấn nhậm ở miền Nam hiền hòa, “Anh nhận được lệnh thuyên chuyển không dự tính, không báo trước Tổng Thống bổ nhiệm làm Tư Lệnh Vùng 1 đóng ở Đà Nẵng… Đây là lần thứ tư đổi chỗ ở trong khoảng năm năm.” (sđd, tr. 201 & 202)

Tác giả đã ghi lại những diễn biến trong hai tháng cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa mà bà là một chứng nhân. Qua người tùy viên, chúng ta thấy được hình ảnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng trong ngày cuối trước khi mất Đà Nẵng:

Giờ phút cuối ở Đà Nẵng, chỉ có anh và chú đi bộ ra bên bờ biển Sơn Trà lặng vắng, mỗi người trên mình độc nhất chỉ một khẩu súng (sđd, tr. 263). Theo lời người tùy viên kể lại ngày cuối tại Đà Nẵng, anh và chú đã đứng tại chỗ này định kết thúc bằng viên đạn.” (sđd, 252)

Đọc những trang sách nói về cuộc đời binh nghiệp của Tướng Ngô Quang Trưởng, độc giả có thể dễ dàng nhận thấy tuy là tướng lãnh của một vùng, nhưng Ông thể hiện tác phong quân kỷ rất nghiêm chỉnh:

“Anh thức dậy sớm rất đúng giờ. Những cư dân trên con đường anh đến Bộ Tư Lệnh mỗi ngày có tiếng đồn không cần xem đồng hồ, mỗi lần thấy xe Tư Lệnh chạy ngang là biết đúng giờ đó anh di chuyển, không bao giờ có xe còi hụ, không người hộ vệ, chỉ có một tùy viên. (sđd, tr. 263)

“Thời gian ở Huế và Đà Nẵng, những ngày cuối tuần hay ngày lễ anh không bao giờ nghỉ. Tôi và các con không có bữa ăn trưa cùng anh. Những bữa cơm tối anh thường về muộn, các con ăn trước, ôn bài vở để đi ngủ sớm. Tuy sống cùng một nhà nhưng chúng chỉ gặp chào anh trước khi đi ngủ.” (sđd, tr. 264)

Những hành xử của Ông trong việc thi hành lệnh quân đội không vị tình riêng, không kết bè, vây cánh để tạo ảnh hưởng riêng:

“… Từ Sài Gòn đổi ra Huế đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh chỉ có một người tùy viên đi theo, ngoài ra không một người thân, … Chuyện chỗ ở, phương tiện, người giúp việc cho gia đình anh cũng để tùy văn phòng họ sắp xếp, tôi cũng không đòi hỏi, không lựa chọn.” (sđd, tr. 266)

Ông luôn luôn sát cánh, chia sẻ với thuộc cấp trong từng nhiệm vụ:

Mỗi khi ra lệnh cấm trại anh luôn luôn cùng ở trong trại với các anh em. (sđd, tr. 151)

Ông cũng không bao giờ lạm dụng chức vụ hay quyền thế để làm ảnh hưởng đến công quỹ nhà nước:

Mùa hạ khi ở Huế, tôi hay đưa các con ra bãi biển Thuận An. Trên đường xe chạy ngang những khu vườn xanh tươi cây trái hoa quả ẩn hiện thấp thoáng những căn nhà lợp ngói đỏ đã phai màu, không gian có vẻ thanh bình, các con thường mong anh đi cùng. Chúng hay hỏi sao Ba không đi, anh chỉ trả lời một câu, “Ba bận làm việc”. Tuổi thơ vô tư chúng không thắc mắc. Tôi biết nếu anh đi, phải có hộ tống, phải lo sắp đặt an ninh. Chỉ một lần vui chốc lát mà bao người phải lo như vậy, lạm dụng công sức của quân đội, một chuyện không thể có ở anh. (sđd, tr. 268)

Và sống rất khiêm nhường, giản dị:

Anh với chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 ở Huế, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ở Cần Thơ, Tư Lệnh Quân Đoàn 1 ở Đà Nẵng, phương tiện di chuyển của tôi cũng chỉ là chiếc xe Jeep cũ mang bảng số dân sự. Thời gian làm Tư Lệnh vùng Một ở Đà Nẵng, người Mỹ có cho một xe du lịch Huê Kỳ màu đen khá rộng để gia đình sử dụng nhưng anh bảo tôi nhường xe ấy cho gia đình Tư Lệnh phó… (sđd, tr. 267 & 268)

Điều quan trọng nhất là Ông giữ gìn rất nghiêm mật đức tính thanh liêm, trong sạch của mình. Còn nhớ “trong thập niên 1960 tại Miền Nam, trong dân gian đã truyền tụng câu: ‘Nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng’ nói lên lòng ngưỡng mộ của người dân đối với bốn vị tướng lãnh này của QLVNCH” (5).

“… một điều quan trọng là không nhận quà biếu của bất cứ ai.” (sđd, tr. 157)

“… quan niệm sống của anh, anh dứt khoát không giúp một ai dù là người thân thích. Anh nói người nào cũng có gia đình, cũng có bố mẹ, cũng có con cái, trong thời chiến trận mình lo cho người thân về chỗ yên lành như vậy còn gì là kỷ luật và còn ai bảo vệ quê hương. Anh đã bị họ hàng thân thích trách hờn.” (sđd, tr. 297)

“Khi còn ở VN, sau bữa cơm tối ra ngồi ngoài sân, anh phân tách những sự việc, những thâm hiểm, những đòn phép của con người khó thể biết được mà vì vô tình hay vì sự tham lam, mình sẽ bị cạm bẫy. Nếu mình phạm vào một lần sẽ có cớ để họ gây khó dễ, họ ăn mười mình ăn một nhưng tiếng tăm mình lãnh hết và gây khó dễ cho công việc anh làm.” (sđd, tr. 271)

Sau đây là một ví dụ:

“Anh ăn giản dị không đòi hỏi nhưng tôi biết ý anh thích những món mặn theo cách chế biến của miền Nam. Hai đứa nhỏ nhất thì thích nấu theo kiểu Huế, còn tôi vẫn thích những món thanh nhẹ của miền Bắc… Tôi thường phụ với chú đầu bếp luôn tiện dạy cho chú cách nấu những món của miền Nam và miền Bắc. Món thịt gà là món mọi người ưa thích nhất, nhưng giá một con gà khoảng hơn một nghìn cho cả nhà không đủ, mà mua hai con thì nhiều tiền quá. Tiền chợ mỗi ngày đã chỉ định chỉ có một ngàn, vì vậy món thịt gà thường vắng bóng trong những bữa ăn.

Tướng Tư Lệnh một vùng mà thức ăn hàng ngày cũng phải tính toán vì còn phải để dành một ít. Thời gian ở miền Tây thực phẩm rẻ và có nhiều lựa chọn, đặc biệt là hải sản và rau củ trái cây, nhờ vậy thức ăn đầy đủ hơn. Tuy vậy, chú bếp cũng không vui, than phiền. Chú nói người tư lệnh trước đưa tiền chợ nhiều gấp hai mà lại ít người hơn, gạo ngon có người cung cấp, nước tương nước mắm họ biếu cả thùng, v.v… và v.v… Với tiền chợ tôi đưa gồm cả gạo mắm muối, chú phải tính mua những món ít tiền mới đủ mặc dù tôi nói chúng tôi không cần những thức ăn cầu kỳ đắt tiền.” (sđd, tr. 265, 266)

Thêm một ví dụ khác:

“Qua nhiều lần nói chuyện với Hòa, có những việc rất nhỏ làm tôi áy náy tự cảm thấy như thiếu bổn phận làm vợ. Chú nói hai thầy trò thường nhịn đói không có bữa ăn trưa. Bữa ăn sáng của anh là một bát cháo trắng với muối đường và một ly nước trà nóng pha đậm. Tôi có nói để mua một tô bún bò hay phở mì, anh hỏi giá bao nhiêu rồi nói mắc quá và mất công đi mua… Hàng ngày anh đến văn phòng rồi lên trực thăng thăm các tiền đồn, chỗ đóng quân, có khi đáp xuống một vài nơi đúng giờ ăn trưa họ mời nhưng không bao giờ anh ở lại ăn. Chú cho biết hôm nào Trung Tướng ăn một hộp trái cây thì Hòa ăn một hộp thịt. Những món đồ hộp thường có để một ít trên máy bay nhưng ít khi ăn vì vậy tùy viên cũng nhịn theo.” (sđd, tr. 264)

Tướng lãnh của một vùng mà bữa điểm tâm chỉ là “một bát cháo trắng với muối đường và một ly nước trà nóng pha đậm” thì đủ hiểu được con người chân chính, thanh liêm của Ông đến bậc nào.

Bằng một văn phong nhẹ nhàng, trong sáng và chân thật thừa hưởng từ Bố Thạch Lam, tác giả Nguyễn Tường Nhung đã chia sẻ về gia đình mình sau khi Nhà văn Thạch Lam mất cũng như về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, “một người chồng đầy tình cảm lãng mạn, một người cha nhiều trách nhiệm, đã sống một cuộc đời khiêm nhường, khép kín nhưng có lẽ thật bình yên, hạnh phúc khi trở thành một di dân tị nạn tại Hoa Kỳ…” như lời giới thiệu của Nhà xuất bản Thạch Ngữ ở bìa sau sách. Hy vọng Tháng Ngày Qua sẽ góp thêm tài liệu cho những bạn trẻ hoặc những nhà viết sử tương lai khi muốn tìm hiểu về hai gia đình này hay thời kỳ chiến tranh Việt Pháp và chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách cũng có thể dựng thành phim ảnh vì nói đến xã hội và con người Việt Nam ở một thời kỳ vô cùng nhiễu nhương. Có đầy đủ tình tiết của chết chóc, đau khổ lẫn vui tươi, sum họp… Có những phân đoạn thương cảm khiến lệ tràn mi mà cũng có những phân đoạn vui tươi với nụ cười hạnh phúc.

– Hình bìa hồi ức Tháng Ngày Qua.

5 điều ” tuyệt vời” mình nhận ra trong đám tang của Người Công Giáo.

Make Christianity Great As Always

5 điều ” tuyệt vời” mình nhận ra trong đám tang của Người Công Giáo.

– Có thể anh chị em Ngoại Đạo cũng giống mình, mình cũng chỉ là 1 Tân Tòng nên còn rất nhiều điều chưa biết về Đạo, có nhiều điều khi đi vào thực tế, được chứng kiến tận mắt thì làm mình rất ngạc nhiên, nó khác hẳn với những gì người ta đồn thổi, hoặc ngăn trở để không được kết hôn với người Công Giáo. Vì thế mình sẽ bắt đầu chia sẻ với bạn những trải nghiệm cá nhân của mình khi bước chân vào Đạo Công Giáo.

– Biết người Công Giáo đã nhiều năm. Nhưng mình mới dự Đám Tang người Công giáo được 3 lần, lần đầu là 1 bác họ hàng xa bên chồng, 1 lần là của 1 Cha trong Dòng Tu, và lần gần nhất là sáng nay, của 1 chị trong Giáo Xứ.

– Có 5 điều khiến mình cực kỳ ngạc nhiên về đám tang của Người Công Giáo, dưới đây là chia sẻ cảm nghiệm cá nhân, mong mọi người chỉ dạy mình thêm.

Thứ 1: Mình ngạc nhiên, vui mừng và thấy vinh hạnh cho Người Công Giáo làm sao, khi mất đi, Người Công Giáo được đưa tới hẳn nhà thờ, đặt Quan Tài trong Nhà Thờ trước khi đi chôn cất hoặc hỏa táng, không những được Cha thăm viếng, cầu nguyện ở nhà riêng, mà còn có cả 1 buổi lễ thật long trọng để tiễn biệt trong Nhà Thờ.

Thứ 2: Người Công Giáo mất đi, được cả cộng đoàn tới nhà đọc kinh nhiều ngày trước đó. Bởi vì tất cả người Công Giáo đều thuộc Kinh và biết đọc Kinh, nên tất cả mọi người đều có thể cầu nguyện cho người đã mất, liên lỉ và liên tục. Lời Kinh vang lên đồng thanh, êm ái như an ủi người đã mất, cầu nguyện cho người đã mất được lên Thiên Đàng.

Thứ 3: Đám tang không phân biệt giàu có, hay nghèo khó. Người Công Giáo được đối xử bình đẳng và đều được đưa đến Nhà Thờ, làm lễ bên trong Nhà Thờ. Lúc đó mình ngạc nhiên lắm, vì dù nếu là 1 người nhỏ bé, nghèo khó, không nhà cửa, thì khi mất đi, vẫn được làm Lễ trong Nhà Thờ, vẫn có nhà để về. Chúa bao dung và yêu thương ôm ấp tất cả đàn con, từ lúc sinh ra, rửa tội, làm phép cưới, chịu Chức Thánh cho tới khi lìa cõi trần nơi Đền Thờ của mình.

Thứ 4: Đám tang nhưng luôn vang lên những bài ca mang đến sự hi vọng về ngày được sống lại, về ngày sum vầy, về ngày mọi người được yên nghỉ thảnh thơi, về ngày được gặp mặt Chúa.

Thứ 5: Đám tang xong không phải là hết, không phải chỉ nhớ tới Người Quá Cố trong ngày giỗ, mà Người Quá Cố luôn được nhớ tới trong tất cả các lời cầu nguyện hàng ngày. Chúng ta cũng có thể Xin Lễ cho người quá cố bất kỳ khi nào. Vì thế Người Quá Cố luôn sống mãi trong tim của chúng ta và không bị quên lãng dần theo thời gian. Vì thế quan niệm khi vào Đạo Công Giáo quên đi ông bà tổ tiên là 1 quan niệm cực kỳ sai lầm, khiến nhiều bố mẹ ” sợ mất con” ” mất người thờ cúng” nếu theo Đạo Công Giáo. Người Công Giáo không thờ cúng, vì ” thờ” chỉ dành riêng cho 1 mình Chúa, nhưng người Công Giáo luôn kính nhớ ông bà tổ tiên 1 cách liên lỉ và hàng ngày trong tâm và trong hành động thực tế là cầu nguyện, đọc Kinh Mân Côi.

Trên đây là 1 số cảm nghiệm của bản thân mình, Teresa Calcutta My Bùi. Những điều khiến mình càng ngày càng yêu Đạo Công Giáo hơn.

Bạn có ấn tượng tuyệt vời nào nữa. Có thể chia sẻ thêm với mình không?

Tác giả: My Bùi

Nhóm Thắc Mắc Công Giáo

Thằng Khùng -Phùng Quán

Thằng Khùng -Phùng Quán

(Cha chính Nguyễn văn Vinh – Giáo-phận  Hà nội ]

Thằng Khùng (viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân)

“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh
ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười.
Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.

Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.

Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.

Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.

Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.

Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên: – Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy? 

Anh ta chấp tay khúm núm thưa:

– Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc

tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được. 

Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc…

Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả.
Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…

Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:

– Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây anh thèm cái gì nhất?

– Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.

– Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi. 

– Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.

Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:

– Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?

Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.

Mình trả lời anh ta:

– Tôi thích nhất là Candide.

– Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?

Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:

– Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.

Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm
chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình
trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…

Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống:

“Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.

– Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói.

Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:

– Anh là ai vậy?

Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:

– Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa .

Rồi anh ta tiếp:

– Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…

Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần độn như thường ngày.

Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.

Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn
được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn…

– những người tù nói, giọng buồn.

Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.

Giám thị hỏi:

– Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?

Mình nói:

– Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.

Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…

Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt,

chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười.  Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:

– Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…

Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN .

Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.

Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa
ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.

Giám thị hỏi:

– Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo,
tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.

Mình nói:

– Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.

Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

Phùng Quán

________

Ghi Chú:

(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan
NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội.  Bài viết của Phùng
Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.

Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết
thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa
của Ngài…. Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH, Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).

Tấm gương can trường.

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*

Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc
Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh
về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý
yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis
giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng
viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.

Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại
Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở
Limoges .

Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.

Ngài học Văn Khoa – Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc
viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài
đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour
Madame!”

Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng
là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển
Đức tại Đan Viện Sainte Marie.

Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize –
Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài
xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.

Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ
Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai
tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế
của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam
xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh
cương quyết không chịu.

Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe

dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ
Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha
Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh
văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy
Văn Triết ở trường Chu Văn An.

Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh
đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn
cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm
Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.

Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh,
đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân
Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám
Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau,
và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt

thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.

Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh
lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng
không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.

Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê
cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu
Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng
thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng:

“Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường
Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.

Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.

Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một
nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.

Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên

đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “ Ở Dưới Vực Sâu ” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.

Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều
nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,”
“Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh
23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh
Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài

ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà
Huyện Thanh Quan.

Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan.

Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ
huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh
Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt
Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long
trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết
đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số
tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.

Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người
của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng
dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha
xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ
sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo
chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ
cha xứ, hai bên to tiếng.

Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết

quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi
chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai
cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:

“Tự do thế này à!”

Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.
Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét
xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu
trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.

Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập
hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ,
gây chia rẽ trong nhân dân” (!).

Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.

Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác,
nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:

“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”

Ngài đáp:

“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải
làm bổn phận mình!”

Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”

Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.

Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ
muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế
Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội
ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông
Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.

Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.

Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”

Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài
đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như
khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền,
luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo

Hội.

Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh
mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.

TGP Hà Nội – 2013

BBT (Theo HĐGMVN)

From: Đỗ Tân Hưng

Nhà Thơ Nguyên Sa và Hành Trình Tâm Linh – Nguyễn Đức Tuyên

Nhà Thơ Nguyên Sa và hành trình tâm linh

Những bài thơ cuối sáng tác đầu năm 1998, trước khi lìa đời, đã thể hiện những biến chuyển sâu thẳm trong tâm thức Nguyên Sa. 

Nguyễn Đức Tuyên

Thao thức về thân phận con người, sự vong thân của bản ngã, đời sau… có thể đã đánh động một nhà thơ nhạy cảm, một giáo sư triết học tài hoa, một nhà hành động thực tế…Ông đã từng nói: “Thời gian xóa bỏ nhiều thứ… Việc chấm dứt cho tất cả mọi sự sẽ phải tới… Tất cả sẽ chán chường. Võ sĩ lên đài mà không nghĩ đến chiến thắng, đến tiền thưởng mà chỉ nghĩ đến cái chết gần tới thì chắc chắn quả đấm của võ sĩ ấy phải khác.”

Mới đây, trong buổi phỏng vấn của Barbara Walters trong chương trình truyền hình 20/20 trên đài “ABC” đã được phát sóng ngày 6 tháng 7, 2012 với chủ-đề: “Thiên-Đàng là gì? Thiên-Đàng ở đâu? Làm sao đi đến đó?” Nhiều nhà lãnh đạo các tôn giáo đã phát biểu quan điểm của mình, tuy khác nhau, nhưng tựu trung là một thao thức lớn về “đời sau.”

Trở lại trường hợp Nguyên Sa, trong phần giới thiệu Thơ Nguyên Sa Toàn Tập có ghi lời ông: “Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa. Đó là cách giới thiệu được cả Nguyên Sa ý thức và vô thức, cho thấy bản ngã của người làm thơ tương đối đầy đủ nhất, cả bản ngã đã có, bản ngã đang có, và bản ngã muốn có.”

Thể theo ý nguyện đó, ta hãy tìm hiểu bài thơ Mật Khẩu của Nguyên Sa:

Mật Khẩu

Ngày nào Thượng Đế cũng tới,

Giờ khắc bất định,

Nhưng ngày nào ông cũng tới ít nhất một lần,

Ngày nào ông cũng mở banh lồng ngực tôi ra,

Thản nhiên bước vào trong,

Tôi không biết ông đi vào tim,

Hay ông đi vào phổi,

Hay cả hai ?

Tôi không biết khi ông đi vào tim, ông dừng lại ở đại động mạch,

Hay ông đi tới khu cổ ngữ của tâm thất trái,

Hay ông đi tới khu sấm ký của tâm thất phải ?

Tôi không biết khi ông đi vào phổi, ông dừng lại ở cuống phổi, 

Hay ông đi tới từng phế nang,

Phế nang có từng chùm, mỗi chùm có cửa đưa vào một nội tâm, mỗi chùm hội tụ theo mật khẩu,

Có những chùm phế nang mật khẩu tên người,

Có những chùm phế nang mật khẩu mang tên sông,

Có những chùm phế nang mật khẩu là tên phố, tên làng, tên hoa, tên cỏ…

Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào
Tôi sợ đến nín thở,
Tôi sợ ông gọi cửa không được,
Tôi sợ ông quên mật khẩu,
Tôi sợ ông quay ra hỏi,
Tôi sẽ không biết trả lời sao,
Vì tôi cũng không nhớ.

Nguyên Sa

Trước hết, Nguyên Sa nhận ra Thượng Đế. Đó là một khởi sự tuyệt vời. Nhận thức của ông về Thượng Đế nơi bản thân ông không phải là nhận thức về một cái gì chợt có, chợt mất, thấp thoáng, mơ hồ. “Ngày nào Thượng Đế cũng tới… ít nhất một lần.” Ông chưa phải là người đắm chìm trong chiêm niệm thần thiêng như các chính nhân tôn thờ Thượng Đế nhưng đã đủ linh giác để nhận ra Thượng Đế đến với mình mỗi ngày dù vào ”giờ khắc bất định.” Sự liên hệ giữa Thượng Đế và ông đã khá đậm sâu.

Điều đáng chú ý là ông sợ Thượng Đế đến. “Mỗi lần Thượng Đế mở toang lồng ngực và bước vào, Tôi sợ đến nín thở.” Vì sao ông sợ? “Tôi sợ ông gọi cửa không được.” Một Thượng Đế có quyền năng mở toang lồng ngực người thơ, tiến vào các phế nang, tâm thất bằng các chìa khóa bí mật và phức tạp của “cổ ngữ, sấm ký, tên người, tên phố, tên sông, tên cỏ…” – mà lại có chỗ Ngài “gọi cửa không được” sao? Một Thượng Đế đến với nội tâm người thơ, “Thản nhiên bước vào trong,” ung dung, tự tại, vào ra thế nào chính người thơ còn phải băn khoăn theo dõi: “Tôi không biết khi ông đi vào tim ông dừng lại ở đại động mạch, Hay ông đi tới khu cổ ngữ của tâm thất trái, hay ông đi tới khu sấm ký của tâm thất phải, ông đi tới từng phế nang,”- mà bây giờ Ngài “gọi cửa không được” sao ?

Tuy nhiên, đọc bài thơ «Mật Khẩu» của Nguyên Sa, người ta không khỏi sững sờ trước một thực tại vừa cao xa huyền bí, lại vừa riêng tư, gần gũi lạ lùng. Thực tại đó có thể nằm bên trong một cuộc mật đàm lâu dài và kín đáo, hoàn toàn riêng tư giữa hai thực thể thoạt nhiên rất cách biệt nhau: đó là giữa Trời với người?! Bài thơ thật là khó hiểu, tuy lời lẽ mộc mạc, minh họa bằng những hình tượng thô thiển.

Hãy xem Thượng Đế đến với ông thế nào. “Ngày nào ông cũng mở banh lồng ngực tôi ra, thản nhiên bước vào trong.” Thượng Đế không xin hẹn, không bấm chuông, không xưng tên, không khách sáo. Mỗi ngày, vào giờ khắc bất định, Ngài tới mở banh lồng ngực của người thơ ra, thản nhiên bước vào. Đây là một quang lâm Thượng Đế hoàn toàn chủ động, vừa đầy uy quyền, vừa đầy thân thiết. Người thơ tự hỏi “… không biết ông đi vào tim, hay ông đi vào phổi, hay cả hai?” Tôi nghĩ “cả hai” vì những câu thơ sau đó cho thấy người thơ theo dõi bước đi của Thượng Đế trong tim phổi mình. Ngài không bước vào đầu óc, vào lý trí người thơ mà bước vào lồng ngực, căn nhà của phổi và tim. Phổi là nhà của hơi thở làm nên sự sống. Đó là hơi thở Thượng Đế đã thổi vào loài người khi Ngài tạo dựng nên họ từ cát bụi. Tim là ngai tòa ấm áp của tình yêu, cũng là ngai tòa của Thượng Đế vì Thượng-Đế-Là-Tình-Yêu. Ngài đi vào lồng ngực mở banh của người thơ để làm cho sự sống của ông thăng hoa, sung mãn, và để chinh phục tình cảm ông. Cho nên Ngài đến mỗi ngày. Dù ông chưa ý thức rõ ràng về Thượng Đế, Ngài thực đã tìm đến với ông bằng tình yêu của Ngài.

Quả vậy, trong bài thơ, chỉ có hai ngôi vị: «Thượng Đế» và «Tôi». Đôi bên chắc phải có một giao ước mặc nhiên về cuộc gặp gỡ riêng tư với nhau, theo thời khóa ít ra mỗi ngày một lần trong một thời gian dài, và có cả một thỏa hiệp về một «mật khẩu» để Thượng Đế dùng khi bất ngờ, bất định, bất thần gõ cửa muốn gặp Tôi nơi sâu thẳm của nội tâm.

Bài thơ mở đầu với xác nhận:

Ngày nào Thượng Đế cũng tới,

Giờ khắc bất định,

Nhưng ngày nào ông cũng tới ít nhất một lần,

Ngày nào ông cũng mở banh lồng ngực tôi ra,

Thản nhiên bước vào trong,

Và bài thơ kết thúc với khẳng định đã có «mật khẩu» được thỏa thuận để Thượng Đế xướng lên cho cửa lòng Tôi mở ra. Nhưng điều oái oăm là đôi bên có thể quên «mật khẩu» đó, nên Tôi sợ, «sợ đến nín thở», «Tôi sợ ông gọi cửa không được.» Thực vậy, đây là phần kết:

Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào,
Tôi sợ đến nín thở
Tôi sợ ông gọi cửa không được
Tôi sợ ông quên mật khẩu
Tôi sợ ông quay ra hỏi
Tôi sẽ không biết trả lời sao
Vì tôi cũng không nhớ.

Với đoạn kết này, tác giả đưa nhân vật Tôi vào một ngỏ bí thật rùng rợn: vì “quên” cái chìa khóa mở cửa vào nội tâm, nên Tôi có nguy cơ lâm cảnh đánh mất chính bản thân mình mà chính Thượng Đế cũng không cứu được Tôi. Quả vậy, Thượng Đế tôn trọng giao ước về “mật khẩu” nên cũng đành bó tay trước cái “quên” dại dột của con người chăng?! Và như một sự an bài của định mệnh, con người cũng đành bó tay trước thân phận đọa đầy của mình như nàng Kiều: “đến phong trần cũng phong trần như ai” (Kiều, c. 1192) chăng?

Thật là trớ trêu, khốn đốn cho thân phận con người! Câu kết bài thơ «Vì tôi cũng không nhớ» dường như muốn thú nhận thân phận bi đát của Tôi đối mặt với Thượng Đế: đó là thân phận của cái Tôi quên, «không nhớ!» Tôi bé bỏng, yếu đuối trước mặt Thượng Đế, nhưng lại mang nhiều ngõ ngách ngoắt ngoéo, hiểm hóc, bí ẩn trong người. Tuy chứa đầy chữ nghĩa trong tim óc -cổ ngữ, sấm ký- nhưng Tôi hốt hoảng nói không ra lời, vì Tôi sợ đến nín thở mỗi lần Thượng Đế mở toang lồng ngực và bước vào… gặp cái Tôi «không nhớ» lời giao ước cũng như «không nhớ» chính bản thân mình…

Đúng vậy, Nguyên Sa nhìn nhận là Tôi sợ và Tôi quên, nếu Thượng Đế quay ra hỏi… «mật khẩu» mang tên người, tên sông, tên phố, tên làng, tên hoa, tên cỏ, Tôi quên béng nó đâu rồi! Đúng, Tôi phải thú nhận là Tôi quên các «mật khẩu» đưa vào sự sống mà Tôi đã trải qua và muốn quên đi chăng?!

Tóm lại, cuộc diện xảy ra như sau: Ngày nào Thượng Đế cũng tới,… mở banh lồng ngực tôi ra, thản nhiên bước vào trong. Nhưng, Tôi không biết ông đi đâu, vào tim hay vào phổihay cả hai… Tôi không biết khi ông đi vào tim, rồi dừng lại ở đâu, ở khu cổ ngữ hay khu sấm kýHay ông đi tới từng phế nang, phế nang có từng chùm, mỗi chùm có cửa đưa vào một nội tâm, mỗi chùm hội tụ theo mật khẩu. Mỗi lần Thượng Đế đếnTôi sợ ông quên mật khẩu, và Tôi sợ… ông hỏi, tôi cũng không nhớ.

Thật quái lạ, oái oăm, khốn đốn cho thân phận con người Tôi: cái Tôi không biết, cái Tôi hay sợ, cái Tôi hay quên… Đó là cội nguồn của mọi hư đốn, bệ rạc! Nguyên Sa đi từ đâu… để đến nông nổi này?

Chắc khởi đầu, Nguyên Sa cũng như bao người Việt Nam thường ngước mặt lên kêu “Trời!” mỗi khi cần đến! Họ gọi nôm na Thượng Đế là ông Trời. “Ông” chỉ một ngôi vị; “Trời” chứa một bầu khí bao la. Mà không khí dùng để nuôi sống vạn vật. Và con người nhờ hít thở không khí mà sống; tắt thở tức là chết! – Dĩ nhiên, “Thác là thể phách, còn là tinh anh” (Kiều 116)-. Dân gian vẫn hình dung “không khí” là “tinh”, là “thần” (vì khí không có hình hài), từ Trời mang sức sống thấm nhuần vũ trụ và loài người. Thần khí chan hòa nối liền trời với đất, ông Trời với con người. Ở đâu người ta cũng cảm nhận có thần khí thâm nhập, mặc muôn hình vạn trạng, nhưng chỉ có một ông Trời. Đó là niềm tin dân giả truyền thống lâu đời của người dân Việt.

Bước thứ hai của nhà thơ Nguyên Sa là đã nhận chân ra được, không phải một ông Trời rộng lớn bao trùm khắp tất cả, mà một vị Thượng Đế có lòng đến thăm hỏi Tôi ít ra là mỗi ngày một lần. Đối với Nguyên Sa, Thượng Đế không đến tượng trưng như một chính khách muốn làm thân với người dân thuộc khu vực cử tri nào, mà đến để viếng thăm và tìm hiểu cặn kẽ từng vấn đề của nội tâm Tôi.

Hơn nữa, đối với Nguyên Sa, Thượng Đế không đến như là khách, mà đến như là chủ nhà, “giờ giấc bất định,” mở toang cửa “thản nhiên bước vào trong”, vào “tim”, vào “phổi,” và có thể vào từng “phế nang.”Tuy nhiên, ở tim chắc Thượng Đế đọc được “cổ ngữ” hay “sấm ký” sẵn có; còn ở phổi, nơi thông thương với khí Trời làm mạch sống, thì, lạ lùng thay, Thượng Đế lại cần “mật khẩu” để vào từng các phế nang! Thượng Đế tôn trọng sự sống của Tôi đến thế sao?

Theo niềm tin của Nguyên Sa, thật rõ ràng là chính Thượng Đế đi bước trước, trực tiếp can thiệp vào đời sống con người, vào chính bản thân Tôi. Quả vậy, Thượng Đế đường đường hành động như đã có một giao ước bất thành văn cho phép Thượng Đế mở toang lồng ngực và bước vào, gọi cửa. Nhưng phần tôi, Tôi sợ đến nín thở, Tôi sợ ông gọi cửa không được vì Tôi sợ ông quên mật khẩu đã ghi trong giao ước mà Tôi đã chấp nhận. Chắc Thượng Đế muốn thử lòng Tôi xem Tôi có sẵn sàng để Người dùng “mật khẩu” mà vào được nội tâm Tôi chăng?!

 Bài thơ «Mật Khẩu» của Nguyên Sa đến đây là chấm dứt. Bài toán chưa có đáp số! Bởi Nguyên Sa còn đang đi tìm hiểu tại sao Thượng Đế lại dấn thân đi bước trước đến với cái Tôi nhỏ bé của Nguyên Sa, và tại sao Ngài cần «mật khẩu» của Tôi để mở được cửa vào tận đáy lòng Tôi, tiếp xúc với sự sống thâm kín nơi Tôi? Vậy «mật khẩu» đó có tên gọi là gì để đại diện cho con người bé bỏng và vạn vật vô thường hầu có thể đối mặt với Thượng Đế cao cả?

Khi Nguyên Sa tìm ra được đáp số là lúc mà nhà thơ sẽ ngộ được chân lý vĩnh hằng: Thượng Đế là Thiên Chúa hằng sống, từ muôn thuở đã cùng với Thần Khí của Ngài mà sinh ra Con của Người (Ngôi Lời), mẫu thức cho việc tạo thành con người và vũ trụ. Lúc ấy hẳn Nguyên Sa sẽ hiểu được tại sao Thiên Chúa cần «mật khẩu» có tên là Con Người (Đức Giêsu Kitô) để đến tới tận cùng ngõ ngách của lòng người. Bởi không có Con Người thì vạn vật trong đó có Tôi sẽ không là gì trước mặt Thiên Chúa. Hơn nữa, Thánh Phaolô nói trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv. 4,12).

Có thể nhận định một cách khác ngắn gọn hơn: Chúa biết mọi sự, kiểm soát tim phổi, hai cơ quan sinh động của con người, nhưng Chúa để cho con người tự do.

Nguyên Sa là một người công chính, kính sợ Chúa. Ông chôn chặt vào nhiều chùm phế nang những điều ông đã làm.

Ông đặt ra mật khẩu (password) để mở từng chùm phế nang. Đàng khác Chúa cho ông khả năng quên, có quên thì mới sống yên ổn.

Cho nên ông sợ ngày Chúa hỏi ông làm gì với cái tự do, đó là lúc ông phải dùng mật khẩu tìm lại những điều đã làm mà nay quên mất, quên cả mật khẩu để mở phế nang để tìm kiếm …

***

Nhớ lại, trong lễ an táng nhà thơ Nguyên Sa tại thánh đường Polycarp, Orange, California, linh mục Phạm Ngọc Hùng có kể lại đêm ban phép Thánh Tẩy cho Giáo sư Trần Bích Lan, đại để như sau: Vào một buổi tối đã khuya, một thanh niên đến gõ cửa xin linh mục đi làm phép Thánh Tẩy cho một bệnh nhân muốn tin nhận đạo Công giáo. Linh mục lật đật lên xe đi theo người thanh niên, là con trai của Nguyên Sa, cũng là một bác sĩ. Trên đường đi, qua câu truyện trao đổi, linh mục mới được biết bệnh nhân đó là nhà thơ Nguyên Sa. Thật xúc động vì không ngờ được làm phép Thánh Tẩy cho một nhà thơ, một giáo sư triết học nổi tiếng lẫy lừng mà linh mục hằng ngưỡng mộ, nhưng chưa một lần gặp mặt.

Gặp nhà thơ Nguyên Sa trong một căn phòng của bệnh viện, với sự hiện diện của một số thân hữu của nhà thơ cùng với một số anh chị em thiện chí Công Giáo – những người luôn sẵn sàng giúp đỡ những người muốn tìm hiểu Đạo Công giáo – linh mục Phạm Ngọc Hùng nói, “Thưa bác, bác còn đang đau yếu, xin bác cứ ngồi trên ghế để con cử hành nghi thức Thánh Tẩy cho bác.” Nhà thơ trả lời, “để tỏ sự kính trọng đối với một bí tích, xin cha cứ để con quỳ xuống, không sao”. Một cử chỉ thật đẹp, thật khiêm nhường của nhà thơ Nguyên Sa.

Tin theo Đạo Chúa, ông nhận thánh bổn mạng – tên thánh, theo ngôn ngữ Công giáo – là Giuse. Giuse Trần Bích Lan.

Người ta cũng đọc thấy phần ghi chú đơn sơ nhưng súc tích dưới tấm ảnh Nguyên Sa đội mũ casket quen thuộc trong cuốn Thơ Nguyên Sa như sau:

“Thi sĩ Nguyên Sa

Giuse Trần Bích Lan

Sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội

Chúa gọi về ngày Thứ Bảy, 18 tháng 4, 1998

Tại California, Hoa Kỳ”

Trong ngày tang lễ tiễn đưa ông, từ nhà thờ St. Polycarp ra nghĩa trang Peek Family trong một ngày nắng chói chang, đàng sau tang quyến là rất nhiều thân bằng, quyến thuộc. Họ là những giáo chức, nhà thơ, nhà văn, nhà báo và đông đảo cựu học sinh của ông; chắc hẳn nhiều người đã nhân dịp này suy nghĩ về cuộc đời và sự chọn lựa cuối đời của ông.

Theo tôi biết thì phu nhân của thi sĩ Nguyên Sa, G.S. Trịnh Thúy Nga, cũng đã tìm về Đạo Chúa cách đây mấy năm trong âm thầm, lặng lẽ, khiêm cung nhưng đầy xác tín.

Nguyễn Đức Tuyên

 Ghi Chú: Trong buổi ra mắt sách Hành Trình Đức Tin ngày 28.9.2014 tại Trung Tâm Công Giáo, Giáo Phận Orange, Hoa Kỳ, bà Trịnh Thúy Nga, phu nhân GS Nguyên Sa đã phát biểu 2 điều: thứ nhất, thi sĩ Nguyên Sa đã nhận lãnh phép Rửa Tội khi còn minh mẫn và sáng suốt, thứ hai, chính bà Trịnh Thúy Nga cũng đã tìm về Đạo Chúa sau thi sĩ Nguyên Sa 10 năm và nay bà cảm thấy an bình, hạnh phúc.

MỘT NGÀY, MỘT NĂM VÀ MỘT ĐỜI NGƯỜI

MỘT NGÀY, MỘT NĂM VÀ MỘT ĐỜI NGƯỜI

🌹Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn.
🌹Một năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu.
🌹Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi.
🌹Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn, cho nên chúng ta phải học cách trân trọng, trân trọng tình thân, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình yêu, tình vợ chồng, tình phụ mẫu, tình đồng loại …
🌹Vì một khi đã lướt qua , thì khó có thể gặp lại.

❤️Sau 20 tuổi, thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng.
❤️Sau 30 tuổi, thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao.
❤️Sau 40 tuổi, thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau, học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.
❤️Sau 50 tuổi, thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.
❤️Sau 60 tuổi, thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.
❤️Sau 70 tuổi, thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi.
❤️Sau 80 tuổi, thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.
❤️Sau 90 tuổi, thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện ấy nữa.
❤️Sau 100 tuổi, thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì.
 
👉 CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY, KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU…

👉 NHÌN RA, HIỂU ĐƯỢC, THẤU HIỂU RỒI, CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ …

👉 TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ ĐÃ CÓ VÀ ĐANG CÓ….

From: tonuquynh71 & NguyenNThu

PHIÊN TÒA XỬ NHÀ BÁO PHẠM THỊ ĐOAN TRANG

PHIÊN TÒA XỬ NHÀ BÁO PHẠM THỊ ĐOAN TRANG

Rất hiếm khi được “xem” một phiên tòa xét xử người bất đồng chính kiến của VC! Ai chưa xem nên xem!

Phiên tòa là hình ảnh cuộc chiến của một người chống lại một chế độ. Thắng bại rõ ràng. Một chế độ bị xử nhục nhã. Bị cáo anh hùng. Bị bắt 25 lần. Bị đánh què chân. Bình tĩnh lên án cả một chế độ thú vật. Các luật sư dũng cảm. Luật sư ghi chép xuất sắc. Mong cho 2 triệu dân Việt tỵ nạn hải ngoại đọc được tin này. Xin đừng làm thinh. Mong cho Đoan Trang sẽ có một ngày hạnh ngộ đoàn tụ với gia đình. Với mẹ và anh. Mong cho…

 Đoan Trang đã chiến thắng tuyệt đối tại tòa như thế nào?

Không có tờ báo nhà nước nào ở Việt Nam dám miêu tả chính xác những gì diễn ra tại tòa trong phiên xử cô Phạm Đoan Trang. Tuy nhiên, biên bản tốc ký dưới đây của luật sư Ngô Anh Tuấn đã cho thấy nhiều chi tiết bật lên rõ sự can đảm kiêu hãnh đáng kính phục của cô Phạm Đoan Trang… 

BIÊN BẢN PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM

VỤ ÁN “TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM” ĐỐI VỚI BÀ PHẠM THỊ ĐOAN TRANG (ngày 14 Tháng Mười Hai 2021)

Người ghi tốc ký tại phiên tòa: Luật sư Ngô Anh Tuấn

QUANG CẢNH CHUNG

– Phiên tòa được trang bị an ninh nghiêm ngặt từ nhiều vòng xung quanh tòa án;

– Mẹ bà Phạm Thị Đoan Trang được triệu tập tới tòa, được cho vào nhưng vì tuổi cao, sức yếu cần người đi cùng. Ông Phạm Chính Trực, con trai bà xin vào cùng nhưng không được chấp nhận. Các luật sư cùng nêu ý kiến, thư ký tòa và nhân viên tòa án rất có trách nhiệm nên cuối cùng mẹ bà Trang cũng qua được các “ải” an ninh để vào dự phiên tòa.

Mọi người tham dự phiên tòa đều được test covid tại chỗ rất nhanh chóng. Thủ tục an ninh nghiêm ngặt nhưng thái độ của những người làm việc có tiến bộ rõ rệt so với các phiên tòa tương tự trước đó. Phiên tòa có sự tham gia của nhiều y, bác sỹ của Bệnh viện Tim cùng xe cứu thương do bà Phạm Thị Đoan Trang có tiền sử bệnh tim. Phiên tòa có sự tham gia của các tùy viên chính trị, nhân viên ngoại giao của một số quốc gia như Mỹ, Canada, Đức, đại diện EU…

Thành phần Hội đồng xét xử: Ba người (đều là nữ):

Chủ tọa: Bà Chử Phương Ngọc

Hai Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thái và Bùi Thị Thu Giang

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Nghĩa Hải

Kiểm sát viên: Hai người là bà Lương Thị Hương và ông Đỗ Minh Tuấn

Luật sư: Năm người, gồm các luật sư: Phạm Lệ Quyên, Đặng Đình Mạnh, Nguyễn Văn Miếng, Lê Văn Luân và Ngô Anh Tuấn

Vắng mặt hai luật sư: Nguyễn Hà Luân và Trịnh Vĩnh Phúc

Người giám định: Vắng mặt

DIỄN BIẾN PHIÊN TÒA

KHAI MẠC PHIÊN TÒA (9h00)

Chủ tọa kiểm tra căn cước của bà Phạm Thị Đoan Trang

Chủ tọa đề nghị cảnh sát tư pháp tháo còng, bà Trang trả lời là không cần, cứ để im như vậy.

***

Chủ tọa hỏi: Bị cáo tên gì (giọng cứng):

Tôi tên Phạm Thị Đoan Trang, nguyên là nhà báo của báo VnExpress…

Chủ tọa: Bị cáo dừng lại, bị cáo trả lời từng câu hỏi của HĐXX (giọng cứng)

Tôi đề nghị chủ tọa giữ thái độ ôn hòa cần thiết

Chủ tọa: Hộ khẩu thường trú của bị cáo?

Tôi không trả lời

Chủ tọa: Trình độ văn hóa của bị cáo?

Tôi tốt nghiệp cử nhân kinh tế, Đại học Ngoại Thương Hà Nội

Chủ tọa: Tên bố mẹ của bị cáo?

Tôi không khai báo, ai làm người đó chịu

Chủ tọa đọc: Bị cáo đã có tiền án, tiền sự gì không?

Tôi không. Trong một số lần công an xử phạt, họ tự ý lập biên bản… Công an Việt Nam bắt giữ tôi 25 lần không có lý do chính đáng; trong một lần tôi bị đánh gãy chân

(Chủ tọa đọc một số tiền sự…)

Chủ tọa: Bị cáo bị bắt khi nào?

Tôi bị bắt vào ngày 6 Tháng Mười 2020 vào lúc 11h30 đêm

Chủ tọa: Bị cáo nhận được quyết định xét xử của tòa khi nào?

Tôi không nhận được. Tôi nghĩ có sự vi phạm tố tụng ở đây vì tôi không nhận được thông báo triệu tập của tòa ngày hôm nay

(Chủ tọa phổ biến nội quy phiên tòa cho bà Phạm Thị Đoan Trang)

Chủ tọa: Bị cáo hiểu rõ quyền và nghĩa vụ mình chưa?

Tôi nghĩ bà chủ tọa cũng nên hiểu quyền và nghĩa vụ của bị cáo

Chủ tọa: Bị cáo có cần thay đổi ai trong những người tiến hành tố tụng hay không?

Thôi không cần (sau khi liếc quanh một vòng)

Chủ tọa: Bị cáo có tiếp tục yêu cầu các luật sư tiếp tục bào chữa cho mình không?

Không

Chủ tọa: Bị cáo có xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì thêm không?

Không

Chủ tọa: Các luật sư là những người am hiểu pháp luật nên tôi không cần phổ biến lại quyền và nghĩa vụ nữa. Các luật sư có ý kiến gì không?

Luật sư Đặng Đình Mạnh: Đề nghị tòa trả lời yêu cầu triệu tập giám định viên và lý do tại sao không tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử?

Luật sư Lê Văn Luân: Đề nghị giống luật sư Mạnh. Đề nghị triệu tập thêm: Hai người làm chứng là bà Lâm Thúy Hà và ông Trương Xuân Thành; hai người dịch thuật là bà Vũ Thị Thu Hà và ông Lương Hoài Nam; Đại diện Cục An ninh nội địa Bộ Công an; Điều tra viên Công an thành phố Hà Nội là ông Vũ Văn Bính và bà Phạm Thị Quỳnh Trang.

Chủ tọa: Đại diện Viện Kiểm sát có ý kiến gì không? Việc vắng mặt của những người được nhắc tới không làm ảnh hưởng tới nội dung phiên tòa nên đề nghị tòa tiếp tục xét xử.

Luật sư Lê Văn Luân có ý kiến bổ sung: Đề nghị tòa cấp giấy bút cho bà Trang ghi chép nội dung để tự bào chữa; đề nghị trang bị thiết bị điện tử để trình chiếu vì trong hồ sơ vụ án có một số tài liệu là dữ liệu điện tử.

(HĐXX vào hội ý, mọi người trong phòng xử án nghỉ giải lao: 9h20; HĐXX ra làm việc tiếp: 09h30)

Chủ tọa trả lời các thắc mắc của bà Phạm Thị Đoan Trang và các luật sư:

– Giải thích việc bà Trang không nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử: Bị cáo không nhận được quyết định mở phiên tòa trước 10 ngày nhưng các luật sư đã nhận được nên không ảnh hưởng tới quyền lợi của bị cáo;

– Đề nghị trang bị thiết bị điện tử: Do điều kiện cơ sở vật chất có hạn, tòa không trang bị được các thiết bị điện tử để phục vụ việc trình chiếu theo đề nghị, mong các luật sư thông cảm;

– Yêu cầu thư ký tòa cấp giấy bút cho bị cáo nhưng đề nghị cảnh sát tư pháp giám sát kỹ để đảm bảo an tòan và đề nghị thu hồi lại giấy bút sau khi kết thúc phiên tòa;

– Đề nghị triệu tập các giám định viên: Giám định viên đã vắng mặt có lý do chính đáng, nhưng sẽ triệu tập khi cần thiết;

– Đề nghị triệu tập điều tra viên: Không cần thiết vì họ chỉ làm theo chức trách, không liên quan tới vụ án;

– Đề nghị triệu tập người làm chứng: Đã có lời khai đầy đủ nhưng sẽ triệu tập khi cần thiết;

ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT ĐỌC BẢN CÁO TRẠNG (9h40)

Kiểm sát viên Lương Thị Hương:  Đọc bản cáo trạng (9h40)

Kiểm sát viên Đỗ Minh Tuấn: Đọc tiếp bản cáo trạng (10h01)

Luật sư Đặng Đình Mạnh giơ tay đứng dậy: Đề nghị đại diện Viện Kiểm sát tạm ngừng đọc, đề nghị tháo còng cho bà Trang và cho bà Trang ngồi xuống vì lý do sức khỏe bà không tốt. (10h04)

Chủ tọa: Yêu cầu luật sư Mạnh ngồi xuống.

(Bà Trang cũng rời bục khai báo về ghế ngồi)

Chủ tọa: Yêu cầu bà Trang đứng dậy.

Tôi đau chân không đứng mãi được

Chủ tọa: Đau chân thì phải xin HĐXX.

(Bà Trang được chấp thuận tiếp tục ngồi)

Kiểm sát viên Lương Thị Hương: Đọc tiếp bản cáo trạng (10h07)

Kiểm sát viên kết thúc đọc bản cáo trạng (10h15)

(HĐXX HỎI)

Chủ tọa nhắc với luật sư: Bị cáo đã từ chối tháo còng.

Chủ tọa cũng hỏi lại bà Trang: Bị cáo cần tháo còng không?

Tôi không cần tháo

(Chủ tọa cho bà Trang ngồi khai báo do lý do sức khỏe)

Chủ tọa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội gì?

Trong cáo trạng ghi rồi

Chủ tọa: Bị cáo trả lời HĐXX

Trong cáo trạng ghi rồi, không cần hỏi tôi nữa

Chủ tọa: Bị cáo có đồng ý với cáo trạng không?

Không có quốc gia nào quy định tội danh này, trừ Trung Quốc và Việt Nam

Chủ tọa: Ngày 17 Tháng Sáu 2020 bị cáo có làm việc với cơ quan công an không?

Tôi bị bắt cóc 25 lần, tôi không làm việc gì cả

Chủ tọa: Ngày 22 Tháng Sáu 2020, bị cáo có làm việc với cơ quan công an phường Hàng Bồ không?

Tôi bị bắt cóc 25 lần, tôi không làm việc gì cả…

Chủ tọa: Bị cáo bị giữ tài sản, đồ vật gì không?

Tôi bị thu giữ nhiều máy móc, tài sản, tiền bạc…

Chủ tọa: Bị cáo có bị thu giữ tài liệu gì không?

Có, nhưng tôi không ký biên bản gì

Chủ tọa: Trong các lần làm việc, có buổi làm việc nào có ghi âm, ghi hình không?

Những lần đánh tôi thì không ghi âm, ghi hình…

Chủ tọa: Bị cáo có tham gia các buổi phỏng vấn với BBC tiếng Việt không?

Tôi là nhà báo, tham gia phỏng vấn hàng nghìn người với hàng trăm tờ báo…

Chủ tọa: Bị cáo có tham gia phỏng vấn báo BBC Tiếng Việt ngày 19 Tháng Tám 2018 không?

Tôi không nhớ rõ

Chủ tọa: Bị cáo thường trả lời phỏng vấn của những tờ báo nào?

Rất nhiều tờ báo

Chủ tọa: Bị cáo có trả lời tờ báo RFA không?

Tôi trả lời nhiều tờ báo, không chỉ là RFA

Chủ tọa: Trong quá trình điều tra, các điều tra viên có thông báo cho bị cáo về các kết luận giám định không?

Tôi có được đọc cho nghe

Chủ tọa: Bị cáo đã từng ký, giao nộp tài liệu không?

Tôi không đưa tài liệu nào

Chủ tọa: Bị cáo nhớ lại có lần nào không?

Tôi không đưa gì cho công an cả, tất cả là cướp

Chủ tọa: Bị cáo có ý kiến gì về các kết luật giám định hay không?

Tôi nghĩ chỉ Việt Nam và Trung Quốc mới có giám định tư tưởng. Tôi không biết họ là ai, trình độ tới đâu mà đi giám định những tài liệu như vậy

Chủ tọa: Bị cáo có quyền đồng ý hay không đồng ý nhưng không bình luận, phần này để dành qua phần tranh luận.

Tôi bật cười khi đọc kết luận giám định

ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT

Nội dung của ba tài liệu bằng tiếng Anh mà bị cáo bị thu giữ với mục đích gì?

Nền luật pháp Việt Nam có tồi tệ đi nữa nhưng tôi nghĩ, với những tài liệu, chứng cứ không được thu giữ hợp lệ, tôi tin nó cũng không thể là căn cứ để cáo buộc tôi hay bất kỳ ai. Những tài liệu mà cơ quan điều tra có được là bất hợp pháp và vô giá trị.

Bị cáo có ý kiến gì về kết luận giám định không?

Tôi nhận thấy có những thuật ngữ rất ngu xuẩn. Những từ ngữ kiểu như “Chiến tranh tâm lý” là không được phép có trong thuật ngữ pháp lý

Chủ tọa nhắc: Bị cáo có quyền trả lời nhưng không có quyền đặt lại câu hỏi lại.

Tôi là nhà báo, tôi thấy nhiều cáo buộc là sai, ngu xuẩn

Kiểm sát viên: Bị cáo có làm ra ba tài liệu đó không?

Tôi không làm ra

Tài liệu thu giữ có chữ ký xác nhận của bà trên đầu trang, bà có xác nhận điều đó là thực không?

Nếu có chữ ký của tôi thì đó là của tôi

Chủ tọa nhắc nhở: Bị cáo xưng “tôi” hoặc “bị cáo”

Không, ngôn ngữ là do tôi kiểm soát, việc sử dụng thế nào là của tôi

Kiểm sát viên: Bị cáo đã đăng tải các tài liệu trên lên mạng xã hội đúng không?

Đúng. Có bài tôi đăng, có bài không. Không nhà báo nào nghĩ rằng khi phỏng vấn xong một nhà báo thì họ bị bắt cả

Động cơ của bị cáo khi phát biểu và đăng tải các thông tin lên mạng xã hội là gì?

Vậy tôi xin hỏi ngược lại, khi hỏi tôi, động cơ của bà là gì?

Chủ tọa đề nghị đại diện Viện kiểm sát dừng việc xét hỏi.

LUẬT SƯ HỎI

Luật sư Lê Văn Luân: Ngày 16 Tháng Mười Một 2017, ông Trương Xuân Thành có làm việc với bà không?

Tôi không biết đó là ai. Công an họ tự gọi vào…

Bà có nhận dạng được ông Thành không?

Không

Tài liệu mà bà ký ở trang đầu là tài liệu nào? Tài liệu đó là bà có được từ đâu?

Tài liệu đó là tôi tham dự cuộc họp của EU, có cái họ phát, có cái là tôi mua từ cuộc triển lãm trong cuộc họp

Các chữ ký trên các trang tài liệu của bà?

Tôi nghi ngờ công an ngụy tạo ra, không phải của tôi

Bà có yêu cầu giám định lại không?

Tôi biết cơ quan giám định Việt Nam nên có giám định lại cũng thế mà thôi

Luật sư Đặng Đình Mạnh: Bà có được điều tra viên thông báo kết luận giám định không?

Họ có đọc cho tôi trong trại tạm giam

Bà có yêu cầu gì về việc tiếp cận hồ sơ vụ án không?

Tôi có yêu cầu biết tên, tuổi, trình độ cũng những người giám định nhưng không ai cho tôi biết

Bà có yêu cầu đọc, xem tài liệu có trong hồ sơ vụ án không?

Không

Nếu được cho phép, bà có yêu cầu đó không?

Chắc không cần

Luật sư Nguyễn Văn Miếng: Khi bị bắt bà bị thu giữ gì không?

Bị bắt khi nào ạ?

Ngày 16 Tháng Mười 2020

23h30 tôi bị bắt đi lên phường rồi khi được đưa quay lại thì phòng trọ bị lục tan hoang nhưng không thu giữ tài liệu gì

Vậy những tài liệu bị thu giữ lấy từ đâu?

Tôi không rõ

Những tài liệu tiếng Anh bà dùng làm gì?

Những tài liệu này tôi không viết, không biết của ai, người dịch là của công an. Tôi dùng để tôi đọc chứ không phát tán, tuyên truyền cho ai. Người dịch và phổ biến chứ tôi không phổ biến

Bà có nghe hết cáo trạng không?

Tôi nghe không rõ và không quan tâm nhưng thấy có nhiều sai sót

Luật sư Ngô Anh Tuấn: Trong quá trình điều tra, bà có yêu cầu có luật sư không?

Trong suốt quá trình điều tra, tôi luôn khẩn thiết đề nghị nhưng không bao giờ được chấp nhận. Điều tra viên đưa ra lý do đây là vụ án liên quan tới an ninh quốc gia nên tôi không được quyền có luật sư. Mãi tới ngày 19 Tháng Mười 2021, khi vụ án sắp được đưa ra xét xử tôi mới được gặp luật sư lần đầu tiên

Trong quá trình điều tra bà có bị ép cung không?

Có. Trong nhiều lần bị bắt bớ trước đó, bị cáo bị đánh, ép ký văn bản nhưng không ký nên họ tự đưa người vào ký làm chứng

Việc ăn ở trong trại giam của bị cáo thế nào?

Sau khi có ý kiến của các luật sư thì trại giam đã đáp ứng một số yêu cầu thiết yếu của tôi với tinh thần hợp tác

Từ đầu tới giờ, bà nhiều lần chỉ trích nặng lời đối với nội dung của bản kết luận giám định, các luật sư cũng đề nghị tòa triệu tập giám định viên, chủ tọa cũng cho biết sẽ triệu tập khi cần thiết, vậy bà có thấy cần triệu tập họ tới phiên tòa này để tham gia xét hỏi hay không?

Những tài liệu không phải tôi làm ra, họ tự dịch thuật rồi tự phát tán rồi tự giám định, tôi không quan tâm lắm. Nếu họ tới để tranh luận thì tốt mà không tới cũng không sao cả

Luật sư Lê Văn Luân: Đề nghị HĐXX không tiếp tục trì hoãn mà cần xem xét các yêu cầu triệu tập của chúng tôi một lần nữa để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát: Đề nghị HĐXX công bố một số bút lục liên quan tới lời khai của bị cáo, người làm chứng có trong hồ sơ vụ án.

Chủ tọa phiên tòa công bố một số lời khai của bà Phạm Thị Đoan Trang tại bút lục 221, 222; công bố lời khai của người làm chứng Trương Xuân Thành tại bút lục 509, 510.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tòa công bố bút lục số 265, 266 về lời khai của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Kết thúc phần xét hỏi 11h20, chuyển sang phần tranh luận.

PHẦN TRANH LUẬN (11h20)

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Đề nghị HXX tuyên phạt bị cáo với mức án 7-8 năm tù về tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”; trả lại một số tài sản đã thu giữ của bị cáo.

HĐXX tạm nghỉ buổi sáng lúc 11h30

PHIÊN TÒA BẮT ĐẦU LẠI (14h00)

Một nhân viên an ninh trước cổng tòa không cho ông Phạm Chính Trực, anh trai của bà Phạm Đoan Trang vào cùng mẹ vì giải thích ca sáng cho vào là việc của ca sáng, ca chiều không liên quan. Các luật sư đồng loạt đi ra ngoài cổng tòa để phản đối hành vi cứng nhắc này. Sau đó, thư ký tòa đề nghị luật sư đi vòng bằng cổng khác để vào tòa. Trên đường đi, chúng tôi gặp một số tùy viên chính trị của các đại sứ quán cũng đang đi lòng vòng vì chưa vào được. Họ cười với chúng tôi và lắc đầu ngao ngán. Khi chúng tôi vào được tòa, nhìn ra phía ngoài cổng, họ vẫn đang đứng ngoài…

CÁC LUẬT SƯ TRÌNH BÀY NỘI DUNG BÀO CHỮA

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Về thủ tục tố tụng:

Các luật sư có yêu cầu triệu tập nhiều người có liên quan nhưng không có bất kỳ người nào có mặt tại tòa. Phía đại diện Viện Kiểm sát cho rằng việc họ vắng mặt không làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thực tế, việc vắng mặt của họ ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc bào chữa của luật sư, điều này thể hiện sự bất bình đẳng trong việc buộc tội và gỡ tội đối với bị cáo.

Việc tiếp cận hồ sơ vụ án của bị can, bị cáo không được tôn trọng khi cơ quan tiến hành tố tụng không chấp nhận đề nghị của bị cáo.

Việc xung đột pháp luật: Điều 25 của Hiến pháp quy định quyền tự do ngôn luận của công dân nhưng Điều 88 của Bộ luật Hình sự 1999 lại đi ngược với tinh thần của Hiến pháp nhằm bắt bớ, xử lý người thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Điều 88 Bộ luật hình sự 1999 cũng mâu thuẫn với Điều 19 của Công ước về Tuyên ngôn nhân quyền 1966 mà Việt Nam tham gia ký kết. Một khi có sự mâu thuẫn giữa luật quốc nội và điều ước quốc tế thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế.

Giám định tư pháp: Không thể giám định về tư tưởng, quan điểm, nhận thức chính trị, pháp luật. Các nước trên thế giới cũng không thể thực hiện hình thức này. Những phương tiện mà các giám định viên đã sử dụng để giám định là khá phi lý: Trên cơ sở pháp lý nào mà có thể kết luận những đoạn văn, câu văn nào là phao tin bịa đặt, gây hoang mang dư luận…?

Những yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể bị xâm phạm):

Chính quyền nhân dân là một khái niệm mơ hồ, nó là thực thể nào? Nó là một tổ chức, một cá nhân hay một thứ nào khác?…

Kết luận: Tuyên bị cáo không phạm tội.

Đề nghị HĐXX kiến nghị hủy bỏ điều luật trái với Hiến pháp và trái điều ước quốc tế.

Luật sư Nguyễn Văn Miếng

Đồng tình với quan điểm của luật sư Mạnh. Quan điểm về bảy văn bản giám định và một công văn trả lời. Tám văn bản này đã kết tội bà Trang trước khi có phiên tòa này. Trong hồ sơ giám định kết luận có một số chữ ký trên hồ sơ không phải là chữ ký của bà Phạm Thị Đoan Trang. Hai clip được lưu giữ trong máy, cơ quan giám định cũng trả lời chưa phát tán nên không có cơ sở để giám định. 15 file tài liệu thu giữ cũng không được giám định nhưng vẫn đưa vào cáo trạng để kết tội bị cáo. Các tài liệu thu thập được trên mạng không được giám định trên bản tiếng Anh, không xác nhận nội dung của người viết ra mà giám định trên bản dịch theo chủ ý của cơ quan điều tra. Cách giám định này là không khách quan. Căn cứ vào Điều 25 của Hiến pháp và Điều 19 của Công ước quốc tế 1966 mà Việt Nam đã tham gia thì Điều 88 của Bộ luật hình sự 1999 là vi phạm những điều luật này.

Đề xuất: Tuyên thân chủ vô tội.

Luật sư Lê Văn Luân

Việc bảo vệ các nguyên tắc: Xét xử công bằng và tranh tụng.

Xét xử công bằng và tranh tụng: Một số vi phạm cơ bản không thể khắc phục. Việc triệu tập những người tham gia tố tụng đã không được thực hiện.

Quyền tự bào chữa và quyền bào chữa cho bị cáo: Quyền tự bào chữa của bị cáo không chỉ bị gián đoạn mà hoàn toàn bị che mờ. Quyền được tiếp cận hồ sơ của bị cáo không được chấp nhận.

Kết luận giám định, dựa trên pháp luật hiện hành đã vi phạm nghiêm trọng:

Thẩm quyền: Dùng cơ quan thông tin truyền thông thuộc UBND để kết luận an ninh thông tin là điều sai trái. Chức năng của cơ quan thông tin truyền thông là liên quan tới an toàn thông tin chứ không liên quan tới an ninh thông tin, việc giao cho họ quyền này là vượt quá khả năng của họ.

Địa phương hóa việc kết tội: Kết luận giám định được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.

Kết luận mặt khách quan của tội phạm: Kết luận mặt nội dung, kết luận luôn các yếu tố cấu thành tội phạm.

Trao quyền cho địa phương kết tội, bất kỳ Sở Thông tin Truyền thông nào cũng có quyền kết tội một người nào mà họ thích.

Cùng một cuốn sách “Cẩm nang nuôi tù” của bà Phạm Thị Đoan Trang được hai Sở Thông tin và Truyền thông của hai tỉnh khác nhau kết luận những nội dung khác biệt nhau (so sánh với vụ án của bà Cấn Thị Thêu tại tỉnh Hòa Bình).

Về chứng cứ: Vật chứng gốc của các USB không còn. Bản tiếng Anh được in ra trong USB hiện ở đâu? Tại sao không có trong hồ sơ vụ án? Một số tài liệu không kết luận được là chữ ký của bà Trang, vậy ai ký? Ai đã ký thay bà Trang? Đó là hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp, cần làm rõ.

Không xác định được nguồn của chứng cứ: Ba tài liệu tiếng Anh và một tài liệu tiếng Việt, không biết tài liệu tiếng Việt thu từ nguồn nào, ở đâu ra? Không xác định nguồn chứng cứ, không xác định được người tạo ra… Tôi đề nghị trình chiếu bản ghi hình buổi hỏi cung có ghi hình vào ngày 16 Tháng Mười Một 2017.

Người chứng kiến không có mặt trong ngày 16 Tháng Mười Một 2017. Bản khai của ông Trương Xuân Thành khai ở bút lục số 51 (có bản ghi hình 00812, 00813): Trong buổi làm việc 80 phút với bà Trang chỉ có bốn người, không có mặt ông Thành. Tại phút thứ 23 của bản ghi hình 00812, có người đàn ông nói “nếu bà không ký hồ sơ thì tôi sẽ mời người chứng kiến”, nghĩa là lúc này không có người chứng kiến, trái với lời khai của nhân chứng.

Ông Trương Xuân Thành khai là bà Trang đồng ý cho người chứng kiến ký nhưng tại phút thứ 36, bà Trang phủ nhận, không chấp nhận cho người làm chứng ký.

Buổi làm việc ngày 16 Tháng Mười Một 2017 bắt đầu từ 14h và kết thúc lúc 15h30 tại phường Cống Vị, tôi dùng ba hình ảnh chụp và cắt, trên đồng hồ của cán bộ tên Hương ghi thì thời gian chênh nhau là khoảng hai giờ, mâu thuẫn với bản làm việc. Như vậy, những bản ghi này vênh nhau, sai phạm lớn, không có giá trị làm chứng cứ. Ông Trương Xuân Thành khai có mặt toàn bộ buổi làm việc là gian dối và có thể bị khởi tố trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, cần phải xử lý.

Đề nghị tuyên bà Trang không phạm tội. Đề nghị tòa xem xét trách nhiệm của những người gây ra những sai phạm này.

Luật sư Ngô Anh Tuấn

Việc cơ quan điều tra đã đưa ra yêu cầu trưng cầu giám định vượt quá khả năng, thẩm quyền của cơ quan thông tin truyền thông. Viện kiểm sát là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã không đảm bảo vai trò của mình, giờ là lúc cần xem xét lại.

Cần xem xét trách nhiệm của cơ quan điều tra, có hay không có sự ép buộc của cơ quan điều tra đối với Sở Thông tin Truyền thông để họ phải thực hiện công việc vượt ngoài khả năng và trách nhiệm của họ. Hơn thế nữa, cần xem xét kỹ việc họ không có mặt tại phiên tòa này và nhiều phiên tòa tương tự khác có phải là họ không muốn đối đáp và “minh oan” cho mình hay do một áp lực nào khác hay không?

Việc xem xét, đánh giá một hành vi có dấu hiệu tội phạm hay không là việc của cơ quan điều tra chứ không phải là cơ quan hành chính nào đó, càng không thể là trách nhiệm của cơ quan giám định vì họ chỉ làm công tác chuyên môn đơn thuần. Viện kiểm sát cần làm rõ khái niệm chính quyền nhân dân và nhân dân trong vụ án này để xác định rõ chủ thể bị hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) xâm phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Bà Phạm Thị Đoan Trang bổ sung: Lời cung của người làm chứng Trương Xuân Thành cần phải kiểm chứng.

Chủ tọa: Bị cáo cần xưng tôi với HĐXX, và tôn trọng pháp luật.

Tôi tôn trọng các chị như những con người. Tôi là người nhìn thấy và cầm các tài liệu từ bàn hội nghị của EU nhưng tôi không làm ra, không phát tán. Việc phát tán là của cơ quan an ninh thực hiện, không phải tôi.

Trong 25 lần tôi bị bắt giữ trái pháp luật, nhiều lần tôi bị ép cung, mướn cung, dụ dỗ tôi khai báo thì những lời tôi nhận những tài liệu là do tôi làm ra thì đó là vô giá trị. Vụ án này kết tội tôi chủ yếu dựa trên lời khai của tôi và những người khác là vi phạm pháp luật, không dựa vào các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án. Trong quá trình điều tra, tôi khai nhiều lời khai có lợi cho mình nhưng chưa một lần những lời khai đó được ghi nhận. Ngay cả việc tôi yêu cầu có luật sư cũng không được ghi nhận trong hồ sơ.

Tôi bị bắt và được thả nhiều lần nhưng chưa một lần được giải thích là bắt và thả là vì lý do gì, ngay cả việc tôi bị đánh gãy chân cũng không bao giờ được nhắc tới. Trong quá trình điều tra, một số điều tra viên đã đánh đập, ép cung tôi nhưng tôi không có chứng cứ để truy cứu vấn đề này.

ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI ĐÁP

Sáu nhóm vấn đề đối đáp:

– Không triệu tập các điều tra viên và những người làm chứng: Tòa đã giải thích, không đối đáp lại.

– Không có luật sư trong quá trình điều tra: Bị can bị khởi tố về tội liên quan tới an ninh quốc gia nên Viện Kiểm sát không cho luật sư tham gia trong quá trình điều tra là đúng.

– Khi tống đạt cáo trạng cho bị cáo, bị cáo không đề nghị tiếp cận tài liệu nên không có cơ sở để xem xét yêu cầu của bị cáo. Điều này bị cáo cũng xác nhận tại tòa rằng không có nhu cầu tiếp cận hồ sơ.

– Công tác giám định, thẩm quyền giám định: Việc dịch tiếng Anh sang tiếng Việt là đúng quy định. Cơ quan điều tra thực hiện việc dịch thuật là đúng, đủ thẩm quyền và trình độ để thực hiện. Việc dịch thuật là đúng, đủ, trung thực nên có căn cứ để làm chứng cứ.

– Thẩm quyền giám định: Đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền và được công bố công khai nội dung, danh sách trên Sở Tư pháp Hà Nội nên kết luận giám định là đúng pháp luật. Các tài liệu giám định khẳng định các chữ ký của bị cáo Trang có trên hồ sơ là đúng do bị cáo Trang ký.

– Về nội dung cáo trạng là đúng làm luật, có căn cứ và không oan. Đề nghị của các luật sư tuyên bị cáo không có tội là không có căn cứ pháp luật.

Kiểm sát viên Lương Thị Hương đối đáp thêm: Nguồn chứng cứ được thu thập từ các nguồn hợp pháp.

ĐỐI ĐÁP TIẾP

Bà Trang: Ngày 20 Tháng Mười 2021, có đề nghị tiếp cận chứng cứ, hồ sơ tài liệu và yêu cầu triệu tập điều tra viên, giám định viên và đề nghị cung cấp phương tiện để làm việc tại tòa nhưng không được chấp nhận. Việc Viện Kiểm sát nói tôi từ bỏ quyền của mình là không đúng. Hôm nay tôi từ chối tiếp cận là vì tôi đã đủ thất vọng với các vị nên không yêu cầu thêm làm gì nữa mà thôi. Nếu các anh, chị không dịch thuật tài liệu từ tiếng Anh sang tiếng Việt rồi rêu rao đó là vi phạm pháp luật, là phao tin bịa đặt gây hoang mang dư luận thì có ai biết không? Ai mượn, ai sai khiến quý vị đi dịch thuật, lan truyền rồi lại quy trách nhiệm cho tôi?

Luật sư Đặng Đình Mạnh: Việc có mặt của người giám định và những người có liên quan khác không được xem xét và các vị đại diện Viện Kiểm sát không tranh luận là một điều đáng tiếc. Thân chủ tôi có khai là bị đánh đập trong quá trình điều tra khiến hình ảnh của cơ quan điều tra xấu đi trong mắt nhân dân, nếu có mặt luật sư thì điều đó sẽ được giảm thiểu. Cần xem xét lại việc có mặt của luật sư trong các vụ án tương tự để tránh khả năng xảy ra oan sai. Về thẩm quyền của giám định viên: Chúng tôi phủ nhận vai trò của các giám định viên.

Luật sư Nguyễn Văn Miếng: Bản dịch được dịch qua công ty dịch thuật thiếu chuyên môn.

Luật sư Lê Văn Luân: Nhiều nội dung của tôi chưa được đối đáp. Thẩm quyền giám định. Nguồn chứng cứ được thu giữ không biết được thu giữ từ bà Trang hay được thu giữ từ một nguồn khác rồi đưa bà Trang ký? Nguồn chứng cứ không đảm bảo thì không thể làm chứng cứ để buộc tội. Cáo trạng chỉ căn cứ vào lời khai để buộc tội. Bút lục 1044, Kết luận số 2987 ghi rõ, chỉ trang đầu trong 41 trang tài liệu là chữ ký bà Trang, còn 40 chữ ký còn lại trong các trang sau không đủ cơ sở để xác định chữ ký là của ai. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cam kết sẽ cải thiện vấn đề nhân quyền để thu hút đầu tư nước ngoài, vì vậy HĐXX cần phải làm rõ sự thật khách quan của vụ án để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và tinh thần thượng tôn pháp luật cũng như cam kết của ông Thủ tướng.

Bà Trang bổ sung thêm: Ông Phạm Minh Chính là học trò của mẹ tôi. Trong việc thẩm định văn chương, nghiên cứu là vô cùng khó khăn nếu tác giả bài viết không nhận thì tôi thách cơ quan giám định, cơ quan điều tra xác định được.

Chủ tọa: Tôi nhắc nhở bị cáo về cách sử dụng ngôn ngữ tại tòa.

Bà Trang: Tôi nói rằng không ai chứng minh được tác giả của bài viết nếu người viết không xác nhận. Cơ quan điều tra tự dịch tài liệu rồi phát tán rồi gán cho tôi là tác giả và quy chụp trách nhiệm cho tôi là sai trái.

Luật sư Ngô Anh Tuấn: Chúng ta phải thừa nhận rằng, vụ án hình sự nào cũng phải có bị hại, không có bị hại thì có thể có vụ án hay không? Vụ án này bị hại là ai? Theo hồ sơ vụ án, ta có thể hình dung ra hai “bị hại” được nhắc tới, đó là “Chính quyền nhân dân” và “Nhân dân”. “Chính quyền nhân dân” thì bị phỉ báng, còn “Nhân dân” thì bị gây hoang mang!  Nhưng “Chính quyền nhân dân” ở đây cụ thể là ai? Và họ đã bị phỉ báng thế nào, để lại hậu quả gì không, họ đã lên tiếng thế nào…?  “Nhân dân” ở đây là ai và họ đã bị gây hoang mang như thế nào, có ai lên tiếng hay không?

Một vụ án mới đây mà TAND tỉnh Hòa Bình đã xét xử, chúng tôi ghi nhận sự nỗ lực của cơ quan điều tra là đã chứng minh người dân đã bị gây hoang mang, dù chỉ hai người thôi nhưng dù sao thì đó cũng là một cơ sở để cáo buộc bị cáo, còn vụ án này, chúng tôi không thấy bất kỳ một nạn nhân hiện hữu nào! Một vụ án không có nạn nhân thì chúng ta xử tội gì với bị cáo, điều này liệu có công bằng? Đề nghị đại diện Viện kiểm sát đối đáp lại để HĐXX có cơ sở nhận định và ra phán quyết một cách công tâm, khách quan.

Luật sư Nguyễn Văn Miếng: Tại sao hành vi đã diễn ra từ những năm 2016 nhưng không được xử lý? Có chăng cơ quan có thẩm quyền chỉ định xử lý hành chính rồi tới lúc không thể làm gì khác lại đưa ra truy cứu trách nhiệm hình sự?

ĐỐI ĐÁP TIẾP CỦA ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT

Các tài liệu được thu thập bằng tiếng Anh nên được dịch qua tiếng Việt là đúng quy định của pháp luật. Chúng tôi không chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo để kết tội bị cáo mà còn căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhiều bài đăng trên Facebook của bị cáo đã phát tán trên mạng xã hội đã nhận được rất nhiều like và chia sẻ của cộng đồng mạng nên không cần thiết phải chứng minh ai hoang mang hay không. HĐXX tuyên bố chấm dứt phần tranh luận trong khi kiểm sát viên chưa dứt nội dung tranh luận của mình, chuyển sang phần nghị án.

(Kiểm sát viên và các luật sư không kịp phản ứng gì; trước khi chuyển sang phần nghị án, chủ tọa cho phép bị cáo nói lời nói cuối cùng)

LỜI NÓI CUỐI CÙNG CỦA BÀ PHẠM THỊ ĐOAN TRANG

Tôi đề nghị các luật sư, trong phần lời nói cuối cùng của tôi, nếu bị ngắt giữa chừng thì mong các luật sư bảo vệ quyền được nói của tôi.

Bà Trang nói:

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lãnh tụ tinh thần của người Phật giáo Tây Tạng, từng nói một câu đại ý: Chúng ta hãy thử tưởng tượng một thế giới trong đó có cả sáu tỷ người đều theo cùng một tôn giáo thì điều gì sẽ xảy ra khi đó? Chắc chắn là trước sau cũng có một nhóm người thấy rằng tôn giáo đó không còn mang lại lợi ích cho họ nữa, thế là họ tách ra và thế giới có thêm một nhóm tôn giáo khác hoặc một nhóm người không theo tôn giáo nào.

Điều Đức Đạt Lai Lạt Ma nói là để chúng ta thấy rằng bản chất của thế giới này, bản chất của cuộc sống là đa nguyên, và bản chất của con người là hướng tới sự đa nguyên. Chỉ có những kẻ ngu xuẩn mới đi tranh cãi về sự đa nguyên và phủ định sự đa nguyên. Chỉ những kẻ độc ác mới tiêu diệt sự đa nguyên. Và chỉ có những chính quyền cực kỳ độc ác và ngu xuẩn mới tiêu diệt sự đa nguyên bằng cách đàn áp, cầm tù những người bất đồng chính kiến…

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Bà Trang tiếp tục: Trong một xã hội dân chủ, nếu có một công dân viết sách, viết báo hoặc trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài nói lên những điều chính quyền không muốn nghe thì cách hành xử văn minh có thể là gì?

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Bà Trang vẫn tiếp tục: Con người văn minh phải biết tôn trọng quan điểm của người khác. Tôi là nhà báo, tôi phải lên tiếng vì người yếu thế. Tôi không thể làm khác được. Nhân vật Nguyễn Trãi trong vở kịch “Bí mật vườn Lệ Chi” đã nói: “Con thú có thể cắn chết con người nhưng vẫn là con thú. Con người mang trong mình lẽ phải có thể bị sát hại vì lẽ phải, nhưng bảo vệ lẽ phải mãi mãi vẫn là thiên chức của con người”.

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Bà Trang lại tiếp tục: Ngày hôm nay các vị có thể kết án tôi với bất kỳ mức án nào và hả hê đắc thắng vì đã xóa bỏ được một cái gai trong mắt các anh chị nhiều năm nay, nhưng mãi mãi các anh chị không xóa bỏ được tiếng xấu, độc tài, phi dân chủ, phản dân chủ.

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo dừng lại và vào phòng nghị án trong khi bà Trang đang nói.

Ông Phạm Chính Trực, anh trai bà Phạm Đoan Trang ngồi hàng ghế dự khán vỗ tay và nói lời ủng hộ, động viên em gái liền bị cảnh sát tư pháp áp giải ra khỏi phòng xử án.

HĐXX vào phòng nghị án (15h55)

TUYÊN ÁN (17h)

HĐXX tuyên phạt bà Phạm Thị Đoan Trang mức án chín năm tù giam, cao hơn mức đề xuất của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.

P/S: Việc ghi chép của tôi không thể đầy đủ toàn bộ nội dung vì tôi vừa phải chuẩn bị nội dung công việc của mình đánh máy tài liệu nhưng những nội dung tôi ghi là hoàn toàn trung thực, khách quan như lâu nay tôi vẫn thường làm và như chính con người của tôi. Các luật sư đồng nghiệp sẽ bổ sung, nếu còn thiếu sót…

From: TU-PHUNG