Ruột là gốc của nhiều bệnh tật, 


Ruột là gốc của nhiều bệnh tật,
 

4 cách làm sạch và bảo vệ đường ruột

Hoàng Tuấn

Ruột cũng có nhiệm vụ quan trọng trong việc chống lại bệnh tật. Một khi cơ thể con người tồn đọng một lượng lớn độc tố trong ruột, nó sẽ gây tiêu hóa khó hay táo bón, thậm chí ung thư

Y học cổ truyền cho rằng: “Cơ thể người muốn không có bệnh thì ruột phải sạch, muốn sống lâu thì ruột phải trong”. Y học hiện đại tin rằng: “Chức năng tiêu hóa không tốt là căn nguyên của mọi bệnh tật”. Là cơ quan giải độc lớn nhất của cơ thể con người, ruột chịu trách nhiệm cho hầu hết các nhiệm vụ giải độc.

Ruột cũng có nhiệm vụ quan trọng trong việc chống lại bệnh tật. Một khi cơ thể con người tồn đọng một lượng lớn độc tố trong ruột, nó sẽ gây tiêu hóa khó hay táo bón, thậm chí ung thư…

Do đó, việc giải độc, làm sạch ruột và dạ dày, bảo vệ sức khỏe đường ruột là điều cấp thiết.

Vậy trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có những cách nào để làm sạch và bảo vệ đường ruột?

4 cách làm sạch và bảo vệ ruột

Uống nước nhiều hơn

Uống từ 1000ml đến 2000ml nước lọc mỗi ngày là một biện pháp lành mạnh và đơn giản để làm sạch ruột.

Chú ý, bạn nên uống một cốc nước ấm lớn vào mỗi buổi sáng. Thói quen này giúp tẩy rửa ruột hiệu quả, đồng thời có tác dụng bôi trơn đường ruột và loại bỏ độc tố bên trong.

Ngoài ra, uống đủ nước sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất của các tế bào; khi đó, cơ thể bài tiết mồ hôi hoặc đi tiểu thường xuyên sẽ hỗ trợ giải độc tối đa.

Xoa bụng 10 phút trước khi đi ngủ

Cách trực tiếp nhất để đánh giá sức khỏe đường ruột là xem nhu động ruột có bình thường hay không.

Táo bón là nguyên nhân chính dẫn đến sự tích tụ của các chất độc trong ruột.

Khi bạn nhịn đại tiện quá lâu hoặc ăn quá ít thực phẩm giàu chất xơ, phân và các chất cặn bã không được thải bỏ ra ngoài. Đường ruột trong quá trình tái hấp thu sẽ hút nước khiến chúng bị khô, gây ra táo bón.

Hiện tượng này lặp lại thường xuyên sẽ không tốt cho sức khỏe của người đó. Bởi môi trường này dễ sinh vi khuẩn, phá hủy sự cân bằng của hệ đường ruột.

Để giúp đường ruột khỏe mạnh hơn, bạn nên tập thói quen xoa bụng 10 phút trước khi đi ngủ vào mỗi tối.

Khi xoa bụng nên chú ý xoa theo chiều kim đồng hồ. Thoa đều đặn hàng ngày có thể thúc đẩy nhu động ruột, giúp cải thiện tình trạng táo bón.

Thường xuyên ăn nhiều “ngũ cốc thô”

Ngũ cốc thô ở đây bao gồm các loại thực phẩm như yến mạch, gạo lứt, khoai lang…

Trong bữa ăn hàng ngày, bạn có thể bổ sung hoặc thay thế một số thực phẩm thông thường bằng ngũ cốc thô, chẳng hạn như thay gạo bằng khoai lang.

Thực tế, ngũ cốc thô chứa rất nhiều chất xơ. Các thực phẩm này có thể thúc đẩy nhu động ruột, cải thiện chức năng và điều hòa môi trường của hệ vi khuẩn đường ruột.

Đồng thời, chúng ta cũng phải chú ý điều chỉnh chế độ ăn uống, ăn nhiều rau củ quả, giảm hàm lượng chất béo. Nó cũng sẽ giúp bạn nuôi dưỡng đường ruột khỏe mạnh hơn.

Nhai kỹ khi ăn

Nhai kỹ giúp hấp thu tốt hơn các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, đồng thời giúp thức ăn được tiêu hóa nhanh chóng sau khi đi vào đường tiêu hóa; từ đó tránh được các vấn đề như táo bón, tiêu chảy và không dung nạp thức ăn.

Kiên trì tập thể dục hàng ngày

Tập thể dục không chỉ cải thiện khả năng miễn dịch mà còn góp phần giảm căng thẳng, cải thiện cảm xúc.

Thường xuyên vận động cũng có thể thúc đẩy và tăng tốc nhu động ruột, ngăn ngừa nguy cơ lão hóa đường ruột.

Người bị táo bón có thể đồng thời thực hiện các bài tập đối với hậu môn: hít vào bằng bụng dưới, kết hợp co rút hậu môn. Khi thở ra, bạn từ từ thả lỏng bụng và hậu môn.

Làm như vậy 10 đến 15 lượt, mỗi lượt là một lần co và một lần thả; rất hữu ích.

Cuối cùng, chúng ta phải chú ý đến sự ảnh hưởng của cảm xúc, bớt nóng giận và lo lắng, giữ tâm trạng tích cực cũng có lợi trong việc duy trì sự ổn định của hệ đường ruột.

Do thói quen sinh hoạt, ăn uống của con người hiện đại thay đổi nên đường ruột của không ít người trở nên kém khỏe mạnh, dẫn đến nhiều triệu chứng và đủ loại bệnh tật khác nhau.

Vì vậy, chúng ta phải chú ý chăm sóc đường ruột. Ngoài những điểm trên, bạn cũng nên hạn chế đồ cay, ăn nhiều rau quả, ăn uống điều độ trong ngày, giữ tâm trạng vui vẻ, ngủ đủ giấc sẽ giúp đường ruột khỏe mạnh hơn.

Hoàng Tuấn

From: Tu-Phung

Frank Snepp: Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

Frank Snepp: Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

  • Tina Hà Giang
  • Gửi bài cho BBC từ California, Hoa Kỳ

14 tháng 11 2021

Năm nay 78 tuổi, ông Frank Snepp trả lời phỏng vấn của BBC tại Nam California vào cuối tháng 10/2021

Ngày 30/4/1975, Frank Snepp đứng trên nóc Tòa Đại Sứ Mỹ, thất thần chờ chiếc trực thăng cuối cùng đến bốc ông, đưa ra chiến hạm USS Denver, rời Nam Việt Nam, đất nước ông đã phục vụ hai lần, 1969-1972 và 1972-1975.

Nhà phân tích chính về chiến lược Bắc Việt của CIA trong Cuộc chiến Việt Nam trở về Mỹ nhưng có lẽ chưa bao giờ ‘rời khỏi’ Việt Nam. Giờ đây 78 tuổi, Frank Snepp sống một mình trong một chung cư ở West Los Angeles với con chó nhỏ.

Trong phòng làm việc chứa đầy dấu tích của hai chuyến công tác đã thay đổi cả đời mình, Frank Snepp cho chúng tôi biết ông đang viết một cuốn sách nữa về cuộc chiến VN, và cũng đang làm việc với một hãng phim của Úc về sự tham gia của ông trong cuộc chiến này.

Đã gần 50 năm rồi thì còn gì để viết thêm trong sách nữa?

“Tôi còn bị dằn vặt nhiều về những gì đã xảy ra. Tôi thấy mình còn nợ Việt Nam một món nợ tinh thần. Khuôn mặt của bạn bè, người thông dịch, những người đã cộng tác và trung thành với Hoa Kỳ, kể cả những điệp viên, bị bỏ lại trong những ngày cuối cùng hoảng loạn ấy đến giờ vẫn ám ảnh tôi trong những giấc mơ…” Ông tâm sự.

‘Ngày cuối cùng của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn’ mở đầu loạt bài Trò chuyện với Frank Snepp chúng tôi thực hiện cho BBC tại Nam California vào cuối tháng 10/2021.

Đầu tiên là câu hỏi về tình hình Nam VN trước ngày 25/4, khi Frank Snepp đưa ông Nguyễn Văn Thiệu rời khỏi thủ đô Sài Gòn.

Frank Snepp: Ngày 25/4/1975, còn bốn ngày nữa là chiến tranh kết thúc, tình hình thật hỗn loạn. Chúng ta [Mỹ – BBC] chưa thực sự bắt đầu cuộc di tản đáng kể nào. Đã có một số người Mỹ được đưa ra khỏi VN, nhưng nhiều người Việt đã không tìm được đường đi vì Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin tin rằng sẽ có một thỏa thuận với Bắc Việt, và từ đó Mỹ có thể dễ dàng giúp một số người Việt di tản. Ông Martin tin rằng chỉ cần đưa ông Nguyễn Văn Thiệu khỏi hiện trường, thì sẽ có được thỏa thuận, bất kể những gì điệp viên giỏi nhất của VNCH đã cảnh báo trước đó.

Ông Thiệu đã từ chức hôm 21/4. Ông bị áp lực từ chức vì Đại sứ Martin đưa cho ông xem một nghiên cứu tôi đã thực hiện cho CIA. Nghiên cứu cho thấy nhiều người ở Sài Gòn muốn lật đổ Thiệu vì tình hình chiến sự rất tồi tệ. Lực lượng 140 ngàn quân Bắc Việt đang bao quanh Sài Gòn.

Từ chức rồi nhưng ông Thiệu vẫn chưa ra đi và vẫn còn ảnh hưởng. Phe cộng sản Bắc Việt không biết điều gì sẽ xảy ra. Họ không rõ liệu ông có tìm cách nắm quyền trở lại. Đối thủ chính trị của ông Thiệu, như Nguyễn Cao Kỳ, cũng không biết ông Thiệu sẽ có dở trò gì để tiếp tục quay lại nắm quyền. Trước tình hình đó, ông Trần Văn Hương, tổng thống mới lên thay ông Thiệu, đến gặp đại sứ Martin nhờ đưa ông Thiệu rời khỏi hiện trường, vì sự có mặt của ông lúc đó tại VN, theo ông Hương, bị đánh giá là khiến cho tình thế khó lường.

Ông chính thức nhận được lệnh phải đưa ông Thiệu rời khỏi VN lúc nào, trong hoàn cảnh ra sao?

Frank Snepp: Đại sứ Martin đến gặp ông Thomas Polgar, Trưởng Văn phòng CIA tại Sài Gòn, thượng cấp của tôi, 24/4, một ngày trước khi chúng tôi đưa ông Thiệu đi. Ông Martin nói phải làm thế, vì ông Thiệu đang là yếu tố gây ra rối loạn.

Chụp lại video,

Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

Ông Thiệu lúc ấy buồn khủng khiếp. Ông Hoàng Đức Nhã, em họ của ông ấy khuyên ông đừng có động tĩnh gì, hãy giống như Napoléon ở Elba, ngồi yên và chấp nhận số phận. Bà Thiệu thì lo rằng ai đó sẽ sát hại gia đình bà hoặc chồng bà, và đã rời khỏi VN, bay qua Bangkok.

30/04: Tổng thống Minh và văn thư yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam

Xung quanh vụ Hoàng Phủ Ngọc Tường ‘xin lỗi’ về Mậu Thân

Có những ngày 30/04 trước 1975 và mãi mãi về sau

Tối ngày 24/4, Đại sứ Martin bắt đầu làm việc với CIA để di tản ông Thiệu. Việc đưa ông Thiệu đi khỏi Việt Nam lúc đó là một trong những hoạt động nguy hiểm nhất mà CIA chúng tôi phải thực hiện.

Tại sao việc đưa ông Thiệu rời khỏi VN lại là một công tác nguy hiểm như vậy, thưa ông?

Frank Snepp: Sếp tôi, ông Polgar sau này kể lại rằng việc đưa ông Thiệu đi diễn ra rất nhịp nhàng, nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. Việc ông Polgar nói là nhịp nhàng là việc thu xếp sao để có một chiếc máy bay. Đó là chiếc máy bay mà chính ngài đại sứ từng dùng khi đi ra nước ngoài. Nó là chiếc máy bay tầm ngắn, nhưng có thể bay đến Đài Loan, nơi mà anh trai ông Thiệu làm đại sứ, vì vậy được cho là một nơi trú ẩn an toàn cho ông Thiệu. Chiếc máy bay đó được đưa đến, và giấu kín trong một khu của phi trường Tân Sơn Nhất.

Bí mật là điều tối quan trọng trong việc đưa ông Thiệu đi, chúng tôi lo là nếu ai đó, như ông Nguyễn Cao Kỳ, biết được việc này, họ có thể thực hiện một cuộc đảo chính vào phút cuối và ông Thiệu có thể bị ám sát.

Tình hình như thế nào trong ngày 25/4, ngày ông Thiệu được CIA đưa ra khỏi VN, ông còn nhớ không?

Frank Snepp: Một số việc xảy ra sáng ngày 25/4 khiến tình hình thêm rối rắm. Người Nga phản hồi đề nghị của Mỹ, nói rằng có vẻ như Bắc Việt sẽ không cố làm bẽ mặt Hoa Kỳ. Henry Kissinger, cố vấn an ninh đặc biệt của Tổng thống Ford, diễn giải thông điệp này của Liên Xô là chúng ta (Hoa Kỳ) vẫn còn thời gian để thương lượng một thỏa thuận với Bắc Việt. Một lần nữa, đây là một phán đoán hết sức sai lầm. Nhưng việc đưa ông Thiệu đi khỏi VN lúc đó với hai ông Kissinger và Martin là một phần của kế hoạch biến cuộc dàn xếp chính trị mà họ nghĩ là sẽ có ngày thành hiện thực. Vì vậy, sáng hôm đó có sự phấn khích rất lớn, với suy nghĩ là phe Liên Xô cũng đang chuẩn bị cho điều này, bắt phía Bắc Việt phải có một thỏa thuận nào đó.

Yếu tố thứ hai tạo ra căng thẳng lớn ngày hôm đó, là chúng tôi nhận được tin từ Hà Nội – một tín hiệu giả, rằng Bắc Việt sẵn sàng cho phép Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở lại Sài Gòn sau khi ngừng bắn. Điều đó có nghĩa là có vẻ như Bắc Việt sẽ không xóa sổ miền Nam VN, họ sẽ cho phép một chính phủ Nam VN được tồn tại ngay cả khi Bắc Việt chiếm xong được Sài Gòn. Và nếu chính phủ này tồn tại, thì Tòa Đại sứ Hoa Kỳ có thể tiếp tục hoạt động tại Sài Gòn. Vì vậy, giới lãnh đạo nuôi kỳ vọng vào sáng 25/4, là đơn giản chỉ cần ông Thiệu biến mất, thì một phép màu sẽ xảy ra.

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu (bìa phải) trong một cuộc họp với Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, người thứ nhì trong hình từ phải sang, đang nhìn vào ông.

Chiều hôm đó, sếp CIA Polgar và đại sứ Martin bảo tôi là phải tham gia vào điệp vụ này. Tôi sẽ là tài xế của ông Thiệu, và đi cùng xe với ông Thiệu sẽ có cựu Thiếu tướng Charles Timmes, người đã giải ngũ, hiện đang làm việc cho CIA, và cũng là người biết ông Thiệu rất rõ.

Chuyến đi cuối cùng của ông Thiệu ra phi trường:

Cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm được thu xếp làm thành phần của đoàn xe này. Ông Khiêm sẽ ngồi trong chiếc xe đi đầu, do một đồng nghiệp CIA của tôi cầm tay lái. Sếp tôi, ông Tom Polgar, sẽ ngồi trong chiếc xe đi đầu đó. Ông Polgar cũng đã mời một sĩ quan cảnh sát cao cấp của VNCH tham gia công tác này, vì ông dự trù là lỡ đoàn xe bị chặn trên đường đến phi trường Tân Sơn Nhất, thì sẽ có sẵn một sĩ quan cảnh sát cấp cao của Nam VN giúp chúng tôi thoát hiểm. Lúc đó những con đường quanh nơi ông Thiệu trú ẩn, cách không xa phi trường Tân Sơn Nhất lắm, đã bị chặn khắp nơi, và với giới nghiêm, không ai được ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.

Sài Gòn là một trong bốn cuộc thoái lui lớn của người Mỹ

Ngài đại sứ và Thái Lan trong cuộc chiến VN

Nếu mất Huế TT Thiệu ‘đã sụp đổ’ từ 1972

Nixon đã cản trở hòa đàm ở Việt Nam thế nào?

Chương trình là chúng tôi sẽ lái xe khoảng 10 phút từ điểm hẹn đến một khu vực đen kịt không thắp đèn của Tân Sơn Nhất. Chúng tôi phải di chuyển trong bóng tối, và phải đưa hai ông Thiệu, Khiêm an toàn lên máy bay.

Nhận được lệnh vào khoảng 5 giờ chiều hôm đó, tôi vô cùng lo lắng, vì biết có nguy cơ rất lớn là có thể sẽ có nỗ lực ngăn chặn đoàn xe, và chúng tôi có khi sẽ phải nổ súng để thoát. Vì vậy tôi dấu vũ khí trong túi và một khẩu súng lục bên dưới chỗ ngồi. Tất cả những người Mỹ khác tham gia vào điệp vụ này, và những người đi cùng xe với ông Trần Thiện Khiêm, cũng trang bị vũ khí, sẵn sàng cho một cuộc đọ súng khủng khiếp.

Không ai có ảo tưởng nào, rằng nếu thực sư có âm mưu đảo chính, hoặc âm mưu ám sát ông Thiệu, chúng tôi sẽ thoát hiểm dễ dàng. Bởi chúng tôi nghĩ rằng bất cứ kẻ nào tìm cách ngăn chặn đoàn xe cũng sẽ bị trang bị vũ khí tận răng. Kẻ thù ở khắp nơi. Quân đội Bắc Việt lúc ấy chỉ còn cách Sài Gòn khoảng 20 phút.

Bối cảnh xung quanh việc đưa ông Thiệu ra khỏi VN đã diễn ra như thế nào, thưa ông?

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Phi trường Tân Sơn Nhất những ngày cuối cùng của VNCH

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp (bìa phải) và Tướng Nguyễn Cao Kỳ (giữa)

Frank Snepp: Khi đoàn xe bắt đầu đi, dọc theo ngoại ô Sài Gòn tên lửa bắn vút lên trời. Và khi tập trung tại tư dinh của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tại Bộ Tổng Tham Mưu của VNCH, điểm khởi đầu của cuộc hành trình, khá gần Tân Sơn Nhất, qua radio chúng tôi nghe thấy tiếng đạn nổ, dấu hiệu cho thấy đang chạm súng ngay tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở trung tâm Sài Gòn, cách đó khoảng năm dặm.

Tình hình lúc đó căng thẳng khủng khiếp. Sếp tôi, ông Polgar đã quên viết giấy thông hành (parole) cho ông Thiệu. Thời đó, nếu muốn được Hoa Kỳ bảo trợ và di tản, bạn phải có giấy thông hành, nhưng trong lúc vội vàng, ông Polgar đã quên. Vì thế Polgar và tướng Timmes hôm ấy phải bước vào căn nhà nơi mọi người tụ họp, loay hoay ký giấy tờ để ông Thiệu có thể hợp pháp đáp chuyến máy bay của Hoa Kỳ rời Việt Nam. Khung cảnh hết sức hỗn loạn.

Chiếc xe tôi lái là xe của Tòa Đại sứ đã được ngụy trang. Chúng tôi đã thay bảng số để nó trông giống như một chiếc xe ngoại giao bình thường. Tất cả xe khác cũng được ngụy trang tương tự. Chúng tôi làm thế để giảm thiểu nguy hiểm.

Ông Thiệu đợi chúng tôi ở một ngôi nhà gần đó. Tôi thì đứng bên ngoài căn nhà ở điểm hẹn, chờ ông đến. Tôi nhớ là ông Thiệu đến bằng xe Mercedes, nhưng có người nói là ông Thiệu đi bộ tới. Ông Thiệu trang phục đẹp đẽ, trông như một người mẫu của tạp chí Quý ông Lịch lãm (Gentlemen’s Quarterly) vùng Viễn Đông. Tóc ông vuốt ngược ra đằng sau, và mặt bôi kem, trông ông cực kỳ ấn tượng và tự chủ.

Nhưng người bạn của chúng tôi, vị cựu tổng thống, đã uống một chút, vì từ người ông tôi ngửi thấy mùi rượu whisky và mùi nước hoa đắt tiền. Tôi nhớ rõ như in điều này, bởi vì cảm quan của tôi lúc ấy cực kỳ bén nhậy, tôi cảm nhận được mọi thứ quanh mình, được môi trường chung quanh, rằng bóng tối lúc đó đang buông xuống và những loạt đạn pháo đang được bắn ra, tên lửa xẹt qua lại, chỉ cách đó một quãng ngắn.

Hai ông đến gần đoàn xe và ông Thiệu chui vào sau xe của tôi. Tướng Timmes, người Mỹ được cử tháp tùng ông Thiệu, cũng là một người bạn cũ của ông, cùng ngồi ghế sau với ông ấy. Tôi nhớ là hình như một hay hai vệ sĩ của ông Thiệu cũng đã ngồi vào phía sau. Tôi không nhớ rõ lắm là vì lúc đó đang ngồi ghế tài xế và luôn nhìn chằm chằm vào kính chiếu hậu, để xem có ai tiến gần đến xe của chúng tôi từ hai bên. Chỉ nhớ rõ là tướng Timmies ngồi cạnh ông Thiệu, và trước khi tôi kịp tra chìa khóa vào xe, một vài phụ tá của ông Thiệu từ đâu xuất hiện khiêng những chiếc vali. Họ mở cửa sau xe của tôi và bỏ vali vào.

Trong cuốn ‘Decent Interval’ ông viết là những chiếc vali này chứa đôla hay vàng, ông có thể nói rõ về việc này?

Frank Snepp: Khi viết phiên bản đầu tiên của hồi ký về sự kiện này, tôi nói mình nghe thấy tiếng kim loại va vào kim loại. Trước đó, tôi cũng đã được nghe nói rằng ông Thiệu có thể sẽ mang theo một số vàng của ông lên xe khi ra đi. Thực thế, ông Polgar, cấp trên của tôi, người sắp đặt tất cả mọi việc, đã nói điều này có thể xảy ra. Sau này có rất nhiều tranh cãi về việc những vali đó có vàng không. Tôi phải nói cho bạn biết điều này, là không ai biết chắc về việc này ngoại trừ ông Thiệu, tôi, và có thể một vài người khác.

Tất cả những người bình luận về sự việc, gồm cả ông Polgar, cũng không biết rõ. Tôi là người ngồi trong xe, tôi thấy mọi người bước ra từ bóng tối và tôi thấy họ bỏ vali vào xe và nghe thấy tiếng chạm của kim loại từ những vali đó. Nhân tiện, tôi cũng muốn nói thêm là tôi chưa bao giờ có ý nói là ông Thiệu mang vàng từ Ngân khố Quốc gia đi theo. Tôi nghĩ ông chắc chắn đã mang theo một số tài sản của riêng mình, bởi vì ông không chắc sẽ bao giờ quay trở lại Việt Nam. Vì vậy, điều đó hoàn toàn hợp lý. Ngoài ra, Ngân khố Quốc gia của VNCH vẫn nằm nguyên trong Ngân hàng Quốc gia ở Sài Gòn.

Đoàn xe đưa ông Thiệu và tùy tùng đi có đông không, và khung cảnh Sài Gòn lúc đó thế nào?

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp trên nóc Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn trước ống kính phóng viên BBC của Anh Quốc thời đó

Frank Snepp: Đoàn có bốn chiếc xe. Xe chở ông Khiêm đi đầu, xe tôi là xe thứ hai, có chiếc xe thứ ba, và tôi nghĩ còn có một chiếc xe thứ tư đi theo sau chúng tôi. Khi chúng tôi ra khỏi khu Bộ Tổng Tham Mưu hướng tới phi trường Tân Sơn Nhất, thì đã khoảng bảy hoặc tám giờ tối. Đường phố tương đối vắng vẻ, ngoại trừ các trạm kiểm soát. Nhìn đâu tôi cũng thấy trạm kiểm soát. Quân lính miền Nam VN và cảnh sát có mặt khắp nơi. Và nỗi lo sợ của chúng tôi là, một trong những người ở các kiểm soát này sẽ tìm cách làm nên lịch sử, ngăn chặn đoàn xe và giết chết ông Thiệu. Tôi được giao trọng trách đưa ông an toàn ra khỏi VN, và tôi cảm được trách nhiệm nặng nề khủng khiếp này.

Khi xe chuyển bánh, tướng Timmes bắt đầu trò chuyện với ông Thiệu. Họ nhắc lại chuyện ngày xưa, lúc ông Thiệu còn là tư lệnh Quân khu I, một trong những vùng phe cộng sản hiện đang chiếm giữ. Và ngay giữa lúc đó, tướng Timmies giới thiệu tôi với ông Thiệu, nói tôi là nhà phân tích giỏi nhất của Tòa Đại sứ, và vì thế, ông Thiệu đang được một ‘tài xế hạng sang’ chở ra phi trường. Ông Thiệu nói đùa một cách mơ hồ rằng tài xế ở đây lái xe giỏi hơn ở Bangkok nhiều, và tài xế ở Bangkok khá bạt mạng. Đó là cảnh tượng kỳ quái nhất mà bạn có thể hình dung được. Tôi thực sự sững sờ trước cuộc trao đổi qua đó ông Thiệu trông có vẻ rất thoải mái, nhưng đồng thời, cũng rất căng thẳng. Tôi có thể nhìn thấy gương mặt của ông trong gương chiếu hậu.

Đoàn xe phóng về phía trước, chúng tôi qua một trạm kiểm soát, một trạm nữa, và được vẫy tay cho đi. Có ông đại tá cảnh sát người Việt ngồi trong chiếc xe dẫn đầu vẫy tay chào và dẫn đường, không ai nhìn xem trong đoàn xe có những ai. Tôi nghĩ có lẽ họ nghĩ đây là một đoàn xe ngoại giao đang trên đường đến một cuộc họp ngoại giao nào đó. Họ không nhận ra rằng chúng tôi đang đưa cựu Thủ tướng Chính phủ và cựu tổng thống của đất nước họ đến nơi an toàn.

Khi đến gần phi trường, chúng tôi đi ngang qua đài tưởng niệm có hàng chữ “Sự hy sinh cao cả của đồng minh sẽ không bao giờ bị lãng quên’‘, được xây để tưởng niệm những người lính Mỹ đã chết ở VN. Khi xe vượt hẳn khỏi qua nơi này, tôi chợt liếc vào gương chiếu hậu, và nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt ông Thiệu.

Sau này, một số người không có mặt ở đó bàn rằng ông Thiệu chắc chẳng bao giờ khóc. Tại sao không? Ông ấy đang rất đau buồn. Ông đang mất đi đất nước của mình. Ông giống như Napoléon bị đày lên đảo Elba. Ông hoàn toàn là một kẻ lưu vong. Ông bị mọi người ghét. Người Mỹ cho rằng ông là chướng ngại vật của một thỏa thuận có thể cứu mạng sống của mọi người, muốn tống cổ ông đi, địch thủ chính trị muốn giết ông, và ông bị người tham gia vào công tác này ghét bỏ.

Cảm nhận của cá nhân ông về ông Nguyễn Văn Thiệu lúc đó ra sao?

Frank Snepp: Tôi không ghét ông ấy. Tôi chỉ đơn giản muốn ông được an toàn đến sân bay. Nhưng tôi không có ảo tưởng nào về sự thù địch mà ông Thiệu phải đối diện ở khắp nơi. Với tư cách cá nhân tôi vô cùng xúc động khi thấy một người đang lâm cảnh tột cùng tuyệt vọng. Tôi cũng kinh ngạc thấy ông có thể tự chủ được đến vậy. Ý tôi là, đang phải đối mặt với sự sỉ nhục lớn nhất mà bất kỳ tổng thống nào của một nước phải đối mặt mà ông vẫn kiềm chế được, nhưng lại rơi nước mắt cho những người Mỹ đã hy sinh ở VN. Khoảnh khắc ấy tôi không bao giờ quên.

Đoàn xe tiếp tục đi. Có lúc chúng tôi bị chặn lại. Thấy ông đại tá cảnh sát người Việt trong xe đi đầu nói chuyện với những người ở trạm kiểm soát, tôi đã nghĩ chết cha, có thể gặp chuyện rồi, đây có thể là lúc súng sẽ nổ và mọi người sẽ chết. Nhưng chúng tôi được vẫy tay cho đi. Rồi cũng đến khu vực của phi trường, nơi chúng tôi sẽ bàn giao ông Thiệu, ông Khiêm và những người còn lại trong nhóm họ. Tất cả đèn thình lình tắt ngúm. Trời tối đen như mực. Tôi làm mờ đèn xe đi như được yêu cầu và cứ thế lái trong bóng tối, không nhìn thấy gì.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu hồi tháng Hai 1975

Bỗng nhiên, ngay phía trước xe, trong bóng tối mù mờ, tôi thấy sếp Polgar đang chạy xuống phi đạo. Xe tôi suýt nữa đụng vào ông. Tôi thắng gấp và mọi người ở đằng sau bay về phía trước, đập vào lưng ghế của tôi. Ông Thiệu và tướng Timmes bị trượt khỏi ghế ngồi. Quang cảnh lúc ấy giống một khúc phim hài, nhưng đồng thời cũng rất khủng khiếp. Tôi xin lỗi, và xe nhích về phía trước.

NGUỒN HÌNH ẢNH,ẢNH TƯ LIỆU

TT Thiệu trong một lần trao tặng huân chương cho ông Hoàng Đức Nhã

Cuối cùng tôi thấy dáng chiếc máy bay đợi đón ông Thiệu, và dừng xe lại. Đại sứ Graham Martin đã đến đây bằng nẻo đường khác, vì chúng tôi không muốn tất cả các vị chức sắc này tụ họp ở cùng một chỗ và cùng bị giết chết, nếu có một cuộc phục kích. Đại sứ Martin đang chờ để nói lời từ biệt với vị tổng thống cuối cùng của đất nước mà chúng tôi ủng hộ. Tướng Charles Timmes ra khỏi xe. Ông Thiệu vươn tay nắm lấy tay tôi, nói bằng thứ tiếng Anh có giọng Pháp. Cảm ơn bạn. Cảm ơn bạn.

Tôi thật xúc động. Biết đâu ông Thiệu chẳng có lúc ngờ rằng tôi có mặt trong chiếc xe đó để giết ông. Ông không thể nào biết chúng tôi là ai, mà chỉ có một lựa chọn là phải tin rằng người Mỹ sẽ cứu và đưa ông đến chốn an toàn. Trên thực tế, nếu chúng tôi giết ông thì cũng giải quyết được vấn đề. Phe cộng sản chỉ muốn ông Thiệu biến mất. Họ không quan tâm là chúng tôi đưa ông di tản hay cho ông ‘nằm đất’. Vì vậy, nếu tôi là ông Thiệu, chắc tôi đã rất lo không biết người đàn ông lái xe này đưa mình đi là ai. Nhưng ông cảm ơn tôi. Tôi không nói gì, nhưng tự hỏi có phải ông cám ơn vì 55,000 người Mỹ đã bỏ mình ở VN? Những ý nghĩ này tôi nhớ rõ, do luôn mang theo mình một cuốn sổ tay, và sau đêm đó, tôi viết ngay xuống những gì đã xảy ra, vì biết mình vừa sống qua những thời khắc của lịch sử.

Sau gần 50 năm giờ ôn lại việc Hoa Kỳ đưa ông Thiệu ra khỏi VN lúc đó, ông có những suy nghĩ gì?

Frank Snepp: Phải nói tôi mãi bị ám ảnh với dằn vặt và hối tiếc. Suy nghĩ lúc đó của Đại sứ Martin, và của Ngoại trưởng Henry Kissinger là sự biến đi của ông Thiệu sẽ giúp họ có được một thỏa thuận với phe cộng sản. Họ tin như vậy bất kể việc Võ Văn Ba, điệp viên giỏi nhất của VNCH, người mà tôi đích thân tiếp xúc, đã cảnh báo họ hai lần, trong hai luần lễ trước đó, rằng phe cộng sản sẽ không thương lượng gì cả, mà sẽ tiến chiếm Sài Gòn kịp để ăn mừng sinh nhật Hồ Chí Minh. Họ bị đối phương lừa ngay từ đầu và tin kẻ thù hơn tin chính người của mình.

Điều này có nghĩa gì? Việc khăng khăng ôm lấy ý tưởng sẽ đạt được một thỏa thuận với Bắc Việt sau khi đưa ông Thiệu ra khỏi VN, đã khiến đại sứ Martin cảm thấy không cần phải có ngay một kế hoạch lớn để di tản một cách có trật tự những người Việt đã làm việc với và trung thành với Hoa Kỳ. Đại sứ đã trì hoãn kế hoạch đó cho đến những phút cuối hoảng loạn.

Chỉ vài giờ sau khi ông Thiệu ra đi, Henry Kissinger nói chúng ta sẽ có ba tuần để tiếp tục sơ tán, rồi sẽ có các cuộc đàm phán, sau đó chúng ta sẽ có một chính phủ liên minh. Graham Martin cũng tin như vậy. Điều đó điên rồ, và rất nhiều người Việt Nam tôi biết đã phải trả giá cho sự điên rồ đó bằng mạng sống của họ. Nhiều người bị giam giữ, nhiều người khác bị giết chết, kể cả đặc vụ giỏi nhất mà chúng tôi có. Nỗ lực đưa ông Thiệu rời VN là một trong những công tác nguy hiểm nhất của CIA ở Việt Nam, nhưng nó là điều vô nghĩa, mà chỉ củng cố cho ảo ảnh là chúng tôi vẫn còn nhiều thì giờ để hành động.

Tôi còn nhớ rõ cảnh ông Thiệu ra khỏi xe bước về hướng máy bay tối hôm ấy. Đoàn tùy tùng của ông làm theo, và tôi cũng ra khỏi xe. Đạn và tên lửa vẫn bay vèo vèo dọc theo vành đai thành phố. Đại sứ Martin không nói gì với ông Thiệu ngoài lời từ giã. Và khi ông Thiệu mất hút vào lòng máy bay, ông đại sứ thình lình bước xuống khỏi thang máy bay, rồi cúi người, nắm lấy chiếc thang (ramp), dựt băng nó ra khỏi chiếc máy bay. Tôi chạy đến hỏi tôi có thể giúp gì ông được không. Không! không! Ông xua tay.

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp nhận huy chương trong thời gian phục vụ ở VNCH

NGUỒN HÌNH ẢNH,BETTMANN

Graham Martin là đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng tại VNCH bước lên trực thăng rời thành phố Sài Gòn

Tôi nhớ đã nghĩ hình như những gì vị đại sứ Mỹ đang làm là xé đứt chúng tôi khỏi tất cả những gì đã trói buộc nhau trong quá khứ. Ông vừa từ biệt vị tổng thống mà Hoa Kỳ đã ủng hộ trong 5, 6 năm. Mọi hình ảnh trong tôi đến giờ còn rất sống động. Đại sứ Martin lúc đó đeo kính gọng sừng. Trông ông giống như một giáo sư, chứ không giống một vị đại sứ đã chủ trì một trong những khoảnh khắc xấu hổ lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và chắc chắn là của lịch sử VNCH. Tôi hỏi đại sứ còn cần tôi làm gì nữa không. Ông nói không. Xong rồi. Xong rồi. Xong rồi…

Bài do nhà báo tự do Tina Hà Giang và người quay phim Dân Huỳnh thực hiện cho BBC. Mời quý vị đón xem bài tới về điệp vụ mà Frank Snepp cho là quan trọng nhất của CIA ở Việt Nam trước 1975.

Pháp kêu gọi láng giềng hỗ trợ sau vụ 27 di dân thiệt mạng ở biển Manche

RFI Tiếng Việt 

Hôm qua 25/11/2021 Pháp thông báo huy động lực lượng cứu hộ dự bị nhằm ngăn chặn những thảm kịch khác ở biển Manche, nơi 27 người đã chết hôm 24/11/2021 khi tìm cách vượt biển từ Pháp sang Anh. Chính quyền Pháp cũng kêu gọi tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, bắt đầu từ Vương quốc Anh, trong cuộc chiến chống lại nhập cư bất hợp pháp.

Khinh trí thức

Khinh trí thức

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Hưng Quốc

26-11-2021

Ở giới lãnh đạo Việt Nam, có một nghịch lý: một mặt, họ có vẻ chuộng bằng cấp, ai cũng có vẻ muốn có bằng cấp thật cao và tạo cơ hội cho các cán bộ dưới quyền có bằng cấp thật cao, kể cả bằng giả hoặc bằng dỏm; nhưng mặt khác, họ lại không che giấu được sự khinh bỉ cố hữu đối với trí thức.

Nói “cố hữu” vì nó gắn liền với bản chất giai cấp của đảng Cộng sản. Có lẽ không ai không biết câu ví trí thức với cục phân của Mao Trạch Đông tại cuộc hội nghị văn nghệ ở Diên An năm 1943. Mấy năm sau, câu nói ấy được du nhập vào Việt Nam và được giới văn nghệ sĩ, trí thức học tập ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Nguyễn Thành Long kể:

“Khi đọc tài liệu Văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông, tôi còn nhớ nguyên văn một câu gây ấn tượng dai dẳng trong tôi: ‘Trí thức là cục phân’. Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình.” (Phong Lê (chủ biên) (1995), Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1854, Hà Nội: nxb Khoa học xã hội, tr. 527)

Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ năm 1945, đặc biệt, từ 1954 về sau, người ta có thể dễ dàng tìm thấy vô số bằng chứng về chính sách đối xử tàn tệ đối với giới trí thức, kể cả những trí thức được coi là cực kỳ xuất sắc, là những niềm tự hào hiếm hoi mà dân tộc Việt Nam có được. Thì cứ nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), Trần Đức Thảo (1917-1993), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trương Tửu (1913-1999) mà xem. Có thể nói họ là bốn đỉnh cao trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn trước cách mạng tháng Tám.

Người đầu tiên nổi tiếng là học giỏi (22 tuổi có hai bằng tiến sĩ ở Pháp) và là luật sư giỏi; người thứ hai được xem là triết gia duy nhất có tầm vóc quốc tế của Việt Nam cho đến thời điểm này; người thứ ba, bằng con đường tự học, trở thành một dịch giả, một sử gia, một nhà từ điển học và văn hoá học lừng lẫy; còn người cuối cùng là một nhà phê bình và lý thuyết văn học vừa uyên bác vừa tài hoa. Vậy mà, suốt mấy chục năm, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả đều bị hắt hủi, thậm chí, dập vùi một cách vô cùng tàn bạo. Họ không những đói, khổ mà còn bị nghi ngờ và khinh bỉ. Công việc duy nhất mà một vài người trong họ có thể làm được là dịch thuật. Nhiều khi dịch mà vẫn không được phép ghi tên trên tác phẩm mình dịch.

Tất cả chỉ được khen ngợi sau khi… chết.

Khi khen ngợi, người ta cũng tảng lờ đi những năm tháng họ bị ruồng rẫy.

Và người ta cũng tảng lờ đi là, cho đến sau này, nhiều tài năng khác, hay trí thức nói chung, vẫn tiếp tục bị khinh rẻ.

May, không phải ai cũng tự lừa mình hay lừa người khác như vậy.

Đã có nhiều người lên tiếng. Trước, lên tiếng ở những chỗ riêng tư. Sau, dần dần, họ lên tiếng một cách công khai.

Người lên tiếng nhiều và cay đắng nhất có lẽ là nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh. Ông nói đi nói lại nhiều lần. Một lần, trong bài viết “Phê bình văn học trong trong tình hình mới” đăng trên báo Văn Nghệ (Hà Nội) số ra ngày 29-8-1987, ông viết: “Người ta thích nói một cách chung chung, nền văn học của ta đã trưởng thành, văn nghệ sĩ của ta là những chiến sĩ, những anh hùng, nhưng đối với văn nghệ sĩ thì coi như con nít”. Lần khác, trong một cuộc hội thảo bàn tròn do báo Văn Nghệ tổ chức cũng được tường thuật trên số báo vừa dẫn, ông lại nói: “Nhà văn cũng bị coi là con nít: sợ họ hư nên người ta thích bật đèn đỏ, đèn vàng, chứ ít khi bật đèn xanh cho văn nghệ phát triển.” Lần khác nữa, trong buổi họp mặt giữa Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng, với khoảng 100 văn nghệ sĩ Hà Nội, vào tháng 10 năm 1987, Nguyễn Đăng Mạnh phát biểu: “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ.”

Sau này trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh lại lặp lại ý kiến ấy khi nói đến sự kiện một số cán bộ lãnh đạo sử dụng một số cây bút đàn em để đánh phá những văn nghệ sĩ và học giả mà họ không thích:

“Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn […]. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến.”

Liên quan đến chuyện khinh bỉ giới trí thức, những lời kể của Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” về Đinh Đức Thiện, em ruột của Lê Đức Thọ, khá thú vị:

“Trong cuộc đời không dài Ðinh Ðức Thiện đã giữ những chức vụ rất quan trọng – bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim, Trưởng ban xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí, hàm thượng tướng. Ông ít học. Trình độ học vấn không quá bậc sơ đẳng. Thế nhưng Ðinh Ðức Thiện khinh trí thức lắm. Ông hạ lệnh cho các kỹ sư điện tính toán thời hạn lắp đặt đường dây cao thế Thái Nguyên – Hà Nội. Họ tính kỹ rồi báo cáo lên Ðinh Ðức Thiện: không thể dưới hai năm. Ông ta nghe xong liền nổi khùng: ‘Rặt một lũ ăn hại đái nát! Làm chó gì mà mất những hai năm. Tôi mà ra lệnh cho công binh làm ấy à, chỉ hai tháng là cùng. Tính với chả toán, tính như con c… Các anh lúc nào cũng cúi đầu làm theo sách vở của bọn thực dân đế quốc. Vào rừng chặt cây về mà làm cột, mắc điện vào. Là xong. Trí thức với chả trí ngủ!’ Người kể lại chuyện này là một kỹ sư tốt nghiệp Cao đẳng kỹ thuật thời Pháp, hôm ấy được nghe Ðinh Ðức Thiện trực tiếp quát mắng.

[…]

“Có một thời sự thiếu học được coi là niềm tự hào – người ít học là người có quá khứ trong sạch, không dính với thực dân, phong kiến. Ðinh Ðức Thiện tự hào về sự thiếu học của mình lắm. Ông vỗ ngực đồm độp: ‘Xem tao đây này, tao chẳng có cái bằng chó nào hết, thế mà tiến sĩ kỹ sư sợ tao một phép. Chúng nó ỷ có học, nhưng học gì lũ chúng nó, học vẹt ấy thì có, rời sách vở ra là chịu chết. Trí thức mà không có thực tế chỉ là cục c… Chính tao này, tao chỉ đạo kỹ thuật cho chúng nó, chứ ai? Nghe cái bọn quen bơ thừa sữa cặn ấy chỉ có mà ăn cháo, ăn cháo!’’

Đọc xong câu chuyện ấy, tự dưng tôi nhớ đến câu chuyện do Huỳnh Thúc Kháng kể trong cuốn “Thi tù tùng thoại”: Khi bị giam ngoài Côn Đảo, ông và một số người khác – toàn là dân khoa bảng chống Pháp – bị bắt đi đập đá. Thấy mọi người làm việc vụng về, tên cai ngục, vốn là một đứa vô học, cầm roi gõ vào đầu từng người hỏi: “Mày làm gì?” Người kia đáp: “Dạ, Cử nhân.” Hắn quất cho một roi, rồi nói: “Cử nhân nè!” Hỏi người khác: “Mày làm gì?” Đáp: “Dạ, Tiến sĩ” Hắn quất cho một roi và nói: “Tiến sĩ nè!”

Cứ thế, hết người này đến người khác.

Đau xót, Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ:

Tấn sĩ nhỉ hà vật
Ngôn ngữ thái ngạo mạn
Tặng nhỉ nhứt trường tiên
Sử tri ngã thủ đoạn

Ông tự dịch:

Tiến sĩ là cái gì
Ăn nói rất vô lễ
Cho mày một ngọn roi
Mày biết tay tao nhé!

Đọc, cứ tưởng như chuyện hài hước.

Vậy mà chúng có thực. Có thực, thời Pháp thuộc. Có thực, thời cách mạng. Và không chừng cũng có thực, cả đến tận bây giờ nữa.

Đừng dùng đôi mắt để đánh giá tâm hồn

 May be an image of text

Một người làm nghề bảo vệ, làm thuê cho một gia đình giàu có, công việc không quá áp lực chỉ đơn giản là mở cửa xe cho chủ nhà và gác cổng, nhưng thái độ của ông chủ luôn khiến anh cảm giác như mình bị hắt hủi. Mỗi sáng, khi xe ông chủ đi đến cổng, anh đều gập đầu cúi chào và chiều về cũng vậy; nhưng anh chưa bao giờ nhận lại từ ông một cử chỉ đáp lại.

Cứ chiều về, anh thường tranh thủ chạy ra bên ngoài tìm kiếm đồ ăn thừa trong túi rác bên ngoài biệt thự. Có lần, anh bị ông chủ bắt gặp, nhưng ông cũng không biểu hiện một thái độ nào trên nét mặt. Sự lạnh lùng của ông chủ khiến anh có một cảm giác khó chịu nổi lên trong tâm mình.

Cũng kể từ ngày đó,anh thường hay thấy một túi giấy sạch sẽ, bên trong đựng rất nhiều thức ăn ngon được gói bọc cẩn thận đặt tại nơi mà anh vẫn lui đến tìm đồ ăn. Hôm đầu, anh nghĩ có lẽ ai đó đi siêu thị về để quên nên rất vui vẻ xách về cho mấy đứa con ở nhà.

Nhưng nhiều hôm về sau, ngày nào anh cũng bắt gặp túi thức ăn ngon được đặt sẵn ở đó.anh bảo vệ bắt đầu thắc mắc việc này thật kì lạ, sao ngày nào cũng lại có một túi thức ăn ngon được đặt ở đây nhỉ? Nghĩ miên man một hồi, rồi anh lại tự nhủ, chắc Đức Phật thương tình nên ban lộc cho mình, còn không thì anh cũng chẳng cần quan tâm nó từ đâu đến, miễn sao ngày nào vợ con anh cũng không đói là được rồi.

Cho đến một ngày, ông chủ qua đời. Hôm đó, có rất nhiều người qua lại, vì bận việc đón khách nên anh cũng chẳng còn thời gian nhớ đến túi đồ ăn nữa. Mấy ngày qua đi, khi công việc quay trở lại bình thường, anh lại đến tìm thức ăn như mọi khi. Chỉ có điều là, lần này anh không còn thấy túi thức ăn ngon được đặt sẵn ở đó nữa.

Ngày thứ nhất, anh bảo vệ nghĩ chắc ai đã nhìn thấy nó và nhặt rồi. Tuy nhiên, qua ngày thứ hai và ngày thứ ba, anh cũng không còn thấy túi thức ăn như ngày xưa đâu. Dần dần, bữa ăn gia đình của anh bảo vệ lại trở nên khó khăn khi thiếu những túi đồ ăn đó. Cuối cùng, anh nghĩ chỉ còn cách đề xuất tăng lương với bà chủ, nếu như bà không đồng ý chắc anh phải đi tìm một công việc mới có thể nuôi sống gia đình được.

Bà chủ của anh bảo vệ là một người phụ nữ có vẻ mặt phúc hậu và thánh thiện; đôi lúc, anh nghĩ thầm đúng là ông chủ chẳng xứng với bà. Khi nghe xong câu chuyện của anh, bà chủ tỏ ra rất ngạc nhiên, bởi vì trong suốt một thời gian dài, bà chưa bao giờ nghe anh phàn nàn về lương thấp hay thiếu thốn.

Thấy bà chủ như vậy, anh bảo vệ cũng không muốn giấu diếm gì; anh đem hết câu chuyện về túi thức ăn kể lại cho bà. Bằng chất giọng từ tốn và điềm tĩnh, bà chủ hỏi anh: “Từ khi nào anh không còn nhận được túi đồ ăn đó nữa?” Rất nhanh, anh bảo vệ đáp: “Dạ, từ khi ông chủ mất, thưa bà!”…

Suy nghĩ của anh ngừng lại khi thấy bà chủ đang cố che đi những giọt nước mắt. Một cảm giác day dứt cuộn lên trong anh bảo vệ, anh xin lỗi bà vì đã làm bà phải buồn lòng, anh hứa rằng sẽ tiếp tục ở lại làm việc và không đòi hỏi thêm bất cứ điều gì. Bà chủ chậm rãi bước đến gần anh bảo vệ và nói: “Tôi khóc bởi cuối cùng tôi đã tìm được anh. Tôi biết chồng tôi mỗi ngày đều mua thức ăn cho 7 người, tôi đã tìm được 6 người và cho đến hôm nay, tôi đã tìm được người thứ 7”.

Anh bảo vệ về nhà với những cảm xúc khó nói thành lời. Giờ đây, ngày ngày anh lại được nhận một túi thức ăn giống như trước, nhưng anh không phải chạy đến thùng rác bên đường nữa mà có một người đem đến tận nơi cho anh, đó chính là con trai của ông chủ. Lần nào nhận thức ăn, anh cũng “Cảm ơn” cậu ấy, nhưng cậu ấy giống y như cha mình, chưa một lần đáp lời với anh.

Có một hôm, anh cố ý nói thật to, bỗng dưng cậu chủ quay lại nói “Cảm ơn!” đáp lại. Lại một lần nữa tim anh như nghẹn lại, khi anh biết được một sự thật, cậu chủ bị bệnh nặng tai, giống y ông chủ đã quá cố của anh…

Có câu rằng: “Để hiểu được một người, cần cả một đời. Để hiểu được sự cố gắng của người đó, cần cả một quá trình”.Cuộc đời của người khác đang trải qua khó khăn và trắc trở gì; nếu chỉ dùng đôi mắt bình thường và cảm xúc cá nhân của mỗi người để nhìn, thì nhìn thế nào cũng vĩnh viễn không thấu được.

Đôi mắt có thể giúp bạn cảm nhận cuộc sống này nhiều mầu sắc đẹp đẽ hơn. Nhưng cũng đôi mắt đó với cái nhìn ích kỷ làm ta không thấy được sự khó khăn, sự đau khổ, sự mất mát… hay lòng tốt của người khác. Bởi vậy, hãy nhớ rằng đừng dùng đôi mắt để đánh giá tâm hồn hay nhân phẩm người khác, đó cũng là một nghĩa cử cao đẹp…

Nguồn : Sưu tầm

Ảnh : Minh Hoạ

Canada: Chuyện về viên cảnh sát thiện lương và những người dân khiêm nhường.

Làm người bảo vệ thực thi pháp luật không phải lúc nào cũng là vung dùi cui, còng số 8 để trấn áp tội phạm, tình người còn có sức mạnh nhiều hơn thế!

 Canada: Chuyện về viên cảnh sát thiện lương và những người dân khiêm nhường.

 07/09/2021 410 lượt xem

Ảnh minh hoạ: VTC news.

Một viên cảnh sát Canada, trong ca trực của mình, anh bắt được một cậu bé 17 tuổi con nhà nghèo khi cậu đang định lấy trộm một bộ đồ để hôm sau sẽ mặc đi phỏng vấn xin việc, nhằm giúp đỡ cho gia đình đang đói khổ của mình…!

Viên cảnh sát đã bỏ tiền túi ra trả cho cửa hàng và thả cậu bé ra. Ngày hôm sau cuộc phỏng vấn diễn ra tốt đẹp và cậu bé đã có việc làm.

Làm người bảo vệ thực thi pháp luật không phải lúc nào cũng là vung dùi cui, còng số 8 để trấn áp tội phạm, tình người còn có sức mạnh nhiều hơn thế!

Lại nói về con người Canada. Họ có lẽ là những người lịch thiệp và tử tế nhất thế giới. Các nghiên cứu chỉ ra rằng từ mà người Canada dùng thường xuyên nhất, đó là ‘sorry’. Họ xin lỗi vì bất cứ lý do gì, có lẽ vì họ không muốn làm tổn thương người khác.

Một nhà báo người Canada có tên là Michael Valpy đã từng thừa nhận “Tôi xin lỗi cái cây mà tôi đâm vào,” ông cũng nói rằng những người hàng xóm của ông cũng xin lỗi vì điều tương tự như vậy.

Khi tham gia giao thông trên các đường phố ở Toronto và Montreal, có những lúc cũng xảy ra tình trạng rất tệ nhưng “hầu như bạn sẽ không bao giờ nghe một tiếng còi xe thậm chí trong những tình huống bị kẹt xe mệt mỏi nhất”, ông Jeffrey Dvorkin, một giáo sư dạy báo chí Canada tại Đại học Toronto cho biết. Hành vi bấm còi xe ở Canada được xem là hung hăng một cách không cần thiết.

Ngoài ra, trên các phương tiện truyền thông của Canada cũng thường xuyên đăng những câu chuyện thể hiện sự tốt bụng của người dân với nhau. Ví dụ như tờ báo National Post đã đăng bài về một sinh viên luật ở Edmonton có tên là Derek Murray đã bật đèn pha xe hơi suốt ngày. Khi Derek trở lại, anh nhận một lời nhắn để lại trên kính chắn gió: “Tôi thấy anh để đèn xe suốt ngày. Có lẽ xe không đủ pin để  máy chạy . Tôi để lại ở đây một cái sạc pin bên trong hộp cạc tông bên cạnh hàng rào.”

Hay như ở Ontario, một tên trộm đã gửi trả lại món đồ với một bức thư kèm theo 50 đô la: “Tôi không thể nói thành lời tôi hối lỗi đến mức nào. Hãy mở rộng tấm lòng tha thứ cho kẻ lạ mặt đã gây hại cho quý vị.”

Trần Phong.

From: TU-PHUNG

Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Lm Anthony De Mello S.J.

Xu-phi Bayazid thuật lại điều liên quan đến đời ông như sau. “Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mọi lời cầu nguyện của tôi đối với Chúa như sau: ‘Lạy Chúa, xin cho con nghị lực để thay đổi thế giới.’

 “Khi tôi đứng tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người đã trôi qua đi mà tôi không thay đổi được một người nào hết nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi tất cả mọi người mà con sát cánh hằng ngày. Nếu chỉ được điều đó đối với gia đình và bè bạn thì con cũng sẽ mãn nguyện lắm rồi.’

“Giờ đây tôi đã già nua và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, tôi chỉ còn cầu xin như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi chính mình con.’ Giả như tôi biết cầu nguyện như thế ngay từ đầu thì tôi đã không uổng phí cuộc đời của tôi.”

Lm Anthony De Mello S.J.

Trích Như Tiếng Chim Ca

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

Nguyễn Tiến Dân

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

1-Khi được hưởng những điều may mắn và tốt đẹp từ người khác đem lại, ta luôn nhớ đến họ với lòng biết ơn chân thành.

Cha mẹ, đã sinh ra ta. Có thế, ta mới may mắn được đứng trên trái đất, được ngắm nhìn ánh sáng măt trời và được sống với vô vàn những điều kì diệu khác.

Không có thày cô dạy dỗ, ta không thể có tri thức, không thể có trí tuệ. Không có trí tuệ, sao có thể phân biệt được phải – trái, đúng – sai. Mông muội như thế, nếu có sống, ta cũng chẳng khác gì những loài thú vật.

Bởi thế, đã là con người, trước hết, ai cũng phải nhớ đến ơn sinh thành của cha mẹ, nhớ đến ơn dạy dỗ của thày cô. Nói rộng ra, phải nhớ ơn cả Xã hội đã bao dung và nuôi dưỡng ta thành người.

-Ở Việt nam, đầy những kẻ nghèo hèn, đầy những kẻ tàn tật về trí tuệ và nhân cách. Tuy vậy, chúng vẫn khát khao muốn làm cha thiên hạ. Chỉ đến khi xuất hiện Mác – Lê cùng Chủ nghĩa Cộng sản, giấc mộng ấy, mới thành. Chủ nghĩa Cộng sản đã dung dưỡng, đã đem tới cho chúng vinh hoa và phú quý. Khi tận hưởng cuộc sống xa hoa còn hơn cả những bậc Đế vương, lẽ tự nhiên, chúng phải nhớ ơn Mác – Lê và nhớ ơn những ông Tổ bịp bợm của mình.

-Không ai nhớ ơn những kẻ đã đem những điều tồi tệ nhất đến cho mình. Tô Lâm đó, không oán hận thì thôi, chứ đời nào ngài lại biết ơn kẻ đã mời mình miếng thịt bò nạm vàng. Ngài cũng không thể nhớ ơn đám thuộc hạ ở Đà nẵng. Đúng vào lúc nhạy cảm nhất, chúng thản nhiên sát thêm muối vào vết thương của ngài. Bằng cách, liên tục quấy nhiễu ông Lâm bún bò, có biệt danh: “thánh rắc hành”.

2-Trong xã hội, quan hệ giữa con người với con người, là một mối quan hệ chằng chịt và có tác động tương hỗ lẫn nhau. Chuyện nhớ ơn, cũng vậy.

Nhờ có địa chủ, người nông dân mới có được ruộng đất, để cấy cày. Nhờ có công xưởng của giới chủ, người công nhân mới có công ăn – việc làm. Một cách tự nhiên, giới làm thuê, họ phải nhớ ơn những người đã tạo dựng môi trường làm việc và đưa đến thu nhập cho mình.

Ngược lại, nếu không có những người kia, giới chủ cũng không thể tự mình làm được tất cả mọi việc. Một cách tự nhiên, giới chủ cũng phải nhớ ơn những người làm công – ăn lương. Chính họ, đã mang lại cuộc sống giàu sang – phú quí cho mình và giới chủ cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc cho họ.

Chỉ cần một trong hai phe đó, ai cũng muốn đội cái tôi của mình lên đầu và không cần biết đến đối tác, đình công – bãi công sẽ nổ ra và xã hội sẽ bị đảo lộn.

3-Trở lại với mệnh đề: “Đảng Cộng sản Việt nam, họ luôn bắt dân chúng phải ơn Đảng”.

a-Sự thực, từ khi bị đẻ rơi ở Hương cảng cho đến bây giờ, không chỉ giới cần lao mới nuôi dưỡng và bao che cho Đảng. Ngay cả những nhà Tư sản yêu nước như cụ Trịnh Văn Bô và những Địa chủ yêu nước như cụ Nguyễn Thị Năm, họ cũng đã góp công rất lớn, để nuôi Đảng. Nhưng Đảng đã trả cái ơn nuôi dưỡng và che chở của họ, như thế nào? Việc này, nên dành riêng, để đám Tuyên giáo trình bày.

Người dân Việt nam, họ đã hi sinh biết bao nhiêu của cải và sinh mạng, để giúp Đảng Cộng sản giành được chính quyền và có được mọi thứ như ngày hôm nay. Rõ ràng, Đảng phải tri ân dân Việt nam và lẽ ra, phải phụng dưỡng cho họ, như phụng dưỡng cha mẹ đẻ của chính mình. Thế, mới phải Đạo.

b-Nhưng kiểm lại, suốt cả cái quá trình gọi là Cách mạng này, người dân và đất nước Việt nam, họ đã nhận được những gì từ Đảng Cộng sản?

-Đảng Cộng sản có công rước được Chủ nghĩa Mác – Lê vào Việt nam.

Buồn thay, cái mớ rác rưởi này, từ lâu, thiên hạ đã liệng nó ra ngoài cái bãi rác của Lịch sử. Còn những kẻ đã đưa nó vào Việt nam, chúng cũng chẳng mặn mà gì với cái thứ thối tha này. Của nổi – của chìm, chúng vơ sạch vào người và được chuyển thành vàng, thành USD và thành bất động sản ở những nước Tư bản. Ốm đau, chúng không sang Trung quốc chữa bệnh, Con cái, chúng không nhờ Bắc Triều tiên dạy dỗ.

Người dân Việt, họ vẫn trắng tay. Đâu rồi, lời hứa: “nhà máy, thuộc thợ thuyền – ruộng đất, thuộc dân cày”?

Nhà máy, không thuộc về thợ thuyền. Công nhân vẫn đã, đang và sẽ mãi mãi là người đi làm công. Đảng chỉ đứng ra làm cai đầu dài, để mời gọi giới Tư bản nước ngoài đến Việt nam và cùng với họ, bóc lột công nhân. Thậm chí, còn thậm tệ hơn xưa. Đại dịch cúm Tàu ở Sài gòn, nó đã bóc trần sự thực về cuộc sống của giai cấp công nhân Việt nam. Sau bao năm đi làm thuê cho Đảng, tích lũy của họ, chỉ đủ để ăn mì tôm trong vài ba tháng. Quá nữa, hết sạch. Quá nữa, rùng rùng tháo chạy, Quá nữa, hồi hương và bất chấp hậu quả.

Ruộng đất, vẫn không thuộc về dân cày. Quyền sở hữu ruộng đồng, thuộc về Đảng. Đảng vẫn đang phát canh – thu tô, như bọn địa chủ năm nào. Đảng vẫn thu thuế và thu của nông dân ngày càng tàn bạo hơn. “Một quả trứng, chịu 14 loại phí. Một con lợn, cõng 51 loại thuế phí”. Đó là những câu chuyện đã không còn quá xa lạ đối với những người nông dân Việt nam.

Mang tiếng là được Tổ tiên để lại cho cả một cơ đồ đồ sộ. Trong đó, có “rừng vàng – biển bạc”. Nhưng để lại bao nhiêu, Đảng giành bằng hết về cho mình bấy nhiêu. Khai thác dầu thô, Đảng không cho dân chúng hưởng chút váng dầu nào, thì đã đành. Khốn nạn nhất, đang lúc dịch dã, Đảng còn nhẫn tâm dùng tên lửa xuyên lục địa, để phóng giá ét xăng lên trời và bắt dân chúng phải mua với cái giá cắt cổ.

-Đảng biện bạch, nhờ có chủ nghĩa Mác – Lê, chúng ta mới giành được Độc lập.

Đúng là, chúng ta đã đuổi được đi 2 nền Văn minh là Pháp và Mỹ. Sau đó, Đảng rước cái bọn man rợ là Tàu cộng vào, để thế chỗ. Ai còn mơ màng về chuyện Độc lập của Việt nam, xin hãy nghe lại bài nói chuyện của tướng Trương Giang Long, bắt đầu từ phút thứ 10: 30.

Chúng ta khát khao, để có được Độc lập. Nhưng Đảng đã dùng thuốc độc, là Chủ nghĩa Mác – Lê, để giúp chúng ta giải khát. Uống liều thuốc độc này vào người, cả Tự nhiên lẫn Xã hội của Việt nam, băng hoại.

-Đảng có công đã kéo tụt lùi sự phát triển của cả Đất nước ta và Dân tộc ta.

Ngày xưa, khi đến nhận chức Toàn quyền Đông dương, ngài Paul Doumer đã đánh giá rất cao về người Việt nam. Ông xếp người Việt nam ngang hàng với người Nhật bản. Thậm chí, còn xếp cao hơn người Trung hoa, một bậc. Thời Việt nam Cộng hòa, cả vùng Đông nam Á, đâu cũng ngóng về đó với sự ngưỡng mộ sâu sắc.

Còn bây giờ, ước tính, chúng ta phải cần thời gian ngót 200 năm nữa, để đuổi kịp được Singapore và đang cố hết sức, để không bị tụt lại phía sau của Lào và Campuchia. Chúng ta chỉ đi trước thiên hạ, vài thứ. Đối ngoại, có 2 thứ đặc sản được xuất khẩu vượt trội: một là, lao nô và hai là, đĩ điếm. Trong nước, tượng đài, chùa chiền, lăng mộ…, thứ nào cũng “xứng tầm khu vực và Thế giới”. Riêng trường học và bệnh viện, thì không. Còn nợ, thì thôi rồi. Cả bà Ngân lẫn ông Phớc, ai cũng công khai thừa nhận: “ngân sách, như dòng sông đã cạn”

-Đảng đã có công thú hóa con dân Đất Việt.

Từ chỗ, “thương người như thể thương thân”, Đảng đã cài số lùi, để dẫn dắt chúng ta quay trở lại thời kì Luật rừng. Nơi đó, “cá lớn, nuốt cá bé”. Xã hội, hỗn loạn – dối trá, lên ngôi – đồng tiền, cai trị.

Hai mươi năm đầu của thế kỉ thứ 21 đã trôi qua, nhưng Thế giới vẫn phải rùng mình, chứng kiến cảnh: Ở xã Đồng tâm, Đảng giết đồng chí của mình, rồi mổ bụng và phanh thây. Chứng kiến cảnh, một viên Bí thư Huyện ủy quèn, nhưng nó cũng có thể coi đám nữ thuộc cấp như hậu cung của nhà mình. Nứng lúc nào, bốc ngay cô gần nhất, đè người ta ra, hãm hiếp. Thậm chí, chẳng cần quây màn, để che lại cảnh đó. Còn chuyện, “Đảng vay tiền của người ta, rồi ăn quịt. Hàng chục năm trôi qua, đòi không chịu trả”, nhiều vô thiên lủng.

-Đảng góp công rất lớn, làm cho diện tích đất đai của Tổ quốc ngót đi khá nhiều.

Mục nam quan, thác Bản Giốc và bãi Tục lâm, từ xa xưa, chúng hoàn toàn thuộc về đất Việt nam. Đến thời Cộng sản cai trị, cái thì mất hoàn toàn, cái thì mất một phần cho Trung cộng. Mắt thấy – tay sờ, còn như thế. Nói chi đến chuyện đám, “đày tớ Cộng sản”, chúng chẳng thèm hỏi ý kiến của những “ông/bà chủ”, để tùy tiện “chuyển nhượng” biết bao nhiêu lãnh thố và lãnh hải khác cho bố Tàu, với cái giá, mà dân Việt, họ mãi mãi không bao giờ biết.

c-“Xét về tổng thể”, con dân Đất Việt, họ đã được Đảng thí cho những quyền cơ bản nào của một con người? Câu trả lời, nó nằm ở một phần ba đầu tiên, trong 9 chữ: “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”. Nói trắng ra, tất cả, đều chỉ nằm trên giấy. Tất cả, đều chỉ là những cái bánh vẽ.

4-Rõ ràng, Đảng không mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và đang làm tổn hại cho Đất nước. Tại sao, Đảng lại bắt người dân phải mang ơn Đảng?

Luận điểm này, cái loại trẻ con như Võ Văn Thưởng, hoặc võ biền như Nguyễn Trọng Nghĩa, chắc chắn, họ không dám và không thể trả lời một cách công khai được.

Ông Tổng ơi, đừng hùng biện trước đám ma nơ canh – những “cử tri tuyển” của Đảng nữa. Có giỏi, hãy vung bút, để thể hiện cho toàn dân Việt biết, ngài vẫn là “chân Giáo sư” và vẫn là “chân Tiến sĩ”. Lí luận, thì đầy mình và gi gỉ gì gi, cái gì cũng “ở tầm Tư tưởng”.

Đừng xô bọn “đầu lâu – xương chéo” ra và cũng đừng giả điếc mãi như thế.

Nhục lắm

Nguyễn Tiến Dân

Điện thoại: 038-50-56-430

Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ CS đê hèn, nên bị chúng lừa đảo, cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây – mai đó, chưa có nơi ở cố định.

Cầu xin cho tâm trí được mãn nguyện

Cầu xin cho tâm trí được mãn nguyện

Lm Anthony De Mello S.J.

Thần Vishnu nói với tín đồ ngoan đạo: “Ta đã chán ngấy bởi những lời cầu xin dai dẳng của con. Ta sẽ ban cho con ba điều ước nguyện. Con nhớ chọn lựa chắc chắn kỹ càng, bởi vì khi đã ban cho rồi, ta sẽ không cho con điều gì nữa hết.” Rất đổi hân hoan, người sùng đạo đã xin không chút do dự: “Đây là điều thỉnh cầu thứ nhất của con. Xin cho vợ con chết đi để con có thể tái hôn với một người đàn bà khác khá hơn.”

Nhưng khi bà con bè bạn tụ họp dự lễ tống táng và bắt đầu kể lể những nhân đức của bà vợ, người sùng đạo mới nhận ra rằng mình đã hành động hấp tấp. Do đó, ông đã xin Thần cho bà ta sống lại. 

Ông chỉ còn lại mỗi một lời cầu xin mà thôi. Ông nhất quyết sẽ không nhầm lẫn lần nầy vì sẽ không có cơ hội sửa chữa được nữa. Ông đã tham khảo ý kiến một cách rộng rãi. Có người khuyên ông nên xin được trường sinh bất tử. Nhưng những người khác bảo rằng sống lâu có ích lợi gì nếu không có sức khỏe tốt? Và sức khỏe tốt để làm gì nếu không có tiền bạc? Và có tiền bạc để làm gì nếu không có ai làm bạn với mình?

Nhiều năm tháng trôi qua mà người đó không quyết định được phải chọn lựa làm sao: sống lâu, sức khỏe, giàu sang, quyền lực hay ái tình.

Cuối cùng người đó đã cầu khẩn Thần như sau: “Xin Ngài dạy cho con biết phải xin gì đây.” Thần cười khi thấy người đó bối rối nên nói: “Con hãy xin cho được mãn nguyên, dù cuộc đời có xảy ra như thế nào”.

Lm Anthony De Mello S.J.

Trích “Như Tiếng Chim Ca”